Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
tien HUNG thuy cong viet cuoc nghe nhung sinh rang nguoi PHAT thanh phung Ngày ngoc quan mien thang nguyen huyen trai nghia lang pham Thầy
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
PVChuong
Admin


Posts : 239
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc   Tue Apr 30, 2013 3:08 am


Người Lính VNCH qua những tình khúc bất tử của Một Thời Chinh Chiến

"Mũ Đen" Hoàng Nhật Thơ



Cuộc chiến quân sự trên quê hương Việt Nam đã trôi xa 35 năm trên giòng sông dĩ vãng, nhưng dư âm từ một "Tháng Tư Đen" tang thương vẫn còn vang vọng mỗi ngày trong lòng của chúng ta, nhất là đối với những người đã một thời khoác áo kaki... hình ảnh hào hùng cùng với sự hy sinh cao cả và lý tưởng chiến đấu chính nghĩa "Bảo Quốc-An Dân" của Người Lính VNCH vĩnh viễn trường tồn với thời gian, sống mãi trong lòng dân tộc, muôn đời rạng ngời trong dòng sử Việt. 35 năm, một chuỗi thời gian quá đủ dài để cho người dân miền Bắc cũng như những thế hệ sinh ra hoặc trưởng thành sau ngày 30/04/1975, hiểu rõ chính những Người Lính VNCH mới thật sự là những người yêu nước, thương dân... những người dám chết cho quê hương, dân tộc. Bọn CSVN cũng biết rõ điều này, nhưng với bản chất gian manh cố hữu, lũ quỷ đỏ độc ác, gian tà dùng bạo lực sắt máu từ ngày "giải phóng" cướp được Miền Nam để huênh hoang, láo phét và sửa đổi lịch sử... chúng đê hèn, trơ trẻn, dối trá bưng bít, che đậy sự thật bằng gông cùm, xiềng xích.

Những bài văn, vần thơ, dòng nhạc là nguồn từ ngữ trong niềm cảm xúc chân thành xuất phát từ tận đáy con tim, sâu thẳm trong khối óc của những tác giả trân quý đặt Người Lính VNCH vào một vị trí trang trọng nhất trên trang sử Việt trong kho tàng văn học lưu lại cho ngàn đời sau. Cuộc chiến quân sự đã chấm dứt nhưng cuộc chiến Quốc-Cộng vẫn còn tiếp diễn cho đến khi nào lũ cộng sản bạo tàn, khát máu bị khai tử vĩnh viễn trên đất nước Việt Nam; Hai chữ "Tự Do" của Miền Nam Việt Nam trong thời chiến đã được Người Lính VNCH viết bằng máu, thì hai chữ "Tự Do" cho quê hương trong tương lai cũng phải được viết bằng máu.

Người Lính xa quê hương xin được gởi đến quý vị một thời khoác chiến y đang mòn gót giày lưu vong trên đất khách hoặc đang ngậm đắng nuốt cay trên quê hương bị tạm chiếm cũng như tất cả người dân Việt trong và ngoài nước một bài viết mang tên:

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa qua những tình khúc bất tử của Một Thời Chinh Chiến.


"Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này... Bây giờ anh ở đâu, bây giờ anh ở đâu ? Còn trên đời này đang xông pha đèo cao dốc thẳm hay đã về bên kia phương trời miên viễn chiêm bao... Trên đầu anh cái nón sắt ngày nào ấp ủ, mộng mơ của anh... mộng mơ của một con người..."

Ôi nó khác chi mây trời hiền hòa, khác chi bốn mùa êm trôi, có tiếng cười thủy tinh của vài đứa trẻ và hơi ấm vòng tay ôm của một người vợ hiền, phải thế không anh?

Trong cái nón sắt của anh... mặt trời vẫn còn đó ban ngày và ban đêm mặt trăng hoặc muôn muôn triệu triệu vì sao vẫn còn đó, tất cả vẫn còn đó... vẫn còn đó. Nhưng anh, bây giờ anh ở đâu... con ểnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm, tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ. Dạo tháng ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa, nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.

Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này...
Anh là ai ? Anh là ai ? Anh là Ai ?"

Cái Nón Sắt
https://www.youtube.com/watch?v=tTksah9mv7E

Anh là Người Lính VNCH, những người sống và chết cho quê hương, dân tộc. Trước khi bước vào cuộc đời quân ngũ để gìn giữ, bảo vệ quê cha, đất tổ... Anh là những người thanh niên lớn lên trên dãy giang san hoa gấm thân yêu hình chữ "S" mang tên Việt Nam, một đất nước nhỏ bé hiền hòa đầy tình tự dân tộc được dựng xây bằng bốn ngàn năm văn hiến bởi xương máu của các bậc tiền nhân. Ngày 19/08/1945, Hồ Chí Minh, một tên nô bộc của khối Cộng sản Quốc Tế đã cướp chính quyền ở miền Bắc và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 02/09/1945, áp đặt ách cai trị độc tài, sắt máu, bạo tàn của chủ nghĩa cộng sản vô thần ; Với dã tâm, mưu đồ nhuộm đỏ cả đất nước và bành trướng chủ nghĩa cộng sản nơi vùng Đông Nam Á theo lệnh của quan thầy Nga Sô và Trung Cộng, nên ngay sau khi đất nước bị chia đôi bởi Hiệp Định Geneve ngày 20/07/1954, Hồ Chí Minh đã cài lại miền Nam một số cán bộ nồng cốt để thực hiện cuồng vọng nhuộm đỏ nửa phần còn lại của đất nước. Kể từ biến cố lịch sử này, cây cầu Hiền Lương trên dòng sông Bến Hải trơ vắng không bóng dáng người qua lại, ở hai bên đầu cầu là hai thế giới hoàn toàn tương phản khác biệt nhau ... phân nửa đất nước bên phía Bắc cầu Hiền Lương bị ngập chìm trong biển máu và nước mắt của người dân bởi sự cai trị khát máu, độc tài của Hồ Chí Minh và đảng CSVN ; Phân nửa đất nước từ phía Nam cầu Hiền Lương dài xuống tận đến mũi Cà Mau được dựng xây trên nền tảng "Nhân Bản-Tự Do - Dân Chủ" qua hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Tưởng đâu người dân của Miền Nam Việt Nam được sống trong cảnh thanh bình, nào ngờ tham vọng điên cuồng bệnh hoạn khát máu của tên "thiên cổ tội nhân" Hồ Chí Minh đã gây nên một cuộc chiến tương tàn, thảm khốc, máu đổ, thây phơi trên mảnh đất miền Nam thân yêu, khói lửa tang tóc phủ trùm quê hương. Với chiêu bài gian trá "Chống Mỹ cứu Nước" và để lừa bịp thế giới, che mắt người dân về cuộc chiến xâm lăng nhuộm đỏ miền Nam, Hồ Chí Minh đã nặn ra thêm cái quái thai "Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam" ngày 20/12/1960.

Giấc ngủ an lành của người dân miền Nam bị đánh thức bởi đạn thù, pháo giặc... biết bao nhiêu dân lành, trẻ thơ vô tội đã ngủ vùi tan xác trong vũng máu bởi đạn pháo "giải phóng"; Sự sinh hoạt nhộn nhịp an vui của người dân hậu phương nơi phố chợ trở thành hỗn loạn, kinh hoàng ... xác người, thịt xương máu đào vương vãi trong buổi cơm, trên thúng rau, hàng thịt, gánh xôi bởi những quả đạn pháo, hỏa tiển mang nhãn hiệu của khối Cộng sản Quốc Tế được sử dụng bởi những người đi "giải phóng miền Nam" ; Vết phấn trắng, chiếc áo trắng, sách vở chốn học đường nhuộm một màu máu đỏ của những em bé học sinh ngây thơ, vô tội bởi đạn pháo của những kẻ sát nhân mạo danh đi "chống Mỹ cứu Nước"...!

Trước khi đi vào bước quân hành của những người trưởng thành trong bộ quân phục QLVNCH qua những tình khúc một thời chinh chiến, những người sống trong đường bay của đạn thù, pháo giặc... hít thở khói thuốc súng sa trường, lấy máu hồng viết hai chữ "Tự Do" và đem sinh mạng bảo vệ hai chữ "Tự Do" đó cho Miền Nam Việt Nam suốt 20 năm. Người viết xin tóm tắt ngắn gọn về sự hình thành QLVNCH ... Năm 1949, Quốc Trưởng Bảo Đại thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam để đối đầu với lực lượng Việt Minh, cái áo khoác của CSVN ; Ngày 26/10/1955, Tổng Thống Ngô Đình Diệm khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Hòa và với tư cách là người lãnh đạo Quốc Gia kiêm Tổng Tư Lệnh Tối Cao đã cải danh Quân Đội Quốc Gia Việt Nam thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, danh xưng thân thương, hào hùng này được trân quý giữ cho đến ngày hôm nay và mãi mãi về sau.
Những dòng chữ "tâm tư" trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết xin được :
- "Vinh Danh" những Người Lính VNCH đã đem cuộc đời bảo vệ quê hương, dân tộc.
- "Tưởng Niệm" những anh hùng QLVNCH "Vị Quốc Vong Thân", những người nằm xuống trong cuộc chiến, những người tuẩn tiết vì quốc nạn "30/04/1975" và những người gục ngã trong lao tù cộng sản sau ngày "gãy súng".
- "Tri Ân" tất cả anh em Thương Phế Binh VNCH đã đem một phần thân thể của mình ghép thành hai chữ "TỰ DO" cho quê hương và những người đã đem sinh mạng, máu đào, mồ hôi của mình bảo vệ, gìn giữ hai chữ "TỰ DO" đó.

"Xếp áo thư sinh, tôi đã lên đường vì đã trọn thương, lênh đênh tám hướng bạc màu vai sương, tóc nhuốm bụi đường, cuối nẻo phong mờ nhủ riêng ai đó tha thiết đợi chờ ngày đêm, tôi sẽ về dệt mơ ước ... em ơi khi non nước đang còn mịt mờ bên phương nớ, chuyện đó đừng mơ ... Anh bỏ trường xưa, bỏ áo thư sinh theo tiếng gọi lên đường, anh đi vì đất nước khổ đau, anh đi .. anh quên thân mình. Em vì anh tóc bới chẳng lược cài, thôi điểm trang má phấn chẳng cần gì... xa phồn hoa với những chiều dập dìu, cho anh vững lòng anh đi...". Những người trai mang giòng máu hào kiệt đã xếp lại chiếc áo thư sinh, vui bước lên đường theo tiếng gọi non sông ... từ giã học đường... từ biệt cha mẹ già... gởi lại sau lưng những gì thân yêu nhất... gởi lại đóa hoa tình yêu vừa chớm nở vương tà áo trắng bên hàng Phượng Vỹ đỏ thắm nơi sân trường... "Đầu Xuân mình yêu nhau, cuối Hè mình giã từ... mùa Thu xuôi quân về biên khu cho tới Đông tàn chỉ nhận một lần thư, mong sao em anh hiểu đời lính dẫu phong trần, nhưng yêu như yêu nhân tình và đậm đà như chúng mình, những đêm hẹn hò giận hờn rồi yêu nhau hơn...".

Chiều Mưa Biên Giới
https://www.youtube.com/watch?v=aaI81di4FEw

Gió núi biên thùy... rừng sâu nước đọng... trùng khơi lộng gió... không gian bao la... trận chiến nào không có sự hy sinh, không giữ lại một phần thân thể của những người trai hùng... sóng nước nào không loang đỏ giòng máu của những người yêu "Tổ Quốc Đại Dương" ... vùng mây trời nào không vương giọt máu đào của những người nghiêng cánh sắt "Tổ Quốc Không Gian"... địa danh nào thiếu dấu chân anh... "Ôi Đăm Be ... Đức Cơ ... Bình Giả... Cà Tum... trưa Chu Prong gió mù... đêm Cồn Tiên thức sâu...". Cuộc đời của Người Lính là khói lửa sa trường, là nắng cháy bước quân hành, là gió mưa giông bão tơi tả tấm poncho phủ che đời lính, là sương mù giăng kín lối, là những đêm dài nghe tiếng côn trùng rả rích giữa không gian tĩnh mịch lúc đóng quân nơi ven rừng im lắng rợn người ... "Xuyên lá cành trăng lên lều vải, lòng đất ấm thương tình đôi mươi, thương những người mạch sống đơn côi, đang tìm một cuộc đời cho lòng vơi nét phong sương...". Làm sao nói lên được hết sự hy sinh của Người Lính đối với tổ quốc... làm sao diễn đạt được trọn vẹn tâm tư của những người "Vì ngàn yêu thương, anh xếp bút mực xanh băng mình vào sương gió sống trọn kiếp trai hùng...". Trên những nẻo đường đất nước mà Người Lính đã đi qua... hình ảnh quê hương bị loang lỗ, hình ảnh thê lương thống khổ của người dân bởi thảm họa cộng sản đã làm xót xa Người Lính... tiếng chuông đón mừng Giáng Sinh "bình an dưới thế cho người thiện tâm" ngân nga vang vọng về giao thông hào bên hàng rào kẽm gai, Người Lính đưa ánh mắt buồn xa vắng ngước nhìn trời cao... "Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này, nhiều sóng gió trôi giạt lâu dài, từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn. Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền, vì đất nước đang còn ưu phiền, còn tiếng khóc đi vào đêm trường triền miên...", những lúc dừng quân nơi phố nhỏ, sau giờ phút nói cười rộn rã, chếch choáng mềm môi nâng ly "Huynh Đệ Chi Binh" trong mịt mờ khói thuốc... Người Lính trở về với sự cô đơn tràn ngập khoảng không gian trống vắng trong căn lều vải nhỏ bé ... "Ở phương này vui kiếp sống chinh nhân nhưng không quên dệt mơ ước, ước ngày nao quê hương tàn chinh chiến cho tơ duyên đượm thắm màu, và phương đó em ơi có gì vui xin biên thư về cho anh, nhớ thương vơi đầy... đêm nay trên đồn vắng, thương em thương nhiều lắm... em ơi biết cho chăng... tỉnh lẻ đêm buồn..." ... sau tình yêu quê hương, dân tộc, tình bạn bè, đồng đội thì cánh thư hồng hậu phương là niềm vui khỏa lấp phần nào nỗi cô đơn của người lính trong những lúc trầm ngâm suy tư nơi một góc vắng nào đó của tâm hồn... "Chinh nhân ơi, khi anh trở về ... Chinh nhân ơi, khi anh trở về, người yêu ra mừng đón, người yêu anh bé nhỏ sẽ yêu anh trọn đời...".

Ngày nào khói lửa chiến chinh còn lan tràn trên quê hương, thì hai chữ "Trách Nhiệm" vẫn còn trĩu nặng trên vai những người trai hùng ... ngày đêm họ đi vào chốn hiểm nguy để tìm nguồn vui cho đời, đôi chân cứng đá mềm vẫn còn in dấu khắp muôn nơi ... "Đường dài miệt mài tôi đi, gió sương xa nhà đêm xuống ngủ lưng đèo, anh ơi có về đô thị... nhớ tìm lại thăm phố nhỏ nhiều mưa bay, cho tôi nhắn gởi đôi lời ... nhắn thăm gác nghèo với bạn bè thân thiết, thăm đường lá đổ với hiệu cà phê quen có người đẹp lặng buồn ...". Từng đóa hoa Mai vàng rũ cánh rụng rơi vào dĩ vãng ... từng cánh Phượng hồng tàn phai theo tiếng Ve sầu trong nắng Hạ ... từng chiếc lá mùa Thu úa sầu lửng lơ dưới nắng vàng hiu hắt rồi theo cơn gió bay xa cuối trời ... từng mùa Đông giá rét chầm chậm trôi qua ... "Từ ngày xa nhau, chinh chiến đưa anh về đâu ... vai súng vượt biên, mưa nắng Khe Sanh rừng sâu. Người thân ai cũng nhắc tên anh trong thương yêu, biết giờ anh chốn nao ..." ... Kiếp chinh nhân phiêu bạt theo khói lửa chiến tranh đâu có nơi chốn nào cố định ... vừa giẫm tàn những chiếc lá mùa Thu nơi rừng già U Minh, đã hứng chịu cơn giá rét mùa Đông nơi vùng gió núi biên thùy ... "Tôi ở miền xa, trời quen đất lạ ... nhiều Đông lắm Hạ nối tiếp đi qua, thiếu bóng đàn bà, đời không dám tới ... đành viết cho tôi nhạc tình sao lắm lời. Đơn vị thường khi nằm trên đất giặc, thèm trong hãi hùng tiếng hát môi em, tiếng hát ngọt mềm, người nâng lính khổ viết bởi câu ca vì tiền hay thiết tha ...", những giọt mồ hôi tuôn chảy ngày đêm đẫm ướt chiến y trong cái giá buốt trên bước quân hành đã cuốn trôi đi mùa Đông đáng ghét ... "Đêm nay núi rừng gió nhẹ sang Xuân, thoáng mùi Mai nở đâu đây, ru hồn lạc loài chơi vơi. Khi xưa những ngày binh lửa chưa sang, bếp hồng quây quần bên nhau nghe mẹ kể chuyện đời xưa ..." ; Người nhớ thương mẹ già nắng mưa còng lưng bên liếp rau, vườn cà ... Kẻ chạnh lòng nghĩ đến vợ hiền tần tảo sớm hôm nuôi con thơ dại ... "Ngày đó anh còn nhớ buổi đăng trình em bồng con đứng nhìn ... ngoài kia trống giục quân reo, bao lớp trai anh hùng đã tìm ra chiến trường. Còn nhớ con mình ngày đó tháng chưa tròn, anh đặt tên chúng mình, giờ con biết đọc hay chưa hay nhắc tên ba hoài ... để em nhớ thương thêm ...". Biết rằng đời lính nặng nợ núi sông, nặng tình đồng đội nên ít khi về thăm nhà ... những người yêu, những người vợ lính đã trân quý xếp mảnh tình riêng vào một góc thầm kín trong tâm hồn ... những ngày phép ngắn ngủi là khoảng thời gian quý giá để trao cho nhau những nhớ thương trong tháng ngày xa cách, trao cho nhau những gì tha thiết nhất trên đời, những gì không nói lên bằng lời ... "Cửa tâm tư là mắt, nên khi đối mặt chuyện buồn dương gian lẫn mất, đưa ta đi về nguyên thủy loài người, mùa yêu khi muốn ngỏ, vụng về ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay .... Gặp anh trong phút này là mừng trong phút này, khi chiến tranh còn gây thêm máu lửa, thì mộng mơ xin trả hết cho đời, quê hương này còn mãi mãi nhờ anh ... Khi đôi chân vẫn chưa mòn trên núi cao, khi đêm đêm súng căm hờn vẫn đổi trao ... anh vẫn đi đi giết thù, anh vẫn mong tìm ngày vui cho chúng mình...".

Một Mai Giã Từ Vũ Khí
https://www.youtube.com/watch?v=68xdn4GS77s

Đôi trái tim cùng hòa nhịp trong cung đàn tình yêu nồng thắm của những ngày vui thoáng vội qua mau, bốn mắt trao nhau thay cho những lời chưa thoát khỏi bờ môi... "Đây gói hành trang xếp lại cho tròn để anh đi nhé, xin chớ u buồn vì trong những ngày dài anh vắng bên em... Hôm nay tay cầm tay mình chưa nói chi nhiều trong lúc tạm xa, rồi đêm khuya vắng em trở giấc mơ màng, là khi em thấy nhiều ước mơ... Em ơi anh đi vì nước non mình đợi chờ, muôn quân đang reo lửa khói tung ngập màu cờ, thân trai ra đi nợ nước đôi vai gánh nặng, buồn chi cách xa vì ngày vui sẽ không xa ... Hôm nay anh đi vì muốn duyên mình đẹp màu, bao năm chia ly là mấy trăm vạn ngày sầu, vui lên đi em rượu tiễn sao không uống cạn, để anh bước đi cho phỉ chí mộng làm trai ...". Bỏ lại thành phố sau lưng ... ánh đèn rực rỡ nơi chốn phồn hoa, đô thị xa dần và mờ khuất ... Người Lính âm thầm bước đi trong màn đêm để canh giữ quê hương, cho người dân được tròn giấc ngủ ... "Nặng vai balô khi chuyển quân qua áo sương lạnh đầy hơn một lần, gian nan giữa giờ phố phường ngủ trọn mơ đêm dương gian, mình đi khi nước đau chẳng thở than ... Từ KBC giá lạnh rừng sâu, anh gởi lời thăm về em yêu dấu, qua bao ngày chúng mình xa nhau... chắc em để phấn son nhạt màu và buồn trong cả giấc chiêm bao...", đối với kẻ chinh nhân thì tình nào hơn tình non nước ... hạnh phúc nào hơn hạnh phúc của người dân ... Em hãy điểm phấn tô son lại, mỉm với nhân gian một nụ cười và "Xin hiểu tình yêu trong thời chiến chinh này, mấy người mơ ước cho tròn ... càng khổ càng đau thì tình yêu càng sâu khi dắt đưa nhau về bến. Ngăn cách bây giờ cho mai mốt sum vầy không thấy thẹn cùng sông núi, vì đời khổ đau ... anh góp một phần xương máu, đôi cánh tay này anh hiến trọn cho tình quê...".

Suốt quãng đường chinh chiến, Người Lính đã bao lần trình diện đơn vị mới để bổ xung quân số và theo nhu cầu của chiến trường, tình bạn bè đồng đội thắm thiết sống chết bên nhau bao tháng ngày qua, mai này phải chia tay... kẻ nơi, người ngả... thôi thì "Đêm nay ta trút cạn tâm sự bên phố khuya quạnh hiu, bên quán xưa tiêu điều, đường tình chan chứa ... mai anh đi rồi, giờ mình nói gì thêm nữa. Quê hương trăm nẻo đường xa vời, thương nhớ xẻ làm đôi giây phút không nỡ rời, cầm tay khẽ nói tin nhau trong đời, tình bạn bè anh với tôi. Từ nay đôi đứa đôi đường còn lại tôi ở phương này, dặn anh về đơn vị mới nhớ biên thư thăm nhiều nhé. Anh ơi, anh ơi... tôi biết nói chi đây giây phút quyến luyến chia tay, canh gác đã đến phiên rồi... kỷ niệm trong đời, lời tôi lần cuối thôi nâng cạn hết ly này...". Người Lính thu xếp chút thì giờ từ biệt người yêu... những bước chân chầm chậm bên nhau như muốn thời gian chớ vội qua mau, những giọt sương mai đẫm ướt đôi vai, vài cơn gió lùa se lạnh hay lạnh trong lòng người ở lại... "Trời đêm dần tàn, tôi đến sân ga đưa tiễn người trai lính về ngàn ... cầm chắc đôi tay ghi vào đời tâm tư ngày nay, gió khuya ôi lạnh sao ... ướt nhẹ đôi tà áo..." ... Tiếng còi tàu hú vang mang đứa con yêu của tổ quốc khuất chìm trong màn sương khi mặt trời còn say ngủ ... "Ashau, Cam Lộ, Hạ Lào, Khe Sanh, pháo nổ trên Cổ Thành ... Xin vinh thăng những mộ xanh cỏ biếc, có kẻ hôm qua đã ngủ quên trên chiến trường, ôi chiến trường dài hơn tuổi mình...". Người Lính đi vào vùng lửa đạn để tìm mạch sống, nguồn vui cho đời ... những ai đã từng khoác áo trận mới hiểu được sự gian nan, hiểm nguy của đời lính, những người đặt tổ quốc và sinh mạng của người dân trên cả mạng sống của mình, cái chết và sống chỉ cách nhau trong nháy mắt ... kiếp chinh nhân nào ai biết trước được tương lai ... "Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả .., anh trở về ... anh trở về hàng cây nghiêng ngả, anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa. Anh trở về bằng chiếc băng-ca trên trực thăng sơn màu tang trắng ..."

Kỷ Vật Cho Em
https://www.youtube.com/watch?v=Az54X8ReyYQ

Những dấu đạn thù, mảnh pháo giặc trên thân thể Người Lính là những chiến tích hào hùng từ các mặt trận lớn nhỏ trên bốn vùng chiến thuật ... từ sóng nước của năm vùng duyên hải hoặc từ vùng trời không gian bị đan kín bởi mạng lưới phòng không dày đặc của cộng quân. Sau mùa Hè Đỏ Lửa 1972, khói lửa chiến tranh đã thưa dần, nhưng quê hương chưa thật sự thanh bình, cuộc sống của người dân chưa được trọn vẹn an vui ... vài dòng chữ ghi vội giữa rừng xanh ... "Em ơi, cho dù súng thù giờ đây lẻ loi ... nhưng anh vẫn còn trách nhiệm vì dân hiến thân, nên thư của anh vẫn là thư lính trong đêm rừng sâu đèn sao sáng soi, vài câu viết vội vài dòng chân thành, mong người em yêu thấu hiểu lòng anh ...". Làm người yêu của lính, làm vợ kẻ chinh nhân là chấp nhận sự chia ly, là chấp nhận những gì tang thương có thể xảy đến bất cứ giờ phút nào, là cảm thông với những người quằn nặng gánh giang sơn ... hình ảnh quê hương bị dày xéo bởi cộng nô, hình ảnh thê lương của người dân vì thảm cảnh chiến tranh đã vương "Mắt em buồn cuộc chiến quê hương, tóc em dài màu hỏa châu vương, vì ai gieo khói lửa cho u hoài muôn thưở ... em buồn ... buồn vì quê hương ...". Đời lính chiến ... đầu nón sắt đội trời tổ quốc ... khẩu súng thép trên tay gìn giữ quê cha ... chân mang giày saut bước đi trên mảnh đất mẹ ... lưng mang balô trĩu nặng tình yêu quê hương dân tộc ... gia tài của Người Lính vỏn vẹn chỉ có thế ... Người Lính biết lấy gì tặng người yêu trong dịp về thành phố tham dự kỷ niệm "Ngày Quân Lực 19/06", ngoại trừ "Hái trộm hoa rừng về trao một người ngày xưa anh đã hứa, màu hoa kỷ niệm tuy đã tàn úa tâm tư dạt dào. Năm xưa lối này vẫn thường dìu em đi, tàng cây năm trước anh viết tên em còn xanh lá cành ghi dấu kỷ niệm những ngày còn bên nhau ... Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến ... súng trên vai bước về qua đường phố. Tôi lại gặp anh giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi ba mươi mà ngỡ như trẻ thơ, nhớ gì từ ngày anh xa mái trường, nhớ gì từ ngày anh vui lên đường, lối gầy về nhà anh hoa phượng thắm, màu xanh áo người thương, nắng chiều đẹp quê hương hay nhạc buồn đêm sương ...". Những ngày phép của "Mùa Hè năm nay, anh sẽ đưa em vòng khắp cả hí trường, nghe người ca bài ca lời thương lời nhớ ... chén tiễn chén đưa cho rã rời một đêm hẹn ước, dứt áo tìm vui nơi chiến trường có bạn có thù ...". Những chuyện tình thời chinh chiến có sự chia tay nào không vương lại nỗi buồn trong ánh mắt giai nhân ... những lời hứa, những lời tâm sự canh tàn canh quyến luyến thời gian còn lại bên nhau ... những lời an ủi, vỗ về có làm vơi đi những gì đang nghèn nghẹn trong tim hay làm cho những giọt lệ chợt rơi từ đôi mắt ngọc ... "Anh hứa đưa em về nơi chân trời tím, nghe gió êm qua đáy tim từng hoàng hôn. Xin không thiếu trăng vàng trên tóc em, với ánh sao vơi đầy mắt người yêu. Anh vì lửa khói quê hương, đường hun hút biên cương ... một mình ngắm trăng suông. Em về bên ấy thương mong từng chiều rớt bên song, em có mơ gì không ... Anh biết em mơ về nơi chân trời tím, nghe đáy tim mơ ước khi ta trọn đôi, xin yêu ai muôn đời không lẻ loi như sắc mây chân trời tím chiều rơi ... ". Nhưng chân trời tím ước mơ đã bị trùm phủ một màu đen tang tóc, những lời hứa trong niềm mơ ước đơn sơ đó đã không bao giờ đến, vì nó đã tan vỡ toàn diện trong một ngày nghiệt ngã của quê hương ... ngày "30/04 gãy súng"!

Hai mươi năm chinh chiến, có biết bao nhiêu bà mẹ già lần mò ra trước ao, với giòng lệ nhạt nhòa từ đôi mắt mù lòa đón đứa con yêu trở về với một cánh tay áo, một ống quần dư thừa hoặc không còn ánh sáng cuộc đời ... "Mẹ lần mò ra trước ao, nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ, tiếc rằng ta đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ ..." ; Bao nhiêu người con yêu của tổ quốc đã xong nợ xương máu không trở về ... bao nhiêu người quả phụ lệ nhòa chít khăn tang trên mái tóc còn xanh, bao nhiêu người vợ trẻ vừa nở nụ cười hạnh phúc trong ngày cưới đã ngỡ ngàng, bàng hoàng xót xa mang vành tang trắng trở thành góa phụ ngây thơ ... "Bây giờ anh phủ màu cờ, bây giờ anh phủ màu cờ ... Em không nhìn được xác chàng, anh thêm lon giữa hai hàng nến trong, mùi hương cứ tưởng hơi chồng, ôm mộ cứ tưởng ôm vòng người yêu ...". Chiến tranh là mất mát đau thương hằn sâu vết thương lòng những người ở lại ... Nhưng sau cuộc chiến lại là một sự mất mát, tang thương gấp trăm ngàn lần những gì tang thương nhất trong cuộc chiến ...!

"Sau cuộc chiến này, còn chi không anh... còn chi không anh ... hay chỉ còn lại tấm thẻ bài đang ngậm ngùi mang tên anh. Giòng máu nào là của mẹ ... niềm tin nào là của em... Ôi trên tấm thẻ bài này, tấm thẻ bài này đã từng chuyên chở tất cả giấc mộng yêu đương, mộng yêu đương không bao giờ đến, không bao giờ đến nữa vì anh không còn mang tấm thẻ bài trở về bên em...
Anh đã đi, đã đi vào vùng miên viễn đời người ... Anh ngủ yên, ngủ yên như cỏ úa... Anh ơi, sau cuộc chiến này có còn chi để lại hay chỉ còn lại tấm thẻ bài mang tên anh ... tên anh.
Tấm thẻ bài phân loại máu anh, máu Việt Nam mang tình của mẹ, tình của mẹ không bao giờ hận thù.
Anh... Anh có biết tấm thẻ bài của anh để lại ... cuộc chiến này vẫn còn đó không thôi ... cuộc chiến này vẫn còn đó anh ơi ...
Sau cuộc chiến này, còn chi không anh ... còn chi không anh ... hay chỉ còn lại tấm thẻ bài đang lạnh lùng trên tay em. Giòng máu nào là của mẹ ... niềm tin nào là của em ... Ôi trên tấm thẻ bài này, tấm thẻ bài này đã từng ấp ủ tất cả giấc mộng yêu đương, mộng yêu đương không bao giờ đến, không bao giờ đến nữa vì anh không còn mang tấm thẻ bài trở về bên em ...
Mộng yêu đương không bao giờ đến, không bao giờ đến nữa vì anh không còn mang tấm thẻ bài trở về bên em..."

Tấm Thẻ Bài
https://www.youtube.com/watch?v=ywuMZpn333Q

Thay mặt cho tất cả anh chị em đã đóng góp thời gian và tiếng hát trong bài viết này ... Xin chân thành gởi nén hương lòng đến những anh hùng QLVNCH đã cho chúng tôi sự sống bằng sinh mạng của các anh ; Chân thành cảm ơn những Người Lính VNCH đã hy sinh xương máu cũng như các anh em TPB.VNCH đã hy sinh một phần thân thể cho chúng tôi còn được nguyên vẹn hình hài hít thở bầu không khí tự do ngày hôm nay.

"Vinh Danh - Tưởng Niệm - Tri Ân" Người Lính VNCH, những anh hùng bất tử trong dòng lịch sử Việt Nam, trong dòng thời gian vô cùng tận của tạo hoá.

"Mũ Đen" Hoàng Nhật Thơ


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc   Tue Apr 29, 2014 2:33 pm


Cánh Hoa Dù 



Lời và Nhạc: Dương Đình Hưng.
Trình bày: Nguyên Khang.

Cảm hứng từ chuyện "Những ngày tao loạn" của BS Vĩnh Chánh
Y Sĩ Trưởng Tiểu Đòan 15 Nhảy Dù



Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc   Mon Feb 02, 2015 12:08 pm




Xuân và người lính Việt Nam Cộng Hòa trong nhạc Việt

 
LÊ HOÀNG THANH

Để tưởng nhớ đến anh tôi, bạn bè và những chiến sĩ VNCH đã hy sinh vì tổ quốc


Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về.
(Ca Dao)

Vâng, đó là truyền thống của người Việt chúng ta từ xưa đến nay.

Hể mỗi độ Xuân về là mọi người đều muốn sum họp với cha mẹ, gia đình con cái và bạn bè quyến thuộc nói chung để cùng vui Tết, cho dù suốt năm phải xa gia đình vì sinh kế. Tuy nhiên vẫn có những người gánh chịu nhiều thiệt thòi, phải dầm sương, ngủ ở ven rừng, bờ suối để trấn thủ biên thùy. Họ chỉ hưởng được chút hương vị Tết qua những món quà do thân nhân gởi đến, thiếu hẳn cái không khí Tết giống như ở hậu phương, thiếu hẳn tiếng trống tiếng kèn rộn ràng, không có những màn múa Lân ngoạn mục v.v…

Nhưng họ là ai? Họ chính là những người lính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Những người đã anh dũng chiến đấu trong suốt gần 21 năm để bảo vệ miền Nam tự do, từ 1954 cho đến khi bị thượng cấp ra lệnh bắt buộc buông súng đầu hàng cuối tháng 4.1975. Nhiều người đã nằm xuống hay đã chết trong các trại tù được mệnh danh là "trại cải tạo“. Cũng có nhiều người còn sống, đang hiện diện trên đất mẹ hoặc đang định cư tại một đệ tam quốc gia nào đó trên thế giới. Để tri ơn những người lính VNCH nói trên, còn sống cũng như đã chết, người viết xin phóng tác một số bản nhạc viết về "Xuân và Người Lính“ thành bài tạp ghi này để kính tặng tất cả những người lính VNCH đã anh dũng chiến đấu bảo vệ miền Nam VN cho đến ngày 30.04.1975, cũng như vinh danh sự hy sinh cao cả của những chiến binh đã nằm xuống cho chúng ta được sống.

Trước khi chính thức đi vào chủ đề của bài tạp ghi, người viết xin được mượn bài hát sau đây để giới thiệu đến quý độc giả là người lính VNCH tuy rất anh hùng, rất sắt đá trên chiến trường nhưng họ cũng là con người, là những chàng trai trẻ nên con tim của họ cũng chất chứa nhiều tình cảm, cũng biết rung rộng và vì tình yêu quê hương đất nước nên họ sẳn sàng hy sinh tình cảm riêng tư để lên đường theo tiếng gọi non sông. Tình cảm của những người lính được thể hiện rõ nét qua tác phẩm rất sôi động của Nhạc sĩ Y Vân:

Anh là lính đa tình
Tình non sông rất nặng
Tình hải hồ ôm mộng
Tình vũ trụ ngát xanh
Và mối tình rất êm đềm là tình riêng trong lòng anh yêu em ...
Có lúc muốn lấy hoa rừng, anh gửi về em thêu áo
Và ngàn vì sao trên trời, kết thành một chuỗi em đeo
Dù rằng đời lính không giầu,
mà chắc không nghèo tình yêu...
Lính Đa Tình (Y Vân)

Có thể nói, khi đề cập đến hay bàn về chiến tranh, hầu như ai trong chúng ta đều chán ngán. Nhưng hoàn cảnh đẩy đưa vì cộng sản Bắc Việt (csBV) luôn nuôi tham vọng thôn tính miền Nam nên mới gây ra cảnh chinh chiến. Nếu nhà ai nấy ở, kẻ Bắc người Nam, mạnh ai nấy lo thì làm gì có chuyện đổ máu xảy ra, theo ý tôi. Sau nhiều mùa Xuân tương đối thanh bình đi qua thì phải nói Tết Mậu Thân 1968 là cái Tết mà dân miền Nam VN không bao giờ quên được, nhất là dân xứ Huế. CsBV đã xem thường hiệp ước đình chiến trong ba ngày Tết, lợi dụng sự tin cậy của dân miền Nam và lợi dụng cơ hội biên thùy bị bỏ ngõ và các tiền đồn của các tỉnh hay thị xã không được canh gác cẩn thận như xưa nay vì binh sĩ VNCH các cấp được nghỉ phép về quê ăn Tết với gia đình vợ con, csBV đã ra lệnh tổng tấn công, tràn về thành phố đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Chúng đã dày nát nhiều tỉnh lị của miền Nam, nhẫn tâm giết hại không biết bao nhiêu người dân vô tội gây tang thương cho biết bao gia đình trong khi mọi người đang vui mừng đón Xuân.

Chiến chinh từ xưa đến nay, dầu xảy ra bất cứ ở đâu đều gây nên nhiều đau khổ, tang tóc. Chuyện cha xa con, vợ xa chồng, gia đình ly tán là chuyện không thể tránh được. Bên cạnh những mất mát về vật lực cũng như tài lực, người dân và nhất là những người lính trận chẳng những đã hy sinh máu huyết của mình, đã bị tổn thương và trở thành phế binh mà đôi khi còn phải bỏ mạng để cho bà con, thân nhân và đồng hương được sống. Vì thế mơ ước quê hương thanh bình là ước mơ của mọi người, từ quân cán chính cho tới phó thường dân, học trò… Nhạc sĩ Hoài Linh và Tấn An đã mượn lời ca tiếng hát chuyển đạt nỗi niềm của những chàng trai khoát áo chiến y vừa mới từ biên cương trở về thăm người yêu ở hậu phương với lời cầu chúc đầu năm chân thành, rất nồng nàn:

Ngày đầu Xuân chúc non nước thanh bình,
ngày mồng hai chúc cho lứa đôi mình
Và mồng ba anh chúc cho đôi mắt em xinh,
Má em hồng cho nét Xuân mãi trong lòng anh.
Từ ngoài biên anh vừa về đến, đôi lời trìu-mến chân thành chúc em ...
Đầu Xuân xin chúc quê hương yên bình thành đô đến nơi đồng xanh,
Ý lành nước non vươn màu xanh mới đón Xuân thắm trong niềm vui.
Đầu Xuân Lính Chúc (Hoài Linh - Tấn An)

Ước mong quê hương không còn chiến tranh cũng là tâm trạng của cố nhạc sĩ đa tài Trần Thiện Thanh (TTT). Nhưng sự mong ước của nhạc sĩ TTT, một nhạc sĩ thuộc ngành tâm lý chiến dù, không ủy mỵ và ru ngủ như đã được thể hiện qua một số nhạc sĩ phản chiến thân cộng thời bấy giờ. Trần Thiện Thanh tế nhị hơn khi diễn tả tâm trạng mình, tâm trạng của một người lính VNCH. Anh đã nhẹ nhàng thố lộ cùng người yêu:

Hẹn em khi khắp nơi yên vui
Mùa xuân ngày đó riêng đôi mình
Phút giây mộng mơ nâng cánh hoa mai
Nhẹ rớt trên vai đầy, hồn chơi vơi
Ngỡ giữa xuân vàng, dáng em sang
(Đồn Vắng Chiều Xuân)

Trong khi mọi người ở hậu phương, từ thôn quê đến thành phố đang chờ đón nàng Xuân, đang đợi Giao Thừa về để đốt pháo mừng năm mới thì có rất nhiều người lính trận của quân đội VNCH không có được diễm phúc này. Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông đã mượn lời nhạc phát hoạ nên một khung cảnh buồn, đơn lẻ mà khi tiếng hát được cất lên chúng ta không thể nào quên được hình ảnh người lính đang đồn trú nơi rừng sâu giữa lúc quê hương còn chinh chiến:

Đón Giao Thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi
Phiên Gác Đêm Xuân (Nguyễn văn Đông)

Vì hoàn cảnh, bạn bè có kẻ phải lên đường làm bổn phận người trai thời loạn, người thì may mắn được ở lại hậu phương nhưng chiến tranh vẫn luôn hiện hữu trong tâm cảm của hầu hết mọi người dân miền Nam Việt Nam nói riêng. Tâm trạng đó đã được nhạc sĩ Hoài Linh diễn tả như sau:

Tôi đón xuân giữa lúc còn chiến chinh
Chúc mừng xuân bên ly rượu hành trình
Chúc người trai đi xây dựng hòa bình
Để cho đất nước vui trọn mùa xuân thắm xinh
(Tâm Sự Nàng Xuân)

Thời gian qua đi không chờ đợi. Đông qua và mùa Xuân lại trở về. Tình cảm của những người ở hậu phương dành cho những anh lính chiến ngoài miền biên cương lúc nào cũng đong đầy. Tâm cảm này đã được Lê Dinh và Minh Kỳ khéo léo diễn đạt qua bản nhạc rất trữ tình:

Thấm thoát là đây... một mùa Xuân mới... với ngàn cánh mai vàng
Nụ cười trên môi... trên làn má ai... đón Xuân tươi vừa sang...
Xuân nay tôi chúc... người miền biên cương... muôn ngàn câu mến thuơng
Mong Xuân yên lành... trong bao hương tình
Để rồi người thêm vui... cuộc sống thanh bình
Hạnh Phúc Đầu Xuân của Lê Dinh - Minh Kỳ

Tình thương mẹ con trong xã hội Việt chúng ta rất đậm đà thắm thiết. Bất cứ ở đâu, dù đang sống xa nhà hay đang trấn đóng ngoài biên thùy, ven rừng, người con lúc nào cũng nghĩ đến gia đình, đặc biệt nghĩ rất nhiều đến mẹ, có lẽ vì từ nhỏ được mẹ bồng bế, nâng niu. Lắm khi ôn lại quá khứ thanh bình ngày nào, để rồi tiếc thương và thầm mơ mau có ngày hội ngộ cùng mẹ hiền. Nhật Ngân đã dùng lời nhạc để diễn đạt thay tâm trạng của những chàng trai hùng thời chiến chinh như sau:

Đêm nay núi rừng gió nhẹ sang xuân
Thoáng mùi mai nở đâu đây
Nghe lòng lạc loài chơi vơi
Khi xưa, những ngày binh lửa chưa sang
Bếp hồng quây quần bên nhau
Nghe Mẹ kể chuyện đời xưa
Mẹ ơi con hứa con sẽ trở về
Dù cho, dù cho xuân đã đi qua
Dù cho én từng bầy bay về ngàn
Dẫu gì rồi con cũng về
Chỉ bên Mẹ là mùa xuân thôi
Mùa Xuân Của Mẹ (Nhật Ngân)

Nhưng éo le cũng không thiếu. Vì hoàn cảnh nên vợ chồng chia cách. Còn đâu những giây phút đầm ấm, gần gủi bên nhau ngày nào … để rồi giờ đây trong cảnh cô đơn, người vợ (người yêu) đã ôn lại hình ảnh đẹp thuở nào với chồng (với người tình) lúc đất nước còn an lành:

Nhớ xuân sang năm nào,
bên bếp lửa vui, ngồi đan áo cho anh
đôi mắt anh dịu buồn, nói anh sẽ về
khi máu xương thôi ngừng rơi.
Để giờ mình em và manh áo xám trên tay
Dù rằng ngoài kia vang tiếng pháo đón giao thừa
Bánh chưng rất xanh, với hoa rất vàng
mà ngỡ là giấc mơ thanh bình.
Đan Áo Mùa Xuân (Phạm Thế Mỹ)

Kẻ ở lại buồn đơn côi, luyến tiếc kỷ niệm. Người ra đi cũng chẳng khác gì hơn. Chúng ta hãy nghe những người lính VNCH đã để con tim mình rung động:

Tôi đến đơn vị lại đi, nhọc hơi đâu đếm mỏi tháng ngày
Khi cánh dù mang tin lại những cánh thư xinh hậu tuyến
Tôi ngẩn ngơ biết mùa Xuân sang ...
Ở đây không có hoa Mai, không có hoa Đào trang điểm trần ai
Những lá khô rơi suốt năm dài như trong một chiều lòng tôi biết yêu ai.
Mùa Xuân Lá Khô (Trần thiện Thanh)

Dầu vậy người trai Việt vẫn ngạo nghễ chấp nhận định mệnh đã dành riêng cho mình trong thời buổi loạn ly với sự kiêu hãnh đáng khâm phục:

Quê hương trong thời đau thương
Mùa Xuân chia ly là thường
bao nhiêu khổ nhục tủi hờn
Hát lên nhân loại, trả buồn cho đông
Mùa Xuân Trên Cao (Trầm tử Thiêng)

Họ, những người lính VNCH luôn làm tròn bổn phận làm trai, chấp nhận gian khổ. Tuy vậy người lính vẫn có vài phút giây để tâm hồn bay bỗng với những thương nhớ khó quên:

Đầu xuân năm đó anh ra đi
Mùa xuân này đến anh chưa về
Những hôm vừa xong phiên gác chiều
Ven rừng kín hoa mai vàng
Chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ
Đồn Vắng Đầu Xuân (Trần Thiện Thanh)

Xuân về, Tết đến là dịp để thân nhân, họ hàng hay những cặp tình nhân gặp gỡ, đoàn tụ nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, trước 30.4.1975 đã có biết bao nhiêu người lính thiếu hẳn diễm phúc này. Họ đã thi hành bổn phận người trai thời chiến để trấn giữ biên thùy, bảo vệ an ninh cho đồng bào ở hậu phương an lòng hưởng Tết. Dầu vậy, người lính Việt Nam Cộng Hoà chẳng buồn lòng, dù cho tâm trạng của họ lúc nào cũng nhớ nàng Xuân. Họ vẫn hy sinh, kiên trì nhất định:

Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
nhưng nếu con về bạn bè thương mong
bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
không lẻ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này vắng nhà
Mẹ thương con xin đợi ngày mai..
Xuân này con không về (Trịnh Lâm Ngân)

Người lính VNCH rày đây mai đó, tung hoành khắp 4 vùng chiến thuật. Khi được nghỉ phép, trở về mong tìm gặp lại nàng Xuân, người yêu nhưng định mệnh nghiệt ngả làm họ chỉ còn biết tiếc thương mùa Xuân nào đã đi qua. Hãy nghe Nhạc sĩ Châu Kỳ bộc lộ:

Bước sông hồ như đắm như mơ
Trở về đây khi gió sang mùa
Mong ước tìm cô gái Xuân xưa, cho vơi bao niềm nhớ
Có ngờ đâu Xuân vắng người thơ
Đón Xuân này nhớ Xuân kia (Châu Kỳ)

Ước nguyện của mọi người: dân, quân, cán, chính là mong đất nước Việt Nam sớm thanh bình, không còn chinh chiến, một cuộc chiến công tâm mà nói là do Cs Bắc Việt chủ trương vì chúng luôn nuôi tham vọng chiếm trọn miền Nam, điều mà cộng sản đã đạt được vào cuối tháng tư 1975. Nhạc sĩ Minh Kỳ qua nhạc phẩm "Cánh Thiệp đầu Xuân“ đã diễn tả ước mơ thầm kín, cầu mong sao cho khói lửa đi qua nhanh trên đất mẹ để mọi người, nhất là người lính VNCH có cơ hội được về sống gần gia đình, bạn bè thân thuộc và hưởng một cái Tết đúng nghĩa:

Tôi chúc muôn người mọi điều ước muốn
Non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình
Để người anh yêu dấu quay về gia đình
Tìm vui bên lửa ấm
Tôi chúc yên lành người người khắp chốn
Mong gió đưa duyên cho cô gái Xuân thì
ước nguyện sao chóng thành rượu hồng xe duyên
Cánh Thiệp Đầu Xuân (Minh Kỳ)

Nhiều nhạc sĩ, nhất là những nhạc sĩ tâm lý chiến (một ngành mà Cs rất sợ nên trả thù không nương tay những chiến sĩ này sau tháng 4.1975), đã sáng tác những bài ca rất giá trị viết về đời lính và người lính VNCH, sáng tác nhạc Xuân, đặc biệt những bản nhạc viết về Tết và người lính VNCH, gắn liền với sự hy sinh cao cả của họ trước 30.4.1975 lo trấn thủ biên cương để bảo vệ cho người dân ở hậu phương được hưởng những mùa Xuân, tháng năm an bình. Còn rất nhiều bản nhạc khác đã được sáng tác với chủ đề này nhưng tôi chỉ trích dẫn vài bản nhạc "Xuân, viết về người lính VNCH" tiêu biểu kê trên. Rất tiếc bài viết có giới hạn nên tôi không thể trích dẫn hết để trình bày cùng quí vị, xin thông cảm. Nhưng qua đó cũng đủ nói lên tình cảm, tình yêu quê hương nồng nàn và cuộc đời đầy gian khổ và sự hy sinh cao cả của người lính VNCH đối với người Việt tại miền Nam VN trước 30.04.1975, nói riêng…

Người miền Nam và những người lính VNCH tuy đã nằm xuống nhưng không hề uổng phí vì chính qua những mất mát đó đã cho chúng ta hiểu rằng sự tự do không phải tự nhiên mà có. Tự do đã được trả với một giá rất đắt, chẳng những bằng máu và nước mắt, đôi khi ngay cả bằng mạng sống. Điều này đã được minh chứng qua lịch sử của nhân loại và cũng nhờ sự hy sinh cao cả của những người lính VNCH mà người dân miền Nam Việt Nam đã được hưởng ít nhiều tự do trong hơn 20 năm, cho đến ngày miền Nam Việt Nam bị cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm.

Lê Hoàng Thanh
Nguồn: Chiến Sĩ Tự Do News

Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc   Thu Apr 09, 2015 9:01 am



"Trên Bốn Vùng Chiến Thuật"


Cao-Đắc Tuấn (Danlambao)

- Tóm lược: Nhạc sĩ Trúc Phương sáng tác ca khúc "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" nói về cuộc đời một người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đi khắp bốn vùng chiến thuật của miền Nam Việt Nam tham gia các trận dữ dội đánh quân cộng sản trong việc giữ gìn quê hương và bảo vệ dân lành. Với cách dùng chữ độc đáo và lối diễn tả hữu hiệu, Trúc Phương vẽ ra hình ảnh linh động của một chiến sĩ chấp nhận cuộc đời binh lính cô đơn cực khổ, nhưng có được tình thương yêu với đồng đội và dân địa phương.


Nhạc sĩ Trúc Phương viết ca khúc "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" trong thập niên 1960. Không rõ Trúc Phương viết bài hát này vào năm nào, nhưng hầu như chắc chắn là trước hoặc vào năm 1970 vì năm đó các "vùng chiến thuật" (tactical zone) được đổi thành "quân khu" (military region, or MR), và sau hoặc vào năm 1964, vì vùng 4 chiến thuật mới được lập năm 1964.

Bài hát nói về cuộc đời của một anh lính VNCH lê chân trên khắp bốn vùng chiến thuật trong miền Nam tham gia các trận đánh kinh hồn với giặc cộng. Với giai điệu chậm buồn, lời ca đơn giản nhưng có lối dùng chữ độc đáo, bài hát diễn tả tâm trạng anh lính hữu hiệu, nói lên sự hy sinh của anh phải sống nhọc nhằn cô đơn nơi chiến địa, và tình thương yêu đồng đội và dân chúng địa phương cho anh nỗi cảm xúc lai láng.

Trong bài "24 Giờ Phép" (Cao-Đắc 2015), tôi đã trình bày vắn tắt tiểu sử nhạc sĩ Trúc Phương nên sẽ không nhắc lại nữa.

Nguyên văn lời bài hát "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" như sau (Nhạc Việt trước 75).

Tôi thường đi đó đây
Bùn đen in dấu giày
Lửa thù no đôi mắt
Chân nghe lạ từng khu chiến thuật,
áo đường xa không ấm gió phương xa,
nghìn đêm vắng nhà.

Mây mù che núi cao
Rừng sương che lối vào
Đồng ruộng mông mênh nước
Đêm đêm nằm đường ngăn bước thù
Áo nhà binh thương lính lính thương quê
Vì đời mà đi

Gio Linh đón thây giặc về làm phân xanh cây lá
Pleime gió mưa mùa
Tây Ninh nắng nung người, mà trận địa thì loang máu tươi
Đồng Tháp vắng bóng hồng, hỏi rằng tôi yêu ai?

Ân tình theo gót chân, bọn đi xa đánh trận.
Gặp gỡ trong cơn lốc
Xưng tao gọi mày nghe quá gần.
Bốn vùng mang lưu luyến bước bâng khuâng,
của vạn người thân.

Trong bài này, tôi sẽ trình bày nhận xét về nội dung và hình thức của "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật." Ngoài ra, như trong các bài viết về âm nhạc trước, tôi sẽ chú trọng thảo luận chi tiết về các khía cạnh văn chương của lời nhạc. Tôi dùng "khán giả" để chỉ người nghe, người đọc, và người xem.

A. Bốn vùng chiến thuật của miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960.

Trước khi đi sâu vào chi tiết nội dung bài hát, ta nên có một chút khái niệm về bối cảnh địa lý của bài. Đó là chi tiết địa lý của bốn vùng chiến thuật.

Theo Wikipedia (Wikipedia 2015a), về mặt quân sự, năm 1961, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) thành lập các vùng chiến thuật, đến tháng 7, 1970 đổi tên là Quân khu. Lúc đầu có 3 vùng chiến thuật được đánh số 1, 2, 3, đến năm 1964 lập thêm vùng chiến thuật 4. Mỗi vùng chiến thuật do 1 quân đoàn phụ trách. Dưới vùng chiến thuật là các khu chiến thuật do 1 sư đoàn phụ trách. Bộ tư lệnh quân đoàn đồng thời là Bộ tư lệnh vùng chiến thuật (trừ quân đoàn 2), còn Bộ tư lệnh sư đoàn đồng thời là Bộ tư lệnh khu chiến thuật. Các vùng chiến thuật có địa giới như sau:

Vùng 1 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Đà Nẵng, gồm 5 tỉnh: Khu 11 chiến thuật, gồm 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên; Khu 12 chiến thuật, gồm 2 tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngãi; và Đặc khu Quảng Nam, gồm tỉnh Quảng Nam và thị xã Đà Nẵng.

Vùng 2 chiến thuật, Bộ tư lệnh vùng 2 chiến thuật ở Nha Trang, nhưng Bộ tư lệnh quân đoàn 2 ở Pleiku (từ giữa tháng 3 năm 1975 phải chuyển vể Nha Trang), gồm 12 tỉnh: Khu 22 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn; Khu 23 chiến thuật, gồm 7 tỉnh Darlac, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tuyên Đức, Quảng Đức, Lâm Đồng, và thị xã Cam Ranh; và Biệt khu 24, gồm 2 tỉnh Kon Tum, Pleiku.

Vùng 3 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Biên Hòa, gồm 10 tỉnh: Khu 31 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An; Khu 32 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Phước Long, Bình Long, Bình Dương; và Khu 33 chiến thuật, gồm 4 tỉnh Bình Tuy, Phước Tuy, Long Khánh, Biên Hòa và thị xã Vũng Tàu.

Vùng 4 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Cần Thơ, gồm 15 tỉnh: Khu chiến thuật Định Tường, gồm 4 tỉnh Kiến Tường, Định Tường, Gò Công, Kiến Hòa; Khu 41 chiến thuật, gồm 6 tỉnh Kiến Phong, Châu Đốc, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, An Giang, Kiên Giang; sau thêm Sa Đéc; và Khu 42 chiến thuật, gồm 5 tỉnh Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, An Xuyên.

Vào năm 1970, khi 4 vùng chiến thuật chuyển thành 4 Quân khu, chính phủ VNCH bỏ cấp khu chiến thuật và thay đổi chút đỉnh thành phần mỗi vùng. Quân khu 1 gồm ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Quân khu 2 với diện tích 78.841 km vuông, chiếm gần phân nửa lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa nhưng chỉ có gần 3 triệu dân sinh sống trong 12 tỉnh. Quân khu 3 có thêm tỉnh Gia Định và Biệt khu Thủ đô (do Quân khu Thủ đô đổi thành), tổng cộng 11 tỉnh. Quân khu 4 có 16 tỉnh. Sự khác biệt về giới hạn địa lý giữa Vùng Chiến Thuật và Quân Khu do đó không đáng kể.

Hình 1 cho thấy phân chia Quân Đoàn (CORPS) tại các Quân Khu (Military Region, MR) được đổi từ Vùng Chiến Thuật vào năm 1970. Các địa danh Gio Linh, Pleime, Tây Ninh, và Đồng Tháp được ghi rõ với hình vuông đen.



B. Ca khúc nói lên nỗi nhọc nhằn của anh lính qua các trận đánh dữ dội quanh bốn vùng chiến thuật.


Với "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật," Trúc Phương kể chuyện anh lính VNCH đi khắp bốn vùng chiến thuật tại miền Nam đánh giặc cộng. Cuộc đời anh lính đơn giản và anh thi hành nhiệm vụ mình qua những trận đánh tàn khốc với những địa danh oai hùng ghi vào chiến sử. Trúc Phương mượn lời lẽ anh lính, có thể thuộc binh chủng Nhảy Dù, để cho thấy cuộc đời tiêu biểu của người lính VNCH phòng thủ quê hương, bảo vệ xóm làng, quên đi những nhọc nhằn khó khăn đối phó với rừng sâu nước độc, khí hậu cực độ, nỗi cô đơn xa gia đình. Với người lính VNCH đi đánh trận, họ chỉ có tình thương yêu đồng đội và người dân địa phương là nguồn sống trong những tháng năm nơi chiến tuyến.

1. Bài hát nói lên nỗi nhoc nhằn của người lính VNCH trong việc gìn giữ quê hương và bảo vệ dân chúng trong khắp bốn vùng chiến thuật:

Anh lính thường phải đi đánh trận khắp nơi, vết giày anh hằn lên bùn, sình lầy ("Tôi thường đi đó đây/ Bùn đen in dấu giày"). Như sẽ trình bày sau, với câu "tôi thường đi đó đây," Trúc Phương thể hiện cách dùng chữ độc đáo vì nhóm chữ "đi đó đây" hàm ý các chuyến đi nhàn nhã. Điều này cho thấy anh lính đã phải đi khắp nơi ra chiến tuyến khá thường xuyên, và không còn là những chuyến đi căng thẳng. Tại mỗi nơi anh đến, tuy có những khu chiến thuật xa lạ, nhưng cảnh tượng chiến tranh đều như nhau, với khói lửa và quân thù nhìn đã quá quen thuộc ("Lửa thù no đôi mắt/ Chân nghe lạ từng khu chiến thuật").

Quân phục anh không đủ che ấm anh trong những đêm anh xa nhà nơi xa xôi ("áo đường xa không ấm gió phương xa, nghìn đêm vắng nhà"). Chi tiết "nghìn đêm vắng nhà" cho thấy nỗi chịu đựng của anh lính, xa nhà trong suốt ba năm. Trong cuộc chiến khốc liệt trong thập niên 1960, các đơn vị lưu động thường được điều động đến chiến trường. Sau đó, nghỉ ngơi không được bao lâu lại phải di chuyển tiếp tới vùng khói lửa khác. Có những khi được phép về thăm nhà thì ngày nghỉ không có bao nhiêu mà đường xá xa xôi không bõ thời gian đi lại, nên nhiều khi các chiến sĩ chỉ nghỉ xả hơi nơi đóng quân tạm, và do đó có những khoảng thời gian xa gia đình rất lâu. Vợ người lính VNCH thường phải hy sinh xa chồng lâu. Với chồng là lính tác chiến, người vợ thường xa chồng hai ba tháng. Khi chồng về phép chỉ được vài ngày hoặc một tuần rồi lại lên đường tiếp (Thôn 2013). Việc những người vợ lính xa chồng là chuyện thông thường, thí dụ như "người chiến binh Biệt Động, muốn trở về thăm nhà, sống vui vẻ với vợ, với con, mỗi năm một hai tuần là chuyện hiếm có" (Nguyễn Ngọc Châu). Ba năm vắng nhà quả là một thời gian dài, nhưng con số "nghìn đêm" không phải là bất thường. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh cũng ghi nhận ngàn đêm xa nhà trong ca khúc "Tình Thư Của Lính" ("Từ khi anh xa nhà, một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây").

Bốn vùng chiến thuật bao phủ toàn thể đất nước miền Nam với đủ loại ̣địa hình, từ vùng cao nguyên tới đồng bằng sông Cửu Long. Những nơi anh đến là rừng núi cheo leo, mây mù che phủ, hoặc đồng ruộng mênh mông ngập nước ("Mây mù che núi cao/ Rừng sương che lối vào/ Đồng ruộng mông mênh nước"). Hằng đêm anh nằm bên đường phòng thủ đơn vị, áo lính che ấm anh và anh thương quê hương, đi lính để bảo vệ quê nhà ("Đêm đêm nằm đường ngăn bước thù/ Áo nhà binh thương lính lính thương quê/ Vì đời mà đi").

Bước chân anh đi khắp bốn vùng chiến thuật. Anh đã đánh trận khốc liệt ở Gio Linh trong vùng 1 chiến thuật khi xác giặc rữa làm phân cho xanh cây cối ("Gio Linh đón thây giặc về làm phân xanh cây lá"), trận Pleime trên vùng cao nguyên gió mùa trong vùng 2 chiến thuật ("Pleime gió mưa mùa"), trận Tây Ninh nơi nóng nung người trong vùng 3 chiến thuật ("Tây Ninh nắng nung người, mà trận địa thì loang máu tươi"), và trận trong vùng Đồng Tháp nơi ít bóng dáng những cô gái trong vùng 4 chiến thuật ("Đồng Tháp vắng bóng hồng, hỏi rằng tôi yêu ai").

Câu "đón thây giặc về làm phân xanh cây lá" là một câu độc đáo, nhất là vào thập niên 1960. Lúc bấy giờ, ít ai nghĩ đến xác người có thể được dùng làm phân bón cho cây cối. Tuy nhiên, việc dùng xác người làm phân bón không có gì lạ hiện nay. Một công ty Thụy Điển, Promessa Organic, phát triển cách chôn người có ích lợi cho môi trường. Thể thức phân tán này mất khoảng 6-12 tháng để biến một xác chết thành phân bón có nhiều chất dinh dưỡng (Nelson 2011). Tiến trình này như sau: xác chết được đông lạnh ở -18 độ C (0 độ F) và ngâm vào nitrogen lỏng. Sau đó, xác đông lạnh dễ tan này được đánh nhẹ bằng sóng âm thanh khiến nó trở thành bột trắng mịn. Bột đó được đi qua phòng chân không để hút sạch nước (sđd.). Bột đó có thể được đặt vào trong một hộp có thể tiêu hóa sinh (biodegradable) như bột ngô bắp và chôn vào một hố nông. Hợp chất đó sẽ tạo ra đất có chất dinh dưỡng cao và màu mỡ, hoàn hảo để trồng cây, cỏ hay vườn (sđd.). Phương thức dùng đông lạnh và ngâm trong nitrogen lỏng này có vẻ cầu kỳ vì mục đích là chôn người chết một cách sạch sẽ gọn gàng. Trên thực tế, xác người, như mọi động vật khác, có nhiều chất hữu cơ giúp cho đất đai màu mỡ.

Trở về với bài hát, như sẽ được trình bày sau, anh lính rất có thể thuộc binh chủng Nhảy Dù. Với tinh thần huynh đệ chi binh, nhất là trong binh chủng Nhảy Dù thường phải đánh những trận ác liệt và phải di chuyển mau lẹ tới và rời chiến trường xa xôi, các chiến sĩ ND thường nặng ân tình với nhau ("Ân tình theo gót chân, bọn đi xa đánh trận").

Tuy gọi là nhảy dù, lính Nhảy Dù không còn nhảy dù ra khỏi phản lực cơ chuyên chở bay cao bắt đầu từ giữa thập niên 1960 mà thường được di chuyển qua trực thăng vận. Do đó, họ thường gặp nhau trong lúc trực thăng chuẩn bị cất cánh với các cánh quạt quay mạnh bốc cát mù mịt như trong cơn lốc ("Gặp gỡ trong cơn lốc"). Trong tình chiến hữu vào sinh ra tử, họ rất thân thiện với nhau, kể cả lối xưng hô "mày tao" ("Xưng tao gọi mày nghe quá gần").

Người lính trong "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" đi đánh trận trên khắp nơi, nhưng tới mỗi nơi, anh đều có, hoặc để lại, nỗi niềm lưu luyến bâng khuâng, vì chiến hữu cùng đánh trận với anh và đồng bào dân chúng mà anh bảo vệ đều là những người coi như là người thân thuộc ("Bốn vùng mang lưu luyến bước bâng khuâng/ của vạn người thân").

Trúc Phương khéo léo trình bày lời anh lính một cách mộc mạc, không cầu kỳ màu mè, biểu lộ bản chất thật thà hiền lành của anh lính. Ta còn nhận ra một cái gì nhẫn nhục, đầy tự trọng khi anh lính nói đến cảnh gió sương, đêm lạnh cô đơn xa nhà, mà không trách móc thở than, chỉ buông ra lời đơn sơ, "lính thương quê, vì đời mà đi." Khi nhắc đến các trận đánh kinh hồn, anh lính chỉ mô tả một cách khách quan, không khoe khoang thành tích, không phách lối làm le, mà lại còn dường như tự chế giễu cảnh cô đơn của mình với câu, "hỏi rằng tôi yêu ai?"

"Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" là lời kể của một người chiến sĩ VNCH về cuộc đời quân ngũ của anh đi đánh trận khắp nơi chống quân xâm lăng và bảo vệ dân lành. Anh chấp nhận cuộc sống cực khổ, đi tới vùng xa xôi hiểm trở, núi cao, rừng sâu, gió lạnh về đêm, áo lính không đủ ấm, và xa nhà hàng tháng hàng năm. Anh vào sinh ra tử, tham gia những trận đánh khốc liệt đầy khói lửa, trên khắp bốn vùng chiến thuật. Nhưng anh không một lời thở than, vì đó là bổn phận của anh, bổn phận của người chiến sĩ thương yêu quê hương, ra đi để bảo vệ đất nước. Cuộc đời anh gắn bó với bạn đồng đội và những người dân nơi anh đến trong tình thương yêu thân thuộc.

2. Anh lính trong bài hát hầu như chắc chắn thuộc Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù qua các địa danh Gio Linh, Pleime, Tây Ninh, và Đồng Tháp:

Câu hỏi ai cũng đặt ra khi nghe xong bài hát là có người lính VNCH nào thực sự đi khắp bốn vùng chiến thuật trong cuộc đời chiến binh của mình. Câu hỏi không phải chỉ là một câu hỏi tò mò, mà còn có tính cách tìm hiểu thêm về cuộc đời binh lính trong QLVNCH. Muốn biết câu trả lời, ta phải cố tìm ra gốc gác của anh lính trong bài hát. May thay, các chi tiết về địa danh và bốn vùng chiến thuật có thể giúp ta "điều tra" ra được tông tích anh lính. Tuy một nhạc sĩ không nhất thiết phải viết nhạc theo đúng sự thật, ít nhất ông cũng không đi xa quá sự thật. Ngoài ra, thông thường, một nhạc sĩ thường có cảm hứng viết nhạc dựa vào sự kiện hoặc nhân vật có thật. Không có gì khác thường nếu Trúc Phương có bạn đi đánh trận trên khắp bốn vùng chiến thuật, nghe những câu chuyện người bạn kể về những nơi anh đi qua hoặc các trận đánh, và có cảm xúc để viết bài "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật."

Khán giả không cần phải biết rõ chi tiết về người lính, dù có thật hay không, để thưởng thức bài hát. Tuy nhiên, những chi tiết đặc thù sẽ giúp khán giả quý trọng hình ảnh miêu tả trong bài hát khi họ hiểu nhân vật trong bài hát không hoàn toàn là nhân vật tưởng tượng. Quan trọng hơn, những chi tiết đặc thù này có giá trị lịch sử và địa lý vì chúng ghi nhận những sự kiện thật xảy ra tại những địa điểm có thật trong cuộc chiến tranh chống cộng sản của miền Nam Việt Nam.

Trước hết, bài hát có một đầu mối quan trọng chỉ mốc thời gian. Đó là danh từ "bốn vùng chiến thuật" (thay vì "bốn quân khu") cho biết các trận đánh hoặc địa danh xảy ra trước hoặc vào năm 1970 (khi "vùng chiến thuật" được đổi thành "quân khu") và sau hoặc vào năm 1964 (khi vùng 4 chiến thuật mới được thiết lập để hoàn thành bốn vùng chiến thuật). Một chi tiết quan trọng nữa là anh lính đi đánh trận trên khắp bốn vùng chiến thuật, cho thấy anh thuộc binh chủng Tổng trừ bị, lưu động. Các đơn vị bộ binh cũng có một phần lưu động nhưng rất giới hạn và thường trong vùng chiến thuật được phân công. Các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân thì luôn luôn hoạt động trong địa phương sinh sống của mình.

Trong bài "Giã Từ Sài Gòn" (Cao-Đắc 2014), tôi đã thảo luận về các đơn vị lưu động, chính yếu gồm có Nhảy Dù (ND), Biệt Động Quân (BĐQ), và Thủy Quân Lục Chiến (TQLC). TQLC thường hoạt động quanh vùng sông ngòi, duyên hải, và các thành thị ven biển, nhưng cũng có đơn vị trú đóng vùng cao nguyên (thí dụ trận Đức Cơ gần Pleiku năm 1965) và tham gia các cuộc hành quân lớn qua Hạ Lào (Lam Sơn 719) và Kampuchea. BĐQ và ND là hai đơn vị lưu động khá nhiều để đáp ứng nhu cầu chiến tranh cho những trận cần đánh nhanh, mạnh, yểm trợ đơn vị bạn, và tại các địa điểm xa xôi, khó có liên lạc hậu cần.

Ta hãy đi qua các địa danh Gio Linh, Pleime, Tây Ninh, và Đồng Tháp (đề cập đến trong bài hát) trong khoảng thời gian từ 1964 tới 1970 để điều tra anh lính thuộc binh chủng nào trong ba binh chủng ND, BĐQ, và TQLC. Thực ra, chỉ với địa danh Gio Linh, ta biết được ngay anh thuộc binh chủng Nhảy Dù, như cho biết ngay sau đây.

Vào cuối năm 1967 cho tới 1969, Gio Linh là căn cứ quân sự đồn trú bởi Thủy Quân Lục Chiến (Marines) Hoa Kỳ và Trung đoàn 2, Sư đoàn 1 Bộ Binh VNCH (Wikipedia 2015a). Vào tháng 1, 1972, sư đoàn 3 BB VNCH lãnh trách nhiệm vùng bắc quốc lộ 9. Trong mùa hè đỏ lửa, Gio Linh rơi vào tay quân cộng sản Bắc Việt vào tháng 4, 1972 cho đến hết chiến tranh (Wikipedia 2015a). Trước năm 1970, trận đánh lớn quanh vùng Gio Linh xảy ra vào năm 1967 trong cuộc hành quân Lam Sơn 54 với sự tham gia của Trung đoàn 1/ Sư đoàn 1 BB và Chiến đoàn Nhảy Dù gồm có Tiểu đoàn 3, 5, 9 (Võ và Nguyễn 2010, 244-245). Không có trận đánh nào giữa BĐQ và TQLC xảy ra tại Gio Linh trước năm 1970. Do đó, ta có thể kết luận ngay anh lính thuộc binh chủng ND. Nhưng ta hãy xem tiếp ba địa danh còn lại để xem ND có tham gia các trận đó không, và để xác nhận chi tiết này có thể là do ngẫu nhiên hay không.

Trong khoảng thời gian từ 1964 tới 1970, trận đánh lớn gần Pleime, tại thung lũng Ia-Drang, xảy ra vào tháng 10-11, 1965, với sự tham dự của Chiến đoàn đặc nhiệm Nhảy Dù (Tiểu đoàn 3, 5, 6, 7, Cool và Sư đoàn Hoa Kỳ Không Kỵ (1st Cavalry Division) (Võ và Nguyễn 2010, 199; Vương 2012). Ta cũng nên ghi nhận là Pleime sau này thuộc phạm vi hoạt động của Tiểu Đoàn 82 BĐQ. Trận đánh lớn khác ở Pleime xảy ra năm 1974 giữa Tiểu đoàn 82 BĐQ và quân cộng sản (Vương 2012).

Trong khoảng thời gian từ 1964 tới 1970, trận đánh lớn quanh Tây Ninh, trận Gò Nổi, xảy ra vào tháng 5, 1969 giữa Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù và cộng quân (Võ và Nguyễn 2010, 309-314). Vùng Tây Ninh không hẳn là vùng nóng nhất trong miền Nam Việt Nam, nhưng vào những tháng đầu hè nhiệt độ có thể lên tới 37oC (98oF) và ánh nắng có thể gay gắt đến nung người. Trận đánh tại Xóm Cây Chỏ, Tây Ninh vào ngày 19-5-1969 xảy ra ác liệt giữa TĐ 3 ND và hai Trung đoàn 271 và 272 thuộc Công Trường 7 cộng sản Bắc Việt. Cuộc tấn công biển người của quân cộng sản quả thật đã khiến "trận địa thì loang máu tươi" với 161 xác giặc cộng bỏ tại chiến trường đổi lấy 3 chiến sĩ Dù hy sinh và 13 bị thương (Võ và Nguyễn, 314).

Trong khoảng thời gian từ 1964 tới 1970, trận đánh lớn xảy ra quanh vùng Đồng Tháp là trận Hồng Ngự vào năm 1964. Trận này có sự tham gia của TĐ 1 và 8 ND (Võ và Nguyễn 2010, 157). Ta nên hiểu Đồng Tháp đây không phải là tên tỉnh mà là vùng Đồng Tháp Mười, bao gồm vùng cao và vùng trũng (Sơn 2014). Dưới thời VNCH, vùng Đồng Tháp có tỉnh Kiến Phong, Sa Đéc, Kiến Tường, Định Tường. Tỉnh Kiến Phong có các quận Hồng Ngự, Thanh Bình, Cao Lãnh (Tôn 2013). Sau năm 1975, Kiến Phong và Sa Đéc được xáp nhập thành tỉnh Đồng Tháp hiện nay.

Qua những chi tiết trên về các đơn vị tham dự bốn trận Gio Linh, Pleime, Tây Ninh, và Đồng Tháp trong khoảng thời gian từ 1964 tới 1970, ta có thể suy diễn khá chính xác anh lính thuộc đơn vị nào. Trong ba binh chủng Tổng Trừ Bị lưu động (Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến), chỉ có Nhảy Dù tham gia cả bốn trận trong khoảng thời gian từ 1964 tới 1970. Đặc biệt, Tiểu đoàn (TĐ) 3 Nhảy Dù tham dự ba trận Gio Linh, Pleime, và Tây Ninh. Do đó, anh lính trong bài hát "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" hầu như chắc chắn là lính Nhảy Dù thuộc TĐ 3. Tuy TĐ 3 ND không tham gia trận Hồng Ngự, chuyện lính, nhất là sĩ quan chỉ huy, chuyển từ đơn vị này sang đơn vị khác không có gì là bất thường. Theo thứ tự thời gian thì các trận đánh được diễn ra như sau: Đồng Tháp (1964), Pleime (1965), Gio Linh (1967), và Tây Ninh (1969). Ta để ý là TĐ 3 tham gia trận Pleime, Gio Linh, và Tây Ninh liên tiếp. Do đó, cũng hợp lý mà giả sử rằng anh lính trước đó thuộc TĐ 1 hoặc 8 đánh trận Đồng Tháp năm 1964 rồi sau đó thuyên chuyển qua TĐ 3.

Nhạc sĩ Trúc Phương có thể viết ca khúc "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" dựa vào một nhân vật giả tưởng, và ông dùng các địa danh một cách ngẫu nhiên. Tuy nhiên, xác suất cho sự lựa chọn ngẫu nhiên phù hợp với đơn vị ND, nhất là ba trận có sự tham dự của cùng TĐ 3, rất thấp. Ta có thể giả sử với sự chắc chắn khá cao rằng Trúc Phương viết bài hát dựa vào một nhân vật trong TĐ 3 ND. Ngoài ra, qua chi tiết trận Tây Ninh, ta cũng có thể phỏng đoán Trúc Phương viết bài hát này vào cuối năm 1969 hoặc đầu năm 1970.

Chi tiết anh lính thuộc binh chủng ND giúp ta hình dung được người lính trong bài hát không hoàn toàn là nhân vật tưởng tượng và quả thật là có những người lính thực sự đi khắp nơi trên bốn vùng chiến thuật trong miền Nam để bảo vệ non sông và dân chúng. Ngoài ra, chi tiết này cũng giúp ta hiểu rõ thêm về các khía cạnh khác của bài hát như tình chiến hữu, cảnh gặp nhau trong cơn lốc, và nghìn đêm vắng nhà.

Tóm lại, ca khúc "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" ghi nhận cảm nghĩ của một người lính VNCH đi đánh trận trên khắp miền quê hương miền Nam. Tuy anh lính trong bài hát dường như thuộc binh chủng Nhảy Dù, anh đại diện cho tất cả những người lính của QLVNCH tận tụy bảo vệ đất nước và đồng bào trong cảnh chiến tranh điêu tàn do sự xâm lăng tàn bạo cộng sản thúc đẩy bởi nhóm cầm quyền Bắc Việt. Bài hát có lời ca đơn giản, kể những kinh nghiệm anh lính trên bốn vùng chiến thuật nơi xảy ra những trận đánh khốc liệt với các địa danh, tình chiến hữu với bạn đồng đội, và người dân trong vùng.

C. Bài hát có lối dùng chữ độc đáo và kỹ thuật diễn tả lôi cuốn biểu hiện nỗi nhọc nhằn của người lính VNCH:

Trong bài "24 Giờ Phép" (Cao-Đắc 2015), tôi đã trình bày tài năng dùng chữ độc đáo của Trúc Phương. Do đó, trong bài này tôi sẽ không nhắc lại những khía cạnh đó mà chỉ vạch ra những câu trong bài hát cho thấy cách dùng chữ độc đáo này.

1. Những nhóm chữ độc đáo gây chú ý và tạo ấn tượng mạnh trên khán giả:

So với các ca khúc khác của ông, có lẽ "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" có khá nhiều chữ dùng độc đáo và với cường độ mạnh.

Có hai loại dùng chữ độc đáo: hình thức và nội dung. Loại độc đáo hình thức dùng từ ngữ khác thường để diễn tả một ý bình thường. Thí dụ, "giấc ngủ cô đơn" như thảo luận trong bài "24 Giờ Phép," "cỏ suy tư," "một nửa ba năm." Loại độc đáo hình thức thường có tác dụng mạnh và nhanh trên khán giả, nhưng không có ấn tượng sâu xa, lâu dài. Loại độc đáo nội dung dùng từ ngữ bình thường để diễn tả một ý khác thường. Thí dụ, "tôi thường đi đó đây" như thảo luận sau đây. Loại độc đáo nội dung thường tạo ấn tượng sâu đậm lâu dài trên khán giả nhưng nhiều khi khán giả không để ý và có thể không nhận ra.

Câu "Tôi thường đi đó đây" có lối diễn tả khác thường cho người lính đi đánh trận. Nhóm chữ "đi đó đây" dùng từ ngữ bình thường dễ hiểu, có vẻ nói đến một chuyến đi du lịch, thăm viếng, ngắm cảnh, và thường không có chủ đích rõ rệt. Khi nhóm chữ này dùng trong bối cảnh người lính đi đánh trận, nó diễn tả một ý tưởng thật sâu sắc. Ý nghĩa của nhóm chữ này gợi ra hình ảnh thưởng thức và không chuẩn bị. Dưới bối cảnh chiến tranh, ý nghĩa của nó nổi bật lên vì nó cho thấy đối với anh lính nhảy dù, việc đi đánh trận lưu động nơi này nơi kia là chuyện bình thường. Anh đã quá quen với những trận đánh ác liệt và lúc nào cũng ở tình trạng sẵn sàng đi tới chiến tuyến mau lẹ. Anh không coi đó là chuyện khó nhọc mà dường như còn thưởng thức việc đó. Thưởng thức đây không hàm ý là anh thích bắn giết quân thù, nhưng anh muốn làm tròn bổn phận người lính giữ gìn quê hương và bảo vệ dân lành.

Câu "Lửa thù no đôi mắt" độc đáo về hình thức. Nhóm chữ "no đôi mắt" hàm ý nhìn/thấy thật nhiều, thật "đã" mắt, và thường ngụ ý thích thú, thỏa mãn ("no"), nhưng cũng có ý nhàm chán, ghê tởm (khi quá "no"). Trong câu này, "lửa thù" nói đến cảnh khói lửa, chiến tranh, súng ̣đạn nổ. Không ai thích thú nhìn những cảnh súng đạn chém giết nhau; do đó ta phải hiểu "no đôi mắt" hàm ý ghê tởm và chán ghét vì thấy quá nhiều cảnh binh đao khói lửa với quân thù.

Câu "Gio Linh đón thây giặc về làm phân xanh cây lá" rất độc đáo cả về hình thức lẫn nội dung như trình bày ở trên về ý tưởng xác người làm màu mỡ đất làm xanh cây cỏ. Chữ "đón" có nét độc đáo riêng và vẽ ra hình ảnh đám quân cộng sản lao đầu vào trận địa như những con thiêu thân lao vào chỗ chết. Khi đọc về trận Gio Linh ngày 18-5-1967, ta nhận ra chữ "đón" thật thích đáng. Cuộc hành quân Lam Sơn 54 là để đánh đuổi quân cộng sản đã lén lút xâm nhập vượt qua vùng phi quân sự bên sông Bến Hải. Các trung đoàn của Sư đoàn 341 và 325B của cộng sản Bắc Việt được Chiến đoàn 2 ND nghênh đón nhiệt liệt. Sau trận này, 342 xác cộng quân bỏ tại trận và 30 làm tù binh, đổi lại 22 chiến sĩ Dù hy sinh và 116 bị thương (Võ và Nguyễn 2010, 244-246). Quả thật Gio Linh đã đón thây giặc để làm phân bón cho cây cỏ xanh tươi.

Câu "Vì đời mà đi" là một câu độc đáo về nội dung ở cách dùng chữ "đời" là lý do cho việc đi đánh trận của anh lính. Trong tiếng Việt, chữ "đời" có hai nghĩa: cuộc đời và thiên hạ (người ta, dân chúng). Nét độc đáo trong câu này là chữ "đời" được dùng với nghĩa nào cũng được. Vì cuộc đời anh đưa đẩy, anh đến tuổi tòng quân và chiến tranh nên anh ra đi ngăn chận quân thù. Vì dân lành bị giặc giết hại, nhà cửa bị tàn phá nên anh ra đi để bảo vệ dân.

Ngoài những câu độc đáo trên, có nhiều câu, nhóm chữ, hoặc từ ngữ dùng rất hiệu quả trong việc tạo tác dụng cảm xúc trên khán giả. Chữ "bọn" trong "bọn đi xa đánh trận" nói lên mối liên hệ thân thiết bạn bè của chiến sĩ đồng đội. Câu "Xưng tao gọi mày nghe quá gần" không có gì khác thường, nhưng trong bối cảnh gặp nhau nơi chiến tuyến thể hiện tình đồng đội chí tình. Nhóm chữ "vạn người thân" nói lên tình thương yêu giữa dân và lính trong thời chinh chiến. Tuy họ là những người xa lạ, nhưng khi quân cộng sản tới, dân và quân VNCH luôn luôn coi nhau như người thân và đùm bọc bảo vệ lẫn nhau.

Tất cả những từ ngữ, nhóm chữ, và các câu độc đáo này đem sắc thái đặc sắc cho bài hát và tạo ấn tượng mạnh trên khán giả. Nhiều khi chỉ cần một câu hoặc nhóm chữ độc đáo cũng đủ làm cho bài hát trở thành bất hủ. Ta thấy những bài hát bất hủ của miền Nam trước 1975 có đặc tính này: chứa đựng một vài câu hoặc từ ngữ độc đáo, có ý nghĩa mạnh mẽ, khiến khán giả nhớ mãi. Thí dụ, "Hồn lỡ sa vào đôi mắt em" ("Về đâu mái tóc người thương"), "Ôi sạch nợ sông núi rồi" ("Một Mai Giã Từ Vũ Khí"), "Tóc liễu vờn gió ru buồn" ("Sương Trắng Miền Quê Ngoại"),"phải yêu thương núi rừng mới là người trai hiên ngang" ("Giã Từ Sài Gòn"), "Ôi sóng thiêng em về Trời" ("Tám Điệp Khúc"), "Bao hồn oan đó" ("Tám Nẻo Đường Thành"), "Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam" ("Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ"), "Nhiều lần chàng mộng liêu trai" ("Tình thiên thu"), "Phai tàn một thời liệt oanh" ("Tiếng Xưa"), "quân Nam về Thăng Long" ("Chuyến Đò Vĩ Tuyến"), "thương xé nát con tim" ("Căn Nhà Ngoại Ô"), "Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa" ("Ly Rượu Mừng"), "Đêm lạc loài giấc ngủ mồ côi" ("24 Giờ Phép"). Trong bài này, tôi nghĩ câu "Gio Linh đón thây giặc về làm phân xanh cây lá" là câu độc đáo nhất. Tuy câu đó không nói hết ý nghĩa của toàn bài, nhưng nó tạo một ấn tượng mạnh trên người nghe và khiến họ không thể nào quên được.

2. Cách diễn tả rõ rệt, chi tiết, và "cho thấy, đừng kể" mô tả cuộc đời lính chiến rất linh động và lôi cuốn:

Ngoài tài năng dùng chữ độc đáo, Trúc Phương có lối diễn tả điêu luyện, áp dụng triệt để kỹ thuật "cho thấy, đừng kể" tạo nên hình ảnh linh động và lôi cuốn khán giả. Ngay khúc mở đầu, câu "Bùn đen in dấu giày" vẽ ra hình ảnh rõ rệt với chi tiết người lính vác ba lô súng đạn nặng nề bước qua vũng bùn lầy trong lúc hành quân. Các câu "Mây mù che núi cao," "Rừng sương che lối vào," và "Đồng ruộng mông mênh nước" mô tả cảnh tượng rõ rệt những nơi anh lính đi qua trên khắp bốn vùng chiến thuật với hình ảnh khác nhau của núi cao nơi vùng cao nguyên, rừng sâu, và đồng ruộng mênh mông của vùng đồng bằng và trũng quanh sông Cửu Long.

Các địa danh còn được gắn bó với chi tiết về khí hậu thời tiết giúp khán giả cảm thấy gần gũi với cảnh tượng, như "gió mưa mùa" và "nắng nung người." Vài nét đặc thù tăng thêm thực trạng của vùng, như cảnh "chân nghe lạ," "gió phương xa," và "vắng bóng hồng" cho thấy nỗi cực khổ và cô đơn của anh lính. Như trong những bài nhạc khác, Trúc Phương dùng từ ngữ mạnh và tượng hình, như "lửa thù," "mây mù," "nằm đường," "nung người," "loang máu tươi," "cơn lốc," khiến hình ảnh trong bài hát trở nên sống động, lôi cuốn khán giả.

Câu chuyện kể trong ca khúc "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" không có gì đặc biệt, chỉ gổm những chi tiết đánh trận và địa danh. Nhưng cách diễn tả câu chuyện thật đặc sắc và tạo ấn tượng mạnh trên khán giả qua cách dùng chữ độc đáo và kỹ thuật mô tả hữu hiệu.

D. Kết Luận:

Ca khúc "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" kể cuộc đời của một người lính tiêu biểu cho những chiến sĩ trong QLVNCH phục vụ trên khắp bốn vùng chiến thuật trong miền Nam Việt Nam. Bài hát nói lên nỗi khó nhọc và cô đơn của người lính xa nhà phải đi đánh trận khắp nơi để bảo vệ quê hương và đồng bào. Với cách dùng chữ độc đáo và lối diễn tả hữu hiệu, Trúc Phương biến một câu chuyện bình thường thành một ca khúc bất hủ về cuộc đời chinh chiến.

Như hầu hết các ca khúc của miền Nam trước 1975, ca khúc "Trên Bốn Vùng Chiến Thuật" không có lời lẽ hận thù, kêu gọi chém giết quân thù, hoặc ca ngợi lãnh đạo, như những bài hát cộng sản cùng thời. Tính chất nhân bản của xã hội miền Nam trước 1975 được thể hiện qua lời kể lể chân tình của một người lính tác chiến về cuộc đời anh và về tình thương yêu đồng đội và dân chúng địa phương.

CẢM TẠ

Tôi xin có lời cảm tạ các bạn trên trang mạng Dân Làm Báo đã có lời khích lệ trong các bài về âm nhạc trước và giúp tôi có ý định viết bài này, đặc biệt là lời yêu cầu của bạn Xe Hủ Lô và bạn bức xúc.


2015 Cao-Đắc Tuấn
danlambaovn.blogspot.com

____________________________________________

Tài Liệu Tham Khảo:

1. Cao-Đắc Tuấn. 2014. "Giã Từ Sài Gòn". 27-11-2014.
http://danlambaovn.blogspot.com/2014/11/gia-tu-sai-gon.html (truy cập 4-4-2015).

2. _________. 2015. "24 Giờ Phép". 17-3-2015. http://danlambaovn.blogspot.com/2015/03/24-gio-phep.html (truy cập 4-4-2015).

3. Nelson, Bryan. 2011. Green burial: How to turn a human body into compost. 8-3-2011. http://www.mnn.com/money/sustainable-business-practices/stories/green-burial-how-to-turn-a-human-body-into-compost (truy cập 1-4-2015).

4. Nguyễn Ngọc Châu. Không rõ ngày. Những người vợ Biệt Động Quân. Không rõ ngày. http://www.bietdongquan.com/baochi/munau/so13/vobdq.htm (truy cập 4-4-2015).

5. Nhạc Việt trước 75. Không rõ ngày. Trên bốn vùng chiến thuật (Trúc Phương). http://amnhacmiennam.blogspot.com/2013/07/tren-bon-vung-chien-thuat-truc-phuong.html (truy cập 4-4-2015).

6. Sơn Nam. 2014. Đồng Tháp Mười xa xưa. 12-8-2014. http://tanphuoc.tiengiang.gov.vn/TANPHUOC/53/844/2824/39855/Tan-Phuoc-20-nam/Dong-Thap-Muoi-xa-xua--Nha-van-Son-Nam-.aspx (truy cập 3-4-2015).

7. Thôn Nữ Bàu Trai. 2013. Vợ Lính Thời Chinh Chiến… 22-6-2013. http://vnchtoday.blogspot.com/2013/06/vo-linh-thoi-chinh-chien.html (truy cập 4-4-2015).

7. Tôn Thất Trình. 2013. Tỉnh Đồng Tháp, nơi các thị trấn Sa Đéc và Cao Lảnh thay nhau làm tỉnh lỵ. 18-7-2013. http://khoahocnet.com/2013/07/18/gs-ton-that-trinh-tinh-dong-thap-noi-cac-thi-tran-sa-dec-va-cao-lanh-thay-nhau-lam-tinh-ly/ (truy cập 3-4-2015).

8. Võ Trung Tín và Nguyễn Hữu Viên. 2010. Binh Chủng Nhảy Dù - 20 Năm Chiến Sự. In tại Hương Quê, San José, California, U.S.A.

9. Vương Hồng Anh. 2012. Pleime: Trận Tử Chiến Của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng. 15-3-2012. https://ongvove.wordpress.com/2012/03/15/pleime-tr%E1%BA%ADn-t%E1%BB%AD-chi%E1%BA%BFn-c%E1%BB%A7a-ti%E1%BB%83u-doan-82-bi%E1%BB%87t-d%E1%BB%99ng-quan-bien-phong/ (truy cập 3-4-2015).

10. Wikipedia. 2015a. Firebase Gio Linh. Thay đổi chót: 18-2-2015. http://en.wikipedia.org/wiki/Firebase_Gio_Linh (truy cập 1-4-2015).

11. _________. 2015b. Việt Nam Cộng hòa. Thay đổi chót: 16-3-2015. http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a (truy cập 4-4-2015)

Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc   Fri Apr 17, 2015 9:14 am



Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông

Lê Hữu
- 2008


"Anh như ngàn gió,
ham ngược xuôi theo đường mây..."
(Mấy dặm sơn khê, Nguyễn Văn Ðông)

Hôm ấy, tôi còn nhớ, một chiều hè năm 1969, chúng tôi ngồi ở một quán nước quen dọc bờ biển Nha Trang. Bên cạnh tôi là H., người bạn học cũ. Ðã lâu lắm chúng tôi mới gặp lại nhau kể từ ngày rời xa mái trường cũ ở một thị trấn miền cao nguyên đất đỏ. H. cho biết anh sắp sửa nhập ngũ, thì giờ rảnh rỗi như thế này sẽ chẳng còn được bao lâu nữa. Anh ta có người yêu ở thành phố biển này. Tôi thì vẫn lang thang trên sân trường đại học, tấm giấy chứng chỉ hoãn dịch trong tay vẫn còn hiệu lực...

Trên mặt bàn là những chai bia đã cạn và câu chuyện cũng đến lúc cạn đề tài. Chúng tôi ngồi im lặng, cùng phóng tầm mắt nhìn ra vùng biển bao la trước mặt, chờ mặt trời lặn để ngắm cảnh hoàng hôn trên bãi biển trong lúc tiếng nhạc bập bùng vọng ra từ một góc quầy.

Người đi giúp núi sông
hàng hàng lớp lớp chưa về, hàng hàng nối tiếp câu thề
giành lấy quê hương...

"Bài gì vậy?" H. quay sang tôi, hỏi.
"'Hàng hàng lớp lớp'," tôi trả lời.
"Tên gì lạ vậy?"
"Gọi tắt là vậy," tôi cười, "tên đầy đủ là 'Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp'."

H. lặng thinh, có vẻ chăm chú lắng nghe. Lời ca tiếng nhạc khi réo rắt, khi trầm bổng...

Còn đây đêm cuối cùng
nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha
ngại khơi nước mắt, nhạt nhòa môi em...

"Giọng Hà Thanh phải không?" H. lại hỏi. "Còn giọng nam?"
"Hùng Cường."
"Thiệt sao?" giọng hỏi thoáng chút ngờ vực.

Tôi hiểu, anh bạn tôi đâu biết rằng, ngoài những bài "tủ" như "Vọng ngày xanh", "Ông lái đò", "Sơn nữ ca"..., ca sĩ Hùng Cường - một nghệ sĩ cải lương khá nổi tiếng thời ấy - với chất giọng ténor khoẻ khoắn, còn hát rất "tới" một ít bài tân nhạc khác nữa, đặc biệt là những bài của Nguyễn Văn Ðông.

Bài hát chúng tôi đang nghe là của Nguyễn Văn Ðông.

Anh bạn tôi đã nương theo câu hát ấy mà đi vào cuộc chiến. Anh đã nhập vào "hàng hàng lớp lớp" những đoàn người "nối tiếp câu thề giành lấy quê hương".

Mùa hè năm sau, tôi cũng "lên đường nhập ngũ tòng quân", nghĩa là chỉ sau anh bạn H. một năm. Bạn bè tôi kẻ trước người sau lục tục vào lính. Chiến cuộc ngày càng leo thang, càng trở nên khốc liệt...

H., anh bạn cùng ngồi với tôi buổi chiều ấy, cùng nghe với tôi bài nhạc ấy, cùng ngắm nhìn hoàng hôn trên bãi biển ấy, đã không còn nữa. Anh đã nằm sâu dưới lòng đất. H. đã hy sinh trong chiến trận ít năm sau đó, như biết bao người lính khác, như hơn một nửa bạn bè tôi đã nằm xuống trên khắp các mặt trận trong cuộc chiến nghiệt ngã ấy. Chiến tranh như con quái vật khổng lổ đã nuốt chửng bao nhiêu bè bạn tôi, anh em tôi.

Ðã nhiều năm, nhiều năm trôi qua, hình ảnh một chiều nào biển xanh cát trắng và những câu hát của Nguyễn Văn Ðông giữa biển trời mênh mông vẫn còn đậm nét trong ký ức tôi, mặc cho những lớp sóng của thời gian như từng đợt sóng biển cứ "hàng hàng lớp lớp" xô nhau, xô nhau tràn mãi vào bờ, rồi lại rút xuống trong con nước thủy triều của buổi hoàng hôn...

Hà Thanh trình bày Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp (*)
https://www.youtube.com/watch?v=JKHy6Nhz4tA

Người lính Nguyễn Văn Ðông


Anh bạn tôi khi còn sống đã thích bài nhạc ấy vì hai lẽ: thứ nhất, đấy là một bài nhạc lính khá hay, gợi nhiều cảm xúc; thứ hai, nội dung bài hát khá "hợp tình hợp cảnh" đối với anh ta vào lúc ấy.

Chỉ nghe cái tựa thôi, "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp", người ta cũng biết được rằng đấy là bài tình ca viết về lính, viết cho lính.

Người đi giúp núi sông, hàng hàng lớp lớp chưa về... Không chỉ là "chưa về", trong số "hàng hàng lớp lớp" những "người đi giúp núi sông" ấy, đã có biết bao người đi không về, không bao giờ về lại nữa. Trong số những người đi mãi không về ấy có anh bạn của tôi, người "yêu" câu hát ấy của Nguyễn Văn Ðông, trong lúc tôi và những người lính khác, những chiến hữu, những bè bạn của anh, đã may mắn hơn anh, đã sống sót trở về sau cuộc chiến; và hơn thế nữa, đã được định cư trên miền đất tự do này để nhớ về những đồng đội cũ đã hy sinh hay còn ở lại trong nước, kéo dài cuộc sống lây lất, âm thầm của những người lính già trong buổi hoàng hôn của đời người.

Trong số những người lính vẫn còn ở lại trong nước ấy có người lính Nguyễn Văn Ðông, tác giả "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp". Ông hiện sống ở Saigon, và hầu như không còn viết nhạc nữa. Ðiều này không có gì lạ, đối với một nhạc sĩ vốn sở trường và khá nổi tiếng về những bài "nhạc lính". Không chỉ vì chiến tranh đã đi qua, tình trạng đất nước hiện nay chắc không phải là môi trường thuận lợi giúp ông tìm lại được nguồn cảm hứng để tiếp tục sáng tác.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sinh trưởng tại Saigon (nguyên quán thuộc tỉnh Tây Ninh). Ngay từ thời niên thiếu, năm 14 tuổi, ông đã có cơ hội học hỏi về âm nhạc từ các giáo sư người Pháp trong thời gian 5 năm theo học tại trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Ðây cũng là nơi ông sáng tác ca khúc đầu tay, "Thiếu Sinh Quân hành khúc", năm 16 tuổi, được trường chính thức công nhận và sử dụng làm bài "đoàn ca" trong các sinh hoạt tập thể. Ông là thành viên của dàn quân nhạc gồm trên 40 "nhạc sĩ" thiếu niên, từng thi thố tài năng qua nhiều buổi hòa nhạc do một nhạc trưởng người Pháp điều khiển trong các lễ duyệt binh long trọng, đồng thời cũng là thành viên ban nhạc nhẹ của trường, sử dụng thuần thục nhiều nhạc cụ như kèn, trống, mandolin, guitare hawaïenne...

Ngoài sự nghiệp sáng tác, những nét chính về hoạt động âm nhạc có thể kể ra được của chàng nghệ sĩ "tay súng, tay đàn" Nguyễn Văn Ðông:

Từ năm 1958, là Trưởng Ðoàn Văn Nghệ Vì Dân (với sự góp mặt của các nghệ sĩ và ca nhạc sĩ tên tuổi, như Kiều Hạnh, Kim Cương, Khánh Ngọc, Minh Diệu, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch, Quách Đàm, Mạnh Phát, Minh Kỳ, Thu Hồ, Hoài Linh, vũ sư Trịnh Toàn...).

Cũng từ năm 1958, là Trưởng Ban Nhạc Tiếng Thời Gian, đài phát thanh Saigon, quy tụ các ca nhạc sĩ quen thuộc thuở ấy như Lệ Thanh, Khánh Ngọc, Tâm Vấn, Minh Diệu, Hà Thanh, Anh Ngọc, Quách Đàm, Mạnh Phát, Thu Hồ, Trần Văn Trạch... (Từ năm 1962, được tăng cường thêm các ca sĩ Thái Thanh, Thanh Thúy, Minh Tuyết, Duy Khánh, Nhật Trường, Thanh Vũ, Hùng Cường... và ban nhạc Y Vân).

Từ năm 1960 đến 1975, cùng người bạn là Huỳnh Văn Tứ, một nhà doanh nghiệp ở Saigon, đứng ra thành lập các hãng dĩa và băng nhạc Continental và Sơn Ca (được sự cộng tác của các nhạc sĩ tân và cổ nhạc Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Lê Văn Thiện, Y Vân, Văn Vỹ, Năm Cơ, Hai Thơm...), gửi đến giới yêu nhạc nhiều chương trình âm nhạc chọn lọc. Ðây cũng là trung tâm băng và dĩa nhạc đi tiên phong trong việc thực hiện một số album nhạc cho từng ca sĩ. Một số ca sĩ "thành danh" trong làng ca nhạc trước năm 1975 như Thanh Tuyền, Giao Linh, Phương Dung, Hà Thanh... nhờ vào sự hướng dẫn và giới thiệu của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, Giám đốc Nghệ thuật của các hãng dĩa này.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông còn sử dụng các bút danh Vì Dân, Phượng Linh, Phương Hà... cho các thể loại và chủ đề nhạc khác nhau. Ít người được biết, ngoài những sáng tác về tân nhạc, ông còn viết nhạc nền cho trên 50 vở tuồng cải lương thuộc loại kinh điển ở miền Nam như "Mưa rừng", "San hậu", "Nửa đời hương phấn", "Sân khấu về khuya", "Tiếng hạc trong trăng"... và hàng trăm chương trình "tân cổ giao duyên", một hình thức "phối hợp nghệ thuật" giữa tân và cổ nhạc khá phổ biến trong đại chúng vào thời ấy, cũng với các bút danh trên.



Hình chụp Ðoàn Văn Nghệ Vì Dân trong một chuyến lưu diễn tại Ðồng Tháp Mười (dưới chân Tháp Mười Tầng, Gò Tháp, một địa danh lịch sử) ngày 11 & 12/4/1959.
- Hàng đầu, từ trái sang phải: Trần Ðô (chuyên viên sân khấu); nghệ sĩ Kiều Hạnh (thân mẫu của ca sĩ Mai Hương); tam ca nhi đồng Phước Vân, Bích Vân, Ngọc Vân (và một em bé tập sự); nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông, trưởng đoàn (có dấu "X"); bà kịch sĩ Ba Vân; ca sĩ Khánh Ngọc; ca sĩ Minh Diệu; nghệ sĩ Trần Văn Trạch; vũ sư Trịnh Toàn; ca sĩ Mai Ly; nhạc sĩ Mạnh Phát; diễn viên điện ảnh Trang Thiên Kim; các ca sĩ Kim Lan, Kim Oanh.
- Hàng thứ nhì, từ trái sang phải: Anh Việt (chuyên viên ánh sáng); Trần Quang, Trần Thịnh, Trọng Tuyến (các chuyên viên âm thanh); nghệ sĩ Ba Vân; các ca sĩ Ngọc Quang, Thanh Nguyên; nghệ sĩ Bảy Xê; nhạc sĩ Minh Kỳ; nhạc sĩ Thu Hồ; nghệ sĩ Quách Ðàm, nhạc sĩ Hoài Linh. Các hàng sau là tài xế, nhân viên an ninh...

"Là chàng trai trẻ độc thân," ông nói, trả lời một câu phỏng vấn, "với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong ba-lô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến ấy..." (1)

Sau những "bước nhẹ tênh" ấy là cánh cửa mở rộng cho "chàng trai trẻ độc thân" Nguyễn Văn Ðông đặt những bước chân đầu tiên lên "đoạn đường chiến binh", để từ đó dấn thân vào cuộc sống mới đầy hứng thú, đầy sôi động và cũng đầy ý nghĩa trong những năm dài quê hương chìm trong khói lửa chiến tranh. Chàng lính trẻ ấy từng phục vụ ở các đơn vị tác chiến, từng đóng quân tại các vị trí được xem là "điểm nóng" của các cuộc giao tranh như chiến khu Ðồng Tháp Mười, vùng Tam Giác Sắt..., từng tham dự những trận chiến ác liệt tại các địa danh Ấp Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông Bình, Cái Cái (Tân Thành)..., từng được ân thưởng nhiều huy chương về các chiến tích, trong đó có "bảo quốc huân chương" là huân chương cao quý nhất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Hầu như khắp bốn vùng chiến thuật, nơi đâu cũng in hằn dấu chân người lính Nguyễn Văn Ðông (đúng như "Mấy dặm sơn khê", tên một bài nhạc khá nổi tiếng của ông). Ông đã cầm súng chiến đấu vì yêu quê hương này, vì yêu dân tộc này. Ông đã yêu đời lính như yêu mảnh đất này, như yêu những đồng đội, như yêu người mình yêu... Hình ảnh người lính chiến thể hiện qua dòng nhạc của ông xem ra cũng không khác gì lắm với hình ảnh "người lính Nguyễn Văn Ðông", cũng "áo anh mùi thuốc súng", cũng "ngược xuôi theo đường mây", cũng "tóc tơi bời lộng gió bốn phương". (Ông không phục vụ ở Cục Tâm Lý Chiến như nhiều người vẫn lầm tưởng)... Mặc dầu không hề "tơ vương khanh tướng" vì "người đi giúp nước nào màng danh chi", nhưng do lòng "tận trung báo quốc" qua các thành tích chiến đấu và phục vụ, ông cũng đã leo dần lên mãi những nấc thang binh nghiệp với chức vụ sau cùng là sĩ quan tham mưu cao cấp Bộ Tổng Tham Mưu. Có lẽ Ðại tá Trần Văn Trọng (nhạc sĩ Anh Việt, tác giả "Bến cũ", "Thơ ngây"...) và ông được kể là những người "lính" có cấp bậc cao nhất trong số các nhạc sĩ phục vụ trong quân ngũ.

Sau "ngày tàn chiến cuộc" năm 1975, như số phận của "hàng hàng lớp lớp" sĩ quan kẹt lại ở trong nước, ông đã phải lầm lũi đi vào những trại tập trung, những lò cải tạo (Suối Máu, Chí Hòa) để trả giá cho các thành tích trong quân ngũ và trong hoạt động âm nhạc.

Không rõ ông đã "học tập" được những gì, có điều là cơ thể ông đã "tiếp thu" đủ thứ mầm bệnh trong những năm "cải tạo" ấy khiến sức khỏe ông có lúc suy kiệt đến trầm trọng. Chứng phong thấp, căn bệnh quái ác, đã khiến các đốt xương ngón tay của ông sưng tấy lên, các ngón tay co quắp đến gần như không còn cử động được nữa.

"Anh xem này," ông nói với người bạn "tù cải tạo" ở cùng trại Suối Máu, giọng bùi ngùi. "Bàn tay tôi như thế này coi như 'phế bỏ võ công' rồi, làm sao còn chơi đàn được nữa!"

Tay đã thế, chân lại càng tệ hơn, các khớp xương đầu gối biến dạng và đau nhức đến mức ông phải nằm điều trị nhiều năm trong các bệnh viện ở Saigon trước khi rời bỏ đôi nạng để đi đứng được bình thường trở lại.

Về đây ngơ ngác chim bay tìm đàn
Về đây hoang vắng lạnh buốt cung đàn...

Như là câu hát trong bài "Về mái nhà xưa" của ông, sau đúng mười năm "học tập cải tạo" (ông được thả về đầu năm 1985), tác giả bài nhạc ấy đã về lại sau cuộc chiến, về lại sau những năm đọa đầy, về lại với một thân xác đầy tật bệnh, với một tâm hồn đầy thương tích. Xa lạ trước cuộc sống mới, trước một xã hội có lắm đổi thay sau cuộc bể dâu, ông bày tỏ sự hối tiếc đã lãng phí những năm dài do không tìm lại được nguồn cảm hứng nào cho hoạt động âm nhạc cũng như không đóng góp được chút gì có ý nghĩa cho đời. Ðối với con người nghệ sĩ tài hoa, đầy sức sáng tạo, và có thói quen làm việc không ngưng nghỉ, không mệt mỏi như ông thì đấy quả là một sự "hối tiếc vô bờ" như ông nói.

"Tại sao ông không xin định cư ở nước ngoài trong lúc có đủ điều kiện của người tù cải tạo?" Trả lời câu hỏi này, ông cho biết, "Do những căn bệnh ngặt nghèo tưởng như 'hết thuốc chữa' và do tinh thần suy sụp đến tột cùng, có lúc tôi đã nghĩ rằng mình không còn sống được bao lâu nữa nên chẳng còn thiết tha bất cứ chuyện gì, chỉ muốn từ bỏ tất cả để được thảnh thơi yên nghỉ ở cuối đời."

Vậy mà, nhờ "thần dược" hay nhờ... phép lạ, ông vẫn sống sót được đến ngày hôm nay. Vợ chồng ông có một cửa hàng tạp hóa nhỏ (nơi gia đình ông cư ngụ), là nguồn thu nhập chính cho "kinh tế gia đình". Tuy sức khoẻ có sa sút, tuy cuộc sống có chật vật, "người lính Nguyễn Văn Ðông" vẫn có lúc quên đi nỗi đau của riêng mình, vẫn có lúc để lòng mình nghiêng xuống những số phận rủi ro, những số kiếp hẩm hiu của bao người kém may mắn hơn mình. Những bản tin tôi đọc được ở trong, ngoài nước nói về các công tác cứu trợ những mảnh đời rách nát, những kiếp người lầm than, vẫn nhắc đến bàn tay nhân ái, trái tim nhân hậu của người lính, người nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông.


Hình chụp Ðoàn Văn Nghệ Vì Dân và Ðoàn Việt Nam (nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là trưởng đoàn) năm 1961 tại Saigon.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông (người đứng ngoài cùng, bên phải) chụp chung với các ca nhạc sĩ và nghệ sĩ tên tuổi thời ấy: Hoàng Thi Thơ, Lê Thương, Lê Mộng Bảo, Thu Hồ, Mạnh Phát, Minh Kỳ, Hoài Linh, Út Trà Ôn, Trần Văn Trạch, Trịnh Toàn, Ngọc Phu, Bảy Xê, Ba Vân, Tùng Lâm, Phi Thoàn, Anh Sơn, Anh Lân, Quách Ðàm, Thúy Nga, Bạch Yến, Tuý Hoa, Tuý Phượng, Minh Diệu, Thẩm Thúy Hằng.....
[Nhạc sĩ Lê Thương, nhạc sĩ Lê Mộng Bảo (Giám đốc Nxb "Tinh hoa miền Nam") và nghệ sĩ Út Trà Ôn là những khách mời, không ở trong Ðoàn Vì Dân hay Ðoàn Việt Nam].

Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông

Nhạc lính, nói sao đi nữa cũng từng là "nhạc thời trang" ở miền Nam Việt Nam một thời nào. Loại nhạc thời trang "đặc biệt" này khá phổ biến và có tuổi thọ đo được bằng chiều dài của cuộc chiến tranh hai miền Nam-Bắc, nghĩa là kéo dài hơn bất cứ loại nhạc thời trang nào khác, có lúc trở thành cực thịnh, là thời kỳ cường độ cuộc chiến gia tăng đến mức khốc liệt nhất. Còn chiến tranh là còn nhạc lính.

Trong những năm dài chinh chiến ấy, có rất nhiều ca khúc khá hay viết về người lính và đời lính của một số tác giả ở trong và ngoài quân ngũ, ngợi ca tinh thần chiến đấu anh dũng, sự hy sinh cao cả và thầm lặng của người lính chiến. "Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông" là một trong số ấy. Hơn thế nữa, nhạc lính của ông có những nét rất "riêng", mang sắc thái đặc biệt, được rất nhiều người yêu nhạc (lính hoặc không phải lính) yêu thích.

Trong phạm vi nói về "nhạc lính" của Nguyễn Văn Ðông, những ca khúc quen thuộc của ông nhưng không kể là "nhạc lính" (đôi lúc được ông ký dưới những tên khác) sẽ không đề cập trong bài này hoặc chỉ nói sơ qua.

Những năm trước ngày chiến tranh kết thúc, ngoài những bài "chiến đấu ca" trong quân đội và những bài hát cộng đồng, có vẻ những bài nhạc đề cao lý tưởng, chính nghĩa, tinh thần chiến đấu và hy sinh của người lính ngày càng ít đi (trừ ít bài ngợi ca những tên tuổi cá biệt của người lính đã đền nợ nước, như "Huyền sử ca một người mang tên Quốc" của Phạm Duy, "Anh không chết đâu anh", "Người ở lại Charlie" của Trần Thiện Thanh...). Không còn nghe thấy nữa những bài nhạc một thời làm nức lòng chiến đấu của người lính vì nước quên mình:

Khi nước nhà phút ngả nghiêng, em mơ người trai anh dũng, mang thân thế hiến giang san, chí quật cường hiên ngang...
("Chiến sĩ của lòng em", Trịnh Văn Ngân)

Em chúc cho chàng lập chiến công oai hùng, vang vang lời chiến thắng, muôn thu danh chàng lừng lẫy với núi sông...
("Chàng đi theo nước", Hiếu Nghĩa)

Anh đi mai về chiến thắng, khi súng quân thù thôi vang trên non sông, tươi thắm màu cờ vui reo trên kinh thành...
("Anh đi mai về", Hoàng Nguyên)

Anh đi xây chiến thắng, dưới màu cờ quật cường, cho loài người hòa bình...
("Dặn dò", Thanh Châu)

Anh sẽ là anh đàn em nhỏ, là con của mẹ giữ quê hương...
("Tình quê hương", Ðan Thọ & thơ Phan Lạc Tuyên)

Không quên lời xưa đã ước thề, dâng cả đời trai với sa trường...
("Anh đi chiến dịch", Phạm Ðình Chương)

Và ít bài nhạc khác như "Lá thư gửi mẹ" (Nguyễn Hiền & thơ Thái Thủy), "Bức tâm thư" (Lam Phương), "Trên bốn vùng chiến thuật" (Trúc Phương), "Biệt kinh kỳ" (Minh Kỳ & Hoài Linh), "Anh về thủ đô" (Y Vân), "Mười sáu trăng tròn" (Trần Thiện Thanh)...

Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông, trong lúc ấy, trước sau vẫn dạt dào tình yêu quê hương, đất nước, vẫn ngợi ca người lính chiến, vẫn đề cao lý tưởng và chính nghĩa cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam (mà không phải... "tuyên truyền tâm lý chiến").

Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông không có những "tô son điểm phấn" cho đời lính kiểu "anh tiền tuyến, em hậu phương", "người yêu của lính"... Trong lời nhạc của ông không có những mộng mơ, lãng mạn kiểu "anh là lính đa tình" ("Tình lính", Y Vân), hay "ba-lô thay người tình yêu dấu..." ("Ai nói với em", Minh Kỳ & Huy Cường), hay "những đóm mắt hỏa châu là hoa đăng ngày cưới..." ("Những đóm mắt hỏa châu", Hàn Châu), cũng không có những lời thở than hoặc cay đắng như "nhiều đông lắm hạ nối tiếp đi qua, thiếu bóng đàn bà..." hoặc "đến với tôi, hãy đến với tôi, đừng yêu lính bằng lời..." ("Kẻ ở miền xa", Trúc Phương) vân vân... (Người viết chỉ nêu những khác biệt, không có ý bình phẩm).

Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông, như đời lính của ông, là cuộc chiến đấu gian khổ, là những lần xông pha trận mạc, là những cuộc hành quân không giống như là đi... picnic để "đem cánh hoa rừng về tặng em" ("Người yêu của lính", Trần Thiện Thanh), mà luôn kề cận những bất trắc, những hiểm nguy... Ở một đôi bài Nguyễn Văn Ðông, giai điệu có lúc gần gụi với nét nhạc phóng khoáng, mênh mang của Lâm Tuyền (tác giả "Tiếng thời gian", "Khúc nhạc ly hương", "Hình ảnh một buổi chiều"...). Lời nhạc Nguyễn Văn Ðông như có "khẩu khí" riêng, đôi lúc phảng phất cái khẩu khí đầy vẻ thi vị trong thơ Quang Dũng, Thâm Tâm hoặc trong... "Chinh phụ ngâm khúc", tạo nên sắc thái đặc biệt tiêu biểu cho dòng nhạc lính của ông. Có thể nói, Nguyễn Văn Ðông là một trong những nhạc sĩ sử dụng sớm nhất những từ ngữ "đường mây", "sơn khê", "giang đầu", "khanh tướng", "sa trường", "biên thùy", "khu chiến", "tang bồng", "hội trùng dương"... Những từ khá cổ điển nhưng qua nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ thích ứng, lại đặc biệt có vẻ phù hợp với "lính tráng", làm dậy lên những cảm xúc rất "lính", khiến nhạc lính Nguyễn Văn Ðông có một "khí hậu" riêng, mang mang thi vị của hơi thơ cổ, nhuốm vẻ hùng tráng và lãng mạn như bức họa đẹp và buồn của một "thuở trời đất nổi cơn gió bụi". (2)

Thái Thanh trình bày Mấy dặm sơn khê trong album Sơn Ca 10 (*)
https://www.youtube.com/watch?v=lvXKasUT1T0

Anh như ngàn gió, ham ngược xuôi theo đường mây...
(Mấy dặm sơn khê)

Ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê...
(Mấy dặm sơn khê)

Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu?...
(Chiều mưa biên giới)

Lòng trần còn tơ vương khanh tướng...
(Chiều mưa biên giới)

Thương mầu áo gửi ra sa trường...
(Chiều mưa biên giới)

Chốn biên thùy này xuân tới chi?...
(Phiên gác đêm xuân)

Xưa từ khu chiến về thăm xóm...
(Sắc hoa màu nhớ)

Lòng này thách với tang bồng...
(Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp)

Hội trùng dương hát câu sum vầy...
(Hải ngoại thương ca)

Chữ "đường mây" chẳng hạn ("đường mây chân núi xa...", "ngược xuôi theo đường mây...") là từ rất cũ, từ thuở... "Chinh phụ ngâm khúc" (Sứ trời sớm giục đường mây), được đưa vào ca từ Nguyễn Văn Ðông, lại như có vẻ "mới" và nghe rất "lính".

Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí trước năm 1975, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông cho biết ông chịu ít nhiều ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp trong các sáng tác âm nhạc và nhắc đến tên vài bài nhạc cũ của những thập niên 40's, 50's như "J'attendrai", "Ma Normandie", "La Vie en Rose"...

"Lòng này thách với tang bồng"...

Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông là lính trận, là lính tác chiến, là những người lính "áo anh mùi thuốc súng", là những người lính vừa trở về từ chiến trường lửa đạn.

Hơn bất cứ một nhạc sĩ nào khác viết về lính, nhạc Nguyễn Văn Ðông làm nổi bật lý tưởng của người quân nhân cầm súng chiến đấu. Mặc "ai công hầu, ai khanh tướng", người đi vì lý tưởng đã vẽ lên những hình tượng đẹp, lãng mạn và đầy hào khí của những chàng Kinh Kha thời đại.

Người đi giúp núi sông
hàng hàng lớp lớp chưa về, hàng hàng nối tiếp câu thề
giành lấy quê hương...

Người đi giúp nước nào màng danh chi
cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy...
(Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp)

Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
thì đường trần mưa bay gió cuốn
còn nhiều anh ơi...
(Chiều mưa biên giới)

"Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" (3) Những chàng trai đất Việt nặng một lời thề, mang tổ quốc trên vai, mang tình yêu nước trong tim, hàng hàng lớp lớp theo nhau lên đường. Từng đoàn người tiếp bước những đoàn người đi viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc Việt.

Đời tôi quân nhân, chút tình gửi cho núi sông...
(Sắc hoa màu nhớ)

Nước non còn đó một tấc lòng
không mờ xóa cùng năm tháng...
(Mấy dặm sơn khê)

Đời dâng cho núi sông
dù ngàn nắng lửa mưa dầu
lòng người nhất quyết không đầu, giành lấy mai sau...
(Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp)

Khi đời đã "dâng cho núi sông", khi lòng đã "nhất quyết không đầu", thì... "mẹ thà coi như chiếc lá bay" (4)

Đời lính thân con nề chi...
Mẹ hiền ơi chớ buồn vì con, nước non chưa tròn...
(Lá thư người lính chiến)

Chút tình riêng đành gác lại, vì tình nước sâu hơn tình lứa đôi.

Đường đi biên giới xa...
lòng này thách với tang bồng
đừng sầu má ấy phai hồng, buồn lắm em ơi...

Hỡi người anh thương, chưa trọn thề ước
nhưng tình đất nước ôi lớn lao không đành lòng
dệt mối thắm riêng tư...
(Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp)

Vầng trăng xẻ đôi, vẫn in hình bóng một người...
(Chiều mưa biên giới)

"Chiều mưa biên giới" (1956), một trong những bài nhạc lính quen thuộc của Nguyễn Văn Ðông, là trường hợp khá đặc biệt, nổi tiếng do hai sự kiện: thứ nhất, nhờ sự trình diễn thành công của nghệ sĩ Trần Văn Trạch qua làn sóng phát thanh ở Paris, dẫn đến một hợp đồng thu thanh bài hát bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp với một hảng dĩa lớn cùa Pháp (là việc chưa tứng có trong lịch sử tân nhạc Việt thời bấy giờ); thứ hai, nhờ quyết định... cấm phổ biến của Bộ Thông Tin thời ấy, lý do là lời nhạc không thích hợp.


Nghệ sĩ Trần Văn Trạch trong trang phục Tây Nguyên, hát "Chiều mưa biên giới" tại đài truyền hình Pháp (1961)

Trần Văn Trạch trình bày Chiều mưa biên giới (*)
https://www.youtube.com/watch?v=WQGGGMEOcu8

Tại sao cấm phổ biến? Tại sao "lời nhạc không thích hợp"? Nghe lại "Chiều mưa biên giới", tôi không thấy có "vấn đề" gì đáng gọi là cấm kỵ. Có thể là những lời lẽ dưới đây chăng(?):

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu
sao còn đứng ngóng nơi giang đầu?...
Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay?...

Người lính chiến... mất phương hướng, không biết sẽ đi đâu, về đâu(?). Hoặc:

Kìa rừng chiều âm u rét mướt...
Một vùng mây nước cho lòng ai thương nhớ ai...
Cờ về chiều tung bay phất phới
gợi lòng này thương thương nhớ nhớ...
Người đi khu chiến thương người hậu phương...

Người lính chiến "nhìn trời hiu quạnh", lòng còn vương vấn chút tình... riêng(?).

Nếu không phải vì những lời nhạc kể trên, có thể là do giai điệu u uẩn, man mác của bài nhạc làm... nản lòng binh sĩ, làm suy giảm tinh thần chiến đấu của quân đội(?).

Dù với bất cứ lý do gì, những câu hát này thực sự chẳng thấm tháp vào đâu so với những bài bản "phản chiến" ít năm sau đó, phổ biến tràn lan một thời mà chẳng ai cấm nổi, chẳng hạn "tôi có người yêu chết trận Pleime..." ("Tình ca người mất trí", Trịnh Công Sơn), "quyết chối từ chém giết anh em..." ("Chính chúng ta phải nói", Trịnh Công Sơn), hoặc "anh trở về bại tướng cụt chân..." ("Kỷ vật cho em", Phạm Duy & Linh Phương), "ngày mai đi nhận xác chồng..., anh lên lon giữa hai hàng nến chong..." ("Tưởng như còn người yêu", Phạm Duy & Lê Thị Ý)...


Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, nghệ sĩ Trần Văn Trạch và nhạc sĩ Lê Thương trong chương trình đại nhạc hội Trăm Hoa Miền Nam tại Saigon (1961)

"Chiều mưa biên giới" bị cấm phổ biến chỉ vì ra đời... sớm vài năm, trở thành một trong những bài nhạc đầu tiên được khoác cho tên gọi là "phản chiến".

"Chiều mưa biên giới" trở thành bài nhạc lính tiêu biểu của Nguyễn Văn Ðông, gắn liền với tên tuổi của ông, gắn liền với giọng hát Trần Văn Trạch, gắn liền với câu hát "lòng trần còn tơ vương khanh tướng thì đường trần mưa bay gió cuốn còn nhiều..." vừa mang tính "triết lý" về đời lính, vừa đượm vẻ... "lãng mạn Nguyễn Văn Ðông".

Hà Thanh trình bày "Chiều mưa biên giới" (*)
https://www.youtube.com/watch?v=aaI81di4FEw

Lãng mạn Nguyễn Văn Ðông

"Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt
xếp bút nghiên theo việc đao cung" (2)

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc luôn có những năm thái bình thịnh trị và những năm chinh chiến điêu linh. Khi vận nước ngả nghiêng, những chàng trai thời loạn đã hiến dâng tuổi trẻ, lên đường theo tiếng gọi của non sông, bỏ lại sau lưng những mộng ước chưa tròn... Hình tượng người lính chiến qua dòng nhạc Nguyễn Văn Ðông, ngoài lý tưởng, lòng yêu nước thương dân, tinh thần hy sinh và chiến đấu, vẫn không thiếu nét lãng mạn của "chí lớn chưa về bàn tay không, thì không bao giờ nói trở lại..." (4)

Nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha
ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em...
(Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp)

Mấy ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên...
(Mấy dặm sơn khê)

Lãng mạn Nguyễn Văn Ðông đẹp tựa câu thơ cũ, "chàng từ đi vào nơi gió cát..." (2), câu thơ về những chàng trai, những người lính chiến ôm mộng hải hồ, bạn cùng sương gió. Trên khắp các nẻo đường đất nước, từ miền địa đầu giới tuyến đến những nơi đầu sóng ngọn gió, từ những tuyến đầu lửa đạn đến những tiền đồn heo hút xa xăm, nơi đâu cũng in hằn dấu chân người lính.

Anh như ngàn gió
ham ngược xuôi theo đường mây
Tóc tơi bời lộng gió bốn phương...
(Mấy dặm sơn khê)

Lãng mạn Nguyễn Văn Ðông đẹp tựa huyền thoại "trăng treo đầu súng" trong một "phiên gác đêm xuân" giữa vùng hành quân đồi núi chập chùng.

Xác hoa tàn rơi trên báng súng
ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi...
(Phiên Gác Đêm Xuân)

Đêm nằm gối súng, chung ánh trăng
cho người này gợi nhớ thương người kia...
(Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp)

Câu hát gợi nhớ câu lục bát Nguyễn Du, "Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường..." Lãng mạn Nguyễn Văn Ðông không chỉ ở những bản tình ca gợi nhớ những mùa xuân thanh bình một thuở, như là "chiều nay hoa xuân bay nhiều quá..." hay là "chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người..." (Nhớ một chiều xuân), mà còn ở trong những câu hát của một mùa chiến chinh. Tình yêu, bên cạnh những nỗi bất trắc, vẫn nở hoa, như những đóa hồng vẫn nở bên những hầm hố và hàng rào kẽm gai. Vẫn có chút tình yêu làm quà tặng và lẽ sống cho những người lính cầm súng chiến đấu, vẫn có những ánh mắt, "nụ cười xinh tươi" trong câu chuyện tình thời chiến, câu chuyện tình "người hùng và giai nhân".

Còn đây giây phút này
còn nghe tiếng hát, nụ cười xinh tươi
còn trông ánh mắt, còn cầm tay nhau...
(Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp)

Tình yêu thường xen lẫn thân phận người lính xa nhà, xa người mình thương yêu. "Chàng thì đi cõi xa mưa gió / Thiếp lại về buồng cũ gối chăn" (2), một người đi, một người ở lại và những năm chờ tháng đợi mỏi mòn.

Một người gối chiếc cô phòng
còn người góc núi ven rừng, chân mây đầu gió...
(Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp)

Con đường đấu tranh gian khổ còn dài, những chuyến về thăm, những lần về phép, người lính chiến dừng chân trong chốc lát, rồi lại lên đường, lại miệt mài đi khi quê hương còn tiếng súng, khi máu xương còn rơi...

Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng...
Anh đến đây, rồi anh như bóng mây...
Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh...
(Mấy dặm sơn khê)

Tôi lại đi giữa trời sương gió
Mầu hoa thắm vẫn sống trong tôi...
(Sắc hoa mầu nhớ)

Người nghe đôi lúc bắt gặp đâu đó trong lời nhạc Nguyễn Văn Ðông những câu hát thật là đẹp.

Cầm tay nhau đi anh
tơ trời quá mong manh...
(Mấy dặm sơn khê)

"Tơ trời"?... Là sợi nắng lung linh hay sợi mưa phùn giăng mắc? Tơ trời mong manh hay những phút giây gần nhau cũng mong manh như những sợi... tơ trời?

Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông vẫn có những phút để hồn mình lắng xuống, để lòng mình bâng khuâng vì một sắc hoa, một mầu áo...

Chiều hành quân nay qua lối xưa
giữa một chiều gió mưa
xác hoa hồng mênh mông...

Nhìn mầu hoa vừa tan tác rơi
nhớ muôn vàn... nhớ ơi
hát trong mầu hoa nhớ...
(Sắc hoa mầu nhớ)

Cuộc đời lính chiến, nhờ vậy, cũng sẽ đẹp thêm lên một chút.

Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông không phải là "không có trái tim đắm say mộng mơ" ("Ai nói với em", nhạc Minh Kỳ & Huy Cường). Những ước mơ của người lính thật đơn sơ và "trắng như mây chiều".

Ước mong nhiều đời không (cho) bấy nhiêu
vì mơ ước trắng như mây chiều...
(Phiên gác đêm xuân)

"Mơ ước" gì vậy? Nếu không phải là nỗi ước mơ của những người đi đấu tranh để mang về mùa xuân mới cho quê hương.

Mong sao nước Việt đời đời
anh dũng oai hùng chen chân thế giới...

Người về đây giữa non sông này
hội trùng dương hát câu sum vầy
Về cho thấy con thuyền nước Nam
đi vào mùa xuân mới sang
xa rồi ngày ấy ly tan...
(Hải ngoại thương ca)

"Người lính già không bao giờ chết"...

"Hải ngoại thương ca" cũng là trường hợp đặc biệt khác, sau "Chiều mưa biên giới". Không rõ động lực nào, hoàn cảnh nào đã khiến nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông cho ra đời ca khúc ấy. Trước và sau ông hầu như chưa có nhạc sĩ nào viết về đề tài tương tự. Ðiều thú vị, các "cán bộ" văn hóa văn nghệ ở trong nước đã lầm tưởng "Hải ngoại thương ca" là "sáng tác mới" của Nguyễn Văn Ðông, đến lúc hiểu ra rằng đấy là bài nhạc cũ (1963), đã phải thốt lên, "Làm sao mà ở miền Nam ngày trước lại có bài nhạc hay đến như thế, lại phù hợp với hiện tình đất nước đến như thế!"

Thái Thanh trình bày Hải ngoại thương ca (*)
https://www.youtube.com/watch?v=vbHxA2867xo

Cái "hay" trong lời ngợi khen ấy có thể hiểu là cái hay của nội dung bài nhạc được diễn dịch theo chiều hướng có lợi và phù hợp với chính sách kiều vận, với chủ trương "hòa hợp và hòa giải dân tộc" của "nhà nước ta" đối với "khúc ruột ngàn dặm" là cộng đồng người Việt ở nước ngoài, một "bộ phận" không thể tách rời của dân tộc. Cái "hay" ấy là cái hay của những câu hát được xem là thể hiện "tâm tư tình cảm" của bà con "Việt kiều yêu nước" trong chuyến về thăm quê nhà:

Một mùa thương kết muôn hoa lòng
người về đây nối câu tâm đồng...

Tôi đi giữa trời bồi hồi
cờ bay phất phới quên chuyện ngày xưa...
Người về đây giữa non sông này
hội trùng dương hát câu sum vầy...

Không có gì đáng ngạc nhiên khi các báo trong nước đưa tin "Hải ngoại thương ca" là một trong những bài đầu tiên được Cục Nghệ thuật Biểu diễn thuộc Bộ Văn hóa Thông tin nhanh chóng duyệt qua, trong số 18 ca khúc của Nguyễn Văn Ðông được phép lưu hành trong nước kể từ năm 2003. (Trong số, có vài ca khúc quen thuộc, như "Nhớ một chiều xuân", "Về mái nhà xưa", "Thầm kín", "Khúc xuân ca", "Núi và gió", "Trái tim Việt Nam"... Tất nhiên là không có những bài... nhạc lính).

Trong lúc "Hải ngoại thương ca" được viết với nhạc điệu slow rock khá thịnh hành giữa thập niên 60's, thể hiện tình cảm phấn khởi như những bước chân đi tới, như niềm tin phơi phới vào một vận hội mới về trên quê hương, "Mấy dặm sơn khê" có tiết tấu chậm rãi hơn, tình cảm sâu lắng hơn, phác họa nét đẹp của người lính ngược xuôi trên khắp các nẻo đường đất nước. "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp" là bức tranh hoành tráng về đời lính được vẽ bằng những giai điệu, những khúc hát dạt dào tình nước, khi réo rắt, khi trầm bổng, khi lãng mạn như một khúc tình ca, khi hùng tráng như một khúc quân hành.

Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông từng được thể hiện qua những giọng ca khác nhau, từ Thái Thanh, Lệ Thanh, Hà Thanh, Khánh Ngọc, Lệ Thu... đến Trần Văn Trạch, Hùng Cường, Thanh Hùng, Duy Trác, Elvis Phương, Anh Khoa... và cả những ca sĩ "học trò" của ông. "Chiều mưa biên giới" phù hợp với chất giọng "nam bộ" và làn hơi ấm áp của nghệ sĩ Trần Văn Trạch, trong lúc "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp" lại phù hợp với chất giọng Huế mềm mại, ngọt ngào của Hà Thanh quyện với giọng ténor vang lộng của Hùng Cường (đến nay chưa có ca sĩ nào hát "hàng hàng lớp lớp chưa về, hàng hàng nối tiếp câu thề..." hay hơn Hùng Cường). Người nghe "Mấy dặm sơn khê" qua giọng hát Thái Thanh và Hà Thanh đều nhận ra mỗi giọng có cái hay riêng, có nét đẹp riêng trong cách thể hiện.

Hình tượng người lính chiến, khắc họa qua dòng nhạc Nguyễn Văn Ðông, như được "nâng" lên ở tầm mức cao hơn và đẹp hơn. Lý tưởng của những người trai anh dũng hiến thân vì tổ quốc như được tô đậm hơn; chính nghĩa của cuộc chiến đấu gian khổ của quân dân miền Nam như được soi sáng hơn. Người đời, qua đó, thấy yêu mến và gần gũi hơn những người lính, thấy cảm kích và ngưỡng phục những hy sinh cao cả và thầm lặng của người chiến binh vì nước quên mình. Vậy thì không thể nào không cám ơn ông, cám ơn người nhạc sĩ đã gieo vào lòng người những mối cảm xúc sâu đậm, những ấn tượng đẹp và sắc nét về người lính và đời lính.

Chiến tranh đã đi qua, những bài nhạc lính như thế ngày nay ít còn được nghe hát, thế nhưng dư âm lời ca tiếng nhạc của một mùa chinh chiến ấy và hình tượng hào hùng của người lính chiến quân lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đọng lại mãi trong tâm tưởng biết bao người, như câu nói bất hủ của một danh tướng Hoa Kỳ, Douglas MacArthur: "Những người lính già không bao giờ chết; họ chỉ nhạt mờ đi thôi" (Old soldiers never die; they just fade away").

Sau bao mùa tang thương dâu bể, sau bao nhiêu giông tố dập vùi, "người lính già" Nguyễn Văn Ðông, ở độ tuổi 75, vẫn một niềm tin sắt son vào hồn thiêng sông núi, vẫn chưa mất niềm tin vào vận mệnh đất nước, vẫn còn nguyên vẹn trái tim chàng lính trẻ Nguyễn Văn Ðông-nặng trĩu tình quê tình nước-của những ngày đầu bước chân vào đời quân ngũ.

Non nước ơi, hồn thiêng của núi sông
kết trong lòng thế hệ
nghìn sau nối nghìn xưa...
(Mấy dặm sơn khê)

"Nghìn sau nối nghìn xưa", những thế hệ tiếp nối những thế hệ, những bàn chân tiếp bước những bàn chân, rộn ràng theo nhau lên đường đi xây lại những ước mơ chưa thành tựu của những người đã nằm xuống cho một ngày mai tươi sáng về trên quê hương Việt Nam mến yêu.

"Mai sau dù có bao giờ", nghe lại những khúc hát về người lính và đời lính, những khúc hát của một mùa nào ly loạn, hẳn người đời vẫn còn nhớ tới những người hùng tên tuổi hay những chiến sĩ vô danh, những người con yêu của tổ quốc, những người "nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây" (2), những người đã hy sinh cả xương máu, đã hiến dâng cả tuổi trẻ, cả những năm tháng tươi đẹp nhất của đời người cho tình yêu đất nước.

"Chinh chiến đã qua một thì" (5), nhưng những bài hát về người lính anh dũng cầm súng chiến đấu để bảo vệ từng tấc đất quê hương, như những bài nhạc lính Nguyễn Văn Ðông, mỗi lần nghe lại là mỗi lần nghe dậy lên một niềm kiêu hãnh, một nỗi tự hào về một thiên anh hùng ca của dân tộc.

Cám ơn anh, người lính già, người nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông.


Lê Hữu

(1) Trả lời phỏng vấn, Hoàng Lan Chi (đài "Việt Nam hải ngoại", WA. DC, 19/5/07)
(2) Chinh Phụ Ngâm Khúc, Ðặng Trần Côn/Ðoàn Thị Ðiểm
(3) Tây Tiến, thơ Quang Dũng
(4) Tống Biệt Hành, thơ Thâm Tâm
(5) Người Về, nhạc Phạm Duy

Theo http://www.vietnhac.org/cms/index.php?option=com_content&task=view&id=124&Itemid=53

* Lời chú của AmNhac.fm: MP3 và Youtube là do BBT chen thêm vô.

http://amnhac.fm/index.php/tan-nhac/5250-nguoi-linh-trong-nhac-nguyen-van-dong
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc   Mon Dec 07, 2015 1:36 am


  
Nhật Trường, Thanh Âm bất diệt, vượt quá Sự Chết
   
Phan Nhật Nam
   
Nhật Trường Trần Thiện Thanh là người nghệ sĩ sống nổi trôi theo cùng với vận nước và cuộc chiến đấu bi tráng của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong suốt cuộc chiến 1960-1975 nơi Miền Nam . Thế nên, dẫu thuộc về thế hệ trẻ tuổi lớn lên sau 1975, không kinh nghiệm, liên hệ với cuộc chiến vừa qua. Theo diễn tiến thứ tự thời gian, qua các nhạc phẩm thì chúng ta gần như có đủ một bức tranh tổng thể cho cả miền Nam, lịch sử chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ 1954 đến ngày tàn cuộc 30 tháng 4 năm 1975.
   
Nhật Trường – Trần Thiện Thanh đã viết về người lính với những dòng nhạc ngợi ca, lời thơ trữ tình, biểu hiện những ước mơ nhân bản. Những nhóm từ ngữ: “Anh không chết đâu anh.. Nhớ anh trời làm giông bão.. Người yêu của lính.. Từ khi anh thôi học, từ khi anh khoác áo trellis..” đã trở thành ngôn ngữ quen thuộc của người Miền Nam trong đối thoại, tiếp xúc khi nói về những sinh hoạt, cảnh sống thực tế. Phá Tam Giang vùng Quảng Trị-Thừa Thiên được biết ra, nói tới nhiều hơn không phải chỉ qua những lời thơ (đã trở thành quen thuộc như ca dao)… “Yêu em anh cũng muốn vô. Sợ truông nhà Hồ. Sợ Phá Tam Giang..” nhưng đã được hiện đại hóa, thông tục hóa bởi Chiều Trên Phá Tam Giang – Nhạc phẩm Trần Thiện Thanh phổ thơ Tô Thùy Yên trải dài khắp Miền Nam qua tiếng hát Nhật Trường. Và lẽ tất nhiên, những giòng nhạc này đã bị cắt đứt bởi những người đã đoạt chiếm miền Nam. Nhưng nay, ba-mươi-bẩy năm hơn sau ngày 30 tháng Tư, 1975 cuộc tập họp đông đảo của hàng ngàn khán thính giả là một thực chứng: Người Nghệ Sĩ luôn sống mải trong chúng ta. Nhật Trường Trần Thiện Thanh quả thật đã… “Không Chết Đâu Anh” như dòng nhạc bất tận về “Người Anh Hùng Mũ Đỏ tên Đương” mà anh đã một lần tha thiết dựng nên.
   
Nhật Trường - Trần Thiện Thanh đã xây dựng những ca khúc, hát nên tiếng lời ca ngợi Người Lính với một tấm lòng – Tấm Lòng của Bằng Hữu. Bởi Tình Chiến Hữu. Điều đáng nói trước tiên là anh đã thực hiện công việc cao quý kia không phải do yêu cầu từ những cơ quan tâm lý chiến trong hay ngoài quân đội, do một nghiệp vụ thông tin, tuyên truyền, nhưng bởi thôi thúc của Bổn Phận – Bổn Phận được xác định như một Nhiệm Vụ Tự Nguyện – Nhiệm vụ của một Người Lính đối với Chiến Hữu còn sống hay đã chết. Và qua nhiệm vụ tự nguyện nầy, bằng tài năng kỹ thuật điêu luyện, cao độ (thật ra chỉ là mặt hiện thực từ, của “ý thức tình nguyện tận hiến” làm nền tảng), Trần Thiện Thanh đã viết nên, kể lại câu chuyện vô vàn về đời sống, lần yêu mến thiết tha, khi chia ly cuộc tình, buổi gục chết bi thảm.. của những đơn vị con người trong muôn một nơi Miền Nam – Những nhân vật ở đời sống bình thường (của mỗi chúng ta) nhưng đã phải kinh qua những tình huống, điều kiện sống vô vàn nguy biến suốt một cuộc chiến cực độ khắc nghiệt – Người Lính Miền Nam – Nhân vật hằng bị xuyên tạc, mạ lỵ bởi một kẻ thù thâm độc, cũng như từ tập đoàn “người bạn đồng minh” quá đỗi thực tế đến độ nhẫn tâm.
   
Chúng ta có thể kết luận mà không sợ sai lầm, nếu không có con đê vững chắc bảo vệ dậy nên từ giòng nhạc, tiếng hát của những Chiến Sĩ Văn Hóa-Văn Nghệ nhiệt tâm như Nhật Trường - Trần Thiện Thanh thì ắt hẳn ngày nay chúng ta (cùng những thế hệ Người Việt trẻ tuổi ở hải ngoại cũng như trong nước) đã là những đối tượng bị tác động một cách dễ dàng thuần thục do chính sách vận động, tuyên truyền phát xuất từ nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội.
   
Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã sống đủ cơn cào xé đau thương chung của Miền Nam ngay từ ngày 30 tháng 4, 1975, và cùng cả nước sau ngày uất hận kia với tâm chất trung hậu mẫn cảm của người Người Nghệ Sĩ – Lần lăng nhục dài lâu chỉ chấm dứt vào năm 1993 – Khi anh ra khỏi nước trở lại cùng chúng ta và thế giới âm nhạc đã bị người Cộng Sản thô bạo đóng chặt từ 1975 ở Việt Nam.
   
Đồi 31 ở mặt trận Hạ Lào, tháng Hai, 1975.. Đại quân Miền Nam gồm: Sư Đoàn Nhẩy Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư Đoàn I Bộ Binh, Lữ Đoàn I Thiết Kỵ, và Liên Đoàn I Biệt Động Quân cùng vượt biên giới Lào-Việt tiến đánh vùng hậu cần Tchépone của cộng sản Bắc Việt trên đất Lào. Lữ Đoàn 3 Dù gồm các Tiểu Đoàn 2, 3, và 8 giữ mặt Bắc của trục tiến quân. Vị trí Đồi 31 của Tiểu Đoàn 3 Dù được Pháo Đội B3 Pháo Binh Dù do Đại Úy Nguyễn Văn Đương chỉ huy yểm trợ. Vòng đai cực Bắc của Biệt Động Quân bị tấn công trước; tiếp vị trí Đồi 30 của Tiểu Đoàn 2 Dù bị công phá.. Cuối cùng, chỉ còn lại Căn Cứ Đồi 31 giữa vòng vây của một sư đoàn Bắc Việt (tỷ lệ 1 chống 15). Ngày 25/2, Đồi 31 bị tràn ngập, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ và toàn ban tham mưu lữ đoàn đồng bị bắt, căn cứ chỉ còn khẩu pháo cuối cùng, Đại Úy Đương hạ ngang nòng bắn thẳng vào toán quân cộng sản theo xe tăng T54 ào lên đồi chiếm mục tiêu, và ông gục ngã với khẩu pháo cuối cùng bị phá hủy. Trần Thiện Thanh dựng nên chân dung bi tráng hùng vĩ của Người Lính… “Anh không chết đâu anh.. Tôi vẫn thấy đêm đêm một bóng dù sáng trên đồi máu. Nghe trong đêm kêu gào từng tiếng súng pháo đến mau. Và tiếng súng.. Tiếng súng hay nhạc chiêu hồn đưa anh đi mau.. Đi mau!! Anh không chết đâu em.. Anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua.. Trong những tiếng reo hò kia kia.. Lẻ loi tiếng súng anh nhiệm mầu.. Ôi tiếng súng sau cùng đó.. Anh còn nghe tầm đạn đi không anh…”.

Anh Không Chết Đâu Em
https://www.youtube.com/watch?v=kxHrNRwjAS0
   
Ngôn ngữ, cấu nhạc bi hùng của khúc hát đã thăng hoa về lần quyết tử lẫm liệt của Đại Úy Nguyễn Văn Đương, và những chiến binh, pháo thủ của Lữ Đoàn 3, Tiểu Đoàn 3 Dù, pháo đội B3 nơi Đồi 31; cũng như toàn thể những người lính của các đơn vị, Bộ Binh, Biệt Động Quân, TQLC, Thiết Giáp, Pháo Binh đã gục ngã nơi chiến điạ Hạ Lào… Không có tinh thần hiệp sĩ hiến thân của Người Lính không thể viết nên tiếng lời cực độ cảm khích nầy. Không có tấm lòng từ nhân xót đau của Người Nghệ Sĩ không thể cấu tạo nên giòng nhạc bi tráng thắm thiết như trên…
   
Quê hương nồng nàn âm sóng biển, mùi muối mặn ấy đã nuôi lớn, phát triển nên tâm chất sung mãn, nhân ái của người nghệ sĩ, nên sau nầy dẫu khi xa khuất, trên đường hành quân, nơi những vùng đất khổ quê hương.. Giọt mồ hôi khô trên môi vẫn âm vang mùi muối thơ ấu ngày xưa, và trước mắt thoáng hiện vô hồi.. “Vùng hoang vu bóng dừa bờ cát dài. Gió lên từng chiều vàng.. “ Người nghệ sĩ đã mang quê hương theo cuộc lữ của mình…
   
Khoảng giữa thập niên 1960, Nhật Trường-Trần Thiện Thanh từ giã học đường để trở thành người lính, rồi cũng từ đó Nhạc Lính của ông ra đời. Với những bài ca gần gũi, phản ảnh tâm trạng của người trẻ tuổi vừa xa cuộc sống bình yên, nhưng vẫn còn nguyên tính thơ mộng nhân bản của tuổi mới lớn.. Nhưng những người lính trẻ đầy tính thơ mộng trong Tình Thư Của Lính dần tiếp cận chiến tranh… và họ chạm dần đến biên giới cuối cùng của Sự Chết vào một thời điểm không thể nào quên. Chiến trận Mậu Thân, Tết 1968 đỗ xuống toàn Miền Nam với những cái chết được xem như tai ương không bề tránh thoát.. Từ lần chết bi thảm oan khốc của ngàn người dân vô tội bị chôn sống nơi Trường Gia Hội, Bãi Dâu, Khe Đá Mài, Núi Ngũ Tây ở Huế.. đến cái chết bất ngờ giữa đêm Giao Thừa khi đang thắp hương, cúi lạy trước bàn thờ nơi Hàng Xanh, trong Chợ Lớn, ở Xóm Mới, Gò Vấp.. Thế nên, đến khi bài hát Rừng Lá Thấp của Trần Thiện Thanh vang lên, người dân thấm hiểu nên điều cao quý: Hóa ra họ đã sống sót được từ máu xương Người Lính. Miền Nam đã tồn tại, vượt qua trận lửa là do lần hy sinh không hề được xưng tụng từ ngàn vạn người lính vô danh – Những Người Lính chết khắp nơi suốt Miền Nam, mà nay, vừa nằm xuống không đâu xa, nơi chân Cầu Bình Lợi, trong đám lá lục bình sùi sụt bùn hôi, ở cửa ngỏ Sài Gòn đường đi Thủ Đức, Lái Thiêu… “Sao không hát cho người đánh giặc trên cầu.. Khi bùn lầy còn pha sác áo xanh. Trong khói súng xây thành, mắt quầng thâm mất ngủ.. Sao không hát cho những bà mẹ từng đêm ngóng con xa.. Hay hát cho những người vừa gục xuống chiều qua”?
   
Trần Thiện Thanh không chỉ viết lời ai điếu bi tráng riêng cho Đại Úy Vũ Mạnh Hùng của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến – Đơn vị đã chận địch tại Hàng Xanh, Cây Thị, Cầu Sơn, Cầu Bình Lợi qua Rừng Lá Thấp, mà sau đó đã dựng lại phút giây khốc liệt của Phước Thịnh, Đại Úy Trần Duy Phước, Tiểu Đoàn 9 Nhẩy Dù nơi chiến địa Tây Ninh trong Giấc Ngủ Trên Đồi Xanh. Anh cũng đã cùng Đại Úy Phi Công Trần Thế Vinh bay lên cao vào nơi bất tận trong Bay Lên Cao Đi Anh.. qua cái chết bão lửa khi con tàu lao xuống bắn cháy chiếc xe tăng cộng sản thứ 21 nơi chiến trường Trị-Thiên tháng Tư, 1972. Trần Thiện Thanh cũng sống đủ với người chết xác liệm ba lần, Đại Úy Thiết Giáp Nguyễn Ngọc Bích nơi chiến trường La Vang, Quảng Trị trong nhưng ngày Hè đỏ lửa quê hương.. Những người tuổi trẻ không trở lại với cuộc đời sau lần đi khuất lẫm liệt.
   
Trên Đỉnh Mùa Đông là một ca khúc hợp soạn giữa Trần Thiện Thanh cùng người em ruột của ông, Thiếu Úy Trần Thiện Thanh Toàn, một sĩ quan trong QLVNCH, mà tựa đề đã được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh xử dụng trong vở nhạc kịch cùng tên. Tác phẩm nầy đã làm tuôn chảy bao nước mắt cảm xúc từ khối đông khán giả mà vai nữ chính trong vở nhạc truyện Trên Đỉnh Mùa Đông luôn được giao cho nữ ca sĩ kiêm tài tử điện ảnh Thanh Lan được đánh giá là nghệ sĩ diễn xuất sống động thích đáng nhất bên cạnh Nhật Trường – Do từ mối đồng cảm thâm sâu giữa nghệ sĩ trình diễn và nghệ sĩ sáng tác – Giải thích hiện tượng nầy không khó đối với trường hợp của Nhật Trường-Trần Thiện Thanh, bởi như chúng ta hằng nhận ra: Chỉ do từ Phẩm Chất Nghệ Sĩ – Những Nghệ Sĩ Thật Sự tài năng luôn tạo nên mối đồng cảm chân tình giữa họ và khối đông gồm: Những người trình diễn – Những khán thính giả.
   
Nam Lộc kể tiếp câu chuyện bi thảm có thật (như muôn vàn câu chuyện tan vỡ, chia ly, tử biệt trong chiến tranh, nơi Miền Nam): Thiếu Úy Phạm Thái gặp gỡ Mộng Thường trên chuyến bay Air VN sau khi mãn khóa sĩ quan Đà Lạt về Sàigòn trình diện Bộ Chỉ Huy BĐQ, trước khi lên đường tác chiến. Tình yêu nảy nở dần theo thời gian giữa hai người tuổi trẻ. Liên Đoàn BĐQ của Phạm Thái trách nhiệm gánh nặng chiến đấu tại mặt trận An Lộc ngay từ giờ mở đầu chiến trận, những ngày tháng 4 năm 1972. Phạm Thái bị thương và ghi nhận là mất tích. Tin người yêu tử trận về đến Sài Gòn khiến Mộng Thường bàng hoàng đau đớn tột độ. Nhưng bỗng có một ngày Phạm Thái lại rạng rỡ trở về tìm đến với người yêu trong hình hài toàn vẹn. Anh đã được một Bà Xơ cứu thoát và dấu trong nhà thờ cho đến khi bình phục. Phạm Thái trở lại An Lộc, được vinh thăng Trung Úy, anh viết thư báo tin người yêu, Mộng Thường đi xe đò lên dự buổi lễ gắn lon, nhưng định mệnh nghiệt ngã, chiếc xe đò trúng mìn cộng sản tan nát thành mảnh vụn. Mộng Thường vĩnh viễn ra đi về thế giới bên kia, bỏ lại nỗi đau đớn tận cùng của người yêu, chàng sĩ quan trẻ mang tên Phạm Thái. Nhạc phẩm Tình Thiên Thu, Nguyễn Thị Mộng Thường được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết nên để tiếc thương hình bóng Mộng Thường cùng mối tình đã chết theo cuộc ly biệt đau thương trong thời chiến.
 
Chuyện tình Mộng Thường
https://www.youtube.com/watch?v=qMz9VpL8q0I   

So sánh với những người viết nhạc cùng thời về Chủ Đề Lính, thì có lẽ ít ai để ý đến nhiều khía cạnh trong cuộc đời và thân phận người lính bằng Trần Thiện Thanh, và đó cũng là lý do để những bài nhạc của anh đã làm cho cả một hậu phương đang thờ ơ bỗng trở nên biết yêu thương, kính phục người lính; thúc dục người lính hãnh diện hơn đối với cuộc sống quân ngũ của bản thân và đồng đội. Anh được mệnh danh là “Nhạc Sĩ của Lính” bởi ảnh hình người mặc quân phục, nét sắc, sinh hoạt của người lính tràn ngập hầu như toàn diện trên các nhạc phẩm.. Trần Thiện Thanh viết về đủ các quân binh chủng.. Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Bộ Binh, Không Quân, Hải Quân. Mỗi bài đều mang những nét đặc sắc của những người lính trong đơn vị binh chủng ấy, như bài Hoa Biển, đã trở thành bài hát thuộc lòng của những người thủy thủ.. Hai bài hát viết vào thời Tết Mậu Thân 1968 là bài Bà Tư Bán Hàng chuyện của một bà mẹ tự hào có những người con đi lính trận, và một bài khác là bài Chị Ba Hàng Xanh, chuyện một người đàn bà bình thường nhưng đã dũng cảm cầm dao chống lại những kẻ có vũ khí khi toán bộ đội cộng sản tràn vào khu xóm trong giờ phút Giao Thừa thiêng liêng cổ tuyền dân tộc. Hình như ít ai biết được Trần Thiện Thanh là tác giả bản Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hành Khúc – Khúc quân hành nung lòng chiến đấu của đội ngũ chiến binh kiệt liệt của Quân Lực Miền Nam – Đơn vị bộ binh chận giặc nơi vùng địa đầu đất nước qua lằn ranh Khu Phi Quân Sự nam Sông Bến Hải.
   
Mùa hè 1966, rừng núi Tây Nguyên, thủ phủ Pleiku bày tràn cảnh tượng chiến tranh. Đại pháo ngày đêm ầm vang xé núi, dội rung thành phố, và khoảng không gian luôn bị chia cắt bởi những đoàn phi cơ với đôi cánh sắt màu xám bạc vùn vụt xé ngang bầu trời, để lại những âm động rì rầm đe dọa… Thị xã Pleiku trở nên là một ”Thành Phố Lính” điển hình với những người lính đội nón sắt, lưng đeo giây đạn mệt nhọc di chuyển khắp nơi; xe nhà binh, chiến xa chạy ngang dọc bốc bụi mù đỏ chạch, hay kéo lầy bùn ố bẩn vào con đường phố chính. Trong khung cảnh chiến tranh đè nặng xuống vùng thủ phủ Tây Nguyên, Trần Thiện Thanh đã mô tả, sống cùng chiến tranh – người lính qua nhãn giới rộn rã của tình yêu bất diệt luôn hiện diện với con người. Điển hình thời điểm sáng tác nầy, 1965-1966 chúng ta có thể kể ra ca khúc Tuyết Trắng để làm dấu mốc khởi sự.
   
Nếu ngày trước, qua Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn được diễn ngâm bởi Đoàn Thị Điểm, chúng ta có hình tượng người đi chinh chiến: Áo chàng đỏ tựa ráng pha. Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in. Chàng từ đi vào nơi gió cát. Đêm trăng nầy nghỉ mắt phương nao.. Thì nay, qua Tuyết Trắng, Trần Thiện Thanh đã mô tả nên một hoạt cảnh hào hùng nhưng không kém phần lãng mạng, thơ mộng của Việt Nam thời binh loạn. “Phi đạo chạy dài anh cất cánh bay lên.. Ngã nghiêng cánh bay, con tàu khép lại một vùng tuyết trắng ngần…”. Từ trên cao, giữa tầng mây lớp lớp, Người Nghệ Sĩ hiện sống giữa bầu trời, trên mặt đất quê hương, để từ đấy viết nên lời ngợi ca hồn hậu rất hiện thực mà cũng tràn đầy nhân tính.. (qua lần thay lời cho người phi công đang lái con tàu trong một một phi vụ tác chiến..) để nói về nỗi thương nhớ đối với một người yêu khi con tàu lao vào giữa vùng mây bảo. “Khi nắng chiều buông, không gian chợt tối.. Xóa nhòa vùng tuyết trắng mênh mông…” – Mà thật sự cũng là một bẫy chết có thể xẩy ra bất cứ lúc nào – Bởi đạn phòng không của bộ đội cộng sản (những đơn vị nặng chính quy Miền Bắc) rất dễ dàng bắn hạ chiếc phi cơ quan sát mỏng manh mà người bạn phi công đã bất chấp luật lệ an phi chấp thuận cho Nhật Trường tháp tùng
   
Chúng ta cũng cảm nhận được “sức mạnh nhân bản” của ca khúc (dẫu chẵng phải là một tuyệt tác hàng đầu nghệ thuật), nhưng đã tồn tại trên bốn-mươi năm, và chắc chắn ngôn ngữ, thanh âm, thuần hậu của Trần Thiện Thanh… “Mây dâng thật thấp, mây vương lụa trắng… mây pha mầu nắng…” sẽ tiếp tục tồn tại như khối tuyết vân tinh khiết, vĩnh cữu có khả năng xóa mờ những “chân mây đỏ máu in hình nòng súng cao xạ vươn lên trên trời cao!!”.. Loại hình tượng tràn đầy “ác tính” trong những bài hát của những người cầm quyền cộng sản ở Hà Nội luôn “giáo dục và huấn luyện” những người gọi là “nghệ sĩ nhân dân” phải cố công viết nên thành.
   
Theo nhận định của Việt Dzũng, trong những ca khúc phổ thơ của những tác giả Nhất Tuấn, Kim Tuấn, Du Tử Lê.. nơi Miền Nam , thì nhạc phẩm của Trần Thiện Thanh phổ thơ của thi sĩ Tô Thùy Yên từ bài thơ bi thiết sâu lắng Chiều Trên Phá Tam Giang là một trong những ca khúc phổ thơ có giá trị nhất. Đặc biệt với kỹ thuật song tấu ở phần nhạc mở đầu bài hát. “Nhớ ôi là nhớ… ôi là nhớ đến bất tận…”. Nhưng bài hát không chỉ có giá trị là thế, nó còn mở ra cho người nghe những ấn tượng, biểu hiện mà Phá Tam Giang đã tạo dựng nên trong lịch sử, văn học.. Và hơn thế nữa, bài hát nhắc nhở cho chúng ta, khán giả hôm nay nơi hải ngoại về một ngày trọng đại của quê hương.. Mùa Hè 1972 thế trận giữ nước Miền Nam bước vào một giai đoạn quyết định với những chiến thắng lẫm liệt khắp ba vùng: Kontum được giữ vững; An Lộc được giải tỏa, và nơi vùng Hỏa Tuyến, Chiến Dịch Lôi Phong đang khai diễn với hai mũi tiến công thần tốc cùng tiến về thị Xã Quảng Trị do hai đại đơn vị kiệt liệt nhất của quân lực cộng hòa đảm nhiệm: Sư Đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tổ chức những cuộc “Đi và Sống với Chiến Trường”có sự tham dự của những văn nghệ sĩ tên tuổi của Sài Gòn.. Một buổi chiều Tháng 6, 1972 một chiếc trực thăng xuất phát từ Đà Nẵng bay lên căn cứ Hương Điền của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến sau đó theo Phá Tam Giang bay dọc ra hướng Bắc hướng Cổ Thành Quảng Trị. Một trong ba hành khách trên trực thăng – Tô Thùy Yên sau khi về lại Sài Gòn đã viết nên những lời thơ tinh tế cô sắc.. Chiếc trực thăng bay là trên mặt nước. Như cơn mộng nhanh. Phá Tam Giang, phá Tam Giang, Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát.. Ngó xuống cảm thương người lỡ bước, Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi.. Nhìn xuống cảnh vật tàn tạ. Nhìn thấy con người tan tác.. Người thi sĩ thấm hiểu ra cốt lõi bi thảm phi lý của chiến tranh: Ví dầu người bắn rụng ta.. Như tiếng thét. Xé hư không bặt im.. Chuyện cũng thành vô ích. Ví dầu ngươi gục. Vì bom đạn bất dung.. Nào có chi đáng kể! Chuyển qua Phần thứ Hai, bài thơ mô tả nỗi buồn thảm của phận người, và sự bất lực của tình yêu dẫu là mối tình thắm thiết chân thật.. Và Trần Thiện Thanh đã gắn thêm âm sắc kỳ ảo của cấu nhạc vào nỗi buồn bã của Chiều Trên Phá Tam Giang… “Anh chợt nhớ em.. Nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ… Giờ nầy thành phố chợt bùng lên. Em giòng lệ vẫn rát chảy tuôn. Nghĩ đến một điều anh không rõ.. Nghĩ đến một điều em sợ không dám nghĩ.. Hãy nghĩ tới anh.. Hãy nghĩ tới anh. Đến một người đi giữa chiến tranh…”. Quả thật, từ tình yêu “mộng mơ” trong Tình Thư Của Lính đầu thập niên 60 đến tình yêu của người lính đang đối mặt với cái chết giữa chiều nắng vàng hoang sơ trên Phá Tam Giang ngày Hè 1972 đã có một bước rất lớn – Bước của tận Khổ Đau. Cũng là bước của thật Yêu Thương. Nhật Trường hiện thực bước nhảy vọt kỳ diệu nầy trong âm nhạc thắm thiết Trần Thiện Thanh.
   
Cũng vào thời điểm Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã đánh một trận khốc liệt, cũng lẫy lừng nhất trong quân sử VNCH, tuy nhiên đơn vị thiện chiến mệnh danh là Song Kiếm Trấn Ải này đã bị thương vong hơn bốn trăm chiến binh, cùng để lại nơi đồi Charlie xác thân người anh cả của tiểu đoàn: Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo.
   
Nhân lần gặp gở với cá nhân tôi, Phan Nhật Nam (người viết bút ký Mùa Hè Đỏ Lửa) vào một buổi cuối năm 1972 tại Sài Gòn. Trần Thiện Thanh có nhận xét: “Ông (PNN) viết đọc nghe ghê quá – Đoạn viết trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” ở Quảng Trị.. Viết về tiếng lửa lép bép thịt da người nung chín!!”. Tôi thành thật trả lời: “Sợ viết như thế cũng chưa đủ. Còn nhiều điều ghê gớm, đau thương hơn nữa..” Khi trở lại quán nhạc Tiếng Hát Đôi Mươi (góc đường Lê Lợi-Công Lý), Trần Thiện Thanh ngõ ý muốn viết một ca khúc căn cứ trên những nội dung Mùa Hè Đỏ Lửa. Tôi ngần ngại.. “Sách tôi viết theo lối phóng sự chứ đâu phải thơ để phổ nhạc.. Lại toàn chuyện súng đạn, chết chóc.. Tuy nhiên nếu muốn thì ông lấy thử đoạn nói về Anh Bảo, chương “Người Ở Lại Charlie”. Và ca khúc đã thành hình với tiếng lời vang dội núi sông, thăm thẳm trong lòng người hơn ba-mươi năm qua, hiện vẫn còn tác động mạnh mẽ người nghe (trong cũng như ngoài nước).
   
Bi kịch không riêng đối với những người lính Tiểu Đoàn 11 Dù, qua lần đi khuất của Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo – Nhưng cũng là bi kịch của mỗi thân phận Người Miền Nam hiện thực qua hy sinh xả kỷ của Người Lính, sự chịu đựng âm thầm của Người Vợ-Đứa Con Người Lính. Và hôm nay ba-mươi-bẩy năm sau ngày mất quê hương, Nỗi Đau kia hằng mới vì Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung, cùng với những dấu tích kỳ diệu miên viễn của Tình Yêu trong đời sống trần thế giới hạn của nhân sinh.
   
Chúng tôi xin dùng lời nhận xét của chính mình, cá nhân Phan Nhật Nam, người khách đã đến theo lời mời của ban tổ chức chương trình để kết luận mà không sợ mang tiếng đã nhận định quá độ về Người và Việc đối với một buổi sinh hoạt ca nhạc: “..Nếu không có Nhật Trường-Trần Thiện Thanh thì ai trong chúng ta biết đến một người gục chết nơi Rừng Lá Thấp ở chân Cầu Bình Lợi vào ngày đầu xuân năm 1968 tên gọi Đại Úy Vũ Mạnh Hùng thuộc Tiểu Đoàn 3 Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến?! Nhưng dẫu sao người chết trẻ ấy còn cho rõ một tính danh, một cấp bậc, về một đơn vị, nơi một địa điểm không xa đường phố trung tâm Sài Gòn.. Vào cùng lúc suốt cuộc chiến dằng dặt mười–lăm năm, hằng này, hằng giờ tại mỗi hẻm núi, sâu rừng thẳm, trên mỗi thước bùn lầy, kinh rạch nơi Miền Nam, hằng trăm, hằng ngàn con người – Những người còn rất trẻ ngã xuống không tiếng lời trăn trối, không hồi kèn truy điệu, tiễn biệt với lượng máu tự thân thấm xuống mạch đất quê hương nhỏ giọt, im lìm.. Không có Nhật Trường. Không có Trần Thiện Thanh nào ai biết Charlie, Delta.. là ở những nơi nào.. Vì thật sự đấy chỉ là những cứ điểm quân sự nhỏ nhoi, vô danh tính bên sông Pô Kơ, cạnh Đường 14, lối lên Dakto, Daksut xa xôi. Nhật Trường – Trần Thiện Thanh đã đưa những nơi chốn heo hút, nguy biến kia vào trí nhớ người Miền Nam luôn nhớ nước, cũng đồng thời nhắc nhở cho mỗi chúng ta biết rằng, khi đang sống yên lành ở Sài Gòn, Nha Trang, Đà Lạt, Cần Thơ là lúc được bảo vệ bởi muôn vạn người lính vô danh – Những Người Quyết Tử cho Tổ Quốc Quyết Sinh – Hành vi hiến tế cao cả không hề tuyên công mãi sau 30 tháng Tư, 1975, người Miền Nam (của tất cả Việt Nam) khi bước chân xuống thuyền vượt biên mới nhận ra: Họ đã không còn Người Lính Bảo Vệ – Bởi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị bức tử cùng lần sụp vỡ Miền Nam.
   
Và cuối cùng, khi lao mình vào sóng lớn biển khơi với con tàu mỏng manh nhỏ bé, tất cả những người vượt biển, hoặc xuyên rừng rậm vượt biên trong suốt một thập niên 70-80 chắc hẳn không vì những nguồn lợi vật chất nơi nước Mỹ, Canada, Australia thúc dục.. Khối người cao thượng đó – Chính là mỗi chúng ta đã hiện thực một chọn lựa linh thiêng không hề nói ra lời – Hoặc Chết hoặc được sống Tự Do. Tương tự như thế, sự có mặt của mỗi khán giả hôm nay trong buổi sinh hoạt mang chủ đề Anh Không Chết Đâu Anh bao gồm một giá trị thầm kín vĩnh cửu – Mỗi Người Việt thật mang sẵn một sứ mạng cao quý: Họ chính là nhân tố, là nguồn sức mạnh thực hiện cuộc chiến đấu cho Tự Do – Một cuộc chiến chưa hề kết thúc. Không bao giờ chấm dứt. Cao hơn cái chết. Vượt quá cái chết.
   
Phan Nhật Nam

Tuyển Tập Những Ca Khúc Song Ca Hay Nhất Của Nhật Trường - Thanh Lan
https://www.youtube.com/watch?v=VZXp5Q9-8Wc
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 239
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc   Tue Jun 21, 2016 1:50 pm



Bài ca nào cho người ngã xuống?

Người Buôn Gió
Thứ Hai, ngày 20 tháng 6 năm 2016

Có rất nhiều rất khác biệt trong nền âm nhạc của hai miền Nam Việt Nam và Bắc Việt Nam trong cuộc nội chiến 20 năm, nhất là khi diễn tả về cảm xúc trong chiến tranh.

 Trong sự kiện bi thảm đối với 10 người lính của quân đội Việt Nam CNXH vừa tử nạn vào những ngày trung tuần tháng 6 vừa qua, trên mạng xuất hiện vài bài thơ tiếc thương người lính đã tử nạn, tác giả của những bài thơ đều là những người không chuyên.

 Chợt nhận ra rằng, Bắc Việt thời nội chiến 1954-1975 cho đến nay. Không hề có nhạc phẩm nào tiếc thương những người lính của họ đã chết trận.

 Trong khi đó nền âm nhạc Nam Việt Nam đều có những bài hát để đời, những lời tha thiết, tiễn đưa trong các nhạc phẩm thật và xúc động. Chính vì tình cảm thật như vậy nên những bài hát đó sống mãi đến tận bây giờ.

 Có lẽ đứng đầu trong các nhạc sĩ có những bài ca u buồn, bi tráng và cảm thông với gia đình người lính, số phận người lính VNCH nhất sẽ là nhạc sĩ Trần Thiện Thanh với chùm nhạc phẩm đặc sắc, đi sâu vào lòng người nghe, thấm từng thớ thịt để ngấm tận trái tim. Đó là những nhạc phẩm như Anh Không Chết Đâu Anh, Người Ở Lại Charlie, Bắc Đẩu....



 Trong Nhạc Phẩm Anh Không Chết Đâu Anh, ca từ da diết như cái níu gọi người lính, trong những giây phút bi tráng cuối cùng của số phận.

- Ôi tiếng súng sau cùng đó, anh còn nghe tầm đạn đi không anh .?

Câu hỏi như tiếng khóc nghẹn ngào, xót xa ...khiến cái chết của người lính dù mũ đỏ Nguyễn Văn Đương không thể nào phôi phai trong lòng người dân Nam Việt Nam. Khác biệt rất nhiều với Bắc Việt, âm nhạc VNCH không hề né tránh khi khơi những nỗi đau, những thân phận của người ở lại. Nếu như ở Bắc Việt sẽ bị kết án tù vì tội tuyên truyền uỷ mị , phá hoại tinh thần chiến đấu, thì nền âm nhạc Nam Việt lại được tự do để diễn tả những thân phận ấy.

- Anh chỉ về với mẹ mong con, trong tim cô sinh viên hay buồn, trên khăn tang cô phụ....

Thắng thắn và thật trong cảm xúc, lời bài Người Ở Lai Charile về sự hy sinh của đại tá Nguyễn Đình Bảo cũng vậy.

- Đợi anh về
Chỉ còn trên vầng trán đưa bé thơ
Tấm khăn sô
Người goá phụ cầu được sống trong mơ.

Trong các nhạc phẩm tiễn đưa người lính tử trận trên, hình ảnh những người mẹ, người vợ người yêu, người con của người lính đều được nhắc đến. Chỉ có vợ con và mẹ già của người lính là những người chịu đau thương nhất sau sự hy sinh của người lính, vì thế nỗi đau của họ được khắc hoạ vào nhạc phẩm làm cho người nghe càng thấy giá trị của những lính đã hy sinh.

Phạm Duy với ca khúc Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc như một bản trường ca, như cả một câu chuyện dài về người phi công Phạm Phú Quốc. Băt đầu từ lúc sinh ra người mẹ đặt tên cho đến lúc người phi công Phạm Phú Quốc lìa đời trong chiến trận. Ca từ lặp lại nhiều đến tê tái lòng người.

- Chiều nao anh đi làm kiếp người hùng
Chiều nao, than ôi rụng cánh đại bàng
Chiều nao anh đi, anh về đất
Chiều nao anh đi về nước
Chiều nao huy hoàng
Bụi vàng bay khắp không gian

Cái đặc biệt của Phạm Duy là lồng cả câu chuyện cuộc đời người phi công Phạm Phú Quốc với cuộc nội chiến bi thương của dân tộc lúc đó, để đời sau khi nghe lại bản trường ca bi tráng này,  hình dung được những khoảng thời gian nghiệt ngã của đất nước trong cảnh nội chiến tương tàn.

 Miêu tả tận cùng nỗi đau của thân nhân người lính hy sinh, nhưng không vì thế mà các nhạc phẩm trở thành bi luỵ, yếu đuối làm ảnh hưởng đến sự hy sinh cao cả của người đã khuất. Trong các nhạc phẩm ấy đều có những đoạn vinh danh, có những lời tiễn đưa an ủi khiến người ở lại thấy ấm lòng. Khiến cho vong linh của người đã khuất được nhẹ nhàng đi về bên kia cuộc đời.

Hãy lắng nghe những lời an ủi và tiễn đưa người lính tử trận của Trần Thiên Thanh, để thấy duy nhất trong lịch sử Việt Nam là có những nhạc phẩm tiễn đưa người lính rất đặc biệt như thế.

- Anh không chết đâu anh, anh chỉ về với mẹ mong con.

- Vâng, chính anh là ngôi sao mới, một lần chợt sáng trưng.

- Vòm trời Ngọc Bích đã thênh thanh, lời mời gọi anh bước chân sang.

Và tiếp nữa là Phạm Duy với lời tiễn biệt như ghi công trạng người phi công Phạm Phú Quốc vào lịch sử.

Từ nay trong gió xa khơi
Từ nay trong đám mây trôi
Có hồn anh trong cõi lòng tôi.
Anh Quốc ơi!
Nghìn thu anh nhớ tới tôi
Thì xin cho Thái Dương soi
Nước Việt Nam ngời sáng... muôn đời.

 Luồng cảm xúc tiếc thương người lính hy sinh trong nền âm nhạc của VNCH lúc đó còn có cả Trịnh Công Sơn với nhạc phẩm Hát Cho Người Nằm Xuống.

- Anh nằm xuống, sau một lần, vào viễn du, đứa con xưa đã tìm về nhà.

Bắc Việt có hàng triệu người lính tử trận từ đó đến nay, từ cuộc nội chiến Nam Bắc 1954 đến cuộc chiến Tây Nam với Khơ Me Đỏ rồi cuộc chiến biên giới phía Bắc đến Gạc Ma. Nhưng chẳng có bài ca nào nhắc đến họ. Sự hy sinh của họ được coi như những cỗ máy, nó không có dấu ấn của cá nhân con người, bởi thế không có nhạc phẩm nào của Bắc Việt nhắc đến tâm tư của họ cũng như nỗi niềm thân nhân họ ở lại. Thậm chí đến cuộc tưởng niệm về những người chiến sĩ hy sinh ở Gạc Ma, ở biên giới phía Bắc  do người dân tổ chức cũng không được phép diễn ra.

 Nửa thế kỷ trôi qua, tuy chế độ của những người lính VNCH đã không còn hiện diện trên mảnh đất Việt Nam bởi thất trận. Nhưng trên khắp đất nước Việt Nam ngày nay, người ta  vẫn còn nghe thấy những cái tên người lính của chế độ ấy đã  hy sinh quả cảm thế nào, qua những nhạc phẩm đi vào lòng người từ thế hệ này sang thế hệ khác của Trần Thiện Thanh, Phạm Duy....

 Bắc Việt thỉnh thoảng cũng có những bài hát về chị Võ Thị Sáu, anh Nguyễn Văn Trỗi, anh Kim Đồng theo kiểu tuyền truyền vô cảm,  những đó không phải là những người lính chết trận. Đấy là những người hoạt động cách mạng cho Đảng. Còn phần những người lính Bắc Việt hy sinh thì hình như chẳng có bài nào. Trớ trêu nhất là người anh hùng Lê Đình Chinh hy sinh đầu tiên trên biên giới phía Bắc do ngăn cản quân xâm lược Trung Quốc lại có vài lời ca do bọn trẻ con hồi ấy đặt ra theo nhạc bài Dậy Mà Đi

- Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi
Bọn Trung Quốc nó sang Việt Nam
Cầm dao nhíp giết Lê Đình Chinh.

Có lẽ lời ca nhưng đồng dao này là minh chứng hoen ố trong nền âm nhạc của Bắc Việt khi thiếu vắng các ca khúc tiễn đưa những người lính của họ đã hy sinh.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 239
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc   Fri Aug 05, 2016 12:24 am




https://www.youtube.com/watch?v=XyfAsFPTdCI



Việt Nam Cộng Hòa - 47 Hùng Ca & Hành Khúc

[0:00:00] 01. Quốc Ca VNCH (Quốc Hội Lập Hiến Việt Nam năm 1956)
[0:01:17] 02. Phút Mặc Niệm
[0:03:17] 03. Việt Nam Minh Châu Trời Đông
[0:07:31] 04. Việt Nam Việt Nam
[0:11:07] 05. Hội Nghị Diên Hồng
[0:17:01] 06. Bạch Đằng Giang
[0:20:43] 07. Ải Chi Lăng
[0:24:19] 08. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ
[0:29:11] 09. Xuất Quân
[0:33:00] 10. Thúc Quân
[0:35:52] 11. Chiến Sĩ Ca
[0:38:52] 12. Bài Ca Chiến Thắng
[0:43:50] 13. Thề Chiến Thắng Quân Thù
[0:46:56] 14. Ngày Quật Khởi
[0:49:37] 15. Thề Không Phản Bội Quê Hương
[0:53:14] 16. Cờ Bay Trên Cổ Thành Quảng Trị
[0:57:06] 17. Lửa Máu Hận Thù
[1:01:19] 18. Trên Đầu Súng Ta Đi
[1:04:58] 19. Lục Quân Việt Nam
[1:09:35] 20. Thủy Quân Lục Chiến hành Khúc
[1:13:52] 21. Hải Quân Việt Nam
[1:17:13] 22. Không Quân Hành Khúc
[1:21:18] 23. Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc
[1:30:49] 24. Thiếu Sinh Quân Hành Khúc
[1:33:37] 25. Thiết Giáp Binh Hành Khúc
[1:37:30] 26. Cảnh Sát Quốc Gia Hành Khúc
[1:41:07] 27. Chiến Sĩ Vô Danh
[1:45:15] 28. Về Miền Nam
[1:49:00] 29. Vó Câu Muôn Dặm
[1:52:07] 30. Anh Về Thủ Đô
[1:55:31] 31. Ta sẽ Về Đông Hà
[1:58:54] 32. Anh Đi Chiến Dịch
[2:04:32] 33. Cô Gái Việt
[2:07:09] 34. Trưng Nữ Vương
[2:11:29] 35. Khỏe Vì Nước
[2:14:21] 36. Đường Chúng Ta Đi
[2:18:21] 37. Đoàn Quân Đi
[2:22:19] 38. Nhà Việt Nam
[2:26:03] 39. Ta Là Người Việt Nam
[2:28:18] 40. Đêm Mê Linh
[2:33:40] 41. Hát Cho Ngày Sài Gòn Quật Khởi
[2:39:52] 42. Mẹ Việt Nam Ơi Chúng Con Vẫn Còn Đây
[2:45:07] 43. Vẫn Còn Đây Các Con Của Mẹ
[2:51:05] 44. Em vẫn Mơ Một Ngày Về
[2:56:05] 45. Bài Hát Đấu Tranh
[2:59:11] 46. Đáp Lời Sông Núi
[3:02:26] 47. Cám Ơn Anh


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 239
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc   Fri Aug 12, 2016 12:18 am



ÔB Nguyễn Văn Đông 2007

Kể về ca khúc: “Phiên gác Đêm Xuân”

 
Hoàng Lan Chi: trong những ngày đầu tháng hai, năm 2007, khi tuyết phủ trắng cả bầu trời Virginia, chúng tôi cảm thấy nhớ nắng Sài Gòn và đã gọi về Việt Nam trò chuyện với Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông.

Mùa xuân coi như vừa đến với người Việt dù trong nước hay hải ngoại. Xuân bây giờ là thanh bình nhưng khi trò chuyện với nhạc sĩ thì chúng tôi lại nhớ đến nhạc phẩm Phiên Gác Đêm Xuân với những lời ca thật thấm thía của người ngoài biên giới trong một phiên gác đêm. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã kể:

Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến khu Đồng Tháp Mười, được xem là mặt trận tiền tiêu nóng bỏng vào thời bấy giờ. Khi ấy, tôi mang cấp bực Trung úy, mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm tình đã nung trong lửa chín ở quân trường. Chính tại Đồng Tháp Mười, vùng đất địa linh nhân kiệt, đã gợi hứng cho tôi sáng tác những bản hùng ca như Súng Đàn, Vui Ra Đi, một thuở được hát vang trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Rồi tiếp sau đó là các bản nhạc Phiên Gác Đêm Xuân, Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ được ra đời cũng tại vùng đất thiêng này. Khi đi vào vùng hỏa tuyến, là chàng trai trẻ độc thân, với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong ba-lô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời.
Ngày đó Đồng Tháp Mười còn là đồng không mông quạnh, lau sậy ngút ngàn, dân cư thưa thớt, sống co cụm trên những gò đất cao giữa vùng đồng lầy nước nổi quanh năm. Người ở hậu phương lúc bấy giờ nhìn về Đồng Tháp Mười như là vùng đất bí hiểm với những huyền thoại Lúa Ma nuôi quân đánh giặc, về Tổng Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Vương thời chống Pháp qua những trận đánh lẫy lừng ở Gãy Cờ Đen, Gò Tháp mà chiến tích được tạc vào bia đá ở Tháp Mười Tầng còn lưu lại đến ngày nay. Mùa xuân năm đó, đơn vị tôi đóng trên Gò Bắc Chiêng, có tên là Mộc Hoá, nằm sát biên giới Việt Nam-Campuchia, sau này là Tỉnh lỵ Kiến Tường. Đơn vị cũa tôi đã có những cuộc giao tranh đẫm máu vào những ngày giáp tết trên những địa danh Ấp Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông Bình, Cái Cái, Tân Thành. Dù vậy, mùa xuân vẫn có cánh én bay về trên trận địa và hoa sen Tháp Mười vẫn đua nở trong đầm dù bị quần thảo bởi những trận đánh ác liệt. Cứ mỗi độ xuân về, sông Vàm Cỏ lại mang về từng đàn tôm cá từ biển hồ Tông Lê Sáp, vượt vũ môn theo đám lục bình trôi về vùng Tam Giác Sắt, như nhắc nhở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Đồng Tháp Mười lập danh sách cho những người được về quê ăn Tết. Vì còn độc thân nên tên tôi được ưu tiên ghi vào Sổ Nhật Ký Hành Quân và ở lại đơn vị trong những ngày Tết. Dù không ai nghĩ có đánh nhau ngày đầu năm nhưng quân lệnh phãi được tuân hành nghiêm chỉnh. Trước ba ngày Tết, tôi được lệnh lên chốt tiền tiêu, tăng cường cho cứ điểm, mang theo chiếc ba-lô với chút hành trang lương khô, cùng tấm ảnh cũa người em gái hậu phương, cũng là cơ duyên sau đó để tôi viết nên bài tình ca Sắc Hoa Màu Nhớ.
Tiền đồn cuối năm, đêm 30 Tết, trời tối đen như mực, phút giao thừa lạnh  lẽo hắt hiu, không bánh chưng xanh, không hương khói gia đình. Tôi ngồi trên tháp canh quan sát qua đêm tối, chỉ thấy những bóng tháp canh mờ nhạt bao quanh khu yếu điểm như những mái nhà tranh, chập chờn dưới đóm sáng hỏa châu mà mơ màng về mái ấm gia đình đoàn tụ lúc xuân sang. Thay cho lời chúc Tết là tiếng kẻng đánh cầm canh và tiếng hô mật khẩu lên phiên gác. Vào đúng thời điểm giao thừa, ngọn đèn bão dưới chiến hào thắp sáng lên như đón chào năm mới thì cũng là lúc những tràng súng liên thanh nổ rền từ chốt tiền tiêu. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân. Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài Phiên Gác Đêm Xuân:

“Đón giao thừa một phiên gác đêm
chào Xuân đến súng xa vang rền.
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
ngỡ rằng pháo tung bay
ngờ đâu hoa lá rơi…”

Rồi mơ ước rất đời thường:

“Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
mơ rằng đây máinhà tranh
mà ước chiếc bánh ngày xuân
cùng hương khói vương niềm thương…”

https://www.youtube.com/watch?v=Hp4gPhay4GY
Phiên Gác Đêm Xuân - Hà Thanh

Bài Phiên Gác Đêm Xuân được ra đời trong hoàn cảnh như thế, cách đây nửa thế kỷ, đánh dấu một chuỗi sáng tác của tôi về đời lính như Chiều Mưa Biên Giới, Mấy Dặm Sơn Khê, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Xin Đừng Trách Anh, Lá Thư Người Lính Chiến, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt… vân vân. Sau ngày 30 tháng Tư năm 75, các bản nhạc này cùng chung số phận tan tác như cuộc đời chìm nổi của tôi.

HLC: Khi nghe nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông kể về Đồng Tháp Mười về tiền đồn đêm ba mươi, chúng tôi thấy rất ngậm ngùi. Mùa Xuân là đoàn tụ mà vào thời chiến tranh, những người lính đã phải mơ ước đến chiếc bánh ngày xuân, đến huơng khói giao thừa trong khi đồn biên giới vô cùng lạnh lẽo. Để thay đổi không khí cho nhạc sĩ đỡ buồn, chúng tôi hỏi về hãng dĩa Continental, một hãng dĩa đã thành công trong việc “lancer” tên tuổi Thanh Tuyền và Giao Linh,  Nhạc sĩ NVĐ đã kể như sau:

Vào năm 1960, tôi và người bạn cao niên tên là Huỳnh Văn Tứ, một nhà doanh nghiệp có tiếng ở Sàigòn, cùng đứng ra sáng lập hãng dĩa Continental và Sơn Ca. Ông Huỳnh Văn Tứ phụ trách Giám Đốc Sản Xuất, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông phụ trách Giám Đốc Nghệ Thuật. Chủ  trương của chúng tôi là nhắm vào hai bộ môn Tân Nhạc và Sân Khấu Cải Lương Ca Cổ. Về lãnh vực Tân Nhạc, tôi cho ra đời hàng trăm chương trình mang dấu ấn của hãng Continental, Sơn Ca, Premier. Chính hãng Continental, Sơn Ca đã đi tiên phong trong việc thực hiện Album riêng cho từng cá nhân ca sĩ, như Khánh Ly với Sơn Ca số 7,  Lệ Thu với Sơn Ca số 9, Thái Thanh và Ban Hợp Ca Thăng Long với Sơn Ca số 10 và nhiều Album cho Phương Dung, Thanh Tuyền, Giao Linh,  làm vinh danh những tài năng này ở thập niên 60 và 70. Riêng về bộ môn Sân Khấu Cải Lương Ca Cổ , tôi đã thực hiện hàng trăm chương trình Tân Cổ  Giao Duyên và trên 50 vở tuồng cải lương kinh điển nổi tiếng như Nửa Đời Hương Phấn, Đoạn Tuyệt, Tiếng Hạc Trong Trăng, Sân Khấu Về Khuya, Mưa Rừng… vân vân. Chính trong thời gian này, tôi tạo thêm hai bút danh nữa là nhạc sĩ Phượng Linh và soạn giả Đông Phương Tử, nhằm phục vụ cho bộ môn Cải Lương Sân Khấu và Tân Cổ Giao Duyên. Bút danh Phượng Linh để sáng tác phần nhạc đệm và bài ca tân nhạc lồng trong các vở tuồng cải lương, phối hợp với giàn cổ nhạc gồm những danh cầm như Văn Vỹ, Năm Cơ, Hai Thơm. Còn bút danh Đông Phương Tử là soạn các bài tân cổ giao duyên và đạo diễn thâu thanh các vở tuồng cải lương. Tiếc thay, những công trình tâm huyết đó đã bị gạt ra bên lề xã hội sau biến cố lịch sử 30 tháng Tư năm 1975.

HLC: Nói về những nhạc phẩm sau này, nhạc sĩ NVĐ tâm sự

Sau tháng 4/1975, tôi đi học tập cải tạo 10 năm. Khi trở về nhà, tôi mang theo nhiều chứng bệnh trầm trọng, tinh thần và thể xác bị suy sụp. Suốt 30 năm qua, tôi không tham gia bất cứ hoạt động nào ở trong nước cũng như ngoài nước. Vào năm 2003, nhà nước Việt Nam có cho phép lưu hành 18 bài hát của tôi, gồm: Hải Ngoại Thương Ca, Nhớ Một Chiều Xuân, Về Mái Nhà Xưa, Khi Đã Yêu, Đom Đóm, Thầm Kín, Vô Thường, Niềm Đau Dĩ Vãng, Tình Cố Hương, Cay Đắng Tình Đời, Tình Đầu Xót Xa, Khúc Xuân Ca, Kỷ Niệm Vẫn Xanh, Truông Mây, Bài Ca Hạnh Phúc, Bông Hồng Cài Áo, Trái Tim Việt Nam, Núi và Gió.
Rất tiếc một số bài hát tâm đắc không được nhà nước cho phép. Tôi hy vọng rồi đây theo thời gian mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Đặc biệt trong lãnh vực văn hoá, văn nghệ,  tôi nghiệm rằng những gì có giá trị nghệ thuật, dù bị vùi dập vì sự ganh tỵ hay hiểu lầm, sẽ có ngày được mang trả lại vị trí đích thực của nó. Tôi chỉ tiếc đời người ngắn ngủi mà tôi đã phí phạm quãng thời gian dài 30 năm. Thật lấy làm tiếc!

HLC: Vâng, thật tiếc cho rất nhiều nhạc sĩ đã không sáng tác được kể từ sau biến cố 1975. Chúng tôi muốn thay đổi không khí cho nhạc sĩ đỡ buồn, không ngờ lại làm ông đau lòng khi khơi lại dĩ vãng một thuở vàng son mà nay dấu vết đã bị phai mờ ít nhiều. Tài ba nhừơng ấy để rồi phí hoài 30 năm, quả là buồn vô cùng. Nhưng thôi, vận mỗi con người nằm chung trong vận nước. Tôi nhớ lại vài câu thơ nhỏ mà tôi viết cho con gái hai mùa xuân trước:

Bé ơi, lòng mẹ như chiếc lá
Theo với thời gian, cứ úa vàng
Lá ước chồi non đơm bông trái
Thì này thân  lá sẵn sàng buông.

Bé ơi ngàn dặm xa xôi quá
Ai đã xui nên nỗi đọan trường
Vận nước, vận ta, ừ chung nhỉ
Thì thôi , đây đó cũng  một chương

Vâng, vận nước vận ta cùng chung cả. Để tuyết phủ ngoài đồi gió Virginia bớt lạnh, để nắng Sài Gòn san sẻ vài tia cho rừng gió bớt tịch liêu, chúng tôi hỏi nhạc sĩ về hai ca sĩ đã thành danh từ bàn tay ông. Nhạc sĩ NVĐ kể rằng:

Với Giao Linh có nhiều kỷ niệm khó quên. Tôi nhớ lại, vào một sáng Chúa Nhựt năm 1965, nhạc sĩ Thu Hồ đưa đến nhà tôi một cô bé gầy gò ốm yếu. Cô đến bằng chiếc xe máy mini Velo Solex, nhưng không đủ sức đẩy xe qua thềm nhà tôi, phải nhờ nhạc sĩ Thu Hồ giúp đỡ. Cô bé ngồi im lặng như đóng băng không nói năng chi, trong khi nhạc sĩ Thu Hồ thao thao bất tuyệt về khả năng âm nhạc tiềm ẩn trong người cô. Tôi nhìn cô bé 16 tuổi, vóc dáng nhỏ nhắn, không phát triển như những cô gái cùng trang lứa, nghĩ thầm làm sao cô bé này có đủ hơi sức để hát hò. Tôi gợi chuyện vui để cho cô bắt chuyện, qua đó khám phá cái duyên ngầm sân khấu mà trong nghề nghiệp gọi là tổ đãi cho người nghệ sĩ. Nhưng cô bé vẫn không cười không nói, nên buổi gặp gỡ đầu tiên đó, tôi không dự cảm được gì về cô. Tuy nhiên, để không phụ lòng nhạc sĩ Thu Hồ, tôi cho một cái hẹn thử giọng cô bé Đỗ Thị Sinh tại phòng thu âm cũa hãng dĩa Continental. Thật bất ngờ, Giao Linh, cái tên nghệ nhân sau này của cô bé Đỗ Thị Sinh, đã gây sửng sốt bằng chất giọng khỏe khoắn. Cô hát vượt qua tầm cữ quãng tám một cách dễ dàng với làn hơi ngân nga dịu dàng truyền cảm. Hãng dĩa Continental chấp nhận, tôi lên chương trình đào tạo, và chỉ sau một thời gian ngắn, tên tuổi ca sĩ Giao Linh bừng sáng trên vòm trời nghệ thuật, sánh vai cùng đàn anh đàn chị đi trước. Khi ấy Giao Linh vừa tròn 17 tuổi. Riêng cái tên mỹ miều “Nữ Hoàng Sầu Muộn” mà người đời ban tặng cho Giao Linh, chỉ vì cô không mỉm môi cười thì Giao Linh mãi mãi mang theo, dù từ lâu rồi cô đã có một gia đình rất hạnh phúc.
Truờng hợp Thanh Tuyền cũng có nhiều kỷ niệm đặc biệt. Đó là vào năm 1964, tôi đi nghỉ dưỡng sức ở Đàlạt. Bạn bè thân hữu ở Đài Phát Thanh đến thăm hỏi, có giới thiệu giọng hát cô bé Như Mai nhiều triển vọng. Cô là nữ sinh Trường Bùi Thị Xuân, hàng tuần có tham gia hát ở Đài Phát Thanh Đàlạt. Rồi nhân dịp nghỉ hè, Trường Bùi Thị Xuân tổ chức phát thưởng bế giảng năm học, mời tôi đến dự lễ. Đến phần văn nghệ, người dẫn chương trình giới thiệu “nữ sinh Như Mai hát tặng cho khách quý đến từ Saigòn”. Giọng cô nữ sinh Bùi Thị Xuân lảnh lót cất lên, khỏe khoắn đầy nội lực thanh xuân, âm vang làm rộn rã cả sân trường. Tôi nghe cháy bỏng một ước mơ, một hy vọng mà cô bé như muốn ngỏ cùng ai. Khi chấm dứt bài hát, Như Mai ngước nhìn tôi. Tôi hiểu ý nên mời cô bé lên gặp tôi trên khán đài và hỏi: “Cháu có muốn trở thành ca sĩ không?”. Như Mai xúc động gật đầu. Sau đó tôi gập thân sinh của Như Mai và bàn chuyện đưa cô bé về Saigòn để đào tạo thành ca sĩ. Khi ấy, tôi còn độc thân, ngày ngày ăn cơm chợ, tối tối ngủ ở đơn vị, thật không tiện chút nào để đỡ đần một cô gái trẻ  xa nhà như vậy. Thế nên, sau khi bàn bạc với Ban Giám Đốc Hãng Dĩa Continental, tôi nhờ nhạc sĩ Mạnh Phát lên Đàlạt rước Như Mai về Saigòn, tá túc trong gia đình của ông, cũng là gia đình cũa đôi nghệ sĩ tài danh Minh Diệu-Mạnh Phát thời bấy giờ. Mọi phí tổn ăn ở do Hãng Đĩa Continental đài thọ. Tôi lên chương trình đào tạo và đặt tên mới cho Như Mai là Thanh Tuyền, ý muốn nói là giòng suối xanh của Cao nguyên Đàlạt. Chỉ trong vòng 8 tháng có mặt ở thủ đô Saigòn, Thanh Tuyền đã có đĩa và băng nhạc giới thiệu với người yêu nhạc. Như con chim lạ từ xứ sương mù, một bông hoa rừng còn đẫm ướt hơi sương, Thanh Tuyền nhanh chóng chiếm được sự mến mộ cũa người yêu nhạc thủ đô, sánh vai cùng đàn anh đàn chị trên Đài Phát Thanh, trên sân khấu Đại Nhạc Hội, phòng trà ca nhạc, được báo giới Sàigòn không tiếc lời ca ngợi. Năm ấy, Thanh Tuyền vừa đúng 17 tuổi.
Riêng đối với tôi vẫn còn xanh mãi một kỷ niệm về ngày khởi đầu đi hát cũa Thanh Tuyền tại Sài Gòn. Theo chương trình, Thanh Tuyền hát ra mắt lần đầu tiên ở phòng trà Bồng Lai và Vũ trường Quốc Tế đường Lê Lợi Saigon. Tôi đích thân đi mua son phấn để  cho Thanh Tuyền trang điểm khi đi hát. Tôi thật bất ngờ khi biết Thanh Tuyền chưa từng sử dụng hộp phấn cây son trước đó. Khi đến giờ trình diễn, tôi đưa Thanh Tuyền đến Viện Thẩm Mỹ, Salon Make Up, nhưng các cửa tiệm đều đóng cửa vì trời đã khuya. Quá lo lắng, tôi kéo Thanh Tuyền chạy men theo đường Lê Lợi mong tìm người quen giúp đỡ. Nhưng không gập được ai mà thời gian lại gấp rút nên thầy và trò đành ngồi bệt ngay trên vỉa hè Lê Lợi. Nhờ ánh sáng đèn đường, tôi đánh phấn tô son cho Thanh Tuyền mà trước đó, tôi cũng chưa từng biết gì về cây son hộp phấn Chanel. Rồi Thanh Tuyền chạy bay lên lầu phòng trà Bồng Lai để kịp giờ trình diễn, còn tôi nện gót trên lề đường Lê Lợi, lòng ngập tràn cảm xúc khi tiếng hát Thanh Tuyền cất lên, đánh dấu ngày khởi nghiệp cũa ca sĩ Thanh Tuyền giữa thủ đô Sàigòn hoa lệ. Đến bây giờ, sau 40 năm ngồi nhớ lại, tôi dám đoan chắc rằng, đây là người thiếu nữ duy nhứt trong đời mà tôi đã kẻ lông mày, “tô son trét phấn” rồi tung con chim Sơn Ca vào bầu trời bao la, bởi vì cô là… của muôn người.

HLC: còn nhận xét về Hà Thanh, con chim hoạ mi đất thần kinh, người được xem như gắn liền với một số nhạc phẩm của Nguyễn Văn Đông, ông tâm sự

Lần đầu tiên, tôi được gập cô Hà Thanh là vào năm 1963 tại Đài Phát Thanh Sàigòn ỡ số 3 đường Phan Đình Phùng ngày xưa, bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiễu. Khi ấy, tôi là Trưỡng Ban TIẾNG THỜI GIAN cũa Đài Sàigòn với các ca sĩ như Lệ Thanh, Khánh Ngọc, Trần văn Trạch, Minh Diệu, Mạnh Phát, Thu Hồ, Anh Ngọc v.v. Ngày đó cô Hà Thanh từ Huế vào Sàigòn thăm người chị gái lập gia đình với một vị Đại tá đang làm việc ỡ Sàigòn. Chính nhạc sĩ Mạnh Phát cho tôi biết về cô Hà Thanh nên tôi nhờ Mạnh Phát liên lạc mời cô Hà Thanh đến hát với Ban Tiếng Thời Gian. Đây là lần đầu tiên tôi được tận tai nghe tiếng hát Hà Thanh, hát nhạc sống và hát thật ngoài đời với ban nhạc cũa tôi, không nghe qua làn sóng phát thanh hay qua băng đĩa nhạc. Điều này giúp cho tôi có cơ sỡ nhận định chính xác về giọng hát Hà Thanh. Tôi hiễu ngay đây là giọng ca thiên phú, kỹ thuật tốt, làn hơi diễm cãm tuyệt đẹp, là một vì sao trong những vì sao hiếm hoi ỡ đĩnh cao nghệ thuật nhưng chưa có cơ hội phát tiết hết hào quang cũa mình. Ngay sau đó, tôi có mời Hà Thanh thâu thanh cho Hãng đĩa Continental. Nếu tôi nhớ không lầm thì bản nhạc đầu tiên tôi trao cho Hà Thanh là bài VỀ MÁI NHÀ XƯA do tôi sáng tác. Lần đó, cô Hà Thanh hát thật tốt, toàn ban nhạc và Ban Giám Đốc Hãng Continental rất hài lòng, khen ngợi. Sau ngày đó, cô Hà Thanh từ giã trỡ về lại Huế, trở về lại với Cố đô trầm mặc, tĩnh lặng, không sôi nỗi như Thũ Đô Saigòn, là cái nôi cũa âm nhạc thời bấy giờ.

Sau khi Hà Thanh trỡ về Huế, tôi có nhiều suy tư về giọng hát đặc biệt này. Tôi ví von, cho đây là vì sao còn bị che khuất, chưa toả hết ánh hào quang, vì chưa có hoàn cảnh thuận lợi đễ đăng quang, nếu phó mặc cho thời gian, cho định mệnh, có thễ một ngày kia sẽ hối tiếc. Vì vậy tôi đem việc này ra bàn với Ban Giám Đốc Hãng đĩa Continental đễ mời cô Hà Thanh vào Sàigòn cộng tác. Chính tôi viết thư mời cô Hà Thanh vào Sàigòn với những lý lẽ rất thuyết phục, rất văn nghệ, rất chân tình. Và cô Hà Thanh đã vào Sàigòn sau khi đã tranh đấu gay go với gia đình bố mẹ, vốn giữ nề nếp cỗ xưa  của con người xứ Huế. Ngày đó Hà Thanh vào Sàigòn, hoà nhập vào đời sống người Sàigòn, vào nhịp đập âm nhạc Sàigòn, vốn đứng đầu văn nghệ cả nước. Hà Thanh đi thâu thanh cho Đài Sàigòn, Đài Quân Đội và nhận được lời mời tới tấp của các Hãng đĩa băng nhạc như Sóng nhạc, Việt Nam, Tân Thanh, Tứ Hải và hầu hết các Trung Tâm ỡ Thủ Đô Sàigòn, chứ không phải chỉ riêng cho Hãng dĩa Continental và Sơn Ca của tôi. Ngày đó, tiếng hót cũa con chim Sơn Ca đất Thần Kinh đã được vang thật xa, đi vào trái tim cũa hàng triệu người yêu mến tiếng hát Hà Thanh.
       
Cô Hà Thanh hát hầu hết các tác phẫm cũa tôi. Bài nào tôi cũng thích, cũng vừa ý, có lẽ vì vậy mà tôi không nghĩ đến chuyện viết bài đặc biệt cho riêng  cô. Tôi nhớ lại một chuỗi những sáng tác trong thời binh lửa chiến tranh như Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Mấy Dặm Sơn Khê, Lá Thư Người Lính Chiến,Phiên Gác Đêm Xuân, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt vân vân, đều rất hợp với tiếng hát Hà Thanh và cô hát rất thành công. Tôi cho rằng Hà Thanh không chỉ hát mà còn sáng tạo trong khi hát. Hà Thanh đã tạo thêm những nốt luyến láy rất truyền cảm, rất mỹ thuật làm cho bài hát cũa tôi thêm thăng hoa, trong giai điệu cũng như trong lời ca. Tôi cho rằng khi hát cô Hà Thanh đã sống và cùng đồng điệu sẻ chia với tác gỉa khi trình bày một bản nhạc có tầm vóc nghệ thuật.

Tôi cho rằng Hà Thanh có giọng hát thiên phú, cô hát rất thoải mái dễ dàng, không cầu kỳ, không cường điệu, không gò bó nhưng nó cuốn hút ta đi trong cái bềnh bồng không gò ép đó. Tôi cám ơn tiếng hát của Hà Thanh đã mang lại cho các bài hát cũa tôi thêm màu sắc, thêm thi vị, bay bổng. Trước khi đến với Hà Thanh, tôi cũng rất ngưỡng mộ tiếng hát cũa cô Thái Thanh, Lệ Thanh, Khánh Ngọc và nhiều người khác đã gieo khắp phương trời tiếng lòng cũa tôi, cũng như về sau này có thêm các cô học trò như Thanh Tuyền, Giao Linh đã giúp cho ông Thầy truyền tải đến trái tim người yêu nhạc. Nhưng đặc biệt, tiếng hát Hà Thanh đã đễ lại trong tôi nhiều kỹ niệm tốt đẹp, bền bỉ tuy thời gian ngắn ngủi kễ từ khi cô bỏ đi lấy chồng đễ tôi độc hành trên đường nghệ thuật. Sau biến cố 1975, tôi không còn dịp hợp tác với cô Hà Thanh như trước đây. Nhưng thỉnh thoảng tôi được nghe cô hát một sáng tác mới cũa tôi ỡ hải ngoại, tôi vẫn cảm thấy tiếng cũa cô vẫn đậm đà phong cách ngày xưa, vẫn một Hà Thanh diễn cảm, sang trọng, sáng tạo trong khi hát, mặc dù thời gian chia cách đã 40 năm qua.

HLC: Thưa quý vị, những câu chuyện nhỏ đầu năm của Nhạc Sĩ  Nguyễn Văn Đông khiến trời Virginia bớt lạnh hơn, gió bớt hú hơn và Lan Chi có cảm tưởng nắng hanh vàng một thuở của thành đô yêu dấu như đang trở về với ký ức tuổi thơ…

Rừng Gió Virginia 2007
Hoàng Lan Chi    
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc   Today at 9:02 am

Về Đầu Trang Go down
 
Người Lính VNCH: Những Tình Khúc Bất Tử - Hùng Ca & Hành Khúc
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Nhạc-
Chuyển đến