Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
nguyen thanh trai rang thang tien pham Thầy viet PHAT quan lang Ngày cong nhung phung huyen nghia cuoc sinh nghe nguoi HUNG thuy mien ngoc
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
vungoc
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Fri Apr 12, 2013 7:17 pm


Buồn Vui Tháng Tư




Như những người bị dị ứng với phấn hoa vào mùa xuân mỗi năm tại Vùng Hoa-thịnh-đốn, tôi nghe một nỗi buồn sâu thẳm thấm tận đáy lòng vào tháng tư mỗi năm. Cái cảm giác vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại Sài-gòn lại trở về với tôi. Nó giống như cảm giác khi cha tôi qua đời, một sự mất đi ghê gớm mà một đứa bé hơn mười tuổi lúc ấy không bao giờ nghĩ tới và không thể tin, nhưng nay với tầm vóc lớn lao khủng khiếp hơn.

Mình cảm thấy thế giới chung quanh như không còn nữa, hay tất cả đã rơi xuống địa ngục. Một thảm kịch còn bi thương hơn sự chết. Và cái cảm giác ấy cứ theo tháng tư mỗi năm mà trở lại với tôi cùng với câu hỏi: tại sao thảm kịch ấy có thể xảy ra?

Tôi không ngừng tìm hiểu sự thực và đào bới trong sách báo từ mọi phiá. Trong nhà tôi ở Virginia, vùng ngoại ô Washington D.C., có một thư viện nhỏ chiếm hết căn hầm bên dưới, trong đó có nhiều sách báo về cuộc chiến tranh Việt Nam, bằng Việt ngữ và ngoại ngữ. Những sách báo này, được cập nhật hàng năm, đã soi sáng nhiều sự thật vào thảm kịch Việt Nam, trong đó có mấy cuốn của Phạm Kim Vinh thường được tôi đọc đi đọc lại vì tác giả không phải chỉ viết sự thật mà còn thể hiện một lòng yêu nước nhiệt thành, rất nhân bản và một sĩ khí hiếm có trong thời hiện đại.

Học giả Phạm Kim Vinh đã có 37 cuốn sách viết về Việt Nam, thời chiến và hậu chiến, vừa bằng Việt ngữ và Anh ngữ. Ông qua đời năm 2000 khi đang viết cuốn thứ 38, America: From the Vietnam War to the 21st Century.

Trong tất cả những sách đã xuất bản, ông Phạm Kinh Vinh, không nhiều thì ít, đều nêu cao chính nghĩa của miền Nam Việt Nam, đặc biệt vinh danh những người lính VNCH trong cuộc chiến đấu gian khổ và luôn luôn chịu thiệt thòi trước mắt thế giới vì tuyên truyền bất lương của cộng sản và sự thiên lệch của giới báo chí thiên tả Âu Mỹ.

Đã có rất nhiều người viết về nguyên nhân đưa đến cái chết của Việt Nam Cộng Hoà, nhưng có lẽ đoạn dưới đây (trích từ cuốn Thiên Anh Hùng Ca Viết Cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Phạm Kim Vinh 1984) đã nói lên thực nhất về bi kịch Việt Nam:

(trích)
“Sử gia kiêm nhà báo Pháp Pierre Darcourt đã mang quân phục quân đội viễn chinh Pháp để đánh cộng sản tại VN năm 1946. Sau đó, khi giải ngũ, ông ta lại hùa theo một tác giả khác của Pháp là Bernard Fall để viết sách, báo ồn ào ca tụng cuộc chiến đấu của cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Nhưng vào những ngày chót của miền Nam VN tự do, Pierre Darcourt đã cùng với Jean Lartéguy, một nhà báo Pháp khác trước kia cũng đã ồn ào ca tụng Hồ Chí Minh, lại trở thành những người hăng hái nhất để bênh vực cuộc chiến đấu của Nam VN. Cả hai đều đã nhiều lần đi tới tận mặt trận Xuân Lộc và tới một số trận địa khác ở quanh thủ đô Sài-gòn để được thấy tận mắt cuộc chiến đấu thật dũng cảm, và cũng thật tuyệt vọng của nhiều đơn vị Quân lực VNCH.

Cái thông điệp không cần lời nói ấy đã tỏa ra rõ rệt từ cử chỉ giác ngộ của hai người: từ đây, họ sẽ là nhân chứng để nói cho thế giới bên ngoài biết rằng họ đã được thấy tận mắt những người lính VNCH chiến đấu cho tới phút chót, và rằng muốn giải thích sự sụp đổ của Nam VN năm 1975 thì người nào tìm hiểu sự sụp đổ ấy sẽ phạm tội bất lương, nếu cứ nằng nặc đổ diệt cho quân lực Nam VN cái tội ‘không chịu chiến đấu’.

Pierre Darcourt tìm được thứ chất liệu rất sống cho thông điệp của ông ta bằng cách gửi cho thế giới bên ngoài lời trăn trối của một sĩ quan trẻ tuổi trong Quân lực VNCH. Sĩ quan ấy không chỉ huy một đơn vị lớn, nhưng hoàn cảnh chiến đấu tuyệt vọng của ông ta là hoàn cảnh của hàng trăm, hàng ngàn quân nhân VNCH khác ở những ngày cuối cùng của miền Nam tự do. Darcourt đã tìm gặp ông Trần Quốc Bửu, cựu chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công VN. Ông Bửu có người con trai nhập ngũ từ nhiều năm trước. Đó là một đại đội trường, chỉ huy một đồn trong tỉnh Bà Rịa.

Ông Bửu tiếp Pierre Darcourt tại văn phòng của ông ta ở Sài-gòn. Trên một kệ sách, Darcourt trông thấy hình một sĩ quan VN trẻ tuổi. Một miếng vải đen cột chung quanh bức hình. Ông Bửu nói:

- Đó là hình con trai tôi, tử trận hồi tháng 10 năm ngoái (1974). Coi nó bảnh trai đó chứ, phải không ông? Nó can đảm, rất lanh lợi, và thẳng thắn. Nó có người vợ đẹp và hiền, và được đưá con trai ba tuổi. Nó là đại đội trưởng, chỉ huy một đồn tại Bà Rịa. Nó vừa được 27 tuổi lúc nó… Nó đã chọn quân đội không phải vì nó thích chiến tranh mà là vì chúng tôi đang có chiến tranh… Nó chiến đấu giỏi, và được thưởng nhiều huy chương. Chúng tôi rất thương nhau. Nó thường viết thư cho tôi. Vài tháng trước khi chết, nó lo âu và bồn chồn nữa… Hồi đầu tháng 10, nó gửi thư cho tôi. Để tôi đọc ông nghe (Darcourt sanh tại Sài-gòn, đọc, nói và viết tiếng Việt rất thông thạo):

Kính thưa cha,
Tình thế đang tồi tệ trong khu vực của con, không phải vì dân chúng đã trở mặt vì bị địch tuyên truyền mà là vì chúng con thiếu nhiều phương tiện để chiến đấu. Các nông dân thuộc lực lượng tự vệ không có đủ đạn để bắn… Quân chính quy không tránh né cuộc chiến đấu, nhưng mỗi khi đụng độ thì họ thường bị thiệt hại nặng vì địch quân trội hơn hẳn về vật liệu và về chiến cụ.

Để cha hiểu rõ về tình thế của chúng con, con thấy cần phải ghi vài lời giải thích về kỹ thuật. Cộng quân dùng xe tăng T-54 và đại bác 130 ly. T-54 là một loại chiến xa rất tốt, rất lưu động, vỏ thép dày, và được trang bị một đại bác 100 ly, hai đại liên 30, và một đại liên 50. Tầm hoạt động của nó là 400 cây số, và hầm đạn chứa được 34 quả đạn đại bác. Khi bị tấn công thì chúng con chỉ có thứ bazooka M-72 để tự vệ. Súng ấy chỉ có hiệu quả bắn mục tiêu trong vòng 100 thước. Vậy phải đến thật gần xe, và phải bắn thật trúng. Nhưng xe tăng của địch thường có bộ binh hộ tống nên M-72 không chắc gì đã bắn được xe tăng trong khi người bắn lại dễ chết…

Mặc dầu được chế tạo cách đây hai chục năm nhưng đại bác 130 ly là một khí giới rất đáng sợ. Nó nặng 8 tấn, có xe xích kéo, tầm bắn xa 27 cây số, nhịp bắn mỗi phút 6 viên. Chỉ cần có 3 khẩu 130 ly, ngụy trang trong rừng, rồi bắn trong một giờ là có thể phá nát một quận lỵ bằng một ngàn trái đạn. Vì đạn ấy có thể xuyên phá 27 ly thép dầy cho nên đạn ấy phá được mọi thứ kiến trúc hiện có cho tới nay. Dân chúng chỉ biết chạy trốn, còn binh sĩ thì chỉ có chờ chết vì chỉ được trang bị đại bác 105 ly, yếu hơn nhiều. Đạn của chúng con đếm từng viên, mỗi khẩu đại bác chỉ được bắn 3 viên mỗi ngày. Còn địch quân thì dư thừa đạn.

Trên lý thuyết thì chúng con có ưu thế không quân để diệt pháo binh địch. Nhưng trong thực tế, điều ấy sai. Từ khi có cuộc khủng hoảng dầu lửa, phi cơ trực thăng chỉ được bay mỗi ngày 3 giờ. Hơn nữa, địch quân lại được trang bị hoả tiễn SA-7 có đầu đạn tự tìm máy bay, bắn rớt dễ và rất trúng.

Thưa cha, con biết là cha quen biết người Mỹ rất nhiều. Địa vị chủ tịch TLĐLC của cha sẽ làm cho tiếng nói của cha thêm sức mạnh. Phải giải thích cho họ hiểu tính cách nghiêm trọng của tình thế. Họ phải cho chúng con những khí giới tối tân. Họ có những thứ đó, tại sao lại không cho chúng ta? Họ phải viện trợ quân sự và kỹ thuật cho chúng ta, như họ đã hứa. Chúng con không hèn, và không sợ chết. Miễn là cho chúng con cơ hội để thắng, hoặc là để chống cự hữu hiệu. Cha thứ lỗi cho con đã bắt cha phải đọc bản tường trình quân sự quá dài này. Trong khu vực của con, đụng độ và pháo kích diễn ra liên tiếp. Dầu sao, con cũng nhất quyết giữ đồn của con, và còn sống thì không khi nào rút bỏ.

Binh sĩ của con theo con, và dân chúng tin ở con.

Ông Bửu từ từ gấp lá thư lại, ho nhẹ để bớt xúc động, trước khi nói tiếp:
- Tất cả lịch sử bại trận của chúng tôi ở trong vài giòng đó. Tôi nhận được thư của con tôi khi tôi từ một chuyến đi Âu Châu và Á Châu trở về. Lúc tôi đọc thư của con tôi thì nó chết đã được ba ngày.
- Ông có nói cho người Mỹ biết không?
- Tất nhiên là có. Tôi đã gặp Đại sứ Martin, gặp các tùy viên quân sự, tôi đã viết thư cho nước Mỹ. Không ai nghi ngờ các tin tức tôi gửi họ. Đại sứ Mỹ và các tùy viên của ông ta đã ghi chép. Họ có vẻ băn khoăn thật lòng. Nhưng lại không ai có thể làm được điều gì. Tôi muốn nói rằng không có biện pháp cụ thể nào đã được thi hành.
- Vậy thì chuyện gì sẽ xảy ra?
- Bất cứ chuyện gì! Các nhân vật dân cử sẽ giao động, Tổng thống Ford sẽ đưa ra những lời tuyên bố cao cả, Quốc hội Mỹ sẽ thảo luận cù cưa để khỏi cấp ngân khoản, Thiệu sẽ phải ra đi, hoặc sẽ bị giết. Sĩ quan và binh sĩ trẻ như con tôi sẽ chết cho danh dự… hoặc chết để cho vài chánh khách rẻ tiền có thời giờ leo lên cầm quyền. Đủ thời gian để dựng một vở kịch ứng khẩu, nhưng thực ra đã được viết sẵn từ trước. Người Mỹ sẽ đóng cửa văn phòng chót của họ, Hạm đội số 7 sẽ lượn vòng vòng ở Nam Hải. Và cộng sản sẽ chiếm Sài-gòn. Và chúng tôi sẽ chịu lỗi về mọi điều…

Chủ tịch TLĐLC tiễn Pierre Darcourt ra cửa, nắm tay ông ta rất lâu, rồi nói thêm trước khi từ biệt:
- Nếu ông có tới mặt trận thăm anh em binh sĩ, xin đừng kể cho họ nghe những lời tôi nói. Tôi đã cho ông biết tâm sự thầm kín của tôi. Những người sắp chết cho một chính nghĩa mà họ tin là đúng và thiêng liêng thì không cần biết trước rằng chính nghĩa ấy sẽ thua. Nói trước với họ như thế là độc ác, và vô ích. Tôi đã không nói trước như thế với con tôi.”
(hết trích)

Thật đau lòng và cũng thật đáng tự hào cho những người đã đứng trong hàng ngũ “bên thua cuộc” vào ngày 30.4.1975.

Nhưng không bao lâu sau, “bên thắng cuộc” đã dần dần biến thành thua bại. Bắt đầu tuột giốc không thể kìm hãm. Từ tháng 4.1975, hàng triệu người đã tìm mọi cách ra đi, không chấp nhận đời sống nô lệ. Đến nay đã có khoảng ba triệu người sống ở hải ngoại. Hàng trăm ngàn người đã bỏ mình trên đường vượt thoát. Cái nhìn của thế giới đã xoay chiều đối với “giải phóng”, kể cả một số khuôn mặt phản chiến cỡ lớn trước kia. Nền kinh tế quốc doanh đã tới bên bờ vực thẳm để chôn vùi tất cả những giấc mơ điên rồ khiến cộng sản phải “đổi mới” kinh tế, trở lại làm ăn kiểu “kinh tế thị trường” của tư bản, nhưng lại theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” (!), khai sinh ra giai cấp tư bản đỏ, tệ hại gấp ngàn lần lớp tư bản cũ mà Karl Marx lên án. Cuộc cách mạng nhân danh giai cấp vô sản đã biến thành con quái vật hung bạo dày đạp trên lưng đám dân nghèo.

Có lẽ Dương Thu Hương là người đầu tiên công khai lên tiếng tố cáo đã bị “đảng” lừa, mở đường cho những cán bộ viết khác nói lên sự thật, nhưng niềm tin vào “đảng” đã đổ vỡ rất sớm.

Chỉ ba năm sau ngày “thắng cuộc”, phi công Đinh Công Giểng, Thượng úy VC với 17 tuổi đảng, trong khi đang được Trung tá Lại Đắc Ngọc (thuộc Không lực VNCH, được đưa ra khỏi trại cải tạo) huấn luyện cho lái phi cơ C-47, nhân một chuyến bay tới Cà-Mau đã cùng nhau bay sang Thái-lan rồi Singapore tìm tự do. Cuộc vượt thoát táo bạo tuyệt vời này đã làm giới lãnh đạo đảng CSVN giật mình hoảng sợ, và phản ứng đầu tiên là nhắm vào Nguyễn Thành Trung, kẻ được VC gài vào Không Quân VNCH và đã được thổi lên tận mây xanh với “chiến công” thả vài quả bom xuống Tân Sơn Nhất trong mấy ngày hỗn loạn cuối tháng 4.1975. Sau vụ đi tìm tự do của Đinh Công Giểng, Trung đã bị cắt cánh, cấm bay, cho nằm dưới đất để gặm nhấm thân phận cỏ rác của một tên ngu thời đại.

Ảnh hưởng to lớn của vụ vượt thoát nói trên đã được xác nhận trong một bài trên báo Người Lao Động và một tài liệu của Không quân CSVN mang tên “Lịch sử Trung đoàn Không quân 918 (1975-2005)”, trong đó có đoạn nguyên văn như sau: “Trong lúc toàn trung đoàn tập trung cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và vận chuyển quân sự, tại sân bay Cà Mau đã xảy ra vụ việc nghiêm trọng. Ngày 22 tháng 3 năm 1978, trong chuyến bay nhiệm vụ đến sân bay Cà Mau, lợi dụng sơ hở trong khâu quản lý máy bay và quản lý vùng trời, một phi công thoái hoá về chính trị cùng một tên nguyên trung tá ngụy cướp chiếc máy bay C-47 chạy trốn ra nước ngoài. Đây là vụ việc hết sức nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới sức chiến đấu của đơn vị và tác động về tâm lý đối với đội ngũ phi công và ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần trung đoàn.”

Đinh Công Giểng đã làm lại cuộc đời trên đất Mỹ, cựu Trung tá Lại Đắc Ngọc hiện đang ở Virginia, thỉnh thoảng cùng bạn hữu ôn lại dĩ vãng một thời liệt oanh và những kinh nghiệm của cả một đời gắn liền với nửa thế kỷ biến động trên quê hương Việt Nam bất hạnh, nay không hiểu sao mình còn sống sót.

Đó là những niềm vui thoáng chốc trong nỗi buồn tháng tư. Nhưng, tháng 4 năm 1993 tôi đã có một niềm vui lớn như một giấc mơ, mà như tôi thường nói, “không thể thấy kể cả trong khi ngủ”. Tôi đã đặt chân lên Công trường Đỏ ở Mạc-tư-khoa mà chế độ cộng sản không còn!

Vâng. Tôi đã nhìn thấy Điện Kremlin trước mặt mà không có cờ đỏ với búa liềm, đã xem xác Lê-nin còn nằm trong lăng nhưng đế quốc tội ác mà hắn dựng lên với hàng chục triệu xác chết đã sụp đổ tan tành. Và thật kỳ diệu, tại thủ đô nước Nga vừa được tự do lại có một đài phát thanh do Nữ Ký giả Nga Irina Zisman thành lập, hướng về Việt Nam cổ vũ nhân quyền.

Khi ấy, lần đầu tiên tôi tin chắc rằng có ngày tôi cũng sẽ trở về Việt Nam, không phải với danh nghĩa “Việt kiều” xin-cho, nhưng với tư cách một người ở “bên thắng cuộc”.

Tháng tư năm nay tôi càng tin chắc như vậy, với những gì đang diễn ra tại Việt Nam đã chứng tỏ người dân trong nước không còn sợ bạo lực. Số người dõng dạc đứng lên ngày càng đông, những tiếng nói đòi Tự Do ngày càng lớn và dũng mãnh.

Ở hải ngoại, có những người vẫn tiếp tục chiến đấu, trên một mặt trận khác, tuy không có tiếng súng nhưng không phải là thiếu cam go, đòi hỏi ý chí, và hy sinh.

Tháng tư là mùa hoa anh đào nở tại thủ đô nước Mỹ, có đông du khách và cũng có nhiều sinh hoạt của cộng đồng người Việt trong vùng.

Trước đây vài hôm, tôi đã tới dự tiệc sinh nhật thứ hai của đài phát thanh NVR (Nationwide Việt Radio), tên mới của Việt DC Radio, được thành lập do một nhóm người, đứng đầu là Tổng giám-đốc Lưu Lệ Ngọc, đã bỏ cuộc sống bình an và tiện nghi để dấn thân vào con đường đầy bất trắc nhưng cũng lắm say mê vì muốn góp phần phục vụ cộng đồng và phát huy tự do. Sau hai năm hoạt động, đài đang trên đà phát triển, điều đã làm nhiều người ngạc nhiên vì đã phải vượt qua rất nhiều khó khăn – về kỹ thuật, tài chính, nhân sự… đã khiến lắm người không dám bước chân vào.

Ngày hôm sau, cũng tại Vùng Hoa-thịnh-đốn, Câu Lạc Bộ Văn Học Nghệ Thuật và Tủ Sách Tiếng Quê Hương đã tổ chức một buổi sinh hoạt văn học rất khác lạ. Có vẻ như một buổi ra mắt sách, nhưng lại không có những bài phát biểu đánh bóng tác phẩm và tâng bốc tác giả. Trái lại, các diễn giả đã nói ra nhiều sự thật màu đen khiến chính họ đôi khi đã phải nghẹn lời và người nghe chấm nước mắt. Người thì cho biết mình mắc bệnh ung thư vào thời kỳ kết thúc, người thì thú thật tuổi tác đã cao và đây là lần xuất hiện cuối cùng, hay nói về thực trạng buồn thảm của công việc xuất bản sách, về hiện tượng chỉ có những mái đầu bạc trong hội trường này. Có diễn giả đã viết xong bài nói thì được đưa vào bệnh viện cấp cứu, phải nhờ người khác đọc.

Người nói sau cùng là Nhà văn Uyên Thao, nhân danh Nhà Xuất Bản Tiếng Quê Hương. Ông cũng là người mang bệnh nan y từ hơn mười năm nay, vừa chiến đấu với căn bệnh ngặt nghèo vừa lo điều hành việc xuất bản sách mà ông nói rằng không thể không làm để chống lại cái ác thể hiện qua một bài thơ đã ám ảnh ông từ nhiều năm qua. Ông đã lấy trong túi ra bài thơ có tựa đề là “Nước”(*) và đọc cho cử tọa nghe:

Người ta gọi tôi là địa chủ
Đây một lũ người tự xưng là cùng đinh
Đem bắt trói tôi vào một cột đình
Đã hai ngày qua tôi vẫn làm thinh
Nhưng đến trưa nay tôi bỗng hoảng kinh
Số là tôi khát nước lắm rồi
Ôi chao, tôi ước ao tôi ao ước
Và không thể cầm lòng tự cao
Tôi kêu: “Hãy cho tôi nước, nước, nước!”
Tôi bỗng nghe một tiếng trả lời: “Được!”
Rồi một kẻ đi đến rất chậm bước
Lúc đứng gần sau lưng tôi, gã nói thỏ thẻ:
“Hãy hả họng cho tao đổ, tội nghiệp đồ chết khát!”
Tôi cảm động nhắm mắt run run hả họng khô rát
Nó hắt ngay vào một nắm cát.

Có thời đại nào và vì đâu đã khiến con người mất hết nhân tính để đối xử với đồng bào mình độc ác đầy hận thù như vậy? Có lẽ người Việt Nam nào còn lý trí cũng có thể trả lời.

Một buổi sinh hoạt văn học trong bầu không khí thật buồn, nhưng với tôi, nó là một điểm sáng trong bức tranh u ám của tháng tư năm nay. Và tôi nhớ tới câu nói đầy bi phẫn của ông Trần Quốc Bửu năm 1975: “Những ngưòi sắp chết cho một chính nghĩa mà họ tin là đúng và thiêng liêng thì không cần biết trước rằng chính nghĩa ấy sẽ thua.”

Sau 38 năm, những người lính già vẫn tiếp tục âm thầm chiến đấu trên một mặt trận khác cho chính nghĩa mà nay họ tin cuối cùng sẽ thắng.

Có thể họ không sống tới ngày nhìn thấy chiến thắng, nhưng họ đã trông thấy ánh sáng chói lòa ở cuối đường hầm (như lời một diễn giả).

Sơn Tùng
Tháng 4, 2013

(*) Tác giả Quách Thoại
“Tôi đã đặt chân lên Công trường Đỏ ở Mạc-tư-khoa mà chế độ cộng sản không còn.”



.
Về Đầu Trang Go down
vungoc
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Nỗi buồn tháng Tư   Mon Apr 15, 2013 1:17 pm


Nỗi buồn tháng Tư



Mỗi năm có 12 tháng
Ta cứ nhớ hoài mỗi Tháng Tư!

Thêm một lần nữa tháng Tư lại về, tháng Tư xứ người chợt nhớ tháng Tư xứ mình, tháng Tư ấy đã đánh dấu một đoạn đường dài lưu lạc của tập thể người Việt tha hương. Tháng Tư với ngày cuối tháng nhạt nhòa nước mắt mà chúng ta muốn quên, nhưng không thể nào quên được. Tháng Tư đen ngày vong quốc hận, chiều 30 đất nước phủ màu tang!

Ngày 30-4-1975 của 38 năm về trước là ngày buồn thảm nhất trong dòng sử của dân tộc Việt Nam. Một chế độ Cộng Hòa sau hơn 20 năm gầy dựng cùng bao xương máu đã đổ ra, phút chốc đã tan thành mây khói. Cuộc tháo chạy của Đồng minh trước sự xâm lăng thô bạo của chủ nghĩa Cộng Sản toàn cầu, đã làm cả miền Nam bàng hoàng sửng sốt. Người dân không còn kềm nỗi sợ hãi nên đã bỏ của chạy lấy thân. Những xác người lênh đênh ngoài biển cả hoặc bỏ nắm xương tàn tận mãi rừng sâu. Cả đất nước trở thành biển máu từ khi cộng sản tràn vào. Nhiều chiến sĩ can trường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu bảo vệ thủ đô đến giờ phút cuối cùng, với rất nhiều sự tuẫn tiết trong đó có các tướng lãnh anh hùng.

Tháng Tư gợi nhớ hình ảnh hơn 400 em Thiếu Sinh Quân mặc đồ vàng, nghiêm chỉnh xếp hàng đôi lặng lẽ chờ đợi dưới sân cờ tại trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, để rồi sau đó tử thủ đến sức cùng lực kiệt. Những người lính Nhẩy Dù oai hùng tại trại Hoàng Hoa Thám, những đơn vị TQLC tan hàng tại cầu xa lộ, ngã tư Hàng Xanh đã tung nổ lựu đạn để cùng chết bên nhau, khi vị Tổng Thống “Tạm quyền” Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, cùng vài chục tướng tá của chế độ Cộng hòa đã tự sát. Còn, còn nhiều lắm những Chiến sĩ Vô danh tự tìm cho mình một cái chết vinh hơn sống nhục. Những giọt nước mắt rồi sẽ được tiếp tục nhỏ xuống để tiếc thương, thương tiếc về những oan khúc cho những người lính anh hùng, cùng biết bao chiến sĩ đồng bào vô danh khác. Chính họ đã viết nên trang sử đen tối nhưng vô cùng hãnh diện cho Chính Nghĩa Quốc Gia, những người Việt Tự Do không bao giờ chấp nhận chế độ cộng sản phi nhân.

Tháng Tư năm 1975, hàng trăm ngàn Quân, dân, cán chính miền Nam đã bị đưa vào các trại tù “học tập cải tạo”, hàng chục ngàn người đã bỏ xác trong các trại giam, nạn nhân của chính sách trả thù thâm độc. Hàng vạn đồng bào đã chết tức tưởi nơi sương lam chướng khí vì chính sách đày đọa trả thù ở các vùng kinh tế mới. Hàng ngàn người đã mất trắng tay vì bị đảng Cộng Sản Việt Nam ăn cướp tài sản, bằng chính sách cải tạo Công thương nghiệp.

Tháng Tư 1975, đánh dấu giai đoạn cả nước Việt Nam trở thành nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản. Một chủ thuyết phi nhân man rợ đã gieo rắc tai ương thảm họa cho nhân loại nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng. Sau 38 năm áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản trên toàn đất nước, Viêt Nam hiện nay vẫn là quốc gia nghèo, chậm tiến, tham nhũng, độc tài toàn trị và liên tục vi phạm thô bạo các quyền làm người.

Tháng Tư, chúng ta nghiêng mình tưởng niệm những chiến sĩ anh dũng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do, đã chiến đấu ngăn chận chủ nghĩa Cộng Sản và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ trước thảm họa ngoại xâm.

Tháng Tư, chúng ta ngậm ngùi và ghi ơn các chiến sĩ dân chủ Việt Nam, đã vì lý tưởng Tự Do, Dân Chủ, chủ quyền cho đất nước mà chịu cảnh đọa đày, tù tội. Họ những người Việt Nam yêu nước can đảm đứng lên tranh đấu trước hiểm họa mất nước vì kẻ thù phương Bắc.

Ba mươi tám năm về trước, không ai có thể nghĩ đến một ngày nào đó mình phải sống lưu lạc nơi xứ người, và cũng chẳng ai dám nghĩ rằng vì muốn có một cuộc sống Tự Do mà bao nhiêu người đã vùi thân xác mình tận rừng sâu hay ngoài biển cả.

Ba mươi tám năm mùa Quốc hận đã qua đi, dân tộc Việt Nam vẫn còn đắm chìm trong màn đêm tăm tối dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, đất biển đảo do tiền nhân để lại lần lượt vào tay kẻ thù truyền kiếp Trung Quốc. Câu hỏi nào sẽ được đặt ra để Người Việt Nam tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại nầy có thể làm gì cho đất nước!

Nhiều chính trị gia đã từng nói, sự lừa dối là thứ thuốc phiện của chủ nghĩa cộng sản. Chúng lừa dối người lẫn mình, bưng bít thông tin để lừa người trí thức, nói láo với nông dân để nâng họ lên tận trời xanh, tâng bốc người ít học để họ làm điều ác, con lên án cha mẹ, vợ đấu tố chồng để rồi sau khi đạt được mục đích tất cả đều trở thành vật hy sinh, bị chính con người cộng sản thanh trừng giết hại chẳng gớm tay. Chế độ cộng sản cai trị người dân bằng vũ lực như lời khẳng định của Mao Trạch Đông “Súng đạn đẻ ra chính quyền, hay quyền lực đặt trên nòng súng”.

Nhân mùa Quốc hận lần thứ 38 năm nay, những tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa đã được tên Thứ Trưởng Ngoại giao Việt Cộng Nguyễn Thanh Sơn cùng phái đoàn cộng sản đến thăm vào ngày 1-3-2013. Hình ảnh thắp nhang tưởng niệm trong một y phục không trang nghiêm đã để lộ bản chất thiếu lịch sự của một nhà ngoại giao. Bên cạnh sự thăm viếng rất trang trọng và uy nghiêm của phái đoàn do ông Tổng lãnh sự Lê Thành Ân tòa Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Saigon vào ngày 7-3-2013. Một âm mưu tráo trở mới mà chúng ta cần phải đề cao cảnh gíác. Ngay chính nơi Nghĩa Trang phía Bắc những đồng đội của họ đã nằm xuống trong cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc vẫn còn bị hoang tàn bỏ phế, không cho phép một vòng hoa tưởng niệm vào ngày 17-02-2013 vừa qua thì làm gì họ có lòng tưởng niệm những tử sĩ QLVNCH! Đây cũng là trò chơi chính trị dơ bẩn của một chế độ đầy mưu mô chước quỷ, đánh lận con đen, vàng thau lẫn lộn khi chúng một lần nữa đã đổi tên, từ Nghĩa Trang dân sự nay trở thành Nghĩa Trang Nhân Dân huyện Dĩ An nhằm xóa tan di tích lịch sử, lợi dụng người chết để chạy tội bán nước. Một lần nữa chúng âm mưu biến những sự hy sinh cao cả của người lính miền Nam thành sự chiến công thần thánh của chúng. Một hành động gian manh mà chúng ta, những người còn sống hôm nay cần phải lên tiếng, minh oan cho hơn 16.000 tử sĩ Việt Nam Cộng hòa đã nằm xuống trong nghĩa trang nầy chỉ vì lý tưởng Tự Do.

Là người dân Việt Nam, chúng ta phải biết rằng bọn cộng sản Việt Nam đã lừa đảo quá nhiều rồi, chúng dối trá lường gạt để cùng nhau chia chác, làm giàu trên xương máu nhân dân mà không cần biết đến sự cùng cực đói nghèo cả một dân tộc. Tài nguyên quốc gia bị lần lượt tịch thu bán dần mòn vào túi tham của bọn tham ô lãnh đạo đảng. Bao nhiêu công trình đang xây dựng bị dở dang, hàng loạt các tập đoàn kinh doanh thất thoát hàng chục tỷ đôla cùng toàn thể hệ thống ngân hàng tín dụng bị sụp đổ. Chỉ tính riêng trong tháng 1 và 2 năm 2013 đã có hơn 8.600 công ty xí nghiệp ngưng hoạt động (theo lời ông Vũ Đức Đam, Bộ trưởng Chủ Nhiệm Văn Phòng Chính Phủ CSVN). Chúng đang lâm vào cảnh thiếu nợ ngập đầu nếu không có ngoại tệ để chi trả thì sẽ nguy cơ bị hủy diệt, cùng với chiến dịch đòi sửa đổi hiến pháp được khởi đầu bằng 72 cựu đảng viên trí thức trong nước.

Có nhiều người nước ngoài đã đặt thẳng vấn đề với người Việt chúng ta. Chúng ta thỉnh nguyện chính phủ Hoa Kỳ và các nước phương Tây không trợ cấp, không mua bán hoặc tiếp tay cho một chế độ độc tài gian ác phi nhân quyền. Trong khi đó, chính chúng ta trực tiếp hoặc gián tiếp chuyển về Việt Nam hàng tỉ đôla mỗi năm. Số tiền nầy chiếm hơn 1/3 ngân sách tài chánh của chế độ đương quyền, để nuôi dưỡng đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn tiếp tục đè đầu, đè cổ người dân.

Mỗi một người Việt Nam phải suy nghĩ và tìm ra hướng đi cho chính chúng ta. Tẩy chay hàng hóa độc hại Trung Quốc, không mua hàng hóa Việt Nam, không du lịch và không gởi tiền về Việt Nam dù bất cứ hình thức nào. Tuyệt đối không ủng hộ, không quyên góp cho bất cứ tổ chức nào để gây quỹ dưới danh nghĩa từ thiện, tôn giáo chùa chiền, trừ việc cần thiết để cứu giúp các thương phế binh, cô nhi quả phụ của các tử sĩ anh hùng.

Cộng đồng tị nạn Cuba đã thay đổi được xứ sở Cuba bằng cách không gởi tiền về thân nhân họ từ năm 2004-2009 và họ đã thành công. Cuba hiện là nước đang có chiều hướng phát triển hòa nhập theo sự tiến bộ của cộng đồng thế giới.

Ba mươi tám năm mùa Quốc hận đã đi qua, người dân trong nước đã quá ê chề dưới sự cai trị độc tài của đảng cộng sản. Việc bắt giam các nhà trí thức một cách rầm rộ trong nước gần đây đã nói lên sự sụp đổ không sớm thì muộn của đảng cầm quyền. Cho đến khi nào toàn dân không còn sợ hãi nữa và chúng ta ngưng nguồn tiếp tế cho họ thì lúc đó đảng cộng sản sẽ bị cáo chung.

Ba mươi tám năm qua, đã đến lúc Đảng Cộng Sản Việt Nam nhìn thấy cần sức mạnh khối tài lực của người Việt tại hải ngoại. Qua hình thức văn hoá vận bằng nghị quyết 36 để chiêu dụ những kẻ hám danh, trục lợi nhằm lũng đọan hàng ngũ quốc gia. Nhưng chúng đã hoàn toàn thất bại vì những thứ mà chúng kiếm được là những thành phần rác rưới nhẹ dạ, hám danh, một loại phế thải trong tập thể cộng đồng Người Việt Quốc Gia đang sống lưu vong tại hải ngoại. Ở đâu và bất cứ thời nào cũng có những tên Việt gian trở mặt theo kẻ thù để đâm sau lưng chiến hữu và đồng bào bất chấp hậu quả. Bọn tay sai nầy chỉ biết có tiền, nhắm mắt vâng theo để quậy phá làm tan rã khối đoàn kết chống cộng của chúng ta.

Tháng Tư xứ người nắng ấm tình nồng, tháng của đất trời vào Xuân chim hót líu lo, nhiều cụm hoa dại màu rực rỡ như khoe sắc khắp mọi nơi. Màu cỏ non xanh mướt cùng những cơn mưa nhẹ bất chợt buổi chiều đã gợi nhớ lại nổi buồn trong lòng người xa xứ. Qua rồi những ngày tháng Tư buồn thảm lê thê trong lòng người xa xứ. Tháng Tư năm nay, chúng ta đốt nén nhang, cầu nguyện những người quá cố hãy vì sự tồn vong và tương lai đất nước, giúp chúng ta nghị lưc và sáng suốt để tiếp nối đoạn đường. Xin cúi đầu, tưởng niệm anh linh, liệt sĩ đã vị quốc vong thân phù trợ chúng ta thêm dũng cảm để tiếp tục cuộc đấu tranh vì chính nghĩa. Với tất cả lòng thành và nhiệt tâm chúng ta sẽ cùng toàn dân trong nước đòi cho được “Dân chủ, Nhân Quyền và Chủ Quyền” cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Cộng Sản Việt Nam đang trên đà suy sụp trước sự bất mãn của toàn dân từ quốc nội đến khắp năm châu. Bản Kiến Nghị 72 của 72 nhà trí thức phản tỉnh cộng sản đã được Người Việt khắp mọi nơi hưởng ứng nhiệt thành, Thư của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và mới nhất là Bản Tuyên Bố Công Dân Tự Do đã được hàng vạn người trong và ngoài nước hưởng ứng: đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp, đa nguyên đa đảng trong một cuộc bầu cử tự do. Quân đội phải là lực lượng phục vụ dân chứ không phải phục vụ đảng, phi chính trị hóa quân đội.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry vừa vinh danh blogger Tạ Phong Tần, người đã bị cộng sản kêu án 10 năm tù là một trong 10 phụ nữ kiệt xuất của thế giới năm 2013, nhân Ngày Phụ Nữ Quốc Tế 8-3 năm nay. Bên cạnh danh dự lớn lao nầy, còn có Blogger Huỳnh Ngọc Chênh - người đã có những bài viết cổ súy quyền tự do báo chí và ngôn luận nhằm tố cáo nhà cầm quyền cộng sản vi phạm trầm trọng trên trang blog của mình, cũng đã được tổ chức phóng viên Không Biên Giới Quốc Tế tặng giải thưởng “Công dân mạng 2013”. Giải thưởng đã được tổ chức tại Paris vào ngày 12-3-2013.

Có mùa Quốc hận 30-4 nào mà chúng ta không ngóng trông một cơn bão chính trị đột biến để giật sập chế độ cộng sản hiện hành. Có mùa Quốc hận nào mà chúng ta không mơ ước cho đất nước và dân tộc Việt Nam sớm thóat khỏi chế độ độc tài toàn trị.

Đã đến lúc mỗi một người dân Việt Nam không còn sợ hãi cùng hòa nhập với “Lời tuyên bố Công Dân Tự do”, sẽ trở thành sợi dây bền vững kết nối hàng triệu triệu trái tim Việt Nam hầu xóa tan một thể chế độc tài toàn trị, bảo thủ và ngu xuẩn. Từ ngày hôm nay chúng tôi khẳng định rằng, chúng tôi sẽ sống và hành xử như những người tự do với trọn vẹn nhân phẩm thiêng liêng. Giờ của tự do đã điểm, tất cả mọi người hãy cùng nhau lên đường!!! (Lời tuyên bố mới đây của Blogger Trần Quốc Việt trên trang mạn Danlambao)


“Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế.
Cũng chưa thấy có ngày mai nào không thể.
Vì người ta cần ánh mặt trời.
Tỉnh dậy đi lũ chúng ta ơi!”

Thơ nhà báo dũng cảm Nguyễn Đắc Kiên (Hà nội 25-2-2012).

Ngày tàn của đảng cộng sản Việt Nam sẽ không còn bao lâu nữa... Những kẻ bạo phát rồi sẽ bạo tàn. Lịch sử dân tộc đã chứng minh điều đó.


Arlington, mùa Quốc hận 30-4-2013
Mũ xanh Phạm Văn Tiền K20


.
Về Đầu Trang Go down
mphan
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Một Ngày Cuối Tháng Tư...   Wed Apr 17, 2013 3:55 pm


Một Ngày Cuối Tháng Tư...


Hàng năm, cứ đến tháng Tư, lòng tôi lại nôn nao khó tả. Tôi đoán, không riêng gì tôi, mà có lẽ tất cả những người VN di tản của tháng Tư 75, đều có tâm trạng giống nhau. Tôi nhớ lại những ngày sôi động mấy tháng truớc đó. Mọi người nhốn nháo, lo âu, và những tiếng "phải ra đi" đã như một tiếng vang, cứ lan dần, lan dần, lan rộng mãi, sau khi gần như cả nước đã chạy đôn chạy đáo tìm đường đi Mỹ.

Tôi chỉ là cô giáo dạy học, không quen với một người Mỹ nào, cho nên khi nghe được tin, một người Mỹ, có thể đem được 5 người đi Mỹ, thì tôi vội vàng chạy đến cô bạn thân đã từng làm sở Mỹ, hơn nữa cô ta lại có người chị lấy chồng Mỹ, làm ở bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Nhưng, đến nơi, tôi chỉ gặp người chồng cho biết, KB đi về Suối Lồ Ồ. Tôi nghĩ thầm trong bụng:

- Trong lúc đất nước đang sôi động, thế này, KB về Suối Lồ Ồ làm gì ?

Sau đó vài ngày, tôi lại được tin, một người Mỹ, có thể mang theo 10 người, tôi lại tìm đến KB lần nữa. Lần này, thì người chồng đành nói sự thật:

- KB đi rồi.

Tôi ra về trong thất vọng. Mỗi ngày qua đi, nỗi lo âu trong tôi càng mãnh liệt hơn. Lời của Mẹ tôi cứ vang vang trong đầu:

- Con phải tìm cách đi cho bằng được, vì ở lại, tụi VC bắt thì chết...

Chính vì câu nói ấy, mà trước đó cả mấy tháng, tôi cùng với mấy người bạn đã bàn tính đến việc đóng tàu, và đi Nouméa, theo lời chỉ dẫn cuả người thân quen, có chồng Tây. Chị nói, Nouméa, dễ sống lắm. Nó chỉ là một cái đảo nhỏ của Pháp... Ngày xưa, những người VN đi lính cho Pháp, sau khi theo Pháp về nước, chính phủ Pháp đã đưa họ sang sinh sống ở đảo Nouméa này. Và người nào cũng giàu vì đàn bà VN, chịu khó, đảm đang, và chắt chiu...

Thế nhưng, mọi dự định đã không thành. Ý nghĩ phải đi Mỹ càng ăn sâu vào tư tuởng của tôi.

Cho đến một ngày, tôi nhớ rõ lắm, đó là ngày 25 tháng Tư chị tôi, đến chào Mẹ và tôi để ra đi. Sự ra đi này là do một gia đình Mỹ đưa đi. Tôi đi tiễn chị vào Tân Sơn Nhất, nơi gọi là D.A.O. Chị tôi bảo:

- Ở lại để đi cùng cho rồi, về làm chi.

- Nhưng các đồ trang sức, và vàng Mẹ cho vào cái ruột tượng, em lại để ở nhà, không mang theo. Em đã biết lối vào đây, em sẽ đi chuyến sau.

- Có gì cần nhờ vả, em cứ đến anh Lương, người bạn hàng xóm, rất tốt bụng, sẽ giúp em những điều cần thiết. Nhớ nhé.

- Dạ.

Vào trong đó, tôi mới thấy thiên hạ đã sửa soạn ra đi từ lâu lắm rồi. Tôi thấy có gia đình anh chị BS Đào Đức Hoành, gia đình anh Đào Hữu Dương, và nhiều gia đình khác nữa... Các anh chị ấy hỏi tôi:

- Em cũng di chuyến này hả ?

- Dạ không.

- Còn chờ gì nữa, nguy lắm rồi đó.

Và tôi ra về trong âu sầu, lo lắng. May quá, bạn thân của tôi là Thanh Tước, có cô em gái làm ở Usaid, cho tờ giấy chứng nhận là đã học về Nursing ở Mỹ. Và cô em còn dặn:

- Các chị cứ cầm tờ giấy đó, là nguời Mỹ sẽ cho lên máy bay.

Cầm tờ giấy trong tay, tôi lại phải đi tìm người đưa chúng tôi vào trong phi truờng Tân Sơn Nhất. Sau khi dễ dàng vào tiễn gia đình chị tôi đi Mỹ, thì ngay sau đó lệnh ban ra, chỉ có những nguời có giấy tờ đi mới vào được phi truờng mà thôi. Tôi đã không còn cách nào vào D.A.O trong phi trường Tân Sơn Nhất.

Tôi nhớ đến anh Luơng, người hàng xóm của gia đình chị tôi ở Truơng Minh Giảng. Tôi đến tìm anh, được anh sốt sắng gọi điện thoại đến người anh ruột của anh làm ở Tân Sơn Nhất, nhưng khi gọi điện thoại, chị người làm cho biết ông bà chủ và các em đã đi rồi. Anh dẫn chúng tôi đến USOM, họ đang cho nhân viên lên xe... Nhưng, những người Việt lo cho chuyến đi ấy đã đòi chúng tôi phải có 1,000 dollars, mỗi người, mới lên xe được.

Chúng tôi lắc đầu, vì đào đâu ra tiền dollars nhiều như vậy. Cả gia tài của Mẹ cho chỉ có 300 dollars để nhét túi, phòng khi sang dất lạ quê người có chút tiền để sống bước đầu. Thấy chúng tôi đứng tần ngần, họ xuống giá, vậy 2 người 1,000 được không?

Chúng tôi vẫn lắc đầu, và chỉ biết đứng nhìn chiếc xe đang từ từ lăn bánh, mà tan nát cõi lòng vì nghèo...

Anh Lương lại bảo chúng tôi về nhà chờ, anh đi một thời gian khá lâu. Trong khi đó, tôi thấy nhiều người gồng gánh chạy về phía Tân Sơn Nhất, và nói to:

- Bà con ơi, chạy đi, VC đã về tới Thủ Đức rồi.

Lòng tôi rối bời, tôi gọi điện thoại cho mấy ông anh báo tin VC đã về tới Thủ Đức, nhưng chẳng anh nào có nhà. Chắc cũng đang tìm đường đi như tôi. May quá anh Lương trở về, với xe ngoại giao, có tài xế Tàu lái, đầu có đội mũ casquette. Và luôn miệng giục 2 đứa tôi lên đi nhanh nhanh.

Thế là người gác cổng Tân Sơn Nhất, sau khi thấy xe ngoại giao, đã vẫy cho đi liền, không cần trình giấy tờ. Qua được cổng Tân Sơn Nhất rồi, tôi chỉ đuờng cho ông ta lái thẳng đến D.A.O. Tuy vậy, còn phải qua một trạm của Mỹ khám xét giấy tờ. Chúng tôi đưa tờ giấy của USAID chứng nhận, và đuợc ra đi bình yên, dù lòng tôi lúc ấy như đánh lô tô, vì có hai nguời Mỹ đen, hai bên canh gác, mà súng ống lúc nào cũng lên đạn như sẵn sàng để bắn.

Tới nơi bằng yên rồi, có bao nhiêu tiền VN, chúng tôi vét đưa hết cho người Tàu dễ thương, như thầm cám ơn con người có lòng nhân. Thế mà cũng được cả 60 ngàn, tiền VN lúc bấy giờ.

Vào đến D.A.O.  thì trời đã chiều tối, tôi gặp mấy con bạn đang chờ để được gọi ra máy bay trong chừng 1 tiếng đồng hồ nữa thôi. Trong khi ngày mai tôi mới được làm thủ tục giấy tờ. Bụng đang đói, vì tiền VN thì cho hết rồi, không còn một đồng để mua thức ăn. Tôi cứ tưởng là vào đây sẽ được ăn thức ăn chùa.

Bụng thì đói, còn đang lo vụ giấy tờ ngày mai, thì mấy người lính Mỹ, vào phòng nói loa, yêu cầu mọi người ra ngoài, nằm sát xuống đất, vì có pháo kích. Thế là mọi nguời chạy ra ngoài, nhẩy xuống cái hố chung quanh nhà, mà ban ngày, thì dùng đổ rác rến, hoặc cho con nít phóng uế, tè tiểu ở đó, bây giờ, ai cũng muốn tránh làn tên mũi đạn, nên chẳng còn sợ gì dến hôi thối,bẩn thỉu nữa.

Cả một đêm bị pháo kích. Tôi tuy chưa ăn gì từ chiều qua đến giờ, cũng không cảm thấy đói bụng, vì lo âu. Bên cạnh tôi, có ông không quân, ông nằm ngửa nhìn trời, và cắt nghĩa cho bà con nghe rằng, nghe đường lằn đạn pháo kích bay qua, ông ta cho biết, nó sẽ đi qua đây, khi nào, không nghe tiếng đạn bay, ấy là nó đã tới chỗ chúng mình ẩn trú. Và tiếng đạn bay qua đầu chúng tôi, rối nổ ở chỗ rất xạ Thôi thì lúc này, tôi nghe đủ tiếng cầu kinh với Chúa, với Phật. Ai theo tôn giáo nào thì cầu xin đấng linh thiêng của tôn giáo đó. Sáng tinh sương hôm sau, tiếng đạn pháo kích im lìm, tất cả mọi người trong D.ẠO bàn tán xôn xao, vì cửa văn phòng lo giấy tờ đóng im lìm. Cứ thấy ai đứng ở cửa sổ xếp hàng, là mọi người lại tụ nhau xếp thành hàng dài. Chờ cả mấy tiếng, không thấy động tĩnh gì, lại tản ra, và cứ thấy nhóm nào đông, là mọi người lại tụ lại.

Trời đã nắng to, rồi đã tới trưa, mà chẳng thấy động tĩnh gì, mọi người yêu cầu một người nào đó, trong đám đông, giỏi tiếng Anh, tìm người Mỹ, hỏi xem, có cứu những người ở trong D.ẠO không. Nếu không, cho biết để mọi người ra về, kẻo tối nay sẽ bị pháo kích nữa. Ông Mỹ lại đi vào, và đến 2 giờ chiều, ông ta đã đi ra và tuyên bố, Mỹ sẽ cứu hết mọi người trong D.A.O.

Từ đó, tất cả mọi nguời đang chờ để sửa soạn ra đi, không ai bảo ai, cùng đứng tụ lại một chỗ. Nhất là, sau khi nguời lính Mỹ, ra mở kho lương thực, trong phía D.ẠO, thì chẳng hiểu sao, bao nhiêu nguờì trong gia đình binh sĩ không quân đã biết để hò nhau vào lấy, chỉ một loáng, là cái kho lương thực đã trống trơn. Đúng 3 giờ chiều, một nhân viên người Mỹ, đưa ra danh sách của những người đã làm giấy tờ từ trước, cho một người đọc. Có nhiều ông đứng lên đọc vài tên, rồi ông đọc tên gia đình của ông, và sau đó là trao tờ giấy cho nguơì khác, để ông ra đi với gia đình. Cứ thế, rồi lại đến 1 ông khác đọc to:

- Gia đình Đại Tá (xin lỗi đã quên tên) 10 người. Không có ai, ông ta đọc lại lần nữa:

- Gia đình Đại Tá... 10 người.

Tôi là kẻ thuộc loại nhát hơn cáy, mà không hiểu vì sao, lúc đó lại thông minh, bạo gan thế. Ngó quanh, ngó quẩn, không thấy ai, tôi đứng lên, và gọi cô bạn là Thanh Tước, hãy cùng đứng lên. Cùng với hai đứa tôi, có một cụ già, và 1 cậu trai trẻ cùng đứng lên, đi theo với tôi. Và khi đi qua mặt nguời đọc, họ hỏi tôi:

- Chỉ có 4 người thôi hả ?

- Dạ vâng.

Qua khỏi cửa ải của hành chánh, hai bà cháu cụ già, cám ơn tôi rối rít, vì cụ tuởng tôi là gia đình của ông Đại Tá. Thực ra, tôi cũng chỉ là kẻ mượn oai hùm nhát khỉ mà thôi.

Tôi nói với' bà cụ như vậy.

Đường ra trực thăng cũng gian nan lắm. Lòng tôi lúc nào cũng hồi hộp, khi nhìn ánh mặt trời cứ thấp dần, nhạt dần trên bầu trời. Tôi chỉ thấy trời màu xám đen, và âm u buồn. Chẳng còn lòng dạ nào nghĩ đến ai khác, vì đoàn nguời chúng tôi cả trăm người, đã được 1 nguời lính Mỹ hướng dẫn lối đưa ra phía trực thăng đang chờ sẵn. Cứ đi một đoạn, lại được lênh dừng lại và coi chừng pháo kích...

Trên đường đi, tôi đã nhìn thấy không biết cơ man nào là Valises, Samsonites đủ màu, vất ngổn ngang, chất đống cao, bên lề đường. Tôi đoán là của những người đã bỏ lại trong đêm bị pháo kích, vì được lệnh cứu người. Những ai mang đi nhiều valises như đi du lịch, đều phải bỏ lại, vì trực thăng không có sức chứa nhiều. Nhìn đống valises và samsonites chất đống cao nghệu, mới biết dân Viêt Nam cũng nhiều người giàu có lắm. Nhất là khi có một bà, dắt trong tay hai đứa con Mỹ lai, một trắng, một đen. Bà ta đi tay không, nên đã bảo đứa con lấy đại 1 cái valise nào, mở ra được, tìm xem có áo quần nào vừa, thì lấy mặc... Và trong hàng ngàn cái valises đó, họ đã bắt được vài trăm tiền đô cất trong cái sắc nhỏ. Áo quần thì tha hồ chọn cái nào đẹp thì lấy. Nhiều người trên đường đi, thấy vậy, cũng khui mấy valise khác, nhưng của trời cho ai nấy được hưởng.

Tôi thì cứ lo lắng vì chỉ sợ có pháo kích là trực thăng không cất cánh nổi, và phải ở lại đây, chịu một đêm pháo kích như đêm qua thì chắc chỉ lo sợ mà chết thôi.

Đoàn người cứ rồng rắn di chuyển mãi thì cũng tới nơi. Người lính Mỹ, bắt mọi người cúi rạp xuống vì cánh quạt trực thăng quạt mạnh lắm, bay đất cát bụi mù. Tôi phải nhắm mắt lại, vì cát đang lả tả bay lên tóc, lên người tôi.

Khi mọi người đang leo lên trực thăng, tôi vẫn không ngớt đọc kinh cầu xin cho VC đừng pháo kích lúc này. Và khi tôi đã ngồi an toàn trên trực thăng, nhìn hai lính Mỹ cao to, vạm vỡ, chĩa súng ra ngoài cửa sổ, lòng tôi vẫn chưa hết âu lọ Và khi trực thăng cất cánh, tôi nhìn xuống ánh đèn vàng vọt của thành phố Saigon, tôi bỗng khóc rấm rức... Thế là tôi vĩnh biệt Saigon thật rồi. Cho đến lúc ấy, trí óc tôi mới quay về gia đình, không biết, Mẹ tôi, các anh chị tôi có thoát khỏi được như tôi không.

Trực thăng, đưa chúng tôi ra chiếc xà lan, để từ xà lan, sẽ đưa chúng tôi ra tàu lớn đang đâịu ở ngoài khơi chờ. Khi chúng tôi lên được tàu lớn, thì thân xác tôi đã thấm mệt, đã mỏi nhừ, vì thức dêm lại không được ăn uống gì. Tôi nhìn những người Mỹ, đã làm việc suốt đêm ngày, di chuyển những bà già, những em bé từ xà lan lên tàu lớn, tàu Pioneer (có sức chứa cả 7,000 người), duới ánh đèn pha rọi sáng chói cả một góc biển... Buổi sáng sớm hôm sau, vào sáng 30/4, khi ai đó, vặn to radio, để nghe tin tức, và khi nghe được tiếng cô gái cán bộ, nói the thé trên đài Phát Thanh, báo tin "quân ta đã chiếm được Dinh Độc Lập..." thì cả tàu không ai bảo ai, đã oà khóc.

Thôi thế là Vĩnh Biệt Saigon. Vĩnh Biệt Đất Nước Thân Yêu của tôi. Và tôi sẽ chẳng bao giờ quên được ngày cuối tháng Tư: 30/4/1975.

Hồng Vũ Lan Nhi
Tùy bút Tháng Tư Đen
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Ngụm cà phê tháng tư    Fri Apr 19, 2013 10:16 am

.

Ngụm cà phê tháng tư

Trần Mộng Tú




ta ngồi một mình

ly cà phê cạn
lòng như tháng tư
đứt ra từng đoạn.

Tháng tư, tôi ngồi trong quán cà phê Starbucks trên đường 20th của thành phố tôi cư trú. Tôi cúi xuống nhìn mầu cà phê đen đặc, sóng sánh sót lại một ngụm trong chiếc ly giấy. Tôi cầm chiếc ly chao nhẹ đi một chút, do dự chưa muốn ngửa cổ uống nốt ngụm cuối cùng. Ngụm cà phê trông như ngụm nước mắt đen. Chao ôi nước mắt đã có một lúc nào đó, ta ngửa cổ uống được cả ngụm hay sao!



Tháng tư, tháng tư, tháng tư năm đó! Đứt ra từng đoạn: đoạn cha, đoạn mẹ, đoạn vợ, đoạn chồng, đoạn con, đoạn anh, chị, em, đoạn bạn hữu. Mỗi đoạn đứt một chỗ, rơi một nơi, đoạn mất đi ngút ngàn biệt tích, không để lại dấu vết, đoạn còn sót lại ngơ ngẩn, mù lòa. Tháng tư của ba mươi bẩy năm sau, ngụm nước mắt không bao giờ cạn được.

Tôi ngồi trong quán một mình. Ngó những khuôn mặt lạ, họ không phải bạn bè, nhưng vẫn thấy thân thuộc, vì đó là những khuôn mặt của dân bản xứ tôi gặp thường ngày. Cách ăn mặc và lối cư xử của họ na ná giống nhau. Mình nhìn mấy chục năm, mình quen với cách kéo ghế, cách chụm đầu vào nhau nói khe khẽ, cách nghiêng mình xin lỗi của họ khi phải đi qua mặt ai, nên bỗng trở thành gần gũi.

Tự ngậm ngùi tưởng tượng, nếu bây giờ mình ngồi ở trong một quán cà phê ở Việt Nam, ngắm những người ngồi chung quanh, chắc chắn mình sẽ thấy thất lạc lắm, vì cách ăn mặc và cư xử rất khác mình. Họ cũng sẽ chẳng để mắt nhìn đến mình, một kẻ thường thường trên mọi phương diện. Mình thất lạc ngay chính trên quê mình.

Ngồi một mình với ly cà phê Starbucks trong một ngày của tháng tư, quê người; tôi chỉ nhìn ra mình là người lạ với chính mình. Cúi nhìn mấy ngón tay đang cầm ly, những ngón tay gầy đã bắt đầu xanh xao gân lá, biết mình ở đây lâu lắm rồi. Đôi vai bỗng trĩu nặng như có bàn tay ai vô hình ấn xuống ghế. Thôi, đã đến đây rồi, thì ngồi xuống đây, còn đi đâu được nữa. Ngồi đây mà hồn như thác đổ, tiếng nước ầm ầm vọng tới từ một ký ức xa xôi, rồi bỗng òa ra khi chạm vào tảng đá cuối cùng, tảng đá tháng tư.

Tháng tư ở đây là mùa xuân, chim chóc rủ nhau bay vào thành phố, hoa đào nở hồng trên mỗi con đường, nắng mới lách mình vào những khung cửa mở, trong vườn nhà ai hoa táo, hoa lê trắng xóa. Những người Việt di tản như tôi, tháng tư không ít thì nhiều quay đầu nhìn lại quá khứ, nhớ lại những giọt nắng quê nhà năm đó hòa vào máu và nước mắt. Hoa nắng quê người chỉ làm gợi thêm nỗi xót xa.


Anh ạ tháng tư mềm nắng lụa
hoa táo hoa lê nở trắng vườn
quê nhà thăm thẳm sau trùng núi
em mở lòng xem lại vết thương

Chung quanh tôi, một vài bàn nhỏ có người ngồi trước tách cà phê và cái laptop. Họ im lặng làm việc, học hay sáng tác. Có người với một tờ báo mở trước mặt, hay hai người bạn thì thào nho nhỏ. Quán tĩnh mịch, nghe được cả tiếng gõ khe khẽ của những ngón tay chạm trên bàn phím, thậm chí cả tiếng thở của người ngồi ở bàn gần mình.

Tôi ngồi với ly cà phê cạn. Tôi biết trang mạng của người Việt khắp nơi trên thế giới, vào mỗi tháng tư họ cũng trao đổi cho nhau trên khung hình nhỏ: những tấm hình đang bốc lửa, những khẩu súng đang nhả đạn. Tiếng người đang khóc, đang la vang, đang chạy hoảng loạn, đang giẫm lên nhau. Tiếng súng nổ, tiếng kêu thất thanh… Tất cả hiện ra trên khung hình nhỏ.

Trong một tiệm cà phê ở Mỹ. Tôi ngồi đó, ngửa mặt uống ngụm cà phê đen cuối cùng. Bỗng dưng má tôi ươn ướt. Nước mắt ứa ra từ hai con mắt, bờ mi đã bắt đầu sụp xuống như hai chiếc lá cuốn khô. Nước mắt của một người di tản vì chiến tranh lâu quá rồi, xót xa cho phận mình, phận người, phận quê hương đất nước.

Ba mươi bẩy năm rồi, mà thỉnh thoảng vẫn đọc được ở trên mạng, lẫn vào những bài vở giải trí, kiến thức hay nghệ thuật, những lời nhắn với nội dung thật buồn: Một hài cốt với tên họ, ngày sinh và số quân đầy đủ của một quân nhân VNCH, ai đó vừa tìm được bên đường. Mong có thân nhân đến nhận. Nào ai biết thân nhân của bộ xương đó còn sống hay đã chết? Tin đó đến từ Việt Nam và đã chuyển đi nhiều lần.

Tin những người ở Mỹ về bốc mộ, một hố chôn tập thể của binh sĩ VNCH trong một sân trường hay bên cạnh một con mương.

Tin cả trăm bộ xương tìm thấy ở ven biển miền Trung không biết của bên này hay bên kia.

Rồi còn cả những tin như sĩ quan H.O qua đời ở Mỹ không có thân nhân, được những người trong cộng đồng phụ nhau mai táng.

Lời nhắn về một vị tá Hải Quân, có con ở Cali. Xác nằm trong bệnh viện Texas hai tuần rồi. Cha qua đời, con ở đâu chưa đến nhận.

Những dòng chữ như thế, thực sự là một “Tin Buồn” với ý nghĩa đúng nhất của nó.

Tháng Tư là tháng tôi sợ đọc, sợ xem hình trên mạng. Sợ nhìn lại những hình ảnh và đọc lại những bài viết kinh hoàng của những nạn nhân vượt biển; hình ảnh nghĩa trang quân đội bị đập phá trong tủi nhục; những câu chuyện thương tâm của tù nhân và nhà tù cải tạo; sợ phải xem lại những hình ảnh của một thành phố mình đã sống và lớn lên bị tàn phá bởi chiến tranh; sợ những bức hình và tên tuổi, binh nghiệp của các tướng lãnh tự sát vào ngày cuối cùng, tôi sợ mỗi khi đọc thêm một danh sách tự vận của các cấp tá, cấp úy, các hạ sĩ quan. Họ tự sát riêng lẻ hay có khi cùng với vợ con. Những bức hình im lìm đó là những tiếng gào thét phẫn nộ của những anh hùng VNCH. Tôi không nhớ là mình đã đọc được câu này ở đâu: “Thật đáng thương cho một đất nước nào có quá nhiều anh hùng” vì anh hùng đồng nghĩa với hy sinh và cái chết.

Đau đớn nhất là bao giờ khi xem hình, khi đọc những bài viết xong, cuối cùng mình nhận thức rất rõ rệt: đó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn.Người giết và người bị giết đều mang họ Nguyễn, họ Lê, họ Trần.

Ba mười bẩy năm rồi, người ta nói là Việt Nam đã hết chiến tranh, người dân đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nhưng trên mạng, người Việt trong và ngoài nước vẫn có những dòng chữ gửi đến cho nhau mang theo những thông điệp thật buồn: Việt Nam tôi đâu? Người dân mất nhà, mất đất. Gái Việt bán sang Đài Loan. Gái Việt xếp hàng lấy chồng Đại Hàn. Không có Tự Do cho Việt Nam. Ngư dân Việt bị tầu Trung Quốc bắt ngay trên biển của mình. Nước Việt âm thầm mất dần từng mảnh cho Trung Quốc….

Tháng tư, cà phê đắng, đắng thêm khi pha vào những giọt nước mắt vì nước mắt bao giờ cũng có muối ở trong. Nỗi đau tháng tư với một số đông người Việt ở thế hệ bạn hữu tôi, là một vết thương không thành sẹo được, nó lên da non, rồi ngưng lại ở đó. Nhìn xuống vẫn thấy màu hồng, vẫn thấy như còn rơm rớm máu.

Tôi cúi xuống nhìn chiếc ly không, tự lấy tay áo lau thầm những giọt nước mắt mình. Đứng dậy, trở về một nơi tôi gọi là nhà, tiếp tục sống với trái tim di tản.

Vạt nắng tháng tư chỉ bay xiên vào trong quán này một năm một lần, nhưng khi tôi đến đây, dù bất cứ tháng nào trong năm, hồn tôi, tháng tư có thể đến bất chợt ghé xuống và rơi cùng những giọt cà phê.


Anh ạ tháng tư sương mỏng lắm
sao em nhìn mãi chẳng thấy quê
hay sương thành lệ tra vào mắt
mờ khuất trong em mọi nẻo về.

(Tháng 4/2012)


.
Về Đầu Trang Go down
leminh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tháng Tư ở Sài Gòn   Sat Apr 20, 2013 5:48 pm

Tháng Tư ở Sài Gòn



Tháng Tư là đầu mùa Hè, thực ra SG quanh năm là mùa Hè, thản hoặc may mắn cuối năm nào được hưởng chút cái hơi lạnh của mùa Đông, khi không khí lạnh vượt qua được đèo Hải Vân xuống phía Nam là SG dìu dịu như Đà Lạt, người SG mừng lắm.

Tôi xuống xe ở đường Tự Do, lững thững qua Passage Eden, tháng Tư SG cây cối xanh mầu, có tiếng ve kêu và đâu đó lác đác những cánh phượng nở sớm báo hiệu Hè đã đến, “Trời hồng hồng, sáng trong trong, ngàn phượng rung nắng ngoài song”. Hè, mùa chia tay của học sinh, con gái nắn nót với những trang lưu bút, còn đám con trai? Ráng mà thi đậu nghe, còn không, có quân trường đợi sẵn đó, tôi không còn quan tâm đến sự chia tay thuở học trò này nữa vì tôi rời mái trường mấy năm nay rồi, giờ đã là một người lính dày dạn gió sương, tuổi học trò đi qua mà lòng không muốn như vậy.

Qua Passage Eden, tôi thấy Ngọc đứng chờ tôi ở trước Rex, nàng hôm nay đẹp rực rỡ, người con gái nào đang có tình yêu đều đẹp, chúng tôi nắm tay nhau, biểu lộ tình yêu thời đó chỉ là như vậy, rất lễ giáo, không có cái hôn, không ôm choàng lấy nhau ầm ĩ. Ngọc ríu rít hỏi tôi về phép được mấy ngày, sao không đến nhà thăm em…

Ngọc đang học Dược, chúng tôi quen nhau cũng cũng đã mấy năm, ngày Ngọc còn là cô nữ sinh Trưng Vương, tháng Tư hàng me đường Nguyễn Bỉnh Khiêm từng chiếc lá vàng nhỏ rơi rụng, lăn tròn trên vỉa hè, lấm tấm như những hạt gạo, tôi hay đợi Ngọc ở đấy, đường đi của đôi tình nhân có lá me vương trên mái tóc, Ngọc không cho tôi gỡ những chiếc là me xuống, nàng bảo : “ mấy chiếc lá đó thích em anh để kệ nó ”, lãng mạn thật, thực ra nàng sợ lũ bạn nhìn thấy thì đúng hơn, con gái học đệ nhị mà đã có người đón đưa là bạo đấy, ôm chiếc cặp nơi ngực mà vương vấn hình ảnh ai đó là hơi sớm đấy, trên đường tình có gió mơn man tà áo trắng, áo bay cuốn lấy chân tôi, Ngọc giữ áo lại, tôi nói : “ cái áo nó thích anh, em để kệ nó ”, Ngọc cười, đôi má con gái ửng hồng.



Thời ấy, cuối những năm 60, SG trở lại yên bình sau cái Tết Mậu Thân, chiến tranh càng trở nên khốc liệt, nhưng ở đâu đó thôi, SG vẫn bình yên, tôi đã rời học đường trước đó, bình yên thế nào được, những người thanh niên nào ai cho yên bình, tôi rời Đại Học, nhập ngũ, thỉnh thoảng về phép, hẹn Ngọc đi chơi, như hôm nay chẳng hạn, tôi dẫn Ngọc loanh quanh Lê Thánh Tôn, Gia Long, Tự Do… những con đường đầy kỷ niệm mà mỗi lần về SG, tôi cứ thích lang thang ở đó.

Tôi đưa nàng vào Brodard, một quán nước hồi còn là sinh viên, tôi và bạn bè hay ngồi ở đây, quán không có chanh đường để uống môi em ngọt, quán có chút Tây hơn, con đường Tự Do cũng có những hàng me cao, tôi gỡ vài cái lá vướng trên tóc nàng, Ngọc không tìm cách tránh như hồi còn ở Trưng Vương, hồi đó còn sợ bạn nhìn, giờ chỉ có người tình nhìn, càng thích chứ sao. Rót nước cho Ngọc rồi hỏi : nghe Nat King Cole nhé, nàng gật đầu, tôi mua jeton rồi bỏ vào cái jukebox cạnh đó, tiếng hát trầm ấm của người ca sĩ da đen cất lên :

Love is a many splendored thing, it’s the April rose…

Có đúng không, tình yêu là vật đẹp muôn mầu ? Ngọc hỏi tôi :

- Tình yêu chỉ có nghĩa vậy thôi sao?

Tôi trả lời nàng :

- Không, có nhiều chứ, tình yêu người ta định nghĩa nhiều lắm nhưng càng định nghĩa nó càng rối mù, theo anh tình yêu cần gì phải định nghĩa, nó chỉ giản dị trong 2 chữ anh + em vậy thôi, với anh thế là đủ.

Bài hát tôi và Ngọc đều thích và có cùng kỷ niệm, lúc mới quen nhau qua đứa cháu, bạn học cùng Ngọc, và cũng tại Brodard này trong một lần đi chơi, hình như lần đầu thì phải, tôi thấy Ngọc loay hoay chọn bài hát trong cái máy, tôi tiến tới bỏ jeton vào thì cả 2 ngón tay tôi và Ngọc cùng bấm Love is a many splendored thing, tôi và Ngọc nhìn nhau, hóa ra… lần đầu đấy, nhưng ánh mắt đã có chút xao xuyến, ai cũng có một thời để nhớ về một kỷ niệm nào, với tôi, mỗi lần nghe bài hát này, Brodard và Ngọc hiện ra trước mặt, it’s the April rose that only grows in the early spring.. vâng, bông hồng tháng Tư, chúng tôi yêu nhau và SG tháng Tư không có được hoa hồng, chỉ có mầu đỏ của phượng, cả tôi và Ngọc đã xem cuốn phim này, La colline de l’adieu với William Holden và Jennifer Jones, thuở học trò mang tình yêu vào sách vở nhưng kém đâu nồng thắm,…anh your fingers touched my silent heart and taught it how to sing…Trong phim cảnh thật đẹp khi W.Holden và Jenny đứng trên đỉnh đồi, phía dưới xa xa là thành phố cùng bãi biển, họ hôn nhau.

Tháng Tư SG nóng nung nấu người, hàng me ngoài đường im gió, có những tà áo dài của các cô làm việc ở ngân hàng về, tà áo đồng phục làm dịu bớt cái hừng hực của tháng Tư , thấy tôi ngắm nhìn mấy tà áo dài đó, Ngọc rời đôi môi xinh xắn khỏi ống hút hỏi tôi:

- Anh thích gì nhất nơi người đàn bà ?

- Theo anh cái nhất của người phụ nữ là sự duyên dáng và thông minh.

- Anh trả lời chung chung quá, thí dụ thích vẻ đẹp của mái tóc, đôi mắt, làn môi hay như bộ ngực chẳng hạn…

Tôi trả lời một câu lạc đề:

- Anh thấy đàn bà nào có bộ ngực to thường kém thông minh.

Hai tay đang chống dưới cằm, Ngọc vội khoanh tay như che ngực mình lại:

- Ý này anh lấy ở đâu mà lạ vậy, thế em to hay nhỏ?

-Vừa vừa thôi

-Vậy là không thông minh và cũng không ngu?

Buổi tối, tôi và nàng đi nghe nhạc ở phòng trà Ritz đường Trần Hưng Đạo, phòng trà của Jo Marcel mới mở, nhìn chung quanh, ánh đèn mầu mờ mờ êm dịu, mọi người ăn mặc lịch sự, tôi thấy mình như xa lạ, có rừng rú lắm không, mà có lâu lắc gì đâu, trước đây mình cũng là những người như thế này, tôi nghĩ tới chỉ mai hay mốt trở lại cùng đơn vị, đâu còn được như thế này,, rừng cây, bụi bậm, bom đạn, người chết…


Ta ngắt đi, một cụm hoa Thạch Thảo

Rồi Lệ Thu xuất hiện: ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo, em nhớ cho, mùa Thu đã chết rồi. bài hát này dạo đó mới có, được ngay mọi người đón nhận vì cái lãng mạn và đau thương của lời thơ thi sĩ người Pháp. Ngọc tựa đầu vào vai tôi, nàng hát nho nhỏ theo Lệ Thu: đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa, tôi vòng tay ôm nàn : bậy nào, ừ mùa thu chết rồi, thây kệ mùa thu, chúng ta vẫn có nhau, anh còn em đây thôi, cần gì hơn, mai có trở lại đơn vị cũng không sao. Tôi nắm tay nàng: chúng mình cưới nhau đi chứ!

- Gớm, mãi cóc mới chịu mở miệng.

Năm Ngọc gần ra trường, chúng tôi làm đám cưới, nàng có nhiều bạn bè, những người năm xưa gặp ở bal de famille còn là nhí nhảnh của thời con gái, giờ đã lớn và chững chạc, hồi đó đi nhẩy bal của Dược là sang lắm. Chú rể có vài người bạn, da đen sạm và tóc cháy nắng gió, họ ngồi riêng một góc, tì tì uống rượu, không cười, không nói, có thể họ đang nghĩ tới đồng đội, giờ này mình hạnh phúc ngồi đây, bạn bè thì căng mắt chờ quân thù. Cưới nhau xong là đi, tôi chỉ có 4 ngày bên Ngọc rồi trở lại chiến trường.

Tháng Tư 1972 có một mùa Hè mà nhà văn Phan Nhật Nam đặt tên là “Mùa Hè đỏ lửa”, SG cũng đang vào mùa Hè, chiến trận bùng lớn trên khắp mọi miền nhưng vẫn còn xa SG, tôi ít có dịp về đưa Ngọc đi trên con đường Tự Do có hàng me cao. Chiến tranh làm bao người đàn bà là chinh phụ nên khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên, bởi vậy vụt một cái chinh phụ trở thành góa phụ, chít khăn sô lên đầu vội vã. Còn đàn ông con trai gọi là gì? chinh nhân ư? chinh nhân ơi, xin anh chớ buồn… người yêu anh còn đó, người yêu anh bé nhỏ– hừ, không buồn sao được, vợ mới cưới, gần nhau được vài ngày rồi cứ thăm thẳm chiều trôi mà bảo chớ buồn.

Thế rồi cái tháng Tư đau thương đó xẩy đến, ngọn sóng Tsunami cuồn cuộn đem súng đạn vô SG, chiến tranh không còn ở đâu xa nữa, tội nghiệp, chúng tôi vẫn vùng vẫy, vẫn chiến đấu, vẫn hy vọng… người lính chỉ biết tuân lệnh dù tuân lệnh trong tuyệt vọng, không biết rằng mọi sự đã an bài, mọi sự đã được sắp xếp xong rồi, tôi không gặp Ngọc trong cái Tháng Tư khốn khổ đó, không thấy mặt đứa con đầu lòng mà biết rằng nó sẽ chào đời trong khoảng thời gian này.

Ở tù ngoài Bắc, cứ phải nghe những luận điệu điêu ngoa xảo trá, mà họ nói hay thật, đúng như nữ ký giả người Pháp Susan Labin có một câu nói không thua gì câu nói của ông Thiệu: “người Cộng Sản nói dối nhiều quá đến độ khi nói dối họ tưởng họ nói thật ”. Ngay ngày đầu tiên ở đây, tên cán binh AK nói với tụi tôi: giặc lái Mỹ bay ra ngoài này bị hạ hết vì tầu bay ta núp trong mây chờ chúng tới bất ngờ xông ra…

Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch thảo, tôi không biết hoa Thạch thảo hình dáng ra sao, nhưng những lần đi lao động trong rừng núi, tôi ngắt cụm hoa dại để nhớ Ngọc và những con đường Sài Gòn, ở đây xa quá và khổ quá, cần có ước mơ để giữ mình được vững vàng. Tháng Tư đau thương đó, không có tôi, Ngọc xoay sở như thế nào khi bụng đã quá lớn, SG hấp hối. SG cuống cuồng, người SG không nghe thấy tiếng ve kêu, không kịp nhìn ngắm những cánh phượng mới nở, ôi tháng Tư đau thương. Tôi bị bắt ngay tại mặt trận, từ ngày đó, tôi và Ngọc không gặp nhau.

Mãi 1978, chúng mới cho viết thư, hôm nhận thư Ngọc, tôi run rẩy cả người: Anh yêu dấu, rất mừng khi biết tin anh, anh chưa biết anh có đứa con gái đâu nhỉ, mẹ con em vẫn mạnh khỏe, Ngọc Anh đã 3 tuổi, luôn hỏi về bố, em đặt tên con là Ngọc Anh, một bé gái dễ thương, đẹp như mẹ và nghiêm nghị như bố, Ngọc Anh có nghĩa là Ngọc luôn là của anh đấy, em vẫn theo nghề thuốc nhưng là thuốc vỉa hè, em buôn bán ở chợ Cũ, tiện tặn cũng tạm đủ, em theo bác Cả một thời gian nhưng nghĩ nên đi vùng kinh tế mới như chú Lộc mới đúng với chính sách của nhà nước, sẽ nói với anh sau.

Anh ráng học tập tốt, lao động tốt, nhà nước sẽ khoan hồng cho anh về sớm.

Ngọc Anh và em hôn bố.

Dĩ nhiên lá thư bị kiểm duyệt và tôi bị mắng: lần sau nói vợ không được viết ở đầu lá thư là anh yêu dấu nghe, các anh còn đầu óc lãng mạn tiểu tư sản, viết thư về, động viên vợ anh bỏ buôn bán linh tinh và nên đi vùng kinh tế mới theo đúng chính sách của đảng và nhà nước ta hiện nay.

Thư trả lời tôi khuyến khích nàng nên đi kinh tế với chú Lộc vì chú Lộc - em trai tôi - hiện nay ở Úc, ý cho Ngọc biết nếu có cơ hội là nàng cùng con nên vượt biên, tội nghiệp cô nữ sinh Trưng Vương, ra Dược Sĩ làm cho công ty Dược Trang Hai, một Cty Dược lớn nhất miền Nam thời đó, giờ Ngọc lê la nơi vỉa hè chợ cũ, bên nách đứa con nhỏ mà chồng thì biệt tăm biệt tích từ cái Tháng Tư khốn khổ đó, vẫn là liên quan tới ngành thuốc của nàng, nhưng kiếm từng đồng với những viên thuốc qua lại.

Cuối 1978, các trại tù trên miền cao được di chuyển sâu xuống phía Nam, chúng tôi không biết rằng chiến tranh sắp xẩy ra giữa 2 nước CS anh em, với nước Tàu sau khi VC đánh tan Pon Pot, hành động này coi như một sự phản bội. Tôi được đưa từ Sơn La về trại Nam Hà ở phía Nam Hà Nội, thế rồi thấy tù bị chết vì đói khát, bệnh tật nhiều quá, CS cho gia đình tù được phép thăm nuôi, từ miền Nam phải đi xe lửa mấy ngày đêm mới ra được tới Bắc. Ngọc dành dụm tiền, đầu năm 80 ra thăm tôi tại Nam Hà, khi gặp nhau, tôi nhìn Ngọc sững sờ, Ngọc ốm và đen hẳn đi, sự kham khổ biến cô Dược Sĩ xinh đẹp ngày nào nom khác hẳn, chế độ ưu việt lột xác con người hay thật, tôi nhìn Ngọc Anh chằm chằm, con bé gặp tôi lần đầu nên có vẻ là lạ, được sinh ra trong cái hỗn mang của Sài Gòn nên gương mặt buồn buồn và bướng bỉnh, những giọt nước mắt lăn trên khóe mắt Ngọc, mụ nữ cán bộ dẫn thăm nuôi gắt với nàng:

-Không được khóc, hãy động viên chồng học tập cho tốt để nhà nước còn khoan hồng.

Khi ngồi nói chuyện, mụ ngồi ngay trước mặt theo dõi câu chuyện giữa tôi và Ngọc, tôi nói với Ngọc tưởng như bình thường nhưng thật ra dùng toàn những ý nghĩa chỉ tôi và nàng hiểu, Ngọc cho biết cái ngày mất Sài Gòn đó, nàng không có một tin tức nào về tôi, người anh họ trong Không Quân kêu nàng đi, Ngọc không đi, bụng quá lớn gần ngày sanh mà chẳng biết tôi như thế nào, không đành lòng bỏ đi. Tôi nói với nàng chúng ta có nhiều sai lầm quá, em có ở lại thì giờ cũng chỉ là thế này, bao nhiêu là sai lầm như thế,tôi nói hễ có cơ hội em cứ đi đi, ngày nào được về, anh sẽ tìm cách đi sau. Lúc chia tay, tôi hôn Ngọc Anh, nắm 2 tay nàng, như ngày nào Ngọc chờ tôi trước thềm rạp Rex. Lúc phải quay vào, Ngọc như muốn khụy xuống, tôi quay đi không muốn nàng nhìn thấy tôi cũng long lanh nước mắt, mùa Thu đã chết, em nhớ cho... được một đoạn, ngoái lại, Ngọc nắm tay con vẫn đứng đấy, dơ tay vẫy vẫy, tôi vẫy lại,cứ ít bước lại ngoái lại, dơ tay vẫy, bóng 2 mẹ con xa dần, nhỏ dần...



Như nghiệm vào câu Ngọc hát trên vai tôi buổi tối ở Ritz: đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa. Cuối 1980, Ngọc dẫn con xuống Rạch Giá vượt biên và ghe gặp cướp biển, từ đó tôi bặt tin nàng, chẳng bao giờ gặp lại Ngọc và con nữa, Ngọc Anh năm đó mới 5 tuổi.

Cái chế độ tự nhận là ưu việt đó đã nướng 1 triệu thanh niên miền Bắc cho mộng bá vương điên cuồng, miền Nam cũng thiệt hại hơn 200 ngàn người con ưu tú cho cuộc chiến, có điều họ tự xưng là ưu việt nhưng lại không chịu nhìn thấy là hễ họ đi tới đâu thì người dân chạy trốn tới đó, ngay cả khi cuộc chiến chấm dứt, người dân vẫn hốt hoảng liều chết vượt biển ra đi, nếu quả thực ưu việt thì người dân phải ở lại để hạnh phúc với cái ưu việt đó chứ.

Cuộc chiến chấm dứt, số người bỏ mình trên biển tìm Tự Do khoảng 2, 3 trăm ngàn người, ngang bằng số người miền Nam chết cho 20 năm cuộc chiến, trong số những người chết đó có Ngọc và đứa con gái bé nhỏ của tôi.

TRẦN NHƯ XUYÊN
Về Đầu Trang Go down
leminh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tản mạn... về tháng tư buồn,…   Mon Apr 22, 2013 4:32 pm

Tản mạn... về tháng tư buồn,…
tháng tư mong, tháng tư chờ, tháng tư đợi.




 
Cũng như hằng năm từ ngày về hưu năm 2003, tôi cố gắng giữ trai tịnh trong tháng tư. Bàn thờ tổ tiên được thắp sáng lên, hương nến nghi ngút. Bàn thờ tổ tiên nhà tôi, hằng năm chỉ thắp sáng hai dịp: từ ngày 15 tháng 12, là ngày hợp kỵ cha mẹ tôi đến mồng mười tháng giêng sau Tết Việt Nam và 1 tây tháng Tư đến 1 tây tháng Năm. Kỵ cha mẹ để nhớ cha mẹ, vui Noël, Tết tây và Tết Việt Nam. Và nguyên tháng Tư trai tịnh, để buồn, để nhớ đến thân phận những người Việt của mình.

Đối với tôi, quê hương miền Nam Việt Nam thực sự mất ngày 30 tháng 3 chớ không phải ngày 30 tháng tư. Gốc gác gia đình tôi ngoài Huế. Nên, sau ngày 30 tháng 3 năm 1975, nhà cha mẹ tôi sau lưng Trường Mù gần chợ An Đông đầy họ hàng chú thím ngoài Huế hay Đà Nẳng vào Nam tỵ nạn. Đối với dân gốc Huế chúng tôi, với cái kỷ niệm đau thương của Tết Mậu Thân, khi Huế đã mất vào tay Cộng sản, là thôi rồi, không còn chi nữa mô ! Nó sẽ giết hết dân Huế mình! Khôn thì trốn, sống tỵ nạn ở Sàigòn, chứ ở Huế, về Huế chỉ mang họa ! …Ngày nay đại gia đình bên nội họ Phan, bên ngoại họ Nguyễn tui, cả làng Mậu tài tui đều ở Santa Ana, Sacramento, Houston, Wichita, Denver (Mỹ) hay Sydney (Úc) Paris (Pháp)…thậm chí đến cả những cái xứ khỉ ho có gáy là Edmonton (Canada) hay Montmorillon (Pháp). Con cháu gặp nhau cứ tơi bời với quốc tế ngữ là tiếng Anh, với giọng Pháp, với giọng Úc, hay giọng Mỹ chứ giọng Huế không còn nữa. Tôi tò mò tự hỏi, nếu nói được tiếng Anh giọng Huế, ôi chao, chắc nó sẽ dễ thương lắm! Tôi nhớ mãi một anh bạn đồng môn Yersin lúc nhỏ lớp 5ème hay 4ème chi đó, trả récitation (trong lớp với ông thầy người Pháp), bài le Corbeau et le Renard của La Fontaine, bằng giọng Huế. (Nếu có dịp tôi sẽ đọc cho các bạn nghe, không phải chế ngạo đâu, tui mê thiệt !). Giọng Huế thứ thiệt cũng như giọng Hànội thứ thiệt, ngày nay chỉ còn được nghe ở Santa Ana thôi, nghe nói ở Việt Nam mất rồi ! Lưu luyền chi nữa, cả bao nhiêu cái mất, lưu luyến chi cái giọng Huế của mình !

Suốt cả tháng Tư năm 1975, cả Sài gòn nhốn nháo hổn loạn ! Tôi vốn là dân làm Hảng LaDe, nên với những tin tức do những bạn hàng đi buôn La De và Nước Ngọt cho biết, tôi nắm rõ từng đoạn đường “mất an ninh”, hơn cả với tin tức do báo chí hay chánh phủ cho biết. Thêm nữa, với bà vợ là Chantal, từ tháng bảy năm 1974, đang được Bộ Ngoại Giao Pháp cho Phái đoàn Ba tư của Cơ quan quốc tế Kiểm soát Đình chiến (ICCS gồm có Ba lan, Hungaria, Ba tư và Nam dương) mượn để làm Thư ký cho Ông Trưởng Phái đoàn, nên theo dõi tình hình chiến sự hằng ngày, đã cho tôi biết rằng Việt Nam Công Hòa của chúng ta đang bị “sacrifié”, (thí chốt) rồi, ..và những xâm phạm đình chiến của phe Việt Cộng xảy ra hằng ngày…. Và những lời phản đối của Việt Nam Công Hòa xem như vô hiệu quả… những tại sao ?... để làm gì ?...và vì ai ? thì…xin hạ hồi phân giải..…Nhưng tôi vẫn không tin, tôi vẫn cố giữ tý hy vọng. Tôi vẫn còn tin vào cái giải pháp “ba nước Việt Nam” với ba Cộ ng Hòa: hai Cộng Hòa miền Nam, một Cộng Hòa miền Bắc, tạm thời; rồi sau đó, sẽ có một cuộc bầu cử dưới con mắt “khách quan và công bằng” của giám sát quốc tế để đi đến một Việt Nam thống nhứt ( Giải pháp nầy do Ông Nghị sĩ Quốc Hội Pháp Michel d’Ornano, đại biểu các Pháp kiều trình bày cho chúng tôi khi ông viếng thăm Pháp kiều ở Nam Việt Nam vào Noël 1974, và ông mang huấn thị của Tổng Thống Valéry Giscard d’Estaing đến yêu cầu tất cả những Pháp kiều và cộng sự viên người bản xứ tiếp tục điều hành các cơ sở kinh doanh của người Pháp ở Việt Nam để chuẩn bị nền kinh tế hậu chiến cho ba quốc gia Việt Nam).

Sao chúng tôi dễ tin và khờ dại quá vậy ! Có lẽ vì quá khao khát hòa bình, vì quá khao khát được thấy một Việt Nam phát triển, phú cường, vì quá khao khát mong chờ một ngày hòa bình, để có dịp để dân tộc Việt nam ( và cá nhơn chúng tôi và bạn bè chuyên viên chúng tôi ở Sàigòn lúc bấy giờ) được thực sự thi thố tài năng, tung tiềm lực đang ấp ủ, nên tôi mù quáng trước một viễn ảnh đen tối do của một chế độ độc tài ( mà tôi biết – nhưng một cách trừu tượng qua sách vỡ - đang sắp sửa đổ xập đến Miền Nam. Tôi trách tôi tại sao thiếu thực tế đến như vậy ? Tôi vốn được đào luyện do hai Trường khoa học chánh trị Pháp, với Paris, tôi biết rõ cái cơ chế của Cộng sản, với Toulouse tôi học rõ những chánh sách áp dụng ở những nước chậm tiến. Thế nhưng, khi về đến Việt Nam tôi hoàn toàn mù quáng, có lẽ tôi chủ quan vì tôi giữ, với cái ghế của hảng BGI, vai trò Tổng thư ký Phòng Thương mãi Sàigòn và Phòng Thương mãi Pháp - Việt Sàigòn. Đúng vậy, tôi quá chủ quan, vì tôi trong vai trò TTký của hai Phòng Thương mại, tôi thấy rõ cái tiềm lực của Miền Nam ta, cái tiềm lực kinh tế của Việt Nam Cộng hòa. Chúng ta nghèo tiền “đánh giặc”, nhưng chúng ta rất giàu tiềm lực kinh tế. Dỉ nhiên, những bộ máy kinh tế lớn, những công ty công nghiệp đều do các người ngoại quốc điều hành. Nếu chiến tranh không làm họ “nãn”, cớ chi hậu chiến làm họ ”sờn”.

Và tôi quyết định không “chạy” ! Chẳng những tôi không chạy mà tôi còn giữ ba mẹ tôi lại. Để rồi, cùng Cha, ba anh em tụi tui tuần tự đi vào tù Công sản…

(Đoạn bài viết nầy vào đúng ngày Chúa Nhựt Lễ Lá : trong Phúc âm của Ma-thi-ơ, có đoạn kể Jêsus làm phép mở mắt lại cho hai người mù (Ma-thi-ơ 20: 33-34). Tôi được Jêsus mở mắt cho tôi sau những ngày ở lại và làm việc với Công sản. Bốn năm đại học khoa học chánh trị không bằng một năm thực hành làm việc với một chế độ và một guồng máy cà chớn…Thật đáng đời, bốn năm ở tù nầy đúng là cái giá phải trả cho sự mù quáng của tôi thôi ! Cám ơn Thiên Chúa đã mở mắt con. Cái lạ lùng là với cái lý thuyết và với một nền kinh tế “cà chớn” như vậy mà Liên Xô cần 70 năm mới xập ! Trung Quốc và Việt Nam ngày nay, sở dĩ không hay chưa xập tiệm là đã chuyển qua thành một hệ thống Maffia, nghĩa là mô hình tổ chức hành chánh chánh trị kinh tế của Cộng sản đã biến dạng thành mô hình một tổ chức của một Đảng ăn cướp. Nhưng nếu Maffia vì phải hoạt động ở ngoài vòng Pháp luật nên phải có những luật lệ “ngoài Pháp luật”, như các lãnh đạo nằm trong bóng tối, như luật “omerta” , khủng bố, bịt miệng cắt lưỡi, mua chuộc công chức chánh quyền, …để đấu tranh, tranh đầu sống còn với Công luật. Trái lại, ngày nay ở Á đông ta, chế độ Công sản Tàu và Cộng sản Việt Nam là những đảng Maffia cầm quyền, nên có một bộ mặt “Pháp luật” hay “Pháp quyền” ! Những nhân vật trong bộ máy Nhà nước, những nhơn vật trong Bộ Chánh trị Đảng chẳng qua cũng chỉ là những Capo del capi, những Capo…nhựng Trưởng Gia đình, tóm lại, những ông trùm… vân vân …).

Trở lại tháng tư năm 75, tôi ngu si nghĩ rằng, những lãnh đạo của Mặt Trận Giải Phóng, của Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, chủ nhơn tương lai của cái Cộng Hòa Miền Nam Viêt Nam, của khu vực gồm từ Bến Hải đến vĩ tuyến 13 tức là miền Trung Nam Việt Nam, gồm toàn trí thức miền Nam, Tây học, không thể không thấy tiềm lực kinh tế miền Nam đủ sức, nếu được thật sự xử dụng để làm việc xây dựng, thì chắc chắn, thông qua hệ thống và kinh ngiệm kinh tế của Việt Nam Cộng Hòa, với Sàigòn, với miền Tây, chẳng những có thể xây dựng, nuôi sống cả Việt Nam Cộng Hòa, mà cả Cộng Hòa Miền Nam và có thể hổ trợ cả Miền Bắc Cộng sản nữa ! Than ôi, chẳng những cái cá nhơn thằng tôi “cà chớn” bị Paris “ca bài con cá” đã đành, nhưng cả Paris và các tài phiệt Pháp và chánh phủ Pháp lúc bấy giờ cũng bị … “cái thằng Bàng Quyên - Việt Cộng, nó lừa thầy phản bạn, nó lường gạt…!”.

Hôm nay, sau ngày lễ phục sanh, tôi trở lại bàn viết. Ngồi hồi tưởng lại tháng tư năm 1975, chúng tôi, cả nước, cả quốc tế bị lường gạt. Chúng tôi người trong cuộc, ngu đã đành. Không lẽ quốc tế cũng ngu sao ? hay quốc tế muốn mình ngu ? Mỹ thì xong rồi, ký kết với Tàu xong, Nga sẽ bị cô lập và trên đà xuống dốc. Mỹ đã rút chơn khỏi vũng lầy Đông dương, Mỹ lo giúp đở làm giàu cho Trung Cộng để chống Liên Xô đang sa lầy ở A Phú Hản. Còn Pháp ? Pháp rất sợ lo nạn tỵ nạn. Năm 1962, khi Algérie độc lập, di dân Pháp trở về gieo bao nhiêu nghèo khó và những trường hợp khó xử. Có thể vì vậy, Pháp sợ phải đem kiều bào mình ở Việt nam trở về ? Vã lại, nếu giải pháp “ba Việt Nam” có thật, thì Pháp với vai trò MC giúp đở xây dựng nền kinh tế hậu chiến cho Việt Nam sẽ lời to.

Mấy năm sau, với các Boat people, cả Âu châu cũng phải tổ chức cho di dân Đông dương tỵ nạn Cộng sản. Âu châu mặc dù có Bức tường Bá linh, có chiến tranh lạnh, nhưng vẫn giữ nhiều cảm tình với Cộng sản Việt nam. Những năm 60, dân chúng Âu châu chống chánh quyền Franco của Tây Ba Nha, chống chánh quyền Salazar của Bồ đào Nha, những năm 70 chống chánh quyền Pinochet ở Chili một cách quyết liệt, nhưng lúc nào cũng xem Hànội và Cuba là những nước tiên tiến. Đó là cái nghịch lý khó hiểu của người dân Tây phương ! Những anh hùng của sanh viên học sanh Âu châu là Che Guévara, là Fidel Castro. Vì vậy khi Sàigòn thất thủ, Paris thở phào ăn mừng. Để rồi vỡ mộng sau đó. Tôi vẫn nhớ trên chuyến bay từ Sàigòn đến Paris ngày 5 tháng 6 năm 1980, khi tôi tình cờ tiếp xúc với một nhà báo lớn ở Pháp Emmanuel de la Taille, đang đi từ Tokyo về Pháp, người bạn đồng hành với ông mắng tôi, là “fantoche, anh ở tù đáng đời anh !”, sau khi biết tôi đã ở tù 4 năm của Cộng sản và đang trên đường tỵ nạn. Nói như vậy đê thấy rõ cái nhìn rất sai của những công luận và nhà báo quốc tế đối với Việt nam. Việt nam được nhiều cảm tình, và đặc biệt Việt nam Cộng sản. Nhưng trái lại không ai hiểu Việt nam Cộng hòa cả. Và Việt nam Cộng hòa cũng không làm một cái gì để lấy cảm tình quốc tế. Viết đến đây thì nhớ câu nói của người bạn cũ, anh Trầm Vi Đức, đồng môn Philo năm chót ở Yersin, vừa bắt được liên lạc được. Anh nói một câu kết luận xanh dờn, sau khi hai đứa hỏi thăm nhau và kể lễ những quảng ký ức vui buồn của nhau : “Phải nhìn nhận Việt Cộng nó giỏi thật, nó nói láo hay hơn mình, và nó lường gạt được tất cả mọi người!”

Đúng Đức ạ! Cả chế độ Cộng sản là một chế độ nói láo. Và Nói láo đã trở thành Chánh sách mà Lường Gạt (tôi cố tình viết hoa) là một phuơng thức chánh trị.

Lường gạt để cướp chánh quyền. Lường gạt để trị dân. Lường gạt để ngoại giao. Và ngày nay Lường gạt cả thế giới và cả dân tộc Việt Nam để bán nước cho Tàu.

Với phong trào nổi dây ở Bắc Phi, ở Trung đông, sau Tunisie, sau Ai Cập, tôi mong, tôi chờ, tôi đợi, tôi hy vọng một cái gì sẽ xảy ra ở Việt Nam ta… suốt thàng ba, rồi qua tháng tư…

Tôi mong chờ những người dân Việt Nam hào hùng!

Tôi mong chờ những người chiến sĩ quân đội nhơn dân, anh hùng yêu nước, sốt ruột trước nạn Hán hóa!

Tôi mong chờ những người lính công an, còn tí lương tâm trước sự khổ cực của người dân đang bị hà hiếp !

Tôi mong chờ, với nền kinhn tế mỗi ngày mỗi khó khăn, vật gía leo thang, cơn bão giá sẽ làm người dân xuống đường!

Nhưng ngày nay tôi tuyệt vọng, mặc dù thế giới tuy giúp đở dân kháng chiến Lybia chống Gađafi thật đấy, nhưng thế giới vẫn “chờ và xem” dân chúng Syria có thật sự dám chết, và dám chết đến đâu để can thiệp.

Và tôi đau buồn, và tôi chán nãn, vì chắc chắn người Việt Nam chúng ta không còn dám chết cho Độc lập, cho Tự Do, cho Công bằng, cho Dân chủ hay nói tóm lại, cho Quê hương nữa!


Ts Phan Văn Song



.
Về Đầu Trang Go down
ledinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: THÁNG 4: TRANG NHẬT KÝ VỚI NỖI BUỒN CÒN NGUYÊN VẸN   Thu Apr 25, 2013 1:56 am

.

THÁNG 4: TRANG NHẬT KÝ VỚI NỖI BUỒN CÒN NGUYÊN VẸN

(Tình cờ đọc được sau một trang sách cũ)
Hoa Hoàng Lan chép lại.



“Trời Saigon, cuối tháng 4 năm 1975. Vẫn bầu trời xanh này. Vẫn không gian này, nhưng mọi thứ như có vẻ gì khác lạ. Thấy khác nhưng không biết vì sao. Chỉ biết rằng mọi người đều đăm chiêu, hối hả, vội vã như nhau. Cái gì đã tạo nên cơn sốt vội vã này? Có phải vì làn sóng người di tản từ các nơi trên đất nước đổ về Saigon không? Có phải vì tôi là một cư dân mới lạc lõng nhập cuộc vào nhịp sống hối hả của thị dân Saigon không? Có phải vì khi rời khỏi miền Trung trong một cơn hoảng hốt, tháo chạy tới Saigon, tôi đã thất vọng, vì cứ đinh ninh rằng Saigon sẽ là miền đất lành, đầy nắng ấm và đầy thanh bình, một vùng đất được coi là pháo đài kiên cố, để người dân chống Cộng gìn giữ mảnh đất quê hương thoát khỏi bàn tay đẫm máu của kẻ xâm lăng phương Bắc không? Tôi tự đặt ra một chuỗi câu hỏi, nhưng tôi đã không trả lời được, vì trong tôi, đang rối bời một nỗi hoang mang khó tả: tôi phải làm gì, và sẽ ra sao trước cơn binh biến này?

Nước mắt tôi nhạt nhòa, đổ dài trên đôi má trong nắng gió Saigon. Đôi chân tôi vẫn đặt hờ trên pê-đan xe đạp. Tôi cứ đạp, nhẩn nha đạp và vô cảm đạp, mặc cho những xe gắn máy đang ồn ào vút nhanh bên tôi. Ai cũng vội vã cả, nhưng tôi thì không. Vì tôi không có việc gì để vội vã. Thoát chạy khỏi mảnh đất đầy khói lửa – Đà-Nẵng – tôi và gia đình vào tới miền Nam, mặc dù đã bỏ tất cả gia tài của cải lại Đà-Nẵng. Được đặt chân đông đủ mọi người tới thủ đô Saigon là một mơ ước lớn nhất của gia đình tôi. Người ta chết trên đường di tản quá nhiều. Trong khi tôi chỉ mất vài lạng vàng, ít tư trang ngày cưới, tiền bạc và giấy tờ tùy thân, thì có sá gì so với những người đã mất vợ, mất chồng, mất con, mất cháu, mất người thân trên bước đường chạy loạn cuối tháng 3 tang thương đó. Chưa bao giờ tôi xem của cải, vật chất nhẹ nhàng như vậy. Còn cũng được, mà không cũng chẳng sao, miễn bốn đứa con tôi nguyên vẹn là được rồi. Trong khi chồng tôi đang theo học một khóa tu nghiệp tại Saigon, hằng ngày cứ ra phi trường Tân-Sơn-Nhất để tìm đón vợ con. Tôi bật cười cho sự ngây thơ của “đức ông chồng” tôi, vì làm sao mấy mẹ con chúng tôi có đủ điều kiện tiền bạc và thân thế để chen chân, có mặt trên những chuyến bay của Hàng Không Dân Sự Việt-Nam được? Vì thời điểm này, phương tiện di chuyển bằng hàng không đã được biến thành “Hàng Không Thân Thế… Sự”, vì không phải là ông to, bà lớn, tiền vàng đầy mình, thì làm sao mà leo lên phi cơ được? Người ta túa vào phi trường như một bầy ong vỡ tổ. Người ta túa ra các bến tàu Đà-Nẵng, leo lên tất cả những con tàu đang neo tại bến sông Hàn, không cần biết con tàu đó có sẵn sàng cho một chuyến ra khơi không?

Cũng do thế lực của một người thân trong Không Quân, chúng tôi thoát khỏi Đà-Nẵng một cách hy hữu trên chuyến vận tải cơ C-130. Phi trường Tân-Sơn-Nhất đã mở rộng vòng tay đón tiếp chúng tôi dừng chân nghỉ mệt trong cuộc chạy đua với Tử Thần. Cũng vào thời gian này, người dân Saigon đang sẵn sàng cho một cuộc di tản xa hơn: thoát ra nước ngoài. Tôi chưa có ý niệm gì trước cuộc di tản vĩ đại ấy, mặc dù người anh trong họ đã đón tiếp chúng tôi bằng một câu nói ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa: “Thời sinh viên, mình chạy chọt chết xác cũng không kiếm được cái học bổng đi Mỹ du học. Bây giờ được cho không, tại sao mình không dắt vợ, bế con đi Mỹ nhỉ?”. Một người chú họ là bác sĩ đã phán một câu lạnh gáy: “Bằng mọi giá mình phải có mặt ở Mỹ trước khi cộng quân tràn vào. Nếu không đi được, chắc mình sẽ tự tử, nhất quyết không để rơi vào tay họ”. Rồi bố tôi: “Bố mẹ đã đưa các con di cư vào Nam năm 1954, chẳng lẽ các con lại để vợ con sống với cộng sản hay sao?” Chừng đó âm thanh, chừng đó thôi thúc, chừng đó gợi ý, đã kích thích trong tôi giấc mơ viễn du. Nhưng bằng cách nào đây? Tôi không quen ai, chân ướt chân ráo chạy về Saigon, chưa kịp dừng chân, nghỉ ngơi cho lại hồn, thì lại phải chạy tiếp hay sao? Cú chạy Marathon này sao mà khó khăn quá! Mà chạy đâu bây giờ? Mỹ? Úc? Nam-Dương? Mã-Lai? Phi-Luật-Tân? Xa quá! Thế giới tự do đâu rồi? Sao không thấy ai cho tàu bè cứu chúng tôi như năm 1954? Cầu không vận là cái gì? Sao nghe nói mà không thấy đâu cả? Hàng trăm câu hỏi chập chờn trong trí não mệt mỏi của tôi.

Tôi vẫn hững hờ đôi chân trên pê-đan xe đạp. Cứ quẹo phải mà đi, sẽ không gặp trở ngại gì trong giao thông. Nước mắt tôi vẫn nhạt nhòa. Bao nhiêu nước mắt đã rơi trên đôi má hóp vì trải qua bao ngày lo nghĩ của tôi? Bao nhiêu năm rồi tôi không hề khóc. Bây giờ, lượng nước mắt khổng lồ đó có dịp tuôn rơi ào ạt, tôi không quẹt nước mắt, cũng không nghĩ cách làm nước mắt ngưng chẩy. Nhưng ô kìa, giọng tôi bật nức nở thành tiếng: “Trời ơi, Phật ơi, Chúa ơi, ông Nguyễn-Văn-Thiệu ơi, ông Nguyễn-Văn-Hương ơi, ông Trần-Thiện-Khiêm ơi! Saigon như thế này mà phải bỏ hay sao? Tôi là đàn bà mà còn nước mắt ngắn, dài thế này, các ông có ai bắt chước Hoàng-Diệu, Phan-Thanh-Giản chết theo thành không? Hay sẽ bắt chước Lê-chiêu-Thống hèn nhát, tìm đường thoát thân?”

Đi ngang chợ Bến Thành với bốn cửa Đông, Tây, Nam, Bắc, tôi cho xe đạp vòng quanh bốn ngả cửa chợ. Tôi lại nghe chính tiếng tôi nức nở: “Trời ơi! Đất nước thế này mà bỏ hết hay sao?” Tôi đến Saigon vào những ngày Saigon đang hấp hối, nhưng tôi yêu Saigon biết bao! Tôi tiếc Saigon vô cùng, như ngày xưa người ta đã tiếc Hà-Nội! 1954 – 1975, chỉ một khoảng thời gian hơn hai mươi năm, tôi đã phải hai lần khóc cho vận nước nổi trôi hay sao? Hai mươi năm nữa? Chuyện gì sẽ xẩy ra? Những người ra đi hôm nay, hai mươi năm nữa sẽ trở về đòi lại nước chăng? Hai mươi năm quá dài cho một đời người. Khi ấy, ai còn, ai mất? Tôi còn không? Làm sao tồn tại để được chứng kiến ngày đất nước trở mình này? Những người ra đi sẽ trở về chăng?

Chỉ biết rằng trong khi mọi người khôn ngoan tìm đường thoát ra khỏi Saigon đang hực lửa, từ từ buông bức màn sắt phủ chụp trên đầu lương dân, thì tôi chỉ biết khóc, trong khi các con tôi đang nóng chờ lòng tôi ở nhà. Cả chồng tôi nữa. Một quân nhân chưa qua khỏi cơn hoảng hốt của sự thất trận ê chề. Anh chưa lại hồn, và cũng không đủ tỉnh táo để “tái phối trí” lại gia đình mình, để tìm một hướng thoát cho cả nhà. Tôi không muốn gặp lại chồng tôi, để khỏi đọc trên gương mặt anh một trời thất vọng, một rừng não nề. Anh lầm lì, giao phó hết quyết định việc nhà cho tôi. Tôi bực dọc trách rằng anh đã tỏ ra bất tài khi hữu sự. Tôi lại không muốn gặp những khuôn mặt ngây thơ của những đứa con khi các con thi nhau kể về những bạn bè đã “đi đâu mất” trong sáng qua, trong chiều nay, ở tầng lầu trên của ngôi biệt thự rộng lớn tại đường Ngô-Tùng-Châu, Gia-Định, mà Nghiệp Đoàn Lao Động đã dùng làm chỗ tiếp cư cho nhân viên của họ di tản từ các nơi về.

Buổi sáng, tôi sang nhà ông Đinh-Văn-Phát, Chủ Nhiệm nhật báo Độc Lập, gõ cửa mà thông báo cho ông biết rằng ngôi biệt thự đối diện nhà ông có hơn trăm người tỵ nạn ở các tỉnh, đang rất cần báo chí để theo dõi tin tức, xin ông cung cấp cho chúng tôi món ăn tinh thần này. Từ đó, mỗi sáng chúng tôi được ông cho người đem cho một xấp báo, tha hồ đọc, không còn phải đạp xe đi đến các sạp báo mua báo lẻ về đọc nữa.

Saigon đang có những buổi chiều thật buồn, vì có những cơn mưa bất chợt dai dẳng không ngớt, khiến cho mọi người cuồng chân, không đi đâu được. Những buổi tối thật kinh hoàng, vì tiếng đạn pháo của địch ở ven đô. Buổi sáng nghe tin chiến sự qua radio, tôi biết rằng đất nước tôi đã bị bỏ ngỏ, vì đạn pháo của địch đã trúng phi trường Tân-Sơn-Nhất, trúng khách sạn Majectic, trúng đầu ngõ Chi-Lăng – Ngô-Tùng-Châu chỗ tôi ở. Rồi tin nội các mới – ông Vũ Văn Mẫu – đã ra lệnh đuổi những cơ quan DAO về nước. Để làm gì? Tôi tự hỏi, nhưng cũng không trả lời được. Ông Tổng Thống Nguyễn-Văn-Thiệu bây giờ đang an vị ở đâu đó với vợ con và gia tài kếch sù của ông, để mặc đất nước này cho giặc dày xéo. Ông Nguyễn-Văn-Hương ơi! Ông Dương-Văn-Minh ơi! Có ông nào khóc như tôi không? Ông Nguyễn Cao Kỳ ở nhà thờ Tân-Sa-Châu, còn hăng hái hứa hẹn ở lại ăn dưa mắm cà với chúng tôi, bây giờ đâu rồi? Ông có giữ lời hứa không? Tôi co hai đầu gối, ôm mặt khóc, cả người tôi rung lên như bị động kinh. Tôi biết tôi hoàn toàn thúc thủ rồi. Tôi biết chẳng thể nào tôi có thể thoát ra khỏi Saigon với một gánh nặng: một chồng bất đắc chí và những đứa con thơ dại. Phi trường là nơi tôi chẳng thể nào với đến được, so với lượng người đông như kiến đang tìm đường thoát thân. Hình ảnh chiếc phi cơ trực thăng với thang người leo đu đưa như xiếc trên nóc tòa đại sứ Mỹ hiện ra rõ ràng trong trí tôi, đã khiến tôi nhụt chí ra đi. Bờ sông Bạch Đằng tôi cũng chẳng mơ đến được, vì các con tôi sẽ bị giẫm nát trước khi lên được tàu thủy. Sóng nước biển khơi gào thét những gì phẫn nộ ngoài xa kia?

Ra đi tìm sự sống, nhưng nếu biết rằng sẽ có người phải bỏ mạng, chắc không ai đủ can đảm dứt áo ra đi. Họa chăng, những cái chết bất ngờ, không báo trước, thì đành phải chấp nhận trong nước mắt vậy. Chung quanh tôi, người ta bỗng dưng vắng mặt một cách khó hiểu, như họ có phép độn thổ, tàng hình. Tôi quanh quẩn với ý nghĩ thế giới hỗn loạn chỉ còn riêng một mình tôi, cô đơn và tuyệt vọng. Các con tôi còn quá nhỏ, không chia sẻ được với tôi nỗi đau thương, cuồng loạn này. Chồng tôi, tôi ngỡ ngàng, không ngờ khi có việc hệ trọng, quyết định đến vận mạng của gia đình, thì người chủ gia đình ấy lại trở nên lầm lì, khó hiểu đến thế. Chỉ mỗi một câu “tùy em”, anh trả lời tôi không biết bao nhiêu lần, khi được tôi hỏi ý kiến về những chuyện này, chuyện kia. Người xưa nói “Nước loạn mới biết tôi trung, nhà nghèo mới biết con hiếu” quả thật đúng quá. Tôi lại muốn thêm một vế nữa rằng “gia biến mới thấy tài người phối ngẫu”. Muộn rồi, những chỗ có thể giúp tôi được, thì họ đã lên đường. Bỏ mặc tôi với cơn hoảng loạn, với nỗi kinh hoàng: “Trời ơi! Mình và các con phải ở với cộng sản thật à?”. Tôi không nghĩ đến chồng tôi nữa, vì tôi đã cáu kỉnh khi nghĩ rằng nếu anh khôn ngoan một tí, khôn lanh một tí, quyền biến một tí, anh có thể đưa vợ con thoát thân được. Đằng này, anh cứ ở trong nhà, không liên lạc với ai, rồi mơ mơ màng màng như một anh nghiền thiếu thuốc, rồi ôm radio nghe hết BBC đến VOA, làm như những tiếng nói ấy có thể đưa anh ra khỏi cơn khủng hoảng này. Giá tôi quen biết nhiều, giá tôi tìm đường đi được, chắc chắn anh sẽ ngoan ngoãn nghe theo tôi đi tìm tự do. Khốn nỗi, đã từ lâu tôi giao phó những công việc hệ trọng cho anh. Bây giờ…”

Cách một đoạn giấy trắng dài, trang nhật ký lại ghi tiếp:

“Tôi bán xâu chuỗi ngọc với giá rẻ như cho, để lấy tiền làm lộ phí cho chồng tôi đóng tiền ăn vào trại tập trung cải tạo. Trước khi đi, hai chúng tôi đã có cuộc đấu khẩu nhỏ, ghi lại đây, kẻo mai này, có thể sẽ quên mất: “Anh đừng đem cái chăn dù đi. Hình ảnh rằn ri sẽ tạo cho họ ác cảm với anh. Cả hộp xà-phòng Cadum nữa. Họ sẽ cho là anh… tiểu tư sản. Ví dụ như anh thấy một anh chàng hồi chánh mang dép râu, đội mũ cối, nhất định anh sẽ muốn chém họ ngay.”

Tôi cầm cái chăn dù và hộp xà phòng Cadum cất đi. Đổi vào là một cái chăn dạ mầu ô-liu, miếng xà-phòng Hải-Đường làm ở Hải-Phòng. Tôi còn nhét thêm cho anh cây kem đánh răng Hynos, thay vì anh sẽ dùng muối để đánh răng như anh đã nói. Vẻ mặt buồn thiu, anh cho rằng tôi cố ý “tước” cái chăn dù của anh để giữ lại nhà. Anh nặng nhẹ: “Em muốn làm gì thì làm. Muốn lấy gì thì lấy, muốm đem gì thì đem. Anh không có ý kiến nữa. Thời này là thời của các bà mà!”

Lập tức tôi rít lên cho hả cơn tức tối, u uất, vì phải kiêm nhiệm cả làm chồng lẫn làm vợ mấy tháng nay: “Ừ, anh cứ hằn học, cứ cay cú đi. Với kẻ thù thì im như thóc đổ bồ. Với vợ con thì nặng nhẹ, ăn tươi nuốt sống. Bao lâu nay, bây giờ mới biết anh chỉ là người… khôn nhà dại chợ. Có giỏi thì vào trại tập trung mà… tung hoành với kẻ thù! Mong rằng họ sẽ cải tạo giùm cho anh trở thành một con người tốt, biết sống cho ra sống. Đừng… ươn hèn như cả tháng nay. Chán thật!”

Những dòng chữ chi chít trên trang giấy nhỏ như muốn nứt tung ra, muốn trèo sang trang khác, muốn leo lên lề đến mặt trước của tờ giấy. Tôi lật qua lật lại, để mong đọc được thêm những u uẩn của một tâm tình trong tháng Tư đau thương ấy. Nhưng không có. Hết rồi. Người viết đã tự kết thúc những dòng tâm sự bằng một câu: “Ngày về xa lắm, người ơi!”

Không biết có phải đây là lời tiên tri cho cuộc chia tay não nề của người viết? Hay đấy chỉ là một ý tưởng chợt đến trong lúc tâm hồn của người viết mấy dòng chữ trên đang hoảng loạn?

Để bây giờ, ba mươi tám năm qua, ngồi đây chép lại những dòng chữ trên, vẫn thấy trong tôi một trời rừng uất hận đất nước đã rơi vào tay kẻ thù quá lâu, một trời thương tiếc cho những gì đã mất đi, không bao giờ có thể tìm lại, không phải chỉ của riêng người viết những dòng chữ trên, mà còn là nỗi lòng của tôi, của anh, của chị, của muôn người tỵ nạn chúng ta.

Hoa Hoàng Lan


Về Đầu Trang Go down
vungoc
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tưởng Niệm 30-04-75: Tháng Ba gãy súng; Tháng Tư tan hàng   Mon Apr 29, 2013 3:52 pm



Tưởng Niệm 30-04-75:

Tháng Ba gãy súng; Tháng Tư tan hàng

Tạp ghi Huy Phương

 

Tháng Ba đã qua, Tháng Tư đã đến, liệu chúng ta có còn nhớ gì không? Những hàng dương tên bờ biển Thuận An và Tư Hiền đã xanh mướt qua mấy mùa mưa gió, rừng núi cao nguyên trên đường lộ 7B đã đâm lộc nẩy chồi bao bận.

Cuộc chiến cũng như người chết đã bị quên lãng. Những ai đã trải qua thời gian tù đày khắc nghiệt còn nhớ gì những ngày lội suối băng rừng, thân còm, bụng lép. Những ai đã đến được bến bờ qua những ngày lênh đênh trên biển cả, còn nhớ gì những nỗi hãi hùng, đau đớn tủi nhục mà tiếng kêu gào oan khiên không đến được trời xanh.

“Tháng Ba Gãy Súng” làm cho chúng ta có một chút gì nhớ đến Cao Xuân Huy, người lính Thủy Quân Lục Chiến đã vứt súng trên biển Thuận An, trong đoàn quân lui binh hỗn loạn, không được yểm trợ phi pháo, trước mặt là biển cả muôn trùng, sau lưng là giặc đuổi cận kề, mà không hề có tàu thuyền nào vào ghé bến. Những người lính dũng cảm mới hôm qua đây, phút chốc đã trở thành những mục tiêu cho những du kích bắn sẻ và những tên tiền sát viên địch điều chỉnh pháo binh, điều mà một người lính TQLC khác là Tô Văn Cấp đã đau đớn đặt tên cho chốn lui quân, nơi tuyệt lộ này là “pháp trường cát”, nơi chiến trường phơi thây bao chiến sĩ của chúng ta.

Tháng Ba gãy súng làm cho chúng ta nhớ lại đoạn đường xương máu kinh hoàng từ Phú Bổn về duyên hải trong những ngày bỏ cao nguyên, làm tan rã một quân đoàn. Một cuộc rút quân không kế hoạch, không có cấp chỉ huy, không có quân bạn yểm trợ, đem con bỏ chợ, hỗn loạn và chết chóc khốn cùng. Người lính lâu nay ở với xóm làng, rừng núi, khuya sớm đùm bọc nhau, ngày nay một người lính lên xe ra đi, năm người dân bồng bế dắt díu nhau chạy theo. Nỗi đau của người lính hôm nay là không bảo vệ được người dân, vì vận nước, ngay người lính có súng mà phải vứt súng, có đất mà phải bỏ đất.

Tháng Tư tan hàng, người lính bị trói tay, người lính bị phản bội, người lính ở lại sau cùng để cho những chuyến tàu chở người ra đi, để cho những chuyến phi cơ rời phi đạo đi về một chân trời hy vọng tự do, bỏ lại quê hương tù đày. Bao nhiêu thảm cảnh đã xảy ra cho miền Nam sau ngày “tan hàng” hay “mất nước”, danh từ sử dụng tùy theo sự suy nghĩ, nỗi mất mát và tâm trạng của mỗi người.

Cướp của tức khắc đi theo với hành động cướp quyền. Lấy danh nghĩa cải tạo xã hội, chiến dịch đánh tư sản mại bản thực chất là một vụ cướp bóc quy mô, đánh vào những gia đình giàu có mang tiếng tư bản, nhưng chính là do công lao mồ hôi, nước mắt, cần cù mà miền Nam có được. Chiến lợi phẩm này được chở về hang ổ miền Bắc, làm giàu cho những kẻ cầm quyền.

Ðánh tư sản, dồn dân đi kinh tế mới, lấy nhà, cướp đất, đổi tiền, tập trung những người có liên hệ với chính phủ miền Nam vào trại “cải tạo”, đốt sách, bỏ tù văn nghệ sĩ, đuổi 850,000 Hoa kiều về nước hay ra biển để gần lại với Liên Xô, xếp hạng dân theo lý lịch chính trị, kiểm soát đời sống và tư tưởng của quần chúng theo chế độ công an trị, với mô hình “công an khu vực”, “công an khu phố” là những gì chế độ Cộng Sản Việt Nam đem lại cho dân chúng miền Nam. Cả nước là phiên bản của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, vùng mệnh danh “giải phóng” là một nhà tù lớn, buổi sáng có tiếng loa phóng thanh thức giấc mọi người đầu xóm, tai mắt công an khắp nơi, dân chúng phải tham gia lao động xã hội chủ nghĩa, thắt chặt bao tử, nắm sinh tử của mỗi gia đình bằng chế độ tem phiếu.

“Chính đảng Cộng Sản đã tước đoạt của nhân dân các quyền tự do mà nhân dân đã từng trả giá quá đắt. Dân chủ tự do bị chà đạp, vũ khí tự vệ bị tước đoạt thì nhân dân giống như những người bị xiềng xích, bị bịt tai, bịt mắt, khép miệng và tất nhiên ngót 80 triệu đồng bào không thể không biến thành tù binh của đảng Cộng Sản Việt Nam” (bản điều trần của Nguyễn Hộ).

Nhân dân miền Nam, kể cả những nhân vật có ảo tưởng với Cộng Sản đã hoàn toàn thất vọng với chính sách chủ trương của nhà nước mới, thể hiện một chế độ độc tài toàn trị, băng đảng. Chế độ này đã đuổi hằng triệu người ra biển, suốt từ những ngày đầu tháng 5 năm 1975 cho đến thời gian các trại tiếp nhận ở Ðông Nam Á đóng cửa, kể cả tổ chức “bán chính thức” đưa người ra khơi để kinh tài. Không một gia đình miền Nam nào không có thân nhân, bà con ruột thịt bỏ xác trên biển Ðông, mà oan khiên dậy đất trời. Khi người dân chán chế độ không còn có thể ra đi bằng con đường “bất hợp pháp” thì người ta bỏ nước ra đi bằng những con đường hợp pháp được nhà nước chấp thuận và khuyến khích như phụ nữ thì đi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn, Trung Cộng; đi ở đợ ở Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ; đàn ông thì đi làm thuê ở Trung Ðông, Nam Dương, Singapore… Chúng ta giải thích thế nào về một mảnh đất quê hương không giữ được chân người.

Tháng Tư miền Nam tan hàng phải chăng để cho Cộng Sản thống nhất đất nước và làm một cuộc cách mạng? Cách mạng là một cuộc đập phá cái cũ để xây dựng cái mới, hoàn hảo, tốt đẹp hơn, cách mạng không phải là để phá cái tốt đi và làm cho xã hội tồi tệ hơn. Ðạo đức suy đồi, nhân tâm ly tán, nhân phẩm phụ nữ trong xã hội Việt Nam ngày nay xuống thấp chưa từng thấy. Chế độ công an trị, dùng công an như là một dụng cụ bạo lực để trấn áp nhân dân. Sự tàn ác của lực lượng này được thể hiện qua những chuyện xẩy ra hằng ngày ngay giữa thời đại văn minh tiến bộ này. Chỉ vì những lỗi nhỏ, không đáng nhận một món tiền phạt đáng giá một bữa cơm, công an côn đồ có thể đánh bể đầu, gãy cổ, giết chết người vi phạm, tàn nhẫn đạp vào mặt dân, tệ hại hơn hành động của thời Pháp thuộc, qua hình ảnh những người lính đánh thuê Phi Châu “rạch mặt” hay lính “partisan” ngày trước.

Nhiều người đã nhìn bức tranh xã hội Việt Nam dưới thời Cộng Sản ngày nay qua cái nhìn “tốt đẹp”, trong đó ai cũng thỏa mãn theo cách riêng của mình, giàu sang thì hưởng thụ theo cách giàu sang, nghèo hèn thì cũng ăn nhậu, tiêu xài theo cách riêng của mình. Sư, Cố thỏa mãn trong khuôn viên chùa hay nhà thờ của mình, tôn giáo thời nay quả là thuốc phiện không sai. Thanh niên, sinh viên lo chạy theo cái ăn cái mặc, vật chất xói mòn lý tưởng . Nỗi sợ hãi bao nhiêu năm qua đã nhiễm vào máu huyết, xin đừng đụng đến tôi, tôi cũng không muốn đụng đến ai. Ðừng nghe, đừng nói, đừng nhìn để sống còn, muốn sống phải biết sợ.

Tôi thật không đủ lạc quan để hy vọng, khi mà trước bất công, đàn áp, con người ta chỉ biết cúi đầu… cầu nguyện, không dám hợp đồng mà chỉ lâm râm cầu nguyện vừa đủ cho mình nghe.

Ðó là những gì tôi nghĩ về những di lụy của một Tháng Ba gãy súng, tiếp theo một Tháng Tư tan hàng và về đất nước hôm nay.



.
Về Đầu Trang Go down
vungoc
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tháng Tư, chết và sống!    Mon Apr 29, 2013 9:31 pm

.
Tháng Tư, chết và sống!


Hình lăng mộ 132 tử sĩ cải táng hoàn tất. Hình của Giao Chỉ SJ.
 
Chết không phải là đã tắt hơi thở
Sống đôi khi cũng có nghĩa chết mòn.

(Chúc Thư)
 
Trong một cuộc phỏng vấn với một sĩ quan VNCH đã trải qua những giờ phút kinh hoàng trên bãi biển An Dương vào ngày 26 tháng 3-1975, khi một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị kẹt lại trên bờ biển, trước mặt là biển cả chỉ có một chiếc tàu nhỏ hải quân vào đón thương binh, sau lưng là quân thù và đạn pháo, phần lớn những người lính thất trận đã bị “chết cạn” trên bờ biển tại đây hay bị bắt làm tù binh, tôi đã đặt câu hỏi với người lính còn sống sót đến hôm nay, là điều gì khiến cho ông suy nghĩ nhất, sau ba mươi tám năm dài trôi qua?
 
Điều ông nói có thể khi mới nghe qua, chúng ta ngạc nhiên, nhưng nghĩ lại nghe thật giản dị, nhưng không khỏi xót xa:
- “Điều ân hận của tôi là đã không được chết!”

Tôi nghĩ rằng câu nói của ông, người lính già, trong giờ phút nhắc lại chuyện cả một quân đội tan rã, bao nhiêu người đã nằm lại trên những con đường lui binh, trên những bờ biển tuyệt vọng của miền Nam, là một câu nói phát xuất từ đáy lòng, không khoa trương hay đại ngôn chút nào, bởi sự sống có trăm nghìn lần khó khăn hơn sự chết!
 
Bản năng sinh tồn của mọi loài là cố bám lấy sự sống. Chúng ta cũng không trách ai những ngày hỗn loạn, tìm được một chỗ trên trực thăng hay ra đi với toàn bộ gia đình an toàn trên một chiến hạm ra khơi trong khi xe tăng của địch quân đã vào đến Saigon. Khi những con tàu rời bến Khánh Hội, khi những chiếc trực thăng đã bốc lên cao giữa một thủ đô đang hứng chịu những quả đạn pháo kích cùng với cảnh hỗn loạn của một giờ thất thủ, ở những nơi nào đó, có những người lính đang tuân thủ lệnh chỉ huy giữ đất một phút không rời, hay thất vọng đành quàng vai ôm nhau, chia chung cái chết.
 
Ba mươi tám năm sau, những người còn sống sót, bằng cách này hay cách khác, lần lượt ra khỏi đất nước, đã thật sự còn sống không hay cũng như đã chết. Có những vị tướng đã chết lẫm liệt, cho những ông tướng khác sống cuộc đời tầm thường trên đất khách, ngày hai buổi sáng chiều và chết quạnh quẽ, hay thậm chí còn quay về bợ đỡ kẻ thù. Có những người lính đã chết trong những giờ cuối cùng để cho chiến hữu họ được sống, qua ngày đoạn tháng, trở về trên những con đường tắm máu ngày xưa, nhưng đầu óc trống rỗng, ngu ngơ như những người mất trí nhớ. Có những người còn thân thể còn lành lặn nhưng tâm thần tê liệt, trở lại rong chơi giữa số phận nghiệt ngã của đồng đội què cụt quanh mình.
 
Trở lại câu trả lời của người lính già, ông nói ngày xưa, nếu nằm lại với anh em trên bãi biển, cái chết đến một cách thật dễ dàng, nhưng cái sống bao nhiêu năm nay quả là khó, vì không biết sống thế nào cho đáng sống, cho khỏi hổ thẹn với chính mình, nhất là khi nghĩ đến những người đã chết ngay trước mặt mình, đã chết ngay sau lưng khi mình đã may mắn được ra đi.

Sống phải chăng không dễ, vì sự sống còn mang nặng nghĩa vụ với những người đã chết.

Chúng tôi xin nhắc lại một câu chuyện cũ. Ngày 21 tháng 6-1945, khi quân đội Nhật không giữ được Okinawa, tại bộ tư lệnh của đơn vị tại Mabumi, tướng Mitsuri Ushijima đã viết thư trình lên Thiên hoàng Hiro Hito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo, trước khi tiến hành việc mổ bụng tự sát, ông đã nói với đại tá Hiromichi Yahara:

- “Đại Tá Yahara, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng đây là lệnh từ cấp chỉ huy của ông!”

Yahara do đó là sĩ quan cao cấp bên phía Nhật sống sót sau trận đánh và về sau ông đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Trận Đánh Vì Okinawa.” Như vậy, sống còn phải chăng cũng là một nghĩa vụ?

Lòng dũng cảm không chỉ dành cho những vị anh hùng đã tự sát. Sống cũng cần lòng dũng cảm. Từ ba mươi tám năm nay có những người sống trong sợ hãi, tê cứng tứ chi và đầu óc. Họ sợ khi trở về Việt Nam bị công an làm khó dễ, họ sợ con cái của họ còn ở bên kia sẽ bị liên lụy, họ sợ sẽ không được trở về để thăm viếng người thân, nếu ở bên này họ có một cử chỉ hay lời nói nào chống lại hay gây bất lợi cho chế độ trong nước. Toàn là những cái sợ cho lợi lộc của bản thân. Chúng tôi cũng xin nói thêm đây không phải là một người dân bình thường, tình cờ một đêm nọ, có mặt trên bãi biển, là điểm hẹn của những người vượt biển, nên bị lùa xuống ghe, bất đắc dĩ phải bỏ nước ra đi, mà họ là những người quyết định chọn cái chết để tìm con đường sống, hay đã đánh đổi bằng những năm tháng tù đày khốn khổ nơi chốn rừng thiêng nước độc. Họ cũng không phải là những người lính vô danh, những người này có hoạt động trong các hội đoàn, có tên tuổi, có chức vị.
 
Một lần tôi có hẹn phỏng vấn với một cán bộ xây dựng nông thôn trên một chương trình truyền hình về quá trình hoạt động của đơn vị ông trước năm 1975. Trước giờ thu hình, tôi gọi điện thoại cho ông, ở đầu giây bên kia, vợ ông trả lời “ông không có nhà.” Tôi ngỡ rằng ông đang trên đường đến đài truyền hình, nhưng khi tôi xưng danh tánh, bà vợ cho tôi biết “ông đã đi xa - out of town!” Trời đất! Mới hôm qua đây, ông “ừ è” với tôi, mà chỉ trong thời gian, chưa đến 24 tiếng đồng hồ, ông đã trốn chạy một buổi phỏng vấn, cũng là trốn chạy cái dĩ vãng mà ông thường tự cho là hào hùng ngày xưa, chỉ vì một nỗi sợ hãi nào đó, mà bản thân ông không đủ can đảm nói thật với tôi là ông sợ.

Một người nữa đang sống, bề ngoài có vẻ hào hùng nhưng còn sợ hãi. Đây là một cựu sĩ quan có chức vụ trong một hội đoàn cựu quân nhân, và vào dịp tháng tư năm nay, tôi muốn mời ông lên một chương trình nói về những ngày “lui binh”. Đến giờ thu hình, không thấy ông đến, sốt ruột, tôi gọi cho ông. Ông trả lời vắn tắt, trong khi đèn đuốc, sân quay, chuyên viên và cả tôi đang chờ ông: “Tôi bận, không đến được!”

Ông biết truyền thông đi xa, có khi về tận bên kia, cẩn thận ẩn mình đi là tốt. Có điều tôi không hiểu sao ông lại dấn thân đi làm việc cộng đồng, trong khi lòng ông đầy sự sợ hãi. Ông muốn về Việt Nam chăng, hay là ông còn mẹ, còn em mà ông lấy cớ muốn bảo vệ họ, sự sợ hãi lớn lao đến dường ấy hay sao? Bây giờ mà cái bóng ma cộng sản còn lởn vỡn bao trùm lên đời sống của ông, một người đã cao bay xa chạy, trong khi tuổi trẻ ở trong nước, những người dân bị phản bội, sống giữa kìm kẹp tù đày, vẫn không hề biết sợ hãi là gì!
 
Tướng McArthur nói: “Old soldiers never die; they just fade away - Người lính già không chết; họ chỉ phai nhạt dần đi”. Chết đã đành, sống mà phai nhạt, mờ dần trong quên lãng như cỏ cây, thì còn gì buồn hơn nữa!

Chết và sống, điều gì khó hơn?
 
Huy Phương
 



Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Fri Mar 14, 2014 10:30 pm


Kỷ Niệm 30 tháng 4, Nhớ Chuyện 75 Di Tản Buồn


Viên Linh 





Xin mời quý bạn đọc về nhà văn Chu Tử...

Nhà văn Chu Tử ra đi năm 1975 vào những giờ cuối của VNCH, và những ngày Tháng Tư nghiệt ngã ấy, tàu tôi đi bị mắc cạn tại đoạn gần ngã ba sông Nhà Bè, mà một hướng nước chảy về Cát Lái, một ngã nước xuôi dòng ra sông Lòng Tảo, nhưng rồi được tàu bạn cứu bồ kéo ra để đi tiếp, mặc dù súng của địch quân bắn xa xa nghe vọng trên đường chúng tiến quân đánh chiếm Sài gòn. Cũng trên con sông Lòng Tảo ấy, nhà văn HQ Lê Bá Thông kể chuyện di tản xưa về Chuyến Hải Trình Định Mênh.

Trên đường di tản, nhà văn Chu Tử chẳng may lâm nạn và đã qua đời, xin quý ACE xem bài viết của hay nhà văn Hoàng Hải Thủy và Viên Linh kể chuyện về Chu Tử...

Nhà văn Chu Tử chết và sống, Hoàng Hải Thủy: http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/30/chu-tu-chet-va-song/


Nhà văn Chu Tử (trái), họa sĩ Vũ Hối (phải), 1967

Viên Linh ghi nhận:

Trong giới văn nghệ sĩ, 30 Tháng Tư mở đầu bằng một cái tang, cái tang đúng ngày 30 Tháng Tư: đó là cái chết của nhà văn Chu Tử. Ðúng 58 năm trước, anh ra đời cũng vào Tháng Tư, ngày 17.

Nhà văn Chu Tử (17.4.1917-30.4.1975).

Vào ngày 16 Tháng Tư 1966, nhà văn Chu Tử bị ám sát bằng 4 viên đạn xuyên qua cổ, răng, miệng, nhưng đã không chết, có thể vì đối với ông, đạn súng lục quá nhỏ. Chín năm sau, 30 Tháng Tư 1975, ông chết vì một viên đạn lớn hơn, một viên B40 từ bờ bắn lên tàu Việt Nam Thương Tín, khi con tàu này đang từ sông Lòng Tảo, Vũng Tàu, chạy ra khơi.


Tàu Việt Nam Thương Tín

Nhiều thế lực ở đằng sau mũi súng không thích những Sự Thật do Chu Tử viết ra trên báo Sống hay các báo do ông chủ trương. Ở lần ông bị bắn năm 1966, chúng tôi đã viết một bài ngắn đăng trên Tuần báo Nghệ Thuật mà sau này được ông trích đăng lại trong cuốn Không Hận Thù, như sau: "Ðối với bản thân tác giả Yêu, hẳn nhiên những sự đưa đến cái chết, và chính cái chết là một vấn đề Sống. Sống theo quan niệm của một người trí thức hành động. Người trí thức hành động Chu Tử đã đối đầu với những vấn đề nguy hiểm, nhưng đó là những vấn đề ông có thể kiểm soát nổi. Nếu ông tin rằng người ta không thể giết ông vì những điều ấy, thì niềm-tin-chu-tử không phải niềm tin của một tâm hồn thơ ngây, nhưng là của một tâm hồn tràn trề hy vọng ở một cuộc sống tốt đẹp, cuộc sống ao ước. Ao ước và hy vọng dĩ nhiên lại là những gì mà chúng ta không có cách kiểm soát được..." (1)

Nhà văn Chu Tử có tên khai sinh là Chu Văn Bình, ra đời ngày 17 Tháng Tư năm 1917 tại làng Mía, Sơn Tây, miền Bắc Việt Nam. Theo lời tự thuật của ông, vì bạn bè trong lớp sỉ nhục, sau khi đậu tiểu học, ông chỉ mất có ba năm thì thi đậu tú tài. Mất thêm mấy năm nữa, ông học Luật tới năm thứ ba, rồi nghỉ một thời gian, không rõ vì sao. Sau nghe ông đậu cử nhân Luật và trở thành một trong vài người đậu cử nhân hồi những năm cuối thập niên ba mươi, đầu thập niên bốn mươi tại tỉnh Sơn Tây. Tham gia sinh hoạt đấu tranh từ nhỏ, trong khi còn học lớp nhất trường Hưng Hóa, Chu Tử, vào đêm nổi dậy của Việt Nam Quốc Dân Ðảng năm 1930, đã theo đàn anh Nguyễn Khắc Nhu, biệt danh Xứ Nhu, phó đảng trưởng, đi hạ đồn Hưng Hóa. Thất bại, bơi qua sông trên đường rút lui, tới được bờ thì quá mệt, và quá vui, nhà cách mạng 13 tuổi ngủ một giấc, và từ đó mất liên lạc với Xứ Nhu. Ông bị tù thời Pháp, sau đó còn bị tù thời Nhật, thời Ngô Ðình Diệm, như ông viết. Tuy vậy thời Việt Minh, ông có lần ngồi xử án một vài phiên tòa địa phương.

Hồi thanh niên Chu Tử mở trường dạy học, học trò rất đông. Nhưng lòng ông không ở đó. Ông dừng lại ở văn chương, ở báo chí, văn, ông đã cho xuất bản một loạt các truyện dài mà nhan đề chỉ có một chữ: Yêu (Ðường Sáng, Saigon, 1963, tái bản 3 lần trong một năm), Sống, tức Loạn I (Ðường Sáng, 1963), Loạn (Ðông Bắc, 1964). Cuốn nào cũng là truyện dài, và truyện nào cũng đăng báo trước khi in thành sách. Thường là đăng báo của ông, như tờ Sống, hay báo do ông chủ trương, như Dân Việt, Ðời, Sóng Thần, vì với ngòi bút công phá tàn khốc, Chu Tử không còn được phép đứng tên làm chủ nhiệm một tờ báo nào nữa, sau tờ Sống.

Trong sinh hoạt báo chí, tôi ít có dịp làm việc với Chu Tử, trừ một thời gian ngắn phụ trách phần điện ảnh cho báo Sống của anh, và thời gian viết truyện dài Gió Thấp cho báo Sóng Thần do anh chủ trương. Tờ báo sau cũng gây nhiều sóng gió, và là mục tiêu của một cuộc xung đột nghề nghiệp, hay xung đột chủ trương, đến mức tàn khốc. Một trong những chuyện xảy ra, làm rung chuyển giới truyền thông lúc ấy, là vụ bắn bỏ Vân Sơn Phan Mỹ Trúc, chủ nhiệm tờ Ðông Phương. Lúc ấy tôi cũng đang viết một truyện dài cho Ðông Phương. Hai tờ báo ở cùng một con đường Võ Tánh, tờ bên số lẻ, tờ bên số chẵn, đi bộ chỉ vài phút. Hai tờ báo ấy lại đang bút chiến với nhau. Ðến Ðông Phương ngồi viết xong đoạn truyện đủ in cho báo ngày hôm sau, tôi đi qua Sóng Thần ngồi làm việc tương tự, ở cái bàn ngay cửa phòng sắp chữ. Bao giờ tôi cũng lại Sóng Thần sau, vì thích cà kê ở đây lâu hơn. Ở quãng giữa hai tờ báo là phở Hà Nội, nơi các ký giả gặp nhau, cũng là nơi tôi ghé vào bảo họ lát nữa mang lên Sóng Thần cho tôi một chai bia Larue có hình trái dứa và một ly đá. Lùi về phía sau là nhà thờ Huyện Sĩ, nơi có một quán cà phê bí tất, chéo góc với quán xôi lạp xưởng của mấy mẹ con một bà người Bắc.

Một hôm đang ngồi ăn nhậu trong quán cà phê bí tất với bạn bè, Vân Sơn Phan Mỹ Trúc bị dí súng vào đầu. Một tiếng nổ. Kẻ lạ mặt, do đồng bọn chở bằng Honda hai bánh từ ngoài bước vào, giữa ban ngày, rút súng xử tử chủ nhiệm Ðông Phương, rồi rảo cẳng đi ra, leo lên sau xe Honda, mất dạng. Cái tin gây lặng ngắt trong chỗ tôi ngồi uống bia. Tôi không đi đưa đám Vân Sơn, nhìn vành khăn trắng trên đầu một phụ nữ não nùng, tôi thù ghét tên mặt tái. Theo mô tả, đó là kẻ sát nhân. Tôi nghĩ tôi đã gặp y nhiều lần. (2)

Trong không khí đó, những cuộc xung đột trong làng báo không còn là những bài báo xuông nữa. Ngay trong nội bộ cũng gay cấn. Anh Chu Tử, tuy là người đứng chủ trương nhật báo Sóng Thần, nhưng lại không thoải mái khi tới tòa soạn. Rồi chẳng bao giờ anh tới nữa, nằm nhà lãnh lương, rút xì phé. Có khi chỉ có ba người, chúng tôi cũng vẫn rút, cho anh đỡ buồn. Nhất là khi trong ba người lại có một anh Việt Cộng hồi chánh như Kim Nhật - tác giả cuốn Cục R - cò gỗ mổ cò thật như hôm đó, thì chán biết nhường nào? Anh nhắc tôi kể chuyện phim ráng viết cho dài, như một cái truyện ngắn, vì tôi thường viết ngắn, chủ trương đủ ăn thì thôi, hôm nay đong gạo hôm nay, chuyện mai mai tính. Một hôm anh bảo tôi, khi tôi đã leo lên cái xe Lambretta định đi. "Này cái chuyện phim hôm rồi cậu viết dài hơn nửa trang như thế là được, tuy nhiên cậu lại không viết nhan đề. Tôi thấy tên phim là La Chevauchée, tôi đặt là Ðoàn Kỵ Mã đấy. Ðược không?" Dĩ nhiên là được. Chị Gilberte Nguyễn Văn Lợi, chủ hãng phim Columbia tại Sài Gòn đưa cho tôi tờ Ciné-Revue, trong có thuật chuyện phim này, sắp chiếu ở Eden hay Ðại Nam gì đó, tôi phải chuyển ra Việt ngữ, tôi đã xem phim đó đâu mà nói được hay không được. Tôi cũng chẳng nhớ nội dung câu chuyện như thế nào, vì tài tử cưỡi ngựa bắn súng cỡ Randolphe Scott là tài tử tôi chỉ xem qua một lần rồi bỏ.

Nhà văn Chu Tử lìa đời trên sông Lòng Tảo, trên thuyền Việt Nam Thương Tín. Hôm đó là ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Khi chiếc thương thuyền đang hướng ra hải phận quốc tế thì bị trúng một trái đạn pháo từ trong bờ bắn ra. Trong mấy ngàn người, Chỉ có Chu Tử thiệt mạng. Cháu Chu Sơn, con trai anh, mà cũng là phóng viên trang 3 của chúng tôi trong tờ nhật báo Tiền Tuyến, đứng bên bố nhưng không nguy hại gì. Theo Trung Tá Phạm Hậu kể lại: "Có tiếng pháo kích từ bên bờ sông mé phải bắn qua. Ðạn đại bác của xe tăng hay đạn B40, B41 quái quỉ gì đó... rơi lõm bõm trên sông. Một viên đạn bay qua đầu chúng tôi, rơi trúng vào chiếc tầu to lớn - tầu Việt Nam Thương Tín chở hàng hóa và hành khách dân sự - đang vùn vụt chạy rất nhanh ở phía trái chúng tôi. Khói bốc lên nghi ngút trong chốc lát. Sau mới biết chính quả đạn này đã sát hại nhà văn Chu Tử..." (3)

Theo cháu Chu Sơn kể lại với tôi, thi hài Chu Tử được bó vải, thả xuống Thái Bình Dương ngày hôm sau. Anh là thuyền nhân đầu tiên được thủy táng. Anh là nhà văn lưu vong đầu tiên vẫn trong hải phận quê hương. Và như thế, có bao giờ anh rời xa Ðất Nước? Từ lúc viết văn đến khi từ trần, anh hoàn tất ý niệm ban đầu của một người cầm bút, mấy ai có thể làm được như anh?

(Trong Chiêu Niệm Văn Chương)

------------------
Chú thích:

1. Viên Linh, nhà văn Chu Tử, vấn đề sống, Tuần báo Nghệ Thuật, số 28, tháng 4, 1966, trang 5.
2. Duyên Anh viết rất rõ về vụ ám hại này trong hồi ký của ông, đã xuất bản.
3. Phạm Hậu, 30.4.75, Từ sông Lòng Tảo tới Subic Bay, (theo Khởi Hành số 42, 4.2000, trang 9).





.
Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Mon Mar 17, 2014 9:51 am

Chuyến Hải Trình Định Mệnh




Lê bá Thông

Ðịch ngưng pháo kích khi tia sáng đầu ngày bắt đầu le lói trên hàng cây dừa nước hai bên bờ sông. Tôi liên lạc máy với toán kích đang nằm tại hướng hạ giòng và được biết địch cũng vừa ngưng pháo vào Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận Nhà Bè và vẫn chưa thấy địch tấn công bằng đường bộ. Tôi gọi máy cho vị Sĩ quan Chỉ huy Giang đoàn bạn và thông báo cho biết là tôi sẽ trở về Căn cứ để thám sát tình hình và tái phối trí đơn vị. Trời đã bắt đầu sáng hẳn khi đoàn chiến đỉnh cặp bến tàu Căn cứ vào lúc gần 0700 giờ ngày 30 tháng 4. Nhân viên lần lượt đổ bộ lên bờ và được lệnh ra các vọng gác.

Nhìn cảnh điêu tàn của đơn vị, lửa vẫn còn cháy tại những nhà kho, nhà máy đèn tan tành, đổ nát vì bị địch pháo hỏa tiển 122 ly suốt đêm qua, tôi cảm thấy bâng khuâng nhưng vẫn giữ vững niềm tin là đơn vị còn đứng vững để tiếp tục chiến đấu. Tôi lệnh cho Sĩ quan Truyền tin phá hủy những tài liệu không cần thiết và cố gắng gọi máy liên lạc với Bộ Tư lệnh Hải quân. Tôi hy vọng Bộ Tư lệnh Hải quân vẫn còn đứng vững và mong có thể liên lạc được với những Sĩ quan thâm niên hiện diện, đang ở lại tử thủ như cá nhân tôi, để nhận chỉ thị cần thiết.

Sau khi đi duyệt qua tình hình Căn cứ, tôi trở về phòng hành quân và nhận được báo cáo là Sài Gòn đang rối loạn, Bộ Tư lệnh Hải quân không trả lời máy. Tôi phân vân rồi ra lệnh mở kho thực phẩm để phân phối cho các đơn vị bạn và các Giang đoàn đang triệt thối về đây. Những chiến đỉnh thuộc nhiều đơn vị khác nhau như là Liên đoàn Tuần Thám, Phóng Thủy Hỏa, Thủy Bộ, Xung Phong, Trục Lôi... tất cả hơn 100 giang đỉnh không có Ðơn vị trưởng đang xin tạm trú tại nơi này.

Khoảng 10 giờ sáng lúc vừa quay về Bộ chỉ huy, bỗng nhiên tôi nghe tiếng chân người chạy rộn rịp, tiếng máy xe Honda và xe Vespa nổ ồn ào. Nhân viên của tôi đang đùng đùng bỏ hàng ngũ, vất lại súng đạn và chạy ra phía cổng chánh. Tôi ra lệnh chận lại để tìm hiểu lý do và được báo cáo là nhân viên mở radio, nghe nói Sài Gòn rối loạn, họ sợ gia đình vợ con thất lạc nên mọi người xin phép được trở về lo cho gia đình.

Thế là hết, không ai còn tinh thần để ở lại chiến đấu nữa, mà họ chiến đấu cho ai ở giờ phút này, trong khi những cấp chỉ huy khác đã đưa vợ con ra ngoại quốc rồi chạy theo ra biển thoát nạn. Tôi thở dài chán nản và cảm thấy niềm uất ức dâng tràn lên trong tim. Chỉ trong khoảng khắc đơn vị đã trở nên một bãi vắng bóng người, chỉ còn lại súng ống bỏ lại đầy trên nền đất lạnh. Tôi ngước mặt nhìn trời, nước mắt tuyệt vọng chảy dài xuống má.

*****

Trời đổ mưa ào xuống khi chiếc tàu đánh cá chạy ngang qua ngã ba sông Nhà Bè, một hướng chảy về Cát Lái, một ngã xuôi ra sông Lòng Tào, Soài Rạp. Người tỵ nạn đứng ngồi trên sàn tàu, chen chúc nhau dưới các tấm ny lông, thân hình co ro với chiếc áo mưa, trong khi gió sông thổi mạnh phía sau lái, làm tăng tốc lực thêm cho con tàu đi biển loại nhỏ. Các quân nhân Lôi hổ, hờm sẵn súng tiểu liên, phóng lựu M79, hướng về mặt sông, nơi thuyền bè của dân di tản đang xuôi ra biển Vũng Tàu.

Trận mưa đám mây không kéo dài lâu lắm, gió mạnh đã bắt đầu dịu xuống và bầu trời trở nên quang đảng, ánh nắng buổi xế trưa lại le lói xuyên qua các vầng mây xám đen, đang bay về phương trời xa. Từ hướng kho xăng Nhà Bè, hàng chục chiến đỉnh Hải quân thuộc các Giang đoàn Xung Phong, Thủy Bộ, Trục Lôi... đang chậm rãi giang hành về hướng Sài gòn. Mọi người trên chiếc tàu đánh cá thắc mắc, không lẽ cấp Chỉ huy của toán chiến đỉnh này không biết gì về việc Tướng Dương văn Minh đầu hàng, Sài Gòn đã thất thủ và Bộ Tư lệnh Hải quân đã bị Việt Cộng vào chiếm rồi hay sao? Lúc bấy giờ đã hơn 12 giờ rưởi trưa, một vài người khoác tay về phía các giang đỉnh đang dẫn đầu, ra hiệu cho các thủy thủ mặc quân phục tác chiến, áo giáp, nón sắt. Dân di tản muốn liên lạc và bảo những chiến hữu này hãy quay tàu chạy ra biển, thay vì tiếp tục về hướng Sài Gòn.

Phía trước mặt bên tả hạm, có vài chiếc tàu cũng lớn xấp xỉ bằng tàu đánh cá này. Các nhân viên trên vài chiến đỉnh loại nhỏ của Liên đoàn Thủy Bộ và Tuần Thám có lẽ như đã nhận hiểu thủ hiệu. Họ quay chiến đỉnh trở lại, và lái tàu chạy theo sau những tàu đánh cá, rồi một vài người trong thủy thủ đoàn cổi áo giáp, đeo các sợi dây thừng, leo lên tàu lớn và bỏ lại chiến đỉnh trôi bập bềnh trên sông. Cũng như nhiều quân nhân Hải quân không có gia đình ở Sài Gòn, những thủy thủ này đã quyết định theo các tàu thuyền di tản, vì thấy mọi người đều bỏ quê hương ra đi.

Tôi ở trên soái đỉnh của Giang đoàn Thủy Bộ và đang cùng đoàn chiến đỉnh gần 50 chiếc, hải hành về trình diện Bộ Tư lệnh Hải quân tại bến Bạch đằng. Cô Y tá thuộc Bệnh viện của Căn cứ báo cáo cho tôi, về việc Tướng Minh đã đầu hàng quân Cộng sản miền Bắc cũng như ông vừa ra lệnh tất cả các đơn vị thuộc Quân lực Việt Nam Cọng Hòa buông súng và ngưng chiến đấu. Tôi sững sờ, không tin những gì đang nghe, rồi nghẹn ngào uất ức và đau buồn dâng tràn trong tim.

Khi chiếc tàu đánh cá chạy ngược chiều với chiếc chiến đỉnh trang bị hải pháo và pháo tháp nặng nề này, Ðại tá Ch. là một Sĩ quan Hải quân ngành Cơ khí, người chỉ huy tàu đánh cá, ra lệnh chuẩn bị ngừng tàu lại. Ông ấy vừa nhận ra người bạn Hải quân, một Sĩ quan cấp bậc Trung tá ngành chỉ huy, thuộc Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận Nhà Bè, đang đứng trên boong soái đỉnh.

Ông dùng loa nói chuyện và thông báo tình hình cho tôi, Ðại tá Ch. cho tôi biết về tình trạng rối ren tại Sài Gòn và chấp thuận cho gia đình tôi quá giang, đồng thời yêu cầu tôi giúp ông ta đưa tàu này ra biển. Vì người tài công có nhiệm vụ lái tàu, phút cuối đã không đến được và cho đến bây giờ trên tàu không có dụng cụ hải hành, bản đồ... và chỉ có một la bàn từ dùng cho việc định hướng lái tàu. Sài Gòn đã mất vào tay Cộng sản và không còn gì để tiếp tục chiến đấu nữa cả. Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, như người mất hồn, tôi gọi máy hỏi ý kiến thuyền trưởng các chiến đỉnh và tất cả đều khuyến khích tôi nên cùng gia đình theo tàu đánh cá ra khỏi vùng lửa đạn. Họ đồng ý và hứa với tôi, sẽ tìm phương tiện để đưa gia đình của họ, đang còn kẹt ở Sài Gòn, di tản ra biển tìm Tự do. Tôi ngậm ngùi chào từ giã các chiến hữu thân mến đã cùng tôi tử thủ và chiến đấu suốt đêm qua, chúc mọi người gặp nhiều may mắn. Sau đó tôi đưa vợ tôi, Minh và bốn đứa con đang còn nhỏ, lên chiếc tàu đánh cá rồi phụ giúp Ðại tá Ch. vận chuyển tàu giang hành ngang qua kho xăng Nhà Bè.

Từ xa một cột khói đen bay lên cao từ hướng Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận, suốt đêm bị địch pháo kích phá hủy tan tành và gây nên những đám cháy dữ dội. Tàu ngưng máy một lúc để chúng tôi đón vài nhân viên Hải quân thuộc Căn cứ Yểm trợ này lên. Sau đó mọi người trên tàu đánh cá quyên góp tiền Việt Nam mà họ còn mang theo, nay đã trở thành vô giá trị đối với người di tản, chuyền xuống các chiến đỉnh cho các thủy thủ, hoặc vì lý do này hay lý do khác, quyết định ở lại với gia đình và quê hương. Các người Tàu đưa hết những xấp giấy 1000 đồng cho quân nhân Hải quân với tất cả tấm lòng. Nhân viên giang đỉnh cũng cảm động cám ơn, rồi họ mang ra ba bốn bao gạo, vài thùng mì gói tặng cho người di tản. Họ ngậm ngùi chúc nhau nhiều may mắn và biết đây là lần đầu tiên họ gặp nhau và cũng là lần cuối. Các thuyền trưởng chiến đỉnh đưa cho vị Chỉ huy cũ của mình vài bản đồ khu vực sông Lòng Tào, từ Soài Rạp ra đến Vũng Tàu, loại bản đồ hành quân của đơn vị Bộ binh. Họ còn cho tôi biết là chiếc thương thuyền Việt Nam Thương Tín bị Việt Cộng chận bắn trên sông Lòng Tào khoảng nửa giờ trước đây, vào lúc 1 giờ 30 chiều, một số người bị tử thương, trong số đó có nhà văn Chu Tử. Khi nghe được tin này, Ðại tá Ch. và tôi quyết định thay đổi giang trình, thay vì dùng sông Lòng Tào chật hẹp dễ bị tấn công bởi quân Cộng sản, tôi sẽ vận chuyển tàu theo lộ trình sông Soài Rạp, mặc dù khó hải hành nhưng vì sông rất rộng nên có thể tránh được nguy hiểm và an toàn hơn.

Trên sông tàu thuyền tấp nập với những tàu chở hàng LCU của Quân vận, ghe đánh cá dân sự, Giang tốc đỉnh PBR thuộc các Liên đoàn Tuần Thám, phăng phăng rẽ dòng nước đục ngầu, đầy bùn phù sa và rong bèo lẫn lục bình, cuồn cuộn trôi ra phía vịnh Vũng Tàu. Gió mát thổi từng cơn từ phía hàng dừa nước hai bên bờ, mặt nước sông như sáng hẳn lên dưới ánh nắng chiều, lóng lánh ngàn vì sao nhỏ phản chiếu từ giòng sông uốn khúc. Vài con chim cò, chim vạc với đôi cánh dài nhẹ lướt qua những lùm cây thấp bên gành, cạnh rừng lau sậy mọc lưa thưa. Thiên nhiên vẫn bình thản như không có gì thay đổi trước mắt dân di tản. Tuy nhiên mọi người đã nhận thức rằng kể từ giờ phút này, họ bắt đầu một cuộc đổi đời mà định mệnh đã làm cho dân miền Nam phải xa lìa quê cha đất tổ và bỏ lại tất cả những gì quý giá nhất của mình vì không muốn sống dưới chế độ độc tài Cộng sản. Những việc gì sẽ đến trong giờ phút sắp tới đều có ảnh hưởng đến cả cuộc đời của người đi tìm ánh sáng Tự do và an toàn cho cá nhân cũng như gia đình họ.

Tàu tiếp tục giang hành với vận tốc chậm vì lòng sông Soài Rạp thay đổi, sâu cạn bất thường, nếu không có kinh nghiệm, tàu sẽ bị mắc cạn, do đó tôi cẩn thận theo sát các chiến đỉnh chạy trước để tránh vùng nước cạn. Thỉnh thoảng tôi ngừng tàu lại, và đón vớt quân nhân đủ mọi cấp thuộc các Quân binh chủng di tản trên các tàu nhỏ, chật hẹp, sắp bị chìm, lên tàu đánh cá này. Từ xa vịnh Vũng Tàu đã thấy xuất hiện về phía tả hạm với ngọn núi nhô lên cao và ngọn hải đăng trắng xóa nằm trên đỉnh.

Trên không thỉnh thoảng vài chiếc trực thăng thuộc Không quân Việt Nam Cọng hòa trực chỉ về hướng đông, có lẽ bay ra Ðệ thất Hạm đội Hoa Kỳ. Từ trong Căn Cứ Yểm trợ Tiếp vận Cát Lỡ, các chiến đỉnh Hải quân và Quân vận, chở đầy người tỵ nạn, chen chúc chạy ngang Bãi trước Vũng Tàu, xuôi ra biển. Về phía nam, các chiến đỉnh thuộc đơn vị Hải quân từ Vùng 4 Sông Ngòi nối đuôi nhau đổ ra cửa sông. Một vài chiếc cặp lại bên cạnh các thuyền đánh cá lớn, hay chạy theo các chiến hạm Hải quân để yêu cầu được quá giang, vì chiến đỉnh của họ quá nhỏ, không thể đi xa ra biển khơi. Tàu đánh cá của Ðại tá Ch. cũng lại vớt nhiều gia đình Hải quân trong đám chiến đỉnh này.

Vào khoảng 7 giờ tối, tàu tiếp tục chạy về phía đông nam, sau khi tôi dùng chiếc la bàn từ để định hướng và lấy ngọn hải đăng trên đỉnh núi Vũng Tàu làm chuẩn. Dân di tản ngồi chen chúc ngổn ngang trên sàn tàu nhỏ xíu, phía trước và trên boong thượng phía sau lái, mọi người ngồi yên tại chỗ, không thể di chuyển đi đâu được cả. Tổng số người đi tìm Tự do, kể cả người Tàu Chợ Lớn và gia đình, đã lên đến trên dưới 300 người, so với khoảng gần 200 người lúc tàu chạy ngang qua Căn cứ Yểm trợ Tiếp vận Nhà Bè vào lúc hơn 2 giờ chiều ngày hôm nay.

Mặt trời từ từ lặn xuống sau rừng cây đang đổi qua màu đen thẫm về phía tây bắc. Chiếc tàu chở đoàn người tỵ nạn, dật dờ, lắc lư trên những đợt sóng dài giữa biển cả mênh mông, trong một buổi hoàng hôn màu tím nhạt, bắt đầu buông phủ và bao trùm vũ trụ. Từng tia sáng chớp lên rồi tắt ngúm từ ngọn hải đăng Vũng Tàu như cây đèn trời giữa đêm tối, gieo trong lòng người di tản nỗi buồn cô đơn trống vắng. Họ cảm thấy tủi thân cho số phận mình, những người đi đày như dân Do Thái, lênh đênh trên chiếc tàu Exodus đi tìm đất thánh ngày xa xưa. Tương lai và thân phận của người Việt tỵ nạn tựa màn đêm bao quanh họ. Hy vọng được cứu vớt thật là mong manh như tìm nước uống trên sa mạc, tùy thuộc vào sự may mắn và định mệnh đẩy đưa.

Khoảng 10 giờ tối khi tàu cách xa bờ biển Vũng Tàu khoảng chừng 20 hải lý, mọi người đang chập chờn tìm quên qua giấc ngủ sau một ngày tinh thần căng thẳng và mệt mõi, bỗng họ chợt tỉnh dậy vì nghe tiếng xôn xao từ phòng lái. Hình như Ðại tá Ch. cho biết có một thương thuyền lớn thắp đèn sáng trưng phía bên tả hạm cách chừng một hải lý. Ông ra lệnh tàu tăng máy và hướng về chiếc thương thuyền đó. Khi đến gần, ông dùng ống loa và kêu gọi vị thuyền trưởng xin được phép tiếp cứu và cho dân tỵ nạn Cộng sản lên tàu.

Ðây là một thương thuyền Ðại Hàn trên đường về bến tại Hán Thành. Ông thuyền trưởng thương thuyền đặt loa cho biết là ông không thể cho người tỵ nạn Việt Nam lên tàu của ông được vì không có phép của công ty và của chính phủ Ðại Hàn. Họ đang trong tình trạng phân vân chưa biết phải đối phó thế nào trước tình hình sụp đổ quá nhanh của miền Nam Việt Nam. Ông thuyền trưởng rất thông cảm và thương hại muốn giúp người Việt Nam đang gặp hoạn nạn. Nhưng vì vấn đề chính trị mà Quốc gia ông phải đối phó, chính phủ Ðại Hàn cần thời gian cân nhắc, tìm đường lối chính trị hợp với họ, trước khi đi đến quyết định trợ giúp công dân của Việt Nam, một nước trước đây là đồng minh của Ðại Hàn trong cuộc chiến vừa tàn. Sau khi dứt lời, ông ta cầu chúc Thượng đế ban phước lành cho mọi người, và hy vọng những thương thuyền của các nước khác, đã có chỉ thị cho phép nhận người tỵ nạn Việt Nam, sẽ đón những người di tản lên tàu. Thế rồi chiếc thương thuyền mang quốc tịch Ðại Hàn đổi hướng đông bắc, trực chỉ về phía đảo Hải Nam, để lại sau lưng, trên biển một con tàu nhỏ chở đầy những người di tản thất vọng, đang ngậm ngùi nhận thức được cái giá tủi nhục đầu tiên phải trả khi bị nhân loại ngoảnh mặt từ chối giúp đỡ.

Bầu trời đầu tháng 5 dương lịch, đầy sao lấp lánh dán trên vòm đen vĩ đại. Vầng trăng nửa vành tỏa tia sáng nhạt xuống vùng biển Ðông, không đủ soi đường cho các chiến hạm, tàu đánh cá, ghe Kiên giang, xà lan, thuyền buồm... đang bập bềnh hướng về phía mặt trời mọc và hy vọng được cứu giúp bởi người bạn đồng minh Hoa Kỳ.

*****

Trên bầu trời đầy sao lấp lánh, vầng trăng nửa vành treo lơ lửng về phía tây nam, phía hữu hạm chiếc tàu di tản, đang nhấp nhô đi tìm những Duyên vận hạm (LCU) hoặc tàu đánh cá lớn chạy bằng dầu cặn bỏ lại trên biển, để tiếp tế thêm dầu.

Sau một thời gian khá lâu, tiếng gọi từ phòng lái chuyền xuống cho mọi người biết rằng có thể tàu đã tìm ra LCU của Quân vận hoặc tàu có nhiên liệu. Sau đó tôi từ từ vận chuyển tàu đánh cá cặp vào một chiếc LCU, đang trôi bập bềnh trên sóng. Trên tàu này không một bóng người, không có đèn, tối thui, sàn tàu đầy rẫy va li áo quần, xách tay, dụng cụ, giày dép vương vãi khắp boong chính. Ðại tá Ch. chỉ thị tổ chức những thanh niên, nối đuôi thành hàng dài chuyền tay các xô dầu múc từ hầm chiếc Duyên vận hạm đổ xuống hầm chứa dầu của tàu đánh cá. Công tác tiếp tế tập thể diễn tiến tốt đẹp dưới ánh sáng của ngọn đèn rọi từ phòng lái, và tiếng máy rì rầm vang dội trong đêm khuya tỉnh mịch, tại một vùng biển trời mênh mông.

Công tác lấy dầu từ chiếc Duyên vận hạm lại tiếp tục dưới ánh sáng mờ ảo của vầng bán nguyệt đang ngã về phương tây, hướng đất Mẹ Việt Nam. Những ánh đèn bin lập lòe, trên tay các bóng đen như ma trơi, thấp thoáng im lặng di chuyển, âm thầm với ý nghĩ riêng tư của mỗi người, đang còn bị ám ảnh bởi sự kiện vừa xảy ra trong chuyến di tản. Tình người, tình mẫu tử, tình cha con bắt đầu thay biến trong cuộc đổi đời. Và trong tương lai họ biết sẽ gặp nhiều ngạc nhiên hơn nữa, khi hội nhập vào đời sống người tỵ nạn tại các quốc gia Tự do với nhiều nhu cầu vật chất hơn giá trị tinh thần.

Các người Tàu Chợ Lớn lấy vải vóc, tơ lụa, đồ ngủ may sẵn, những áo quần mà họ dự trù mang theo qua Tân Gia Ba để xử dụng và mua bán, đem ra phân phát cho thiếụ nữ và các bà vợ dân di tản trên tàu. Những bộ áo quần thêu tay thật đẹp và đắt tiền này là món quà chia nhau giữa những người không quen biết, nay cùng chung cảnh ngộ, dù ngôn từ khác biệt nhưng ánh mắt và cử chỉ đã nói lên lòng ưu ái, nhân hậu của tình người.

Con tàu di tản cô đơn trên biển cả mênh mông, tách rời chiếc Duyên vận hạm đang trôi dạt xa dần về phía vô định, tiếp tục hải trình về hướng đông sau khi lấy thêm những phi nước ngọt chất đầy trên boong thượng. Ðã gần năm giờ sáng, từ phía chân trời, ánh sáng bình minh đã bắt đầu nhuộm đám mây hồng, đang lờ lững vắt ngang vũ trụ. Mặt trời hình tròn, đỏ chói hiện lên dần từ dưới vùng nước xanh, ánh sáng tựa dòng sông, lóng lánh như vàng, tỏa rực trên đại dương. Từ xa về phía hữu hạm, bóng dáng con thoi dài một chiến hạm Hoa Kỳ nổi bật lên trên mặt biển êm như hồ. Mọi người la lên mừng rỡ vì tưởng sắp được tàu Mỹ cứu vớt. Dân di tản đứng dậy, tay cầm áo quần, khăn tắm, lấy mũ đang đội trên đầu, ngoắc lia lịa về phía chiến hạm Hoa Kỳ để gây sự chú ý của thủy thủ đoàn trên chiếc tàu này.

Họ thấy từ xa, vây quanh chiếc Khu trục hạm, cũng có nhiều tàu thuyền chở đầy dân tỵ nạn, đang cố gắng xin tàu Mỹ cho lên. Khi tiến về phía Khu trục hạm, mọi người đều ngạc nhiên khi thấy thủy thủ trên tàu dùng súng trường M16 bắn chỉ thiên lên trời như xua đuổi không cho ghe thuyền dân tỵ nạn đến gần. Tất cả đều thất vọng và thắc mắc. Như vậy là thế nào? Họ tự hỏi, có phải người Mỹ từ chối giúp người di tản không? Tương lai và số phận của họ sẽ ra sao? Những tin tức về chiến hạm Ðệ thất Hạm đội chờ sẵn để tiếp đón dân miền Nam Việt Nam là tin thất thiệt, không đúng sự thật hay sao? Và niềm lo âu trở thành bất mãn, họ la ó dữ dội để thỏa lòng uất hận. Người Mỹ đểu cáng bỏ rơi nước Việt Nam, tự động gửi quân qua Việt Nam tham chiến, rồi kéo quân về nước, và cắt đứt viện trợ năm 1973 làm cho Quân đội mất hết tiềm năng chiến đấu. Thế rồi Mỹ lại giúp phương tiện cho các cấp chỉ huy hèn nhát bỏ lại chiến hữu thuộc cấp, cao chạy xa bay ra ngoại quốc làm suy sụp tinh thần quyết tử của quân dân nhiều lòng yêu nước. Bây giờ Mỹ lại dùng súng đạn xua đuổi, trở mặt không cứu vớt và giúp đở người di tản Việt Nam, đang bập bềnh trên sóng nước biển đông.

Trời sáng dần, ghe thuyền dân tỵ nạn không biết từ phương nào tới, xuất hiện càng ngày càng nhiều, lũ lượt chạy quanh chiếc Khu trục hạm. Sau một thời gian ngừng máy, có lẽ để báo cáo cho giới chức có thẩm quyền Hải quân Hoa Kỳ, chiếc Destroyer này vận chuyển, tăng hết tốc lực, đổi hướng về phía nam. Và bỏ lại sau lưng hàng chục chiếc tàu chở dân Việt Nam di tản, đang thất vọng, uất ức nhìn theo cột khói đen mờ dần, rồi khuất hẳn cuối chân mây. Chỉ trong phút chốc chỉ còn những ghe thuyền đang chơi vơi trên biển. Dân di tản lần lượt lái ghe thuyền, trực chỉ phía mặt trời mọc, tiếp tục hải trình và nuôi hy vọng sẽ gặp may mắn hơn.

Mặt trời lên cao, làn gió nhẹ từ hướng đông nam không đủ xoa dịu cơn nóng oi bức của buổi trưa đầu hè trên biển. Từ xa về hướng đất liền, mọi người chợt thấy một chiến đỉnh nhỏ của Hải quân, treo cờ vàng ba sọc đỏ đang phăng phăng tiếng về hướng chiếc tàu đánh cá. Tôi nhận ra đây là loại Duyên tốc đỉnh (PCF), có lẽ thuộc Hải đội 3 Duyên phòng tại Vũng Tàu. Quả đúng như vậy, vị Thuyền trưởng, một Trung úy trẻ tuổi và ba nhân viên cặp vào tàu đánh cá và xin Ðại tá Ch. cho phép quá giang vì chiến đỉnh nhỏ không thể đi xa ra khơi được. Trung úy Thuyền trưởng cho biết chiến đỉnh còn dầy dầu, trên dưới 3000 gallons, vì thế Ðại tá Ch. quyết định cho dòng chiếc tàu này theo, để có đầy đủ dầu xữ dụng, đề phòng trường hợp phải hải hành qua Phi Luật Tân.

Vào khoảng ba giờ chiều, tàu đang chạy ngon trớn bỗng nhiên vận tốc giảm dần, rồi tiếng máy tàu nổ vài tiếng nhỏ và ngưng hẳn, mọi người tiên đoán hình như máy tàu bị trục trặc. Các Sĩ quan cơ khí quá giang báo cáo cho Ðại tá Ch. là có nước hòa lẫn trong dầu. Có lẽ tối hôm qua, khi lấy dầu của chiếc LCU Quân vận, vì đêm tối nên không ai biết dầu Diesel này có nước trong đó.

Không gian chung quanh chiếc tàu quá im lặng vì không có tiếng máy tàu. Thỉnh thoảng vài cơn gió mạnh thổi ngang qua, gây nên tiếng kêu phần phật từ các tấm vải giăng tạm, làm lều che nắng cho người đi tìm Tự do. Chiếc tàu đánh cá đầy ắp dân di tản, dật dờ, bồng bềnh trôi với thủy triều trên mặt biển êm ả. Tiếng người thì thầm nhỏ to, bàn tán với nhau về việc máy tàu bị hư, và lo âu vì đêm qua thương thuyền Ðại Hàn từ chối cứu vớt và sáng hôm nay, Khu trục hạm Mỹ dùng súng bắn đuổi đi. Cho đến bây giờ vẫn không thấy bóng dáng chiến hạm Mỹ khác, như lời đồn đãi của dân chúng Sài Gòn trước ngày 30 tháng 4.

Khoảng hơn hai giờ sau, các Sĩ quan Cơ khí đã sửa chữa xong hai máy chánh và mọi người thở ra nhẹ nhõm khi nghe tiếng nổ của máy tàu. Sau khi xác định vị trí trên hải đồ, chiếc tàu đánh cá với chiến đỉnh của Hải đội Duyên phòng, được kéo phía sau lái, chạy trở lại hướng đông bắc, vào thủy lộ của đoàn tàu đi tìm kiếm các chiến hạm thuộc Ðệ thất Hạm đội Hoa Kỳ.

Tôi lấy ống nhòm và quan sát bốn phía với hy vọng tìm thấy một đối vật gì trên mặt biển đang ngả sang màu xanh đậm, khi mặt trời bắt đầu thấp xuống dần về hướng tây. Tôi nhìn phía tả hạm, không thấy gì khác ngoài những đợt sóng dài và trời biển như dính liền thành một bức họa màu xanh. Tôi quay về phía hữu hạm, hơi chếch trước mũi tàu và chợt ngừng lại, điều khiển ống nhòm để nhìn thấy rõ hơn. Xa xa, bay lên từ chân trời xanh đậm, một đợt khói đen mờ ảo, thấp thoáng như làn mây mỏng. Quan sát viên ngoài phòng lái đã báo cáo cho Ðại tá Ch. về cuộn khói này và ông ta cũng đang chăm chú đặt ống nhòm quan sát về hướng đó. Có lẽ đây là khói bay lên từ một chiến hạm lớn của Hoa Kỳ, đang chạy cùng chiều với chiếc tàu đánh cá.

Với vận tốc quá chậm so với chiến hạm Mỹ, tàu sẽ không bao giờ bắt kịp và cơ hội được cứu vớt sẽ không thực hiện được. Vì thế Ðại tá Ch. quyết định yêu cầu Thuyền trưởng Duyên tốc đỉnh và ba nhân viên tháp tùng một Thiếu tá Hải quân thông thạo tiếng Anh, dùng chiến đỉnh chạy nhanh để bắt kịp chiến hạm Hoa Kỳ, và xin giúp đở dân di tản trên tàu đánh cá này. Sau khi dùng lốp xe hơi bọc kín các súng đại liên, cũng như bao kín khẩu súng 81 ly, để tàu Mỹ khỏi nghi ngờ và hiểu lầm bị tàu Việt Cộng tấn công, chiến đỉnh tăng tốc độ tối đa tiến về hướng chiến hạm Hoa Kỳ.

Tất cả mọi người nín thở nhìn theo chiến đỉnh và cũng là niềm hy vọng của họ, đang nhỏ dần trên sóng nước mênh mông. Tàu tăng thêm tốc độ để cố gắng đuổi theo chiến hạm Mỹ, thân tàu rung chuyển thật mạnh dưới sức đẩy của hai máy chánh, khói đen nhả lên bầu trời như dấu hiệu cầu cứu của người thất lạc trên biển khơi. Vào khoảng một giờ sau, chiếc tàu đánh cá đã bắt kịp chiến hạm Hoa Kỳ, đang ngừng lại trên biển chờ đợi. Cặp bên cạnh hông chiến hạm Mỹ là chiếc Duyên tốc đỉnh, vừa làm xong nhiệm vụ cứu mạng sống của hơn 300 người tỵ nạn. Ðây là loại tàu chở dầu (Oiler) cở lớn dùng để tiếp tế ngoài khơi cho các chiến hạm Hoa Kỳ, Hạm trưởng là một Sĩ quan Hải quân cấp bậc Ðại tá.

Tôi thông báo cho Trung tá Hạm phó chiến hạm biết là hầu hết trong số gần 300 người di tản trên chiếc tàu đánh cá này, là quân nhân Hải quân và gia đình, rồi tôi xin phép Hạm trưởng chấp thuận giúp đở và cho phép mọi người lên tàu dầu. Lời thỉnh cầu thiết tha của tôi không được chấp thuận vì lý do an toàn của chiến hạm, chiếc Nhiên liệu hạm này không thể chở người trên tàu. Tuy nhiên vị Hạm trưởng đã yêu cầu Bộ Tư lệnh Ðệ thất Hạm đội và được chấp thuận dòng chiếc tàu của dân tỵ nạn ra địa điểm tập trung ngoài khơi của Hạm đội.

Toàn thể dân di tản đang lo âu vì không được giúp đở, reo hò mừng rỡ khi nghe Ðại tá Ch. loan báo tin vui. Thế là thoát nạn và sống sót rồi. Mọi người sung sướng, họ ôm nhau, nước mắt chảy dài trên những gò má sạm nắng của các bà mẹ già, thiếu nữ, đàn ông lớn bé nhảy nhót vui mừng, vì biết rằng chuyến hải trình tìm Tự do sắp sửa đến bờ. Thượng đế đã che chở và giúp người dân Việt tìm về đất mới vì họ không muốn sống dưới chế độ độc tài Cộng sản.

Màn đêm bắt đầu buông phủ vùng biển đông, gió mát thổi từng cơn làm mọi người cảm thấy phơi phới. Tiếng nói cười ròn rã như mừng hội lớn khi họ đón nhận những dĩa cơm trắng còn nóng hổi, rau giá xào trứng và thịt nạc heo ngon lành do các đầu bếp Mỹ nấu, được chuyền xuống bởi các người thủy thủ trẻ tuổi, từ sau lái chiếc Nhiên liệu hạm. Sau đó dân di tản còn được cung cấp sữa tươi, chuối, cam và táo... Thôi thì đủ thứ thực phẩm, mọi người cảm thấy thích thú, nhai ngấu nghiến, ngon lành vì họ chỉ ăn mì gói gần hai ngày nay.

Một ý nghĩ làm cho tôi thắc mắc về sự chuẩn bị quá chu đáo của người Mỹ. Không hiểu đây có phải là một kế hoạch đã được dàn xếp và chuẩn bị từ lâu chăng. Làm sao mà Hải quân Hoa Kỳ có thể biết người Việt sẽ di tản ra khỏi miền Nam Việt Nam, để có thể có một chương trình tiếp cứu quá quy mô như thế này. Ðó là chưa kể thức ăn thuần túy của người Việt Nam như cơm trắng, giá xào trứng và thịt heo, sẵn sàng nuôi người tỵ nạn trên biển? Nhưng rồi tôi gạt ý tưởng này qua một bên và tiếp tục ăn dĩa cơm trắng với giá xào, bên cạnh gia đình, vợ con mà tôi không gặp mặt nhiều trong chuyến hải trình tìm Tự do này, vì mãi lo phụ trách việc lái và đưa chiếc tàu đánh cá đến bến an toàn.

Chiếc tàu chở dân di tản được dòng suốt đêm với tốc độ thật chậm đến vùng tập trung của chiến hạm thuộc Ðệ thất Hạm đội. Và rồi vào khoảng ba giờ sáng, mọi người nhìn thấy từ xa một vùng trời rực sáng, hào quang tràn ngập một góc trời như ánh đèn của một thành phố nổi. Khi tàu tiến đến gần, mọi người ngạc nhiên và bàng hoàng khi nhìn thấy hàng chục chiến hạm Mỹ đủ loại đang bềnh bồng trong một vùng biển thật rộng lớn, đèn pha rọi sáng trưng, tiếng loa phóng thanh vang dội hòa lẫn với tiếng máy tàu. Không khí thật tưng bừng náo nhiệt như chợ phiên, gồm hàng trăm tàu bè, ghe thuyền lớn nhỏ, xà lan chở đầy dân di tản Việt Nam, đang chuyển người qua các tàu loại đổ bộ như Dương vận hạm hoặc Tiếp tế hạm hay Tuần dương hạm...

Công cuộc cứu vớt dân chúng miền nam Việt Nam thật vĩ đại và quy mô chưa từng thấy xảy ra trong lịch sử nhân loại với hàng trăm chiến hạm Hoa kỳ trợ giúp hàng trăm ngàn dân di tản trong ba ngày đầu kể từ lúc Sài Gòn thất thủ.

Sáng sớm ngày mồng 2 tháng 5 năm 1975, tôi cùng gia đình theo sau đoàn người trên dưới 300 đã quá giang trên chiếc tàu đánh cá nhỏ, lần lượt leo qua boong tàu, bước lên chiếc cửa "ramp" phía sau lái của chiếc tàu Dương vận hạm mang tên USS Barbour County (LST 1195). Mọi người phải để tất cả hành trang tại chỗ được ấn định, để nhân viên an ninh và thủy thủ đoàn kiểm soát. Tôi để chiếc va li nhỏ đựng áo quần của các con mà vợ tôi mang theo được khi rời Căn cứ Yểm trợ, xuống sàn tàu được giăng dây chung quanh, rồi đưa gia đình đi vòng qua phía người lính gác, đứng lại đưa hai tay lên trời, để những thủy thủ này dùng chiếc máy dò tìm kim loại khám xét. Trước khi lên tàu Mỹ, những quân nhân Lôi hổ, được thuê để bảo vệ tàu đánh cá, đều phải liệng các vũ khí cá nhân của họ xuống biển. Thuốc lá, aspirin, dầu xanh, dầu cù là, thuốc chữa bệnh cũng bị thủy thủ đoàn vất xuống biển.

Sau hơn ba ngày lênh đênh, hải hành trên biển, vào buổi sáng sớm ngày 6 tháng 5, chiếc Barbour County đã vào hải phận của Phi Luật Tân. Từ xa rặng núi xanh tại thành phố Baguio City nổi tiếng, đã hiện dần trong sương mù trên mặt biển màu xanh dương. Tàu đổi hướng vào vịnh Subic Bay và thả neo khoảng xế trưa. Ðại tá Hạm trưởng Dương vận hạm Barbour County (LST 1195) thông báo trên máy phóng thanh là các chiến đỉnh nhỏ sẽ lần lượt chuyên chở người tỵ nạn vào bờ. Ðồng thời ông cầu nguyện ơn trên ban phước lành và chúc mọi người gặp được nhiều may mắn trong hành trình còn lại đến đời sống mới.

Tôi yên lặng đứng trên sàn tàu nóng bỏng của chiếc tiểu đỉnh, nhìn lá cờ Mỹ đang bay phất phới trên kỳ đài của Căn cứ Hoa Kỳ tại Subic Bay, mà lòng cảm thấy thổn thức, ngậm ngùi. Tôi bâng khuâng nghĩ đến một Ðại cường quốc, vì lý do chính trị nội bộ, vì quyền lợi đất nước của họ, đã bỏ rơi cuộc chiến đấu của một Quốc gia nhược tiểu. Trong hơn hai thập niên qua, miền Nam Việt Nam đã hy sinh tính mạng hàng trăm ngàn thanh niên vô tội cho Thế giới Tự do, trong cuộc chiến tranh ý thức hệ; ngăn chặn mưu đồ và hiểm họa nhuộm đỏ Ðông Nam Á của đảng Cộng sản Quốc tế Việt Nga Tàu.

Gió mát đại dương không làm giảm bớt cơn nóng miền nhiệt đới và thoa dịu nỗi lòng buồn tủi của dân Việt Nam tỵ nạn Cộng sản. Một cuộc đổi đời phiêu lưu vô định sắp sửa bắt đầu và tiếp tục nối dài chuyến hải trình định mệnh, đang chờ đón người di tản, mất quê hương, nơi phương trời xa lạ.

Tiểu bang Virginia, 30 năm sau ngày di tản đau thương.




.
Về Đầu Trang Go down
hatran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Wed Mar 19, 2014 8:15 am


THÁNG 3 BUỒN THIU, THÁNG 4 GÃY SÚNG


MX Tiểu Cần

Ngày 4 tháng 4 năm 1975, về đến VũngTàu SĐ/TQLC ( Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ) chúng tôi đóng quân ở một căn cứ Quân Sự của Quân Đội Đồng Minh để lại sau khi họ rút về nước ngay tại bãi sau thị xả VũngTàu ( tôi không quan tâm là của U.S.A hay của Úc ) đối với tôi nơi đến rồi đi chẳng có gì là quan trọng cả, có quá nhiều nơi chốn mà suốt hơn 7 năm làm lính Mũ Xanh từ Bến Hải đến tận Mũi Cà Mau tôi đều đặt chân đến ( Tháng Giêng xuôi quân ra Huế...) quên rồi bài thơ 12 tháng anh đi của Đại úy Bình phòng tâm lý chiến. SĐ/TQLC trong tình trạng tái bổ sung quân số, quân dụng sau cuộc lui binh từ QĐ1 về đây. Lạng Sơn TL ( Tư Lệnh SĐ/TQLC ) kiêm nhiệm thêm chức Quân Trấn Trưởng thị xã Vũng Tàu nên ông rất bận rộn chấn chỉnh trật tự an ninh toàn Thị Xã, vì dân số tăng gấp bốn hay năm lần dân số của Thị Xã. Dân từ miền Trung chạy vào lánh nạn CSBV, dân ở thành phố Sàigòn ( nhà giàu có, họ hàng của các ông to, mặt trợn hèn nhát có) ra đây chờ cơ hội để di tản... khi TL bận bịu một thì chúng tôi ( Tiểu đội làm việc cận kề bên TL ) phải tất bật gấp đôi, Đại Dương (Đại Úy Nguyển Quang Đan K21/VB) chánh văn phòng TL là người bận bịu làm việc không có thời gian nghỉ ngơi ( xin được nói thật nghe Đại Dương anh em chúng tôi biết nên thương anh lắm ) đôi giày trận chỉ cởi ra vào lúc quá nửa đêm để an vị trên chiếc võng nylon ( vật bất ly thân của người lính ) ngày và đêm cá nhân tôi phải theo bước chân của TL. Dù có muốn thăm lại cái thành phố mà 6 năm về trước tôi được đơn vị gửi ra đây học khoá chuyên môn về ngành Truyền Tin, cũng chẳng thực hiện được đến nổi chuyện gửi một lá thư về nhà báo tin cho mẹ già rằng "con của mẹ vẫn bình an" phải nhờ ban văn thư của đơn vị gửi giúp. Lính Mũ xanh là thế đó ( sống hùng sống mạnh hãy gia nhập lính Mũ Xanh ) kể cả chuyện vừa nhận được văn thư lên chức Thượng sĩ, chức thường niên chứ không phải Đặc Cách vì TL rất khó khăn chuyện ấy ...( xin lỗi TL tôi chỉ nói lên sự thật ) mà chưa được một lần đeo lon mới.


Tiểu Cần bên cạnh TL và quý Niên Trưởng

Ngày 7 tháng 4 năm 1975, tin tức hành lang... trước nhứt là:  tình hình đất nước ( miền Nam Việt Nam Cọng Hòa) rất xấu sẽ có biến chuyển không sáng sủa, thật sự tận cùng trong khối óc nhỏ bé của tôi không thể hình dung được có cái ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nhưng tin truyền miệng thêm mắm, thêm muối nên rồi củng mặn chát trong sự lo toan của tôi, cộng thêm trên trời cao có quá nhiều máy bay đủ loại ra vào từ cửa biển như đi chợ, nên chuyện lo lắng không an lành là lẽ tất nhiên thôi. Tin có giá trị là SĐ/TQLC sẽ rút về Cần Thơ "Tử Thủ" với Thiếu Tướng Nguyển Khoa Nam. Về Cần Thơ? Ôi quê hương! Niềm vui rộn ràng khởi động trong tôi đã bắt đầu rạo rực mong chờ, dù không biết tương lai của đất nước sẽ ra sao? Vì đó là chuyện của Thượng Cấp, nghe qua rất ư là Vô Tình nhưng sự thật là thế đó... tôi chỉ kể rõ cái thật dù có thể bị cho là vô trách nhiệm. Tôi sẽ tận hưởng niềm vui đoàn tụ với mẹ tôi, với gia đình bé nhỏ mà hơn 4 năm không hề có ngày nghỉ phép để về gặp mặt và dù có phải đền xong nợ nước tại quê nhà ( cái nợ vốn lẩn lời trả hoài không hết ) cũng mãn nguyện và bảnh hơn nhiều chiến hữu lắm rồi. Cần Thơ là nơi tôi được sinh ra và lớn lên, từ một đứa bé chào đời đến lúc thi rớt Tú Tài rồi gia nhập vào lính Mũ Xanh cho nên Cần Thơ đối với tôi là thế đó. Nhớ đến Bến Ninh Kiều nằm bên giòng sông Hậu gió thổi nhè nhẹ mang theo hơi mát của giòng nước ngọt quanh năm chảy xuôi đến tận Cà Mau ra biển cả. Nhớ đến ngôi trường Phan Thanh Giản của con trai chỉ cách nhau cái dậu mồng tơi hàng rào là ngôi trường con gái Đoàn Thị Điểm, mà có rất nhiều lần tôi muốn sang chơi thăm nàng, không phải tại cái dậu mồng tơi, nhưng ngại ông già gác gian tóm cổ là toi mạng. Nào là vườn ổi, vườn trái cây ở cầu Cái Khế mà tôi đã từng có rất nhiều lần lặn hụp theo con kinh vào vườn để bẻ trộm Xoài, Ổi, Mận, Chôm Chôm v..v... chợ nổi Cái Răng, Phong Điền, với cách buôn bán rất đặc biệt trên những chiếc ghe hay xuồng mà khách đi mua bắt buộc phải đến bằng xuồng hoặc tàu máy... trước mũi ghe treo lủng lẳng loại trái cây gì thì cửa tiệm bán trái cây đó... ôi Cần Thơ!

Ngày N+ của tháng 4 năm 75, thêm một cái tin rất là hấp dẫn ( đối với tôi ) cho rằng " Đảo Chánh " TL sẽ đem SĐ/TQLC về Sàigòn hạ bệ vị Tổng Thống đương nhiệm Nguyển Văn Thiệu, hầu cứu nguy nước mất nhà tan. Thú thật tôi rất thích và vui mừng với cái tin này vì hai lần Đảo Chánh trước kia tôi còn bé, nên chỉ nghe kể lại hay đọc qua sách vở của lịch sử, còn bây giờ thì tôi sẽ là một trong những người lính TQLC trực tiếp hay gián tiếp làm nên lịch sử (?). Hai Tiểu Đoàn TQLC sẽ làm lực lượng chính, một Tiểu Đoàn sẽ làm đơn vị trừ bị cho cuộc Đảo Chánh, còn lại tất cả SĐ/TQLC sẽ ở trong tình trạng báo động 24/24 vừa chống đỡ quân CSBV vừa yểm trợ cho 3 đơn vị Đảo Chánh. Tôi nôn nóng mong đến ngày G để theo TL và SĐ/TQLC tiến về Sài Gòn.

Ngày 12 tháng 4 năm 75, ( nếu trí nhớ tôi không lầm ) hai Lữ Đoàn TQLC di chuyển về căn cứ Long Thành dưới sự chỉ huy của ĐB Tango ( Đại Tá Nguyển Thành Trí. Tư Lệnh Phó Sư Đoàn ) để tăng phái cho Quân Đoàn III, TL ở lại Vũng Tàu với một Lữ Đoàn TQLC. Chuyện TL ở lại Vũng Tàu lúc đó là việc không bình thường, đến bây giờ thì hầu như chúng ta đã biết lý do... như vậy chuyện Đảo Chánh bị kẹt ông bạn Đồng Minh Hoa Kỳ cản trở nên đành không thực hiện được.

7 giờ sáng ngày 28 tháng 4 năm 75, Đại Dương tập họp anh em chúng tôi lại nói sơ qua tình hình rất bi đát hiện tại và anh có nói nếu CSBV chiếm được miền nam thì TL nhứt quyết không đầu hàng, có hai trường hợp xử trí:

1. Là tử thủ ( nếu có thể )
2. Là ra khơi ( vì cửa biển trước mặt )

Chưa biết phải đi đâu? Tất cả anh em chúng tôi đứng im lặng, mỗi người có nghĩ suy riêng trong đầu, riêng tôi thì vẩn còn ám ảnh chuyện Đảo Chánh hay về vùng IV chiến đấu với Tướng Nam đã tiêu tan rồi, đường về quê hương có hàng dừa xanh xa vời quá.

Đại Dương tiếp theo
- Nếu TL ra đi ( ra khơi ) ai muốn đi theo TL thì đứng sang một bên, còn những ai chọn ở lại về với gia đình thì TL sẽ cho trực thăng chở về Căn Cứ Sóng Thần. Trong số đi theo TL có tôi, cho đến bây giờ sau 35 năm tôi vẩn chưa có câu trả lời là tại sao đi theo TL? Có phải do lòng trung kiên (?) mà bỏ mẹ già đơn chiếc ở quê nhà... Cuộc họp bỏ túi xong tôi được lệnh mang máy PRC25 theo trực thăng đưa những anh em chọn ở lại, trên đường bay về căn cứ Sóng Thần nhìn những gương mặt thân thương với nhiều năm tháng chiến đấu bên nhau lòng dạ tôi cảm thấy nao nao buồn... Tr/sĩ Nam, phụ trách ẩm thực cho TL Hạ sĩ Guông người gốc Miên Sóc Trăng, các cận vệ huyền đai đệ tứ đẳng như Tr/sĩ Trương cao 1m90, Tr/sĩ Hoài tây lai đẹp trai, Tr/sĩ Mến gốc người Hoa chợ lớn, hiền như cục đất. Lần chia tay mãi đến bây giờ không một lần gặp lại.

Sáng ngày 29 tháng 4 năm 75, Đại Dương lệnh cho tôi mang máy PRC 25 theo anh bay đến căn cứ Long Thành vì anh sẽ có cuộc gặp mặt với Đại Bàng Tango, trực thăng bay dọc theo quốc lộ để tránh súng phòng không của CSBV, nhìn xuống con đường nhựa trải dài tiếp nối một đoàn người lẫn xe cộ nối đuôi nhau trực chỉ hướng Vũng Tàu giống như cuộc diễn hành đón mừng lễ hội. Rõ ràng là thiên hạ tranh nhau rời bỏ quê hương đất nước rồi. Chỉ có chúng tôi những người lính bình thường, rất bình thường là dửng dưng không nôn nao, tính toán, hay lo sợ mà cả một đời binh nghiệp vỏn vẹn là nhận lệnh và thi hành lệnh để rồi kết cục của cuộc chiến chúng tôi là những người thua thiệt đau đớn, tủi nhục, mất mát nhứt là các anh em thương phế binh, các chị em cô nhi quả phụ còn ở lại quê nhà... Trực thăng đáp xong ĐD có xe đón đến TOC ( trung tâm hành quân ) còn tôi lợi dụng cơ hội này chạy sang vùng đóng quân của TĐTT để thăm bạn bè cùng đơn vị " Gốc " chuyện " Bà Tám " chuyện thời sự rồi cũng phải ngưng vì đã đến giờ chúng tôi phải bay ra VT sau khi ĐD xong buổi họp chớp nhoáng với ĐB Tango. Trên đường bay trở về tôi nhìn sang ĐD thấy gương mặt của anh vẻ đâm chiêu nghĩ suy, thường thì khi bắt gặp nhìn nhau trên chuyến bay, vui hay buồn, khó khăn hay bình thường anh đều cho tôi một nụ cười, cười nhẹ, cười lấy lệ, hay cười để gọi là cười, nhưng chuyến này đã ba lần anh bắt gặp tôi lén nhìn anh mà vẩn với gương mặt lạnh lùng đang suy nghĩ điều gì đó? Chắc là phải có vấn đề? Tôi thầm nghĩ... trong hoàn cảnh này tất cả tin tức đều quan trọng và hấp dẩn đối với tôi! Tôi đã làm nhiệm vụ của một ATV ( âm thoại viên ) hơn 7 năm dài chuyên nghiệp, kỷ cương nghiệp vụ luôn luôn giữ đúng từ khi bước chân khỏi cổng trường truyền tin, mà nhứt là ATV cho vị chỉ huy cao cấp bắt buộc phải:

Thứ 1 Tôi không nghe
Thứ 2 Tôi không thấy
Thứ 3 Tôi không nói

Còn bây giờ giữa cảnh trăng sáng, trăng tối này tôi rất muốn biết để có thể lo lấy thân nếu phải. Nghĩ như vậy cho nên khi trực thăng đáp xuống bản doanh của TL trên đường vào phòng TL tôi đã kéo anh sang một bên và hỏi:
- Xin ĐD cho em biết tình hình thế nào hay có gì xảy ra nên trông anh khác thường?
- Chú hứa giữ kín thì anh nói
- Em xin hứa
ĐD nhìn tôi:
- Anh chuyển lời đề nghị đến ĐB Tango là nếu CSBV vào (chiếm miền Nam) xin ĐB cùng gia đình ra Vũng Tàu di tản với TL.
Tôi tò mò:
- Rồi ông trả lời thế nào ?
ĐD nhìn vào khoảng trời xanh:
- Không. Tôi không đi đâu cả, tôi sẽ về quê vợ ở Long Xuyên.

Sau đó ĐD đi vào trình lên TL. Còn tôi thẩn thờ đến nơi đóng quân của mình mà đầu óc không ngừng nghĩ đến câu trả lời của ĐB Tango: "Tôi sẽ trở về quê vợ ở Long Xuyên". Vâng ĐB Tango đã trở về " mái nhà xưa " sau khi CSBV chiếm trọn miền nam và kèm theo hơn 13 năm tù đày vô cùng khổ cực trong lao tù của cộng sản .

Kính thưa TLP. Là một quân nhân MX nói chung, một ATV nói riêng tôi đã được cái duyên và may mắn làm việc cận kề với các vị chỉ huy cao cấp trong đơn vị: ĐB Khánh Ly ( Tr/Tướng Lê Nguyên Khang TL/SĐ/TQLC) trong thành nội Huế, ĐB. Sông Hương ( Th/tá Sắc TĐT/TĐ3 TQLC ) hành quân vùng Chương Thiện, ĐB Long Mỹ ( Đ/Tá Nguyển thế Lương CĐP/CĐ.B) hành quân vùng Mỷ Tho. ĐB. Sài Gòn ( Đ/Tá Tôn Thất Soạn CĐT/CĐB ) hành quân Năm Căn, U Minh thượng. ĐB Tango ( Đ/Tá Hoàng Tích Thông LĐT/LĐ147) hành quân Lam Sơn 719. Sau cùng là ĐB Lang Sơn ( T/Tướng Bùi Thế Lân TL/SĐ/TQLC ) đối với TLP tôi chỉ có duyên mang máy theo ông vỏn vẹn chỉ hơn 2 giờ trong một lần TLP thay TL đi thăm LĐ 258 trong trận tái chiếm Quảng Trị. Nhưng đối với tôi hình ảnh một TLP/SĐ ngày lẫn đêm ngồi trước phóng đồ hành quân trong TOC không mệt mỏi. Sáng sớm bước vào TOC gặp ngài, trưa vào TOC cũng gặp ngài, chiều vào TOC chắc chắn gặp ngài, tối vào TOC ngài vẫn ngồi đó trên tay điếu thuốc Camel không nói, không nhìn, không cười, chỉ nhìn thẳng vào cái bản đồ hành quân to tướng trước mặt. ( ĐB ơi sao ông không đi nghỉ cho khoẻ cái thân? ) những hình ảnh đó mãi mãi trong ký ức của tôi mỗi khi nghỉ đến người anh Hai của SĐ/TQLC.

Thẩm quyền Cần Thơ ( T/Tá Tô Văn Cấp ) đã viết: "...có những vị bỏ nước ra đi không phải họ hèn nhát, có những vị ở lại không phải họ anh hùng ( họ không đi vì họ không có phương tiện mà đi ) đàng này đối với TLP thì hoàn toàn khác hẳn..."

Sau 35 năm dài có quá nhiều đổi thay. Ba mươi lăm năm cũng đủ để chúng tôi ( Tiểu Cần ) xin được viết ra đây những gì tôi biết, chứng kiến, mà ít ai hân hạnh biết được cho nên câu hỏi cứ đè nặng trong tôi là: Tại sao không nói khi còn cơ hội nói được? Hầu mong rằng cái gì của lịch sử nên trả lại với lịch sử. Còn câu trả lời KHÔNG của ĐB vào một ngày sắp tàn của cuộc chiến tôi xin được Trân Trọng giữ gìn và mãi mãi gọi là "lời từ chối của một vị Chỉ Huy Cao Cấp".

IDIANAPOLIS 9/25/2010


Về Đầu Trang Go down
hoangan
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Thu Mar 20, 2014 8:56 pm


Ngày nầy, năm 1975…





Năm nay tôi 80 tuổi. Vợ tôi thường nói với mấy con: «Ông bà mình nói người già hay sanh tật, đúng quá! Bây coi: ba bây bây giờ sáng nào uống cà phê xong cũng lại đứng trước tấm lịch tháng treo ở phòng khách, nhìn trầm ngâm một chút rồi lấy bút gạch tréo ô vuông đề ngày hôm qua! Chi vậy hổng biết? Hỏi ổng thì ổng nói gạch để nhớ rằng đến ngày nầy tháng nầy mình vẫn còn trôi sông lạc chợ! Trời đất! Định cư ở Pháp từ hơn ba mươi năm chớ phải mới đây đâu mà đi gạch lịch từng ngày! Ổng còn nói gạch để coi chừng nào mình mới thôi gạch để về lại Việt Nam…».

Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nàođó mình vẫn còn sống mà trở về…

Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình: ngày nầy, năm 1975! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ «cái ngày đó» nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già , tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại…

* * *

… Hồi thời trước 75, tôi làm việc cho một hãng dầu ở Việt Nam, phụ trách nhập cảng xăng dầu từ Singapore vào kho dầu Nhà Bè để cung ứng cho thị trường dân sự và quân sự miền nam Việt Nam. Vì trong xứ có giặc nên thị trường quân sự chiếm 60%, trong đó xăng máy bay dẫn đầu.

Các bạn tôi trong quân đội giải thích cho tôi biết rằng ở chiến trường miền Nam sự yểm trợ của không lực là quan trọng nhứt. Do đó, tôi luôn luôn theo dõi sát tình hình dự trữ xăng máy bay ở các kho dầu miền Nam, từ kho Nại Hiên - Đà Nẵng dẫn xuống kho Cần Thơ thông qua kho lớn ở Nhà Bè…

Vào cuối tháng 3 năm 1975, sau lịnh triệt thoái cao nguyên, tình hình quân sự trở nên ồ ạt. Sợ trở tay không kịp, tôi còm-măng Singapore một tàu xăng máy bay. Hay tin nầy, hãng bảo hiểm có hợp đồng với hãng dầu tôi làm việc đánh điện phản đối, không cho tàu dầu qua Việt Nam viện cớ tình hình bất ổn. Đánh điện qua, đánh điện lại, cù cưa cả tuần họ mới bằng lòng cho tàu dầu qua, với điều kiện phải có hộ tống của Navy Mỹ họ mới cho tàu vào sông Sàigòn để cập kho Nhà Bè!

Tôi báo cáo với ban giám đốc vì lúc đó ở kho lớn Nhà Bè trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ có bày ngày tác chiến của không quân.

Ban giám đốc chấp thuận điều kiện của hãng bảo hiểm. Tôi vội vã gọi điện thoại lại cơ quan yểm trợ Mỹ để xin họp khẩn. Ông trưởng sở trả lời: «Tôi sẽ đến ngay văn phòng ông. Cho tôi mười phút! ». Tôi quen ông nầy – tên W, thường được gọi là « Xếp » – nhờ hay đi họp chung.

Ông ta dễ thương nhã nhặn, biết chút đỉnh tiếng Pháp nên lần nào gặp tôi cũng nói: ”Bonjour! çà va?” (Chào ông! Mạnh hả?)

Xếp W đến văn phòng tôi với hai người phụ tá. Tôi đã làm sẵn hồ sơ nên sau khi mời ngồi, tôi trao ngay cho họ để họ dễ theo dõi những gì tôi sẽ trình bày. Mười phút sau, tôi kết luận xin can thiệp gấp để tàu dầu xăng máy bay của hãng tôi được hộ tống, không quên nhắc lại điểm chánh yếu là trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ để chiến đấu trong vòng có bảy bữa!

Nghe xong, Xếp W xin phép bước ra ngoài gọi radio về trung ương. Một lúc sau, ông trở vào, nét mặt và giọng nói vẫn tự nhiên như chẳng có gì quan trọng hết: «Rất tiếc! Chúng tôi không giúp được! Thôi! Chúng tôi về!». Tôi đang nghe nghẹn ngang ở cổ thì ông W vỗ vai tôi nói nhỏ bằng tiếng Pháp: «Allez vous en!» (Ông hãy đi, đi!) Ra đến cửa phòng, ổng ngừng lại nhìn tôi, gật nhẹ đầu một cái như để chào nhưng tôi nghĩ là ổng muốn nhắc lại câu nói cuối cùng ”Allez vous en!” (Ông hãy đi, đi!)…

Tôi ngồi bất động, nghe tức tràn lên cổ vì thấy mình bất lực quá và cũng nghe thương vô cùng cái quê hương nhỏ bé của mình, nhược tiểu đến mức độ mà khi cần nắm tay để kéo đi theo thì «họ» dán… đầy đường cái nhãn «hai bàn tay nắm lấy nhau» để chứng tỏ sự thật tình «khắng khít», rồi khi không còn cần nữa thì cứ tự nhiên buông bỏ không ngượng tay giấu mặt, vì biết mười mươi rằng «thằng nhược tiểu đó không làm gì được mình»!

Tôi ráng kềm xúc động, bước qua phòng họp của ban giám đốc, chỉ nói được có mấy tiếng: «Chánh quyền Mỹ từ chối!».

Sau đó, tôi đánh điện qua Singapore, cũng chỉ bằng một câu: «Không có hộ tống».

Họ trả lời ngay: «OK! Good Luck!» (Nhận được! Chúc may mắn!)

Hai chữ cuối cùng, trong hoàn cảnh nầy và vào thời điểm nầy, nghe sao thật đầy chua xót!

Thấy mới có ba giờ chiều, nhưng không còn lòng dạ đâu để ngồi lại làm việc nên tôi lái xe về nhà. Tôi lái như cái máy, cứ theo lộ trình quen thuộc mà đi. Về đến trước nhà, tôi bỏ xe ngoài ngỏ, đi bộ vô. Vợ tôi chạy ra, ngạc nhiên: « Sao về vậy anh?». Tôi không nói được gì hết, chỉ gục đầu vào vai vợ tôi rồi bật khóc. Vợ tôi chưa biết những gì đã xãy ra nhưng chắc nàng đoán được rằng tôi phải đau khổ lắm mới phát khóc như vậy. Cho nên nàng vừa đưa tay vuốt vuốt lưng tôi vừa nói, giọng đầy cảm xúc: «Ờ… Khóc đi anh! Khóc đi!»

Ngày đó, tháng tư năm 1975… Đúng là ngày nầy!

Tiểu Tử
Về Đầu Trang Go down
vanle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Sun Mar 23, 2014 8:24 am


Tháng Tư Lại Về




Mỗi năm tháng tư về, đúng ngày 30/4 là tôi mua nhang đèn, hoa quả cúng Trời Phật, cúng bàn thờ ông bà, và cúng một mâm cơm để hai má con cùng khấn nguyện tất cả những người lính Việt Nam Cộng Hòa, những người dân đã chết trong những ngày rút quân, di tản của những ngày cuối tháng 4/1975.

Những người lính đã tự sát để không rơi vào tay giặc và những người lính đã không bao giờ trở về với gia đình khi bị bắt đi tù cải tạo, những thuyền nhân trên con thuyền mong manh ra đi để đến được một đất nước tự do nhưng lại không may mắn, mãi mãi họ không đến được bến bờ tự do.

Và ngày 30/4 năm nay, được nghỉ đến 4 ngày vì 30/4 và 1/5 rơi vô thứ bảy và chủ nhật do vậy được nghỉ bù lại thứ hai, thứ ba, những ai đi làm việc đều được thưởng tiền lễ. Sau khi ký tên để nhận tiền là tôi thấy xót xa nước mắt muốn trào ra nhưng phải cố ngăn lại, nhưng tiền thì vẫn phải nhận, đúng vậy vì không có một lý do gì để từ chối nhận tiền cả, vì tôi đang ở Việt Nam mà thôi. Rồi sau đó về nhà ngồi khóc ngon khóc lành, khóc tức tưởi, đầu óc thì như cuốn phim quay chầm chậm trở về quá khứ của ba mươi mấy năm về trước không bao giờ quên, tương lai thì sụp đổ.

Cuộc sống gia đình nghèo ơi là nghèo, đồ đạc trong nhà từ cái nhỏ đến cái lớn đều phải bán từ từ để có tiền mà sống mà người đi mua là những ông bộ đội đến tận nhà để mua, lúc đó đến nhà bạn bè chung lớp nhà nào cũng vậy đi từ trước ra sau trống trơn. Trong gia đình Má tôi khóc, chị em tôi khóc, cả nhà đều khóc, tôi thấy sau 1975, mọi người ai cũng nói chuyện một hồi thì khóc mà người này mà khóc thì người kia cũng xúc động khóc theo và nhà nhà đều đi buôn… lậu rất nhiều thứ. Má tôi thắng tép mỡ, em trai tôi cầm keo mỡ bị rớt bể thế là bị la và đánh, em bị đánh đau khóc. Má đánh con xong cũng khóc và xin lỗi em tôi, lúc đó mà ăn cơm với tép mỡ chan nước mắm hay nước tương thì ngon ơi là ngon, khoai mì, khoai lang là bạn của chúng tôi.

Thương nhất là em trai út còn quá nhỏ chưa hưởng được sung sướng, thì bây giờ đã quá khổ rồi, bị ghẻ ngứa nhưng không đi được bệnh viện vì giấy giới thiệu của trạm y tế đưa lên phường bị ách lại vì là con của sĩ quan Ngụy dù đã mất vì bệnh, nên má tôi phải lấy muối pha với nước rửa cho em tôi mỗi ngày rồi dùng cây thuốc cá xức thời gian sau cũng hết. Thực tình mà nói thì tôi dở lắm, dù là chị lớn trong gia đình, Má tôi đi buôn cùng với hai trai kế, còn tôi ở nhà nấu cơm giữ hai em nhỏ, làm công việc nhà và có bổn phận đi mua gạo và nhu yếu phẩm theo sổ mua hàng. Tội nghiệp hai em trai 11, 12 đi học một buổi, một buổi đi mua bán với Má, đúng là cuộc sống từ trên trời rơi xuống vực thẳm với tương lai là một màu đen.

Khi học xong ra trường, đến phòng tổ chức cán bộ để nộp hồ sơ, sau khi ông trưởng phòng coi qua hồ sơ lý lịch hỏi tôi: có tính tìm đường vượt biên không? Đi học ra trường làm việc với lý lịch bây giờ vẫn vậy nằm trong một cái tủ đựng hồ sơ trên phòng tổ chức cán bộ là con của sĩ quan ngụy đã mất vì bệnh đã cùng với tôi đến hôm nay và mãi về sau, nhưng tôi cũng chẳng cần địa vị, hay một cái học bổng du học vì bắt buộc phải là đảng viên (không nói tới những người đi du học tự túc, nói thẳng ra cũng chính là con em cán bộ đã có những đồng tiền không do mồ hôi công sức của cha mẹ họ đổ ra là mà vơ vét tham nhũng, hối lộ).

Nhưng bù lại hôm nay, tôi còn có các em sinh viên mà tôi hướng dẫn làm luận văn tốt nghiệp đại học, đã cùng tôi đi thu mẫu ngoài ruộng, ngoài đồng để đem về làm thí nghiệm, rồi các thí nghiệm nhà lưới, phòng thí nghiệm, rồi sửa từng trang luận văn của các em cho kịp ngày báo cáo tốt nghiệp, trong khi các em báo cáo trước hội đồng, các em lo một thì chính tôi lại lo tới mười, sợ các em báo cáo không thành công, trả lời những câu hỏi của hội đồng không được, đến nỗi tôi ngủ cũng không được cứ thao thức rồi lại ra bàn ngồi ghi lại những gì trong luận văn còn thiếu để sáng ngày mai vô đưa cho các em, đúng là khổ sở thật đó. Tôi không bao giờ cho các em sửa số liệu thí nghiệm, bằng lòng số liệu xấu, thì khi báo cáo lý do tại sao số liệu không đạt, có những thí nghiệm khi các em không làm được thì chính tôi phải làm, phải coi lại tài liệu tại sao như vậy, phải hỏi lại thầy cô, rồi tôi chỉ dẫn các em làm lại. Rồi các em ra trường, vui là các em vẫn luôn nhớ đến tôi, nhớ đến thầy cô. Email, điện thoại di động, nhắn tin chúc mừng các ngày lễ, tết nhiều câu chúc đọc lên phải cười thôi.

Công việc nguyên một ngày, về đến nhà phải bỏ nó lại ở phòng làm việc, để làm công việc ở nhà, nhưng đến khi ngủ thì ôi thôi công vịêc trong ngày lại hiện ra thế là trằn trọc không ngủ được, chị bạn kêu tôi phải niệm Phật cho dễ ngủ. Tôi nhớ thời đi học sau dễ ngủ ghê, thi học kỳ phải thức khuya để học bài mới kịp vậy là tôi cũng uống cà phê như mọi người để thức học bài thi, nhưng bạn tôi thì thức học bài còn tôi thì vẫn cứ ngủ ngon lành không thức nổi. Bây giờ thì ngược lại 180 độ, chắc càng già càng ngủ ít lại chứ gì.

Tôi hướng dẫn các em không bao giờ cho sửa số liệu thí nghiệm, số liệu xấu, thì khi báo cáo lý do tại sao số liệu không đạt, có những thí nghiệm khi các em không làm được thì chính tôi phải làm, phải coi lại tài liệu tại sao như vậy, phải hỏi lại thầy cô, rồi tôi chỉ dẫn các em làm lại.

Bao năm tháng trôi qua, ngày ngày cứ hai buổi đi làm việc, hối hả, lo toan… tài liệu, sách vỡ, bài viết, luận văn, nghiên cứu… dần dần không thể thiếu được trong tôi, nhiều hôm đánh máy bài, nhìn đồng hồ đã 8 giờ tối, lo chạy về nhà cho nhanh, nên phải cảm ơn Má đã lo việc nhà dùm cho tôi để tôi có thời gian trong công việc. nhưng nếu nói vậy thì cũng không đúng lắm, vẫn có những lúc bạn bè trong bộ môn cùng nhau đi chơi, đi hát karaoke nữa chớ bộ, hát toàn những bài hát cũ, nhiều bạn hát hay lắm, còn tôi chỉ là người thưởng thức thôi.

Đã ba mươi mấy năm nay từ đi học đến đi làm việc không bao giờ tôi chào cờ cả, tôi không thích thì tôi không làm, không tham gia văn nghệ, khoảng đóng tiền cho bà mẹ VN anh hùng thì tôi đã nói với chị công đoàn là tôi không đóng vì lương tôi còn không đủ nuôi Má tôi thì tại sao tôi phải đóng góp để nuôi mấy bà mẹ này. Cái khoảng này nên cho nó qua phần tự nguyện ai muốn đóng thì cứ đóng đi. Tôi thấy khoảng đóng góp này phải là của mấy ông ngày xưa nằm hầm, ăn ở nhà mấy bà mẹ này mới đúng chớ tại sao lại bắt buộc mọi người phải đóng góp, vô lý thật. Nhưng bên cạnh đó tôi lại hoàn toàn đồng ý đóng quỹ khuyến học cho học sinh nghèo cái này thì thiết thực đây, nhưng đến tay các em học sinh thì còn được bao nhiêu, cái này thì phải hỏi lại, mà biết hỏi ai bây giờ.

Nhưng khi nói về xã hội, mặt đạo đức thì thật sự đạo đức không còn nữa, tôi nhớ những năm sau 1975, những gì xấu xa thì họ nói đó là tàn dư của Mỹ Ngụy, giờ đây đã ba mươi mấy năm rồi cái xã hội này còn tệ gấp trăm lần thế nữa thì đó là tàn dư của ai đây hả? Bây giờ mà nói ra thì không biết bao nhiêu cho đủ, thôi đành phải để dịp khác nhé. Theo như có câu nói của một người nào đó: xã hội bây giờ đầy rẩy cái xấu, đi đâu cũng gặp, nhan nhản trước mặt, do vậy theo thời gian trôi qua đã trở thành bình thường với tất cả mọi người đang ở trong nước.

Và tôi cũng đang sống trong một xã hội như vậy tại quê hương Việt Nam tôi. Sống trong hôm nay, nhưng luôn nhớ về quá khứ êm đẹp, còn tương lai thì…

Kim Diệu

Về Đầu Trang Go down
levan
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Mon Mar 24, 2014 1:48 pm


Tháng Tư Viết Về Ngừơi Lính Việt Nam Cộng Hòa


Tôn Nữ Hoàng Hoa




Tôi hơi bỡ ngỡ khi nghe tiếng một người đàn bà hỏi có phải là chị Hoa không trong một tiệm tạp hóa Việt Nam. Tôi cừơi chào lại bà ta trong trạng thái ngại ngùng. Như đoán ra cái tuổi đang đi vào "con đường đời sắp lãng" của tôi, bà ta nhỏ nhẹ giới thiệu: " Chị Hoa, tui là vợ của anh Duy chị quên rồi hả?". Anh Duy tôi tự hỏi không biết anh Duy nào nhưng vẫn làm như ta đây còn ngờ ngợ. Có ai ở vào hoàn cảnh này thì sẽ cảm thông cho tôi: tội vô cùng. Bà ta lại nhắc nhở chị không nhớ anh Duy hả. Trời! chị có nhớ anh lính đi trong đêm để đem lá Cờ Vàng Về Dựng Lại Trên Quê Hương VN trong cái show của chị năm nào đã diễn tại Orlando, Florida.

Tới đây thì tôi nhớ ra anh Duy ngay. Trời! tôi ôm lấy chị Duy nghẹn ngào vì hình như tóc chị đã trắng cả mái đầu. Tôi hỏi: “Anh Duy đâu sao không đi với chị?“. Gịong chị Duy bỗng chùng xuống như tiếng kèn đồng thê lương của một bài nhạc jazz vừa chấm dứt "Anh Duy mất rồi chị ạ".

Năm 1994 tôi được hảng IBM Global tuyển chọn vào chức vụ Chuyên viên điện toán tại Florida. Trong khoảng thời gian này chúng tôi có hình thành một Tổ Chức Ủy Ban Quốc Gia Cựu Chiến Binh Sự Vụ trên mục tiêu vinh danh Ngừơi Lính VNCH vừa mới đến Vùng Đất Tự Do sau bao nhiêu năm bị tù đày khắc nghiệt với bọn Việt cộng và đồng thời cũng vinh danh Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ đã chiến đấu tại VN

Trong buổi Vinh Danh Ngừơi Lính VNCH tại Orlando trong năm 1995 chúng tôi có trình diễn một hoạt cảnh những Người Lính VNCH Về Dựng Lại Cờ Vàng Trên Quê Hương VN.

Mở đầu tất cả đèn trong hội trường tắt lịm, và tiếng trực thăng ầm ầm lên cao. Kỷ thuật này do ông Bud Kowalewsky, một cựu chiến binh Hoa Kỳ ở Philadelphia bay đến Orlando phụ trách.

Tiếng trực thăng vang động khắp hội trường trong khi đó bóng dáng của 5 anh Lính VNCH trong thế tiến lên đi trong bóng tối nhá nhem của hội trường. Tôi nhớ đi đầu là anh Tuấn sau đó có anh Duy và ông Dựt. Trên tư thế chen vai với bóng tối trong đêm để tìm lá cờ Vàng hơn một lần bị bỏ lại quê hương khi cộng quân từ miền Bắc tràn vào. Những anh Lính VNCH đã gan dạ tìm lại lá cờ Vàng để về dựng lại trên quê hương VN. Anh Tuấn trong khi tung lá cờ lên cao, thì đèn bật sáng cả hội trường như chan hòa giòng nứơc mắt trong xúc cảm của người tham dự.

Trong buổi tổ chức này có Cố Tướng Homes Smith tham dự và khi Tướng Homes Smith thấy lá Cờ Vàng tung lên cao tôi đã thấy mắt ông Tướng cũng rưng rưng ngấn lệ.

Tướng Homes Smith là người chỉ huy cơ quan DAO compound(Defense Attaché Office compound) và là người Mỹ cuối cùng ra khỏi Việt Nam. Ông đã từng nói về sự sụp đổ của chính phủ Sài gòn đã mãi mãi là một giấc ngủ không yên của ông trong suốt cuộc đời còn lại. Tứơng Homes Smith là Cố Vấn của Ủy Ban Quốc Gia Cựu Chiến Binh Sự Vụ và ông đã tận tình yễm trợ mọi sinh hoạt của chúng tôi từ Tổ Chức Cựu Chiến Binh cho tới sinh hoạt của Cộng Đồng VN tại Hoa Kỳ.

Ông mất ngày 6 tháng 3 năm 2011 tại San Antonio Texas, hưởng thọ 89 tuổi.

Anh Duy cũng qua đời cùng năm với Tướng Homes Smith và đang an nghỉ tại Nghĩa Trang Mission Hills tại Florida. Những người thân đã lần lượt ra đi. Khoảng cách không gian và thời gian chỉ còn lại là ngọn đồi thoai thoải dưới những chùm mây trắng lơ lững đuổi nhau về.

Tôi mời chị Duy vào tiệm Phở An Hòa gần đó. Chị Duy nghẹn ngào kể lại những ngày tháng cuối cùng của anh Duy. Anh vẫn ôm những khắc khoải trong đêm về một quê hương mà anh đã từng đổ máu, đổ nước mắt khóc đồng đội ra đi vào lòng đất trên sự lừa bịp dối trá của cả bạn lẫn thù.

Chị Duy bảo rằng anh thường nói nếu ngừơi Lính VNCH hiểu được họ bị đồng minh bỏ rơi, bị những tên gian manh chính trị bức tử hào khí của anh em quân Đội VNCH thì họ đã không chấp nhận lịnh buông súng và nhất quyết tử sinh với bọn cộng quân Bắc Việt.

Mười ba năm tù trong chốn đèo heo hút gió anh vẫn ngậm cừơi trước sự độc ác dã man của bọn quỷ VC đội lốt ngừơi.

Khi anh đến định cư tại Florida anh vẫn mang trong tâm hồn nỗi khắc khoải của người Lính VNCH. Cuộc chiến sang trang nhưng hào khí của một quân nhân VNCH vẫn bừng bừng trong anh.

Anh tham gia những buổi duyệt binh cùng anh em cựu chiến binh Hoa Kỳ tại Cocoa Beach. Tay anh vẫn rắn chắc mang lá Quốc Kỳ VNCH đi giữa các chiến binh Hoa Kỳ. Anh ít nói, ít khi tham dự vào những chuyện tranh chấp ruồi bu. Nhưng khi anh lên tiếng, tiếng nói của anh rất có trọng lượng. Tuy không còn là của năm tháng trên chiến trận đạn bom nhưng hào khí hiên ngang của anh trên vầng trán cao và thẳng đã làm ngừơi ta có sự kính nể.

Chị Duy trong lời tâm sự về những ngày tháng sau cùng của anh Duy như rưng rưng miềm uất nghẹn. 18 năm chung sống sau ngày anh trở về từ ngục tù cộng sản. Bây giờ chị không còn chi nữa hết ngoài tiếng nói vang vọng yêu thương của chồng trên từng ý nghĩ. Không còn không có nghĩa là mất. Sự biến chuyển ngoại giới không quan trọng bằng chuyển biến tâm cảm của mình. Từ thủa nào chị hiểu ra niềm đau hào hùng và bi tráng của chồng.

Chị không còn ý niệm không còn ấy nữa để buông xuôi sầu thảm. Bởi chị vẫn còn đây trên cái nguyên vẹn của hữu thể đầy lưu niệm về cái không còn nữa kia. Vì thế, trên cõi đời còn lại, trên bước chuyển tiếp sau cùng của kiếp người chị, chị tiếp tục hoàn tất nguyện vọng của chồng. Tiếp tục dạy cho con chị hiểu vì sao chúng ta có mặt nơi quê người, nói cho con nghe về những thảm họa đang tiếp tục xảy ra cho đồng bào VN tại nơi quê nhà do csVN gây ra.

Chị không muốn vì sự ra đi vĩnh viễn của chồng mà chán bỏ sự sống còn lại. Chị phải thay chồng chuyễn đạt đến con, cái thanh danh của Ngừơi Lính VNCH từ bản thể của từng định mệnh trong cuộc chiến xâm lăng của giặc Cộng miền Bắc tràn vào.

Người Lính VNCH đi vào cuộc chiến đấu trong cuộc chiến VN do VC gây ra, không nhân danh một chủ nghĩa nào mà họ chỉ chiến đấu vì bảo vệ dân tộc VN không sa vào hiễm họa cs. Họ bước ra từ lòng dân tộc và chiến đấu vì dân tộc. Họ không vì một điều kiện nào mà phải đầu hàng, họ bị bắt buột buông súng. Vì thế, cho dù mang kiếp lưu vong họ không thể mang cái định danh đó mà xóa bỏ hết sự hiện hữu của cuộc đời, tên tuổi và tư thế cùng những hệ lụy oai hùng chống chủ nghĩa cs xâm lăng. Có lẽ nào vì sự xảo trá lừa bịp của cả bạn lẫn thù mà họ phải đổ vỡ cả một trang sử đấu tranh có hàng triệu hơi thở đã tan trong lòng đất Việt để nhập mình vào hồn thiêng sông núi thiên thu.

Những Ngừơi Lính VNCH vẫn còn đây. Bao nhiêu phẫn hận của họ đã qua rồi. Bao nhiêu mất mát cũng tan trôi nhưng tiếng gọi Ngừơi Lính VNCH vẫn còn đó và cho dù những ngừơi Lính năm xưa đang đi vào tuổi đời bóng xế nhưng họ không bao giờ chết trên dòng lịch sử VN.

Tôi giã từ chị Duy và hứa sẽ đến thăm chị thường xuyên. Tôi nghĩ đến mộ phần của anh Duy dưới mái trời của xứ lạ. Nhưng ở đây mộ phần của anh sẽ không bị bọn cs lưu manh đang dã man xóa bỏ. Cho dù ai nghĩ gì thì hành động Xóa Bỏ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là một hành động sợ hãi của bọn ngừơi bá đạo. Bởi sự chiến đấu oai hùng của Quân Lực VNCH đã được thế giới công nhận là một cuộc chiến đấu của chính nghĩa với hàng triệu hùng binh can trừơng đảm lược. Những địa danh Khe Sanh, Hạ Lào, An Lộc, Cổ Thành, Đông Hà Người Lính VNCH đã hơn nhiều lần làm bạt vía quân thù.

Bởi vì, Quân Lực VNCH đã chiến đấu có chính nghĩa tức là bọn VC và Bộ Đội Nhân Dân của chúng toàn là phường bá đạo. Do đó chúng phải xóa bỏ nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa và đó cũng chính là âm mưu của bọn VC muốn xóa bỏ trang sử oai hùng của Ngừơi Lính VNCH trên dòng lịch sử Việt Nam.

Tôi thường nghe nhiều anh Lính VNCH ôm hoài trăn trở trong đêm như bọt biển lao xao dưới vòm trời mênh mông biển cả. Họ thường hỏi họ đi tìm gì trên chuyến đổi đời hôm nay trên một trạm nghỉ của một cuộc hành trình cuối. Phần đông họ mang tâm trạng buông xuôi bởi những tốc độ mãi mê hào hùng đầu đời đã theo cuộc hành trình hiện tại này như đang tuột thẳng xuống đáy vực tương lai.

Tôi không dám phê bình trên những lời tâm sự đó nhưng tôi chắc chắn rằng sự hiện diện của Ngừơi Lính VNCH tại khắp nơi trên dặm dài của thế giới sẽ mãi mãi làm trang sử của Quân Lực VNCH đời đời sống dậy và Người Lính VNCH sẽ không bao giờ chết trên dòng lịch sử Việt Nam.

Tôn Nữ Hoàng Hoa




.

Về Đầu Trang Go down
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Tue Mar 25, 2014 10:52 pm


Hồn Tử Sĩ


Trần Mộng Tú

 

Gửi đến vong linh cố Thiếu Tá BĐQ Trần Đình Tự cùng 12 chiến sĩ BĐQ của TĐ 38 bị VC giết tập thể ngày 30/4/75 tại Củ Chi.


Mấy hôm nay, ngày nào người đàn ông cũng thức dậy rất sớm, ông rón rén ra khỏi gian buồng bé nhỏ của mình, băng qua cái sân, lén mình lách qua cánh cổng chùa khi cả nhà sư và mái chùa còn yên ngủ trong sương sớm. Ông lặng lẽ như một chiếc bóng đi bộ ra bến xe đò. Bến xe còn vắng người, ông tìm một cái xe có nhiều chỗ, rồi tự mở cửa vào kiếm cho mình một chỗ ở chiếc ghế cuối cùng, ông hy vọng ông chẳng lấy chỗ của ai. Ông sẽ đứng nép vào một góc nào đó nếu có ai cần ghế.

Từ chỗ ông ở tới nơi ông muốn đến có 30 cây số, đường không xa lắm, sau đó nếu kiếm được một anh xe ôm không có khách cùng đi về hướng đó, ông sẽ nhẩy lên yên sau lưng anh, ông nhẹ lắm, anh ta sẽ không cảm thấy gì đâu, sẽ cho ông quá giang đoạn đường còn lại. Để đến địa điểm đó cũng phải đi thêm khoảng 20 cây số nữa. Con đường này ông quen thuộc lắm rồi. Hàng năm cứ đến ngày 30 tháng 4 ông và mười hai (12) người chiến sĩ đồng đội rủ nhau tìm về đây.

Ba bốn hôm nay rồi, thằng bé nhà ông nó cũng vật vờ hồn xác theo đám người đi về cái hướng này. Cái thằng lúc ông đi xa nó mới 16 tháng tuổi mà sao bây giờ nó lớn thế. Ông thở dài, thời gian nhanh quá, ông không nhận nổi ngay chính con mình, làm sao nó nhận ra ông được, vì nó chỉ biết ông qua mấy tấm hình ngày cũ.

Ông không nỡ để con đi một mình, nên ngày nào ông cũng đi theo nó. Hôm nay họ bắt tay vào việc bốc mộ mười hai chiến sĩ Biệt Động Quân của Tiểu Đoàn 38, nên ông phải ra khỏi chùa thật sớm, đi cho kịp.

Ông đứng khá xa đám người đang xúm lại chung quanh mô đất. Chẳng ai chú ý đến ông, họ còn bận công việc của họ. Buổi trưa đã đứng bóng, nắng chiếu xuống cánh đồng cỏ, tiếng cuốc bổ xuống đất thong thả như tiếng cầu kinh, mấy cây nhang đã tàn nhưng trong không gian còn vương vấn một chút hương thơm thoang thoảng.

Người đàn ông tiến gần thêm chút nữa, ông đứng chen cả vào với đám người, vừa phu đào đất vừa thân nhân của người đi bốc mộ, nhưng họ vẫn chẳng để ý đến ông, ông khom người xuống nhìn mấy người đào huyệt đang mang lên từng thứ một. Lóng xương này ư? Ông chịu không đoán ra được của ai, mặc dù trước đây ông vào sống ra chết với họ. Xương da họ đã mục nát vào với đất bùn, thế mà nhìn kìa, tấm thẻ bài, nhìn kìa, mấy tờ Chứng Minh Thư quân đội bọc ni-lông thì hãy còn nguyên. Cái căn cước của người lính VNCH không hề mục nát với thời gian. Sợi giây trói oan nghiệt làm chứng tích cho tất cả sự dã man, tàn bạo, vô nhân đạo của chiến tranh là có thật, sợi giây vẫn còn cả cái mầu xanh của nó. Ông chợt nghĩ cái mầu xanh đó, khi được chôn xuống đất cùng với những chiến sĩ thì ước gì nó trở thành một giải mây xanh vắt ngang thân họ cho họ được an ủi phần nào.



Hồn tử sĩ gió ù ù thổi. Câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc bỗng như bật lên từlòng huyệt. Ông thấy đau nhói trong lồng ngực. Ông nhớ là ông đã đến đây, đã chứng kiến những người lính cùng đơn vị của ông bị xử tử nơi này. Họ đã ngã xuống như những thân cây bị đốn trong rừng, thân xác họ chồng lên nhau. Đất bên mương chôn hờ một nắm. Ông đã giang tay ôm họ vào lòng. Ông đã khóc, nước mắt ông đã nhỏ xuống huyệt này trong ngày đó. Hôm nay, ông cũng giang tay ra ôm đứa con ông vào lòng khi thấy nó cùng tham dự vào việc bốc mộ cho 12 người chiến sĩ vị quốc vong thân này. Ôi cũng chính cái hố này, vợ ông cũng đến tìm ông mà không gặp. Nước mắt ông lại đầm đìa.

Ông còn nhớ như in trong đầu mình cuộc rút quân từ Tây Ninh về. Bốn mươi chiến sĩ mang hết hồn xác ra vừa đánh vừa rút quân cho đến viên đạn cuối cùng và chỉ còn lại 13 người kể cả ông. Con số 13 vô cùng nghiệt ngã. Tiếng súng nổ, tiếng đạn bay xoáy trong không gian vẫn như còn đang rung lên trong óc ông. Ôi ông còn óc không nhỉ? Ông nhớ, chao ôi là nhớ! Những khuôn mặt phờ phạc căng thẳng nhưng đầy dũng cảm của đồng đội. Là cấp chỉ huy ông đã chọn một lối ứng xử đầy phẩm giá của một sĩ quan Biệt Động Quân và chúng đã lôi ông đi thật xa đồng đội và xử ông cách riêng. Ông đã được xử không bằng chỉ một viên đạn, vì hình như một viên đạn chưa đủ uy lực để “Giải Phóng” một sĩ quan Biệt Động Quân của quân lực VNCH.

Ông nhớ, chao ôi là nhớ! Một ngày sau ông đã quay lại nơi này, đã chứng kiến những người chiến sĩ bị đốn như cây đổ trong rừng. Những chiến sĩ, đồng đội của ông, máu của họ đã chan hòa thấm vào lòng đất mẹ. Ông giang tay ra, ôm tất cả vào lòng. Họ và ông lúc đó đã thành những khối tinh thể không tan biến.

Mấy hôm nay những vong linh của các chiến sĩ này đã tìm đến chùa gặp ông, họ đang xúc động mạnh vì biết là những mảnh xương chưa tan biến hết của họ sắp được đào lên và chuyển đi nơi khác.

Ông đứng im lặng nhìn đám người đang vây quanh công việc bốc mộ: Những người dân tò mò đứng nhìn, những người phu đào huyệt, thân nhân của một gia đình, con trai ông, vị ni cô nữa. Tất cả mỗi người mang một cảm xúc khác nhau, nhưng cùng giống nhau ở một điểm là họ mong mỏi cho những lóng xương oan khốc này, được vào một chốn êm ấm hơn nhưtrong thánh đường hay một ngôi chùa nào đó nếu không có thân nhân nhận mang về nhà.

A, họ đã đến kia rồi. Cả 12 chiến sĩ đều có mặt, cộng thêm ông nữa là đủ con số 13 oan khốc. Họ đứng sát vào ông, cùng cúi xuống lòng huyệt, nhìn những người làm công việc bốc mộ, xong họ lại nhìn nhau. Ông hiểu lắm, họ cảm động vì lòng xót thương, tình gia đình, tình đồng loại, của người cùng chung một chí hướng một đời sống trước đây. Nhưng hình như họ không muốn bị tách ra khỏi nhau và mang ra khỏi đất. Máu họ đã thấm chung vào nhau, xương họ đã chồng lên nhau, không còn phân biệt được lóng xương này, mẩu xương kia của ai nữa, cả những sợi giây trói họ vào với nhau, họ cũng không muốn được tháo ra. Họ muốn tất cả hãy cứ như thế, như thế mãi, như từ ngày 30 tháng tư, 1975, như cái phút giây oan nghiệt bắn đi nốt viên đạn cuối cùng về phía địch cũng là kết thúc đời mình. Thân xác họ đã chôn chung một huyệt, hồn thiêng họ đã quyện thành một khối, họ không muốn tách rời ra nữa.

Trên mảnh đất này họ đã hy sinh đời sống cá nhân họ, gia đình họ. Họ sống cho đất và chết về với đất. Họ không muốn nắm xương khô bị mang đi, rời xa quê mình. Dù là nấm mồ vô chủ bênđường, nhưng vẫn là đất mẹ.

Ông giang tay ôm những chiến hữu của mình vào lòng, trong không gian rất mong manh và linh thiêng này cả mười ba linh hồn đã thành một. Họ hiểu hơn ai hết là xương thịt sau khi chết đi chỉ là những vật vô tri, cái còn lại là những mảnh hồn kết tinh tìm đến với nhau.

Những người bốc mộ đã hoàn tất công việc, họ hỏa thiêu những lóng xương cùng với những di vật họ gom lại được dưới bùn đất. Phần tro than này sẽ được đem vào gửi nhờ trong một ngôi giáo đường, chờ thân nhân đến mang về. Cái hố oan khiên đó lại được lấp xuống như nó chưa từng được đào lên.

Ông biết chắc, dù nấm mộ bây giờ đã được san bằng, mai kia mốt nọ chẳng còn vết tích gì để lại nhưng ông và những chiến sĩ này, sẽ vẫn mỗi năm vào ngày 30 tháng 4, sẽ lại rủ nhau đến đây, đến ngôi trường tiểu học trong cái xã Trung Lập này để nhìn lại nơi họ đã tử thủ đến viên đạn cuối cùng và sẽ cùng nhau ra nhìn nắm mộ đã san bằng bên bờ mương, nơi họ đã nằm chồng lên nhau hòa chung xương thịt.

Mọi người đã lên xe ra về đem theo tàn tro của xương cốt. Chỉ còn mười ba mảnh hồn kết thành một khối bay bay trong vùng không gian huyễn hoặc, la đà trên huyệt mộ vừa lấp, đất chưa khô.

Trần Mộng Tú

Viết sau khi đọc bài của cháu Trần Đình Thế về cái chết của Bố và việc bốc nấm mộ tập thể (Tháng 9/2011) của 12 chiến sĩ BĐQ bị hạ sát trong ngày 30 tháng 4/1975.


.
Về Đầu Trang Go down
tranvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Fri Mar 28, 2014 8:38 am


Hồi Ký: Ngày tàn của cuộc chiến




(Trích Ðặc san Nguyễn Khoa Nam. Tiểu đề do tòa soạn đặt)

LTS: Tác giả bài dưới đây, Ðại tá Lê Nguyên Bình, là một chiến hữu nguyên là sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của cố Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam. Ở phương vị này, Ðại tá Bình đã có dịp được chứng kiến nhiều sự kiện đã xảy ra trong và ngoài khuôn viên của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV trong ngày cuối cùng của cuộc chiến đấu cho tự do.

Ðọc những lời tường thuật của một nhân chứng trong cuộc, và đặc biệt những lời tường thuật chưa hề được tiết lộ trên báo chí, người đọc, nhất là những cựu quân nhân chúng ta, không khỏi bồi hồi, xúc động nghĩ rằng chúng ta đã có những vị tướng, tá như thế mà đành phải thất trận, không cứu vãn nổi tự do thì âu cũng là tại lòng Trời còn muốn đày đọa dân Việt vậy.

Những tràng đại liên chính xác từ bốn chiếc trực thăng võ trang thuộc Sư đoàn 4 Không quân đổ trên đầu toán tuần thám thuộc Trung đoàn Cộng Sản D1 miền Tây Nam Bộ, đang vượt kinh Thác Lác với ý đồ mở đường cho Trung đoàn này xâm nhập vòng đai Alpha bao quanh thị trấn Cần Thơ và phi trường Trà Nóc. Tiếng gào thét rợn trời, từng xác người tung lên khỏi mặt nước như xé tan bầu trời, sau đó trả lại cho màn đêm dần dần phủ kín lớp sông dài.

Ðội hình hàng dọc các đơn vị thuộc Trung đoàn D1 được lệnh phân tán tại chỗ, chờ động tĩnh. Những bóng đen xì với những chiếc nón tre bọc lưới, ẩn hiện nhấp nhô như những bóng ma sau đám cây, những bụi chun bàu. Dưới sông, đám bèo tây vẫn lững lờ vô tình trôi, cuốn theo vài xác chết.

Thời gian trôi qua khoảng chừng tàn một nén nhang, Thủ trưởng Trung đoàn ra lệnh toàn bộ vượt sông với hàng trăm ghe xuồng lớn nhỏ đã được bố trí từ buổi sáng. Tiếng đập của mái chèo khua nước dồn dập như cố thúc đẩy những con thuyền gia tăng tốc độ chóng qua bờ. Tiếng người xì xào nho nhỏ pha trộn hai giọng Bắc và Nam tạo nên nhưng âm thanh kỳ lạ, bí ẩn. Cuộc vượt sông tưởng như diễn tiến tốt đẹp.

Ðột nhiên, những "coup départ" khai pháo từ phi trường Bình Thủy, từ Tiểu đoàn 21 Bộ binh ở Vị Thanh, từ các pháo đội địa phương Rạch Gỏi, Cầu Nhím, Phong Ðiền như xé bầu không khí nổ tới tấp theo tuyến vượt sông, dọc theo hai bờ kinh, mưa trên đầu các đơn vị từ tiền phong tới hậu tập.

Tiếng người xô đẩy chạy ngược xuôi, khi hàng ngũ rối loạn. Cuộc tiến quân bất thành vì bị bại lộ. Trung đoàn D1 bị cắt làm hai, phải phân tán vào các thôn xóm lân cận hai bên bờ sông.
Yên lặng lại trở về trong màn đêm cho miền Tây hiền hòa. Bấy giờ là vào khoảng thượng tuần tháng Tư năm 1975.

Tôi ngồi trước bản đồ Quân khu IV. Màu đỏ chỉ những vị trí của Việt Cộng, tạo thành một vòng đai bao quanh các thị trấn Quân khu 4. Ðúng theo nghị quyết số 14 của Trung Ương Cục Miền Nam, Cộng Sản bỏ nông thôn tiến về thành thị theo kế hoạch thanh toán toàn miền Nam theo chỉ thị của Trung Ương Ðảng Cộng Sản. Màu xanh trên bản đồ chỉ những vị trí của các đơn vị bạn được tái phối trí chặt chẽ hơn. Sư đoàn 21 phụ trách việc bảo vệ vòng đai Alpha, từ phi trường Bình Thủy tiếp nối liên tỉnh lộ Cần Thơ Chương Thiện. Sư đoàn 9 trải quân trấn giữ con lộ huyết mạch của Quân đoàn 4, từ phà Mỹ Thuận đến ngã ba Trung Lương. Sư đoàn 7 Bộ binh, đơn vị lừng danh của QLVNCH đã từng xóa bỏ Sư đoàn 5 và 9 của cộng sản giữ ải địa đầu của Quân khu 4, đoạn vòng cung từ Chợ Thày Yên, Bến Tranh đến ranh tỉnh Long An.

Lập căn cứ ở Quân khu 4?

Trong thời gian này, tại Cần Thơ, Bộ Tư Lệnh Quân khu 4 và Quân đoàn 4 đã đặt nỗ lực vào việc xây cất nhiều địa ốc thật kiên cố, chuẩn bị cho Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Lực và các đơn vị bạn, khi cần, có thể rút về giữ tuyến cuối cùng bảo vệ đất nước. Tình hình chung lúc ấy là, sau cuộc rút lui của Quân khu 2, kế tiếp là Quân khu 1, vòng đai của Quân khu 3 bảo vệ Thủ đô Sài Gòn dần dần bị thu hẹp. Vì những rối loạn chính trị đương thời tại thủ đô, vì Quân khu 3 thiếu yếu tố địa thế hiểm trở, chắc chắn việc tử thủ tại thủ đô sẽ gây ra nhiều tổn thất cho quân lực và dân chúng. Tôi liên tưởng tới sự thành công của cuộc phòng thủ Quân khu 4, mảnh đất cuối cùng của đất nước.

Với vị trí thiên nhiên của sông Tiền Giang cắt ngang miền Nam, với địa thế sình lầy của vùng Ðồng Tháp có thể làm giảm thiểu tốc độ chuyển quân của địch, sự di chuyển của chiến xa và trọng pháo sẽ bị trở ngại. Với sự tồn tại của toàn bộ các thị trấn, chưa nơi nào lọt vào tay địch; với các căn cứ Không quân và Hải quân vẫn còn nguyên vẹn dùng làm căn cứ cho các lực lượng liên hệ từ các quân khu khác rút về. Với ba Sư đoàn Bộ binh, cộng thêm gần nửa triệu Ðịa phương và Nghĩa quân, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể chống cự một thời gian chờ cơn sốt chánh trị gây rối loạn và hoang mang trong hàng ngũ qua đi, chúng ta sẽ tìm thế phản công trong tương lai, chiếm lại phần đất nước đã bị mất. Tôi nghĩ đến gương của nước người, nước Trung Hoa vĩ đại của Tưởng Giới Thạch với hàng triệu binh sĩ, đã không đánh mà tan, phải bỏ chạy trước đạo quân của Mao Trạch Ðông. Ðến khi tàn quân chạy ra Ðài Loan, một mảnh đất nhỏ bé, họ Tưởng đã tổ chức lại hàng ngũ, đẩy lui bao nhiêu cuộc tiến công của cộng sản, rồi tổ chức được một xã hội bền vững đến bây giờ.

Tôi nghĩ lại nước Việt Nam thân yêu rồi sẽ đi về đâu. Tưởng Giới Thạch còn có Ðài Loan, mình thì có gì? Phú Quốc? Hòn đảo này quá nhỏ và quá gần đất liền, không bảo toàn được. Tôi nghĩ đến giải đất vùng biên giới Việt Miên, bao gồm các khu vực có giáo dân Hòa Hảo sinh sống, có dẫy Thất Sơn, có căn cứ an toàn, có ba, bốn ngàn hang động hiểm trở thành những phòng tuyến kiên cố chống giữ các cuộc tiến công từ biên giới sang thì việc phòng thủ Quân khu 4 sẽ lâu bền hơn. Tôi mang ý kiến ra bàn với vị Tư lệnh Quân đoàn, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam thì được sự tán thành của ông ngay. Nhưng rủi thay, việc hợp tác với giáo dân Hòa Hảo đã gặp trở ngại ngay từ bước đầu vì trước đó Thiếu tướng Nam đã có lần nhận chỉ thị của Tổng thống Thiệu để giải giới lực lượng Hòa Hảo Huỳnh Trung Hiếu và bắt giữ ông Hai Tập nên đã gây ra sự nghi kỵ và hiềm thù trong lòng những người bạn Hòa Hảo.

Khoảng trung tuần tháng Tư năm 1975, Thiếu tướng Nam cùng tôi qua Mỹ Tho họp với các Tư lệnh Sư đoàn các Tỉnh trưởng miền Hậu Giang để thảo luận về kế hoạch ngăn chặn hoạt động của Cộng sản gây ảnh hưởng với tình hình an ninh Quân khu 4, Tướng Ngô Quang Trưởng từ Bộ Tổng Tham Mưu xuống tham dự buổi họp. Trong buổi họp, tôi có trình bầy tường tận về nghị quyết "Tổng tấn công, Tổng khởi nghĩa" để đi đến dứt điểm chiến trường của Cộng Sản. Một số sĩ quan tham dự buổi họp tỏ vẻ hoài nghi về khả năng của Cộng sản để thực hiện nghị quyết ấy ở miền Tây. Vào cuối tháng Tư, tại các vùng khác quân ta phải triệt thoái liên miên; riêng Vùng 4, cho đến ngày cuối cùng vẫn giữ được sự toàn vẹn lãnh thổ. Cuộc phòng thủ Bộ Chỉ Huy cuối cùng của quân đội vẫn được ráo riết thực hiện. Các đà sắt làm cầu được xuất kho để hoàn thành những nhà hầm kiên cố, có thiết trí hệ thống truyền tin, chuẩn bị đoán tiếp Bộ Tổng Tham Mưu nếu Sài Gòn thất thủ.

Chiều 26 tháng Tư, Thiếu tướng Nam cho lệnh họp các sĩ quan của Bộ Tổng Tham Mưu và các đơn vị trưởng thuộc Quân đoàn 4 tại Trung tâm Hành quân. Họp xong, ông yêu cầu tôi lấy cuốn phim tài liệu tịch thâu được của Việt Cộng chiếu cho mọi người xem. Ðó là cuốn phim "Chiến thắng Hạ Lào" liên quan đến cuộc hành quân Lam Sơn 719 của quân đội ta. Tôi còn nhớ khi phim chiếu cảnh bọn Việt Cộng dẫn giải những chiến sĩ QLVNCH bị chúng bắt, những khuôn mặt quen thuộc hiện ra trên màn ảnh làm rung động sự cảm xúc của mọi người. Ðại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng 3 Nhảy dù hiện thoáng qua; anh bị thương phải chống gậy. Anh vẫn mặc bộ quân phục Dù, ốm hẳn đi nhưng khuôn mặt vẫn còn nét rắn rỏi. Theo sát anh là một tên Việt Cộng bé con, mặt còn non, hờm khẩu AK như chực nhả đạn. Hình ảnh này làm máu tôi sôi lên trong huyết quản. Tôi liếc nhìn Thiếu tướng Nam, ngồi bên cạnh, ông cũng nhìn lại tôi với cặp mắt buồn. Tôi biết rằng ông còn xúc động hơn tôi vì ông nguyên là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Dù trước khi nhận lãnh chức Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh. Ông khẽ bảo tôi: "Nếu đời mình như thế là hết!"

Ngày hôm sau, để nhận định thêm tình hình, tôi qua thăm Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn 12 thuộc Sư đoàn 7, đóng tại Tân Lý Tây, quận Bến Tranh. Tôi gặp Ðại tá Ðặng Phương Thanh, Trung đoàn trưởng, cho biết tình hình trận chiến. Anh nhận định trung đoàn của anh đủ khả năng đối đầu với Sư đoàn Công trường 5 Cộng Sản đang dàn quân trước trận tuyến của anh. Anh đưa tôi đi xem chiến địa, nơi vừa xảy ra giao tranh ngày hôm qua. Xác địch còn nằm ngổn ngang trên các bờ bụi. Nhìn anh Thanh với dáng đi lầm lũi, chắc nịch, tôi cảm thấy anh là sĩ quan sẽ không hề lùi bước trước địch. Tốt nghiệp Khóa 16 Võ Bị Ðà Lạt, suốt thời gian trong quân ngũ, anh luôn có mặt tại đơn vị chiến đấu và mới được thăng cấp Ðại tá vào hôm trước. Sau này, tôi được biết anh đã lựa chọn thà tự sát còn hơn đầu hàng địch.

Chúng ta là quân nhân...

Thời gian lặng lẽ trôi, bi thảm dần dần tới. Lúc đó vào khoảng tối 28 tháng Tư 1975, tiếng nói của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu vang lên từ Ðài phát thanh Sài Gòn yêu cầu toàn bộ Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ và Cơ Quan D.A.O. rút ra khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Lời yêu cầu trên được lập lại nhiều lần như xoáy vào tim óc, như nổ trong lồng ngực. Thế là hết! Họ đã âm mưu bỏ chúng ta thực sự rồi. Thành tích bao nhiêu năm chiến đấu đã tan thành mây khói. Ðêm đó và sáng hôm sau, quang cảnh thị xã Cần Thơ nhộn nhịp hẳn. Các loại xe ba bánh chở đồ từ các cơ sở Mỹ chạy ngược xuôi. Những trực thăng Air America không ngừng lên xuống các tàu nhỏ nhưng nhiều mã lực của Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ rời bến trực chỉ hướng Ðại Ngãi, đem theo toàn bộ người Hoa Kỳ và nhiều người Việt làm việc với họ.
Cảm nghĩ của tôi lúc đó là tôi không nuối tiếc sự ra đi của người Mỹ; vì dù họ có ở lại cũng không đóng góp được gì cho công cuộc chống Cộng của chúng ta. Nhưng sự ra đi của họ, trong bối cảnh bấy giờ đã trở thành một đòn cân não trí mạng, đánh mạnh vào tâm trạng hoang mang của toàn thể nhân dân Việt Nam và làm suy yếu hẳn sự kháng cự cộng sản của QLVNCH.

Trọn ngày 29, tôi có dịp gặp Thiếu tướng Nam nhiều lần nhưng chỉ bàn qua về tình hình có ảnh hưởng trực tiếp đến Quân khu 4 mà thôi. Nhìn ông trầm tư, tôi không nhắc tới chuyện thiết lập mật khu vì tôi biết ông cũng cảm thông với những gì tôi muốn nói.
Chiều hôm đó, khi đi qua sân Bộ Tư Lệnh trở về phòng làm việc, tôi có gặp Chuẩn tướng Tham mưu trưởng Quân khu 4. Ðây là lần cuối tôi gặp ông vì nửa đêm hôm đó, tôi bắt được nghị quyết số 15 của cộng sản đề cập đến việc chuẩn bị tiếp thu các thành phố, đến kế hoạch thâm độc nhắm tiêu diệt những quân nhân và cán bộ quốc gia một khi chúng nắm được quyền hành.

Sáng sớm ngày 30 tháng Tư, không khí Bộ tư lệnh Quân khu 4 có vẻ khẩn trương vì sự ra đi của Chuẩn tướng TMT và một số sĩ quan trong đêm trước. Tiếp theo đó, qua đài phát thanh Sài Gòn, Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh toàn bộ QLVNCH buông súng đầu hàng địch và chuẩn bị bàn giao căn cứ cho chúng. Mọi người đều rúng động; không khí căng thẳng đến cực độ. Sự thật quá phũ phàng. Trước đó, có người còn hy vọng Dương Văn Minh lên làm Tổng thống để sửa soạn một giải pháp trung lập, hòa giải chứ đâu có ngờ ông ta lên làm Tổng thống để đầu hàng địch.

Ðại tá Nguyễn Ðình Vinh được chỉ định thay thế Chuẩn tướng TMT để triệu tập tất cả sĩ quan có mặt tại Bộ tư lệnh và các đơn vị trực thuộc và vị Tỉnh trưởng Cần Thơ tại Trung tâm Hành Quân để Thiếu tướng Nam nói chuyện.

10 giờ 30 sáng, Thiếu tướng bước vào Hội trường, mọi người nghiêm chỉnh đứng lên chào. Ông từ từ tiến lên bục cao, xoay mình đối diện với các sĩ quan trực ộc, khuôn mặt vẫn đầy cương nghị nhưng ánh mắt thật buồn.

"Các sĩ quan thân mến," ông nói, "Như anh em đều biết, đất nước chúng ta đang rẽ vào khúc quanh quan trọng nhất của lịch sử. Chúng ta là quân nhân thì phải tuyệt đối tuân lệnh chánh phủ. vậy tôi để các anh lát nữa trở về đơn vị, tùy tiện sắp xếp công việc để bàn giao cho họ. Về phần tôi, mặc dù có sẵn trực thăng, tôi sẽ không đi đâu hết."

Nói xong, ông rời phòng hội để về văn phòng ông. Tôi đẩy cửa bước theo để được nói chuyện với ông lần cuối: "Ông Tướng ơi, ông đành chịu vậy sao?" Tôi vẫn xưng hô kiểu đó khi chuyện vãn chỉ có ông và tôi. Ông cười buồn: "Biết làm sao được bây giờ hả anh." Rồi ông im lặng hút thuốc, thở khói nhè nhẹ, vẻ mặt đăm chiêu. Trước mặt ông là cái gạt tàn thuốc lá khổng lồ đầy ắp, chắc đêm qua ông đã thức trắng đêm. Trong thâm tâm, tôi muốn đề nghị với ông cùng tìm cách thoát hiểm nhưng tôi không mở lời được vì biết ông sẽ từ chối.
Một lúc sau, tôi đứng thẳng người, kính cẩn chào cấp chỉ huy lần cuối rồi quay trở về phòng.

Bấy giờ, tôi còn nhớ rõ, Trung uý Danh, Sĩ quan Tùy viên của Thiếu tướng Nam chạy theo, gọi tôi nhờ chỉ dẫn cách sử dụng khẩu súng lục màu xanh biếc mà Thiếu tướng vừa cho anh vào buổi sáng. Tôi không hiểu ông đã cho sĩ quan tùy viên khẩu súng xinh xắn để làm gì?

Tôi âm thầm đếm bước chân trên lối đi dẫn về phòng tôi ở. Tôi liên tưởng ngày mai đây, cũng trên những bục đi này, bàn chân kẻ thù cũng sẽ bước chồng lên dấu chân tôi. Cuộc chiến này đã kéo dài trong bao năm trường, không ngờ lại tàn nhanh đến thế. Lòng tôi đầy bi phẫn. Mặc dù tôi không có cách gì để kháng cự địch nữa nhưng tôi không cam lòng đầu hàng chúng. Suy nghĩ mãi, tôi thấy mình phải tìm cách thoát hiểm, dù bỏ mạng trên đường thoát hiểm cũng đành. Ý nghĩ này làm tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Tôi nhảy lên xe jeep, lái ngang qua Tiểu khu Cần Thơ gặp Ðại tá Huỳnh Ngọc Diệp, một sĩ quan trừ bị bạn đồng khóa với Thiếu tướng Nam, để tìm phương thoát hiểm. Tôi trình bầy với anh về nghị quyết 15 của cộng sản và những tủi nhục và chúng sẽ dành cho mình khi chúng chiếm được phần đất này. Tôi đề nghị anh cùng tìm cách thoát hiểm. Ban đầu anh từ chối lời đề nghị, nhất quyết tử thủ. Nhưng sau tôi thành công trong sự thuyết phục anh và chúng tôi tìm phương tiện di chuyển.

Chúng tôi rời bến Cần Thơ vào chiều ngày 30 tháng Tư 1975 trên một con đò máy chật hẹp, hướng ra cửa biển. Cuộc hành trình đầy cam go, tổn thất đã đánh dấu sự chấm dứt binh nghiệp của chúng tôi, trong sự tủi nhục, ê chề. Trên đường vượt thoát, được tin Thiếu tướng Nam, Chuẩn tướng Hưng và một số bạn hữu đã tự sát hoặc bị cầm tù, tôi đã nhắm nghiền cặp mắt để nén lệ trào ra, lòng ngậm ngùi nhớ đến những khuôn mặt thân yêu đó mà trọn đời tôi sẽ không bao giờ quên...

Lê Nguyên Bình

http://vnchtoday.blogspot.com

.
Về Đầu Trang Go down
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Tue Apr 01, 2014 11:22 pm


Tháng Tư Mùa Xuân và Những Tấm Màn




Tháng Tư, tôi đi dưới bầu trời mây trắng, nắng ấm và mềm như chiếc khăn quàng trên vai, hai chân thong thả bước, mặt ngước nhìn hàng cây bên đường, hàng cây xanh ngọt màu cốm non, những chùm lá nho nhỏ, cong cong he hé mở ra như những cánh môi thiếu nữ mới lớn. Những vạt cỏ xanh non mịn như nhung thỉnh thoảng điểm một đóa hoa bồ-công-anh nhỏ xíu như chiếc khuy màu vàng từ áo khoác ai rơi xuống. Hoa đỗ quyên cũng bắt đầu khe khẽ nở dịu dàng bên một góc hàng rào nhà ai. Mùa xuân ở Seattle đẹp lắm, những giọt nước mưa trong veo và những giọt nắng vàng như mật ong. Ngửa mặt lên là uống vào lồng ngực cả lượng xuân của đất trời.
 
Ước gì, ừ nhỉ, ước gì đừng có Tháng Tư oan khiên của nước mình ngày đó. Tháng Tư hàng năm vẫn đến. Ban ngày, những hình ảnh, bài viết tràn ngập trên máy điện toán, những nhắc nhở trong những lần gặp gỡ hàn huyên với bè bạn; ban đêm mang theo cả vào giường, vào giấc mơ, giật mình cho số năm tháng đã đi qua trên xứ người.
 
Tôi đi trong ân sủng của đất trời, nhưng sao lòng không thanh thản, những hình ảnh không đẹp cứ theo nhau về trong tâm trí. Chiến tranh quê mình, chiến tranh quê người. Những cái xấu và cái ác như mực đổ loang vào lòng giấy.
 
Những vòm lá trên cao nghiêng xuống như cái tán làm râm một khoảng đất dưới chân đi, tôi bỗng rùng mình liên tưởng đến những tấm hình trong một bài báo được một chị bạn thân mới chuyển cho đọc tối hôm qua: “The Veils of Aleppo: Photographs by Franco Pagetti” của Rania Abouzeid. Bài viết đề cập đến những tấm ảnh của nhiếp ảnh gia Franco Pagetti chụp những tấm màn cửa chăng từ bức tường đổ bên này sang mái nhà vỡ bên kia ở thành phố Aleppo. Trải qua hai năm của cuộc nội chiến ở đất nước Syria làm hơn 70 ngàn người chết, Aleppo là chiến trường đẫm máu nhất, nơi cả hai phe đều tìm cách chiếm đi chiếm lại nhiều lần, không lúc nào ngưng tiếng súng. Những tấm màn trước đây để che khung cửa sổ tránh cặp mắt tò mò của hàng xóm, hay che ánh nắng mặt trời thì bây giờ nó làm một nhiệm vụ của một lá chắn cho sinh mạng con người.



Franco Pagetti là người đã bắt chụp những hình ảnh trong những cuộc chiến ở Syria, Afghanistan và Iraq đã nhìn ra được cái đẹp đau thương của những tấm màn cửa chăng trong những thành phố đổ nát vì bom đạn. Các tấm màn được chăng lên giữa lối đi của hai tòa nhà đổ nát (những gì còn lại của người dân), chúng  làm nhiệm vụ che chở cho người dân đi đến một tiệm bánh hay đi thăm một người thân. Cái tấm màn mang mầu xám của vôi vữa, gạch vụn, của bụi than của nhà cháy và thỉnh thoảng pha một vệt đỏ bầm của máu đó đã lãnh cái nhiệm vụ che chở rất mong manh.Trong những bức hình ông chụp, không có người, chỉ có những tấm màn cửa. Màn cửa như một nhân chứng, một rào cản cho cuộc nội chiến bất tận của hai bên. (Khác gì cuộc chiến Nam-Bắc của Việt Nam). Giống như rất nhiều khía cạnh của xung đột, những tấm màn cửa mất đi cái việc che cửa giản dị chính thực của nó. Hôm nay nó phải làm một nhiệm vụ hoàn toàn khác hẳn. Những màn cửa này làm ông Pagetti nhớ đến những bức tường bê tông dặm này sang dặm kia, chằng chéo khắp thành phố Baghdad trong cuộc thánh chiến tồi tệ nhất vào những năm 2006-2007.
 
Bất cứ người dân nào, nếu di chuyển bên dưới tấm bạt đó, đều phải biết thật rõ phía phản chiếu của ánh sáng mặt trời và hướng gió thổi tới, để tránh cho cái bóng của mình không hiện lên tấm màn đong đưa đó. Nếu sơ ý mà một tay bắn tỉa đang rình rập đâu đấy nhìn thấy bóng người trên tấm bạt thì ngay lập tức sẽ vang lên đoành… đoành… đoành… Một thân người gục xuống. Hoặc một cơn gió vô tình thổi qua, tấm màn lật lên, một họng súng hướng ngay mặt và lại đoành… đoành… đoành… Thêm một thân người gục xuống.
 
Chiến tranh ở nơi nào trên mặt đất cũng thế, nhất là những cuộc nội chiến. Hai miền Bắc Nam hay hai bên Tả Hữu xung đột, người dân hiền lành ở giữa, luôn luôn là những nạn nhân hứng tất cả tang thương.
 
Đất nước tôi cũng có tấm màn tre (bamboo curtain) buông xuống giữa hai miền Nam Bắc từ năm 1954. Tấm màn tre đó đã che kín mắt người dân miền Bắc, họ hoàn toàn không biết gì về đời sống của dân miền Nam, cho đến khi họ vào “Giải Phóng”. Trong cuộc chiến nào, cũng chỉ có người dân là đáng thương hơn hết.


Bức màn tre ở nước tôi đã tháo xuống gần bốn mươi năm rồi. Súng đạn, hỏa tiễn không nổ nữa, nhưng người dân Việt vẫn đi dưới những tấm màn vô hình, để tránh cái chết. Điều bất hạnh là những tấm màn này không che được phía phản chiếu của ánh sáng mặt trời, không giúp tránh được luồng gió. Người dân không chết vì những tay súng bắn sẻ nữa mà chết bằng nhiều cách khác nhau, không cần súng đạn.
 
Nếu ông Franco Pagetti có đến Việt Nam bây giờ, thì chẳng còn điểm “hot” nào của chiến tranh để cho ông thâu vào ống kính nữa.  Mấy cái đề tài như Địa đạo Củ Chi hay mấy cái “Xe tăng tiền phong” trưng ở trong dinh Độc Lập cũ hay ngoài “Lăng Bác” thì người ta đã chụp mòn cả rồi. Tôi chắc ông sẽ chẳng đến Việt Nam đâu vì cái ống kính chuyên thâu hình ảnh chiến tranh của máy ông khi đem ra chụp những đề tài về đời sống xã hội của một Việt Nam bây giờ e rằng nó sẽ không thâu được những tấm hình trung thực.
 
Tôi đi trong mùa xuân Seattle, đi dưới những đám mây trắng nõn và bầu trời xanh như biển, đi giữa nắng vàng óng ánh và ngang qua những gốc hoa đào. Tôi đi như thế đã mấy chục mùa xuân và tôi còn được đi bao lâu nữa, làm sao tôi biết được. Nhưng có một điều tôi biết rõ ràng là lòng tôi không hề vui mỗi lần mùa xuân đến đánh dấu một năm mới. Tôi hay tự hỏi mình hai câu: “Mình xa quê bao lâu rồi nhỉ?” (mặc dù biết rất rõ) và “Mình còn quê hương không nhỉ?” Nói là mình mất quê hương thì không đúng, vì quê hương bây giờ Bắc Nam thống nhất, mình muốn về thăm lúc nào mà chẳng được. Nhưng nói là còn quê hương thì tôi thấy cũng không còn. Vì khi tôi về thăm, thành phố thay đổi, nhà cửa thay đổi và người sống ở đó hoàn toàn lạ lẫm. Lạ không phải vì người ta không phải là họ hàng thân thuộc, nhưng cách ăn ở, cư xử, nói năng của ai cũng làm mình ngạc nhiên. Mà ngay cả những người đang sống ở trong nước với nhau bây giờ,  họ cũng không còn cho nhau cái tình người ấm áp nữa. Họ khác xưa nhiều quá! Họ lại không nhìn mình như một người đồng hương mà chỉ nhìn mình như một du khách, làm mình tự thấy mình bị gạt ra khỏi cái phần đất thân yêu đó. Nói về thăm quê hương mà như đi du lịch sang một nước lạ thì lòng ai vui được.
 
Tháng Tư nào cũng buồn và Tháng Tư nào tôi cũng đi dưới mùa xuân với một trái tim nặng trĩu.
 
Tôi viết những câu thơ trên trái tim mình
Trái tim tôi là một ngôi làng bên ngoài tổ quốc (Thơ-tmt)
 
Trần Mộng Tú
4/2013



.
Về Đầu Trang Go down
hoangvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Tue Apr 29, 2014 7:31 pm


Người Sài Gòn - Làm sao mà quên được!




Thứ Ba, ngày 29 tháng 4 năm 2014

Nơi tôi không quên được đây chính là miền đất bazan đỏ quạch nơi một nửa gia đình tôi đã chuyển đến ở, được gọi với mỹ danh “Vùng kinh tế mới” ở Long Giao, Xuân lộc vào năm 1975. Thường thì vùng đất này đã nhạt nhòa trong ký ức của tôi vì khi ở đó, tôi còn bé lắm, nhưng mỗi năm, vào ngày giỗ Chị Oanh tôi hoặc khi truyền thông ăn mừng ngày 30/4 thì cái màu đỏ của vùng đất ấy và những câu chuyện liên quan lại cựa quậy trỗi dậy, như chưa hề ngủ quên trong ký ức tôi.

Tôi còn nhớ, những ngày tháng Tư năm 1975 đó trong căn nhà nhỏ ở Quận 3, Sài gòn, Má may cho Anh Giang, Anh Tám và tôi ba cái túi, bảo nhét quần áo vào và đeo bên mình, khi nào có chuyện gì thì chui xuống dưới gầm đi văng mà nằm. Chúng tôi cũng thử chui xuống gầm đi văng bụi bặm cùng chiếc túi với niềm thích thú vì các anh chị lớn và thằng Út không có túi như chúng tôi. Có hôm, tự nhiên tôi thấy cay mắt, cổ họng rát bỏng, chị Năm tôi cũng ho sặc sụa, nước mắt ràn rụa, nhúng nước vội vào tấm khăn rồi úp lên mặt tôi. Đó là lần đầu tiên tôi “nếm” mùi lựu đạn cay do các bên đánh nhau chạy lạc vào xóm nhỏ của tôi.

Thỉnh thoảng tôi nghe đâu đó một tiếng súng nổ đơn lẻ, chỉ vậy thôi. Rồi một trưa nắng, tôi thấy Chú Nguyên, chồng Dì Út tôi chạy xe đạp đến nhà. Chú vừa từ Bộ Tổng Tham mưu chạy thẳng đến nhà tôi, mình chỉ mặc áo may ô và chiếc quần lính rằn ri. Quăng xe đạp ở cửa, Chú lao vào ôm mặt khóc với Ba Má tôi, miệng lập đi lập lại: “Mất rồi, mất tất cả rồi anh chị ơi!” Rồi chú mượn một bồ đồ của Ba tôi mặc vào để về nhà Chú Dì bên khu Nghĩa Hòa, Ông Tạ.

Hôm sau, khu Bùi Phát trên đường Trương Minh Giảng chỗ gia đình tôi ở có đám ma. Người chết là Cậu Ngãi, nhà cậu ở ngay cổng sau Nhà Thờ Bùi Phát. Nghe nói Cộng sản đã chiếm Tòa Khâm sứ  (đối diện Tòa Tổng Giám Mục, trên đường Trương Minh Giảng, nay là Trần Quốc Thảo) và đuổi Đức Khâm đi, Cậu liền lấy xe honda, chở Cha Andre Vũ Bình Định lên xem hư thực thế nào. Chẳng biết chuyện gì đã xảy ra, chỉ biết Cậu bị bắn chết ngay tại chỗ, còn Cha Định thì bị bắn gãy chân và bị bắt đi Cải tạo ngay.

Mới 5 tuổi, nhưng tôi đã cảm nhận được có điều gì đó đang biến đổi xung quanh mình. Mọi người trong nhà tôi nói chuyện nhỏ giọng hơn. Ông Bà Mười ở ngay con dốc dẫn vào chợ hóa ra là cán bộ nằm vùng. Ông Bà Mô người Nghệ an mới dọn về ở trong nhà Cậu Ngân cũng là cán bộ, họ hay đứng ngó xem các gia đình trong xóm ăn gì, có ai ra vào. Cậu Ngân là Phi công VNCH, Cậu đã may mắn thoát được cùng gia đình và căn nhà đẹp nhất xóm của Cậu đã được Nhà nước “cấp” như thế đó.

Vài tháng sau thì Nhà nước đổi tiền. Việc này gắn liền với cái chết của cả gia đình Ông Bà Na cách nhà Cậu Ngân mấy căn. Tôi cùng các anh chị leo lên lầu nhà Bác Trị, ngó người ta khiêng 11 xác chết nhà Ông Na ra. Mấy anh tôi bảo cẩn thận chứ tử khí bay ra từ xác chết độc lắm. Tôi la lên bài hãi khi thấy cùi chỏ tay dính mấy vệt vôi mà tôi tưởng là tử khi đã bám vào mình. Ông Na là công chức, mình ông đi làm nuôi cả nhà gồm vợ và chín người con. Giải phóng, Ông thất nghiệp thế là cả nhà đói khát. Nghe nói Ông đã phải muối mặt ăn trộm cám heo của Bà cụ cạnh nhà, nhưng làm sao đủ cho cả nhà ăn.

Khi đổi tiền, Nhà nước cũng gom cả mục tiêu đánh tư sản vào đó, vì thế chỉ cho phép mỗi gia đình được đổi một số tiền nhất định, tương ứng với số nhân khẩu trong nhà. Những nhà giàu phải nhờ nhà nghèo như nhà Ông Na đổi tiền giúp. Không may, lúc Ông và anh con trai lớn vừa rời khỏi chỗ đổi tiền thì bị cướp giật sạch số tiền. Ông không làm sao giải thích được cho người đã nhờ Ông hiểu và cũng chẳng còn cách nào để lo cho gia đình. Thế là Ông và anh con trai lớn nấu cháo rồi bỏ thuốc độc vào cho cả nhà ăn, còn Ông và người con này treo cổ, còn đứa bé đang bú mẹ thì bị lấy búa đập vào đầu vì nó chưa biết ăn cháo!

Căn nhà nhỏ xíu của gia đình chín đứa con của Ba Má tôi trở thành chỗ tá túc cho không biết bao nhiêu gia đình người thân bỏ chạy từ các Tỉnh khác vào. Họ không thể ở lại được vì sự hà khắc của chính quyền mới ở các tỉnh lẻ áp đặt lên các gia đình Ngụy còn kinh khủng hơn ở Sài gòn. Gia đình tôi cũng kiệt quệ vì phải lo ăn uống cho họ nữa. Có khi Chị Hai tôi phải lo cho mấy đứa em ăn ở ngoài còn để khách tự lo vì gia đình tôi không còn đủ lực nữa.



Giờ thì quay trở lại với Vùng Kinh tế mới (“KTM”). Bà con tôi là người gốc làng quê vùng Nam Định, di cư vào Nam từ năm 1954, sống quây quần quanh Khu hẻm 491 trên đường Trương Minh Giảng. Sau 30/4, dần dần, hết nhà này đến nhà khác bắt đầu đi KTM. Chẳng biết Nhà nước đã làm cách gì mà những người quen sống ở thành thị hai chục năm trời lại chịu bỏ nhà cửa ra đi tới những vùng quê hoang sơ như Tân Uyên, Phương Lâm, Suối Nghệ và Long Giao, v.v… Có nhà may mắn, chỉ đi một nửa như nhà tôi thì còn có ngày để quay về, có những gia đình đứt rễ khỏi Sài gòn thì coi như xong! Dù có về được lại Sài gòn hay không thì ký ức về KTM cũng thật sự cay đắng với người đã nếm trải.

Khi đi KTM, bà con họ hàng tôi lại rủ nhau cùng đến chung một vùng đất nào đó. Phần lớn chúng tôi là gia đình những người có thân nhân đi lính "Ngụy". Gia đình tôi đến Long Giao, nơi gần căn cứ Xuân Lộc, nhà tôi là nhà Số 1. Cách một rẫy lớn của một gia đình người Hoa là đến Căn cứ Xuân Lộc cũng là nơi tạm giam tù binh Học tập Cải tạo trước chuyển họ đến nơi giam giữ cuối cùng.

Công bằng mà nói thì đây là vùng đất đẹp, màu mỡ vì là đất núi lửa bazan thích hợp trồng cây công nghiệp. Ba tôi và một số Chú Bác lại khéo tay, họ vần công, dựng lên những ngôi nhà tranh vách nứa rất đẹp và thoáng đãng. Mỗi nhà có một giếng nước có trục quay gàu, có nhà vệ sinh trên hầm tự hoại. Chúng tôi đã mang văn minh Sài gòn về KTM. Vốn liếng bán đồ đạc ở Sài gòn, họ dồn vào căn nhà và mảnh đất nằm đâu đó trên những ngọn đồi phía trước nhà, phần còn lại, mua hạt giống để trồng. Khí hậu nơi đây mát mẻ, sáng sáng thức dậy, ra trước nhà, nhìn lên những ngọn đồi trước mặt xanh ngắt, nhưng lại bị mất ngọn vì sương mù che khuất. Cảnh tượngg y như bức tranh vẽ núi Phú sỹ.



Rất nhanh tâm trạng háo hức làm quen với cuộc sống mới chuyển sang thất vọng. Người thành thị chưa quen với vùng đất mới, chỉ biết trồng đậu và bắp trên thứ đất đúng ra phải trồng tiêu, điều và cafe như những người Hoa đang làm. Thế là đói, người nhà phải tiếp tế gạo và mắm muối lên KTM. Có những hôm người nhà lên tới nơi với khuôn mặt thất thần vì bị du kích tịch thu hết số gạo mang lên tiếp tế vì họ cho đó là buôn lậu! Nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ của cái ăn, có những chuyện khác lớn hơn, đó là chuyện tinh thần. Đi KTM đồng nghĩa với con cái thất học. Chị Năm tôi học rất giỏi, sau một năm ở KTM, chị nằng nặc đòi về để được đi học tiếp. Chỉ còn lại Ba tôi, Bà Nội và Chị Sáu ở lại. Sau này, Ba và Bà tôi có quay về Sài gòn, còn Chị Sáu tôi thì vĩnh viễn ở lại vùng đất ấy.

Ở vùng đất này, vào thời buổi hỗn quân, hỗn quan, mạng người mỏng manh như ngọn cỏ. Hôm đó, Má tôi mang gạo lên tiếp tế, Chị đi bán cà chua chưa về. Trời miền quê, mới 6h của một đêm không trăng, trời đã tối đen như mực. Những người tan lễ chiều ra đi ở phía sau Chị, họ chỉ thấy Chị ngã vật ra nên tưởng Chị trúng gió. Lúc Má chạy ra tới nơi thì Chị nấc lên rồi đi.



Thực ra, lúc ấy có một nhóm mấy chú bộ đội nghênh ngang đi dàn hàng ngang trên đường theo hướng ngược chiều với Chị, chiếc xe chặt cây, đi ngang qua, phải lách mấy chú vừa từ rừng ra, chưa biết gì về Luật giao thông, con dao trên thùng xe được buộc không chặt, đã rớt trúng đầu Chị tôi.  Chị tôi đi lúc mới 14 tuổi. Khi lên Thiên đàng, nếu có ai hỏi sao lại lên đây, chắc Chị sẽ ngắc ngứ không biết trả lời thế nào, nhất định không phải là vì tai nạn giao thông rồi vì chiếc xe nào có tông trúng chị!

Cái chết của Chị tôi thuộc vào loại lãng xẹt, nhưng cái chết của Cô họ tôi thì dứt khoát phải gọi là oan khuất. Cô Oanh đẹp lắm. Sống ở KTM nhưng Cô không đi làm rẫy mà đi buôn mủ cao su. Ngày ấy, ngoài trừ Nhà nước ra, còn lại ai buôn bán bất cứ thứ gì cũng đều là buôn lậu tất. Bình thường thì Công an cùng Du kích Ấp và Xã đều là chỗ quen biết với Cô. Ấy thế mà hôm đó, Cô bị bắt lúc gần trưa, rồi chiều tối họ kêu Ông lên nhận xác Cô về vì Cô đã tự tử chết ở trong đồn Công an. Thế ra, cái mốt vào đồn tự tử không phải bây giờ mới có. Có điều viên thuốc Cô uống (hay bị uống) vẫn còn nằm ở cuống họng, còn khi tắm rửa, khâm liệm thì dấu hiệu Cô bị cưỡng hiếp là không thể chối cãi.

Tôi rất sợ vùng đất này mỗi lúc chiều buông vì khi đó không khí sặc mùi ảm đạm, chết chóc. Trời sụp tối cũng là lúc hàng đoàn xe quân sự GMC phủ bạt kín mít chở tù cải tạo chạy rầm rập qua nhà tôi. Giai đoạn đó, xe chở tù chạy suốt đêm, chúng tôi gọi đó là xe bịt bùng và lúc nào cũng nghĩ rằng có một người thân, không bạn bè thì cũng là bà con của mình trong những chiếc xe đó. Ban ngày, có một số người được đưa ra ngoài lao động, có khi Ba tôi gặp được người quen, mừng lắm. Mừng nhưng chỉ dám đưa mắt nhìn rồi khẽ gật đầu chứ không dám chào. Sau đó mới báo về Sài gòn cho vợ con người đó biết họ đang ở Trại Long Giao. Đó cũng chính là điều mà ánh mắt người tù đã ngầm muốn Ba tôi báo lại vì không phải gia đình ai cũng biết chồng mình bị nhốt ở đâu.

Ở đây, khi di làm rẫy trên đồi, gia đình tôi quen với Chú Tuân, một phi công VNCH, người Huế trốn cải tạo. Tôi chẳng biết hoàn cảnh Chú ra sao, chỉ thấy Chú sống với Mẹ già và ba cậu con trai ngay tại căn lều lớn trên đồi. Quần áo bốn cha con lúc nào cũng đỏ quạch vì bụi đất bazan. Lâu lâu, Chú cho lũ con xuống đồi, vào chợ cách đó 20km. Đứng trên đồi, nhìn hình ảnh bốn cha con xếp hàng, cao trước thấp sau, đi trên lối mòn lẫn trong đám cỏ tranh cao gần lút đầu thằng Út, thấy cuộc sống của họ không có lối thoát.

Chú là người cực giỏi, nhưng đám con thì hoàn toàn thất học, tôi chẳng hiểu sao Chú lại không dạy bọn nó học. Tôi vẫn nhớ câu chuyện tiếu lâm Chú kể cho Ba tôi nghe lúc đụt mưa trong căn lều. Chú dạy Anh văn cho một nhóm các nhà Sư, tới động từ “to sleep” nghĩa là đi ngủ, chẳng hiểu sao, không ai học đựơc cả. Tức quá, Chú quát ầm lên: “Tất cả đọc theo tôi: tuột xì líp là ngủ”, ấy thế mà tới đây thì mọi người học được. Chú chỉ có Ba tôi là bạn, nên rất quý “Anh Hoan”. Từ ngày Ba tôi về Sài gòn thì mất liên lạc với Chú. Tôi mong lắm Chú ở đâu đó, đọc được những dòng này thì nhớ đến ngày xưa ấy. Điều đó cũng có nghĩa là các con Chú đã được đi học lại và Chú không còn phải sống cách ly với xã hội nữa.




Chuyện Long Giao còn dài lắm, nhưng rồi cũng tới lúc Ba và Bà tôi cũng quay về lại Sài gòn để gia đình không còn phải sống cảnh “một chốn đôi quê” nữa. Về lại Sài gòn, Ba tôi còng lưng trên chiếc xích lô mướn cho tới ngày Ông bị tai nạn, phải bỏ nghề. Thế đó nên trong lý lịch của tôi, phần nghề nghiệp của Cha được ghi: – trước 1975: lính Ngụy, – sau 1975: làm rẫy, đạp xích lô và mất sức lao động.

Thế là vẫn còn may so với những gia đình khác không còn lối về lại Sài gòn. Tôi có người Dì họ, tên Loan, Chú Long chồng Dì đi KTM ở Tân Uyên, giẫm phải mìn, Chú chết không toàn thây. Dì được chồng cưng chiều, khi Chú mất, nỗi bất hạnh của Dì dường như lớn hơn những người vợ khác gấp bội phần. Dì như ngây dại, gặp ai cũng đấm ngực than: “Chồng em chết đi, để lại cho em một nách mười đứa con! Hột xoàn, vàng bạc để trong nhà băng mất hết rồi” Ừ thì mười đứa ấy, đứa thì bán vé số, đứa làm thầy bói, đứa làm thợ hồ, có vài đứa làm công nhân may. Ừ, thì bao nhiêu người cũng như gia đình Chú Dì cũng mất sạch tiền trong nhà băng dù chủ nhà băng không hề giựt tiền của họ. Tôi chẳng biết Chú làm sao nhắm mắt được. Nhưng dẫu vậy, gia đình Chú vẫn còn hơn gia đình Ông bà Na.

Tôi viết ra những dòng này khi trên mạng ảo đang sôi sục kêu gọi hòa giải. Và đương nhiên lời kêu gọi phần lớn là từ “Bên Thắng cuộc”, thế nên lời kêu gọi này có chút gì đó có vẻ kẻ cả, ban ơn. Với tôi, tôi chẳng để tâm lắm tới lời kêu gọi này vì tôi chẳng có gì bất hòa với những người thuộc bên thắng cuộc dù xuất phát điểm vào đời, các bạn đó có nhiều lợi thế hơn tôi.

Tôi chỉ lấy làm phiền khi có một số lời kêu gọi có hàm ý nhắn nhủ “hãy quên đi, cái gì qua rồi thì cho nó qua”. Tôi đã mượn lời của ai đó để trả lời: “Forgive but not forget”. Không quên những bất công trong quá khứ đó chính là quyền mà không ai có thể tước được của tôi và những người đồng cảnh ngộ. Hãy bắt đầu hòa giải bằng cách nhìn nhận những sai lầm đã phạm trong quá khứ. Khi nhận thấy thành ý từ bạn, tự khắc phía đối diện sẽ bày tỏ thiện ý để đáp lại.

Xin gửi lại đây bài thơ của một cựu tù trại Trại Cải tạo Long giao để đánh dấu một vùng đất một số người và gia đìnhtôi đã đặt chân đến ngoài ý muốn của mình.


MƯA BUỒN LONG GIAO


Tác giả: Hà Thượng Nhân
kỷ niệm những ngày ở trại tù Long Giao 1975

Trời có điều chi buồn
Mà trời mưa mãi thế
Cây cỏ có chi buồn
Mà cỏ cây đẫm lệ
Mà cỏ cây lệ tuôn?Anh nhớ em từng phút
Anh thương con từng giây
Chim nào không có cánh
Cánh nào không thèm bay
Người nào không có lòng
Lòng nào không ngất ngâyGủi làm sao nỗi nhớ
Trao làm sao niềm thương
Nhớ thương như trời đất
Trời đất cũng vô thường
Ngày xưa chim hồng hộc
Vượt chín tầng mây cao
Ngày xưa khắp năm châu
Bước chân coi nhỏ hẹp
Bây giờ giữa Long Giao
Ngồi nghe mưa sùi sụt
Cuộc đời như chiêm bao
Có hay không nẻo cụt?
Anh châm điếu thuốc lào
Mình say, mình say sao?

.
Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Wed Apr 30, 2014 11:01 pm


Cảnh đời tan tác sau 30/4/1975!


Cập nhật 30-04-2014




Sài Gòn trong những ngày của tháng Ba năm 1975! Dân chúng xôn xao vì những trận đánh thốc tháo của VC, những khuôn mặt dân chúng đầy lo âu, những bàn tán rì rào thầm thì hoặc trong bạn bè tranh luận sôi nổi về tình hình chính trị và quân sự Việt Nam, đã tạo nên sự căng thẳng trên thành phố, trên khuôn mặt từng người.

Mọi người ngược xuôi tất tả, mua sắm dự trữ gạo và nhu yếu phẩm cho những ngày sắp tới, các bà nội trợ đã cảm thấy được nguy cơ có thể sẽ đến!

Tháng Ba đầu tuần, Phước Long bị CSVN chiếm đóng. Tổng Thống VNCH lập tức tố cáo đảng CSVN đã vi phạm Hiệp định Paris 1973, ký sắc lệnh treo cờ rũ 3 ngày Quốc tang cho Phước Long, và cho ra thông báo đóng cửa các hộp đêm, vũ trường, rạp chớp bóng, cải lương.

Ban Mê Thuột cũng đã bị mất vào trung tuần tháng Ba, rồi Khánh HÒa Nha Trang Thượng tuần tháng Tư bắt đầu bị tấn công!

Thảm cảnh đau lòng đã xảy ra, Quân đội VNCH buộc phải buông súng bởi lệnh TT Thiệu phải triệt thoái Cao Nguyên từng phần. Đài phát thanh đã thông tin chiến sự một cách cầm chừng, dân chúng nhốn nháo, lo âu...!

Căn nhà của Mẹ và chúng tôi nằm trên con đường dẫn đến Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội VNCH, đến Phi Trường Tân sơn Nhất những ngày từ trung tuần đến cuối tháng Tư, chúng tôi chứng kiến những xe du lịch chạy qua nhà chúng tôi, chạy về hướng Tân Sơn Nhất, với những va ly hành lý nhẹ chất trên mui xe cho thấy một cuộc di tản bắt đầu bởi những người có phương tiện ra đi.

Thấy hiện tình đất nước lúc đó cũng như đồng bào, lòng tôi như dầu sôi lửa bỏng!

Rồi một ngày 30 của tháng Tư cũng đã đến!


Tôi đau buồn thấy sự sụp đổ của nền Cộng Hòa Việt Nam, tôi thương cảm bao nhiêu khi nghĩ đến các chiến sĩ VNCH đang gục ngã, các anh đang tức tưởi vì bị trói tay khi thấy rằng mình còn đủ sức chiến đấu, đang căm phẫn cho hiện tình đất nước đầy nghiệt ngã, vận nước đau thương!

Những chiến xa phủ lá cây rừng trưng cờ tay sai MTGPVN đã thực hiện mưu đồ của CSBV ngang nhiên tiến vào xâm chiếm các thành phố thân yêu của người dân Miền Nam VN yêu chuộng tự do, trên những xe tăng chễm chệ những bộ đội đã cả tin vào lời tuyên truyền xảo quyệt của đảng CSBV gian manh mà với chiêu bài phải “giải phóng” cho miền Nam đang bị nghèo khổ khốn cùng?!

Thấy cảnh mất nước nhà tan này tinh thần tôi đã bị suy sụp và rất đau lòng mà khóc thảm thiết!

Sự thật thì chỉ một thời gian rất ngắn là đã trả lời thật rõ ràng cho người dân miền Bắc và quân đội CSVN thấy là chính CSBV đã vào cướp tiền tài, của cải, vàng và châu báu của miền Nam giàu có phồn thịnh... và chính vàng bạc, của cải miền Nam đã giải phóng sự đói nghèo cho miền Bắc.



Rất nhanh và có kế hoạch cướp của giết người từ những kinh nghiệm học được của Nga Hoa nên CSVN đã thực hiện từ thập niên 40 trở đi một cách rành rọt khi tiến chiếm miền Nam, việc cướp bóc miền Nam đã trở nên nhuần nhuyễn!

Đảng CSVN đã vào miền Nam để cướp tiền vàng tại NHQGVN, các cơ sở doanh thương, các tiệm vàng, các căn nhà to lớn, ăn cướp bằng cách đổi tiền nhưng chính ra là cướp cạn, vơ vét không chừa một chút nào để cho người dân có thể sống được!

Ngày 30 tháng Tư 1975 - Ai đã giải phóng Ai?


Miền Nam đã giải phóng cảnh đói nghèo rách rưới của miền Bắc, đảng CSVN đã vơ vét cho đảng một số vàng to lớn, tiền QGVN trong NHQGVN và số tiền dollar khổng lồ, bao nhà máy sản xuất tân tiến, lúa gạo dự trữ đầy kho, lúa đầy đồng, mà trong mơ đảng CSVN cũng không dám nghĩ tới!

Đảng Cộng Sản = Đảng Cướp Sạch (CS), cướp Sạch Sành Sanh (CS3), làm đói nghèo dân chúng mỗi lúc chúng càn quét qua bất cứ nơi nào!

Người dân miền Nam chúng tôi cùng chung số phận đói nghèo với nhau sau 30 tháng Tư từ khi đảng VC tới xăm lăng miền Nam!

Cuộc sống của gia đình chúng tôi cũng theo mệnh nước suy vong mà trở nên khốn khó, quán cà phê của gia đình tôi phải tự đóng cửa và phải tìm cách làm cho quán trở nên tồi tàn, trang trí gỡ hết, cái tủ đựng bánh ngọt kéo ra ngoài trước cửa bán album có hình nhấp nháy, bán cắt móng tay, bán thuốc lá, sau lưng tủ treo trên vách cửa nhà, bán cả quần áo của chúng tôi dư thừa ngày trước chưa mặc chưa hết, để bán lại cho những bộ đội cần mua về cho người nhà đang rách nát ngoài Bắc vì đảng CSVN có chính sách làm cho dân chúng luôn trở thành người vô sản đói nghèo như ngoài Bắc để dễ trị bằng chính sách kiểm soát dân bằng bao tử cho dễ bề kiểm soát và cai trị.

Sau 30-4-1975 trong miền Nam cũng đang phải chịu cảnh khổ này, khổ vì chính sách khắc nghiệt của Hồ chí Minh và đảng Cộng sản mà HCM đem cái chủ thuyết bất nhân độc ác Cộng Sản vào Quê hương Việt Nam!

Một buổi chiều tối, tôi đang ngồi sau tủ bán hàng, mấy chú bộ đội mặt mày còn non trẻ ghé đến thăm “nhân dân” miền Nam. Các chú nhìn tôi và hỏi:

- Chị ơi, có phải các chị khổ lắm vì bị bọn Mỹ ngụy hành hạ hãm hiếp, các chị phải xuống hầm lánh bọn chúng phải không? Thấy chị xanh xao quá! Bộ đội chúng tôi đến giải phóng nhân dân miền Nam đây, chị có vui không?

Tôi muốn hét lên thật lớn rằng: ”Chính các người mới là kẻ vào cướp lẽ sống và tiền của miền Nam chúng tôi, ai cần các người giải phóng?”!! Nhưng tôi cũng kịp giữ lại những tức tưởi không nên có trong lúc này trước mặt những con người vô tri và vô cảm đã bị đảng VC lừa gạt!

Rồi họ lại hỏi: “Có phải đồng bào mình nghèo đói cả xóm “nhà mình” chỉ có một cái nồi phải chung nhau mà nấu và đói khát lắm phải không chị? Những “Có phải?, Có phải” cứ dồn dập của bộ đội hỏi tôi!

Tôi cũng đành chậm rãi giải thích rằng: “Chúng tôi không hề bị ai hãm hiếp cả, chúng tôi cũng chẳng phải trốn ai cả và các anh nghĩ sao khi nhìn nhà cửa khang trang, thành phố xinh đẹp thế này mà chúng tôi lại không có cái chén ăn cơm, không có cái nồi để nấu?”



Đó cũng là điều nói lên sự tuyên truyền với đồng bào miền Bắc là sự tận cùng xảo trá của đảng CSVN! Những tháng ngày sau đó người dân chúng tôi càng ngày càng bị nghèo khó bởi sự vơ vét tận cùng của đảng cộng sản Việt Nam.

Tôi học đi buôn bán đủ mọi cách, nghe nói buôn bán gì có tiền để kiếm sống là tôi theo bạn bè, người quen để đi. Tôi lần mò đi tới Tây Ninh và các tỉnh khác để đi buôn nào thịt heo, hột vịt, gạo, ngũ cốc, linh tinh đủ thứ, thừ hàng thực phẩm nào ở quê sẵn thành phố thiếu là tôi mua để bán.

Nghe tôi kể chắc người nghe sẽ vừa thương cảm vừa tức cười, thịt phải tìm cách cột vào bắp chân sau lớp nylon hoặc cột vào bụng. Tôi vì gầy yếu nên cũng chẳng thấy kềnh càng thấm gì mà bị lộ với ít cân thịt heo quấn quanh chân, gạo quấn quanh bụng (có ai còn nhớ mỗi người chỉ mua được 200 gam thịt mỗi tháng, cơm toàn độn bobo?).

Lúc trước, tôi chưa bao giờ được đi xa khỏi nhà mà bây giờ cũng phải “thân gái dậm trường” tìm cách lần mò mua bán hàng nơi các tỉnh xa mà kiếm ra đồng tiền thật vất vả để có bữa cơm phụ gánh nặng với Mẹ tôi. Rồi cũng có lúc bị bắt, bị tịch thu hết hàng hóa nên lại xoay xở cách khác.

Tôi chuyển qua buôn bán chợ trời, lúc đầu các hàng như va ly Samsonite và các vật dụng hàng ngoại quốc của chồng tôi mới mang ở Mỹ về sau khóa huấn luyện Phi công của anh. Trong nhà có gì đẹp thì mang ra bán để kiếm miếng ăn. Thế rồi sau khi bán đồ nhà lại mua đi và bán lại hàng hóa của người khác trong chợ trời.

Lạ một việc là bộ đội VC ghét Mỹ bao nhiêu lại “Yêu” đồng (hồ) đài (radio) đạp (xe) bấy nhiêu! Cứ hỏi hàng Mỹ có không? Chăn áo mùng mền made in USA là mua “tuốt tuồn tuột”, nghĩ cũng thương và tội cho họ! Có một công việc mua bán khá gian khổ là đến năm sau đó, từ Pháp hàng hóa đã được cho phép gửi về cho thân nhân bên Việt nam. Tôi lại theo chân các bạn hàng chỉ dẫn.

Từ những sáng sớm tinh sương, 5giờ sáng đến địa điểm hẹn để được xe ca đón những người đi vào phi trường Tân Sơn Nhất lãnh quà, tôi phải năn nỉ xin được nhận làm người nhà mấy người có giấy lãnh hàng để lên xe ca đi vào Tân sơn Nhất tôi cũng luôn được các bác lớn tuổi thương tình cho đi theo và tôi hứa cho mượn tiền đóng thuế hoặc hứa mua hàng giá cao.

Đâu đã xong, lên xe phải đội nón che mặt mình đi vì đã quá quen thuộc với mấy tên công an phi trường rồi, vào phi trường ngồi trà trộn với mọi người trong sân chờ mua hàng họ lãnh. Mấy tên công an đâu có vừa nó chắc thấy mình cứ lụp xụp đội nón che mặt hoài có lúc nó đến lật nón mình ra và la hét bô bô làm cho tôi một cô gái còn quá trẻ, chưa kinh nghiệm trường đời cũng đã rất xấu hổ:”Con này, mày vào đây làm gì, vào trong kia cho tao hỏi tội” Tôi cũng sợ xanh xám mặt mày chứ có gan dạ gì đâu, vừa khóc vừa đi theo tên công an. Bọn công an gặp nhau chửi thề râm ran rất tục tĩu, chúng dọa tôi” Tao cho mày vào tù”-”Tôi tội gì?”-”Còn tội gì hả, con buôn còn cãi hả, tao cho cái tát bây giờ”, có người chắc hiền hơn nói “Thôi tha cho nó”. Thằng đó vẫn dữ như quỷ ”Cái con Tây lai này nó cứ luẩn quẩn vào đây mấy lần rồi”- “Tôi là người Việt Nam không phải tây lai”. Tôi oan, vì tôi cao, tóc đi nắng nên vàng hoe, mặt chắc cũng hơi như người lai (tôi sẽ kể đoạn sau, đó chính là sự may mắn cho tôi được thoát khỏi Quê hương tù ngục bởi đảng CSVN).

Bọn họ nhốt tôi vào một cái lều được cất tạm ở giữa sân để nhốt mấy người đi buôn như tôi. Bọn công an này rất là lưu manh khi nghĩ kế dựng lều.

Chúng dựng cái lều để gián tiếp tịch thu hàng hóa của chúng tôi, trong cái lều vách bằng gỗ chung quanh tường bọn họ ghép những tấm carton tôi chắc chắn là để những ai mua được hàng từ ngoại quốc gửi về sợ hãi sẽ bị chúng khám xétngười nên phải nhét hàng vào sau những tấm carton quây chung quanh tường hòng phi tang món hàng mới mua được, sau đó bọn công an sẽ vào lấy và bỏ túi!

Tôi đã mua được vài hộp thuốc tây nhưng quyết không để chúng ăn cướp của tôi, tôi cứ cất giấu trong người, từ trưa đến chiều bọn công an thả tôi ra, thế là từ sáng đến chiều con bé đói lả. Tôi đành dẹp nghề đi buôn phi trường! Lại phải đi buôn cách khác chứ không lấy gì mà ăn!

Tiền thì đã phải đổi từ quân ăn cướp sạch mỗi người chỉ đổi được 200 đồng tiền “già Hồ” thì ăn được mấy ngày? Bà ngoại chồng tôi đã phải cột tiền hàng triệu vào đá thả trôi sông sau khi cầm 200 đồng tiền Hồ đổi được, bà ngoại có ruộng đồng dưới miền Hậu giang.

Tôi lại đi buôn bánh ngọt biscuit Chợ lớn họ làm rất ngon, thấy trên chợ Bến thành có mấy xe hàng bánh bán đắt hàng nên lại bắt trước, cũng khó yên thân với bọn công an, những thùng bánh cân bán cũng tạm đắt khách mấy tay công an cứ đến làm khó dễ, ý bọn họ muốn dân mình chết đói cũng mặc xác mình!

Có lần tên công an đuổi tôi và rút súng nạt nộ dọa bắn, tôi chán nản chẳng còn thiết sống cái trong kiếp đọa đày CS này nữa nên gào lên: “Bắn đi, cứ bắn đi chán sống như thế này lắm rồi, có biết không?”. Thế mà nó lại không làm dữ, buông mấy câu chửi rồi bỏ đi mất. Cứ thế, cứ thế mà lết cuộc sống cho qua ngày. Dân chúng miền Nam thời đó buôn quanh bán quẩn ăn bữa no bữa đói là như thế, có gì làm căn bản cho cuộc sống đâu!

Chồng tôi thì mới từ Mỹ về tháng hai 75, chúng tôi quen biết nhau hai năm trước đến khi anh về lại Việt Nam chúng tôi trở thành thân nhau hơn và thương yêu nhau nên đã cưới nhau giữa tháng tư năm 75, lo giấy tờ cưới chạy giặc y như chạy tang, cái tang của dân tộc có gì khác? Lúc đó gần thấy mất miền Nam nên người dân rất lo sợ nhiều điều, nên tôi cũng sợ sẽ bị lấy chồng bộ đội mà làm giấy tờ cho mau, nhờ người em rể đóng quân dưới quận sát cạnh Sài Gòn!

Người lính thất thế VNCH dưới sự cai trị của đảng VC thì làm sao mà không khổ cho được, chồng tôi cũng phải đi mua việc. Được giới thiệu để mua việc, phải trả tiền để có giấy đi làm để khỏi bị khó dễ. Đã trả tiền cho chủ (bọn cán bộ nhà nước) lại còn bị làm những công việc nặng nề và hôi hám, chồng tôi về cứ tắm rồi xịt nước hoa vì ám ảnh mùi hôi!

Ít lâu mua giấy làm việc chỗ khác, không đi làm nhưng cứ sáng phải ra khỏi nhà giả bộ như đi làm, đến nhà Mẹ tôi hoặc đến chợ trời hùn hạp với anh bạn không quân bán tủ đồng hồ Thụy sĩ đắt tiền cho những người có tiền sắp đi diện chính thức mua.

Rồi cũng cố sống qua ngày với những trăm ngàn khốn khổ kể chẳng hết! Năm 1977, có bà hàng xóm có mấy đứa con lai có quốc tịch Pháp đã đi năm 1976. Bà thường đến tủ hàng xén của tôi trò chuyện đỡ buồn, một bữa bà nói “Này cô, ở trên bộ nội vụ tôi thấy họ đang cho những người con lai đi Pháp tìm cha đó cô thử coi”-” Nhưng cháu đâu có lai Pháp và đâu có cha Pháp mà tìm?”-”Cô thử đi, cô giống lắm”.

Tôi cũng cho qua câu chuyện này vì cho là chuyện không tưởng. Chồng tôi thì đã thử đi vượt biên vài lần nhưng không thành công. Tôi chẳng dám đi vì lúc 1977 đang mang bầu và cũng chẳng dư dả gì mà tính chuyện vượt biên, cốt ý cho những người đàn ông là chồng tôi và em trai tôi được ưu tiên đi trước.

Bất ngờ, một hôm tôi đi xe buýt lên Sài Gòn, tôi xuống xe vào nhà thờ Đức Bà cầu nguyện, lúc ra ngoài tự nhiên nhìn ngược về phía bên kia đường thấy có người bu đen bu đỏ trước một công thự. Như có Đức Mẹ chỉ bảo tôi tò mò xem chuyện gì, đi băng qua đường và thấy đó là Bộ Nội Vụ nơi đang thâu nạp đơn của những người con lai Pháp, thấy tôi đến mấy người tại đó tỏ ra rất nhiệt tình hỏi: ”Chị có xin đi con lai Pháp không?”-” Tôi đâu có giấy tờ gì đâu mà xin đi”

Họ nói “Hôm nay là ngày chót Bộ nhận đơn, ngày mai phải về quận mình nộp sẽ bị khó dễ à nha”. Rồi họ cho tôi tờ giấy trắng, đưa bút hỏi có tấm hình nào không? Trời ơi, sao may mắn quá trong bóp tôi có một tấm hình làm thẻ căn cước nhỏ. Thế là xong lá đơn xin đi tìm cha! Thật sự cha tôi đã chết năm 68, tôi xin vong linh người tha tội vì khi tôi làm đơn viết là tên cha trong khai sinh là cha nuôi và đi tìm cha Tây (Tôi lấy đại một nhân vật tên Lambert trong sách học).

Chồng tôi chờ đến năm 80 cũng chẳng thấy tôi được kêu đi Pháp bèn đi vượt biên lần nữa và thành công đã đến Đức vì tàu Cap Anamur vớt, nếu anh xin đi Mỹ cũng dễ dàng vì anh là lính VNCH và đã được tu nghiệp hai năm bên Mỹ. Nhưng anh sợ tôi không đi được con lai, nên anh không xin đi Mỹ vì còn tính chuyện bảo lãnh từ Đức cho tôi và con tôi. Hồi đó Mỹ và Việt Nam không bang giao, chỉ Đức và Pháp thì có thể bảo lãnh vợ con mau hơn nên chồng tôi đã chọn ở Đức. Nỗi vui mừng khi biết tin chồng tôi đã đến bến bờ Tự do, còn bao đồng bào tôi khi đi vượt biển số phận một nửa đã chìm sâu trong đại dương mênh mông, trong số đó có vợ chồng cô em họ bên chồng và đứa con đã mất tích cùng con tàu giữa biển cả hãi hùng!

Chồng tôi vượt biển được ít tháng thì mẹ con tôi cũng được kêu làm giấy tờ cho đi Pháp, nộp đơn khi cháu còn trong bụng ba tháng đến khi cháu ba tuổi tôi và cháu mới được đi. Tôi tin là Đức Mẹ đã phù hộ cho tôi vì những ngày tháng đó tôi cầu nguyện rất nhiều xin cho tôi gặp may mắn để ra đi và tới được xứ Dân chủ Tự do.

Rời bỏ Quê hương, bỏ lại Mẹ già và các em tôi như đứt từng đoạn ruột, nhất là xa Mẹ và đứa em trai út ngoan ngoãn hiền lành ở tuổi 16, tuổi thanh niên sẽ sống ra sao dưới chế độ độc tài bạo tàn CSVN này. Nghĩ thế chuyến đi của tôi đã đẫm lệ ly biệt gia đình!

Từ sau ngày 30 tháng Tư 1975, nhiều đoạn đời còn đau thương gấp mười lần cảnh khổ của tôi và đến ngày hôm nay đây, đồng bào của tôi vẫn bị cướp bóc do đảng Cướp Sạch Cộng Sản VN này gây ra đau thương cho quê hương tôi cho đồng bào tôi!

Cảnh đời tại Quê hương tôi kẻ giầu có sống trong những tòa lâu đài, nhà cao cửa rộng ăn tiêu phung phí như các nhà tỉ phú đảng viên đỏ, con cháu phè phỡn con vua lại được làm vua!




Cảnh đời sau lưng thành phố, sau lưng những biệt thự lâu đài này là những học sinh đi học phải đu dây qua suối, lội qua suối, ngồi vào trong bọc nylon để “bác tài” bơi đưa qua sông cho khỏi ướt nếu không có tiền thì lội rồ đi bộ đến trường cả chục cây số vào trường với quần áo còn ẩm ướt;

Cảnh đời sau lưng những xa hoa lộng lẫy của thành phố phục vụ khách du lịch ngoại quốc, phục vụ các quan “áo gấm về làng”, là những bà Mẹ Việt Nam đã gần tám chục tuổi già mà còn phải lội xuống sông, xuống suối năm sáu giờ một ngày để bắt những con cua, con tôm để đổi lấy gạo hẩm nuôi đàn cháu phụ đỡ với con.

Những bà mẹ Việt Nam già còng lưng tóc bạc còn gánh những gánh hàng nặng nề, còn ngồi ngủ gục bên quang gánh đoạn trường!

Dân oan ngày nay bị nhà cướp đất như ngày trước bị cướp nhà đuổi lên “kinh tế mới”. Vẫn cảnh màn trời chiếu đất, đói khổ cơ hàn!

Từ 1975 đến 2014. Cảnh đời đau khổ của dân chúng có gì thay đổi? Gần bốn mươi năm sau ngày cái gọi là “Giải phóng” từ những bọn người tự mệnh danh là “đỉnh cao trí tuệ” là “văn minh loài người” đã đưa dân tộc “xuống hố cả nút” và chỉ có một thay đổi duy nhất là những đảng viên cao cấp được “giải phóng rất huy hoàng” từ vô sản chuyên chính đã tự giải phóng để trở thành những triệu phú, tỉ phú dollar!

Bao giờ cho hết đảng ác gian CSVN độc tài toàn trị trên Quê hương Việt Nam?

Chỉ có sự tranh đấu quyết liệt từ toàn dân mới giải trừ được đảng CSVN mà thôi!

Nguồn: Thiên Kim/Danlambao

.
Về Đầu Trang Go down
cdvinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Mon Mar 09, 2015 9:55 am




Thằng dân

Tiểu Tử

(phiếm luận)

Trong chuyện phiếm này, tôi gọi “thời chú Sam” để chỉ miền Nam trước tháng 4 năm 1975 và “thời bác Hồ” để chỉ miền Nam dài dài sau đó. Cho thấy miền Nam trước có chú, rồi sau có bác thay thế nhau chăm sóc tận tình. Thật là…đại phước!

Ở xứ nào không biết, chớ ở Việt Nam xưa nay người dân vẫn được coi như không có… kí lô nào hết, mặc dù họ đông như kiến!

Hồi thời Pháp thuộc (Phải lấy thời này để làm cái mốc cho thời chú Sam và thời bác Hồ. Bởi vì không có Pháp thuộc thì làm gì có bác Hồ, làm gì có chú Sam?), có “ông Tây bà Đầm” ăn trên ngồi trốc. Người dân sanh ra vốn… thấp cổ bé miệng, không ngóc đầu lên được. Văn chương hồi đó hay viết “dân ngu khu đen” nghe thật miệt thị nhưng lại diễn tả rất rõ nét vị-trí… sát đất của người dân (chỉ có ngồi lê dưới đất nên khu mới đen như vậy!) và xác nhận với chính sách ngu dân thời ấy, người dân ngu là cái chắc.

Câu “dân ngu khu đen” cũng từ từ biến thể cho hợp thời trang ngôn ngữ, và trở thành “dân đen” cộc lốc. Không… sáng sủa hơn bao nhiêu, nhưng bớt được tiếng “ngu” cũng đã là một… tiến bộ. Không phải nhờ vậy mà người dân khôn ra, lẽ dĩ nhiên. Nhưng hai tiếng “dân đen” nói lên rõ rệt sự khác biệt giữa dân bản xứ da vàng và nhà cầm quyền hồi đó, toàn là dân da trắng!

Người dân hồi đó được thực dân gọi một cách miệt thị: cu-li, nhà quê. Dù anh có ăn học, dù anh có nghề nghiệp, người da trắng vẫn coi anh là cu-li là nhà quê tuốt.

Nhớ lại một hôm, anh tôi và tôi đạp xe đi dạo bến tàu Sạc-ne (sau này gọi là bến Chương Dương và sau này nữa tên là… Tôn Đức Thắng!). Thấy hai tên lính lê-dương (légionnaire) Pháp, to như cái tủ đứng, ngồi chồng lên nhau trên một chiếc xích-lô đạp, làm chổng bánh sau lên. Anh phu xích-lô, ốm tong ốm teo, không biết làm sao để giải thích rằng ảnh không thể nào chở được hai người, vì ảnh nhẹ quá. Ảnh bèn cầu cứu chúng tôi. Có lẽ ảnh thấy chúng tôi có vẻ học sinh sinh viên chắc biết ít nhiều tiếng Pháp nên nhờ thông-ngôn. Anh tôi “ra tay nghĩa hiệp” can thiệp. Một tên lê-dương túm ngực anh tôi, sừng sộ bằng tiếng Pháp: “Đi chỗ khác! Đồ cu li khốn nạn!”. Dĩ nhiên chúng tôi không đợi nói thêm một tiếng, vội vã phóng lên xe, đạp đi. Một đỗi xa nhìn lại thấy một thằng lê-dương đạp xích-lô chở một thằng lê-dương, chạy vù vù, cười hắc hắc! Còn anh phu xích-lô thì hổn hển chạy bộ phía sau, chẳng nói chẳng rằng… Những hình ảnh đó bây giờ nhớ lại, đã sáu chục năm qua mà sao lòng vẫn còn nghe căm phẫn!

Sau hiệp định Genève, Pháp… phú-lơ-căng (Âm tiếng Pháp “Foutre le camp” = dông mất – rất thông dụng thời đó) Việt Nam bị chia làm đôi, lấy sông Bến Hải làm ranh giới. Người dân miền Bắc sống với cái-gọi-là tự do của miền Bắc. Người dân miền Nam cũng có cái tự do riêng của miền Nam. Cũng là “tự do” cả nhưng trong hình thức có rất nhiều dị-biệt. Bắc Nam bỗng trở thành hai xứ như là lạ hoắc! Tuy nhiên, dù đất nước bị chia hai, cái “khối” người dân không có gì thay đổi, nghĩa là vẫn còn nguyên là những con cờ…

Rồi miền Nam có ông vua Bảo Đại – chuyên sống ở Pháp – vì thương dân nên gởi ông Diệm về Việt Nam tham chánh. (Ông vua này thì người dân biết từ lâu. Ít ra cũng biết… tên!). Rồi có ông Diệm, vì thương dân nên… lật ông Bảo Đại rồi lên làm tổng thống. (Ông này thì người dân chỉ mới biết khi ổng trèo lên ghế tổng thống. Cứ nghe ra rả hằng ngày “Toàn dân nhớ ơn Ngô tổng thống ”, không biết rồi cũng phải biết!) Rồi có chú Sam, vì thương dân Việt Nam, ra tay giúp đỡ ông Diệm hết mình. Người dân bắt đầu biết đến chú Sam với lá cờ nhiều sao và hình vẽ hai bàn tay nắm lấy nhau được dán lên nhiều món hàng ngoại quốc nhập cảng. Nhìn cái nhãn, người ta hiểu đơn giản là bàn tay chú Sam nắm bàn tay người bạn mà chú giúp đỡ. Chẳng nghe ai thắc mắc: “Chú Sam muốn nói chú giúp mình hay chú muốn nói tao bắt mày phải đi theo tao?” Người dân miền Nam vốn… thiệt thà!

Bây giờ, người dân hết là dân đen. Không phải được… đổi màu như người dân miền Bắc, mà là được tẩy sạch trong từ ngữ miền Nam. Tuy nhiên tùy hoàn cảnh, tùy trường hợp, tùy tâm trạng mà người ta cũng có gọi người dân bằng “thằng dân”, nghe hơi nặng một chút. Nhưng riết rồi “người dân” hay “thằng dân” đều nghe cũng… xêm xêm (Âm tiếng Mỹ “Same same” = như nhau). Bởi vì, nặng nhẹ gì thì người dân cũng đã quen được coi như không có kí lô nào hết xưa nay!

Lâu lâu người dân cũng nghe các chánh trị gia gọi mình là “khối quảng đại quần chúng” nghe thật… rổn-rảng khó hiểu nhưng lại khoái lỗ tai, hoặc gọi là “toàn thể nhân dân” rất nho-nhã nhẹ nhàng, và lắm khi gọi “đồng bào thân mến” nghe thật là… âu yếm!

Thật tình, người dân vào thời này bắt đầu thấy rằng mình coi vậy mà cũng “có giá” . Hết còn nghe gọi người “dân” cộc lốc, mà lại được ghép vào với tiếng “công” oai vệ để trở thành “công dân”. Không có gì, nhưng mang thêm chữ “công” vẫn thấy quan trọng như “công chức”, “công sở”, “công khố “, “công an” … những thứ “công” làm toát ra sự “chẳng có thằng nào dám đụng tới”. Sướng chớ! Mà thật vậy, có ai dám gọi “thằng công dân” đâu? Thường thì gọi “người công dân” hay ít lắm cũng gọi “anh công dân“. ( Chưa nghe ai gọi “ông công dân”. Có lẽ tại vì gọi như vậy, người ta sẽ nghĩ là có “ẩn ý nhạo báng”!)

Từ ngày mang “chức” công dân, người dân được nhà nước chiếu cố… “đậm”. Ngày nào cũng kêu gọi “Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng…”. Rồi gần đến ngày bầu cử tổng thống, dân biểu v.v… luôn luôn được nhắc nhở “đi làm bổn phận công dân”.

Nhân nói đến vụ bầu cử, phải thấy lúc đó người dân được… trọng vọng đến mức nào. Các ứng cử viên hay các liên danh ứng cử, trong thời gian vận động bầu cử, đều hết lời “o bế” người dân. Hằng ngày, trên truyền thanh truyền hình, trên báo chí bích chương… họ cúi xuống nâng người dân lên như nâng trứng mỏng, nói ngon nói ngọt để người dân bầu cho họ. Còn khuyên “nên chọn mặt gởi vàng”, làm cho người dân thấy tự nhiên mình… giàu ngang xương! Cái lá phiếu trong tay người dân – bằng giấy – coi vậy… mà nặng kí!

Sau bầu cử, người dân được trả về cương vị bình thường của người dân, cộng thêm những người bị thất cử. Những người này, không cần hỏi ý kiến ai, cứ “đánh trống thổi kèn” tuyên bố rân lên rằng “Chúng tôi đứng về phe người dân để đối lập với chánh quyền!” Làm như hễ là dân thì phải đối lập với chánh quyền vậy! Cũng chẳng thấy có người dân nào đứng lên phản đối. Đã nói: người dân miền Nam vốn… thiệt thà!

Bỗng một hôm, “người ta” đảo chánh ông Diệm. Người dân ngơ ngác bởi vì, trái với những lần bầu bán, lần này người dân không được ai “hỏi thăm” hết, thậm chí chẳng nghe ai tuyên bố theo… truyền thống rằng “đảo chánh vì dân”! Thì ra, “người ta” toàn là tướng tá, binh chủng này binh chủng nọ. Họ không phải…dân!

“Họ” đảo rồi, lại đảo nữa. Cuối cùng cũng lật được ông Diệm. Lần này, người dân thấy có vẻ an toàn nên cũng xuống đường hoan hô. Thật ra, trong thời đệ nhứt cộng hoà, người dân đâu có bị chèn ép đè đầu cỡi cổ bốc lột tơi bời như thời Pháp thuộc. Người dân chỉ “ngứa con mắt” ở cái lối trịch thượng ăn trên ngồi trốc quá lố lăng của gia đình ông Diệm, cộng thêm hành động kỳ thị tôn giáo quá lộ liễu. Vì vậy, khi ông Diệm và gia đình bị lật xuống, người dân thấy như được… nhổ cái gai trong con mắt, cho nên họ cũng vỗ tay hoan hỉ!

Tiếp theo là mấy ông tướng, ông tá đảo chánh nhau, đảo qua đảo lại. Người dân vẫn bị cho ra rìa, nên đứng ở bên ngoài xem như xem tuồng hài hước trên sân khấu. Vở tuồng đang diễn bỗng bị chú Sam núp ở đâu đó giựt giây hạ màn! Người dân ngẩn ngơ, rồi cũng… xách đít “đi chỗ khác chơi” để “người ta” làm chánh trị.

Thật ra, vào thời điểm đó, miền Nam còn được cái may là có một người trong giới lãnh đạo “biết” nghĩ đến dân: đó là ông tướng tầu bay Nguyễn Cao Kỳ. Khi nắm chánh quyền, ông tuyên bố và cho kẻ khẩu hiệu đầy đường: “Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ là chính phủ của dân nghèo”. Thật là ngạc nhiên đến… ngỡ ngàng! Người dân nào đã lỡ giàu bỗng thấy mình thuộc vào loại… vô chánh phủ nên cứ phập phồng lo sợ, còn người dân nghèo thì lại bâng khuâng không dám hoan hô vì không biết mình có thuộc vào cái… “típ” nghèo mà ông tướng đã tuyên bố? Bởi vì có hạng nghèo xơ nghèo xác, có hạng nghèo rớt mồng tơi, có hạng nghèo mạc rệp, có hạng nghèo kiết v.v… Thành ra, lời tuyên bố rất “nổ” của ông tướng giống như cục đá nhỏ rơi xuống mặt nước hồ, nghe cái chũm rồi… hết! Tuy nhiên, lần đầu tiên người dân thấy mình được đứng chung với chánh quyền – dù chỉ là trên khẩu hiệu – cũng thấy có chút gì an ủi!

Rồi chú Sam ồ ạt đổ quân và đồ “PX” lên miền Nam mà chẳng thấy có “trưng cầu dân ý”.

Người xưa nói “ý dân là ý trời”. Người nay cầm quyền, đã không cần đến ý dân thì đâu có ông nào nói với chú Sam: “Thưa chú, ông bà tôi nói như vầy…như vầy…”. Cho dù có ai nói cho chú Sam thì cũng chỉ làm cho chú cười văng… sơ-quynh-gum, bởi vì chú đâu có tin. Chú đã từng bay lên trời, bay lên cung trăng, bay lên bay xuống như ăn hamburger hằng bữa… chú đã gặp ông trời đâu mà tin! Vã lại xưa nay chú Sam chỉ thấy ý của chú là “năm bờ oan” thì chú đâu cần hỏi ý kiến của ai khác. Vì vậy, chú cứ… nhắm mắt đưa quân vào miền Nam như đi… vào chỗ không người. Chẳng có một người dân nào đứng lên phản đối. “Họ” – người dân – nói:” Mấy ổng (ám chỉ nhà cầm quyền) đã ô-kê Salem với chú Sam rồi, mình có la nô-gút nô-gút (no good! no good!) chỉ có… chó nó nghe!”

Trong “thời chú Sam”, mặc dù đang đánh giặc với Bắc Việt, người dân vẫn đi lại thong thả, miễn là đừng… lội sông Bến Hải để ra ngoài Bắc. Năm khi mười hoạ mới bị hỏi căn cước. Trong trường hợp vào ra ở các “lãnh địa” của chú Sam thì lúc nào người dân cũng bị chú lính của chú Sam hỏi giấy bằng tiếng Việt bỏ sai dấu: “Cán cuốc! Cán cuốc!” (căn cước). Chẳng thấy người dân nào… cười!

Ngoài ra thì đời sống của người dân rất tự do thoải mái. Tự do buôn bán. Đồ PX (dân gọi là pi-éc – là các mặt hàng nhập vào Việt Nam bán riêng cho quân đội chú Sam, không có thuế nên giá rẻ – lính chú Sam mua ra bán lại cho dân) tràn ngập các chợ trời. Còn hàng hoá sản xuất trong xứ cũng bán đầy các chợ các phố. Tự do ngôn luận, in sách, ra báo. Thật tình, ở đây có… lạm phát: báo đủ loại – báo ngày, báo tuần, báo tháng… khoảng chừng trên 30 tờ! Người dân đọc… mờ con mắt luôn!

Cuộc sống tương đối dễ chịu, dễ…thở. Đùng một cái,Việt Cộng tổng tấn công ngay trong ngày tết Mậu Thân. Chúng tin tưởng rằng “toàn dân miền Nam sẽ nổi dậy lật đổ chánh quyền!”. Té ra, người dân, vì sợ, nên chỉ lo bồng bế nhau chạy! Lần đó, Việt Cộng thất bại nặng. Lần đó, người dân thật sự thấy tận mắt Việt Cộng là ai, để sau đó biến sợ hãi thành căm thù. Chỉ cần một ngòi nổ là nó bùng lên để “quạt” cho Việt Cộng một đòn “chí tử”. Vậy mà không thấy chú Sam… nhúc nhích một ngón tay! Chú không đánh trả, đã đành. Chú còn ngăn không cho quân đội quốc gia đánh trả. Chú đi một nước cờ mà không ai hiểu gì hết! Và lần đó người dân nhìn chú Sam bằng một con mắt khác. Họ nói: “Không biết cái thằng cha chú Sam này muốn cái gì? Thiệt là ngược đời! Kẻ thù thì mình biết rõ, còn thằng bạn đồng minh nhai sơ-huynh-gum này thì mình…mù tịt!”.

Từ chỗ nhận định nói trên, người dân bắt đầu nghi ngờ cái ý nghĩa của hai bàn tay nắm lấy nhau dưới lá cờ nhiều sao làm nền cho loại nhãn dán trên các đồ viện trợ. Ai cũng nghĩ rằng cái nhãn đó có…hai mặt. Giống như chú Sam, chú cứ phải nhai sơ-huynh-gum liền tù tì để không ai “bắt gân mặt” mà đoán chú đang nghĩ gì, bởi vì chú muốn giấu “cái mặt bên kia” của chú, không phải giấu với địch mà giấu với thằng bạn đồng minh! Thế mới đau!

Rồi vì không còn tin tưởng nữa, người dân lo… thủ. Ai cũng dự trữ đồ ăn! Có tiền thì trữ nhiều, không tiền thì chạy nợ để trữ chút chút. Cho nó “ăn chắc”, bởi vì thằng cha chú Sam này coi vậy mà không phải vậy!

Tình trạng nhập nhằng này kéo dài tới hiệp định gì gì đó ở Paris. Tiếp theo là lính chú Sam “gô hôm” từ từ, trước sự dửng dưng của người dân, bởi vì họ đã lật tẩy “cái mặt bên kia” của chú. Cái nhãn “hai bàn tay nắm lấy nhau” không bị mưa mà nó cũng tróc, giống như đồ thợ mã!

Rồi thì “cơm không lành canh không ngọt” giữa chú Sam và ông Thiệu (tổng thống đệ nhị cộng hoà – xin nhắc lại cho những ai không… muốn nhớ!) Đùng một cái, ông Thiệu ra lịnh bỏ Pleiku/Kontum rút hết quân về vùng Duyên Hải. Quân đội và dân chúng ngạc nhiên đến bàng hoàng, bởi vì đã bị Việt cộng tấn công đâu mà phải rút? Còn phía Việt cộng thì… giật mình vội vã “nâng cao cảnh giác”, nín thở bất động , bởi vì không biết “thằng ngụy ác ôn này định dở trò gì đây?”. Người ta đồn (Hồi này, tin đồn đi nhanh hơn hỏa tiễn và người dân miền Nam chỉ sống bằng… tin đồn!) rằng ông Thiệu giận lẫy thằng bạn đồng minh “xỏ lá” nên chơi một cú cho nó xanh mặt! Không biết chú Sam có xanh mặt hay không chớ thằng dân thì xanh mặt dài dài… Bởi vì không biết không hiểu gì hết. Cứ thấy quân đội tự nhiên rút chạy là cắm đầu chạy! Mà có hỏi quân đội thì – than ôi! – quân đội cũng bù trất! Vậy là kinh hoàng, là hỗn loạn! Vậy là cứ… nhắm mắt chạy. Càng chạy càng sợ! Càng sợ càng chạy! Người dân giống như những con cờ bị người chơi cờ hất trọn bàn cờ xuống đất, văng tung toé khắp nơi, rơi vào hốc vào kẹt, rơi vào lỗ cống đường mương… Ai biết? Ai thèm biết? Nghĩ mà thương cho người dân miền Nam “sanh chẳng gặp thời”…

Từ miền Trung dài vô Sàigòn, chỗ nào cũng thấy chạy. Dân chạy trước. Phía sau dân là quân đội. Phía sau quân đội, xa thật xa, là Việt cộng. Họ đã mất thời gian “điều nghiên tình hình” để nhận thấy hiện tượng “ngụy quân” rút đi là có thật. Thế là “ta” xua quân chạy theo “toé phở” nhưng vẫn láo phét rằng “quân ta đuổi chúng nó chạy… toé khói”!

Tình trạng hỗn loạn này được tiếp nối bằng sự ồ ạt di tản ra… biển Đông. Cũng là chạy nhưng chạy ra khỏi xứ!

“Thời chú Sam” được hạ màn vào cuối tháng tư năm 1975. Màn không được hạ từ từ theo đúng “điệu nghệ sân khấu” với giàn kèn đồng thổi bản “ò e rô be đánh đu”! Màn bị hạ… cái rẹt như bị đứt giây, bởi vì anh hạ màn… bỏ mẹ nó xuống cho rồi để còn vắt giò lên cổ chạy cho kịp nhảy lên chiếc trực thăng di tản cuối cùng!

Chú Sam “gô hom” để lại miền Nam vô số sơ-huynh-gum đã… nhai rồi và một lô con lai, có trắng có đen… gọi là kỷ niệm!



Đây nói về người dân vào “thời bác Hồ”…


“Thời bác Hồ” được… kéo màn khai diễn bằng một hình ảnh lẽ ra phải hào hùng, nhưng mấy anh Bắc Việt đã dàn cảnh vụng về cho nên đã trở thành ra lố bịch.

Số là…

Ngày 30 tháng tư năm 1975, cổng vào dinh Độc Lập đã được mở rộng để “đón tiếp các anh em Giải Phóng”, sau lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương văn Minh. Thay vì cứ đường hoàng oai vệ tiến thẳng vào dinh – vì là người thắng trận – mấy ông Bắc Việt đã dàn cảnh bằng cách đóng cổng lại để cho một xe tăng mang cờ Giải Phóng ủi sập rồi ngất ngưỡng… bò vào bên trong như một thằng say. Báo chí, truyền hình chụp ảnh quay phim liền tù tì, cho thế giới thấy rằng “chính quân đội và nhân dân ta đã tiến công ủi sập chính quyền miền Nam”. Trong màn diễn xuất đó, họ quên mất người dân nên chỉ thấy có lèo tèo mấy anh Giải Phóng! Trong lúc đó, dân chúng – khá đông – đứng xa xa nhìn một cách bàng quan, không hiểu “tại sao không chạy thẳng cha nó vô cho rồi, chớ đóng cổng làm chi để rồi phải ủi sập mới vô được, thiệt... làm chuyện ruồi bu!”

Tiếp theo là lá cờ Giải Phóng Miền Nam lớn bằng tấm chiếu phe phẩy trên nóc dinh giống như người chạy việt dã vừa về tới đích. Và tiếp theo là hai câu đối thoại đáng “đi vào lịch sử”: Khi được ông Dương Văn Minh – vị tổng thống… phù du nhứt lịch sử – nói: “Mời các ông ngồi vào bàn để chúng tôi bàn giao”, một ông… nón cối Bắc Việt “phang” cho một câu “Bàn giao cái gì? Các anh thua trận, đầu hàng vô điều kiện mà còn cái gì để bàn giao?”. Không biết những người miền Nam có mặt lúc đó – tổng thống, tổng bộ trưởng v.v…– có nghe “đau như hoạn”?

Vậy là…giải phóng! Người dân cũng có vỗ tay. Hết chạy loạn là… vui rồi. Hết giặc, con cái hết đi lính… là vui rồi. Một phóng viên miền Bắc phỏng vấn một bà già miền Nam: “Thế… bà má có vui không nào?”. Trả lời: “Ờ… vui chớ! Nhờ có mấy ông giải phóng về kịp nên mới yên! Chớ không, tụi Việt Cộng nó pháo kích riết chắc chết quá!”. Ở một nơi khác, phỏng vấn một anh xích lô, anh ta trả lời: “Vui chớ sao không vui! Đạp xích lô lúc nào cũng bị tụi nó nghi là Việt Cộng”. Rồi anh chỉ vào mặt mình: “Anh coi! Mặt tui vầy mà là Việt cộng à?”

Mà vui thật! Ở Sàigòn đông lắm. Thiên hạ đi đầy đường. Xe hơi, xe gắn máy, xe đạp… nối đuôi nhau nhích nhích. Vậy mà chẳng thấy ai gây gổ với ai, cũng chẳng nghe ai nóng nảy tin tin một tiếng kèn! Đó là lần đầu tiên người dân tự động “xuống đường”, không phải để đấu tranh mà là để đi coi… bộ đội! Cũng giống như đi coi chợ phiên sở thú. Vui lắm!

Gánh hát mới khai diễn chưa kịp đánh trống thổi kèn quảng cáo mời mọc mà đã được khán giả bốn phương kéo tới xem thật đông như vậy thì thật là… “thành công, thành công, đại thành công!” Người dân cũng thấy khoái bởi vì toàn là đào kép mới – cái gì lạ cũng hấp dẫn – và bởi vì được đi coi…thả giàn.

Sau mấy lớp hài hước mở màn như chuyện mấy anh bộ đội nói dóc nói phét “Hà Nội cái gì cũng có”, chuyện “nhà ỉa nhà đái… trong xô” v.v… sân khấu bỗng chuyển sang bi hài kịch mà trong đó người dân được kịch tác gia cách mạng đẩy lên đóng vai chánh! Người dân ngạc nhiên dở khóc dở cười… Vai chánh đó có cái tên nghe lạ hoắc: “nhân dân làm chủ”!

Từ một tay ngang bước lên sân khấu, dĩ nhiên là cần được các đạo diễn chăm sóc dạy dỗ tận tình để người dân được… lột xác biến thành kịch sĩ.

Đầu tiên, người dân được mang một cái tên khác cho đúng với điệu nghệ kịch trường: tên “Nhân Dân” (Xưa nay, trong giới cải lương kịch nghệ có… truyền thống là khi đã “đi hát” thì người ta thường lấy một cái tên khác đẹp hơn kêu hơn là cái tên cúng cơm. Vậy mới là nghệ sĩ!) Rồi “cái” nhân dân đó được dạy hô khẩu hiệu – đó là những bài bản… gốc của cách mạng mà ai ai cũng phải biết hát, cũng như trong giới cải lương kép độc hay hề gì cũng phải rành “sáu câu”… Đại khái, chỉ có mấy khẩu hiệu như “vĩ đại, vĩ đại, vĩ đại”, như “muôn năm, muôn năm, muôn năm”, như “sống mãi, sống mãi, sống mãi”. Vậy mà không phải dễ! Phải hô cùng một lúc và hô cho đúng nhịp. Hô lỏn chỏn là “có vấn đề đấy nhá!”. Tiếp theo là tập vỗ tay. “À… vỗ tay cũng phải tập chứ! Có phải như thời Mỹ Ngụy đâu mà các anh các chị muốn vỗ thế nào là vỗ. Muốn làm chủ, nhân dân phải tập cả vỗ tay nữa cơ!” Thế là học vỗ tay: mọi người trong hội trường cùng vỗ một lúc, không cần khoái tỷ hay thích thú gì ráo, chỉ cần thấy anh cán bộ đang nói bỗng ngừng lại vỗ tay là ta vỗ tay thôi!

Tiếp theo là đi học tập ba hôm về đường lối chủ trương của cách mạng. Thượng vàng hạ cám gì cũng phải học tập ráo. Cùng ngồi chung với nhau – thường thì ngồi dưới đất vì không có đủ băng đủ ghế, và vì không đủ chỗ nên ngồi cả ra hàng ba, ra sân – cùng nghe chung những gì mấy cán bộ nói. Và vì mấy cha cán bộ nói dài quá, lại thay nhau nói cùng một đề tài bằng những lời lẽ y chang như nhau nên người “nhân dân”, kẻ trước người sau, cùng chung nhau… ngáp! Suy cho cùng, ngáp cũng là một cách… phát biểu. Nó nói lên sự mệt mỏi chán chường. Về sau, khi đã… “quen nước quen cái” với những buổi hội họp học tập, với cái gọi là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý”… cách “phát biểu” độc đáo đó đã được người dân “khai triển” rất thoải mái, không phải giơ tay xin phép ai hết và cũng không sợ bị quy tội “bôi bác không khí nghiêm túc của hội trường”. Để thấy “Trong chế độ ta, nhân dân vẫn làm chủ… cái ngáp của mình đấy chứ!”.

Tiếp theo (trong “thời bác Hồ”, lúc nào cũng có một sự “tiếp theo” nghĩa là chẳng bao giờ thấy một sự ngưng nghỉ, cứ “học tập tiếp theo học tập”, cứ “đấu tranh tiếp theo đấu tranh”, cứ “khai báo tiếp theo khai báo”…) nhân dân học tập khai lý lịch, học tập báo công báo tội, học tập làm sổ hộ khẩu sổ gạo… Hết học tập ở tổ dân phố thì kéo nhau ra học tập ở phường – cũng như vậy thôi nhưng đông hơn nên… vui hơn – rồi học tập ở quận… Rồi đi mết-tinh, đi đón tiếp phái đoàn này, đi chào mừng phái đoàn nọ, đi làm lễ đón nhận lẵng hoa của bác Tôn (ông già này thay thế bác Hồ, nhân dân đoán như vậy). Ôi thôi! Rộn rịp, vui lắm!

Khác hẳn với “thời chú Sam”, người nhân dân bây giờ đi đến đâu cũng thấy cái sự làm chủ của mình nó… lòi ra cả đống. Bằng cớ là cái gì cũng thuộc về nhân dân ráo, cái gì cũng thấy dán nhãn “nhân dân” mà chẳng cần phải “cầu chứng tại toà”. Sướng như vậy! Này nhá: Ủy Ban Nhân Dân này, Toà Án Nhân Dân này, Quân Đội Nhân Dân này, Công An Nhân Dân này… đến tờ báo to nhất nước – của Đảng – cũng phải mang tên “Nhân Dân” đấy! Làm chủ, sướng nhá!

Thế nhưng, có hai cơ quan mà nhân dân không được làm chủ: đó là tổng cục kế hoạch và ngân hàng. Chỉ có hai cơ quan này là đặc biệt mang nhãn “Nhà Nước” nên được gọi là “Tổng cục kế hoạch Nhà Nước” và “Ngân Hàng Nhà Nước”. Nhà Nước nắm cái tổng cục để độc quyền lên kế hoạch… hốt bạc đổ vào ngân hàng của Nhà Nước, vậy là an toàn nhứt rồi! Người ta nói: “Đồng tiền là huyết mạch, Nhà Nước nắm cái huyết mạch đó là nhân dân… nhăn răng!” Nói như vậy là có ý bôi bác chế độ. “Hãy nhớ rằng, trong chế độ ta có sự phân công rõ rệt: Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân Dân làm chủ. Muốn quản lý, Nhà Nước phải nắm cái… hầu bao chứ. Không có cái đó thì quản lý cái đếch gì được. Rõ như thế đấy!”. Lý luận chắc nịch như đinh đóng cột, nhân dân chỉ còn nước đi chỗ khác chơi.

Dù sao đi nữa, được lên đóng vai chủ trong vở trường kịch của “thời bác Hồ” vẫn thấy khoái hơn ở “thời chú Sam”. Thời đó, người dân chỉ là người dân quèn với bộ mặt thật của nó, chưa từng biết thế nào là “vẽ lọ bôi hề”. Còn bây giờ, trên sân khấu cách mạng, người dân được tô son trét phấn để có bộ mặt khác – một bộ mặt không giống ai – vui chớ!

Qua “thời bác Hồ”, cái gì cũng thay đổi hết. Đặc biệt là người dân. Ngoài chuyện “nhân dân làm chủ”, người dân bây giờ nhìn lại mình cũng thấy không còn là mình nữa! Cả cái thân hình trước đây, chỉ còn lại có… cái miệng. Mỗi một người dân được xem như là một “nhân khẩu” – một cái “miệng người” – Tờ khai gia đình thời trước bây giờ được thay bằng “sổ hộ khẩu” trong đó kê khai có bao nhiêu…cái cửa miệng! Nghĩ cho cùng, Nhà Nước cách mạng có lý, bởi vì trong công tác “quản lý”, chuyện đầu tiên phải lo là “nuôi ăn”. Vậy, phải biết rõ “ta” có bao nhiêu cái miệng. Thế… Ngoài ra, nếu thấy cái miệng nào đã có ăn mà còn đòi cả quyền “nói” thì “ta” chận ngay không cho nó ăn. Có nói, đến chừng đói rã ruột ra thì cũng phải câm lại thôi. Đỉnh cao trí tuệ là ở chỗ này đấy!

Sau khi đã học tập tốt, nghĩa là người nhân dân đã rành bài bản để đóng vai “nhân dân làm chủ”, người nhân dân phải biết “đi thưa về trình”. Nói cho văn vẻ chớ thật ra là đi đâu phải xin giấy di chuyển của chánh quyền nơi cư ngụ và về phải trình lại giấy di chuyển có đóng dấu nơi mình đã đến. Nhân dân làm chủ khi dọn nhà qua ở chỗ khác phải làm thủ tục giấy tờ dời địa chỉ – gọi là chuyển hộ – có sự chấp thuận của chánh quyền hai nơi – nơi ở củ và nơi ở mới – Nhân dân làm chủ phải đi lao động xã hội chủ nghĩa (Thời trước gọi là “đi làm…chùa”). Nhân dân làm chủ “phải” triệt để thực thi quyền làm chủ của mình nghĩa là “phải” làm thế này, “phải” làm thế nọ… toàn là những thứ “phải” mà ở “thời chú Sam” tìm đỏ con mắt không có, ví dụ như phải đổi tiền, phải bị đánh tư sản, phải đi kinh tế mới, phải đi tập trung cải tạo… Chánh quyền mới gọi là “một cuộc đổi đời”. Họ nói đúng! Có điều là cuộc đổi đời đó xoay đến 180 độ, làm cho người dân thấy… ngất ngư!

Sau khi miền Nam được giải phóng, mấy cha Giải Phóng Miền Nam còn đang “cờ phất trống khua” trên sân khấu cách mạng bỗng bị… cúp điện hạ màn, đuổi vào hậu trường lảnh “lương cà phê” (Tiếng nhà nghề nói gánh hát không trình diễn, nghệ sĩ chỉ lảnh chút tiền để uống cà phê thôi) Họ bị giải tán một cách êm ru và dễ ợt như người ta liệng một miếng giẻ rách vào đống rác, trước sự ngạc nhiên của người nhân dân làm chủ. Bởi vì chuyện “đại sự quốc gia” như vậy mà chẳng thấy “lũ đầy tớ” nó hỏi qua ý kiến một lần! Rồi đến vụ thống nhất đất nước, những “công bộc của nhân dân“ cũng cứ quyết định một mình ên!

Thật ra, lấy công tâm mà nói, nếu có được hỏi thì cái “nhân dân làm chủ” cũng chỉ gật đầu nhất trí. Cứ xem nhân dân miền Bắc, tính đến năm 1975, họ “làm chủ” đã hai mươi năm, có thấy họ không nhất trí bao giờ? Người dân chắc nghĩ rằng mình làm chủ nhưng còn thằng khác nó làm chủ cái bao tử và sinh mạng của mình nữa, vậy, cứ luôn mồm nhất trí là…chắc ăn nhứt! (Một nhà văn lớn thời tiền chiến vào Nam thăm bạn bè sau 1975 đã nói nhỏ: “Tôi còn sống đây là nhờ tôi biết sợ“. Một câu để đời!) Cái ưu việt của chế độ là ở chỗ này đấy!

Tiếp theo là người dân học tập – lại học tập! – đi bầu. Hồi thời trước, người dân cầm lá phiếu thấy mình… oai ghê lắm. Họ tự do chọn lựa ứng cử viên, họ nhìn ảnh của từng người và còn phê bình “líp ba ga”: ông này dễ thương, giống kép Hùng Cường , ông này…cha! coi bậm trợn quá, à! còn bà này giống Túy Hoa ghê, coi đặng à v.v… Bây giờ thì khác: Đảng chọn, dân bầu. Sợ nhân dân mất thời giờ và mất công nên Đảng chọn dùm cho dân. Nhân dân chỉ còn có… nhắm mắt bầu. Sướng gần chết còn muốn gì nữa? Có điều là bầu bán bây giờ không còn rầm rộ trống kèn như thời trước nên chẳng thấy có gì hấp dẫn hết.

Sau giải phóng, người dân miền Bắc đua nhau vào Nam để “cứu trợ đồng bào ruột thịt miền Nam sống trong sự kềm kẹp của bè lũ ác ôn Mỹ Ngụy, đói khổ thiếu thốn vô cùng“. Còn người dân miền Nam, ít lâu sau, cũng lục tục kéo nhau ra miền Bắc, không phải để “tham quan” mà để… thăm nuôi thân nhân bị đưa đi tập trung cải tạo ngoài đó. Kẻ vô người ra như vậy thật là một sự… giao lưu đáng đồng tiền bát gạo, bởi vì nó “mở mắt” người dân của cả hai miền. Để thấy rằng dù “ở” với bác Hồ hay “ở” với chú Sam, người dân vẫn là những con cờ, không hơn không kém!

Bây giờ, gần bốn chục năm sau giải phóng, cuộc sống miền Nam cũng đã ổn định, nghĩa là người dân vẫn… sống nhăn, không phải nhờ khẩu hiệu “dân giàu nước mạnh…” mà nhờ biết xoay sở để sinh tồn. Cũng có hàng hoá đầy chợ. Cũng có quán xá đầy đường. Cũng có vài tờ báo của đảng / đoàn / cơ quan để đọc – vài tờ cũng đủ… chán, đâu cần phải ba mươi tờ như “thời chú Sam” – Cũng có tiểu thuyết lai rai của Hội Nhà Văn – cái hội mà chế độ đẻ ra để “gò” các nhà văn đi cho ngay cho đúng “đường lối chủ trương” – Cũng có nhạc vàng lả lướt đã thông qua sự kiểm tra của Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn, một loại “cục” lúc nào cũng thấy… nằm chình ình trên các DVD và băng nhạc dưới dạng con tem, trên đó có ghi rõ tên chương trình, hãng sản xuất, số giấy phép, mã số và hàng chữ đỏ “Nghiêm cấm in sao dưới mọi hình thức“.

Đảng vẫn lãnh đạo, Nhà Nước vẫn quản lý và Nhân Dân vẫn… làm chủ, lẽ dĩ nhiên!

Tính ra, “thời chú Sam” chỉ dài có hai mươi năm. Cái “số” như vậy thầy bói gọi là… yểu tử! Trong lúc “thời bác Hồ” vẫn còn tiếp diễn dài dài, gần bốn mươi năm mà chưa thấy hạ màn! Đó là cái “lô-gích” của thời đại bởi vì bác Hồ lúc nào mà chẳng “sống mãi! sống mãi! sống mãi!”?

Chỉ tội cho người dân, với bộ mặt “không giống ai” vì bị tô son trét phấn, có nhăn nhó vì đau quặn ruột người ta cũng vẫn thấy như đang…cười! Và người ta kết luận: “Tốt đấy chứ!”. Ở đây, phải hiểu “người ta” là Đảng và Nhà Nước.

Tiểu Tử
Về Đầu Trang Go down
HMMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Tue Mar 24, 2015 10:02 am



30 Tháng Tư, niềm đau khôn nguôi

                                                    
Vũ Ngọc Bích
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 tháng Tư và Đời Tị Nạn)

Sáng thứ sáu 25 tháng 4 năm 1975, khoảng 10 giờ, tôi đang  ngồi làm việc thì chị giúp việc thân tín và con gái  tôi lúc đó 11 tuổi, bước vào văn phòng tôi. Chị tới sát chỗ tôi ngồi, ghé tai tôi nói nhỏ:
- Thầy về nhà gấp, cô có chuyện muốn nói với thầy.

Tôi chỉ gật đầu và không muốn cho chị giúp việc nói thêm  nữa, vì tôi đã biết vợ tôi muốn nói gì rồi.  Trước đây, vợ tôi có làm việc ở phòng Điện toán của Hoa Kỳ tại phi trường Tân Sơn Nhứt.  Để tránh việc Việt cộng sẽ trả thù những người đã cộng tác với Mỹ, chính phủ Hoa Kỳ đã cho lập danh sách ưu tiên cho nhân viên làm sở Mỹ di tản bằng cầu không vận.

Hàng ngày, những tin tức chiến sự không mấy khả quan từ miền chiến tuyến gửi về làm nản lòng  người lính ở hậu phương. Tại đơn vị tôi, lúc đó Đại tá Nguyễn Hữu Đ. tới nhậm chức Cục Trưởng Cục Mãi Dịch Quân Đội đúng vào lúc xế chiều của miền Nam. Tôi cũng nhận được nghị định thăng cấp thiếu tá,  sau 5 năm mang cấp bậc đại úy vào giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến.

Tới văn phòng, từ sĩ quan cho tới anh em binh sĩ, ai cũng cầm tờ báo coi những tin tức nóng bỏng nơi trang nhất, bàn tán xì xào. Trong lòng  mọi người, hầu như ai ai cũng bị dao động, không nhiều thì ít.


Dòng người di tản trước khi Sài Gòn thất thủ. (Hình: Getty Images)

Tôi vẫn làm công tác đi thanh tra và thâu nhận hàng  tại các nhà kho của quân đội.  Tôi đã thấy có một vài nhà thầu  và giám đốc các công ty lớn lặng lẽ ôm tiền trốn ra ngoại quốc.  Họ bỏ đi, và không thi hành khế ước.  Mặc dầu đơn vị tôi đã gửi văn thư cảnh cáo sẽ áp dụng biện pháp chế tài, họ vẫn bất chấp và cứ tiếp tục bỏ nước ra đi.

Việc ra đi hay ở lại cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi sôi nổi giữa vợ chồng tôi trong suốt mấy tuần qua.  Vợ tôi đã ghi tên gia đình vào danh sách di tản, và chúng tôi đã nhận được “manifest” xác nhận chờ ngày đi.

Là một quân nhân, tôi cảm thấy hổ thẹn khi chưa chiến đấu gì mà đã bỏ đồng đội, bỏ bạn bè, lén lút ra đi. 

Tôi đã gay gắt nói với vợ tôi :
Mình cứ dẫn con đi trước.  Tôi ở lại, một thân  một mình, lúc nào đi chẳng được!

Vợ tôi vừa năn nỉ, vừa giận dỗi, dùng  đủ mọi cách để thuyết phục tôi cùng với nàng và bốn đứa con đi một lượt :
-  Anh nói dở hơi lắm !  Bao nhiêu người chạy chọt đủ mọi cách, để xin cho được một chỗ trong “manifest”.  Họ sẵn sàng bỏ ra cả ngàn đô la để đổi lấy một chỗ di tản bằng máy bay !  Anh không biết anh may mắn hơn hàng  trăm ngàn người sao ?

Tôi tần ngần :
-  Nhưng em không thấy vợ chồng mình vất vả dành dụm mười mấy năm nay, mới mua được căn nhà nhỏ nầy.  Sang đến Mỹ, anh không có nghề nghiệp gì chuyên môn, rồi mình lấy gì mà sống. Vợ tôi đau khổ ngắt lời tôi :
-  Một cái nhà này, chứ cả chục cái nhà nữa cũng bỏ hết!  Sang đến đó, còn cả ngàn người như mình nữa chứ.  Cớ chi phải lo không có việc làm? Không làm việc này, thì làm việc nọ !

Tôi cố vớt vát :
-  Em  không thấy hôm rồi, tổng thống Thiệu vừa lên TV nói gì sao ?  Chính ông ấy cũng ở lại, sát cánh với quân đội, cùng chiến đấu bảo vệ miền Nam mà !

Vợ tôi cười nhạt :

-  Anh nói vậy, là anh không biết gì hết rồi.  Con bạn đồng nghiệp của em lấy một sĩ quan Mỹ ở cơ quan DAO.  Nó vừa ghé nhà mình  thăm em. Nó nói chồng nó bảo sau bài diễn văn ấy, tổng thống Thiệu và gia đình được Mỹ đưa đi Đài Loan rồi !

Tôi cứ bán tín bán nghi. Tân thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn vừa ra nghị đinh dọa trừng phạt bất cứ công chức quân nhân nào rời nhiệm sở.  Đồng thời. Thủ tướng Cẩn ra lệnh đặt các nút chặn gồm quân cảnh lẫn cảnh sát được dàn ra trên cửa ngõ vào phi trường Tân Sơn Nhất,
biên giới và dọc bờ  duyên hải.

Suốt mười mấy năm chung sống, chưa lần nào chúng tôi bất đồng ý kiến trầm trọng như lần nầy.  Vợ tôi bực mình phát khóc.  Nàng tha thiết nói với tôi qua hàng  nước mắt :

-  Anh ở lại, lỡ tụi nó vào, tụi nó sẽ không tha anh đâu.  Anh vừa có tội di cư năm 54, vừa là sĩ quan đã từng chống lại chúng!  Anh đi với em và các con nhé.  Một mình em ra đi, với một bầy con như thế, làm sao em xoay sở cho được! Cứ như thế, mấy đêm rồi, tôi không ngủ được tròn giấc bao giờ, vì những lời nói, tiếng khóc của vợ tôi cứ lẩn quẩn trong đầu óc tôi.

Trong khi đó, mấy nhân viên trong phòng tôi xúm lại chỗ con gái tôi.  Họ đang thì thầm hỏi chuyện con bé.  Thấy tôi đưa mắt nhìn, họ lảng đi chỗ khác.  Tôi bảo chị giúp việc và con gái tôi đón xe xích lô máy về trước, và nói với vợ tôi cứ chờ ở nhà.

Tôi lặng người đi phía sau bàn giấy.  Trong lòng đầy bâng khuâng, bối rối, tôi nhìn những nhân viên đã từng cộng tác với tôi trong vòng tám năm qua tại đơn vị nầy.

Phóng tầm mắt xa hơn, tôi nhìn về phía cây tùng bách tán.  Không hiểu sao, tôi thấy cây tùng bỗng trở nên thân  thiết như một người bạn!

Tôi lẩm bẩm một cách vô thức ;
-  Tùng Bách Tán ơi! Ta sắp xa mi rồi !

Một nhân viên dân chính, bác T., được biệt phái tới làm việc ở phòng tôi từ ngày thành lập đơn vị.  Bác với tôi thân  thiết như người nhà.  Bác T. thường tâm sự với tôi những chuyện riêng tư, và tôi cũng, đôi khi, chia sẻ với bác những ưu tư thời cuộc.

Đến sát bàn tôi, bác T. ngồi xuống, nhìn tôi.  Chưa bao giờ tôi thấy khuôn mặt bác buồn rầu như vậy.

Bác T. chớp chớp mắt :
-  Chắc bà xã của Thiếu tá cho người làm đến kêu Thiếu tá về đi Mỹ, có phải không ?

Hôm nay, ngay cả với bác T., người bạn già thân  thiết nhất của tôi trong sở, tôi cũng không dám nói thật.  Tôi trả lời vắn tắt, trong bụng tôi biết là bác cũng biết tôi nói dối :

-  Tôi có chút việc nhà phải về gấp, xong việc có thể tôi trở lại sớm.
Rất may, trong giờ đó đa số nhân viên trong phòng tôi đã rủ nhau xuống Câu Lạc Bộ để giải khát. Chỉ còn tôi và người công chức già ngồi tâm sự.  Một niềm xúc động mãnh liệt dâng tràn trong lòng  tôi.
Trước khi ra về, tôi lấy chiếc chìa khóa ngăn kéo nơi bàn giấy, trong có để các hồ sơ và một số vật dụng cá nhân, đưa cho bác T.

Tôi nói :
-  Bác cứ tự nhiên, dùng  được cái gì thì dùng .

Tôi cũng móc ví, lấy hết các giấy bạc loại lớn trong đó, dúi vào tay người công chức già một nắm tiền.

Tôi vỗ nhẹ vai bác :
-  Bác giữ lấy để tiêu đi .
Người nhân viên của tôi ngạc nhiên, đưa cả số tiền trả lại :
-  Thiếu tá đừng làm vậy !

Tôi  nói, thật khẽ :
-  Xin bác cứ yên tâm. Lúc nầy, tôi không cần tiền nữa. Nghe lời nói quả quyết của tôi, bác cám ơn rối rít, nhét tiền vào túi quần phía sau và tiễn tôi ra tận xe.  Tới lúc đó, tôi mới cho bác biết là rất có thể tôi sẽ rời Sài Gòn vào chiều nay, nếu có chuyến bay đi Mỹ. Vừa nghe tới đó, bác cảm động ôm mặt khóc. Tôi nắm lấy hai vai bác T., an ủi bác; rồi mở máy, chiếc xe từ từ lăn bánh ra khỏi cổng.  Người lính gác đưa tay chào tôi, và tôi giơ tay chào lại.  Tôi quay nhìn lại cổng doanh trại một lần chót.  Tôi thầm nghĩ, chắc hẳn  bữa nay là ngày tôi giã từ đời binh nghiệp!  Trước mắt tôi, bầu trời như sụp tối, thời gian như ngừng trôi.

Chiến tranh “Ý Thức Hệ” đã gây tang tóc và đổ vỡ cho biết bao gia đình.  Một sự mất mát quá lớn lao.  Cuộc đời tôi, từ nay, đã rẽ vào một khúc quanh mới, không biết sẽ dẫn đến đâu, mà tôi phải chấp nhận, một chấp nhận quá phũ phàng !

Tôi đã biết rõ chính sách tàn bạo, thâm độc của người Cộng Sản khi họ chiếm làng tôi.  Họ đấu tố, đầy ải hàng chục gia đình trung nông đã từng đóng góp tiền của, xương máu trong cuộc kháng chiến chống Pháp.  Suốt hơn hai mươi năm thống trị miền Bắc, họ đã bần cùng hóa nhân dân, áp đặt lối cai trị hà khắc làm cho hàng  triệu người khốn khổ !

Tôi sẽ phải bỏ nước ra đi, tìm TỰ DO bằng bất cứ giá nào, vì tôi biết tôi không thể nào sống nổi dưới chế độ Cộng Sản được, dù chỉ là một ngày, một giờ.

Vừa về đến nhà, tôi thấy vợ tôi đang chuẩn bị một số áo quần, và vài thứ vật dụng, thuốc men lặt vặt.  Ngoài ra, những thứ gì nặng và cồng kềnh, tôi bảo nhà tôi bỏ lại hết.  Đến chiều tối, tôi chất hai cái valise và vài túi xách nhỏ lên chiếc xe Austin Minivan.  Vợ chồng tôi và các cháu sang chào cha mẹ tôi ở sát bên nhà tôi.  Cha mẹ tôi rưng rưng nước mắt, nắm tay tôi cầu nguyện Chúa che chở chúng tôi đi được bình an.  Tôi yên tâm ra đi, vì biết anh chị cả tôi có ba người con lập nghiệp tại Hoa Kỳ.  Các cháu, và người em ruột của chị dâu tôi đã vui lòng  bảo lãnh cho anh chị và cả ông bà nội nữa.

Vợ tôi ngồi bên cạnh, và bốn đứa con tôi ngồi băng dưới.  Tôi lái xe ra đi đến chỗ hẹn.

Tối hôm đó, gia đình tôi, gồm vợ chồng tôi và bốn đứa con, nghỉ tạm tại nhà ông anh vợ.   Chúng tôi thấp thỏm chờ đợi xe bus tới đón ra phi trường.

Các con tôi mệt, nên ngủ say sau khi tới.  Chúng tôi chờ đợi suốt cả đêm, mà chẳng thấy xe bus nào tới đón.  Đối với tôi, đêm hôm ấy dài vô cùng.  Chúng tôi đứng bật dậy, rộn ràng , hồi hộp khi nghe thấy tiếng còi xe hơi ngoài  ngõ, và thở dài não nuột khi bước ra cổng, thấy đó chỉ là một chiếc taxi nào đó.

Cứ xôn xao hy vọng, rồi lại ngỡ ngàng chán nản suốt từ chập tối hôm trước đến sáng  sớm hôm sau.  Thế mới biết cổ nhân nói câu “ Có thức đêm mới biết đêm dài “ cũng không phải là sáo ngữ!  Sáng hôm sau, vẫn chưa có xe tới đón.  Ông anh vợ tôi là Đại úy Nguyễn Văn An tòng  sự tại Bộ Quốc Phòng bảo chúng tôi cứ về nhà, chờ ở đó, và ông sẽ đích thân dùng  xe Jeep đưa chúng tôi tới thẳng  cơ quan DAO, tức là văn phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ.  Vừa về đến nhà, tôi dẹp quần áo và vật dụng linh tinh ở phòng khách sang một bên, rồi dựa vào chiếc ghế bành, ngủ ngon lành cho đến lúc nghe tiếng nói oang oang của bầy con nít con hàng  xóm làm tôi chợt thức giấc :

-  Nhà nầy họ đi Mỹ, bà con ơi !
-  Lại đây tụi bay, coi mấy người sắp đi Mỹ !

Tiếng ồn ào của bon trẻ con tinh nghịch làm tôi hơi bực mình.  Một đứa khác nói chen vào, đầy vẻ khoái trá trước sự đi hụt của chúng tôi :

-  Nhà nầy không đi Mỹ đâu, tụi bay ơi !  Họ đi Mỹ Tho đó.

Và cả bọn cùng cất tiếng cười ranh mãnh .  Nếu là những ngày thường, có lẽ tôi cũng ra phía trước, yêu cầu bọn chúng đi ra chỗ khác chơi.  Nhưng lần này, với mặc cảm của một người toan tính trốn chạy, tôi chỉ dịu giọng nói với mấy đứa trẻ trạc tuổi con mình :

-  Các em đi chơi chỗ khác, cho chú nghỉ ngơi một chút nhé !

Nói đoạn, tôi đưa chúng một túi kẹo chanh :
-  Các cháu chia nhau ăn đi !

Tụi trẻ đi rồi, tôi đảo mắt nhìn các vật dụng trong nhà, từ bộ bàn ghế tiếp khách mầu gụ chúng tôi mới sắm, chiếc đàn piano hiệu YAMAHA chúng tôi mới mua cho đứa con gái lớn cách đó sáu tháng, khi cháu bắt đầu học tại tư gia của nhạc sĩ  Nghiêm Phú Phi ở khu Tân Định.  Căn nhà vợ chồng tôi dành dụm bao nhiêu năm mới mua được này, tôi vừa thuê thợ sửa sang cho rộng.  Chiếc xe Austin sáu chỗ, tháng trước, tôi đưa làm máy và sơn một lớp sơn mới, chạy thật tốt.

Tôi nghĩ tới sự khó nhọc của hai vợ chồng tôi trong  mười hai năm trường mới tạo dựng được chút sản nghiệp khiêm tốn như ngày hôm nay.  Bỗng dưng một sớm một chiều, chúng tôi sắp mất hết.

Nghĩ tới đó, tôi bỗng đổi ý, và nói với vợ tôi :
-  Em nầy, mới hôm qua, ở tạm nhà anh của em một đêm, không phải nhà mình, mà  anh thấm thía câu nói “ Sẩy nhà ra thất nghiệp “ rồi !  Thôi, anh không muốn đi đâu hết.  Nhà mình, mình ở.  Ra đi, với tương lai vô định, không nhà không cửa.  Anh không muốn đi một chút nào nữa !

Vợ tôi ngạc nhiên :
-  Anh ơi, anh nghĩ quẩn rồi !  Chiều hôm qua, anh nói với em là anh nhất quyết ra đi vì không sống nổi với Việt Cộng.  Bây giờ, chỉ vì xe bus chưa tới đón, anh đã nản lòng , không chịu đi nữa !

Tôi nói :
-  Nhưng mà còn nhà cửa, bao nhiêu thứ mà anh và em vất vả xây dựng bấy lâu nay ?

Vợ tôi gào lên :
-  Những thứ đó, bỏ lại hết !  Mai mốt mình sẽ xây dựng lại. Còn người, còn của, mà anh?

Tôi cù nhầy  :
-  Anh Nghiêm, anh Chỉnh, anh An, chú Cảnh, chú Hiền, cũng đều là quân nhân, có ai đi đâu ?  Anh ở lại với các anh em của anh.  Em có đi, thì dẫn các con đi đi !

Đến lúc nầy, vợ tôi đã mất hết bình tĩnh.  Nàng khóc nấc lên, vừa khóc vừa kể lể :
-  Anh đã có thời sống gần tụi nó ở ngoài Bắc.  Các bác của anh ở lại đã bị tụi nó cắt cổ, đấu tố, đầy đi tù rồi, anh không nhớ sao ?  Rồi vụ tết Mậu Thân, chỉ là trung sĩ, cũng bị chúng nó bắt đi, đập đầu hoặc sỏ giây kẽm gai chôn  sống tập thể, anh không biết sao ?  Huống chi anh là thiếu tá.  Tụi nó gặp anh là bắn liền !  Thử hỏi lúc đó, nhà cửa này, của cải dành dụm này, anh có  chắc hưởng được không ?

Rồi nàng tiếp, dùng  tình cảm thuyết phục tôi :
-  Anh cũng phải nghĩ đến tương lai bốn đứa con anh nữa chứ ?  Đi ra khỏi nước, dù anh và em không làm nên trò trống gì, con cái mình sẽ có cơ hội tiến thân .  Em cũng chẳng biết chúng nó sẽ làm gì, nhưng chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội hơn là ở nhà rồi!

Trong lúc tôi ngồi thừ người ra, đầu óc hoang mang, không biết phải  nói gì, nghĩ gì, vợ tôi vừa khóc vừa chạy sang nhà cha mẹ tôi ở kế sát bên.  Nàng tin rằng chỉ có mẹ tôi khuyên giải tôi mới nghe ra.  Đúng như nàng nghĩ, mẹ tôi qua ngay tức khắc.  Bà nắm tay tôi, nhẹ nhàng khuyên bảo :
-  Con ơi, con nên nghĩ lại.  Sáng nay, anh chi Chang sẽ đến đón cha mẹ ra đi.  Cha mẹ đã từng ở với bọn chúng rồi.  Cha con đã từng bị chúng nó bắt đi, chỉ vì cha con là công chức.  Suýt nữa chúng nó đã thủ tiêu cha rồi đó.  Giữa  năm 54, ông bà ngoại con đã hơn 70 tuổi, mà còn liều chết trốn đi.  Vì ở lại là chúng nó sẽ đấu tố, làm nhục cho đến chết !

Bà nhìn vợ tôi, rồi tiếp :
-  Con may mắn lắm mới có vợ con đảm đang, xông xáo, lo cho con và các cháu ra đi.  Hai anh Nghiêm và anh Chỉnh của con muốn đi lắm, mà không có cơ hội như con.  Hai anh đang lo, mà không biết cách nào đi được. Con có cơ hội tốt. Đừng bỏ lỡ cơ hội hiếm có nầy!

Tôi nghe lời mẹ, hứa sẽ đưa gia đình đi.  Quyết định của tôi đã làm thay đổi hẳn cuộc đời của chúng tôi và tương lai các con  tôi!

Sáng Chủ Nhật 27 tháng Tư năm 1975, gia đình tôi sửa soạn để đi nhà thờ.  Tôi cũng đang ăn dở dang tô phở do chị giúp việc vừa mua về thì anh cả của vợ tôi, Đại úy Nguyễn Văn An, cũng vừa lái xe Jeep tới đậu ngay trước cửa nhà tôi.  Anh cho biết chúng tôi chỉ có đúng 10 phút chuẩn bị hành lý.  Tôi bỏ đũa, giúp vợ tôi sắp xếp hành lý lần chót.  Anh An giúp tôi chất hai chiếc valise lên xe Jeep.  Vợ tôi đưa trả tiền công cho chị giúp việc, và tặng thêm  cho chị một tháng lương nữa.  Tôi đã gọn gàng  trong bộ đồ dân sự, vợ tôi và bốn cháu ăn mặc thật giản dị.  Cả gia đình tôi ngồi gọn trên chiếc xe Jeep, trực chỉ hướng Tân Sơn Nhất.  Anh An nói, anh sẽ đưa chúng tôi tới thẳng cơ quan DAO.

Gần đến nơi, tôi chứng kiến cảnh người di tản chen chúc, giành giật nhau một chỗ đứng sát cổng vào bên trong.  Những chiếc xe Mercedes, Peugeot, Ford, Toyota còn mới toanh, không người lái, nằm ngổn ngang dọc theo bờ rào sát phi trường.  Anh vợ tôi dừng xe trước một trạm gác.  Một trung sĩ quân cảnh Việt Nam và một quân cảnh Mỹ đang làm công việc xét giấy.  Người quân cảnh Việt Nam xem sự vụ lệnh công tác và tờ “manifest” do tòa Đại sứ Mỹ cấp, rồi trao cho người quân cảnh Mỹ soát lại lần chót.  Sau khi xem xét giấy tờ và nhìn vào trong xe kiểm soát, hai quân cảnh Mỹ Việt giơ tay chào, và ra hiệu cho xe đi.

Thế là chúng tôi đã vào trong cơ quan DAO và trình giấy tờ trong khi các chuyến xe bus của tòa Đại Sứ Hoa Kỳ lần lượt chở các nhân viên và thân  nhân tới.  Khung cảnh thật là  náo nhiệt, tiếng người nói chuyện, bàn tán thật ồn ào.  Trên bầu trời, từng đoàn trực thăng bay tới bay lui như những con chuồn chuồn khổng lồ, hết chiếc nầy vừa đáp xuống thì chiếc kia lại bốc lên, có lẽ để đi  đón người di tản ở một địa điểm khác.  Chúng tôi  được chia ra làm từng toán, mỗi toán hai mươi người.  Bây giờ chỉ còn việc đợi xe bus tới chở ra máy bay.   Trong lúc chờ đợi, tôi đảo mắt nhìn xung quanh, qua hai lớp hàng  rào giây kẽm gai bao bọc cơ sở này.  Những người di tản tới cơ quan DAO bằng xe taxi đều bị chặn lại ngay tại cổng để kiểm soát giấy tờ.

Một chiếc taxi vừa dừng lại phía ngoài cổng. Trên xe một thanh niên trạc hăm ba tuổi, một phụ nữ trẻ bế đứa bé khoảng hai tuổi, và một cặp vợ chồng lớn tuổi lần lượt bước xuống. Tôi đoán chừng ông bà nầy là cha  mẹ của người phụ nữ, và chàng thanh niên là con rể.  Chàng thanh niên đưa xấp giấy tờ  cho người cảnh sát gác cổng; người này xem qua rồi đưa cho viên trung sĩ quân cảnh đứng cạnh.  Người quân cảnh nói gì với chàng thanh niên, và ra hiệu cho anh đứng  sang một bên. Người phụ nữ bế con tiến lại phân trần với người quân cảnh, rồi người đàn ông lớn tuổi cũng đến, dường như vừa thuyết phục vừa năn nỉ, nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu từ chối.

Một lát sau, xe quân cảnh đi ngang. Chàng thanh niên bị mời lên xe.  Người phụ nữ gào khóc, nắm chặt cánh tay người thanh niên, không cho lên xe.  Đứa bé cũng khóc thất thanh, ôm lấy chân anh ta. Thế là một cảnh giằng co xẩy ra, làm huyên náo một góc cổng gác. Người phụ nữ trẻ cố năn nỉ hai quân cảnh Việt Nam tha cho chàng thanh niên.  Tiếng gào khóc của chị nghe thật thương tâm!

Tôi để ý nhìn hai quân cảnh Mỹ đứng gần đó.  Họ không can thiệp gì cả.  Hai trung sĩ quân cảnh trên xe nói gì với người thanh niên.  Anh ta thì thầm điều gì đó với người phụ nữ.  Chị và đứa bé không gào khóc, níu kéo nữa.  Người thanh niên lên xe.  Chiếc xe Jeep quân cảnh đi đâu, không ai biết.  Tôi chỉ thấy cặp vợ chồng lớn tuổi và người phụ nữ trẻ, cùng đứa bé leo lên một chiếc taxi khác vừa đổ người xuống.  Chiếc xe đi ngược về phía cửa ngõ vào thành phố.  Tôi chắc gia đình họ trở về nhà.

Tổng thống Trần Văn Hương nhậm chức chỉ có mấy ngày, nhưng ông đã phải đương đầu với cảnh “dầu sôi lửa bỏng “ của đất nước.   Trên mặt báo, tôi đọc thấy tân thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn đã ra lệnh cho các viên chức có trách nhiệm phải ngăn chặn mọi thành phần quân cán chính trong hạn tuổi của quân đội, không cho những người nầy xuất ngoại bằng bất cứ phương tiện gì, đường hàng  không, đường bộ và kể cả đường biển nữa.  Lệnh này được áp dụng triệt để.  Báo chí thời đó tường thuật rõ ràng  những trường hợp cơ quan công lực bắt giữ một số viên chức trong chính quyền, kể cả quân đội, đang trên đường vượt biên.

Riêng trường hợp người thanh niên bị bắt giữ lại, tôi nghĩ cả người vợ và gia đình bên vợ cũng kẹt ở lại luôn.  Tôi không thể quên được tiếng khóc nức nở của người phụ nữ trẻ, khi người chồng bị bắt lại, và xe quân cảnh đưa đi.  Tôi nghĩ, các viên chức Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, khi chứng kiến cảnh bắt giữ thương tâm đó, có lẽ cũng bị “mất mặt” phần nào, vì chính phủ Hoa Kỳ đã đồng ý cấp giấy tờ cho cả gia đình người ta đi Mỹ, mà quân cảnh Việt Nam lại có quyền bắt giữ lại?  Tôi thấy hai viên chức Hoa Kỳ ở bãi đậu xe, đứng gần chỗ chúng tôi đang chờ đợi, dùng  máy liên  lạc vô tuyến, gọi đi một chỗ nào đó; có lẽ với giới chức cao cấp Việt Nam và tòa Đại Sứ Hoa Kỳ chăng ?

Bởi vì, khoảng 15 phút sau, tôi không còn thấy quân cảnh và cảnh sát ở ngoài cổng cơ quan DAO nữa.

Tôi nhớ lại những ngày tới Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn, chỉ huy toán tuần tiễu hỗn hợp gồm cảnh sát, quân cảnh, để bắt đào binh và những người trốn quân dịch.  Tới giờ cơm trưa, tôi dẫn toán tuần tiễu của tôi vào tiệm phở Tầu Bay đãi mỗi người một tô phở xe lửa và ly cà phê sữa đá.  Chúng tôi ngồi ăn uống và nói chuyện vui vẻ trong tình đồng ngũ, coi nhau như những người thân  thiết trong đại gia đình quân đội.

Bây giờ, gặp lại mấy người quân cảnh và cảnh sát, cũng trong sắc phục đó, nhưng ở trong hoàn cảnh thật éo le nầy, tôi mặc y phục dân sự, vì đã từ bỏ nhiệm sở để ra đi, còn những anh em đó vẫn còn ở lại, tiếp tục nhiệm vụ của mình, lòng  tôi đâm ra e dè, sợ sệt, đầy mặc cảm; nên không còn cái cảm giác thân  thiết với những người đã từng cùng ở trong đại gia đình với tôi nữa !

Tôi thực sự cảm thấy không được thoải mái cho lắm khi phải đối diện với họ; mặc dù sau việc xẩy ra hồi sáng  và sự can thiệp của nhân viên tòa Đại sứ Mỹ, cảnh sát và quân cảnh Việt Nam chỉ còn nhiệm vụ giữ an ninh trật tự thôi, chứ không bắt giữ hay làm khó dễ những người di tản nữa.  Nhìn sang toán kế bên, tôi gặp Trung tá P.  

Tôi quen biết ông mỗi lần tôi đi họp ở Tổng Cục Tiếp Vận, Bộ Tổng Tham Mưu.  Thấy ông trong y phục dân sự, tôi quen miệng chào ông theo cấp bậc quân đội.  Ông ghé sát tai tôi nói nhỏ :

-  Thôi “toa” miễn cho “moa” đi.

Tới lúc đó, tôi biết mình lỡ lời, vội vàng nắm tay ông cười giả lả.  Có lẽ lúc này, ông cũng mang chung một tâm trạng xấu hổ vì đã trốn chạy khỏi nhiệm sở như tôi, nên không muốn ai nhắc đến cấp bậc của mình.

Khoảng 3 giờ chiều Chủ Nhật 27 tháng 4, một toán xe bus gồm năm chiếc tới đậu ở ngay trước lối vào văn phòng cơ quan DAO.  Chúng tôi lần lượt xếp hàng  lên xe.  Khoảng mười phút sau, đoàn xe hướng về khu vực nơi máy bay C.130 đậu, gần phía cuối phi đạo.

Khi còn  cách chỗ máy bay khoảng  40 thước, các xe bus ngừng lại.  Người hướng dẫn trên xe yêu cầu chúng tôi xuống, sắp hàng  một để đi về phía máy bay.

Tôi nhìn ra phía trước.  Bên chiếc máy bay phản lực C.130, đã có sẵn hai người lính quân cảnh Việt Nam đứng chờ, ngay cửa phía sau đuôi máy bay.

Chúng tôi lần lượt bước xuống xe bus, theo đoàn người di tản.  Vợ và các con tôi đi trước.  Còn tôi, một tay bồng cháu gái út Hồng Bảo, lúc đó mới hơn hai tuổi.

Đi sát phía sau tôi là một đôi vợ chồng trẻ và đứa con nhỏ, cùng trong toán tôi.  Người chồng là một kỹ sư điện làm việc cho một cơ quan tiếp liệu Hoa Kỳ.  Có lẽ hồi sáng, anh chị nầy đã chứng kiến cảnh người thanh niên bị bắt giữ lại, nên người vợ tỏ ra hết sức lo lắng khi nhìn thấy hai viên quân cảnh Việt Nam to lớn đứng nơi chân máy bay.

Chị quay về phía tôi hỏi nhỏ :
-  Anh có biết tại sao quân cảnh Việt Nam vẫn còn ở đó không ?  Liệu chồng tôi đang trong lứa tuổi quân dịch có bị bắt lại không, thưa anh?

Tôi đưa mắt nhìn chị đang bồng đứa con gái trạc tuổi đứa con gái út tôi, còn anh thì xách một valise, và trên vai đeo một cái cặp nữa.

Làm ra vẻ thông  thạo, tôi trấn an cặp vợ chồng trẻ:
-  Theo tôi, nhiệm vụ của hai người quân cảnh này chỉ là canh gác máy bay, đề phòng phá hoại thôi.  Giờ phút nầy, họ không còn bắt giữ ai như hồi sáng  nữa đâu.

Tôi nói tiếp :
-  Chị nên trao cháu nhỏ cho anh bế !  Mình cứ tự nhiên mà đi, đừng để ý gì đến họ.  Không sao đâu !

Người vợ trao đứa bé cho chồng, và đỡ hộ anh ta chiếc cặp trên vai.  Chúng tôi đi trong toán di tản cuối cùng, và chẳng bao lâu đã tới cửa phía sau của chiếc máy bay C.130.  Tôi cố giữ nét mặt bình thản, nhìn về phía trước.  Nhưng lúc đi ngang qua hai người quân cảnh, tôi biết chắc chắn họ đang chăm chú nhìn tôi.  Chúng tôi vừa bước vào thân  tàu, thì anh chồng đi phía sau tôi đặt đứa bé xuống sàn máy bay cho người vợ giữ.  Anh lách mình, vượt qua tôi; vội vàng đi thẳng vào phòng vệ sinh, đóng sập cửa lại.

Khi người di tản cuối cùng đã vào hẳn trong máy bay, nhân viên phi hành kiểm soát một lần chót; rồi bấm nút; chiếc cánh cửa vĩ đại phía sau đuôi máy bay từ từ đóng lại.

Chúng tôi ngồi vào chỗ, được hướng dẫn cài dây an toàn, và những gì phải làm khi gặp trường hợp khẩn cấp.  Mùi nhiên liệu phi cơ, mùi mồ hôi, mùi kim loại tỏa ra dưới nắng chiều gay gắt làm không khí chờ đợi thật ngột ngạt và căng thẳng.  Động cơ chạy mạnh hơn, và chiếc máy bay lăn bánh, tiến dần ra phi đạo.  Rồi tiếng máy rú lên, vận tốc tăng nhanh; chiếc C. 130 nhẹ nhàng cất cánh.  Vừa lúc đó, người kỹ sư trẻ tuổi cũng từ phòng vệ sinh vội vàng bước ra; mặt anh xanh mét, như không còn hồn vía gì.

Tôi đã đoán biết vì sao anh vào trong đó, nhưng cũng giả vờ hỏi :
-  Bộ anh đau bụng lắm hay sao mà ngồi trong nhà vệ sinh lâu quá vậy ?

Anh thật thà trả lời :
-  Dạ, em có đau bụng gì đâu!  Sáng nay chứng kiến cảnh bắt giữ người thanh niên, đến giờ này em còn sợ; nên phải trốn vào phòng vệ sinh, chờ máy bay cất cánh mới dám đi ra.

Tôi cười nhẹ, thông  cảm với nỗi lo sợ của cặp vợ chồng này.

Trạm đầu tiên cho người tỵ nạn xuống là đảo Guam.  Chúng tôi được phân phối tạm trú trong những căn lều thật lớn do công binh Mỹ vừa dựng lên, mỗi căn lều có sức chứa cả ngàn người.  Buổi sáng hôm sau, tôi lên văn phòng trại ghi danh và điền vài mẫu giấy tờ hành chánh cho việc chuyển trại.  Khi đang ngồi chờ ở trước văn phòng, cha mẹ tôi và cháu trai con ông anh cả tôi bước vào.  Gặp lại tôi, mẹ mừng lắm, hỏi han ríu rít.  Thế là gia đình anh chị cả đã mang được cha mẹ tôi đi cùng, và chỉ đi sau tôi khoảng 4 tiếng đồng hồ, trên một chuyến máy bay khác.

Những ngày sống nơi trại tạm cư ở Guam, ngoài những bữa ăn, gồm toàn món Mỹ, chúng tôi thường đi bộ ra bờ biển Guam hóng mát, nhất là lúc xế trưa.

Buổi tối, ban chỉ huy trại cho chiếu phim giải trí.  Một số nghệ sĩ Việt Nam cũng họp nhau lại  mỗi buổi chiều, trình diễn giúp vui cho đồng bào tị nạn.

Điều đau buồn nhất đối với chúng tôi, là chiều 30 tháng 4 năm 1975, khi hai đài phát thanh BBC và VOA loan tin Sài Gòn bị thất thủ, và cả miền Nam đã rơi vào tay giặc Cộng.  Chúng tôi ai nấy đều ngậm ngùi, xót xa chia sẻ niềm đau đớn của đồng bào ruột thịt, từ nay sẽ sống dưới ách cai trị của bọn Cộng Sản độc tài và bạo tàn.

Tất cả mọi người chúng tôi đều mang chung một tâm trạng đau buồn. Tôi đã chứng kiến những người thiếu phụ trẻ bên nách một đàn con thơ nheo nhóc, họ ngồi bên góc lều trại, hộc lên khóc, tiếng khóc đau đớn, não nề, ai oán kéo dài từng hồi.  Những lúc như thế, vợ tôi lại chạy tới, dỗ dành, an ủi họ.  Rồi tiếp đến căn lều bên cạnh, như bị xúc động giây chuyền, có người đã bật ra tiếng khóc, nhất là các bà các cô, vốn rất nhạy cảm.

Chung quanh căn lều tạm trú, tôi nghe những tiếng khóc nức nở đầy vẻ căm phẫn.  Những người đàn ông biểu lộ nỗi đau thương một cách lặng lẽ hơn.  Tôi thấy những khuôn mặt trầm lắng, đanh lai, những đôi mắt đỏ hoe, những giọt nước mắt tủi hờn vừa mới lau khô.

Ai ai đều ngậm ngùi trước cảnh gia đình tan tác, vợ xa chồng; cha mẹ xa con; anh chị em lưu lạc khắp bốn phương trời…Tuy không nói ra, nhưng trong thâm tâm, tôi biết chắc chắn  kể từ giờ phút nầy, tôi sẽ phải chấp nhận Hoa Kỳ là quê hương thứ hai.  

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=203999&zoneid=434#.VRF527HfQVS

Về Đầu Trang Go down
minhle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Thu Mar 26, 2015 12:15 am



Gió Tháng Ba, Bão Tháng Tư

Tôn Nữ Thu Dung
http://vietbao.com/p231953a235427/gio-thang-ba-bao-thang-tu

Bài viết là hồi ức của một cô học trò viết văn tại miền Nam tự đào hố chôn những bài viết, những cuốn sách, ước mơ và hoài bão của mình. Trước tháng Tư 1975, tại Sài Gòn, cô từng cộng tác với tần báo Tuổi Ngọc và là một trong những cây bút học trò được bạn đọc yêu mến. Sau 35 năm ở lại trong nước, mãi tới đầu thập niên thứ hai của thế kỷ 21, tác giả mới sang định cư tại Hoa Kỳ và hiện là cư dân San Dimas, California. Với bài "Chuyện Cổ Tích Không Phải Cho Bé Thơ", tác giả đã nhận Giải Đặc Biệt, Viết Về Nước Mỹ 2013.

* * *

Tôi viết câu chuyện này (không phải truyện ngắn) để tặng Phạm thị Thìn (đã mất tích), Lý Bá Hoài Khanh (Lyon) và Đặng Anh Tuấn (California)

Như tiếng roi quất vào đêm hun hút.
Như tiếng vó ngựa phi qua thảo nguyên mênh mông.
Như tiếng chó sói tru dưới trăng man dại.
Như tiếng vượn hú giữa rừng thẳm hoang vu.
Như tiếng hồn tử sĩ oán than bên trời huyền hoặc…
Gió…
Tôi ôm trái tim mình đau buốt.
Ai đang gọi tôi trở về trong mịt mù ký ức ?
Ký ức từ một ngày thơ dại xa xăm…
Một ngày của tháng Ba.

Khanh là người đầu tiên chia tay với thành phố biển. Khanh nói:

- Sẽ gặp lại nhau một ngày nào đó phải không Di ?

- Chắc chắn là như vậy.

Gia đình Khanh đi Pháp, chỉ có ba Khanh ở lại cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến và mất tích đâu đó trong cuộc hành trình tuyệt vọng đi tìm tự do: trốn trại!

Tôi nhớ ngày Khanh đi trời đầy gió:

Mù sương phi cảng não nề
Thôi em ở lại buồn về anh mang (thơ Cao thị Vạn Giả)

Khanh đọc khi hai đứa ngồi đong đưa trên thanh sắt chắn ngang cổng VIP chờ làm thủ tục nhận diện. Tôi đã nghĩ rằng: Đây không phải là một cuộc chia ly!

Chú tài xế chở ba Khanh và tôi về trên chiếc xe Jeep lùn mở mui, chạy bạt mạng trên đường phố đã khá đông người di tản… tháng Ba mà mây xám đầy trời và gió xoáy từng cơn… bọt biển bay trắng xóa suốt con đường Duy Tân… Ba Khanh không nói gì cho đến tận cổng nhà tôi, ông vói tay choàng chiếc áo bay rộng thùng thình của ông qua vai tôi:

- Bác quên, hôm nay trời rất lạnh, con mặc chiếc áo này cho ấm.

Chiếc áo bay của ông tôi đã mang theo trong suốt những cuộc hành trình nhưng chưa một lần đến được bến bờ.

Đó là lần cuối cùng tôi ngồi cạnh ông, co ro lạnh lẽo, khác những lần trước trong phòng khách ấm áp hay trên giảng đường của trường sĩ quan không quân khi tôi được tham dự những khóa học tiếng Anh ở đó. Trong đám bạn Khanh, tôi là đứa được ông thương hơn cả… bởi vì tôi là đứa duy nhất dám phê phán ông: Bác có nét mặt lạnh lùng của Charles Bronson nhưng trái tim thì vô cùng ấm áp… Ông nói với Khanh: Con bé thật láu lỉnh, khôn ngoan. Sau Khanh kể: Papa bắt Khanh phải đi tìm cái chân dung lạnh nhất của Charles Bronson, thuê người vẽ lại, treo trong phòng ngủ… ngắm hoài không chán!!!

Nhiều năm sau gặp lại nhau trên đất khách, hai đứa ngồi trước mặt nhau, ly cà phê tan lạt thếch… không hề hỏi thăm nhau một điều gì mà vẫn thấy cả một khoảng thời gian dài đăng đẳng đã qua đang chầm chậm trôi về…

Tôi không muốn nhớ đến ngày mà một nhà ngoại cảm đã nhìn vào quả cầu thủy tinh sau khi soi nó kỹ càng trên tấm hình ba Khanh với khuôn mặt Charles Bronson sắc cạnh, lạnh lùng (mà có ai biết là trái tim ông ấm áp nhường nào!) và buông từng tiếng:

- Người này không còn thân xác mà hồn thì cứ lơ lửng nơi rừng thẳm non cao…

Tôi không biết đích xác ngày ông mất, nhưng từ Pháp, Khanh đã gọi tôi nửa khuya (dù chưa tới kỳ đi thăm nuôi ông):

- Di ơi, tối qua Khanh nằm mơ thấy papa đứng bên một bờ hồ tuyết rơi trắng xóa, Khanh gọi thất thanh mà papa không quay lại.

Tháng Ba,

Mẹ tôi rải theo chiếc xe Dauphine màu xanh nhạt đưa gia đình chị tôi xuống Cảng một dĩa gạo, muối và hạt nổ. Ba nói:

- Em làm gì lạ vậy, giống như là tiễn con vào cõi chết!

Nhưng gia đình chị tôi đã đến bến bờ an toàn, chỉ có ba mới đi vào cõi chết… (Đêm ba mất, chị tôi cũng nằm mơ thấy ba đứng bên một bờ hồ tuyết rơi lạnh lẽo dù ở miền Nam CaLi hiếm khi có tuyết… Tôi không hiểu tại sao ba tôi, ba Khanh khi chết đều đến bên một bờ hồ để nói lời vĩnh biệt những đứa con xa xôi thất lạc.)

Tháng Ba,

Bài thơ cuối cùng rất ngắn của tôi đăng trên một bán nguyệt san:

Cho em hoa hồng bạch
Cắm gai vào tim anh
Cho em hồn ngọc thạch
Chìm giữa đại dương xanh…

mà lúc ấy tôi chưa hề biết rằng đại dương xanh sẽ là nơi chôn vùi nhiều người thân yêu của tôi trên đường vượt biển…

Thìn ơi, con bé mắt nai hiền lành xinh đẹp ngồi cạnh tôi suốt 2 năm cao đẳng… Tôi nhớ đôi mắt Thìn trong veo nhìn tôi hồn nhiên trêu chọc khi biết tôi bị đày ra cái nhiệm sở khỉ ho cò gáy ở tuốt tận cùng biên giới tỉnh:

- Di ơi,
Ai đưa Di đến chốn này
Bên kia là núi, bên này là sông…
Suốt đời tôi nhớ mãi

Suốt đời tôi nhớ mãi chiếc áo laine 2 màu trắng đỏ chị tôi gởi về chưa kịp mặc vì trời Nha Trang không đủ lạnh, có mũ trùm đầu và chiếc túi lớn trước ngực, tôi mang đến cho nó và đùa:

- Mặc đi trượt tuyết nha Thìn!

Kể từ đêm nó lên đường, Tôi cứ ngong ngóng chờ tin một chiếc ghe trôi giạt hoài trên biển từ 30 năm trước.

Thìn, thật sự mày đang ở đâu?

Tháng Tư,

Những hoa gạo đỏ tươi màu máu
Nhàu nát như người lính tử thương… (thơ Nguyễn Bính)

Vâng, những cái chết nhàu nát Vũ chứng kiến trên con đường di tản từ Thanh An (Pleiku) về Tuy Hòa để đến một ngày Vũ phải quên nó đi bằng cách rẻ theo một đức tin mãnh liệt khác, một thiên hướng khác… Và tôi, tôi phải xua mình ra khỏi những ám ảnh nặng nề bởi tôi đã có quá nhiều khổ nạn phải cưu mang khi vừa rơi khỏi thiên đường …

Tháng Tư,

Ba ở lại với các cộng sự để đốt những hồ sơ mật và không kịp lên chuyến bay cuối cùng dành cho cả nhà di tản của tòa Tổng lãnh sự Mỹ…

Tôi đã chứng kiến những loạt đạn tuyệt vọng bắn lên trời và những khẩu súng ném đớn đau xuống đất.

Tôi đã chứng kiến những ánh nhìn vĩnh biệt của những con người chính trực trao nhau như một lời cam kết thà chết vinh còn hơn sống nhục.

Tháng Tư,

Tôi chở ba tôi bằng chiếc Honda Dame đi trình diện để mất ba vĩnh viễn… Một cậu bạn hàng xóm dễ thương của tôi mang băng đỏ trên cánh tay đứng nơi chốt gác sau những hàng rào kẽm gai đã mở hàng rào cho ba tôi lách qua với cái nhìn xót xa thương cảm…

Tháng Tư,

Ngôi biệt thự nhà Tuấn tan hoang…

Tôi nhặt những lá thư rơi vương vãi lẫn quyển truyện tranh Pinocchio, nhớ Tuấn hay kéo mũi tôi, dặn dò: Không được nói xạo, cái mũi nhọn hoắt, xấu xí lắm…

Tôi khóc nức nở suốt đường về… Nhớ những đêm sau các buổi dạy kèm, Tuấn ghé nhà chở tôi cùng đi… công chuyện. Hai đứa đến trước cổng nhà chị Lan Anh. Tuấn đếm hai, ba… và hai đứa cùng la lớn: Lan… Anh… mẹ chị trên lầu 2, mở cửa sổ, nhìn xuống, mắng: Con cái nhà ai mà hư thế!

Tôi đau cùng Tuấn về mối tình thơ nhỏ bé, nhiều lần tôi dỗ dành khi thấy Tuấn buồn vì mọi người đều phản đối, nhiều lần tôi giận hờn tự nhủ không thèm quan tâm đến nữa mặc kệ Tuấn với những khoảng trời riêng… Nhiều lần tôi hét lên với Tuấn: Di chán chơi cái trò này lắm rồi. Tuấn hãy quên đi, quên đi, quên đi…

Tôi không biết Tuấn có quên được không, nhưng khi gặp lại tôi, khi mà Tuấn đã kịp có thêm nhiều và nhiều mối tình khác lẫn một mái ấm hạnh phúc thì Tuấn lại vớ vẩn nói rằng: “Chỉ có Di mới là mối tình thơ của Tuấn, còn tất cả chỉ là… buồn quá nên yêu…” lúc nào Tuấn cũng chỉ muốn chọc cho tôi cười như những ngày xưa… Ngày ấy Tuấn cứ nghĩ rằng tôi ngây thơ vô tội chứ đâu ngờ rằng tôi biết rõ điều ấy hơn ai hết nhưng tôi đã rất sợ một ngày tàn phai.

Tháng Tư,

Tôi giấu quyển sổ bìa da tuyệt đẹp cắt dán hơn 100 bài đăng trên các báo của tôi dưới ngăn tủ đựng áo quần. Tôi mân mê hoài từng quyển sách mà ngày mai phải giao nộp cho phường… tủ sách quý giá nuôi dưỡng hồn tôi từ những ngày nhỏ xíu. Tôi điên cuồng đào chiếc hố sâu mà tôi có thể bằng chiếc cuốc mini dưới gốc cây chùm ruột trong đêm và chôn những quyển sách mình yêu thương nhất… để hôm sau cả hai bàn tay phồng dộp rướm máu mà không hề thấy đau đớn chút nào... Nỗi đau, một lúc nào đó sẽ tan loãng vào máu và nước mắt, thế thôi...

Chôn cả tuổi thơ
Chôn cả ước mơ
Chôn cả hoài bão
Chôn cả đam mê
Tôi chôn tôi tuyệt vọng...

Tháng Tư những phiến tình thơ dại
Gởi tặng người đau một vết thương…

Không chỉ một vết thương mà là một cái chết oan khiên tức tưởi… Vĩnh viễn không bao giờ tôi được trở lại ngày xưa… Ai có thể:

Trả lại tôi những mộng đời đã mất
Những bóng hình biệt dạng tự năm xưa
Những con thuyền khuất lấp ở trong mưa
Tôi nhắm mắt đi vào cơn ác mộng…
Cơn ác mộng?

Vâng, những cơn ác mộng đuổi theo tôi từ tháng Ba, tháng Tư năm ấy… để suốt đời tôi mãi thao thức cùng bóng đêm và tiếng gió.

Từng đêm, như đêm nay, tiếng gió từ Big Bear vọng về, như tiếng roi quất ngang trái tim tàn bạo. Tôi ôm trái tim mình…

Gió ơi,
Xin nhẹ tay...

Tháng Ba, 2015

Tôn Nữ Thu Dung



Về Đầu Trang Go down
minhle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Wed Apr 01, 2015 8:55 am




TRÊN CHIẾN TRƯỜNG XƯA

- (33 năm sau ngày gãy súng)

phạmtínanninh

Hơn ba mươi năm sau, cùng với bốn anh em trong đơn vị xưa, chúng tôi trở lại Kontum tìm thăm nơi an nghỉ của những đồng đội cũ. Trong những năm 72 và 73, đơn vị chúng tôi đã có hơn hai trăm anh em vĩnh viễn nằm lại nơi này để giữ vững miền địa đầu, cửa ngõ quan trọng nhất vào Tây Nguyên, nơi có bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn nằm không xa phía dưới - thành phố Pleiku.

Dừng chân dưới chân núi ChuPao, nhớ tới những trận đánh khó khăn ác liệt với những toán địch quân bị xích chân trong những hầm núi đá, cố bám trụ những cái “chốt”, nhằm cắt đứt QL 14, con đường huyết mạch nối liền Kontum với Pleiku, và hình dung tới từng khuôn mặt của những anh em đã không bao giờ còn trở lại, một số đã gởi xác thân lại cho rừng núi nơi này, tôi xót xa khi nghĩ là mình còn mắc nợ họ. Món nợ máu xương không bao giờ trả được.

Ngày ấy chiến trường ác liệt, có nhiều người lính phải hy sinh ngay khi vừa mới bổ sung cho đơn vị, mà ban quân số chưa kịp nhận hồ sơ lý lịch. Đa số rất trẻ, độc thân, và gia đình ở tận những miền xa, nên mồ mả không có ai chăm sóc. Hơn ba mươi năm rồi, qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, có lẽ hầu hết các nghĩa trang trong thành phố đã bị giải tỏa từ lâu, và nếu có được cải táng ở một nơi nào đó, chắc trên mộ bia không còn ghi đơn vị cũ. Chúng tôi đến đây như để tìm lại chút kỷ niệm và mong được vơi đi chút nào lòng trắc ẩn, chứ chuyện tìm lại được mồ mả của anh em – hy vọng rất mong manh.

Cả thành phố Kontum bây giờ đã đổi khác. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được các địa danh ngày trước. Những B12, B15, Thành DakPha, Đồi Sao Mai, Bệnh Viện Dã Chiến. Nơi có những bản doanh, căn cứ từng mang tên những người anh, người bạn anh hùng của tôi đã nằm xuống để bảo vệ Kontum: Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm… Chúng tôi tìm đến một số nhà quen lúc truớc. Tất cả không còn. Những người chúng tôi gặp đa số mới vào từ miền Bắc. Người Kontum xưa giờ chắc cũng đã tứ tán bốn phương trời. Tội nghiêp cho người dân Kontum bất hạnh. Bao nhiêu năm tháng hứng chịu chiến tranh, có lúc thành phố bị mỗi ngày hàng ngàn quả đạn pháo, vậy mà họ vẫn ở lại, vẫn cùng với những người lính chúng tôi giữ vững thành phố này trong suốt những thời kỳ ác liệt nhất. Nhưng rồi cuối cùng, giữa tháng 3/75, Kontum bị bỏ rơi tức tưởi khi không còn bóng dáng quân thù. Những người lính ở đây được lệnh tử thủ, ngăn chặn miền địa đầu tam biên cho Pleiku di tản. Tôi từng được nghe người Kontum kể lại chuyện những người lính hào hùng, tự sát vào giờ thứ 25, khi Kontum bị lọt vào tay giặc. Nghĩ tới đó, lòng tôi thấy nghẹn ngào, nước mắt cứ trào ra.

Đúng như chúng tôi dự đoán, tất cả mọi nghĩa trang trong thành phố, nơi bạn bè tôi được chôn cất, không còn nữa, người ta đã giải tỏa để xây lên một số cơ sở công quyền và những khu giải trí.

Chúng tôi tìm đến Tòa Giám Mục, cũng là nơi mà đơn vị chúng tôi đã phải đổ khá nhiều máu xương để tái chiếm trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Một vị linh mục đứng tuổi, tiếp chúng tôi niềm nở. Ông cho biết là, mồ mả trong các nghĩa trang lúc xưa đã được cải táng và chuyển đến địa điểm mới, nằm trên cây số 9, đường lên Tân Cảnh. Tuy nhiên chỉ có những ngôi mộ có thân nhân nhận lãnh và tự cải táng thì mới có mộ bia, còn những ngôi mộ khác thì không biết ra sao. Ngài còn tốt bụng, sẵn sàng hướng dẫn chúng tôi đến đó. Cây số 9, gần căn cứ Non Nước, nơi ngày xưa đơn vị tôi đã bao lần cùng với các chiến sĩ thiết giáp hào hùng của Chi Đoàn 1/8 KB đẩy lui những đợt tấn công biển người của địch, giữ vững cửa ngõ vào thành phố Kontum.

Mất gần hai tiếng đồng hồ, đi khắp nghĩa trang, chúng tôi vẫn không tìm ra bia mộ nào có cái tên quen. Nhiều ngôi mộ không có bia. Đưa vị linh mục trở lại Tòa Giám Mục, cám ơn và chia tay ngài. Đã hơn 12 giờ trưa, chúng tôi tìm một nơi nào đó để ăn cơm. Nhớ tới quán ăn Bạch Đằng và Thiên Nam Phúc ngày xưa, nơi có mấy cô chủ quán dễ thương, mà đám lính tráng chúng tôi thường ghé lại đây ăn uống sau những tháng ngày dài hành quân trong núi, một anh bạn hỏi thăm đường đến đó. Nhưng quán bây giờ đã đóng cửa và những người xưa cũng đã trôi dạt về những nơi nào đó. Bọn tôi rủ nhau ra bờ sông Dakbla, dọc theo con đường về làng Tân Hương, nơi lúc xưa có mấy cái quán nhỏ để những ngày tương đối bình yên, bọn tôi ra ngồi uống cà phê, ngắm dòng sông chảy ngược, tạo huyền thoại một thời này, mà nhớ tới vợ con hay người tình đang ở đâu đó, để rồi sau lúc chia tay chẳng biết ngày mai ai còn ai mất. Dọc theo bờ sông bây giờ là những hotel, nhà hàng, nhà trọ và biệt thự của các ông quan lớn. Cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra được một cái quán ăn bình dân, nhưng khá sạch sẽ, nằm dưới tàng của một cây trứng cá.

- Buổi trưa nên vắng khách. Bà chủ vui vẻ vừa đón chúng tôi vừa giải thích.

Chúng tôi chọn một cái bàn nhỏ gần bờ sông. Xa xa phía bên kia là làng Phương Hòa thật dễ thương ẩn mình dưới những vườn cây. Nhìn mấy bờ đê bên bìa làng, tôi nhớ tới cái chết của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng. Tôi đã chứng kiến phi vụ thật can trường này. Anh là trưởng phi tuần gồm hai chiến đấu cơ AD-6 , đánh bom vào một mục tiêu có nhiều ổ súng phòng không của địch. Anh lao phi cơ xuống thật thấp bắn chính xác, tiêu hủy mục tiêu, tạo một đám cháy và nhiều tiếng nổ phụ, rồi bay lên từ trong đám lửa ấy. Đang trên đường bay về, anh phát hiện có nhiều đạn phòng không bắn lên từ một khu vực khác. Anh quay trở lại, lao phi cơ xuống trút hết những quả bom còn lại, rồi bay vút lên không trung. Đúng lúc ấy, máy bay anh bị trúng đạn. Cánh bên phải phát hỏa. Anh phi tuần phó bay kèm theo, bảo vệ và hối thúc anh nhảy dù ra. Bộ binh chúng tôi cũng sẵn sàng tiếp cứu. Nhưng anh từ chối, bảo là nếu anh nhảy dù ra, phi cơ sẽ rớt xuống khu dân cư trong thành phố. Anh cố gắng bay qua bên kia bờ sông, đáp khẩn cấp (crash) xuống khu ruộng trống phía dưới. Anh điều khiển thật tài tình, nhưng vì phi cơ đã hư hỏng, không còn theo ý muốn, đâm vào một bờ đê và phát nổ. Anh Phạm văn Thặng đã anh dũng hy sinh. Điều cảm động hơn, khi người đại diện của Sư Đoàn đến nhà anh để chia buồn cùng gia đình và đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, đã kể lại cảnh nghèo nàn của gia đình anh, một trung tá phi công của QLVNCH.

- Mấy ông anh từ xa tới. Chắc tính làm ăn gì chứ cái thành phố này thì có cái gì mà tham quan. Phải không?

Câu hỏi của chị chủ quán làm tôi giật mình. Mấy anh em khác im lặng, nhìn tôi như thầm nhắc cho tôi cái nhiệm vụ trả lời.

- Không, bọn tôi tìm thăm người quen, nhưng không gặp.
- Ở khu vực nào, có nhớ địa chỉ không? Tôi sẽ tìm giúp các anh. Tôi là dân ở đây mà.

Tôi mỉm cười :
- Cám ơn chị. Ở trong nghĩa trang thành phố, nhưng đã bị dọn đi nơi khác rồi, biết đâu mà tìm.

Chị chủ quán khựng lại chưa kịp để thức ăn xuống bàn, nhìn tôi ngạc nhiên :
- Sao lại phải ở trong nghĩa trang ?
- Vì họ đã chết rồi. Chết từ năm 1972 lận. Tôi buồn bã trả lời .
- Vậy chắc các anh đây là lính Cộng hòa mình? thuộc đơn vị nào?

Nghe mấy chữ “lính Cộng hòa mình” tự dưng tôi cảm thấy gần gũi với người đàn bà xa lạ này. Tôi thân thiện:
- Anh em bọn tôi thuộc sư đoàn 23, trung đoàn 44 chị ạ.
- À, vậy có anh nào ở đại đội trinh sát?
- Không, bọn tôi ở trung đoàn và tiểu đoàn. Một người trong chúng tôi trả lời.

Sau một khắc yên lặng, chị lên tiếng:
- Em có mấy người bạn ở trinh sát. Lúc trước cũng nằm trong nghĩa trang thành phố, nhưng khi có lệnh giải tỏa, em đã chuyển các anh ấy lên cây số 9 rồi. Chị chủ quán tỏ ra thân thiện và thay đổi cách xưng hô.

Chúng tôi vừa bất ngờ vùa xúc động. Sau khi dọn bàn xong, mang nước trà ra mời chúng tôi, chị kéo ghế ngồi xuống rồi tâm sự.

Thì ra chị là bạn gái của anh Bình, trung sĩ Bình, ở đại đội trinh sát của đại úy Minh, sau này là đại úy Mạnh. Anh tử trận hồi mùa hè 1972. Ngày đó chị còn đang đi học, nhưng chiến tranh ác liệt quá, trường phải tạm đóng cửa. Chị ở nhà phụ bán cà phê cùng với người chị ruột. Bà chị này quen khá thân với Mạnh. Khi ấy Mạnh còn là trung úy đại đội phó. Anh Bình thường theo Mạnh tới đây, rồi dần dà quen nhau. Từ khi Bình chết, chị thường đến thắp hương và chăm sóc mộ phần Bình và những đồng đội của anh nằm trong nghĩa trang thành phố.

Năm 1978, nhà cầm quyền Cộng sản ra lệnh giải tỏa nghĩa trang, chị chạy khắp nơi kêu gọi bà con cùng góp tiền góp sức với chị, nhưng cũng chỉ kịp cải táng hơn 20 ngôi mộ của những anh em trinh sát về địa điểm mới. Hầu hết mồ mả của những anh em chiến sĩ còn lại, đã bị san bằng. Chúng tôi cảm động. Không ngờ trong thời buổi nhá nhem tình nghĩa, có lắm kẻ sớm vong ơn, phản suy phù thịnh, vẫn còn có nhiều người Kontum nặng tình với lính.

Theo yêu cầu của bọn tôi, chị cùng chúng tôi đi thăm mộ anh Bình và các anh em trinh sát. Hơn hai mươi ngôi mộ được xây bằng đá đơn giản, nằm bên nhau ở khu phía đông nghĩa trang. Điều đặc biệt trên các tấm bia, trước mỗi cái tên đều có kẻ hai chữ TS. Chúng tôi thắp hương cho từng ngôi mộ xong, quay lại thì thấy chị đang ngồi sụt sùi trước mộ anh Bình. Khi thấy bọn tôi, chị lau nước mắt đứng dậy và nói một mình:
- Thật tội nghiệp, anh ấy hy sinh khi tìm cách chui qua hàng rào để bắn hạ chiếc xe tăng của VC vừa đột nhập vào chiếm bệnh viện.

Tôi nhớ lại trận chiến ác liệt này. Khi VC mở đợt tấn công thứ nhì vào thành phố Kontum nhằm rửa hận lần thảm bại ở tuyến tây bắc: Hơn một trung đoàn bộ và nguyên một tiểu đoàn xe tăng của sư đoàn 320 bị chúng tôi xóa sổ. Lần này chúng dùng mấy chiếc M113 đã cướp được của Sư Đoàn 22 BB từ khi Tân Cảnh thất thủ, dẫn đầu môt đơn vị gồm những chiến xa T54 + T59 có bộ binh yểm trợ, nhằm lừa phi cơ quan sát của ta, xâm nhập vào bệnh viện dã chiến, nằm cạnh thành DakPha, cách vòng đai phi trường chừng 800 mét, với thủ đoạn lợi dụng vào những thường dân và binh lính bị thương nằm trong bệnh viện, để uy hiếp lực lượng của ta. Tiểu Đoàn 4/44 do Thiếu Tá Võ Anh Tài chỉ huy đã đánh một trận chiến vô cùng gay go ác liệt với một lực lượng địch đông gấp ba lần, dùng chiến xa T54 làm nỗ lực chính. Xe tăng địch nép theo những vách nhà bệnh viện. Muốn diệt chúng phải tiếp cận để có thể dùng những khẩu M72 hiệu quả, anh Tài cùng toán quân báo đã dẫn đầu đơn vị, tìm cách chui qua hàng rào bệnh viện, và anh đã hy sinh bởi bị chính mìn của ta phát nổ. Người anh cả của Tiểu Đoàn, một sĩ quan xuất thân từ khóa 16 VBĐL lừng danh, đã nằm xuống dọn đường cho đơn vị mình cứu nguy bệnh viện, nơi có đồng bào và cả đồng đội của anh bị địch quân dùng làm bàn đạp trong ý đồ bất nhân của chúng. Đại Đội Trinh Sát đang bảo vệ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn được điều động tiếp ứng, đột nhập đánh vào sườn địch. Trinh Sát 44, một đại đội với bao chiến công hiển hách từ thời đại úy Trần Công Lâm, Phan công Minh và sau này là Đoàn quang Mạnh, đã đánh một trận thật tuyệt vời, bắn cháy nhiều chiến xa địch, đuổi đám tàn quân Cộng sản chạy thoát thân ra khỏi bệnh viện và giữ vững một lần nữa vòng đai thành phố. Đại đội Trinh sát này dưới sự chỉ huy tài ba và gan dạ của trung úy Phan Công Minh, đã từng đánh một trận thần tốc, chỉ bằng lựu đạn và cận chiến, giải cứu cho một Tiểu Đoàn BĐQ/BP bị vây trên đỉnh núi ChuPao. Minh bị thương nhưng vẫn tiếp tục điều quân, vừa phá vòng vây cứu nguy cho đơn vị bạn, vừa diệt những cái chốt cuối cùng, khai thông QL 14, để lực lượng chiến xa của Lữ Đoàn II KB lên tăng cường cho mặt trận và hộ tống đoàn xe tiếp tế, lần đầu đến Kontum kể từ khi cuộc chiến khởi đầu. Tướng Trần văn Hai, nguyên Chỉ huy trưởng BĐQ, lúc ấy là TLP/QĐII đã cùng đại tá TMT/QĐ Lê Khắc Lý, đến QYV Pleiku ôm lấy người đại đội trưởng trẻ tuổi tài ba gan dạ Phan Công Minh ngay khi vừa mới được tản thương về, và gắn lon đại úy cùng anh dũng bội tinh với nhành dương liểu cho Minh tại đây. Lúc ấy Minh vừa tròn 25 tuổi.

- Đại úy Mạnh bây giờ ở đâu, các anh có gặp anh ấy không ?

Câu hỏi của chị đã cắt mất dòng hồi tưởng của tôi. Tôi lên tiếng trả lời chị:
- Anh Mạnh đã chết trong tù cải tạo từ năm 1978 chị ạ.

Im lặng một lúc, tôi lại nghe tiếng chị khóc.

- Chị Hà em, bạn gái của anh Mạnh lúc xưa cũng bị chết năm 75 khi VC vào chiếm Kontum. Mộ chị nằm ở ngay phía trước đây.

Vừa nói, chị vừa dẫn chúng tôi đến đó. Nhìn bức ảnh trên mộ bia tôi mang máng nhớ lại người con gái tên Hà ở một quán cà phê nhỏ nằm trong vườn cây sau nhà, hơn ba mươi năm về truớc.

Nghĩa địa mới này nằm không xa làng Trung Nghĩa. Tôi rủ chị cùng với chúng tôi ghé lại lại thăm làng và khu nhà thờ. Nơi mà ngày xưa ông cha chánh xứ đã cùng chúng tôi chiến đấu bảo vệ những giáo dân ngoan đạo. Nghe nói ngài đã bị tra tấn đến chết trong trại tù cải tạo.

Ra khỏi nghĩa trang, nhìn về phía bắc, rừng núi ngày xưa, dù không tránh được dấu vết của đạn bom, nhưng vẫn còn xanh tốt, giờ sao lại xơ xác điêu tàn. Tôi hỏi chị bạn gái anh Bình, nghe tiếng chị thở dài :
- Tham nhũng bây giờ còn tàn phá nhiều hơn cả chiến tranh ngày trước .

Tôi nhớ lại những vụ án ở đây, có liên quan đến nhiều ông lớn. Mới đây bà Thao Y Bình, Bí Thư Tỉnh Đoàn Kontum đã ăn cướp đến gần 140 tỷ đồng của dân nghèo, và ông Trần văn Thiên, chủ tịch huyện Dak Glei đã thông đồng bán bao nhiêu gỗ quí.

Trên đường vào làng Trung Nghĩa, tôi hồi tưởng tới trận chiến trên tuyến Tây Bắc Kontum. Nơi đơn vị tôi đã thắng một trận thật lẫy lừng, làm tiêu hao cả sư đoàn 320 mà địch quân thường hãnh diện là Sư Đoàn Thép, mở đầu cho bao nhiêu chiến thắng sau đó để Kontum, Tây Nguyên không lọt vào tay giặc.

Đúng vào sáng 30 tết năm 1972, khi chuẩn bị buổi tiệc tất niên cho các đơn vị tại hậu cứ Sông Mao sau một năm đối mặt với chiến trường, Trung Đoàn 44 chúng tôi nhận khẩu lệnh của Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II, di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế vị trí Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước. Vừa đến An Khê vào chiều mồng một tết, chúng tôi đã cùng với Thiết Đoàn 3 KB tham chiến, giải tỏa áp lực địch đang bao vây một số căn cứ phòng thủ của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn dọc theo đèo An Khê nằm trên QL 19. Tình hình tương đối yên tĩnh, các căn cứ Đại Hàn được giải tỏa, QL 19 đã khai thông, chúng tôi vừa đảm trách giữ an ninh cho QL19 từ Pleiku đến Bình Khê, vừa thiết lập lại các căn cứ pháo binh, phòng thủ. An Khê là một địa danh làm người ta nhớ tới hai đoạn đèo Mang Yang và An Khê cùng những khúc quanh “tử thần”, mà ngày xưa cả một tiểu đoàn thiện chiến của đội quân viễn chinh Pháp bị lọt vào ổ phục kích, để gần như phải xóa sổ.

Ngày 24/4/72, Tân Cảnh thất thủ khi BTL Tiền Phương của SĐ22 bị tràn ngập. Đại tá Lê Đức Đạt, vị tư lệnh không được sự ủng hộ của tay phù thủy John Paul Vann, cố vấn Mỹ QĐII&QK2, đã từ chối lời mời lên máy bay của người cố vấn SĐ khi phòng tuyến bị chọc thủng bởi nhiều chiến xa T54 của địch. Ông ở lại chiến đấu và vùi thây nơi chiến địa. Căn cứ Tân Cảnh thất thủ, quận Dakto mất, một BTL/Sư Đoàn bị rơi vào tay giặc mà không hề có bất cứ sự yểm trợ nào của lực lượng đồng minh, cùng cái chết của vị tư lệnh liêm sỉ, khí phách hào hùng thời ấy đã là một trang chiến sử nói lên cái bi phẫn của QLVNCH, báo trước sự bỏ rơi của người bạn đồng minh Mỹ, đã từng cam kết bảo vệ miền Nam, tiền đồn của Thế Giới Tự Do.

Căn cứ địa đầu thất thủ, kéo theo sự xáo trộn của một Sư Đoàn bao nhiêu năm trấn thủ tam biên, tạo thuận lợi để địch quân tràn xuống uy hiếp Kontum.

Trung Đoàn 44 nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum. Lúc này thành phố Kontum đang bất ổn, VC đã có mặt một số nơi trong thành phố và pháo kích thường xuyên vào phi trường, một vài phi cơ bị trúng đạn phải nằm ụ tại chỗ. Chúng tôi được lần lượt không vận vào ban đêm bằng C130. Khi sắp vào không phận, máy bay tắt hết đèn. Phi cơ không đáp mà chỉ bay rà qua phi đạo để chúng tôi nhảy xuống từ cửa phía sau.

Những chiến sĩ anh dũng của QLVNCH

Tiểu Đoàn 1 và 2/44 đựơc chở thẳng tới phòng tuyến tây bắc, thay thế cho một liên đoàn BĐQ vừa bị tiêu hao quân số. Hai vị tiểu đoàn trưởng lại là hai người bạn cùng tốt ngiệp khóa 19 VBĐL thao lược, can trường: Đại úy Đặng Trung Đức và Nguyễn Xuân Phán. Ngay sau khi nhận khu vực trách nhiệm, từ vị tiểu đoàn trưởng đến binh sĩ cùng nhau lập phòng tuyến chiến đấu, đặc biệt là đào những hầm hố chống chiến xa phía trước.

Vào khoảng 5 giờ sáng, ánh trăng hạ tuần còn mờ ảo dưới màn sương, các toán tiền đồn phát hiện có nhiều chiến xa địch đang tiến về hướng nam. Các đơn vị được lệnh xuống giao thông hào, và dỡ bỏ tất cả các lều poncho để tránh sự phát hiện của địch. Trên hệ thống vô tuyến, tất cả báo cáo đã sẵn sàng. Địch quân tập trung đánh vào phòng tuyến TĐ 2 của Đại úy Nguyễn Xuân Phán. Chúng không ngờ có một đơn vị thiện chiến mới toanh vừa mới có mặt trên chiến trường này, nên sau một loạt tiền pháo, chúng xua những chiếc T54 dàn hàng ngang, lực lượng bộ binh ồ ạt theo sau. Mặc dù đây là lần đầu tiên trực chiến với xe tăng địch nhưng không hề nao núng, mặc cho những xích sắt tha hồ rú gào đe dọa, Đại úy Phán bình tĩnh vừa gọi pháo binh tác xạ ngăn chặn, phân tán và tiêu diệt bộ binh địch, vừa ra lệnh cho đơn vị chỉ khai hỏa khi những chiếc T54 tới gần trước mặt, trong tầm bắn chính xác hữu hiệu của những khẩu M72, loại vũ khí chống tăng duy nhất mà đơn vị được cấp, và một số B40, B41 của địch thu dược từ chiến trường An Khê. Đó là một quyết định táo bạo và sáng suốt. Chiếc T54 đầu tiên bị bắn hạ do chính anh Tiểu Đoàn Phó, đại úy Nguyễn văn Hướng. Ngay sau đó, hàng loạt xe tăng địch bị bắn cháy. Cả một tiểu đoàn ồ ạt hô xung phong. Cộng quân bị đánh bất ngờ, khiếp sợ, quay đầu chạy. Một chiếc T54 ủi thẳng vào hầm BCH/TĐ, bị ta bắt sống cả xe lẫn địch, trong đó có tên đại đội trưởng. Tiểu Đoàn 1/44 của Đại úy Đức trở thành lực lượng ngăn chặn hữu hiệu, đánh bất ngờ bên hông địch, đám tàn quân chỉ còn kịp buông súng đầu hàng. Chiến thắng ấy tất nhiên là công trạng của tất cả mọi người, nhưng sẽ là thiếu sót lớn lao, nếu không nhắc tới thiếu tá Ngô văn Xuân, vị trung đoàn phó tốt nghiệp khóa 17 VBĐL hiền lành mà tài năng đảm lược. Lúc nào tiếng nói thật bình tĩnh, trấn an, dặn dò, đốc thúc của Bá Hòa (danh hiệu của anh) cũng vang trên hệ thống vô tuyến làm nức lòng chiến sĩ. Ngay sáng hôm ấy, khi khói lửa chưa an, Thiếu Tướng Nguyễn văn Toàn vừa nhận chức vụ Tư lệnh QĐII thay thế Tướng Ngô Dzu, bay lên thị sát mặt trận. Ông vẫn đội bê rê đen, đứng trên xe M113 và đi bộ ngay trên phòng tuyến, bắt tay từng anh em binh sĩ, vui mừng với chiến tích đầu tiên của ông và gắn lon thăng cấp cho vị trung đoàn trưởng. Người ta đã nói nhiều về cá nhân ông, nhưng ít ai biết được ông là một dũng tướng ngoài chiến trường.

Chiến công hiển hách này đã mở đầu cho hằng loạt chiến thắng khác của tất cả những đơn vị tham chiến để bảo vệ Kontum và giữ vững vùng địa đầu Tây Nguyên trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lên thăm Kontum, mừng chiến thắng. Khi trực thăng ông đáp xuống căn cứ B12, bản doanh của BTL/SĐ23BB, đạn pháo của VC thi nhau rót xuống, nhưng vị Tổng Tư lệnh đã xua tay từ chối nhận chiếc áo giáp từ vị đại tá Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn. Ít nhất ông cũng đã chứng tỏ được cái uy dũng của một người xuất thân từ lính. Nhân dịp này Tổng Thống đã gắn lon Tướng cho đại tá Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư Đoàn. Các anh Tiểu Đoàn Trưởng đều được vinh thăng một cấp. Riêng vị trung đoàn phó thầm lặng Ngô văn Xuân được thăng cấp bằng một quyết định riêng sau đó. Anh được điều về làm Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn và sau này là một trong những vị trung đoàn trưởng thao lược của QLVNCH.

Trung Nghĩa bây giờ chẳng còn môt chút gì dấu tích chiến tranh, nhưng nhìn ở đâu tôi cũng thấy bóng dáng anh em đồng đội cũ, những người bạn trẻ tuổi can trường của chúng tôi ngày trước. Đặng Trung Đức đã hy sinh vào mùa hè 1973 khi vừa được trực thăng vận xuống phía bắc căn cứ Non Nước. Tên anh được đặt cho bản doanh BTL/SĐ. Vợ con anh đã sang Pháp, nhưng chị Đức đã mất từ năm 1982, hai đứa con nhỏ phải nhờ ông bà ngoại nuôi nấng. Bà mẹ già góa bụa, mà Đức là con một, cũng đau buồn mà đi theo Đức chưa đầy một năm sau ngày Đúc hy sinh. Trần Công Lâm, người bạn cùng khóa thân thiết nhất của tôi - người sĩ quan chưa hề biết mùi chiến bại, đi hành quân mà chưa gặp địch là không chịu quay về, trước khi nắm Tiểu Đoàn 3/44, đã từng là một đại đội trưởng Trinh Sát lừng danh với bao chiến công hiển hách, vang dội khắp Quân Đoàn, cũng đã nằm xuống cuối năm 1973 trên đỉnh Ngok Wang đèo heo gió hú. Nguyễn xuân Phán sau những năm tháng tù đày, hiện lưu lạc ở một thị trấn nhỏ thuộc tiểu bang Washington bên Mỹ và vẫn hăng say trong các tổ chức xã hội, cộng đồng. Thỉnh thoảng anh xuống San Jose gặp gỡ bù khú với anh em, vẫn cạn ly một trăm phần trăm, dễ thương, vui vẻ như ngày nào. Anh bảo chỉ có những lúc vui với anh em và say mèm mới có thể quên được nỗi đau. Phan Công Minh thì đang sống âm thầm ở một thành phố biển ngoại ô New York. Hơn 10 năm đi cày 2, 3 “job”, để đủ lo cho các con ăn học, thời gian còn lại chỉ đủ để uống rượu tiêu sầu. Bây giờ tương đối rảnh rang, truyền nghề đánh giặc lại cho thằng con trai lớn vừa tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đang hành quân trên chiến trường Irak. Riêng anh Ngô văn Xuân, mòn mỏi, bệnh hoạn sau hơn 13 năm tù. Nhưng dường như những vết thương chiến trường, tù ngục còn trên thân xác không làm cho anh đau đớn bằng vết thương trong lòng. Nỗi đau của một người đã hiến đời cho binh nghiệp mà giữa đường phải đành vất cung bẻ kiếm. Bây giờ anh sống lặng lẽ ở một nơi gần thành phố San Jose, làm thơ Hoa Tâm, nghiên cứu về Thiền và Phật học. Còn lại, những đồng đội khác, hoặc đang sống lê lết khốn cùng ở đâu đó bên quê nhà với thương tích trên người, hoặc lưu lạc muôn phương, một số đã hy sinh, xác thân nằm ở một nơi nào đó, giữa núi rừng Kontum này, hay hoang lạnh trong các nghĩa trang, đã dời đi hoặc bị san bằng, nhưng có lẽ hồn thiêng vẫn còn phảng phất đâu đây. Tôi đốt hết bó nhang còn lại chia cho anh em. Chị bạn gái của anh Bình cũng xin được chia phần. Chúng tôi đứng nghiêm khấn vái bốn phương trời. Cầu nguyện hồn thiêng của những đồng đội cũ được sớm siêu thoát trên chốn vĩnh hằng, và xin tất cả tha lỗi cho chúng tôi, những người còn sống nhưng đã không trả được – dù chỉ một phần nhỏ nào - món nợ máu xương cho họ.

Suốt đêm hôm ấy không ngủ được, chúng tôi nằm kể lại bao nhiêu chuyện vui buồn trên chiến trường xưa, nhắc lại từng tên, từng khuôn mặt bạn bè. Chúng tôi cũng tranh luận thật nhiều về cuộc chiến đã qua và những cái chết của đồng đội mà thấy lòng nặng trĩu những đau buồn với bao điều tức tưởi.

Sáng hôm sau, chị chủ quán, bạn gái anh Bình, mời chúng tôi ăn sáng rồi tiễn chúng tôi ra đầu cầu Dakbla. Chị đứng yên lặng không nói một lời gì. Nhìn những giọt nước mắt chảy dài trên má chị, trong lòng chúng tôi có lẽ ai nấy cũng đang giữ riêng một nỗi ngậm ngùi. Nhìn dòng sông Dakbla chảy ngược qua cầu, tôi có cảm giác như lòng mình cũng đang chảy ngược về những nơi nào đó, những chiến trường xưa, mà mãi mãi vẫn còn in bóng dáng hào hùng của bao nhiêu bè bạn, anh em - những người đồng đội cũ. Tất cả đã từng có một thời sống rất đáng sống.

phạmtínanninh

Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Wed Apr 08, 2015 8:57 am


Tháng Tư mãi là nỗi buồn!
Cao Huy Huân
08.04.2015

http://www.voatiengviet.com/content/thang-tu-mai-la-noi-buon/2710021.html

Bước sang tháng Tư, không khí của những ngày định mệnh lịch sử bắt đầu rộ khắp các tuyến đường, con phố, bờ sông. Năm nay đặc biệt hơn vì đây là cột mốc lần thứ 40. Bởi lẽ, những cột mốc ý nghĩa luôn nhắc người ta nhìn lại quảng đường chúng ta đã đi suốt mấy chục năm ròng.

Sài Gòn những năm 1975, vốn mệnh danh là “hòn ngọc Viễn đông”, từng là giấc mơ của Lý Quang Diệu những ngày đầu thành lập Singapore. Bốn mươi năm sau, các khẩu hiệu treo đầy đường phố nêu cao thông điệp về một Sài Gòn đầy thành tích. Kẻ đứng trên những con số tăng trưởng kinh tế “đầy tranh cãi” sau 40 năm cười “ngặt nghẽo”. Tôi chưa bao giờ phủ nhận một Sài Gòn mở rộng sau 40 năm - nay trở thành trung tâm kinh tế của cả nước, thu hút đầu tư mạnh từ trong và ngoài nước với chỉ số đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hay các dự án viện trợ chính thức (ODA) khiến nhiều nước khác phải ganh tỵ. Tốc độ phát triển chóng mặt của những con số phát triển GDP Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung luôn khiến giới quan sát, ngay như các vị lãnh đạo cấp bộ trưởng, cũng phải giật mình. Nhưng xin thưa! nếu “gói ghém” thành tích của Sài Gòn, có lẽ cũng chỉ dừng ở chữ “tiềm năng”. Trong khi hàng tá vấn đề cho đến nay, Sài Gòn vẫn loay hoay, bế tắc, và sẽ còn tiếp tục loay hoay, bế tắc, nếu chính quyền vẫn cứ hoạt động một cách luộm thuộm như nhiều năm qua họ vẫn làm.

Trước hết hãy bàn về kết cấu hạ tầng, đô thị - điều khiến mấy chục triệu dân cứ mãi phàn nàn, rồi lại phàn nàn một cách vô vọng. Bốn mươi năm các vị mở rộng Sài Gòn cả về chiều rộng địa lý lẫn về chiều sâu kinh tế - xã hội. Các áp lực dân số, chênh lệch giàu nghèo, môi trường, tệ nạn xã hội, sức ép hạ tầng cơ sở, văn hóa đô thị… là không thể tránh khỏi. Để rồi người dân Sài Gòn – vốn đã “già trước khi giàu” – nay phải quẩn quanh bên một “thành phố ao làng” với hàng loạt các hệ lụy nhức nhối: ngập nước ngày càng nặng; ô nhiễm (khói, bụi, tiếng ồn, nguồn nước) ngày càng trầm trọng hơn; văn hóa tiểu nông, lúa nước lũ lượt kéo nhau vào Sài Gòn, trong khi cái mà các vị lãnh đạo gọi là “văn minh thành phố” lại chính là việc bê-tông hóa các tuyến đường vốn được cây xanh bao phủ, là hầm vượt sông tốn kém nghìn tỷ đồng vốn có thể được thay thế bằng nhiều cây cầu khang trang hơn, là các đề xuất dự án “ăn trước - chặn sau” theo kiểu nhóm lợi ích, ví như học sinh tiểu học phải trang bị máy tính bảng khi đến trường. Để rồi bọn trẻ, dù nhiều gia đình khó khăn cũng phải vét tiền của lo cho con “sang nước ngoài tỵ nạn giáo dục”. Nhà ổ chuột cho dân ở, trong khi nhà cao ốc thì chỉ biết để chuột “định cư” do hệ quả bong bóng bất động sản vỡ…

Mỗi thế hệ lãnh đạo Mỹ, EU, Nhật Bản hay Singapore đều để lại dấu ấn bằng những công trình tầm cỡ phục vụ lợi ích của dân. Tổng thống Mỹ Barack Obama với hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân (dù bị phe nhà giàu tranh cãi), Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe với cải cách kinh tế Abenomics vực dậy Nhật Bản, đặc biệt sau thảm họa kép 2011. Hay như Lý Quang Diệu với gần 50 năm xây dựng một đảo quốc Singapore bị Malaysia “bỏ rơi” trở thành con rồng châu Á. Trong khi Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung, các vị nhận không biết bao nhiêu vốn ODA đổ vào đầu tư hạ tầng, ưu tiên phát triển cơ sở vật chất phục vụ đời sống hiện đại hóa, để rồi số công trình hạ tầng phục vụ lợi ích cho dân đạt chuẩn quốc tế chỉ nằm trên đầu ngón tay bởi sự đục khoét bằng đủ các kiểu tham nhũng: lót tay, hối lộ, bôi trơn, lại quả. Các nhóm lợi ích thì xem vốn ODA vẫn là thứ tiền phải “giải ngân cho kịp” để “ăn”, trong khi dân phải mang tiếng “xin”, chấp nhận những “cảnh cáo” từ phía đối tác mà mới nhất là Nhật Bản, rằng “còn tham nhũng sẽ cắt tiền ODA”.

Thứ hai, không khỏi xót xa khi nhìn vào các ngành công nghiệp mũi nhọn và các ngành công nghiệp ưu tiên. Trong tầm nhìn chiến lược phát triển công nghiệp từ nay đến năm 2020, Sài Gòn đã xác định ba ngành mũi nhọn của công nghiệp bao gồm: i) Cơ khí chế tạo (ô tô, đóng tàu, thiết bị toàn bộ, máy công nghiệp, cơ điện tử); ii) Thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin; iii) Sản phẩm từ công nghệ mới (năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghiệp phần mềm, nội dung số).

Phải khẳng định đây đúng là “ba mũi nhọn” quan trọng, không chỉ Việt Nam, mà nhiều quốc gia khác như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản cũng từng trải qua. Nhưng sau 40 năm giải phóng thì nay là lúc ai cũng hốt hoảng khi chúng ta chỉ còn 5 năm để đạt ba mục tiêu mũi nhọn trên. Nhưng xin thưa, 5 năm là một con số “viển vông và không tưởng” khi hiện tại Sài Gòn đang đứng sau vạch số 0. Nghĩ làm gì đến công nghệ cao siêu khi ngay cả con ốc vít, hay các phụ kiện nhỏ nhất phục vụ ngành công nghiệp lắp ráp, cho đến nay gần như Việt Nam đều phải nhập khẩu. Khái niệm “công nghiệp phụ trợ” – ngành công nghiệp cơ bản của mọi ngành công nghiệp đã được đưa ra thảo luận và đầu tư – ra đời từ hơn chục năm trước ở Việt Nam, nhưng các vị lãnh đạo vẫn để nó dậm chân tại chỗ, mệt mỏi, thoi thóp và rồi chết đứng, nhường chỗ cho hàng hóa tiểu ngạch, chính ngạch của Bắc Kinh.

Xin phép được hỏi các vị “bao nhiêu doanh nghiệp phụ trợ mới có thể làm ra một chiếc xe hơi?” Xin thưa! Trên dưới 200 doanh nghiệp con “trợ sức” từng chi tiết máy mới có một chiếc ô tô mà các vị lãnh đạo ngồi mỗi ngày đến công sở. Cho nên có vị nào dám cam đoan sau 5 năm nữa, khi rào cản thuế quan phải hạ xuống dưới bước chân của gã khổng lồ WTO hay các thể chế mậu dịch tự do tương tự, một chiếc ô tô “lắp ráp in Vietnam” có thể sống trước ô tô ngoại nhập? Báo chí mấy hôm nay đưa tin “ô tô Việt Nam vẫn loay hoay lắp ráp để… chờ chết”, chứ Sài Gòn đừng bàn đến công nghiệp công nghệ cao – chỉ tổ khiến dân chờ, đợi, mỏi mòn và thất vọng.     

Trong khi đó, bảy ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển của Sài Gòn là: dệt may, da dày, nhựa, chế biến nông lâm thuỷ sản, khai thác chế biến nhôm, thép, hoá chất cũng đã và đang hấp hối. Xưa nay, không ít các vị lãnh đạo vẫn cứ sống trong mớ bong bóng “rừng vàng biển bạc đất phì nhiêu”, cho rằng Sài Gòn có nhân công giá rẻ, gần các khu tài nguyên. Để rồi khi công nghệ cao ngoại nhập khỏa lấp đi sức lực của đôi bàn tay không chỏng chơ, chai sượn của những người dân nghèo khốn khổ, thì các doanh nghiệp nội địa bắt đầu xếp hàng phá sản, đá bể toàn bộ chén cơm của hàng trăm nghìn người thất nghiệp. Hãy nhìn các doanh nghiệp nội địa ngành dệt may, mía đường, sữa,… liên tục “than trời trách đất” trong những năm qua trước áp lực của các doanh nghiệp ngoại đến từ Lào, Campuchia sẽ thấy chúng ta đang yếu đến cỡ nào.

Cuối cùng, xin hãy thẳng thắn nói về môi trường đầu tư. Chỉ chưa đầy một tháng, Việt Nam nhận liên tiếp ba sự kiện “choáng váng”. Một là, Nhật Bản tuyên bố “cắt viện trợ ODA nếu có thêm bất kỳ một dự án tham nhũng nào tại Việt Nam. Hai là, tập đoàn POSCO (Hàn Quốc) bị điều tra tham nhũng, hối lộ nhà thầu Việt Nam trong các dự án cao tốc giai đoạn 2009-2012. Ba là, Ngân hàng Thế giới (World Bank) tuyên bố cấm hoạt động trong vòng một năm đối với Tập đoàn Louis Berger Group (LBG, Mỹ) vì dính líu đến các hành vi hối lộ trong hai dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ tại Việt Nam. Công ty mẹ của LBG cũng bị hạn chế quyền đấu thầu đối với các dự án của Ngân hàng Thế giới vì không quản lí được các hoạt động “chung chi, hối lộ quan chức” mà LBG đã thực hiện trong hai dự án: Giao thông Nông thôn 3, và Đầu tư Ưu tiên Cơ sợ Hạ tầng Đà Nẵng do Ngân hàng Thế giới tài trợ. Tất nhiên, không ai điểm mặt chỉ tên Sài Gòn, nhưng những vấn nạn tương tự: thủ tục kinh doanh, đầu tư rườm rà, phức tạp mở đường cho các nghi thức “lót tay”, hay “lại quả”. Đó là chưa kể đến các vụ bê bối về tham nhũng, lừa đảo trong hệ thống ngân hàng; hối lộ trong hệ thống cảnh sát giao thông… Tất cả làm giảm đáng kể tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Sài Gòn.

Một Sài Gòn mà hàng triệu dân mơ ước bất kể phải nếm mật nằm gai trong suốt 40 năm qua phải theo đuổi tám mục tiêu: i) Hệ thống cung cấp nước và vệ sinh môi trường (Water supply and sanitation); ii) Giao thông vận tải (Traffic and transport); iii) Năng lượng (Energy); iv) Chức năng đô thị (Urban functions); v) Kiến trúc (Architecture); vi) Quản lý chất thải (Waste Management); vii) Quy hoạch cảnh quan (Landscape Planning); viii) Hợp tác giữa khối nhà nước và khối tư nhân (Public and private stakeholders).

Nhưng rồi trước mắt họ, con đường từ nhà đến nơi làm việc đang đối diện quá nhiều rủi ro từ hệ lụy tích tụ suốt 40 năm: Đó là một con đường đầy khói bụi, lô cốt dựng khắp nơi, dây điện chằng chịt, nước ngập úng với lượng rác thải khổng lồ. Thỉnh thoảng lại gặp vài ba anh cảnh sát giao thông “nghiêm khắc” rất thích bắt lỗi đèn xi-nhan, lấn tuyến dù con đường nhỏ hẹp và biển báo đánh đố người dân – những kẻ ngoài việc đóng thuế nuôi quan chức phải tự nguyện trả thêm ít tiền “lót tay” nếu không muốn bị “vạch ví” giữa đường. Và cũng trên con đường ấy, những chiếc xe hơi sang trọng, vẫn âm thầm và lạnh lùng lướt qua những mảnh đời cơ cực phải lam lũ đội nắng trên đầu, lội mưa tới bụng và trong hai hốc mắt sâu hoắm vẫn mong chờ bữa ăn chiều có đủ cháo, rau.

Vậy đấy, chẳng biết sau những ngày tiệc tùng mừng 40 năm chiến thắng, có vị quan chức nào giật mình thốt lên “đã 40 năm rồi cơ đấy” khi thấy tại quảng trường độc lập vẫn còn không ít kẻ lang thang nhặt lấy từng chiếc lọ, cái lon để bán kiếm tiền mà quên mất “ngày độc lập phải vui lên”.

* Blog của Cao Huy Huân là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Về Đầu Trang Go down
bhtran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Fri Apr 10, 2015 12:07 am




THÁNG TƯ ĐƯỜNG CHIỀU XỨ LẠ

(HNPĐ) Trong buổi hoàng hôn, đường chiều vắng lặng đã buồn, những cơn gió lốc xoáy tung những chiếc lá vàng càng thấy cảnh buồn thêm, thương cho thân chiếc lá lìa cành vất vưởng gởi phận nhờ bên lề đường như vẫn chưa yên. Chiếc lá và phận mình nào có khác chi, để nghe lòng chùng xuống với những xót sa cho cảnh đời đang đi vào tối, mang đầy ắp cái buồn như thế mà tôi lang thang trên đường chiều xứ lạ hôm nay một ngày cuối tháng Tư. Ngang trạm xe buýt, vài người khách chờ chuyến xe đi về phía biển nhìn tôi gật đầu chào, người dân trên đất nước may mắn này, họ vẫn luôn có dư cử chỉ thân thiện để trao cùng mọi người.

Cái khác màu da đã quá quen mắt nên không còn thắc mắc đó có phải là bạn, vả lại có luôn trong đơn lẻ mới thấy vui khi nhận được nụ cười người khác trao, tôi ráng một nụ cười thật tươi để đáp lại nhưng chân vẫn bước đều, một giọng nói vói theo là chỉ mươi phút chuyến xe sẽ tới, tôi biết câu nói đó là để dành cho tôi. Họ ngỡ tôi cũng đi về phố biển như họ, nhưng không, tôi đi chỉ là để đi và không biết mình muốn đi đâu, hướng đi trước mặt chỉ là vô tình vì trong đầu không một hối thúc phải về, mà đôi chân lang thang bước trên hè phố. Cái trống vắng trong lòng nghe như nhiều hơn, khi cái đậm màu của bóng đêm phủ kín lấy bầu trời, ngước nhìn cái không gian thăm thẳm trên cao kia, để mà nghe cái buồn mênh mông hơn.

Một chiếc xe buýt vừa vượt qua, những người tôi gặp nơi trạm chắc hẳn trên chuyến xe ấy, giấc này là lúc mọi người đều tìm về xum họp bên bàn ăn, chỉ có ai phận bạc mới đành làm cánh chim côi, dĩ nhiên không ai muốn điều đó, nhưng đâu phải cứ không muốn mà tránh được. Càng về khuya cái lạnh như một thôi thúc phải trở gót quay về, nhưng về đâu? Về nơi chổ ở mới chỉ càng làm cái buồn nghe nặng thêm, cả một đêm qua không ngủ, cả không viết được một chữ, cái cảm giác như thế không biết sao lúc này nó đến thường hơn, nó khiến tôi không còn thiết tha gì đến những cái chung quanh, mà chỉ thấy mình như viên đá cuội, nằm trong một vũng sâu… đá cuội là tôi, mà vũng sâu thì đầy những rong rêu muộn phiền.

Quá khứ những tưởng theo thời gian sẽ phôi pha, nhưng chúng nhiều quá trong hơn bốn mươi năm qua, chúng kết lại đủ dài như sợi dây trói nghiến lấy thân, để lại vết hằn trên da thịt, khứa thành rãnh sâu trong tim óc khiến khó xóa. Nhiều người nói, những thằng từng bị tù trong các trại lao cải cộng sản vẫn thường như thế, và cái buồn sẽ đưa chúng đi sớm, thế nào là sớm, thế nào là muộn, đi sớm là khi nào, và lấy gì để biết như thế là đi sớm, có biết rằng như thế mới lại là trễ. Thế hệ của tôi, thì những thằng như tôi là đứa đi muộn hơn những thằng bạn cùng lứa, đấy là nói chuyện những đứa đã ra đi ngày nào vì đất nước trước khi tan hàng, vì có cả những đứa tan hàng rồi mà phận số chúng không khá hơn, đi trong lúc thân tù đói lạnh.

Chỉ một lần đổi thay, mà cái vinh đã nên nhục! Ngã gục ngày nào trong sự tiếc thương của bao người, đi trước được như thế mới là cái hay, có qua những ngày tháng dài kéo lê kiếp sống trong muộn phiền, mới biết có được cái chết như bạn mình cái đó vẫn là cái hơn. Đã có lúc tự trách mình để chi cho lũ thú đọa đày thân xác ta, cam chịu trong nỗi nhục rồi lại tự đi đọa đày tim óc mình, bằng những ngày tháng sống trong ray rứt thương nhớ khôn khuây. Đời người quí báu biết là bao, mà sao ta cứ để thời gian trôi mất trong hững hờ, cũng bởi vì nó ngắn ngủi mà bao kẻ mót từng giây kiếp sống, trong khi mình thì không chút quan tâm đến hiện tai, cứ mãi vùi trong cái không gian xưa để mà nghe dài thêm nỗi tiếc, phải chăng đó là số phận?

Đêm nay bầu trời như cùng chia lấy cái buồn người tha hương trên đất khách, mà không có lấy một ánh sao dù đó chỉ là vì sao cô độc, nhìn bóng in dài trên đường khuya, tôi vẫn cứ thế mà đi để mà nhớ một đêm Sàigòn xưa, thằng lính xa tìm về thành phố nghe đậm nỗi cô lẻ, ngày đó tờ giấy phép trong tay, mà trong đầu không biết sẽ đi đâu, làm gì, để rồi trong một quán cà phê, tiếng hát của Hoàng Oanh trong Lẻ Bóng đã đánh gục người lính  bằng lời ca thiết tha

Còn thương còn nhớ
Đường xa ai gian khổ phong trần
Tạm quên vui khi tuổi thanh xuân
Năm tháng giữa non ngàn
Bằng lòng ra đi là giữ yên bờ cõi
Một lời nguyền hy sinh hạnh phúc riêng người ơi
Biết bao giờ thôi, nói sao cạn lời...

Đêm nay chân bước cũng vô hồn và cũng không biết mình rồi ra sao, lần đó lần này không cùng cái không gian lẫn thời gian nhưng giống nhau như là một, đêm nay chân cũng bước những bước vô hồn và cũng không biết mình rồi ra sao. Nghe lòng mềm đi vì cái hồn ma cũ trở về không một mảy may đổi thay

Vẫn là niềm thương đầy vơi
Khi nghe bài ca sầu nhớ
Khi ngắm trăng mờ hoàng hôn
Khi đi lặng lẽ trong những đêm gió mưa u buồn mà nghe...



Trong cuộc đời ta những gì thân quen nó đã ăn sâu vào tiềm thức, đến khi nó không còn nữa, đã khiến cho ta mang lấy cái hụt hẫng như mất đi những gì trân quí. Ngày nào giữa non ngàn người trai cho đi tuổi thanh xuân mà miệng vẫn cười, năm tháng ấy cứ thế như áng mây cuối trời bay mãi mà người lính không chút đắn đo... Để rồi đến lúc chí trai không thành nhưng thân vẫn chưa dứt nợ phiêu bạt, nhọc nhằn vẫn là hành trang trên đôi vai người lính cũ, cùng với thời gian làm bạc đi mái tóc, ngay cả vóc dáng cũng đã chối bỏ không ở lại cùng mình, ta nhìn vào gương thấy ta đã không còn là ta.

Ngày xưa trên quê hương mình, mang lấy gió bụi vào thân để nghe nặng bước chân người lính, hôm nay đường khuya xứ lạ cũng một ngày tháng Tư, trong cái lạnh đêm, ta lại muốn đem thân làm cánh chim bạt gió kêu sương, lạc loài cất lên tiếng gọi thiết tha nhớ về quê cũ!

Việt Nhân (HNPĐ)

.
Về Đầu Trang Go down
bhtran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Mon Apr 13, 2015 10:37 am


Mây mù Tháng Tư


Tác giả: Phan Thanh Tân
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Đời Tị Nạn)

Như một thông lệ vào những ngày gần cuối Tháng Tư trong năm, ông Hòa thường lấy ra tập nhật ký viết về biến cố Tháng Tư 1975 ra đọc. Tập nhật ký này không phải của ông. Ông không viết một chữ nào, cũng không ghi chú một lời nào trong tập nhật ký với khổ giấy 8x10, mà những trang giấy trắng đã phai màu theo thời gian.


Trại tiếp cư Camp Pendleton, Tháng Tư, 1975. (Hình: Tác giả cung cấp)

Ông Hòa nhớ lại cách đây gần 25 năm, lúc dọn vào căn apartment ở thành phố Westminster, ông đã nhặt được tập nhật ký này trong đống rác ở phía sau nhà.

Thời gian lướt qua với biết bao công việc lo toan cho cuộc sống mới, ông Hòa gần như quên tập nhật ký vẫn còn nằm trong tủ sách. Ðể từ đó ông trở thành chủ nhân bất đắc dĩ tập nhật ký, kể lại những sự kiện liên quan đến biến cố trọng đại của người Việt tỵ nạn trên khắp năm châu.

Nhân vật ghi chép tập nhật ký này là chàng sinh viên năm thứ ba ở đại học Luật Khoa Sài Gòn và đối tượng của chàng là một cô sinh viên năm dự bị, tên Mỹ Linh, ở đại học Văn Khoa Sài Gòn.

Ðọc nhiều lần tập nhật ký ông Hòa gần như thuộc lòng truyện tình hai người, trai Luật khoa, gái Văn khoa và do đó sau này ông chỉ đọc những đoạn có liên hệ đến biến cố Tháng Tư 1975 mà thôi.

Cũng giống như những năm trước, năm nay sau đúng 40 năm ngày Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, ông Hòa lôi ra tập nhật ký, đọc chậm rãi như muốn nuốt từng lời, từng chữ, thả hồn về quá khứ xa xưa, để ghi nhớ và tưởng niệm đến các anh hùng nghĩa sĩ đã anh dũng bỏ mình vì dân vì nước.

***

Ngày Thứ Tư, 2 tháng 4 năm 1975: Khoảng gần 10 giờ sáng tôi có mặt trong lớp học hai giờ Dân Luật với Giáo Sư Vũ Quốc Thông. Tin Cộng quân đã chiếm Nha Trang được lan truyền nhanh trong lớp. Vừa nghe xong tôi bay ra khỏi lớp, chạy nhanh qua đại học Văn Khoa tìm Mỹ Linh. Bước nhanh lên lầu ba, tôi ngó quanh khắp giảng đường, không thấy bóng dáng Mỹ Linh ngồi trong đó. Trông thấy tôi đứng dáo dác nhìn quanh tìm Mỹ Linh, cô bạn của Mỹ Linh bước ra cho biết Mỹ Linh không đến lớp vào sáng nay. Tôi nói cám ơn cô ta và vội vàng phóng xe nhanh đến nhà dì của Mỹ Linh, nơi hai chị em nàng đang ở trọ nằm trên đường Ðinh Tiên Hoàng. Khuôn mặt Mỹ Linh đỏ hoe, bước ra mở cổng. Trông nàng thảm não và buồn đau vì mất tin tức mẹ cha, tôi cảm thấy thương yêu nàng quá đỗi và tự nhủ sẽ không lìa xa nàng trong bất kỳ tình huống tồi tệ nào xảy ra.

Ngày Thứ Tư, 9 tháng 4 năm 1975: Tất cả nhật báo đều loan tin Sư Ðoàn 18 đóng ở tỉnh Long Khánh, đã oanh liệt đẩy lui sự tấn công của Quân Ðoàn 4 Bắc Việt muốn thôn tính thị xã Xuân Lộc.

Sau giờ học buổi chiều ở Luật khoa, tôi ngồi đấu láo với đám bạn ở quán cà phê Thu Hương. Trước chiến thắng của sư đoàn 18 do Chuẩn Tướng Lê Minh Ðảo chỉ huy, tôi nhận thấy đám bạn tôi đều lạc quan và tin tưởng miền Nam không thể rơi vào tay Cộng quân. Chỉ riêng tôi lo lắng và bi quan trước tình hình nguy kịch của đất nước và nêu thắc mắc tại sao chính phủ không đóng cửa tất cả các trường trung và đại học và ban lệnh Tổng Ðộng Viên trên toàn quốc?

Ngày Thứ Hai, 14 tháng 4 năm 1975: Mỹ Linh tan lớp học lúc 10 giờ và theo tôi vào ngồi uống nước trong câu lạc bộ trường Văn Khoa. Tại đây tôi nói với nàng do bởi tình hình chiến tranh căng thẳng, trường đại học Văn Khoa vừa ra thông cáo kỳ thi cuối năm được tổ chức sớm hơn thông lệ và sẽ tổ chức vào đầu Tháng Sáu.

Nói xong tôi bảo nàng đưa thẻ sinh viên để tôi ghi danh dự thi cuối khóa giùm nàng, bởi tôi có người bạn là thành viên trong ban đại diện của niên khóa này và đang phụ giúp việc ghi danh.

Ðưa tấm thẻ sinh viên cho tôi, nàng rầu rĩ kể tôi nghe vừa được thư của người anh ruột đang làm việc ở thành phố Washington DC, nói rằng ở bên Mỹ đang chuẩn bị giăng lều, căng trại đón người thua trận, bởi miền Nam sắp sửa kết thúc như Campuchia vậy. Do đó anh nàng sẽ gởi giấy tờ để bảo trợ nàng đi qua Mỹ du học.

Tôi ngồi lặng im, tiếp tục lắng nghe nàng cho biết ông giáo sư người Mỹ đã nói riêng với nàng rằng tình hình miền Nam càng ngày càng thê thảm và có thể hạ màn vào cuối Tháng Tư này. Sau đó ông ta trân trọng hỏi nàng chịu đi Mỹ với ông ta hay chăng? Tôi chưa kịp hỏi nàng trả lời ra sao, thì Mỹ Linh còn cho tôi biết thêm người chị của nàng là Mỹ Lan hiện làm việc cho cơ quan DAO ( Defend Association Organization), có thể dẫn nàng đi nếu tình thế đến hồi kết cuộc.

Lòng tôi tê tái và se thắt lại khi nghe nàng nói như thế, nàng có nhiều cơ hội sang Mỹ và tôi sẽ phải xa nàng. Tình tôi đối với nàng càng ngày càng đậm sâu và tự nghĩ sau này không gặp được nàng, cuộc đời chắc vô vị lắm! Nhìn thấy khuôn mặt tôi đượm nét không vui, Mỹ Linh nắm tay tôi, mếu máo nói tiếp, ngày nào chưa biết tin tức của song thân nàng vẫn chưa muốn đi đâu hết.

Nghe nàng nói như vậy tôi cảm thấy an tâm và nhẹ nhõm, bởi vì tôi không muốn xa nàng, mất nàng. Lúc đưa Mỹ Linh về nhà, chiếc xe chạy ngang qua Tòa Ðại Sứ Mỹ, tôi đã thấy có một số người đứng xếp hàng một ở bên ngoài, chờ đợi vào bên trong lập thủ tục chuẩn bị rời nước ra đi. Lòng tôi cảm thấy xốn xang và buồn đau quá!

Chiến tranh còn đang tiếp diễn, Sư Ðoàn 18 ở Xuân Lộc đang anh dũng chống trả Cộng quân, thế mà các nhân viên làm việc cho các cơ quan Mỹ đang lặng lẽ chuồn khỏi nước. Hơn hai tuần sau ở Subic Bay tôi tình cờ gặp ông thầy dạy ở Luật khoa, đã tiết lộ rằng vào ngày 15 tháng 4 Tòa Ðại Sứ Mỹ đã gởi mật điện đến trường, yêu cầu cấp tốc lập danh sách những ai muốn rời Sài Gòn.

Sau này khi định cư ở Mỹ, tôi được nghe một anh bạn là sinh viên Y Khoa Sài Gòn năm cuối cùng, cũng tiết lộ Tòa Ðại Sứ Mỹ đã bốc đi gần hết các sinh viên Y Khoa từ năm thứ năm trở lên qua Mỹ. Ðiều đó cho tôi hiểu rằng ông bạn đồng minh của VNCH đã sẵn có kế sách bỏ rơi miền Nam từ lâu, nên tìm cách bốc đi các nhân viên làm việc chung với họ, cùng các chất xám trong nước.

Ngày Thứ Hai, 21 tháng 4 năm 1975: Sau khi đưa Mỹ Linh về nhà, tôi hấp tấp lái xe nhanh về nhà để đón xem bài nói chuyện của Tổng Thống Thiệu với quốc dân đồng bào. Toàn thân tôi đã nổi gai ốc khi nghe Tổng Thống Thiệu tuyên bố từ chức và giao quyền lãnh đạo quốc gia cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Tôi có linh cảm chiến tranh hai miền Nam Bắc sắp kết thúc, với mây đen sắp sửa ập xuống dải đất miền Nam Cộng Hòa. Ðêm đó ngồi trước quyển Hình luật vừa mới mua, tâm trí tôi nhảy múa lung tung trước hiện tình đất nước, không thể nhét một chữ nào vào trong đầu.

Ngày Thứ Ba, 22 tháng 4 năm 1975: Mấy ngày qua tôi không thấy thằng bạn thân xuất hiện trong giảng đường, nên chiều nay sau khi tan học, tôi tạt qua nhà hắn ở cư xá Chi Lăng, tỉnh Gia Ðịnh. Bấm chuông nhiều lần vẫn không thấy ai ra mở cửa, khiến tôi nghi ngờ gia đình hắn đã chuồn ra khỏi nước. Quả đúng như ý nghĩ, sau này hai đứa trùng phùng nhau trên xứ người, hắn cho biết toàn thể gia đình được mục sư Cơ Ðốc Giáo âm thầm dẫn đi di tản từ ngày đó.  

Ngày Thứ Năm, 24 tháng 4 năm 1975: Bởi người anh rể tôi là một kiến trúc sư, làm việc cho cơ quan Mỹ, nên khoảng 10 giờ sáng nay gia đình anh chị tôi cùng với năm cháu được xe ở cơ quan đến tận nhà chở vào phi trường Tân Sơn Nhất. Lòng tôi buồn rười rượi cho nỗi chia ly với anh chị và các cháu, biết bao giờ gặp lại nhau! Vì vậy tôi càng thương cảm cho hoàn cảnh của Mỹ Linh nhiều hơn, đã bặt tin tức song thân từ ngày Nha Trang lọt vào tay Cộng quân. Khoảng 4 giờ chiều tôi đến trường Văn Khoa đón Mỹ Linh. Hai đứa chui vào một quán kem quen thuộc nằm trên đường Nguyễn Huệ. Sau khi một ly kem dâu, một ly kem chocolate và một dĩa bánh su-kem được đặt lên bàn, tôi mới kể nàng nghe anh chị hai cùng năm đứa cháu nhỏ của tôi đã vào phi trường Tân Sơn Nhất hồi sáng hôm nay. Nàng nhìn thẳng vào mắt tôi và hỏi tôi sao không đi theo gia đình anh chị? Mỹ Linh thực sự cảm động khi nghe tôi trả lời cho dù có cơ hội di tản, tôi vẫn nhất quyết không đi, chỉ muốn được gần bên nàng mà thôi. Bằng tấm lòng chân thật nàng bày tỏ cũng muốn ở lại đây với tôi và gặp lại mẹ cha. Hai đứa không muốn lìa xa nhau dẫu cho tình thế có rối rắm tới đâu đi nữa.

Ngày Thứ Sáu, 25 tháng 4 năm 1975: Vào khoảng 8 giờ sáng bọn sinh viên năm thứ ba ban Kinh Tế ngồi trong giảng đường chờ thầy Vũ Văn Mẫu đến dạy hai giờ Công Pháp Quốc Tế. Thầy Mẫu không xuất hiện, thay vào đó là thầy Phó Khoa Trưởng Phan Tấn Chức đến cho biết thầy Mẫu bận công vụ không đến dạy vào sáng nay. Vào dịp này trước tình thế hiện tại thầy Chức cho biết ngày thi sẽ được tổ chức sớm hơn và nhấn mạnh ai có thi sẽ được cho đỗ tất cả. Cả lớp học từ từ giải tán, riêng tôi chạy qua Văn Khoa tìm Mỹ Linh. Hai đứa đến rạp Vĩnh Lợi xem phim “Tình Thù Rực Nắng” (Summertime Killer) do nữ tài tử Olivia Hussey thủ diễn, rất sexy trong phim này trái với hình ảnh xinh xắn và dễ thương trong vai nàng Juliet ở phim Romeo & Juliet.

Ðứng trước rạp Vĩnh Lợi tôi không thể tưởng tượng được cảnh tranh giành nhau, chen lấn nhau trước phòng bán vé. Không làm sao tôi quên được quang cảnh bỉ ổi và kinh tởm trước rạp Vĩnh Lợi vào buổi sáng nay. Trời ơi! Ðám đông la hét, chen lấn, chèn ép, xô đẩy nhau chỉ mong đạt được mục đích nhỏ nhoi là mua được tấm vé xi nê. Rồi khi giành mua được tấm vé, khuôn mặt họ đẫm ướt mồ hôi cùng nụ cười rạng rỡ trên môi, trông trơ trẽn và nham nhở vô cùng. Vì những tấm vé hát, đám đông không hề lo lắng và quan tâm đến tình hình chiến cuộc, mà Ban Mê Thuột, Huế, Ðà Nẵng, Nha Trang đã từ từ lọt vào tay Cộng quân. Vì những tấm vé hát, đám đông không mảy may sợ sệt và lo âu một Sài Gòn sẽ mất như thành phố Nam Vang đã lọt vào tay Khmer Ðỏ? Vì những tấm vé hát, đám đông đã nhẫn tâm phản bội và vô ơn đối với những anh chiến sĩ đang ngày đêm trực diện với Cộng quân, để bảo vệ cho họ an lành ở thành thị vui chơi và hưởng thụ. Tủi hổ, chán chường và tức giận, tôi và Mỹ Linh ra về. Buổi tối tôi ngồi xem tin tức, được biết cựu Tổng Thống Thiệu và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đã rời Việt Nam. Quả thật tình hình đất nước biến chuyển đen tối hơn và niềm âu lo nơi tôi thành phố Sài Gòn rồi sẽ thất thủ như thành phố Nam Vang càng tăng hơn gấp bội.

Ngày Thứ Bảy, 26 tháng 4 năm 1975: Buổi sáng tôi đến trường Văn Khoa lo việc ghi danh thi cử cho Mỹ Linh. Nàng đã cho tôi biết hôm nay hai chị em nàng đi vào các trại tạm cư để dọ hỏi tin tức song thân, nên tôi không cần tìm kiếm nàng trên Văn Khoa. Vào khoảng 2 giờ trưa người bạn thân tên Bổng đến rủ tôi đi uống cà phê. Trong quán cà phê Hân, Bổng hỏi tôi có ý định rời bỏ Sài Gòn không? Tôi đáp nhanh cho Bổng hiểu tôi không có ý định đi đâu hết, bởi tôi không muốn xa Mỹ Linh. Nhà Bổng gần bên Khánh Hội, nên hắn cho biết hắn sẽ tìm cách ra đi nếu nhìn thấy bóng dáng Cộng quân xuất hiện trong thành phố. Nghe như thế, tôi cười và khuyên Bổng dẹp bỏ ý nghĩ rời nước ra đi, bởi “cùng tắc biến, biến tắc thông,” chiến tranh rồi sẽ kết thúc bằng một thỏa ước hòa bình. Nhưng Bổng cãi lại, nói “biến tắc thông, thông rồi tắc tịch” luôn và khuyên tôi nên tìm đường chạy thoát khỏi Sài Gòn, đừng vì con gái mà lụy thân.

Ngày Chủ Nhật, 27 tháng 4 năm 1975: Bởi tình hình chiến sự đang đến hồi khốc liệt, Cộng quân đang tiến dần vào thủ đô Sài Gòn, chính phủ phải ban hành lệnh giới nghiêm vào 7 giờ tối. Vì vậy khoảng gần ba giờ chiều tôi chạy đến tìm gặp nàng. Xa nhau mới chỉ vỏn vẹn một ngày, cả hai tưởng như xa nhau suốt một năm! Tôi gặp cô chị của Mỹ Linh cũng có mặt trong nhà. Mỹ Linh nói ngày hôm qua hai chị em nàng đã đi khắp nơi chứa người lánh nạn để tìm song thân. Tuy không gặp mặt nhưng được tin ba mẹ nàng vô sự và bình an. Mỹ Linh nói thêm rằng song thân nàng nhắn tin bảo hai chị em nàng nếu có cơ hội thì hãy ra đi trước. Nhìn tôi bằng ánh mắt u buồn, Mỹ Linh nghẹn ngào nói hai chị em nàng đã quyết định nghe lời song thân và dự định ra đi. Sau đó chị Mỹ Lan tiếp lời Mỹ Linh cho tôi biết, bởi tình hình biến chuyển ngoài dự liệu, vào sáng mai sẽ có vài vị cao cấp ở cơ quan DAO túc trực ngoài cửa phi trường để rước các nhân viên của DAO vào bên trong phi trường. Nhưng cơ quan DAO chỉ cho phép người phối ngẫu và cha mẹ con cái của nhân viên đi cùng mà thôi. Nước mắt rưng rưng Mỹ Linh nghẹn ngào nói nếu tôi muốn thì sáng ngày mai tôi và chị Mỹ Lan, giả như một cặp vợ chồng, đón xe vào phi trường Tân sơn Nhất, còn nàng ở lại nhà chờ ông giáo sư Mỹ đến rước vào tòa Ðại Sứ Mỹ. Sau đó hai đứa ra ngồi ngoài hành lang tâm sự và bàn tính việc ra đi. Bàn tính chưa xong thì sắp đến giờ giới nghiêm. Tiễn tôi ra tận cửa, hai đứa bịn rịn chẳng muốn lìa xa nhau. Ngoài đường mọi người vội vã chạy về nhà trước giờ giới nghiêm, gây cảnh ồn ào náo động như ngày lễ hội, nhưng bên tôi không nghe gì hết ngoài hơi thở của người yêu mà thôi! Suýt nữa tôi quên trả lại nàng tấm thẻ sinh viên, nên vừa vội vàng móc bóp lấy ra thẻ sinh viên trao nàng, vừa cho nàng biết sự ghi danh thi cử giùm nàng đã xong. Mỹ Linh cười buồn nói rằng tấm thẻ sinh viên này trong nay mai rồi sẽ trở nên vô dụng.

Ngày Thứ Hai, 28 tháng 4 năm 1975: Ðồng hồ trên tường chỉ đúng 9 giờ sáng, chiếc xe taxi chở Mỹ Lan đậu trước nhà tôi. Từ giã những người thân yêu, tôi bước vào trong xe và chiếc xe taxi đưa Mỹ Lan và tôi hướng về phi trường Tân Sơn Nhất. Quang cảnh đường phố sáng nay mang bộ mặt khác thường, bởi con đường nào cũng đông nghịt xe hết. Bóng dáng các cảnh sát gìn giữ trật tự lưu thông lặn mất, khiến lưu thông xe cộ kẹt cứng khắp nơi, một hiện tượng rất lạ thường đối với thành đô. Quả thật sáng nay người dân Sài Gòn đang trực diện với không khí chiến tranh, nỗi lo âu và sợ sệt đang bao trùm khắp thành phố. Xe cộ lưu thông loạn xạ, vô trật tự, tiếng còi xe kêu vang inh ỏi, trộn lẫn với tiếng người kêu la thất thanh, tạo ra bầu không khí hoang mang, sợ hãi tột cùng một sự tắm máu sắp sửa xảy ra do tin đồn loan ra từ cả tuần qua. Chắc vì thế mà mọi người túa ra đường tìm lối ra đi, nên đường phố càng lúc càng đông, mạnh ai hối hả chạy không còn tuân theo luật lệ gì nữa!

Ông tài xế taxi nói tình hình chiến sự kể như vô vọng, Cộng quân tiến gần Biên Hòa rồi. Tin tức Cộng quân đang tiến dần vào ngoại ô thành phố Sài Gòn được lan truyền nhanh chóng, bắt đầu tạo ra bầu không khí hỗn loạn khắp mọi nơi. Chiếc xe taxi nhích từng chút khiến Mỹ Lan ngồi trong xe tỏ vẻ nóng ruột, lo lắng không gặp viên chức DAO, thì làm sao vào bên trong phi trường được. Nhưng rồi đến gần 12 giờ trưa xe taxi mới tới được phi trường, Mỹ Lan thở phào nhẹ nhõm trong khi lòng tôi bồn chồn nhớ đến Mỹ Linh. Chung quanh phi trường được canh phòng bởi nhiều vòng kẽm gai, cùng các Quân Cảnh và vài viên chức người Mỹ đứng canh gác. Lúc ấy tôi mới để ý rất đông người tụ tập bên ngoài phi trường, với ước mong vào bên trong phi trường thì mới có cơ hội đào thoát khỏi thành phố Sài Gòn có nguy cơ bị nhuộm đỏ bởi Cộng quân. Trong thấy bóng dáng Mỹ Lan, một viên chức ở cơ quan DAO đứng tuổi bước đến gần Mỹ Lan, phàn nàn rằng tại sao Mỹ Lan tới đây quá trễ, nếu mà trễ thêm chút nữa hẳn không gặp được ông ta, vì ông ta vừa được lệnh phải quay vào Tòa Ðại Sứ Mỹ. Sau đó ông ta ra lệnh cho lính Quân Cảnh gỡ vòng kẽm gai để tôi và Mỹ Lan bước vào trong phi trường, rồi đính thân ông ta lái xe chở hai đứa đến một căn phòng to rộng, nơi đang có vài ngàn nhân viên Mỹ chờ đợi ra đi. Bước vào trong căn phòng, tôi nhìn thấy mọi người đang nằm, ngồi la liệt, bàn tán tình hình đen tối trước mắt. Vì vậy tôi mới biết trong phi trường vừa có lệnh giới nghiêm 24/24, với lệnh “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, mọi cổng gác chung quanh phi trường đều đã đóng kín và được canh phòng nghiêm ngặt bởi lính hỗn hợp Quân Cảnh Việt và Thủy Quân Lục Chiến Mỹ.

Vừa ngồi xuống một khoảng trống trong căn phòng, toàn thân tôi như bị đông lạnh và tức nghẹn khi được nghe rằng do bởi tình hình đột biến quá nhanh, cơ quan DAO không thể kiểm tra danh sách nhân viên ghi tên ra đi. Do đó bất cứ thân nhân nào đi cùng với nhân viên của DAO, cũng được DAO vớt hết. Còn Mỹ Lan buông tiếng thở dài, than thầm phải mà biết được như thế thì đã kéo Mỹ Linh đi theo luôn vào phi trường. Bỗng nhiên tôi có linh cảm ông giáo sư Mỹ không thể đến bốc nàng đi như đã hứa hẹn và Mỹ Linh sẽ bị kẹt lại. Trong lòng tôi nổi lên sự linh cảm mạnh mẽ hơn khi trời đang nắng gay gắt, bỗng mây đen trên cao đột ngột kéo đến, báo hiệu cơn mưa sắp sửa đổ xuống.

Ngước mắt nhìn trời cao, tôi chỉ thấy toàn đám mây đen, mù mịt che phủ kín mặt trời. Phải chăng hiện tượng mây mù là dấu hiệu đen đúa sắp phủ xuống cuộc đời Mỹ Linh? Mây mù ngự trị trên bầu trời khá lâu, đến buổi chiều trời bắt đầu đổ mưa, tuy không nặng hột nhưng tạo ra hoàn cảnh thê lương hơn, kinh sợ hơn và u ám hơn cho thành phố Sài Gòn. Lòng tôi nóng như lửa đốt, muốn chạy ra gặp Mỹ Linh, nhưng phải đành ngồi bó chân chờ đợi lệnh giới nghiêm được tháo gỡ. Như đọc được ý nghĩ tôi muốn trở ra ngoài, bằng giọng trách móc Mỹ Lan nói rằng trong khi ai ai cũng muốn chạy vào trong đây để được chính phủ Mỹ bốc ra khỏi nước, tránh một cảnh tắm máu có thể xảy ra ngay trong lòng thành phố, thì tôi lại muốn chạy ra ngoài đặng hứng bom rơi đạn nổ. Lời Mỹ Lan nói hoàn toàn không sai! Khoảng 7 giờ tối để “chào mừng” bài diễn văn của Tổng Thống Trần Văn Hương bàn giao chức vụ Tổng Thống cho Ðại Tướng Dương Văn Minh, Cộng quân bắt đầu pháo kích vào trong phi trường. Lúc này tôi nghe nhiều tiếng la thét, tiếng kêu réo, tiếng than khóc vang lên trong đêm tối và mọi người bò lê bò lết nằm xuống tránh đạn, nhưng rất may đạn đã không rơi vào nơi căn phòng tôi và Mỹ Lan đang trú ẩn. Hình như tôi không thể ngủ được một phút giây nào, mắt mở trao tráo nghĩ đến tình thế đen tối miền Nam rơi vào tay Cộng quân, cùng nhớ ray rứt về Mỹ Linh.

Ngày Thứ Ba, 29 tháng 4 năm 1975: Nơi phi trường Tân Sơn Nhất lệnh “nội bất xuất, ngoại bất nhập” vẫn tiếp tục thi hành một cách triệt để và gắt gao hơn nữa. Bằng cách nào tôi chạy thoát ra ngoài trước lính canh phòng với khí giới trên tay và các vòng kẽm gai? Lòng tôi uất nghẹn và điếng đau ghê gớm đã không thể trở ra phi trường tìm gặp người yêu dấu. Ðến khoảng gần một giờ trưa mọi người chứng kiến quang cảnh đoàn lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ giựt sập cột đèn, cắt đứt dây điện, lượm lặt rác, thu dọn các chướng ngại vật dưới đất. Nhiều tiếng la hét và tiếng khóc than nổi lên, bởi lúc ấy ai cũng đều nghĩ chắc chắn đã bị Mỹ bỏ rơi, nên ùn ùn xách hành lý chạy ra khỏi các dãy nhà trú ẩn. Như bừng sống dậy, tôi vội vã chào từ biệt Mỹ Lan, nhập vào đoàn người ùn ùn chạy ra phi trường. Thấy tôi bỏ chạy, Mỹ Lan cũng chạy theo tôi. Chạy được một khoảng ngắn, đoàn người bỗng nghe loa phát thanh vang lên: “Tất cả hãy dừng lại và ngồi xuống đất có trật tự. Ai bất tuân sẽ bị trừng trị. Trong chốc lát sẽ có hàng trăm chiếc trực thăng đáp xuống, bốc quí vị rời khỏi đây.” Ðến giờ mọi người mới hiểu hành động của lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là chuẩn bị bãi đáp cho chiến dịch Trực Thăng Vận vào giờ chót bốc người đi di tản của tổng thống Mỹ.

Khoảng hơn 3 giờ trưa từng đoàn trực thăng ào ào đáp xuống bãi đất trống, nơi có vài ngàn người đã mỏi mệt chờ đợi mấy ngày qua. Trái với nỗi lo âu nơi tôi có sự hỗn loạn và chen lấn đến chết người như đã xảy ra ở phi trường Ðà Nẵng, mọi người trên tay xách một hành lý nhỏ, trật tự xếp hàng một, từ từ bước vào từng chiếc trực thăng.

Buổi chiều hôm đó mây đen che kín bầu trời, từ một radio cầm tay trong đoàn người, tôi nghe giọng nói của Giáo Sư Vũ Văn Mẫu, hiện là bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, kêu gọi người Mỹ hãy rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ. Ðể đáp ứng lời kêu gọi đó, Cộng quân pháo kích như mưa vào phi trường Tân Sơn Nhất, nơi đang có vài ngàn người đang xếp hàng một, tuần tự leo vào từng chiếc trực thăng rời khỏi thành phố Sài Gòn thân yêu. Tiếng đạn pháo kích, tiếng cánh quạt của chiếc trực thăng hòa lẫn với tiếng mưa rơi, tạo ra âm thanh thê lương đứt từng khúc ruột trong lòng người bỏ nước ra đi. Ðôi chân nặng nề bước vào chiếc trực thăng, cõi lòng tôi nát tan cho hoàn cảnh đẩy đưa phải đành xa Mỹ Linh từ đây. Từng hạt mưa rơi đầy trên mặt trên môi tôi. Hay nước mắt đang đẫm ướt trên mặt tôi đây?

Tôi nhớ như in, đúng 7.30 tối chiếc trực thăng, có tôi và Mỹ Lan trong đó, từ từ cất cao lên mặt đất, rồi bay cao lên không trung và bay khuất thành phố Sài Gòn dấu yêu. Lúc này tôi biết rõ nước mắt đang nhạt nhòa trên đôi mi tôi. Khoảng chừng thời gian ngắn từng chiếc trực thăng hạ cánh trên Hạm Ðội Thứ Bảy ở ngoài khơi Vũng Tàu.

Ngày Thứ Tư, 30 tháng 4 năm 1975: Vào 10 giờ sáng tôi cùng với số đông đồng bào trên boong tàu của chiến hạm Okinawa, gục đầu buồn bã nghe Ðại Tướng Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng trên đài phát thanh. Mọi người bàng hoàng và kinh ngạc sao Sài Gòn thất thủ nhanh quá! Không ai nói được một lời nào! Một sự im lặng đến rợn người trên boong tàu, cúi đầu rơi lệ đón nhận tin Cộng quân đã chiếm được thành phố dấu yêu Sài Gòn. Sự im lặng đến không thể bày tỏ bằng lời nói của từng khuôn mặt thất thần trên chiến hạm Okinawa, khác nào mọi người đang mặc niệm cho thành phố Sài Gòn đang giẫy chết bởi Cộng quân.

Chiến hạm Okinawa tiếp tục lướt sóng ra đại dương mênh mông, mang chở nỗi cảm xúc kinh hoàng trên từng khuôn mặt của mọi người vừa hay tin thành phố Sài Gòn đã thất thủ. Cho tới hơn hai giờ trưa cùng ngày tất cả người tỵ nạn từ trên chiến hạm được chuyển xuống từng chiếc xuồng nhỏ. Rồi từ chiếc xuồng nhỏ, tôi và Mỹ Lan cùng đoàn người bỏ nước ra đi được chuyển sang một chiếc tàu thương mại to lớn, đậu cách chiến hạm Okinawa không xa mấy. Sau gần hai đêm ba ngày lênh đênh trên biển rộng bao la, con tàu thương mại chứa đầy người tỵ nạn cập bến tại đảo Subic Bay, Phi Luật Tân. Và sau vài đêm tá túc ở đảo Subic Bay, bằng những chuyến bay dân sự những người tỵ nạn được chở đến đảo Guam hay đảo Wake trước khi chính thức nhập cảnh vào đất Mỹ. Riêng tôi và Mỹ Lan được đưa đến đảo Wake, một căn cứ quân sự của Mỹ ở Honolulu. Rồi sau đúng ba tuần lễ tá túc trên đảo Wake, hai đứa được tạm trú trong trại tỵ nạn Camp Pendleton ở tiểu bang California.

***

Uống vài hớp tách trà đã nguội lạnh từ lâu, ông Hòa ngả dài lưng trên ghế sofa, lòng bồi hồi nhớ về các bạn đồng ngũ đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam. Chính ông đã bị thương tích đầy mình và bị giam cầm gần 8 năm ròng rã trong trại cải tạo, để suốt cuộc đời còn lại phải sống với đôi chân tật nguyền. Lòng ông cũng ngậm ngùi giùm cho các nhân vật trong tập nhật ký, bởi vì biến cố Tháng Tư 1975 đã tạo ra mối tình oan trái “tình em duyên chị” đến dở khóc dở cười, ra ngoài ý muốn cả ba.

Ông Hòa cũng ý thức được rằng biến cố Tháng Tư 1975 đã để lại biết bao chuyện oan khiên khác, mà mỗi khi hồi tưởng lại thời gian đó, lòng người bỏ nước ra đi gặm nhấm nỗi buồn đau khó thể quên được.

Về Đầu Trang Go down
bhtran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Fri Apr 24, 2015 11:20 am


Ký ức vụn 30 Tháng Tư

Thursday, April 23, 2015

Ẩn Danh
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Ðời Tị Nạn)

Thấm thoát đã gần 40 năm kể từ ngày 30 Tháng Tư 1975. Ngày ấy tôi mới 17 tuổi, tuổi đầy ước mơ và hoài bão, nhưng cũng ngổn ngang những mối lo âu. Ước mơ được vào đại học hoặc đi du học và lo biết đâu mình sẽ bị động viên vào quân đội như bố tôi. Chắc chắn ông không muốn tôi theo binh nghiệp như ông.

Vào những ngày giữa Tháng Ba, những tin không hay từ chiến trường đã dồn dập xuất hiện trên báo chí, đài truyền hình, và đài phát thanh. Ban Mê Thuột mất, rồi đến Huế, Ðà Nẵng cũng mất, sau đó Qui Nhơn, Tuy Hòa.


Bên ngoài Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn vào ngày 28 Tháng Tư, 1975,
hai ngày trước khi Sài Gòn thất thủ. (Hình: Getty Images)

Mẹ tôi đã thoát khỏi Tuy Hòa về Sài Gòn trên một chuyến bay dân sự trước khi thành phố này thất thủ. Bố tôi vẫn còn kẹt lại cho đến cuối Tháng Ba mới có mặt ở Sài Gòn. Khi Tuy Hòa mất, ông đã phải di tản bằng đường bộ vào Nha Trang, nhưng lúc đó Nha Trang đã rơi vào tay đối phương. Nhờ người quen giúp, ông lên được chiếc ghe liều lĩnh ra khơi không biết đi về đâu, nhưng may mắn nhóm người trên chiếc ghe đã được chiến hạm Mỹ vớt đưa về Phú Quốc rồi từ đó ông về Sài Gòn.

Sang đầu Tháng Tư, các tỉnh chung quanh Sài Gòn dần dần cũng mất, Dinh Ðộc Lập bị ném bom bởi một trung úy phi công nằm vùng. Tôi và chúng bạn vẫn đi học bình thường nhưng ai nấy đều lo lắng về số phận chính mình vì linh cảm rằng ngày mất Sài Gòn không xa.

Những ngã Sáu, ngã Bảy dựng đầy những kios tuyển quân với số tiền thưởng đầu quân hậu hĩnh. Rõ ràng tình hình chiến sự ngày càng căng thẳng, người ta rất đang cần lính. Một người bạn trong lớp tôi đã đầu quân. Lớp làm bữa tiệc nhỏ tiễn bạn mình mà cứ giống như tiễn Kinh Kha qua Dịch Thủy. Tiễn “anh” đi, chưa bao giờ buồn thế... (1)

Gia đình tôi đang phân vân việc đi hay ở lại. Bố mẹ tôi đều là dân Bắc di cư vào Nam năm 1954. Mẹ tôi khăng khăng nhất định rời Việt Nam bằng mọi cách. Bà có lẽ đã chứng kiến cảnh ông ngoại tôi bị đấu tố và hành hạ đến khi đưa về nhà thì chết nên rất sợ Cộng Sản. Bác Cả, chị lớn nhất góa chồng và hơn mẹ tôi gần 20 tuổi, đã dắt con trai duy nhất của mình và đưa cả đàn em hơn chục người với gia đình con cái họ chạy khỏi quê Phủ Lý, Hà Nam để xuống chiếc tàu há mồm di cư vào Sài Gòn.

Bố tôi cũng một lần di cư cùng với ông bà nội tôi và các em từ Phúc Yên ra Gia Lâm, Hà Nội để vào Nam. Nhưng bây giờ ông bà nội tôi đã già, bố tôi không nỡ bỏ đi, hơn nữa ông còn khoác áo lính, không muốn mang tiếng đào ngũ. Tâm niệm “Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm” của người lính đã làm ông băn khoăn.

Giữa Tháng Tư tình hình trở nên nguy kịch. Ngày 21 Tháng Tư, Tổng Thống Thiệu từ chức, cụ Trần Văn Hương chấp chánh. Chính quyền Sài Gòn đã có dấu hiệu suy sụp.

Bố tôi điện thoại cho cô Út tôi đang ở Mỹ tìm cách lo giấy tờ cho gia đình để di tản. Cả nhà hy vọng chồng cô là luật sư Mỹ có thể lo liệu giấy tờ được, nhưng tất cả cần thời gian.

Ngày 28 Tháng Tư, Cụ Trần Văn Hương từ nhiệm giao quyền lại cho ông Dương Văn Minh. Ngày 29 Tháng Tư, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích, vòng vây Sài Gòn đang khép chặt, trường ốc đóng cửa, mà có đi học cũng chẳng thể học. Phương án cuối cùng là chạy vào tòa Ðại Sứ Mỹ.

Em chồng của dì tôi là nhân viên tòa Ðại Sứ Mỹ. Gia đình cô ấy thuộc diện được bốc đi. Thế là những người thân khác có thể hy vọng đi theo với sự giúp đỡ của cô.

Qua đám người đông nghịt, tôi được đẩy vào cổng sau tòa đại sứ trên đường Phan Ðình Phùng. Lúc đó khoảng 10 giờ sáng ngày 29 Tháng Tư. Hành trang chỉ là chiếc valise nhỏ Samsonite màu xanh lá cây mà tôi vẫn giữ làm kỷ niệm. Trong túi giấu hai lạng vàng làm vật tùy thân. Vào đến sân sau tòa đại sứ tôi đã thấy một hàng người san sát nối đuôi nhau uốn lượn như rắn bò vào ra một hai căn nhà nhỏ rồi quanh co bên hồ bơi để đến gần nơi trực thăng đáp xuống.

Tôi gặp lại gia đình bác Cả, dì Út tôi, mẹ tôi, và sau đó là cô kế út của tôi. Bố tôi không vào. Mọi người lo lắng, ai cũng từng di cư, ai cũng từng nếm mùi Cộng Sản, ai cũng mong đến phiên mình được bước lên trực thăng càng sớm càng tốt.

Mẹ tôi nhất quyết ra đi dù không có bố tôi và giận tôi vì tôi có vẻ thờ ơ với mọi việc có lẽ vì tôi chưa nếm mùi Cộng Sản mà mãi sau tôi tôi mới hiểu thêm “chuyên chính vô sản” là gì. Tôi vẫn chậm chạp tiến lên trong khi mọi người cố đi nhanh. Tôi và người anh họ tên C, con trai duy nhất của bác Cả tôi dắt theo từ Bắc vào Nam, đã từ từ tách xa những người thân phía trước. Hết đứng rồi lại ngồi nghỉ, mệt mỏi, không ăn trưa, không ăn chiều, chỉ uống nước và chờ đợi. Trời đã tắt lịm, đèn trong sân sau đã thắp sáng. Ðoàn người vẫn đi quanh bờ hồ, đường rất ngắn mà xem chừng thật xa, cả tiếng đồng hồ mới có một chiếc trực thăng đáp xuống và bay lên.

Gần 10 giờ tối, nhóm người thân đi trước đã được bốc đi. Trong đó có mẹ tôi, cô tôi, bác Cả tôi và người con dâu với hai đứa cháu nội, một đứa mới sinh và một lẫng cẫng biết đi, và gia đình dì tôi gồm 7 người với cậu em họ bị polio liệt hai chân phải cõng.

Ðến nửa đêm trực thăng không đáp xuống sân sau nữa. Chúng tôi được đưa vào bên trong tòa đại sứ để lên sân thượng nơi cuối cùng mà trực thăng có thể đáp xuống, hàng người vẫn nối dài đi qua từng bậc cầu thang của 6 tầng lầu, rất chậm và rất chậm. Qua từng tầng lầu, tôi lén nhìn vào khung cửa kính nhỏ thấy nhân viên Mỹ đang hủy giấy tờ và thấy một người cao ốm đi đi lại lại trong phòng mà tôi đoán đó là ông Ðại Sứ Martin vì tôi đã thấy đâu đó trên TV hay báo chí.

Cuối cùng tôi và người anh họ cũng lên đến tầng cuối. Lúc đó khoảng 2 giờ khuya. Trước mặt tôi là cầu thang chót dẫn lên sân thượng. Chỉ mươi bước nữa thôi tôi sẽ xa Sài Gòn để sống một nơi xa lạ, xa người thân, xa bạn bè. Trong lúc suy nghĩ vu vơ thì một người lính Mỹ bắt đầu đếm chúng tôi, họ cho mười người bước sang bên kia chân cầu thang. Tôi là người thứ mười một và kế tiếp là anh họ tôi. Tôi hiểu rằng nhóm bên kia sẽ được lên sân thượng trước, tôi liều nói dối họ bằng tiếng Anh bập bẹ của mình “our relatives are on other side, please let us join them.” Thế là họ cho chúng tôi qua cùng dăm ba người khác.

Ðộ hơn ba giờ sáng họ bắt đầu lại đếm người và cho lên sân thượng. Nhưng khốn thay, họ cho mười người bên nhóm này rồi mười người bên nhóm kia lên sân thượng. Tôi và anh tôi bị chặn lại và tất cả lại chờ đợi. Ðến bốn giờ sáng vẫn không thấy nhúc nhích, nỗi lo lắng và mệt mỏi mỗi lúc mỗi tăng, suốt đêm không ai ngủ, chỉ chờ đợi và chờ đợi. Thế rồi những người lính Mỹ ra dấu và nói với chúng tôi trực thăng bây giờ đáp ở dưới sân và yêu cầu chúng tôi đi xuống. Có lẽ mọi người khác cũng như tôi cảm thấy một điều gì bất thường nhưng không thể cưỡng lại yêu cầu của họ.

Tất cả lục đục đi xuống. Vừa ra khỏi tòa nhà, tôi ngoái đầu nhìn lại thấy độ hai chục lính Mỹ đang chĩa súng về phía đám đông. Khi người Việt cuối cùng vừa ra khỏi tòa nhà thì những người lính Mỹ rút dần vào trong theo hình chữ V và cánh cửa sắt hạ xuống. Tôi biết thế là hết và chợt cảm thấy mắt mũi cay xè. Họ đã tung hơi cay và lựu đạn khói để giải tán đám đông. Mọi người chạy dạt khỏi tấm cửa sắt. Tôi vừa chạy vừa bịt mũi miệng để tránh hít hơi cay. Chỉ mươi phút sau khói và hơi cay cũng tan biến đi.

Cuối Tháng Tư, mới năm giờ, trời le lói sáng, ánh đèn điện vẫn chưa tắt. Trên mặt đất và hồ bơi ngổn ngang giấy rác. Cổng đã bị phá, người bên ngoài ùa vào để hôi của, lấy tất cả những gì mà họ có thể lấy, tủ lạnh, TV, nồi niêu xoong chảo, v.v... Bất chợt tôi thấy một người Mỹ chạy vội vã, tay cầm điện thoại vô tuyến cố gắng liên lạc với bên trong tòa đại sứ. Lẽo đẽo theo ông ta là một phụ nữ người Việt, có lẽ là vợ hay bạn gái. Ông ta cũng bị bỏ rơi như tôi. Ông ta thỉnh thoảng quay lại lớn tiếng với người phụ nữ dường như trách móc vì bà mà ông bị bỏ lại. Tôi cũng không hơn gì, anh họ tôi khóc và trách vì tôi mà anh ấy lạc mẹ và vợ con. Tôi chẳng có gì để phân trần với anh ấy. Thôi thì “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, tất cả tại tôi mọi đàng” (2) và tôi lẳng lặng ra cổng sau nơi tôi đã chen vào sáng hôm qua để về nhà.

Trời sáng hơn dẫu chưa 6 giờ, đường sá vắng tanh và yên lặng một cách kỳ lạ, giống như một thành phố bỏ hoang. Tôi đi vội vã trên con đường Phan Ðình Phùng quen thuộc mà tôi vẫn đạp xe đến Hội Việt Mỹ học Anh văn hàng tuần. Tôi chỉ muốn về nhà thật chóng, thỉnh thoảng bắt gặp một vài người đạp xích lô hỏi tôi muốn đi không, nhưng tôi từ chối khéo rằng tôi sắp đến nhà vì tôi không chắc họ thật lòng đưa mình về nhà hay đi đâu và rất có thể bị cướp. Tôi đang lo đến sự an nguy của ông bà nội và bố tôi. Trong đầu tôi hiện lên lời ông nội tôi nhắn nhủ “ông bà đã già, chỉ cần cho cháu đi thoát được, nếu ‘họ’ vào thì ông bà quyết không để cho ‘họ’ làm nhục ông bà.”

Tôi hiểu ông nói gì. Trong tủ thuốc có sẵn hàng chục viên thuốc ngủ và sẽ được dùng khi cần. Ông tôi, từ một thầy giáo tiểu học thời Pháp thuộc đã đến với Việt Minh qua phong trào “Truyền bá chữ quốc ngữ” do cụ Nguyễn Văn Tố khởi xướng. Nhưng ông tôi cũng sớm rời bỏ kháng chiến để dinh tê (re-entré) về vùng của Pháp. Cụ đã nhận thấy cái ác, cực ác của chủ nghĩa cộng sản, sẵn sàng thanh toán, thủ tiêu bất cứ ai khác chính kiến (3). Họ có thể trả thù, đấu tố, trừng phạt những người đã bỏ hàng ngũ kháng chiến như ông nội tôi. Không ai biết được những gì sẽ xảy ra (4).

Ði ngang chợ Vườn Chuối, rồi chợ Bàn Cờ. Hàng quán thưa thớt lạ lùng mà lẽ ra giờ này phải đông đúc tấp nập. Thoáng trong đầu tôi một sự tưởng tượng ghê sợ: mình sẽ là đứa trẻ mồ côi khi về nhà không còn thấy ai sống. Tôi cố gắng đi càng nhanh càng tốt, dù rất mệt hầu như không còn sức. Ðến nhà, nhìn vào không thấy đèn sáng, tôi gõ mạnh liên tục vào tấm cửa kéo rồi nghe tiếng chân bước ra hỏi “ai đấy.” Nỗi lo sợ tan biến đi, tôi vội nói rõ to “cháu đây bà ơi.” Bà tôi vội mở cửa và nói vọng vào trong nhà “cháu nó về, ông à.” Cả nhà vội ra cửa nhìn tôi ngạc nhiên.

Câu nói đầu tiên của tôi là “cháu cần đi ngủ.” Thức trắng cả đêm và không có gì trong bụng suốt ngày hôm qua. Tôi rất mệt và cần ngủ.

Nhưng tôi không ngủ được nhiều. Ðầu óc vẫn bàng hoàng. Lúc tôi thức dậy bà đã nấu cho tôi tô cháo đậu xanh như mỗi lần tôi ốm. Vừa ăn tôi kể lại những gì xảy ra trong đêm qua. Không ai nói gì, một yên lặng bi thương.

Chiếc radio vẫn để mở liên lục để theo dõi tin tức. Rồi tin đúng trưa hôm đó là lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Cuộc chiến Nam Bắc đã chính thức chấm dứt. “Hòa bình” đã đến. Quá trưa tôi đạp xe đến nhà cô P, em kế bố tôi, ở gần cổng xe lửa số 6 đường Trương Minh Giảng mới hay cả nhà đi hết với người em chồng mà sau này mới biết họ đi từ cơ quan DAO (Defense Attaché Office). Và tôi cũng ghé đến gia đình bác T, một người chị khác của mẹ tôi, ở ngã ba Ông Tạ. Cả nhà cũng đi hết. Họ đã xuống Vũng Tàu từ vài ngày trước. Tôi lủi thủi đạp xe về, lòng dạ trống trải kỳ lạ.

Tôi trở lại trường tiếp tục học. Vài thầy cô và bạn bè vắng mặt, trong đó có người bạn gần nhà mà tôi đã đến giã từ trước khi vào tòa đại sứ, nhưng bây giờ chính anh là người đi thoát còn tôi thì kẹt lại. (Sau này tôi biết anh đã cố gắng giúp mẹ tôi tìm tôi bên đảo Guam mà không được. Tôi vẫn tri ân điều đó.)

Mươi ngày sau bố tôi được gọi lên trình diện với chính quyền mới. Ban đầu được sáng đi học “cải tạo,” chiều về. Rồi sau đó được lệnh mang theo lương thực đủ cho bốn năm ngày vì học lâu hơn. Ai cũng ngỡ chỉ một tuần thì “học” xong. Nhưng không, ngày về không có. Ðó là bài học đầu tiên cho tôi và người dân miền Nam về sự dối trá của chính quyền mới. Và rồi đây chính tôi sẽ phải biết nói dối, phải biết cảm ơn Bác và Ðảng đã giải phóng tôi. Tôi sẽ không còn là tôi nữa. Bằng không, tôi sẽ không tồn tại. Làm sao có thể suy tư là tồn tại theo kiểu của René Descartes, “Je pense, donc je suis”?

Mấy ngày sau sinh hoạt hàng ngày có vẻ bình thường lại, chính quyền mới tổ chức ăn mừng chiến thắng. Học sinh, sinh viên được quy tụ lại mít tinh mừng chiến thắng, mừng lễ Lao Ðộng, mừng sinh nhật “bác Hồ.”

Trong lúc đó người đưa thư quen thuộc đến giao gia đình tôi bức điện tín từ Mỹ. Tin ngắn gọn yêu cầu tòa đại sứ cho gia đình tôi vào. Nhưng tất cả đã muộn. Không còn tòa đại sứ Mỹ nữa.

Rồi ít lâu sau ông bà tôi nhận được thư từ miền Bắc gửi vào, đó là thư của bác ruột, anh cả của bố tôi. Sở dĩ bác biết được địa chỉ gia đình tôi là nhờ cụ HT ở Hà Nội vẫn đôi khi thư từ với người con gái cụ ở Sài Gòn trước năm 75 qua trung gian bên Pháp.

Bác tôi đã mất liên lạc với gia đình khi ông bà tôi di cư vào Nam năm 54, tôi không biết hoàn cảnh của bác có giống tôi ngày nay không? Nhưng qua thư tôi biết thêm anh chị họ tôi và những người thân khác bên kia vĩ tuyến 17. Cũng qua thư bác, tôi mới thấy một nghịch cảnh trong gia đình: hai anh em hai chiến tuyến. Bố tôi 'lính của cụ Ngô,' còn bác tôi 'bộ đội cụ Hồ.' Chỉ có một điều may mắn là hai anh em đã không chĩa súng vào nhau mà bắn. Cả hai đã sống sót qua cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn.

Bác tôi cũng ngạc nhiên khi biết tôi không phải như những gì mà báo chí miền Bắc tuyên truyền: thanh niên miền Nam hư đốn, sa đọa, đồi trụy bị Mỹ đầu độc, v.v...

Ngày bác tôi và tôi đi thăm bố tôi trong trại “cải tạo” Long Giao, bác tôi và bố tôi đã không nói được nhiều dẫu có thể muốn nói rất nhiều, đã không ôm nhau, tay bắt mặt mừng sau hơn 20 năm xa cách.

Phải chăng chiến tranh và các chủ nghĩa ngoại lai đã làm cho hai anh em khác chiến tuyến lãnh đạm, thờ ơ với nhau. Nhưng tôi vẫn tin rằng dẫu có thể khác nhau nhiều về chính kiến nhưng cả hai vẫn có tình anh em, máu mủ ruột thịt, cùng bố cùng mẹ.

Ðiều mà tôi quí bác là sự thành thật ban đầu. Bác quan tâm việc học của tôi, lo lắng vấn đề lý lịch của tôi sẽ bị ảnh hưởng việc thi vào đại học. Tôi đoán chừng bác tôi cũng bị xem xét lý lịch khi có bố mẹ và các em di cư vào Nam. (Phải chăng bác tôi đã phải trung thành với chế độ để con cái đỡ cơ cực về lý lịch? Phải chăng đó là cách hy sinh đời bố, củng cố đời con?)

Mà đúng như vậy, tôi đã rớt kỳ thi vào Y Khoa sau khi tốt nghiệp trung học năm 76. Chị họ tôi cũng từng nói qua kinh nghiệm của chị: họ chỉ ưu tiên cho những thành phần “cơ bản” vào đại học. “Thành phần cơ bản là gì?” Tôi hỏi. Chị trả lời: Là thành phần ba đời ăn củ chuối. Tôi chẳng biết củ chuối ra sao và có lẽ tổ tiên ông bà tôi cũng chưa bao giờ phải ăn củ chuối.

Bố tôi đã đi “cải tạo”. Cô tôi đã di tản và tiệm cho thuê sách của cô đã đóng. Hơn mười một ngàn cuốn sách bị tịch thu vì bị xem là “văn hóa phẩm phản động và đồi trụy,” kể cả những sách “Học Làm Người” của Nguyễn Hiến Lê. Nhà chỉ còn tôi và ông bà nội. Cuộc sống vẫn bình thường mặc dù thiếu thốn hơn xưa. Không thể nào dễ dàng mua miếng thịt bó rau như trước. Lương thực, thực phẩm, vải vóc được phân phối theo đầu người. Ði lại cũng khó khăn hơn, phải xin phép mới được. Thẻ căn cước được thay bằng chứng minh nhân dân. Sổ gia đình được được thay bằng sổ hộ khẩu để dựa vào đó chính quyền mới sẽ kiểm soát chặt chẽ từng người, thậm chí cả cái dạ dày mỗi người. Ðúng là “bắt phanh trần phải phanh trần, cho may ô mới được phần may ô.” (5).

Chuyện đói no tôi không quan tâm lắm, gia đình vẫn còn đủ dự trữ để sinh sống dù kém hơn xưa. Ðiều tôi lo là mẹ tôi. Tờ báo mới, Sài Gòn Giải Phóng, đưa tin những người Việt ở Guam “đấu tranh đòi trở về nước.” Tôi lo nếu mẹ tôi về thì bà phải đi “kinh tế mới,” nghĩa là phải về vùng quê cày sâu cuốc bẫm. Rất may mẹ tôi rất sợ Cộng Sản và không về, không bao giờ về dẫu cho đến ngày bà qua đời trên đất Mỹ. Tôi không hình dung được cái sợ Cộng Sản của mẹ tôi như thế nào nhưng tôi chắc bà bị ám ảnh ghê gớm bởi ký ức các cuộc đấu tố khủng khiếp, long trời lở đất trên quê hương của bà.

Sau khi rớt đại học tôi hiểu thêm số phận của mình trong chế độ mới. Việc tiếp tục học trở nên diệu vợi.

Một người bạn hàng xóm rủ tôi đi xin việc ở một công ty chất đốt, thực chất là công ty bán than, than bùn được vo lại thành cục mà người ta gọi là than quả bàng.

Ðơn xin việc chẳng qua là tờ khai sơ yếu lý lịch với yêu cầu phải thành thực. Ngày tôi đi xin việc cũng là ngày tôi không bao giờ quên. Trong phòng thu đơn xin việc của tôi là một người đàn ông trung niên môi thâm, da sạm như sốt rét ngã nước trong chiếc áo xanh lá mạ của bộ đội. Mặt lạnh như tiền, ông ta xem đơn của tôi rồi gạt sang bên và bảo tôi đi về. Không biết vô tình hay cố ý, ông gạt khá mạnh và tờ đơn rơi xuống đất. Tôi cúi xuống nhặt và nhìn thẳng vào mắt ông ta không nói nhưng ngầm cho ông biết tôi có khả năng làm hơn cái công việc xúc than đem bán.

Bài học thứ hai trong đời tôi là sự phân biệt đối xử, con người đã được xem xét qua chủ nghĩa lý lịch chứ không phải năng lực. Ai đó đã nói: Loài người làm nên lịch sử, thì tôi cũng phải thêm vào: Con người cũng là nạn nhân của lịch sử. Không ai có thể chọn một gia đình hay một xã hội để sinh ra, thì cũng đừng dựa vào đó để đánh giá và phán xét.

Tôi không thể ăn không ngồi rỗi mãi. Con đường còn lại dành cho tôi là “thanh niên xung phong” mà vài người bạn cùng trường cũng chịu số phận như tôi. Ngày ra quân tại sân vận động Cộng Hòa với hơn chục ngàn thanh niên, ông Võ Văn Kiệt phát biểu: “Thanh niên xung phong (TNXP) là trường đại học lớn cho các em.” Tôi không biết đó có phải là đại học hay không, nhưng tôi biết nơi đó không có thầy cô và sách vở, không có bảng đen và phấn trắng, mà chỉ có cuốc xẻng, với hai bộ quần áo, đôi dép râu, và chiếc nón tai bèo. Tôi thầm nghĩ chẳng lẽ đời mình phải ăn củ chuối sao?

Ai đó đã làm hai câu thơ tả Thanh Niên Xung Phong “Ðôi dép râu giẫm nát đời son trẻ/ Nón tai bèo che khuất ánh Thái Dương.” Nhưng tôi vẫn lạc quan tin rằng bĩ vận sẽ qua đi. Còn trời, còn đất, còn non nước/ Có lẽ ta đâu mãi thế này (6).

Năm 78, chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ giữa Việt Nam và Khmer đỏ. Nhiều đơn vị TNXP được chuyển đến chiến trường để hỗ trợ cho bộ đội. Ðơn vị tôi cũng rục rịch di chuyển. Trong lao động có nhiều thanh niên xung phong đã chết hay bị thương vì cuốc phải bom mìn còn sót lại sau chiến tranh. Huống hồ nay chúng tôi sắp sửa bị ném vào nơi bom rơi đạn nổ, khó mà tránh khỏi nguy cơ thương tật hay chết một cách lãng nhách.

Tôi không muốn làm “dân đen bị nướng trên ngọn lửa hung tàn” hay “con đỏ bị vùi dưới hầm tai vạ” (7) nên đã tìm cách xuất ngũ. Ông bà tôi đã xin cho tôi về vì lý do già cả neo đơn. Tôi trở về Sài Gòn làm phụ kế toán của hợp tác xã tiêu thụ phường và tự ôn bài để thi lại Y khoa năm sau. Lần này tôi may mắn được vào đại học, có lẽ do sự nới rộng chính sách tuyển sinh. Ðúng ngày nhập học đầu tiên thì anh họ tôi, người bị kẹt lại với tôi trong tòa Ðại Sứ Mỹ, tới nhà rủ đi vượt biên với bác Th., anh rể của mẹ tôi, và hai người con trai của bác. Tôi không có ở nhà để theo họ. Tất cả đều mất tích ngoài biển. Bố tôi sau đó được thả. Ông quyết định vượt biên. Ông và tôi đi một lần thất bại. Lần thứ hai tôi không đi, còn bố tôi đi thì bị bắt, lại vào tù. Phải chăng số tôi có lẽ không chết, không bị tù, chỉ khó nhọc thôi? Bây giờ thì chỉ chờ mẹ tôi bảo lãnh đoàn tụ gia đình. Cuối cùng bố tôi và tôi đặt chân đến Mỹ cuối năm 1984 sau gần mười năm sống với chủ nghĩa xã hội và hiểu thực chất nó là gì.

***

Bốn mươi năm trôi qua như chớp mắt, từ cậu thiếu niên 17 tuổi ngày nào nay sắp sửa 60. Da đã đốm mồi, tóc đã nhuốm bạc và thưa. Vật đổi sao dời, số phận tôi thăng trầm theo vận nước nổi trôi. Nhìn lại quãng đời đi qua, tôi cảm thấy mình còn may mắn hơn nhiều người. Không tật nguyền hay chết vì bom đạn, không bỏ xác ngoài biển khơi, không bị tù đày như nhiều người khác. Tôi cũng may mắn tiếp tục học xong đại học, có nghề có nghiệp, không phải tha phương cầu thực ở xứ người. Tôi cũng may mắn được người bạn đời đảm đang, quán xuyến giúp tôi có cuộc sống tươm tất như ngày hôm nay.

Nhưng điều mà tôi mãn nguyện nhất là thế hệ sau của tôi được sinh ra và lớn lên trong môi trường lành mạnh, trong một xã hội nhân bản và tử tế để có cơ hội làm người tử tế, sống ngay thẳng và thành thực với chính mình. Nó được đối xử công bằng, bình đẳng, và không phải đương đầu với những kẻ quyền thế vô lại, không phải xin xỏ sự ban ơn của chế độ toàn trị.

Nước Mỹ đã trở thành quê hương thứ hai của gia đình tôi. Ðất nước Việt Nam nơi tôi sinh ra và lớn lên vẫn còn đó, nhưng xã hội Việt Nam đã tha hóa rồi, nó đi đâu về đâu thì tôi không thể nào biết được.

Chú thích:

(1) Mượn và đổi lời nhạc “Tiễn Em” của Phạm Duy thành “tiễn anh.”
(2) Lời xưng tội “mea culpa, mea culpa, mea maxima culpa.”
(3) Chuyện ông nội tôi kể lại: Sau khi Việt Minh bắt giết Phạm Quỳnh, họ còn muốn thủ tiêu một trí thức khác và giao cho ông nội tôi đi chặn bắt vị này. Nhưng ông nội tôi đã cố ý bê trễ để vị này đi thoát vì biết đó không những là nhà trí thức có nhân cách muốn khai phóng dân trí mà còn là bạn học đồng môn của bố mình. Ðó không ai khác hơn là cụ Tuần Phủ Hoàng Huân Trung, hội trưởng Hội Khai Trí Tiến Ðức, đồng sáng lập với Phạm Quỳnh. Có lẽ sau vụ đó ông nội tôi quyết định từ bỏ Việt Minh. Kháng chiến giành độc lập là điều tốt, nhưng sát hại các trí thức có tâm huyết là một việc ác nhân bất nghĩa. Hội Khai Trí Tiến Ðức đã bị xóa bỏ sau khi Việt Minh cướp chính quyền.
(4) Khoảng đầu năm 76 có một người trung niên tự nhận là người đồng hương đến thăm ông nội tôi mà ông tôi không biết được gốc gác người này như thế nào. Thực ra người này đến chỉ để hỏi dò ông tôi có tham gia gì cho chính quyền Sài Gòn trước đây hay không. Ông nội tôi từ khi rời bỏ kháng chiến đã không màng đến chính trị nữa và trở lại nghề dạy học rồi làm công chức cho Nha Học Chính đến ngày về hưu năm 1967.
(5) Lời thơ Kim Vân Kiều của Nguyễn Du “Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao” đã được ai đó sửa lại.
(6) Mượn lời thơ “Than Nghèo” của Nguyễn Công Trứ.
(7) Mượn lời từ “Bình Ngô Ðại Cáo” của Nguyễn Trãi.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticles30thang4.aspx?articleid=206248&zoneid=492#.VTpq77HwqHe
Về Đầu Trang Go down
bhtran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Sun Apr 26, 2015 9:08 am


Tự Do Ôi Tự Do




Hạt Sương Khuya (Danlambao) - Có những nỗi buồn không chờ cũng đến… có những niềm đau không gọi cũng về. Nỗi buồn ấy đã làm bưng mủ trái tim, làm trơ hốc mắt khi nhìn vào tận sâu đáy huyệt mộ quá khứ, nghe nỗi đau chạy dài nơi miền ký ức làm tim thổn thức. Văng vẳng đâu đây tiếng người gọi nhau trong cơn biến loạn, lửa, máu, nước mắt, tiếng gào thét, tiếng chân người bồng bế nhau chạy, thây người ngã xuống… một mảnh bom cắt đứt con đường hy vọng, Mẹ gục ngã, Cha hy sinh ngoài chiến trận, con mồ côi. Có giọt nước mắt nào lăn khẽ trên vết hằn năm tháng của một phận đời. Bức tranh tháng Tư lại về…

30 tháng 4… ngày con sông Bến Hải không còn ngăn cách, ngày có triệu người vui, triệu người buồn. Một sự 'thống nhất' bằng máu của hơn ba triệu nhân mạng, của cả hai miền cho một cuộc chiến xâm lược được khởi đi từ Cộng sản Bắc Việt. Ngày dân Miền Nam khắc sâu bằng máu trong tim với hai chữ QUỐC HẬN, khởi đầu cho những oan khiên qua nhiều chính sách tàn bạo, tạo thêm một hố sâu chia rẽ, hận thù trong lòng dân tộc, mặc dù đã bốn mươi năm trôi qua, cái hệ lụy ấy đã không thể nào hàn gắn lại những vết thương chiến tranh, quá khứ. Bốn mươi năm trôi qua, dù người dân Miền Nam có muốn đặt Tổ Quốc trên mọi nỗi đau mất mát, tạm gác lại trong lòng hai chữ Quốc Hận, thì cả dân tộc Việt Nam này cũng không thể nào chấp nhận cúi đầu làm nô lệ cho bọn mãi quốc cầu vinh, đem gấm vóc sơn hà dâng bán cho Tàu cộng.

Chân Dung Tị Nạn.



Chân Dung Tỵ Nạn ( 3mx1m) Tranh sơn dầu

Trước mặt tôi là bức 'Chân Dung Tỵ Nạn' của họa sĩ Trần Thúc Lân. Một bức tranh nói lên cuộc hành trình đi tìm Tự Do của người Việt, một cuộc bỏ phiếu bằng chân lớn nhất trong lịch sử, đã làm rung động trái tim nhân loại trước viễn cảnh của những thân phận tỵ nạn thà chết trên biển đông chứ không chấp nhận sống chung với chế độ cộng sản.



Người thợ vẽ Chiến sĩ tự do.

Tôi có chút duyên hạnh ngộ cùng bác Trần Thúc Lân. Một người rất nổi tiếng với những bức chân dung về Tù Nhân Chính Trị mà chúng ta thường gặp trên các Video Clip hay trong những bài viết... từ Điếu Cầy, Tạ Phong Tần, Vi Đức Hồi, đến Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Bùi Thị Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiên, hay người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu, Trương Văn Sương v...v...

Mỗi một chân dung là một nỗi đau trên nét vẽ của người họa sĩ.



Vượt Biển (38cmx55cm)

Khi nói đến Thuyền nhân Việt Nam… là nói đến nỗi kinh hoàng của một giai đoạn lịch sử khốc liệt; nói đến những gương mặt lo lắng trong đêm tối, hồi hộp sợ hãi không biết cuộc ra đi lần này sẽ đưa đến nhà tù hay lối thoát; hay nói đến những con thuyền mong manh nặng trĩu với những phận người không còn gì để mất.



Lênh Đênh (60x60)

Rồi những ngày lênh đênh trên biển cả. Những thân người rũ rượi nằm trong khoan tàu bé nhỏ, chật hẹp đói khát, cùng với cái nóng thiêu đốt khiến môi khô khốc, trí giác tê liệt. Có những người đã không chịu nổi và nhảy xuống biển vì điên loạn. Ôi... những con thuyền mong manh trôi dạt không bến bờ, kẻ khóc, người kêu gào xen lẫn trong tiếng cầu kinh. Lạy Chúa, lạy Mẹ xin cứu chúng con. Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn… những âm thanh ấy đang chìm dần trong bóng đêm vô vọng.



Cứu Vớt (1mx50cm)

Thượng đế đã xót thương. Ôi những con tàu định mệnh, những trái tim vĩ đại của nhân loại còn biết đau nỗi đau đồng loại. Thoát rồi một địa ngục trần gian… cánh cửa thiên đàng đang rộng mở, có đôi tay nào đang cứu rỗi những linh hồn trong cơn hấp hối… Tự Do ôi Tự Do… tôi đổi bằng nước mắt, anh đổi bằng máu xương, em đổi bằng thân xác, vì hai chữ Tự Do, ta mang đời lưu vong. (Nam Lộc)


Trại Tỵ Nạn (73cmx50cm)

Mã Lai, Thái Lan, Indonesia, Singapor, Philippin, HongKong. Những vùng đất cưu mang những bước chân tỵ nạn. Dù đã đến được bến bờ bình an, nhưng tâm trạng của thuyền nhân vẫn còn hoang mang, lo lắng trong chuỗi ngày dài chờ đợi. Kẻ vô vọng chờ đợi tin tức người thân, người chờ đợi thủ tục định cư. Ánh mắt trẻ thơ in hằn nỗi đau quá khứ, chất chứa một khát vọng tương lai, dù không tuyệt vọng nhưng tương lai vẫn còn là một vũng tối… nơi cuối đường ấy có hay không một tia sáng hy vọng?



Định Cư (60x60)

Và rồi cái khát vọng Tự Do… như hình bóng của những cánh chim Hải Âu đã trở thành hình bóng chiếc phi cơ đưa người tỵ nạn đến bến bờ Tự Do. Hạnh phúc vỡ òa khi nhìn thấy màu Cờ Vàng phất phới trên đôi tay của những đồng bào ruột thịt, những cái ôm siết chặt, nghẹn ngào trong tiếng nấc của yêu thương. Nỗi nhớ chia lìa nay đã được lấp đầy trong ngày đoàn tụ. Niềm vui và hạnh phúc rạng ngời trên khuôn mặt trẻ thơ, trước một tấm vở mở ra ngàn cơ hội ăn học để thành người. Xin cảm ơn đất nước đã cưu mang những người dân Việt khốn cùng, mở ra cánh cửa tương lai cho thế hệ mai sau. Hình ảnh người Cha chỉ vẽ nửa người như đã để lại nửa đời cho quê hương, cho những người còn ở lại. Nửa còn lại dành cho các con với niềm tin yêu, che chở. Giấc mơ cố hương là niềm hy vọng mà đôi tay người Cha đã đặt trách nhiệm tương lai của đất nước trên đôi vai người con gái nhỏ bé. Trong manh áo ấm giá lạnh quê người, đôi chân trần chạm đất như không tách xa cội nguồn. Nhìn cậu bé ôm lá Cờ vàng trong lòng, tôi nghe hồn nước trào dâng trong từng huyết quản.

Những bức tranh khác biệt về khuôn khổ và rời rạc đã nói lên năm chặng đường cuộc Hành Trình Tự Do của người Việt: 1/Vượt Biển 2/Lênh Đênh 3/Cứu Vớt 4/Trại Tỵ Nạn 5/Định Cư. Ý nghĩa của sự rời rạc nhắc lại những mảnh đời, những gia đình tan nát trong cuộc hành trình đi tìm tự do này. Và bộ tranh khi được ráp lại như biểu tượng cho sự hàn gắn, đoàn tụ của những số phận lưu vong trên khắp năm châu được nối liền bởi một lý tưởng chung, đó là Tự Do mà cánh Hải Âu là tượng hình.

Số phận của bộ tranh Chân Dung Tỵ Nạn này có lẽ cũng 'lận đận' như những bước chân Tự Do. Tôi được Bác cho biết, khởi đầu là do anh Lê Minh bên Úc đặt tranh. Bác Lân là họa sĩ ngụ tại Paris. Nay bộ tranh đã hoàn tất, và tôi rất hân hạnh sẽ là người đại diện Bác đem bộ tranh sang Washington DC để tham dự chương trình Vinh Danh và Tri Ân ở Kennedy Center. Điểm cuối cùng dừng chân của bộ tranh Chân Dung Tỵ Nạn sẽ là Việt Museum tại San Jose, nơi lưu lại những mảnh đời khốn cùng trên hành trình đi tìm tự do. Mời quý vị vào Link dưới đây để biết thêm về Bảo Tàng Người Việt (Viet Museum). (*)

Là một nhân chứng trong cuộc chiến hai mươi năm. Bác Lân hiểu khá rõ về nỗi đau chung của dân tộc, cũng như nỗi đau riêng của những người như Bác đã trải qua hai cuộc di cư, hai lần bỏ xứ ra đi không một lần trở lại. Còn ai hiểu Bác hơn cô con gái của Bác. Chị Lan, người bạn mà tôi đã tình cờ làm quen trong một lần biểu tình ở Paris, kể từ đó đã trở thành thân thiết. Khi người Cha trăn trở trên một bức tranh, người con gái chăm chút đặt bút xuống viết lời cho một bài hát, hai cách thể hiện khác nhau nhưng cùng chung một mục đích, một lý tưởng. Và như thế bài 'Tự Do Ôi Tự Do' đã ra đời như một điệu ru cho những người đã yên nghỉ trong lòng biển cả, và cũng là tiếng gọi đánh thức lương tâm nhân loại. Xin đừng quên những thân xác đã nằm xuống vì hai chữ Tự Do.

Tôi được Lan cho biết anh Phùng Mai từ Quỹ Tù Nhân Lương Tâm bên Úc đã yêu cầu làm một bài thơ tiếng Anh cho một bài hát, và theo những đề nghị sau đó đã làm thêm lời Việt, và sau cùng là lời Pháp cho cùng một điệu nhạc. Tôi rất hân hạnh khi nhận lãnh trình bày tác phẩm này. Là một người luôn đặt mình trong trách nhiệm khi trình bày một ca khúc đấu tranh, tôi không cho phép mình làm việc theo cách 'làm cho có'. Mặc dù đã thâu bài hát này ngay sau khi nhận lời, tôi vẫn không vừa lòng với chính tôi. Dù thời gian và phương tiện eo hẹp, tôi đã cố hết sức mình để có thể hoàn tất cho kịp phổ biến vào dịp tháng Tư này như đã hứa với Bác và Lan. Cảm nhận được sự miệt mài của Bác qua nét cọ, sự chăm chút của Lan qua lời thơ… và tôi đã thả hồn mình theo tiếng hát… !

Tôi từng kính trọng tinh thần phụng sự cho chính nghĩa Quốc gia của Bác Lân qua những bức chân dung của các Tù nhân lương tâm mà Bác đã vẽ bằng nỗi đau của chính mình dành cho những ai đang sống cảnh tù đày trên quê Mẹ. Mỗi một nét vẽ là một lời nguyện cầu cho những thân phận nhỏ bé, đang chịu hàm oan bởi một lũ bạo quyền. Nhiều người đã ra đi trong niềm uất hận, như tù nhân bất khuất Trương Văn Sương, hay tù nhân chính trị Nguyễn Văn Trại, thầy giáo Đinh Đăng Định, v...v... người dù đã đi vào cõi thiên thu, nhưng những bức chân dung Bác vẽ sẽ trở thành những di chúc cho đời sau, nói lên gương hy sinh của những Chiến Sĩ Tự Do này, trước tội ác của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.

Cảm ơn Bác Lân. Nhìn bộ tranh Chân Dung Tị Nạn, tôi thấy chất chứa trong đó có một phần đời tôi đã đi qua, nhớ lại những tháng ngày xưa ấy, nét kinh hoàng như vẫn còn ẩn hiện đâu đây. Xa xa…tiếng vọng về của lời kinh nguyện quyện cùng tiếng sóng biển. Có tiếng oan hồn đang bật khóc giữa canh khuya…

Tháng Tư ra biển, buồn tưởng nhớ
Nhặt lại niềm đau, một thuở xưa
Hồn ai lãng đãng nơi đầu sóng
Có phải người từ, cõi hư vô.

Tháng Tư ra biển, sóng bạc đầu
Tiếng người gào thét, dưới mộ sâu
Đôi tay chới với, theo bọt sóng
Níu lấy phận người, bám vào đâu.

Tháng Tư ngồi khóc, nhớ biển xưa
Chốn ấy bạn tôi, đã bao mùa
Không người sưởi ấm hồn cô quạnh
Chỉ sóng ru buồn, kiếp bơ vơ.

Tháng Tư khăn trắng chít ngang đầu
Hướng về biển cả, nỗi lòng đau
Chắp tay gửi gió, lời kinh khấn
Chốn ấy bình an, cõi vĩnh hằng.

Sau bốn mươi năm, những bước chân tỵ nạn bơ vơ thuở nào nay đã trải qua thời kỳ khó khăn về ngôn ngữ, văn hóa và đã hội nhập cùng đời sống mới. Có những người đã nằm xuống chưa một lần trở lại quê xưa. Những đứa trẻ nay đã thành tài và đã yên bề gia thất. Thế hệ sau cũng đã trưởng thành và có những thành tích nổi bật trong đời sống xã hội nơi xứ người. Những thành quả này là do tấm lòng bao dung của đất nước đã dang tay đón nhận những cánh chim Hải âu lạc loài, lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn vì khát vọng tự do, dân chủ.

Xin cảm ơn đất nước đã cưu mang những người dân Việt trong suốt 40 năm qua.

Cứ mỗi độ tháng Tư về lòng tôi lại quặn thắt. Nỗi ám ảnh về những ngày cuối cùng của cuộc chiến như những vết dao cứa trên da thịt. Hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu trong những giờ phút cuối cùng, dù sức tàn, lực kiệt… các Anh vẫn cố bám lấy mảnh đất quê hương trong nỗi đau tận cùng… tuyệt vọng. Nước mắt lại rơi khi nghĩ đến những người đã nằm xuống vì bảo vệ tự do cho Miền Nam. Xin thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến các anh hùng Vị Quốc Vong Thân.

Paris 40 năm Quốc Hận.

Hạt Sương Khuya
danlambaovn.blogspot.com
____________________________________________

(Bài viết dựa theo tâm tình của họa sĩ Trần Thúc Lân)
Về Đầu Trang Go down
bhtran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Mon Apr 27, 2015 7:12 pm



Điệp Khúc Tháng Tư

Tác giả: Mimosa Phương Vinh

Tác giả định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. đầu thập niên 90, cư dân Berryhill, Tennessee, làm việc trong Artist room của một công ty Mỹ. Giải thưởng VVNM 2013, cô đã nhận giải Vinh Danh Tác Giả với hai bài viết tiêu biểu: "Thiên Thần Đen" và "Cũng Một Đời Người", kể về những di dân tị nạn tại Mỹ làm việc tới mức quên mình để gửi tiền tiếp viện cho người thân còn ở quê nhà. Bài viết mới của tác giả là chuyện về vùng đất sau cùng của miền Nam thất thủ cuối Tháng Tư 1975.

* * *

Vậy là bốn mươi năm trôi qua. Bao nhiêu nước chảy qua cầu. Bao nhiêu người đã nằm xuống. Bao nhiêu đứa trẻ được sinh ra. Cuộc sống vẫn tiếp diễn với bốn mùa xuân hạ thu đông. Hạnh phúc hay bất hạnh của những cuộc đời cũng chẳng ai biết đến ngoài chính người trong cuộc mới cảm nhận tường tận được sự mất mát hay những ân huệ mà đời sống đã trao tặng cho họ. Và bốn mươi năm trôi qua vẫn có nhiều người, rất nhiều người vẫn còn đứng phân vân giữa ngã ba đường. Không biết đi về đâu!

Bốn mươi năm trước, vào những ngày cuối cùng của tháng Tư tôi là một người đàn bà rất trẻ đang sống ở một nơi tận cùng đất nước. Thành phố nhỏ buồn có những cánh đồng bao la, hoang vắng sau mùa gặt. Thành phố có khu chợ búa khá sầm uất và một con sông chảy ngang qua.Tôi thỉnh thoảng đi đò để vào chợ, hồi đó có ông lái đò già bị bệnh chân voi, hai chân to lớn dị kỳ sống bằng nghề đưa đón khách qua sông. Lâu lắm rồi chắc ông ta đã chết.

Tôi đã có nhiều buổi chiều cuối tháng Tư bồng con đi qua nhà người quen để hỏi thăm tin tức gia đình. Khi đi ngang nhà Vĩnh Biệt của thành phố mùi hôi thối của những xác chết chưa kịp chôn bốc lên nồng nặc. Sự biến động không ngừng của thời thế làm người ta quên đi những người lính nằm trong nhà xác. Họ là những người lính cuối cùng ngã xuống cho cuộc chiến tranh dai dẳng trên đất nước khổ đau này.

Bốn mươi năm sau có còn ai nhớ đến họ và biết rằng họ đã chiến đấu cho ai! Chiến đấu cho ai? Câu hỏi đó biết đâu đã từng là nỗi ray rức, ám ảnh của những người đã chết và bị bỏ quên trong ngôi nhà Vĩnh Biệt kia.

Chiếu đấu cho ai! Câu hỏi đã được trả lời ngay sau tháng Tư Bảy Lăm khi những người lính của miền Nam Việt Nam ngỡ ngàng buông súng. Tai họa lớn đã đến với dân tộc và quê hương ngay sau đó.

Tôi đã có những giây phút sống thoi thóp giữa biên giới sinh tử của con người. Trong căn hầm đơn sơ nhỏ hẹp nghe tiếng đạn bay veo véo trên đầu, trong tiếng loa kêu gọi của hai bên thù địch giữa đêm đen đầy đe dọa và bất trắc vì lưỡi hái tử thần có thể cướp tính mạng con người bất cứ lúc nào. Bốn mươi năm qua, cứ mỗi lần tháng Tư trở về điệp khúc cũ lại mồn một réo rắc bên tai tôi như một nỗi ám ánh kinh hoàng không thể nào gột bỏ được. Tôi hiểu dù muốn dù không cũng phải chấp nhận nó như một phần đời sống mình, như chứng tích cho một giai đoạn đau thương nhất của quê hương. Tôi gọi nó là Điệp Khúc Tháng Tư.

Từ những ngày tháng Ba, binh sĩ bắt đầu kéo về thật đông trong thị xã. Họ đến từ những thành phố phía trên mang theo vợ con, nồi niêu, xoong chảo và cả gà vịt nữa. Họ tập trung trong ngôi trường trung học sau tiểu khu, vui vẻ cười đùa và lũ trẻ chạy chơi trước sân trường một cách vô tự. Sắp có đánh nhau lớn và mọi người đang chờ đợi. Đài phát thanh và đài truyền hình loan tin về những thành phố miền Trung và Cao Nguyên đã lọt vào tay cộng sản.

Tôi ở trong một tâm trạng lo âu, sợ hãi khi nghe tin thành phố Dalat đã mất. Hàng ngày tôi bồng con đi hỏi thăm tin tức của gia đình nhưng không nhận được một nguồn tin nào chính xác cả. Tôi lo lắng cũng đúng thôi vì cha là công chức trong một nha sở trực thuộc bộ Quốc Phòng và các anh em đều ở trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những điều khủng khiếp đã xảy ra ở Huế hồi tết Mậu Thân làm tôi rùng mình khi nghĩ đến gia đình.

Chồng tôi cho biết về tình hình rất nghiêm trọng. Lệnh cấm trại đã được ban hành, anh chỉ về thăm nhà trong những bữa ăn trưa và chiều rồi vội vã vào doanh trại. Chồng tôi làm ở phía sau nhà bếp một căn hầm trú ẩn nhỏ bằng bao cát và dặn tôi nếu nghe tiếng súng thì phải bồng con chạy vào đó trốn. Anh nói:
- Anh không thể lo cho em được gì đâu vì lệnh cấm trại một trăm phần trăm trong Tiểu Khu. Em phải tự lo lấy và hành động theo sự khôn ngoan của mình nếu có gì xảy ra ngoài này.

Một buổi chiều bỗng nhiên súng nổ ầm ầm, tiếng đạn pháo kích bay reo réo trên khu gia binh, tôi hoảng hốt chạy ra sân nghe ngóng. Đứa con gái khóc thét lên trong tay, chợt có tiếng la to:
- Chết thật, chị vào nhà ngay đi, chúng nó pháo kích mà chị ra ngoài sân làm gì kia chứ?

Đó là ông Đại úy Trung, người hàng xóm của tôi, ông ta ghé thăm nhà một chốc rồi lại phải vào tiểu khu. Một lát sau chồng tôi về mặt mày nặng trình trịch vừa bước vào nhà đã la lối om sòm:
- Tụi nó pháo kích rầm rầm mà em bồng con chạy ra sân làm chi, có chuyện gì cứ chui vào hầm trốn. Anh không thể lo được cho em trong lúc này, nếu em khờ khạo như vậy làm sao anh yên trí được.
- Tại em sợ quá, nên quên mất cái hầm ở phía sau bếp.

Anh thở dài:
- Anh nghĩ tối nay sẽ có chuyện lớn. Mấy tỉnh phía trên đã mất hết rồi nhưng Đại tá Chỉ huy Trưởng đã ra lệnh tử thủ ở đây.
- Tối nay anh cũng vào tiểu khu à?
- Dĩ nhiên rồi, anh ghé nhà một chút thôi. Nghe ông Trung nói em bồng con chạy ra sân nhìn tụi nó pháo kích làm anh giận run. Không phải chuyện đùa đâu, đây là chuyện chết người em hiểu không?

Tôi vùng vằng:
 Hiểu rồi! Ông Trung nhiều chuyện, có vậy mà cũng học đi, học lại!

Chồng tôi nghiêm mặt:
- Không phải là nhiều chuyện, đó là vấn đề sanh tử em phải cảm ơn ông ta mới đúng. Em nghe rõ chưa?
- Nghe rõ, nghe rồi khổ lắm nói mãi!

Anh dặn dò thêm nhiều lần nữa, ăn uống qua loa rồi vội vã trở vào Tiểu Khu.

Trời vừa sập tối thì tiếng loa phóng thanh từ tiểu khu bắt đầu cho phát lời tuyên bố của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Tiểu Khu kiêm Tỉnh Trưởng An Xuyên ra lệnh cho tất cả sĩ quan và binh sĩ phải ở trong tình trạng sẳn sàng chiến đấu và tử thủ. Giọng ông Đại Tá sang sảng và hùng hồn như truyền được cái hào khí vào tâm hồn người nghe. Càng vào đêm, giọng nói của ông càng dõng dạc, rõ ràng dù rằng đó chỉ là một lệnh truyền được thâu băng và phát thanh lại nhiều lần.

Đạn pháo kích không biết từ nơi đâu, từ phe bên nào bỗng nổi lên chát chúa trong đêm. Âm thanh trái pháo bay ầm ầm trên mái nhà, xi măng, ngói vữa đổ xuống ào ào. Đứa con gái nhỏ đang ngủ bỗng giật mình khóc ré lên, tôi bồng con chặt vào lòng trong nỗi kinh hoàng tột độ. Bên nhà chị Hải lũ nhỏ cũng bắt đầu khóc la om sòm. Tôi chạy sân sau gọi chị:
- Chị Hải ơi, em sợ quá! Có gì vậy?

Chị Hải thì thầm:
- Việt cộng pháo kích đó, cô đem cháu vào hầm trốn đi! Ông xã có nhà không?
- Trong Tiểu Khu, còn anh Hải có tin gì không?
- Chưa, ổng đi vô quận cả tuần nay rồi chẳng biết ra sao, Đại Tá ra lệnh tử thủ từ hồì chiều giờ, cô nghe chứ?
- Dạ có, hồi chiều ông xã em ghé nhà nói tình hình căng lắm chị ạ.

Chị Hải thở dài:
- Tôi lo cho ông Hải nhà tôi quá cô ơi!

Tôi an ủi chị và chính mình:
- Sống chết có số chị ạ.

Hai chị em đang nói chuyện thì bỗng trong tiếng pháo nổ đạn rơi loa phóng thanh từ đâu đó vang lên giọng nói của Mặt Trận Giải phóng Miền Nam(!). Họ lập đi lập lại nhiều lần:
- Yêu cầu phía Việt Nam Cộng Hoà cử người vào mật khu để thương thảo với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Chị Hải la lên:
- Chết rồi, họ đã tràn ra thành phố!

Tôi chui vào hầm, đạn nổ vang rền khắp nơi. Chưa bao giờ tôi thấy cô đơn và sợ hãi như đêm nay, vừa khóc rấm rức vừa bắt đầu cầu nguyện các đấng thiêng liêng giúp cho qua cơn hoạn nạn này. Khi tiếng súng đạn nguôi dần thì tiếng loa phóng thanh của hai bên lại bắt đầu vang lên lồng lộng trong đêm. Một bên truyền lệnh tử thủ một bên kêu gọi thương thảo.

Rồi pháo kích lại nổi lên rầm rầm, con của tôi và đám con chị Hải lại khóc như gi vỡ tổ. Ôm con ngồi trong hầm nghẹt thở quá phải chui ra ngoài, được một lúc súng đạn lại ì ầm nổi lên càng lúc càng dữ dội khiến tôi phải vào lại trong hầm. Mạng sống con người mong manh như chỉ mành treo chuông. Đến gần sáng tôi mới thiếp đi một chút vì quá mỏi mệt, mặc cho súng đạn thét gào, mặc cho tiếng loa hai phe kêu gọi không ngừng.

Sáng ra chồng tôi về nhà một lát rồi phải đi ngay, anh cho hay phải theo Trung Tá Chỉ Huy Phó và phái đoàn vào mật khu để thương thảo với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.Tôi đứng ngồi không yên vì tình huống vô cùng nguy hiểm này.

Rồi Đại Tướng Dương Văn Minh đã kêu gọi đầu hàng. Thành phố cuối cùng không thể tử thủ được nữa. Binh Sĩ buông súng. Giặc tràn vào Tiểu Khu treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Đài phát thanh Sàigòn mời Trịnh Công Sơn lên hát Nối Vòng Tay Lớn.

Qua khung cửa sổ, tôi thấy Đại Úy Dũng và những nguời lính của ông ta ôm chầm lấy nhau trước sân, họ vừa khóc vừa chửi thề:
- Tại sao hàng, có đánh thua đâu mà hàng. Chúng tôi tức lắm Đại Úy à!

Nước mắt không phải là biểu hiệu của sự ủy mị chỉ dành riêng cho đàn bà. Nước mắt của những người có nghĩa khí đã rơi xuống cho đất nước. Họ khóc vì thấy mình bất lực không bảo vệ được chính nghĩa mà từ bao lâu nay mình từng theo đuổi, ôm ấp.

Tôi hoảng hốt nhìn ra con đường xuyên qua khu gia binh thì thấy cộng quân đã tràn ra như kiến. Không biết từ đâu ra mà đông như thế. Họ mặc quần áo bằng vải dầu mầu rêu hay màu nâu. Đầu đội mũ tai bèo, trang bị lựu đạn và súng ống khắp người. Đa số còn rất là trẻ với màu da xám xịt và gương mặt hầm hầm sát khí. Lũ con nít trong khu gia binh la lên inh ỏi:
- Việt cộng! Việt cộng!

Binh lính Việt Nam Cộng Hòa đóng trong trường trung học gần đó cũng chạy ra ngơ ngác nhìn. Mọi người không hiểu gì cả, cuộc diện thay đổi một cách lạ lùng và mau chóng quá vì đêm hôm qua Đại Tá Chỉ Huy Trưởng còn ra lệnh tử thủ một cách cương quyết dù các tỉnh phía trên đã mất. Còn phái đoàn theo Trung Tá vào mật khu số phận ra sao. Còn Đại Tá đâu rồi.

Tôi bỗng thấy ông chồng xuất hiện trên con đường về khu gia binh. Tôi mừng rỡ chạy ra đón nhưng vội khựng lại vì thấy gương mặt anh rất khác lạ, màu da tái nhợt như một xác chết, áo quần xốc xếch, lon lá trên cổ áo đã biến mất. Chị Hải chạy a tới hỏi dồn dập:
- Sao rồi?

Nhưng chị cũng khựng lại khi nhìn sự thay đổi lạ lùng trên khuôn mặt anh ta. Chồng tôi bước vào nhà im lặng ngồi xuống ghế, ánh mắt nhìn vào một thế giới nào đó, đầu rủ xuống già nua, mệt mỏi. Tôi chưa bao giờ trông thấy chồng trong tình trạng suy sụp kinh khủng này, tôi sợ sệt không dám nói gì cả. Chồng tôi rút trong người ra một khẩu súng đen nhỏ xíu như một món đồ chơi của trẻ con. Tôi hoảng hốt la lên:
- Anh làm gì vậy?

Anh nhìn tôi bằng cái nhìn đau đớn, xót xa mà chưa bao giờ tôi nhìn thấy trên gương mặt của một người đàn ông. Rồi bất ngờ chồng tôi khóc nấc lên, tiếng khóc khô khốc, khó khăn nghe rờn rợn lạ lùng làm sao, tuy nhiên như thế vẫn dễ chịu hơn là sự im lặng nặng nề từ nãy đến giờ. Anh nói lập bập:
- Mất hết rồi, không còn gì nữa cả. Tức lắm! Tức lắm!

Rồi chồng tôi lại gục xuống. Tôi thở dài:
- Anh kể cho em nghe câu chuyện đã xảy ra như thế nào đi. Trung Tá ra sao, còn Đại Tá đâu rồi khi họ tràn vào Tiểu khu.
- Đại Tá Chỉ Huy Trưởng bỏ đi rồi. Trung Tá Chỉ Huy Phó đã bị giặc bắt sống. Ông trao lại cho anh khẩu súng này.

Câu chuyện khá dài dòng, bi đát và qua lời kể của chồng, tôi thấy lòng cay đắng khi hiểu rằng những người chân chính, ngay thẳng luôn luôn bị thiệt thòi. Tôi càng thấm thía về ý nghĩa của câu: “Nước loạn mới biết tôi trung”. Mà thôi, khi một biến cố xảy ra mỗi người sẽ có mỗi phản ứng khác nhau, xấu hay tốt đôi khi cũng khó mà phê bình. Qua nhiều năm sống trong nỗi đau thương cùng tận tôi bắt đầu học được nhiều điều mà trước kia tôi chưa hề biết. Tôi cố gắng giữ cho mình một chút bằng lòng chứ không phải tự hào: tôi cũng chịu đau khổ, đọa đầy như những đồng bào miền Nam của tôi. Tôi chia sẻ với họ nỗi đau thương bởi tôi đã từng là một người vợ lính với nhiều hệ luỵ khi nước mất, nhà tan.

Buổi tối anh em lính chiến tụ họp trước cửa nhà. Họ vừa đàn hát vừa nói chuyện tương lai, chuyện trở về nhà. Họ hát bài Một Mai Giã Từ Vũ Khí của Nhật Ngân, bài Nối Vòng Tay Lớn của Trịnh Công Sơn rất nhiều lần, vì ban ngày Đài Phát Thanh Saigon đã mời người nhạc sĩ họTrịnh lên hát bài này. Những người lính trò chuyện suốt đêm và trong nhà vợ chồng tôi cũng không thể ngủ được vì cuộc diện thay đổi quá nhanh chóng trong thành phố. Với đầu óc giản dị của một người đàn bà tôi nghĩ hai vợ chồng sẽ trở về Đalat tìm một miếng đất nào đó trồng trọt, chăn nuôi và bắt đầu cho một cuộc sống khác như ước mơ của những người lính đang bàn soạn ngoài kia. Chồng tôi thì có vẻ lo lắng không nguôi với những ngày trước mặt.

Tôi rời thành phố trong chuyến xe đò sớm, khi đi qua nhà Vĩnh Biệt mùi hôi thối của những xác chết chưa kịp chôn vẫn bốc lên nồng nặc. Người ta quên đi những người lính nằm trong nhà xác. Ôi! những người lính cuối cùng của cuộc chiến.

Tôi ngậm ngùi muốn khóc khi giã từ thành phố bé nhỏ, xa xôi mà mình đã trú ngụ trong cuộc đời làm vợ một người lính. Căn nhà trong khu gia binh mà tôi có nhiều ngày tháng phải sống một mình vì chồng đi công tác liên miên. Khi đi qua cây cầu lớn với giòng nước chảy cuồn cuộn dưới kia tôi tự hỏi có bao giờ mình sẽ trở lại đây không. Cái thành phố hiu hắt cho tôi bắt đầu cuộc đời làm vợ, làm mẹ trong bầu không khí sôi sục, căng thẳng vì chiến tranh và chết chóc diễn ra từng ngày, từng giờ. Người vợ lính nào cũng sẵn sàng để trở thành một người góa phụ. Bây giờ cuộc chiến đã tàn mà sao lòng mình nặng trĩu âu lo. Trái tim tan tác, xót xa không sao kể xiết.

Về đến Saigòn, nhìn thành phố tan tác, hoang mang vì kẻ ở người đi. Biến cố to tác đổ ập xuống đất nước làm cho mọi người ngơ ngác như đang sống trong cơn mộng dữ giữ ban ngày. Chồng tôi đi trình diện vì nghe họ nói chỉ học tập cải tạo một tháng thôi, đâu ai ngờ mình bị họ lừa dối. Tôi đem con trở về gia đình trên Dalat sống một cuộc đời với muôn ngàn khổ ải đau thương của vợ người tù cải tạo. Nỗi khốn khổ của những kẻ ở lại có viết hàng ngàn trang giấy cũng không diễn tả được hết đâu. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.

Những năm tháng sống trong địa ngục trần gian lòng tôi vẫn nhớ về An Xuyên những ngày cuối tháng Tư. Tôi hay nghĩ về vị Trung Tá Chỉ Huy Phó của tiểu khu, vị chỉ huy cao nhất còn ở lại với thuộc cấp trong giờ phút hấp hối của An Xuyên và bị bắt sống. Lòng kính phục của tôi đối với ông đã khiến tôi nhiều lần viết về ông, hội kiến cùng ông trong những mẫu chuyện hư cấu cùng nhiều tâm sự xót xa, bẽ bàng của những người bị ở lại trong cuộc dâu bể của quê hương thuở nọ. Không biết bây giờ ông ở nơi đâu.

Tôi cũng không thể quên chuyện Thiếu Tá Phan Thành Hứa, Tiểu Đoàn Trưởng tiểu đoàn 446, người anh hùng cô đơn thuở nọ. Ông vẫn chiến đấu can trường cho đến khi bị bắt và bị họ xử bắn tại Cà Mau cùng với một số Sĩ Quan và Viên Chức Việt Nam Cộng Hòa một cách công khai. Trước khi chết ông vẫn hô to đả đảo cộng sản nhiều lần. Đó là cuộc chiến đấu lâu nhất trong lịch sử chiếu đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. An Xuyên là thành phố sau cùng đã mất về tay cộng sản sau khi Đại Tướng Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng.

Người ta nói có những câu chuyện xưa quá rồi, nhắc lại có ích lợi gì đâu ngoài việc khơi thêm những thù hận, oán hờn. Theo tôi có những câu chuyện không bao giờ xưa cũ đó là câu chuyện thuộc về lịch sử. Lịch sử như một dòng sông chảy mãi không ngừng.

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 quê hương miền Nam rơi vào thảm nạn quá lớn lao và dấu vết nhem nhuốc trong lịch sử dân tộc biết bao giờ xóa mờ được. Đau thương, oán hờn, đói nghèo, chết chóc bao trùm trên số phận những người dân Việt Nam. Triệu người buồn đã đành, còn triệu người vui cũng chẳng vui được bao lâu khi biết mình bị lừa dối. Chỉ có những con ma cà rồng no đủ, thỏa thuê vì hút máu dân tộc mới thực sự hạnh phúc trong men chiến thắng.

Chiến thắng hay chiến bại đôi khi cũng khó mà luận bàn vì kẻ chiến thắng bây giờ trở thành tên xin xỏ và kẻ chiến bại trở nên người ban phát. Có khi kẻ chiến thắng muốn nhập vai làm người thua trận để hưởng chút lợi lộc thế gian. Lại cũng có kẻ dựa hơi người ra đi để củng cố quyền lợi của cha ông mình. Âu đó cũng là định luật bù trừ của đời sống muôn mặt.

Bây giờ có lẽ mọi người đã hiểu những người lính Việt Nam Cộng Hòa chiếu đấu cho ai, vì ai. Dù họ hiểu trong muộn màng vẫn còn hơn là chưa từng hiểu. Chỉ trách cho những kẻ đã từng biết thế nào là tủi nhục, đau thương mà đã vội vàng quên hay vô tư thỏa hiệp với cái ác để mưu cầu hạnh phúc hay lợi lộc riêng tư.

Bốn mươi năm qua, điệp khúc réo gọi của hai phe thù nghịch trong một đêm đen cuối tháng Tư vẫn mồn một trở về cùng tiếng súng nổ, đạn rơi. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa dù sao vẫn còn tồn tại trong lòng người dân, vẫn còn tiếng nói trên khắp thế giới nơi có người Việt Nam Tị Nạn Cộng Sản. Còn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì đã bị chôn sống và khai tử từ lâu lắm rồi! Họ đã chết non. Họ thật sự không hiện hữu trong Điệp Khúc Tháng Tư ngày nọ. Vì thật ra Miền Nam không cần ai giải phóng.

Còn những người đang đứng giữa ngả ba đường. Sau bốn mươi năm với bao nỗi uất nghẹn, trăn trở của cả dân tộc mà cũng chẳng biết mình phải về đâu hay sao?

Tôi hài lòng vì đang sống và viết trên nước Mỹ, một xứ sở tự do, dân chủ và giàu mạnh nhất thế giới. Tôi thuộc về gia đình của những người thua trận và tôi chưa bao giờ cảm thấy xấu hổ vì điều đó nếu không muốn nói là còn cảm thấy hãnh diện và tự hào. Tôi xin cảm ơn cuộc đời đã cho tôi một đời sống khá ấm no, hạnh phúc trên nước Mỹ sau quá nhiều trắc trở gian nan. Nói như thế không có nghĩa là tôi đã cảm ơn những kẻ đã xô đẩy chúng tôi ra khỏi quê hương mình.

Tôi không bao giờ cảm ơn kẻ đã đập đầu tôi lên đá, dù sau cú đập đó tôi bắt gặp một viên kim cương. Hành động tàn ác và luật bù trừ của cuộc đời là hai việc hoàn toàn khác nhau. Con dao phẫu thuật của một vị bác sĩ trên thân thể bệnh nhân hoàn toàn khác xa với con dao đâm vào bụng người của kẻ ăn cướp.

Và tôi đã có những đêm không ngủ khi ký ức tháng Tư hiện về như một ám ảnh khôn nguôi. Tôi gói trọn tâm sự mình vào bài thơ sau:

Trắng Đêm

Nằm im trong tiếng đời cười
Ta nghe máu chảy biếng lười trong thân
Nằm nghe tàn cuộc trăm năm
Nằm nghe da xếp vết nhăn mặt người
Nằm thương nhớ tuổi đôi mươi
Gõ tay vào mộng réo người buổi xưa
Ngậm ngùi bao cuộc tiễn đưa
Hai bàn tay đếm chẳng vừa năm đi
Nằm khơi oan trái vô nghì
Sục sôi hận buổi phân kỳ đã qua
Nộ cuồng gió hú đỉnh xa
Đau muôn mạch nhựa khóc òa trong cây
Sầu đêm bạc sợi tóc gầy
Con ong xứ lạ gọi bầy bơ vơ
Nằm đây mắt trắng bơ phờ
Thèm sao giấc ngủ bên bờ an nhiên!

Mimosa Phương Vinh

http://vietbao.com/p231953a236515/diep-khuc-thang-tu
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 239
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Sat Apr 02, 2016 12:05 am



Tháng Tư Đen Đầy Uất Hận Thứ 42

  
Phan Văn Song
 
Ghi chú: Thân phụ của tác giả là Trung Tá Phan Văn Sương, xuất thân khóa 5 VBQG Hoàng Diệu, bạn đồng khóa với các vị Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Nguyễn Văn Toàn, Phan Trọng Chinh, Phạm Quốc Thuần, Dư Quốc Đống, Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai v.v...
 
Tuy bị khiếm thị, nhưng vẫn tiếp tục phục vụ đắc lực trong chức vụ Giám Đốc Trường Mù; cũng như Trung Tá Đặng Ngọc Lân, khóa 4 VBQG Ly' Thường Kiệt, một sĩ quan tình báo xuất sắc, tuy bị VC giật mìn gây trọng thương phải cưa một chân, nhưng vẫn làm Hiệp sĩ Tôn Tẩn thời đại, phục vụ tại phân khu Saigon thuộc quyền bạn đồng khóa là Chuẩn Tướng Đỗ Kiến Nhiểu. Đại tá Đào Quang Hiển, khóa 1 Trường Võ Bị Liên Quân Thủ Đức; tuy bị mù hai mắt vì mảnh đạn và mìn của VC phục kích trên đường công tác, nhưng vẫn tiếp tục phục vụ đắc lực trong phạm vi chuyên môn tại Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.
 
Họ là những chiến sĩ bất tử (như câu nói của danh tướng Douglas Mac Arthur).
 
Trong thời chiến, một số thanh niên trốn quân dịch, du học và tốt nghiệp trở thành trí thức khoa bảng làm giàu tại hải ngoại và sau ngày uất hận tháng tư Đen, quay lại khinh khi xem thường sự hy sinh của người lính chiến. Họ là ai?

Tháng Tư Đen Đầy Uất Hận Thứ 42!


Đầu tuần, Xuân đến, sáng thức sớm, ra vườn trời tuy còn se lạnh, nhìn giàn hortensia đầy nụ, ngắm bụi forsythia hoa vàng đầy góc tường, nhưng sao lòng vẫn không vui! Sao vẫn có cái buồn vớ vẫn! Năm nào cũng vậy, đến cuối tháng ba, lòng tôi lại nao nao thế nào. Năm thứ 42 mất nước! 35 năm chưa thấy lại Sài gòn! Cuối tháng ba năm nào cũng tạo nỗi nhớ của khoảng khắc của  tháng ba năm mất nước. Nhà Ba mẹ đầy người, bà con tỵ nạn từ Huế, từ Đà nẳng chạy về Sài gòn tỵ nạn. Khoảng thời gian trên một tháng ấy của những ngày cuối cùng của quê hương tràn ngập ký ức tôi. Việt Nam yêu dấu của tôi ngừng hẳn thời gian ấy. Từ sau những ngày ấy tôi không còn hình ảnh kỷ niệm nữa. Tóm lại, không phải mình kỳ thị mà sao những kỷ niệm dễ thương đều thuộc về những năm trước ngày 30 tháng Tư, kể cả những kỷ niệm kinh hoàng, chiến tranh, lựu đạn nổ, pháo kích… Còn sau ngày mất nước, thanh bình chớ, đi lại bình yên, nhưng làm sao đâu? Hổng gì là dễ thương cả, chẳng có cái gì đáng nhớ cả? Sài gòn tràn ngập người lạ, nói một giọng nói kỳ lạ, với những từ ngữ kỳ lạ chói tai, mất cảm tình! Lạ thật! E tui bất thường chăng? Tôi vì ghét chế độ Cộng Sản nên ghét cả “đường đi lối về tông chi họ hàng Cộng Sản, ghét cả giọng ăn giọng nói”? Xin lỗi bà con vậy! Tôi cảm thấy họ không phải người mình, người Việt mình!

Năm nay, cũng như mọi năm, cứ khoảng thời gian nầy là tôi mất ngủ. Nỗi nhớ nhà da diết dằn vặt tôi! Vẫn biết quê hương mình nay đã mất, có thể vình viễn, mấy năm tháng gần đây, một lô bạn bè cùng tuổi cùng lứa, cùng thế hệ đua nhau “ra đi” và đều yên ổn nằm nghỉ nơi quê hương thứ hai, thoạt đầu xem như tạm nhưng chẳng chốc đã trở thành vĩnh viễn. Năm nay Lễ Phục Sanh đến sớm hơn mọi năm, nên vừa xong Mùa Chay của Tôn Giáo gia đình, tôi bước vào Tháng Chay cá nhơn của Tháng Tư Uất Hận Đất Nước.

Thời sự quốc tế tuần nầy (đối với tôi) chẳng có gì đặc biệt, mặc dầu có nhiều biến cố đáng ghi nhận: Obama đi thăm Cuba, bằng chứng rõ ràng là Mỹ, lại một lần nữa, nuốt lời hứa với dân Cuba Tự Do, phản bội lý tưởng Tự Do-Dân Chủ, bắt tay lại với chế độ độc tài Cộng Sản CuBa, xem thường quan niệm Nhơn Quyền! Pháp cũng lần nữa phản bội đạo đức Tự Do Dân Chủ, qua Tổng Thống Pháp, miệng nói Bảo Vệ Nhơn Quyền, Dân Chủ Tự Do, gắn huy chương Légion d’Honneur cao quý nhứt của Pháp cho tên đồ tể Thái tử xứ độc tài thủ cựu Ả Rập Xê Út. Tất cả vì lợi nhuận, vi quyền lợi buôn bán, tất cả chỉ vì tiền. Thị trường Cuba béo bở, canh tác, xây dựng, công nhơn rẻ. Thị Trường Ả Rập béo bở, dầu hỏa Ả Rập tràn ngập. Những quan niệm phổ thông bao quát Dân Chủ, Tự Do, Nhơn Quyền, Nữ Quyền… rẻ hơn dầu hỏa, rẻ hơn máy bay Rafales, Airbus…Làm sao trách được nếu ngày mai các nhà lãnh đạo thế giới sẽ là Trump, Poutine, Tập Cận Bình, Le Pen… hay bất cứ một tay quá khích nào, biến thành những nhà cầm quyền độc tài quá khích hay tư bản độc quyền vô đạo đức? 

Việt Nam nổi tiếng thế giới trong vai trò «tiên phuông chết thay thiên hạ, nghèo thay thiên hạ: - (Chia đôi Cái Ngu của thiên hạ với Cu Ba)! Tiên phuông làm “điển hình” làm cách mạng mướn, đi đánh giặc mướn, nướng cả triệu đồng bào theo  mình, giết cả vạn đồng bào mình không theo mình, dùm cho Nga Cộng cho Tàu Cộng để chỉ được cầm quyền. Lịch sử người kể chuyện các đại lãnh đạo đi chinh phục thế giới, chiếm đất giành dân, mở mang bờ cỏi, nới rộng non sông. Lịch sử người ghê tởm ghi chép những tội phạm nhơn loại, giết hại người, như chế độ Đức Quốc Xã Nazi giết “người Do Thái”, như chế độ Thổ Nhĩ Kỳ giết người Arméniens, hay giết người Kurdes, kể cả Saddam Hussein tên độc tài Irak dùng bom hơi độc giết người Kurdes…Nhưng tất cả những đồ tể các chế độ độc tài ấy không bao giờ tàn sát đồng bào họ. Trái lại lịch sự cận đại mới ghi nhận rõ ràng các chế độ Cộng sản, bắt đầu bằng tên đàn anh Liên Sô giết hại, khủng bố đầy đọa đồng bào ruột thịt mình. Staline, Mao Trạch Đông, Hồ chí Minh, Pôn Pốt… nỗi tiếng vì đày đọa giết hại đồng bào mình!

Nhưng lịch sử người viết những thiên sử ca tụng những lãnh đạo tài ba mở mang chinh phục cả ngàn, cả vạn dặm biên cương, đất nước, Thành Cát Tư Hãn, Tamerlan, Attila, Napoléon…

Nhưng trái lại, lịch sử cận đại Việt Nam ta kể chuyện ta ngu dại làm dâng đất, dâng biển, dâng đảo cho người láng giềng, chỉ để được cầm quyền. Ngày nay, Đồng Bằng Cửu Long, Vựa Lúa Miền Nam Việt Nam nỗi tiếng phì nhiêu nuôi dân Nam Việt từ thời xa xưa, đã khô cạn, hạn hán! Đất mầu phì nhiêu nay đà nhiểm mặn vì Giòng Sông Mẹ Cửu Long cưu mang, nuôi sống dân Miền Nam Việt Nam đang bị Tàu Cộng cướp hết nguồn nước. Từ nay, thật là “Đồng khô Hồ cạn, đất Nam Việt tan tành!”

Mất Biển, Mất Đất, Mất Nước chừng nào Việt Nam Mất Dân, Mất cả Tên Việt Nam?

Biến cố đáng ghi nhận hơn nữa: Sáng thứ ba, lại nghe tin Bruxelles, thủ đô Vương Quốc Bỉ bị khủng bố đánh bom chết người. Buồn đau, lo lắng cho gia đình bạn bè sống ở Bỉ, một lần nữa hình ảnh khủng bố ngày nào ở New York, London, Madrid, Paris, và nay ở Bruxelles lại gợi nhớ đến sự ghê tởm Việt Cộng đánh bom dân mình năm xưa. Nhớ ngày xưa, giận dữ khi thất dân Tây Mỹ phản chiến vỗ tay hoan hô Hồ Chí Minh giết hại đồng bào Việt Nam. Ngày nay, khi nghe khủng bố Hồi Giáo đánh Huê Kỳ ngày 11 tháng 9 2001, đánhTây phương, từ London, Madrid hay Paris năm ngoái, hay Bruxelles năm nay, tự hỏi người dân Tây Phương có hiểu thế nào là khủng bố không? Đã đến lúc Tây Mỹ phải biết thế nào là khủng bố. Không nên vì quyến lợi kinh tế, đi phản người ngay, đi phò thằng gian. Đã biết vỗ tay ủng hộ, đã biết đi xúi dại dân xứ người nổi dậy, nhơn danh Dân Chủ, nhơn danh Nhơn Quyền, thì phải ủng hộ đến cùng! Phải tạo điều kiện và phương tiện cho những quốc gia mới lấy lại chủ quyền giữ vững nền Dân Chủ, trọng Nhơn quyền, phải biết bảo vệ tất cả những quyền Tự Do. Chớ vội sớn sát giao trứng cho ác, chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, thì có ngày lãnh cái búa trả nghiệp đó thôi! Những bài học Huê kỳ và Âu Tây đang phải trả đây. Giúp kháng chiến A Phú Hản chống Liên Sô năm nào, giao súng đạn cho Ben Laden để Ben Laden đánh Mỹ sao nầy. Võ khí và quân cụ của Daesh do chính các quốc gia Tây Âu và Mỹ tiép viện, ủng hộ quân kháng chiến chống độc tài Bachar Al Assad!...Người dân Âu Châu, nhứt là Pháp, Bỉ… tứ nay, sống trong cảnh giác, trong tình trạng quân luật như dân chúng Sài gòn chúng ta thời Việt Cộng khủng bố vậy! Rồi cũng qua thôi, vì vậy tôi hầu như không để ý gì đến những chuyện thời sự ấy.

Còn thời sự Việt Nam? Xong rồi! Mất Biển Đảo, Mất Biên Cương, Người Tàu tràn ngập đất Việt, đây là một đạo quân thứ năm sẳn sàng tiếp thu đất Việt khi có lệnh. Lãnh đạo Việt Nam, là những người tuy mang quốc tịch Việt nhưng thật tình đã là người Tàu rồi. Không còn gì để mong để nói nữa! 

Tuần nầy, nhận được lá thư của Chú Bảy. Lâu lắm không được tin chú. Chú Bảy là một người bạn chí thân với Ba Mẹ chúng tôi. Khi Ba tôi rời Huế vô Sài gòn lập nghiệp hồi những năm 40, ba đi cùng một người bạn cùng xứ. Hai anh em gặp chú Bảy, dân Đất Hộ, xứ Nam Kỳ rộng lượng, chịu chơi, từ đó họp thành bộ tam sên. Bức thư nầy, đã xin phép – và được chú cho phép – xin phép quý bà con, đăng lên để chia sẻ cùng quý thân hữu để cùng cảm nhận một thoáng không khí cuộc sống hằng ngày của người dân Đất Hộ mình, dưới trào Cộng Sản Phương Bắc!

Phan Văn Song

***

Đất  Hộ, Sài thành, tháng Ba, 2016, Bính Thân.

Hai à,

Cuối tháng Ba rồi! Mỗi năm cứ vào khoảng nầy là tao nhớ Ba Mẹ mầy! Vì, chắc mầy còn nhớ, cách đây 41 năm, khoảng nầy, tao dắt thím mầy và bầy em mầy bỏ Huế vào Đà Nẳng, rồi cả nhà tao lánh nạn vào tá túc nhà Ba Mẹ mầy ở sau Trường Mù, Chợ An Đông*. Nhớ hoài! Thấm thoát đã 41 năm rồi! Với ai hổng biết, chứ với tao, nuớc Việt Nam mình thực tình đã mất vào cuối tháng Ba khi Huế mất đó, mầy à! Cố đô mất, kinh đô Xứ Đàng Trong, là xứ mình mất, là mình hoàn toàn mất nước. Dù phe ta có ráng cầm cự thêm một tháng nữa, dù có súng, có máy bay, xe tăng, mà không có đạn, không có xăng… cũng như cùi. Lòng quyết tử, chí quật cường của quân dân cán chánh Việt Nam Tự Do cũng chỉ có thế thôi! Mỹ đã phản bội ta, nuốt lời hứa, đi đêm quyết tâm bán rẻ Việt Nam Tự Do cho Nga Cộng, Tàu Cộng, thì dẩu cả toàn dân Việt Nam Tự Do có bán hết tất cả mạng sống đến người Việt Tự Do cuối cùng đi nữa, thì cũng thua. Chỉ còn, chạy, dzọt, vượt biển, đau thương, hy sanh, chết chóc, trả cái giá nặng nề, mình đi đày, vợ con mình bị hảm hiếp, gia đình mình nhục nhã …chỉ mong được đến bờ Tự Do thôi! Hai à! Thiên hạ ca tụng tinh thần chiến đấu gan dạ của toàn dân quân cán chính anh hùng Việt Nam Cộng Hòa giữ nước giữ nền Tự Do hai mươi năm bền vững! Đúng! Nhưng chúng ta cũng phải trân quý, trân trọng, ca tụng và nhớ ơn người phụ nữ Việt Nam. Những người mẹ, người vợ, sát cánh bên chồng, bên con để giữ vững riềng mối gia đình, giữ vững hậu phương, cho chồng cho con vững tâm giết giặc giữ nước. Đó là thời chiến! Lúc thua trận, tiếp tục phải cán đáng bảo bọc gia đình khi chồng, cha, con, hoạn nạn tù đày nơi rừng sâu nước độc, hay cơ cực khổ sai ngoài đất Bắc rừng rú mọi rợ. Lúc sanh tử có nhau, lúc hoạn nạn có nhau, cả cùng lúc chia sẻ hiểm nguy vượt biển, người phụ nữ Việt Nam, người đàn bà Việt Nam cũng bị hoạn nạn hơn người nam, bị hảm bị hiếp, bị cướp biển đem về áp trại. Nỗi khổ kể sao cho siết! Và ngày nay? Cũng vậy, hoà bình rồi, mà thân phận đàn bà phụ nữ Việt Nam vẫn bị làm món hàng thương mại. Phải bỏ nhà, bỏ quê hương, xuất khẩu lao động! Lúc ở đợ, lao động xứ người, xa chồng xa con. Khi điếm, bán trôn nuôi miệng, nuôi gia đình. Nhục nhã sắp hàng, trưng bày thân thể trần truồng, làm món hàng, để chồng ngoại quốc lựa chọn mua về, làm nô lệ  tình dục! Tất cả “ra đi”, chỉ mong gởi tiền về nuôi gia đình cha mẹ trả chữ hiếu!

Xứ Đất Hộ mình biết bao nhiêu chuyện, nào gả con gái cho người nước ngoài, nào bán con trẻ làm con nuôi, tháng nào cũng có! Còn chuyện “ra đi”, ngày nay 41 năm qua rồi, hoà bình rồi,  mỗi ngày cũng đều có chuyện “vượt biên”. Nhờ vậy mà cái nghề của thím mầy giáo sư Anh Văn hốt bạc, nuôi cả gia đình, xây thêm nhà, sửa thêm cửa, khá giả mấy năm nay.

Ròng rã, năm nào cũng vậy, cứ đến tháng ba, tháng tư, hai tháng nầy, là tao nhịn ăn, đốt nhang bàn Thờ Tổ quốc, tụng niệm hằng ngày…chỉ để Nhớ, để Thương. Đặc biệt, tháng tư năm ngoái, tao rầu thúi ruột muốn bệnh luôn: nhớ nhung đủ thứ chuyện hết, nhưng tao lại làm biếng viết thơ cho mầy, đến cả thím mầy mà tao cũng hổng thèm nói chuyện. Bả cứ “Ông thiệt! Nhắc chi cái thứ đó hoài ông ơi, đổi đời mà, mình ráng sao cho cái đám con cháu nó qua truông là được rồi. Bây giờ nó dzậy đó, miễn sao con cái nhà mình nó giữ cái gì mình dạy cho tụi nó là đủ rồi. Ông rầu là gì cho thêm bịnh”.

Tao nghe bả nói, tao cũng thấy bả có lý, nhưng tao vẫn rầu... Tao rầu bân khuơ, tao nhớ bạn, tao nhớ bè, nhớ anh Ba, ông già mầy, nhớ chị Ba, má mầy, nhớ mấy.

Tao nhờ Trời Phật sống đầy đủ, đổi đời, cũng xuống chó, cũng lên voi, thất nghiệp, bảy nghề biết đủ, cũng như người ta, cũng biết đó biết đây. Ngày nay, tao ngán ngẩm cho cái vận, cái hạn đất nước mình sao nó vẫn còn khổ triền miên như vầy! Nói hoà bình, nói phát triển, tiến lên, tiến mạnh,  mà sao vẫn còn con nít bán mía găm, bán vé số, bán thuốc lá điếu…. Hồi trẻ, tụi tao kháng chiến, chống Tây, hy vọng lấy lại Độc lập, dân mình nó sẽ sống đàng hoàng, hy vọng không còn có cảnh phu xe kéo, chị gánh hàng rong, chị thợ hồ đội gạch, thằng nhỏ bán cà-lem cây. Sau Thế chiến, Việt Nam ta tuy lấy lại Độc lập, nhưng “người ta” vẫn tiếp tục gây ra chiến tranh, chết chóc triền miên. Năm 1954, đình chiến, đất nước tuy bị cắt chia,  nhưng yên tiếng súng, hòa bình. Nhờ đó dân Nam mình cũng sống một thời gian đàng hoàng tử tế, ngon lành, xây dựng! Thế nhưng chẳng được bao lâu thì lại chiến tranh, dân Cộng Sản ở ngoải lại pháo kích, lại khủng bố! Lại chết chóc … mà dân Nam mình có phá hoại xâm chiếm lấy của cải của ai đâu? Hiền hòa, biết bà biết con, biết đoàn, biết kết, biết đùm biết bọc. Năm 54, dân xứ Ngoải chạy lánh nạn Cộng sản, di cư, tỵ nạn vô cả triệu người, dân mình cán đán, lo hết. Thế mà Đảng Cộng sản ở ngoải cũng vẫn muốn giải phóng mình. Mà giải phóng gì? Giải phóng bằng pháo kích, giải phóng bằng giựt mìn xe đò, giải phóng bằng đắp mô, giải phóng bằng chặt đầu, mổ bụng, dồn trấu…giải phóng bằng đấu, giải phóng bằng tố khổ. Thằng đế quốc thằng Tây thằng Mỹ có chết đó, nhưng chết bao nhiêu, chỉ có dân ta chết bộn thôi. Thế mà vẫn có cả ngàn người nghe, cả vạn người theo. Sợ? Mê? Ngu?

Dân chúng ở ngoải họ nói họ bị bắt buộc. Nếu bắt buộc, sao không thấy họ “ra đi”, vượt biển, hay vượt tuyến? Người dân Đông Đức, Cộng Sản, năm nào cũng có người trốn qua Tây Đức, xứ Tự Do. Tường Ô Nhục Bá Linh có cao đó, nhưng cũng có kẻ dám vượt tường. Giàn rào kẻm gai có rào bãi mìn đó, vẫn có người đào hầm chui qua rào kẻm mìn, tìm Tự Do,… Bằng chứng khi đến phiên cả xứ Việt Nam ta bị nhuộm đỏ, chẳng bao nhiêu lâu…một năm, hai năm chịu đựng là dân miền Nam bắt đầu bỏ trốn! Thật vậy, dân miền Nam mình, chỉ cần ba năm sống dưới tay Công sản Bắc Phương, là bắt đầu bỏ xứ ra đi. Ngày nay hòa bình, thống nhứt, phát triển, tiến lên, tiến mạnh, tiến cái gì hổng thấy, mà ai ai, nếu có dịp, đều vượt biên hết. Bây giờ hết nói vượt biên rồi: nói du học (rồi không về - thường thường là con ông cháu cha không à!) nói lấy chồng người nước ngoài, nói xuất khẩu lao động, nói “hạ cánh an toàn”, nói đi du lịch - và “trốn ở lại”… Giấc mơ đi khỏi Việt Nam hầu như ở khắp mọi người. Nhờ vậy mà gia đình tụi tao sung túc,  khá lên, là nhờ cái phong trào học tiếng Anh không lúc nào ngơi?

Về vấn đề trường học, trường tao từ đầu năm nay, cũng ế ẩm! Vật giá đắt đỏ. Kinh tế hổn loạn. Thêm  cái vụ Đại Hội Đảng vừa qua dân Bắc kỳ chiếm ghế nhiều quá, dân Nam e rằng dân Nam nổi loạn chăng?  Thôi chờ xem bầu cử Quốc hội, có gì thay đổi không? Hay vẫn như cũ, chia ghế, chia của, xí phần. Lúc nầy còn thêm cái cha truyền con nối. Đời cha hết Thủ Tướng, nhưng đời con vẫn đại gia, vẫn Trung Ương Chánh Ủy, vẫn ăn trên ngồi trước có chết thằng ma nào đâu? Chỉ có thằng dân ruộng thì mất đất, thằng dân biển thì mất thuyền do tàu lạ đụng, đâm… la ó than khóc thì Nhà Nước Việt Nam ta, Quân Đội Nhơn Dân Anh hùng ta cũng xử… chìm xuồng luôn.

Còn chương trình học, lúc nào các học sanh và sanh viên trong phần học tập chánh tri có thêm cảnh giác …  “diễn biến hòa bình”. Nghe các học trò về kể lại rằng nước Việt Nam ta đang bị địch bao vậy, và bọn thế lực phản động hải ngoại đang dùng diễn biến hòa bình đánh vào thành trì “xã hội chủ nghĩa” để giựt đất nước khỏi tay lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hóa ra, mình vẫn còn bị nhóm thù địch bao vây, do đó mình nghèo hoài! Nhưng Hai à, nội cái từ ngữ “diễn biến hòa bình”, tao cũng không hiểu nỗi. Diễn bìến là “hiện tượng đi tới  …», là “tương lai sẽ … có hòa bình”, mà có ... “hòa bình” thì có gì mà nguy hiểm, mà phải sợ! Ai cũng sợ chiến tranh chớ… và sợ những diễn biến chiến tranh, nhưng ai lại đi sợ hòa bình. Các học trò cũng kể cho tao nghe là các em học tập rằng những phong trào Dân chủ và Nhơn quyền của thế giới là do bọn thù nghịch phản động ở bển gây ra để phá hoại đất nước Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo, bọn phản động muốn đưa Việt Nam tương lai vào thế giới tư bản của Đế quốc Mỹ đó mầy!

Ủa nước mình hổng phải tư bản sao? Các ông lớn đều đứng tên các công ty, mở cổ đông cho người hùn hập làm ăn (thường thường là bà con hay bạn đồng chí ở trong Đảng Cộng sản) hổng phải là công ty tư bản sao? Có thể Công ty tư bản là những người hùn hập mua cổ đông đều là người lạ -  cái chữ  lạ  bây giờ  nó  lạ  lắm!  Từ  “lạ” ở đây không phải là nghĩa mới bây giờ, nghĩa mới là để nói “đó là người Tàu”, thí dụ “tàu lạ đâm chìm tàu ta”, phụ đề việt ngữ là “tàu Tàu, tàu Trung Cộng đâm chìm tàu người Việt ta” đó thôi! … -  (“lạ” là ai ngoài phe Đảng ta), có tiền là mua cổ đông hùn vốn). Đằng nầy ở Việt Nam các công ty các ông lớn là do bà con và người trong Đảng hùn vốn vì vậy hổng phải là tư bản mà là xã hôi chủ nghĩa (là người cộng sản với nhau, trong Đảng cả) và theo định hướng tư bản thị trường tư do (nghĩa là hùn vốn). Nhưng vậy mấy chả sợ Tư bản Chủ nghĩa cũng phải. Tư bản Chủ nghĩa ai cũng có thể bỏ tiền ra được hết, riết thì ai làm chủ đây? Xã hội Chủ nghĩa là Xã hội chủ Nghĩa là Đảng cộng sản phải làm chủ và cầm quyền và là lãnh đạo. Tao thử cắt nghĩa vậy mầy xem được không?

Lay hoay cũng sắp Lễ Phật đản nữa rồi. Tao thì thường nhớ ngày mồng Tám tháng Tư, chứ đâu có dời qua ngày Rằm như bây giờ. Tao cứ nhớ bài ca “… mồng Tám tháng Tư là ngày Thích Ca thành Phật”. Kệ ai cúng ngày Rằm, còn tao, tao cứ hương đèn nhang khói, tao cúng Phật đản ngày mồng Tám tháng Tư. Thím mầy cũng lại cằn nhằn: “ông thiệt hổng giống ai! Thiên hạ bậy giờ cúng Lễ Phật Đản ngày Rằm tháng Tư chứ không ai cúng ngày mồng Tám tháng Tư hết!”

- Kệ tui, Bà ơi! Tui già tui cúng theo người già! Nói nhỏ - tao cúng theo người Quốc gia!

Mầy xem bây giờ là vậy đó. Cúng kiến lễ lạc phải đúng thủ tục, có luật có lệ, có ngày có tháng. Còn lễ nghĩa, luật lệ đi đường thì tùm lum, buôn bán thì lươn lẹo, chụp giựt, mánh mun, còn hàng hóa, thì dỏm, thì giả, không cần luật lệ gì cả, còn con nít chẳng biết thưa gởi, xin lỗi xin phải hay cám ơn cám iếc gì cả…

Tao ráng giữ cái bầy con, bầy cháu cho tụi nó đàng hoàng một tý. Mầy gặp lại tụi nó mầy sẽ thấy tao ngon lành giữ tụi nó đàng hoàng lắm đó.

Thôi ít hàng nói chuyện xứ Đất hộ mình cho mầy nghe. Thăm gia đình mầy.

Hẹn thơ sau

Chú Bảy

* Trước 30/04/1975. Bộ Tam Sên (kết nghĩa năm 1940) của Ông già chúng tôi gồm có, Ba tui, năm 1975 làm Hiệu Trường Trường Mù ở Chợ Lớn, Bác Hai Hạp, mở tiệm bán cát, gạch ở Ngã Tư Phú Nhuận. Và chú Bảy, cựu công chức Bộ Giáo Dục. Thời ông Diệm, chú công tác ở Huế, gặp cô gái Huế, giáo sư Anh Văn (ra đi không đành!) là thím Bảy, ở lại sanh sống lập nghiệp nhập dân Huế luôn!  Lạ chưa, gia đình Chú Bảy gốc Đất Hộ Nam Kỳ lại sống ở Huế cả chục năm, trong lúc hai ông kia, gốc Huế trọ trẹ, lại sống ở Sài gòn. Mất Huế, vào Sài gòn lánh nạn ban đầu tá túc ở nhà ông già, trước ngày 30 tháng tư ông chạy về lại Đất Hộ (Dakao), nhập vào nhà tổ phụ, vì gia đình người anh quân nhơn Hải quân đã kịp đưa vợ con di tản đi Mỹ, chỉ còn ông cụ bà cụ ở lại. Gia đình chú Bảy, 6 người  về kịp để giữ nhà. Chú Bảy giáo chức có lon có lá, cũng phải đi tù vài tháng. Thím Bảy, vì không phải thuộc dân giáo chức Sài Gòn nên chỉ được “mất dạy”. Lúc ấy tôi còn ở Sài gòn, có giúp gia đình Chú thím mở một đề-bô bán Ladze, Nước Ngọt, Nước Đá tại nhà sanh sống qua ngày. Năm 1980, khi ra tù, có đến thăm chú thím, tiệm “bán nước” vẫn còn, tuy buôn bán có khó khăn hơn! Bộ ba Tam sên, ở lại Sài thành, vẫn tụ tập. Hai ông già gân, kẻ Phú Nhuận, người Đất Hộ, đạp xe, lên chợ An Đông thăm ông già mù, để đấu láo và UTQ, uống trà quạu, hút thuốc lào, với nhau, ít lắm là một tuần một lần.

Đầu Xuân 2016
Nhớ những ngày loạn lạc tháng ba, tháng tư năm 1975.

Phan Văn Song



"Dân oan" XHCN VN bị bọn cs ăn cướp mất đất, mất nhà...


Bar "Tiệm cà phê Việt Nam" tại giao lộ Jalan Ramlee - Jalan Perak giữa trung tâm Kuala Lumpur.


“Gái hư” Việt Nam nổi tiếng
Kuala Lumpur....
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 239
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Wed Apr 06, 2016 9:52 am


C
ho ngày Ba mươi tháng Tư: Nỗi đau và Tình yêu

Nguyễn Thị Từ Huy, viết từ Paris


Một phụ nữ đi ngang những áp phích tuyên truyền cho ngày 30 tháng 4 được trưng bày tại Saigon hôm 11/4/2015.
AFP photo

Nếu một cộng đồng có một ngày mà trong ngày đó một nửa số người cảm thấy hạnh phúc và một nửa số người cảm thấy đau khổ thì ta nên đứng về nửa nào?

Những người có hiểu biết và lương tri sẽ chọn đứng về phía nỗi đau.

Tôi chưa bao giờ dám nói gì về ngày ba mươi tháng tư. Bởi vì thực tế quá phức tạp và những gì tôi biết là quá ít ỏi và rất có thể là không chính xác so với sự thật của cuộc chiến, một cuộc chiến mà chỉ tên gọi của nó thôi cũng đã có thể gây ra cả một cuộc chiến khác.

Nhưng hôm nay, tình cờ tôi đọc một tập sách của Václav Havel có tựa đề: «Tình yêu và sự thật cần phải chiến thắng hận thù và dối trá». Cuốn sách tập hợp một số diễn từ của Havel trong hai năm 1989-1990, trong thời gian ông đứng ra tranh cử và được bầu làm tổng thống của nước Tiệp Khắc, một nước Tiệp Khắc dân chủ ở thời điểm vừa thoát khỏi đêm trường cộng sản chủ nghĩa.



Câu nói trên đây của Havel và tư tưởng của ông khiến tôi có đủ can đảm để muốn viết một vài lời vào dịp này, vào dịp bốn mươi năm kết thúc cuộc nội chiến hay cuộc chiến tranh chống Mỹ giành độc lập hay cuộc chiến tranh giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Phân định bản chất của cuộc chiến là công việc khó khăn của những người có chuyên môn về khoa học lịch sử, nó đòi hỏi sử gia phải có cả bản lĩnh khoa học lẫn sự can đảm của người trí thức. Việc phân định ấy không thuộc chuyên môn của tôi và tôi cũng không định làm ở đây. Tôi chỉ muốn nói rằng tôi ý thức được tính chất phức tạp của cuộc chiến.

Độc giả đừng quan tâm tôi sinh ra lớn lên ở đâu hay được dạy dỗ như thế nào. Dù tôi sinh ra và lớn lên ở đâu, dù tôi nhìn lịch sử ra sao, dù tôi đánh giá cuộc chiến như thế nào, thì tôi cũng lựa chọn đứng về phía những người mang nỗi đau đã bốn mươi năm nay chưa được hóa giải. Những nỗi đau cũ vẫn còn nguyên và những nỗi đau mới. Những người mang nỗi đau có thể là người miền Nam, có thể là người miền Trung, cũng có thể là người miền Bắc.

Nhiều người cho rằng, người Mỹ rút khỏi Việt Nam đã bốn mươi năm, nhưng từ đó đến nay cuộc chiến giữa những người Việt với nhau vẫn chưa kết thúc. Những người này không phải là không có lý của họ. Cái lý đó không chỉ được chứng minh bởi hiện tượng di tản vẫn tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay, mà còn được chứng minh bởi các vụ bắt bớ những người bất đồng với chính quyền không ngừng tăng lên trong những năm vừa qua.

Vì thế hòa hợp hòa giải được đặt ra như một vấn đề quan trọng đối với dân tộc.

Có những người nghĩ rằng chỉ khi nào chủ nghĩa cộng sản sụp đổ ở Việt Nam lúc đó mới có hòa hợp hòa giải dân tộc. Những người ấy chắc chắn có lý riêng của mình.

Tuy nhiên, liệu ta có thể nghĩ theo một cách khác : chỉ khi nào những người dân hòa hợp hòa giải với nhau, kết hợp lại với nhau để tạo nên sức mạnh chung, thì lúc đó chủ nghĩa cộng sản mới có thể bị sụp đổ ở Việt Nam ?

Tôi là một trong những người nghĩ theo hướng này, và cho rằng tình trạng nghi kỵ, chia rẽ, ly tán hiện nay của người Việt dẫn tới sự suy yếu nội lực của dân tộc, và trở thành điều kiện tốt cho chủ nghĩa cộng sản tiếp tục duy trì và phát triển.

Có những người nghĩ rằng chỉ khi nào chính quyền tiến hành các động thái cần thiết thì mới có thể tiến hành hòa hợp hòa giải dân tộc, và dĩ nhiên họ có lý của họ, đồng thời những gợi ý, những đề xuất mà họ đưa ra đều thuyết phục.

Tuy nhiên, người ta không thể nào tiến hành hòa hợp hòa giải dân tộc một khi còn lấy nỗi đau của người khác làm niềm vui của mình, nhất là khi họ lấy nỗi đau của anh em trong nhà làm niềm tự hào của họ.

Trước niềm vui mà chính quyền đang lộ liễu phô trương (như đã không ngừng phô trương suốt từ bốn mươi năm nay với một sự kiêu ngạo thái quá), chúng ta không thể hy vọng rằng bộ máy chính quyền đương nhiệm có thể thực hiện việc hòa giải hòa hợp dân tộc.

Vì vậy, tôi nghĩ rằng chỉ còn hy vọng vào chính chúng ta, những người dân bình thường, những thường dân trong xã hội, của cả hai miền. Cần hy vọng rằng những thường dân chúng ta có thể vượt lên trên (chứ không phải là xóa đi hay quên đi) vết thương lòng của chính mình, để có thể hiểu nhau và từ đó mà tìm lại niềm tin đối với nhau, để có thể kết hợp lại với nhau mà tạo thành sức mạnh chung.

Làm thế nào để có thể vượt lên vết thương lòng của mỗi chúng ta ? Tôi sẽ nói hai ý, đó chính là hai ý tưởng mà Havel đã đề cập đến : tình yêu và sự thật. Tôi đảo ngược trật tự hai cụm từ này của Havel để nói về vấn đề sự thật trước.

Sự thật

Có lẽ chúng ta đều đồng ý với Havel rằng chỉ có sự thật mới có thể chiến thắng sự dối trá. Chúng ta cũng biết rằng bộ máy tuyên truyền khổng lồ của chính quyền độc tài, độc đảng chỉ tuyên truyền những gì có lợi cho chính chính quyền và cho đảng, và như thế tất yếu họ phải tạo ra những dối trá, hoặc tránh không đề cập đến những sự thật bất lợi cho họ.

Các sử gia là những người lẽ ra phải giúp dân chúng nhận thức sự thật lịch sử. Nhưng chúng ta đều biết, trong chế độ toàn trị, sử gia (và không riêng gì sử gia) bị sử dụng như một công cụ phục vụ cho bộ máy tuyên truyền. Vì thế chính họ, chứ không phải ai khác, đã biến lịch sử thành những chuyện kể có lợi cho chính quyền và cho đảng.

Vậy thì, câu hỏi đặt ra là: những ai có thể và phải làm gì để có thể trả lại sự thật cho lịch sử ?

Tôi không có câu trả lời cụ thể. Có lẽ nhìn một cách khái quát thì đó là công việc của những người có trách nhiệm và lương tri, nghĩa là những ai cảm thấy bị thôi thúc bởi trách nhiệm và lương tâm thì cần phải lên tiếng.

Ở đây, tôi muốn nói tới một điểm, một khó khăn thì đúng hơn : thế nào là sự thật?

Có lẽ chúng ta ai cũng muốn mình nói lên tiếng nói của sự thật, ai cũng muốn mình là đại diện cho sự thật. Nhưng khó khăn là ở chỗ : chúng ta chỉ có thể xuất phát từ điểm nhìn của riêng mình, trong khi thực tế là : nếu ta xuất phát từ điểm nhìn riêng mình thì người khác cũng sẽ xuất phát từ điểm nhìn riêng của họ. Nghĩa là 90 triệu người sẽ có 90 triệu điểm nhìn khác nhau, tùy thuộc vào nghiệm sinh và hiểu biết của mỗi người. Nghĩa là sự thật của mỗi người chúng ta chỉ là một trong muôn vàn sự thật của muôn người. Điều này cũng có nghĩa : để có thể tiếp cận với sự thật, chúng ta cần phải đặt sự thật của mình trong quy chiếu với sự thật của muôn người. Nếu ta khăng khăng rằng chỉ có sự thật của ta mới là sự thật, thì lúc đó có thể ta sẽ ở rất xa sự thật.

Toàn bộ đoạn văn trên của tôi (mà độc giả có thể cảm thấy nó rất lằng nhằng) nhằm nói lên điều này : chúng ta rất có thể tự đẩy mình vào tình trạng bị giam cầm trong chính cái điều mà ta tin là sự thật. Lúc đó, dù rằng đúng là ta nắm giữ sự thật ta vẫn sẽ đánh mất sự sáng suốt, cùng với việc đánh mất sự sáng suốt, ta đánh mất khả năng kết hợp với người khác, và như thế đánh mất luôn sức mạnh của mình.

Bao giờ ta thừa nhận rằng trên đời này không chỉ có một sự thật duy nhất của một mình ta, trái lại, có rất nhiều sự thật khác nhau, lúc đó ta mới có thể tìm cách để nhìn sự thật như nó vốn tồn tại, trong toàn bộ tính chất phức tạp và khó nắm bắt của nó.

Bao giờ trong đầu óc của mình, ta chừa chỗ cho những suy nghĩ, cảm xúc, nhận thức của người khác, lúc đó ta mới mong có thể thoát ra khỏi vị thế hạn hẹp của mình để nhìn thực tế từ những góc độ khác, lúc đó ta mới mong có thể giải thoát được chính mình, để ra khỏi không gian riêng của mình và đi đến với người khác, mở rộng trái tim và chìa bàn tay của ta cho họ.

Tình yêu và nỗi đau

Có lẽ chúng ta sẽ đồng ý với Havel rằng chỉ có tình yêu mới chiến thắng được thù hận.

Bao giờ chúng ta suy nghĩ và hành động theo hướng tích cực, không còn bị giam cầm trong thù hận, trong ghét bỏ, nghĩa là không còn bị ràng buộc trong những xúc cảm tiêu cực nữa, thì lúc đó hành động của chúng ta mới có thể có hiệu quả như chúng ta mong muốn.

Bằng thù hận, chúng ta không thể thắng được những kẻ đang nhân danh chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội để « làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân » (cảm ơn nghệ sĩ Kim Chi về cụm từ này). Chúng ta chỉ có thể thắng họ bằng « tình yêu và sự thật » (chữ của Havel), và bằng trí tuệ của chúng ta. Đất nước của chúng ta đang bị tàn phá bởi lòng tham và sự mù quáng của lãnh đạo.

Chúng ta chỉ có thể chống lại lòng tham và sự mù quáng của họ bằng chính tình yêu và sự sáng suốt của chúng ta. Như một nhóm người Hà Nội ít ỏi đang chống lại lòng tham và sự mù quáng của những kẻ tàn phá cây bằng chính tình yêu cây và tình yêu môi trường sống của họ.

Hận thù không giúp chúng ta trở nên sáng suốt, trái lại, hận thù sẽ đẩy chúng ta vào tình trạng mù quáng. Chúng ta có thể nào lấy sự mù quáng để chống lại sự mù quáng ?

Chúng ta chỉ có thể thuyết phục cùng với bằng chứng và lý lẽ, lý lẽ của trí tuệ và lý lẽ của tình yêu.  Hơn nữa, chúng ta cũng không thể giải thoát khỏi nỗi đau của mình, nếu chỉ bằng cách dùng những lời lẽ thô bạo và cay nghiệt. Những lời lẽ ấy có thể giúp giải tỏa cho tâm lý của ta trong chốc lát, trong một giây phút ngắn ngủi khi ta nói ra hoặc viết ra những lời đó. Nhưng khi giây phút đó qua đi, ta sẽ phải tiếp tục đối diện với một thực tế vẫn còn y nguyên trước mắt, thậm chí thực tế ấy ngày càng tồi tệ hơn, ngày càng tuyệt vọng hơn, bởi thực tế ấy được tạo ra từ lòng tham và sự mù quáng của những người đang nắm các vị trí lãnh đạo.

Chúng ta lựa chọn điều gì giữa hai mong muốn : mong muốn giải thoát khỏi nỗi đau đớn của cá nhân mình, và mong muốn toàn bộ đất nước được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của chế độ cộng sản, để có thể phát triển một cách lành mạnh, đảm bảo công bằng và nhân quyền cho tất cả mọi người ?

Liệu chúng ta có thể để cho các dân tộc khác nhận thấy vẻ đẹp nhân văn của tình yêu và sự hy sinh trong những nỗ lực bền bỉ, không mệt mỏi của chúng ta nhằm chống lại hệ thống toàn trị ? Liệu chúng ta có thể để lại cho nhân loại những kinh nghiệm quý giá riêng của dân tộc chúng ta, những kinh nghiệm nhân bản dù chúng ta phải trả giá đắt, trong nỗ lực bảo vệ quyền con người và bảo vệ các giá trị người phổ quát ?

Liệu sẽ có một ngày chúng ta có thể nói về chính chúng ta như Václav Havel từng nói về dân tộc Tiệp Khắc: « Khắp nơi trên thế giới, người ta ngạc nhiên tự hỏi ở đâu ra cái sức mạnh to lớn của các công dân Tiệp Khắc, những người vốn cho tới lúc này vẫn phục tùng, chịu tủi nhục, hoài nghi và tưởng chừng như chẳng còn tin gì nữa, nhưng trong vài tuần lễ, một cách chính trực và hòa bình họ đã thành công trong việc tự giải thoát khỏi hệ thống toàn trị. » (L'amour et la vérité doivent triompher de la haine et du mensonge, Václav Havel, Editions de l'Aube, tr.28)

Nếu ngày 30/4 còn có thể cho chúng ta một hy vọng, thì tôi sẽ nói : chúng ta có thể làm được điều đó nếu mỗi người chúng ta có thể vượt lên trên nỗi đau riêng của mình.

Tôi nói điều này trong khi hoàn toàn ý thức được rằng nỗi đau của mỗi người cần được tôn trọng, cần được hiểu và cần được chia sẻ. Và tôi cũng hiểu rằng khi chúng ta vượt khỏi nỗi đau của mình để nhìn thấy nỗi đau của người khác thì lúc đó nỗi đau của chúng ta sẽ mang một chiều kích khác.

Chúng ta có nên thử gộp nỗi đau của cả hai miền lại với nhau, biết đâu chúng ta sẽ đỡ đau hơn, và biết đâu chừng ta có thể tin nhau ?

Có thể chính là trong ánh sáng của nỗi đau, chính là trong khi người này nhìn thấy nỗi đau của người kia, mà chúng ta có thể xóa bỏ thù hận, xóa bỏ bức tường dựng lên giữa hai chiến tuyến; cái bức tường vô hình vẫn tồn tại trong lòng mỗi người từ bốn mươi năm nay; cái bức tường khiến chúng ta người này không thể tin ở người kia, khiến chúng ta nghi kỵ và chia rẽ; cái bức tường khiến cho cờ đỏ và cờ vàng thành ra những vật trở ngại, ngăn cản chúng ta xích lại gần nhau, ngăn cản chúng ta cùng nhìn về tương lai và cùng tạo dựng một tương lai chung.

Những nỗi đau cộng hưởng với nhau có thể tạo thành sức mạnh, và đến lượt nó, sức mạnh này có thể hóa giải nỗi đau, và có thể biến nỗi đau thành tình yêu…

Paris, 29/4/2015



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 231
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Wed Apr 13, 2016 2:36 pm

 

Tháng Tư... thù hận

Tạp Ghi Huy Phương   
Sunday, April 10, 2016

Mới đọc qua nhan đề bài tạp ghi hôm nay, xin quý vị bình tĩnh, chớ có la lên: “Bây giờ mà nói chuyện thù hận, hãy xóa bỏ hận thù, quên đi quá khứ và cùng nhau hướng về tương lai, bắt tay cùng nhau xây dựng đất nước!” Câu nói này do bên thắng trận, nói đi nói lại đã nhiều lần, trở thành một câu nói sáo mòn, nghe như vô nghĩa. Ngày 30 tháng 4 lại đến, những người thua trận đã chịu bao nhiêu cảnh nghiệt ngã, đau xót, tha thứ mà không quên, khó quên thì dễ gì một sớm một chiều mà tha thứ.

Loài sói lang trên rừng mà biết nói chuyện nhân nghĩa, tay còn dính máu mà nói chuyện hãy bỏ qua hận thù. Mỗi năm, đến ngày 30 tháng 4, những kẻ thắng trận lại khua chiêng, đánh trống, duyệt binh, bắn pháo bông ăn mừng, và nói những điều nhân nghĩa khó nghe. “Lòng nhân ái làm nên 30 tháng 4, 1975!” Đó là câu nói của Tướng Lê Đức Anh, người đã từng là bộ trưởng Quốc Phòng và chủ tịch nước CSVN. Tuyên bố với báo chí, y đã giải thích thêm:
 
“Không hề có cuộc trả thù ‘tắm máu’ nào, đội quân và bộ máy chính quyền Sài Gòn tan rã tại chỗ nên các đô thị của miền Nam hầu như nguyên vẹn, không bị tàn phá. Kết thúc chiến tranh có người thắng kẻ thua nhưng không hề có sự trả thù và phục thù gay gắt.” Và:“ Việt Nam (Cộng Sản) là một dân tộc hiền hậu và vị tha...”

Tôi có một người anh họ là Đại Tá Lê Khắc Duyệt, nguyên giám đốc Công An Trung Nguyên và Cao Nguyên Trung Phần dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Sau năm 1963, ông được thuyên chuyền về Tổng Nha Cảnh Sát, và những ngày cuối cùng ông đặc trách công việc của cơ quan Interpol tại Việt Nam. Trước ngày 30 tháng 4, ông cũng như bao người khác nghe lời đường mật qua thông cáo của Chính Phủ Cộng Hòa Lâm thời miền Nam Việt Nam: “Quân đội bỏ súng về quê!” có xe đến nhà rước lên phi trường, nhưng ông không đi. Sau đó, ông đi trình diện “học tập” đúng ngày như bao nhiêu công chức cao cấp khác của miền Nam.

Trong thời gian ông đang ở trong trại cải tạo, một người bà con đi tập kết từ năm 1954 trở về, tốt bụng đã nói chuyện với gia đình ông Duyệt:
- Những công chức cao cấp miền Nam giữ những chức vụ như anh, trước sau gì bọn chúng cũng giết. Nghe nói chúng sẽ đưa một số sĩ quan và viên chức cao cấp, nhất là giới tình báo ra Bắc. Vậy gia đình nên tìm cách vận động, chạy chọt để anh khỏi phải ra Bắc. Đằng nào cũng chết, nhưng nếu anh ở lại trong Nam, chị và các cháu còn có thể đem xác về chôn cất hương khói, còn như ra Bắc, thì chết xong, bọn nó vùi dập đâu đó, không biết đâu mà tìm.

Gia đình ông Duyệt nghe lời chỉ dẫn của người bà con, đã tìm đủ mọi cách “trải vàng” cho ông khỏi có tên trong danh sách những người được chở ra Bắc bằng máy bay C.130 vào một đêm cuối năm 1976. Nhưng ba tháng sau, ở trại Long Thành, ông bị một cơn cảm nhẹ, trại có nhã ý chích cho ông một mũi thuốc. Sau mũi thuốc này, ông bất tỉnh, không thở được, trại “khoan hồng” chuyển cho ông về bệnh viện Hồng Bàng, và ông qua đời một hôm sau đó. Gia đình đời đời nhớ ơn ông “cách mạng” này, đúng như lời chỉ dẫn thân nhân “có xác” của ông để mang về chôn cất. Thật ra mấy ai hiểu biết gì về Cộng Sản, ngay cả những người ở trong ngành tình báo, phản gián!

Những viên chức tình báo cao cấp sau đây đưa ra Bắc đã bị Việt Cộng giết trong tù:

1.Chuẩn Tướng Bùi Văn Nhu, phó tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, người thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình làm tư lệnh.

2.Đại Tá Dương Quang Tiếp, thuộc BTL Cảnh Sát Quốc Gia, phụ tá An Ninh Tình Báo Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên và 2 Bên.

3.Đại Tá Nguyễn Xuân Học, trưởng Khối Phản Tình Báo đặc trách An Ninh Tình Báo - Phản Gián Nha An Ninh Quân Đội.

4.Đốc Sự Nguyễn Phát Lộc, giám đốc Nha Nghiên Cứu, người thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình làm đặc ủy trưởng Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

5.Ông Nguyễn Kim Thúy, giám đốc Nha Nghiên Cứu Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

Những viên chức tình báo cao cấp này khi đưa ra Bắc, đã bị đưa đi nhiều trại tù khác nhau, nhưng cái chết của họ giống nhau: được gọi đi “làm việc,” khai báo tội lỗi, và sau đó được trại “bồi dưỡng” một tô phở, ăn xong tô phở về đến trại, bị hộc máu chết ngay trong đêm đó.

Cộng Sản ở đâu cũng vậy, chữa bệnh thì không giỏi, nhưng đầu độc là “nghề chuyên môn của chàng.”

Ở trong Nam, Việt Cộng “không đánh người chạy đi, nhưng giết người chạy lại!” Họ xử bắn những người lính đã buông súng đầu hàng, xử tử ngay cả những viên chức Xã, Ấp, trung đội trưởng Nghĩa Quân, trong đó Hậu Nghĩa (Nam) và Quảng Ngãi (Trung) là hai tỉnh chịu sự trả thù tàn khốc nhất. Ở Quảng Ngãi, Thiếu Tá Hai, một tiểu đoàn trưởng địa phương Quân, bị treo ngược lên ở chợ Tịnh Châu, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, và mọi người dân đi qua đều bị Việt Công bắt cầm dao đâm vào người ông cho đến khi chết, chết rồi còn bị đâm tiếp. Nhiều nhân viên đảng phái, như Quốc Dân Đảng được gọi riêng đi “học tập” trong đêm cuối cùng tất cả đều bị chôn sống.

Toàn bộ nhân viên cảnh sát xã Trung Lập, Củ Chi, tỉnh Hậu Nghĩa đều bị xử tử. Nhiều viên chức cấp thấp ở tỉnh này như Trung Sĩ CS Tạ Văn Phúc, Cuộc Tân An Hội bị chặt đầu tại Phú Hòa Đông, Trung Sĩ CS Đặc Biệt Củ Chi Nguyễn Văn Chấp, bị tra tấn bằng cách dội nước sôi cho đến chết.

Ở Kiến Hòa, Đại Úy Nguyễn Xuân Thìn, phó trưởng Ty An Ninh Quân Đội ngày 30 tháng 4 cũng đã bị bắn và thả trôi sông.

Hầu hết những sĩ quan đặc trách tình báo, hay “Trưởng F đặc biệt” đều bị trả thù triệt để. Trung Tá Trương Văn Tỷ, Thiếu Tá Hồ Văn Còn, Thiếu Tá Phan Tấn Ngưu (Tây Ninh) Đại Uy Lữ Kim Ba (Ba Xuyên) chuyên viên Tình Báo Phạm Gia Đại (Tòa Đại Sứ Mỹ)... đều nhận bản án thù hận 17 năm trời ròng rã.

Đây chỉ là những tin tức hạn chế trong trăm nghìn trường hợp “hiền hậu, vị tha” mà những người Cộng Sản Việt Nam đã dành cho “anh em” miền Nam thất trận, còn bao nhiêu tội ác có nhân chứng trong nước, nhưng dưới chế độ này, họ đành câm nín mang theo cho đến khi chết.

Trong một cuộc chiến, khi hai bên coi nhau như kẻ thù, đều muốn tìm hết khả năng và dùng mọi phương tiện để tiêu diệt nhau, nhưng khi đã ngưng tiếng súng, có bên thắng bên thua, trong tinh thần mã thượng, không thể dùng sức mạnh để truy lùng, tiêu diệt những kẻ yếu thế như trường hợp đảng Cộng Sản Việt Nam đã làm. Như vậy, có thể dùng những danh từ hoa mỹ như “nhân ái,” “ hiền hậu,” “ vị tha” để mô tả những hành động ghê tởm này không?

“Không hề có sự trả thù và phục thù gay gắt” thì làm sao trong một trại tù như Ba Sao, Nam Hà, từ 1975 cho đến 1988 lại có 626 người tù từ miền Nam ra, đã chết vì đói, bệnh và làm việc kiệt lực.



Một chế độ không dạy con người thù hận, làm sao có thể có những sự trả thù ghê gớm đến mức như vậy? Một cuộc chiến đã ngưng tiếng súng rồi, sao còn gọi nhau “máu kêu trả máu - đầu kêu trả đầu!”(Tố Hữu)

Những người sống bằng nhân nghĩa lại có “đức tính” mau quên, và những bài học hận thù viết bằng chữ máu, thì chẳng bao giờ thuộc.

(*)Theo lời vị trụ trì thuật lại với cô Phạm Thanh Nghiên, cách đây vài năm có một Phật tử đưa một cựu giám thị trại tù Ba Sao đến chùa. Người giám thị này trao cho sư một danh sách gồm 626 người tù từ miền Nam chết trong trại, ngỏ ý muốn làm một tấm bia đặt trong chùa để 626 vong linh này được hương khói tử tế. Danh sách này sau đó đã bị ông thầy thiêu hủy!


.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 214
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Mon Apr 18, 2016 5:28 pm

 


Tản mạn 30/4: Mưng mủ một vết đau

Hồn Nhiên (Danlambao) - Cứ mỗi khi tháng 4 đến, trong tôi lại ùa về trùng trùng những ký ức. Tôi không có thói quen sống hoài niệm, nhưng có những khoảnh khắc làm cho tôi không thể nào quên.

Ba Mẹ tôi rất đông con, ngày mất nước mẹ tôi còn ôm cái bụng bầu em bé út thứ 10 sắp khai hoa nở nhụy. Thường thì gia đình đông con người ta gọi là Phúc, nhưng phúc đâu không thấy, chỉ thấy tai họa ập xuống đầu gia đình tôi khi cộng quân tràn về chiếm đóng. Ngày đó, với trí óc non trẻ, tôi nghĩ chắc không bao lâu đâu, rồi việt cộng sẽ rút, giống như xem phim những căn cứ địa bị vc chiếm đóng rồi sau đó có một quân đoàn dù hay thiết giáp gì đó sẽ tới giải vây. Nhưng không phải vậy. Tôi thấy trên gương mặt Ba tôi vẻ đăm chiêu thường xuyên xuất hiện. Mẹ tôi thì cáu gắt hơn mọi ngày. Anh chị tôi thì ngơ ngác, duy chỉ có các em tôi là vô tư nô đùa. Còn tôi thì đắm mình trong sách báo, hay nghe ngóng radio (hồi đó tôi mê nghe đài Mẹ Việt Nam lắm).

Cái ngày thảm họa đó cũng đến, Mẹ tôi đưa hết anh chị em tôi về quê lánh nạn theo lệnh di tản ban hành. Chỉ còn tôi, bà chị cả và cô giúp việc ở lại quyết giữ lấy căn nhà. Ngày đó hay có nạn hôi của, và tôi đã chứng kiến nạn hôi của ấy khi có một kho hàng của cơ quan từ thiện bị người ta cạy cửa vào lấy sạch, thủ quản kho hàng này đã di tản từ lâu. Ai nghe đến danh từ “cộng sản” là le lưỡi khiếp đảm. Có một câu chuyện vui vui được kể lại như thế này: Một đoàn bộ đội cs từ rừng về đi ngang qua nhà một người dân. Thình lình đoàn người dừng lại, vừa nhác thấy một người đàn bà trạc tuổi 57, 60 đang ngồi nhai cơm mớm cho con ăn, người bộ đội ra dáng chỉ huy quay hỏi người đàn bà:
- Chị chỉ cho chúng tôi quán nước gần đây, chúng tôi vừa từ bưng về khát nước lắm.
- Vâng, các đồng chí cứ đi thẳng tới cuối đường thì rẽ trái, quán nước ở ngay đầu đường.

Rồi chừng như muốn làm đậm đà thêm câu chuyện, ắt hẳn muốn lấy cảm tình của người chiến thắng chăng, bà huyên thuyên nhanh nhẩu:
- Cám ơn các đồng chí cách mạng. Nhờ có các đồng chí mà người dân thành phố chúng tôi không còn sợ bị cộng sản pháo kích nữa. Cám ơn các đồng chí nhiều lắm(!)

Cả đoàn bộ đội nín khe, mặt mày tái mét, không biết trạng thái này là vì sốt rét rừng hay vì tác động bởi câu nói vô tình của người đàn bà kia. Riêng người bộ đội chỉ huy thì khuôn mặt đanh lại, lạnh lùng bước đi, chả buồn nói một lời cám ơn, hay chí ít một nụ cười.

Rồi thì những “hồ hởi, phấn khởi” gượng tạo ban đầu cũng qua, gia đình tôi bắt đầu phải đối mặt với những trận cuồng phong không thể tránh được. Đầu tiên Ba tôi bị ném vào trại “tập trung cải tạo”, nhưng thực chất là trại nhục hình dành cho quân nhân cán chính VNCH. Suốt một tháng ròng rã cs nhốt Ba tôi ở một nơi bí mật không ai hay biết. Mẹ tôi, người yếu như con sên sau khi sinh nở. Vì lo lắng cho Ba tôi mà Mẹ tôi gầy rộc đi, mắt Mẹ tôi lúc nào cũng mờ lệ. Tuy nhiên, khi có ai tò mò hỏi về Ba tôi, bà giữ im lặng bằng một nụ cười buồn không trả lời.

Thời điểm đó, không ai dám tin ai. Không ai dám nói thật những suy nghĩ của mình về chế độ mới, sợ người ta báo cáo lên phường để dâng công với chế độ. Hàng xóm láng giềng trước kia thân là thế, tối lửa tắt đèn có nhau, thế mà giờ trở nên e dè nhau, quan sát nhau. Ngày đó, các em tôi còn nhỏ dại, con nít chơi đùa với nhau, thằng em trai áp út của tôi lỡ tay ném viên gạch vào cửa sổ làm bằng kính của nhà hàng xóm, thế là họ làm lớn chuyện, đòi thưa em tôi vào tù. Mẹ tôi sợ lắm, vì gia đình có Ba làm cho chế độ cũ thì đã là cái gai trong mắt của chế độ mới rồi, cho nên mất bao nhiêu tiền Mẹ tôi cũng không tiếc, chỉ mong sao họ im lặng và bỏ qua cho. Thế là họ treo giá, một cái giá cắt cổ, Mẹ tôi bấm bụng bồi thường. Con dại cái mang, Mẹ tôi bảo vậy. Hàng xóm được nước càng lấn tới, ăn hiếp anh chị em tôi. Em gái tôi phẫn uất chịu không nổi, xin Mẹ đi học võ. Ban đầu Mẹ tôi ngần ngừ không cho, nhưng em tôi thuyết phục mãi, nào là “con học võ không phải đánh lộn với ai đâu, chỉ là giúp cho cường thân kiện thể thôi”, nào là “con gái phải biết võ, lỡ bị kẻ xấu tấn công thì cũng biết đường tự vệ” v.v… cuối cùng Mẹ tôi bằng lòng. Cũng nhờ có cô em gái biết võ, chúng tôi sống tự tin hơn.

Một ngày kia có người từ chỗ tạm giam Ba tôi trở về, lúc đi ngang nhà tôi, người đó ngó dáo dác xem chừng không có ai mới ném vào nhà tôi một mẩu giấy được xé từ hộp thuốc lá Captain, loại thuốc thường ngày Ba tôi vẫn hay hút. Mẹ tôi nhận ngay ra tuồng chữ của Ba tôi, và bà như ngất đi vì quá đỗi vui mừng. Ba tôi bị nhốt vào một phòng giam mà trước kia Ba tôi thường làm việc, để hỏi cung những người cộng sản nằm vùng chuyên đặt mìn trên xe đò, đặt plastic ở rạp hát làm chết dân hàng loạt. Người giúp chuyển lá thư của Ba tôi về cho Mẹ tôi là một cô gái ăn sương tốt bụng, cô nhìn thấy hoàn cảnh của Ba tôi đáng thương nên bất chấp sự hiểm nguy, nhận đưa thư về để mong Ba tôi được có người thân thăm viếng. Nếu không, vc sẽ nhốt Ba tôi dài hạn mà không cần kết án. (Đã có nhiều người lâm vào trường hợp giống Ba tôi mà đến nay vẫn còn ngồi tù, vẫn chưa có người thân đi thăm nuôi). Sau đó không bao lâu, Ba tôi chính thức đi trại nhục hình với lời hứa hẹn của vc là “chỉ đi 10 ngày rồi sẽ trở về nguyên quán”. Thật là một lời nói láo trơ trẽn nhất mà vc đã dùng để dối gạt người dân miền Nam, đặc biệt là đối với quân nhân cán chính VNCH và thân nhân của họ!

Giai đoạn năm 1978, 1980, phong trào vượt biên nở rộ. Đi đâu cũng nghe thiên hạ xầm xì chuyện vượt biên. Làm sao không vượt biên cho được khi quyền làm người đã bị tước đoạt? Chính sách bao tử trị của vc xem ra khá hiệu nghiệm, Người dân bị khuất phục và trở nên thụ động chỉ vì… Đói! Thật vậy, đói làm cho con người mất đi khả năng đối kháng, trở nên hèn yếu và nhu nhược. VC cố tình triệt hạ miền Nam bằng ba lần đổi tiền, đồng thời “Đánh tư sản mại bản”, dùng chữ cho hay thế thôi chứ thật ra là ăn cướp. Cướp sạch, cướp tới tận cùng của người dân miền Nam. Nhiều gia đình làm ăn tích lũy từ thời cha ông của họ, trở thành trắng tay qua một ngày “đánh tư sản mại bản”, có người treo cổ tự tử, có người bị sốc nặng trở thành điên loạn. Và ý tưởng vượt biên bắt đầu nhén nhúm trong lòng họ. Thế rồi những chuyến tàu vượt biển đầu tiên ra khơi. Có người đến được bến bờ tự do đã gởi thư về, càng thôi thúc những những chuyến tàu sau tiếp nối. Có người còn nói: “thà chết ngoài biển làm mồi cho cá mập còn hơn làm nô lệ cho chế độ khốn nạn này”. Và thế là họ đi. Già có, trẻ có, gái có, trai có, họ đi mà không nhận thức được nguy hiểm đang chờ họ phía trước. Họ phó thác cho số mạng, đi cái đã, rồi ra sao thì ra.

Tôi có một cô bạn, nhỏ hơn tôi vài tuổi. Khuôn mặt đẹp thánh thiện, và tâm hồn cô cũng thánh thiện. Cô đang học lớp 9 thì bỏ học ngang xương. Tôi hỏi: “sao em lại nghỉ học?”. Cô buồn buồn trả lời: “Học làm gì chị ơi. Học cho lắm lên ĐH cũng bị đánh rớt à”. Tôi biết cô nói đúng, “học tài thi lý lịch” là câu châm ngôn mà bọn trẻ thời đó thường hay nói. Nhưng tôi cũng cố tìm lời an ủi: "Thì kệ đi, mình học để tích lũy kiến thức cho mình, chứ bỏ học là mình chịu dốt sao?”. Cô nháy nháy mắt: “mà chắc gì em ở lại VN đâu mà học chị?”. Tôi chột dạ: “Cái gì? Em tính đi đâu mà không ở VN?”. Cô đưa ngón tay trỏ lên môi: “suỵt!” Tôi hiểu ý, không nói nữa.

Một tháng sau, tôi nhận được tin báo: “H.T đi vượt biên vì hết nước uống và lương thực, nên bị ăn thịt chết rồi!”. Bàng hoàng, sửng sốt, tôi không tin vào tai mình. Cách một tháng trước tôi còn nói chuyện với cô ấy mà. Không, tôi không tin có chuyện đó. Người dân xứ tôi hay đồn thổi lắm. Nên chuyện này chắc chắn chỉ là lời đồn thôi. Nhưng không, khi tôi tìm tới nhà cô bạn tôi để xác minh, thì trời ơi, ngay giữa nhà là một chiếc bàn thờ với tấm di ảnh của người bạn nhỏ. Tôi òa khóc nức nở. Lòng tôi tê điếng. Trở về nhà với tâm trạng nặng trĩu như mang một tảng đá trong lòng, tôi nhủ thầm: “Mình sẽ viết lại những gì mình chứng kiến, hầu để cho lớp trẻ sau này hiểu rõ hơn cái gọi là “giải phóng” của csVN. Tất cả người dân, Bắc cũng như Nam, đều bị vc dối gạt hết rồi”.

Và đến bây giờ, sau hơn 40 năm, dân mình vẫn còn bị gạt…

Tháng tư đen thứ 41

4/15/2016

Hồn Nhiên
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 239
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Fri Apr 22, 2016 12:36 am



Kỷ niệm Tháng Tư Đen, mời quý độc giả đọc lại một truyện ngắn thật cảm động của nhà văn Tiểu Tử về những ngày đau buồn cuối tháng Tư năm 1975.

CHUYỆN DI TẢN 1975

Tiểu Tử

Tôi không có đi di tản hồi những ngày cuối tháng tư 1975 nên không biết cảnh di tản ở Sài gòn ra làm sao. Mãi đến sau nầy, khi đã định cư ở Pháp, nhờ xem truyền hình mới biết !

Sau đây là vài cảnh đã làm tôi xúc động, xin kể lại để cùng chia xẻ…

Chuyện 1: Cuộc di tản kinh hoàng

Ở bến tàu, thiên hạ bồng bế nhau, tay xách nách mang, kêu réo nhau ầm ĩ, hớt hơ hớt hải chạy về phía chiếc cầu thang dẫn lên bong một chiếc tàu cao nghều nghệu. Cầu thang đầy người, xô đẩy chen lấn nhau, kêu gọi nhau, gây gổ nhau… ồn ào. Trên bong tàu cũng đầy người lố nhố, giành nhau chồm lên be tàu để gọi người nhà còn kẹt dưới bến, miệng la tay quơ ra dấu chỉ trỏ… cũng ồn ào như dòng người trên cầu thang!

Giữa cầu thang, một bà già. Máy quay phim zoom ngay bà nên nhìn thấy rõ: bà mặc quần đen áo túi trắng đầu cột khăn rằn, không mang bao bị gì hết, bà đang bò nặng nhọc lên từng nấc thang. Bà không dáo dác nhìn trước ngó sau hay có cử chi tìm kiếm ai, có nghĩa là bà già đó đi một mình. Phía sau bà thiên hạ dồn lên, bị cản trở nên la ó ! Thấy vậy, một thanh niên tự động lòn lưng dưới người bà già cõng bà lên, xóc vài cái cho thăng bằng rồi trèo tiếp.

Chuyện chỉ có vậy, nhưng sao hình ảnh đó cứ đeo theo tôi từ bao nhiêu năm, để tôi cứ phải thắc mắc: bà già đó sợ gì mà phải đi di tản? con cháu bà đâu mà để bà đi một mình ? rồi cuộc đời của bà trong chuỗi ngày còn lại trên xứ định cư ra sao? còn cậu thanh niên đã làm môt cử chỉ đẹp – quá đẹp – bây giờ ở đâu?… Tôi muốn gởi đến người đó lời cám ơn chân thành của tôi, bởi vì anh ta đã cho tôi thấy cái tình người trên quê hương tôi nó vẫn là như vậy đó, cho dù ở trong một hoàn cảnh xô bồ hỗn loạn như những ngày cuối cùng của tháng tư 1975…

Chuyện 2: Quê hương xa rồi


Cũng trên chiếc cầu thang dẫn lên tàu, một người đàn ông tay ôm bao đồ to trước ngực, cõng một bà già tóc bạc phếu lất phất bay theo từng cơn gió sông. Bà già ốm nhom, mặc quần đen áo bà ba màu cốt trầu, tay trái ôm cổ người đàn ông, tay mặt cầm cái nón lá. Bà nép má trái lên vai người đàn ông, mặt quay ra ngoài về phía máy quay phim. Nhờ máy zoom vào bà nên nhìn rõ nét mặt rất bình thản của bà, trái ngược hẳn với sự thất thanh sợ hãi ở chung quanh!

Lên gần đến bong tàu, bỗng bà già vuột tay làm rơi cái nón lá. Bà chồm người ra, hốt hoảng nhìn theo cái nón đang lộn qua chao lại trước khi mất hút về phía dưới. Rồi bà bật khóc thảm thiết…

Bà già đó chắc đã quyết định bỏ hết để ra đi, yên chí ra đi, vì bà mang theo một vật mà bà xem là quí giá nhứt, bởi nó quá gần gũi với cuộc đời của bà: cái nón lá! Đến khi mất nó, có lẽ bà mới cảm nhận được rằng bà thật sự mất tất cả. Cái nón lá đã chứa đựng cả bầu trời quê hương của bà, hỏi sao bà không xót xa đau khổ? Nghĩ như vậy nên tôi thấy thương bà già đó vô cùng. Tôi hy vọng, về sau trên xứ sở tạm dung, bà mua được một cái nón lá để mỗi lần đội lên bà sống lại với vài ba kỷ niệm nào đó, ở một góc trời nào đó của quê hương…

Chuyện 3: Những bàn tay nhân ái

Cũng trên bến tàu nầy. Trong luồng người đi như chạy, một người đàn bà còn trẻ mang hai cái xắc trên vai, tay bồng một đứa nhỏ. Chắc đuối sức nên cô ta quị xuống. Thiên hạ quay đầu nhìn nhưng vẫn hối hả đi qua, còn tránh xa cô ta như tránh một chướng ngại vật nguy hiểm ! Trong sự ồn ào hỗn tạp đó, bỗng nghe tiếng được tiếng mất của người đàn bà vừa khóc la vừa làm cử chỉ cầu cứu. Đứa nhỏ trong tay cô ta ốm nhom, đầu chờ vờ mắt sâu hõm, đang lả người về một bên, tay chân xụi lơ. Người mẹ – chắc là người mẹ, bởi vì chỉ có người mẹ mới ôm đứa con quặt quẹo xấu xí như vậy để cùng đi di tản, và chỉ có người mẹ mới bất chấp cái nhìn bàng quan của thiên hạ mà khóc than thống thiết như vậy – người mẹ đó quýnh quáng ngước nhìn lên luồng người, tiếp tục van lạy cầu khẩn.

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, nhìn thấy. Họ dừng lại, khom xuống hỏi. Rồi họ ngồi thụp xuống, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ, họ nói gì với nhau rồi nói gì với người đàn bà. Thấy cô ta trao đứa bé cho một anh thanh niên. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem. Thằng nhỏ ốm đến nỗi cái xương sống lồi lên một đường dài…

Anh thứ hai đã lấy trong túi ra chai dầu từ lúc nào, bắt đầu thoa dầu rồi cạo gió bằng miếng thẻ bài của quân đội.

Thiên hạ vẫn rần rần hối hả đi qua. Hai thanh niên nhìn về hướng cái cầu thang, có vẻ hốt hoảng. Họ quay qua người đàn bà, nói gì đó rồi đứng lên, bồng đứa nhỏ, vừa chạy về phía cầu thang vừa cạo gió ! Người mẹ cố sức đứng lên, xiêu xiêu muốn quị xuống, vừa khóc vừa đưa tay vẫy về hướng đứa con.

Một anh lính Mỹ chợt đi qua, dừng lại nhìn, rồi như hiểu ra, vội vã chạy lại đỡ người mẹ, bồng xóc lên đi nhanh nhanh theo hai chàng thanh niên, cây súng anh mang chéo trên lưng lắc la lắc lư theo từng nhịp bước….

Viết lại chuyện nầy, mặc dù đã hơn ba mươi năm, nhưng tôi vẫn cầu nguyện cho mẹ con thằng nhỏ được tai qua nạn khỏi, cầu nguyện cho hai anh thanh niên có một cuộc sống an vui tương xứng với nghĩa cử cao đẹp mà hai anh đã làm. Và dĩ nhiên, bây giờ, tôi nhìn mấy anh lính Mỹ với cái nhìn có thiện cảm !

Chuyện 4: Những cuộc chia tay xé lòng

Cũng trên bến tàu. Cầu thang đã được kéo lên. Trên tàu đầy người, ồn ào. Dưới bến vẫn còn đầy người và cũng ồn ào. Ở dưới nói vói lên, ở trên nói vọng xuống, và vì thấy tàu sắp rời bến nên càng quýnh quáng tranh nhau vừa ra dấu vừa la lớn, mạnh ai nấy la nên không nghe được gì rõ rệt hết !

Máy quay phim zoom vào một người đàn ông đứng tuổi đang hướng lên trên ra dấu nói gì đó. Bên cạnh ông là một thằng nhỏ cỡ chín mười tuổi, nép vào chân của ông, mặt mày ngơ ngác. Một lúc sau, người đàn ông chắp tay hướng lên trên xá xá nhiều lần như van lạy người trên tàu, gương mặt sạm nắng của ông ta có vẻ rất thành khẩn. Bỗng trên tàu thòng xuống một sợi thừng cỡ nửa cườm tay, đầu dây đong đưa. Mấy người bên dưới tranh nhau chụp. Người đàn ông nắm được, mỉm cười sung sướng, vội vã cột ngang eo ếch thằng nhỏ. Xong, ông đưa tay ra dấu cho bên trên. Thằng nhỏ được từ từ kéo lên, tòn ten dọc theo hông tàu. Nó không la không khóc, hai tay nắm chặt sợi dây, ráng nghiêng người qua một bên để cúi đầu nhìn xuống. Người đàn ông ngước nhìn theo, đưa tay ra dấu như muốn nói: «Đi, đi ! Đi, đi !». Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất ! Bấy giờ, tôi đoán ông ta là cha của thằng nhỏ đang tòn ten trên kia… Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt!

Không biết thằng nhỏ đó – bây giờ cũng đã trên bốn mươi tuổi — ở đâu? Cha con nó có gặp lại nhau không? Nếu nó còn mạnh giỏi, tôi xin Ơn Trên xui khiến cho nó đọc được mấy dòng nầy…

Nhà văn Tiểu Tử


29 tháng Tư 1975: Một người phụ nữ Việt Nam ngồi trên boong của một con tàu đổ bộ của Mỹ trong cuộc di tản khỏi Sài Gòn. Hình: AP
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 231
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Wed Apr 27, 2016 5:18 pm


 
Tháng Tư và nỗi nhớ...

Nguyên Thạch (Danlambao) - Tháng Tư Đen, tháng của tang thương và uất hận, tháng của khổ đau, của nước mắt dạt dào. Tháng của chia lìa, ly tán, hư hao, bẻ súng gãy gánh trong niềm đau bức tử. Những người tù lương tâm, những người tù thế hệ, Nguyễn Văn Lý, Trần Huỳnh Duy Thức, Bùi Thị Minh Hằng, Trương Văn Sương, Nguyễn Tuấn Nam, Nguyễn Văn Trại, Đỗ Văn Thái...

Những gương hùng bất tử Ngụy Văn Thà, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn… và nhiều hơn nữa, nhiều lắm.

Các anh là những đứa con yêu của Tổ Quốc, của Tự Do và Nhân Bản. Cho dẫu hôm nay các anh còn sống trong sự tàn tạ như một phế nhân hay đã chết trong niềm đau tức tưởi căm hờn thì các anh vẫn luôn là những chàng trai kiêu hùng của nước Việt.

Những đứa em thuộc thế hệ đi sau, nguyện noi bước đàn anh để tiếp tục trên con đường chiến đấu cho một Việt Nam Độc lập Dân Chủ Tự Do Nhân Bản và Hưng Thịnh hầu an ủi cho vong hồn các anh nơi chín suối cũng như ân cần chia sẻ cho những người lính bất hạnh còn lại trong hoang phế nhọc nhằn.

Sau đây là những vần thơ chân thành của một đứa em, mong tặng các anh nhũng người còn sống trong nỗi lo nhọc nhằn thay lời ru cho những chiến sĩ hy sinh cho nền Tự Do Nhân Bản và tri ân cho những gương hùng vị quốc vong thân nhân mùa tháng Tư đau thương oan nghiệt.

Cầu chúc các Anh Chị Em chân cứng đá mềm cũng như nguyện cầu hương hồn hiển linh của các anh phò hộ cho những lớp đàn em luôn vững tin trên con đường đấu tranh cứu quốc khỏi tai ách cộng sản hung tàn toàn trị và lạc hậu.



Bão Tháng Tư

Tháng Tư đen bụi mù giăng khắp nẻo
Cơn giao mùa gió lộng bão tháng Tư
Đời biệt ly vội vã tiếng giã từ
Vạt áo trắng thiên thư em ở lại.

Cơn bão táp cuộn trôi đời con gái
Nhập dòng đời ngang trái lắm nhiễu nhương
Ngày xa nhau đành mất dấu thiên đường
Triệu đau xót... vạn lời thương ái ngại.

Bốn mươi năm, Tự Do xa vắng mãi
Ôi còn đâu những dấu ái ngày xưa
Chất ngất nhớ nhung lời mấy cho vừa
Đường cờ rũ ngập đời mưa oan nghiệt.

Em yêu ơi bao năm dài biền biệt
Có hiểu chăng niềm tha thiết còn đây
Tình nghĩa xưa vẫn thắm đượm đong đầy
Dẫu luống tuổi đường mây vương cánh vạc.

Chiều trông sóng Thái Bình nghe biển hát
Vọng bên kia tan tác nỗi thương đau
Nhớ em yêu gối kỷ niệm nghẹn ngào
Chùng phím nhạc, ngất nỗi đau thế kỷ.

*

Các anh là Quê Hương


- Xin vinh danh các chiến sĩ VNCH đã hy sinh vì miền Nam Tự Do Nhân Bản.

Xin được viết tên anh
Trên hoa lá ngàn xanh
Từng góc đường đất mẹ
Trang sử ghi ngọn ngành.

Các anh là quê hương
Các anh là tình thương
Đứng thẳng lưng tranh đấu
Rực sáng tựa ánh dương.

Khi quê hương tơi tả
Dẫu cho thân gục ngã
Không cúi đầu hàng giặc
Làm gương hùng cao cả.

Tôi viết tên anh
Trên lá thư xanh
Tôi hát tên anh
Vang tiếng ca quân hành.

Các anh là niềm vinh dân tôi
Chí kiêu hùng vươn vai không thôi
Giữ vững Tổ Quốc núi sông biển đồi .

Các anh là niềm tin tương lai
Trọng trách này, anh mang trên vai
Đưa toàn dân qua tăm tối canh dài.

Ngày tự do
Muôn dân vui ca
Việt Nam tôi
Đất tổ quê cha
Lớp con yêu
Giữ yên sơn hà.

*

Các em là Quê Hương


- Vinh danh các chiến sĩ đã đứng lên đấu tranh cho Dân Chủ Nhân Quyền với một Việt Nam không cộng sản.

Nắn nót tên anh, tôi viết trên tranh
Luôn ngắm tên anh, mắt biếc long lanh
Người chiến sĩ, tôi muốn vinh danh
Tự do tranh đấu... giúp cho dân lành.

Ghi khắc tên em như những anh thư
Lớp người hy sinh ngay tuổi đôi mươi
Gương sáng anh minh như đóa sen tươi
Gan dạ đứng lên... đấu tranh cho đời.

Các anh là vầng sáng ánh dương
Các em là tình yêu quê hương
Xin trao trọn lớp người tôi thương
Đây con tim, gởi ai kiên cường.


Chúng ta cùng siết tay đứng lên
Vì Quê Hương, ngại chi đạn tên
Còi Tổ Quốc cất xa vang rền
Gìn giữ non sông ngàn năm vững bền.

Các em là tình tình thương
Các anh là Quê hương.

*

Tôi Viết Tên Anh

Tôi viết tên anh
Trên lá ngàn xanh
Trong lời mẹ gọi
Trong tiếng quân hành

Anh là niềm tin
Đi trong quang vinh
Anh là ngọc quí
Quê hương đượm tình

Các anh là
Những trai hùng đất Việt
Vì Quê Hương
Nào tiếc máu xương
Các anh là hình dáng yêu thương
Dựng Tổ Quốc trên con đường tươi rạng.

Tôi viết tên anh
Trên trang sử xanh
Đáp lời sông núi
Hy sinh thân mình

Anh là trai Việt
Sả thân nào tiếc
Anh là hoa biếc
Rực rỡ hướng dương

Nhịp hùng ca, bước quân hành vững tiến
Vì Tự Do quyết nguyện chung lòng
Các anh là niềm kiêu hãnh non sông
Là ánh đuốc soi rực hồng vạn nẻo

Anh là chí khí
Trên vạn nẻo đường
Rãi khắp quê hương

Các anh là tình thương
Các anh là quê hương...

*

Bao Giờ Trở Lại


Tháng Tư trăng trĩu trên rừng vắng
Giá buốt tôi đi dưới ánh vàng
Trường Sơn mờ hiện hồn dũng sĩ
Nguồn xa nghe Quốc vọng tiếng than.

Tân Rai giặc chiếm trơ đất mẹ
Đau luống chè xanh mất quê hương
Bao giờ nước cũ về Sông Lũy
Cho cánh đồng xanh lúa trổ cờ.

Có lẽ em thương tôi nhiều lắm
Ươm cả vườn mơ ước hẹn chờ
Tôi kẻ tha phương trời biền biệt
Niềm riêng... xin gởi ánh trăng mơ.

Hôm nay đất mẹ nghìn thống khổ
Vai còn trĩu nặng gánh chinh nhân
Dấn thân góp sức đường tranh đấu
Tình riêng em hãy nén đợi chờ.



Nguyên Thạch
danlambaovn.blogspot.com

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 239
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Fri Apr 29, 2016 2:27 pm


30 Tháng Tư, 41 năm sau: Xin được phủ cờ


Thursday, April 28, 2016
Giao Chỉ, San Jose

Mộng ước sau cùng
 
Ðầu Tháng Tư năm nay 2016, cháu Oanh từ Úc Châu gọi cho chúng tôi. Thưa bác, bố con đã yếu rồi. Vẫn còn ở Sacramento, thủ đô California. Không biết sẽ đi lúc nào. Con thì ở nơi xa xôi. Chuẩn bị sẵn sàng, có tin là con bay về. Gia đình bên CA cũng đã chuẩn bị. Bố con ở bên đó không giao thiệp nhiều, nên cũng không quen biết ai. Con muốn khi bố con ra đi sẽ được hưởng chút nghi lễ của quân đội. Tôi hỏi lại rằng con muốn nghi lễ ra sao. Cháu Oanh trả lời rằng bố con là quân nhân nhảy dù, sau qua cảnh sát. Xin mời các chiến hữu tham dự tang lễ. Xin được phủ cờ. Vậy cháu gửi cho bác tất cả các giấy tờ liên quan đến tiểu sử của ba, bác sẽ thu xếp giới thiệu với các quân nhân và cộng đồng tại địa phương. Giữa Tháng Tư, cháu bay từ Úc qua Hoa Kỳ, sau khi thăm ông già ở Sacto, trên đường về đã ghé San Jose để gặp chúng tôi xin lễ phủ cờ cho người cha thân yêu. Ðọc hết hồ sơ quân vụ, những giấy ra trại, ra tù. Những lá thư từ trại tù gửi về cho vợ con. Chúng tôi hết sức xao xuyến bồi hồi, xin kể lại câu chuyện cho các chiến hữu và xin vui lòng giúp cho cháu Oanh một cái lễ phủ cờ.


Cựu Trung Tá Hoàng Tích Hữu Ái.

Thu ngắn chuyện dài

Các bạn chắc vẫn không biết rõ cháu Oanh là ai, bố cô tên tuổi ra sao mà khi sắp ra đi gia đình lại muốn xin làm lễ nghi quân cách dù quân đội đã rã ngũ tan hàng trên 40 năm. Chuyện dài xin kể ngắn lại như sau. Bằng hữu hẳn còn nhớ, mấy năm trước cô tác giả Carina Oanh Hoàng chủ biên cuốn sách Anh ngữ Boat People. Tôi được dịp xem qua và giới thiệu tác phẩm vì quả thực tuyển tập rất có giá trị và trình bày ấn loát tuyệt vời. Cuốn sách này mới lại được in bản Việt Ngữ đã phát hành. Chúng tôi đã gặp Bố của cháu Oanh trong một buổi chiều mấy năm về trước. Ông Hữu Ái mang dòng họ Hoàng Tích đã kể lể về chuyện lính chuyện tù. Tôi bị quyến rũ về cách ông tâm sự cũng như phê phán cuộc đời. Gần như cả buổi, ông nói một mình. Xin trích lại để các bạn cùng thưởng thức.

Một thời oanh liệt

 
Từ Sacramento, Carina Oanh Hoàng đem được thân phụ cô là Phượng Hoàng 74 tuổi tên là Hoàng Tích Hữu Ái xuống núi. Ngày xưa sinh viên sĩ quan họ Hoàng thuộc khóa 5 Trừ Bị Vì Dân, học tại Ðà Lạt. Cùng khóa với Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường. Anh thanh niên Hà Nội dòng họ Hoàng Tích mang cấp bậc trung tá QLVNCH vào những năm 70 làm cảnh sát trưởng Hậu Nghĩa, Bình Long, rồi cuối cùng là Tây Ninh. Các bạn chắc có nghe đến chiến dịch Phượng Hoàng đã được coi là kẻ thù số một của Cộng Sản. Trưởng ty cảnh sát Tây Ninh lại là nơi trực diện cùng địa bàn hoạt động với cục R. Ðây là lần đầu tiên tôi gặp Trung Tá Hoàng. Ông người cao lớn và xem ra tính tình cũng cao ngạo. Trải qua 14 năm tù, nhưng lưng vẫn thẳng. Dù chống gậy đi chậm chạp nhưng tiếng nói mạnh mẽ. Tóc bạc trắng, mặt rất có hồn với đôi mắt tinh anh. Tôi tưởng rằng ông có thể vào vai Thành Cát Tư Hãn trong kịch của Vũ Khắc Khoan. Chúng tôi ngồi nói chuyện binh đoàn, chuyện núi Bà Ðen, chuyện bị Cộng Sản bắt, chuyện tù đày và sau cùng là chuyện con “kên kên.”

Ông kể rằng vào những ngày cuối, cảnh sát Tây Ninh tan hàng. Trung tá quân đội trở về với lính trung đoàn tại địa phương. Tiếp tục chiến đấu. Tìm đường chạy qua Cam bốt nhưng không thoát, khi bị bắt vẫn còn vũ khí. Ông bị giam riêng ở cục R. Chuyện chấp pháp hỏi cung ông vẫn còn nhớ như mới xảy ra hôm qua.

Cán bộ chỉ xuống bàn chân tật nguyền của chính anh ta mà hỏi rằng:
- Chân này ai bắn anh có biết không ?

Trung tá cảnh sát đáp rằng:
- Tôi bắn chứ ai.
- Ngon, muốn làm anh hùng phải không ?
- Không, đó chỉ là bổn phận thôi.
- Anh đi lính Sài Gòn bao lâu?
- Lâu lắm, 20 năm.
- Ðánh bao nhiêu trận, càn bao nhiêu lần?
- Nhiều lắm không nhớ hết.
- Ðược bao nhiêu huy chương?
- Nhiều lắm không nhớ hết. Chiến thương năm sáu lần, anh dũng mười mấy cái.
- Anh giết bao nhiêu chiến sĩ cách mạng?
- Nhiều lắm, không nhớ hết, thanh toán toàn cán bộ.


Phượng Hoàng 74 tuổi Hoàng Tích Hữu Ái.

Phượng Hoàng độc thoại

Rồi chuyện gì đã xảy ra? Còn chuyện gì nữa. Chúng nó đập cho tơi tả. Thương tích đầy người. Một bên tai điếc hoàn toàn. Một bên chỉ còn nghe được 20%. Ðầu óc cũng thương tích. Rồi đem ra bắn.

Phượng Hoàng bắt đầu độc thoại. Ông nói một mình. Cháu Oanh ngồi nghe nhưng có vẻ lo lắng sợ ông bố kể chuyện lang bang. Ông tiếp tục nói: Hôm tôi bị đem ra bắn nhưng không phải một mình. Chừng năm sáu anh em. Chẳng biết bao nhiêu. Bịt mắt từ trong tù. Ðầu óc tôi chưa tỉnh. Có đọc bản án từng người. Rất dài. Bắn được hai người. Chưa đến người thứ ba thì chợt có lệnh ngưng. Tôi là trung tá ác ôn nhất nên sẽ bắn sau cùng. Vì thế nên chưa đến lượt.

Ông nói sao? Nó bắn mình có nghe tiếng súng chứ. Tiếng đạn tác chiến khác. Ðạn này bắn rất gần xuyên ngay vào thịt. Vẫn bịt mắt, chúng dẫn về trại tù. Giam giữ thêm hai năm tại cục R. Bị đánh đập thẩm vấn nhiều lần rồi mới đưa ra Bắc.

Ông muốn biết gia phả họ Hoàng? Ông biết cánh Hoàng Cơ Minh, Hoàng Cơ Lân không? Hoàng Cơ là chi trên,

Hoàng Tích là chi dưới. Tôi ở chi dưới nhưng lại là hàng trên. Tôi gọi Hoàng Cơ Bình là chú. Chú Bình là thân phụ các anh chị em bên Hoàng Cơ... Cánh nhà tôi quen biết với Lý Bá Sơ khá nhiều. Ông tôi, bác tôi đều bị Cộng Sản cắt cổ.

Ông hỏi chuyện ở tù ngoài Bắc ra sao? Tôi không kêu than đói rét. Cả nước đều đói rét cả, có gì mà than. Tôi buồn vì không có tổ quốc. Không còn Saigon. Mc.Cain bị tù, nhưng còn cả nước Mỹ. Ra tù vẫn còn nguyên tổ quốc. Tù miền Nam ra tù không còn tổ quốc.

Muốn nói chuyện thơ văn, cho ông biết tôi cũng làm thơ trong tù. Ca ngợi chế độ đấy nhé. Chúng nó...Ðỉnh cao trí tuệ uyên thâm. Khi vươn cao thì vừa bàn tay với, khi thâm sâu thì ngang mắt cá chân. Khi anh em chôn tù chết, những năm đầu còn gỗ tạp đóng quan tài nhỏ bé. Cũng làm thơ tiễn biệt anh em. Gặp thằng cao thì xác chết co chân.

Ðứa to ngang cho nó nằm nghiêng. Một thằng tù chết, mất bốn thằng khiêng. Chết tù không tiếc, tiếc bốn ngày công.
Ông biết không, Tạ Tỵ nằm cùng buồng nói rằng: Thằng Phượng Hoàng gẫy cánh, mày đừng làm thơ nữa. Thơ mày làm như nứa cứa vào da, tao chịu không nổi.

Ðó thơ văn như vậy. Nghe được không ?

Ông hỏi trong tù có kỷ niệm nào đặc biệt, có đấy chứ. Một lần cán bộ gọi lên nói chuyện. Ðịa phương báo cáo con gái Hoàng Oanh của mày ở thành phố cực kỳ phản động ngoan cố. Trả lời rằng nó còn bé làm gì mà phản động.

Ðược nói rằng con gái bị cô giáo báo cáo phản động. Xin cán bộ cho nó vào tù để tôi dạy dỗ nó. Cán bộ lắc đầu bảo rằng nó vượt biên rồi.

Ðó là ngày vui nhất của tôi.

Ðến khi ra tù sau 13 hay 14 năm gì đó, tôi cũng tìm đường ra đi. Lại bị bắt thêm vài năm tù trong Nam. Rồi bây giờ ngồi ở đây. Tổ quốc ở đâu.


Tướng Nguyễn Khánh trao tặng huy chương năm 1964.
 
Ông muốn hỏi thêm chuyện gì nữa. Ông có biết chúng xử bắn bằng súng gì không. Tôi bị bịt mắt, làm sao biết được nhưng bắn gần lắm. Phát súng đầu tiên cũng là phát súng ân huệ cuối cùng. Nó bắn bằng súng lục. Tôi không bị bắn nhưng sao bây giờ dường như vẫn có viên đạn trong đầu. Bây giờ muốn nói chuyện con Oanh Oanh, nói chuyện thuyền nhân hay sao. Con gái tôi mới hơn 10 tuổi, cha đã đi tù. Ở nhà anh em nó vượt biên. Chuyện tù đày là chuyện của tôi. Chúng nó không cứu được tôi. Chuyện vượt biên là chuyện của các con. Tôi không cứu được chúng nó. Con tôi tôi biết, nếu nó là Cộng Sản tôi sẽ xử nó. Không khiến đến anh em. Nếu nó không phải là cộng sản, anh em tính sao với tôi đây. Tôi là chiến binh tôi thương chiến binh. Tôi là thằng tù. Tôi thương thằng tù. Con tôi nó là thuyền nhân nó thương thuyền nhân. Nó là người đầu tiên về lại Biển Ðông tìm mộ thuyền nhân. Nó không phải là con kên kên tìm về ăn thịt xác chết. Nó là con tôi, tôi phải biết. Nó chỉ đi tìm ngôi mộ của thằng anh nó chôn ở hoang đảo Nam Dương. Ðó là mộ thằng con trai tôi. Trong 40 câu chuyện thuyền nhân, chỉ có một chuyện mà nó không kể ra. Ðó là chuyện đi tìm mộ thằng anh của nó. Con tôi, tôi biết, nó giỏi lắm ông ạ. Cha mẹ sinh ra nhưng không nuôi dưỡng các con. Nó thân lập thân, một mình xoay trở để thành người. Nó không phải là kên kên. Nó là Cộng Sản tôi sẽ xử nó. Không đến lượt các ông. Cha nó ở tù, không nuôi con được một ngày cơm. Nhưng nó chịu khó học hành. Ðậu đủ các bằng cấp. Làm cho hãng Mỹ. Làm cho hãng Úc. Làm cho lãnh sự Mỹ. Chế ra túi cấp cứu để bán cho dân Sài Gòn. Nó Cộng Sản ở chỗ nào. Sao lại bảo nó là kên kên. Rồi hô hào đi bắn kên kên. Ông biết chúng nó bắn tôi bằng súng gì không. Súng lục đấy. Nó tha tôi mà sao vẫn còn viên đạn trong đầu. Chẳng còn tỉnh táo đâu. Trong lúc ở tù tôi nghĩ đã có lúc nằm trong quan tài. Chúng nó khiêng tôi, bốn người không nổi. Tôi phải co chân nằm nghiêng. Cần phải sáu người. Tù chết không tiếc, tiếc sáu ngày công. Ðó là Cộng Sản.

Ông có muốn xem tờ giấy ra trại của tôi không. Tên trung tá Ngụy cực kỳ phản động, cực kỳ ác ôn. Không thể cải tạo được.

Cộng sản độc tài gọi cha là Phượng Hoàng nợ máu nhân dân, cộng hòa tự do gọi con là kên kên ăn thịt thuyền nhân. Tôi thật tiếc cho các ông.

Trung Tá Hoàng Tích Hữu Ái đứng lên từ biệt. Tay cầm gậy, mũ đội trên đầu, lưng thẳng. Ông nói thêm: Thưa niên trưởng, chuyện thuyền nhân để cháu nó lo được rồi. Mình là lính bại trận, bây giờ mấy thằng trốn lính nó nói sao cũng có người tin. Chiến hữu rơi rụng cả rồi. Chiều nay tôi lại đi thêm một đám nữa. Chào Colonel để cháu đưa tôi về.

Xem lại hồ sơ


Ông trung tá nhảy dù với chức vụ trưởng ty cánh sát Tây Ninh bắt tay từ giã tôi để về lại Sacramento. Ðã mấy năm qua không có dịp liên lạc. Vâng chính cái anh chàng cùng học trường Võ bị Liên Quan Ðà Lạt 1954 khóa 5 Phụ. Khóa Tư Phụ chúng tôi ra trường thì đến lượt Hoàng Tích Hữu Ái trình diện.

Khi từ giã tại San Jose anh hứa gửi cho viện bảo tàng những giấy tờ hết sức lạ lùng. Nhưng đến nay tôi mới có dịp đọc được hồ sơ đầy thành tích được Cộng Sản tuyên dương qua giấy tịch thu tài sản vì can tội không chịu đầu hàng. Nguyên văn trong giấy tờ của Cộng Sản ghi rằng tên Ái ngoan cố không chịu đầu hàng. Không chịu trình diện chính quyền địa phương, đã bị bắt tại Gò Dầu. Không giao nộp vũ khí như các sĩ quan khác. Giấy Ra Trại cấp năm 1988 sau 13 năm tù tập trung. Vừa được thả là tìm đường xuống miền Tây vượt biên nên bị bắt. Trên giấy Thả Tù về tội xuất cảnh trái phép. Sự thực chính là tù vượt biên. Trong hồ sơ của Hoàng Tích Hữu Ái có những bức thư từ trại tù Hà Nam Ninh gửi cho mẹ, gửi cho vợ và thư gửi cho các con. Những lá thư mỗi năm một lá của người tù Hoàng Tích Hữu Ái Ðội 7 Khu C Trại Z 30 từ Hàm Tân Thuận Hải gửi đi từ 1 tháng 6 năm 1983. Ðến ngày 1 tháng 5, 1984 mới có thêm một lá. Người tù từ miền núi rừng Bắc Việt viết về chuyện thương nhớ vợ con. Ngày nay chính ông Phượng Hoàng của núi Bà Ðen đó đang nằm chờ những ngày cuối cùng.

Cháu Carina Oanh Hoàng biết rõ bố cháu hiện đã không còn tỉnh táo về tinh thần mà thân xác cũng đã chẳng còn hồi phục được. Người anh hùng Mũ Ðỏ một thời ngang dọc hiện hết sức cô đơn. Con gái của ông biết rõ người cha luôn luôn sống trong tình chiến hữu. Cháu mong rằng vào ngày tang lễ sẽ có các bạn tù, các bạn nhảy dù, các bạn võ bị, các bạn cảnh sát đến với bố cháu.

Ðúng như vậy, đây là một bài báo hay là một lá thư thỉnh nguyện. Các chiến hữu của chúng tôi tại Sacramento, xin vui lòng chờ một tin buồn. Hãy đến với anh bạn Hoàng Tích Hữu Ái chúng tôi một lần. Anh đã không cô đơn trong 20 năm quân ngũ. Ðã không cô đơn trong 13 năm ngục tù tập trung lao cải, Hoàng Tích Hữu Ái sẽ không cô đơn trong chuyến đi về miền vĩnh cửu.



.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 231
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Sat Apr 30, 2016 4:50 pm




GIỖ TẠI GIA - 30 THÁNG TƯ, 2016
 
Tác-giả: Diamond Bích-Ngọc.

Không hiểu sao cứ những ngày cuối tháng Tư hằng năm là người tôi lúc nào cũng cảm thấy bồi-hồi và tâm hồn vô cùng giao-động.  41 năm rồi, thời-gian như “ngựa chạy tên bay” mà sao tim mình vẫn nhói đau, nước mắt cứ chực trào mỗi khi nghĩ đến những vị tướng Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa đã anh dũng hy-sinh trong trách nhiệm và bổn-phận trong ngày miền Nam Việt-Nam thất-thủ; theo đúng câu “Thành Mất Thì Tướng Phải Tuẫn Tiết Theo Thành”.

Trưa hôm nay, trong lúc chuẩn bị nấu nướng thì phu-quân tôi loay-hoay sau khu vườn rất rộng sau nhà để hái trái cây (cam, bưởi, lô-quạt) cùng những đóa hoa tươi thắm để dâng cúng nhân ngày lễ giỗ 30 Tháng Tư, năm 2016.

Rất lạ là bầu Trời đang âm-u bỗng nắng lên chan hòa ngay sau khi chúng tôi đốt nến và thắp lên những nén nhang tỏa hương thơm ngát để nguyện-cầu; chúng tôi tin rằng “các ông” đang về chứng dám cho lòng thành của gia-đình “Chân Quê”; chỉ có chút “cây nhà lá vườn” cùng cơm canh chay vô cùng thanh-đạm cúng giỗ hôm nay!


Hình Giỗ 30 Tháng Tư, 2016 tại gia.

Xin phép trích một vài đoạn trong bài thơ của thi-sĩ Nhật-Hồng, chính là cựu Thiếu-Tá Biệt-Động-Quân: Nguyễn-Thanh-Vân để dâng lên hương hồn các Anh-Linh-Tử-Sĩ trong ngày lễ Giỗ 30 Tháng Tư, năm 2016.

“Hỡi ơi! Vận nước điêu linh, sông buồn núi thảm,
Cơ trời ảm đạm, đất lạnh người sầu!
Mấy cuộc bể dâu, rầu rầu ly loạn,
Bao lằn tên đạn, lớp lớp xung phong…
Vị quốc vong thân, anh hùng tử sĩ!
Nghìn thu vạn kỷ, Tổ Quốc ghi công,
Hồn phách hiển linh, về đây chứng giám…
Nhớ những linh xưa… bao mùa ly loạn,
Gối đất nằm sương… Chiến trường u hiểm!
Đánh giặc ngày đêm, giữ gìn non biển,
Giữ gìn từng tấc đất ông cha,
Chính các vị… những người lính Cộng Hòa…
Đem máu đỏ thắm tô cờ Tổ Quốc!
Chính các vị… xuất thân từ những nhà nông, tay cày tay cuốc…
Hoặc thư sinh vừa rời ghế học đường!
Đấng trượng phu… chí tại bốn phương,
Câu hồ thỉ… tung hê cho thỏa!
Rồi một sáng đầu Xuân, hay một chiều cuối Hạ,
Lòng quyết lòng… lo trả nợ nam nhi,
“Giã từ nhà mang lấy chiến y,
Súng cầm tay… quyết một đi diệt thù!”
Các bà nữa… thân liễu bồ mảnh dẻ,
Nước lầm than… hồ dễ làm ngơ?
Cùng chung sống dưới màu cờ,
Gái trai đều phải chung lo diệt thù!
Ôi ! Chiến trận, mịt mù lữa khói,
Pháo từng bầy, may rủi đường tơ!
“Phải đành xác bọc poncho,
Phải đành vùi dưới nấm mồ hoang không người hương khói”
Nhớ những linh xưa…nhìn đất não trời sầu
Tháng Tư đó… ôi miền Nam sụp đổ…
Chính các vị… dù trong mạt lộ…
Vẫn bền gan… chiến đấu đến tàn hơi…
Nhớ những linh xưa… hồn dũng tướng sáng ngời…
Nào những: Nguyễn Khoa Nam. Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng,
Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ… thà tự sát để giữ tròn khí tiết…

.

Nhưng với tấm lòng thành, người cùng chung đất Tổ,
Tưởng niệm người vị quốc vong thân!
Hãy về đây… theo khói tỏa hương trầm…
Xin thượng hưởng! Hồn ơi xin thượng hưởng!!!”

www.diamondbichngoc.com

***   

Quý-vị có thể nghe bằng Audio về sự tuẫn-tiết đúng ngày 30 tháng Tư năm 1975 của 5 vị Tướng: Nguyễn-Khoa-Nam, Phạm-Văn-Phú, Lê-Văn-Hưng, Trần-Văn-Hai, Lê-Nguyên-Vỹ; qua lời kể của Diamond Bích-Ngọc bằng cách bấm vào “Link” dưới đây:

http://www.diamondbichngoc.com/web/index.php/component/content/article/96-nh-c-ch-d/nh-c-ch-d-thang-4/266-no-i-vo-i-anh-trong-mu-a-tha-ng-tu-buo-n

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 239
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Sun May 01, 2016 6:52 pm


Tháng Tư và tờ nhật ký trên biển


Posted on April 29, 2016   
by Bùi Văn Phú


Trang nhật ký trên biển ghi lại những khoảnh khắc trong hành trình rời bỏ quê hương của tác giả

Mới đây, trong thùng tư liệu tôi tìm lại được một trang giấy với bút tích ghi chép những sự kiện trong những ngày trôi nổi trên biển sau khi rời quê hương vào cuối tháng Tư 1975.

Nhìn những con số, những nét chữ, một vùng ký ức không hề phai nhòa lại hiện về. Tờ giấy pơ-luya trên đó tự tay mình ghi ngày tháng, viết vội vài ba chữ, đôi ba dòng về những gì đã xảy ra trong hành trình trên biển khi rời bỏ quê hương, bắt đầu từ bến Kho 5 Sài Gòn, khi thành phố trong cơn hoảng loạn cho đến khi đến được căn cứ Hải quân Mỹ ở Subic Bay, Philippines.

“29-04 16g30 Depart Thứ 3”


Đây là hàng chữ đầu tiên trên trang giấy mỏng. Sáng nay tôi theo ông anh họ chạy từ nhà anh ở khu Chí Hòa, Ngã ba Ông Tạ vào thành phố bằng xe máy, lòng vòng qua nhiều nơi trước khi đến bến tàu rồi lạc mất nhau. Trong hoảng loạn, chen chúc, tôi theo một phụ nữ với con nhỏ lên tàu mà không biết rồi sẽ đi đâu.

Chiều hôm đó con tàu không máy mầu xanh dương có tên Saigon II được một tàu Đại Hàn kéo ra khỏi bến Kho 5 để đi về miền Tây tránh chiến tranh. Tôi nghe người lớn nói thế.

“30 9g30’ đầu hàng 11g30 CS vô Thứ 4”

Đó là ngày thứ Tư 30/4/1975. Tin đầu hàng tôi nghe được trên boong tàu, từ radio trên tay một người có dáng cao lớn, đầu hói đang ngồi ở phía đầu tầu cùng vài người khác, tất cả ngó về phía trước. Còn tôi ngồi dựa lưng vào thành tàu để có gió làm cho bớt mệt sau cơn ói vì say sóng và vì đêm qua ở dưới hầm tàu rất ngột ngạt. 9 giờ 30 phút đầu hàng. 11 giờ 30 cộng sản vô.

Lúc sau từ radio phát ra những lời ca quen thuộc: “Rừng núi giang tay nối lại biển xa…”

“Chúa Nhật 04 tháng 05, 1975 tới Singapore hồi 7g30 Sg (7g địa phương). Tới 12g được tin chính phủ Singapore thừa nhận CPCMLT [tức Chính phủ Cánh mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam], lo sốt vó không biết làm sao, tính đi về Đài Loan nhưng xa quá, đi Úc, Guam cũng vậy. Số mạng chúng tôi thật như chỉ mành treo chuông.”




Chúa Nhật 04/5 tàu được kéo đến Singapore. Sự kiện và cảm nhận lo âu của tác giả lúc bấy giờ

Như thế con tàu được kéo đi lòng vòng 5 ngày mới đến Singapore. Những ngày qua tôi chỉ thấy chung quanh là biển bao la. Xa xa phía trước là sợi dây thừng to chìm dưới nước được nối vào đuôi con tầu Đại Hàn đang kéo Saigon II theo sau.

Đêm về dưới hầm tàu tôi cố tìm giấc ngủ nhưng không thể được vì cứ nghĩ đến gia đình bỏ lại, nhớ bạn bè, nghĩ về tương lai vô định.

Có sáng trên boong tàu nghe người lớn kể trên đường đi muốn vào Mã Lai nhưng bị hải quân Mã nổ súng đuổi đi mấy lần.

Cơm trên tàu có chú Thành là hoả đầu quân, nấu cơm bằng thùng phuy cho 300 người ăn nên có hột khê, hột sống. Nước ngày được chừng một ly.

Đến được Singapore nhưng quốc gia này không nhận cho người tị nạn tạm trú. Ông chủ tàu Nguyễn Văn Ngọc và chú Tư bàn với thuyền trưởng Đại Hàn về dự định sẽ đi đâu. Tôi cũng như mọi người đều lo không biết tương lai sẽ trôi dạt đến nơi nào, vì tàu không có máy làm sao đi xa được nữa trong khi Singapore có thể trả người tị nạn về lại Việt Nam.

Ngoài khơi hải phận Singapore, chung quanh thấy cũng có nhiều thuyền bè khác với người Việt trên đó.

“9-5 22g chuyển tầu Thứ 6”

Hôm nay là thứ Sáu ngày 9/5. Năm ngày qua tàu neo trong vùng biển Singapore, chúng tôi được cung cấp thức ăn có bánh mì, jăm-bông, cá hộp, patê hộp (Made in China) và cam táo. Những lát bánh mì kẹp hình vuông đầu tiên tôi được ăn trong đời và cảm thấy ngon nhất là lúc này.

Nhìn vào thành phố rực sáng ánh đèn. Những đêm qua trên tàu có lính Singapore lên canh gác. Dù tiếng Anh kiểu “cá nấu chè” tôi cũng cố gắng mở miệng nói ít câu và làm quen được với một anh lính hay đem kèn hạc-mo-ni-ca lên tàu giúp vui. Chúng tôi tặng nhau những đồng tiền Singapore và Việt Nam Cộng hòa để làm kỷ niệm.


Đồng tiền người lính Singapore ký tặng tác giả để làm kỷ niệm

Đêm thứ Sáu 9-5 lính Singapore ra lệnh cho chúng tôi chuyển sang một tàu khác để ra đi.

Qua một du thuyền nhỏ rồi được đưa lên một con tàu trên đó đã đông nghẹt người Việt, chen chúc nhau trên boong không còn một chỗ trống, ngoài lối đi nhỏ quanh tầu. Tôi xuống hầm tìm một chỗ nằm vì lúc này lại cảm thấy say sóng, muốn ói.

Sáng ra, không chịu nổi không khí ngột ngạt dưới hầm, tôi leo lên boong và thấy toàn người là người. Saigon II cũng lớn bằng tàu này, nhưng chỉ có khoảng 300 người. Nay trên tàu Đông Hải có đến 2 nghìn người.

“11-5 ra đi 5g30’ CN”

Sáng sớm Chủ Nhật ngày 11/5 mấy chiến thuyền của hải quân Singapore hướng dẫn đưa Đông Hải ra hải phận quốc tế và chỉ hướng đi Philippines.

Không thể ở dưới hầm, vì quá ngột ngạt và lúc đó lại đang có dịch đỏ mắt. Tôi tìm được một chỗ ngồi lơ lửng trên tấm phên trên một cột sắt cao cách sàn tàu chừng hai mét, dù phải chịu nắng mưa nhưng luôn gió mát vẫn dễ thở hơn.

“16 6 tới vịnh 13g20 17g lên subic bay (Philip)”

Năm ngày sau Đông Hải đến Philippines. Có cuộc bốc thăm cho một số người xuống tàu vào Subic Bay. Tôi theo gia đình ông anh họ xuống một tàu của Hải quân Mỹ và được lên bờ lúc 5 giờ chiều ngày thứ Sáu 16/5/1975. Nghe nói con tàu Đông Hải sau đó tiếp tục hải trình đi Guam.


Tác giả, bên phải, cùng với gia đình người anh họ trên đảo Grande Island ở Subic Bay, Philippines tháng 5/1975

Đặt chân lên đất liền người tôi nghiêng ngả bước đi vì say đất. Tối hôm đó, nơi vòi nước công cộng trên đảo Grande Island tôi đã tắm gội thật lâu cho sạch muối biển trên người và gột rửa đi những mệt nhọc sau 17 ngày lênh đênh trên biển.

Giữa thập niên 1980 tôi trở lại Đông nam Á làm việc, trong một chuyến công tác ở trại tị nạn Bataan, Philippines tôi đã ghé về thăm Subic Bay.

Lúc công tác ở trại Galang, Indonesia tôi cũng đã trở lại Singapore và có dịp gặp lại anh lính mà tôi quen trên tàu Saigon II. Đến nay chúng tôi vẫn còn liên lạc với nhau.

(ảnh trong bài của tác giả)

2016 Buivanphu

Tháng Tư và tờ nhật ký trên biển * Chiều hôm đó con tàu không máy mầu xanh dương có tên Saigon II được một tàu Đại Hàn kéo ra khỏi bến Kho 5 để đi về miền Tây tránh chiến tranh. Tôi nghe người lớn nói thế.


https://buivanphu.wordpress.com/2016/04/29/thang-tu-va-to-nhat-ky-tren-bien/
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư   Today at 9:03 am

Về Đầu Trang Go down
 
Tuyển Tập: Buồn Vui Tháng Tư
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến