Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
mien thuy Thầy huyen nghe lang cuoc tien nguyen nghia sinh PHAT cong thang trai HUNG phung nhung thanh Ngày nguoi quan viet ngoc rang pham
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
NHViet



Posts : 215
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Sun Apr 07, 2013 3:40 pm



Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Lính tráng 


Nguyễn Ngọc Chính

Ngôn ngữ Sài Gòn trước 1975 mang đậm chất “lính”. Cũng là điều dễ hiểu vì miền Nam khi đó đang trong thời kỳ “leo thang chiến tranh” với lệnh “tổng động viên” trên toàn lãnh thổ. Thanh niên đến tuổi 18 đều bị “động viên” vào quân ngũ, chỉ trừ một số trường hợp được “hoãn dịch” vì lý do sức khỏe, gia cảnh hoặc học vấn.

“Đi lính” là một thuật ngữ xuất hiện thường xuyên trên đầu môi cũng như trong tâm thức của mọi người. Bậc cha mẹ lo lắng khi con cái đến tuổi “quân dịch” còn thanh niên thì đứng trước một ngã rẽ quan trọng của cuộc đời: “xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Mối lo của họ được thể hiện qua ám ảnh “Thi rớt tú tài…” và còn bi đát hơn với hai câu thơ:

Rớt tú tài anh đi trung sĩ,
Em ở nhà lấy Mỹ cho xong…

Nhạc phẩm Thà như giọt mưa với tiếng hát Ngọc Lan cũng nói về chuyện “thi hỏng tú tài” và kết quả là phải “đợi ngày đi lính”. Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên viết một bài thơ này cho một người con gái tên Duyên, sinh viên trường Luật, và người yêu… “lạc đệ tú tài”. Nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc để biến thành một bản nhạc buồn man mác:  

Người từ trăm năm về qua trường Luật
người từ trăm năm về qua trường Luật
ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi
đau lòng ta muốn khóc
đau lòng ta muốn khóc




Thời nào cũng vậy, những thành phần COCC (chữ tắt của cụm từ Con Ông Cháu Cha), bao giờ cũng có cách luồn lách để khỏi đi lính. Người Sài Gòn thường dùng chữ “trốn lính” hay “trốn quân dịch”. Một trong những cách “trốn lính” là tìm đường cho các “quý tử” đi du học, hay cùng lắm, khi bị “bắt lính” các bậc cha mẹ lo “chạy” để con được phục vụ trong các đơn vị không tác chiến, làm “lính văn phòng” hay còn một thuật ngữ rất phổ biến là “lính kiểng”. Người ta thường chưng hoa kiểng, cây kiểng để làm đẹp căn nhà nhưng “lính kiểng” lại chính là một hình thức “tự làm đẹp đời mình” trước những viễn cảnh u ám của chiến tranh, bom đạn, chết chóc vẫn xảy ra hàng ngày.

Đôi khi loại “lính kiểng” còn được gọi qua cái tên nghe khá ngộ nghĩnh nhưng cũng rất thâm thúy: “lính cậu”. Chả là thứ lính này xuất thân từ những “cậu ấm” trong các gia đình quyền thế hoặc giàu có. Đây là loại “lính nhưng không phải là lính” nếu đem so sánh với những chiến binh ngày đêm phải đương đầu với súng đạn tại những tiền đồn heo hút hay rừng sâu núi thẳm, cách biệt hẳn với chốn phồn hoa đô hội. Xem ra câu “huynh đệ chi binh” không phải lúc nào cũng đúng như ý nghĩa vốn có của nó.  

Hầu như cả thế hệ thanh niên miền Nam, kẻ trước người sau, đều lần lượt rời ghế học trò để khoác trên mình bộ quần áo lính. Đó có thể là sắc áo “rằn ri” của các binh chủng dữ dằn như Nhảy dù (được “thần tượng hóa” thành “thiên thần mũ đỏ”). Lực lượng đặc biệt, Biệt cách dù (Airborne Ranger, Liên đoàn 81 Biệt cách dù trong trận chiến An Lộc đã nổi tiếng với 2 câu thơ: "An Lộc địa, sử ghi chiến tích. Biệt Cách Dù vị quốc vong thân) hay Thủy quân lục chiến đội trên đầu chiếc mũ “mũ be-rê xanh” còn Biệt động quân thì lại chọn màu mũ nâu.

Tuy nhiên, mũ be-rê chỉ dùng khi về phép và các dịp đặc biệt, khi ra trận mọi quân binh chủng đều đội chiếc “mũ sắt” phía bên trong có lót lớp “nũ nhựa” để bảo vệ phần đầu. Trên nguyên tắc là vậy chứ nhiều khi đạn có thể xuyên thủng “mũ sắt” nếu bắn từ khoảng cách gần.



Khẩu súng, chiếc nón sắt và đôi giày trận

Lính bộ binh thì “hiền” hơn với bộ kaki, sau này được thay thế bằng bộ quân phục “bốn túi”, áo bỏ ngoài quần, giống như lính Mỹ. Đặc điểm của bộ binh là phải “gom ống quần” trong khi Không quân và Hải quân được thả ống quần, “lè phè”, thoải mái. Cũng vì thế lính không quân và hải quân sợ nhất là bị “gom ống quần lội bộ”, thuật ngữ ám chỉ bị thuyên chuyển sang bộ binh để đi tác chiến.

“Giày trận” được gọi là “bốt đờ sô” (botte de saut), có loại hoàn toàn bằng da nhưng sau này có loại giày kết hợp giữa da và vải, rất nhẹ trong những chuyến lội rừng, băng suối. Lính “địa phương quân” hay “nghĩa quân” thì hẩm hiu hơn với những đôi giày bằng vải bố, được gọi tắt là “giày bố”, kiểu như giày “ba-ta” nhưng cổ cao hơn giày thường.

Ngay khi bắt đầu trình diện tại các Trung tâm Tuyển mộ Nhập ngũ, thanh niên dù “đăng lính” hay bị “bắt lính” cũng đều phải qua một trong những thủ tục là làm “thẻ bài”. Tấm “thẻ bài” là vật bất ly thân, được đeo trên cổ trong suốt thời gian tại ngũ của quân nhân. “Thẻ bài” tựa như tấm lắc đeo ở cổ con chó nên người Mỹ gọi nó bằng cái tên… “dog tag”!

Mỗi quân nhân bắt buộc có 2 tấm “thẻ bài” bằng kim loại không rỉ, được đeo bằng sợi dây cũng bằng kim loại. Trên mỗi tấm có ghi họ tên, “số quân” và loại máu để khi bị thương, cần tiếp máu, quân y biết ngay loại máu gì. Khi người chiến sĩ tử trận, một tấm thẻ bài được bỏ trong miệng tử sĩ và tấm kia đơn vị sẽ giữ lại để làm tài liệu báo cáo.  


Tấm thẻ bài

Hình trên là tấm thẻ bài của tướng Nguyễn Văn Điềm, “số quân” 50/200.102, ông thuộc loại máu A. (Người anh em ở bên kia chiến tuyến dùng từ “số lính” thay cho “số quân”). Hai số đầu của “số quân” là năm sinh sau khi trừ 20. Như vậy, tướng Điềm sinh năm 1930 (50 – 20 = 30). Tôi sinh năm 1946 nên có hai số đầu là 66: 66/168.566.  “Số quân” của người lính tựa như “số an sinh xã hội” (social security number của Mỹ gồm 9 số), số “căn cước” (thời VNCH) hay chứng minh nhân dân (thời CHXHCNVN).


Thẻ Căn Cước thời VNCH (mặt trước)


Thẻ Căn Cước thời VNCH (mặt sau)



Bài hát “Tấm Thẻ Bài”  qua tiếng hát “liêu trai” của Thanh Thúy đã gây nhiều xúc động trong lòng người nghe và mãi đến bây giờ, mỗi lần được nghe lại bài hát nầy hoặc là nhìn thấy lại hình tấm thẻ bài chúng ta càng thấy ngậm ngùi và thương tiếc những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua. Nhạc sĩ Huyền Anh đã viết những câu thật xúc động:

Sau cuộc chiến này còn chi không anh?
Còn chi không anh?
Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài
Đã mờ mờ mang tên anh.
….
Anh đã đi, đã đi vào vùng biển đời người
Anh ngủ yên, ngủ yên như cỏ úa
Anh ơi sau cuộc chiến này
Có còn chi để lại
Hay chỉ còn tấm thẻ bài mang tên anh




Trong số các món quân trang, quân dụng được cấp phát, ngoài chiếc balô người lính còn có poncho là một tấm vải mưa trùm đầu theo kiểu vải khoác của người Nam Mỹ. Poncho lại còn có một công dụng mà bất cứ người lính nào cũng chẳng muốn sử dụng: poncho sẽ được dùng để khâm liệm xác của tử sĩ bỏ mình trên chiến trường.  


Bài hát Kỷ vật cho em có một đoạn rất bi thương:

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chít khăn sô lên đầu vội vã.. Em ơi!

Bài hát này do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ Để trả lời một câu hỏi của Linh Phương. Ca khúc ra đời vào năm 1970, trong thời kỳ cuộc chiến tranh Việt Nam đang leo thang và trở thành một trong những bài hát nổi tiếng nhất tại miền Nam. Đã có một thời, bản nhạc bị chính quyền cấm đoán vì làm “nản lòng chiến sĩ” đồng thời “băng hoại hàng ngũ quân đội” dù Phạm Duy đã cố gắng sửa câu “Không về bằng chiến thắng Pleime” của Linh Phương thành “Có thể bằng chiến thắng Pleime”.

Lời bài hát rất thật nhưng cũng không kém phần bi lụy với những ngôn từ như “anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa, anh trở về bằng chiếc băng ca, trên trực thăng sơn màu tang trắng”… “anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân. Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân bên người yêu tật nguyền chai đá” và… “anh trở về nhìn nhau xa lạ, anh trở về dang dở đời em, ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen, cố quên đi một lần trăn trối”.  


Thi thể những tử sĩ được chùm poncho chờ trực thăng đưa về hậu cứ

Không phải bài hát nào về lính cũng nhuộm màu bi quan như Kỷ vật cho em. Chúng ta còn vô số bài với nhịp điệu vui tươi và ngôn từ nhí nhảnh như bài Tình thư của lính do Trần Thiện Thanh sáng tác.

Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước đâu em.
Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa đa tình.
Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay.
Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy.

Và kết thúc lá thư với một câu thật dễ thương:

Thư của lính, thư không được dài như mong ước đâu em.
Thư của lính chấm dứt ở đây, sau khi đề thêm hai chữ "Hôn em..."

(Xem video này được các diễn viên trẻ trình diễn trên sân khấu hải ngoại  http://www.youtube.com/watch?v=b1kHk7ZW5VM ).

Sau năm 1975, Thư của lính vẫn còn xuất hiện. Lang thang trên mạng tôi bắt gặp bài hát được hòa âm và làm clip với lời dẫn: “Tặng các chiến sĩ quân đội Việt Nam” (ý muốn nói Quân đội Nhân dân Việt Nam). Bản nhạc của Trần Thiện Thanh đã được sửa ngay từ  câu đầu “Từ khi anh thôi học và từ khi anh khoác áo treilli” thành “Từ khi anh thôi học và từ khi anh khoác áo lính ra đi” và cứ như thế, lời và âm điệu của bài hát được “biên tập” theo dạng karaoke… Xin mời vào xem tại:
http://yume.vn/haianhyeunhacvietnam/article/tinh-thu-cua-linh-tang-cac-chien-si-quan-doi-viet-nam-karaoke.35D77573.html

Sau khi so sánh hình ảnh thể hiện trong 2 clip mang cùng tên Tình thư của lính, người ta nhận thấy ngay chân dung của hai người lính và ngộ ra một điều thật đơn giản: trong đánh nhau không phải cứ to xác là thắng theo kiểu “mạnh được yếu thua”, trái lại việc thắng-bại còn được quyết định qua nhiều yếu tố khác nữa. Truyện David & Goliath là một thí dụ điển hình.


Thủy quân lục chiến tái chiếm Huế sau Tết Mậu Thân 1968

Tổng Thống Mỹ, John F. Kennedy, trong diễn văn nhậm chức năm 1961 đã từng tuyên bố: “Đừng hỏi tổ quốc có thể làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn có thể làm gì cho tổ quốc” (Ask not what your country can do for you — ask what you can do for your country). Đối với người lính bình thường, họ không bao giờ có những ý nghĩ cao xa, lý tưởng như ông Kennedy mà chỉ đơn thuần làm theo những yêu cầu của tình hình chính trị tại miền Nam khi đó.

“Trốn lính” là chấp nhận sống bên lề xã hội, “trốn chui trốn nhủi” khi thấy bóng dáng cảnh sát, quân cảnh. Cuộc sống của người trốn quân dịch là những chuỗi ngày bấp bênh, không tương lai ngay giữa Sài Gòn đô hội. Cũng vì thế, có người tự chặt “ngón tay bóp cò” (ngón trỏ) để khỏi đi lính, có người “tự hành xác”, “ốm tong ốm teo” để được các trung tâm nhập ngũ trả về vì “không đủ sức khỏe”.


Cảnh bắt thanh niên trốn quân dịch tại Sài Gòn

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã một thời “trốn lính” để không một ngày nào phải khoác áo treilli. Với thân hình khẳng khiu, ốm yếu, anh đã ung dung ngồi tại nhà để viết nhạc, trong đó có cả những bài “phản chiến”. Có người bảo TCS đã “đâm sau lưng chiến sĩ”. Người ta đồn TCS còn nhận được sự che chở của Chuẩn tướng Lưu Kim Cương, tư lệnh Sư đoàn 5 Không quân (Lưu Kim Cương đã tử trận vì trúng đạn B-40 của VC, trong khi đang đi trên xe Jeep điều quân giải vây vành đai phi trường Tân Sơn Nhất ngay sau Tết Mậu Thân 1968). Cái chết của Lưu Kim Cương là nguồn cảm hứng cho nhạc sĩ TCS sáng tác nhạc phẩm Cho một người nằm xuống:

Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
Đã bay cao trong vòm trời đầy
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai từng ngày
Không có ai đời đời
Ru anh ngủ vùi mùa mưa tới
Trong nghĩa trang này có loài chim thôi.

Nhà văn Thế Phong trong Hồi ký ngoài văn chương phát hành tại Westmington ghi lại chuyện giữa TCS và Lưu Kim Cương: “Buổi đưa tiễn [Lưu Kim Cương] đến nơi an nghỉ cuối cùng có rất đông nghệ sĩ từng giao du yêu mến chàng. Bài nhạc “Anh nằm xuống” [bài hát chính thức có tựa đề “Cho một người nằm xuống” chứ không phải là “Anh nằm xuống” -  chú thích của NNC] của Trịnh Công Sơn là một ví dụ. Nhưng bữa nay không thấy mặt Sơn, buổi sinh thời Sơn giao du với Cương, được Cương yêu mến, nên Cương đề nghị với Tướng Tư Lệnh đưa Sơn vào lính không quân để cho qua cơn binh đao nội chiến. Tư lệnh trả lời Cương, hình như điệu nhạc phản chiến của Sơn không hợp với binh chủng này, nếu nhận làm nhạc công như nhiều nhạc sĩ khác như Duy Quang, Nguyễn Trung Cang, Trí khùng... chưa chắc Sơn đã làm công việc này hoàn hảo, nên tướng chối từ”.

Đã có rất nhiều văn nghệ sĩ khoác áo kaki. Làng tân nhạc ngày xưa có 4 nam ca sĩ hàng đầu mà người ta thường gọi là “tứ trụ”: Duy Khánh (1938-2003), Hùng Cường (1935-1998), Nhật Trường (1942-2005) và Chế Linh. Duy Khánh thường hát với Thanh Thúy, Chế Linh đi đôi với Thanh Tuyền, Nhật Trường rất ăn ý với Thanh Lan và Hùng Cường hát chung với Mai Lệ Huyền. Họ thường lên sân khấu với bộ đồ treilli để hát những ca khúc về lính trong khi các nữ ca sĩ đóng vai… “em gái hậu phương”. Tùy theo định kiến của người xem nên có nhiều người “thương” nhưng cũng không ít kẻ “ghét” những hoạt cảnh về lính trên sân khấu.

Ca sĩ Nhật Trường, chính là nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan năm 1965, phục vụ tại Cục tâm lý chiến thuộc Bộ tổng tham mưu từ năm 1965 cho đến ngày Sài Gòn đổi chủ. Nhật Trường đã từng làm việc tại Ðài phát thanh Sài Gòn và sau đó là Truyền hình Quân Ðội, từng là Trưởng ban văn nghệ của Đài và đến năm 1968 anh còn phụ trách thêm chương trình phóng sự chiến trường. Năm 1993, Nhật Trường sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình (ODP) và qua đời vào ngày 13/5/2005 tại thành phố Westminster, Quận Cam, do bệnh ung thư phổi.

Trong số khoảng 200 bài hát Nhật Trường Trần Thiện Thanh sáng tác thì có đến hơn nửa về lính. Điển hình là: Anh không chết đâu anh (vinh danh Đại úy “Mũ đỏ” Nguyễn Văn Đương), Người ở lại Charlie (vinh danh Đại tá Nguyễn Ðình Bảo), Rừng lá thấp (viết tặng Đại Úy Vũ Mạnh Hùng, tử trận trên cầu Thị Nghè), Tuyết trắng (viết về Không quân), Hoa biển (viết về Hải quân), Biển mặn (kể lại cuộc đời quân ngũ của chính tác giả), Người yêu của lính, Màu mũ anh, màu áo em…  


Nhật Trường - Trần Thiện Thanh

Hùng Cường (1935-1998) là một ca sĩ, nghệ sĩ cải lương, diễn viên điện ảnh và diễn viên kịch nổi tiếng từ thập niên 1950 tại Sài Gòn. Thập niên 1960, Hùng Cường cùng Mai Lệ Huyền chuyển sang thể loại “nhạc kích động” theo các điệu nhanh như Twist, Bebop… gây nên một không khí mới mẻ trong nền âm nhạc thời đó. Hùng Cường tình nguyện vào binh chủng Biệt động quân với cấp bậc Hạ sĩ đóng tại trại Đào Bá Phước. Chàng ca sĩ thuộc loại “lính văn phòng” đóng tại Sài Gòn để còn thì giờ đi hát tại các vũ trường, đại nhạc hội và đóng phim.

Hùng Cường sở hữu giọng hát “ténor” và thành công với các bản nhạc như Dù Hoa Lạc Lối, Đám Cưới Nhà Binh, Một Trăm Phần Trăm, Lính mà em, Làm quen với lính… Từ những khán giả hâm mộ giọng ca Hùng Cường những phim anh đóng cũng được người xem chú ý như: Chân Trời Tím, Mãnh Lực Đồng Tiền, Còn Gì Cho Nhau… Trong lãnh vực cải lương, Hùng Cường hát chung với Bạch Tuyết tạo thành một “cặp bài trùng” trên sân khấu với các vở tuồng nổi tiếng một thời như Má hồng phận bạc, Tình chú Thoòng…

Như đã nói, một nghệ sĩ được gọi là thành công khi có người hâm mộ nhưng cũng không thể nào tránh khỏi sự “dị ứng” của những người thuộc nhóm… “không ưa”, trong đó có cả những người lính.


Hùng Cường & Mai Lệ Huyền: “Lính Mà Em”

Ca sĩ Duy Khánh (1936-2003), người gốc Quảng Trị, nổi danh từ thập niên 1960 với dòng nhạc dân ca, nhạc quê hương và nhạc lính. Ông còn được biết đến như một nhạc sĩ tài năng với hơn 30 ca khúc, nổi tiếng phải kể đến Thương về miền Trung, Lối về đất mẹ, Ai ra xứ Huế, Xin anh giữ trọn tình quê...

Duy Khánh là một người lính ngành Chiến tranh Chính trị nhưng đồng thời cũng là một ca sĩ “đào hoa”, ăn mặc rất đúng mốt và lịch lãm. Nhờ thân hình cao lớn và cân đối, nên thứ gì khoác vào người (nhất là những bộ đồ lính) giúp chàng ca sĩ “hớp hồn” các fan hâm mộ, nhất là phái yếu. Áo may ở La Ligne, quần ở Văn Quân, giày đóng ở Trinh đó là những địa chỉ “thời thượng” ở Sài Gòn ngày xưa.  

Sau 1975, Duy Khánh ở lại Sài Gòn và đến năm 1988 được bảo lãnh sang Hoa Kỳ, tại đây ông tiếp tục ca hát và sáng tác. Duy Khánh mất vào ngày 12/2/2003 tại bệnh viện Fountain Valley, California, thọ 68 tuổi. Giọng hát Duy Khánh có người rất thích nhưng cũng có người lại chê là “nhạc sến”. Tại Hoa Kỳ, “giọng ca một thời” Duy Khánh hát Người lính già xa quê hương của Nhật Ngân. Như đã nói, “hay” hay “dở” còn tùy người nghe.


Duy Khánh

“Tứ trụ” của sân khấu ca nhạc Sài Gòn ngày xưa hiện nay chỉ còn lại Chế Linh. Anh cũng là ca sĩ gây nhiều tranh cãi nhất trong vấn đề “yêu” hay “ghét”, “sến” hay “không sến”. Chế Linh là người gốc Chàm ở Phan Rang, tương tự như trường hợp của nhạc sĩ Từ Công Phụng. Có thể nói, hai văn nghệ sĩ này tượng trưng cho hai “trường phái”, hai “thái cực”: “hâm mộ” người này thì sẽ “dị ứng” với người kia.

Chế Linh có thiên hướng hát về nhạc chiến tranh ca tụng người lính VNCH dù anh không phải nhập ngũ vì thuộc thành phần “dân tộc thiểu số”. Những bài hát nổi tiếng nhất phải kể đến: Đêm nguyện cầu, Thành phố buồn, Thói đời, Thương hận, Trong tầm mắt đời, Đêm buồn tỉnh lẻ, Áo em chưa mặc một lần...

Chế Linh ở lại Sài Gòn sau năm 1975. Năm 1976-1978, anh bị bắt vì “vượt biên trái phép” và tội “phản động”, biệt giam 28 tháng. Năm 1980, anh vượt biên thành công sang Mã Lai, sau đó định cư tại Toronto, Canada. Ngoài việc là một trong những giọng ca nam hát “nhạc vàng” được yêu thích nhất, Chế Linh còn nổi tiếng là người có nhiều vợ con, tính cho đến tháng 1/2007, anh đã có 4 vợ và 14 đứa con!

Có một thời, ở Sài Gòn, người ta bàn tán cái tên Chế Linh theo kiểu “nói lái” sẽ trở thành… “Lính chê”! Theo lời giải thích của Chế Linh, đó cũng là điều dễ hiểu vì anh được “miễn dịch” với lý do “dân tộc thiểu số” nên quân đội “chê”. Một số người lại hiểu theo nghĩa khác, họ nói những bài hát về lính của anh lại bị… “lính chê”. Rõ ràng đây là quan điểm của những người lính không thích những bài anh hát về họ.

Một lần nữa, vấn đề “nhạc sến” lại được đặt ra. Chủ đề “sến” sẽ được bàn đến ở một entry khác trong loạt bài Ngôn ngữ Sài Gòn xưa. 


(Còn tiếp)



Được sửa bởi NHViet ngày Thu May 30, 2013 10:57 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NgViet
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Lính tráng (2)    Mon Apr 08, 2013 4:01 pm


Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Lính tráng (2)


(Tiếp theo)

Trong lãnh vực văn chương, Sài Gòn xưa không thiếu những ấn phẩm viết về lính. Một trong những tác phẩm nổi bật là Đời Phi Công của nhà văn Toàn Phong, bút hiệu của Đại tá Không quân Nguyễn Xuân Vinh.  Đời Phi Công xuất bản lần đầu năm 1960 và được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc cùng năm. Trong một phỏng vấn ở hải ngoại sau này, tác giả Toàn Phong cho biết ông bắt đầu viết Đời Phi Công vào năm 1959 và đăng mỗi tuần một kỳ vào ngày thứ Hai trên nhật báo Tự Do.

Đời Phi Công là một cuốn truyện dưới dạng những bức thư của một phi công viết cho người yêu là sinh viên tên Phượng để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày “lướt gió tung mây”, đêm thì dõi theo “ánh tinh cầu”. Những bức thư ghi lại kỷ niệm vui buồn trong những phi vụ, kể lại một cuộc sống vừa lãng mạn vừa sôi nổi  của một phi công thời chiến.

Đời Phi Công ra đời làm nức lòng các thanh niên thiếu nữ. Thanh niên thì nuôi giấc mộng hải hồ, thiếu nữ thì mơ có người yêu là một chàng phi công hào hoa “đi mây về gió”. Tác phẩm này đã là đề tài của nhiều buổi thuyết trình và có những đoạn được trích dẫn trong chương trình “kim văn” trung học đệ nhất cấp.

Trong một bức thư gửi cho Phượng khi bước chân sang Pháp học lái máy bay, Toàn Phong viết: “Em cũng như tất cả những người thân-tình, cũng như tất cả những người dân Việt, chắc hẳn phải đồng ý rằng nước nhà cần có đủ mọi ngành quân-lực. Đường đời muôn vạn nẻo anh đã chọn lấy một hướng, dù gian-nan muôn trùng anh cũng sẽ mỉm cười dấn bước”.

Ngôn ngữ trong Đời phi công là một thứ ngôn ngữ gợi hình. Tác giả gọi những bức thư là “giòng lá thắm”, ánh mắt của cô Phượng “trông như ánh pha-lê”, hành trình của người con trai thời chiến như “một chiếc lá vàng đã trót được thả trên giòng đời” còn phi công được thi vị hóa như những “tráng-sĩ” hay “hiệp-sĩ không-trung”…

Nếu để ý, ta sẽ thấy những từ Hán-Việt đều được Toàn Phong viết có gạch nối. Đó là phong cách viết cầu kỳ của người Sài Gòn xưa. Tham khảo thêm về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh tại http://nguyenngocchinh.multiply.com/journal/item/27  (Đà Lạt sương mù: Hồi ức về một người thân).


Phi công VNCH sau phi vụ “Bắc Phạt” năm 1965

Nhà văn quân đội thứ hai mà tôi muốn đề cập đến là Thế Uyên. Tôi biết Thế Uyên khi còn học tại Ban Mê Thuột. Khi đó ông lưu lạc đến cao nguyên đất đỏ trong vai trò một giáo sư dạy môn Công dân Giáo dục và Triết trước khi bị động viên vào khoá 14 Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, cùng một lượt với nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.

Thầy trò chỉ hơn nhau có 11 tuổi nhưng, đối với tôi, thầy Dũng mang dáng dấp của một người từng trải với điếu thuốc lúc nào cũng gắn trên môi. Thế Uyên, bút hiệu của Nguyễn Kim Dũng, sinh năm 1935 tại Hà Nội trong một gia đình có truyền thống văn học. Mẹ ông là em ruột nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, và là chị nhà văn Thạch Lam.

Sau 1975, cũng như hàng trăm ngàn sĩ quan của miền Nam, ông bị đi tù cải tạo một thời gian, trước khi đến định cư tại Mỹ. Cách đây vài năm ông bị “stroke” tê bại một nửa người, phải ngồi trên xe lăn để di chuyển trong nhà. Tuy nhiên, bằng một nghị lực phi thường, ông đã tập viết lại bằng tay trái, và đã viết bài cho các tạp chí văn học hải ngoại.


Đoạn đường chiến binh – Thế Uyên

Thế Uyên là tác giả của các tác phẩm nổi tiếng xoay quanh người lính trong chiến tranh Việt Nam như Mười ngày phép của một người lính, Tiền đồn, Đoạn đường chiến binh... Trong một cuộc phỏng vấn Thế Uyên cho biết:

“Nếu nghề dạy học đã làm tôi hút thuốc lá từ lúc trẻ cho tới khi bị stroke, thì nghề làm lính làm tôi thích bia rượu và thay đổi hẳn quan niệm và cách viết văn. Tôi từ bỏ (hay bị từ bỏ, vì hoàn cảnh sống có tác động mạnh đến bút pháp) lối viết và đề tài cũ, giã từ những mối tình trai gái lãng mạn trong thành phố an bình, chuyển sang chiến tranh và các hệ luỵ của nó. Với tôi, quân đội và chiến tranh, như một vết cắt, thành trước và sau, before and after, trước sex vẫn hiện diện, nhẹ nhàng thôi, bây giờ sex nặng nề, tràn đầy… Như trong Tiền Đồn, Mười Ngày Phép Của Một Người Lính, Nỗi Chết Không Rời...


Thủ bút và chân dung Thế Uyên (tranh của Tạ Tỵ)

Trong tác phẩm Tiền đồn, Chị Ba, người nông dân tượng trưng cho người dân Việt Nam -ở cả miền Nam lẫn miền Bắc - đã phải, được và bị làm tình với cả ba phe lâm chiến hồi đó: lính miền Bắc, lính miền Nam và lính Mỹ. Đó là một đề tài sex rất mới lạ trong mảng chiến tranh mà Thế Uyên đã đưa vào tiểu thuyết. Có người bảo giữa tình dục và chiến tranh hoàn toàn không có gì liên quan đến nhau nhưng Thế Uyên lại nghĩ khác:

“…Nhà văn Võ Phiến (một người không đi lính và không ở tiền tuyến với súng đạn chông mìn) không đồng ý với phân tích đó, cho rằng chiến tranh vẫn có đó, cho nhiều người, nhưng không liên quan gì đến tăng hay giảm sex trong văn chương... Tôi tôn trọng ý kiến nhưng không đồng ý với bậc đại trưởng lão này. Để tránh tranh cãi, tôi xin nói lại thế này: Riêng đối với cá nhân tôi, đang khi và sau khi rời mặt trận, tôi cảm thấy phải sử dụng tới sex, tới làm tình, nghĩa là sự sống, tạo sự sống, mới diễn tả được chiến tranh, sự chết, huỷ diệt. Tôi cảm thấy thế thì phải viết như thế, thật tự nhiên, không gò ép…

Ở Tiền đồn còn có những chi tiết nhỏ nhoi mà những tác giả chưa từng sống trong tâm trạng của người lính trực tiếp cầm súng không thể nào có được: “Mới chỉ thiếu đi một khoảnh khắc ánh trăng ... mình mệt rồi, chàng thì thào, phải kiếm đôi giày khác, đưa đôi này đi làm fermeture. Một thằng bạn nào đã nói: Phải đi giày có fermeture mới đỡ căng thẳng thần kinh... Hắn có lý đấy, chàng sợ nhất ban đêm bị đánh bất ngờ, xỏ giày không kịp, cứ chân không tác chiến và chạy băng bờ bụi…”

Trong giai đoạn “chiến tranh du kích”, người Sài Gòn dùng cụm từ “đắp mô” để chỉ những hoạt động của du kích MTGPMN tối tối thường ra các trục lộ giao thông phá hoại đường xá. Trong Tiền Đồn, chuyện “đắp mô” của “những người anh em phía bên kia” lại được Thế Uyên diễn tả bằng “ngôn ngữ của lính”:  

“Hai tiếng nổ lớn kế tiếp vang dội. Những viên đất nhỏ rơi lả tả trên đầu, quần áo. Vũ quay đầu lại la lớn về phía toán đang dùng TNT phá ụ: "Còn mấy cái mả Hồ Chí Minh nữa mới xong?". Một tiếng la trả lời: "Ba mả nữa!".


Người lính tiền đồn và gia đình

Dĩ nhiên trong lãnh vực báo chí Sài Gòn xưa tràn ngập những tin tức liên quan đến lính, từ các mục Tin Chiến Sự, Tin Chiến Trường đến các mục Hậu phương & Tiền Tuyến, Ủy lạo binh sĩ, v.v… Riêng quân đội cũng có cơ quan báo chí trực thuộc Phòng 5 Bộ tổng tham mưu với tờ Phụng Sự, ấn phẩm ra hàng tháng trong suốt thời gian từ 1953 đến 1960. Phụng Sự là tạp chí nghị luận, biên khảo và văn nghệ với sự góp mặt của Toàn Phong (tác giả Đời Phi Công đã đề cập đến ở phần trên), Hoàng Ngọc Liên, Hà Liên Tử, Nguyễn Mạnh Côn, Uyên Thao, Phan Lạc Tuyên…

Báo Chiến Sĩ Cộng Hòa (1959-1974) là cơ quan hợp nhất hai tờ Phụng Sự và Quân Đội và tạp chí Chỉ Đạo xuất hiện từ tháng 10/1956 thuộc Ủy ban Chỉ đạo chiến dịch Tố Cộng. Ngoài những nhà văn vừa kể, những tờ báo lính còn xuất hiện bài vở của các cây bút tiếng tăm trong và ngoài quân đội như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Thiệu Lâu, Toan Ánh, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Bình Nguyên Lộc, Trần Phong Giao, Dương Kiền, Duyên Anh, Hà Huyền Chi…

Nguyệt san Quân Đội của Nha Chiến tranh Tâm lý xuất hiện từ đầu năm 1957 đến 1960, do Trung-úy Tô Kiều Ngân làm chủ bút (hẳn bạn đọc còn nhớ tiếng sáo của Tô Kiều Ngân trong chương trình Tao Đàn trên đài phát thanh Sài Gòn). Tiếp đến là những tờ Tiền Phong, Lý Tưởng, Mũ Đỏ, Lướt Sóng, Tinh Thần, Khởi Hành, và các nhật báo Tiếng Dân, Dân Việt, Tiền Tuyến…

Tổng thống Ngô Đình Diệm đã xác định trong một bài diễn văn tại trường Sĩ quan Võ bị Đà Lạt năm 1960: “Cuộc chiến tranh ta phải đương đầu không phải là một thứ chiến tranh quân cụ, một thứ chiến tranh bấm nút, hay một thứ chiến tranh chỉ liên hệ đến một số quân nhân mà thôi đâu. Thứ chiến tranh mà ta phải đối địch là thứ chiến tranh cách mạng, một thứ chiến tranh lý tưởng liên hệ trực tiếp đến toàn dân, và trong đó yếu tố tinh thần, yếu tố tin tưởng vào chế độ của mình là yếu tố quyết định”.

Ngày Quân-lực VNCH được chính thức chọn vào ngày 19/6/1965 trong thời Ðệ nhị Cộng hòa (dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, và Chủ tịch Ủy ban hành pháp Trung ương, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ) sau khi nền Đệ nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Từ năm 1965 cho đến 1974 đều có các cuộc diễn binh trọng thể để kỷ niệm Ngày Quân Lực tại Sài Gòn. (Một sự tình cờ ngẫu nhiên 19/6 lại trùng với ngày sinh của tác giả bài viết này (19/6/1946)!


Diễn binh mừng Ngày Quân Lực 19/6

Khẩu hiệu chính của quân đội VNCH là “Danh dự – Trách nhiệm – Tổ quốc”, mỗi binh chủng lại còn có khẩu hiệu riêng, chẳng hạn như Không quân là “Tổ quốc, Không gian”, “Bảo quốc, Trấn không” hoặc Cảnh sát thì có “Cảnh sát Quốc gia, Phục vụ Đồng bào”… Các đơn vị quân đội VNCH ngoài tên gọi còn có những “biệt danh” nghe rất kêu nhưng cũng rất ngổ ngáo. Thủy quân lục chiến có Quái Điểu (tiểu đoàn 1), Trâu Điên (tiểu đoàn 2), Sói Biển (tiểu đoàn 3), Kình Ngư (tiểu đoàn 4), Hắc Long (tiểu đoàn 5), Thần Ưng (tiểu đoàn 6), Hùm Xám (tiểu đoàn 7), Ó Biển (tiểu đoàn 8 ), Mãnh Hổ (tiểu đoàn 9). Biệt động quân có biệt hiệu “Cọp ba đầu rằn”, Không quân có các phi đoàn Thần Phong, Thần Tượng, Song Chùy, Phi Hổ, Hổ Cáp, Thiên Lôi, Hỏa Long, Phượng Hoàng…

Quân lực VNCH có một số cơ sở đào tạo và huấn luyện. Đứng đầu là Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, đào tạo những thanh niên tình nguyện trở thành sĩ quan hiện dịch ra trường với cấp bậc Thiếu úy. Khi mới thành lập năm 1948, thời gian huấn luyện tại trường chỉ kéo dài 9 tháng. Năm 1957 tăng lên thành 12 tháng rồi đến năm 1961 là 2 năm.

Đến giữa thập niên 1960, khóa học của Trường Võ bị Đà Lạt là chương trình 3 năm, từ năm 1966 trở đi lại tăng lên 4 năm. Học trình lúc đầu tương đương với trường cao đẳng. Sinh viên mãn khóa được miễn thi nhập học vào trường đại học vì coi như hoàn tất bằng tú tài toàn phần (gồn Phần I, lớp Đệ nhị và Phần II, lớp Đệ nhất). Đến năm 1966, sinh viên tốt nghiệp Trường Võ Bị có văn bằng tương đương với bằng cử nhân khoa học. Hai năm đầu sinh viên mang cấp bậc trung sĩ, hai năm sau là chuẩn úy. Sinh viên học xong 4 năm thì tốt nghiệp với cấp thiếu úy.

Khóa học bao gồm những môn vũ khí, truyền tin, tác chiến, kết hợp lý thuyết với thực hành. Theo truyền thống, để được gắn Alpha, khóa sinh sau những tuần huấn nhục phải leo lên ngọn Lang Biang để nhận phù hiệu trên đỉnh ngọn núi cao nhất Đà Lạt.

Trường Võ bị Quốc gia lấy Học viện West Point của Hoa Kỳ làm mẫu mực. Hai năm đầu chương trình học cho các sinh viên đều giống nhau. Bắt đầu từ năm thứ ba trở đi thì tách ra ba quân chủng riêng biệt, trong đó 1/8 thuộc Không quân, 1/8 thuộc Hải quân và 3/4 thuộc Lục quân.


Trường Võ bị Quốc gia

Năm 1965, quân lực VNCH tiếp nhận khái niệm và cơ cấu Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) khi đó được áp dụng trong Quân đội Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan). Tổng cục CTCT được tổ chức thành 5 cục bao gồm Cục chính huấn, Cục tâm lý chiến, Cục xã hội, Cục an ninh quân đội, Cục quân tiếp vụ và một trường Ðại học Chiến Tranh Chính Trị cũng đặt tại Đà Lạt. Tại đây, sinh viên phải qua một chương trình huấn luyện 2 năm để trở thành Thiếu úy hiện dịch. Chương trình học nhấn mạnh về khoa học xã hội và chính trị. Sinh viên phải học quân sự hàng năm tại Trường Võ bị Quốc gia để có thể chỉ huy một trung đội bộ binh với đầy đủ kiến thức về chiến thuật, chiến lược. Bên cạnh đó là việc học những kiến thức chuyên môn tại trường để trở thành sĩ quan chiến tranh chính trị.


Sinh viên Sĩ quan Võ bị

Trường Bộ binh Thủ Đức là nơi tập họp các thanh niên có bằng Tú tài Phần I trở lên (lớp Đệ nhị) bị động viên vào quân ngũ để được đào tạo trở thành sĩ quan trừ bị và ra trường với cấp bậc Chuẩn úy. Trong suốt thời gian hoạt động 1953-1975, trường Thủ Đức đã đào tạo hơn 80.000 sĩ quan trong đó khoảng 4.000 sĩ quan đặc biệt là những hạ sĩ quan được đặc cách đi học lớp sĩ quan. “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu” và “Cư An Tư Nguy” (Muốn sống hòa bình phải nghĩ đến chiến tranh) là những châm ngôn của Trường.

Trường Bộ binh Thủ Đức là nơi tôi đã từng trải qua với vô vàn kỷ niệm, vui cũng như buồn rất khó quên. Bò hỏa lực, đoạn đường chiến binh, leo dây tử thần, hít đất, thụt dầu, phạt dã chiến là những món “ăn chơi” không thể thiếu trong thời gian “huấn nhục” của người chiến binh. Vui nhất phải kể đến những lần về phép cuối tuần tại Sài Gòn nếu không có lệnh “cấm trại 100%”.

Người ta thường gọi sinh viên sĩ quan Thủ Đức chúng tôi là “lính con cá” vì trên cầu vai không có lon mà chỉ có chữ Alpha tựa như hình con cá! Phải đợi đến khi tốt nghiệp ra trường mới được đeo lon Chuẩn úy (Omega). Trường Bộ binh Thủ Đức có “khu bưu chính” (KBC) mang số hiệu 4100, con số 4100 (bốn ngàn một trăm) được sinh viên chúng tôi đọc trại thành “bốn người một mâm”… chả là vì mỗi khi lên “nhà bàn” ăn cơm thì cứ bốn người ngồi chung một carrée!


Sinh viên sĩ quan Thủ Đức

Tại Sài Gòn còn có Trung tâm Huấn luyện Quang Trung chuyên đào tạo binh sĩ cho các đơn vị tác chiến khắp “bốn vùng chiến thuật”. Tôi cũng đã từng nếm mùi quân trường Quang Trung trước khi được chuyển sang Thủ Đức ở giai đoạn 2. Quang Trung có món “chà láng”: những lúc rảnh rỗi tất cả phải ra giao thông hào, dùng càmen bằng inox để chà đất cho thật láng! Một việc làm “vô bổ” nhưng lại có tác dụng khiến cho những thanh niên mới khoác áo lính phải bận rộn, không còn thì giờ rảnh rỗi để nhớ nhà, nhớ cuộc đời dân sự.

Trường Huấn luyện Không quân, Trường Sĩ quan Hải quân và Trường Hạ sĩ quan (tốt nghiệp với cấp bậc Trung sĩ, thường được gọi là Trường Đồng Đế) tất cả đều ở Nha Trang, “miền quê hương cát trắng”. Trường Thiếu sinh quân đặt tại Vũng Tàu, ưu tiên cho các con em tử sĩ. Còn một số trung tâm huấn luyện chuyên môn cho các quân binh chủng như Pháo binh, Công binh, Quân cụ, Quân khuyển, Quân y, Truyền tin… đặt tại các địa phương trên cả nước.  

Sẽ là điều bất công nếu không nói về Đoàn Nữ Quân Nhân, “những bông hồng trong bộ đồ lính” hay nói một cách thi vị hơn: “Hoa lạc giữa rừng gươm”. Trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân đầu tiên là nữ Đại tá Trần Cẩm Hương, ái nữ của kỹ sư Trần Văn Mẹo – Tổng trưởng Công chánh thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Nữ quân nhân hiện diện tại các đơn vị quân đội với quân phục tác chiến ở tiền phương hoặc với đồng phục màu xanh tại các đơn vị tham mưu. Họ có mặt trong mọi binh chủng và ngành chuyên môn trong quân lực và vào thời điểm “leo thang chiến tranh”, quân số của Đoàn Nữ Quân Nhân lên tới xấp xỉ 10.000 người.  

Trường Nữ Quân Nhân nằm trên đường Nguyễn Văn Thoại (ngày nay là Lý Thường Kiệt), giữa Trường đua Phú Thọ và Chợ Tân Bình. Trường được thành lập từ giữa thập niên 1960 và đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hồ Thị Vẽ từ ngày đầu tiên cho đến ngày cuối cùng, 30/4/1975.

Một nữ quân nhân xuất thân từ Trường Nữ Quân Nhân chưa có đủ chuyên môn để phục vụ các đơn vị, nên thường phải trải qua một thời gian huấn luyện nữa, như ngành quân y, học tiếp ở Trường Quân Y để trở thành một y tá lành nghề. Tùy theo trình độ văn hóa, người nữ quân nhân có thể phục vụ trong quân đội như “lính trơn”, hạ sĩ quan hay sĩ quan.  

Ngoài ra còn có Trường Xã Hội Quân Đội thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, tọa lạc trong Trại Lê Văn Duyệt, nơi đặt bản doanh Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô nằm trên đường Lê Văn Duyệt (ngày nay là Cách mạng tháng 8 ). Trường Xã Hội Quân Đội còn đào tạo và huấn luyện những cô giáo nhà trẻ mẫu giáo để phục vụ tại các trung tâm, trường học ở khu gia binh thuộc quyền điều hành của quân đội. Trường Sinh ngữ Quân đội nơi tôi giảng dậy cũng có một nhà trẻ dành cho con em của các giảng viên và do nữ quân nhân phụ trách.

Người có cấp bậc cao nhất trong Đoàn nữ quân nhân là Đại tá Trần Cẩm Hương, xuất thân từ ngành Nữ trợ tá xã hội. Khi Đại tá Cẩm Hương giải ngũ về hưu, Trung tá Lưu Thị Huỳnh Mai lên nắm quyền Chỉ huy trưởng. Ngoài ra còn có những nữ Trung Tá thâm niên quân vụ và cấp bậc như Nguyễn Thị Hằng, Hồ Thị Vẽ, Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. Cấp bậc Thiếu tá có khoảng trên dưới mười người trong quân lực VNCH.


Đoàn Nữ Quân Nhân diễu hành trong Ngày Quân Lực

Lực lượng quân đội VNCH có đến 11 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn nhảy dù, 1 sư đoàn thủy quân lục chiến, Liên đoàn 81 Biệt cách dù, 21 liên đoàn biệt động quân, 4 lữ đoàn Kỵ binh thiết giáp, Lực lượng Lôi Hổ và Biệt Hải thuộc Nha Kỹ thuật, các đơn vị Pháo binh biệt lập và lực lượng Địa phương quân gồm 400 tiểu đoàn, nghĩa quân hơn 50.000 quân.

Lực lượng Không quân có quân số khoảng 60.000 người. Chỉ huy trực tiếp là Bộ tư lệnh Không quân với đầy đủ các cơ quan yểm trợ. Binh chủng bao gồm 5 Sư đoàn không quân tác chiến trong đó có 20 Phi đoàn khu trục cơ (khoảng 550 phi cơ A-1H, A-37 và F-5); 23 Phi đoàn trực thăng (khoảng 1.000 phi cơ UH-1 và CH-47); 8 Phi đoàn quan sát (khoảng 200 phi cơ O1, O2 và U17); 1 Sư đoàn vận tải (khoảng 150 phi cơ C7, C-47, C-119 và C-130); 1 Không đoàn tân trang chế tạo và 4 Phi đoàn Hỏa long (trang bị phi cơ AC-119, AC-130 Spectre Gunship). Ngoài ra còn có Phi đoàn Trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn Quan sát RC119L và Biệt đoàn Đặc vụ 314. Các phi công đều được đào tạo chuyên môn tại Hoa Kỳ sau thời gian học quân sự và ngoại ngữ ở trong nước.

Lực lượng Hải quân có quân số hơn 40.000 người, ngoài các đơn vị yểm trợ hành chánh, huấn luyện và tiếp vận còn bao gồm các lực lượng tác chiến: Hành quân lưu động sông và Hành quân lưu động biển. Lực lượng Hải quân bao gồm tuần dương hạm (WHEC - White High Endurance Cuttert), hộ tống hạm (PCE - Patrol Craft Escort), khu trục hạm (DER - Destroyer Escort and Ricket), tuần duyên hạm (PGM - Patrol Gunboat Motor), giang pháo hạm (LSIL - Landing Ship Infantry Light), trợ chiến hạm (LSSL - Landing Ship Support Large), dương vận hạm (LST - Landing Ship Tank), hải vận hạm (LSM - Landing Ship Medium) và giang vận hạm (LCU - Landing Craft Utility).

Hải quân còn có các Lực lượng đặc nhiệm 211 thủy bộ và Liên đoàn Người nhái. Tổng cộng được trang bị khoảng 1.500 tàu xuồng các loại, trong đó có khoảng 700 tàu chiến trên sông và trên biển. Nổi tiếng nhất trong số đó là Liên đoàn Người nhái với hai tướng Dã Tượng và Yết Kiêu được tôn vinh là Thánh tổ của đơn vị. “Người nhái” là những thanh niên gan dạ, có đầy đủ sức khỏe để thực hiện những “hải vụ” bí mật trên sông và trên biển.      

Những con số vừa nêu rõ ràng là nói lên sức mạnh hùng hậu của quân lực VNCH. Chỉ tiếc một điều, sức mạnh đó sẽ không là gì một khi đồng minh “đem con bỏ chợ” và hậu quả là ngày 30/4/1975.

Dưới đây là huy hiệu của các đơn vị quân lực VNCH do Đỗ Văn Phúc vẽ lại (click vào hình để phóng to):


Huy hiệu 4 Quân đoàn và các Sư đoàn Bộ binh



Huy hiệu các quân binh chủng



Huy hiệu các lực lượng tổng trừ bị



Huy hiệu các quân trường

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người, Chương 4 – Thời quân ngũ)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!



Về Đầu Trang Go down
NgViet
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Mon Mar 31, 2014 10:58 am


Hình xưa: Lễ tốt nghiệp trường SQ Bộ Binh Thủ Đức


Saigon 4 Dec , 1971 - Lễ tốt nghiệp trường SQ Bộ binh Thủ Đức:








LTG Nguyen Van La (left), Acting Chief of the Joint General Staff, LTG Pham Quoc Thuan, Chief of the Infantry School, and LTG Phan Trong Chinh (right), Chief of Command General Staff.

Một số hình ảnh trong buổi lễ tốt nghiệp:








Tuyên thệ:





Trung tướng Phạm Quốc Thuần, chỉ huy trưởng trường Bộ binh Thủ Đức đang đọc diễn văn tại lễ tốt nghiệp.




Nguồn : Fold 3 / manhhai flickr 
________________

Một bí mật nhỏ ngày lể mãn khóa:
Vì sân Vũ đình trường có rất nhiều đá sạn nhỏ, nên trước đó một ngày, các "siêu huynh trưởng" phải chạy xuống khu gia binh "gần cổng số 9" đường ra cầu bến nọc mua.... băng vệ sinh để bó đầu gối... he... he... he... Bảo đảm nếu lúc quỳ xuống các SVSQ mà không có... "đồ nghề" thì xỉu là cái chắc. GOT cũng hông ngoại lệ... he... he... Hông tin? Hỏi mấy huynh trưởng coi có đúng vậy hông?... ka... ka... ka...

P/S: Xin chư vị dòm cho kỹ bức hình tuyên thệ, chỗ đầu gối hàng đầu tiên... thì thấy liền...

"Anh ngồi đây bên giòng mương chà láng
Đêm chưa tàn anh ngỡ sáng đã lâu
Vì 4 giờ chúng anh đã gọi nhau
Đứa lượm lá đứa đốt dầu chà láng

Anh ngồi đây trong giờ ăn lót dạ
Mẩu mì đường sao cứng quá em ơi
Nuốt nó vào như nuốt cả khoảng đời
Tuần huấn nhục thì thân anh vô nghĩa..."

Hướng về Vũ đình trường, lần lượt các trung đội 1 ,2 ,3 ,4...
đằng trước co tay... đếm nhịp... chạy đều...
Hai chục vòng thì... lết em ơi... ka... ka... ka...

Lúc đàn em vào trường BB các HT rất đông vì có đến 6 tiểu đoàn, đàn em bị các HT phạt ná thở.
Khoá của đàn em là khoá không giống ai vì là khoá thụ huấn đến 1 năm mới ra trường, ra tường sau đến 4 hay 5 khoá đàn em. (Đi chiến dịch 2 tháng, tập diễn hành cho ngày quân lực 19/06/1973 1 tháng).
Đặc biệt nhất là toán thủ quốc quân kỳ của khoá đàn em mặc áo đại lễ nhưng lại đội nón nhựa được sơn đen xì trông rất ngầu, nếu các HT xem lại các clip về ngày quân lực 19/06/1973 sẽ thấy ngay.

Tiểu đoàn 3 khăn xanh.
Sinh Viên Sỹ Quan, Quỳ
Tân Sỹ Quan, Đứng

Nguồn: http://namrom64.blogspot.de

.
Về Đầu Trang Go down
nguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Tue Apr 08, 2014 2:28 pm


Tôi đi lính


Trần Minh Hòa

Đầu tháng 2 năm năm 75, một tháng 2 vẫn còn bình yên chưa có chiến tranh, ít ra là ở Mỹ Tho, nơi tôi đang ở rất bình yên, thỉnh thoảng vẫn có pháo kích nhưng không đáng kể, đêm đêm ăn đạn pháo kích của Việt cộng là chuyện bình thường của thị xã, chưa có gì là ầm ỉ. Tôi không nhớ rõ là ngày nào, nhưng lúc đó đã qua tết âm lịch, tôi đã làm 1 việc hết sức quan trọng trong đời tôi: tôi đi đăng lính!



Mỹ Tho

Tôi sinh cuối tháng 12 năm 56, theo luật động viên lúc đó thì đúng ra tôi phải trình diện nhập ngũ vào tháng 10 năm 74, và theo học vấn của tôi thì tôi cũng có thể đi trình diện nhập ngũ để đi Hạ Sĩ Quan. Nhưng lúc đó tôi đang ham chơi chưa muốn đi lính liền, vã lại tui cũng nhỏ con, trong giống như 1 đứa con nít, ra đường không ai hỏi giầy tờ làm gì, và nhà tôi lại ở trong cư xá Nguyễn Thái Học. Cư xá Nguyễn Thái Học là cư xá của quân đội, vì Ba tôi cũng là 1 quân nhân nhưng đã giải ngũ vào cuối năm 73. Sau Hiệp định Paris, quân nhân gìa yếu trên 45 tuổi, phục vụ trong quân đội trên 20 năm được giải ngũ, ba tôi cũng được giải ngũ trong dịp nầy. Nhà trong cư xá quân đội nên Cảnh Sát không vào xét tờ khai gia đình làm gì nên tôi nhờ vậy mà chưa bị bắt đi lính liền.

Ở Mỹ Tho có phòng tuyển mộ TQLC trong phòng Thông Tin, ngay dưới dốc cầu quay, tôi còn nhớ người tuyển mộ lúc đó là Thượng Sĩ Giàu, đi lính TQLC là phải nộp thẻ căn cước dân sự, không nhận giấy khai sinh, vì giấy khai sinh không có hình của đương sự, và giấy khai sinh có thể mượn được của người khác.

Sau khi đăng lính xong, TS Giàu đưa cho tôi 1 tấm giấy chứng nhận và hẹn ngày trở lại để xe đưa lên quân trường. TS Giàu có dặn tôi là nếu Cảnh Sát có hỏi giấy tờ thì đưa tờ giấy nầy cho họ coi thì họ không bắt, mà họ có bắt thì họ cũng sẽ liên lạc với anh Giàu, ảnh sẽ lãnh tôi về không sao hết. Anh Giàu lo xa vậy thôi vì đâu có ai hỏi giấy tờ của tôi đâu. Và dĩ nhiên là tôi giữ bí mật, không nói cho ba má tôi biết, vì má tôi lúc nào cũng muốn tôi trốn quân dịch, mày cứ ở nhà cho tao, ai bắt mày tao chiu trách nhiêm cho, cũng không có làm tiệc từ giã bạn bè và người yêu, vì đâu có tiền đâu mà làm tiệc và làm gì có người yêu đâu mà từ với giã.



Đại lộ Hùng Vương – Mỹ Tho

Đừng hỏi tôi tại sao tôi chọn lính TQLC, tôi không trả lời được, vì thật sự lúc đó tôi biết rất ít về binh chủng MX nầy, tôi chỉ biết đây là 1 thứ lính mặc đồ rằn ri, đánh giặc thứ thiệt, là lính ngon lành nhất, anh hùng nhất, tôi cũng muốn được như vậy chứ, tôi đâu muốn làm anh Nghĩa quân gác cầu và cũng đâu muốn làm anh Cảnh Sát tối tối đi xét tờ khai gia đình, bạn bè nó biết tôi đi Cảnh Sát nó cười tôi chết!

Tới ngày hẹn, tôi ra lại phòng thông tin nơi có bàn tuyển mộ của anh Giàu, cũng đâu được hơn 10 thanh niên tình nguyện đăng lính như tôi, xe GMC của TQLC đến chở tụi tôi lên SG, tụi tôi đến 1 chổ khám sức khoẻ của TQLC khám trước, chỗ đó tôi còn nhớ là trại Nguyễn văn Nho, đây là nơi khám súc khoẻ sơ sơ của TQLC, nhưng lại là nơi rất quan trọng, vì nếu không đủ điều kiện sức khoẻ là bị loại ngay lập tức và dĩ nhiên là không có xe đưa về lại Mỹ Tho. Khi đi, tôi chỉ có 1 bộ đồ mặc trên người và trong túi không có 1 đồng bạc, lỡ tôi bị loại nơi đây tôi không biết ra sao? Tôi thuộc loại nhỏ con hơi thiếu thước tấc nhưng được cái là lành lặn đầy đủ, mắt mũi tay chân còn nguyên vẹn, chưa có dấu vết mổ sẻ gì nên qua được cửa ải đầu tiên nầy, cũng hú hồn. Sau đó thì chúng tôi được chở qua Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ để khám sức khoẻ nhập ngũ.

Ở Trung Tâm 3, tôi đưọc khám sức khoẻ, chụp hình phổi, lấy máu, nhận quân trang, giầy bố, thẻ bài v.v… Vài ngày sau chúng tôi được xe chở tới trung tâm huấn luyện TQLC trong căn cứ Sóng Thần để học căn bản quân sự, và bắt đầu từ ngày đó tôi là 1 người lính Thủy Quân Lục Chiến.



Căn cứ Sóng Thần

Trung tâm huấn luyện nằm trong căn cứ Sóng Thần, ở Rừng Cấm Thủ Đức, trưóc cửa căn cứ có 1 ga xe lửa gọi là ga Sóng Thần, ga Sóng Thần bây giờ vẫn còn và cũng được gọi là ga Sóng Thần không có gì thay đổi. Sau tháng 4 năm 1975, tụi công sản chiếm cứ căn cứ và chúng nó làm khu công nghiệp Sóng Thần. Có thể là ý trời vì Sóng Thần của chúng ta vẫn còn đó, một ngày nào đó có thể không còn xa, chúng ta sẽ có đại hội TQLC tại căn cứ Sòng Thần. Trước khi đăng lính tôi đã biết là lính TQLC học quân sự ở Rừng Cấm, cứ tưởng tượng đó là 1 khu rừng già âm u, nhiều cọp beo và thú dữ, đã vậy lại còn bị cấm nữa, đi vào rừng cấm là coi như không có ngày về. Nhưng thật ra thì theo như cái nhìn của tôi thì tôi đâu có thấy rừng rú gì đâu, có thể ngày xưa chỗ nầy là rừng chứ bây giờ chỉ là 1 căn cứ quân sự mà thôi, đây là 1 căn cứ rộng rãi, sạch sẽ, đẹp mắt, rất khác xa với căn cứ Đồng Tâm ở Mỹ Tho. Căn cứ Đồng Tâm trước kia là của Mỹ, sau khi Mỹ về nước thì giao lại cho Sư Đoàn 7BB, gia đình quân nhân của SĐ7 cũng được dọn vào căn cứ ở luôn, tôi có theo mấy thằng bạn lên nhà nó chơi nên cũng biết sơ qua căn cứ Đồng Tâm.

Bài học đầu tiên trong quân trường là học cách… mặc quân phục và mang giầy; quần áo và mang giầy thì ai mà hỗng biết đâu cần phải học, nhưng không phải vậy, ăn mặc phải đúng cách, áo thì tay dài nhưng khi mặc phải xăn tay áo lên khỏi cùi chỏ mấy phân gì đó quên rồi, quần thì phải túm ống lại không để cho nó dài lê thê lết thết, dây giày thì cũng phải cột theo phong cách riêng của lính TQLC. Sau đó là tới màn đi hớt tóc, nói là hớt tóc cho nó nghe sang 1 chút vậy chứ đúng ra là cạo đầu, vì sau khi hớt rồi thì đầu thằng nào như thằng nấy, chẵng còn sợi tóc nào, xong rồi là cấp danh số, trong quân trường không gọi nhau bằng tên mà chỉ gọi nhau bằng danh số, tôi họ Trần vần T. nằm tuốt phía dưới nên có danh số 130, lúc nầy thì bắt đầu làm lính thiệt rồi. Những ngày sau đó chúng tôi học cơ bản thao diễn, sĩ quan huấn luyện là ông Đ.U. Quốc, ông nầy vừa là Tiểu Đoàn Trưởng Tân Binh vừa dạy thêm cơ bản thao diễn cho tân binh, phải bắt chước Sư Phụ Trần Văn Cấp kêu ông trời nầy là ông Hung Thần. Mà đúng là hung thần thật, tướng người to lớn, trên tay lúc nào cũng cầm 1 cây gậy to ơi là to, miệng thét ra lửa, tay vung gậy tới tấp, chỉ cần nhìn thấy thôi là đủ té đái trong quần rồi, đại đội tân binh tụi tôi gần như thằng nào cũng bị ăn gậy của ông hung thần, chỉ có 1 số ít thoát khỏi trong đó có tôi, không phải tôi hay hơn anh em mà là tôi hên, tôi nhỏ con lùn xịt, mỗi lần xếp hàng là tôi đứng tuốt luốt phía sau cùng, nhờ vậy mà hung thần không thấy được tôi, hơn nữa là khi học trung học, mỗi tuần học sinh được học 2 giờ Quân Sự Học Đường, những cơ bản thao diễn nầy tôi đã học thành thuộc hết rồi, chỉ có cái mới là có thêm khẩu súng M16, cũng không có gì khó khăn đối với tôi. Năm 2003, tôi đi ĐH TQLC ở Washington DC, tôi gặp lại Đ.U. Quốc và hân hạnh hơn nữa là tôi được ngồi chung bàn với Đ.U. trong bữa tiệc tiền đại hội, dĩ nhiên là ổng đâu biết tôi là ai, lúc nầy Đ.U. hiền lành ăn nói nhỏ nhẹ trông giống như 1 ông thầy tu.

Những tuần sau đó chúng tôi đi học quân sự, không phải là đi mà là chạy, từ sáng đến tối lúc nào cũng bắt chạy, sáng chạy đi học, trưa chạy về ăn cơm, có cơm nhà bàn ăn uống đầy đủ đàng hoàng, ăn xong còn có nước trà nóng để uống, ăn uống no nê rồi đi về sam tắm rửa ngủ trưa, tôi chỉ có 1 cái quần xà lỏn nên mỗi lần tắm xong là giặt sơ cái quần đem phơi cho khô chút mặc tiếp, không biết sao mà không phát quần xà lỏn cho tân binh; Quân phục thì mặc mỗi tuần thay ra là có nhà thầu đem đi giặt, mà chỉ là đồ xanh thôi, không phải đồ bông đồ bệt gì đâu. Chiều chiều ăn cơm xong thì vác ba lô chạy ra các hậu cứ của các tiểu đoàn để ngủ, không biết ra đó ngủ để làm gì, các tiểu đoàn đi hành quân hết, hậu cú trống không, chỉ có mấy ông lính già ở nhà giữ hậu cứ, chắc mấy ông già ở nhà lạnh cẳng nên rủ tân binh ra ngủ cho đông vui. Theo tôi nghĩ thì có thể mấy Thẩm quyền muốn tân binh đi ra xa xa mà ngủ vì trong căn cứ lúc đó chỉ có trung tâm huấn luyện là có đông người, VC mà nó pháo kích vào trung tâm thì thiệt hại nhiều, tôi nghĩ vậy không biết có đúng không?

Mỗi ngày đi học như vậy thì có 1 cô bé khoãng 16, 17, gánh nước trà đá bán cho anh em tân binh chúng tôi, chúng tôi học ở bãi nào cũng có cô ta với gánh trà đá ngồi chờ sẳn, không biết sao mà cô ta biết trước được như vậy, bí mật quân sự luôn, ngoài gánh trà đá đó ra thì không có ai buôn bán gì nữa hết.

Một buổi chiều hôm đó, sau khi học xong, tập họp điểm danh để về ăn cơm, điểm danh sao thấy mất 3 thằng tân binh, kiếm lòng vòng chung quanh không thấy tụi nó đâu, lúc đó mới biết là tụi nó đào ngũ, Chuẩn Úy Ký, Đđ Trưởng dẫn chúng tôi về, Trung Sĩ Lan, nai nịch súng đạn đèn pile đầy đủ giống như đi hành quân, băng rừng “rừng cấm ” đi tìm tụi nó, tối hôm đó Tr/S Lan trở về với 3 thằng mắc dịch, đem nhốt tụi nó 1 tuần, dĩ nhiên là bị an ninh quân đội dợt 1 trận mềm như trái chuối.

Ngày chủ nhật được nghỉ, có Cha Tuyên Úy vào làm lễ, ai muốn đi nhà thờ thì đi, không đi cũng không sao, Cha làm lễ và có giải tội tập thể, ai cũng rước lễ sốt sắng, vì một khi đã đi lính rồi, cho dù mới là tân binh, cũng đâu ai biết sống chết lúc nào, chuẩn bị trước cho chắc ăn. Cha thương tụi con thì Cha giải tội cho tụi con mỗi tuần, chứ đúng ra thì tụi con cũng đâu có làm gì nên tội, tân binh trong quân trường “ Thánh Thiện “ lắm Cha ơi!

Ngày chủ nhật cũng là ngày thăm nuôi, ai có thân nhân tới thăm thì đi ra vườn tao ngộ gặp gỡ thân nhân cha mẹ vợ con gì đó, không có cũng được ra đó chơi luôn không ai cấm, nhưng đám con bà phước thì ít ai ra đó làm gì cho tủi thân. Tôi cũng thuộc diện con bà phước vì khi hay tin tui đi lính, bà già chửi tui ba ngày ba đêm rồi tuyên bố với bà con lối xóm là từ tôi luôn, và dĩ nhiên là đâu có thèm đi thăm nuôi tôi làm gì, ông già cũng từng là lính, mới giải ngũ hơn 1 năm thôi chứ đâu có lâu, vậy mà cũng làm lơ tôi luôn, thiệt là không có tình “Cha con chi binh” gì hết. Mà nghĩ cũng ngộ thiệt, quốc gia lâm nguy thất phu hữa trách, tôi đã tới tuổi lính và không có 1 điều kiện gì để được hoãn dịch hay miễn dịch, đi lính là bổn phận của tôi, tôi phải đi mà thôi, làm gi mà lại từ tôi chứ. Có một sáng chủ nhật tôi đi ra vườn tao ngộ đi lòng vòng chơi, tôi gặp thằng Hùng, nó bạn học với tôi thời trung học, nó có thân nhân tới thăm. Tôi rất là ngạc nhiên khi gặp thằng Hùng trong quân trường nầy, nó con nhà giàu đẹp trai học giỏi, cao lớn như dân tây, ba của nó là một ông trung tá, Trung Tá Hữu, chỉ huy phó hay gì đó của Bệnh Viện 3 Dã Chiến ở Mỹ Tho, vị chỉ huy trưởng là Bác Sĩ Đôn, Trung Tá Y Sĩ trưởng của bệnh viện; nhà của nó lại ở trong bệnh viện, không ai có quyền vào đó bắt nó đi lính được, vậy mà nó lại đi lính, mà là lính TQLC nữa mới ác, còn đi trước tôi cả tháng, chắc nó cũng có lòng yêu nước như tôi!. Thằng Hùng còn cho biết, có thằng Tâm nữa, cũng học chung lớp với tụi tôi, nhưng thằng Tâm vừa mới ra trường, không biết về tiểu đoàn nào. Như vậy lớp tụi tôi chỉ có 3 thằng đi lính và đều đi lính TQLC.

Khoảng 2 tháng sau, khi chúng tôi đã quen với không khí quân trường, chạy không còn mệt như lúc mấy tuần đầu, nước da đã bắt đầu sạm đen, những cái nón sắt đã bi tróc sơn, lá cờ đại đội đã bạc màu, thì chúng tôi được ra trưòng. Có thể chúng tôi được ra trường sớm vì còn có nhiều bài học chúng tôi nghe nói sẽ được học thí dụ như bò hỏa lực, đi dây tử thần, vượt sông v.v… vẫn chưa được học. Sáng hôm đó thay vì vác ba lô chạy ra bãi học như thường lệ, chúng tôi được phát mỗi đứa 2 bộ đồ bông, 1 cái nón lưỡi trai, 1 cái túi quân trang rồi chúng tôi đi lên phòng B52 làm lễ mãn khoá để ra đơn vị tác chiến. Có khoảng 5 hay 6 đại đội mãn khoá một lượt. Sau khi làm lễ mãn khóa chúng tôi được lãnh lương, tiền đầu quân và 3 tháng lương cộng lại rất nhiều, tôi không nhớ là bao nhiêu nhưng đứa nào cũng có 1 xấp giấy 500 mới tinh dầy cộm, đây là lần đầu tiên trong đời tôi có một số tiền lớn như vậy. Tôi và một số anh em tân binh được kêu tên về TĐ Quân Y, chúng tôi đi bộ qua bệnh viện Lê Hữu Sanh làm thêm một ít giấy tờ gì nữa rồi theo xe GMC đi ra tiểu đoàn QY. TĐ Quân Y lúc đó đang đóng ở Vũng Tàu, trên một khu đồi cát có nhiều cây dương, cách bờ biển khoảng 100 mét, sau nầy tôi mới biết chỗ nầy là bãi sau Vũng Tàu. Quân số của TĐ Quân Y theo tôi thấy lúc đó rất là ít, khoảng vài chục ngưòi, việc đầu tiên của chúng tôi làm là đóng tiền cơm, ai đóng tiền cơm mới được ăn cơm của tiểu đoàn, ai không đóng thì ăn ở đâu đó thì ăn, tiền thì chúng tôi ai cũng mới lãnh lương nên ai cũng đóng chứ nếu không đóng thì biết ăn ở đâu, sau đó thì chúng tôi ngồi nói chuyện chơi với nhau thôi chứ không ai kêu phải làm cái gì và cũng đâu ai biết làm cái gì. Tối hôm đó đám tân binh chúng tôi không ai ngủ được nên thức nói chuyện um sùm, đến nỗi một Sĩ Quan QY tới la chúng tôi đừng có nói chuyện lớn tiếng quá, các bác sĩ ngủ không được. Sáng hôm sau chúng tôi xuống biển tắm, trong thời gian ở quân trường thằng nào cũng bị lác, tắm biển nước mặn rát vô cùng, tắm biển xong đi uống cà phê, cà phê xong rồi lãnh cơm ăn cơm trưa, ăn trưa xong rồi lên xe về lại bệnh viện Lê Hũu Sanh, như vậy chúng tôi đi hành quân chỉ có một ngày rồi lại về hậu cứ. Về bệnh viện LHS cũng không có gì làm và không biết làm cái gì. Sáng hôm sau tụi tân binh người gốc SG rủ tụi tôi chui hàng rào trốn về Sài Gòn chơi, thế là tụi tôi chui rào, ra khỏi bệnh viện rồi chúng tôi đi ra cổng căn cứ Sóng Thần, quân cảnh 202 có đứng gác ở đó nhưng không ai nói gì nên chúng tôi tới ga xe lửa Sóng Thần và đón xe lửa về Sai Gòn. Về tới ga Sai Gòn, có rất nhiều quân cảnh và cảnh sát đứng xét giấy tờ, trên xe lửa có rất nhiều lính không quân và bộ binh, tất cả đều bị chận lại hỏi giấy tờ và hình như bị bắt lại hết, chỉ có đám tân binh chúng tôi là được đi qua, tôi không hiểu tại sao chúng tôi lại được cho qua như thế nữa, tôi đón một chiếc xe honda ôm kêu chạy về đường Trần bình Trọng gần nhà thờ Chợ Quán tới nhà bà dì. Tới thăm bà dì rồi nhờ người sửa lại bộ đồ vì nó rộng thùng thình, mua thêm một ít đồ dùng cá nhân rồi sáng hôm sau tôi đón honda ôm ra lại ga xe lửa Sài Gòn để trở lại bệnh viện LHS, đó là ngày 29/4/75. Chiều hôm đó, bệnh viện LHS tập họp tất cả quân nhân các cấp từ sĩ quan xuống tới tân binh, có khoảng đâu vài chục người thôi, vị Đại Uý đó hình như tên Sơn thì phải, nói với chúng tôi vài điều gì đó đại khái là giặc đã đánh tới nơi rồi, chúng ta phải chiến đấu tới cùng, xong rồi ông ra lệnh mở kho súng kho đạn lấy hết súng đạn ra, M16, M72, M79, lựu đạn gì lấy ra hết, ai lấy được bao nhiêu thì lấy và chia nhau ra canh gác ở những mô đất chung quanh bệnh viện. Tối hôm đó hình như không ai ngủ được, tiếng súng nổ khăp nơi, nhìn lên trời thấy đạn từ trên trực thăng bắn xuống, đạn lửa ở dưới bắn lên, hình như tụi nó đã đánh tới Biên Hoà. Sáng ngày 30/4/75, căn cứ Sóng Thần vẫn còn bình yên, chúng tôi lãnh cơm ăn, anh đầu bếp nói là chợ Thủ Đức không còn cái gì để mua, chỉ còn mấy trái khóm mua về nấu canh anh em ăn đỡ mà thôi, đó là bữa cơm lính cuối cùng của tôi. Trưa 30/4/75, tôi còn đang ngồi gác thì thằng bạn tân binh tới nói với tôi là đầu hàng rồi, bên mình đã đầu hàng rồi, mấy ông sĩ quan đã bỏ đi rồi, chỉ còn mấy đứa mình thôi, thế rồi tụi tôi xách súng đi về phía cửa bệnh viện, nơi đây đã có một đống súng quăng lại, chúng tôi cũng quăng súng của mình lại nơi đây rồi đi ra cổng căn cứ Sóng Thần, chúng tôi là những người ra sau cùng của bệnh viện LHS cùng với các thương bệnh binh.



Trong giờ phút cuối cùng của cuộc chiến, tuy chỉ là 1 tân binh của tiểu đoàn quân y, tôi đã làm tròn nhiệm vụ được giao phó. Tôi hãnh diện được làm một người lính TQLC. Ăn cơm nhà binh được 3 tháng, lãnh lương lính được mấy chục ngàn, chưa làm được việc gì cho núi sông nhưng đó không phải là lỗi của tôi, có chăng đi nữa là chỉ tại tôi sanh sau đẻ muộn.

Binh Y Trần Minh Hòa, SQ 76/139522.
.
Về Đầu Trang Go down
hoangvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Thu Apr 17, 2014 9:05 pm


Những Ngày Trong Quân Ngũ – Giã Từ vũ Khí


TRONG CĂN CỨ, HOÀNG- HOA-THÁM.

Tháng ba 1975, những ngày cuối xuân; trời trong và gió nhẹ, không khí mát mẻ, chan hòa nắng ấm. Cây cối đâm chồi, nẩy lộc, đơm bông, kết trái. Những doanh trại nằm ẩn mình sau các hàng cây ngô đồng, trồng hai bên đường, chạy dọc, ngang trong căn cứ, bao phủ một màu lá non, xanh tươi, bát ngát , làm nổi bậc ngọn Cờ vàng ba sọc đỏ vương cao trên kỳ đài, bay phất phới trước bộ tư lệnh Sư đoàn.




Sáng nay, tôi cùng đi với phái đoàn đến thăm anh em thương binh đang nằm điều trị tại bệnh viện Đỗ-Vinh của Sư đoàn, có mang theo một ít quà bánh và đồ dùng cá nhân để làm quà tặng, thăm hỏi và an ủi anh em, mỗi khi Tiểu đoàn có dịp về hậu cứ. Và trên đường về lại Tiểu đoàn, tôi ghé thăm ngôi Chùa của Sư đoàn.

Trước sân Chùa , mấy khóm hồng và thược dược, hoa vẫn nở rực rỡ muôn màu. Đôi bướm trắng đuổi bắt nhau, lượn quanh mấy gốc cây kiển trên hòn non bộ, rồi biến mất sau mái hiên Chùa. Dưới hồ, mấy chú cá vàng vẩy đuôi ngôi lên mặt nước miệng há to đớp bóng đòi ăn khi thấy có người xuất hiện, dạn dĩ và quen thuộc như bạn của con người.

Tôi yêu khoảng không gian yên tĩnh của ngôi Chùa; nơi có mùi hương trầm bay thoang thoảng trong gió, có tiếng mõ lốc cốc chen lẫn tiếng tụng kinh nho nhỏ của vị sư già. Tôi thường dừng chân nơi hòn non bộ, xem cách bài trí khéo léo của người đời, thật giống như một khung trời thu hẹp; cũng có núi, có sông, có chiếc cầu tre bắc ngang qua suối, cũng có chú tiều phu đốn củi nuôi thân và trên tản đá dưới gốc cây tùng già, một ông lão đang ngồi câu cá.

Cảnh vật vẫn vậy, có thay đổi gì đâu? Sao tôi cứ thích dừng chân đứng nhìn, mỗi lần đến Chùa Lễ Phật.

Tôi cầu xin:
- Phật Tổ phù hộ: Quốc thái, dân an,
- Cho Nước nhà, hết cảnh đao binh.
- Cho Hoà bình trở về với dân tộc
- Để người dân được hưởng thái bình.
- Và xin sư ông làm lễ; siêu sinh tịnh độ cho các vong linh tử sĩ; được nghìn thu an nghỉ nơi cõi Vĩnh hằng.

Tôi trở về doanh trại, vào văn phòng Đại đội, hỏi Kế toán trưởng xem; Tiểu đoàn có gọi, họp hành gì không?
- Không nghe gì hết, Đích thân. Trung sĩ nhất Yên trả lời.

Loay hoay chẳng biết làm gì, tôi bước ra ngoài, đứng trước cửa văn phòng, dưới bóng mát cây ngô đồng, châm thuốc hút và nhìn mấy chú bồ câu gật đầu gạ gẫm… gù gù trên mái vòm câu lạc bộ Hạ Sĩ Quan Tiểu Đoàn. Đôi chim sẻ từ sân cờ bay vụt lên đậu nơi cành cây, miệng kêu chim chíp, chân nhảy nhót không ngừng. Lấp ló dưới đài hoa năm cánh, những quả non xanh biết nhu nhú bóng loáng, trông thật dễ thương. Mùa Xuân lại hiện về theo giòng tư tưởng của tôi qua truyện Kiều của cụ Nguyễn Du:

- Ngày Xuân con én đưa thôi,
- Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

Vào những ngày Xuân, trên cánh đồng lúa nơi quê tôi, có rất nhiều chim én. Chúng từ đâu đến rồi đi lúc nào tôi cũng không còn nhớ rõ. Thửa ấy, cứ mỗi chiều tan học trên đường về nhà, chúng tôi thường dừng chân xem bầy én bay lượn trên cánh đồng. Chúng lao vút từ trên cao xuống ruộng lúa, rồi lại cất lên nhanh nhẹn khác thường. Và đám học trò mãi mê xem đàn én nhỏ săn mồi, về đến nhà thì trời đã tối, nên thường hay bị người lớn la rầy.

Tất cả hòa quyện vào nhau tạo thành môt bức tranh thật sinh động, dạt dào tình tự quê hương, dân tộc. Và đó chỉ là cái nhìn của một người lính trong khuôn viên nhỏ hẹp, tại hậu cứ Sư Đoàn Nhảy Dù, trong những ngày cấm trại nhàm chán.

Còn ở ngoài đường phố có gì khác hơn không?. Thưa, nơi đó có khung trời rộng mở. Những tà áo dài được giới thiệu qua nét đẹp duyên dáng của người con gái Việt Nam, uyển chuyển trong dáng đi, thước tha trong màu lụa mỏng, thì người thơ như; thi sĩ Nguyên Sa cũng không giữ được bình tĩnh, quên mất cái không khí mùa Hè ôi bức của Thủ đô Sài gòn. Thảng thốt ghi vội;

- Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát.
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.

Nhưng hôm nay, lụa Hà Đông không còn làm mát lòng anh trai nữa và người em gái cũng không còn lòng dạ nào mặc áo lụa dạo chơi dưới trời nắng ấm. Bởi vì, người người đang âu lo cho sự tồn vong của đất nước… Miền Nam Việt Nam đang lên cơn sốt, do sự phản bội của nhiều thế lực: Trong cũng như ngoài nước.

Hôm nay, mùng năm tháng tư. Xuân đã đi qua và đàn én cũng đã bay xa. Tiểu đoàn vẫn giá: ba-lô, súng đạn… chờ ngày đi hành quân.

Thời gian Tiểu đoàn tham chiến tại Thường Đức, Quảng Nam, ngày đêm tôi lo đánh nhau với Việt cộng, báo chí không có, tin tức chiến sự mù tịt.

Hôm nay, Phạm Bình Minh; một ngưới bạn mất một con mắt ở trận Hạ Lào, đã giải ngũ, nhưng gia đình anh vẫn còn cư ngụ trong cư xá Sĩ quan Tiểu đoàn, mới từ Sài Gòn về, thảy cho tôi tờ báo Diều hâu hay Tia sáng gì đó. Lâu quá rồi tôi cũng không còn nhớ rõ.

Tôi kéo chiếc nghế đến gần sát cửa sổ văn phòng Đại đội, tìm chút ánh sáng để đọc chữ cho rõ. Tôi lật qua trang tổng kết tình hình chiến sự, tìm đọc những tin tức quan trọng, chiếm gần hết trang giấy. Tôi giáng mắt vào những giòng chữ và đọc một hơi không ngừng, mắt không chớp;
Đọc tới đâu, tôi buồn tới đó, vì toàn những tin xấu, làm đầu óc tôi tê cứng, dù có nhiều tin tôi đã nghe qua và cũng đã biết rồi.

- Tiền đồn trấn giữ biên giới nổi tiếng như Tống Lê Chân bỏ ngỏ ngày 11/5/74. Đến tháng 8/74 Quân lỵ Thường Đức, Quảng Nam rơi vào tay địch.
- Đầu năm 75, ngày 6/1 Tĩnh lỵ Phước Long bị địch lấn chiếm, Bộ Tổng Tham Mưu điều động Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù vào tiếp ứng, giống như; thảy viên sói nhỏ vào hồ nước mênh mông. Có thấm vào đâu khi lực lượng địch trên cấp Sư đoàn, có tăng, có pháo yểm trợ đang tràng ngập Tĩnh lỵ Phước Long.

Và cứ thế, thừa thắng xông lên: Ngày 10/3 địch điều động 3 sư đoàn tấn công Buôn-Mê-Thuộc. Lực lượng phòng thủ chỉ có một Trung đoàn của Sư đoàn 23 và Địa Phương quân, Liên đoàn Biệt Động Quân trấn giữ Buôn-Hô cũng đang bị địch tấn công. Quân ta đã chiến đấu rất anh dũng, bắn đến viên đạn cuối cùng, nhưng quân số địch quá đông! Một… chọi mười, làm sao ta chịu nổi, cũng đành thất thủ mà thôi. Tan hàng- Đau đớn!

Địch đang ở thế mạnh: quân số, đạn dược, khối Cọng tiếp liệu đầy đủ. Ba sư đoàn tiến như thác lũ, làm sao Lữ đoàn 3 Nhảy Dù cản nổi. Mà địch dại gì đương đầu với quân Dù. Chúng nó coi rừng núi là nhà, len lổi trong rừng sâu, núi thẳm là nghề của bọn chúng, đi đâu mà chẳng được… Rốt cuộc; địch ở sau lưng ta, làm Lữ đơàn 3 Nhảy Dù tắt nghẽn đường về.

CẤM TRẠI, 100/100.

Trung tuần tháng ba, Lữ đoài I Nhảy Dù rời vùng I chiến thuật di chuyển về Sài Gòn bằng đường không vận và khi về đến Hậu cứ, binh sỉ không được nghỉ bốn ngày phép “Ân thưởng hành quân” như thường lệ, mà toàn bộ Tiểu đoàn cấm trại 100/100. Binh sĩ lo làu chùi vũ khí, đạn dược, đổi quân trang, quân dụng, có trang bị thêm cưa, để cưa cây làm hầm hố cho chắc chắn. Phen này, quyết ăn thua đủ với địch.

Mọi người đoán già, đoán non, địch sẽ tiến vào Sài Gòn, nên tôi đem vợ con vào sống nơi cư xá Sĩ quan Tiểu đoàn, trong vòng đai phi trường Tân-Sơn-Nhất. Địch có tấn công như tết Mậu Thân, chúng cũng phải trả giá đắc lắm, mới hạ gục được chúng tôi.

Và theo tình hình hiện tại, Mỹ cắt hết viện trợ, vì vậy phương tiện tiếp tế, tiếp liệu cho các Quân đoàn bị hạn chế, nên Tổng Thống ra lệnh; “Gom quân”, chỉ giữ vùng đồng bằng đông dân cư mà thôi, theo kế hoạnh; “Đầu bé đít to”gì đó?

- Quân đoàn II di tản theo đường Pleiku – Phú Bổn – Phú Yên, con đường bỏ hoang lâu năm, cầu cống bị hư hại, đoàn quân di chuyển chậm chạp, địch có thời gian chuyển quân truy kích, chận đánh và pháo kích liên tục.

Kết quả: Quân ta bị tổn thất nặng nề.

- Quân Đoàn I chật vật chiến đấu, sau khi Sư Đoàn Nhảy Dù rời vùng. Tình hình đang rất nguy ngập, vì lệnh lạc: Tiến…thoái “ bất cập” Tinh thần các cấp chỉ huy cao cấp:“ Nửa tỉnh – nửa mê ” thiếu dức khoát, làm Quân và Dân: Mất tinh thần.

Tình hình chiến sự thay đổi nhanh chóng, mỗi ngày một thêm rối rấm, làm tinh thần tôi cũng căng thẳng theo và trong một lúc nào đó đấu óc của tôi thật sự trống rổng, không còn biết mình phải đối phó bằng cách nào? Nhiều câu hỏi được đặt ra, nhưng không có câu trả lời:

- Không biết đơn vị rồi sẽ tử thủ tại đây, hay được tăng cường cho một chiến trường nào đó? Thú thật, có lúc tôi đã nghĩ đến giây phút cuối cùng, khi không còn lối thoát, đành phải hy sinh cả gia đình.

Như mọi khi, Tiểu đoàn ở tại hậu cứ. Ban ngày, binh sĩ lo học tập, huấn luyện cách đánh trong thành phố, học xử dụng những loại vũ khí chống chiến xa. Ban đêm, ra nằm tại vòng đai phòng thủ, phía Bà quẹo, đầu phi trường Tân Sơn Nhất.

Hai tuần lễ trôi qua, mọi người sống trong lo âu, lòng nặng chĩu dưới áp lực địch; càng ngày càng tăng, âm thầm chịu đượng bầu không khí ngạt thở với nhiều tin tức chiến sự dồn dập gởi về không mấy tốt đẹp.

So sánh lực lượng giữa ta và địch: Một chống năm.. .mười, khó cầm chân địch, nói chi đến việc giành chiến thắng vẻ vang cho đơn vị.

Nhưng rồi, trưa ngày 7/4, Tiểu đoàn ban lệnh hành quân. Tôi đứng nhìn anh em binh sĩ giá ba-lô, súng đạn trước sân cờ, chờ xe di chuyển đến vùng hành quân. Mà lạ thật, cứ mỗi lần có lệnh hành quân; thay vì lo âu, tôi thấy anh em binh sĩ, họ rất vui và còn thoải mái nữa, mới là lạ. Coi bộ họ cũng không có một chút lo lắng nào dù sắp sửa phải xông vào vùng lửa đạn và dĩ nhiên bão táp chiến trường cũng sẽ mang đến cho đơn vị nhiều mất mác đau thương, nhưng anh em vẫn thản nhiên đùa vui tỉnh bơ.

Tôi rất tự hào và tin tưởng vào khả năng chiến đấu của anh em binh sĩ, dù ở trong trường hợp nào và bất cứ nơi đâu, họ luôn sát cánh với các đồng đội; chiến đấu với lòng dũng cảm, can trường chống trả địch quân để bảo vệ tự do, hạnh phúc cho người dân và sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì Tổ Quốc. Nhưng trong giờ phút này và với tình hình hiện tại, tôi tự hỏi: Làm sao để giành phần thắng đây? Chỉ có trời mới biết. Và đối với người lính Nhảy Dù, chúng tôi luôn sẵn sàng đối đầu với địch trong bất cứ hoàng cảnh nào với tinh thần: Cố gắng – Danh dự và Trách nhiệm.

Tôi dặn vợ tôi, sau khi tôi đi hành quân rồi, về sống nhờ bên Ngoại. Gia đình tôi ở tận Miền Trung, xa xôi quá và cũng đang trong tình trạng chạy loạn, không biết hiện giờ họ đang ở đâu? Và tôi thật sự lo lắng đến an nguy của họ. Buồn thay!



Căn cứ không quân Biên Hòa

Đoàn xe chuyên quân khởi hành trong đêm, lúc người dân Sài Gòn còn đang yên giấc. Trời sáng, đoàn xe mới qua khỏi thành phố Biên Hòa, dừng quân trong khu rừng cao su, Trung tá Tiểu đoàn Trưởng gọi tôi lên chiếc xe Jeep của ông, chạy một vòng quanh khu vực. Ông chỉ cho tôi biết những điểm chính như: Phi trường Biên Hòa, ngả ba Dầu Dây, những căn cứ của ta và hướng nào địch dễ xâm nhập. Thú thật vào lúc đó, tôi không hiểu ý ông muốn nói với tôi điều gì? Vì nhìn trên bản đồ tôi cũng biết vị trí chính xác các nơi này rồi. Và lúc ấy, tôi cũng không có thắc mắc, hay nói đúng ra, tôi không biết hỏi điều gì, vì cuộc hành quân mới bắt đầu chưa biết mục tiêu và nhiệm vụ chính.

TIỂU ĐOÀN 9 NHẢY- DÙ TẠI MẶT TRẬN LONG-KHÁNH.

Theo tin cho biết, Quân đoàn 3 có kế hoạch tổ chức một chiến đoàn đặc nhiệm gồm: Một thiết đoàn chiến xa phối hợp với Lữ đoàn 1 Nhảy Dù tùng thiết; Mở đường qua ngả 3 Dầu Dây vào Xuân Lộc, nhưng không biết tại sao? Sau đó kế hoạch này, bị hủy bỏ.


Sáng ngày 12/4 lệnh từ Tiểu đoàn cho binh sĩ gọn gàng, di chuyển ra Quốc lộ #I. Chúng tôi dừng quân tạm thời trong vườn cây cao su non, chia toán để được trực thăng vận vào Long Khánh. Khoảng mười một giờ (11), toàn bộ Tiểu Đoàn nhảy xuống đồi chuối, cách ngả 3 Tân Phong 2 cây số về phía Đông và cách Thị xã Xuân Lộc khoảng 3 cây số.

Tiểu Đoàn triển khai đội hình, di chuyển về hướng Bắc, tiến lên giải tỏa ấp Bảo Định đang bị địch bao vây. ( Ấp Bảo Định do Tổng thống Ngô Đình Diệm thành lập năm 1954, để định cư người miền Bắc di cư vào Nam ).Trong ấp có nhà thờ và giáo dân được vũ trang, họ chống Cọng quyết liệt, nên Việt cọng không vào được, hay chưa muốn vào vì đang dốc toàn lực tấn công Sư đoàn 18 của Thiếu tướng Lê Minh Đảo.


Đại Đội 92 TĐ 9 Dù Ở Trảng Bom sáng chuẩn bị vào Xuân Lộc, tháng 4 – 1975

Tôi nhận lệnh; Đại đội 93 bên trái, di chuyển băng qua khu vườn cây ăn trái, men theo Quốc lộ #I, lục soát sâu vào rừng cao-su, tiến chiếm ngôi làng, nằm về phía Đông thị xã Xuân Lộc.

Bên cánh phải, Đại đội 94 của Trung úy Nguyễn Hữu Thăng tiến song song, lấy Quốc lộ#I làm chuẩn, di chuyển trong khu rừng cao su được khai quang, chỉ còn lại phần gốc, chen lẫn các bụi cây dại mọc chen chúc như rừng chồi, tương đối dễ quan sát hơn.

Xa bên trong, cách Quốc lộ 1 khoảng 500 mét là rừng cao-su mênh mông nối liền với ấp Bảo Bình về hướng Đông- Bắc Liên Tĩnh lộ 2 dẫn về Bình Giã, Bà Rịa,Tĩnh Phước Tuy.

Khi Đại đội 94 tiến gần ấp Bảo Định, thì súng bắc đầu nổ. Những loạn đạn bắn ra từ trong ấp nghe không giống Ak hay B40 mà là tiếng nổ đì đẹc của súng Carbine M-1, hay tiếng đì đùng của Garand và súng cối 60ly. Dân quân trong ấp không có máy truyền tin để liên lạc với quân Dù. Sau mấy loạt đạn đầu bắn ra từ trong ấp không chính xác, anh em Dù nằm yên nghe ngóng. Dân quân không thấy bên ngoài phản ứng nên họ ngưng tác xạ. Sau đó hai bên nhận diện, vui mừng bắt tay nhau.

Tiếng súng của dân làng cũng báo động và theo phản ứng tự nhiên, anh em Đại đội 93 tựa vào các gốc cây cao-su nằm thủ thế. Địch liền khai hỏa bằng súng cối và súng nhỏ. Đại Đội vừa bắn vừa hô xung phong đè bẹp chốt của Việt Cộng, tịch thu một súng cố 61 ly, một số AK và B40. Có 3 tên chết, số còn lại chạy vào trong làng.

Nhưng có một điều không may là Trung tá Tiểu Đoàn trưởng Nguyễn Văn Nhỏ bị thương bỡi một mảnh cối 61 ly, tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng phải được di tản về bệnh viện để điều trị. Thiếu tá Tiểu đoàn phó Lê Mạnh Đường lên thay, dẫn dắt Tiểu đoàn và Đại đội nhận được lệnh dừng quân, bố trí, chờ lệnh.

Buổi chiều cùng ngày, Tiểu đoàn đóng quân đêm tại đây. Đại đội 93 của tôi, di chuyển về hướng Tây 300 mét làm tiền đồn. Vị trí này nằm sát mí vườn cao-su, đối diện với ngôi làng qua một khoảng trống. Đêm hôm đó không có gì xảy ra, tình hình vẫn yên tĩnh.

Qua ngày hôm sau,Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù lên thay thế.Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù, di chuyển về làm trừ bị cho Lữ Đoàn, Riêng Đại Đội 93 của tôi được giữ lại tại vị trí cũ làm tiền đồn cho Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù.

Ngày 14/4 Tiểu đoàn 8 Dù tiến quân vào làng thì đụng nặng với một Tiểu đoàn Việt cọng, Trận chiến xảy ra suốt ngày, địch tổn thất phân nửa chết và bị thương, đang cố thủ trong vườn cây ăn trái của gia đình Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ( dân làng nói là vườn ông Thiệu ).

Ngày 16/4 Đại đội có lệnh lục soát khu vườn cố Đại tướng Lê Văn Tỵ, Vườn rộng mấy mẫu tây, đất khô cắn sỏi đá. Các cây nhãn trồng hai bên bờ con suối cạn, thiếu nước, cằn cỗi lớn không nổi, phơi bày cả lòng con suối.Việt cọng gom đá đắp thành vòng tròn dở dang, đất sỏi quá cứng, khó đào hầm, Vì thế mà chúng đã bỏ đi chăng? Nơi này chỉ cách Bộ chỉ huy của Thiếu tướng Lê Minh Đảo không đầy một cây số.

Bên kia đường là ty cảnh sát Long Khánh, Tôi có quan sát bằng ống nhòm, nhưng không thấy bóng dáng một người nào.

Ngày 17/4, lúc 9 giờ sáng, Trung tá Lê Hồng Lữ đoàn phó Lữ đoàn I Dù ra lệnh cho tôi trên máy: Bảo tôi về gặp Trung tá Tuyển,Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Dù để nhận nhiệm vụ mới.

Trung tá Tuyển, chỉ cho tôi kẹp theo bìa làng, di chuyển lên hướng Bắc, đến gặp Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 8 Dù và Thiếu tá Thanh sẽ cho tôi biết nhiệm vụ của Đại đội 93. Gần giữa trưa, tôi mới gặp Thiếu tá Thanh và ông cho tôi biết nhiệm vụ chính của Đại đội 93 là:

- Thanh toán bọn Cộng đang trú ẩn trong khu vườn cây ăn trái của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Tôi đang ở trong tần số dưới quyền điều động của ông Lữ đoàn phó và nhận lệnh trực tiếp từ Thiếu tá Thanh, cũng không phải là Tiểu đoàn phó của tôi. Lúc này; tôi có đến hai ông… Cha ghẻ lận - Buồn thay! Tôi có chút bất mãn thật! nhưng không dám… chưởi, vì sợ mình bị mất tư cách với anh em đồng đội đang ở quanh tôi.

Trung tá Lữ đoàn phó nói với tôi trên máy:
- Bây giờ anh nghe tôi, không nghe ai hết.

Tôi thưa:
- Dạ vâng.

Và tôi nghĩ như vầy, nhưng không dám nói ra, sợ anh em binh sĩ nghe, họ sẽ nản lòng.

- Khúc xương này chắc chắn khó gặm rồi, nếu ngon ăn… đâu đến phiên mình.

Địch bị bao vây không lối thoát, buộc phải tử thủ. Con chó khi bị dồn đến đường cùng, sao khỏi hung hăng, cắn bậy.

Tôi căn dặn con cái quan sát thật kỹ càng, yểm trợ lẫn nhau, cẩn thận, tiến từng bước một. Vườn chôm chôm cành đầy trái; nặng trĩu, uốn cong sát mặt đất, che khuất tầm nhìn, rất khó quan sát. Đại đội di chuyển từng bước, vượt qua một khu vườn không có nhà cửa.

Trung đội chuẩn ra dấu dừng lại. Chúng tôi ngồi xuống thủ thế.

Thiếu úy Thới, Trung đôi 3 báo cáo;
- Gặp con đường mòn trước mặt. Đích thân.

Tôi bảo Thới,
- Tìm xạ trường tốt đặt cây đại liên M60, để sẵn sàng yểm trợ, rồi cho tổ khinh binh bò lên quan sát. Mười lăm (15) phút sau toán khinh binh phát hiện có mấy chiếc nón sắt của Dù nằm lăn lóc trên đường. Dấu vết cho tôi biết; mục tiêu ở ngay trước mặt và khoảng cách từ đây đến đó, cũng không xa lắm.

Tôi bảo Thiếu úy Thới cho Trung đội bố trí bên này con đường, sẵn sàng yểm trợ để Trung đội 2 của Chuẩn úy Hoàng Văn Tuất vượt đường mòn, tiến vào khu vườn bên phài, làm đầu cầu để yểm trợ cho Trung đội 3 tiến chiếm mục tiêu.

Tuất đưa Trung đội qua bên kia đường mà không gặp sức kháng cự nào của địch và cho tôi biết đã sẵn sàng yểm trợ cho Trung đội 3 của Thới. Trung đội 3 vượt con đường mòn, tiến vào vườn chôm chôm, Địch lập tức khai hỏa. Tiểu đội khinh binh nhào lên: vừa bắn vừa hô xung phong.Tổ khinh binh 3 người bên cánh trái, trúng đạn, cách hàng rào kẽm gai không xa lắm. Trung đội 3 tiến thoái lưỡng nan.

Lúc bấy giờ, súng nổ khắp nơi, hai cây M60 của Trung đội 2 bên cánh phải, bắn yểm trợ, hai khinh binh bị thương của Trung đội 3 mới bò về được, còn một chết sát hàng rào với cây M79 vẫn còn nằm đó.

Đại đội đã lộ diện và địch đang canh chừng, hơn nữa bị hàng rào kẽm gai cản trở, hễ ta nhấp lên là chúng bắn sẻ, đã có hai binh sĩ bị thương. Trung tá Lê Hồng giục tôi thanh toán nhanh mục tiêu. Tôi đem Trung đội 1 lên tăng cường và bảo Thiếu úy Thới dùng M72 để phá rào và dồn hỏa lực áp đảo bọn vẹm. Tôi điều động Trung đội 2 bên cánh phải bò lên sát hàng rào, rồi dùng hỏa lực bắn phủ đầu, để yểm trợ Trung đội 3 của Thới chui lỗ hổng vào bên trong, thanh toán mục tiêu mới mang xác đồng đội về được.

Ý định của tôi là như vậy, nhưng mấy quả M72 của Trung đội 3 bắn nổ ầm ầm, hàng rào kẽm gai mắt cáo, vẫn đứng trơ trơ.(Dân ấp Bảo Định cho biết hàng rào này do Liên đoàn 5 công binh chiến đấu xây dựng?)

Buổi chiều, mặt trời sắp lặng, nắng tắt trong vườn cây. Tôi báo cáo tình hình cho Trung tá Lữ Đoàn Phó biết. Ông ra lệnh Đại đôi tổ chức phòng thủ ngay tại chỗ. Ngày mai cho người ra ấp Bảo Định chặt tre và nhận thuốc nổ băng-ga-lo mang về để phá rào.

Đại Đội vây tròn trong vườn chôm chôm nghỉ qua đêm, một nửa quân số canh gác, nửa kia đào hầm. Đêm đó, nửa thức, nửa ngủ tại hầm, canh chừng suốt đêm.

Sáng hôm sau, ngày tái tiếp tế, tôi bảo Thượng sĩ Hiệp thường vụ Đại đội cho người vào ấp Bảo Định xin 2 cây tre dài và vào Tiểu đoàn nhận thuốc nổ. Nhưng đến 11 giờ trưa, Lữ đoàn trả Đại đội 93 về lại Tiểu đoàn 9 Dù và tôi nhận được lệnh của Tiểu đoàn trưởng, di chuyển Đại đội đến vị trí mới, cách ấp Bảo Định, về hướng Đông-Nam khoảng 400 mét, trong vưởn cây cao-su non.

Vào khoảng nửa đêm, Việt Cọng di chuyển ốn ào, tôi đoán có thể lên đến cấp Trung đoàn. Chúng ngang nhiên dùng loa phóng thanh kêu gọi dân làng nổi dậy chống Mỹ-Ngụy ( Mỹ đâu còn nữa ) cách điểm đóng quân của tôi vào khoảng một cây số, trong đồn điền cao-su rộng mênh mông. Tôi chấm tọa độ, gọi về Tiểu đoàn yêu cầu dùng pháo binh tiêu diệt, nhưng chờ mãi cũng chẳng có quả pháo binh nào?

Ngày 19/4 lệnh từ Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng bảo tôi đi kiểm soát Đại đội 91 của Trung úy: Lê văn Kinh, đóng quân cách Đại đội tôi một cây số, gần vườn mía, nằm giữa tôi và Tiểu đoàn, coi hệ thống phòng thủ của Đại đội 91 có hoàn tất tốt đẹp không? Rồi báo cáo về cho Tiểu đoàn biết.

Tôi giao Đại đội cho Thiếu úy Thới trông coi mà lòng phập phòng lo âu vì đêm qua địch chuyển quân qua vùng này, rất gần chúng tôi. Thật may, sau khi kiểm soát xong, tôi về lại Đại đội, tình hinh vẫn yên tĩnh.

Qua ngày hôm sau, Đại đội 94 của Trung úy Nguyển Hữu Thăng đi lục soát trong đồn điền cao su, hướng Đông Tiểu đoàn, lọt vào ổ phục kích, bị lạc mất một Trung đội và đang bị địch bao vây, chia cắt. Tôi nhận lệnh đưa Đại đội về gặp Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng. Khi tôi đến nơi, ông cho biết : Đại đội 94 đang ở trong tình trạng rất nguy hiểm và bảo tôi cố gắng vào móc Thăng ra.

Trời về chiều, mưa lâm râm, mây giăng khắp lối, mới xế chiều mà bầu trời tối sầm như buổi hoàng hôn. Binh sĩ ướt như chuột, Đại đội âm thầm di chuyển xuyên qua vườn cây cao su non, tiến thẳng đến vị trí của Đại đội 94, theo đội hình tác chiến:

- Trung đội I của Chuẩn úy Hoành làm chuẩn.
- Tuất, Trung đội 2 bên phải.
- Thới, Trung đội 3 cánh trái.

Trung đội đi đầu vừa chạm mí vườn cao su già, thì địch khai hỏa. địch từ vườn chuối bên trái bắn qua. Ngay loạt đạn đầu Thìếu úy Thới và âm thoại viên ngã gục. Tôi đi sát bên Thới vội nhảy ngay xuống hố giếng đang đào. Địch từ trong rừng cao su bắn ra, từ vườn chuối bắn sang. Súng nổ, đạn bay veo véu qua đầu, trúng vào thân cây nghe chan chát, cành gãy răn rắc.

Hỏa lực Đại đội dồn về phía trước và bên phải. Tuất phát giác địch núp ở trên cây bắn xuống, rất nguy hiểm, dặn nên cẩn thận, đã có vài anh em bị thương.

Tôi cho SKZ 57 ly cơ hữu của Đại đội, bắn vào các cây cao su có tàng to lớn trong rừng. Địch nằm giữa hai lằn đạn của Đại đội 93 và 94, nên vài quả 57 ly bay ngang qua vị trí của Đại đội 94,làm Trung úy Thăng la hoảng trên máy.

Địch bám sát Đại đội 94, như lũ kiến bu quanh cục đường. Tôi bảo Thăng cho con cái lặng sâu xuống hầm, để tôi dọn sạch bọn này mới hy vọng bắt tay được với hắn. Anh em vừa bắn về phía trước,vừa bắn lên cây, cố tiến lên bắt tay với Đại đội 94, nhưng không nhích được chút nào.

Trời sập tối, mọi vật chìm trong bóng tối, hai bên đoạn chiến. Địch vẫn bám chặt Đại độ 94. Sau nhiều cố gắng , tay tôi vẫn còn quá ngắn, không thể nào vói tới Thăng, để diu bạn ra ngoài.

Sáng ngày hôm sau, 21/4 một chi đoàn chiến xa M41 vào phối hợp, dùng đại liên 50 và súng SKZ 90 ly bắn phủ đầu, địch chịu không nổi, nới lỏng vòng vây, tôi mới bắt tay được với Thăng. Trong trận này một M41 bi trúng B40 nhưng không bị cháy, chỉ bức bánh xích, phải kéo ra ngoài và thiết giáp cũng rời vùng, rời luôn Xuân Lộc..

Tôi bảo Thượng sĩ Hiệp, thường vụ Đại đội phối hợp với Trung đội 4 đưa xác Thiếu úy Thới và các anh em bị thương ra Tiểu đoàn để ngày mai trực thăng vào bốc họ về Sài Gòn, Nhưng ngay chiều hôm đó, lúc 3 giờ tôi nhận được lệnh gởi đi bằng công điện mật mã, cho binh sĩ chôn quân trang, chỉ mang theo súng đạn và thức ăn mà thôi. Mục tiêu là Bà Rịa.

Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng nói; Tôi đang chạm địch, phải nằm tại chỗ, để ngăn chặn địch, khi nào có lệnh của ông mới được rời vùng. Như vậy Đại đội 93 đương nhiên là đơn vị cuối cùng rời khỏi Xuân Lộc. Anh em cũng biết vậy, nên cứ len lén nhìn tôi để xem phản ứng của tôi như thế nào? Buồn cười thật.

Sáng ngày 21/4, trong lúc trận chiến đang xảy ra giữa Thiết giáp, Đại đội 93 và Đại đội 94, thì: Tiểu khu Long Khánh, Sư đoàn 18 bộ binh và Biệt Động Quân rời Xuân Lộc, theo liên Tỉnh lộ 2 về Bà Rịa, Phước Tuy.

Lữ đoàn I Nhảy Dù trách nhiệm bảo vệ đoạn hậu và triệt thoái khỏi Xuân Lộc theo thứ tự:

- Tiểu đoàn I Nhảy Dù xa nhất, rút trước.
- Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù, rời vùng khoảng 11 giờ tối.
- Đến gần nửa đêm Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù mới cuốn gói.

Đại đội 93 được dùng làm vật cản đường cho cuộc lui quân. Tôi biết thân phận mình như vậy nên dò trên bản đồ và quan sát địa thế tại chỗ, xem con đường nào dẫn ra Liên Tĩnh lộ 2, ngắn và dễ đi nhất. Tôi bảo Chuẩn úy Hoành dẫn Trung đội lấy phương giác 3000 đi mở đường, gặp rào kẽm gai cắt bỏ và cho một người ở đó để liên lạc và cứ thế rải dài, khi nào hết rào kẽm gai thì thôi. Đến 5.30 giờ chiều Hoành trở về cho tôi biết là đã làm xong.

Cuộc lui binh lúc đầu êm ả, đến tối thì không còn giữ được yên lặng nữa, vì người dân các xóm Đạo họ biết tin, ùn ùn gồng gánh đi theo, chó sủa, heo la, gà vịt hêu ang ác khắp xóm làng. Lòng tôi lúc đó nóng như lửa đốt, cứ nghĩ rằng: Việt Cọng mà biết được mình rút chạy,họ dồn lực lượng tấn công mạnh thì anh em tôi ngàn thu vĩnh biệt. Ai yểm trợ. ai lo cho mình, khi chỉ còn một mình mình nơi đây?

Chắc chắn Địch cũng đoán được VNCH rút bỏ Long Khánh. Họ không đánh tôi ở đây, mà sẽ đưa lực lượng phục kính trên đường rút lui. Lúc đó, chúng tôi không có hầm hố sẽ bị thiệt hại nhiều hơn, tôi nghĩ bâng quơ thế thôi, để yên chí mà ngồi chờ.

Chờ đợi!… Dù việc gì đến là; buồn hay vui, ai cũng thấy lòng nôn nao hồi hợp. Trường hợp của tôi cũng không ngoại lệ, ngồi đứng không yên. Tôi bỏ ra ngoài, đi kiểm soát, dặn dò anh em để ý quan sát: động- tịnh của địch để kịp thời phản ứng và cũng để cho cái đầu của tôi nó bớt căng thẳng, nó đang sắp nổ tung rồi đây!

Đêm nay, trời không có trăng, cảnh vật chìm dưới ánh sáng lờ mờ nhờ bầu trời có nhiều sao. Mưa đã tạnh, nhưng mây vẫn còn che phủ nhiều nơi. Từ 8 giờ tối… đến 11 giờ đêm, đối với tôi thời gian có đi chậm một chút, nhưng tôi vẫn còn chờ đợi được. Đến quá nửa đêm thì mỗi phút trôi qua,… với tôi thật sự quá dài? Sao không thấy lệnh lạc gì hết, hay là tôi đã bị bỏ quên ?

Hỏi để mà: Trông, hỏi để mà: Lo và hỏi để cho có chuyện vậy thôi; Làm sao có câu trả lời?

Chỉ nghĩ không thôi, mà như trách cứ ai vậy!.

- Đêm đã khuya quá rồi, anh em Nhảy dù ơi! cố gắng đi nhanh lên, cho anh em tôi nhờ với. Tôi còn sợ máy hết pin, nên bảo Hùng thay pin mới và nhớ ép sát ống nghe vào tai, để nghe cho rõ. Vớ vẩn thật, nhưng giờ phút đó thật tình tôi nghĩ như vậy.

Vậy mà tiếng máy kêu sè sè cũng làm cho tôi giật mình, vì đêm khuya quá yên tĩnh. Đại đội nhận được lệnh cuốn gối, kim đồng hồ chỉ đúng 1giờ 53 phút sáng ngày 22/4/1975.

Hoành dẫn đường, Đại đội đi hàng một, và cứ thế tiếp theo Trung đội 4, 3 và 2 bao chót. Tôi dặn Tuất; nếu địch đuổi theo, cho Trung đội nằm lại ngăn địch, tôi sẽ trở lại với anh em.

Tôi chủ trương rút nhanh mới bắt kịp Tiểu đoàn, phải bám sát để khỏi lạc. Trong vòng 45 phút sau, Đại đội đã ở trong vườn cây, sát Liên Tĩnh lộ 2. Tôi liên lạc mới biết Tiểu đoàn đang bị các rào kẽm gai cản trở, còn ở phía sau tôi. Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng ra lệnh cho tôi phải trở lại dẫn đường. Tôi cho một Trung đội vòng lại, đưa Tiểu đoàn theo con đường cũ tôi vừa đi, thoát ra ngoài,chỉ mất khoảng 15 phút.

Tiểu đoàn băng qua Liên Tĩnh lộ 2, di chuyển sâu trong rừng, đến căn cứ Long Giao thì tịt đường, bị dính vào rào kẽm gai của căn cứ, không đi được. Dùng dằn mãi, tôi thấy sốt ruột quá, Đại đội 93 vẫn bao chót và dân làng cứ bám theo sau, tiếng con nít khóc la, tiếng gọi tìm nhau ơi ới. Tôi gọi máy xin găp Đích thân và tình nguyện dẫn đầu đưa Tiểu đoàn ra đường lộ, băng ngang căn cứ Long Giao và tiếp tục di chuyển trên Liên Tĩnh lộ 2..

Gần 6 giờ sáng, Tiểu đoàn đến Thung lũng Gia Rai, cách Xuân Lộc vào khoản 20 cây số. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng cho dừng quân trên đường, gần con suối nhỏ, để con cái lấy nước.

Ngay lúc đó, Việt cọng tấn công bằng súng cối 61 ly và súng nhỏ, nhưng bị ta phản ứng mạnh bằng M72 , Đại liên M60 và M79 của cả Tiểu đoàn. Tôi điều động Đại đội bám vào bờ đất cao bên đường bắn vào các lùm tre hai bên bờ suối. Hàng trăm khẩu súng đủ loại bắn hàng ngàn viên đạn rải xống bên dưới con suối làm địch im tiếng súng.

Không may, tôi bị một mảnh cối 61 ly ghim vào đùi làm chân trái của tôi bị tê, vết thương rỉ máu, sưng bầm tím. Thấy vậy, Bác sĩ Ẩn lấy băng cá nhân bịt kín vết thương cho tôi.

Hướng đông, cách chúng tôi khoảng 2 cây số là Ấp Quí Cả, có ngọn núi cao nằm bên phải Tĩnh lộ 2, địch dựng một cây cờ màu xanh đỏ của MTGPMN. Khoảng đất trống bên trái, pháo đội C3 đặt 2 khấu 105 để yểm trợ cho cuộc lui quân. Vào lúc 4 giờ sáng ngày 22/4 pháo đội bị địch tấn công, tràn ngập do một Trung đội Trinh sát báo vệ, bị thiệt hại nặng. Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù vừa đến nơi tấn công bọn vẹm, cứu được nhiều anh em Pháo đội cũng như Trinh sát bị bắt trước đó, tay họ bị trói quặt ra sau.

Và một lần nữa Tiểu đoàn ra lệnh Đại đội dẫn đầu, ép qua bên phải, di chuyển sâu vào trong rừng, tránh xa Ấp Quí Cả, đang bị 2 phi tuần A37 bỏ bom, nhưng không may, lần này Tiểu đoàn lại gặp rừng tre dày đặc, không di chuyển được. Tôi lấy ống nhòm, nhìn về phía chân núi, thấy thấp thoáng bóng người. Tôi nghĩ: Rút lui là phải dọt cho lẹ, nhanh chừng nào, tốt chừng đó - Cứ… như vầy… rủi nhiều, may ít khó nói lắm và tôi nói với Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng là tôi thấy dưới chân núi có người, liên lạc thử xem; có phải bạn không? May mắn, Trung tá Lữ đoàn phó xác nhận ông đang ở gần đó. Vì vậy Tiểu đoàn trưởng mới bằng lòng để tôi mở đường, hướng về Ấp Quí Cả.

Đại đội 92 của Đại úy: Lê Đình Ruân di chuyển bên trái. Đại đội 93 của tôi bên phải, kẹp hai bên đường, hai Đại đội cùng tiến song song. Đoạn đường gần hai cây số, chỉ mất khoảng 45 phút, tôi bắt tay được với Trinh sát. Anh em cho biết Việt cộng đang đóng chốt trong rừng, bên kia khoảng trống, nhắm bắn sẻ khi chúng ta băng ngang con suối cạn, bảo chúng tôi phải cẩn thận. Tôi nhìn xuống khoảng đất trống, chỗ mấy khẩu 105 ly bị cháy và thấy đứa con đầu của Đại đội 92 cũng vừa chấm mí, sửa soạn băng qua khoảng trống. Tôi giật mình, gọi Ruân cho con cái ép sang phải, băng qua đường đến chỗ tôi, trên gò đất cao dưới chân núi.

Vết thương của tôi chảy máu nhiều, bác sĩ Ẩn đề nghị tôi đi gần để được ông săn sóc và Đại úy Trần Ngọc Chỉ ban 3 Tiểu đoàn ra thay tôi coi Đại đội.

Việt cộng phục kích chận đường, Liên Tĩnh lộ 2 không an toàn. Tiểu đoàn mở đội hình di chuyển sâu vào trong rừng, theo phương giác hướng về Bình Giã. Nhờ rừng cây khai quang, thưa thớt dễ đi, đến 5 giờ chiều thì chúng tôi bắt tay được với cánh quân của Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù phối hợp với thiết vận xa M113 chờ đón chúng tôi tại Bình Giã .

Tôi và Lưới, hai thầy trò theo xe về vị trí của một pháo đội, nằm bên cạnh căn cứ cũ, gần phi trường dã chiến bỏ hoang. Đêm đó các Tiểu đoàn đóng quân hai bên Liên Tĩnh Lộ 2, vùng Bình Giã. Nửa đêm về sáng Việt cộng dùng xe máy cày, ngụy trang nhiều cành lá và kéo theo các thanh sắt, giả làm T54 để hù Nhảy Dù, bị Nhảy Dù xơi tái.

Trưa hôm sau, 24/4 Tiểu đoàn di chuyển về đóng quân tại núi Đất, Trung tá Tiểu đoàn trưởng có tới thăm, rồi đi không về lại Tiểu đoàn.

Bác sĩ Ẩn xem vết thương cho tôi, thấy mảnh đạn lòi ra ngoài, dính vào băng cá nhân, dài khoảng nửa phân, nhỏ hơn đầu đũa. Bác sĩ Ẩn nói:

- Ông lội đường xa, vết thương bị động, nên máu ra nhiều, mảnh bom cũng trồi ra ngoài. Tôi đồng ý để ông Bác sĩ Tiểu đoàn gắp nó ra. Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng thấy vậy nói:
- Vết thương của Tường cũng nhẹ thôi – Ông hỏi tôi về lại Đại đội có được không? và ông sẽ để tôi đi với Thiết giáp, cho đỡ đau chân. Tôi thấy chân không còn đau nhức nữa, từ chối rất khó; Thế là tôi ở lại. Đúng là tôi có số xuất ngoại, nên chịu ở lại, chỉ tội cho gia đình tôi sau ngày đổi đời, không thấy tôi mò về, tưởng là tôi đã chết, bơ vơ, đau khổ mất hết niềm tin.

Tôi về đến Đại đội thì nhận được một ông Trung úy ra tăng cường, tưởng ai hóa ra là Luật sư Hoàng Cơ Môn, tôi nghe tên ông này, hôm nay mới biết mặt. Tôi than thầm:
- Đại đội trưởng làm sao nuôi cơm ông đây?

Rất may là ông chỉ ở với tôi một đêm thôi, sáng hôm sau về lại Tiểu đoàn.

Xin phép Qúy vị cho tôi viết về Đích thân của tôi một tí. Ông có tính tình khá đơn giản: cởi mở và vui tính, Lối sống của ông cũng rất bình dị, nên đối xử với thuộc cấp có phần dễ dãi.

Ông là Võ sĩ, nhưng lại thích làm và ngâm thơ. Tuy ông chưa xuất bản tập thơ nào, nhưng trong Sư đoàn, ngay cả ông Tướng tư lệnh cũng từng có nghe qua ai đó nói về nhà thơ này.

Thơ của ông không cầu kỳ, sâu sắc như các thi sĩ. nhưng được làm theo vần điệu, nên đọc nghe rất êm tai, chứa đựng thật nhiều tình cảm, ý thơ có chút lãng mạng, khiến người nghe dễ rung cảm, đồng tình.

Ông thích ngâm nga một vài bài thơ, nhất là khi mọi người đã uống vài ly VSOP, hay dăm lon bia, nhân dịp hợp mặt của anh em trong Tiểu đoàn 9 Dù.

Đích thân cũng rất thương em út, thường chia xẻ cà phê, thuốc lá, hai thứ quí hơn vàng khi đơn vị chạm địch nơi rừng sâu, núi thẩm, chậm tiếp tế.

Tính ông khá vô tư, nên dễ dàng chấp nhận ý kiến của mọi người chung quanh, ngay cả các chú mang máy truyền tin cho ông cũng thế. Ông không thích bị gò bó, phải suy nghĩ nhiều.

Đánh giặc thì cũng xem xem… như mọi người, nhưng ông cầm quân rất mát tay, gặp khó khăn gì rồi cũng tháo gỡ được. Khi cần động viên tinh thần anh em binh sĩ, ông bắt nhịp cho toàn thể hát bài; Sư đoàn Nhảy Dù hành khúc trước họng súng của quân thù đang vây bủa chung quanh đơn vị, như trong trận Mùa Hè đỏ lửa trên cao nguyên Trung phần, khi căn cứ Tân Cảnh của Đại tá Lê Đức Đạt, Tư lệnh Sư đoàn 22 bị địch tràn ngập và cánh quân của Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù gồm 3 Đại đội do Thiếu tá Tiểu đoàn Phó Võ Thanh Đồng chỉ huy đang bị địch vây hãm phía Tây- Bắc phi trường Phượng Hoàng trên ngọn Ngoktu ở Đakto.

Tôi phục vụ dưới quyền ông trong một thời gian khá dài, từ Trung đội Trưởng đến Đại đội Trưởng, từ chiến trường này đến cuộc hành quân nọ gần 8 năm; vui cũng có, mà buồn cũng có. Nói chung: Có giận, có hờn, có trách, nhưng chung quy tôi vẫn mến ông.

Tường Vi kể chuyện xưa; thời xa lắc, xa lơ và nhớ đâu, nói đó, nếu có điều gì sai, xin Đích thân cũng đừng buồn vì thời gian còn lại của chúng ta trên cõi đời này, không còn bao lâu nữa. Đây cũng là câu chuyện xảy ra trong Tiểu đoàn, giữa chiến trường: có thương, có nghét, đó là sự thật: “chăm phần chăm”.

Biết rõ tính ông như vậy, nên tôi thường nói ra ngay nhận xét của mình, rồi đề nghị làm theo ý kiến của tôi mà không sợ bị ông cự nự, và lúc nào tôi cũng là người tình nguyện thi hành nhiệm vụ đó, vì luôn nghĩ mình phải có trách nhiệm với đơn vị. Trớ triêu thay, có bạn chê trách tôi là:
- Hữu dõng vô mưu, dại gì phải tình nguyện đi làm, để cho lính khổ.

Bạn này không dám nói thẳng với tôi, mà lại nói với vợ tôi, sau ngày 30/4 mới chết chứ! Thời gian đổi đời, dầu sôi, lửa bổng, vợ tôi không thấy tôi về, vào hậu cứ Tiểu đoàn hỏi thăm tin tức, thì nhận được lời phê phán này. Còn gì đau khổ hơn? Bạn ơi! bạn có đáng trách không!?

Cách chỉ huy của ông cũng dễ nhận biết, tin ai thì dùng người đó, rách như manh chiếu vẫn dùng. Vừa chạm địch thì có chút nao núng, nhưng khi đã vào trận rồi thì ông gan dạ hơn người, như tôi vừa thưa với Quý vị. Ông rất nóng tính, gặp điều bất bình thì phang ngay, không nương tay, bởi vậy binh sĩ nào uống rượu làm bậy dễ bị đòn, mà đã phạt thì thường rất nặng.

Kính thưa Đích thân, nhận xét của Tường Vi về Đích thân có chút nào sai, cũng xin Đích thân đừng buồn phiền, bởi vì ca dao, tục ngữ mình có câu:
- Thương nhau lắm, cắn nhau đau. Thưa Đích thân.

Sau cuộc hành quân Long Khánh, hai bạn Phạm Bá Hồi và Nguyễn Hữu Thăng được vinh thăng Đại úy, nhiều Binh sĩ được gắn cấp bậc và huy chương tưởng thưởng.

Ngày 26/4, Tiểu đoàn di chuyển về giữ an ninh Quốc Lộ 15 Sài Gòn- Vũng Tàu, đoạn từ Ấp Láng Cát đến Bà Rịa. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn đóng quân phía Bắc QL15, gần Ấp Láng Cát. Đại đội 92 của Đại úy Lê Đình Ruân bảo vệ pháo đội, đối diện Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Đại đội 93 đóng quân chung với chi đoàn M113 gồm 14 chiếc nơi vườn chuối, phía Đông của pháo binh. Đại úy Hồi ra giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 91, thế cho Trung úy Kinh bị thất lạc trong cuộc hành quân lui binh khỏi Xuân Lộc, đang đóng quân trên dãy núi phía Bắc, Ấp Láng Cát. Đại úy Nguyễn Hữu Thăng đi phép về chịu tang Cha. Thiếu úy Nguyễn Văn Vinh lên xử lý Đại đội trưởng 94 đóng quân gần trường bắn của trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp.

Ngày 27/4 kế toán trưởng ra phát lương và hôm đó cũng có một phái đoàn từ Sài Gòn xuống ủy lạo tặng quà cho Tiểu đoàn.

Ba giờ chiều, Đại úy Trần Ngọc Chỉ rủ tôi và Ruân xuống Thị xả Phước tuy uống café, nhân chuyến đi chia xẻ quà cho Lữ đoàn. Tôi và Ruân vào quán café, trước cữa tòa Tĩnh trưởng, nhâm nhi ngồi chờ, Chi lăng hẹn xong việc, chúng tôi sẽ đi Vũng Tàu ăn phở. Chúng tôi không sợ lỡ tàu vì trên xe jeep có máy truyền tin.

Đang cao hứng thì chúng tôi nhận được tin Tiểu đoàn gọi về hợp, đến nơi mới biết Tiểu đoàn có tổ chức một bữa cơm chiều mời các Đại đội trưởng tham dự. Chúng tôi chưa uống xong chai bia thì nghe nhiều tiếng nổ ở xa xa, hướng thị xã Phước-Tuy và Tiểu đoàn nhận được lệnh di chuyển về Bà rịa để giải tỏa áp lực địch.

Tiểu đoàn Trưởng chỉ huy hai đại đội 92 và 93 tùng thiết chi đoàn M113 di chuyển về Phước Tuy, trên Quốc Lộ15. Khi chúng tôi đến bờ sông, bên này thị xã thì trời đã tối và nghe được tiếng rú ga của xe thiết giáp, Tiểu đoàn liên lạc, nhưng không ai xác nhận được của đơn vị nào, mãi đến nửa đêm tiếng rú của thiết giáp mới chấm dứt.

Mờ sáng ngày 28/4, chúng tôi nhìn sang bên kia sông không thấy một bóng người nào; lính cũng như dân. M113 bắn 2 quả đại bác 90 vào lô-cốt ở đầu cầu vẫn không thấy ai trả lời.

Tiểu đoàn trưởng ra lệnh Đại đội 92 tiến vào kiểm soát khu chợ mới, phần tôi đưa Đại đội 93 vượt qua cầu, tiến vào thành phố, liên lạc với tiểu khu Phước Tuy, kiểm soát và báo cho ông biết tình hình tại chỗ.

Khi tôi tiến vào con đường chính trước cữa tòa Tỉnh trưởng, hai hàng cây ngô đồng trồng bên đường bị pháo gãy đổ tan hoang, bít kín cả lối đi, nhiều căn phố bị sụp đổ, đống hồ chỉ đúng 8 giờ sáng ngày 28/4/1975. Đại đội 94 củng vừa mới đến, Tiểu đoàn trưởng bảo tôi theo dõi giúp đỡ Thiếu úy Vinh. Tôi cho 94 bố trí bên này con đường phía Đông tòa Tỉnh, Đại đội 93 án ngữ trước mặt Tĩểu khu, phía Nam con đường. Bộ chỉ huy đóng tại rạp hát với 2 thiết vận xa M113.

Tôi báo về Tiểu đoàn đã kiểm soát toàn thành phố, dân chúng di tản hết, chỉ gặp vài người già và trong tòa Tỉnh không còn ai hết. 10 giờ dân chúng lục đục kéo về, lấy đồ đạc rồi lại ra đi, hình như họ vẫn còn sợ hãi đợt pháo kích chiều hôm qua.

Tình hình tạm yên tĩnh cho đến 1 giờ chiều, địch bắt đầu pháo mạnh, hơn một giờ sau T54 từ hướng trường bắn trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp tiến theo con đường bên hông tòa Tỉnh, vào thành phố. Súng nổ vang rền. Trước cổng tòa Tỉnh trưởng, một chiếc T54 chạy trên đường, lao về phía chúng tôi. Toán SKZ 57ly và anh em binh sĩ 93 và 94, ẩn núp các gốc cây hai bên đường, cũng giương M72 nhắm chiếc T54 khai hỏa, mấy quả đạn trúng pháo tháp nổ tóe lửa, nhưng xe không cháy, chúng chạy vào ẩn núp trong tòa Tỉnh.

Đang đánh ngon lành thì ông thiếu úy thiết giáp hỏi tôi:
- Đại úy - Đại đội 93 ở đâu và ai là Tường-Vi? Có lệnh của Đại bàng cho mình zu-lu về Vũng Tàu.

Tôi nói: Tôi là Đại đội trưởng Đại Đội 93 và Tường Vi là danh hiệu truyền tin của tôi. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ở mãi cầu Cỏ May, dùng antena lá lúa, không liên lạc được, mới nhờ qua thiết giáp. Tôi chuyển lệnh của Tiểu đoàn cho Đại đội 94 và bảo Thiếu úy Vinh rút về Vũng Tàu.

Con đường đi Vũng Tàu là con đường độc đạo, hai bên toàn nước và sình lầy, qua khỏi chợ Mới khoản 200 mét có chiếc cầu nhỏ bắc ngang con lạch. Việt cộng biết vậy nên pháo nhỏ giọt vào đây mong cản lực lượng tiếp viện từ Vũng Tàu lên và nếu Nhảy Dù rút khỏi Phước Tuy cũng sẽ bị tổn thất.

Xe qua khỏi cầu 500 mét, tôi yêu cầu Thiết giáp ngừng lại nơi bãi đất trống để kiểm điểm quân số và chờ Đại đội 92 và 94.

Tôi gọi cho Ruân, hỏi bạn đang ở đâu? Hắn trả lời:
- Vũng Tàu.

Tôi nghĩ… bạn này nhanh thật, mới đây mà đã đến Vũng Tàu rồi. Tôi di chuyển bằng M113, hắn đi bộ, không thế nào nhanh như thế được. Tôi đang hoài nghi? thì nghe tiếng súng nổ phát ra từ khu chợ Mới. Tôi đưa ống nhòm lên quan sát, thấy bóng thầy trò hắn chạy ra rồi lại chạy vào. Địch từ trên sân thượng của ngôi chợ hai tầng bắn xuống, chắc là đêm qua mấy chiếc T54 đã thả bọn chúng xuống đây và từ sáng đến giờ chúng nằm yên chờ đợi giây phút này…

Tôi điều động hai chiếc M113 đến gần cây cầu, dùng đại liên 50 bắn cho bọn vẹm không ngóc đầu lên nổi, giúp Đại đội 92 thoát khỏi vùng nguy hiểm. Ruân dẫn Đại đội lẩn vào khu vườn tre ở hướng Đông, rồi mới di chuyển về Nam. Vì vậy, anh em phải lội qua mấy con lạch, thầy trò hắn ướt như chuột, máy truyền tin cũng bị hư luôn. Tôi tạm thời đưa cho Đại đội 92 một máy PRC 25 để liên lạc.

Vừa lúc đó, Hùng trao máy cho tôi, và nói:
- Đại úy-Thiếu tà Tiểu đoàn trưởng muốn gặp. Tôi tiếp ống liên hộp ép vào tai. Trả lời:
- Tôi nghe Đích thân. Đầu dây bên kia tiếng Thiếu tá Đường dõng dạc:
- Tường dẫn theo 94, vào chiếm lại Phước Tuy cho tôi.

Đang đánh nhau. Cho lệnh rút, rồi bây giờ ra lệnh, trở lại đánh tiếp! Dễ gì?

Ông còn nói: Nếu tôi chiếm được Phước Tuy - Ông sẽ thăng cấp cho tôi.

Không biết tại sao, lúc đó tôi lại cười được?… Nghĩ… mình mà đem quân chiếm lại Phước Tuy ngay bây giờ đương nhiên tôi được thăng một cấp rồi, nhưng chắc chắn là: “thăng cấp giữa hai hàng nến trong” mất thôi.

Nói là vậy, nhưng tôi vẫn phải thi hành lệnh. Hiện giờ, ở tại đây tôi có 3 Đại đội, Đại đội 92 coi như bất khiển dụng, chỉ còn lại Đại Đội 93 và Đại Đội 94 với 8 chiếc thiết vận xa M113, làm sao chọi với T54 của địch đang chiếm giữ thành phố.

Tôi đang hội ý với anh em bên thiết giáp, dùng hỏa lực để yểm trợ cho bộ binh tiến chiếm ngôi chợ mới, làm đầu cầu tiến vào khu Phố chính, thi nhận được lệnh rút cả về cầu Cỏ May. Chưa đánh mà chạy đã là điềm chẳng lành.

Đến 3 giờ chiều công binh đặt mìn đánh sập nhịp giữa cầu Cỏ May, mọi di chuyển từ Phước Tuy vể Vũng Tàu xem như bị gián đoạn.

Việt cộng chiếm giữ Phước Tuy, hai Đại đội 90 và 91 của Tiểu đoàn 9 Dù còn kẹt lại ở Ấp Láng Cát và Tiểu đoàn I và 8 Dù, vẫn còn nằm án ngữ phía Đông-Bắc Phước Tuy bị kẹt cứng. Các cánh quân này sau đó tìm đường về Vũng Tàu qua ngã Long Sơn ngập nước. Anh em phải băng qua vùng sình lầy nên chịu thật nhiều mất mát về sau.

Tiểu đoàn trừ gồm 3 Đại đội, trấn giữ tại cầu Cỏ May. Tiểu đoàn trưởng bảo tôi phải trông nôm luôn Đại đội 94 và ông nói sẽ cho Trung úy Hoàng Cơ Môn về làm Đại đội trưởng Đại đội 94, nhưng bị tôi phản đối kịch liệt, nên ông bỏ ý định này.

* Một bông Mai của Thiếu úy Vinh phải trả bằng mồ hôi và xương máu, hơn hai năm lăn lộn ngoài chiến trường học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm, còn cấp bậc Trung úy đồng hóa của Luật sư Hoàng Cơ Môn chỉ để làm cảnh, không thể chỉ huy. Tình nguyện phục vụ trong đoàn quân Mũ Đỏ, là việc làm rất đáng khen, nhưng để chi huy một Đại đội tác chiến Nhảy Dù không phải là chuyện dễ dàng, mà một ông Luật sư có thể làm được.

Tại cầu Cỏ May, Đại đội 93 chịu trách nhiệm hướng Bắc và Tây-Bắc. Vinh 94 thủ mặt Đông và 92 của Đại úy Ruân phòng thủ hướng Tây. Phía Nam có thiết giáp và cách đó không xa còn có một Đại đội Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ.

Tiểu đoàn không nhận được tái tiếp tế nên tôi báo cho các Đại đội vào kho gạo của Hải Quân tại cầu Cỏ May mà lấy, đồng thời tôi cũng cho anh em binh sĩ đem gạo đổi lấy thức ăn của dân chúng và buổi chiều hôm đó tôi và Ruân có bữa cơm gà luộc, uống rượu whisky, Lưới chôm ở bót Cảnh sát, tại đầu cầu Phước Tuy, nghe đâu có tới một hầm rượu lận.

Tối 28/4, địch dùng ghe nhỏ bơi qua sông tấn công, nhưng chúng bị đẩy lui, có một số anh em Đại đội 93 bị thương, được di tản về bệnh viện Vũng Tàu.

Sáng ngày 29/4 có lệnh rút về Vũng Tàu, khi xe tôi đến căn cứ Hải quân Cát Lở thì bị Việt Cộng phục kích, chiếc M113 tôi đang đi bị quả B40 bắn bức xích. Tôi phải bám vào thành xe đến sau. Súng nổ, người ngã, xe vẫn chạy, đến trường truyền tin xe mới dừng lại cho tôi leo lên và xe tiếp tục chạy tới bến Đở bãi trước. Khi tôi tới nơi thì các Tiểu đoàn đã ra khơi, không còn một chiếc ghe nào trong bến.

Nằm dọc con đường men theo vách núi có hàng mấy chục chiếc M113 còn nguyên vẹn, bửng sau mở trống thơn, nhưng không còn người. Việt cộng bắt đầu pháo vào bến đá, gần điểm tập trung, có một binh sĩ chết và vài người bị thương. Anh em phát hiện tên đề-lô ở trên núi, gần tượng Phật, đang đứng điều chỉnh. Tôi cho một toán leo lên mỏm đá dùng M72 bắn, nhưng cũng không biết có kết quả hay không? Sau đó Chi Lăng đem ghe vào và chúng tôi ra khơi. Tối hôm đó ghe tôi neo tại Vòm Láng, thuộc tỉnh Gò Công.

Khoảng 11 giờ trưa ngày 30/4/1975. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng nói với tôi trên máy:

- Hòa bình rồi, anh em nào muốn về với gia đình, Tường cho họ xuống ghe nhỏ vào bờ, ai muốn phiêu lưu thì mình sẽ đến Thái Lan hay một nước nào đó vùng Đông Nam Á. Tôi gọi máy hỏi các bạn; không một người nào muốn về. Nghĩ đến gia đình, tôi buồn lắm, dù không khóc được, nhưng hai giòng lệ vẫn cứ lăn dài trên má, Và nếu hôm đó có bạn nào về chắc chắn tôi sẽ chọn về với gia đình. Oh! Cũng là số mệnh.

Chiều ngày 30/4, nhiều ghe thuyền chạy ngang qua Vòm Láng, trên ghe người là người; đứng, ngồi, nằm chen chúc nhau chật cứng.

Hòa bình gì mà tôi cảm thấy; người như điên, như dại, lòng nóng như lửa đốt, không biết mình phải binh đường nào, chọn đường nào đây?

- Đi, thì lòng như đã chết! phải xa gia đình, xa vợ con, không biết đến bao giờ mới gặp lại.
- Về cũng chết, tôi biết mình không thể sống với Việt cộng, vì tôi lớn lên trong vùng Việt minh, hiểu rõ bọn chúng.

Chín giờ tối ngày 30/4 có lệnh ghe nhổ neo ra khơi và đến tối ngày hôm sau, ghe tôi được Đệ thất hạm đội Mỹ hướng dẫn mọi người lên con tàu buôn đậu sẵn ở hải phận Quốc tế. Nửa đêm hôm đó tàu nhổ neo, di chuyển đến Subic Bay, Philippines; cho một số người xuống bến, vì tàu chở quá tải, rồi tàu lại tiếp tục đến đảo Guam thuộc Mỹ, nằm giữa Thái Bình Dương, chấm dứt những ngày tôi phục vụ trong quân ngũ, sống và chiến đấu với anh em đồng đội qua các địa danh: Từ vùng biên giới Tây Ninh, Bình Long, Phước Long. Vượt biên sang Cambodia vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt tấn công Trung ương cục Miền Nam, dự trận Dambe, Mimot, Campong-cham, đến cuộc hành quân đổ bộ sang vùng Hạ Lào. Tham dự trận Mùa Hè đỏ lửa tại Tân Cảnh, Đakto. Hành quân tái chím Tỉnh Quảng Trị, lên Thường Đức, Quảng Nam, đánh đồi 1062, về Xuân Lộc, Long Khánh, sang Bà Rịa, Phước Tuy, Vũng Tàu. Chiến trận trải dài suốt tám năm tôi phục vụ trong đoàn quân Mũ Đỏ với bốn lần bị thương và nhiều lần thoát chết.

Kính thưa Qúy vị, thưa Qúy Niên Trưởng, thưa các bạn và các anh chị em Mũ Đỏ. Loạt bài viết vể “ Những ngày sống trong Quân ngũ ” lính kể, lính nghe đến đây là kết thúc.

Tường Vi kính xin Quý Anh chị giành một phút Mặt niệm, thắp nén hương lòng, tưởng nhớ đến các anh hùng tử sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến để bảo vệ Tổ Quốc, cho người dân sống dưới thể chế Việt Nam Cọng Hòa được hưởng đời sống tự do hạnh phúc trong suốt 20 năm.

Anh em còn nhớ tiếng gọi yêu thương đầy nước mắt:
- Anh lính Cộng hòa ơi! cứu tôi với.

Lời kêu cứu; xé lòng ấy, thỉnh thoảng vẫn đánh thức tôi trong đêm dài mộng tưởng từ ngày tôi rời bỏ quê hương. Thương ơi là thương!!

Việt Nam Cọng Hòa đã lùi sâu vào dĩ vãng, nhưng ngon cờ linh thiêng của Tổ Quốc vẫn tiếp tục tồn tại trên khắp thế giới, nơi nào có người Việt sinh sống, nơi đó có Cờ Vàng ba sọc đỏ ngạo nghễ tung bay.

Ba mươi tám năm (38) đi qua, dù danh xưng Việt Nam Cọng Hòa có mất tên và Cộng sản Việt Nam tìm đủ trăm phương, ngàn kế để thay đổi ngọn cờ Vàng, bằng cờ máu của chúng. Nhưng chúng càng lồng lộn muốn phá bỏ, Cờ Vàng càng được nhiều quốc gia trên thế giới chấp nhận đại diện cho người Việt quốc gia và được treo vào những nơi trang trọng nhất.

* Thật là một điều kỳ diệu, tôi chưa bao giờ thấy xảy ra trước đây?

Tường Vi cũng kêu gọi tình chiến hữu, hướng về quê nhà, giúp đỡ các anh em thương phế binh đang sống lây lất cơ cực, dưới chế độ trả thù tàn độc của bọn Cọng Sản buôn dân, bán nước.

Tường Vi cảm ơn Niên trưởng Bùi Đức Lạc đã hổ trợ, khuyến khích và giúp đỡ rất nhiều trong giai đoạn đầu rất khó khăn cho một người chưa bao giờ cầm bút. Tường Vi cũng xin cảm ơn bạn bè xa gần đã: nói vào” để Tườngvi chịu khó ngồi suy nghĩ, tìm tài liệu và sau cùng là những lời hối thúc góp bài của đsmđ.

Tường vi mới có can đảm ngồi gõ từng chữ, dò lại từng giòng, xem qua, đọc lại vẫn thấy có: trăm chữ thừa, ngàn chữ thiếu. Và cuối cùng bốn chữ “ Nhảy Dù - Cố gắng ” có lẽ nó vẫn còn trong tôi cho đến cuối cuộc đời.

Xin đa tạ và kính chào Quý vị.
Beaverton, Oregon tháng 4- 2013,
Mđ Tường Vy



.
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Tue Feb 03, 2015 12:20 am





Người Lính Trong Truyện Trần Hoài Thư

Nguyễn Vy Khanh



Trần Hoài Thư

1.
Văn học Việt Nam từ nửa thế kỷ nay có thể nói là một văn học chủ yếu chiến tranh: chiến tranh chống thực dân 1945-54, chống cộng trong Nam và chống "Mỹ ngụy" ngoài Bắc 1954-1975, chống chủ nghĩa ngoại nhập, chống độc tài tranh đấu cho dân chủ, tự do từ ngày 30-4-1975, ở trong cũng như ngoài nước. Trong cuộc chiến 1954-1975, "văn học" chống "Mỹ ngụy" điều động bởi Hà-Nội từ các nhà văn bộ đội và các xưởng viết văn từ Bắc vào đến Trường Sơn, Cục "R", đã sản xuất nhiều hình ảnh lính bộ đội hoặc "giải phóng" hăng say với lý tưởng "đuổi Mỹ" và cứu người miền Nam đang bị "ngụy" và thực dân mới ... bóc lột, cơ cực (!). Những người lính có khi được gọi là "thanh niên xung phong" này đầu óc được thông tin Nhà Nước bơm đầy hận thù, chấp nhận sinh Bắc tử Nam, bắn giết, phá "địch", không tâm hồn tư riêng, quên gia đình và bản thân, vv. Vì nhu cầu tuyên truyền chính trị, người lính bộ đội và giải phóng thường được mô tả theo cùng một khuôn rập. Trong Văn Học Việt Nam Chống Mỹ Cứu Nước, Viện văn học của Hà nội đã ... tự hào tổng kết:

"Văn học của chúng ta trong những năm chống Mỹ đã làm đúng những lời căn dặn đó của Đảng. (...) Chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội là hai mảng đề tài lớn nhất trong những năm này, mặc dù đề tài trên đã chiếm vị trí hàng đầu. (...) Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã trở thành một nội dung tư tưởng chủ yếu của văn học trong những năm chống Mỹ, và những anh hùng, chiến sĩ trên các lãnh vực đã trở thành những nhân vật chính mà các tác phẩm văn học đã miêu tả. (...) Trường đào tạo các nhà văn trẻ vẫn tiếp tục mở hết khóa này đến khóa khác. ..." (1)

Bên này vĩ tuyến 17, báo chí, xuất bản phẩm tràn ngập những hình ảnh chiến sĩ cộng hòa gan dạ, yêu nước, bảo quốc an dân. Họ là bảo hiểm cho người hậu phương, là an ninh nơi thôn làng, là giải cứu cho những vùng địch tạm chiếm. Người lính Cộng Hòa được các nhà văn thơ Nguyễn Đạt Thịnh, Nguyễn Mạnh Côn, Nhất Tuấn, Hà Huyền Chi, Tô Kiều Ngân, Hồ Minh Dũng, Văn Quang, vv tâm lý chiến hóa cũng như lãng mạn và thi vị hóa. Những anh hùng ca được nuôi dưỡng suốt cuộc chiến.

Nhưng cuộc chiến càng kéo dài, người lính càng trở nên cô đơn, bi quan và đăm chiêu dưới các ngòi bút của Thế Uyên, Dương Nghiễm Mậu, Thảo Trường, Ngô Thế Vinh, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ,... hoặc trằn trọc không lối thoát đến độ phải đối kháng hoặc phản chiến như Ngụy Ngữ, Trần Hữu Lục.

Đó là vì miền Nam Cộng Hòa chế độ tự do dân chủ, do đó bên cạnh những hình ảnh chính thức, đã có những người lính bạt mạng như Nguyễn Bắc Sơn:

"... Kẻ thù ta ơi, những đứa xâm mình
Ăn muối đá và điên say chiến đấu
Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi hành quân, rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem chiến cuộc như tội trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi, vì ngươi bạc phước
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau..."
(Chiến tranh Việt Nam Và Tôi)

Chiến tranh chấm dứt vào cuối tháng tư 1975 nhưng văn học chiến tranh vẫn tiếp diễn ở hai mặt trận trong và ngoài nước. Trong nước, vì nhu cầu chiến thắng và thống nhất, một nền "văn chương cách mạng" hậu giải phóng được chính thức phát động. Nào là biên khảo, nhận định, hồi ký, truyện ngắn dài, truyện trinh thám, vv cập nhật vai trò những người lính "cách mạng, giải phóng" và bôi đen những người lính phe đối nghịch bị lãnh đạo và đồng minh lừa dối bỏ rơi và nay đang tàn tạ trong các trại học tập. Người "chiến thắng" đặt nặng việc phá hủy văn hóa Việt Nam Cộng Hòa. ghi cả trong nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) nhiệm vụ phải "quét sạch ảnh hưởng của tư tưởng và văn hóa thực dân mới" ở miền Nam (2).

Ở hải ngoại, một nền văn học lưu vong được hình thành. Đây sẽ là một văn học Miền Nam nối dài với những đặc điểm của hoàn cảnh mới của dân tộc. Chiến tranh 1954-75 tàn cuộc vì cờ gian bạc lận. Miền Nam bị các thế lực ngoại bang cấu kết bức tử, bị lương tâm nhân loại mù quáng vì tuyên truyền, bỏ rơi. Người lính Cộng Hòa bị bức tử nhưng chưa chết, được người bỏ xứ phục hồi dưới nhiều hình thức. Một dòng văn chương hoài niệm được bắt đầu và kéo dài tới cả hôm nay, dài về thời gian hơn cả những hoài niệm của cuộc di cư 1954. Các truyện thơ về người lính, của người lính, lần lượt xuất hiện ngay từ những năm đầu lưu vong và đều đặn hơn từ những đợt vượt biển, đoàn tụ gia đình (ODP) và gần nhất là HO cựu tù cải tạo. Nhưng phải đợi đến đầu thập niên 1980, các nhà văn thơ từng khoác quân phục Cộng Hòa góp mặt càng đông đảo và đáng kể như Cao Xuân Huy (Tháng Ba Gãy Súng), Nguyễn Ý Thuần, Luân Hoán, Thái Tú Hạp, Khánh Trường, Nguyên Vũ, Hoàng Khởi Phong (Ngày N+), Phạm Huấn, Hà Huyền Chi, Nguyễn Tấn Hưng, vv.

Hình thức thứ hai là các hồi ký lao tù từ những năm đầu thập niên 1980: Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Đáy Địa Ngục của Tạ Tỵ, Cùm Đỏ của Phạm Quốc Bảo, vv. Người lính thua trận. Những đấu trí vô vọng, những đầu óc một chiều ngoan cố dù đã thắng trận cờ. Những cảnh đời khốn cùng, những con người hèn hạ! Phần lớn các hồi ký cải tạo nói chung không đi xa hơn những ký sự, chuyện đời.

Bên cạnh những hoạt động văn chương, còn có những bài báo, các truyện kể, những đính chính tranh luận về những trận đánh và một số biến cố lịch sử, càng xa cuộc chiến càng mãnh liệt, trên các báo chí hội đoàn và thương mãi. Nói chung, người ta nói và viết nhiều đến những sĩ quan cao cấp, về những cử chỉ anh hùng hoặc thối nát, tầm thường của họ mà ít nhắc nhở đến những người lính thấp nhỏ hơn; họ có chết hoặc bỏ chạy cũng ít ai nói tới.

Hình ảnh người lính đã theo chừng ấy giai đoạn trôi nổi với cuộc chiến, lúc nào cũng hào hùng vĩ đại, nhưng cũng có những người lính rất tầm thường, đáng thương vì là nạn nhân của những thư hùng bạo lực, của những mưu đồ tranh chấp. Những người lính tầm thường hơn nhưng tâm tư phức tạp: có người vì lý tưởng, nhưng một cách thực tế họ đã chiến đấu vì tình đồng đội, vì nghĩa "thầy trò", vì màu cờ sắc áo của binh chủng.


Chân dung Trần Hoài Thư
phác thảo Đinh Cường 3- 2014

2 .
Những người lính của Trần Hoài Thư đặc biệt có tất cả các đặc tính vừa kể. Anh đã viết về những người lính có thật, những cái sống thực thường nhật, những cái anh đã sống; đã lăn lộn với bom đạn, anh đã sống cái tang thương của bom đạn, và anh đã đưa kinh nghiệm đó vào văn chương. Trong bài này chúng tôi giới hạn ở các truyện ngắn (anh còn là một nhà thơ) anh đã viết ở hải ngoại từ 1980 tức từ khi anh vượt biển đến Hoa Kỳ, đã được xuất bản trong tập Ra Biển Gọi Thầm (3) hoặc đã xuất hiện trên các tạp chí văn học và cộng đồng ở Bắc Mỹ. Tác phẩm của anh xuất hiện đều đặn trên nhiều báo chí ở khắp Bác Mỹ kể cả mạng lưới thông tin internet.

Ra Biển Gọi Thầm gồm 20 truyện ngắn, ngoại trừ bốn truyện đã đăng báo trước 1975 và được viết lại, phần lớn được viết vào những năm gần đây, có bốn truyện duy nhất có ghi chú ngày viết thì đều là 1995. Các tác phẩm Trần Hoài Thư viết về người lính nhìn chung, như một tiếng nói của lương tâm, một nhức nhối của tiềm thức, một hoài niệm về một quá khứ gần đó mà đã xa, về chính tuổi trẻ bị đánh mất, về những bạn bè, những mối tình đổ vỡ, đau khổ và những cảnh đời trái ngang.

Điểm trội bật trong các truyện là cái nhìn của anh như một người lính về cuộc chiến, một cái nhìn không lạc quan về một chiến trường bi thảm, ngoài lề tiếng nói của chính quyền, ...

Trước 1975, anh đã nghĩ:
"Tôi đang viết về một thảm kịch, cho con cháu chúng ta trong tương lai, để sau này khi lớn lên chúng sẽ hiểu về cuộc chiến này. Đêm qua, cả làng bên sông, nơi mà bọn tôi đã đến và gìn giữ, sau đó bàn giao lại cho nghĩa quân và xây dựng nông thôn, đã bị pháo dập. Địch kéo về cả đại đội chọc thẳng vào làng. Từ lâu những người bên kia đã coi cái làng như một cái gai cần phải nhổ bằng bất cứ giá nào. Những người ngồi ở Sài Gòn hay Hoa thịnh Đốn thì muốn coi ngôi làng như một thành công trong chính sách bình định phát triển. Nhưng đó chỉ là lý thuyết. Họ đã ngu xuẩn để hiểu về kế hoạch bảo vệ dân làng về lâu về dài. Một trung đội nghĩa quân làm sao đủ sức che chở cả ngôi làng. (...) Tôi đã đến cùng với bãi hoang tàn để hiểu rõ hơn về sự thật của cuộc chiến. Cuối cùng cũng vẫn là dân vô tội. Rõ ràng chúng ta đã bị thua. Chúng ta đã đến với họ, mang lại niềm tin cho họ, nhưng chúng ta không thể bảo vệ họ... " ( Nhật Ký Hành Quân, tr. 129).

Cuộc chiến đã khiến con người đánh mất phẩm giá, trở thành biện minh dẽ dãi cho mọi hành động: "Chiến tranh, tôi phải cảm ơn nó, để tôi có thể dẹp bỏ hết những sự ghê tởm , khinh bỉ cái quá khứ rục mửa của tôi. Chiến tranh đã giúp cho tôi thấy rõ rằng mọi sự là vô nghĩa, là hư vô. Đừng bận tâm và thắc mắc. Đừng tự ái và ghê tởm. (...) Xã hội này thối nát này phải cảm ơn chiến tranh..." (Cuộc Sống Tôi, Những Vì Sao Vĩnh Biệt, tr. 105).

20 năm sau, trong Thư Về Người Đồng Đội Cũ Sau 25 Năm Thất Lạc, Trần Hoài Thư có dịp nhìn lại cuộc chiến:
"Tôi viết đến đây, bằng tất cả sự bình an của chính mình, sau hơn hai mươi năm, về một cuộc chiến kỳ lạ, vô ích, phi nghĩa phi nhân. Lúc này, chúng ta có quyền thẩm định về giá trị của chiến tranh và lịch sử. Nhưng tôi không thể bình an khi cái cuồng điên kia đã trở thành thú tính. Họ rõ ràng hơn chúng ta. Bởi vì họ có cả một khối thép thành trì bên ngoài và khối thép căm thù bên trong đầu óc, và con tim họ. Còn chúng ta thì cô đơn. (...) Chúng ta đã chiến đấu trong nỗi cô đơn và quả cảm. Và chết cũng quả cảm và cô đơn. Như bao nhiêu đứa con của một đại đội bộ binh. Như bao nhiêu người trẻ tuổi không may sinh vào một nơi đầy bao nhiêu tai ương lớn lao nhất của quả địa cầu" (tr 74).

Người lính Trần Hoài Thư đáng tội, chỉ vì anh có suy nghĩ, biết nhìn thấy những bất nhân và bất công, những tâm địa và tư cách của những kẻ cùng chiến tuyến:

"Tôi đã vùng vẫy. Tôi đã thét gào. Tôi mang kính cận dày, cột dây thung sau gáy để nhảy trực thăng, nhảy diều hâu trong khi con cái những kẻ quyền lực trốn lính hay ở hậu cứ. Xin các ngài đừng lên mặt dạy đời trong khi các ngài chưa biết thế nào là máu thấm vào áo trận. Cũng xin các người bên kia đừng chửi tôi là lính đánh thuê, đánh giặc mướn trong khi tôi mời các người từng điếu Pall Mall. Tôi là tôi. Tôi làm chủ lấy tôi. Tôi quyết định lấy đời tôi" (Nha Trang, tr. 174-175).

Phẫn nộ, cô đơn, sau một trận đánh hình như tất cả đội ngũ đều chết, người lính đó quyết định bỏ ngũ. Anh lý luận: "Kẻ đào ngũ trái lại phải là một tay lính chiến đấu cô độc nhất, bởi vì nó chẳng có đội ngũ. Cứ xem tôi là kẻ hèn, nhưng có biết bao kẻ hèn hơn tôi. Mượn áo lính để tiến thân. Chưa bao giờ ra mặt trận một ngày mà hùng hổ la gào. Nghe tiếng súng nổ thì són đái. Thách có tay nào mang kính 8 độ đi thám báo...." (Thư Về Người Đồng Đội..., tr. 77). Trong Kẻ Đào Ngũ (4), Trần Hoài Thư đã tả hoàn cảnh và tâm trạng của người bỏ ngũ. Sống sót sau một trận giao chiến địch tràn ngập, anh thiếu úy trung đội trưởng thám kích bộ binh bị thương nặng ở vai và ngực, xuất viện ra, chán chường phẫn uất, đã lựa chọn sống nhờ sống chui không ra trình diện lại đơn vị. Áp lực người cha, người con không muốn mang tiếng bất hiếu năm tháng sau phải ra trình diện, bị giáng cấp và ra đơn vị tuyến đầu khác.

Một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, trớ trêu, khó hiểu. Hai người yêu nhau cùng lớn lên ở cùng một địa phương mà rồi mỗi người phải một chiến tuyến, người yêu theo cộng sản như Hồng cô gái quán cà phê mê thơ văn chàng trong Vết Thương Không Rời, như Quỳnh người nữ quyết tử viên sau trở thành cô giáo quận lỵ Tuy Phước trong Tháng Bảy Mưa Ngâu, vv. Hoặc như hai cha con theo cường điệu của cuộc chiến, ngày kia phải đối đầu nhau trên cùng bãi chiến, trong Người Anh Hàng Xóm. Một chiến tranh tàn bạo, bắn lầm là chuyện thường tình giữa hai lằn đạn, nhưng tại sao nạn nhân lại là một đứa trẻ 12 tuổi (tr. 128), vv. Người lính có suy nghĩ, có con tim nhiều khi đã phải thả thanh niên trốn quân dịch đang trốn về nhà làm ruộng, nhưng biết đâu lại là VC nằm vùng, sẽ đi đắp đê, gài mìn, ...!

Vết Thương Không Rời kể chuyện trung đội thám kích xuống đồi đột kích một đêm mưa gió như đến "từ bốn cõi âm binh", mà lại là vùng quê ngoại của thiếu úy Tân. Toán quân anh đi giải cứu quê cũ của anh nhưng địch không lẽ lại là cả ngôi làng. Khi mục tiêu đã đạt, địch đã bị giết thì hóa ra là những cán bộ gái thường ngày ở quận lỵ vẫn liếc mắt đưa tình với mọi sĩ quan. Càng đi sâu vào cuộc chiến, người lính đó biết lịch sử có những bước đi khắc nghiệt, có những khoảng cách của định mệnh xa mà gần, gần rồi xa như nhịp cầu Ô Thước mà anh đã phải chấp nhận. Tháng Bảy Mưa Ngâu đưa hai người yêu nhau đến gần nhưng rồi mãi mãi xa, vì giây oan nghiệt ý thức hệ đối nghịch và nay người quê nhà người lưu xứ xa xôi!



Người lính Trần Hoài Thư không lý thuyết cao siêu, không siêu tưởng. Trong cái tương đối của đời lính, anh chỉ đi tìm hạnh phúc cho cuộc đời, đi tìm và khi tưởng có được, anh dựng xây một tình yêu, muốn dừng lại, "sẽ không còn phóng đãng, bụi đời". Sau những ngày chạm trán với kẻ thù, với tử thần, bị dồn nén, dĩ nhiên người lính có những phóng đãng, hoang đàng. Trong Sỏi Đá Ngậm Ngùi sáng tác mới nhất (24-9-96) (5), ứng chiến ở một vùng đồi Bình Định nơi đó có tháp Chàm, nơi đó chàng "tơi tả trong những khu rừng khổ sai", người sĩ quan độc thân đưa người người yêu đi thăm căn cứ. Sau đó mỗi lần đi phục kích, chàng "không quên giả vờ vào nhà em, xin gáo nước lạnh" bên kia sông Tuy Phước. Mẹ cô gái đã từ gọi "thiếu úy" đến "cậu" rồi "cháu", ba chàng đánh điện tín hứa sẽ vào đi hỏi, tưởng hạnh phúc sắp đến gần, nhưng định mệnh cả dân tộc ập đến với sự sụp đổ tức tưởi của miền Nam Cộng Hòa, nói chi đến chuyện cá nhân. Hãy nghe tiếng buồn của người lính Cộng Hòa:

"Em, người sắp làm vợ của anh cũng mất. Anh bị bắt làm tù binh, để sau đó bị giải từ trại tù này qua trại tù khác, để không có thì giờ mà nhớ lại một người thân yêu cũ, đến buổi cuối cùng, thấy bóng em nhỏ nhoi côi cút ở bên kia sông. Tạm biệt hay là vĩnh biệt. Không bao giờ anh dám nghĩ đến dưới đôi giày trận, những hạt cát vô tình lọt vào trong giày, mà đau nhức suốt đời. Sỏi cát ngậm ngùi. Tiếng hát cất lên từ một người cô phụ hay tiếng u uất thống thiết từ những người yêu nhau muốn gần nhau mà phải vĩnh biệt chia xa."

Một cuộc chiến buồn thảm, đó có thể là lý do tại sao các chuyện tình của người lính Trần Hoài Thư không bao giờ có đoạn cuối vui và ... bình thường. Không chết giữa hai lằn đạn thì cũng chết vì hải tặc, lấy chồng Mỹ, bặt tin, vv. Trước những giây phút đẹp của những cặp tình nhân dù họ là kẻ thù, người lính phải trực diện với kẻ thù đó vẫn hơn một lần chứng tỏ còn có tình người, có tâm hồn. Trong Viễn Thám, trung đội thám kích đang săn tin về một đơn vị Bắc quân mới xâm nhập vùng Trường sơn, đã không ngờ gặp một cặp bộ đội đang hát bên bờ suối. Quân thù đó nhưng người lính đã không bắn. "Tôi không thể chơi cái trò dã man như vậy. Tôi muốn người thanh niên kia, ít ra, có một giờ phút vĩnh cửu (...) Tiếng hát như nói lên những điều câm nín từ những con tim của tuổi trẻ Việt Nam.... Tiếng hát như dậy khỏi mồ, bạt cả gió, khiến rừng như thể im phăng phắc lá như thể thôi lay động trên cành. Và ít ra, tôi vẫn còn hiểu rằng, mỗi người đều có trái tim. Và trái tim thì lúc nào cũng sống vĩnh cửu" (6)

Trong các truyện của Trần Hoài Thư, người đọc thường gặp lại một số hình ảnh, địa danh và nhân vật quen thuộc vì thường là chuyện đời lính của chính tác giả. Những Quy Nhơn, Huế, Tuy Phước, Đà Nẵng và Cần Thơ (ít hơn). Những đồng đội Nha, Minh, Năm Râu, những người lính Thượng Lương Văn Tướng, Y Đao, Nay Lat, vv. Còn nhân vật xưng tôi thường là Ba Cận Thị hoặc thiếu úy Tân. Những người đồng đội "huynh đệ chi binh" như anh tà lọt: "Ông thầy, ở đây có lá giang, ông thầy nghỉ để em nấu canh lá giang với thịt hộp cho ông thầy ăn" (6). Ngoài những người đồng đội, Trần Hoài Thư còn viết về những cấp chỉ huy. Dĩ nhiên anh có nhắc đến những "Mặt Trời" thường chỉ tới thị sát khi mặt trận đã xong, gắn huy chương, vỗ về, cả những nhắn nhủ, đòi hỏi trước mỗi chiến dịch, công tác. Anh cũng viết về những nhũng lạm của các cấp chỉ huy, những hại việc nước và chính nghĩa chung! Nhưng đặc biệt khi viết về hai tướng Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam (Khi về Nữu Ước) và "đại bàng" Hạnh (Nha Trang), ngòi bút của anh trở nên thiết tha, cảm động, đầy tình người! Hãy nghe những lời của tướng Hưng - trong truyện là hồn ma quanh quất ở công viên Nữu Ước:

"Ta rất thương đứa con gái đầu lòng của ta. Vì ta mà nó khổ. Bây giờ nó cận thị nặng hơn cả chú em nữa. Nhà nó bây giờ chỉ có mỗi bề 4 mét, mưa thì nước ngập quá đầu gối, không có cả nhà vệ sinh. Nhưng căn nhà lại nằm trong kế hoạch giải tỏa. Tương lai nó không biết ở đâu nữa". (...) "... nhờ chú em nhắn lại những người còn mến ta. Cái nấm đất chôn ta đã bị san bằng rồi. Cả cây trụ đèn dùng để làm dấu mộ ta cũng bị đào nhổ rồi. Ta lạnh lắm. Từ lâu ta không có hương lửa..." (tr. 99-100)

Đó là cái bẽ bàng u uất của những kẻ đầu đàn có lương tri, họ đã thành nhân dù đã không thành công. Và còn nhiều cái bẽ bàng khác với người lính của Trần Hoài Thư. Bẽ bàng của những ngày cuối của chiến tranh. Trong hai truyện khác mới viết gần đây, Thị Trấn Lửa (7), Ngày Cuối Tại Một Thị Trấn ( 8 ), anh tả tình cảnh bi đát của hồi kết thúc cuộc chiến, những người lính bị rơi vào bẫy, bị bỏ rơi với định mệnh của cả dân tộc. Trong Thị Trấn Lửa, đám tàn quân cản đường tiến của Bắc quân trong khi cấp chỉ huy bỏ chạy. "Tội này ai gây nên. Lịch sử này ai gánh chịu. Những người lính của tôi, họ ít học, người gốc nông dân, người gốc Thượng, gốc Nùng, người bị bắt đi quân dịch, họ đâu có tội gì để gánh cái khối đá tảng của lịch sử. Những người có trách nhiệm bây giờ ở đâu, sao máy thì bặt tăm không một lời thăm hỏi. Hay họ đã chạy trốn rồi (Mà quả vậy, sau này tôi được biết ông trung đoàn trưởng và toàn ban tham mưu của ông đã đào tẩu hồi nửa đêm)". Tiếp viện chờ không thấy, đám tàn quân bất ngờ bị pháo kích, họ trở thành "những con mồi tội nghiệp. Làm sao chúng tôi biết là thị xã TĐ đã mất từ lâu, và tên sĩ quan trong trung tâm hành quân mà chúng tôi liên lạc để báo cáo, để hy vọng, để đặt hết bao nhiêu nương cậy, chính là tên địch nằm vùng đã ra lệnh pháo dập xuống đầu chúng tôi".

Ban Mê Thuột, Ngày Đầu Ngày Cuối (9) là anh hùng ca về một đại đội trinh sát. Từ ngày 10 đến 17 tháng 3-1975, diễn ra trận đánh anh dũng nhưng cô đơn, một trận đánh cuối cùng của đại đội trinh sát tăng phái cho trung đoàn 53 bộ binh. Những người lính dũng cảm làm tròn nhiệm vụ bảo vệ phi trường Phụng Dực và bản doanh trung đoàn khi tình hình chiến sự đang nghiêng về thua hơn là thắng. Đại đội cầm cự được bảy ngày đối đầu với quân cộng sản Bắc Việt chính quy đông gấp nhiều lần về số quân và tiếp vận. Trong khi họ chiến đấu cô đơn thì ban tham mưu và trung đoàn trưởng bỏ chạy, cũng như những sĩ quan khác quân xa đã nhắm hướng phi trường. Nhưng tất cả đã muộn màng...! Sự dũng cảm của 70 người lính không cứu được Ban Mê Thuột đã bị tràn ngập. Phần còn lại cho những người lính là con đường rút, tưởng may có thể trú thân ở chi khu Lạc Thiện nhưng bị "địch giả bạn để cài đơn vị vào cái bẫy oan nghiệt", đành rút vô rừng và lạc vào mật khu Khuê Ngọc Điền! Đã vậy những người lính cô đơn sống sót còn bị đồng bào vùng tạm chiếm nhìn như... tội phạm chiến tranh!

Tàn cuộc chiến, bị bỏ rơi, người lính không lâu sau còn bị kẻ chiến thắng gian trá bắt tù đày, biệt xứ và bị trả thù. Đi lính là để trả nợ non sông, nhưng tháng tư 1975, người lính còn phải trả nợ cho những sai lầm của lãnh đạo, chỉ huy. Người Và Quỉ là cảnh thiên đường học tập, người thì điên, người chịu đựng, người căm phẫn. Trong tuyệt vọng, lương tâm người lính có dịp được thử thách.

Học tập ra, người lính thua cuộc sống lây lất ngay trong quê hương đất nước anh đã bị thương đổ máu, mất cả tuổi trẻ để bảo vệ. Anh lính Cộng Hòa trở thành Người Bán Cà Rem Dạo vẫn giữ được cái kiêu hãnh của con người trước xảo trá: anh từ chối vào Hội nhà văn thành phố, dù sẽ được chế độ mới cho một số quyền lợi. Anh lính sẽ trốn đi, chấp nhận xa quê hương.

Đời sống lưu đày nơi xứ người khó khăn, cô đơn. Tuổi trung niên, người lính di dân phải làm lại cuộc đời, học tiếng nói, học nghề. Để cho con cháu, cho mai sau! Người lính bị ép bỏ cuộc chơi, "tủi như người không có quê hương", có lúc phải chạm trán với những người bản xứ thiên tả, kỳ thị. Rồi những người thân quen, bạn bè và đồng đội cũ sẽ tái hồi với người lính. Những mất mát và hạnh phúc còn lại. Nỗi đời cô đơn xa xứ ấy được Trần Hoài Thư ghi lại qua các truyện Thư Về Người Đồng Đội Cũ Sau 25 Năm Thất Lạc, Người Về Trăm Năm, Ở Một Nơi Nào Rất Xa, Cho Con Mùa Tựu Trường, Bên Này Dòng Hudson, Đất Khách (10), Người Bị Thua Cuộc (11), vv. Người lính phải xa xứ nhưng vẫn có cái nhìn rộng lượng như đối với một nữ sinh viên VN du học con cán bộ cao cấp, trong Một Nơi Nào Rất Xa. Có lẽ anh mong một ngày kia khi bụi mờ quá khứ lắng bớt, sự thật về sinh mạng dân tộc, về một giai đoạn lịch sử sẽ được những thế hệ đi sau không phải nhìn với những lăng kính, sẽ hiểu rõ hơn.

3.
Trần Hoài Thư có những tác phẩm về người lính rất thành công và cảm động như Bãi Chiến, Khi Về Nữu Ước, Tháng Bảy Mưa Ngâu, .... Trong toàn bộ, truyện về người lính của anh là những hoài niệm, ưu tư, khắc khoải, những cay đắng hoài nghi, nhưng cũng là những chân dung những người lính thật, có lửa có lòng, có tốt có xấu, nhưng vượt trên tất cả là thân phận của những con người bị đày đọa, hy sinh, lừa dối. Khác với những hồi ký của các lãnh tụ, tướng lãnh, tác phẩm của Trần Hoài Thư là những đau khổ anh hùng của những người lính vô danh, những tâm tư của một thế hệ trẻ bị nướng vào chiến tranh.

Các truyện của Trần Hoài Thư về người lính cũng là truyện của chính anh, từ những mối tình, đời lính - anh là trung đội trưởng thám kích bộ binh vùng hai (đại đội 405 Thám kích sư đoàn 22 BB), những lần bị thương, rồi đào ngũ trốn ở Nha Trang và Phan Rang viết hàng loạt truyện và thơ đăng trên Bách Khoa, Văn, Văn Học, ... đến chuyện phải tái trình diện, bị giáng lon chuyển sang sư đoàn 23 ở Ban Mê Thuột rồi thuyên chuyển về quân đoàn 4 làm phóng viên chiến trường.

Chân dung người lính của anh sẽ góp phần giúp các thế hệ trẻ hơn hiểu hơn về một cuộc chiến, về một thế hệ, những nạn nhân. Người đọc có cảm tưởng anh còn muốn những người hôm qua là địch đối đầu ở trận chiến có cái nhìn trung thực hơn về người lính Cộng Hòa. Anh đã tự hứa viết giùm những người không thể viết, không thể nói, những người mang áo lính Cộng Hòa bị bỏ quên. Dù anh thú nhận không thể viết hết những gì chiến tranh đã gây nên nhưng chúng ta hy vọng anh đã lay động được lương tâm con người; biết đâu những tên đồ tể của chiến tranh sẽ cải tà quy chính(!), về với con người, lòng người, xây dựng những cuộc sống an bình và hạnh phúc! Hơi thừa nếu cho rằng nhà văn Trần Hoài Thư có cái can đảm của người lính thám kích. Thật vậy, anh đã dám nói lên những sự thật đau lòng của chiến tranh, của những người cùng chiến tuyến, dám nói khác những tiếng nói chính thức mà nhiều người đã nhàm nghe! Như anh đã thổ lộ đâu đó anh tự hào là người đã nghe trái phá nổ, do đó anh hiểu mãnh lực của trái phá như thế nào!

Truyện Trần Hoài Thư được đón nhận nồng nhiệt bởi người đọc liên hệ xa gần đến người lính Cộng Hòa, đáp ứng nhu cầu tự nhiên tìm về quá khứ của người lính đã hy sinh đời mình cho lý tưởng, nhất là những người lính cô đơn chiến đấu và cô đơn chống trả những oái ăm của định mệnh sau đó. Đó là những truyện nói chung tiêu biểu vì chứng minh văn nghệ vị nhân sinh, thỏa đáng những đòi hỏi của nhân sinh ở một tình huống hôm nay!

Chú-thích :

(1) Hà-nội: Khoa học xã hội, 1979, tr. 14-15.
(2) Văn Hóa Văn Nghệ Miền Nam Dưới Chế Độ Mỹ Ngụy. Hà nội : Văn Hóa, 1977. Tr. 8.
(3) Tác giả xuất bản, Plainfield, NJ, 1995. 222 trang.
(4) Tạp chí liên mạng Văn Học Nghệ Thuật số 242 (28-10-1996)
(5) Tạp chí VHNT số 238, 16-10-1996.
(6) Viễn Thám (Dân Chủ Mới số 55, 8-1996) tr. 59-61.
(7) Viết 17-9-1996, Dân Chủ Mới số 58 (11-1996), tr. 58-61
( 8 ) Viết 26-8-1996, đăng trên VHNT số 223 (4-9-1996).
(9) Sau in trong tập truyện Ban Mê Thuột Ngày Đầu Ngày Cuối (Tác giả xuất bản, 1997. 241 tr.). Cùng trường hợp với các truyện khác đã nói đến trong bài viết, như Sỏi Đá Ngậm Ngùi, Thám Báo (tức Viễn Thám khi đăng báo).
(10) VHNT số 203 (5-7-1996).
(11) VHNT số 210 (31-7-1996).

Nguyễn Vy Khanh
Về Đầu Trang Go down
LVThu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Fri Mar 06, 2015 5:40 pm


 

Niềm vui hiếm hoi

                                               
Phạm Hữu Phước

Tháng Sáu năm 1976 tù “cải tạo” được chuyển từ Nam ra Bắc ồ ạt. Từ hai tháng trước, bọn tù cũ ở Yên Bái chúng tôi đã được huy động toàn lực đi chặt nứa để làm những cái láng tạm.

Một bệnh xá được thiết lập và bọn chúng tôi gồm Nha sĩ Hạnh, Dược sĩ Luân và tôi, bác sĩ, được điều về bệnh xá. Chúng tôi là những y nha dược sĩ ở bệnh viện tỉnh Phước Long, bị bắt làm tù binh ngay tại mặt trận khi Phước Long thất thủ và lọt vào tay Cọng Sản hồi đầu tháng Giêng năm 1975.

Bệnh xá gồm 80 giường cho tù và 20 giường cho “khung” cán bộ. Chỉ huy trực tiếp là một ông thượng uý bác sĩ quân đội.

Phải công nhận là ở tù mà được điều về làm tại bệnh xá là có “qưới nhân phù hộ”. Chúng tôi không phải đi lao động nặng như vào rừng chặt cây, chặt nứa, hay đào hố, làm ruộng.... Ăn uống thiếu thốn, người gầy rạc, suốt ngày chỉ mơ tưởng đến một mẩu khoai mì mà phải vắt sức làm lao động nặng thì thật không còn cái khổ nào bằng, nhất là ở Yên Bái mùa đông khí hậu miền ngược lạnh buốt thấu xương, chân chúng tôi nứt nẻ đau nhói trên từng bước đi. Còn một chuyện lạ nữa, khó tin nhưng có thật, là chúng tôi được ăn cơm không độn. Về bệnh xá, chúng tôi ăn theo tiêu chuẩn bệnh nhân, có cơm ăn cùng nước canh rau nấu với muối. So với tù trong trại thì quả thật chúng tôi đang sống trong cảnh thiên đường hạ giới. Bữa ăn của tù gọi là “cơm” cho sang chớ thật ra chỉ toàn bắp vàng rực lẫn với vài hạt cơm làm dáng, có khi mấy tháng liền ăn toàn bo bo hay gạo mục chở từ trong Nam ra.

Theo quy định của trại, chúng tôi không được tiếp xúc với ai ngoài bệnh nhân, và suốt ngày chỉ được quanh quẩn đi lại trong vòng rào tre bệnh xá. Một hôm, nổi máu giang hồ, tôi xung phong theo cán bộ ra thị xã Yên Bái mua thực phẩm tươi cho bệnh xá. Mấy hôm trước có thằng bạn từ trong trại lén ghé vào bệnh xá và cho tôi 2 đồng (trị giá 1000 đồng tiền VNCH thời đó). Thằng này lém lắm, không biết nó “cải thiện” ở đâu ra tiền, tôi cũng chẳng có thì giờ hỏi nó cho ra lẽ vì lỡ bị bắt gặp chuyện trò là lôi thôi to với quy định của trại. Có lần nó xúi: “Mầy  ăn cắp một viên tetracycline thôi, tao chạy cho mầy một nải chuối”. Tôi vốn bản tính thích chuối, thích đến độ ở nhà vẫn gọi đùa tôi là “ông đạo chuối”. Hơn năm rưỡi nay tôi chưa từng được cắn miếng chuối ngọt lịm nào vào miệng. Thèm lắm! Nhưng tôi cũng biết một viên tetracycline trong tù quý biết chừng nào. Nói có Trời làm chứng, dù thèm chuối nhỏ dãi, tôi chưa bao giờ ăn cắp một viên tetracycline để đổi một nải chuối. Có lần, khi còn ở chung với anh em trong trại, thấy tôi đói quá, một anh bạn dúi vào tay tôi một mẩu khoai mì nướng: “Tui biết anh đói lắm, nhưng anh đừng đi “cải thiện linh tinh”, bọn quản giáo mà bắt được, chửi rủa và giam vào nhà đá, thì mất mặt lắm. Nhục lắm. Dù gì đi nữa anh cũng là trí thức, là bác sĩ. Bọn này kiếm được cái gì chút chút sẽ dúi cho anh”.  Tôi cầm lấy miếng khoai mì mà nước mắt chảy ròng ròng, không kịp nói lời cảm ơn. Trong hoàn cảnh khổ tận cùng mới thấm thía được tình người với nhau. Làm sao tôi có thể ăn cắp một viên tetracycline của những người bạn tù khốn khó để đổi một nải chuối cho riêng mình!

Có 2 đồng rủng rỉnh trong túi tôi cũng muốn ra chợ mua vài trái chuối nhâm nhi cho đã cơn thèm. Tôi rủ thêm Dược sĩ Luân đi cho có bạn. Chúng tôi được giao cho một chiếc “xe cải tiến”. Nói là xe cải tiến cho xôm tụ, thực ra đó chỉ là một chiếc xe bằng gỗ xộc xệt với hai bánh xe cũng bằng gỗ bao lớp vỏ cao su. Xe khá nặng, tôi kéo cái càng nặng chịch ở phía trước, thằng bạn đẩy phía sau.  Trước khi “xuất quân”, anh cán bộ ra lệnh cho chúng tôi vào kho xuất ba lon gạo, một nhúm muối, hai cây cải bẹ xanh, và mang theo một cái nồi, chuẩn bị cho buổi ăn trưa. Anh còn cẩn thận dặn dò: “Ra chợ các anh đừng quan hệ linh tinh nhé! Nhớ nhé!”

Sắp vào tháng Chạp, đã có lất phất những cơn mưa phùn nhè nhẹ. Trời khá lạnh. Đường trơn vì mưa, lại gập ghềnh vì những ổ gà. Hai đứa ì ạch vất vả, thở phỉ phò, lẫn với tiếng bánh xe lăn ken két trên đường. Cực nhất là phải gắng sức kéo chiếc xe cải tiến chết tiệt, nặng chình chịch, qua những vũng bùn. Bùn đất văng tung toé đầy người, dính lên cả mặt. Anh bộ đội tương đối còn trẻ, có vẻ ít sắt máu, lầm lũi cỡi xe đạp theo sau. Thỉnh thoảng anh lại nhắc “Các anh khẩn trương lên! Ra chợ ta còn mua rau rồi mới về”.

Gần đến trưa chúng tôi mới đến gần thị xã Yên Bái. Tính ra chúng tôi cực nhọc lắm mới xê dịch được khoảng 8 cây số trong vòng 4 giờ. Anh bộ đội ra dấu cho chúng tôi ngừng lại nghỉ dưỡng sức và vào liên hệ với nhà một người dân trong xóm cho chúng tôi mượn tạm cái bếp để nấu bữa ăn trưa. Ăn xong, chúng tôi được nghỉ độ 15 phút rồi mới đẩy xe vào chợ.   

Chợ Yên Bái là chợ tỉnh lỵ, nhưng trông cũng lưa thưa và sơ sài lắm. Phần lớn người ta bày bán rau cải, khoai lang, khoai mì, củi khô... Không có những cửa hàng bán đồ điện gia dụng, quần áo, dầy dép, nước ngọt..., vừa nhiều thứ vừa đa dạng như ở miền Nam. Chỉ có vài cửa hàng bách hoá, thấy người ta bu vào, nhưng tôi không biết họ bán gì bên trong. Bao lâu sống quanh quẩn trong tù với bạn bè, giờ được mở mắt nhìn người qua kẻ lại mình cũng thấy là lạ vui vui. Giá mà có thêm một bóng hồng nào thấp thoáng nhỉ! “Ngụy” dù có bị trù dập trong tù, tâm hồn lúc cũng vẫn lãng đãng khói sương! Anh bộ đội đi đây đó lựa rau, trả giá như một bà nội trợ chính cống. Chúng tôi chỉ việc mang rau ra chất lên xe cải tiến. Đi ngang qua quầy bán chuối, anh dừng lại, mua hai nải chuối chín cho mình. Anh bóc chuối ăn ngon lành tại chỗ. Thấy chúng tôi lớ ngớ sau lưng, không hiểu sao anh động lòng bẻ cho chúng tôi mỗi đưá 3 trái. Như bắt được vàng, chúng tôi ra tay ngay tại chỗ. Nhưng trực nhớ đến Nha sĩ Hạnh ở nhà, tôi nói với Luân: “Tao với mầy chơi 2 quả thôi, còn dành một quả cho thằng Hạnh. Chắc nó cũng thèm chuối lắm”. Luân bằng lòng ngay.         

Chúng tôi mua “chất tươi” cho bệnh xá  thế là xong. Tôi được dịp nhìn ông đi qua bà đi lại cho đỡ quẩn mắt trong giây lát, và nhất là được xơi tái 2 quả chuối mong ước. Trên đường về, tôi thấy một tiệm sách đang mở cửa. Tôi nói với anh bộ đội: “Xin phép cán bộ cho tôi ghé vào tiệm sách một chút. Tôi coi thử có cuốn sách gì mua được không?” Anh bộ đội nhìn tôi giây lát, nhưng thấy vẻ mặt tôi rất thành khẩn, vả lại anh cũng biết tôi là bác sĩ chăm sóc cho tù ở bệnh xá nên anh gật đầu ưng thuận, nhưng cũng không quên nhắn thêm: “Khẩn trương nhé!”  Nói là “Hiệu sách nhân dân”, nhưng thật ra chỉ là một quầy hàng nhỏ, bên trong có một tủ kính thấp bày bán mấy cuốn tập học trò, mấy cây viết chì, mấy cục tẩy, vài thứ lặt vặt. Trên tường có hai dãy kệ bày những quyển sách ố vàng, bám đầy bụi bặm. Nhưng đặc biệt tường treo la liệt nhiều cờ đỏ sao vàng và hình Hồ Chí Minh. Tôi lúc nào cũng đam mê sách. Hiệu sách gợi lại trong tôi ký ức của những nhà sách, những sạp sách hàng hàng lớp lớp ở đường Lê Lợi ngày xưa. Tôi tính nhẩm trong đầu, mình có 2 đồng bạc, mua nải chuối chỉ ăn được trong chốc lát, nhưng nếu mua được quyển sách thì đọc lâu hơn. Tù thì cái gì cũng thiếu thốn, trừ thời giờ.          

Tôi đảo mắt nhìn hai kệ sách. Toàn những sách chính trị chán ngấy mà trại cho tù mượn đọc như “Đời Bác Hồ”, “Lenin toàn tập”, “Chiến thắng Điện Biên Phủ”,... Có vài quyển tiểu thuyết nhưng tôi chưa hề nghe tên tác giả bao giờ. Nhưng mắt tôi bỗng sáng lên, tôi thấy có cuốn Văn phạm tiếng Pháp của Phạm Tất Đắc. Tôi biết ông này vì ngày xưa anh tôi mua nguyên một bộ sách học tiếng Pháp bìa cứng do ông soạn trước kia ở Hà Nội, rồi được tái bản ở Sài Gòn. Tôi chỉ lên kệ nói:
- Chị cho tôi xem quyển kia kià.
- Phải quyển này không?
- Không, quyển kế đó.

Tôi thấy chị kinh ngạc ra mặt. Một thằng mặt mày phờ phạc, ốm đói, bùn đất đầy người, lại chỉ vào quyển Văn phạm tiếng Pháp đòi xem.

- Úi giời! Quyển này để đấy dễ chừng hơn cả năm có ai nhìn tới đâu!

Tôi coi lại giá quyển sách, may quá chỉ có 1 đồng rưỡi.

Tôi đưa tiền cho chị. Chị còn nói thêm:
- Anh này rõ dở hơi. Để tiền ăn có phải sướng không. Mua gì cái của nợ.

Chị không biết chứ chộp được quyển sách này tôi như mở cờ trong bụng. Ít nhất trong những ngày tù của tôi cũng có những giây phút giải trí đích thực, hơn là đọc mấy cuốn sách chính trị thổ tả.

Chiều hôm ấy, khi về đến bệnh xá, chúng tôi liệng mấy trái chuối cho thằng Hạnh. Nó mừng ra rít.

Quả nhiên, quyển sách Văn phạm tiếng Pháp đã là nguồn vui cho tôi và cho cả một vài người bạn. Chúng tôi chuyền tay nhau đọc, cho đến một ngày chúng tôi được lệnh chuyển trại và nó bị tịch thu. Không hiểu sao họ lại đụng vào “vật tư hữu” của tôi làm gì. Sách không phải thuộc loại tuyên truyền phản động, được in và bán ở một hiệu sánh nhân dân đàng hoàng kia mà. Thế là niềm vui dù hiếm hoi cũng không kéo dài được bao lâu!  

Phụ chú:

1. Sau khi tôi được thả ra vào năm 1977, mấy tháng sau Dược sĩ Luân bị viêm tai giữa với biến chứng nhiễm trùng não rồi mất tại Sài Gòn, để lại vợ vừa mới cưới.
2. Nha sĩ Hạnh ở lại Việt Nam, mở phòng mạch tại Saigon, và trở thành đại gia nhờ biết đầu tư vào lãnh vực địa ốc ngay khi Việt Nam vừa “mở cửa”.


 
Về Đầu Trang Go down
LVThu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Wed Mar 11, 2015 10:38 am



CỦ KHOAI YÊN BÁI

Nguyễn Đình Phùng & Phạm Hữu Phước

Phước nhìn tôi mỉm cười:
- Cậu đói lắm hay sao mà thúc vợ cậu làm cơm dữ vậy?

Tôi vừa ra phi trường đón Phước về. Chúng tôi không gặp nhau đã hơn ba mươi mấy năm. Tôi chỉ nghe nói Phước vượt biên nhiều lần nhưng không thoát, bị giam cầm nhiều năm. Cứ mỗi lần được thả ra, Phước lại tìm đường trốn, đến lần thứ bảy hay thứ tám gì đó, Phước mới sang được Úc, định cư tại đây và trở lại được hành nghề bác sĩ tại Melbourne. Tôi không tưởng tượng được có ngày nghe lại giọng nói của Phước qua đầu dây điện thoại, hẹn sẽ sang chơi và đến thăm nhà. Tiếng cuời vẫn vui, tiếng nói vẫn sang sảng, như ngày nào chúng tôi cùng ở chung nhà, học thi để lên lớp cuối năm, đã ba mươi mấy năm trước.

Phước nhấp ngụm nước:
- Trong khi đợi vợ cậu làm cơm, để tôi kể cho cậu nghe chuyện tôi ở tù sau ngày Phước Long thất thủ.
- Ừ! Nghe cậu kêu đói, tôi sẽ tả cho cậu biết cái đói thực sự nó ra thế nào.

Phước có tài kể chuyện. Tôi nhớ đến những ngày xưa cũ, khi ở chung, Phước kể chuyện rất có duyên. Những câu chuyện được xếp đặt thứ tự, mạch lạc đầu đuôi, có mở đầu, dẫn nhập, rồi vào chuyện, chi tiết lớp lang như theo một dàn bài. Tôi nhìn Phước, hít một hơi dài, mắt lim dim như muốn tìm đầy đủ những kỷ niệm, những cảm xúc của năm xưa. Phước như người cẩn thận, ngăn nắp tôi từng biết, không muốn mất đi một ký ức nào đã ghim sâu vào tâm khảm, như người hằng ba mươi mấy năm nay đã chờ đợi để ngày hôm nay gặp lại, kể cho tôi nghe những câu chuyện của đời mình đã trải qua.

Phước cất tiếng:
- Cậu biết không? Cuộc đời có những ngã rẽ không thể ngờ được. Ai cũng có định mệnh của mình. Không thể nào tránh khỏi được.

Nhiều đêm sau này trong tù tôi vẫn nghĩ đến điều đó. Là nếu tôi không nhất định giữ đúng ngày phép hạn định của mình, ở lại Sài Gòn, không trở lại Phước Long, tôi đâu có bị những hoạn nạn kinh khủng đến như vậy. Cậu còn nhớ hồi ra trường, cậu đi Tây Ninh còn tôi đi bệnh viện Phước Long. Tôi được đi phép một tuần về Sài Gòn trước ngày Việt Cộng đánh Phước Long. Vợ tôi khóc quá mức khi thấy tôi nhất định giữ đúng ngày phép, ra trình diện lại ở Cục Quân Y. Bố vợ tôi cũng ngăn, nói tình hình nguy kịch quá rồi, ở nhà luôn đi, đừng lên Phước Long nữa.

Phước thở dài:
- Cậu biết, tính mình hồi đó còn tuổi trẻ, bồng bột, đâu biết tính toán gì. Tôi không thích làm điều gì sai quấy, hạn phép nghỉ chỉ một tuần, hết hạn là mình ra trình diện, không muốn trốn ở lại.

Tôi đến Cục Quân Y lúc đó là buổi chiều. Chiếc trực thăng đậu trong bãi đáp đang sửa soạn để cất cánh bay chuyến chót, bổ sung người cho bệnh viện tiểu khu Phước Long. Toán sĩ quan trợ y, Y tá đã ngồi đầy không còn một chỗ trống trên đó. Trung tá Y sĩ Liễn đích thân đưa tôi ra và hạ lệnh cho trực thăng khoan cất cánh. Ông chỉ tay vào người sĩ quan trợ y ngồi sát bìa:
- Em đi xuống để chỗ cho bác sĩ Phước lên.

Người thiếu úy trợ y khuôn mặt trẻ măng chắc mới ra trường vội vàng đi xuống, không dấu được vẻ mừng rỡ. Tôi sửa soạn để trèo lên trực thăng và ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Tôi nhìn được sự sung sướng của người trợ y, như một kẻ sắp bước chân vào địa ngục được trở lại trần thế. Ai cũng biết Phước Long sắp mất trong nay mai và bị gọi để đi lên Phước Long được coi như lãnh án tử hình. Vận mệnh của chúng tôi đã trao đổi cho nhau trong giây phút đó, trong luồng ánh mắt gặp nhau buổi chiều hôm đó!

Tôi không hiểu người thiếu úy trợ y được thoát chuyến bay cuối cùng đi lên bệnh viện tiểu khu sau này ra sao? Anh có thoát được những hiểm nghèo khác không trong những ngày sau chót của cuộc chiến? Anh đã chết trong một trận đánh nào khác? Hay anh đã bình yên và an lành sống một cuộc đời hiền hòa ở Hoa Kỳ, ở Úc hay một chỗ nào đó trên khắp quả địa cầu? Nhưng tôi biết, tôi đã lấy chỗ của anh để bước chân vào địa ngục. Vì vận mệnh của tôi đã sắp đặt để sự việc xảy ra như thế, để tôi phải bị đọa đầy trong mấy năm trời đằng đẵng, dài như cả một đời người!

Phước ngồi thừ một lúc, không nói gì. Một lúc sau Phước bật cười:
- Ừ! Cậu biết không? Tôi lâu lâu vẫn nghĩ có ngày nào mình đi đâu đó, rồi gặp lại anh chàng trợ y mình đã hoán đổi định mệnh ba mươi mấy năm trước. Mình muốn biết anh chàng sau này ra sao? Cuộc đời hắn thế nào? Cũng hay đấy chứ nhỉ?

Phước lắc lắc đầu mấy cái, như muốn đánh đuổi ý nghĩ đó ra khỏi đầu:
- Để tôi kể tiếp cho cậu nghe. Cậu còn nhớ Trần Kim Phẫn không? Nó ra trường về cùng bệnh viện tiểu khu với tôi. Chắc cậu không biết điều này vì nó dấu kín với tất cả mọi người. Chỉ tôi ở với nó trên Phước Long mới được biết. Cậu không thể ngờ được là nhà nó nghèo đến thế nào. Ba nó đạp xích lô nuôi nó ăn học. Phẫn vào được trường y khoa, nó học rất giỏi vì chỉ ở trong nhà thương không bao giờ về nhà. Lý do là nhà nó kinh khủng quá, ở trong nhà thương ăn ở đầy đủ, lại có cơ hội thực hành nhiều, nên nó không về nhà nữa. Tôi đã nghĩ chỉ mình mới gặp nhiều hoạn nạn, nhưng Phẫn, định mệnh của nó còn thê thảm hơn nhiều. Cậu còn nhớ tuy nó là người bạn tốt, nhưng lại có biệt danh kỳ quái là Phano vì lúc nào cũng dễ phẫn nộ. Nhưng trong sự giận dữ của Phẫn tôi thấy một niềm đau đớn nào đó. Có lẽ Phẫn đã linh cảm được cái chết sắp đến của mình.

Chiều hôm đó, chiếc trực thăng vừa đáp xuống bệnh viện tiểu khu, tôi đã thấy Phẫn vội chạy ra. Thấy tôi bước xuống, Phẫn nhào lại nắm lấy vai tôi lắc mạnh:
-Trời ơi! Mày sao ngu quá vậy Phước! Tao đã mừng tưởng mày được đi phép là thoát rồi. Sao không ở lại luôn lên làm gì?

Phẫn la hét chửi tôi, cơn tức giận không dấu được như bừng bừng bốc lửa. Phẫn đánh mạnh vào tay tôi làm tôi đau điếng. Phẫn như người cuồng điên, sự phẫn nộ tràn ra ào ạt. Nhưng trong ánh mắt giận dữ của Phẫn, tôi thấy được những lo âu, sợ hãi. Những xúc cảm mãnh liệt của Phẫn không dấu được sự kinh hoàng của người biết trước được định mệnh của mình, nhưng hầu như còn được chút an ủi là người bạn thân đồng khóa đã may mắn được về phép trước khi Việt cộng tấn công Phước Long, tưởng là thoát khỏi hiểm nghèo. Nay thấy tôi đột nhiên xuất hiện trên chuyến trực thăng chót đưa người lên bệnh viện tiểu khu, đưa đầu vào chỗ chết, bảo sao Phẫn không nổi điên lên được!

Phước không nói nữa. Một lúc sau, Phước nghẹn ngào, nói ngắn gọn:
- Đêm đó, Việt Cộng tấn công, Phẫn chết ngay trong đợt pháo kích đầu tiên.

Phước nhìn tôi, lắc đầu:
- Tôi định kể cho cậu câu chuyện về đói cơ mà! Vợ cậu chắc làm cơm sắp xong. Những chuyện khác trong trận đánh Phước Long, tôi sẽ lần lượt kể sau cho cậu nghe, nhưng trong đêm Phẫn chết đó, tôi cũng bị thương nặng ở đùi. Và trở thành tù binh, cùng với bao nhiêu người lính khác bị Việt Cộng bắt sau trận đánh. Chúng tôi bị giam, bị bỏ đói, tôi không biết bao nhiêu ngày nữa. Vết thương đùi của tôi làm độc, tôi không còn hơi sức, nằm một chỗ, nhức nhối đau đớn đến cùng cực. Đàn ruồi bay vo ve theo tôi hàng mấy ngày rồi vì mùi thịt thối xông lên nồng nặc. Những người tù binh khác đều dạt ra xa vì không muốn phải ngửi mùi kinh khủng này. Chính tôi lúc nào cũng buồn nôn muốn ói vì cái mùi ghê tởm ngày đêm bao phủ lấy mình. Tôi không đi được, phải dùng hai cùi chỏ để lết. Nhưng sau cùng lết cũng không được vì mấy ngày không ăn đã kiệt lực không còn hơi sức. Tôi chỉ còn cách nằm yên, nhắm mắt lại, cố gắng để quên cái đau và cơn đói đang hành hạ.

Bỗng dưng một mùi thơm lạ lùng thoảng vào mũi tôi. Chừng như mùi hôi thối từ vết thương đùi cũng không đánh át được mùi thơm này. Tôi mở mắt ra và thấy một anh lính địa phương quân tù binh đang được người mẹ cho ăn cháo. Bà mẹ nấu ít cháo đem đến cho con ăn. Tôi không hiểu sao bà được Việt cộng cho phép vào và đến thăm đứa con. Nhưng tôi không muốn tìm hiểu gì thêm. Vì cơn đói như được mùi cháo thơm làm bùng dậy mạnh mẽ. Cái đói cồn cào, thôi thúc, còn hơn cả cơn đau vết thương đang hành hạ. Tôi không thể nhịn được và như trong cơn mơ, tôi thấy tôi lết lại dần chỗ có mùi thơm kỳ diệu kia. Mắt tôi không thể rời ra khỏi tô cháo anh lính đang đưa vào miệng húp. Cơn đói càng lúc càng tăng lên làm tôi run bần bật. Mắt tôi hoa lên, mồ hôi ra ướt đẫm trán nhưng tôi cố gắng để chặn mình không mở miệng ra xin ăn cháo. Cả đời tôi chưa bao giờ bị đói. Và tôi chưa hề một lần mở miệng xin xỏ ai, dù là bất cứ điều gì. Tôi nghĩ đến bố mẹ tôi, đến tổ tiên dòng họ, ngay thẳng chân chính, không hề quỵ luỵ ai, lúc nào cũng giữ lưng cho thẳng, có bao giờ mở miệng van xin dù có chết đi chăng nữa. Và tôi đang nằm đây, mắt không chớp nhìn vào tô cháo, đánh nhau với chính mình, cố gắng bậm môi đến gần bật máu để không mở miệng xin ăn cháo.

Nhưng cái đói không để yên, sự hành hạ đã quá mức, tôi không thể chịu nổi nữa. Tôi nghe tiếng mình nói, thều thào: “Cho… xin… chút… cháo!” Anh lính Địa phương quân tù binh không quay đầu lại, tiếp tục húp cháo. Nhưng bà mẹ quay sang tôi, hung dữ:
- Cháo này tôi cho con tôi, thừa đâu cho anh!

Bà bĩu môi, hất tay như muốn xua tôi đi chỗ khác. Tôi thấy quay cuồng, cơn đói, cơn đau vết thương và nỗi nhục nhã uất ức như cùng nhau hợp vào, ùa đến như làn sóng thần phủ chụp. Nước mắt tôi chảy ra dàn dụa. Anh lính lúc đó mới quay đầu lại, chừng như bất nhẫn, nhìn bà mẹ một hồi rồi ngập ngừng đưa tôi tô cháo đang húp dở. Tôi giơ tay cầm tô cháo. Mùi thơm ùa vào mũi và như một phản xạ không kiềm chế được, tôi há miệng để dòng cháo chảy vào. Nhưng nước mắt tôi càng lúc càng chảy ra nhiều hơn. Cái đau tinh thần đã thay thế cho tất cả những nỗi đau thân thể và cơn đói hành hạ. Tôi thấy tôi. Một Bác sĩ vừa ra trường, cả đời chỉ lo học hành, đi tìm cái hay, cái đẹp của cuộc đời, muốn giúp người, cứu người. Và chỉ trong mấy tháng vừa qua sau khi ra trường làm việc tại Bệnh viện Tiểu khu này, tôi đã cứu được nhiều thương bệnh binh và cũng được nhiều người kính phục. Tại sao tôi lại ở đây, khổ sở, đau đớn, điên cuồng vì đói để bị sỉ nhục, khinh khi chỉ vì cái đói kinh khủng đã làm tôi phải mở miệng để xin ăn cháo! Dòng cháo thơm tho, nuôi sống, đã vào miệng rồi nhưng cơn nghẹn ngào và nước mắt tuôn rơi làm tôi không thể nuốt nổi. Cổ họng tôi như thắt lại và dù cơn đói thôi thúc, tôi nhả ra và trao lại tô cháo cho anh lính. Tôi cố gắng dùng tàn hơi để bắt mình lết dần sang một chỗ khác, để không thấy, không nghe tiếng húp cháo nữa, dù mùi cháo thơm tiếp tục bay đến hành hạ như không bao giờ ngơi nghỉ.

* * *

Phước nhìn tôi. Phước hỏi nhưng mắt mơ màng như vẫn còn đang sống trong kỷ niệm của ba mươi mấy năm về trước:
- Cậu nghe đã sợ cái đói thực sự như thế nào chưa? Nhưng khoan! Trước khi vào ăn cơm, để tôi kể nốt cho cậu nghe câu chuyện đói khác. Chuyện này có hậu hơn. Tôi biết cậu thích chuyện gì cũng phải có hậu mà phải không? Tôi sẽ kể thêm những chuyện trong trại tù binh ở miền Nam cho cậu nghe sau. Nhưng để tôi nhảy sang chỗ tôi bị chuyển ra Bắc, bị đưa ra trại Yên Bái. Sĩ quan khác bị đưa ra Bắc, đoàn xe của chúng tôi chạy suốt quãng đưòng dài, dân chúng miền Bắc như được lệnh, thấy mặt chúng tôi là sỉ vả, nguyền rủa. Tôi có nhiều chuyện lắm cho cuộc hành trình này, tôi sẽ lần lượt kể cho cậu nghe sau. Nhưng để tôi kể chuyện này khi gần đến Yên Báy.

Lúc đó trời đã về chiều, đoàn xe dừng lại. Những tên bộ đội đi xuống kiếm chỗ đi tiểu hay ăn uống. Chỗ này đã gần đến Yên Bái và đã có ít căn nhà thưa thớt của dân dọc hai bên đường. Một người đàn bà dáng đã già tiến lại hỏi mấy tên bộ đội về đoàn xe. Được nghe giải thích đây là những tù binh từ miền Nam bị bắt đưa ra trại giam Yên Bái, bà ta tiến lại chỗ chúng tôi. Bà hoa chân múa tay bắt đầu chửi:
- Tiên sư bố chúng mày! Cho chúng mày chết hết đi! Đáng đời chúng mày!

Bà càng chửi càng hăng hơn. Bộ đội thích thú cười. Chúng tản mát ra kiếm chỗ để lấy đồ ngồi ăn và uống nước. Một lúc không thấy tên bộ đội nào lảng vảng gần đó nữa, bà cụ già tiến lại gần hơn chiếc xe tôi đang nằm trên cáng. Mặt bà dịu lại, vẻ dữ tợn biến đâu mất. Trên khuôn mặt nhăn nheo, sạm nắng và cặp mắt trũng sâu, chỉ còn lòng trắc ẩn. Bà lại gần tôi, nhìn vào vết thương đùi không lành đã mấy tháng nay, lúc nào cũng đầy mủ và bắt đầu có dòi. Bà nói nho nhỏ:
- Tội nghiệp con! Làm sao để ra nông nỗi này. Chúng nó khốn nạn quá!

Rồi bà rút trong ngực áo ra một củ khoai, dúi vào tay tôi:
- Con ăn đi cho đỡ đói!

Bà vừa nói vừa láo liên nhìn về phía bọn bộ đội. Thấy một tên đi xăm xăm lại, bà quay người đi ngay. Tôi ngẩn người nhìn theo bà lão. Dù đang đói lả, cơn đói như cào xé lấy ruột gan, tôi không ăn ngay được. Cho đến khi bóng bà lão khuất sau hàng dậu thưa của căn nhà bên đường và tên bộ đội trở lại chỗ ngồi cũ, tôi mới ngoạm vào củ khoai còn nóng. Miếng khoai ngọt ngào trôi vào trong cổ họng, thơm ngon và ấm áp. Nuớc mắt tôi ứa ra, nhớ lại bát cháo ngày nào ở Phước Long. Miếng cháo cũng thơm ngọt, nhưng dù có sắp chết tôi không thể nào nuốt trôi. Còn miếng khoai này, đầy ắp tình người, đã nuôi sống tôi buổi chiều hôm đó, cũng như giúp tôi trải qua những đọa đày cùng cực của ba năm giam cầm ở trại giam Yên Bái.

Vì cậu thấy không? Trong chốn địa ngục của trần gian đó, chỉ còn hy vọng là điều ngăn cách giữa cái sống và cái chết, giữa lương tri và ác độc, giữa chịu đựng và buông xuôi. Và tình người của bà lão Yên Bái đã giúp cho tôi còn chút hy vọng, khi đã tuyệt vọng không cùng, khi chỉ còn muốn nhắm mắt để vĩnh viễn ra đi. Củ khoai của bà đã nuôi sống tôi đến tận bây giờ đó cậu ạ!

Nguyễn Đình Phùng – Phạm Hữu Phước

Về Đầu Trang Go down
vnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Tue Apr 07, 2015 5:42 pm


Để tưởng niệm một người anh

 
Phạm Tín An Ninh

Lần cuối cùng tôi gặp lại anh, khoảng tháng 7 năm 1978 tại Nghĩa Lộ. Trong những người tù ốm o đang vác những bó nứa, băng qua khu ruộng khô mà đám tù chúng tôi đang “lao động” , bất ngờ tôi nhận ra anh, khi anh hỏi xin bọn tôi một ngụm nước. Tôi ngỡ ngàng đứng nghiêm đưa tay lên chào:
– Đại Tá!

Anh nhìn lên, nhận ra tôi và nở nụ cười:
– Mi ở đây à? Chừ còn tá với tướng chi mi. Mi khỏe không?
Tôi đưa cho anh lon guigoz nước rồi nắm lấy tay anh. Anh gầy hơn xưa nhiều, chỉ có nụ cười vẫn vậy, không thay đổi. Chưa kịp hỏi anh ở trại nào và vợ con ra sao, thì tên vệ binh hét: “không được quan hệ linh tinh, khẩn trương về trại”. Tôi phụ đưa bó nứa lên vai anh. Bước đi, anh nói vọng lại một câu:
– Mi nhớ giữ gìn sức khỏe hỉ!

Có một thời báo chí và nhiều người gọi anh là “Người hùng Ban Mê Thuột”. Điều đó rất xứng đáng. Khi chỉ có trong tay một tiểu đoàn và được tăng cường Đại Đội 23 Trinh Sát tinh nhuệ, nhờ hầm hố công sự vững chắc, anh cùng đơn vị đã phải chiến đấu đơn độc nhưng thật quyết liệt can trường trước nhiều đợt tấn công biển người của địch, giết hằng trăm địch quân và bắn cháy nhiều chiến xa T-54, giữ vững vị trí đến sau khi cả thành phố Ban Mê Thuột đã lọt vào tay giặc gần một tuần trước đó. Ngày 17.3.75, một lực lượng địch đông đảo có nhiều chiến xa kéo đến bao vây tấn công để bằng mọi giá phải nhổ cái gai làm chúng vô cùng căm tức. Với hàng ngàn quả pháo, chúng muốn san bằng cái cứ điểm cuối cùng mà đơn vị anh đang tử thủ, quyết sống chết trong căn cứ B50 bên cạnh phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 8 cây số về hướng Đông. Anh đã cùng đồng đội vẫn không nao núng, đánh thật đẹp một trận để đời.  Một số binh sĩ hết đạn, anh ra lệnh cho thu nhặt súng đạn của địch để đánh lại địch. Rất tiếc, phi vụ tiếp tế thả dù cuối cùng không may rơi ra ngoài vị trí, lương thực và đạn dược đã cạn kiệt. Anh khôn khéo lừa địch, cùng những thuộc cấp sống sót mở đường máu lúc nửa đêm, phân tán thành nhiều toán nhỏ, vài toán rút về hướng Lạc Thiện, vài toán đi về khu làng Thượng thuộc tỉnh Tuyên Đức, riêng anh cùng một toán trên 20 người đến được Phước An, hai ngày trước khi quân lỵ cuối cùng của tỉnh Darlac này rơi vào tay Cộng sản. Anh và đồng đội đã tạo thêm một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Đặc biệt, anh cũng là cấp chỉ huy trực tiếp cuối cùng của tôi vào những giờ thứ 25, trước khi Quân Lực VNCH bị bức tử, để những chiến sĩ anh hùng như anh phải đành đau đớn tức tưởi kết thúc binh nghiệp nửa đường.

Vào đầu tháng 4/75, QĐ II&QK2 lần lượt lọt vào tay giặc, sau những cuộc triệt thoái tồi tệ và bi thảm nhất trong lịch sử chiến tranh. Hầu hết quân nhân các cấp thuộc các Sư Đoàn và Tiểu Khu thống thuộc còn sống sót đã tiếp tục di tản vào Bình Tuy, Vũng Tàu, Sài gòn. Được lệnh của Bộ TTM truyền đi trên các đài phát thanh, truyền hình, kêu gọi “đến trình diện tại Trại Chí Linh, Trung Tâm Huấn Luyện XDNT Vũng Tàu” để sau đó được bổ sung tái lập một sư đoàn duy nhất: Sư Đoàn 22BB với Thiếu Tướng Phan Đình Niệm tiếp tục làm tư lệnh, đặt dưới quyền xử dụng của Quân Đoàn III.

Không ngờ số lượng đến trình diện thật đông đảo. Đa số là sĩ quan, chỉ có khoảng một phần ba là hạ sĩ quan và binh sĩ. Khi lang thang đi tìm mấy thằng bạn cùng đơn vị cũ, xem ai còn ai mất sau trận chiến Khánh Dương và một số phải di tản theo Tỉnh Lộ 7B oan nghiệt, bỗng tôi nghe trên loa có một giọng Huế quen thuộc gọi tên mình, và yêu cầu đến dãy nhà số 4 gặp Đại Tá Võ Ân. Tiếng gọi quen thuộc ấy cũng chính là tiếng nói của anh.

Tôi tìm đến dãy nhà số 4, nơi đặt BCH Trung Đoàn 47 (tái lập). Vội vàng tìm  gặp anh, để xem người hùng của trận chiến Ban Mê Thuột bây giờ ra sao. Anh ngồi trên dãy bàn dài với một vài sĩ quan cấp trung tá, có nhiều vị tôi quen biết. Tôi đưa tay chào, chưa kịp trình diện lời nào, thì anh đã phất tay bảo tôi ngồi:
- Tau được chỉ định tái lập gấp Trung Đoàn 47 này. Mi về đây với tau cho vui. Anh em 23 nhiều lắm. Tụi mình “đánh đấm” tiếp.

Thoáng một chút xúc động. Nghĩ mình là một sĩ quan đàn em cấp thấp, cũng chẳng tài cán gì, chỉ gặp gỡ một vài lần và được anh quí mến. Vậy mà hôm nay, trong cái cảnh chợ chiều, hổn tạp rối ren này, anh vẫn còn nghĩ đến mình.

Ba ngày sau, Trung Đoàn 47 BB được tạm tái lập với một quân số mà quan nhiều hơn lính.  Một tiểu đoàn có đến 2 trung tá. Cấp đại đội có 1-2 thiếu tá, có vị đã từng làm tiểu đoàn trưởng hay chi khu phó.  Có nhiều trung đội được chỉ huy bởi một đại úy với quân số không quá 25 người, mà 50% là sĩ quan. Chắc chắn trên thế giới không có một đội quân nào với bản cấp số kỳ quặc và “ghê gớm” như thế.

Trong hầu hết những bài viết về các trận chiến cuối cùng của QLVNCH, dường như chưa có ai nói đến sự kiện này. Tại sao những sĩ quan cấp tá, cấp úy lại sẵn sàng nhận lãnh những chức vụ quá nhỏ nhoi như thế, trong lúc tình hình nguy ngập, chiến trường đang từng giờ thu hẹp lại, mà mọi bất lợi, hiểm nguy đang chờ họ đối mặt? Hơn nữa hầu hết đều bỏ lại gia đình ở miền Trung mà bây giờ đã thuộc vùng địch chiếm. Bao nỗi ưu tư canh cánh bên lòng. Nếu không phải là “Tổ Quốc, Danh Dự. Trách Nhiệm”, sứ mạng cao cả mà họ đã tuyên thệ nhận lãnh khi quì xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa?

Ngay tại BCH Trung Đoàn, ngoài Đại tá Võ Ân Trung đoàn trưởng, còn có đến 4, 5 trung tá. Trung tá Nguyễn Thắng Phùng, Chỉ huy trưởng TTHL/SĐ 23BB nhận lãnh chức vụ Trưởng ban 3( kiêm Phụ Tá hành Quân) . Vai trò này anh đã từng làm cách đây trên 10 năm, khi còn mang cấp bậc thiếu úy. Tôi vẫn còn nhớ, khi mới ra trường vài tháng, dắt trung đội biệt phái đến trình diện BCH Trung Đoàn 45BB của Trung tá Võ Văn Cảnh,  đóng trại giữa rừng để chỉ huy trận chiến Quảng Nhiêu đang hồi khốc liệt nhất, tôi được gặp Thiếu Úy Nguyễn Thắng Phùng, đang là Trưởng Ban 3 Trung Đoàn. Anh rất vui vẻ, niềm nở hướng dẫn trung đội tôi ra nằm giữ an ninh cho một Pháo Đội Pháo Binh 155 ly, đóng bên cạnh BCH Trung Đoàn. Anh dặn dò chỉ vẽ những điều cần thiết. Chỉ với câp bậc thiêu úy, nhưng tôi nghĩ anh là một Trưởng Ban 3 nhiều kinh nghiệm, khả năng. Tôi có cảm tình với anh kể từ ngày ấy. Anh đã đảm trách chức vụ này từ khi còn thiếu úy, bây giờ mang đến cấp bậc trung tá, anh lại trở về với cái chức vụ hơn 10 năm trước. Vậy mà anh rất vui vẻ, bình dị, thường thân tình đùa cợt với anh em và chu toàn trách nhiệm của mình. Anh bảo:
– Được làm việc với Đại Tá Ân là vui rồi!

Tôi rất nể phục thái độ và tư cách của anh.

Trong BCH Trung Đoàn có một vài vị nguyên là tiểu khu phó, tham mưu trưởng của các tiểu khu. Tôi cũng gặp một anh thiếu tá, nguyên là tiểu đoàn trưởng xuất sắc của một tiểu đoàn ĐPQ tại TK Bình Định. Năm 1971 có một thời tăng phái hành quân cho Chiến Đoàn 44 của chúng tôi tại An Khê, (khi ấy tôi là Trưởng Ban 3 Chiến Đoàn nên thường gặp và biết khả năng điều quân của anh), còn bây giờ thì anh đang vui vẻ làm đại đội trưởng với quân số chưa tới 80 người.

Tôi được anh Ân thương mến, giao cho một chức vụ cũng không có trong bản cấp số: Sĩ Quan Hành Quân & Tiếp Vận. Thực chất, đó chỉ là một loại “thượng sĩ thường vụ” của Trung Đoàn, chạy ngược chạy xuôi lo đủ thứ việc.

Ngày 17/4/1975, chưa kịp trang bị xong, một số quân nhân chưa có cả súng đạn, Trung Đoàn được lệnh di chuyển xuống Long An, đảm trách hành quân an ninh trong vùng Bến Lức. Ban đêm, từng đoàn xe từ Tổng Kho Long Bình chở vũ khí, quân trang quân dụng xuống để đơn vị vừa hành quân vừa trang bị tiếp. Đạn thì thiếu nhưng súng lại thừa. Một người có thể được trang bị một khầu M16 và thêm một súng Colt 12 nếu muốn.

Ngày 22/4/75 có khoảng 10 tân sĩ quan hai khóa 28 và 29 của Trường VBQGVN vừa tốt nghiệp “non” tại Trường Bộ Binh Long Thành, đến trình diện. Các anh vẫn giữ đúng nề nếp, cử một đại diện chỉ huy trình diện đơn vị trưởng theo đúng lễ nghi quân cách. Nhìn họ mà tất cả chúng tôi ai nấy cũng đều cảm kích, chạnh lòng. Những sinh viên đã từ bỏ học đường chọn binh nghiệp bảo vệ giang sơn tổ quốc. Bây giờ giang sơn đang như sợi chỉ mành trước gió, tổ quốc lâm nguy, vậy mà họ vẫn đến đây, để chấp nhận một cuộc chiến ở giờ thứ 25, trong một hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi, khi chưa hề có được một ngày kinh nghiệm chiến trường. Trong những đôi mắt nhuốm chút ít ưu tư ấy vẫn tỏa ra đầy khí phách, sẵn sàng nhập cuộc.

Đại Tá Võ Ân đến bắt tay từng người một. Im lặng một lúc, anh lấy giọng:
- Thay mặt đơn vị, anh cám ơn và hoan nghênh các em đã đến trình diện. Các em đã cho chúng tôi một nguồn sinh lực mới, sau thời gian trải qua những mất mát, giao động. Điều đó cũng đã là một góp phần xứng đáng rồi. Anh biết các em chưa nghỉ phép sau khi làm lễ ra trường. Còn đơn vị lại đang trong thời kỳ tái tổ chức. Bây giờ theo thông lệ, anh cấp cho các em giấy nghỉ phép mười ngày, để các em về thăm gia đình. Mong là các em hiểu sự quyết định này của anh.

Hầu hết các tân sĩ quan nhất quyết xin ở lại để chiến đấu cùng đơn vị. Có anh bảo là gia đình ở ngoài Trung, không có ai ở đây. Nhưng tất cả sĩ quan chúng tôi có mặt lúc ấy đều thấy quyết định của Đại Tá Ân là có cân nhắc và có tình có lý, nên khuyên các anh nên chấp nhận quyết định của Đại tá, nếu anh nào gia đình ở miền Trung có thể về Sài gòn tạm nghỉ ngơi chờ lệnh, sau khi hết phép trở lại đơn vị cũng chưa muộn (?)

Ngay chiều hôm ấy, có lệnh bàn giao vị trí cho một đơn vị khác của Quân Đoàn III, chúng tôi khẩn cấp di chuyển đêm xuống giải tỏa áp lực địch tại Quận Cần Giuộc. Theo tin tức, đã có hơn một trung đoàn địch đang trên đường tiến đến uy hiếp khu vực này.

Tất cả chúng tôi đều đến từ Vùng 2, nên không ai biết rành địa thế và tình hình trong khu vực lạ lẫm này. Để tránh chậm trể và nguy hiểm, Trung Đoàn được biệt phái một toán Cảnh Sát do một Thiếu Tá chỉ huy, dẫn đường. Khởi hành từ 10 giờ tối, cho mãi 5 giờ sáng đơn vị mới tới địa điểm. Toán Cảnh sát “hướng lộ” đã dẫn chúng tôi đi sai lộ trình. Rất may là tất cả an toàn, không đụng độ với bất cứ lực lượng nào của địch.

BCH Trung Đoàn đóng tại Trường Trung Học Cần Giuộc. Phía trước là đồng ruộng, sau mùa gặt nên đất đã khô và trơ những gốc rạ. Tổng Kho Long Bình có lệnh phân tán quân trang quân dụng, nên đã đưa xuống đây cả mấy chục chiếc xe GMCvà xe jeep các loại, kèm theo một lệnh miệng: ” Mỗi xe chỉ có đầy bình xăng, xử dụng chiếc nào đến hết xăng là bỏ luôn.” Vừa xe, vừa gạo, và quân trang chất thành những đống cao giữa trời, trên những đám ruộng khô.

Trung Đoàn có ba tiểu đoàn, không có đại đội trinh sát và đại đội chỉ huy công vụ. Một tiểu đoàn đóng chung với BCH Trung Đoàn, làm lực lượng trừ bị, hai tiểu đoàn bung ra xa. Trong đó có một tiểu đoàn hành quân tái chiếm xã Mỹ Lộc, một khu trù phú của quận Cần Giuộc, bị một tiểu đoàn địa phương của địch xâm nhập, truy giết các nhân viên xã ấp và các trung đội nghĩa quân.

Giữa một cuộc chiến không nhìn thấy tương lai, và phải chỉ huy một đơn vị như chiếc áo cũ mục nát, được vá víu bằng những tấm vải đủ màu, nhưng Đại tá Võ Ân cùng tất cả chúng tôi đã sống với nhau thật vui vẻ, chí tình. Với tôi, đó lại là thời gian đáng ghi nhớ nhất trong cả mười một năm binh nghiệp. Cái ranh giới chỉ huy gần như nhỏ lại, để nhường cho cái tình huynh đệ. Điều này có được phần lớn là nhờ vào anh – Đại tá Võ Ân.

Ngày xưa, khi còn chỉ huy các tiểu đoàn, trung đoàn hùng mạnh, tham dự nhiều trận chiến cam go ở Bình Định, Pleiku, Kontum, Quảng Đức, anh vẫn vui vẻ thân tình như hôm nay. Với bạn bè hay đàn em, thuộc cấp lúc nào anh cũng dùng hai chữ “mi, tau”. Sĩ quan trong đơn vị thực sự xem anh như một người anh, hay một ông thầy của thời trung học.

Tháng 11 năm 1973, Phóng viên chiến trường Dương Phục, trong một lần đặc biệt đi theo đơn vị của anh, khi ấy là Trung Đoàn 53 thuộc Sư Đoàn 23BB, đang quần thảo với địch trong một trận chiến vô cùng khốc liệt tại Quảng Đức, đã viết:

“Tôi vác ba lô ra xe và hai tiếng đồng hồ sau có mặt bên cạnh đơn vị có nhiệm vụ tái chiếm hai tiền đồn Bu Prang và Bu Bong đã lọt vào tay địch quân trong cuộc tấn công ngày 4.11 vừa qua.

Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 Bộ Binh, trông giống một giáo sư hơn là một đơn vị trưởng tác chiến. Cả bộ chiến phục bụi bậm, bẩn thỉu, và khẩu súng lục Colt 12 đeo lủng lẳng bên hông cũng không giúp anh có vẻ ngoài oai hùng của người lính chiến. Nhưng tất cả những thứ đó chỉ là bề ngoài. Sức chịu đựng bền bĩ và ý chí sắt thép của anh Ân được truyền tụng theo chiều hướng huyền thoại hóa trong trung đoàn.

Ân tiếp tôi ngay tại vị trí chiến đấu của Tiểu Đoàn 2/53. Khuôn mặt trẻ trung, nhưng dầy dạn vẻ phong trần, nụ cười chân tình như chỉ những người lính chiến mới biết cười như vậy. Ân bảo tôi :
– Anh đến chậm mất hai ngày.
– Hai ngày sớm hơn đã xảy ra chuyện gì?
– Pháo. Địch pháo như mưa, pháo dội vào các đơn vị chúng tôi. Sau pháo, chúng xung phong.”

Sáng ngày 27 tháng 4 /1975, khoảng 10 giờ sáng. Khi chúng tôi đang ngồi uống cà phê trong một phòng học được dùng làm Trung Tâm Hành Quân, nghe tiếng trực thăng đang đảo thấp một vòng đáp xuống đám ruộng khô phía trước, cách chúng tôi chừng hơn 100 mét. Nghĩ là trực thăng CNC đến làm việc cho Trung Đoàn, Đại Tá Ân bảo tôi lấy một chiếc xe jeep mới toanh, không mui, chạy ra đón phi hành đoàn. Vì trời nóng, nên đa số chúng tôi đều mặc áo thun. Tôi không kịp mặc áo lính, lái xe chạy băng qua mấy đám ruộng khô và dừng lại trước chiếc trực thăng vừa đáp xuống. Bỗng bất ngờ, ngạc nhiên khi thấy một người vừa bước xuống, tay cặp chiếc mũ sắt ngụy trang có gắn 3 ngôi sao. Theo sau là một vị trung tá trên tay cầm khẩu M-18. Tôi giật mình, nhận ra đó là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Vội vàng bước xuống xe, tôi đứng nghiêm đưa tay chào. Ông bước tới gần tôi. Trong tiếng cánh quạt trực thăng chưa dừng hẵn, tôi nghe ông hỏi lớn:
– Có Đại Tá Ân trong đó không?
– Trình Trung Tướng, có.

Tôi trả lời và mời ông lên xe, nhưng ông từ chối, bảo là ông muốn đi bộ. Có thể là ông có ý cho tôi chạy vào trước để báo cho đại tá Ân, tôi đoán thế.

Tôi vội vã lái xe chạy vào BCH la lớn cho Đại Tá Ân và mọi người biết: 
- Trung Tướng Ngô Quang Trưởng tới thăm chứ không phải phi hành đoàn.

Tất cả vội vã mặc áo và sửa soạn lại tấm bản đồ lớn được treo trên bảng đen (của lớp học). Tôi xếp mấy chiếc ghế lại cho ngay ngắn. Khi Đại Tá Ân chưa kịp bỏ áo vào trong quần thi Tướng Trưởng đã bước vào phòng.  Anh chỉ còn kịp đứng nghiêm hô to: “vào hàng, phắc” rồi đưa tay lên chào.

Tướng Trưởng trông khá mệt mỏi, ánh mắt hình như bị mất ngủ. Ông hỏi với một giọng buồn bã:
– Tình hình thế nào em?

Đại Tá Ân đưa cây que chỉ bảng lên tấm bản đồ, định trình bày tình hình, thì Tướng Trưởng đưa tay ngăn lại. Ông chỉ nói một câu ngắn ngủi:
– Phải cẩn thận. Đừng để hao tốn sinh mạng của anh em một cách vô ích.

Sau khi đưa tay bắt từng người có mặt trong TTHQ, Tướng Trưởng cho biết ông không có nhiều thì giờ vì chỉ mượn được trực thăng trong một thời gian ngắn, và bảo Đại Tá Ân lái xe chở ông sang thăm ông Quận trưởng Cần Giuộc. Tôi gọi toán cận vệ lên một xe jeep khác chạy theo, nhưng Tướng Trưởng khoát tay, bảo không cần. Sau này Đại tá Ân cho biết, anh Trung tá Quận Trưởng này cũng là một thuộc cấp được Tướng Trưởng tin cậy và quí mến, thời Ông còn làm Tư Lệnh QĐIV.

Cả đại tá Ân và chúng tôi không biết lúc ấy Tướng Trưởng giữ chức vụ gì. Chỉ biết là ông đến thăm anh Ân và dặn dò đôi điều. Anh Ân cũng cho biết là chưa từng làm việc dưới quyền Tướng Trưởng, có lẽ ông chỉ nghe nói đến anh Ân “người hùng trong trận chiên Ban Mê Thuột”, nên đến thăm và khen ngợi anh như từng khen ngợi những sĩ quan, những đàn em xuất sắc của ông ở Quân Đoàn I, nơi có nhiều cấp chỉ huy lỗi lạc với cái tên chỉ có hai chữ như anh (Võ Ân): Lê Huấn, Võ Toàn, Vĩnh Dác, Hoàng Mão, Nguyễn Hóa, Võ Vàng…

Tôi gặp và biết anh Ân lần đầu tiên vào khoảng cuối năm 1972, khi anh mang cấp bậc trung tá, dắt một tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 22BB, từ Bình Định lên tăng cường cho Trung Đoàn 44BB chúng tôi, để giải tỏa Trung Nghĩa, một ngôi làng Công giáo, dưới sự chỉ huy của một vị linh mục, quyết tử chiến với Cộng quân, nhưng vì không đủ hỏa lực nên bị một lực lượng địch cấp tiểu đoàn chiếm hơn nửa làng. Một trận chiến phức tạp, khốc liệt, và cuối cùng anh đã chiến thắng ngoạn mục. Bằng một lối đánh giặc rất đặc biệt, xử dụng toàn súng cối 60 ly thay cho Pháo Binh và phi yểm.

Sau nhiều lần tấn công bất thành, do lực lượng địch trú ẩn bám trụ trong các giao thông hào kiên cố và chống trả mãnh liệt. Lệnh của Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn, tránh tối đa việc xử dụng phi pháo có thể gây thiệt hại cho khu nhà thờ và nhà cửa của dân chúng. Hơn nữa, Pháo Binh khó cận yểm vì khoảng cách giữa địch và dân quá gần, tiền sát viên của ta khó tiếp cận để điều chỉnh cho thật chính xác.

Anh lệnh cho các đại đội tạm rút ra, lựa chọn các binh sĩ trẻ và có năng lực tác chiến, chỉ trang bị súng nhẹ, không mang theo ba lô, chia thành nhiều toán nhỏ, làm lực lượng xâm nhập, tấn công. Các binh sĩ lớn tuồi hay yếu kém theo sau, làm lực lượng tải đạn, tản thương và án ngữ. Anh tâp trung cơ hữu và xin chúng tôi tăng cường thêm cho anh nhiều súng cối 60 ly (ít được các đơn vị xử dụng) với đầy đủ đạn dược, cùng một số xạ thủ có kinh nghiệm về loại vũ khí này. Tôi được Đại Tá Phùng Văn Quang, Trung Đoàn Trưởng 44, chỉ định đảm trách công việc này. Anh và tôi cùng hướng dẫn cấp tốc các tiểu đội trưởng cũng như xạ thủ, điều chỉnh súng cối từng mét một. Khi các tiểu đội bò vào tiếp cận các hầm hố của địch, đích thân anh điều động trên 20 khẩu súng cối 60 ly tác xạ theo sự điều chỉnh của các tiểu đội trưởng. Kết quả thật không ngờ. Địch quân bị tiêu diệt bởi các khẩu súng cối 60 ly này, số còn lại bị thương và bị bắt sống, bên ta không có binh sĩ nào tử thương.

Sau trận chiến, trước khi trở về đơn vị gốc, anh gọi tôi ra ăn bữa cơm chia tay, cùng với vài sĩ quan của anh ngoài tiệm Thiên Nam Phúc. Và có lẽ do chiến công này, chỉ một thời gian ngắn sau đó anh được thuyên chuyển về Sư Đoàn 23 BB để giữ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 thay Đại Tá Trần Văn Chà. Sau này, tôi cũng được nghe kể lại, anh Ân là người chưa từng giữ cấp “phó” bao giờ.

Anh tốt nghiệp Khóa 12 Thủ Đức, là người thăng cấp trung tá sớm nhất và cũng là người duy nhất của khóa mang cấp bậc đại tá . Hầu hết những sĩ quan giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng dưới quyền, đều là khóa đàn anh, có người xuất thân trường Võ Bị đồng thời với anh. Nhưng tất cả đều nể phục và kính mến anh.

Ngày 30-4-75, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chúng tôi đang quây quần trong phòng học được dùng làm TTHQ. Đại Tá Ân gục đầu xuống bàn. Tất cả im lặng. Cái im lặng thật rợn người. Có lẽ trong đầu mỗi người đang suy nghĩ về một điều gì đó. Tôi bước lại ôm vai anh. Trung Tá Phùng lệnh cho gọi tất cả anh em tập họp trước sân trường để nghe anh Ân ra lệnh lần cuối cùng. Anh cám ơn, bắt tay và ôm từng người, chúc tất cả trở về an toàn và gặp lại gia đình. Anh cũng ra lệnh phá hủy tất cả các loại súng ống trước khi rời vị trí.

Anh bảo tôi tâp trung tất cả tài xế lái các xe GMC khả dụng chở anh em về cầu chữ Y. Không đủ xe, tôi chạy đi mướn thêm hai chiếc xe đò. Tôi nghiệp hai anh tài xế đến giờ này vẫn còn chí tình với lính, tình nguyện chở giúp bọn tôi về đến Sài gòn. Tôi đưa anh về nhà (chị Ân thuê để cùng các con tạm trú ở đây, sau khi theo đoàn quân di tản từ miền Trung). Anh bắt tay tôi thật chặt, nhìn tôi rồi bỗng nở một nụ cười, như chưa hề có chuyện gì xảy ra:
-Mi về xem vợ con ra sao. Cẩn thận hỉ.

Tôi nhìn anh, chưa biết nói lời gì để an ủi anh, thì lại nghe tiếng anh đùa:
-Que sera sera! Chừ tau chỉ tội nghiệp cho vợ con, còn tau thì phó thác số phận cho ông trời!

Tính anh là vậy đó, lúc nào cũng bất cần, cũng cười đùa, mặc dù trong lòng đang rối như tơ vò.

Chia tay anh, tôi bước đi mà nước mắt lưng tròng. Bước chân nhẹ tênh như không còn cảm giác, và trong lòng bây giờ dường như chỉ là một khoảng trống mênh mông!

Anh bị tù hơn 14 năm. Sang Mỹ cùng gia đình năm 1992 theo diện HO, và chỉ vài năm sau anh qua đời tại Florida, do bị đột quỵ (tai biến mạch máu não). Có lẽ do hậu quả từ những cơn say và nhiều đêm mất ngủ. Anh dùng rượu để có thể tâm tình với hư vô, với những đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại ở đâu đó trên các chiến trường xưa, và đã ân hận vì không trả được món nợ máu xương này cho họ.

Anh ra đi, nhưng không hề chết. Tên tuổi Võ Ân vẫn còn vang vọng mãi trong tâm khảm của mọi người đã từng quen biết và sống chết cùng anh. Lịch sử dân tộc chắc chắn còn ghi đậm tên anh. Một người lính đã sống hết lòng với đồng đội anh em, và chiến đấu bằng tất cả danh dự cùng cả trái tim mình.

Phạm Tín An Ninh
(40 năm sau ngày tan đàn xẻ nghé)

.
Về Đầu Trang Go down
vnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Fri Apr 10, 2015 7:42 pm



Chuyện người lính Thủy Quân Lục Chiến bên bờ Bến Hải

Bs Nguyễn Ngọc Ấn

Kính dâng hương hồn người chiến sĩ vô danh

Trời trên đầu vẫn nắng chang chang. Dưới chân là sỏi đá khô cằn. Đất ở đây như không đủ sức mời mọc cho cây đâm rễ nên quang cảnh mang một vẻ trơ trụi, hoang sơ thế nào.

Đoàn tù vẫn lầm lũi bước. Cách từng quãng một là anh cán binh CS miền Bắc, vai mang khẩu AK-47, đầu đội mũ tai bèo, chân dép râu cũng tiếp nối từng bước như đoàn tù nhưng chắc chắn là mang trong họ một trạng thái tinh thần hoàn toàn khác. Họ là những kẻ chiến thắng, đang giải đoàn tù binh, sản phẩm của chiến bại, về Bắc.

Trước là họ có dịp phô trương cái “anh hùng” của họ ở trong B, sau là biết đâu họ có thể có dịp tạt qua thăm nhà một lần sau bao nhiêu năm gia nhập bộ đội để đi “giải phóng miền Nam ruột thịt, đang oằn oại dưới ách thống trị bạo tàn của Mỹ Thiệu” và quan trọng và chắc chắn hơn hết là họ được tránh xa vùng lửa đạn có thể làm họ “đi gặp Bác Hồ” bất cứ lúc nào...

Trước đó không lâu mà tưởng chừng như ở vào thế kỷ khác, quân CS đã bất ngờ vượt vùng phi quân sự để tràn xuống tấn công miền Nam. Trở tay không kịp, các căn cứ Hoả lực ở vùng phía Nam phi quân sự bị đánh tan vỡ, quân đội VNCH đã lập tức gởi ngay quân ở trong miền Nam ra cứu viện và các đơn vị Biệt động quân gồm 3 Liên đoàn Tổng trừ bị được đưa ra và trong đó, Liên đoàn 5 BĐQ là đơn vị ra tới đầu tiên mà trong đó có tôi với tư cách Y sĩ điều trị của Liên đoàn.

Tôi là một bác sĩ, tính tới hôm ra tới Quảng trị là ngày 5/4/72 thì tôi mới ra trường chưa được 5 tháng, do đó tôi còn ở dưới quyền một đàn anh là Y sĩ trưởng của đơn vị, hiện anh đang trở về làm việc ở hậu cứ khi có tôi ra thay ở mặt trận (hai anh em chúng tôi thay phiên nhau đi hành quân mỗi người nửa tháng).

Tuy tôi không được dự các cuộc họp hành quân nhưng theo tin tức tôi thu nhặt được từ các sĩ quan trẻ trong BCH Liên đoàn thì tôi biết, chuẩn tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh SĐ3BB là sĩ quan cao cấp nhất được trên chỉ định làm tư lệnh mặt trận và ông đã điều quân như sau: LĐ5 chịu tuyến cực Bắc của mặt trận là thị trấn Đông Hà chạy dài về phía Nam ở hướng Tây của quốc lộ 1. Kế tiếp là LĐ4 BĐQ rồi tới LĐ7 BĐQ tiếp tục phòng thủ và chiến đấu để giữ gìn phía Tây QL 1. Còn về hướng Đông là phía biển thì mặt trận chắc chắn sẽ nhẹ hơn sẽ do SĐ 3 BB, sau trận đánh mấy ngày trước đã mỏi mòn trấn giữ.

Nhưng tới trận phục kích chót của quân CS vào BCH/LĐ trong đêm 30/4/72, trên đường rút quân của đơn vị tôi sau khi thành phố Quảng Trị đã thất thủ thì đơn vị tôi chính thức cũng đã bị xoá tên trong trận chiến. Hỏi làm sao không xóa tên tại chỗ được khi một Liên đoàn BĐQ như đơn vị tôi mà có những 18 sĩ quan bị bắt làm tù binh trong đó phải kể đến: Tiểu đoàn trưởng và TĐ phó TĐ 38 BĐQ, sĩ quan trưởng ban 3 LĐ, sĩ quan trưởng ban Truyền tin LĐ, bác sĩ (tôi), đại đội trưởng trinh sát của LĐ và bao nhiêu sĩ quan cấp thấp khác ở các ban ngành của cả BCH LĐ cũng như của TĐ 38 là TĐ đi bọc hậu cho LĐ trên đường rút quân. Dĩ nhiên tôi được biết sau nầy là sau khi tập trung lại ở Huế, LĐ được đưa về để “làm máy lại” tái tạo. bổ sung các cấp từ sĩ quan đến binh sĩ và tung vào hành quân 2 tháng sau đó. Còn chúng tôi, 18 sĩ quan xấu số, trên con đường định mệnh không biết sẽ đi về đâu, đang bị xỏ xâu vào nhau và lầm lũi bước đi về hướng Bắc.

Tôi viết hồi nãy là LĐ tôi có 18 sĩ quan bị bắt là do về tới chỗ tạm giam gặp nhau chớ còn lúc giải đi trên đường thì làm sao tôi biết được? Cá nhân tôi thì trừ một số ít sĩ quan trong đơn vị là tôi biết mặt, hầu như tất cả anh em tù binh ở Quảng trị tôi mới gặp đều như gặp lần đầu, tôi mới biết mặt họ mà họ cũng mới biết mặt tôi. “À, anh là bác sĩ mới về đó hả ? Tui có nghe mà chưa gặp, không dè mình gặp trong hoàn cảnh nầy, thiệt xui!!”

Nãy giờ tôi mãi nói về đơn vị tôi, thực sự ra, đoàn tù binh bị giải đi về hướng bắc nầy hàng mấy trăm người là ít gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ của mọi binh chủng có mặt trong trận Quảng Trị hồi tháng 4/72: TQLC, BĐQ, thiết giáp, bộ binh, địa phương quân, nghĩa quân và cả dân sự là mấy anh ở các ngành gọi là “ác ôn” dưới con mắt của CS như chiêu hồi, xây dựng nông thôn...

Tôi biết mình đi về hướng Bắc là vì dễ thôi, mặt trời bao giờ cũng mọc và ở suốt ngày bên tay phải tôi, có điều đi tới đâu thì mình không biết được, chỉ biết đôi chân quen mang giày dép, nay phải để trần dẫm lên sỏi đá, mỗi bước chân là hai hàng nước mắt chảy ra. Tôi không khóc đâu, nước mắt chảy là do cái đau đớn buốt lên từ lòng bàn chân bắn thẳng lên óc làm nước mắt tự động chảy thôi chớ phải nói, lòng căm giận đầy ngập trong tim thì dễ gì tôi khóc được?

Cái bụng thì cồn cào, từ hồi bị bắt tới giờ cũng đã 5, 6 ngày rồi còn gì mà tôi chỉ được có mấy nắm cơm vắt nhỏ xíu bằng bàn tay (mỗi bữa ăn là nửa vắt!), còn khát thì còn nói gì! Nắng, nóng, hoạt động (đi bộ ròng rã) mà không hề có nước uống, nhìn chung quanh mình, tôi thấy ai cũng ở vào tình trạng gọi là khát rã họng là đúng chữ nhất!

Đã vậy mà thôi đâu, trong khi hạ sĩ quan hay binh sĩ thì cứ chậm rãi đi thành hàng một, còn chúng tôi, sĩ quan đâu được như vậy. Chúng dùng sợi dây dài cột tay trái người đi trước vào tay trái người đi sau thành từng hàng dài cho tới khi nào sợi dây hết thì chúng dùng sợi dây khác nên không có con số nhất định mỗi xâu là bao nhiêu người mà chỉ do độ dài ngắn của sợi dây...

Tôi thì đi lọt vào áp chót của một sợi dây, vừa bước đi khập khiễng do đau 2 lòng bàn chân tột cùng, vừa đau đớn cho số phận của riêng mình kể gì nói cho hết.

Tuy lúc đầu lệnh của bọn cán binh là tù binh phải đi thành hàng một nhưng phải nói, do bị xâu chùm lại với nhau (với không biết có phải do lòng hai bàn chân của các sĩ quan thì “tiểu thơ” hơn anh em hạ sĩ quan và binh sĩ hay không?) mà đám tù sĩ quan đi chậm hơn đám tù đa số kia nhiều nên việc chúng tôi đi hàng xâu bên nầy song song với những anh lính của chúng tôi cách đó vài mét là thường. Có khi tên bộ đội đi gần đó mở miệng quát tháo, có khi chúng cũng mặc kệ mấy thằng tù, đi kiểu nào thì đi, miễn cứ đi là được rồi...

Từ lúc bị bắt đưa về cái nhà lá làm nơi tập trung đám tù binh mới bắt ngoài mặt trận cho tới ngày hôm nay, tôi đã bị đưa đi qua không biết bao nhiêu là cảnh vật thay đổi đủ kiểu. Chỗ gần nơi tôi bị bắt (sau nầy tôi mới biết là quận Hải lăng) thì có ruộng lúa, lúa cao ngang ngực như lúa sạ ở Đồng tháp Mười, còn giải đi thì lúc qua xóm Cửa Việt, chúng tôi đi dọc dài theo bờ biển cát êm mịn xinh đẹp với tiếng sóng vỗ rì rào. Nhưng cảnh vật khi họ dẫn chúng tôi từ phía đông QL 1 băng dần về phía núi rừng phía tây thì thay đổi hẳn, những đám rừng lúc trước giờ chỉ là những cây với những cành trơ trụi vì bom đạn làm tôi nhớ tới bài hát Sương trắng miền quê ngoại có 2 câu thơ:

Gio Linh ơi, đất thiêng chừ run rẩy
Tội lũ chim rừng không chỗ đậu vì bom...

Con đường càng đi về hướng Tây Bắc càng trơ trụi, sỏi đá khô cằn. Chỉ vài ngày đi bộ là tôi đã thấy thấm mùi đời lắm rồi nhưng ở trong tư thế không biết làm sao nên tôi cứ nhắm mắt mà bước theo những bước chân của những người bạn xấu số đồng cảnh của mình.
Tới buổi trưa hôm đó thì đoàn tù (hay đúng ra là cái xâu của tôi) đang bước chân qua một dòng nước nhỏ bề ngang chừng 1 mét. Ai cũng cố dừng lại để cúi người xuống hầu ké một ngụm nước và vì chúng tôi bị xâu lại với nhau nên sự bò xuống uống nước không thể làm cùng lúc bao nhiêu người được. Vì thế mới có sự trùng trình ở chỗ lạch nước nầy. Lúc tôi vừa uống nước xong thì có tên bộ đội nhóc đứng gần đâu đó cất tiếng:

-Chúng mầy có biết dòng nước nầy có tên gì không?

Khi không nghe ai trả lời cả (hoặc bận uống nước hoặc không bận cũng chẳng buồn trả lời làm gì) hắn ta nói tiếp, giọng oang oang đầy vẽ tự hào:

-Sông Bến Hải đấy chúng mầy ạ! Hễ chúng mầy bước qua nó là chúng mầy đã chính thức đặt chân lên miền Bắc xã hội chủ nghĩa của chúng tao rồi đấy!

Trong lúc tôi còn bàng hoàng vì đây chỉ là một lạch nước nhỏ xíu mà người ta có thể bước ngang được dễ dàng mà lại là thượng nguồn của một con sông lịch sử, con sông chia cắt hai miền Nam Bắc của nước mình từ mấy mươi năm qua bổng, hết sức bất ngờ ngoài sự tưởng tượng của tôi hay bất kỳ ai, một anh lính TQLC, chúng tôi biết anh là TQLC do tù binh vẫn còn bộ đồ lính trên người tuy lon lá đều đã bị tháo gở, anh ở trong đám binh sĩ đi gần chúng tôi, nhào lên bóp cổ tên bộ đội nhóc, vừa bóp cổ vừa gặc gặc cho cái siết cổ thêm mạnh trong khi miệng anh bật lên bao nhiêu là tiếng Đức, tiếng Đan Mạch, và đối tượng để anh chửi rủa là HCM, là “cha già kính yêu” của bọn bộ đội. Anh chửi rủa rất to tiếng trong khi nắm tay siết chung quanh cổ tên bộ đội như hai gọng kềm căm thù đã nung nấu từ hồi nào đến giờ, giờ mới có dịp phát huy.

Tên bộ đội cố hết sức dãy dụa, tuy tay còn cầm khẩu AK nhưng mọi thứ đều thành vô dụng trong lúc nầy. Rồi một tên bộ đội khác nhanh chân chạy đến, bắn ngay một phát súng vào chân anh lính TQLC, anh đau đớn nên lỏng vòng tay và tên bộ đội vùng thoát ra được, hắn không ngần ngại đá một phát vào anh lính lúc nầy đã nằm xuống đất...
Sự việc viết lại tưởng như dông dài nhưng thực ra đã diễn ra trong chớp mắt trước sự ngỡ ngàng của đám tù binh chúng tôi. Rồi đám bộ đội đã tụ tập đến chung quanh anh lính miền Nam, một tên có vẻ là cao cấp nhất trong bọn đã nói gì không rõ với lũ thuộc cấp, sau đó hắn quay sang chúng tôi, ra lệnh mở trói xâu cho 2 sĩ quan tù binh ở cuối xâu và... tôi là một trong hai sĩ quan tù binh đó. Hắn ra lệnh cho đám bộ đội kia rồi không biết lấy ở đâu ra mà ngay sau đó vài phút là một tên đã đưa đến cho chúng tôi một cây đòn dài, một tên khác thì đưa chúng tôi một cái võng rồi tên chỉ huy ra lệnh cho 2 anh em chúng tôi “cáng” anh lính đi tiếp.

Tôi thì vì phản xạ nghề nghiệp nên khi vừa được “mở xâu” là đã chạy ngay đến anh lính TQLC đang nằm dưới đất để xem xét vết thương của anh nhưng ngay lập tức, một tên bộ đội đã xua tôi đứng dậy để làm nhiệm vụ cáng anh TQLC. Tuy nhiên trong một tích tắc đó, tôi cũng đã thấy được anh lính thần sắc đã tả tơi sau mấy ngày làm tù binh cho bọn chết đói, bộ quân phục sọc ngang cố hữu của binh chủng oai hùng ngày nào giờ cũng xác xơ giống như chủ nó, và viên đạn đi vào đùi anh lính, tôi đã không nhìn kịp coi có lỗ đạn ra hay không cũng như không thử mạch nên không biết có trúng động mạch đùi không và hơn hết, không biết cái chân có còn nhúc nhích được không nữa. Tuy nhiên, tôi cũng đã xé được từ cái áo thun của chính tôi được một miếng vải để cột ngay phía trên vết thương trong khi miệng thì nói với mấy thằng bộ đội:
- Mấy anh muốn cáng anh nầy thì ít ra cũng phải để cho tôi băng bó sơ anh ấy cái chớ...

Một tên bộ đội thì nói:
- Thường ngày chúng mầy là sĩ quan quen nạt nộ lính, hôm nay cho chúng mầy cáng lính của chúng mầy để đền tội...

Trong khi tôi băng bó cho anh lính TQLC thì anh bạn tù sĩ quan của tôi (anh thuộc SĐ3BB, rất tiếc tôi không còn nhớ tên anh) đã nhanh nhẹn cột hai đầu cái võng vào cái đòn dài để hoàn thành cái cáng tức là có sau đó, chúng tôi sẽ gánh anh thương binh nằm trên đó.

Nhưng khi chúng tôi mở cái võng ra cho ngay ngắn và sửa soạn để khiêng anh thương binh đặt lên thì anh đã nói:
-Tui cám ơn mấy ông lo cho tui nhưng tui làm là tui chịu, tui hổng có làm phiền tới mấy ông đâu. Mấy ông cứ đi đi, tui hổng để mấy ông khiêng tui đâu...

-Anh nói gì lạ vậy, tôi nói. Anh để chúng tôi khiêng anh đi, ít ra tới chỗ nào đó mình mới có thể có phương tiện chữa cho anh được chớ.
Nói qua nói lại gì thì nói, hai lần chúng tôi đặt anh thương binh lên võng, hai lần anh đều lăn ra khỏi cái võng. Bọn bộ đội quay quần chung quanh nóng ruột, chúng hối thúc chúng tôi liền miệng nhưng - tôi nhớ đời câu nói nầy - anh thương binh nói:
-Mấy thằng VC nầy nói cái gì sinh Bắc tử Nam, tui thì dốt thiệt nhưng quyết sinh Nam tử Nam, tui không phải như mấy ông để tụi nó dẩn ra ngoài Bắc để hành hạ rồi chết ngoài đó đâu. Đây nè, tay tui còn xâm 2 chữ “Sát Cộng”, mấy ông tưởng tui sợ chết mà chịu sống chung với tụi chó đẻ nầy hả?

Tới đó thì bọn bộ đội chịu hết nổi, tên chỉ huy bèn quát:
-Thôi hai thằng nầy về hàng trở lại đi để thằng nầy lại cho chúng tao!

Bọn bộ đội đưa 2 thằng tù sĩ quan trở về xâu trở lại rồi ra lệnh tiếp tục lên đường. Tôi còn cố nhìn lại anh thương binh TQLC đang nằm dưới đất, cổ còn cố ngểnh lên để nhìn theo chúng tôi như tiển, như đưa... Bọn cán binh CS thì bàn soạn xì xào...

Được một khoảng xa vài trăm thước, tôi nghe một tiếng súng nổ ở phía sau. Chỉ một tiếng súng nổ phá tan cái yên tĩnh của buổi trưa hè mà như đã phá nát cái định kiến cố hữu vẫn có trong lòng tôi, anh lính TQLC, tuy vì lý do thiếu văn hoá một chút nên dùng toàn những từ ngữ máy nước để chửi bọn CS nhưng đã đánh thức dậy trong tôi, đã nói vào tri thức tôi rằng, những tự hào tôi đã và đang có là một người ngang tàng không biết sợ, với cái học vấn hơn người thường một chút để tự cho mình là một người trí thức, hay nhìn xuống những người không được may mắn có cái học vấn của tôi hay các sĩ quan khác, phải đi hạ sĩ quan hay binh sĩ và cho họ là những người không đáng được kính trọng, họ chỉ là để phục vụ cho chúng tôi, các sĩ quan ăn trên ngồi trước, tất cả những suy nghĩ đó đều sai hết. Chỉ có một kết luận duy nhất, tôi là một thằng hèn, tôi đã vì sự sống của chính tôi, vì gia đình và vì... tiếc của đời, tôi đâu có dám làm như một anh lính thường ở đơn vị TQLC, không chấp nhận sinh Nam tử Bắc, thẳng tay chửi bới già Hồ để ung dung đi vào cõi chết!

Cái chết của anh là một bài học lớn cho tôi mà suốt đời, tôi đã không bao giờ dám quên. Từ đó, tôi đã không bao giờ coi lon lá nhà binh, bằng cấp bỏ trong túi hay tiền tài vật chất có trong cuộc sống là thực sự giá trị con người (có ở hoàn cảnh khốn cùng mới thấy lon lá hay ông lớn chừng nào lại dễ thành thằng hèn, thằng ăng-ten chừng nấy).

Chỉ có Danh Dự, xin dùng chữ hoa ở đây, mới xác định giá trị con người. Xin cám ơn anh, một người tôi đã không được hân hạnh biết tên biết tuổi, đã dạy cho tôi một bài học vô cùng thắm thía mà suốt đời tôi sẽ ghi nhớ trong lòng.

Nước mắt chảy dài trên má tôi, lần nầy không phải vì cái buốt đưa lên từ hai bàn chân đi đất mà là từ trái tim, khối óc chợt nhận ra cái hèn không dám chết của mình.

Nguyễn Ngọc Ấn
Về Đầu Trang Go down
minhle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Tue Apr 21, 2015 8:39 am


Thiếu úy Huỳnh Văn Thái và bảy người lính Nhảy Dù

Thiếu úy Huỳnh Văn Thái và bảy người lính Nhảy Dù dưới quyền đã chọn cái chết để đền nợ nước ngày 30/4/75.

Tốt nghiệp từ trường Bộ Binh Thủ đức (khóa 5/69), Huỳnh Văn Thái đã chọn binh chủng Nhảy Dù. Ai không sợ chết, nhưng nếu phải hy sinh tính mạng mình cho tổ quốc thì đó lại là một vinh dự không phải người nào cũng làm được như Thiếu Uý Huỳnh Văn Thái và bảy chiến binh Nhảy Dù thuộc quyền anh đã chứng minh

Tôi không biết nhiều về các anh nhưng sự lựa chọn của các anh đã tạo nên một thiên anh hùng ca bất tử bởi vì dứt khoát không dễ dàng chấp nhận đi vào cái chết một cách bình thản. Vậy mà các anh đã làm được điều đó. Tôi buồn rầu thú nhận rằng tôi đã không có được dũng khí như các anh để rồi giờ đây ngày qua ngày sống trong hổ thẹn tầm thường.

Tất cả nhân vật trong câu chuyện của tôi chỉ là hư cấu. Ngoại trừ Thiếu Úy Thái, những anh hùng còn lại không lưu một dấu tích nào. Các anh tên gì, bao nhiêu tuổi, sinh quán ở đâu, cha mẹ vợ con anh em ra sao?

Đội chiếc nón với hàng chữ Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm, các anh đã thực thi đúng từng nét và hành động của các anh đã chứng minh quân đội VNCH là một Quân Đội Anh Hùng.

Phúc cho đất nước đã nuôi dưỡng các anh, phúc cho cha mẹ đã sinh ra các anh, phúc cho quân đội, trường học đã tôi luyện các anh, phúc cho anh chị em cùng máu mủ với các anh và trên hết, phúc cho dân tộc Việt Nam đã có những người con như các anh

Tôi viết những giòng chữ này để bài tỏ lòng ngưỡng mộ đối với hành động anh hùng của các anh :Th/U HV Thái và bảy người lính Nhảy Dù anh hùng và biết bao Tử Sĩ đã chọn sự tuẫn tiết “ Thà Chết Không Đầu Hàng Giặc“ ngày 30/4/1975.

Thái ngồi xuống vệ đường. Anh bâng khuâng nhìn chung quanh những người đồng đội. Họ đã theo anh tới tận giờ phút này. Những người lính Dù mặt mày hốc hác, nhưng chưa nghe ai mở miệng thở than.

Thằng Tăng Thiện Minh, chín tháng làm Nhảy Dù mà mắt vẫn còn ngơ ngáo non choẹt. Học hết lớp chín tình nguyện ghi danh đi lính chỉ để được “đội Bê Rê Đỏ”. Nó xin làm đệ tử anh bởi vì “em khoái cái mặt ngầu của thiếu úy”. Thằng nhỏ mới mười chín tuổi, người Hoa, còn có bà mẹ ở Chợ Lớn và mấy anh chị em làm ăn khấm khá, sẵn sàng chi tiền để nó được ở hậu phương làm lính kiểng. Má nó khóc hết nước mắt khi nó cứ nhất định đăng lính.” Má à, tui đi lính rồi chừng nào hết diệc cộng tui dề dới má mà. Má khóc goài dậy?” Nó nhăn mặt, cố dấu mấy giọt nước mắt  .

Thái đốt một điếu thuốc. Anh lắc đầu từ chối chén cơm thằng Minh mới nấu. Thằng nhỏ cứ năn nỉ “thiếu úy ăn chút gì đi, từ sáng giờ…” Thật ra cả hai thầy trò chưa có gì trong bụng, nhưng Thái không thấy đói. Anh chỉ mệt. Thượng Sĩ Nguyễn Năm ngồi bệt xuống bên cạnh Thái. Ba mươi hai tuổi, là người già nhất trong trung đội. Quê anh ở tận ngoài Trung, Phú Yên . Mười hai năm đội mũ đỏ, trải qua biết bao chiến trường đẫm máu vẫn sống sót. Một vợ ba con giờ không biết lưu lạc nơi đâu từ lúc cuộc di tản mở màn. Năm hỏi nhỏ “ Tính sao thiếu úy?”.Thái trả lời “ Từ từ ông ơi, biểu tụi nó nghỉ ngơi chút đi” . Anh kính trọng người thượng sĩ mà lính trong trung đội thường gọi đùa danh xưng Bố Già. Kính trọng tuổi tác và kinh nghiệm chiến trường , mấy lần đổ  máu.

Thái đứng dậy, anh bước tới chỗ một người lính đang nằm ngủ thoải mái ngay dưới  tàng cây. Anh đá vào đùi người lính:
-Ê Hưng, đưa tao điếu thuốc mày.

Người lính ú ớ :
-ĐM để ngủ chút coi!
-Ngủ chàng hảng như mày việt cộng nó thiến dái.

Hưng dụi mắt, nó ngồi nhỏm dậy khi nhận ra Thái:
- Xin lỗi ông thầy, tại mệt quá!
– Lỗi phải gì mày ơi, cho tao điếu thuốc coi.

Thằng nhỏ nhoẻn cười, móc gói Quân Tiếp Vụ nhàu nát trao cho Thái. Cũng như Tăng Thiện Minh, Trần Ngọc Hưng chỉ mới vừa mười chín tuổi. Quê Hưng ở đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Bạc liêu. Không nhậu nhẹt, nhưng khi có độ thì nốc rượu đế như uống nước lã. Hưng học đến lớp mười một, thi rớt Tú tài nhưng từ chối đi học Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Thằng Minh vẫn thường chọc “ĐM mày ngu, mang lon Trung Sĩ không đã hơn làm lính trơn sao?” Hưng chỉ cười hềnh hệch “Tao khoái đội mũ đỏ hơn đeo cánh gà Bộ Binh”

Thằng Cậy xốc lại dây ba chạc, túm lấy cục đá nhỏ chọi về phía Hưng. Tụi nó vẫn còn rất con nít, dù đứa nào đụng với việt cộng ít nhất cũng một lần. Nguyễn Cậy, Bắc Kỳ di cư năm mươi tư, con ông Nguyễn An và bà Trần thị Mùi. Cậy nhỏ người, nhưng rất chắc thịt. Nó đã từng vác một thằng bạn bị thương chạy mấy cây số đường rừng để trở về đơn vị. Công Giáo chính tông, hễ ở hậu cứ thì nó chẳng bỏ ngày lễ Chúa Nhật nào. Có lần Thái thấy nó lần chuỗi bằng ngón tay, miệng thì lâm râm đọc kinh. Đợi cho nó cầu nguyện xong, Thái hỏi đùa “ Mày bắn việt cộng mà đọc kinh cái gì?” Cậy bẽn lẽn “Thầy me em bảo thế, mà em không bắn chúng thì chúng cũng chẳng để em sống” . Hai mươi hai tuổi đời, chưa từng một lần yêu, lính Nhảy Dù mà cứ gặp em gái hậu phương thì mặt đỏ như gấc. Chưa bao giờ Thái thấy Cậy đánh lộn trong đơn vị, trong khi hễ về thành phố thằng Minh và thằng Hưng lại đi kiếm chuyện với tụi sắc lính khác hoặc Cảnh Sát Dã Chiến. Cậy luôn sẵn sàng bênh bạn, cứ nghe rủ là đi. Mà nó đánh lộn ra gì, một mình nó có lần đã nện hai thằng CSDC nhừ tử. Bị Quân Cảnh Nhảy Dù bắt nhốt, Thái đã đi lãnh nó ra. Lúc gặp Thái nó lí nhí “Xin lỗi Thiếu úy“. Thái chửi “ĐM mày, tao đá mày chết mẹ mày cho chừa thói ba gai” (anh muốn chính anh “dạy” lính của mình hơn là để người khác làm nhục tụi nó.) Một lần Cây xách hai trái lựu đạn đi tìm bọn du đãng chỉ vì nghe thằng Hưng nói bị tụi nó chặn đường chém bằng mã tấu. Nó tâm sự suýt chút nữa thì nó đã nghe lời mẹ đi tu, cái thằng Bắc Kỳ Nguyễn Cậy hai mươi hai tuổi đời, ba tuổi lính tới giờ phút đó vẫn chưa biết đi chơi đĩ như thế nào. Tội nghiệp nó và những thằng như nó, chưa biết yêu đã biết cách giết người.

Thạch Sơn đang lúi húi gây lò lửa nấu cà phê. Thái nhìn những người lính chung quanh mình. Họ đã chia với anh từng điếu thuốc, từng ngụm nước. Họ là máu, là mủ của anh. Thái biết họ sẵn sàng nhảy lên đỡ đạn cho anh từ phát súng bắn tỉa của địch. Anh thương họ, và họ cũng thương anh. Anh nhớ mẹ, nhớ thằng em mười bốn tuổi ở nhà, chỉ hăm hở cho mau lớn để được đi lính Nhảy Dù. Anh nhớ lần anh đã nói với nó “linh Nhảy Dù khổ lắm mày ơi, lúc nào cũng chỉ  “Cố Gắng” ‘ mà thôi “. Nhảy Dù Cố Gắng, tâm niệm của binh chủng đè nặng trên vai người lính VNCH bốn mươi chín kí-lô-gam thịt cộng thêm gần ba chục kí-lô-gam trang bị. Anh có hối tiếc khi chọn binh chủng này chăng? Không! Thái biết rõ điều đó.

Thạch Sơn mang ly cà phê bốc khói tới trước mặt anh “Ông thầy húp một chút cho tỉnh” “Mày điệu nghệ quá Thạch Sơn” Thái mỉm cười thầm cảm ơn người lính. Thạch Sơn, Miên thứ thiệt, đeo sợi thẻ bài có kèm cái răng nanh heo rừng bự chảng. Quê Châu Đốc, Thạch Sơn không được đi học ngày nào, không biết chữ, mỗi lần lãnh lương phải điểm chỉ. Sơn là người ít nói nhất trong trung đội. Lầm lì, gan dạ, đánh nhau chỉ thích xung phong tuyến đầu. Cha bị việt cộng chặt đầu vì có chân trong hội đồng người Việt gốc Miên lúc Sơn chỉ mới mười ba tuổi. Mẹ Việt Nam bán cá khô ở chợ quận, mỗi lần lãnh lương lại nhờ Thái gởi tiền về cho mẹ. Chưa bao giờ nghe Sơn nói căm thù việt cộng, nhưng hễ  có đánh nhau mới thấy sự căm thù căng tràn trên đôi mắt Sơn. Nó như một con trâu cui nổi điên chẳng biết sợ chết là gì. Nhiều khi xung phong nó chạy trước, bỏ xa trung đội gần cả trăm thước. Nó chẳng bao giờ tâm sự bạn bè chỉ trừ có Thái. Nó nói “Tui coi ông thầy như anh tui” ”Vậy mày đưa tiền lương của mày cho tao xài đi“, Sơn bẽn lẽn “Tui không gởi tiền cho bà già thì tui đưa hết cho ông thấy rồi.” Người nó lực lưỡng, mình xâm đầy bùa chú chữ Miên. Vậy mà có lần Thái thấy nó khóc “Tui nhớ má tui quá ông thấy ơi…”

Thằng Cường la lên :
– Ê Sơn, pha nhiều nhiều cà phê cho tao ké với
– Mày muốn uống thì pha lấy mà uống, thằng làm biếng!” thằng Hưng lên tiếng.
– Ông nội mẹ mày nghe Hưng, Việt cộng nó xả AK vô đầu mày nghe Hưng

Hưng trả lời.:
– Nó có tới được đây thì tao cũng bắn chết mẹ nó rồi

Mấy thằng nhỏ như chó với mèo, chửi nhau hàng ngày. Chửi đó, nhưng đứa nầy sẵn sàng sống chết cho đứa kia, giữa chúng nó như có một sợi giây vô hình buộc chặt lại với nhau. Cường người SaiGon, quận Tư, tính tình hệch hạc, cười nhiều nói nhiều, nó thường chọc thằng Cậy “ mấy thằng Bắc kỳ rau muống ăn cá rô cây“. Rồi nó ngân nga “Bắc Kỳ ăn cá rô cây, Ăn nhằm cứt chuột chết cha Bắc kỳ“. Thằng Cậy trả đũa “Địt Mẹ mày thằng Nam Kỳ giá sống, sẽ có ngày ông đổ mắm tôm vào cái mồm thối của mày.“

Trước đây Cường ra bùng binh Saigon đăng TQLC. Ở quân trường vài tuần rồi trốn về nhà. Lần sau nó lại mò ra bùng binh Saigon lần nữa. Lần này nó chấm Thiên Thần Mũ đỏ. Lý do nó bỏ TQLC vì nó sợ nước, sợ phải học bơi lội.

Nguyễn Văn Cường, cái tên rất bình thường, có thể trùng hợp hàng triệu người Việt Nam trẻ khác. Nhưng Cường không bình thường– theo cái nghĩa bình thường - nó thích chiến trận, thích đánh nhau. Chỉ vì nó ham sôi động chứ không phải nó thích giết người. Nó có hàng trăm biệt tài mà một trong số đó là gài mìn bẫy. Mỗi lần đóng quân trong rừng thế nào cũng có vài con ”nhạn là đà” vướng vào bẫy của nó. Cùng tuổi với thằng Cậy, nhưng Cây nghiêm trang báo nhiêu thì Cường lại chọc phá đùa giỡn bấy nhiêu. Cường có người yêu tên Nguyễn Thị Đoan Trang, nữ sinh Gia Long, lớp mười một. Mỗi lần nhận được thư nàng nó khoe với cả trung đội. Trắng, nhỏ nhắn, có mái tóc dài và đôi mắt đẹp. Nó tâm sự với Thái “Kỳ này chắc em lấy nó quá thiếu úy, dự đám cưới của em nghe thiếu uý “. Binh nhất Nguyễn Văn Cường cũng có những giây phút không đùa giỡn chút nào.

Y Kron, đen như khúc than Nông Sơn. Để nó đứng cạnh Thạch Sơn không biết thằng nào chiếm giải nhất về màu da lọ nghẹ. Xạ thủ M60 của trung đội, sức nặng khẩu súng và mấy dây đạn đeo chung quanh người, chẳng thấm tháp gì với tướng tá dềnh dàng, cao lớn. Y Kron không hút Quân Tiếp Vụ, nó có loại thuốc lá riêng , mùi ngay ngáy như cỏ khô. Dân tộc Thượng Ra Đê, nhưng nói tiếng Việt rành rọt, dù vẫn còn âm điệu của người miền núi. Hai mươi bảy tuổi, một vợ hai con, đứa lớn nhất vừa tròn năm tuổi.

Y Kron thường ngồi một mình, hút thuốc nhìn về phía xa vời nào. Đôi lúc Y kron cất lên vài câu hát của người dân tộc buồn tha thiết. Thằng Hùng vẫn thường chọc “Dm Y kron mày hát cái đách gì vậy, ông nội tao cũng không hiểu nổi “ , hắn chỉ cười vu vơ. Có lần Thái hỏi dò:
– Mày có muốn đào ngũ về nhà với vợ con không Y Kron?”

Hắn nhìn thẳng vào mặt Thái :
– Ớ ông thây, tui thương cái lính nầy a, tui ghét cái việt cộng a, tui thương mấy thằng nầy, tui thương ông thầy. Cái vợ cái con tụi tui cũng thương mà tui không đào ngu đâu...

Thái biết Y Kron nói thật. Anh cố gắng hết sức để xin cho Y Kron được về phép. Nhưng tình hình chiến sự kiểu này chắc cũng còn lâu. Lần cuối cùng Y Kron cầm giấy phép về thăm gia đình vợ con chính hắn không nhớ nổi.



Có tiếng súng xa xa vọng lại. Thái nhổm dậy, bảy người lính trong trung đội cũng hành động như anh. Họ chụp lấy súng vào thế tác chiến. Huỳnh Văn Thái, hai mươi sáu tuổi, Thiếu Úy Nhảy Dù Quân Lục Việt Nam Cộng Hòa. Sĩ quan trung đội trưởng tốt nghiệp khóa 5/69 trường Bộ Binh Thủ Đức với thứ hạng trung bình. Tình nguyện về Nhảy Dù sau khi ra trường. Má đã không dấu được nỗi lo âu khi thấy con mặc đồ rằn ri, đội bê rê đỏ về thăm má. Trước đây khi Thái chưa vào quân trường, bà vẫn tụng kinh gõ mỏ trước bàn thờ Phật ngày ba lần. Số lần tụng niệm tăng lên khi Thái chính thức gia nhập quân đội. Bây giờ, nhìn con trong bộ quân phục bà chẳng còn thì giờ để làm gì nữa ngoài việc ngồi suốt trước bàn thờ khấn xin cho con được bình an. Thái thương mẹ, nhưng biết làm sao? Anh yêu điều anh đã lựa chọn. Ba anh, bình tĩnh hơn, chỉ khuyên anh nên cẩn thận. “Thưa ba, con biết, nhưng đạn tránh mình chứ mình làm sao tránh được đạn?” Thái nhớ má, nhớ những lần về phép nhìn thấy mặt má vui lên, má cứ tíu tít quanh anh hỏi han dồn dập “Có mệt không con, có đói không con, con về bao lâu?” Má không muốn anh trả lời, má chỉ muốn anh cảm nhận tình mẹ thương trào ra từ trái tim của má.

Thế nào rồi má cũng nấu cho anh nồi canh chua thật nhiều ớt như anh vẫn thích. Má ơi, con nhớ má quá.

Thái không thể quên được gương mặt buồn rầu lo âu của má ngày anh phải trở về đơn vị. Anh ôm má thật chặt, anh không muốn nhìn thấy má khóc, bởi vì anh biết mình cũng sẽ khóc theo. Thiếu úy Nhảy Dù không thể mềm như con gái. Thằng em anh cứ quấn lấy anh, nó không nói gì hết, nhưng anh nhìn thấy ánh mắt đầy ngưỡng mộ của nó. Nó thích đội bê rê đỏ trên đầu. Rồi đây nếu chiến tranh còn kéo dài, mà sẽ còn phải khóc để đưa thêm một đứa con vào trận chiến.

Cả trung đội căng mắt nhìn trước mặt. Bảy người lính Nhảy Dù cùng với trung đội trưởng của họ sẽ giữ vững phòng tuyến cho tới viên đạn cuối cùng. Nhảy dù cố gắng, họ đã cố gắng tới tận cùng từ ngày đội lên đầu chiếc mũ đỏ. Cố gắng nằm chịu dưới mưa đạn pháo kích của việt cộng, cố gắng lấy một chống mười trên những trận tuyến máu tràn mặt đất. Cố gắng cõng bạn bị thương chạy về đơn vị khi bị tràn ngập. Còn một hơi thở lính Nhảy Dù còn phải cố gắng. Việt cộng biết điều này, họ vẫn cố tránh nếu có thể để khỏi đụng với Nhảy Dù. Đường xâm nhập từ Bắc vào Nam có ba điều làm họ sợ hãi: B52, Biệt Cách Nhảy Dù và Nhảy Dù. Sinh Bắc Tử Nam là điều chắc chắn nếu lính Cộng Sản gặp một trong những hung thần trên.

Một gương mặt thoáng hiện lên trong đầu óc Thái. Hồ thị Cẩm Vân, sinh viên Chính Trị Kinh Doanh năm thứ hai Viện Đaị Học Đà lạt. Họ gặp nhau tình cờ, yêu nhau tình cờ và nay thì xa nhau cũng rất tình cờ.Thái không biết bây giờ Vân và gia đình đang ở đâu kể từ ngày cả miền Nam phải di tản chiến thuật. Lúc trước phương tiện liên lạc giữa họ là thư từ, nay thì không còn nữa. Vân mảnh mai như một dải lụa, giọng nói miền Trung xứ Huế ngọt ngào. Có lần Thái hỏi đùa: ”Anh Nam Kỳ giá sống, em Trung Kỳ mắm ruốc, vậy mai mốt con mình nó sẽ là cái gì... kỳ? chắc nó sẽ kỳ cục quá!!” “Ơi anh nầy, ốt dột quá“ Vân dẫy nẫy.

– Coi lại cây M72 của mày đi Thạch Sơn, tụi nó có tăng đó.

Thạch Sơn cười, tay lắc lắc chiếc nanh heo:
– Ông thầy khỏi lo, tui nhắm không có trật mà
– Đm thằng nào ngon dô đây! - tiếng thằng Hưng phụ họa.

Cả trung đội mấy chục người nay chỉ còn có tám thầy trò với nhau. Thái nhớ thằng Hòa, tình nguyện ở lại cản đường , chỉ kịp quẳng hai trái lựu đạn nổ được một băng M16 thì chết. AK cày nát ngực nó. Hòa chết, mặt nhăn nhó thảm hại, nằm chàng hảng giữa đường. Bạn bè cố gắng đào một lỗ cạn chôn tạm. Trung đội mất liên lạc, tự tìm lấy cho mình phương thể ứng xử. Giờ thì chỉ có một con đường – Mầy ngon mầy dô đây – Thái nghiến răng. Anh kiểm tra lại vũ khí. Mỗi người lính Dù còn lại bốn băng, hơn chục trái lựu đạn, hai M72, một M60 với hai dây đạn. Vậy là có đủ vốn để chơi rồi. Kỳ này thế nào anh cũng có lời.

” Mở liên lạc coi,…” Thái hy vọng sẽ còn một cấp trên nào, một đơn vị nào có thể liên lạc được. Ít nhất lúc đó anh sẽ dễ tính toán hơn. Tiếng se sẻ từ máy PRC25 của thằng Minh vẳng ra khi nó đang cố dò tần số.

Bỗng nhiên từ máy phát ra tiếng nói “Tôi Dương Văn Minh. Yêu cầu anh em bỏ súng chờ bàn giao…” Cái gì? Thái la lên ”Vặn lớn lên coi Minh… Chờ bàn giao….” Thằng Cậy mếu máo:
– Mình thua rồi thiếu úy ơi ,

Thằng Hưng hét lên :
– Thua cái con C. –  nước mắt nó chạy dài trên gò má.

Thạch Sơn quăng ca cà phê mặt tái mét. Thái cảm thấy lùng bùng lỗ tai. Cái gi? thua à? thua việt cộng à? đã đánh đâu mà thua? anh nhớ tới những người lính trong trung đội đã chết, anh nhớ tới Hoa, tới Bằng, tới Tốt. Máu anh căng tràn trong cơ thể. Anh ước anh có thể nổ một phát súng vào đầu Dương Văn Minh.

Thái hit một hơi dài cố lấy lại bình tĩnh. Tính mạng của bảy người lính còn lại ở trong tay anh. Thượng sĩ Năm lo lắng hỏi “Tính sao thiếu úy?” “Còn tính sao nữa, buông súng đầu hàng thôi“ Thái gắt gỏng. Thật ra anh đã có một lối thoát cho chính mình. Anh thở dài, nhìn mấy người lính “Tụi bay lại đây“. Họ quây quần chung quanh anh. Thái bình tỉnh nói:
– Tụi bây nghe rồi đó, mình là lính, lệnh trên sao thì mình phải theo. Giờ phút này mình thua rồi, tụi bây bỏ súng xuống, rồi thằng nào muốn về nhà thì cứ đi. Không ai chỉ huy ai nữa. Tụi bây hiểu chưa?
– Ơ tui không biết cái đầu hàng a, tui ghét việt cộng, tui đánh chết việt cộng, tui không đầu hàng, Ykron lên tiếng.
– Giờ phút này tao hết trách nhiệm, tụi bây cứ về nhà
– Vậy còn thiếu úy tính sao? Thằng Minh mếu máo
– Tao ở lại. Đm bắn hết đạn tao tự xử tao
– Em theo ông thầy,  – thằng Minh la lên.

Thằng Hưng cười toe toét :
– Ông thầy, cho em bắt tay cái, mình Nhảy Dù mà ông thầy.

Thằng Cường rút trái lựu đạn ngắm nghía :
– Thua việt cộng nhục lắm ông thầy, còn mày, mày tính sao Sơn?”

Thạch Sơn lẩm bẩm :
– Ai sao tui vậy
– Rồi ai làm bậy mày cũng làm theo hả Sơn? Cường cười toe toét. Đến nước này mà nó vẫn còn giởn được.

Thái nghiêm nghị :
– Anh em hãy suy nghĩ cho kỹ, phần tôi thì xong rồi, nhưng anh em còn có gia đình để lo. Tôi không muốn vì tôi mà anh em suy nghĩ ẩu tả. Lần đầu tiên Thái gọi họ là anh em và xưng tôi.
– Tôi chọn màu áo này để chiến đấu, tôi cũng sẽ chết với màu áo này. Tôi không thể đầu hàng, không chịu thua.
– Lính Nhảy Dù đâu có chịu đầu hàng , ông thầy. Thằng Minh nói.

Thái quay sang thượng sĩ Năm :
–  Còn phần anh, về với vợ con anh đi anh Năm, và bỏ qua cho những gì mà tôi đã làm anh buồn
— Thiếu úy, thật sự tôi khuyên thiếu úy và anh em suy nghĩ cho kỹ. Còn đánh đấm gì được khi lãnh tụ tối cao đã đầu hàng. Nhưng thật tình mà nói, tôi không thể bỏ anh em. Cả trung đội như huyết nhục của tôi, nay chỉ còn lại mấy mạng, làm sao tôi bỏ đi được. Tùy thiếu úy, nếu ông ở lại, tôi cũng ở lại.

Cả đám nhao nhao sau lời nói của Nguyễn Năm, Thượng Sĩ Nhảy Dù bị thương tích, nhưng vẫn sống sót qua bao trận đánh “Chơi tới luôn đi thiếu uý“.

Thái đưa mắt nhìn, giọng anh đầy xúc động:
– Cảm ơn anh em, Nhảy Dù Cố Gắng
– Nhảy Dù Cố Gắng, cả nhóm hét lên.

Thái vạch kế hoạch :
– Sức mình có thể chơi dài dài được, mình nằm đây chờ nó. Hễ xe tăng nó vô thổi cho hai trái M72. Cứ dùng lựu đạn khử mấy thằng tùng thiết. Tập trung hỏa lực M60 với M16, nhưng đừng phí đạn dược. Làm được không tụi bây?
– Nhảy Dù Cố Gắng mà ông thầy.

Thái căng mắt nhìn về phía trước. Anh đã quyết định và tự nhiên anh cảm thấy thanh thản. Anh chưa từng tâm sự với ai về lý do anh đã chọn Nhảy Dù. Anh đã nhìn thấy những người lính Mũ Đỏ chiến đấu như thế nào trong trận Tết Mậu Thân. Anh cũng đã nhìn thấy hình ảnh những người lính Dù miền Nam, binh chủng mà bọn Việt cộng vẫn tuyên truyền thích ăn gan uống máu tù binh, đút từng miếng bánh cho VC bị bắt, đốt cho họ từng điếu thuốc. Tính chiến đấu dũng mãnh làm địch khiếp sợ nhưng lại rất nhân đạo khi đối phương đầu hàng đã làm Thái cảm phục và ngưỡng mộ. Anh chọn chiếc nón đội trên đầu, anh phải bảo vệ  danh dự cho chiếc nón đó

Tám người lính chờ đợi. Họ không nhìn thấy quân thù tiền về hướng họ. Anh không thể chờ đợi mãi, anh cũng không thể buông súng. Anh chỉ còn một cách:
– Anh em sẵn sáng chưa?
– Sẵn sàng rồi thiếu úy
– Lời cuối tôi muốn nói với anh em: Tôi cảm ơn anh em đã theo tôi đến tận giờ phút này. Nước mình đã mất, tôi đã không làm tròn bổn phận với Tổ Quốc Dân Tộc. Tính khí tôi cũng không cho phép tôi đầu hàng chịu nhục với kẻ thù. Nay tôi chọn cho riêng tôi cái chết để đền nợ nước. Thái ngắt lời, giọng anh run run vì xúc động “Tôi biết anh em cũng có cùng ý nghĩ, nhưng giờ phút chót anh em vẫn có quyền quyết định, và bất cứ quyết định nào của anh em tôi cũng tôn trọng. Tôi không oán trách anh em gì hết.

– Em theo ông thầy, Thằng Hưng mếu máo
– Em cũng vậy,

Thằng Cậy, thằng Cường tiếp lời.
– Còn tao, tụi bây bỏ đi đâu?

Tới phiên Tăng Thien Minh, người Việt gốc Hoa, nhà có của ăn của để, nhung khoái làm “Nhảy Dù” hơn lính kiểng
– Ơ, tui thương cái ông thầy, cái ông thầy đi đâu tui theo đó, Y Kron quả quyết.
– Chết thì thôi, sợ gì, Thạch Sơn mân mê chiếc nanh
– Đây là lần đầu tiên tôi thua mấy thằng việt cộng, thiếu úy . Thượng Sĩ Nhảy Dù Nguyễn Năm uể oải.
– Được rồi, vậy anh em quây quần lại đây, Thái nói, giọng anh tỉnh táo đến đáng sợ:
– Tôi sẽ đếm một hai ba rồi tôi sẽ rút chốt hai trái lựu đạn. Đó là cách cuối cùng anh em mình sẽ đi với nhau. Anh em đồng ý không?

Bảy người lính gật gù, họ tự động làm thành một vòng tròn, người nầy sát với người kia. Đến phút cuối họ vẫn còn muốn ôm được nhau trong vòng tay.

Thái nhớ đến má, nhớ đến ba, nhớ đến đứa em trai. Hết rồi nhóc ơi, hết còn cơ hội đăng lính Nhảy Dù, hết còn cơ hội đội nón bê-rê đỏ. Chăm sóc ba má dùm anh nha nhóc. Ba ơi má ơi, con sẽ về thăm ba má trong mơ. Vân ơi, anh yêu em

– Thượng Sĩ Nguyễn Năm chợt nhớ kỳ lương tháng này ông đã kịp gởi về cho bà xã. Vậy là mẹ con nó cũng ấm cúng. Ông không buồn, ông chỉ hận vì bao nhiêu năm đánh nhau đây là lần đầu tiên ông thua trận.

– Binh nhất Tăng Thiên Minh mỉm cười. Ít nhất cũng được chết trong quân phục Nhảy Dù. Minh nói thầm với má “ Má à, con dề dồi nè, má đừng khóc nữa”

– Binh nhất Trần Ngọc Hưng cười toe toét ” Giởn chơi sao em , anh đâu có đào ngũ, bỏ bạn bè với ông thầy của anh được. Không sao, anh sẽ về thăm em luôn, nhớ chăm sóc ba má dùm anh”

– Hạ sĩ Nguyễn Cậy đọc một kinh Lạy Cha, ba kinh Kính Mừng một kinh Sáng Danh để Vinh Danh Thiên Chúa “ Lạy Chúa con ,con xin phó thác linh hồn con trong tay Chúa. Xin Chúa gìn giữ thầy mẹ con. Ave Maria con yêu kính mẹ.”

– Binh nhì Nguyễn Văn Cường. chợt nhớ mình còn thiếu tiền hai ly cà phê đá chưa trả lần dưỡng quân kỳ trước. Bé Ba ạ, thông cảm cho lính đi em.

– Hạ sĩ nhất Ykron mắt bâng quơ nhìn xa xa, miệng thì thầm lời hát quê hương rừng núi. Trong đầu người lính Thượng chất phác chỉ hiện lên ý nghĩ “Ơ tui ghet việt công”

– Trung Sĩ Thạch Sơn mân mê chiếc nanh heo rừng “Tao sẽ đầu thai trở lại để chơi tiếp với tụi bay”

Tiếng đếm của Thiếu úy Nhảy dù Huỳnh Văn Thái, hai mươi sáu tuổi đời, gần sáu tuổi lính hãnh diện dã chiến đấu tới cùng cho Tổ Quốc với Danh Dự và Trách Nhiệm nghe rõ mồn một “Một, hai, ba…”. Và đến tiếng thứ ba, anh rút chốt lựu đạn…

nguoiviettudo

Về Đầu Trang Go down
minhle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Thu Apr 23, 2015 10:44 am




Trần Công Minh, xạ thủ trực thăng chết trẻ

Huy Phương/Người Việt

Trong bài báo “Muôn Dặm Tìm Chồng” nói về trường hợp bà quả phụ phi công Nguyễn Diếu đăng trên nhật báo Người Việt vào Tháng Mười Hai, 2012, chúng tôi có nhắc lại bản tin của AP về chiếc trực thăng rơi tại Hạ Lào:

“Vào ngày thứ ba của cuộc hành quân 719 Lam Sơn (10 Tháng Hai, 1971), một trực thăng UH-1 Huey của VNCH bị bắn rơi tại Hạ Lào. Tất cả những người có mặt trên chuyến bay này đều bị tử nạn, gồm Ðại Tá Cao Khắc Nhật trưởng phòng 3, Trung Tá Phạm Vi, trưởng phòng 4 thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, hai phi công là Trung Úy Nguyễn Diếu, Trung Úy Tạ Hòa và hai nhân viên phi hành đoàn là T.S. Cơ Khí Nguyễn Hoàng Anh, H.S. Xạ Thủ Trần Công Minh thuộc Không Ðoàn 41-Phi Ðoàn 213-Sư Ðoàn 1 Không Quân đóng tại Ðà Nẵng. Trên chuyến bay này còn có 4 phóng viên Mỹ là Larry Burrows của tờ Life, Henri Huet của AP, Kent Potter của UPI và phóng viên người Nhật Keisaburo Shirnamoto của tờ Newsweek.”

Một tuần sau đó, một người đàn ông đã tìm đến tòa soạn, khi không gặp chúng tôi, đã để lại một mảnh giấy nhắn tin, với lời cám ơn, là nhờ bài báo này, đã tìm ra tin tức của đứa em trong gia đình: Hạ Sĩ Trần Công Minh, xạ thủ trên chuyến trực thăng lâm nạn hơn 40 năm về trước tại Hạ Lào.

Trần Công Minh sinh năm 1951 tại Sài Gòn trong một gia đình rất nghèo. Thân phụ anh là một hạ sĩ quan phục vụ tại Ðại đội Quân Xa thuộc Bộ Tổng Tham Mưu tại Saigon, mẹ anh bán gừng trong từng buổi chợ để nuôi 8 đứa con. Năm 1968, sắp đến tuổi quân dịch, Minh theo người anh ruột, cũng là một quân nhân đang làm việc tại Quân Ðoàn I, ra Ðà Nẵng và tình nguyện vào Sư Ðoàn 1 Không Quân, phục vụ trong đơn vị phòng thủ, canh gác phi trường. Có lẽ Minh không thích đời sống an nhàn này, nhất là sau khi người anh ruột đổi về Saigon, Trần Công Minh tình nguyện ra tác chiến và trở thành một xạ thủ trực thăng của Phi Ðoàn 213 (Song Chùy) trong chuyến bay định mệnh bị hỏa lực phòng không Cộng Sản bắn rơi vào sáng ngày 10 Tháng Hai, 1971.

Người được tin Trần Công Minh tử nạn đầu tiên là thân phụ anh, người lính già ở hậu phương khóc đứa con trẻ ngoài trận chiến. Trần Công Minh tử trận khi mới hai mươi tuổi đời. Cũng năm này, thân phụ của Trần Công Minh giải ngũ và qua đời hai năm sau đó.


Trần Công Minh, người xạ thủ trực thăng chết trẻ trong chuyến bay bị bắn rơi tại Hạ Lào năm 1971. (Hình: Gia đình cung cấp)

Mẹ vẫn chờ con bên cửa

Sau khi liên lạc được với người anh ruột của Hạ Sĩ Trần Công Minh, chúng tôi có dịp gặp gỡ gia đình người tử sĩ không quân này trong một khu mobil home trên đường Westminter, thuộc thành phố cùng tên, và đã gặp được người mẹ già của anh, nay đã 94 tuổi. Với tuổi này, trông bà vẫn còn minh mẫn, tráng kiện, tai nghe rõ, mắt còn nhìn thấy người đối diện mà không cần đeo kính. Bà khoe với khách mới đến là bà còn xỏ được kim, dù là chỉ trắng hay chỉ đen. Các con nay gọi bà bằng tiếng “Cô” vì suốt 40 năm nay, bà đã xuống tóc, dùng chay, và siêng năng công phu tụng niệm mỗi ngày của một người tu sĩ.

 
Bà mẹ già thường ngày có thói quen ngồi, ngóng nhìn ra cửa. (Hình: Huy Phương/Người Việt)

Nhắc đến tên đứa con tử trận hơn 40 năm về trước, giọng người mẹ già nghe bùi ngùi, thương cảm. Tuy xót xa, đau khổ khóc lóc, qua một thời gian dài, tuy đã nhận giấy báo tử và gia đình đã lãnh tiền tử tuất, song người mẹ thương con, trước Tháng Tư, 1975, vẫn nửa tin nửa ngờ, nuôi hy vọng con mình còn sống, bị bắt làm tù binh tại Lào, bị đưa ra Bắc Việt. Sau năm 1975, khi được tin có nhiều tù binh được trở về nhà, người mẹ lại nghĩ rằng, có thể bị chấn thương ở đầu nên con của bà không còn nhớ gì dĩ vãng, nên không thể tìm đường về với gia đình.

Nỗi chờ đợi của người mẹ già mỗi ngày một mòn mỏi.

Chuyện chỉ xảy ra dưới chế độ Cộng Sản: Bị buộc làm đơn tình nguyện xin đi “cải tạo”

Năm 1971, bà đã mất một đứa con trai.

Năm 1978, đứa con trai kế của bà có giấy gọi thi hành nghĩa vụ quân sự. Sợ con phải đi Kampuchea, bà mẹ thương con gọi về nhà và tìm cách đưa con đi trốn, nhưng cuối cùng đứa con vẫn phải ra chiến trường, và bà mẹ thương con, tuy đã 60 tuổi, bị công an địa phương còng tay, bắt vào trại tù “lao động cải tạo” hai năm. Trong trại “cải tạo” này, không chỉ riêng có bà mẹ này mà còn nhiều cha mẹ già khác cũng vào tù để được “giáo dục” vì con chưa kịp ra trình diện.


Về sau, gia đình vì có người quen thuộc làm trong Viện Giám Sát Nhân Dân Gò Công, gia đình làm đơn khiếu nại lên ủy ban tỉnh, nhưng công an địa phương lại ép bà phải làm đơn tình nguyện xin đi “cải tạo” ký vào thời gian trước đó, để làm bằng cớ ngụy tạo, là không phải do công an bắt bà đi tù. Chúng dọa nếu bà không chịu ký đơn, chúng sẽ đày đứa con kế tiếp sắp đi nghĩa vụ đến một nơi nguy hiểm, xa xôi. Vì lòng thương con, bà mẹ đành phải gạt nước mắt, “điểm chỉ” trên lá đơn tình nguyện xin đi “cải tạo” để công an cho vào hồ sơ.

Trên trái đất này, và trong tất cả chế độ bạo ngược tự cổ chí kim, đây là một trường hợp khó tin, nhưng có thật đã xảy ra dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Tìm giọt máu rơi

Người anh ruột của người lính Không Quân Trần Công Minh trong chuyến di tản trước ngày Sài Gòn sụp đổ còn mang theo chiếc ảnh chân dung đã úa vàng, loang lổ của người em. Theo anh cho biết, qua những nguồn tin chưa rõ ràng, ở Ðà Nẵng, Minh có một người bạn gái, và khi Minh tử trận ở Hạ Lào người bạn gái này đã mang thai.

Theo ý nguyện của gia đình, hy vọng bài báo này sẽ đến tay người quả phụ trẻ tuổi ngày xưa, và hy vọng sẽ tìm ra giọt máu rơi lưu lạc của người lính chết trẻ, trước khi người mẹ già của Trần Công Minh qua đời.

Cũng theo lời người anh lớn của Minh, chờ đến Mùa Hè nắng ấm, gia đình sẽ đưa bà mẹ đi Washinton D.C., xin phép đến thăm Newseum, nơi chôn cất di cốt của những người tử nạn trong chuyến trực thăng bị rơi tại Hạ Lào ngày 10 Tháng Hai 1971, để thưa với mẹ rằng:

- Thưa “Cô”, xin “Cô” yên lòng, con trai của “Cô,” thằng Minh đã yên nghỉ nơi đây!

Huy Phương/Người Việt

.
Về Đầu Trang Go down
minhle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Tue Apr 28, 2015 8:10 am




Chuyện người lính trinh sát
 
Phạm Tín An Ninh

Tiểu Đoàn đang hành quân ở Ngân Sơn thì có lệnh kéo ra quốc lộ để di chuyển khẩn cấp. Đám lính tráng buồn thiu. Vì vùng này rất nổi tiếng có nhiều cô gái quê làn da nõn nà xinh đẹp, mà mỗi lần đơn vị ghé lại đây, thế nào cũng có vài chàng lính trẻ chấm dứt cuộc đời độc thân vui tính. Lần này đơn vị đi xa, nên trên các chiếc xe GMC thấp thoáng bóng vài cô con gái mặc áo lính. Thông cảm cho các đôi vợ chồng mới, ông Tiểu Đoàn Trưởng bảo các sĩ quan lơ đi, để cho các cô dâu được đi theo. Khi đến bờ biển Tuy Hòa, Tiểu Đoàn tiếp nhận một Chi Đoàn Thiết Quân Vận M-113 tăng phái, rồi tất cả xuống tàu Hải Quân ra biển. Sau hai ngày đêm hải hành lênh đênh, chúng tôi được lệnh đổ bộ lên bờ biển Phan Thiết, ngay phía trước một Phật đài đang xây dang dở, nằm không xa phía dưới phi trường và Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch.

Tiểu Đoàn chúng tôi, một đơn vị lưu động, đặt dưới sự điều động trực tiếp của Quân Đoàn, có nhiệm vụ khai thông Quốc Lộ số 1 từ Bình Thuận ra đến Khánh Hòa, đặc biệt quãng đường dài hơn 50 cây số chạy dọc theo mật khu Lê Hồng Phong, địch quân đang kiểm soát. Đồng thời truy diệt mọi lực lượng địch trong vùng, giúp các Tiểu Khu bình định lãnh thổ.

Sau một ngày dưỡng quân, nhận tiếp tế lương thực và đạn dược, chúng tôi bắt đầu cuộc hành quân dài hạn từ tuyến xuất phát Phú Long. Quốc Lộ Số 1 là trục tiến quân chính. Tiểu Đoàn (-) mở rộng đội hình hai bên quốc lộ, một đại đội tùng thiết và Chi Đoàn Thiết Quân Vận vừa làm lực lượng xung kích vừa làm lực lượng yểm trợ hỏa lực di động cho các cánh quân còn lại. Ra đến làng Tùy Hòa thì đụng địch. Chúng tôi nhận lệnh triển khai đội hình. Chi Đoàn Thiết Quân Vận vượt lên đánh một trận thần tốc tiêu diệt một lực lượng địa phương của địch cố thủ ở làng Sara, các cánh quân còn lại nhanh chóng tiêu diệt mọi lực lượng địch trong vùng để tiến chiếm mục tiêu Núi Tà Dôm, một cao điểm trọng yếu, lập đài tiếp vận truyền tin, giao lại cho một đơn vị Địa Phương Quân trấn giữ trước khi tiếp tục lộ trình.

Lần đầu tiên bất ngờ đụng độ với một lực lương chủ lực quân hùng mạnh, địch quân – mà đa số là đám bộ đội địa phương và du kích – bị đánh tan tác khắp nơi. Đơn vị chúng tôi dễ dàng làm chủ tình hình. Giao trách nhiệm cao điểm Tà Dôm cho Tiểu Khu Bình Thuận, chúng tôi nhận lệnh tiếp tục di chuyển thêm hơn năm cây số về hướng Bắc đến đóng quân tại xã Long Hoa, giữ an ninh cho một đơn vị công binh thiết lập căn cứ Nora trên một đỉnh đồi nằm gần Quốc Lộ, để trung đội Pháo Binh 105 ly di chuyển từ Phan Thiết đến căn cứ này trực tiếp yểm trợ cuộc hành quân.

Đại Đội tôi trách nhiệm đi đầu. Nhưng vừa xuống chân núi Tà Dôm, qua khỏi cầu Ông Tầm vài trăm thước, tôi nhận lệnh ông Tiểu Đoàn Trưởng dắt đại đội rẽ về bên phải chiếm lại một khu làng hiện do địch kiểm soát. Sau đó đóng quân tại đây để cơ quan Tỉnh thiết lập lại chính quyền. Khi cùng đoàn quân vượt lên để đến Long Hoa,  ông Tiểu Đoàn Trưởng dặn dò tôi phải hết sức cẩn thận, vì mục tiêu nằm sát mật khu lớn của địch, số lượng du kích trong làng khá đông và hầu hết những gia đình ở đây đều có thân nhân theo VC. Sau khi nghiên cứu địa hình, tôi cho ba trung đội tiến vào khu làng bằng ba hướng khác nhau, tạo thành ba mũi giáp công. Dù chờ đợi, nhưng không hề có sự kháng cự nào. Tôi nghĩ đám du kích đã biết cuộc hành quân qui mô này, nên đã kịp chạy ra khỏi làng, nhưng nhất định chúng đang ẩn nấp đâu đó rình mò chờ những sơ hở của chúng tôi.

Khu làng nằm cách quốc lộ chừng 500 mét. Dọc theo con đường đất dẫn vào làng là một hàng me cao. Chỉ có chừng một trăm nóc gia, lưa thưa vài căn nhà ngói cổ, còn hầu hết là nhà tranh. Phía sau làng là một con suối khá lớn, bên kia là khu rừng tiếp giáp với mật khu Lê Hùng Phong của địch. Bất cứ ai cũng đoán được là đám du kích đang ẩn trốn trong khu rừng ấy, vì tương đối an toàn cho chúng, và nếu bị truy kích sẽ chạy thoát vào mật khu rộng lớn. Tôi cho một trung đội khá nhất thường xuyên hoạt đông bên ấy, và chấm sẵn các điểm tác xạ tiên liệu Pháo Binh, để trường hợp có đụng độ, sẽ kịp thời yểm trợ, đề phòng lực lượng địa phương của địch có thể từ mật khu kéo ra tăng cường cho đám du kích. Sau khi đi một vòng kiểm soát kỹ lưỡng, tôi chọn khu vườn của một ngôi nhà ngói cổ nằm giữa làng, có nhiều cây cối chung quanh, làm nơi đóng quân cho ban chỉ huy đại đội. Cũng như nhiều nhà khác ở đây, trong nhà này cũng có một bàn thờ nghi ngút khói hương. Trên bàn thờ là tấm ảnh chân dung của một người đàn ông trẻ. Chủ nhà là một bà già khoảng 60, sống với một chị đàn bà trẻ là mẹ của một đứa con trai chừng 7, 8 tuổi. Hai mẹ con đều để tang trên ngực áo bằng một miếng vải trắng. Chúng tôi hỏi thì được bà già cho biết người con trai của bà là một nghĩa quân bị tử trận hơn 6 tháng, Bà đang sống với người con dâu trẻ góa bụa và thằng cháu nội đích tôn. Bà còn đưa cho tôi xem tờ khai gia đình của chính quyền cấp đã lâu. Đọc qua tôi thấy tên bà là Lê Thị Đúng và người con trai là Nguyễn Cho được gạch ngang và ghi chú với nét chữ vụng về: tử trận.

Cả nhà rất tốt với chúng tôi. Ngày nào cũng mang củi về cho chúng tôi nấu cơm. Nước đổ đầy các chum đất cho chúng tôi dùng.  Lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ. Tôi luôn nhắc nhở lính tráng phải cẩn thận, đặc biệt khi dùng nước uống, cảnh giác, theo dõi mọi hành động, nhưng phải đối xử tốt với họ, đừng lộ ra điều gì để họ biết là nghi ngờ họ. Thằng bé rất thích mấy anh lính. Một vài chú lính có con nhỏ nhưng lâu lắm chưa gặp, nên thấy thằng bé thật thà cũng thương. Được cho các hộp trái cây lương khô, có khi cả tiền nữa, nên thằng bé lúc nào cũng lân la bên các chú lính. Cứ mỗi lần thấy con mình gần gũi với lính, bà mẹ thường canh chừng, lâu lâu gọi thằng con ra xa dặn dò điều gì đó. Một hôm ngồi xem anh lính lau chùi khẩu súng tiểu liên, thằng bé xin được mang thử và ra điều thích thú lắm. Rồi bất ngờ buột miệng:
- Ba cháu cũng có khẩu súng, nhưng dài quá, cháu mang không vừa và không đẹp bằng khẩu súng này của chú.

Nói vừa xong, thằng bé biết lỡ lời, nên vội đưa tay lên bụm miệng.

Được báo cáo, tôi bảo anh lính tiếp tục khai thác thằng bé. Và cuối cùng chúng tôi biết được cha nó là trưởng mũi công tác, chỉ huy hơn 30 tay du kích trong làng này. Cùng lúc tôi nhận được báo cáo của anh trung đội trưởng đóng ở bìa làng, cho biết là cứ mỗi buổi chiều, bà già chủ nhà tôi ở đi kiếm củi dọc mé suối, nhưng thỉnh thoảng hướng về phía bên kia rừng nói lớn: “Thằng Hai ơi! cứ cho trâu ăn bên ấy, bên này hết cỏ rồi!”. Tôi gọi máy báo cáo cho ông Tiểu Đoàn Trưởng và đề nghị một kế hoạch “Điệu Hổ Ly Sơn”. Được ông chấp thuận.

Trưa hôm sau, tôi tìm vị trí thật kín đáo cho một trung đội ngụy trang nằm mai phục bên bờ suối cùng lúc rút trung đội bên kia suối về làng, và cho lệnh đại đội di chuyển ra khỏi làng, bảo lính tráng nói lời cám ơn chia tay dân chúng, để lại biếu họ một số gạo vừa mới được tiếp tế. Chúng tôi rời khỏi làng đi dọc theo Quốc Lộ tiến về hướng Nora và nhanh chóng ẩn trong bìa rừng bên khúc quanh của đường quốc lộ, trong tư thế sẵn sàng tiếp ứng. Đúng như dự đoán, khi trời sắp tối, nghe tiếng mìn Claymore và nhiều tiếng súng nổ trong làng, tôi được anh trung đội trưởng báo cáo đã tiêu diệt toàn bộ toán du kích, từ bên kia rừng lội suối về làng. Vì tưởng tất cả chúng tôi đã di chuyển đi nơi khác, nên đã lọt ổ phục kích. Tôi báo cáo cho Ông Tiểu Đoàn Trưởng và ra lệnh cho đại đội nhanh chóng quay trở lại làng, nhưng thay đổi các vị trí phòng thủ. Lần này tôi chọn một khu vườn bên bờ suối làm nơi đóng quân cho ban chỉ huy đại đội và trung đội vũ khí nặng, nhằm đối phó và yểm trợ kịp thời, nếu địch kéo từ mật khu ra phục hận.

Sáng hôm sau, một số cán bộ chính quyền đến nơi để xác nhận và giải quyết các tử thi. Anh cảnh sát cho tôi biết, trong số người chết có tên trưởng mũi công tác, con trai của bà Lê Thị Đúng, chủ nhà tôi đóng quân hôm trước.

Nghe mấy chú lính thám sát tình hình cho biết, ban đầu bà không nhận người ấy là con bà, nhưng không khí trong nhà buồn thảm lắm, nhất là chị vợ lúc nào cũng giấu nước mắt. Chỉ có thằng con trai thì vẫn cứ vô tư. Dường như không ai nói với nó điều gì đã xảy ra.

Buổi chiều, chính quyền thông báo nếu tử thi nào không có người nhận, họ sẽ chôn cất, nhưng vì không biết tên nên không thể làm bia. Lúc ấy bà chủ nhà mới chịu đứng ra nhận lãnh, và với sự giúp đỡ của chính quyền, bà và cô con dâu lo xong mai táng. Dù người chết là kẻ thù, nhưng trong hoàn cảnh này, nhất là vừa đóng quân trong vườn nhà họ hai hôm nay, chúng tôi ai cũng động lòng tội nghiệp cho người vợ trẻ và nhất là đứa con trai vừa mới mất cha. Chúng tôi góp được một ít tiền, cho một anh lính thân tình với thằng bé nhất, mang lại biếu họ. Tôi hình dung tới cái bàn thờ hôm trước, bây giờ đã trở thành bàn thờ thực sự. Hai hôm sau, Đại Đội tôi được lệnh bàn giao làng lại cho chính quyền với một trung đội nghĩa quân mới tới. Cuộc hành quân tiếp diễn về hướng Bắc và chỉ hai ngày sau, chúng tôi đã đến Sông Lũy, bắt tay với Trại Biệt Kích Lương Sơn do một số sĩ quan LLĐB chỉ huy. Giai đoạn 1 của cuộc hành quân hoàn tất, cả Tiểu Đoàn được lệnh tập trung dưỡng quân tại Sông Mao. Bản doanh Sư Đoàn 5 BB của ông Vòng A Sáng bỏ lại, sau khi di chuyển toàn bộ vào Vùng 3 CT. Bây giờ doanh trại trở thành một trung tâm huấn luyện Địa Phương Quân.

Tôi đã từng tham dự nhiều cuộc hành quân, đơn vị tôi từng giết nhiều quân địch, nhưng cuộc hành quân lần này làm tôi khó quên, ngay cả cái tên của gã du kích Nguyễn Cho và bà mẹ Lê Thị Đúng, mà tôi đã đóng quân ngay trong vườn nhà bà vỏn vẹn chỉ bốn ngày.

***

Hơn bảy năm sau, chiến tranh đến thời kỳ ác liệt nhất. Ngay sau khi Bộ Tư Lệnh Tiền Phương  SĐ 22 BB bị Cộng quân tràn ngập tại Tân Cảnh, lần đầu tiên một vị Tư Lệnh Sư Đoàn khí phách và liêm sỉ chấp nhận vùi thây nơi chiến địa, từ chối lên trực thăng thoát thân cùng với đám cố vấn Mỹ, đơn vị chúng tôi được không vận khẩn cấp lên Kontum, bây giờ là mục tiêu tiến chiếm của đại quân Cộng Sản đang tràn xuống từ hướng Bắc. Lúc này tôi đã được điều về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn. Đơn vị chúng tôi đã chiến thắng oanh liệt, giữ vững được Kontum và trở thành tuyến đầu của trận chiến Cao Nguyên trong suốt mùa hè đỏ lửa. Chiến thắng ngày ấy dù có vinh quang nhưng chúng tôi cũng đã phải trả một cái giá không nhỏ. Trong năm 1972 riêng đơn vị tôi đã có hơn 300 đồng đội hy sinh. Số tân binh từ các Trung Tâm Huấn Luyện không đủ bổ sung, nên Bộ Tổng Tham Mưu ban hành lệnh đôn quân khẩn cấp. Đầu năm 1973, chúng tôi tiếp nhận một số khá đông những người lính Địa Phương Quân từ các Tiểu Khu chuyển tới. Đại Đội Trinh Sát là một đơn vị thiện chiến, lập được nhiều chiến công hiển hách, luôn được dùng làm lực lượng xung kích cho Chiến Đoàn, đảm nhân các công tác hiểm nguy và sẵn sàng tăng cường cho các điểm trọng yếu. Vì vậy đơn vị này cần được ưu tiên bổ sung một số lính trẻ, thiện chiến.

Chúng tôi đã từng hành quân chung với các đơn vị đia phương quân Tiểu Khu Bình Thuận, và biết họ cũng được tôi luyện trong chiến tranh tại lãnh thổ địa phương, luôn phải đối đầu với một lực lượng địch đáng kể. Số lượng đôn quân từ Tiểu Khu này khá nhiều so với các Tiểu Khu khác trong Vùng 2. Vị Chiến Đoàn Trưởng ra lệnh ưu tiên chọn các anh lính trẻ Bình Thuận bổ sung cho Đại Đội Trinh Sát.

Được sự hướng dẫn của vị đại đội trưởng và các sĩ quan trẻ, nổi tiếng đánh đấm trên chiến trường, cùng học hỏi kinh nghiệm, noi gương gan dạ từ những người trinh sát cũ đã dạn dày chiến trận, một số lính địa phương quân được bổ sung cho đại đội Trinh Sát sớm trở thành các chiến sĩ thiện chiến trên trận mạc. Trong số này có một anh rất trẻ, đã lập khá nhiều chiến công lẫm liệt, luôn được vị đại đội trưởng đề nghị cấp trên khen thưởng sau mỗi cuộc hành quân. Thành tích xuất sắc nhất là khi anh tình nguyện một mình ôm lựu đạn bò vào tiêu diệt cái chốt của địch gồm nhiều ổ súng phòng không, nằm trong một hốc đá kiên cố trên đỉnh núi Chu Pao. Chính cái chốt quỷ quái này đã gây cho các đơn vị ta nhiều thiệt hại và đe dọa không nhỏ đối với các phi cơ đổ quân và chiến đấu hoạt động trong vùng.

Tôi đã gặp anh lính trẻ này vài lần và rất quí mến cậu ta. Không ngờ với một khuôn mặt hiền hậu, khôi ngô mà lại là một chiến sĩ can trường, dũng cảm. Có lần anh thú nhận với tôi là đã làm khai sanh tăng thêm ba tuổi để xin đầu quân. Một đôi lần, tôi móc túi cho cậu ít tiền để uống cà phê, khi nghe nói hằng tháng phải gởi tiền về nuôi mẹ. Ngược lại, sau mỗi cuộc hành quân, cậu cũng tìm đến thăm tôi, kể lại cho tôi những gì xảy ra trong trận đánh, và chăm chú ngồi nghe tôi nhận định. Đôi mắt cậu lúc nào cũng sáng lên niềm kiêu hãnh về các cấp chỉ huy, cùng đơn vị mà cậu ta đang phục vụ.

Vào khoảng cuối năm 1973, Đại Đội Trinh Sát được trực thăng vận đổ xuống giữa một trân chiến đang mịt mù lửa đạn để giải cứu cho một đơn vị BĐQ Biên Phòng đang bị vây hãm vì đã cạn đạn dược sau hơn hai ngày kiên cường chiến đấu, mà không thể nhận được tiếp tế. Một cuộc chiến khốc liệt, đẫm máu, mà các chiến sĩ trinh sát phải đánh cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn, tạo thời cơ cho các chiến sĩ BĐQ/BP bên trong phá vòng vây, dũng cảm xông ra. Địch quân bị tiêu diệt trong thế gọng kềm. Chiến trường kết thúc mau lẹ, đám địch còn sống sót, một số bị bắt, một số tháo chạy bị các trực thăng võ trang của Phi Đoàn 235 Sơn Dương truy kích.

Anh trung úy đại đội trưởng Trinh Sát bị thương nhẹ, nhưng vẫn tiếp tục điều quân chiến đấu. Ngay sau khi vừa được tản thương về QYV Pleiku, anh được Ông Tướng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn, nguyên là Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng BĐQ, đến gắn cấp bậc đại úy và anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Khi ấy anh vừa đúng 25 tuồi.

Tôi tháp tùng ông Chiến Đoàn Trưởng đến thành DakPha dự lễ Tuyên Dương Công Trạng toàn thể Đại Đội Trinh Sát, và trao gắn cấp bậc, huy chương cho những chiến sĩ có chiến công xuất sắc trong trận chiến hào hùng này. Buổi lễ dưới sự chủ tọa của ông Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn. Đại Đội được trình diện bởi anh trung úy Đại Đội Phó, xử lý thường vụ thay anh Đại Đội Trưởng còn đang điều trị trong QYV. Sau khi quân kỳ của Đại Đội được vị Tướng Chủ Tọa trịnh trọng choàng giây biểu chương màu Tam Hợp, các chiến sĩ xuất sắc được xướng danh ra trình diện trước thượng cấp.

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi không nghe tên và cũng không thấy mặt người lính trẻ có tiếng can trường đôn quân từ Tiểu Khu Bình Thuận trong số những người được tưởng thưởng. Chờ buổi lễ chấm dứt, tôi hỏi anh đại đội phó. Tôi ngẩn người khi anh cho biết là cậu lính trẻ ấy đã hy sinh khi tình nguyện xông vào diệt ổ đại liên cản đường, để cả đại đôi tiến lên. Anh đã gục ngã ngay trên nắp hầm địch cùng lúc tiêu diệt toàn bộ tổ đại liên của địch. Vì không có phương tiện đưa thi hài anh về nguyên quán, hơn nữa anh chết không toàn thây, không muốn cho thân nhân quá đau đớn khi nhìn thấy, nên đơn vị đã làm lễ truy thăng và chôn cất anh tại nghĩa địa Kontum.

Tôi hỏi kỹ vị trí ngôi mộ và dặn lòng sẽ đến thăm nơi an nghỉ của người lính trẻ can trường đáng mến này. Bỗng một hôm, thấy anh đại đội phó đưa một người đàn bà đến Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn để làm hồ sơ tử tuất. Tôi hỏi, mới biết ngươi đàn bà này là mẹ của người lính trẻ vừa mới hy sinh. Anh đại đội phó còn cho biết là sau khi làm hồ sơ xong, anh và vị Thiếu tá CTCT của Chiến Đoàn sẽ đưa bà ra thăm lại mộ con lần chót trước khi về quê. Tôi bảo anh đại đội phó là tôi sẽ tháp tùng. Tôi muốn một lần đưa tay chào vĩnh biệt người lính trẻ mà tôi hằng mến mộ.

Khi cùng với người mẹ đứng trước mộ, tôi ngạc nhiên khi thấy trên tấm bia, dưới tên của anh có ghi nơi sinh quán: Làng Long Giang- Xã Long Hoa – Bình Thuận. Tôi nhớ tới khu làng quê có hàng me cao nằm bên quốc lộ, mà tám năm trước có lần đại đội tôi đã đóng quân, và tiêu diệt tất cả đám du kích có tiếng của làng này. Chờ cho người mẹ thắp hương và bớt xúc động, tôi hỏi nhỏ:
- Ở làng Long Giang, chị có biết bà Lê Thị Đúng, có người con chỉ huy du kích, bị chết cách nay khoảng tám năm?

Người mẹ ngạc nhiên nhìn tôi, thoáng dò xét rồi cúi xuống, nói thật nhỏ chỉ đủ tôi nghe:
- Bà là mẹ chồng tôi, và con tôi đây là đích tôn, cháu nội duy nhất của bà. Vừa nói chị vừa đưa tay chỉ vào nấm mồ mới toanh trước mặt.

Khi về lại đơn vị, tôi xin Ban Tài Chánh ứng trước nửa tháng lương. Trích ra một phần, bỏ vào bì thơ, tôi tìm đến đại đội trinh sát gặp và biếu cho bà mẹ của người lính trẻ vừa mới lẫm liệt hy sinh. Bà thoáng một chút xúc động ngạc nhiên nhin tôi nói lời cám ơn.Tôi nghĩ là bà không nhận ra tôi, người đã chỉ huy cuộc hành quân năm xưa, và từng đóng quân ngay trong vườn của nhà bà.

Chia tay bà, trên đường trở về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn, tôi suy nghĩ mông lung. Trong cuộc chiến này, quả thật, có những điều mà người ta không thể nào hiểu được.


Phạm Tín An Ninh
.
Về Đầu Trang Go down
vnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Wed Apr 29, 2015 10:57 am


Nhớ người thương binh VNCH


Lê Châu
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Ðời Tị Nạn)

LTS - Người viết bài này là một cựu nữ sinh từng tham gia nhiều hoạt động xã hội từ khi còn đi học và nay tiếp tục góp sức trong các công cuộc thiện nguyện. Cô tin rằng nói về những kỷ niệm của 40 năm quốc hận, cần phải nhớ đến các thương phế binh VNCH hãy còn sống ở quê nhà.


Hai thương phế binh VNCH trong dịp nhận quà và xe lăn do Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn trao tặng. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Nước Mỹ, tháng 4 năm 2015

Bốn mươi năm sau cuộc đổi đời, những người dân miền Nam nước Việt còn trong nước cũng như ở khắp nơi trên thế giới đang sống lại những tháng ngày hồi tưởng.

Ai đó đang hồi tưởng về Tháng Tư Ðen, về những tháng ngày đánh tư sản, đổi tiền, kinh tế mới, về bắt bớ, lao tù và học tập cải tạo. Nhưng cũng có ai đó đang có những phút lắng lòng để nhớ đến những người thương binh VNCH, những người trai của một thời ly loạn thuở nào, họ đã không may mắn phải bỏ lại chiến trường một phần thân thể.

Họ cũng thiếu may mắn nhận sự trợ giúp của chính phủ Mỹ để ra đi. Họ vẫn còn ở lại. Họ vẫn còn phải đối diện từng ngày với khó khăn, đói nghèo và cả sự bạc đãi của nhà nước mới.

Tất cả chúng tôi, những người ngày xưa được hưởng sự yên lành trong cuộc sống và sự an bình của cuộc đời hiện tại, đều xin được nhớ về các anh.

......

Hằng năm cứ vào mùa hè, Hội HO & Cứu Trợ Thương Phế Binh Quả Phụ Tử Sĩ VNCH và Trung Tâm Asia lại tổ chức đại nhạc hội tại Nam hoặc Bắc California để quyên góp một số tiền gởi về giúp các anh thương phế binh cùng cùng các quả phụ tử sĩ của người lính VNCH. Hành động này hy vọng đã nói lên được nghĩa cử của những người xa xứ lời “Cảm Ơn Anh.”

Phải, chúng tôi nơi đây không bao giờ quên các anh, chúng tôi sẽ cố gắng và còn cố gắng nhiều hơn nữa để một phần nào đền trả món nợ ân tình mà chúng tôi đã vay nơi các anh (dù các anh chưa một lần đòi trả).

Sau cuộc đổi đời, đã tròn 40 năm, ngót hơn nửa đời người, chắc hẳn các anh buồn nhiều lắm phải không? Chắc hẳn các anh đã bao lần tự trách, rằng xã hội này, quê hương này đã quên mình rồi...! Nhưng các anh ơi làm sao mà chúng tôi quên được, những người trai trẻ ngày nào đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, các anh đã không ngần ngại bỏ lại sau lưng gia đình, mẹ già, em dại, và đôi khi phải bỏ lại cả người yêu nhỏ bé để làm tròn bổn phận người trai thời ly loạn.

Nào Quang Trung, Dục Mỹ, nào Ðồng Ðế, Chi Lăng; nào là “quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”...

Các anh có còn nhớ không, những mùa Xuân tiền đồn, những người em gái hậu phương chúng tôi đã thêu cho các anh từng chiếc khăn tay nhỏ, nắn nót viết cho các anh những lá thư xuân thắm đượm ân tình hậu phương. Và rồi những giọt nước mắt ân tình đã rơi thật nhiều lúc phải chia tay các anh khi mặt trời xế bóng. Tiền đồn heo hút, hoa mai vàng nở rộ và và màu xanh bộ quân phục của các anh đã nhòe trong mắt các em rồi - Xe chạy cuốn bụi mù, bóng các anh khuất dần sau những cánh rừng xa lắc đó. Ðâu có ai quên các anh.

Ðất nước Việt Nam mình triền miên chinh chiến, các anh phải xa trường, xa lớp, xa bạn bè, xa gia đình, để trở thành người lính cầm sung bảo vệ quê hương, để canh cho giấc ngủ trẻ thơ đêm đêm khỏi phải giật mình, để cho bước chân của các em nhỏ tung tăng vui vẻ đến trường, để cho mẹ bình an ra chợ sớm và cho cha trồng xới liếp rau xanh. Công khó của các anh làm sao mà nói hết...



Chiến tranh không phải là trò đùa, nhưng chính chiến tranh lại là trò đùa khắc nghiệt nhất khi mà cùng một mẹ sinh ra; Nhưng bên này “Anh lớn lên anh đi làm lính chiến, bảo vệ xóm, bảo vệ làng, bảo vệ giậu mồng tơi” - còn bên kia “Anh lớn lên anh đi làm giải phóng, giải phóng xóm, giải phóng làng, giải phóng giậu mồng tơi”... (Trích từ bài thơ “Giậu Mồng Tơi” của tác giả Giang Hữu Tuyên)

Rồi từ nghịch lý đó mà các anh cứ phải miệt mài với đời lính chiến, trên khắp mọi nẻo đường từ Nam ra Bắc mà chúng ta đi hoài không tới. Miền Nam thanh bình với đồng lúa phì nhiêu hay miền Trung nắng gió đất cày lên sỏi đá, các anh cứ phải miệt mài bảo vệ. An Lộc, Khe Sanh, cổ thành Quảng Trị, rồi Dakto, Charlie,... các anh đã đi qua, có anh đã nằm lại mãi mãi không trở về, hoặc có khi anh trở về trên đôi nạng gỗ.

Nước mắt mẹ hiền đã khóc thật nhiều cho các đứa con mình. Có những đứa con mẹ được vuốt ve cỗ quan tài phủ lá Quốc kỳ. Có những đứa con mẹ ngóng trông hoài không thấy tăm hơi. Còn anh, nước mắt mẹ đã rớt thật nhiều nhưng nào đâu có làm an lành được vết thương nơi chiến trận của anh. Anh trở thành thương binh, người thương binh VNCH.

Ngày đó chúng tôi nhớ ơn các anh, xã hội tri ân các anh và cuộc đời vẫn âm thầm trả ơn các anh từng ngày. Thế rồi một đêm thức dậy, chúng tôi đâu rồi? Xã hội nát tan. Cuộc đời đổi chủ. Các anh với tấm thân tàn phế làm sao vào cuộc để tìm kiếm miếng ăn. Sau cuộc chiến xã hội xếp hàng với những chia ly, tan tác, đói nghèo, thì người thương binh ngày nào còn có ai lo lắng cho nữa. Mùa Xuân 1975 đã trở thành mùa hạ để cho “Quê hương đau, nắng Hạ cũng buồn.”

Giờ đây các anh phải đi hát dạo, đi bán vé số để kiếm sống qua ngày. Hằng năm nơi đất nước Hoa Kỳ trong ngày Lễ Cựu Chiến Binh, có các người lính cũ với bộ quân phục ngày nào, trên ngực áo đầy huy chương đón nhận những vòng hoa, những tràng pháo tay và những cái cúi đầu - họ luôn nở nụ cười trên môi, rạng rỡ và hãnh diện vô cùng với màu cờ sắc áo...

Nhìn thấy họ tươi cười mà lòng quặn thắt khi nghĩ về các anh. Các anh cũng là người lính cũ, nhưng sắc áo, màu cờ, đâu rồi? Không còn ai choàng vòng hoa hay dành cho anh một cái cúi đầu với lời nói Cảm Ơn Anh. Ôi nỗi buồn không tên chỉ mình anh lặng lẽ ấp ủ!

Dạo đó vào thập niên '80, có đôi lần chúng tôi gặp hai người thương binh đi hát dạo trên đường phố Sài Gòn. Anh thương binh cụt giò đàn cho anh thương binh mù hát bài ca “Giã từ vũ khí.” Một lần hỏi thăm và được nghe tâm sự, một anh nói rằng trong xã hội mới này mặc bộ đồ lính VNCH có người không cho tiền vì họ ghét, nhưng không sao, tiền dù có ít nhưng mình vẫn mặc được sắc áo của mình ngày nào để nhớ về một thời chinh chiến. Ôi chua xót quá, cũng là ý nghĩ về màu cờ sắc áo mà sao người thương binh VNCH của tôi có tâm tình buồn bã đến thế. Ðúng là “quê hương đau, nắng hạ cũng buồn.”

Các anh ơi, giờ đây sau nhiều chục năm nơi đất lạ, chúng tôi đã có điều kiện để đền trả ơn anh. Một tập thể nhỏ của Trung Tâm Asia, một bà mẹ già với mái tóc bạc phơ, đang ngồi lại để cùng với tất cả những ai có lòng - tay góp bàn tay - chúng tôi đang chắt chiu thu góp từng đồng gởi về để phần nào giúp các anh nơi quê nhà khốn khó. Quê nhà là các anh. Cõi lạ là chúng tôi và chúng ta cùng chung một nỗi buồn...

Xin các anh an tâm, hãy vui lên vào những tháng năm cuối đời.

Chúng tôi nơi đây nguyện sẽ dùng nước mắt không phải để buồn để khóc, mà để rửa sạch những vết thương long cho các anh. Chúng tôi sẽ cố gắng đền trả ơn anh. Xin gởi về các anh những ân tình thắm đậm và lời cám ơn cao trọng nhất.

Tâm tư người xa xứ

Mùa Xuân California 2015

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticles30thang4.aspx?articleid=206504&zoneid=492#.VUD97bHwqHc
Về Đầu Trang Go down
NDVinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Sun May 24, 2015 7:40 am


Chút Lính Miền Nam


Cho tôi thắp một nén nhang
Khóc người đồng chí
Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy
Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa!
- Lê Phú Khải




S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) - Bạn tôi, tất cả, đều là lính ráo. Chúng tôi không chỉ có chung những năm cầm súng, và một quãng đời tù mà còn chia chung rất nhiều... cố “tật!” Hễ gặp nhau là uống, và câu chuyện trên bàn rượu trước sau gì rồi cũng xoay quanh kỷ niệm về đám chiến hữu hồi còn chinh chiến: những thằng đã chết, những đứa đang vất vưởng ở quê nhà, hay lưu lạc (đâu đó) nơi đất lạ xứ người.

Thỉnh thoảng, khi (quá) vui, chúng tôi cũng hay mang những vị thượng cấp cũ ra làm đề tài giễu cợt. Hai ông huynh trưởng thường bị nhắc tới để cười chơi là Trần Hoài Thư, và Phan Nhật Nam. Lý do: cả hai vị vẫn nhất định chưa chịu giải ngũ, dù cuộc chiến đã tàn tự lâu rồi!

Trung Úy Trần Hoài Thư vẫn thản nhiên đưa quân Qua Sông Mùa Mận Chín. Đại Úy Phan Nhật Nam vẫn cứ la hét um xùm qua máy truyền tin (giữa Mùa Hè Đỏ Lửa) như thể là cái mùa Hè năm 1972 đó vẫn còn kéo dài đến bây giờ, dù hơn 40 năm đã lặng lẽ trôi, với cả đống nước sông - cùng nước suối, nước mưa, nước mắt... - đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống.

Sau khi cạn mấy đầy, rồi đầy mấy ly cạn (và sau màn trình diễn “một ngàn bài Bolero”) tôi hay xin "trân trọng tuyên bố cùng toàn thể các chiến hữu các cấp" rằng:
- Ai viết cái gì tôi cũng đọc tuốt luốt, trừ hai vị thẩm quyền (nhí) này thì khỏi!

- Sao vậy cà?

- Bởi vì thơ với văn của hai ổng có nhiều câu mà “lỡ” đọc một là nó bị kẹt luôn trong đầu, gỡ không ra, nên tui không dám đọc thêm nữa:

Trên đầu ta mũ rừng nhẹ hẩng
Trong túi ta một gói thuốc chuồn
Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm
Ðể thấy miền Nam lính hiền ghê gớm
...
Ta lính miền Nam hề, vận nước ngửa nghiêng
Ta cũng lênh đênh cùng cơn mạt kiếp
Ta trèo lên cây hỏi rừng cho biết
một nơi nào hơn ở Việt Nam?
Có người lính nào bi tráng hơn lính miền Nam?

Trần Hoài Thư (“Ta Lính Miền Nam”)



Nguồn ảnh: internet

Không chỉ bi tráng, bi hùng, hay bi phẫn mà (đôi khi) người lính miền Nam còn phải đối diện với lắm nỗi bi thương:

“Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chỏng hỗn độn bốc khói xám... Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẵng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch đôi mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi đi vào chị ta đứng dậy, đứng thẳng người như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác. Thằng bé theo tôi cùng cùng tên hiệu thính viên lẻn ngay vào bếp kiếm thức ăn. Tôi đi đến trước chị đàn bà...

- Làm gì chị ngồi đây, không biết đang đánh nhau sao?

Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẵng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như một người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên tôi đưa tay đón lấy... Hai bộ áo quần, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng dây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai.

- Của chị đây hả? - Vẫn im lặng. Nỗi im lặng ngột ngạt, lạ lùng.

- Con mẹ này điên rồi thiếu uý, chắc sợ quá hóa điên...

Tên lính xua tay đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng.

- Chị kia quay lại đây tôi trả cái này... Tôi nói vọng theo.

Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng đôi mắt bây giờ vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hỏang thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi... Chị ta còn trẻ lắm, khỏang trên dưới hai bảy, hai tám tuổi, da trắng mát tự nhiên, một ít tóc xõa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú.

Tôi đưa trả chiếc lẵng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẳng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta:

- Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bực tam cấp. Khi nào tụi tôi đi thì chị đi theo... Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ... Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa... Từ từ chị đưa bàn tay lên hàng nút áo trước ngực...

Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi... Người đàn bà đã hiểu lầm tôi...

Chị ta không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này.

Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này... (Phan Nhật Nam. Dấu Binh Lửa. Sài Gòn: Hiện Đại, 1969).



Ở thời điểm này, có lẽ, Phan Nhật Nam không hề biết rằng “sự ngộ nhận đớn đau tủi hổ” của dân chúng với những người lính miền Nam chả phải là “ngẫu nhiên” đâu. Nó đã được đối phương chuẩn bị rất kỹ, và tuyên truyền rất công phu - theo như nhận xét (gần đây) của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“Ngày xưa ở miền Bắc VN, tôi đoán người ta tuyên truyền nói xấu về chế độ miền Nam VN dữ lắm. Bộ máy tuyên truyền ngoài đó đã thành công gieo được vào đầu óc của người dân thường rằng chế độ Mĩ Nguỵ rất ác ôn; lính Nguỵ chỉ đánh thuê, rất ác ôn đến nỗi họ ăn gan uống máu người...”

Và đây cũng chả phải chỉ là chuyện “ngày xưa ở miền Bắc” đâu. Sau khi thắng cuộc “bộ máy tuyên truyền” vẫn tiếp tục bôi bẩn và xỉ nhục những người lính miền Nam, như thể họ vẫn còn là những kẻ thù ác độc và nguy hiểm.

Rảnh, thử xem qua vài đoạn trong một truyện ngắn (“Chuyện Vui Điện Ảnh”) của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Bà viết viết về “tai nạn nghề nghiệp” xẩy đến cho một tài tử nghiệp dư, chỉ vì lỡ thủ vai một thằng lính miền Nam:

Chú Sa diễn vai thiếu úy Cón (nghe cái tên thôi cũng thấy ghét rồi), một tên ác ôn giết vợ, hãm hại vợ người, tàn sát trẻ nít, huênh hoang phá xóm phá làng, sau chết vì bị chó điên cắn...

Khi chú mặc bộ đồ rằn ri vô mình rồi, ông đạo diễn không chê vào đâu được. Long Xưởng hô máy một cái là nét mặt chú Sa lạnh như người chết, con mắt trắng dã, lừ đừ, nụ cười bí hiểm. Lúc quay cận cảnh khuôn mặt chú còn ghê nữa, da sần sùi, u uẩn như da cóc, tay chân đầy lông lá, cái răng cửa gãy chìa ra một nụ cười chết chóc với lỗ trống sâu hun hút.

Hồi đầu mọi người còn khen chú mặc bộ đồ mắc toi đó coi oai thiệt, nhưng rồi sau đó nín bằn bặt, người ta quên chú Sa ở hẻm Cựa Gà đi, chỉ còn lại thằng Cón ác ôn. Thằng Cón cưỡng hiếp vợ một cán bộ Đảng mình đang mang thai.

Tới chừng biết đứa bé kia không phải con mình, hắn xé đứa nhỏ làm hai ngay trên giường đẻ, trước mặt người mẹ, cầm bằng đã giết chị ta. Phim bạo liệt, trần trụi. Thằng Cón chết, nó cũng không chết bình thường như người ta, nó chết trong dằn vặt.

Cái mặt lạnh tanh gớm ghiếc của nó co giật méo xệch, bọt mép sùi sụt. Nó cắn vô mấy thằng lính đứng quanh nó. Điên dại tới lúc bị bắn chết. Mọi người theo dõi thằng Cón chết, vừa hể hả vừa ghê tởm...

Chú Sa vẫn tiếp tục đi về trên con hẻm hẹp te mà nghe trống vắng thênh thang. Tụi con nít nghe tiếng xe đạp chú tè tè lọc cọc thì chắc mẩm đứa nào đứa nấy mặt xanh mặt tím chạy vô nhà trốn. Tụi nó hỏi nhau: "ổng đi chưa?", cũng tại má tụi nó nhát hoài, lì lợm, không ăn cơm là bị chú Sa ăn thịt. Rõ ràng là ấn tượng về thằng thiếu úy Cón mạnh mẽ quá sức tưởng tượng, rõ ràng là người ta bị giật mình bởi tội ác.

Bà con ngại ngần ác cảm giạt xa chú... Chú Sa thấy đây đúng là một tai nạn...

Cái “tai nạn” riêng của Chú sa chỉ xảy ra trong phạm vi của một con hẻm nhỏ và sẽ không kéo dài lâu. Còn hàng triệu thằng lính miền Nam thật - cùng vợ con, thân nhân của chúng - không chỉ phải chịu đựng sự “ngại ngần ác cảm” của đám đông mà còn bị Nhà Nước Cách Mạng kỳ thị (và miệt thị) không biết đến bao giờ!

Mãi cho đến ngày 2 tháng 5 năm 2014, người ta mới nghe một viên chức ngoại giao của phe thắng cuộc, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, nói đôi lời tử tế:

Ngày xưa ta không thể nói là không có chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. Đó là chính phủ cũng được quốc tế thừa nhận chứ. Đó cũng là một nhà nước có quân đội thực thi nhiệm vụ quốc gia của họ để bảo vệ chính nghĩa theo lý tưởng của họ.

Và đó cũng chỉ là sự tử tế ngoài miệng! Ngày 12 tháng 4 vừa qua, công an quận Hoàn Kiếm đã bắt giữ và buộc tội (“gây rối trật tự công cộng”) một số thanh niên đã mặc quân phục hay áo thun màu đen có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, trong cuộc tuần hành vì cây xanh ở Hà Nội.



Các bạn trẻ mặc áo thun đen có biểu tượng QLVNCH. Ảnh: Nguyễn Lân Thắng

Hai tuần sau, sáng 27/4/2015, công an quận Hoàn Kiếm đã kết hợp với công an Nghệ An khám xét nhà của anh Nguyễn Viết Dũng (tức Dũng Phi Hổ) tịch thu quân phục lính VNCH của anh Dũng.

Việc gì mà phải hốt hoảng đến nỗi “khám nhà,” “tịch thu” và “vu vạ” tội trạng cho vài thanh niên chỉ vì y phục mà họ mặc trên người như thế? Chả lẽ cái chế độ hiện hành có thể bị rung chuyển chỉ bởi vài cái áo (“thun màu đen, có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà”) sao?

Hơn nửa thế kỷ tuyên truyền lừa gạt, bôi bẩn, miệt thị những kẻ thua cuộc (bộ) chưa đủ nguôi ngoai thù hận hay sao? Nắm trọn quyền bính của cả một nhà nước trong tay mà sao có thể hành xử một cách đê tiện, và tiểu tâm đến thế?

Dù thế, thời gian đã không đứng về phe thắng cuộc, và đã dần hé mở dần chân dung của những người lính miền Nam:

Cho tôi thắp một nén nhang
Khóc người đồng chí
Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy
Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa!
Năm tháng đi qua
Gần hết cuộc đời tôi mới ngộ ra
Không giọt máu Việt Nam nào là ngụy
Trừ những thằng bán nước - đi đêm
- Lê Phú Khải


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến
danlambaovn.blogspot.com

Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Fri May 29, 2015 10:40 am


Nhà thơ đi lính

 
Phạm Tín An Ninh



(Để tưởng nhớ Y-Broc Niê và Lại Trọng Hà)

Tôi không biết làm thơ. Chính xác hơn là tôi dốt đặc về thơ. Nhưng có điều tôi rất mê thơ. Thời mới vào trung học, tôi đã từng nắn nót chép những bài thơ của mấy ông Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Đinh Hùng, Thâm Tâm… vào những tập giấy pelure đủ màu xanh đỏ, đóng bìa cứng với cái tựa mạ vàng. Tôi còn thuộc lòng hết mấy bài thơ tình của TTKH. Biết ai làm thơ hay, có đôi bài đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Năm, Phổ Thông, Phụ Nữ Diễn Đàn hay Văn Nghệ Tiền Phong là tôi xem như thần tượng, gởi thư cho tòa soạn xin địa chỉ viết vài dòng làm quen, dù rất hiếm khi nhận được hồi âm. Lớn lên, vào lính, ngoài hành trang ba lô súng đạn, tôi luôn mang theo hồn thơ lai láng. Khi ấy tôi cũng vừa khám phá ra điều thú vị: người lính, đời lính và tình yêu của lính chính là đề tài lớn nhất cho các nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác. Những chiều dừng quân, nghe tiếng gió rừng hòa tiếng suối reo, hay những lúc băng qua cánh rừng đầy hoa sim tím, tôi lại buột miệng thì thầm vài câu thơ quen thuộc. Nàng thơ lúc nào cũng ngự trị trong tôi, theo tôi đến mọi chân trời góc biển.

Đơn vị tôi là một tiểu đoàn tác chiến lưu động, có mặt trên hầu hết các địa danh Vùng 2 Chiến Thuật. Rày đây mai đó. Có khi buổi tối còn đóng quân trong núi rừng Quảng Đức, Lâm Đồng, chiều hôm sau lại có mặt ở bờ biển Tuy Hòa, Phan Thiết. Tôi nhận trung đội với chỉ 25 người lính, Thượng nhiều hơn Kinh. Trong đó có một anh trung sĩ, tên Y- Broc Niê, có học hành, tư cách và kỷ luật. Đặc biệt anh có đôi mắt đẹp, mơ màng. Không biết gia đình giàu có thế nào, nhưng nghe nói anh được học trường Tây, nói tiếng Pháp còn giỏi hơn tiếng Việt. Trong ba lô của anh lúc nào cũng có cuốn Le Petit Larousse rất cũ kỹ và vài cuốn truyện tiếng Pháp. Anh được tất cả lính Thượng trong đơn vị kính nể, bảo điều gì cũng nghe răm rắp. Ngược lại anh cũng luôn quan tâm lo lắng đến đời sống và tranh đấu cho quyền lợi của họ. Xin cho được đi phép và cam kết họ sẽ trở lại đơn vị (vì thời ấy đa số lính Thượng khi về buôn bản, họ không muốn ra đi, bỏ lại nương rẫy vợ con nữa). Rất may là anh ta rất quí mến tôi. Hai thằng trở thành bạn thân khi tôi biết anh cũng rất thích thơ và biết làm thơ. Những ngày đóng quân trong rừng, anh thường ngồi đọc cho tôi nghe mấy bài thơ tình lãng mạn của các ông Jacques Brévert, Lamartine. Anh còn cho tôi nghe những bài thơ được anh dịch ra tiếng Thượng, và dạy cho tôi nói một vài tiếng Ê-đê. Anh hãnh diện khoe với tôi, anh là cháu ruột của nhân sĩ trí thức Y-Yut, người đã tìm hiểu mẫu tự La tinh và vần Ê-đê để đặt ra bộ chữ viết Ê-đê ngày nay. Đôi lúc tôi thắc mắc và thầm tiếc là tại sao một người sắc tôc có trình độ như anh mà chỉ làm trung sĩ tiểu đội trưởng tác chiến, tại sao chính phủ không xử dụng anh ở những vai trò khác hữu ích hơn, Nhưng rồi lại thấy nhờ may mắn có anh mà đời lính của tôi vui và thi vị hơn.

Một hôm, sau cuộc hành quân tại vùng Đa Ngư Phú Lạc, một khu núi đá nằm gần Vũng Rô-Đá Bia, đơn vị tôi thắng lớn, tịch thu cả một kho vũ khí của địch, được lệnh kéo về Tuy Hòa làm lễ khao quân và tái bổ sung quân số, quân trang đạn dược. Trung đội tôi được nhận thêm sáu tân binh. Trong số đó có một trung sĩ và một hạ sĩ, mà trông mặt mày tôi đoán biết cũng chỉ vừa mới rời ghế nhà trường để “đi vào nơi gió cát”. Có điều khác là chàng trung sĩ trẻ thì vui vẻ, năng động, kỷ luật còn anh hạ sĩ thì hơi có vẽ lè phè, tóc tai để dài, có cả hàm râu mép, rất ít nói, thường trả lời chỉ bằng một cái gật đầu mĩm cười, lơ đãng. Tôi thường thấy anh ngồi một mình tư lự, đôi khi nhắm mắt nhìn trời miệng thầm thì những điều gì không ai hiểu được. Cái tên cũng đẹp: Lại Trọng Hà. Trùng họ và chữ lót với một thằng bạn khá thân của tôi thời trung học, Lại Trọng San. Mới đầu tôi nghĩ có thể là anh em vì hai chữ San-Hà, nhưng anh ta cho biết là không có bà con dây dưa rễ má gì với thằng bạn của tôi cả. Sau này, tôi biết anh đã bị đánh rớt trong một khóa Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Thay vì bạn bè ra trường với cấp bậc trung sĩ, chỉ duy nhất có anh là Hạ sĩ. Tôi vừa thấy tội nghiệp, nhưng cũng vừa có một chút thành kiến, nghĩ anh ta chắc cũng thuộc loại ba gai, bất cần đời, khó trị. Không khéo sẽ gây ảnh hưởng xấu cho đám binh sĩ khi tôi chỉ là thằng trung đội trưởng còn non choẹt, chưa có một chút kinh nghiệm chỉ huy cũng như chiến trường. Dù vậy, lúc nào tôi cũng tỏ ra thân thiện và giúp đỡ mặc dù anh không hề có bất cứ yêu cầu nào. Với một chút tâm lý, tôi không đưa anh ra tiểu đội, mà giữ anh lại ban chỉ huy trung đội, mang khẩu phóng lựu M-79. (Thời ấy loại súng M-79 mới được trang bị, còn rất hiếm, nên mỗi trung đội chỉ có một khẩu, và người lính nào mang M-79 được đi theo trung đội trưởng).

Không ngờ anh ta cũng rất thích thơ và thuộc rất nhiều thơ. Và dường như những bài thơ là sợi dây màu nhiệm buộc bọn tôi lại với nhau. Chỉ một thời gian, anh trung sĩ Y- Broc, hạ sĩ Hà và tôi trở nên rất thân tình. Ngoài tình đồng đội, chúng tôi xem nhau như là bạn, là anh em. Nhưng ông tiểu đoàn trưởng của tôi thì không ưa chàng hạ sĩ này. Mỗi lần bắt gặp, ông luôn quát: “ông tướng này phải cắt tóc tai cho đàng hoàng, cạo râu đi nghe chưa. Lè phè là không được với tôi đâu!” Tôi bảo nhỏ anh ta “thấy đại bàng phải né đi chứ!” Anh chỉ cười trừ rồi đâu cũng vào đấy.  Đúng lúc ông trung sĩ 1 trung đội phó của tôi lên thượng sĩ, được chuyển về làm thường vụ tiểu đoàn, tôi xin rút trung sĩ Y-Broc về làm trung đôi phó. Ba thằng chúng tôi ở gần nhau hơn. Ăn cơm chung và nằm cạnh nhau dưới các giao thông hào. Y-Broc có biệt tài mưu sinh. Những lúc đóng quân giữa núi rừng, anh thường làm bẫy bắt thú rừng hay hái về những loại trái cây, rau rừng ăn được, những bữa cơm lính trở nên “thịnh soạn” hơn. Còn anh chàng hạ sĩ thì chỉ mang về các cụm lan rừng hay đôi cành hoa sim tím treo lủng lẳng trên đầu võng hay trước các giao thông hào. Những chiều đóng quân, nếu không đụng địch, anh nằm đu đưa trên võng, đọc cho bọn tôi nghe vài bài thơ hay. Không ngờ những bài thơ đã làm cho bọn tôi thấy đời lính đẹp hơn, lãng mạn hơn, mà quên bớt phần nào nhọc nhằn, nguy hiểm.

Cuối tháng, trung đội nhận được tờ báo Chiến Sĩ Cộng Hòa do ban Tâm Lý Chiến tiểu đoàn phân phối, luân phiên trong đại đội. Theo thói quen, tôi mở đọc trang Thơ trước, và rất ngạc nhiên khi thấy một bài thơ đề tặng mình, có ghi rõ đơn vị nữa. Bài thơ dài chiếm cả nửa trang giấy, thật hào sảng mà cảm động, có cả những địa danh mà đơn vị tôi vừa mới đi qua. Tác giả là một cái tên khá quen: Mây Cao Nguyên. Trước đây tôi đã đọc nhiều bài thơ của nhà thơ này và thường gật đầu tâm đắc.  Nhưng tôi đâu có vinh dự gặp gỡ quen biết mà anh làm thơ tặng tôi. Và làm sao anh ta biết đơn vị tôi đã từng đi qua những địa danh xa lạ, những vùng núi rừng, hoặc làng mạc nghèo nàn, xác xơ heo hút, mà qua bài thơ bỗng trở nên thơ mộng và đẹp đẽ đến không ngờ?

Tôi đem bài thơ ra khoe với anh trung sĩ Y-Broc và hạ sĩ Hà, và hỏi có phải một trong hai người là thi sĩ Mây Cao Nguyên. Cả hai lắc đầu. Hà bảo Mây Cao Nguyên không phải con trai, là một cô bạn gái của anh, có lẽ đọc mấy lá thư của anh gởi về tả cảnh hành quân và ông trung đội trưởng trẻ tuổi dễ thương, nên cảm tác bài thơ ấy. Anh bảo có dịp anh sẽ giới thiệu bọn tôi với nhà thơ nữ này.  Y-Broc dịch bài thơ ra tiếng Thượng đọc cho đám lính Thượng nghe. Tôi chẳng hiểu gì ngoài những tiếng vỗ tay của những người lính rất đỗi chân chất hồn nhiên ấy.

Một lần trung đội đang ăn cơm để chuẫn bị đóng quân đêm, bỗng ông đại đội trưởng đến tận nơi ra lệnh trung đội nghỉ ngơi một lúc chờ trời tối sẽ di chuyển đến một địa điểm để phục kích. Tin tức cho biết có một mũi công tác VC vừa xâm nhập vào khu làng nhỏ bên cạnh nhận tiếp tế, đến khuya hoặc trời gần sáng bọn họ sẽ rút trở lại lên núi. Trung đội được tăng cường thêm một tổ trung liên, có nhiệm vụ phục kích để tiêu diệt trên đường địch rút ra. Địa điểm phục kích là một ngã ba nằm phía sau làng, cách chân núi vài trăm thước. Ông đại đội trưởng đưa cho tôi tấm bản đồ, chỉ cho tôi cái ngã ba, hướng dẫn cách bố trí quân và vài điểm tác xạ tiên liệu Pháo Binh ông đã chấm sẵn. Tôi lấy hướng trên địa bàn và tính khoảng cách từ điểm xuất phát đến mục tiêu khoảng bốn cây số, di chuyển trên con hương lộ nhỏ. Tất cả chỉ mang theo vũ khí và đạn dược, balô gởi lại cho đại đội. Đúng 8 giờ xuất phát. Trời cuối tháng nên tối như mực. Tôi lo ngại có thể thất lạc hoặc bị lọt ổ phục kích. Y-Broc tình nguyện dẫn tiểu đội đi đầu. Những người lính Thượng rất có kinh nghiệm đi đêm trong rừng. Đôi mắt của họ như là những ngọn đèn thần.

Chưa tới ba mươi phút, đã đến ngã ba. Tôi nắm tay từng anh tiểu đội trưởng đến địa điểm chỉ cách bố trí, và gài mìn Claymore phía trước tuyến phục kích. Hai cây trung liên Bar được đặt trên hai mô đất cao có xạ trường tốt nhất hướng về phía con đường làng, nơi địch sẽ rút ra. Y-Broc xin theo tiểu đội người Thượng được tăng cường tổ trung liên, nằm riêng tại địa điểm trọng yếu, bên kia ngã ba đường, nơi địch sẽ xuất hiện trước nhất. Anh cẩn thận gài một quả mìn Claymore ở phía sau tuyến đề phòng bất trắc. Tôi ra lệnh luân phiên canh gác và nghỉ ngơi, đến 12 giờ đêm tất cả đều phải thức để sẵn sàng tác chiến. Khi nào địch di chuyển đến giữa ngả ba, tôi sẽ đích thân bấm trái mìn Claymore tại đây thay cho lệnh khai hỏa, tuyến quân của Y- Broc là nỗ lực chính tấn công và chốt địch phía sau. Kiểm soát các tiểu đội xong, tôi trở về vị trí, dựa lưng vào một mô đất duỗi đôi chân ra nghỉ.

Khoảng hơn nữa giờ sau, có tiếng vài con chim lạ, dấu hiệu có người. Tôi đang nghe ngóng và phân vân không biết mấy con chim này thấy ta hay địch thì giật mình bởi tiếng mìn Claymore nổ chát chúa ngay hướng trước mặt, bên kia đường, sau tuyến của Y-Broc, cùng những tiếng la hét thất thanh. Nhiều tràng đạn khai hỏa từ cánh quân của Y-Broc. Rồi tiếng súng địch nổ khắp nơi, có cả tiếng trung liên, đại liên và B.40. Những vệt đạn lửa đan xéo trên đầu, trong màn đêm tĩnh mịch. Hỏa lực địch tập trung vào vị trí tiểu đội của Y-Broc. Tôi nghe tiếng hô xung phong của địch và biết lực lượng địch ít nhất cấp đại đội, nên không thể liều lĩnh. Hơn nữa tôi chưa nắm vững đựợc tình hình và vị trí địch. Tiểu đội Y-Broc chống trả mãnh liệt. Nhờ nằm dưới một con mương khô, bám được vị trí che chắn tốt, và những tràng đạn trung liên cùng những quả lựu đạn M-26 liên tục tung ra hiệu quả nên cánh quân của Y-Broc giữ vững được phòng tuyến. Sợ địch phát hiện, nên lợi dụng khi có tiếng súng và lựu đạn nổ, tôi báo cáo vắn tắt cho ông đại đội trưởng, xin tiếp ứng và Pháo Binh, nhưng không thể cận yểm được vì địch với ta quá gần nhau, nên chỉ xin tác xạ vào các điểm tiên liệu ngay sau lưng địch, vừa uy hiếp vừa dồn chúng lại, để chúng tôi đánh bằng lựu đạn. Hai tiểu đội còn lại bên này đường đã nhanh chóng dàn mỏng đội hình dọc theo con lộ tạo thành một tuyến hình chữ L để đánh bên sườn địch. Cây trung liên cùng với khẩu M-79 của hạ sĩ Hà di động liên tục khai hỏa vào bên hông địch, để vừa không lộ vị trí vừa nghi binh để bọn chúng nghĩ là lực lượng chúng tôi đông đảo hơn chứ không phải chỉ một trung đội. Địch không còn tập trung áp đảo tiểu đội của Y-Broc mà bung ra hướng tôi đối phó. Khẩu đại liên của chúng chuyển hướng, liên tục khạc đạn vào chúng tôi trong một khoảng cách thật gần với tầm rất thấp, làm chúng tôi không ngóc đầu hay di chuyển được. May mắn là có một con mương nhỏ dọc theo lề đường tương đối an toàn để chúng tôi ẩn nấp.Tôi gọi xin Pháo Binh bắn hai quả soi sáng. Khi trái sáng được bắn lên, tôi thấy vị trí khẩu đại liên của chúng được đặt trên miệng một cái hố lớn bên kia đường, có xạ trường tốt. Rất khó khăn và nguy hiểm để chúng tôi có thể băng qua con đường đất, tiếp cứu tiểu đội Y-Broc. Bỗng có người đập nhẹ vào vai, quay lại tôi nhận ra Hà. Anh ta dúi khẩu M-79 đã hết đạn cho tôi và bảo cho anh xin thêm hai quả lựu đạn “để triệt khẩu đại liên của tụi nó” (Lúc ấy mỗi người lính đều được trang bị 2 quả lựu đạn M-26). Tôi chưa kịp hỏi gì thì Hà biến mất. Cầm chân được chúng tôi, địch lại tập trung áp đảo và bao vây tiểu đội Y-Broc. Tiếng địch la hét hô “xung phong”nhằm uy hiếp tinh thần. Bỗng tôi nghe ba tiếng lựu đạn nổ liên tiếp cùng những tiếng la hốt hoảng và tiếng chân của quân địch chạy. Tôi nghĩ ngay đó là lựu đạn của Hà. Khẩu đại liên của địch im tiếng. Chúng tôi nhanh chóng băng qua đường và đồng loạt tập kích bên cạnh sườn địch bằng một loạt những quả lựu đạn tung ra cùng môt lúc. Trên 20 trái lựu đạn tạo thành tiếng nổ kinh hồn, như rung chuyển cả cánh rừng và mặt đất. Bọn đich tháo chạy dưới những tràng đạn Pháo binh của ta bắn chặn. Chúng tôi có lệnh không truy kích, vì chưa kiểm soát được tổn thất và bắt tay với cánh quân của Y-Broc.

Tôi lên tiếng gọi Y-Broc, bảo ngưng mọi tác xạ và tránh ngộ nhận, tôi sẽ đến gặp. Khi tôi vừa bắt tay Y-Broc thì Hà cũng vừa chạy đến. May mắn cả hai đều không thương tích. Tôi bảo lần này nhờ vào sự can đảm liều lĩnh của Hà, diệt được khẩu đại liên địch, mới kịp tăng cường cứu nguy cho Y-Broc. Ba thằng vội vã ôm choàng lấy nhau.  Y- Broc bảo vừa đánh địch phía trước vừa phải đề phòng sau lưng, vì sợ mũi công tác của VC từ trong làng kéo ra. Tôi bảo Y-Broc để một bán tiểu đội và tổ trung liên nằm tại chỗ, đề phòng phía sau. Pháo Binh tiếp tục bắn trái sáng để chúng tôi bung ra lục soát. Rất may mắn như một điều kỳ diệu,, bên ta chỉ có hai binh sĩ Thượng bị thương, đều thuộc tiểu đội bên cánh của Y-Broc. Địch bỏ lại 9 xác chết và 12 vũ khí đủ loại, trong đó có một đại liên bị hư hại và một khẩu K-54. Hai tên bị thương nặng, chúng tôi bắt sống. Đa số đich chết vì lựu đạn và mìn Claymore. Năm tên banh xác dưới cái hố lớn nơi đặt khẩu đại liên, bị hạ sĩ Hà tiêu diệt.  Đây cái hố trũng do dân làng đào lấy đất đắp đường để lại.

Khi đại đội (-) tiếp ứng đến nơi, tình hình đã hoàn toàn yên tỉnh. Ông đại đội trưởng ôm lấy chúng tôi mừng rỡ. Cả đại đội được lệnh vừa di chuyển về vị trí tiểu đoàn vừa an ninh lộ trình để xe tản thương đến đưa thương binh về bệnh xá, kể cả hai tên địch.

Sáng hôm sau, chúng tôi được ông Tiểu Đoàn Trưởng và ông Tiểu Khu Phó đến thăm, bắt tay khen ngợi, bảo là tin tức tình báo không chính xác. Đám VC vừa tao ngộ chiến với chúng tôi không phải là mũi công tác như được cho biết là đã xâm nhập vào làng từ lúc chạng vạng tối. Thực ra đây là đại đôi địa phương của chúng đã hạ sơn trễ, mục đích chiếm ngôi làng này và tấn công quấy rối vào vị trí đóng quân của tiểu đoàn, may mà chúng tôi phát hiện và phản ứng kịp thời. Tôi gọi hạ sĩ Hà đến và kể lại thành tích bất ngờ nhưng hào hùng của anh. Hai ông cười, bắt tay Hà khen ngợi.

Chiến công bất ngờ lần ấy, trung đội tôi được tưởng thưởng 5 anh dũng bội tinh. Một ngôi sao vàng và 4 ngôi sao bạc. Điều vui hơn, là từ hôm ấy, ông tiểu đoàn trưởng đã nhìn Hà bằng cặp mắt khác. Có nhiều thiện cảm hơn.

Khoảng hai tháng sau, trung đội được lệnh đi tiền đồn, bố trí quân trên một ngọn đồi có nhiểu tảng đá lớn che chắn, một bên là núi, phía dưới là biển rì rào, trên trời thì trăng sao vằng vặc. Khung cảnh thật thơ mộng, nên trời đã khuya mà ba thằng chưa ngủ, nằm cạnh nhau bên hốc đá tán gẫu chuyện thơ văn. Đang ngâm nga mấy bài thơ của thi sĩ Đinh Hùng thì VC pháo kích mấy quả 80 ly rồi từ bên kia núi bắn sang nhiều loạt AK và hô xung phong. Tôi nghĩ chúng chỉ hù dọa vì khoảng cách khá xa. Hơn nữa ngọn đồi chúng tôi đóng quân khá kiên cố. Ba thằng vội bò dậy, hạ sĩ Hà lấy cây M-79 thọt sang mấy quả, còn tôi thì điều chỉnh pháo binh tác xạ mấy tràng. Yên lặng. Trở lại hốc đá, Hà và tôi không thấy Y-Broc đâu cả. Vài phút sau nghe tiếng lựu đạn nổ phía sau, cả trung đội báo động. Tôi chưa biết chuyện gì xảy ra, thì Y-Broc chạy tới, bảo là có đặc công đôt nhập từ hướng biển, nơi mà chúng tôi không ngờ. Thì ra bọn địch chơi trò dương đông kích tây. Y-Broc có kinh nghiệm và đã nhanh trí trước mưu đồ của chúng, nên kịp phát giác. Tôi xin Pháo Binh bắn soi sáng. Và nhờ đã chuẫn bị các dấu hiệu nhận nhau cột trên cánh tay và mật khẩu, chúng tôi dễ dàng kiểm soát tình hình. Một tên địch bị banh xác bởi trái lựu đạn của Y-Broc. Hai tên khác bị lộ, nấp dưới một hố nhỏ, tôi cho ném lựu đạn cay và bắt được chúng.

Thêm một lần nữa trung đội lập được chiến công, nhưng cũng không phải nhờ tài năng hay đảm lược gì của tôi, anh chàng trung đội trưởng.

Không ngờ một anh hạ sĩ bị đánh rớt từ quân trường Đồng Đế, và một anh trung sĩ người Thượng hiền lành, đều là hai nhà thơ lãng mạn, chuyên khóc gió thương mây, mà lập được những chiến công hiển hách, cứu tôi và cả trung đội hai lần thoát khỏi tình huống hiểm nguy. Riêng tôi đã học thêm được một số kinh nghiệm chiến trường.

Sáu tháng sau, tiểu đoàn được tăng phái dài hạn một Chi Đoàn Thiết Quân Vận M-113, xuống tàu Hải quân di chuyển vào Phan Thiết, để mở lại con đường QL-1 từ Phan Thiết đến Phan Rang, đặc biệt giải tỏa khu vực dọc theo Mật khu Lê Hồng Phong bị địch làm chủ tình hình hơn hai tháng nay. Đồng thời giữ an ninh cho Công Binh thiết lập căn cứ Nora và Mara nằm bên quốc lộ. Cuộc hành quân kết thúc tốt đẹp. Chúng tôi nhận lệnh bàn giao các căn cứ và vị trí cho các đơn vị địa phương quân của TK Bình Thuân, di chuyển đến phi trường quân sự Sông Mao để được không vận khẩn cấp bằng các phi cơ Caribou lên Quảng Đức. Mục tiêu cuộc hành quân lần này mới lạ và phức tạp hơn: trấn áp những cuộc nổi loạn của người Thượng, sau khi có tin một số sĩ quan người Kinh tại một căn cứ hay quận lỵ nào đó bị giết chết. Tôi thực sự khó xử khi trong đơn vị có khá nhiều người Thượng và đặc biệt trung sĩ Y-Broc là người mà tôi thương yêu quí mến. Nếu phải tấn công vào lực lượng người Thượng phản loạn, tôi không biết phải ăn nói làm sao, và liệu phản ứng của Y-Broc và các binh sĩ Thượng trong đơn vị sẽ như thế nào? Cuối cùng, không phải chỉ có tôi mà ông tiểu đoàn trưởng đã phải trông nhờ vào trung sĩ Y-Broc. Ông muốn anh về làm việc với bộ chỉ huy tiểu đoàn, nhưng anh một mực xin được tiếp tục ở lại trung đội với tôi và sẽ thi hành tất cả những gì vị Tiểu Đoàn Trưởng cần đến. Anh hứa sẽ giải thích cho tất cả anh em binh sĩ Thượng trong đơn vị hiểu và cũng tình nguyện làm trung gian hòa giải giữa đơn vị tôi và lực lượng người Thượng nổi loạn ở Quảng Đức. Anh tin tưởng cuộc hòa giải sẽ thành công để tránh những cuộc đụng độ giữa hai sắc tộc anh em Kinh-Thượng. Rất may, khi đến Quảng Đức, tình hình đã lắng dịu. Sau đó khi đơn vị hành quân qua các vùng có đông đúc người Thượng, trung sĩ Y-Broc trở thành một cán bộ Tâm Lý Chiến tài ba, đã cảm hóa được hầu hết những quân nhân và dân chúng Thượng trong vùng.

Quảng Đức là một tỉnh nhỏ, nằm heo hút sát biên giới Việt-Miên, được Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng lập với vài khu dinh điền, để định cư một số người Bắc di cư năm 54 và tạo thành một trọng điểm chiến lược. Có lẽ không một địa danh nào làm cho những người lính buồn chán bằng Quảng Đức. Vậy mà tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại đây gần một năm, giữ an ninh cho khu dinh điền Đạo Nghĩa và thường xuyên hành quân tảo thanh dọc theo biên giới.

Hơn mười tháng sau, ngay sau khi nhận lãnh chức vụ đại đội trưởng, tôi được ông tiểu đoàn trưởng chỉ định dắt đại đội solo xuống núi, tăng cường cho TK Lâm Đồng, giữ an ninh cho Công Binh tái thiết mấy cây cầu trên QL-20 bị VC giật sập. Tôi kéo Y-Broc và Hà về ban chỉ huy đại đội. Chúng tôi đóng quân trên một đồi trà mà ông chủ là một người Pháp. Nhờ Y-Broc giỏi tiếng Pháp, nên ông chủ có cảm tình đặc biệt với bọn tôi, thường đãi bọn tôi những bữa ăn với rượu Tây và thỉnh thoảng lấy xe chở bọn tôi lên thành phố Đà Lạt rong chơi. Cà phê Tùng và quán Thủy Tạ trên hồ Xuân Hương là nơi mà bọn tôi thường có mặt.

Hơn một tháng sau, đại đội được trả về tiểu đoàn, vừa di chuyển đến Di Linh, tham dự một cuộc hành quân khẩn cấp, tiếp viện Tiểu Đoàn 22 BĐQ . Đơn vị thiện chiến này vừa trải qua một cuộc hành quân dài hạn tại một mật khu nằm giữa ranh giới ba tỉnh Bình Thuận – Ninh Thuân – Lâm Đồng, tiêu diệt một số đơn vị địa phương và phá hủy một số kho lương thực của địch. Trên đường rút quân về Lâm Đồng thỉ bị một đơn vị địch khác vừa mới được điều động từ Vùng 3 đến làm nút chặn, bao vây. Địch đã tổ chức trận địa sẵn, đặt nhiều cái chốt với súng đại liên và cả đại bác trên các cao điểm. Tiểu Đoàn BĐQ chiến đấu dũng cảm trong một địa thế khá cam go. Nhưng điều bất lợi là đạn dược sắp cạn mà không thể nhận tiếp tế được.

Từ tuyến xuất phát đến mục tiêu khá xa, khoảng mười lăm cây số đường chim bay. Lúc ấy phương tiện còn eo hẹp, trực thăng H-34 đổ quân rất hiếm hoi, cả tiểu đoàn phải hành quân bộ chiến. Để di chuyển nhanh, binh sĩ chỉ trang bị súng đạn và lương khô. Ngoài ra còn phải mang theo thêm một cấp số đạn để tiếp tế khẩn cấp cho BĐQ. Tiểu đoàn chia làm ba cánh, hổ trợ nhau. Vừa di chuyển thật nhanh theo lộ trình ngắn nhất, vừa tung các toán tiền thám ra phía trước và hai bên đề phòng phục kích. Đại đội tôi đi chung với BCH Tiểu Đoàn và đại đội chỉ huy yểm trợ. Hơn hai phần ba lộ trình, cả đơn vị dừng lại nghỉ vài phút, ăn cơm, chuẩn bị súng ống đạn dược cũng như tinh thần để tiến vào mục tiêu. Khi có lệnh di chuyển, Y-Broc cho tôi biết hạ sĩ Hà tự dưng bị đau bụng khá nặng, không thể đi được. Tôi cho y tá đại đội đi mời anh sĩ quan trợ y tiểu đoàn đến khám. Hà mặt mày xanh mét, mắt nhắm lại vì đau đớn, mồ hôi đổ đầy trên trán. Anh sĩ quan trợ y gốc cán sự y tế nhiều kinh nghiệm, cho biết hạ sĩ Hà bị sưng ruột thừa cấp tính. Anh cho Hà uống thuốc, nhưng bảo thuốc chỉ có thể giảm đau chốc lát, nhưng cần phải tản thương về quân y viện để giải phẩu.  Nếu kéo dài ruột thừa có thể bị vỡ ra, nguy hiểm đến tính mạng. Tôi đi gặp ông tiểu đoàn trưởng trình bày sự việc. Ông đi theo tôi đến tận nơi quan sát. Thấy ông đến nói chuyện với anh cố vấn Mỹ, nhưng sau khi gọi máy liên lạc với ai đó, anh ta lắc đầu. Sau một hồi suy nghĩ ông quyết định đem Hà giấu trong hốc núi, để lại cho anh ta một ít thuốc uống giảm đau, lương khô và bốn trái lựu đạn. Khi nào thanh toán xong mục tiêu, đơn vị sẽ quay trở lại đón anh. Vì không thể tản thương và cũng không thể khiêng anh vào mục tiêu trong lúc này được. Nhìn nét măt đăm chiêu khổ sở của ông tiểu đoàn trưởng, tôi biết rất khó khăn để ông đưa ra quyết định này. Không thể vì một người mà gây trở ngại cho cả một đơn vị, nhất là trong tình trạng đặc biệt khẩn cấp. Tôi nhìn Hà đau đớn mà đứt ruột. Ông tiểu đoàn trưởng vừa bước chân đi, tôi vội chạy theo đề nghị xin cho tôi cử một tiểu đội, gồm những binh sĩ giỏi, nhanh nhẹn, võng hạ sĩ Hà ngược ra điểm xuất phát sáng nay để xe tiểu đoàn đến đón đưa đi bệnh viện. Tôi xin nhận lãnh mọi trách nhiệm được giao phó cho đại đội khi vào mục tiêu phía trước. Ông ngần ngừ, bảo rất nguy hiểm, theo kinh nghiệm, chắc chắn có vài toán thám sát của địch đã bám theo tiểu đoàn. Y-Broc nghe tôi trình bày vội vàng chạy tới, đứng nghiêm chào, xin tình nguyện tổ chức và chỉ huy tiểu đội đặc biệt đưa hạ sĩ Hà ra khỏi vùng hành quân. Ông tiểu đoàn trưởng gật đầu, vỗ vai bảo Y-Broc phải hết sức cẩn thận. Y-Broc chọn tám người lính Thượng khỏe mạnh, nhanh nhẹn, và rất sở trường việc di chuyển trong rừng. Sau khi sắp xếp cho việc tản thương hạ sĩ Hà xong, cả đơn vị tiếp tục di chuyển về hướng mục tiêu. Tôi cảm thấy lo âu, vừa cho sự an toàn của họ vừa thiếu mất một anh trung sĩ và mấy anh lính Thượng can đảm, giàu kinh nghiệm chiến đấu, khi đại đội sắp phải đánh vào một mục tiêu gay go trước mặt. Nhưng rồi lại thấy vui trong lòng, khi nghĩ đến hạ sĩ Hà sẽ được bình an, cứu chữa.

Sau gần một tiếng đồng hồ, đơn vị đến tuyến báo động. Không khí yên lặng nặng nề. Khi cho đại đội bung rộng ra thăm dò tình hình, tôi bỗng nghe nhiều tiếng súng nổ xa xa phía sau lưng. Tôi nghĩ có lẽ tiểu đội đặc biệt của Y-Broc đã đụng địch. Chưa kịp lo lắng cho số phận của anh em, nhất là hạ sĩ Hà đang trong tình trạng ốm đau không chiến đấu tự vệ được, thì địch bắt đầu nổ súng tấn công đại đội. Tôi phát hiện khẩu đại liên của địch trong hốc đá trên triền núi, sẽ là mối đe dọa cho đại đội. Cho binh sĩ tản vào các gốc cây và tảng đá tạm thời ẩn nấp, tôi xin tiểu đoàn tăng cường khẩu đại bác SKZ 75 ly, tác xạ liên tiếp 2 quả vào vị trí đại liên của địch, đồng thời cho trung đội đi một cánh riêng trên triền núi, bò lên ném tiếp mấy quả lựu đạn. Khẩu đại liên im tiếng. Tiểu Đoàn ồ ạt tấn công phía sau lưng địch. Phát hiện thêm vài ổ súng khác của địch trên triền núi, nhằm cầm chân đơn vị ta, anh sĩ quan đề-lô rất năng nổ của tiểu đoàn thay vì gọi Pháo binh tác xạ, đã trực tiếp hướng dẫn phi công L-19, đánh dấu chính xác địa điểm các ổ đại liên và ống phóng hỏa tiễn của địch. Hai phi tuần khu trục thi nhau oanh kích. Tiểu Đoàn 22 BĐQ biết có đơn vị bạn tiếp viện, đã anh dũng đánh ra. Địch quân bất ngờ bị kẹt trong thế gọng kềm, bung ra chạy thoát thân, nhiều tên bị các tay súng của ta đốn ngã. Tiếng anh phi công L-19 la hét vui mừng trên tần số, gọi các phi tuần tiếp tục rãi bom xuống đầu địch. Khi đại đội tôi tiến lên bắt tay cánh quân Biệt Động Quân, rất bất ngờ và cảm động khi nhận ra anh đại đội trưởng BĐQ đi đầu lại là người bạn học cùng quê và cùng khóa Thủ Đức: thiếu úy Trương Tấn Anh. Anh bị thương nhẹ, trên cánh tay còn tấm băng rỉ máu, nhưng vẫn điều động đại đội phản công quyết liệt với số đạn ít oi còn lại sau một cuộc hành quân dài hạn, đã vậy còn phải mang theo một số thương binh, tử sĩ. Chia đạn cho anh em BĐQ xong, chúng tôi cùng hợp đồng tiếp tục truy kích, thu nhặt nhiều chiến lợi phẩm. Xác địch nằm la liệt trên trận địa.

Khi có lệnh tạm bố trí nghỉ ngơi, tôi sực nhớ tới Y-Broc cùng toán lính đưa hạ sĩ Hà ra lại Di Linh, lòng bồn chồn, không biết họ ra sao. Mấy đợt súng nổ tôi nghe được trước khi tấn công mục tiêu có phải là họ đã phải chiến đấu với địch? Tôi cố gắng liên lạc, nhưng chỉ nghe tiếng rè rè của chiếc máy PRC- 10 (thời ấy chưa có PRC-25).

Mãi đến khi rút quân ra hơn nửa đường, tôi mới nghe tiếng ông thượng sĩ chỉ huy tiền trạm báo cáo trên hệ thống vô tuyến: Toán của trung sĩ Y Kroc đã chiến đấu rất dũng cảm để tiêu diệt đám VC chặn đánh, cứu hạ sĩ Hà khỏi bị bắt. Tuy nhiên bên ta có trung sĩ Y-Broc và hai binh sĩ bị thương nhẹ. Riêng hạ sĩ Hà bị thương nặng, đã được tản thương về QYV Nguyễn Huệ – Nha Trang.

Vừa về đến Di Linh, ông tiểu đoàn trưởng và tôi chạy đến thăm Y- Broc tại bệnh xá của huyện. Anh bị một viên vào cánh tay trái, may mắn là không vào xương. Anh kể lại khi bị VC tấn công, tất cả đều quyết liệt phản công. Hà lại bị thương ngay loạt đạn đầu tiên của đich, dù không di chuyển được, vẫn nằm môt chỗ chiến đấu. Tôi nghiệp, hai anh lính võng hạ sĩ Hà, vì phải nằm lại bảo vệ Hà, nên đã trúng đạn địch. Nhưng chính nhờ hai anh lính này, mà Y-Broc và sáu khinh binh còn lại đã quật ngã đám địch. Anh chỉ lo cho Hà vừa bị trọng bệnh lại vừa bị trọng thương. Tính mạng rất mong manh.

Sau trận ấy, Y-Broc được điều về tiểu đoàn làm phụ tá SQ Tâm Lý Chiến. Nhưng chỉ một tháng sau, khi có lệnh cho các hạ sĩ quan gốc thiểu số được ưu tiên theo học khóa sĩ quan. Y-Broc rời đơn vị, nhập học một khóa sĩ quan ở trường Thủ Đức. Nhờ có sức khỏe và khả năng Anh, Pháp ngữ, anh được tuyển sang Không Quân, ngành phi công trực thăng. Ra trường được bổ nhậm về một phi đoàn thuộc Vùng 3. Sau đó một vài năm tôi mất liên lạc với anh.

Năm 1985, chỉ mấy tháng sau khi ra tù, tôi cùng vợ con vượt biển. Được tàu Na-uy cứu vớt trước khi một cơn bão ập đến. Chúng tôi được đưa vào trại tị nạn Singapore và sau đó chuyển tiếp sang trại  Bataan ở Phi Luật Tân. Trại Bataan lúc ấy gồm có mười Vùng. Gia đình tôi ở Vùng 1 là nơi dành riêng cho những người được tàu Na-uy vớt, được học ngôn ngữ Na-uy từ 6 đến 8 tháng trước khi đi định cư ở đất nước Bắc Âu lạnh lẽo nhưng rất giàu lòng nhân đạo này.

Tôi tham gia vào Hội Cựu Quân Nhân do vị đại tá trại phó, người Phi, hỗ trợ mọi mặt. Ông đã từng có một thời gian phục vụ ở Việt nam trong lực lượng đồng minh và hết lòng ca ngợi QLVNCH, cũng như rất đau đớn khi nghe tin miền Nam VN thất thủ. Ông đã bàn giao lại cho Hội Cựu Quân Nhân chúng tôi lá quốc kỳ của Tòa Đại Sứ VNCH tại Manila. Hội Cựu Quân Nhân hỗ trợ các ban đại diện Vùng giải quyết các vấn đề an ninh trong trại.

Một hôm, một cô gái người Thượng đi tắm suối bị ba người lạ mặt bắt đưa vào rừng hãm hiếp. Địa điểm này lại nằm gần Vùng 1, nên mọi nghi ngờ đểu đổ dồn về Vùng 1 chúng tôi. Người Thượng tị nạn lúc ấy có khoảng 70 người, ở Vùng 2, tập trung kéo đến với gậy gộc, hò hét, đòi tập trung tất cả người Vùng 1 để cô gái kia nhận diện, tuyên bố là nếu tìm ra thủ phạm, họ sẽ tự giải quyết mà không cần đến ban chỉ huy trại.

Thấy tình hình quá căng thẳng, có thể nguy hiểm khôn lường, tôi nhờ anh Cảnh sát Phi, có trạm gác phía sau Vùng 1, liên lạc yêu cầu Đại Tá Trại Phó đến gặp tôi. Ông đại tá cho điều động cảnh sát võ trang, nhưng chỉ chia nhau ẩn trong các dãy nhà, ngại người Thượng có thể liều lĩnh tai hại. Ông yêu cầu người Thượng đề cử một ban đại diện không quá 5 người vào trạm cảnh sát nằm sau Vùng 1 gặp một số đại diện người Kinh. Tôi nằm trong ban đại diện người Kinh ấy. Chúng tôi vào trạm trước ngồi chờ.

Khi nhóm đại diện người Thượng bước vào, và anh trưởng nhóm chào ông đại tá và chúng tôi, tôi há hốc miệng khi nhận ra người ấy chính là Y-Broc, người bạn đồng đội thân thiết rất dễ thương từng sống chết với tôi ngày trước, tôi gọi lớn tên anh:
- Có phải Y-Broc Niê ở tiểu đoàn Hải Ưng ngày xưa đây không?.

Y-Broc ngước mắt nhìn rồi bước tới ôm chầm lấy tôi, trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người. Anh quay lại nói với những người Thượng một tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu gì nhưng nhận ra nét mặt của họ đột nhiên dịu lại. Tôi kể cho ông đại tá về sự quen biết giữa chúng tôi, ông bắt tay hớn hở. Tôi nói với Y-Broc là chúng tôi sẽ phối họp với an ninh trại, cho điều tra thật nhanh chóng sự việc đáng buồn này. Kết quả thế nào tôi sẽ báo cho Y-Broc biết, để cùng tìm một giải pháp. Tránh để xảy ra trường hợp thù hận giữa hai sắc tộc như năm nào ở Quảng Đức mà chính Y-Broc từng là vị sứ giả hòa bình. Y- Broc gật đầu cám ơn mọi người rồi dắt tay tôi ra chỗ những người Thượng đang tập trung chờ đợi phía trước, Anh ôm vai tôi, nói một hồi, toàn tiếng Thượng. Không hiểu gì, nhưng tôi nhận ra cái giọng rất cảm động, có chút nghẹn ngào. Thì ra anh ta vẫn có uy tín rất lớn với những người cùng sắc tộc. Những lời nói của anh đã nhanh chóng thuyết phục được họ. Tất cả im lặng kéo nhau về Vùng 2. Y-Broc mời ông đại tá trại phó và kéo tôi ra cái quán ở trước Vùng 5 uống bia, với sự cho phép đặc biệt của ông trại phó (người tị nạn không được phép uống bia rượu trong trại). Anh kể qua cho tôi nghe quãng đời binh nghiệp của anh sau này. Đặc biệt từ đầu năm 1971 anh được biệt phái giữ một chức vụ khá lớn trong Bộ Phát Triển Sắc Tộc.

Tuy nhiên, lòng tôi chưa hết ưu tư, vì nếu thủ phạm vụ hiếp dâm cô gái Thượng là người ở Vùng 1, liệu tôi sẽ phải ăn nói thế nào với anh và những đồng hương đang tin tưởng kính mến anh. Rất may, trời thương chúng tôi. Chỉ hai hôm sau, cảnh sát Phi đã bắt được thủ phạm, là ba thanh niên người Phi, thợ mộc được trại thuê vào làm việc.

Khi Y-Broc tìm đến găp tôi để cho biết tin này, chúng tôi có dịp ngồi bên nhau lâu hơn, ôn lại chuyện xưa. Y-Broc cho biết là anh vẫn còn độc thân. Khi làm việc ở Sài gòn, anh bất ngờ gặp lại hạ sĩ Lại Trọng Hà. Nhờ đọc được mấy bài thơ của tác giả Mây Cao Nguyên, trong đó có nhắc lại nhiều kỷ niêm ở đơn vị cũ. Cảm động nhất là bài thơ kể lại lần nhà thơ thoát chết khi được những đồng đội dũng cảm người Thượng võng ra khỏi vùng chiến trận. Anh không chết nhưng trở thành tàn phế. Y-Broc liên lạc với tòa soạn của tờ tuần san có đăng mấy bài thơ để hỏi thăm tin tức và địa chỉ của tác giả Mây Cao Nguyên.

Khi tìm đến căn nhà sàn nhỏ nằm cuối con hẻm bên bờ sông Thị Nghè, Y-Broc đã gặp lại Hà. Anh sống với vợ chồng bà chị. Y-Broc bật khóc khi nhìn thấy cả hai chân của Hà đã bị cưa tới đầu gối. Hai người bạn vừa làm thơ vừa chiến đấu ngày xưa ôm lấy nhau mà không nói được lời nào. Họ uống rượu, đọc thơ, rồi khóc cho đến lúc say mèm nằm lăn ra ngủ lúc nào không biết.

Vài hôm sau, trên một tờ tuần san văn nghệ, Y-Broc đọc được bài thơ của Mây Cao Nguyên, đề tặng anh. Bài thơ khá dài, Y-Broc chỉ còn nhớ vài câu:

Sao lại là ta đến nỗi này
là Mây mà chẳng thấy mây bay
gặp mi ta nhớ rừng núi cũ
một thưở làm thơ giữa đạn thù


Thôi kể làm chi chuyện mất còn
ném đôi nạng gỗ xuống dòng sông
còn dăm bầu rượu chia nhau cạn
gõ nhịp mà ca thiên nhất phương


Năm 1978, khi trốn thoát khỏi trại tù Gia Trung – Pleiku, Y-Broc không dám trở về quê Ban Mê Thuột, vì có rất nhiều người biết anh. Anh chạy thẳng vào Sài gòn, nhờ người mua được giấy tở giả, với một cái tên giả. Có lần anh trở lại con hẻm bên bờ sông xưa tìm thăm Hà, nhưng căn nhà ấy không còn, đã được phá đi để cất lên một ngôi nhà mới, và người chủ nhà cũng như những láng giềng không ai biết Hà, cũng như chưa bao giờ nghe nói có một nhà thơ Mây Cao Nguyên nào từng ở trong con hẻm nhỏ này.

Điều bất ngờ thú vị là sau đó Y- Broc cũng đến định cư ở Na-uy, vì có cô em gái đã đến đây trước, làm hồ sơ bảo lãnh cho anh. Tôi định cư sau anh năm tháng. Khi còn ở Bataan tôi có nhận của anh một ít tiền và mấy lá thư, chỉ cho một vài kinh nghiệm hội nhập và dặn dò đôi điều cần thiết khi đến Na-uy. Một tháng sau khi đến Na-uy tôi tìm thăm anh. Y-Broc ở một thành phố phía Nam, cách xa thủ đô Oslo, nơi gia đình tôi ở khoảng 500 cây số. Anh xin được chỗ làm tốt trong Công ty dầu hỏa Na-uy. Vừa làm vừa học thêm. Ba năm sau anh làm đám cưới với một cô giáo người Na-uy. Vợ chồng tôi dự đám cưới, được vinh dự ngồi chung bàn cùng cô dâu chú rể. Trong tiệc cưới tôi được anh mời lên kể cho thực khách nghe về những kỷ niệm của chúng tôi khi còn là lính chiến ở Việt nam. Tôi cũng không quên nhắc lại chuyện tôi bất ngờ gặp lại anh ở trại tị nạn Bataan, và chuyện một người bạn thương binh của chúng tôi, làm thơ rất hay, đánh giặc rất liều, có thể còn sống ở đâu đó tại quê nhà mà chúng tôi rất nhớ. Sau đó, bận rộn chuyện học hành, lo cho con cái hội nhập vào quê hương mới, chúng tôi chỉ thỉnh thoảng gọi phôn thăm, đôi lúc nhận được vài bài thơ của anh làm, được dịch ra tiếng Na-uy.

Năm sau, chị vợ sinh cho anh một cô con gái. Trông tấm ảnh. Cô bé lai khá xinh. Ngày cháu tròn ba tuổi, vợ chồng tôi có ý định xuống thăm và mừng sinh nhật cháu. Tôi nghĩ người Thượng theo chế độ mẫu hệ, nên được con gái đầu lòng chắc Y-Broc vui mừng lắm. Nhưng gọi mấy lần không gặp anh, chỉ nói chuyện với cô vợ. Lần cuối cùng cô sụt sùi cho biết là Y-Broc đã biến mất. Người em của anh cho biết là anh đã cùng vài người bạn cùng buôn bản lúc xưa, định cư ở North Carolina bên Mỹ, tìm đường trở về biên giới Việt nam, tổ chức cho những người Thượng nổi dậy chống chính quyền CS và cứu một số bạn bè chiến hữu người Thượng bị truy bắt, phải vượt qua biên giới còn đang ẩn trốn ở đâu đó. Cho mãi đến bây giờ vẫn không ai biêt tin tức của Y-Broc. Chắc chắn là anh đã chết.

Tôi thẫn thờ cả mấy ngày, như vừa mới mất đi một người thân, một người bạn chí tình, khí khái và có tâm hồn, nghĩa hiệp. Tôi cũng nhớ tới Lại Trọng Hà, nhà thơ Mây Cao Nguyên. Không biết giờ này anh đang ở đâu, và với đôi chân tàn phế ấy, anh sẽ phải sống như thế nào trong một xã hội mà kẻ thù đang ngự trị. Lúc trước anh còn có thể xoa dịu vết thương cùng nỗi bất hạnh bằng những bài thơ viết với trái tim mình, nhắc nhớ kỷ niệm chiến trường cùng những đồng đội yêu thương. Giờ thì ôm bao nỗi đau trong lòng mà chẳng biết chia sẻ cùng ai. Một vài lần bán sách góp vào quỹ các tổ chức cứu trợ thương phế binh, tôi có nhờ các vị trong những tổ chức nhân đạo này, nhưng không ai tìm thấy tên Lại Trọng Hà trong các hồ sơ hoặc danh sách thương phế binh xin trợ giúp.

Trong những giấc mơ đôi lúc tôi thấy ba thằng chúng tôi nằm bên nhau, ngâm nga thơ phú trên ngọn đồi có nhiều tảng đá, một bên là núi một bên là biển, giữa bầu trời vằng vặc trăng sao, trong tiếng đạn pháo và tiếng hô xung phong của đám quân thù. Giật mình tỉnh giấc, tôi có cảm giác như đang chơi vơi lơ lửng trong một khoảng không bao la nào đó.

Phạm Tín An Ninh

.
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Sun Oct 18, 2015 1:56 am



Sau Cuộc Biển Dâu
(câu chuyện từ một bộ quân phục)


Phạm Tín An Ninh 

Tôi gặp và quen anh trong một trường hợp khá bất ngờ, có thể nói là hơi kỳ cục. Vợ chồng tôi đến thăm và ở lại nhà cô con gái út hai tuần. Cháu vừa mua được căn condo trong một khu nhà mới xây ở thành phố Anaheim, cách Khu Disneyland chỉ một con đường. Đêm nào, bọn tôi cũng ra balcon ngắm pháo hoa được liên tục bắn lên từ khu giải trí nổi danh này. Căn nhà nhỏ khá xinh và ở trong một khu an toàn, cô con gái út rất thích. Nhưng chỉ sau vài hôm, cứ đến một hai giờ khuya thì cả nhà phải thức giấc, bởi tiếng lục đục ở căn nhà tầng trên. Âm thanh của một vật cứng nào đó gõ xuống nền nhà. Không đều đặn, năm ba phút một lần, dù nhẹ nhưng cũng đủ làm buốt trong đầu.

Sáng hôm sau, cô con gái nhờ tôi lên nói chuyện với chủ nhà, yêu cầu chấm dứt các tiếng gõ khó chịu vào giữa khuya ấy, để chúng tôi không bị mất ngủ, đặc biệt cô con gái phải đi làm khá sớm.

Sau hai lần bấm chuông, một người đàn ông mở hé cửa, gật đầu chào. Rất may, lại là một đồng hương. Chưa nói chuyện với chủ nhà, nhưng tôi đã thoáng hiểu được nguyên nhân gây ra tiếng động. Ông ta chống hai cây nạng gỗ. Mọi bực tức trong tôi bỗng dưng biến mất, những lời “cảnh cáo” tôi dự định sẽ nghiêm mặt nói với ông cũng tan biến theo. Tôi lễ phép chào ông, bảo là tôi ở tầng dưới, muốn đến thăm và làm quen với người đồng hương láng giềng. Ông nở nụ cười, làm rạng rỡ phần nào khuôn mặt khắc khổ, đã có nhiều vết nhăn, một phần được che phủ bởi mái tóc dài bạc trắng.  Ông mở rộng cửa mời tôi vào nhà. Tôi hơi khó chịu với mùi khói thuốc lá và cả mùi rượu.

- Anh ở đây một mình? Câu đầu tiên tôi hỏi.

- Vâng, thỉnh thoảng có cô con gái đến thăm.  Cháu ở trên Riverside, cách đây khoảng gần một giờ lái xe.

Căn nhà nhỏ một phòng ngủ, phòng khách chưng bày đơn giản. Điều làm tôi chú ý là hai tấm ảnh treo trên vách, phía sau bàn ăn. Một tấm là chân dung của một người lính, tấm kia là ảnh gia đình. Thấy tôi chăm chú nhìn, anh cười, bảo là ảnh của anh và vợ con anh lúc xưa. Anh chống nạng đứng lên, như có ý mời tôi đến xem.

Tôi tròn mắt ngạc nhiên, tấm ảnh chân dung là một sĩ quan trẻ, mang cấp bậc thiếu tá, trông khá đẹp trai, phảng phất nét hào hùng. Trên ngực mang khá nhiều huy chương. Tấm ảnh kia anh chụp với người vợ xinh đẹp và hai đứa con kháu khỉnh.  Lòng tôi bỗng chùng xuống, như vừa chạm vào một vết thương cũ. Tôi bất giác quay người lại, đứng nghiêm đưa tay chào:

- Xin chào niên trưởng

     Anh tròn mắt bất ngờ, rồi đưa tay ra bắt tay tôi. Sau này, tôi được biết tấm ảnh chân dung này anh chụp sau khi được thăng cấp thiếu tá tại mặt trận Quảng Trị tháng 10 năm 1971, khi anh đang là tiểu đoàn phó, thay vị tiểu đoàn trưởng bị trọng thương, chỉ huy đơn vị phá vòng vây địch,  tạo một chiến thắng lẫy lừng.

 Chúng tôi trở nên đôi bạn thân thiết kể từ hôm ấy. Hình như giữa chúng tôi có điều gì đó cùng “tần số” với nhau. Trước đây anh sống rất âm thầm, khép kín, không muốn gặp gỡ tiếp xúc một ai, kể cả những người quen biết cũ. Anh cũng từ một tiểu bang xa, vừa mới theo cô con gái chuyển về đây. Sau này, cứ mỗi lần đến nhà cô con gái tôi đều ghé thăm anh, mang theo cho anh một ít nem chua Ninh Hòa mà anh rất thích. Anh say sưa kể cho tôi nghe một thời hào hùng trong binh nghiệp. Anh nức nở khi nhắc tới những vị đàn anh, những đồng đội hào hùng đã phải hy sinh oan khiên tức tưởi, đặc biệt trong trận chiến Hạ Lào- Lam Sơn 719. Người được anh nhắc đến nhiều nhất, ngưỡng phục và thương tiếc nhất là Cố Đại Tá Lê Huấn, một vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi, sớm nổi danh, tốt nghiệp Khóa 18 VBĐL mà có một thời anh được phục vụ dưới quyền.

Anh bảo tôi vào phòng ngủ để anh cho xem một kỷ vật. Anh bật đèn lên tôi ngạc nhiên khi thấy một bộ quân phục. Nhìn kỹ, tôi nhận ra đây là một bộ quân phục tác chiến đã cũ, có những vết sờn rách, được giặt ủi cẩn thận và treo trong một cái tủ kính nhỏ. Loại tủ để chưng bày. Anh mở cửa tủ và cẩn thận lấy bộ quân phục, ôm vào người một cách trang trọng. Đôi mắt mơ màng như đang tìm về một quá khứ xa xăm nào đó. Anh thốt ra môt giọng trầm buồn. Dường như là để nói với chính anh hơn là với tôi, người đang đứng ngay trước mặt anh:

Đây là bộ đồ trận của anh ấy, anh Lê Huấn.

Sau chiến thắng lẫy lừng tại Căn Cứ O’Relly, khi tiểu đoàn anh dưới tài chỉ huy của Trung Tá Lê Huấn đã đánh tan một lực lượng địch cấp trung đoàn của Sư Đoàn 304 BV, tháng 8/1970 tiểu đoàn lại đánh một trận khốc liệt với một đại đơn vị khác cũng của Sư Đoàn 304 BV này tại Hải Lăng, Quảng Trị. Khi ấy anh đang là đại đội trưởng thâm niên nhất của tiểu đoàn. Cả hơn một trung đoàn địch, sau nhiều đợt tiền pháo kinh hoàng đã đồng loạt xung phong nhằm tràn ngập vị trí đóng quân của tiểu đoàn 4/1. Trung Tá Lê Huấn rời khỏi hầm chỉ huy, đích thân điều động đơn vị quyết chiến trước một cuộc thư hùng sinh tử. Từng đợt địch quân bị đốn ngã ngay trước giao thông hào, nhưng bọn chúng như là những con thiêu thân lao vào lửa, lớp này ngã lớp khác lại xông tới. Nhờ sự chiến đấu kiên cường của đơn vị anh, và đặc biệt dưới sự chỉ huy tài tình và gan dạ của vị tiểu đoàn trưởng lừng danh, đã ngăn chặn, tiêu hao và cầm chân địch trước khi được những phi vụ không yểm, đánh trên đầu địch. Những trận không kích gây thiệt hại nặng nề cho địch nhưng cũng làm bị thương một số binh sĩ của đơn vị, vì khoảng cách giữa ta và địch quá gần. Anh là một trong những người bị trọng thương hôm ấy. Trời tối, lưới phòng không dày đặc, trời lại mưa, không tản thương được, anh Lê Huấn ra lệnh ban quân y mang anh vào nằm trong hầm chiến đấu của anh Huấn để được tương đối an toàn và  băng bó chữa trị cấp thời. Thấy máu và bụi bặm thắm đầy bộ chiến y ướt đẫm của anh, vị tiểu đoàn trưởng bảo người lính cận vệ lấy bộ áo quần trong ba-lô của mình mang đến thay cho anh. Khi tản thương về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, nhiều bác sĩ cứ tưởng anh là Trung tá Lê Huấn, bởi bảng tên và cả cái lon trung tá còn nguyên trên ngực và cổ áo.

Vết thương chưa lành, nằm trong Quân Y Viện mà lòng anh rất nôn nao khi biết tin đơn vị tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719. Một kế hoạch qui mô với sự tham chiến của hầu hết các đơn vị chiến đấu thuộc Vùng I:  Sư Đoàn 1BB, các đơn vị Thiết Giáp, Biệt Động Quân, cùng với các Sư Đoàn Nhảy Dù và TQLC. Sư Đoàn Nhảy Dù và Sư Đoàn 1BB của anh được chọn làm những nỗ lực chính. Anh khao khát được có mặt cùng đơn vị trong trận chiến đặc biệt này, nhưng vết thương ở chân phải là trở ngại chính để bắt anh phải nằm lại ở đây.

Anh theo dõi từng ngày từ khi cuộc hành quân bắt đầu. Các tin tức không vui từ chiến trường, những tổn thất nặng nề của quân ta sau khi các căn cứ 31, 30 lần lượt thất thủ. Đại Tá Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù cùng nhiều cấp chỉ huy của ta bị lọt vào tay giặc. Một số đã tự sát để giữ tròn khí tiết. Từ các kế hoạch hành quân tồi tệ mà địch quân gần như biết trước để chuẩn bị trận địa đến việc thiếu thống nhất ở các cấp chỉ huy đã góp phần cho sự thảm bại. Điều đau đớn nhất đã làm tim anh thắt lại khi nghe tin Tiểu Đoàn 4/1 của anh nhận lãnh trách nhiệm nặng nề, làm lực lượng chặn hậu để cho Trung Đoàn rút lui khỏi căn cứ Lolo trong tình trạng bị bao vây nguy khốn. Anh bật khóc khi nghe tin Trung Tá Lê Huấn, vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi tài năng đã lẫm liệt hy sinh, và cả tiểu đoàn chỉ còn 32 binh sĩ sống sót trở về! Anh nghĩ từ nay sẽ vĩnh viễn không còn gặp lại người chỉ huy mà anh ngưỡng phục và hằng mong được tiếp tục phục vụ dưới quyền. Anh nhớ tới bộ quân phục mà Trung Tá Lê Huấn đã đưa cho anh thay khi anh bị trọng thương cách đây vài tháng, anh còn chưa kịp trả lại, và bây giờ thì không còn có cơ hội để trở về khổ chủ. Anh quyết định giữ lấy bộ quân phục này như một kỷ vật thiêng liêng trong cuộc đời mình. Và sau đó dù phải trải qua bao nhiêu thăng trầm, khốn khổ, nhất là sau ngày nước mất nhà tan, anh vẫn luôn trân trọng bộ quân phục mà anh nghĩ có mang hồn thiêng của anh Lê Huấn và của cả những đồng đội đã hy sinh.

Sau khi xuất viện, anh được bổ sung đến một trung đoàn khác giữ chức vụ tiểu đoàn phó. Tháng 10/ 1971 anh thăng cấp Thiếu tá tại mặt trận. Cuối năm anh lên nắm tiểu đoàn thay thế vị tiểu đoàn trưởng bị thương, sau khi xuất viện được theo học khóa quân chánh. Một thời gian sau đó, vết thương cũ ở chân phải tái phát. Sau khi chữa trị anh đi khập khiễng. Hội Đồng Giám Định Y Khoa xếp anh vào loại 2, không chiến đấu được. Được đề nghị bổ sung về Phòng 3 Quân Đoàn, nhưng anh xin đi làm chi khu phó cho anh tiểu đoàn trưởng cũ, bây giờ là quận trưởng của một quận miền núi. Quận lỵ là một tiền đồn chiến lược, nằm tại một vị trí trọng yếu khống chế cả con đường tiếp liệu của Cộng quân, nên bọn chúng tìm mọi cách để san bằng. Gần cuối năm 1974, Cộng quân mở nhiều đợt tấn công biển người nhằm chiếm quận lỵ, vị quận trưởng bị thương nặng. anh đã phối hợp với các đơn vị bạn tăng cường, trực tiếp chỉ huy điều động cuộc phản công rất oanh liệt giữ vững được phòng tuyến qua nhiều cuộc tấn công qui mô của địch. Nhưng tổn thất của ta khá nặng và đạn dược dần dà cạn kiệt, trong lúc Cộng quân luôn được tăng cường, cuối cùng anh phải mở đường máu, rút lui trước khi căn cứ bị địch quân tràn ngập. Anh bị thương nặng ở chân do đạn pháo kích, điều kỳ lạ là ngay tại vết thương cũ. Nhờ kinh nghiệm chiến trường và hai chú em nghĩa quân rất trung thành và khôn ngoan tận tình giúp đỡ, luân phiên cõng anh thoát khỏi vòng vây truy lùng của địch. Anh được đề nghị thăng cấp đặc cách lên trung tá, nhưng sau đó bị cưa mất chân phải. Nỗi đau đớn vì phải mất đi một phần thân thể chưa nguôi, thì cái đau đớn tột cùng cũng vừa ập đến: Tháng 3/75, cả Vùng I bỗng chốc lọt vào tay Cộng sản, Sư Đoàn 1BB, đơn vị nổi danh mà anh luôn hãnh diện phục vụ trong gần cả một đời binh nghiệp cũng tan tành, rồi cả miền Nam mất vào tay giặc. Những đồng đội từng chiến đấu, một thời sống chết cùng anh bỗng dưng tan tác như chỉ sau một cơn ác mộng.

Mất một cái chân, nhưng anh vẫn bị tù đày nghiệt ngã trên bảy năm trong nhiều trại tù của bọn Cộng sản man rợ. Ra khỏi tù anh lại mất cả gia đình. Người vợ xinh đẹp ngày nào đã gởi đứa con gái lớn, năm tuổi, cho bà nội già, bồng theo đứa con trai ba tuổi, lẳng lặng sang sông về một nơi nào đó. Gia tài một đời binh nghiệp của anh giờ chỉ còn mỗi một bộ đồ trận, chiến y của người chỉ huy mà anh từng kính yêu đã hy sinh. Trước khi vào tù, anh căn dặn mẹ anh phải giữ kỹ bộ quân phục này cho anh với bất cứ giá nào, bởi đó là một kỷ vật quý giá nhất còn lại của đời anh. Theo đề nghị của mẹ, anh để cho bà tháo ra và đốt đi bảng tên cùng cấp bậc may trên áo.

Có lẽ từ lâu lắm mới có người chăm chú ngồi nghe, nên anh say sưa kể cuộc đời mình. Đôi lúc sụt sùi, nước mắt tưởng đã khô cằn, bỗng ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ già nua, và từng giọt rơi xuống bộ quân phục anh đang ôm ấp trong lòng mình.

- Sau này anh có dịp nào gặp lại chị nhà và đứa con trai? Tôi hỏi.

- Bà đã có chồng khác từ lâu rồi, đang sống ở Âu Châu. Tôi buồn nhưng không trách. Ngại đụng chạm tới hạnh phúc riêng của bà, và cả vết đau trong lòng mình nên không muốn liên lạc. Còn đứa con trai có sang thăm tôi vài lần, nhưng cháu vẫn nhìn tôi xa lạ lắm. Cũng phải thôi, vì khi tôi vào tù thì cháu chỉ mới lên ba, trong ký ức của cháu có lưu lại một chút hình ảnh gì của tôi đâu. Riêng con gái tôi thường sang thăm mẹ và em cháu.

Nói dứt câu, anh cúi xuống như muốn giấu riêng nỗi xúc động.

- Anh có thường cảm thấy cô đơn và tiếc nuối những ngày xưa?

- Cũng có chứ, nhưng lâu rồi đã thành quen và gần như không còn muốn nhớ tới nhiều chuyện cũ.

Tôi đưa tay nắm chặt bàn tay anh thay cho một lời an ủi khó nói thành lời. Bỗng anh ngước lên, mở to đôi mắt:
- Điều buồn của tôi bây giờ là thấy một số trong đám anh em mình mất đi khá nhiều sĩ khí, có thằng còn khốn kiếp đã vì chút lợi lộc mà bị dụ dỗ, chạy hùa theo giặc, nịnh bợ thô bỉ, quên mình từng hãnh diện là sĩ quan thuộc các binh chủng hào hùng.  Nhìn bọn chúng múa may khóc lóc làm trò trước mặt đám cộng sản mà tôi muốn buồn nôn!

Tôi cười:
- Anh bận tâm tới những kẻ ấy làm gì. Trong tập thể nào lại không có những  con sâu, tồi tệ, bán rẻ linh hồn. Nhưng đó cũng chỉ là vài trường hợp cá biệt. Cũng như nước Mỹ vừa có thằng phản quốc Edward Snowden, đang trốn ở Nga Sô. Theo tôi, đại đa số anh em mình vẫn còn giữ được tấm lòng, danh dự, tình huynh đệ và trách nhiệm với quê hương đất nước chứ!

Bỗng đôi mắt anh sáng lên:
    -Điều vui và an ủi tôi nhiều nhất là các tổ chức gây quỹ giúp anh em thương phế binh sống khốn khổ ở quê nhà. Đặc biệt là các buổi Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh thành công tốt đẹp. Thấy anh em nhà binh mình cùng bà con tham gia hưởng ứng nhiệt tình, tôi mừng và cảm động lắm. Ở bên nhà các cha thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn cũng đã can đảm, hết lòng an ủi và làm sống dậy niềm tự hào của những anh em thương binh bất hạnh của mình, tôi cảm phục vô cùng. Có bao nhiêu tiền dành dụm tôi đều nhờ cô con gái gởi về phụ với các cha.

Tôi cười, biểu lộ sự đồng tình. Định nói thêm đôi điều về những đóng góp phần mình, bỗng nghe anh hỏi:
- Bạn ở Âu Châu, sang Mỹ một thời gian, chắc đã thấy trong đám anh em mình bây giờ cũng có lắm người bon chen danh lợi. Mà tội nghiệp thay toàn chỉ là danh hão! Có ông giành hội này, bám tổ chức kia, mâm nào cũng có mặt. Thấy mà phát ngượng! Nhiều ông tướng ông tá có danh thời trước, sang đây lại đầu quân làm tướng phường tuồng cho mấy cái chính phủ tự xưng tự diễn. Trong đó có cả những ông ngày xưa là cấp chỉ huy lớn của mình. Ngán ngẫm thật. Giấy rách mà cũng chẳng còn cái lề nào để mà giữ nữa!

Tôi cười. Chưa kịp nói một lời an ủi, bỗng thấy anh sa sầm nét mặt:

- Một điều đáng buồn hơn là ở Mỹ này thiên hạ lạm dụng bộ quân phục một cách đến lố bịch. Đám cưới, sinh nhật, ca hát tiệc tùng nhảy nhót mà cũng có người mặc quân phục. Có lần tôi thấy một ông mặc quân phục, mang cả lon lá và huy chương lên truyền hình để quảng cáo thuốc cho một ông thầy thuốc Nam. Tôi xấu hổ và giận đến tím cả mặt. Tối hôm ấy, tôi ôm bộ quân phục này của anh Lê Huấn mà thấy lòng xót xa vô hạn.

Nhớ lại một câu chuyện liên quan tới bộ quân phục đã xảy ra tại đất nước Na-Uy, nơi gia đình tôi đang định cư, tôi kể cho anh nghe:
Tháng 11 năm 2004, bà Kristin Krohn Devold, Bộ Trưởng Quốc Phòng Na-Uy, đến viếng thăm binh sĩ thuộc các đơn vị quân đội Na-Uy tham chiến tại Afghanistan trong lực lượng NATO. Bà được ca ngợi là một nữ bộ trưởng can đảm đã đến thăm binh sĩ khi chiến trường đang ác liệt nhất. Nhưng sau khi tin tức và hình ảnh về chuyến viếng thăm này được chiếu trên đài truyền hình quốc gia Na- Uy (NRK), bà bị nhiều sĩ quan và binh sĩ Na-Uy phàn nàn, phản đối khi thấy bà mặc quân phục từ một chiếc trực thăng bước xuống thăm một đơn vị tác chiến Na- Uy, và cả khi được Thủ Tướng Afghanistan, Hamid Kazai tiếp đón tại thủ phủ Kabul.  Báo chí cũng góp phần tranh luận và tỏ ra bất bình về sự kiện này. Hầu hết cho rằng bà chưa hề ở trong quân đội, nên không được phép sử dụng quân phục, dù trong bất cứ chức vụ hay hoàn cảnh nào. Những quân nhân cho rằng bộ quân phục còn có tính thiêng liêng, bởi nhiều chiến binh đã hy sinh trong bộ quân phục này. Mặc dù bà và một số cơ quan chính phủ lên tiếng biện minh, viện lý do vì sự an toàn cho bà trong một hoàn cảnh đặc biệt, nhưng vẫn không được chấp nhận.  Cuối cùng bà phải bắt buộc lên tiếng chính thức xin lỗi quân đội và cả dân chúng Na-Uy về điều này.

Nghe tôi kể xong, anh đưa bộ quân phục đang cầm trong tay lên như để khẳng định một điều gì.

 - Đúng như thế, bộ quân phục đối với tôi luôn là một kỷ niệm thiêng liêng. Có biết bao đồng đội của tôi hy sinh đã được liệm với bộ quân phục thấm đẫm máu đào của họ. Xin đừng lạm dụng và làm đau lòng họ.

Sau lần gặp gỡ đầu tiên này, tôi còn đến thăm anh một vài lần nữa, và bảo cô con gái, “bác ấy là người tốt, một sĩ quan đáng kính, con nên thường thăm nom và giúp đỡ bác những điều cần thiết”. Hôm đến chào từ giã anh để trở về lại Na-Uy, tôi mang biếu anh hai chai rượu đỏ loại tốt. Tôi khuyên anh, khi nào buồn thì uống vài ly cho nguôi ngoai, không nên uống nhiều rượu mạnh và hút thuốc lá, có hại cho sức khỏe. Anh nở nụ cười, nhưng bỗng trở nên buồn bã:
- Anh đi rồi, tôi lại cô đơn, chẳng còn ai tâm sự.

Hôm đó, tôi ở lại với anh tới hơn một giờ khuya. Chống nạng tiễn tôi ra cửa, anh bắt tay từ giã nhưng giữ khá lâu, không muốn tôi đi. Tôi cười, bảo nhỏ:
- Anh cố dỗ giấc ngủ, đừng thức dậy nửa đêm, uống rượu chống nạng đi quanh trong nhà. Bọn tôi ở tầng dưới cũng mất ngủ với anh luôn.

Anh gật đầu, cười thông cảm.

Sáu tháng sau, khi trở lại Mỹ, tôi liền đến thăm anh. Bấm chuông mấy lần không ai mở. Tôi không còn nghe tiếng động của đôi nạng gỗ gõ xuống nền nhà như mọi khi. Buổi chiều, cô con gái đi làm về, cho tôi biết là anh ấy bị ung thư gan ở thời kỳ cuối. Con gái của anh đã đưa anh vào bệnh viện Fountain Valley từ tuần trước. Tôi lái xe xuống ngay bệnh viện thăm anh. Anh nằm bất động. Khi tay tôi chạm vào anh, anh mở hé mắt nhìn tôi và miệng cố nở nụ cười, méo mó. Thấy anh cười mà tôi muốn khóc.  Trông anh tiều tụy và hốc hác quá. Nhưng anh rất bình tĩnh, như ngày xưa khi đối diện trước quân thù. Anh muốn ngồi dậy, nhưng không còn đủ sức. Tôi ngồi bên cạnh, đưa tay xoa trên ngực anh, bảo anh cứ nằm nghỉ.

- Bác sĩ bảo tôi không còn nhiều thời gian nữa, ngày mai phải xuất viện về nhà để gia đình lo hậu sự - Anh nói bằng một giọng thì thào, yếu ớt.

Khi nhắc đến hai chữ gia đình, anh lại cười, chua chát:
- Lại gia đình…!

Hiều ý anh, tôi nói đùa cho anh vui:
- Phải nói là đại gia đình, vì ngoài cô con gái của anh, anh còn có chúng tôi nữa. Cứ yên tâm mà đi. Nhớ dọn sẵn một bãi đáp cho ngon lành, chờ tôi, một ngày nào đó sẽ đáp xuống sau anh.

Chiều hôm sau anh được xe bệnh viện đưa về nhà. Cô con gái túc trực bên anh. Tôi cũng luôn có mặt. Anh ra dấu bảo tôi đỡ anh ngồi dậy và ngỏ ý muốn uống với tôi một ly rượu đỏ. Cô con gái ngần ngừ, nhưng thấy tôi ra dấu gật đầu, cô rót hai ly rượu, một ly mời tôi và một ly cô cầm đưa vào miệng cha cô. Cuối cùng chúng tôi cũng cạn ly. Không ngờ đó là ly rượu biệt ly. Tôi bỗng nhớ tới lời của một bài ca cũ: “bạn ơi, quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tôi đã… đã đi xa rồi…”

Khuya hôm đó anh trút hơi thở cuối cùng. Cô con gái cho biết anh ra đi rất yên ả. Không trăng trối một lời gì. Chỉ để lại một mảnh giấy nhỏ với vài chữ ngoằn nghèo: “Nhớ liệm ba bằng bộ quân phục trong tủ kính, nghe con.”

Đám tang thật đơn giản theo ý muốn của anh. Mấy lần anh dặn dò cô con gái không được đăng cáo phó hay báo tin cho ai biết. Tại nhà quàn, ngoài cô con gái của anh và cậu bạn trai người Mỹ, chỉ có vợ chồng tôi cùng cô con gái út. Một nhà sư già tụng một thời kinh trước khi đậy nắp quan tài. Tôi đứng nghiêm đưa tay lên chào anh. Anh nằm uy nghiêm trong bộ quân phục, khuôn mặt ánh lên nét hào hùng. Tôi có cảm giác như anh vừa chết tại chiến trường. Không có bất cứ một nghi lễ nào, nhưng tai tôi như đang văng vẳng tiếng kèn truy điệu và khúc nhạc Chiêu Hồn Tử Sĩ.

Đứng nghiêm chào anh một lần nữa, khi quan tài đưa vào lò thiêu. Mọi thứ đều trở về với cát bụi. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui bất chợt, khi nghĩ anh sắp được gặp lại anh Lê Huấn và những đồng đội cũ đã hy sinh, những chiến sĩ đích thực đã rất xứng đáng với bộ quân phục oai phong của QLVNCH. Họ đã tạo cho bộ chiến y một điều gì đó rất thiêng liêng.

Phạm Tín An Ninh

Về Đầu Trang Go down
vnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Wed Oct 28, 2015 3:35 am


 
Người lính VNCH Nguyễn Văn Răng

Huỳnh Anh Tú (Danlambao) - Trong một chiều mưa tầm tã chú Răng ghé thăm tôi. Hai chú cháu ngồi tâm sự bên tách cà phê đắng. Chú đã ôn lại quá khứ bi hùng trong đời lính và nhắc lại những kỷ niệm vui buồn trong chốn lao tù cũng như bao nỗi gian truân khốn khó sau thời gian chú vượt ngục.

Chú Nguyễn Văn Răng sinh năm 1952 là một cựu tù nhân chính trị vừa mãn án ngày 18/9/2015.

Một người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), dù trong mọi hoàn cảnh vẫn nêu cao tinh thần Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm. Một tù nhân chính trị, dù trong mọi tình huống vẫn giữ được ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất, luôn trung thành với lý tưởng của mình đã chọn - chống chế độ độc tài toàn trị.

Chú Răng xuất thân từ gia đình nông dân thật thà chất phác sinh sống tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đôi bàn tay của chú chai sạn, thô kệch với những vết sẹo đã vẽ lên một quãng đời gian nan nguy khó, trải qua bao thống khổ cùng cực và đau buồn. Đặt tách cà phê lên bàn, đôi mắt chú nhìn xa xăm, hồi tưởng lại...

Ký ức thời lính

“Vào một buổi trưa, trên chiếc xuồng chở đầy ắp mía mới thu hoạch, chú hớn hở chèo về. Khi vừa tới nhà thì có một người quen chạy đến báo tin: “Chị Chiến của mầy và chồng của chỉ bị Việt Cộng giết rồi. Sau đó Chú hốt hoảng chạy theo người báo tin để xác nhận thông tin này thực hư ra sao.”

Đầu Xuân năm 1968, Nguyễn Thị Chiến chị ruột của chú Răng đến thăm chồng tại đồn Cồng Cộc, xã Phú Quới, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Bất ngờ Việt Cộng ồ ạt tấn công vào đồn. Lúc bấy giờ chị Chiến đang có mặt cùng chồng dưới hầm truyền tin. Chị đã kịp thời chạy thoát ra ngoài. Vì không thấy chồng mình đâu nên chị vội trở xuống hầm và thấy chồng và một số chiến hữu đã chết. Chồng chị là Âm Thoại Viên và bản thân chị cũng học được từ chồng một số thao tác sử dụng máy để truyền tin. Không thể chậm trễ thêm nữa, chị bắt máy lên kêu gọi “hủy diệt” đồn Cồng Cộc. Liền sau đó, phía sau chị một người lính Việt Cộng từ ngoài xông vào, liên tục đâm “ba nhát” lưỡi lê vào lưng chị - Số phận của người lính “không số quân” Nguyễn Thị Chiến đã cùng chồng ra đi vĩnh viễn.

“Biết được sự thật này chú đau khổ lắm” Chú Răng xót xa giọng nói trở nên trầm buồn hơn, "Chú uất ức không nói nên lời, lặng lẽ nhận xác hai người về nhà để mai táng và chôn cất".

Cái chết của người chị và anh rể quá thê thảm. Chú Răng đã quyết định đăng lính. Vì thời gian đó chú mới 17 tuổi nên không đủ tuổi để nhập ngũ. Tuy nhiên không vì thế mà chú từ bỏ quyết tâm của mình. Chú đã tìm người để giúp làm “khai sinh giả” cho mình. Cuối cùng anh Nguyễn văn Răng sinh năm 1951 chính thức được vinh dự đứng vào trong hàng ngũ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) năm 1968.

Đơn vị đầu tiên của chú Răng là đơn vị Biệt Kích 8, tỉnh Vĩnh Long. Sau đó chú qua tiểu đoàn 3, trung đoàn 16, sư đoàn 9 đóng tại huyện Châu Thành, Vĩnh Long. Thời gian này, một lần nữa chú Răng đã tự tay mình đem xác của người anh rể khác là lính thuộc Địa Phương Quân tử trận tại Ba Kè - Vĩnh Long, về quê nhà mai táng và chôn cất.

Năm 1972 chú vào đơn vị Địa Phương quân tiểu đoàn 520 - Vĩnh Long.

“Đơn vị của chú liên tục “đụng độ” nhiều trận chiến ác liệt, đã khiến cho Việt Cộng phải khiếp sợ”, chú tự hào kể thêm, “Vào đêm 30/4/1975, tiểu đoàn 520 - Vĩnh Long, chú đã cùng tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Long, đại tá Lê Chí Thành quyết tử thủ đến giờ phút cuối cùng. Nếu ai đã từng ở đơn vị Địa Phương quân tiểu đoàn 520 - Vĩnh Long cũng đều biết đến những chiến công oanh liệt tại đây”.

Năm tháng tù đày

Sau 1975 chú Răng đã lẻn vào kho vũ khí tại xã Phú Quới, huyện Châu Thành - Vĩnh Long và lấy một số súng M16 và M79.

Sau đó chú đã liên kết một số anh em “ít ỏi” gồm Trần Hữu Phước, Trần văn Lợt, Nguyễn Văn Tư, Hoàng (đã quên họ) cùng một số người khác, thành lập tổ chức chống lại chế độ Cộng sản.

Ngày 23/6/1976 nhận thấy sự việc đã bại lộ, chú Răng cùng các anh em giải tán đến nơi khác. Trên đường di chuyển, người bạn tên Hoàng xin phép anh em ghé nhà bà ngoại mình để từ giã. Vì quá thương cháu và không hiểu hết tầm nghiêm trọng của vấn đề nên bà ngoại Hoàng đã báo lại công an địa phương. Cuối cùng chú Răng và tất cả anh em bị bắt ngay trong ngày hôm đó.

Những ngày đầu tiên tạm giam tại nhà khám lớn Vĩnh Long, họ nhốt chú cùng phòng với linh mục Nguyễn Ngọc Đạt và cùm hai giò của chú cùng 'sâu cùm' với linh mục Đạt.

“Tuy họ không đánh đập gì nhiều, nhưng dùng hình thức tra tấn nhục hình khác còn “quá cha” hơn, đó là suốt một tuần lễ họ hoàn toàn không cho chú ngủ. Sau tuần lễ đó, liên tục nhiều tháng họ thay phiên nhau kêu chú làm việc không kể ngày hay đêm. Họ muốn khủng bố tra tấn tinh thần của chú, có lần chú đã ngất xỉu vì kiệt sức”.

Phiên tòa sơ thẩm tại tòa án nhân dân tỉnh Cửu Long đã kết án chú Nguyễn Văn Răng mức tử hình với tội danh “âm mưu nhằm lật đổ chính quyền”. Chú không đồng ý với mức án đó vì có một số tình tiết áp đặt không đúng với bản chất sự việc, do đó chú đã kháng án, nhưng cuối cùng tòa án tối cao vẫn giữ mức y án ban đầu.

Sau hơn 6 tháng bị giam cùm trong ngục tối, chú đã nhận được quyết định của chủ tịch nước giảm án từ tử hình xuống chung thân.

Sau khi nhận mức án chung thân họ giải chú tới trại tù Bến Giá tỉnh Trà Vinh. Nơi đây chú Răng đã một lần cướp súng “cán bộ” để vượt ngục nhưng không thành. Họ lại giam cùm chú lần nữa nữa.

Năm 1989, Chú Răng bị giải về trại A20, Xuân Phước. Tại đây chú đã làm quen và kết thân cùng nhiều anh em tù nhân chính trị và tôn giáo như thầy Thích Thiện Minh, Nguyễn Văn Bàng, Trần Ngọc Bôi… và một số tu sĩ Dòng Đồng Công. Chú Răng cho biết:

“Trại tù Xuân Phước là trại tử thần. Các cai ngục xem tù nhân như là rơm rác, hầu hết bọn họ đều không có nhân tính.

Tất cả các tù nhân dù già hay trẻ đều bị bắt lao động khổ sai. Chú bị phân công vào đội 1 đào ao cá, mỗi người phải đào “hoàn thành” 2m3/ngày. Mặt bằng ở đây đều là đất đá các tù nhân phải vất vả dùng xà beng để phá lớp đất đá trên mặt là đã mất cả buổi trời, rồi mới xuống được lớp đất mềm phía dưới.

Còn chế độ sinh hoạt của tù nhân bị chèn ép thật tàn nhẫn, mỗi buổi ăn chỉ là một chén và canh thường là “rau muống già luôn cả rễ” thêm chút muối. Chăn mềm không đủ ấm, và áo không đủ măc... Chú chứng kiến rất nhiều anh em khi ra hiện trường lao động chưa làm gì thì đã ngất xỉu vì đói rét."

Vào năm 1990, một số tù nhân chính trị và tôn giáo bị giải về trại tù Z30A Xuân Lộc.

Vượt ngục và duyên tình

Ngày 10/7/ 1991 chú Răng đã vượt ngục thành công. Chú nói: “Sau khi vượt khỏi ngục chú đi đến các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang… vào tận các phum sóc của người Campuchia để mà làm ăn. Sau đó chú lần đến Bệ Ba Dong, Vườn Cả Hơn mong gặp các chiến hữu xưa. Vì nơi đây là một trong những mật khu của lính VNCH sau 1975”.

Trong suốt ba năm làm ăn và chờ đợi. Tình cờ chú làm quen được với cô Nguyễn Thị Kim Khoa, một thôn nữ ở tỉnh Đồng Tháp hiền lành cũng làm mướn trên đây. Ông trời đã xót thương một con người bất hạnh và tác hợp cho cô chú được bên nhau. Chú Răng vui vẻ nói tiếp:

“Thật tội nghiệp cho cô Khoa lắm, con gái lấy chồng mà không được rước dâu. Lễ cưới được tổ chức tại nhà mẹ của cô Khoa, ấp Bình An xã bình Thành huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp. Chú nhờ người giúp lén lút đến gia đình chú để mời cha mẹ anh em đến đây dự”.

Họ đã sống hạnh phúc bên nhau được hơn 10 năm và có được hai mặt con. Cuối cùng giờ “định mệnh” đã đến. Chú xót xa kể lại:

“Vào ngày 4/1/2012 là ngày giỗ của ba chú. Vì chú không thể đưa vợ con về nhà ba mẹ tại xã Phú Quới, huyện Châu Thành - Vĩnh long, để thắp cho ông 1 nén nhang được. Mà bé Nguyễn Thị Hoàng Nhi con chú nó nhớ bà nội, nên xin phép chú được cùng mẹ về nội dự đám đồng thời được thăm bà. Về đây thì công an xã địa phương đã bắt hết cả ba mẹ con. Lần theo giấy tờ của cô Khoa công an biết được nơi ở của chú, rồi ngay đêm khuya hôm đó công an đến bố ráp bắt chú”.

1 giờ đêm ngày 5/1/2012, Chú Răng đã bị bắt trở lại và bị giải về ngay trại tù Z30A- Xuân Lộc, và đến 5/3/2014 hay tin cô Nguyễn Thị Kim Khoa đã vĩnh viễn ra đi trong cơn đột qụy.

Dường như chú quá đau lòng khi kể tới đây nên chú chỉ biết nhìn trời, nhìn vào những hạt mưa cuối cùng đang rơi xuống... Tôi cảm thông được nỗi lòng của chú lúc bấy giờ nên không hỏi gì thêm.

Viết những dòng chữ này, tôi không chỉ muốn những người Việt Nam yêu tự do biết về người tù Nguyễn Văn Răng, mà còn biết về những người đã hy sinh và chịu tù đầy trong thầm lặng như thế nào.

Còn và còn nhiều lắm những người sẵn sàng chết cho đất mẹ, cho tự do và những điều tốt đẹp. Để thấy rằng mỗi chúng ta không thể nằm ngoài trách nhiệm với tổ quốc thân yêu này.


Chú Nguyễn Văn Răng cùng con gái Nguyễn Thị Hoàng Nhi

28/10/2015
Huỳnh Anh Tú
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
MaiNguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Wed Nov 04, 2015 9:35 am



Người bạn học và ông thầy cũ

 
Phạm Tín An Ninh

     Đơn vị tôi, dù đã tạo được những chiến thắng lẫy lừng trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, để có một “Kontum Kiêu Hùng” và giữ vững được Tây Nguyên, nhưng có chiến thắng nào lại không phải trả giá bằng máu xương chiến sĩ. Để kịp thời đối phó với tình hình chiến tranh leo thang, ngày một khốc liệt, đơn vị cần được khẩn cấp bổ sung quân số, từ cấp đại đội trưởng cho đến khinh binh. Số lượng sĩ quan, hạ sĩ quan tốt nghiệp ở các quân trường không đủ, nên Bộ TTM phải ban hành kế hoạch “đôn quân”, đưa những quân nhân phục vụ lâu năm từ các tiểu khu, các quân trường, trung tâm huấn luyện, ra bổ sung cho các đơn vị tác chiến đang thiếu hụt quân số.

      Tháng 5-1973. Thời gian này tôi đang đảm trách một phần hành tại Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn. Trong lần đơn vị tiếp nhận một số khá đông sĩ quan và hạ sĩ quan, tôi bất ngờ nhận ra trong số những người đang xếp hàng trình diện ông Trung Đoàn Trưởng có một người bạn học khá thân và một vị giáo sư thời trung học ngày xưa. Thằng bạn mang cấp bậc đại úy – tôi đã biết từ trước, nhưng điều đặc biệt làm tôi ngạc nhiên là ông thầy chỉ mang cấp bậc trung sĩ nhất. Thoáng có một chút ngờ vực, tôi bước tới gần ông hơn để chắc chắn là trí nhớ của mình không tệ lắm.

     Chờ thủ tục trình diện xong và sau khi ông Trung Đoàn Trưởng dặn dò vài điều cần thiết, tôi chạy đến ôm chầm lấy người bạn và kéo đến gặp ông thầy còn đang đứng ngơ ngác trong hàng. Thằng bạn không nhớ ông thầy, có lẽ nó chỉ học với ông một vài tháng ngắn ngủi. Và dường như ông thầy cũng chưa nhận ra tôi, nên vội đứng nghiêm đưa tay lên chào. Tôi kéo cả hai người vào một căn hầm lớn được dùng làm Trung Tâm Hành Quân, nơi tôi đang làm việc.

Đỗ Bê, bạn tôi, quê ở trên Thành – Diên Khánh.  Học cùng lớp với tôi những năm đệ nhất cấp bên trường Văn Hóa.  Lớn hơn tôi một tuổi, đẹp trai, tính tình hiền lành và rất hiếu học. Bê và người bạn cùng quê, anh Phan Ái Minh, cũng là bà con họ hàng, thuê một căn nhà nhỏ ở sau khu đình Phương Sài trọ học. Tôi thường đến đây chơi với Bê, nên sau này cũng trở nên thân thiết với Minh. Sau khi đỗ trung học, Bê và tôi cùng vào đệ tam trường Võ Tánh. Bê học Ban A còn tôi Ban C. Phan Ái Minh thì học ở đây từ trước và trên bọn tôi một lớp. Sau này, cả ba thằng đều đi lính.  Phan Ái Minh vào Khóa 20 trường Võ Bị Đà Lạt, còn Bê và tôi vào Thủ Đức.  Minh nhập học Võ Bị trước một năm nhưng ra trường sau tôi sáu tháng. Ra trường Minh được bổ sung về cùng trung đoàn với tôi, nhưng khác tiểu đoàn. Một tháng sau, khi tôi còn đang hành quân trên Lâm Đồng thì nghe Minh tử trận ở Lạc An. Hai đứa đã hẹn nhau trong hệ thống vô tuyến, để rồi vĩnh viễn không bao giờ gặp lại.

     Đỗ Bê vào Thủ Đức sau tôi một khóa. Ra trường được bổ sung về làm huấn luyện viên tại Trung Tấm Huấn Luyện Lam Sơn – Dục Mỹ. Sau đó, tôi chỉ gặp Bê một lần duy nhất vào cuối năm 1970, khi bạn tìm đến thăm tôi đang nằm điều trị vết thương tại Quân y Viện Nguyễn Huệ, mang cho tôi ít đồ dùng, một xâu nem Ninh Hòa và mấy lon bia. Bê dìu tôi ra chiếc ghế đá phía sân sau, vừa uống bia vừa nghe tôi kể chuyện chiến trường. Thấy tôi hành quân vất vả, bị thương mấy lần, nó an ủi, bảo là số nó nhiều may mắn hơn tôi.

     Thầy tôi, giáo sư Hồ Đắc Huế, là ông thầy đầu tiên khi tôi bắt đầu bậc trung học. Năm 1958 tôi thi rớt vào lớp đệ thất trường công lậpVõ Tánh. Ngôi trường nổi tiếng vùng duyên hải miền Trung. Buồn và xấu hổ với đám bạn bè cùng quê, nhất là hối hận vì đã làm cha tôi thất vọng. Thời ấy ở quê tôi chưa có trường trung học nào. Chưa biết phải làm gì thì một buổi chiều, sau khi đi làm về, cha tôi cho biết có một giáo sư từ trường trung học Bồ Đề Nha Trang ra Vạn Giã, quê tôi, mở trung học tư (cũng mang tên Bồ Đề), nhưng trước khi niên học bắt đầu vào mùa thu, ông sẽ mở một khóa Hè đặc biệt dành cho các học sinh trung học. Điều đặc biệt bất ngờ hơn, cha tôi bảo là thời gian đầu ông sẽ trọ ở nhà tôi, vì chưa tìm được nhà để thuê. Ông tên Huế và cũng là người gốc Huế, bà con họ hàng với người bạn thân của cha tôi ở Nha Trang, cũng là một ông thầy giáo gốc Huế khác. Chính ông giới thiệu thầy và nhờ cha tôi giúp.

     Không biết là thầy có những bằng cấp gì, nhưng ông dạy rất nhiều môn, từ Việt Văn, Pháp Văn đến Toán, Lý Hóa. Môn nào thầy dạy cũng hay, đặc biệt thầy nói tiếng Pháp nghe cứ như Tây. Sau này tôi mới biết là thầy từng du học ở Pháp. Nghe tiếng của thầy, học trò kéo đến học rất đông. Học phí thấp. Biết đứa nào nhà nghèo thầy chỉ lấy tượng trưng.

     Thầy khá đẹp trai, mái tóc bồng bềnh và đôi mắt thật buồn. Trông thầy có dáng dấp một nghệ sĩ hơn là ông thầy giáo. Có hai điều giống cha tôi là thầy rất thích đánh cờ tướng và hút thuốc liên tục. Dường như lúc nào tôi cũng thấy có điếu thuốc trên tay thầy. Và cả hai người đều hút Bastos xanh. Cứ mỗi lần tôi đi mua thuốc cho cha tôi thì thầy nhờ mua thêm cho thầy mấy gói. Cha tôi dành cho thầy căn phòng lớn nhất trong nhà, có cửa ra vườn sau. Khu vườn nhỏ chỉ trồng mấy cây cam và một vòm hoa giấy. Có lẽ lúc ấy tôi còn con nít, nên thầy chỉ thường ngồi đánh cờ và tâm tình với cha tôi. Nhưng buổi tối, những lúc thầy ngồi đàn hát phía sau vườn, tôi được thầy gọi cho ngồi nghe và bảo tôi “chấm điểm những bài hát của thầy”. Thầy hát rất hay những bài do chính thầy sáng tác, hoặc phổ từ những bài thơ của thầy.  Hầu hết là những bản nhạc buồn. Giọng trầm và tha thiết. Thầy nhìn vào xa xăm và hát như là đang trút tâm sự cùng ai đó chứ không phải cho tôi nghe. Ban đầu tôi cứ tưởng tôi là thính giả duy nhất của thầy, nhưng sau này tôi mới bất ngờ khám phá một điều, có một người đàn bà trẻ thường xuất hiện sau vườn nhà tôi, phía bên kia hàng rào dâm bụt, trong những đêm thầy ngồi đàn hát.

     Không biết là vì đẹp trai hay hát hay, mà thầy đã làm xiêu lòng người góa phụ trẻ có nhan sắc. Tôi biết chắc điều này, vì bà đã “hối lộ” tôi mấy lần để đưa cho thầy mấy bài thơ, và dặn dò tôi không được cho ai biết, kể cả cha tôi. Nghe nói bà là vợ của một ông cán sự Nông Lâm Súc làm việc ở Hiệp Hội Nông Dân, bị tử nạn giao thông trên Đèo Cả, chỉ sau một tháng làm đám cưới.  Bà là cô giáo dạy trường huyện, ở xa tới, hình như là Phan Rang hay Đà Lạt gì đó, thuê nhà phía sau nhà tôi. Thỉnh thoảng tôi thấy có mấy ông thầy giáo trẻ đồng nghiệp và cả mấy ông Hiến Binh mũ đỏ lai vãng trước nhà bà.

      Một hôm thầy đột ngột dọn ra khỏi nhà tôi, sau khi nói chuyện với ba tôi. Thầy sang tá túc bên hông chùa, nằm ngay phía sau trường Bồ Đề, lúc ấy chỉ có ba phòng học. Cha tôi ngạc nhiên, vì trước đây thầy cho biết thầy ăn mặn và sống hơi phóng túng, ngại làm phiền nhà chùa nên mới đến trọ ở nhà tôi. Sau khi tôi tiết lộ chuyện những bài thơ của người đàn bà trẻ phía sau nhà, cha tôi tròn mắt rồi gật đầu bảo có lẽ đó chính là lý do thầy dọn đi. Trong những lúc tâm tình, thầy thường nói với cha tôi, thầy rất sợ đàn bà.

     Mãn khóa Hè, thầy ghé lại nhà tôi, thăm và cám ơn cha tôi. Thầy khen tôi học khá, đề nghị nên cho tôi học đệ lục thay vì đệ thất. Hơn nữa tuổi tôi cũng hơi cao. Cuối cùng trước khi chia tay, thầy cho biết là sẽ rời quê tôi về lại Nha Trang, và có thầy Trần Đức Trang, một vị giáo sư lớn tuổi, có kinh nghiệm về tổ chức và hành chánh, ra thay thế thầy để thành lập và làm hiệu trưởng trường Bồ Đề Vạn Ninh, nhưng không phải bắt đầu từ niên khóa này mà phải chờ đến niên khóa tới, vì các thủ tục chưa hoàn tất kịp. Do đó, tôi phải khăn gói vào Nha Trang. Và theo sự khuyến khích của thầy, thay vì bắt đầu lớp đệ thất, tôi vào học lớp đệ lục trường Văn Hóa, ngôi trường tư thục mới mở ở đầu đường Quốc Lộ 1, gần nhà chú tôi, nơi tôi trọ học.

     Bẵng một thời gian hơn hai năm tôi không gặp thầy, mặc dù nhiều lần lên trường Bồ Đề Nha Trang hỏi thăm thầy, nhưng không ai biết. Có người bảo thầy đã về Huế, có người lại bảo đang dạy ở Sài Gòn.  Bỗng một hôm tôi bất ngờ thấy thầy xuất hiện trong văn phòng trường Văn Hóa, nơi tôi đang theo học. Gặp lại nhau, thầy trò mừng lắm. Thầy bảo từ Sài Gòn mới về lại Nha Trang và sẽ dạy môn Sử Địa cho các lớp đệ tứ và đệ nhị, thay cho thầy Nguyễn Mậu, vừa đắc cử vào Hạ Nghị Viện. Tôi nhảy cỡn lên vui mừng, vì tôi đang học lớp đệ tứ, sẽ được học với thầy. Thầy chỉ cho tôi đường đến nhà thầy và bảo cuối tuần ghé lại chơi. Thầy thuê một căn nhà nhỏ trong con hẻm lớn, phía trước trường đi xuống Rộc Rau Muống. Ngôi nhà khá xinh xắn, khang trang. Khu vườn nhỏ phía sau trồng đầy hoa cúc và một hàng rào phủ kín hoa tigôn.

     Một ngày cuối tuần tôi đến thăm thầy, bất ngờ gặp một chị bạn cùng lớp đang ngồi đánh cờ tướng với thầy. Chị bạn mới vào học năm đệ tứ, cũng gốc Huế, là một người con gái đẹp, nhưng lúc nào cũng u buồn, nhất là đôi mắt. Chị có vẻ lớn tuổi hơn bọn tôi. Trong lớp thường ngồi im lặng, không thân thiết và đùa giỡn với bất cứ ai, kể cả nữ sinh, nhưng ai cũng quý chị. Tôi ngồi xem ba ván cờ. Không biết thầy có nhường hay không nhưng chị bạn tôi thắng cả ba bàn. Lần đầu tiên tôi biết có một người con gái giỏi cờ tướng như vậy. Và cũng lần đầu tiên tôi thấy được nụ cười của chị. Lần sau đến thăm thầy, tôi lại gặp chị, đang ngồi hát cho thầy đệm đàn. Khung cảnh thật lãng mạn. Hết bản nhạc, thầy đứng lên treo cây đàn trên vách, đi lấy thêm một cái tách nhỏ, mời tôi cùng ngồi uống trà. Loại trà Huế có mùi thơm rất đặc biệt. Trông hai người khá tâm đắc. Tôi ái ngại khi phải xen vào cái không khí yên ả và tình tự của hai người, nên viện nhiều lý do để không đến thăm thầy nữa.

     Khoảng hơn một tháng sau, chị bạn nghỉ học. Chúng tôi đọc trên báo mới biết chị vừa đóng vai chính một cuốn phim khá nổi tiếng.  Nghe nói, khi thực hiện bộ phim này, ông đạo diễn Lê Hoàng Hoa không tìm được tài tử nào thich hợp để thủ vai chính. Một hôm ghé lại Nha Trang, lang thang một mình trên bãi biển, bất chợt ông bắt gặp ánh mắt u buồn của một cô con gái đang ngồi một mình nhìn về cõi xa xăm, tĩnh lặng và đẹp như một bức tượng, không hề biết có ông đang đứng thật gần.  Ông lặng yên khá lâu rồi xin phép được nói chuyện. Cô con gái lưỡng lự, gật đầu. Ông đạo diễn đã tìm được một người lý tưởng để thủ vai chính cho cuốn phim đắc ý của mình.  Cuốn phim nói về một cuộc tình buồn, có nhiều cảnh đóng ở Nha Trang.  Ông đạo diễn muốn thực hiện một bộ phim để kỷ niệm nơi ông đã sinh ra, mặc dù sau đó ông đã sống những ngày tuổi thơ và lớn lên ở Huế.

Bộ phim đã làm cho khán giả tốn nhiều nước mắt, qua khuôn mặt xinh xắn và đôi mắt u buồn rất thật của cô gái Huế thủ vai chính.  Bộ phim thu nhiều lợi nhuận cho đạo diễn và nhà sản xuất.  Nhưng người thủ vai chính không bao giờ còn xuất hiện.  Cô đã uống thuốc độc quyên sinh.  Hôm đám tang, thầy Huế dẫn cả lớp đệ tứ chúng tôi theo sau quan tài tiễn đưa chị về cõi vô cùng.  Đám tang thật buồn.  Thầy Huế mang kính đen, nhưng tôi có cảm giác phía trong đôi kính ấy đong đầy nước mắt.  Báo chí có đề cập đến cái chết của chị, người “tài tử” bất đắc dĩ rất tuyệt vời này, nhưng không ai biết chính xác lý do vì sao chị phải tìm cái chết, ngoài những tin đồn.

      Một lần nữa, thầy bỗng dưng biến mất.  Không ai gặp thầy ở Nha Trang.  Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Bá Mậu, chuyên dạy Pháp văn, phải tạm thời thay thầy, dạy môn Sử Địa lớp tôi để kịp kỳ thi trung học.  Và cũng từ hôm ấy tôi không biết tin tức gì về thầy Huế, và trong lòng cứ mãi băn khoăn bao điều không hiểu được, về thầy.

     Hôm nay, ở một nơi chẳng một ai muốn hẹn, tôi bất ngờ gặp thầy.  Thầy lại mang đến cho tôi thêm một điều khó hiểu: tại sao thầy chỉ là trung sĩ 1?  Tôi khui hộp bánh trong khẩu phần lương khô (Ration C) và làm ba ly cà phê “dã chiến” mời thầy Huế và bạn Đỗ Bê uống mừng cuộc trùng phùng.  Nghe thầy cứ gọi thưa chúng tôi bằng cấp bậc, tôi ôm vai thầy:

     –  Bất cứ trong hoàn cảnh nào, hai thằng chúng em cũng luôn là học trò của thầy.  Xin thầy cứ gọi chúng em là em như thưở nào, chỉ ngoại trừ khi phải đứng trước hàng quân.  Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng này, em rất thèm được nghe có người gọi mình là em.

     Thầy nở nụ cười rồi lưỡng lự gật đầu.  Lâu lắm gặp lại nhau, có bao nhiêu điều muốn hỏi, nhưng thấy ánh mắt lo lắng của hai người khi nhìn ra khung cảnh đổ nát chung quanh còn ngổn ngang các xác xe tăng bị cháy, tôi chỉ hỏi thăm sức khỏe và gia đình.  Điều thắc mắc nhất là cái lon trung sĩ 1 của thầy, nhưng việc này khá tế nhị nên tôi cũng không dám hỏi.  Thầy bảo thầy thuộc quân số Tiểu khu Tuyên Đức hơn năm năm nay nhưng may mắn được nằm trong toán phụ trách trông coi các biệt điện của Vua Bảo Đại để lại ở Đà Lạt.  Có lệnh đôn quân, cần 20 hạ sĩ quan bổ sung gấp cho Sư Đoàn 23, tất cả hạ sĩ quan đều phải bắt thăm.  Ông là một trong số 20 người “không may mắn” đó.  Tôi bảo sẽ cố gắng giúp hai người bằng tất cả khả năng của mình.  Thầy Huế thì dễ dàng hơn để xin sắp xếp vào một ban tham mưu nào đó ở Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, còn bạn Đỗ Bê với cấp bậc Đại úy, rất khó, hơn nữa theo lệnh ông Tư Lệnh Sư Đoàn, phải bổ sung tất cả sĩ quan cho các tiểu đoàn tác chiến, mặc dù Bê chưa có một kinh nghiệm chiến trường nào.

     Tôi nhớ tới khả năng làm thơ, soạn nhạc và đàn hát của thầy Huế ngày xưa, nên đi gặp anh Thiếu Tá Trưởng Khối CTCT xin anh nhận thầy về làm việc với anh.  Tôi cũng giới thiệu với anh, ông là thầy cũ rất đáng kính của tôi thời trung học.  Nể tình quen biết, anh Thiếu tá theo tôi đến Ban Quân số, xin nhận Trung sĩ 1 Hồ Đắc Huế về Khối CTCT.  Thầy nắm tay tôi ái ngại, bảo là không muốn làm phiền tôi, và cũng không muốn người chỉ huy nghĩ là thầy nhờ tôi gởi gấm.  Tôi ôm vai thầy bảo là khả năng của thầy rất xứng đáng để làm việc ở Khối CTCT.  Sau này, thầy cho biết là anh Thiếu Tá Trưởng Khối đối xử rất tốt với thầy.  Tôi không nhận thầy về làm việc với tôi, vì muốn tránh gây sự khó chịu cho thầy và cả cho tôi.

     Người bạn Đỗ Bê thì được bổ sung về Tiểu Đoàn 1.  Tôi gặp ông Trung Đoàn Trưởng trình bày trường hợp Đỗ Bê, là bạn học và từ khi ra trường Thủ Đức, anh chưa giữ chức vụ tác chiến bao giờ nên đề nghị không đưa Bê ra làm đại đội trưởng tác chiến, mà nắm đại đội chỉ huy của Tiểu Đoàn 1, đang khiếm khuyết, để có thời gian làm quen với chiến trận.

     Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 là Thiếu Tá Phan Văn Khánh, từ binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt (giải tán) mới thuyên chuyển về.  Anh Khánh tốt nghiệp Khóa 12 VBĐL, nhưng vì phục vụ trong Liên Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống, thời chính phủ Ngô Đình Diệm, dưới quyền Đại tá Lê Quang Tung, nên sau ngày 1.11.63, anh bị đám tướng tá đảo chánh bắt giam, và sau này còn gặp nhiều rắc rối.  Khi mới về Trung Đoàn, anh tạm thời ở Bộ Chỉ Huy, chưa được giữ chức vụ gì.  Biết anh là một niên trưởng, rất tư cách, lại có gia đình ở Nha Trang, nên tôi rất kính trọng và thân thiết. Tôi giới thiệu Bê với anh và nhờ anh giúp đỡ, chỉ vẽ cho Bê thời gian đầu ở đơn vị tác chiến.  Chỉ hai tháng sau, anh Khánh cho biết Bê rất tư cách, sớm thích nghi, can đảm và có khả năng lãnh đạo chỉ huy, nên anh đã đề nghị đưa Bê lên làm tiểu đoàn phó thay cho người tiền nhiệm vừa bị trọng thương vì đạn pháo kích của địch.  Hơn nữa, so với các đại đội trưởng, Bê có cấp bậc thâm niên nhất.  Sau cuộc hành quân, khi Tiểu Đoàn về dưỡng quân tại khu Phương Hòa, bên bờ sông Dakbla, tôi ghé lại thăm Bê, mừng và khen nó.  Tôi mời anh Khánh và Bê ra tiệm Thiên Nam Phúc ăn thịt rừng uống rượu.

     Thầy Huế được đề cử làm Trưởng Ban Văn Nghệ kiêm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến.  Trong hoàn cảnh này, thầy có vẻ tạm hài lòng với công việc.  Tôi thường đến thăm và đón thầy đi uống cà phê mỗi khi có dịp về phố Kontum.  Trong tâm tình, tôi được biết thầy vẫn còn độc thân, và sau khi rời khỏi Nha Trang thầy về Sài Gòn, dạy một vài trường trung học tư và một số giờ Pháp Văn ở Đại Học Vạn Hạnh.

     Nhắc tới chị bạn cùng lớp xinh đẹp có đôi mắt u buồn, đóng vai chính bộ phim nổi tiếng của ông đạo diễn Lê Hoàng Hoa lúc trước, tôi hỏi thầy:

     –  Có phải chị ấy là người yêu của thầy và vì sao chị lại quyên sinh trong lúc cuộc đời đang đẹp?

Thầy cúi xuống, trầm ngâm giây lát rồi lắc đầu:

-  Tội nghiệp, cô ấy là một người con gái đặc biệt, tài hoa và rất đáng yêu, nhưng ông trời lại bất công, bắt cô chết sớm.  Cô có hoàn cảnh buồn và bị đau tim nên không muốn sống!  Đặc biệt cô rất giống người con gái tôi đã từng yêu.  Phải nói là từng say mê mới đúng!

     Khi ngẩng đầu lên, thầy lấy cặp kiếng cận ra và lau nước mắt.  Tôi hỏi thêm:

    –  Có phải vì vậy mà thầy không lấy vợ?  Thầy rất nghệ sĩ và đào hoa, em tin là có nhiều cô con gái yêu thầy.

     Bỗng tôi khựng lại, khi thấy thầy lắc đầu:

     –  Tôi chỉ có một người yêu, người con gái mà tôi từng say mê đó!  Nhưng khi tôi học bên Pháp thì cô ấy bỏ tôi đi lấy chồng.

     Và đột nhiên thầy hỏi lại tôi:

      -Em có biết cô ấy lấy ai không?

      Tôi im lặng.  Thầy bảo:

    –  Cô lấy em trai tôi.  Chính vì vậy mà sau khi ở Pháp về, sau lần dự đám cưới em tôi, tôi không bao giờ trở về Huế nữa.

     Tôi khá bất ngờ, câu chuyện gợi cho tôi sự tò mò:

     –  Chắc thầy buồn và trách cô ấy lắm?

    –  Buồn, đương nhiên, nhưng trách thì không.  Vì lỗi tất cả là ở tôi.  Giữa cô ấy và đi du học, tôi đã chọn du học.  Tôi chấp nhận trả giá cho sự ích kỷ và ngu xuẩn ấy của mình, không ngờ cái giá lại quá đắt.  Còn em tôi, không biết nhiều về tình cảm mà tôi đã dành cho nàng, vì lúc ấy tôi muốn giấu ba tôi, ông rất nghiêm khắc và lúc nào cũng muốn tôi phải tập trung vào việc học.

     –  Vì cái giá ấy mà thầy không bao giờ lấy vợ?

     Ông im lặng một lúc rồi lắc đầu:

-  Hồi ấy tính như vậy, nhưng rồi cuối cùng có lẽ tôi cũng sẽ lấy vợ.  Lần này lại là một người khổ vì tôi.  Tôi không thể ích kỷ và ngu xuẩn thêm một lần nữa.  Người con gái, à quên, người đàn bà đó có thể em còn nhớ.

     Định nói thêm điều gì nữa đó, nhưng ông khựng lại:

    –  Nhưng thôi, tôi đã từng có một kinh nghiệm khá đau đớn, nên chuyện gì chưa xảy ra, không thể nói trước được.

     Tôi thầm nghĩ, hóa ra cuộc đời ông thầy này có quá nhiều chuyện kỳ lạ.  Tôi lại nhớ tới cấp bậc trung sĩ 1 của ông, nhưng rồi không dám hỏi.  Nhiều lần tôi nghĩ, có thể ông sinh hoạt trong nhóm sinh viên Phật tử Ấn Quang ở Trường Vạn Hạnh, có tiếng thân Cộng, chống chính phủ, nên gặp rắc rối?  Tôi đã có gặp anh Trưởng Ban 1 (Quân Số) để xin được xem qua hồ sơ quân bạ của ông, trong đó chắc chắn có ghi rõ mọi lý do.  Nhưng hồ sơ của thầy gởi theo đường Quân Bưu, chưa đến.  Tôi đang chờ.

     Bất ngờ, Thiếu Tá Phan Văn Khánh được điều động sang một trung đoàn khác để giữ chức vụ trung đoàn phó.  Bạn tôi, Đại úy Đỗ Bê, tiểu đoàn phó của anh, được chỉ định xử lý thường vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1.  Trong một chuyến bay tiếp tế, tôi đáp xuống bộ chỉ huy tiểu đoàn chỉ để kịp bắt tay khen và tặng một chai Black and White mừng nó lên chức.

     Hai tuần sau, trong một cuộc chạm súng với một tiểu đoàn địch, Tiểu Đoàn 1 của Bê được hai trực thăng võ trang của Phi Đoàn Lạc Long 229 yểm trợ, đã tạo một chiến thắng vẻ vang.  Đánh tan đơn vị địch, tịch thu trên 60 vũ khí đủ loại và bắt sống 8 tù binh.  Ngay sau khi trận chiến vừa kết thúc, Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn đáp xuống vị trí ngợi khen đơn vị, gắn cho Bê anh dũng bội tinh với nhành dương liễu và cho làm Quyền Tiểu Đoàn trưởng.  Tôi gọi máy chúc mừng và bả0:

      -Bắc Bình ơi! “Con bò tứ” (lon thiếu tá) đang ở trước mặt mày đó!

      Khoảng hai tháng sau, tin tức tình báo cho biết, có một sư đoàn Cộng quân từ miền Bắc mới xâm nhập, đang có mặt ở Pleiku, gần biên giới Miên- Việt.Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn dự đoán Pleiku, nơi đặc bản doanh Bộ Tư Lệnh QĐ II, sẽ là mục tiêu tấn công qui mô của địch. Trung Đoàn chúng tôi được điều động xuống Pleiku, trách nhiệm phòng thủ trên tuyến vòng đai cách tỉnh lỵ Pleiku khoảng 20 km hướng tây nam. Bộ Chỉ Huy chúng tôi đóng tại Căn Cứ 801, nằm phía tây QL 14 khoảng 10 km, và cách Hàm Rồng cũng khoảng hơn 10 km  đường chim bay. Tiểu đoàn 1 của Bê hành quân tảo thanh bên ngoài, cách căn cứ chừng 5 cây số về hướng biên giới. Một hôm, khoảng 10 giờ sáng, trong một cuộc tao ngộ chiến với một lực lượng địch,  Bê bị hứng trọn một quả B-40, tử thương tại chỗ. Xác Bê được đưa thẳng về QYV Pleiku.

      Tôi thẩn thờ khi nghe tin Bê chết. Chết một cách bất ngờ và tức tưởi. Trên chiến trường, nhiều cấp chỉ huy từng tạo nên bao chiến thắng hiển hách nhưng cuối cùng lại chết vì một viên đạn vô tình, không đáng.Tôi theo trực thăng CNC của ông Trung Đoàn Trưởng bay đến QYV. Thân xác Bê đầy những vết thương đang còn bê bết máu. Đôi mắt chưa khép hẳn.

      Tôi vuốt mắt Bê mà nước mắt tôi đổ xuống, đầm đìa.  Điều cuối cùng tôi có thể làm được cho Bê, là xin phương tiện để sớm đưa Bê về nguyên quán.  Tôi hình dung đến vùng quê Gò Cam, Diên Khánh hiền hòa, ngôi nhà mái ngói đỏ và những người trong gia đình Bê mà tôi bao lần đến đó, gặp gỡ.  Tôi cũng nhớ tới Phan Ái Minh người anh em ở chung nhà trọ học với Bê lúc xưa, cũng là bạn thân của tôi sau này, một con người tài hoa, đã hy sinh chỉ hơn một tháng sau ngày tốt nghiệp từ Trường Võ Bị.  Trong không khí yên lặng của khu nhà xác bệnh viện, tôi mơ hồ như bên tai đang văng vẳng bài truy điệu của chính vị Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị vang tiếng một thời:  “Ôi! sự nghiệp đang công đeo đuổi thôi đành gián đoạn nửa đường. Chí tang bồng hằng mong thực hiện thôi cũng đành ôm hận ngàn thu.”

      Tôi tìm thầy Huế báo tin Đỗ Bê tử trận.  Ông tròn mắt rồi bật khóc.  Hôm nghe tin có phi cơ chở quan tài của Bê về Nha Trang, thầy xin theo tôi và anh Thiếu Tá Trưởng Khối CTCT ra phi trường để chào tiễn Bê lần cuối.  Trước khi đi, tôi hỏi thầy có muốn “hộ tống” quan tài Bê về Nha Trang cùng với anh sĩ quan CTCT của Tiểu Đoàn 1, tôi sẽ xin phép cho thầy.  Thầy vui mừng gật đầu, nhưng thoáng một chút ái ngại.  Tôi vỗ vai thầy, bảo yên chí, tôi sẽ xin anh Trưởng Khối CTCT và anh Trưởng Ban 1 làm sự vụ lệnh cho thầy thêm một tuần để thầy ghé về Đà Lạt thăm nhà.

     Thêm một người bạn nữa ra đi.  Cũng ở Tiểu Đoàn này, trước đây một năm, tôi đã mất Đặng Trung Đức, Khóa 19 VB, một người bạn thân quý như anh em kể từ ngày hai đứa mới ra trường, cùng làm trung đội trưởng cho một anh trung úy Khóa 16 VB rất tài ba. Đức là một tiểu đoàn trưởng xuất sắc, đã lập nhiều chiến công hiển hách trong Mùa Hè 1972. Và cũng chỉ mới 8 tháng trước, Trần Công Lâm , thằng bạn thân  thiết cùng khóa Thủ Đức, cùng trung đội SVSQ với tôi, (nó giường trên tôi giường dưới), đã bỏ mình trên đỉnh Ngok Wang đèo heo gió hú, khi đang nắm Tiểu Đoàn 3. Dẫu biết trong chiến tranh, sinh tử là lẽ thường tình, nhất là thời gian này, chiến trường thật thảm khốc, con số thương vong rất lớn, nhưng chứng kiến những cái chết trẻ của bạn mình, lòng đau đớn tựa hồ như có trăm ngàn vết chém.

     Quá thời gian 15 ngày trong sự vụ lệnh, vẫn chưa thấy thầy Huế trở lại đơn vị.  Anh Thiếu Tá Trưởng Khối CTCT và cả anh Trưởng Ban 1 hỏi tôi mấy lần, như là một lời nhắc nhở, bởi chính tôi là người xin phép cho thầy.  Tôi bồn chồn lo lắng.  Chẳng lẽ thầy đào ngũ vì thấy quá khổ sở và nguy hiểm, nhất là bị ám ảnh cái chết của Đỗ Bê, người học trò cũ cùng đến trình diện đơn vị một lúc với thầy?  Tôi không tin là thầy đã phụ lòng tốt của mình, nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh chết chóc này, điều gì cũng có thể xảy ra.

     Đã đến hạn phải báo cáo đào ngũ Trung sĩ 1 Hồ Đắc Huế.  Được anh Trưởng Ban 1 cho biết và hỏi ý kiến, tôi năn nỉ xin anh chờ thêm hai tuần nữa.  Cuối cùng thầy tôi vẫn bặt vô âm tín.

     Một tuần, sau khi báo cáo đào ngũ và lệnh truy nã đã gởi đi, bỗng một hôm anh Trưởng Ban 1 cho tôi biết, có người đàn bà tìm đến hậu trạm Trung Đoàn (tại Hàm Rồng), đưa giấy chứng nhận của Cảnh Sát, cho biết là Trung sĩ 1 Hồ Đắc Huế đã bị Việt Cộng giết chết trên đường trở về đơn vị.  Tôi lái xe xuống hậu trạm, chờ cho bà làm thủ tục xong, tôi đến mời bà về Ban Xã Hội (nơi bà tạm nghỉ) để xin phép được nói chuyện.

     Gặp bà, tôi sửng sốt.  Vì dù có thay đổi ít nhiều với thời gian, và trên đầu quấn chiếc khăn tang, nhưng tôi vẫn nhận ra bà chính là cô giáo, người góa phụ trẻ, từng có thời thuê nhà ngay sau nhà tôi, và đã nhờ tôi đưa mấy bài thơ cho thầy Huế phổ nhạc, nhưng đọc qua tôi biết đó là lời tâm sự bà muốn tỏ cùng thầy.

      Bà cho biết, vì không tìm được phương tiện quân sự khác, khi sự vụ lệnh đã hết hạn, nên thầy rất nôn nóng, quyết định đi xe đò qua ngõ Nha Trang – Quy Nhơn.  Xe bị một đám Việt Cộng giả dạng lính mình, chặn ngay phía dưới Sông Pha.  Bọn họ lục soát xem giấy tờ, cướp hết tư trang vàng bạc của hành khách, bắt vào rừng một số đàn ông và bắn chết ba người, trong đó có thầy.

     Sau khi nhận ra tôi, bà tỏ ra thân tình, gần gũi hơn, và có lẽ tôi là người để bà có thể trút hết tâm tư đang đè nặng trong lòng.  Bà đổi cách xưng hô:

     –  Chị là bạn và cũng có thể nói là vợ chưa cưới của thầy Huế.  Chị lên đây với giấy ủy quyền của bà cụ, mẹ anh ấy.  Bẵng đi một thời gian rất lâu, từ dạo nghe tiếng đàn và giọng hát của thầy ở sau vườn nhà em, chị gặp lại thầy ở Đà Lạt, quê của chị và nơi làm việc của thầy.

     –  Em không hiểu tại sao thầy không là sĩ quan mà chỉ mang trung sĩ?  Em thắc mắc điều này mà chưa dám hỏi thầy – Tôi hỏi chị.

     –  Thầy có tâm sự việc này với chị.  Sở dĩ thầy không khai bằng cấp là để khỏi phải vào Thủ Đức.  Thầy muốn tránh gặp mặt vợ chồng người em trai, người làm đám cưới với cô nữ sinh Đồng Khánh mà không hề biết là ông anh mình hết lòng yêu trước ngày đi du học.  Chú em vào Thủ Đức và khi ra trường được giữ lại làm huấn luyện viên.  Cô vợ thì xin được công việc trong một ngân hàng ở Sài Gòn, nhưng nhờ vốn của cha mẹ cho, nên sang lại và làm chủ một câu lạc bộ ngay trong trường Sĩ quanThủ Đức.  Thầy Huế không hề trách em mình, nhưng chú em đã buồn và khổ tâm vô cùng khi biết đươc điều này.  Thầy Huế muốn tránh gặp mặt vợ chồng chú em trai vì không muốn gây khó chịu cho cô chú ấy và cả cho thầy.  Sau đó, có một thời gian ông gần như mất trí khi biết được tin cả hai vợ chồng chú em bị VC giết chết trong Tết Mậu Thân cùng với ông cụ.  Trước Tết chú em nghỉ phép dắt vợ về thăm gia đình ở Huế.  Riêng thầy, tìm mọi cách xin hoãn được một thời gian, đầu năm 1967 thầy vào Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Ra trường may mắn được chọn về Tiểu khu Tuyên Đức.  Nhờ một người học trò cũ là một Phó Đốc Sự quen thân với ông tỉnh trưởng giúp đỡ, thầy được bổ sung vào toán “quản gia” cho mấy cái biệt điện của Vua Bảo Đại để lại.  Công việc nhàn nhã, rất ít khi phải mặc quân phục, nên rất ít người biết chức vụ hay cấp bậc của thầy.  Thầy xin dạy thêm ở một vài trường tại Đà Lạt, nên tiền bạc cũng không thiếu.  Anh mãn nguyện với công việc và rất mê Đà Lạt, nên không có ý định thay đổi, cho đến khi phải bắt thăm và ra Sư Đoàn 23 này.

     Tôi hỏi lại bà:

     –  Sao người học trò làm Phó Đốc Sự không giúp, giữ thầy lại.

     –  Cả ông tỉnh trưởng và ông Phó Đốc Sự cũng đã thuyên chuyển đi trước đó lâu rồi.

Tôi hỏi sang chuyện khác:

-  Gia đình cha mẹ thầy vẫn còn ở Huế, và thầy được chôn cất ở đâu?

-  Tết Mậu Thân, ông cụ và hai vợ chồng chú em bị giết.  Thầy còn hai cô em gái và cậu em trai út, tất cả đều đã lập gia đình.  Bà cụ không muốn ở chung với dâu rể, thấy thầy sống một mình tội nghiệp, nên dọn vào Đà Lạt ở với trưởng nam.  Chị vẫn thường xuyên đến phụ giúp bà.  Từ ngày anh Huế đổi ra Kontum, chị dọn về ở chung với bà, bây giờ bà đã khá già.  Khi sống thầy rất yêu Đà Lạt, nên chị xin phép bà cụ an táng anh ở Đà Lạt.  Dù chưa chính thức kết hôn, nhưng chị xem anh ấy đã là chồng mình.  Thêm một lần nữa chị để tang chồng, mặc dù chị chỉ có một mối tình duy nhất trong đời, với anh ấy.  Người chồng trước lớn hơn chị nhiều tuổi, chị lấy cho vui lòng mẹ chị.  Khi ấy chị còn nhỏ quá, chưa biết tình yêu là gì và cũng chưa làm chủ được mình.  Khi ông ấy chết vì một tai nạn, chị thấy tội nghiệp cho ông và cũng tội nghiệp cho chị.

      Tôi mời chị dùng một bữa cơm chiều ở một cái quán“dã chiến” phía trước, do vợ của một anh lính tài xế Biệt Động Quân làm chủ. Tôi khoe ở đó có món cá kho tộ và canh chua nấu với lá giang tuyệt lắm, nhưng chị bảo đã nhận lời dùng cơm và ở lại đêm với các cô nữ quân nhân bên Ban Xã Hội.

      Sáng hôm sau, tôi mời chị, anh Thiếu tá Trưởng Khối CTCT và cô Trung úy Trưởng ban Xã Hội đi ăn sáng.  Phòng Không Trợ cho biết, có một phi đội trực thăng của Phi Đoàn Thần Tượng 215 hoán đổi, sắp trở về lại căn cứ Nha Trang,  chúng tôi đưa chị lại bãi đáp, giới thiệu với anh phi công trưởng hợp đoàn, để xin cho chị được tháp tùng.

      Vẫy tay chào tiễn chị, trong lòng tôi dấy lên bao nỗi ngậm ngùi.  Một người bạn rồi một ông thầy ra đi.  Nhanh quá.  Tôi nhớ đã từng hứa giúp họ hết lòng, nhưng quyền hạn và khả năng của mình quá hạn hẹp mà chiến tranh thì lại khốc liệt, tàn nhẫn vô cùng!  Và những cuộc tình trong thời chiến tranh cũng sôi nổi, buồn, và ngắn ngủi như đời một người lính chiến.

Phạm Tín An Ninh

.
Về Đầu Trang Go down
bhtran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Sun Nov 29, 2015 2:06 pm



TRÊN ĐỒI CAO

Khuất Đẩu

Họ chưa là gì của nhau. Anh, vẫn gọi nàng bằng cô và xưng tôi. Cô, tuy gọi bằng anh nhưng cũng không xưng em. Cứ như hai kẻ xa lạ mới gặp nhau lần đầu.
Nhưng họ đã quen biết nhau khá lâu.
Anh là sĩ quan pháo binh, trông coi hai khẩu pháo 155 ly đóng tại sân vận động quận lỵ, sát cạnh trường của cô.

Cả hai không có duyên cớ gì gặp nhau, nếu không có những lá đơn thưa kiện của trường. Cứ mỗi lần, hai khẩu pháo thi nhau nhả đạn, cả thầy và trò đều phải tháo chạy ra khỏi lớp. Bao nhiêu ngói đều lần lượt rơi xuống đất, tường thì nứt, cửa thì xệch xạc. Đó là chưa kể cái mùi thuốc mồi nồng nặc đến cả tiếng đồng hồ sau vẫn chưa chịu tan.
Nắng, trông thấy cả trời xanh. Và mưa, nước lênh láng như ngập lụt.

- «Trường học mà như thế, kiện là phải!».
Đó là kết luận của anh. Nhưng anh bảo, «tôi đâu có muốn thế. Quận bảo đóng ở đâu thì đóng ở đó. Cả năm, đóng cạnh trường cô, tôi biết ai cũng khó chịu. Nhiều lúc thấy thầy trò leo lên mái che chắn bằng bao nilon, tôi thực áy náy. Chiến tranh là vậy, nhiều cái thật phi lý!»
- «Không phải nhiều cái mà là tất cả», cô nói cay nghiệt.
- «Có lẽ là vậy, nhưng biết làm sao được. Tôi đâu có muốn đi lính. Cũng như cô đâu có muốn giảng bài trong mùi thuốc súng. Chúng ta bị cuốn vào cuộc chiến chết tiệt này, không biết đến bao giờ!»

Cuộc chuyện trò của họ cứ như thế, nhàn nhạt, chan chán. Anh cố giải bày, còn cô vẫn cứ cố chấp. Làm như thể bao nhiêu tai họa là tự anh gây ra. Vậy nên, chẳng bao giờ thấy họ ngồi thân mật với nhau trong một quán ăn hay một quán cà phê não nuột những bài ca phản chiến. Một chút gì đó nghe ra có vẻ tình cảm, thì chỉ là mùi hương kín đáo trong những trang sách.
Anh thường cho cô mượn mà không bao giờ muốn đòi lại: những Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh, Giã từ vũ khí, Một thời để yêu và một thời để chết…
Toàn là những sách về chiến tranh. Cứ tưởng cô sẽ ném vào một góc nào đó, không ngờ cô lại đọc say sưa. Cuộc chiến ở Tây Ban Nha, ở Đức thật khốc liệt, tàn bạo nhưng nó không bẩn thỉu và hèn hạ như ở đây, một nơi, người ta sẵn sàng giết cả đàn bà và trẻ con để lên án lẫn nhau là tàn ác!
Dần dần cô cũng nhận ra thấp thoáng bóng dáng anh trong đó, một kẻ lạc lõng, cô độc, mang trên lưng một nỗi buồn dài.

- Lúc này, hai khẩu pháo đã dời ra khỏi phố quận, đặt trên một ngọn đồi cheo leo.
- Anh bảo: «ở đó tha hồ mà ngắm mặt trời lặn. Đẹp thì có đẹp, nhưng buồn quá!».
Một lúc, anh lại nói: «nhất là ngồi ngắm một mình!»
Lúc ấy, cô mới chịu cười, một nụ cười đối với anh là dịu dàng quá đỗi.
- «Thế thì anh giống như hoàng tử bé rồi. Tôi chỉ ao ước một lần thôi mà chẳng được!»
- «Sao vậy?», anh hỏi.
- «Chẳng sao cả, lên một mình thì có mà điên!»
- «Tôi sẽ đưa cô lên!»
- «Lại để nhìn hai con quái vật ấy à?»
- «Đâu có sao. Giờ nó hiền lắm. Mỗi đêm bắn vài chục quả vào các mật khu để các cụ ở quận ngủ ngon, vậy thôi.»
- «Nó hiền với các anh chứ không hiền với tôi!»
- «Thế thì hết chiến tranh tôi sẽ đưa cô lên.»
- «Chừng đó cả tôi và anh đều chống gậy, lên sao nổi!»
- «Không lâu đến thế đâu. Mỹ rút, Đại Hàn rút, cũng sắp hòa bình rồi. Có điều Bắc Việt không rút, chẳng biết hòa bình kiểu gì: trong chiến thắng hay chiến bại!»
«Kiểu gì thì cũng không giống như «nước thanh bình ba trăm cũ»

Khi hàng trăm khẩu pháo dấu kín trong núi rừng Ban mê thuột cùng lúc nhả đạn, cứ tưởng khẩu đội pháo của anh phải gấp rút lên trấn giữ ở đèo Dốc cao để khống chế con đường tiến quân của địch, thì được lệnh kéo vào Phan Rang. Rồi lại vào Phan thiết, Long Khánh…
Sau cùng bỏ cả pháo cả xe, chạy bộ, rồi lại phải tháo cả giày, vứt cả mũ để khỏi bị bắt sống.

Một cuộc tháo chạy lạ lùng và kỳ quái nhất trong lịch sử chiến tranh. Còn hơn quân Napoléon khi rút khỏi Moscow, quân Anh chết dí ở Dunkerque!

Trong cơn hoảng loạn đương nhiên họ chẳng thể nào nghĩ đến nhau. Họ còn có cả cha mẹ, anh em. Nhưng những lúc một mình trong cô đơn và cơ cực, người nọ nhớ tới người kia với bao nhiêu điều hối tiếc.

Anh, trong trại cải tạo, càng khổ nhục lại càng nhớ tới ngọn đồi quạnh hiu và anh cứ tiếc là không được ngồi với cô dù chỉ một lần để xem mặt trời lặn. Khi cô bảo anh giống như hoàng tử bé, quả thật anh sướng ran, chiều nào anh cũng ngồi trên chiếc ghế và cứ dịch chuyển mãi cho đến khi mặt trời khuất hẳn.

Còn cô, sau khi bị đuổi khỏi trường, không biết làm gì hơn, chỉ ngồi dài lưng ra coi quán cho mẹ, cũng ao ước phải chi ngày đó đừng kiêu ngạo khép kín, đừng cố chấp thì đã ít ra là một lần, theo anh lên đồi, đưa tay để anh dắt qua những gộp đá…!

Ôi chao, sao mà sến và cải lương quá, (đọc tới đây chắc có người kêu lên như vậy), nhưng nếu không cải lương và sến như thế, thì bốn mươi năm sau, khi người đàn bà đã trên sáu mươi và người đàn ông đã bảy mươi, làm sao có thể gặp nhau được.

Và cũng lẩn thẩn làm sao khi ta thấy họ gặp nhau trên đồi.

Họ chưa phải chống gậy. Ông vẫn còn đủ sức nắm tay dắt bà bước qua những gộp đá chông chênh và bà, một đôi lúc quá đà tưởng sắp ngã vào ông. Trên đỉnh đồi toàn đá sỏi, chẳng còn để lại chút gì dấu vết của hai khẩu pháo. Những vỏ đạn, ngay cả những viên thuốc mồi, những bao cát, những vòng dây thép gai đã được dân chúng quanh vùng nhặt nhạnh đào bới mang đi. Giờ, chỉ còn có bầu trời, vẫn cao và xanh ôm lấy ngọn đồi bé nhỏ giống như tinh cầu của hoàng tử bé.

Họ ngồi xuống bên nhau. Và, như hai đứa nhỏ cùng chơi một trò chơi bí mật, họ ngắm mặt trời đang lặn. Trời và đất như cũng đang ngỡ ngàng. Xanh hơn, cao hơn. Mặt trờì tưởng chừng không chỉ một lần lặn, mà đến cả chục lần. Cứ lặn xuống rồi lại trồi lên, có vẻ như muốn bù đắp chọ họ những gì đã mất.

Như chàng chăn chiên xứ Provence, ông kể cho bà nghe những câu chuyện lưu lạc ở xứ người, những vùng đất ông đã qua, những sa mạc nắng cháy hoang vu, những con sông dài bất tận, những ngôi nhà chạm tới lưng trời và nỗi buồn lạc lõng, đất và người của ai chứ đâu phải của mình, những hàng cây cổ thụ râm mát, những cây cầu rực sáng trong đêm, đẹp ngời ngời như thế nhưng sao không bằng bụi chuối sau hè, cây cầu khỉ bắc qua một con lạch, và những lúc tan trường bao nhiêu tà áo bay bay như cánh chim, trong khi cô giáo kiêu kỳ đủng đỉnh gõ từng bước trên hè phố như một nàng quận chúa…

Đó là bản trường ca ngọt ngào, êm ái, mà bà được nghe, dù muộn. Và khi sương đêm đã thấm lạnh, bà gục đầu lên vai ông mà ngủ. Cũng là lúc, ông nói một câu, lẽ ra phải nói những bốn mươi năm trước: «Tôi yêu em xiết bao!»

Giả sử trước kia ông nói như vậy, thì sao nhỉ? Thì hai người sẽ lấy nhau, sẽ sinh ra những đứa con, bà sẽ một thân một mình vừa nuôi con vừa nuôi chồng trong tù, sau đó họ sang Mỹ theo diện HO, bà gọt khoai, rửa bát trong nhà hàng, ông cắt cỏ, đẵn cây, rồi cố học để có thể ngoi lên, làm đến hai job, cứ chồng về thì vợ đi, chồng đi thì vợ về, ngay cả gặp nhau trên giường cũng khó huống gì là rủ nhau lên đồi, họ dốc sức nuôi con, lo cho chúng vào đại học, hãnh diện khi chúng tốt nghiệp, rồi chúng có nhà riêng để lại căn nhà mênh mông chỉ có hai người, ông thì tìm vui trong internet, bà ngồi xem phim bộ.

Đến một lúc nào đó ngôi nhà chỉ còn một người. Rồi chẳng còn người nào nữa!

Vậy thì, mất bốn mươi năm nhưng còn được một đêm như đêm nay, cho dù có vì cảm lạnh mà hai người không bao giờ thức dậy nữa, thì cũng giống như một câu vọng cổ đang xuống xề, xin hãy cứ vỗ tay như thường lệ!

Khuất Đẩu

Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính    Today at 7:16 pm

Về Đầu Trang Go down
 
Ngôn ngữ Lính tráng - Truyện Lính
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến