Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
Latest topics
July 2017
MonTueWedThuFriSatSun
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31      
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Suy ngẫm chữ “Tâm”

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
levan
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Suy ngẫm chữ “Tâm”   Tue Mar 19, 2013 11:18 am

Suy ngẫm chữ “Tâm”

Chữ Tâm là một phạm trù cơ bản trong đạo lý truyền thống của dân tộc. Nếu như não được coi là xuất phát điểm của trí tuệ (Trí) thì trái tim được coi là trung khu của tình cảm, tâm lý.




Theo cách viết chữ Hán, chữ Tâm là chữ tượng hình, viết kiểu tiểu triện có hình trái tim, còn viết kiểu khải thư 心 thì ở trên có ba dấu tượng trưng ba cái cuống, ở dưới là túi chứa máu. Chữ này diễn biến qua các cách viết như sau:






Chữ Tâm là gốc của đạo đức, đạo lí làm người, điều này được thể hiện rất rõ trong các kết hợp ngôn ngữ phổ biến: tâm đức, nhân tâm, tâm huyết, nhiệt tâm, thành tâm, thiện tâm, công tâm, nhất tâm, hằng tâm…

Người Việt cũng nói: tà tâm, lãnh tâm, ác tâm, nhị tâm… để chỉ những kẻ độc ác, vô cảm, phản trắc. Xã hội nào cũng đề cao chữ Tâm, đề cao đạo đức, bởi vì chữ Tâm, đạo đức là gốc của sự hài hoà, vững bền, phát triển. Những danh nhân được tôn vinh đều là những người có tâm trong sáng, cao cả.



Khi nói về chữ Tâm, nhiều người thường tách bạch “Tâm” và “Trí”. Thực ra trong  mỗi người, Tâm và Trí là một sự thống nhất hài hoà không thể tách rời “tuy hai mà một”, đều là hoạt động tâm lí và có vai trò điều khiển hành động. Nếu như có mối quan hệ “Tâm-Trí” thì Trí tuệ là gốc chứ không phải Tâm là gốc như nhiều người ngộ nhận. Nếu người ta không nhìn thấy nhau, không hiểu nhau thì làm sao yêu nhau được? Nhận xét một người “có trí tuệ nhưng không có tâm” rõ ràng không thoả đáng, phải nói là người đó có vấn đề về trí tuệ thì mới đúng: tất cả những ai không có Tâm đều không có Trí. Đạo Phật có khái niệm “giác ngộ” và gốc của giác ngộ là trí tuệ: những kẻ tàn ác, vô cảm, bất nhân dù tài giỏi đến mấy cũng là bất trí, u mê. Đó là minh triết của nhân loại đã được thừa nhận.



Một ngộ nhận nữa là khi nói về chữ Tâm, người ta thường nhấn mạnh ở khía cạnh “thương”, “yêu thương”, “cảm thương” mà coi nhẹ, bỏ qua yếu tố “ghét”, “căm ghét”, “phẫn nộ”.... Người không ghét cái xấu, không căm thù cái bất nhân thì sao có thể gọi là có Tâm được? Một nhà thơ nổi tiếng đã viết: “Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương”.

Tâm của con người càng quan trọng hơn vì nó nói lên nhân cách của một con người:

- Tâm lệch lạc thì cuộc sống nghiêng ngã đảo điên.
- Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
- Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù.
- Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
- Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá…

Cho nên, ta không những đem tâm của mình đặt ngay trên ngực để yêu thương, mà còn:

- Đặt trên tay để giúp đỡ người khác.
- Đặt trên mắt để nhìn thấy nổi khổ của tha nhân.
- Đặt trên chân để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.
- Đặt trên miệng để nói lời an ủi với người bất hạnh.
- Đặt trên tai để biết nghe lời than trách, góp ý của người khác.
- Đặt trên vai để biết chịu trách nhiệm và chia sẻ trách nhiệm với anh em chị em.



Trước sự suy thoái về đạo đức xã hội, nhiều người cho rằng là chữ Tâm “có vấn đề”, nhiều người đã đưa ra những giải pháp khác nhau. Việc đưa nội dung giáo dục chữ Tâm vào chương trình giáo dục, rồi cấp bằng chữ Tâm… xem ra chỉ là ảo tưởng.

Nhiều người hễ thấy xã hội có những biểu hiện tiêu cực gì là nghĩ ngay đến việc đưa nội dung ấy vào nhà trường. Nếu cứ đà này, chương trình giáo dục phổ thông sẽ trở nên quá nặng nề đến mức phải kéo dài thời gian học lên gấp đôi, gấp ba cũng chưa xong và không có một sự đảm bảo nào về mặt hiệu quả. Đó chẳng qua là một biểu hiện của sự bế tắc.

Nhà trường chỉ là một phần của xã hội, việc học ở trường chỉ trang bị được những kiến thức cơ bản có tính định hướng, chủ yếu là người ta học và trưởng thành từ “trường đời”. Sự đánh giá về hạnh kiểm đối với học sinh được phản ánh thông qua những nhận xét trong học bạ chỉ là một kết quả từ góc nhìn ở các mối quan hệ trong  nhà trường, nên không thể đầy đủ và chính xác.



Một nhà triết học nổi tiếng đã viết: “Bản chất của con người là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. Thước đo đạo đức, chữ Tâm của con người phải xét từ mọi mối quan hệ xã hội mà con người tham gia. Vì vậy, muốn đánh giá, điều chỉnh về mặt đạo đức của con người, phải bắt nguồn từ các mối quan hệ xã hội, qui luật của cuộc sống chứ không phải từ nhà trường.

Có nhiều cách để điều chỉnh hành vi đạo đức của con người (xây dựng chữ Tâm): như nêu gương, tuyên truyền vận động, thuyết phục, giải thích, tạo dư luận ủng hộ cái tốt, phê phán cái xấu…. Những việc ấy là rất cần thiết và đáng quí nhưng quan trọng và có tính quyết định nhất là điều chỉnh bằng pháp luật. Xin đừng nghĩ pháp luật là một cái gì đó lạnh lùng, cứng rắn hay “vô tình”.



Bản chất của pháp luật là một khế ước xã hội, được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc đạo đức, pháp lí phổ biến nhằm đảm bảo cho một xã hội công bằng, ổn định, bền vững. Pháp luật qui định những hành vi không được làm và những hình phạt tương ứng đã được xã hội thừa nhận và phổ biến rộng rãi, nhằm ngăn chặn, triệt tiêu những hành vi phương hại đến con người, đến cộng đồng.

Hệ thống qui phạm pháp luật cũng không phải là một cái “khuôn” cứng nhắc, cố định mà luôn được điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Như vậy, cái gốc của pháp luật là tình người, là cái Tâm, là đạo lý, nhân nghĩa. Cho nên, một khi xã hội  có vấn đề về chữ Tâm, cái cần xem xét đầu tiên là hệ thống các qui phạm pháp luật và các cơ quan, nhân viên hành pháp. Xin nêu một ví dụ: ở Singapore, ý thức giữ gìn vệ sinh công cộng rất cao, đường phố sạch tinh, không ai vô ý xả rác, vứt tàn thuốc lá… bởi vì họ đã qui định rất rõ những hình thức trừng phạt nghiêm khắc với bất kì ai có những hành vi làm tổn hại đến môi trường, vệ sinh.



Bài học chống tham nhũng thành công của Singapore do ông Lý Quang Diệu đề ra cũng rất đáng suy ngẫm: tăng lương công chức, cải tổ bộ máy hành pháp, trừng phạt nghiêm khắc, công bằng đối với mọi hành vi tham nhũng chứ không phải là đưa nội dung chống tham nhũng vào nhà trường từ bậc tiểu học hay đi nói với những “quan tham” rằng: tham nhũng là xấu, là “phi đạo đức”. Pháp luật chính là nền tảng quan trọng nhất để xây dựng đạo đức xã hội, là miếng đất ươm mầm cho cái cây đạo đức đơm hoa kết trái. 

(bacsingan)
Về Đầu Trang Go down
levan
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Suy ngẫm chữ “Tâm”   Thu Jul 31, 2014 11:26 pm



Lắng nghe lời thì thầm của Trái Tim


Hầu hết mọi người là người khác. Những suy nghĩ của họ là ý kiến của người khác, cuộc sống của họ là sự bắt chước, cảm xúc của họ là một câu trích dẫn.

Khi đọc truyện Gasby vĩ đại của Scott Fitzgerald, tôi vô cùng thích thú với đoạn mở đầu: ” Hồi tôi còn nhỏ tuổi, nghĩa là hồi dễ bị nhiễm các thói hư tật xấu hơn bây giờ, cha tôi có khuyên tôi một điều mà tôi ngẫm mãi cho đến nay: Khi nào con định phê phán người khác thì phải nhớ rằng không phải ai cũng được hưởng những thuận lợi như con cả đâu. Ông không nói gì thêm, nhưng vì hai cha con chúng tôi xưa nay vẫn rất hiểu nhau, mà chẳng cần nhiều lời nên tôi biết câu nói của ông còn nhiều hàm ý khác. Vì vậy tôi không thích bình phẩm một ai hết. Lối sống ấy đã mở ra cho tôi thấy nhiều bản tính kỳ quặc, nhưng đồng thời khiến tôi trở thành nạn nhân của không ít kẻ chuyên quấy rầy người khác.”

Tôi cũng rất thích một chi tiết trong truyện Doraemon, đó là mỗi khi Nobita và Doraemon lạc vào một thế giới khác, bất cứ thế giới nào, thì ở nơi đó cũng xuất hiện những nhân vật có nhân dáng tương tự Nobita, Xuka, Xeko, Chaien… nhưng tính cách lại có thể rất khác. Điều đó luôn khiến tôi mỉm cười.

Cuộc sống này cũng vậy… Ở đâu đó ngoài kia là những người có thể giống ta. Ở đâu đó ngoài kia là những người có thể rất khác ta. Có người ưa tụ tập với bạn bè. Có người mải mê rong chơi. Có người chỉ thích nằm nhà để đọc sách. Có người say công nghệ cao. Có người mê đồ cổ. Có người phải đi thật xa đến tận cùng thế giới thì mới thỏa nguyện. Có người chỉ cần mỗi ngày bước vào khu vườn rậm rạp sau nhà, tìm thấy một vạt nấm mối mới mọc sau mưa hay một quả trứng gà tình cờ lạc trong vạt cỏ là đủ thỏa nguyện rồi. Tôi nhận ra rằng, hai sự phấn khích đó có thể rất giống nhau. Cũng giống như người ta có thể phản ứng rất khác nhau khi đứng trước thác Niagara hùng vĩ, người này nhảy cẩng lên và ghi nhớ cảnh tượng đó suốt đời, nhưng cũng có người nhìn nó và nói: “Thác lớn nhỉ?” rồi quên nó đi ngay sau khi trở về nhà mình. Sao ta phải lấy làm lạ về điều đó? Sao ta phải bực mình về điều đó ? Sao ta lại muốn rằng tất cả mọi người đều phải nhảy lên khi nhìn thấy thác Niagara?


Chúng ta vẫn thường nghe một người tằn tiện phán xét người khác là phung phí. Một người hào phóng đánh giá người kia là keo kiệt. Một người thích ở nhà chê bai kẻ khác bỏ bê gia đình. Và một người ưa bay nhảy chê cười người ở nhà không biết hưởng thụ cuộc sống… Chúng ta nghe những điều đó mỗi ngày, đến khi mệt mỏi, đến khi nhận ra rằng đôi khi phải phớt lờ tất cả những gì người khác nói, và rút ra một kinh nghiệm là đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng.



Cách đây nhiều năm, khi xe hơi ở VN vẫn còn là thứ vô cùng xa xỉ, người bạn của tôi sau một thời gian quyết tâm dành dụm và vay mượn đã mua được một chiếc. Chỉ là một chiếc xe cũ thôi. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ anh chỉ là một nhà báo với thu nhập vừa phải và vẫn đang ở nhà thuê. Gia đình phản đối nói anh phung phí. Đồng nghiệp xì xầm rằng anh đua đòi. Bạn bè nghi ngại cho là anh học làm sang. Và anh tâm sự với tôi rằng: từ hồi còn nhỏ xíu, anh đã luôn mơ mình được ngồi sau vô lăng, được tự lái xe lên rừng xuống biển. Ước mơ đó theo anh mỗi ngày. Vì vậy anh đã gom góp suốt thời gian qua, cho đến khi có thể mua được một chiếc xe cho riêng mình. Chỉ thể thôi. Rồi anh nhìn tôi và hỏi: Tại sao tôi phải trì hoãn ước mơ chỉ vì sợ người khác đánh giá sai về mình ? Sao tôi phải sống theo tiêu chuẩn của người khác ?

Tôi không thể tìm ra một câu trả lời đủ thuyết phục cho câu nói đó. Bởi thế, tôi luôn mang theo câu hỏi của anh bên mình. Nó nhắc tôi rằng, rất nhiều khi chúng ta vì quá lo lắng về những điều người khác đã nói, sẽ nói và có thể nói mà không dám sống với con người và ước mơ đích thực của mình.

Một người bạn khác của tôi đeo đuổi việc làm từ thiện quyên góp, chia sẻ. Ban đầu vì lòng trắc ẩn. Rồi vì niềm vui cho chính bản thân. Rồi như một món nợ ân tình phải trả. Rồi như một cuộc đời phải sống. Chị như ngọn nến cháy hết mình cho người khác. Ấy vậy mà rất nhiều lần tôi thấy chị khóc vì những lời người khác nói về mình. Như vậy đó, kể cả khi ta hành động hoàn toàn vô vị lợi, cũng không có nghĩa là ta sẽ ngăn ngừa được định kiến và những lời gièm pha ác ý. Vậy sao ta không bình thản bước qua nó mà đi ?



Thỉnh thoảng chúng ta vẫn gặp những người tự cho mình quyền được phán xét người khác theo một định kiến có sẵn. Những người không bao giờ chịu chấp nhận sự khác biệt. Đó không phải là điều tồi tệ nhất. Điều tồi tệ nhất là chúng ta chấp nhận buông mình vào tấm lưới định kiến đó. Cuộc sống của ta nếu bị chi phối bởi định kiến của bản thân đã là điều rất tệ, vậy nếu bị điều khiển bởi định kiến của những người khác hẳn còn tệ hơn nhiều. Sao ta không thể thôi sợ hãi, và thử nghe theo chính mình?

Thật ra, cuộc đời ai cũng có những lúc không biết nên làm thế nào mới phải. Khi ấy, ba tôi dạy rằng, ta chỉ cần nhớ nguyên tắc sống cơ bản cực kì ngắn gọn: Trước hết, hãy tôn trọng người khác. Rồi sau đó, nghe theo chính mình. Hãy tôn trọng. Bởi cuộc đời là muôn mặt, và mỗi người có một cách sống riêng biệt. Chẳng có cách sống là cơ sở để đánh giá cách sống kia. John Mason có viết một cuốn sách với tựa đề “Bạn sinh ra là một nguyên bản, đừng chết như một bản sao” Tôi không biết nó đã được dịch ra tiếng Việt chưa, nhưng đó là một cuốn sách rất thú vị. Nó khiến tôi nhận ra rằng mỗi con người đều là một nguyên bản, duy nhất, độc đáo và đáng tôn trọng.


Tôi luôn xem nguyên tắc ấy như đôi giày mà tôi phải mang trước khi ra khỏi nhà. Xỏ chân vào đôi giày đó, và đi khắp thế gian, đến bất cứ nơi nào bạn muốn. con người sinh ra và chết đi đều không theo ý mình. Chúng ta không được sinh ra với ngoại hình, tính cách, tài năng hay sự giàu có mà mình muốn chọn lựa. Nhưng chúng ta đều có một cơ hội duy nhất để được là chính mình. Chúng ta có một cơ hội duy nhất để sống như mình muốn, làm điều mình tin, sáng tạo điều mình mơ ước, theo đuổi điều mình khao khát, yêu thương người mình yêu. Bạn biết mà, cơ hội đó chính là cuộc đời này – một chớp mắt so với những vì sao. Bởi thế, đừng để mình cứ mãi xoay theo những tiếng ồn ào khác, hãy lắng nghe lời thì thầm của trái tim.

Umaru Hyoka MG chuyên gia tâm lý học

blog.zing.vn


Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Suy ngẫm chữ “Tâm”   Tue Dec 02, 2014 10:46 am


Hãy giữ tâm mình tốt vì tâm thể hiện thành lời nói của bạn.
Hãy giữ lời nói của mình tốt vì lời nói hiện thân thành cách hành xử của bạn.
Hãy giữ cách hành xử của mình tốt vì nó sẽ trở thành những thói quen của bạn
Hãy giữ những thói quen tốt vì nó tạo nên giá trị của bạn
Hãy giữ những giá trị tốt vì nó cấu thành số phận của bạn.

- Mahatma Gandhi






Chữ  Tầm  liền  với  chữ  Tâm  một  vần

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

Bertrand Russell là một trong những người trí thức nổi danh bậc nhất của nước Anh trong thế kỷ XX. Ông là một giáo sư dậy môn Tóan tại đại học danh tiếng Cambridge và là tác giả của cuốn sách đồ sộ về Tóan học được giới hàn lâm trí thức ca tụng, mà có nhan đề là Principia Mathematica. Nhưng ông lại có nhiều tư tưởng độc đáo táo bạo – đặc biệt là chủ trương chống chiến tranh nên đã gây ra nỗi bất mãn khó chịu cho nhiều người.

Riêng tôi, thì tôi rất tâm đắc với 2 câu thật ngắn gọn ông khuyên nhủ các bạn trẻ nguyên văn tiếng Anh như sau : “Let's have the Right Thinking” và “Let's have the Nice Feeling”. Chữ Right Thinking này có hàm ý như chữ Trí; và chữ Nice Feeling thì cũng tương tự như chữ Nhân – trong 3 chữ “Nhân, Trí, Dũng” mà cha ông chúng ta vẫn sử dụng để nói lên phẩm chất cao quý của người trượng phu quân tử vậy.

Khi còn bị giam giữ nơi trại tù Z30D ở Hàm Tân Phan Thiết vào những năm từ 1992 đến 1996, tôi đã khai triển ý nghĩa của hai câu đó trong bài thơ song ngữ Việt Anh mà bản tiếng Việt có nhan đề là “Nói với các bạn trẻ”- trong đó có mấy câu đầu như sau : “Hãy Suy nghĩ Chính xác” và “Hãy có Lòng Nhân hậu”.

Trong bài viết này, tôi muốn chia sẻ với các bạn một vài suy nghĩ liên quan đến họat động của người trí thức vốn được dân tộc và đất nước cung ứng cho bao nhiêu phương tiện vật chất tinh thần và cơ hội tốt đẹp để trau dồi kiến thức, cũng như nâng cao phẩm chất cuộc sống cho bản thân mỗi người. Xin lần lượt trình bày vấn đề qua mấy mục sau đây.

I – Trước hết là bàn về cái tầm nhìn trong thời đại văn minh tiến bộ hiện nay.

Thế giới quanh ta mỗi ngày một tiến bộ nhờ những phát minh đột phá về mặt khoa học kỹ thuật, nhờ sự phát triển kinh tế thương mại, nhờ sự giao lưu tiếp súc mở rộng khắp mọi quốc gia và nhờ cả về tinh thần bao dung hòa ái giữa các dân tộc – đặc biệt kể từ sau khi thế chiến II chấm dứt vào năm 1945.

Đó là xét về bối cảnh chung của thế giới ngày nay ở vào đầu thế kỷ XXI. Còn riêng đối với nước Việt nam chúng ta trong khu vực Đông Nam Á châu, thì ta có thể ghi ra một vài nhận xét đơn giản đại khái như sau.

1 - Chỉ cần nhìn qua mấy nước láng giềng với ta như Singapore, Đài Loan, Đại Hàn, thì vào năm 1960 họ cũng còn ở mức độ kém phát triển giống như ta thôi. Ấy thế mà bây giờ sau có 50 năm, mà họ đã bứt đi xa quá – vượt hơn Việt nam ta biết bao nhiêu lần về đủ mọi phương diện kinh tế vật chất, khoa học kỹ thuật và nhất là xã hội ổn định hài hòa, ngăn nắp đâu ra đấy v.v... Những nước này trước năm 1945, thì đều bị các nước khác xâm chiếm đô hộ – cụ thể như Đài Loan, Đại Hàn thì bị Nhật chiếm đóng, Singapore thì là  thuộc địa của đế quốc Anh. Vậy mà chỉ sau vài chục năm dành lại được chủ quyền độc lập, họ đã bắt tay xây dựng được thành một quốc gia cường thịnh được sự nể trọng của mọi người trên khắp thế giới.

Cái kinh nghiệm thành công của các nước bạn láng giềng này cần được phân tích tìm hiểu cặn kẽ để giúp cho người Việt chúng ta rút ra được một bài học thực tiễn và hữu ích có thể đem ứng dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển quê hương đất nước mình vậy.

2 – Có thể nói cả ba nước này đều có những đặc tính tương tự nhau, đó là : Chính quyền Nhà nước (the State) luôn nghiêm túc bảo đảm sự tự do kinh doanh của Thị trường Kinh doanh (the Marketplace) và cũng thực tâm tôn trọng tính cách độc lập của Xã hội Dân sự (the Civil Society). Nhờ vậy, mà mọi thành phần dân tộc có đủ mọi điều kiện để mà phát huy tính sáng tạo của mình hầu tạo được một Không gian Xã hội (the Social Space) thật là thông thóang, cởi mở và nhân ái hài hòa.

Mặt khác, cả ba quốc gia này đều tích cực cố gắng mở rộng việc bang giao chính trị văn hóa xã hội - cũng như phát triển mạnh mẽ việc trao đổi buôn bán làm ăn với thế giới bên ngòai. Nhờ có sự hội nhập mật thiết và êm thắm như thế đối với cộng đồng thế giới mà họ đã gặt hái được bao nhiêu thành công thắng lợi về nhiều phương diện cho đất nước – trong khi vẫn giữ được chủ quyền độc lập và uy tín cho riêng dân tộc của mình.

3 – Trong khi đó, nếu mà nhìn cho kỹ lại nước Việt nam của mình trong 40 năm qua kể từ khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1975, thì chúng ta thấy tình hình thực tế ra sao?

Phải nói thẳng thắn rằng chế độ độc tài chuyên chế toàn trị do đảng cộng sản áp đặt trên cả nước là nguyên nhân chính yếu đã gây ra sự trì trệ lạc hậu cực kỳ tệ hại cho dân tộc chúng ta hiện nay. Chính quyền cộng sản không những nắm giữ độc quyền về chính trị, mà còn cả về kinh tế, xã hội và văn hóa nữa. Đảng cộng sản còn khống chế cả đến toàn bộ khu vực Xã hội Dân sự và nặng tay đàn áp đối với các tổ chức tôn giáo nữa. Rõ ràng là họ đã gây chia rẽ, rối lọan bất an trong mọi tầng lớp dân tộc với chủ trương phân biệt giữa Ta và Địch – tức là giữa những người thuộc phe nhóm bè lũ của riêng họ với những người không chịu ngoan ngõan rắp mắt quỵ lụy tuân theo họ. Đối với những người bất đồng chính kiến này, thì họ gán cho cái nhãn hiệu là “Thế lực thù địch”, “Phần tử lạc hậu phản cách mạng”, “Âm mưu Diễn biến Hòa bình” để mà thẳng tay trấn áp, diệt trừ - mà không hề còn một chút xót thương thông cảm nào đối với đông đảo số đồng bào cùng chung máu đỏ da vàng như chính họ.

Nói cho gọn hơn, thì với chủ trương cực đoan quá khích giáo điều Marxist - Leninist, người cộng sản ở nước ta đã gây chia rẽ trầm trọng giữa các tầng lớp trong đại khối dân tộc. Họ chính là lọai người “gây phân chia” mà trong tiếng Anh gọi là “the dividers” - khiến làm khuấy động rối lọan tòan thể cái không gian xã hội của dân tộc chúng ta. Dù có sự “Đổi mới” với sự nới rộng quyền tự do kinh doanh từ gần 30 năm nay - thì về phương diện chính trị, xã hội văn hóa - chính quyền cộng sản vẫn còn gồng mình xiết chặt hạn chế không cho người dân được tự do phát huy óc sáng tạo của mình để góp phần vào việc nâng cao vị thế của đất nước ta lên cho xứng với tầm văn minh tiến bộ đích thực của thời đại ngày nay vậy.



II – Bàn về cái Tâm của lớp người trí thức hàn lâm ở nước ta.

Dân gian ta vẫn thường nói đến chữ Tâm kèm theo với vài ba chữ khác nữa, cụ thể như chữ Tâm an”, “Tâm hoà”, “Tâm bình”, “Tâm ngay thẳng”, Tâm trong sáng”, “Trực tâm” - ngược lại là những chữ “Ác tâm”, “Hắc tâm”, “Tà tâm”, “Tâm đen tối” v.v... Cụ Nguyễn Du cũng phát biểu đanh thép trong Truyện Kiều rằng : “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” - đó là chủ ý đề cao cái giá trị căn bản trong cuộc sống con người giữa nhân quần xã hội. Cụ Tiên Điền muốn nhắc nhủ con cháu cần phải chú trọng trau dồi cái phần đạo đức, cái tấm lòng ngay thẳng để mà sống cho có nhân, có nghĩa – đó là điều quan trọng cần thiết hơn nhiều so với chuyện bồi dưỡng tài năng trí tuệ ở học đường. Điều này rõ ràng là theo sát với lời dậy bảo của cha ông ta từ xưa được gói ghém trong một câu ca dao tục ngữ  rất quen thuộc, đó là câu nói : “Tiên học Lễ, Hậu học Văn”. Chữ Lễ ở đây có hàm ý là Lễ nghĩa, Đạo đức. Còn chữ Văn bao gồm Văn hóa, Kiến thức v.v...

Nhìn vào xã hội ngày nay tại nước ta sau 70 năm dưới chế độ độc tài chuyên chế cộng sản, thì hệ thống giá trị đạo đức đã bị băng họai, xuống cấp trầm trọng – con người bị lây nhiễm rất nặng cái tật dối trá, lươn lẹo, lừa bịp phản bội lẫn nhau ở mọi nơi, mọi lúc. Cán bộ chính quyền nhà nước chuyên môn lừa dối người dân, bưng bít tin tức, dùng ngôn ngữ xảo trá qua báo chí, phát thanh, truyền hình mỗi ngày – mãi rồi người dân cũng khám phá ra tỏ tường cái mặt thật sai trái lem luốc của đảng cộng sản, của chính quyền nhà nước. Và đối lại, người dân cũng phải tìm cách đối phó lại với nhà nước bằng lối dối trá, đóng kịch giả vờ, “nghĩ một đàng, nói một nẻo”. Vì nhà nước dùng công an mật vụ, nhà tù để đe dọa trấn áp những người bất mãn chống đối – thì người dân cũng phải tìm mọi cách len lỏi, giấu giếm mà đưa ra những câu phê bình chỉ trích những sai trái, bất công áp bức do cán bộ gây ra đối với họ. Rõ ràng đó là cái thứ “Bia Miệng” xuất phát từ phía số đông quần chúng là nạn nhân của giới thống trị cộng sản vậy.

Những người đã từng sinh sống và làm việc lâu năm trong chế độ cộng sản, thì đã lần lượt tiết lộ cho công chúng biết được những dối trá, đểu cáng, thâm hiểm của giới cán bộ cao cấp chủ chốt – điển hình như Lê Đức Thọ, Lê Duẫn, Tố Hữu v.v... Cụ thể là trong những cuốn Hồi ký của Vũ Thư Hiên, cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, cuốn “Những Lời Trăng Trối” của Trần Đức Thảo và cuốn mới nhất nhan đề là “Đèn Cù” của Trần Đĩnh – thì các tác giả đều đưa ra những chứng từ thật là trung thực, khả tín về sự xuống cấp băng họai về mặt luân lý đạo đức trong xã hội do giới lãnh đạo cộng sản gây ra. Người cộng sản chuyên môn chủ trương xúi giục lòng hận thù ân óan tàn bạo giữa các tầng lớp quần chúng – điển hình nhất là các vụ “tố điêu, tố gian” trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất hồi giữa thập niên 1950, theo đúng sự dàn dựng cố vấn của Mao Trạch Đông và bè lũ Trung cộng.

Kết cục là sự “gian dối, đểu cáng đã lên ngôi”, làm ung thối tận gốc rễ cái truyền thống nhân bản nhân ái - mà cha ông chúng ta đã khổ công vun đắp xây dựng từ bao nhiêu thế hệ trước đây hàng ngàn năm mới tạo ra được.

Đứng trước sự tàn phá đổ vỡ kinh hoàng về văn hóa đạo đức như thế, nhiệm vụ của giới sĩ phu quân tử là phải cố gắng hết mình để hợp lực sát cánh chặt chẽ với nhau - nhằm khởi động được một tiến trình phục hồi lại cái căn bản nhân đạo và nhân ái ngàn xưa của dân tộc. Đồng thời cũng phải có tinh thần hướng thượng, cầu tiến và phục thiện để mà tiếp nhận được cái hay, cái thiện hảo của thế giới hiện đại - hầu đem về bồi bổ thêm vào cho cái kho tàng vốn liếng tinh thần đã sẫn có của nước nhà.

Nói vắn tắt lại, là người sĩ phu trí thức vừa phải có tầm nhìn xa rộng để hiểu biết thấu đáo về tình hình tổng quát của đất nước trong thời đại tòan cầu hóa hiện nay (global vision) - mà cũng vừa phải có cái tâm thật trong sáng và nồng ấm với một tình yêu trọn vẹn để hy sinh hết mình cho đại nghĩa của dân tộc (total love). Có như vậy, thì đất nước chúng ta mới có cơ may vượt thóat khỏi sự thách đố bế tắc lớn lao hiện nay vào đầu thế kỷ XXI vậy./

Costa Mesa, California Tháng 11 Năm 2014.


Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Suy ngẫm chữ “Tâm”   Thu Dec 04, 2014 12:39 pm



CHỮ TÂM

Chữ tâm một chút nhỏ thôi,
Nhưng quan trọng bởi nên người... có tâm!
Tâm xây nhân cách lặng thầm,
Nếu tâm lệch lạc mọi phần đảo điên.

Tâm gian dối bất an liền,
Lòng ghen ghét cuộc sống thêm hận thù.
Tâm đố kị phủ mây mù,
Tham lam dối trá cho dù đế vương.

Tâm trên ngực để yêu thương,
Trên tay giúp đỡ đời thường khổ đau.
Tâm trong mắt thấu lòng nhau,
Trên chân dẫn lối đến đâu người cần.

Tâm trên miệng nói nghĩa ân,
Trên tai nghe những lời gần ý xa.
Tâm trên vai để biết mà...
Sẻ chia gánh vác việc ta việc đời.

Thân không tâm chẳng nên người,
Vô tâm chỉ biết một lời bản thân.
Hận thù chất chứa thêm lần,
Kết thành mối họa mọi phần cho nhau.

TGG



Về Đầu Trang Go down
hoangvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Suy ngẫm chữ “Tâm”   Sat Dec 06, 2014 1:24 am


Một phút suy ngẫm về chữ Tâm





Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Suy ngẫm chữ “Tâm”   Sat Dec 06, 2014 9:08 pm




Chữ Tâm Trong Chữa Bệnh

Nguyễn Hữu Đức

Một người bề ngoài trông có vẻ khỏe mạnh với vóc dáng hấp dẫn, diện mạo phương phi nhưng nếu trong lòng có điều phiền muộn, bất ổn về tâm lý thì không thể xem là có sức khỏe toàn diện. Và yếu tố tâm lý luôn luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì, bảo vệ sức khỏe.

HIỆU ỨNG PLACEBO

Trong quyển sách “Nơi không có bác sĩ” ( Where there is no doctor , ở ta dịch và xuất bản với tựa đề  “Chăm sóc sức khỏe” ), bác sĩ David Werner, tác giả cuốn sách, đã kể lại một trường hợp: “Có lần tôi thấy bệnh nhân nhức đầu dữ dội. Một phụ nữ đưa anh ta miếng khoai mài bảo rằng đây là thuốc giàm đau rất mạnh. Anh ta tin lời đã ăn nó và kết quả là khỏi đau nhanh chóng”. Ở đây, yếu tố tâm lý của người bệnh đã được tác động để phát huy tác dụng tích cực của nó. Khi người bệnh được cho dùng một chất nào đó không phải là thuốc, nhưng nếu người đó có sự tin tưởng tuyệt đối đó là thuốc thật, dùng chất đó và khỏi bệnh thì hiện tượng đó được gọi là “hiệu ứng placebo”. Trong chừng mực nào đó, có thề ghi nhận hiệu ứng placebo để giải thích những vụ việc liên quan đến việc chữa bệnh “kỳ lạ” mà nhiều người cho rằng khoa học khó có thể giải thích được . Đó là việc dùng nước lạnh, bùa chú, hay bất cứ thứ gì không phải là thuốc, nói chuhng là dùng những phương tiện , phương cách không theo y học chính thống, nhưng có sự tin tưởng của người bệnh vào tác dụng của chúng vẫn có thể chữa bệnh.

“Placebo” có nguyên nghĩa là “tôi làm vui lòng” ý nói bác sĩ sẽ tác động đến tâm lý của người bệnh, tạo cho họ sự phấn khởi, tin tưởng để mau hết bệnh. Trong quá trình điều trị bệnh, thầy thuốc thường khai thác tối đa yếu tố tâm lý để giúp quá trình bệnh diễn tiến tốt. Bác sĩ có mối quan hệ với bệnh nhân , cung cách khám chữa bệnh đúng mực, nói năng nhẹ nhàng, thân tình giải thích rõ ràng cặn kẽ, sẽ giúp bệnh nhân ổn định về mặt tâm lý và giúp việc điều trị bằng thuốc hoặc bằng phương thức trị liệu nào đó bằng phương pháp nhanh và tốt hơn. Không hiếm trường hợp đã xảy ra chỉ vì một lời nói của bác sĩ mà làm cho bệnh của bệnh nhân thêm nặng hơn hoặc giảm đi rõ rệt. Có một số phương thức điều trị không dùng thuốc mà dựa hẳn vào yếu tố tâm lý như thôi miên, tự kỷ ám thị ,thiền định …để ổn định tâm lý.

Nếu tress đã được chứng minh là có thể làm giảm sức đề kháng của cơ thể thì ngược lại, những biện pháp giúp ổn định tâm lý, gây sảng khoái về mặt tinh thần sẽ giúp nâng cao sức đề kháng của cơ thể để chống lại bệnh tật. Người ta ghi nhận các rối loạn liên quan đến triệu chứng cơ năng ( như bệnh suy nhược thần kinh) rất dễ chữa khỏi bằng các biện pháp tác động đến yếu tố tâm lý. Tuy nhiên, ta cần xem việc chữa bệnh bằng yếu tố tâm lý. Tuy nhiên , ta cần xem việc chữa bệnh bằng yếu tố tâm lý chỉ là biện pháp hổ trợ, chứ không thể thay thế cho tất cả các phương thức trị liệu của nền y học chính thống.

Trong quá trình điều trị bệnh, bác sĩ điều trị có thể cho một thứ thuốc để khai thác hiệu năng placebo, thí dụ, bệnh nhân bị rối loạn không cần dùng đến thuốc, nhưng lại có tâm lý không thể cưỡng là phải được dùng thuốc, bác sĩ có thể cho dùng vitamin để khai thác tác dụng tích cực của yếu tố tâm lý. Và thuốc trong trường hợp này là chất không có tác dụng chữa bệnh thật sự, được gọi là placebo ( ở ta , thường được dịch là “giả dược” hoặc “thuốc vờ” ). Người bệnh cùng placebo do tin tưởng đó là thuốc chữa bệnh thật sự và có thể khỏi bệnh.

ỨNG DỤNG TRONG NGÀNH DƯỢC

Đối với ngành dược, các dược sĩ có thể tác động đến yếu tố tâm lý trong việc dùng thuốc. Ở nhà thuốc , khi tiếp xúc với người bệnh đến mua thuốc, lời hướng dẫn tư vấn dùng thuốc tận tình , thân ái của dược sĩ có thể khơi dậy niềm tin ở người bệnh vào tác dụng chữa bệnh của thuốc. Còn ở các công ty dược phẩm sản xuất thuốc, các dược sĩ không chỉ quan tâm đến việc bảo đảm chất lượng thuốc mà còn chú ý hoàn thiện những chi tiết tác động đến tâm lý của người dùng thuốc. Thuốc được chứa trong bao bì trình bày đẹp mắt, sáng sủa bao giờ cũng dễ tạo mối thiện cảm, làm người dùng thuốc có ấn tượng thuốc được sản xaut16 trong điều kiện tốt nhất . Dạng thuốc bào chế tiện sử dụng, bảo quản được lâu, được áp dụng kỹ thuật bào chế hiện đại sẽ có tính thuyết phục: “ thuốc dùng như thế sẽ mau hết bệnh”.

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu để tìm ra và sản xuất một thuốc mới, người ta phải loại bỏ hoàn toàn yếu tố tâm lý trong các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng đối với thuốc. Bởi vì, theo định nghĩa, thuốc là những chất có tác dụng thực sự dùng để điều trị, phòng bệnh và chẩn đoán bệnh. “ Có tác dụng” nghĩa là thuốc có tác dụng vật chất vào trong cơ thể sau khi được bài tiết để đạt hiệu quả chữa bệnh, phòng bệnh, chẩn đoán, chứ không phải chỉ dựa vào tin tưởng nào đó mà khỏi bệnh.

Khi nghiên cứu tác dụng của một thuốc mới, để loại trừ yếu tố tâm lý , người ta thường sử dụng phương pháp mù đôi ( double blind study ).

PHƯƠNG PHÁP MÙ ĐÔI

Trong phương pháp mù đôi, những người bệnh tham gia nghiên cứu được chia làm hai nhóm ngẫu nhiên và giống nhau ở một số đặc điểm ( như tuổi tác , giới tính…) một nhóm sẽ được điều trị bằng thuốc cần được thử nghiệm trong nghiên cứu, nhóm thứ hai được điều trị bằng placebo có hình dạng kích cỡ, màu sắc, mùi vị giống như thuốc thật. Thuốc mới thử nghiệm chỉ được đánh giá là có tác dụng thật sự khi nhóm một có tỷ lệ tính theo thống kê là khỏi bệnh, trong khi nhóm hai có tỷ lệ được xem là không khỏi bệnh. Gọi là “mù đôi” vì cả người bệnh lẫn bác sĩ chỉ định thuốc và theo dõi điều trị không biết thuốc nào là thuốc thật, thuốc nào là placebo ( người bệnh nhóm hai không được cho biết là dùng placebo , cứ đinh ninh là dùng thuốc thật ). Cần loại bỏ yếu tố tâm lý của cả bệnh nhân dùng thuốc lẫn bác sĩ chỉ định thuốc thì việc nghiên cứu về tác dụng của thuốc mới thật khách quan.

Trước khi có phương pháp mù đôi, người ta dùng phương pháp mù đơn, không loại trừ yếu tố tâm lý của bác sĩ , bác sĩ biết thuốc nào là thật, thuốc nào là placebo. Như vậy chỉ cần nhận định của bác sĩ bị ảnh hưởng bởi tâm lý là có thể làm sai lệch kết quả nghiên cứu. Tác giả Wolf đã kể lại một ví dụ như sau: “ Một viện bào chế dược phẩm nghiên cứu cho ra đời thuốc trị hen suyễn. Đến giai đoạn thử nghiệm lâm sàng có nhờ một vị bác sĩ chủ trì thử nghiệm mù đơn xem hiệu quả của thuốc, Bác sĩ đã cho nhận xét: thuốc thật cho kết quả rất tốt trong khi placebo không có hiệu quả. Nhưng sau đó, viện bào chế thông báo là có sự nhầm lẫn, hai thứ thuốc được cung cấp cho bác sĩ đều là thuốc thật. Chính sự tin tưởng của bác sĩ đồi với thuốc thật và sự nghi ngờ đối với placebo đã làm ông ta có thiên kiến và đi đến nhận xét như trên!”.

Để loại trừ tâm lý của thầy thuốc trong việc đánh giá tác dụng thuốc , ngày nay người ta dùng phương pháp thử nghiệm “mù đôi , ngẫu nhiên và kiểm soát”. Gần đây , ta thường nghe bác sĩ , dược sĩ chỉ tin cậy thông tin từ “y học thực chứng” (evidence – based medicine , viết tắt EBM ) tức là các bác sĩ , dược sĩ chỉ tin dùng các thuốc đã chứng minh tác dụng hiệu quả thực sự khi đã trải qua các thử nghiệm lâm sàng đúng quy cách khoa học và được thông tin từ y văn đáng tin cậy.

Đối với thầy thuốc , rất cần xem người bệnh là tập họp không chỉ gồm cac yếu tố lý hóa và sinh học mà cả yếu tố tâm lý xã hội ( tức xem người bệnh bao gồm cả cái thân và cái tâm ), Riêng yếu tố tâm lý nhiều khi rất quan trọng cần tác động vào để có những lợi ích trong điều trị nhưng cũng có lúc phải loại bỏ hoàn toàn để chứng minh tác dụng thực sự của thuốc hoặc một phương thức điều trị.

Những điều trình bày ở trên nhằm cho thấy vai trò của yếu tố tâm lý trong chữa bệnh. Với cái nhìn rộng hơn , quan sát sâu sắc hơn , yếu tố tâm lý vừa kể có thể được xem là một phần của cái tâm ( thức tâm) của thầy thuốc và người bệnh hay chăng? Cái tâm ấy là gì? Có phải đó là toàn bộ ý thức và cả vô thức đầy hỷ nộ ái ố, xen lẫn tốt và xấu của cuộc đời con người? Rõ ràng là thầy thuốc chỉ có thể lắng nghe để thấu hiểu được nỗi khổ của người bệnh khi cái tâm của họ rỗng rang vắng lặng hoàn toàn, hầu toàn tâm toàn ý chăm sóc chữa trị cho người bệnh, Cần nhận thức người bệnh không chỉ đang “rêm” cái thân vì bệnh mà còn “loạn” cái tâm vì hoạn để thầy thuốc vừa chữa bệnh cái thân vừa ổn định cái tâm cho con người đang khổ kia.

Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Suy ngẫm chữ “Tâm”   Sat Dec 27, 2014 9:27 am


Tâm An Trong Nghịch Cảnh


Bs Nguyễn Thượng Chánh

Phỏng dịch từ bài giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Hindustan Times Leadership Summit on the art of happiness, New Delhi, Nov 19,2010 - Calm mind is key to happiness: Dalai Lama.


Video: Dalai Lama-The Art of Happiness in Troubled Times (nói tiếng Anh khoảng 1 giờ)


Khi đề cập đến hạnh phúc trong nghịch cảnh (Happiness in troubled times) Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh rằng chúng ta cần phải nghĩ đến hai loại khổ đau: khổ đau về thể chất và khổ đau về tinh thần.

Ngày nay, nhờ vào các tiến bộ vượt bực về khoa học và kỹ thuật nên khổ đau thể chất đã giảm đi nhiều trong đời sống nhưng trái lại khổ đau về mặt tinh thần vẫn còn tồn tại. Chính loại khổ đau nầy là cội nguồn của các nỗi bất hạnh của con người.

Mức độ khổ đau về tinh thần hay stress phát xuất từ bối cảnh cạnh tranh trong đời sống mà ra và chúng rất nổi bật tại các thành phố lớn như Kolkata và New Delhi. Ngược lại, tại vùng nông thôn thì khổ đau về thể chất rất nhiều nhưng khổ đau về tinh thần thì lại ít thấy hơn.

Cốt lõi thông điệp của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Darbar Hall of the Taj Palace Hotel, New Delhi là chúng ta nên tìm hạnh phúc và lòng từ bi compassion từ bên trong. Nhắc lại lời nói của nhà Phật học của thế kỷ thứ VIII là Shantideva, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát biểu như sau: “Anh không thể nào dùng da để bọc hết tất cả các gai nhọn mọc trên thế giới được, nhưng da chỉ đủ để bọc hai bàn chân của anh lại mà thôi. Cùng một ý như thế, bằng cách kiềm chế lòng tức giận của mình, anh có thể khuất phục được tất cả kẻ thù”.


Đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ ở một mandala. (Photo Dalailama.com)

Dẫn chứng câu chuyện một nhà sư Tây Tạng đã phải chịu đựng 19 năm tù đày khổ sai trong ngục tù gulag Trung cộng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói “Khi nhà sư đó đến được Ấn Độ và kể lại rằng người rất sợ lúc bị tù đày. Có phải lo sợ cho mạng sống hay không? Sư trả lời là không, điều lo sợ chính yếu là tôi có thể đánh mất lòng từ bi compassion đối với người dân Trung Quốc. Đó là một cách suy nghĩ của người Tây Tạng”.

Niệm kinh giúp người Phật tử đi trong con đường từ bi. Đối với những người không phải là tín đồ, thường chiếm đa số trên thế giới ngày nay “phương cách thế tục để có lòng nhiệt tình” phải được thông qua từ nội quán và từ kinh nghiệm sống.

Prayers help believers to stay on the path of compassion. For non-believers, which he reckoned made up the majority of the world’s population today, “the secular way to warm-heartedness” must come through introinspection and lived experiences, he said.

Chủ bút báo Hindustan Times có hỏi Đức Đạt Lai Lạt là làm thế nào để có thể đề cập được sự đánh mất lòng tin nơi tôn giáo của lớp người trẻ tuổi.

Ngài đã trả lời như sau “Thế giới của chúng tôi thuộc về thế kỷ thứ 20. Một thế kỷ đầy bạo lực với hơn 200 triệu người bị giết chết. Thế kỷ hiện tại là một thế kỷ mới. Nó có đượm màu bạo lực hay không còn tùy thuộc vào tầng lớp trẻ hiện nay. Có thể đây sẽ là một thế giới tốt đẹp, nếu giới trẻ chịu xa lánh tính đạo đức giả và những gì nhân tạo của thế hệ trước. Bằng cách đó tài sản nội tại (inner wealth) của họ sẽ được giàu lên thêm.”

Suhel Seth, đồng sáng lập viên Công ty quảng cáo Equus hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma về “kế hoạch kế thừa succession planning”

Về câu hỏi nầy, Đức Đạt Lai Lạt Ma phá lên cười và trả lời như sau “Đây không phải là một câu hỏi thật sự quan trọng đối với tôi. Nhưng bọn Trung quốc xem vấn đề đó như là một biến cố vô cùng nghiêm trọng vậy… Người dân Tây Tạng phải tự quyết định lấy. Nếu tôi qua đời trong vài ngày tới, người ta vẫn có thể tiếp tục điều hành tổ chức của Đạt Lai Lạt Ma. Nhưng nếu tôi chết trong 20, 30 năm nữa thì ai mà biết được chuyện gì sẽ xảy ra”./.

Tham khảo

Calm mind is key to happiness: Dalai Lama

http://www.hindustantimes.com/India-news/NewDelhi/Calm-mind-is-key-to-happiness/Article1-628224.aspx

Montreal, 2014



Về Đầu Trang Go down
hoangvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Suy ngẫm chữ “Tâm”   Fri Jan 09, 2015 10:18 am



Lương tâm... giá bao nhiêu???


Hỏng rồi! Hà Tam xuống xe đến bên vệ đường vác hai hòn đá to chặn bánh sau lại rồi chui vào gầm sửa xe. Khoảng hơn hai tiếng đồng hồ thì xong. Hà Tam lên xe nổ máy chuẩn bị đi tiếp.

Đúng lúc đó có một ông lão chăn bò bên cạnh đường chạy đến đập đập tay vào cửa xe, nói rất to: "Này anh lái xe, anh đánh rơi đồ kìa!". Ông lão vừa nói vừa chỉ chỉ về phía sau xe. Hà Tam đoán ông lão nhắc đến hai hòn đá chặn bánh sau xe mà mình vác ra lúc nãy. Hà Tam toét miệng cười, nói do vội đi nên quên mất. Nói vậy song anh ta vẫn cố ý nhấn ga cho xe chạy.

Ông lão vừa đuổi theo vừa quát to: "Anh làm người như thế à? Làm người phải có lương tâm chứ? Anh bỏ hai hòn đá to ở trên đường để cho người ta…"

Những lời trách cứ của ông lão chăn bò bị bỏ lại cùng đám bụi phía sau xe. Hà Tam cười thầm trong bụng: Lương tâm giá bao nhiêu tiền một cân?

Chạy hơn trăm cây số vào thành phố, đến trạm kiểm tra của cảnh sát, Hà Tam hết sờ túi này lại nắn túi nọ, tìm mãi không thấy giấy phép lái xe đâu. Hà Tam thừ người ra: Giấy phép lái xe rõ ràng là để trong chiếc ví da lúc nào cũng mang trong người, vậy sao lại tìm không thấy? Cẩn thận nhớ lại, Hà Tam mới chắc là chiếc ví da đã bị rơi khi mình chui vào gầm xe sửa chữa. Đành phải để xe lại trạm cảnh sát, Hà Tam vội vã vẫy xe ôm quay lại chỗ sửa xe.

Khi quay lại chỗ sửa xe ban sáng, Hà Tam tìm khắp nơi không thấy cái ví cũng không thấy ông lão chăn bò đâu. Hai hòn đá chặn bánh xe đã được ai đó khuân vào để bên vệ đường. Trên hòn đá thấy dán mảnh giấy có mấy chữ xiêu xiêu vẹo vẹo: "Muốn lấy lại giấy tờ thì phải vác hòn đá này lên trên đồi".

Ôi mẹ ơi! Hòn đá vừa to vừa nặng, ngọn đồi trước mặt lại vừa cao vừa dốc, vác hòn đá này liệu có bò lên được trên đó không? Hà Tam kêu to lên: "Đừng bắt ép người ta như thế! Cần bao nhiêu tiền cứ ra giá đi!".

Khi Hà Tam vác hòn đá đến chân đồi thì thấy một cái mũ lá có kẹp một tờ giấy viết mấy chữ: "Đừng nói đến tiền, xin mời lên đồi". Hà Tam tiếp tục đi, được một đoạn lại thấy cái mũ lá cũng có tờ giấy yêu cầu Hà Tam cứ vác đá lên đồi, các chuyện khác miễn bàn. Không còn cách nào khác, Hà Tam đành phải bê hòn đá vất vả từng bước bò lên.

Lên được đỉnh đồi thật không dễ gì. Vậy mà trên đó không thấy có người cũng không thấy giấy tờ lái xe, chỉ thấy có tờ giấy dán trên một thân cây yêu cầu Hà Tam vác hòn đá theo hướng chỉ dẫn đi xuống phía dưới.

Xuống được dưới chân đồi vẫn không thấy giấy tờ, ngoài một tờ giấy yêu cầu Hà Tam vác hòn đá đi ngược trở lên. Cứ như thế theo hướng chỉ dẫn trên các tờ giấy, Hà Tam vác hòn đá đi qua mấy quả đồi nhỏ, mệt tưởng chết, cuối cùng mới thấy cái ví da của mình đặt trên một nấm mồ đất trơ trọi.

Giấy tờ đủ cả, tiền bạc không thiếu một xu.

Dưới cái ví tiền còn có một tờ giấy viết:

"Cái ví này là do tôi nhặt được, bây giờ nó đã trở về với chủ của nó. Anh có biết vì sao tôi lại bắt anh vác hòn đá đi một quãng đường xa đến trước nấm mồ này không? Đây là mộ của con trai tôi. Một đêm hai năm trước, nó đi xe máy về nhà, vấp phải hòn đá của một kẻ nào đó không có lương tâm bỏ ở trên đường, bị ngã mà chết. Tôi đưa anh đến tận mồ của con trai tôi là mong anh hiểu rõ một đạo lý:

“Lương tâm là vô giá, làm người có thể để mất cái gì thì mất, nhưng nhất thiết không được để mất lương tâm".



Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Suy ngẫm chữ “Tâm”   

Về Đầu Trang Go down
 
Suy ngẫm chữ “Tâm”
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Sưu Tầm, Lượm Lặt-
Chuyển đến