Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
lang nguyen thang ngoc trai sinh tien pham quan PHAT viet Thầy nghia mien cong phung thanh huyen nguoi nghe cuoc thuy rang HUNG Ngày nhung
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Sat Jun 15, 2013 1:05 am


Bản chất hôm nay và ngày mai của cộng sản





Le Nguyen (Danlambao) - Ngoài mô hình tổ chức cai trị, hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước khoa học, hiệu quả thì tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và khát khao tận hiến khả năng của mỗi người dân cho quê hương dân tộc như lẽ sống, là điều kiện không thể thiếu để dẫn đưa đất nước tiến lên hùng cường thịnh vượng. Tiếc rằng đảng cộng sản Việt Nam đã sử dụng thủ đoạn bẩn thỉu lẫn bạo lực cách mạng cướp quyền lãnh đạo độc quyền và ngay từ trong quá khứ cho đến thời hiện tại, đảng cộng sản đã không ngừng nghỉ tuyên truyền dối trá để lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng tinh thần dân tộc, bán buôn xương máu dân tộc cho những tham vọng cá nhân, cho lý tưởng cộng sản - một tư tưởng ngoại lai hoang tưởng phi nhân tính.

Không những thế, đảng cộng sản còn áp dụng nhiều công cụ nhằm triệt tiêu tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước theo truyền thống văn hóa của cha ông nghìn đời để lại, với chiêu bài “chủ nghĩa tam vô,” vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc... với yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội... bằng nhiều thủ đoạn phi đạo đức như qua tuyên truyền dối trá, qua trấn áp khủng bố, qua chính sách ngu dân... làm cho dân tộc Việt Nam trở nên hèn kém bạc nhược, tê liệt ý chí đấu tranh... biến nhân dân thành bầy cừu dễ sai khiến, biến công cụ tay sai “còn đảng, còn mình” thành những cổ máy giết người man rợ như loài thú hoang dã, biến người cộng sản thành những con quái vật hình người dạ thú gieo rắc tội ác kinh hoàng cho dân cho nước khiến cho những người một thời mê muội tin theo cộng sản, vừa là tội phạm vừa là nạn nhân tỉnh ngộ thốt lên:

“Cộng sản nó giết mình hôm nay, ngày mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu!” (Thượng tọa Thích Trí Quang)

Câu phê phán ngắn gọn lạnh lùng nói về bản chất gian manh, độc ác tàn bạo đậm nét cộng sản của ông Thích Trí Quang, một nhân vật lịch sử nhiều tăm tiếng cũng như lắm tai tiếng trong cuộc chiến tranh quốc - cộng ở miền nam Việt Nam của thế kỷ trước. Người khuynh hữu cho rằng ông hoạt động cho cộng sản, kẻ thiên tả bảo rằng không và cho đến thời điểm này vẫn chưa có kết luận thống nhất ông Trí Quang là công sản hay không cộng sản bởi ông vẫn còn sống nhưng bị bịt miệng hoặc tự nguyện tịnh khẩu không chính thức công bố, nói thật về nhân thân của mình?

Thật ra, ông Thích trí Quang đã là quá khứ, cho dù ông có là cộng sản hay không cộng sản đều không quan trọng, không cần phí sức bàn cãi bởi tất cả đều không thay đổi được nội dung của câu nói thật chí lý, cực hay về sự thật cực kỳ đểu cáng đáng ghê tởm: “Cộng sản nó giết mình hôm nay, ngày mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu!”(1) chỉ ra một hành động “ngụy”... ngụy trang, ngụy quân tử có thật của cộng sản, đặc biệt là cộng sản Việt Nam.

Nói về ngụy trang, ngụy quân tử núp dưới vỏ bọc đạo đức không ai có thể vượt mặt ông Hồ Chí Minh giết người hôm trước, hôm sau có thể sụt sùi trước các ống kính truyền thông và ông Hồ dã được bộ máy tuyên truyền cộng sản tô vẽ, ngợi ca, tôn vinh để nhân dân sì sụp bái lạy như một ông thánh lúc còn sống cũng như khi đã chết mà không biết rằng bản thân khát máu khủng khiếp của ông Hồ Chí Minh, ngoài việc làm tay sai cho ngoại bang, ông cũng đã từng dạy cho đảng viên cộng sản khủng bố giết người trong dịp “đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua”, qua lời kể của cựu đảng viên Hoàng Hữu Quýnh trong hồi ký “Tôi Bỏ đảng”:

“...Mỗi lần các chú giết được Tây hoặc Việt gian thì phải viết giắt cài lên áo công bố tội trạng. Nếu muốn cho xác người chìm xuống thì các chú phải mổ bụng và bổ đôi cái bao tử thì cái xác mới chìm xuống được.

Nghe kể chuyện giết người, tôi choáng váng sợ hãi, nhưng rồi cũng phải vỗ tay tán thưởng, ca ngợi thành tích các anh hùng…”(2)

Dù lời kể của ông Hoàng Hữu Quýnh, đảng viên cộng sản đã bỏ đảng có là thật hay do lòng thù hận, bôi nhọ nói xấu “bác” thì suốt thời chiến tranh vệ quốc đến chiến tranh huynh đệ tương tàn, cả trong Nam ngoài Bắc đã có biết bao người dân Việt Nam bị cộng sản giết theo cách dã man, rồi giắt cài lên áo tội trạng (?) là có thật và những người Việt Nam sinh ra lớn lên sống trong lòng cuộc chiến ít nhất cũng đã có một lần trong đời được chứng kiến cảnh giết người man rợ của cộng sản như ông Hoàng Hữu Quýnh cựu đảng viên cộng sản kể. Thế mà không hiểu sao đảng cộng sản lại ngợi ca hành động giết người man rợ như là anh hùng?

Đắng cay hơn cả là những anh hùng “giết người” được đảng cộng sản tôn vinh trên các phương tiện tuyên truyền loa đài hôm trước thì hôm sau vào một buổi u ám nào đó lại bị chính các đồng chí anh hùng của mình thanh toán, thanh trừng khi đã không còn giá trị lợi dụng hoặc trở thành đối tượng cản trở tham vọng quyền lực danh vọng của họ thì họ núp dưới vỏ bọc kỷ luật đảng hoặc nhân danh lợi ích tổ quốc để loại trừ!

Điển hình cho việc thanh trừng đồng chí trong nội bộ đảng cộng sản là trường hợp của tướng Nguyễn Bình ủy viên quân sự, là tổng chỉ huy chiến trường Nam Bộ, là trùm khủng bố ám sát thủ tiêu, là người huấn luyện điều khiển những kẻ giết người chuyên nghiệp, giết người kinh khủng, giết từng người đến giết người hàng loạt không thua kém bất cứ đồng chí lãnh đạo đảng cộng sản nào và đã bị thanh toán, bị chết dưới tay của các đồng chí của ông ta trong thời kháng chiến chống Pháp. Gần đây sau hơn nửa thế kỷ bị đồng chí loại trừ, nằm hiu quạnh lạnh lẽo trên đất Campuchea, tướng Nguyễn Bình được đảng cộng sản tổ chức đi tìm hài cốt mang về chôn cất, đặt tên đường trong thành phố Sài Gòn và cuộc đời, sự nghiệp của ông tướng Bình được đảng “ưu ái” dựng thành phim như một hình mẫu anh hùng để phục vụ tuyên truyền…

Qua những việc đảng cộng sản làm đối với tướng Bình thì tướng Nguyễn Bình đã được đứng chung, được xếp vào danh sách những người tin, nghe theo đi theo cộng sản bị cộng sản giết hôm trước, hôm sau được đặt vòng hoa phúng điếu như các ông Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Hoàng Văn Thái, Đinh Đức Thiện… đại tướng Lê Trọng Tấn…

Cũng nên nói thêm, có một chi tiết đáng quan tâm là trong đám người dự lễ tang tướng Lê Trọng Tấn không ít người nghe thấy lời sụt sùi khóc lóc kể lể của vợ ông “…bộ chính trị ơi là bộ chính trị…” đã bị ông Trường Chinh, chính phạm của cải cách ruộng đất chặn lời…rồi đến khi gia đình bốc mộ ông tướng Lê Trọng Tấn đem về quê chôn cất, bà chị của ông đã không sợ sệt kiêng dè, nức nở thốt lên “…em ơi, em theo cộng sản làm gì để nó giết em…”

Những sự thật lịch sử dẫn chứng trong bài viết chỉ là một mảng cực nhỏ sự thật liên quan đến bác đảng đã “xử” đối với những ai tin, nghe theo làm theo lời tuyên truyền bịp bợm, dối trá của cộng sản và đảng cộng sản là tập thể quy tụ thành phần bất hảo có lời nói việc làm gian manh, lật lọng, tráo trở không khác băng đảng xã hội đen đã bị Bảy Viễn lãnh đạo Bình Xuyên, một anh hùng hảo hớn ở Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp thẳng thắn vạch mặt chỉ tên trong buổi họp do tướng Nguyễn Bình đại diện đảng cộng sản chủ trì:

“…Tôi cũng không khoái mấy cha chính trị viên.. Khi mới lập bộ đội, gian khổ chết chóc thì không thấy các cha đâu, khi bộ đội thành nề nếp, có đại đội, có tiểu đoàn rồi thì các cha vác mặt tới đòi chia quyền chỉ huy…”(3)

Lời bộc trực bạt mạng mang tính đặc thù Nam Bộ của tướng Bình Xuyên, Bảy Viễn nói với tướng Nguyễn Bình cũng như nói với đảng, là nói lên sự thật “cướp công” của đảng cộng sản đối với những tổ chức đảng phái yêu nước nhưng không “yêu” đảng cộng sản trong cuộc kháng chiến chống Pháp được đội ngũ tuyên truyền định hướng dư luận để đảng trở thành lãnh đạo “tài tình sáng suốt” và cũng chính đội ngũ tuyên truyền này đổi trắng thay đen, bóp méo sự thật ngụy tạo hình mẫu anh hùng không có thật, thậm chí biến những tên đồ tể khát máu giết người hàng loạt trở nên vĩ đại, anh hùng đúng với chủ trương đường lối và bản chất của đảng vốn có.

Khi nói về bản chất độc ác gian manh, bạc tình bạc nghĩa trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam không nhằm mục đích bôi nhọ, nói xấu ông Hồ Chí Minh hay đảng cộng sản Việt nam mà chỉ muốn nói lên sự thật cộng sản để nhắc nhở tuyên truyền viên, dư luận viên, văn nô bồi bút hãy quay đầu vào bờ đừng nhắm mắt bước theo chiếc gậy chỉ huy của tuyên giáo trung ương đảng cộng sản phỉ báng, xuyên tạc những người Việt Nam yêu nước qua các câu chữ mà ngay cả một người có trí tuệ trung bình cũng thấy có động cơ xấu, cố tình nói sai sự thật, phỉ báng bôi nhọ tuổi trẻ yêu nước Phương Uyên - Nguyên Kha như:

“…Nguyên Kha là một tên lưu manh, có bản chất cực đoan trong máu... Đối với Phương Uyên, một khuôn mặt trắng trẻo, trong sáng ai nhìn cũng thấy thiện cảm nhưng kèm theo đó là sự khờ dại mà nói đúng hơn là ngu ngốc...

...Rõ ràng Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên,"yêu nước"chỉ là chiêu bài do kẻ chủ mưu từ bên ngoài tạo ra để che đậy hành vi phạm pháp...

...Tội của em nghiêm trọng là vì những hành động đó được bàn bạc, phân công chặt chẽ, nhằm mục đích kiếm tiền. Đáng trách là Uyên đổi tự do của mình bằng vật chất nhơ nhớp...”(4)

Làm thế nào mà các ông bà văn nô bồi bút có thể viết lên những câu lời như thế, khi ít nhiều đã nghe thấy Phương Uyên –Nguyên Kha thể hiện tính trong sáng đầy khí phách trước phiên tòa của kẻ bán nước xử người yêu nước, qua dáng đứng hiên ngang ngẩng cao đầu dõng dạc tuyên bố đanh thép:

“Tôi trước sau vẫn là một người yêu nước, yêu dân tộc tôi. Tôi không hề chống dân tộc tôi, tôi chỉ chống đảng cộng sản. Mà chống đảng thì không phải là tội”. (Đinh Nguyên Kha)

“Tôi là sinh viên yêu nước, nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì những người trẻ khác sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước. Nếu một sinh viên, tuổi trẻ như tôi mà bị kết án tù vì yêu nước thì thật sự tôi không cam tâm...

...Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn.” (Nguyễn Phương Uyên)





Hình ảnh sáng đẹp như thiên thần và dáng đứng hiên ngang cùng giọng nói hùng hồn như dư âm tổ tiên nghìn xưa vang vọng lại của tuổi trẻ Phương Uyên – Nguyên Kha làm lay động hàng triệu trái tim cùng chung nhịp đập, không giúp cho các ông bà tỉnh thức nhìn lại mình và dừng mọi hành động tiếp tay cho kẻ ác được hay sao?

Thú thật nói về bản chất cộng sản trong bài viết này không tập trung kể lể, lên án tội ác cộng sản gây ra đối với cái gọi là kẻ thù giai cấp, kẻ thù tưởng tượng và với dân lành vô tội. Bài viết chỉ tập trung vào những cuộc thanh trừng đẫm máu, trù dập điển hình của những đại công thần, những người từng phục vụ cho chế độ như các tướng Nguyễn Bình, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn... các trí thức Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Minh Chính... các văn nghệ sĩ Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Phùng Quán... là sự thật lịch sử đỏ máu đã xảy ra trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam.

Tất cả sự thật xảy ra trong suốt chiều dài lịch sử đảng cộng sản như là tấm gương phản chiếu cho các tuyên truyền viên, dư luận viên, văn nô bồi bút còn lương tâm, có chút hơi thở trí tuệ tự quyết định số phận của mình. Xem có nên tiếp tục bịt mắt bịt tai, đổi trắng thay đen viết ra những điều dối trá chống lại công lý sự thật, phục vụ cho ý đồ đen tối cá nhân, phe nhóm của bọn xấu núp dưới bóng lý tưởng nhảm nhí hoang tưởng cộng sản, tiếp tay cho kẻ ác lợi dụng tinh thần dân tộc, lợi dụng tinh thần yêu nước và triệt tiêu lòng yêu nước của dân tộc việt Nam.

Không khéo lòng trung thành cúc cung tận tụy của các ông bà tuyên truyền viên, dư luận viên, văn nô bồi bút bỗng chốc trở thành miếng mồi không đầy miếng nuốt cho đảng cộng sản như các công thần của chế độ so ra thân phận các ông bà nào có nghĩa lý gì, khi đó hối có còn kịp chăng(?) và lời nói: “cộng sản giết mình hôm nay, ngày mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu” của thượng tọa Thích trí Quang, dù cho ông có là cộng sản hay không cộng sản thì lời nói đó vẫn giữ nguyên trá trị “chân lý” vượt lên trên cả không lẫn thời gian để cùng tồn tại với loài người.

Le Nguyen
danlambaovn.blogspot.com

_________________________________

Chú thích:

1) Phamvietdao: Về Cái Chết Của Tướng Nguyễn Bình.
2) Hoàng Hữu Quýnh: Tôi Bỏ Đảng, trang 109.
3) Nguyên Hùng: Bảy Viễn Thủ Lĩnh Bình Xuyên, trang 196.
4) Ý chính của các bài viết trên báo lề đảng được sử dụng trong các phản hồi trên báo lề dân.
Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Fri Oct 24, 2014 2:32 pm


Đèn Cù, bản cáo trạng trước khi đèn bị cháy?





Bảo Giang (Danlambao) - Tôi đã đọc đến những trang cuối của Đèn Cù rồi đây. Có một điều tôi chờ đợi, tôi muốn thấy, nhưng không thấy. Lạ hơn, cũng không có, dù chỉ là một tư tưởng nhỏ của sự giải thoát cho người, cho những lớp voi giấy, ngựa giấy hay chó giấy ra khỏi cái khung sườn của CS. Trái lại, dù là người ở ngoài, thú ở trong, vẫn là một cảnh vừa chạy, vừa đuổi, tít mù theo cái vòng quay của nó. Nó vẫn quay và làm chết người. Niềm đau là người không lối thoát!

Khi “Đêm giữa ban ngày” và tác giả của nó đã vượt qua cõi chết, đem ra trước công luận những hình ảnh, những thân phận người đang phải sống dưới bóng tối, dù bên ngoài trời đã sáng, làm cho nhiều người phát kinh hoàng về một góc độ của cuộc sống thực trong “thiên đường cộng sản”. Khi ấy, dù chẳng nói ra, nhiều người có thêm một dịp được nhìn tận mắt, nghe tận tai câu chuyện, cuộc sống của người ở phía bên kia. Những câu chuyện mà có lẽ cái nhà nước CS ấy, dù rất tinh thông nghề láo lếu, gian trá, vẫn không thể há mồm ong óng lên là cuốn sách do “thế lực thù địch” đặt hàng để viết ra. Tuy thế, tôi vẫn cho đó chỉ là những nét phẩy, nét vẽ đơn điệu của bên thắng thế dành cho bên yếu thế của họ trong quá trình tranh giành quyền lợi cá nhân trên nỗi thống khổ, lao nhọc và đau thương của đồng bào Việt Nam. Nó không hề phản ảnh, hay nói lên được cái gian trá, đểu cáng đến tột cùng mà chế độ ấy, trong đó bao gồm cả bản thân phía bị gọi là thua, yếu thế đã gây ra cho đồng bào của mình. Tôi đâm ra lạnh nhạt, vô cảm, dửng dưng với câu chuyện “đêm giữa ban ngày”.

Tuy thế, tôi vẫn nghĩ rằng, rồi ra sẽ có được những tác phẩm với những đường kẻ rõ nét hơn, sắc bén hơn, trung thực hơn khi soi dọi vào những khuôn mặt mo đã làm nên hình thù của một chế độ bệnh hoạn phía bên kia bờ vĩ tuyến 17, để không phải chỉ ở bên kia vĩ tuyến, nhưng trên toàn cõi Việt Nam đã rơi vào trong tang thương. Ở đó, có đầu rơi, có máu chảy. Có nhiều người chết. Chết bằng nhiều kiểu, cách khác nhau. Người bị giết lén, bị chặt đầu bằng dao mã tấu của HCM. Kẻ bị chết vì mùa đấu tố. Người chết vì bom, vì mìn của Lê Duẩn trên đường “giải phóng”. Kẻ bị thả trôi sông vì không theo giặc cộng. Người bị bêu đầu vì làm việc cho Cộng Hòa. Đủ kiểu, đủ cách sẽ được phơi bày trên những trang giấy trọng tính nhân văn. Ở đó, những sự thật dẫu là tàn bạo, man rợ đều không thể bị che khuất bởi những làn mây đen, dù tác giả đã viết nó trong một ngày không có nắng. Để nhờ đó, lịch sử được soi sáng và những bạo tàn, gian dối có cơ may đón nhận sự tha thứ từ đồng bào hơn là tiếp tục che dấu để tồn đọng sự hận thù trong lòng dân tộc. Sự chờ đợi ấy đến nay vẫn chưa có. Tuy nhiên, từ trong bóng đêm đã thấp thoáng một bóng Đèn Cù,

“Người ta không đốt đèn rồi để nó ở dưới gầm giường, nhưng là đặt trên giá cao để soi sáng cho cả nhà” (Lc, 8,16).

Khi nói đến cái đèn, người ta liên tưởng ngay đến đặc tính của nó là chiếu sáng và đẩy lui đi bóng tối. Nghĩa là, nhờ ánh sáng của đèn người ta nhìn thấy rõ những sự vật đang nằm trong bóng tối. Hơn thế, ánh sáng còn tạo ra nguồn lực, sức nóng, nguồn sống cho con người. Mất đi đặc tính chiếu sáng, sức nóng, đèn không còn là chính mình. Tuy nhiên, Đèn Cù trong nhân gian Á Châu, Việt Nam (và có thể do chính tác giả mượn chữ của nó, để diễn nghĩa) không phải là loại đèn dùng để soi sáng, tỏa nhiệt, tạo nguồn động lực sống, xóa tan bóng đêm. Nhưng là loại đèn được thiết trì với mục đích giải trí cho đôi mắt, tạo niềm vui nho nhỏ cho người thưởng lãm. Theo đó, ánh sáng, sức nóng từ ngọn đèn sẽ tác dụng tạo ra nguồn động lực làm chuyển động những khung hình, trên ấy có những hạng mục voi giấy, ngựa giấy, chó giấy... cùng theo nhau, đuổi nhau chạy vòng quanh trong lồng đèn, tạo cho người xem một cảm giác là lạ, thích thú. Ánh sáng ấy khi tỏ khi mờ, đôi khi lóe lên, chiếu dọi ra bên ngoài qua những hình thú nhấp nhô, để khách thưởng lãm nhìn rõ mặt từng hình thú voi giấy, ngựa giấy, chó giấy đang quay tít kia mà bàn tán, chê khen. Phận thú, mặc cho lời bàn tán, nó vẫn tiếp tục quay như điên, như cuồng, chẳng khi ngừng lại cho đến khi đèn hết dầu hoặc đèn bị cháy.

I. Những hạng mục trong Đèn Cù

Như tôi đã nhắc đến ở trên, một trong những điều thú vị của Đèn Cù là ánh sáng của nó, dù không tỏ, vẫn làm cho vòng quay phải quay, vẫn giúp cho người đứng xem, nhìn được vài, ba đường nét nổi bật, cũng như những góc khuất của đoàn thú đang chạy vòng vòng trước mặt. Nghĩa là, sau những vòng quay, chẳng một con thú nào không được điểm đanh với những hình dạng, đặc tính riêng của nó. Cũng thế, mời bạn trở lại chuyện cái Đèn Cù Việt Nam, chúng ta nhìn thử xem thế nào?

a. Dàn voi đi đầu: Hồ chí Minh

Gần 80 năm qua, chẳng ai có số liệu chính xác trong tay, nhưng chắc hẳn là không có dưới 5, 7 chục ngàn những bài viết dài ngắn, lớn nhỏ, từ trung ương xuống địa phương, của những người thổi ống đu dủ và của cả những kẻ đã bỏ của chạy lấy người, mang tính lừa gạt cao, đầy tình tiết thêu dệt về nhân vật Hồ Chí Minh với mục đích làm cho người dân thuộc thế kỷ 14, 15 tin rằng, đó là một lãnh tụ anh minh, vĩ đại. Hơn thế, còn ngoa ngữ Y là một loại cha già kiểu cha già tộc dân... bán khai nào đó, mà Việt cộng có công lớn khi nhập cảng Y vào Việt Nam! Cùng chủ đích, cũng có hàng chục cuốn sách của các tác giả khác nhau, vẽ vời ra những góc cạnh, hình ảnh giả tưởng như "ông thánh", như “cái đỉnh chói lọi” "vừa đi đường vừa..." với mục đích "dựa hơi", thổi ống, kiếm sống, kiếm phần đỉnh chung. Chẳng ai trong số những tác giả này, ở trong nước hay hải ngoại đã nói lên được một vài nét thật, đặc tính, hay những cốt lõi (tốt, xấu, bần tiện) đã làm nên hình ảnh, con người, sự nghiệp và đời sống của Y. Tất cả đều vơ vào, loanh quanh, ngụy biện, tuyên truyền, dối trá với những lý do của lịch sử, thuộc về lịch sử, đã đầu độc dân chúng, đầu độc dư luận, gây ra một sự ngộ nhận lớn trong lịch sử.

Nay sự kiện xem ra đã đổi khác đôi phần. Qua dòng chữ vắn vỏi: “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi” (buổi đấu tố bà Nguyễn thị Năm) trong Đèn Cù (trang 82) của Trần Đĩnh, người ta đã có thể nhìn hiểu một cách thấu đáo hơn, cặn kẽ hơn và đánh giá đúng hơn về tư cách, về lương tri, về đời sống và về phẩm chất bần tiện, cùng những hành vi tồi bại của HCM, mà chẳng cần phải đọc cả ngàn ngàn trang sách, báo chê khen nào khác nữa. Bởi vì, có cộng chung hàng tấn sách báo mà CS vẽ vời ca tụng Y lại với nhau, cũng không thể bào chữa, khoả lấp, tẩy xóa được cái hình ảnh, cái tư cách cực hèn của một chủ tịch nước, chủ tịch đảng cộng sản đã bịt râu che mặt đến dự cuộc đấu tố người ân nhân của đảng, của nước do chính mình lựa chọn về cách đấu và người đấu. Chỉ cần một câu ấy “cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi” là quá đủ để vẽ nên trọn hình ảnh của một tên hề, (hề mới vẽ râu sơn mặt). Là quá đủ để cho hàng ngàn tấn sách báo tâng bốc kia thành rác rưởi, và đủ chứng liệu để lịch sử xếp cho y một chỗ đứng nào đó, bắt buộc phải có trong lịch sử Việt (dẫu muốn quăng nó đi, cũng không quăng đi được!).



Thật vậy, trước đây guồng máy tuyên truyền của CS luôn phát đi những điều gian dối, nhiều người, kể cả hàng ngũ cán cộng trung cao cấp của cs, cứ tưởng HCM là một lãnh tụ, người tổ chức và đứng đầu guồng máy lãnh đạo của nhà nước cộng sản tại miền Bắc là người tử tế, có tư cách. Nay qua nhiều tài liệu lịch sử đã phơi bày, qua ánh Đèn Cù của Trần Đĩnh, thực tế lại hề quá hề. HCM chẳng phải là kẻ đã tạo ra cái khung lồng đèn ấy. Trái lại, Y chỉ là hề, kẻ đứng đầu trong các hạng mục voi giấy ngựa giấy, chó giấy chạy vòng vòng, quay tít trong cái lồng đèn để làm trò vui tai lạ mắt cho những kẻ điều khiển là Liên sô và Tàu cộng mà thôi! Trần Đĩnh kể:

“Bác xuất ngoại, trong ATêKa chúng tôi rất mực vui. Đâu có biết đại thí sinh Hồ Chí Minh sắp dự cuộc khẩu thí mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế giới. (tr,45) (Tại sao lại đoạn tuyệt với thế giới, ở đó không phải là tổ chức của loài người chăng?). Sau đó, nghe truyền đạt Stalin đã phân công Trung Quốc “phụ trách” Việt Nam,… (tr 49) Lúc ấy chưa nhận hết hàm nghĩa của từ phụ trách. Đúng, thế nào là phụ trách? Là phải ốp sát, kèm chặt ở bên! Đồng chí La có tư cách song trùng: vừa đại sứ cách trở vừa thường xuyên đụng đầu bàn bạc ở cương vị “phụ trách.”(tr.51). Nên biết chính Bác tự nguyện nhận mình chỉ nêu ra được có tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao Chủ tịch. Được lãnh tụ ráo riết giáo dục, (điều lệ thêm câu “lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam,” điện đảng gửi Đảng Cộng sản Trung Quốc viết Đảng Lao động Việt Nam nguyện học tập Đảng Cộng Sản Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao Trạch Đông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân Trung Quốc (tr. 49)”

Cuộc voi chạy thê thảm là thế, nhưng ngay sau khi được chuẩn nhận như là chú voi chạy đầu, là HCM hóa... Cáo! Tác phong đổi hẳn. Trong lần đầu gặp HCM (1957), Trần Đức Thảo đã được dặn dò kỹ lưỡng. Thấy lạ, Thảo hỏi:

- Nếu không được xưng tôi thì xưng bằng gì?
- Đồng chí có thể xưng bằng “con,” hay bằng “cháu,” và phải gọi Người bằng “bác” như đồng bào vẫn gọi... Những mệnh lệnh này là quan trọng, đồng chí phải ghi nhớ cho kỹ, kẻo làm hỏng cuộc diện kiến với “Người”... (Trần Đức Thảo. Những Lời Trăn(g) Trối, 2014).

Đó là tình cảnh trước và sau khi gặp Mao. Trước đó, HCM đã viết thư gởi Stalin, xin được trả 100 đô la Mỹ một tháng để có tiền sống và đi hoạt động. Rồi ngày 31-10-52, Hồ Chí Minh viết thư, trình cái đề án gọi là cải cách ruộng đất ở VN với sự giúp đỡ của hai viên cô vấn Tàu để xin Stalin phê chuẩn. HCM đã giữ đúng thứ, bậc trong hạng mục nô lệ, giúp việc cho ngươi. Y đã toại nguyện mộng làm nô lệ được trả công. Chỉ tiếc rằng, Y không lường trước được là cái thư xin 100 đô la một tháng, xin phép ngoại nhân để giết người Việt Nam của Y rồi ra sẽ được phơi bày ra trước công luận! Nó trở thành bản án muôn đời cho chính kẻ viết ra nó!

Với bên ngoài thì HCM khúm núm, quỳ gối như thế, nhưng quay vào trong, HCM lại có ngay cho mình hai thái độ là ông chủ nhớn, và kẻ đại bất lương. Ông chủ dựa hơi làm chủ như Trần Đức Thảo ghi lại. Bất lương chính là việc viết "địa chủ ác ghê" dùng làm cơ sở cho các cuộc đấu tố, đã trực tiếp giết chết 200 ngàn sinh mạng vô tội. Rồi làm bại hoại nền luân lý, đạo đức của xã hội Việt Nam.

Trước đây, cái chết của bà Năm trong ngày Hồ Chí Minh khai hội múa dao, gọi là cải cách ruộng đất ở miền Bắc đã được nhiều kẻ tung hứng và đưa ra những tin tức thất thiệt, cho là Hồ Chí Minh không biết. Hoặc giả, không có ý giết người (BT, HT), nhưng vì Lê Qúy Ba một cố vấn và phụ trách mảng Việt Nam của Tàu ra lệnh, nên Hồ Chí Minh phải gật đầu. Từ việc loanh quanh biện hộ này đã cho thấy Hồ Chí Minh vốn dĩ chỉ là một loại voi giấy chạy đầu, dưới quyền chỉ bảo sai khiến của Lê Qúy Ba. Đến nay, những giở giáo, bênh đỡ, che đậy ấy đã thực sự bị lột trần ra rồi. Hồ Chí Minh không những chỉ là kẻ viết ra bản cáo trạng gian dối, bất lương, ngậm máu độc phun người, có một không hai trong lịch sử để mở đầu cho cuộc đấu tố đầy vong ân bội nghĩa để vui lòng chủ nhân Tàu. Y còn “bịt râu che mặt đến dự một buổi” trong cuộc đấu tố ấy nữa. Chắc đọc xong 8 chữ này, các ống đu dủ của Y cái thì bể, cái bị xì hơi, hết cách thổi! Những tấn sách, những tên tuổi vẽ vời về Y tự nhiên cháy đen thui. Bởi lẽ, những hành động của Y thể hiện trong việc viết bản cáo trạng "địa chủ ác ghê" đã là một việc làm bất cương không ai có thể tưởng tượng ra, nay lại đích thân đi mở đầu cuộc đấu bằng cách che râu dấu mặt thì có khác gì những quân khủng bố. Hỏi xem, chúng ta phải liệt Y vào hạng mục nào cho xứng? Đó có phải là một tội ác cực lớn đối với con người và tổ quốc Việt Nam không?.



Với con người, nó đã trực tiếp lấy đi sinh mạng của 200 ngàn người và làm cho hàng trăm ngàn gia đình khác phải tan nát. Với Tổ Quốc, nó đã giết chết nền luân lý đạo đức và văn hóa của Việt Nam bằng sách lược của CS, ép thúc con đấu cha, vợ đấu chồng, anh chị em, thân nhân đấu nhau. Với đồng bào, nó đã phân chia ra thành giai cấp, với khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” để triệt hạ tình nghĩa đồng bào, tiêu diệt tình người trong xóm thôn. Tạo ra một xã hội băng hoại niềm tin. Ở đó, tất cả chỉ còn phụ thuộc vào gian trá và nói dối nhau theo bản cáo trạng của HCM mà sống. Với tôn giáo, nó đã đập phá, hủy hoại niềm tin lành thánh vào thần linh của con người bằng cách tạo ra chiêu bài "bài trừ mê tín dị đoan" để phá chùa, đập đền thờ, xô đổ đình miếu và đốt nhà thờ. Sau đó, đưa hình ảnh và cái đầu lâu của Hồ chí Minh vào đình chùa, miếu đền, nơi tôn nghiêm như là một hình thức suy tôn mới để phỉ báng tôn giáo. Với chỉ bấy nhiêu thôi, đất nước Việt Nam đủ tan hoang, và tang thương chưa?

b. Voi dày mả tổ: Trường Chinh Đặng Xuân Khu

Trước đây, người Việt Nam đã rõ ngọn nguồn về một tên tuổi lừng danh trong đảng cộng sản. Kẻ này vang danh khét tiếng với những hành động thiếu hẳn nhân tính trong vai trò chỉ đạo cuộc đấu tố 1953-1956. Tính công, Y chỉ đứng sau Hồ Chí Minh trong việc sát hại gần 200 ngàn người Việt Nam để cướp toàn bộ tài sản của họ. Y là Đặng Xuân Khu thường được biết đến qua tên hiệu Trường Chinh. Trần Đĩnh viết "Với tôi, anh có thể làm tổng bí thư suốt đời”. Sau cái chết oan ức của 200 ngàn người, và ảnh hưởng quá nghiêm trọng do cuộc đấu tố 53-56 tạo ra, Đặng Xuân Khu đã mất chức TBT vào tay Lê Duẩn. Khi đã bị hạ tầng công tác, Khu còn được vinh dự mang thêm “huy chương” là kẻ đấu tố bố mẹ đẻ, và là kẻ vong ân, bội nghĩa khi dự phần vào cuộc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm.



Ở đây, tôi cũng xin nói rõ một điều là, tôi chưa đọc được trang sách nào khả tín nói đến chuyện Đặng Xuân Khu về Hành Thiện đấu tố bố mẹ mình, và cũng chưa thấy ai chứng thực rằng đã thấy Trường Chinh làm chuyện này, nhưng có lẽ là do bố mẹ của Khu cũng bị vạ lây trong mùa đấu tố mà Khu bị mang lấy cái tiếng này chăng? Bị tiếng vì quả báo? Nhưng chuyện Khu nhúng chàm trong vụ giết người ân nhân của mình thì không thể chối cãi được. Trước đây đã có nhiều người nói đến, nay Đèn Cù của Trần Đĩnh huỵch toẹt ra là: “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt” (ĐC 82). Có nghĩa là TC có mặt từ đầu đến cuối nhưng phải che mặt đeo kính vì sợ người ngoài nhận diện? Đã hèn thế, còn lệnh cho Trần Đĩnh "cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu, cáo trạng của đội... chi tiết, khai thác Văn." (ĐC 82). Mục đích Trần Đĩnh không viết ra, nhưng có lẽ Y không đến để khóc thương bà Năm. Nhưng là đến chỉ đạo đánh cho gọn, đánh cho đẹp?

Chuyện đấu tố là thế. Trước đó, cây lý luận lớn nhất của đảng cộng sản đã được biết đến là kẻ rước voi về dày mả tổ, kẻ muốn xin cho Việt Nam vào làm chư hầu cho Trung cộng. Tháng 8-1951 trong văn thư với bảng hiệu “Ủy ban hành chánh kháng chiến VNDCCH năm thứ 7”, nhân danh TBT đảng Lao Động (CS) lúc bấy giờ, Chinh viết lời kêu gọi đồng bào Việt Nam “bỏ chữ Quốc Ngữ học chữ Tàu. Bỏ thuốc Tây dùng thuốc tễ của Tàu” mà Y khoác lác là “hay nhất hoàn cầu”, như là một điều kiện để xin cho VN được làm chư Hầu cho Tàu. Vì “Tàu không những chỉ là bạn, nhưng còn là thày của ta nữa”.Về lý luận có lẽ không ai hơn Khu thật. Bởi vì nhờ Đặng Xuân Khu, CS đã tạo ra được những bản văn Ô nhục nhất để lưu lại trong dòng lịch sử của Việt Nam! Phục chưa nào?

Một người như thế, bất cứ ai nghe đến đều phải rùng mình rợn tóc gáy. Nhưng CS thì hãnh diện và tác giả của Đèn Cù, một chàng trai hào hiệp, được Lê Đức Thọ khen là có tài (chắc không phải là tài viết bậy theo CS?) đã sống, tiếp xúc và làm việc nhiều với Trường Chinh ngay từ lúc 19 tuổi. Là người đã xưng tôi với Trường Chinh ngay từ lần tiếp xúc lần đầu tiên, có lẽ nào không hề hay biết gì đến những tội thuộc diện trời không tha, đất không dung của Y? Đã thế, còn coi Y là người lý tưởng của mình thì rất lạ. Có phải vì gần mực mà bị đen hay không? Ở đây, tôi không quy trách bất cứ một điều gì cho tác giả, chỉ dám nêu lên một thắc mắc là: Không biết tác giả đã yêu và coi Trường Chinh là lý tưởng của mình về phương diện nào? Về tư cách và hành vi của Y trong cuộc đấu tố chết 200 ngàn đồng bào Việt Nam, hay là hợp thỉnh, đồng mưu với Y trong việc rước voi về dày mả tổ và xin làm chư hầu cho Trung cộng?

c. Dàn ngựa Tầu: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ…

Trong Tam Quốc có kể lại một câu chuyện rất bất nhân về nhân vật Lữ Bố là: Khi được Trác tặng con ngựa thì Lữ Bố giết chủ là Đinh Nguyên, theo Trác, gọi Đổng Trác là cha. Đến khi bị Đổng Trác phỗng tay trên, chiếm mất Điêu Thuyền con gái nuôi của tư đồ Vương Doãn thì cầm họa kích giết Đổng Trác. Sau cùng bị Tào Tháo... cứa cổ.

Rồi hôm nay, trong Đèn Cù có câu chuyện Lê Duẩn, Lê Đức Thọ... nổi lên như một cặp ngựa chiến của thời đại trong tay của Trung cộng đã tàn phá non sông Việt Nam và gây ra cái chết của gần ba triệu sinh linh trong cuộc chiến từ 1954-1975. Trần Đĩnh viết: “Cụ Hồ, Trường Chinh, Giáp không muốn ngả theo Mao, nhưng Duẩn tin rằng theo sấm sét của tư tưởng “Lê-nin thời ba dòng thác cách mạng” thì sẽ giải phóng thống nhất đất nước... Duẩn theo Mao hẳn rồi,”( tr.258). Tiết lộ này, xem ra chẳng có gì là mới mẻ cả. Trái lại, nó chỉ có khả năng đúng được một phần (Duẩn theo Mao), còn một phần lớn khác (Minh, Chinh, Giáp không theo Mao mở cuộc chiến) có khi là một chứng gian!

Thật vậy, mọi người từ quê ra tỉnh đã biết và biết rất rõ là Lê Duẩn đã nhiều lần tỏ bày hết tâm tư nguyện vọng của một kẻ tôi đòi, nô bộc với Mao qua những lần giáp mặt hay không giáp mặt với Mao là: “Cuộc chiến đánh Mỹ, giải phóng miền Nam là chúng tôi đánh cho Trung Quốc, cho Liên Xô”... “Sở dĩ chúng tôi kiên trì chiến đấu là vì Mao chủ Tịch,... Cuộc chiến đấu của chúng tôi là phụ thuộc vào công việc của Mao chủ tịch!” Rõ ràng là ngựa Tàu hại nước Việt. Tuy nhiên khi nhìn lại, những tuyên bố dầy nô lệ tính của Duẩn sẽ chẳng có gì là khó hiểu và chẳng phải tự ý làm. Trái lại, đó chỉ là phản ứng lấn vai của những con ngựa trong bầy muốn chứng tỏ mình là con khoẻ mạnh, hung hăng để cho chủ nhân vừa ý, đóng dây cương vào cổ mà thôi. Với người, đó là tâm tư nguyện vọng của hạng nô lệ, tôi đòi, sợ chủ nhân không biết được lòng dạ khuyển mã của mình mà tin dùng kẻ khác chăng?

Có lẽ thế! bởi vì cùng đi theo hệ tư tưởng nô lệ, nê tập đoàn cộng sản từ Minh, Chinh, Duẩn, Đồng, Giáp, kéo theo cả một dàn gọi là lãnh đạo cho đến hôm nay đều dòm chừng nhau, tranh công, hạ gối, sẵn sàng làm bất cứ điều gì để chủ nhân Tàu sủng ái, đóng dây cương vào cổ, đặt vòng xích vào chân như dấu ấn chứng nhận là người của chủ. Sau đó, cúi đầu dưới ngọn roi mà phục vụ cho chủ nhân, miễn là, sau đó, họ được phép đứng dậy hò hét, nghênh ngang với các “đồng chí” trong đảng. Còn đối với nhân dân, một tập thể vốn dĩ đã bị coi là nô lệ trong chế độ CS thì cần chi phải lưu tâm tới nữa. Thống khổ ư? Nhân Quyền ư? Tự Do, Độc Lập ư, Tôn giáo ư? Tất cả đều là không! Lý do, khi tập đoàn lãnh đạo, đảng đã là nô lệ cho ngoại nhân thì người dân sẽ còn là hạng mục gì khác?

Đây chính là điểm khác biệt lớn nhất trong tư duy của những người lãnh đạo ở miền Nam như Tổng Thống Diệm, TT Thiệu, với các tay lãnh đạo trong hàng ngũ của đảng CS tại miền Bắc. Tư duy lãnh đạo của những nhà lãnh đạo ở miền Nam với Thế giới, với đồng minh, với nhân dân là tự chủ, là nhân bản, là bình đẳng, là tôn trọng, là luật pháp. Trong khi đó, cái tư duy cốt lõi của lãnh đạo CS Bắc Việt với CS QT là ngắn gọn hơn. Nô lệ và phụ thuộc. Theo đó, những người lãnh đạo ở miền Nam trước 1975 sẵn sàng lấy tính mệnh của mình để bảo vệ quyền lợi, quyền sống của người dân, bảo vệ đất đai, sông núi, biển đảo của tổ quốc. Trong khi đó, vì muốn có quyền lực trong tay, từ HCM, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, cho đến những kẻ kế thừa sau này đều có một quyết sách như nhau. Bên ngoài thì cúi đầu nhận roi, sẵn sàng dâng đất, dâng biển đảo của tổ quốc cho kẻ thù của dân tộc. Bên trong, sẵn sàng giết hại, tù đày đồng bào của mình, hoặc giả, chà đạp quyền sống, quyền lợi, phúc sinh của người dân để đẹp lòng chủ nhân phương Bắc!

Cần bằng chứng ư? Hãy hỏi thăm những quan cán đầu tỉnh ở Hà Tĩnh xem họ có được phép đến vùng xây dựng gọi là Formosa ở Vũng Áng để kiểm soát xem có bao nhiêu công nhân Tàu đến làm việc không có giấy phép ở đây hay không? (theo báo Vietnamnet ngày 8-8-2014 cho biết, khu xây dựng Formosa có hơn 4000 công nhân Tàu đang làm việc, nhưng chỉ 200 người có giấy phép. Số còn lại không giấy tờ nhập cảnh, nhưng các quan chức địa phương không được phép vào kiểm tra). Đấy chủ quyền đất nước dưới tay cộng sản là thế đấy! Còn nói chi đến Hoàng Sa Trường Sa ớ tút mút ngoài biển làm gì?

Trở lại câu chuyện của dàn ngựa Tàu và cái Đèn Cù. Trước hết, HCM đã được xếp hạng siêu nô lệ cho Liên Xô từ lâu. Hơn thế, còn được coi là con đẻ của Tàu. Chủ nhân Tàu đã che chắn cho Y từng bước. Từ việc y mang tên Lý Thụy rồi cho lấy Tăng Tuyết Minh do Dĩnh Siêu, vợ của Chu Ân Lai làm mai mối. Lại đặt cho cái tên là Hồ Quang, đóng vai Thiếu tá trong Bát Lộ Quân của Chu Đức. Ít lâu sau, Hồ Quang được hộ tống vào Việt Nam dưới sự chỉ đạo, phụ trách của Lê Qúy Ba, Trần Canh, được đôn lên làm chủ tịch đảng rồi chủ tịch nước. Được chủ nhân Tàu cung cấp toàn bộ, từ vũ khí lương thực cho đến quân trang, quân dụng để gọi là chống Pháp, mở cuộc đấu tố, giết hại cho hết những người Quốc Gia. Rồi đánh trống thổi kèn theo chiêu bài giải phóng dân tộc, cướp lấy chính quyền, đẩy chiến tranh ra khỏi đất Trung cộng. Nhưng trên hết, từ Hoa Nam, HCM được huấn luyện, được đưa vào Việt Nam với chủ trương Hán hóa Việt Nam, đẩy Việt Nam vào làm chư hầu cho Trung cộng. Công trạng ấy, ai sánh bằng?

Đến cái gai trong mắt, nếu có phải nhường bước cho HCM, có lẽ Duẩn cũng cam lòng vì số phận. Phiền vì cái gai Trường Chinh còn kia, Duẩn ăn ngủ sao yên. Duẩn mất ăn mất ngủ vì Chinh đã khôn ngoan khi biết ruột dạ của Hồ là rắp tâm đưa Việt Nam vào vòng nô lệ cho Tàu, Khu đã nhanh tay, nhanh chân mà thảo ra cái văn thư với bảng hiệu “Ủy Ban Kháng Chiến” và kêu gọi người Việt Nam “bỏ học chữ Quốc Ngữ mà học tiếng Tàu” để xin làm chư hầu cho Trung cộng. Việc thì không chắc thành, nhưng cái văn thư ấy, cái ruột dạ ấy đã làm mát lòng mát dạ quan thầy bành trướng phương Bắc. Nay nhất thời vì vụ đấu tố, uy tín trong nội bộ của Khu có bị giảm sút đôi chút, nhưng nếu sau này, Tàu cộng muốn thực hiện sách lược kéo Việt Nam vào làm vùng tự trị như nội Mông thì Trường Chinh còn trẻ hơn Hồ, chắc chắn phải có ngày chủ nhân lại đưa Y trở lại cái vị thế số một chư hầu ở nam bang. Khi đó Duẩn ra sao? Đây chính là cái lo trong gan phổi của Duẩn, Y không tranh thắng với Khu trong phương cách xin làm nô lệ cho Tàu cũng không được.

Ấy là chưa kể đến Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp, cả hai đã từng sang theo hầu HCM ở Côn Minh. Người thì theo lệnh của Hồ đã nhanh tay ký phăng cái công hàm, công nhận chủ quyền của Trung Cộng ở Hoàng Sa và Trường Sa, mà theo những văn bản và lịch sử được quốc tế công nhận là của Việt Nam và đang ở dưới sự kiểm soát của chính phủ miền Nam. Kẻ thì theo kế của Trần Canh cố vấn, sẵn sàng đánh Pháp rồi đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng cũng đánh. Đánh xong là nhà hoang, đất Việt Nam bỏ trống. Nhìn mảnh đất màu mỡ này thì còn hạnh phúc nào lớn hơn cho người anh em Trung cộng. Từng đoàn từng lũ kéo sang mà đóng cọc, làm nhà rồi bỏ phiếu xin làm chư hầu cho Trung cộng. Kế ấy mà thành thì ai dám tranh công với Đồng với Giáp? Chinh, Đồng, Giáp đều theo gương Hồ để được bụng Tàu, có lẽ nào Duẩn không theo? Nay đang ngồi ở trên cái ghế TBT mà được Tàu cộng đóng dây cương vào cổ, đặt vòng xích vào chân thì vai trò siêu nô lệ của Duẩn có ai dám vào đó mà tranh?

Tóm lại, Duẩn cũng chỉ là một hạng mục trong cái tập đoàn CSVN có cơ hội đi chầu và tỏ lòng tùng phục chủ nhân Tàu cộng mà thôi. Nhưng người phóng viên của tờ báo gọi là “sự thật” của cộng sản từ những năm 49-50 ở Atêka khi mới 19 tuổi, nay đầu đã bạc lại nhìn không ra. Lại bảo Hồ, Chinh, Giáp không theo Mao tham chiến là sai. Qúa Sai. Sai vì hai lý do: Việc riêng là vì “còn yêu Chinh và ghét Duẩn”. Và về việc công, có lẽ người phóng viên ở trong rừng năm xưa cho rằng người Việt Nam chưa bị giải phóng, chưa từng thấm thiên đường CS. Cũng chẳng có mấy người biết đọc biết viết như ở trong Atêka, nên tác giả áp dụng sách tuyên truyền của đảng. Cứ viết bừa, viết cho lấy được bất chấp hậu quả, chẳng biết đúng sai. Và cũng không biết, cái lối viết ấy là hại người hại mình. Nó là một sai lầm lớn. Sai không thuốc chữa nếu như không muốn nói là gian! Trước hết, nó chẳng lừa được ai, còn cho mọi người thấy là hình như tác giả đang viết cho thời 1949-50, hoặc chưa bước chân vào thành phố. Bênh HCM, TC, VNG bằng luận điệu này thà lấy lửa đốt chính mình đi còn hơn!

II. Chuyện xin làm chư hầu và công hàm bán nước trong Đèn Cù. (kỳ sau)

10-2014
Bảo Giang
danlambaovn.blogspot.com



Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Fri Oct 31, 2014 9:22 pm


Đèn Cù, bản cáo trạng trước khi đèn bị cháy (Phần 2)


Bảo Giang (Danlambao)



II. Chuyện xin làm chư hầu và công hàm bán nước


Tôi cho rằng, đọc Đèn Cù nhiều người sẽ tức như bị bò đá. Mặc dù chẳng mấy người có kinh nghiệm về chuyện bị bò đá là như thế nào, tuy nhiên, tất cả đều cảm nhận được ý của câu nói ví “ngu như bò”. Nó ngu vậy mà mình bị nó đá thì chắc là tức lắm!? Thật vậy, trong Đèn Cù ngoài câu chuyện dở hơi, bò đá: "Minh, Chinh, Giáp không muốn đánh miền Nam, chỉ nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ là muốn giải phóng miền Nam bằng võ lực” như ở đoạn trên tôi đã đề cập đến, bạn cẩn thận, sẽ còn bị nhiều cú bò đá khác nữa.

a. Chuyện xin làm chư hầu cho Trung cộng

Trần Đĩnh, gặp Trường Chinh từ khi lên Atêka vào tuổi 19, đã sống ở trong những khu nhà lá ấy, đã lên hội trường học tập, đã nhận lệnh viết tường thuật vụ án của bà Năm. Đã nghe chuyện "tới bến" của Trường Chinh, đã bàn chuyện thích "gái nạ dòng" của Hồ Chí Minh. Chuyện "quá dài" của Chu Đức do "bác" mang về. Tóm lại, đủ cả, chuyện lớn chuyện nhỏ, chuyện ta, chuyện người, chuyện chính trị, chuyện quân sự đều lần lượt theo nhau vào Đèn Cù, cùng quay tít. Kể cả chuyện Trần Đĩnh được đề cử sang Trung Quốc du học cũng có ý kiến của Chinh. Việc Chinh muốn viết nhật ký để "tập hợp" nhân sự chống Duẩn, cũng có mặt Đĩnh. Nhưng có một chuyện, chuyện thật lớn. Chuyện liên hệ đến vận mệnh của đất nước. Chuyện Trường Chinh vào tháng 8-1951, viết văn thư, nhân danh TBT đảng CS, dưới cái bảng hiệu “Ủy ban hành chánh kháng chiến năm thứ 7” kêu gọi đồng bào Việt Nam "bỏ chữ quốc Ngữ mà học chữ Tàu. Bỏ thuốc tây, dùng thuốc Tàu" để xin làm chư hầu cho Trung Cộng vì TC không chỉ là bạn ta nhưng còn là thầy của ta nữa: "ai cũng biết, mình Đĩnh thì không? Nên nhớ, đây là văn thư đầu tiên mang dấu ấn đặc biệt của tập đoàn nô lệ, lấy danh tính Việt Nam, bán nước cầu vinh được gởi đi khắp nơi. Tờ báo Tiếng Dội ở mãi Sài Gòn, chẳng thuộc hạng mục của CS, cũng đăng bản văn này, và có lẽ ở trong Atêka cũng cho học tập nhiều? Chuyện nổ như thế, lẽ nào Trần Đĩnh ở Atêka lại không hay? Và không có một chữ nào về nó trong Đèn Cù! Lạ, đến lạ!

Bảo Trần Đĩnh không biết, cũng không được. Bảo Trần Đĩnh có thông đồng nên dấu đi cũng không xong! Vì nói thế là tôi có lỗi với tác giả. Có lỗi vì nói thế có khác gì bảo Trần Đĩnh đã… khuyết tật cả mắt, tai mũi họng lại thêm gian dối. Khuyết tật vì chuyện nổ ra từ trong lán nứa với mình mà không biết, làm sao biết những chuyện ở xa mà viết? Có chăng là nói gian! Thật là khó nghĩ.

Quả thật, đây chính là một trong những điểm đáng thất vọng của Đèn Cù. Vẫn biết Đèn Cù được giới thiệu như là “truyện tôi”. Nhưng “Truyện tôi” không có nghĩa là không có liên hệ đến truyện người, truyện nhà, truyện nước. Đặc biệt, trong trường hợp này lại vì Truyện Nước mà Trần Đĩnh thoát ly, bỏ nhà để dinh tê về Ateka. Về Ateka là lo về việc nước? Khi lo việc nước, có người cầm súng chiến đấu, người đào hầm, kẻ vót chông, kẻ gài mìn. Có người cầm bút thông tin tuyên truyền. Khi làm thông tin thì có tin tức nào liên hệ đến việc Nước mà không truyền đi cho mọi người được biết! Như thế, nhiệm vụ Vì Nước của Trần Đĩnh không nhỏ, lẽ nào Đĩnh lại không một chữ về chuyện này sau mấy chục năm? Cho phép tôi nghi ngờ về cái tinh thần nhân bản, nghi ngờ về tinh thần kẻ sĩ vì nước của tác giả trong chuyện này! Nghi ngờ vì có thể đây là một bí ẩn ghê gớm lắm, hay là cái nhục của đảng CS, nên tác giả đến hôm nay đầu đã bạc, đảng tịch đã bị truất vẫn không dám viết ra! Và nghi ngờ là nó có liên quan đến ông "tướng sợ làm chủ quản cả tinh thần" như tác giả đã xác nhận trong Đèn Cù?

Ai cũng biết, đây là một chuyện có ảnh hưởng đến thể diện, danh tính và vận mệnh tồn vong của đất nước. Kết quả thành hay bại của thì không do tờ giấy đó tạo ra. Tuy nhiên, tác giả Đèn Cù, người có sinh hoạt trực tiếp trong một thời gian dài với kẻ đã viết ra bản văn ô nhục này mà không một lời nhắc đến nó trong tác phẩm "để đời" của mình xem ra là có lỗi với đất nước. Có lỗi vì thiếu sót, hay vì Trường Chinh là mẫu lý tưởng của tác giả thì đều là có lỗi. Đây không phải là cái lỗi với một ai, nhưng là lỗi với đất nước. Một kẻ sĩ nếu vì đất nước mà dung túng những hành vi của kẻ bán nước thì chắc không thể được gọi là kẻ sĩ. Có chăng là kẻ đồng mưu với tội bán nước?

Chẳng ai nghĩ tác giả đồng mưu, chỉ thắc mắc tại sao không một dấu vết trong Đèn Cù, đã thế lại còn bao che cho Khu không phải là kẻ phù Tàu. Thử hỏi, người viết ra bản văn ấy không phò Tàu thì trên thế gian này liệu còn kẻ nào phò Tầu nữa hay sao? Cũng thế, nếu Trường Chinh không phò Tàu thì Đồng, Giáp, Duẩn, Thọ và sau này là những Mười, Linh, Phiêu, Kiệt, Mạnh, Dũng, Sang, Trọng… tuy có cúi người như gập mình xuống đất trước những quan cán Tàu… đều không phò Tàu. Họ chỉ làm việc theo nghị quyết bán nước của đảng CS vỏn vẹn có 16 chữ để đổi lấy vinh hoa thôi! Rồi cái việc Phạm Vũ Luận, cách đầy vài ba năm đưa ra dự thảo cho trẻ em bậc tiểu học, học tiếng Tàu chắc cũng không phải là có ý phò Tàu. Có lẽ Luận chỉ lo trước cho các em mai sau bị mang quốc tịch Tàu theo chủ trương của CS nhưng không biết tiếng lạ thì trăm đường khổ. Nên Luận đề ra chương trình này để giúp các em mà thôi! Chuyện có đáng gì mà om xòm! Vâng, chả đáng gì, xin cám ơn cái “lòng tốt” của bác đảng nhá. Tuổi trẻ Việt Nam khôn hơn những lý luận nô lệ ấy nhiều.

b. Chuyện Hoàng Sa, Trường Sa và công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng

Trần Đĩnh viết: “Tôi hỏi anh (Bút Thép) một vấn đề mọi người đang bận tâm: tại sao ta và Diệm đang tranh nhau Hoàng Sa cả ở trên báo mà đùng một cái ta lại công nhận và hoan nghênh Trung Quốc thu hồi Hoàng Sa? - Mày ấu trĩ bỏ mẹ! Theo hiệp định Genève thì chỗ ấy dưới vĩ tuyến 17 phải là của Diệm. Để cho ông anh Trung Quốc chứ không để Mỹ nó vào nó xây căn cứ hải quân sát nách à? (tr 105). Thế là tôi nghĩ ngay - y như Đảng lúc bấy giờ -- mai kia ta cần, bạn lại trả cho ta, đi đâu mà mất, miễn là về phe ta.”

Hy vọng bạn không bị bò đá, và cũng đừng quăng cuốn sách đi. Người cộng sản là thế đấy. Tổ quốc của họ không hơn tổ có. Nó không nặng bằng chén cơm! Nó sẵn sàng đổi, dâng cả cái giang sơn này cho kẻ ngoại để được ngồi trên một cái ghế. Nó không có cái tính nhân văn, yêu tổ quốc thương đồng bào như người Việt Nam chúng ta. Họ có thể nhắc đến một địa danh, nơi mà chúng ta đã khóc. Hơn thế, đã đổ máu ra để bảo vệ trước đây, và nay bao người lại bị vào tù, bị CS tra tấn vì bảo nó là của Việt Nam, như nhắc đến một câu chuyện diễu, chuyện lá cải, dửng dưng không một chút bận lòng. Bạn ủy mị, bạn là dân, bạn khóc sông, khóc núi, khóc tổ quốc quê hương, xót đồng bào tang thương. Họ mạnh mẽ hơn ta, họ dày dạn hơn ta. Họ là đảng viên cộng sản, là quan cán, họ có khóc là khóc “Mao chủ tịch”. Có thờ là “thờ Stalin” để kiếm phần sôi. Ai rỗi hơi mà khóc Hoàng Sa, Trường Sa! Khóc cho một địa danh mà lãnh đạo của họ đã đem dâng, đem bán cho Tàu cách đây hơn nửa thế kỷ trước, để lấy tiền mua súng đạn, mua dép râu, mũ cối vào Nam thịt người anh em mình. Để tôi khóc, anh khóc, cô nhi quả phụ khóc, con dân Việt Nam khóc, Mẹ Việt Nam khóc.

Phần họ thì cười! Cười như một chuyện mua vui, không một phản ứng. Thực lòng, đọc đến đoạn viết này, tôi thấy buồn. Buồn tê tái. Tôi thấm nỗi buồn dù đã biết rất rõ về sách lược tam vô và nghề tẩy não của họ. Tôi vẫn bất ngờ khi thấy tác giả, một người được đánh giá là “còn nhân bản tính” không theo Duẩn, Thọ mở chiến tranh vào miền Nam, sợ làm chảy máu đồng bào Việt Nam, nhưng lại rất hời hợt khi nhắc đến nỗi đau, quặn thắt tim lòng người Việt Nam về chuyện Phạm Văn Đồng công khai dâng đất của Tổ Quốc Việt Nam cho Trung cộng. Đã hời hợt thế, xem ra còn khá là vui vẻ, thoái mái, và hài hòa, đồng cảm với đảng cộng sản trong ý nghĩ của mình "Thế là tôi nghĩ ngay - y như Đảng lúc bấy giờ - mai kia ta cần, bạn lại trả cho ta, đi đâu mà mất, miễn là về phe ta". Thú thật, muốn quẳng mẹ cuốn sách đi.

Xưa nghĩ thế, nay khi viết Đèn Cù, vào năm 2014, tác giả nghĩ gì? Có bảo vệ cái ý nghĩ xưa hay không? Đây có phải là một tội phạm với đất nước không? Hay là vì tinh thần vô sản quốc tế? Và vì tình hữu nghị, vì 16 chữ vàng? Và tôi muốn hỏi rằng: thưa tác giả Trần Đĩnh, nay ta đã cần lấy lại hay chưa? Và bạn sắp trả lại cho ta hay chưa? Hay nó sẽ nuốt gọn, phần con dân Việt Nam nếu bảo Hoàng Sa, Trường Sa là đất của Việt Nam là sẽ bị tập đoàn CS đưa vào nhà tù, là rước lấy họa vào thân? Thật là kinh hãi vì cái lối lý luận đầy trí tuệ này. Vì nó lý luận như thế ấy, nên khi người Việt Nam bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa là sai?. Sai nom thấy. Sai vì không hiểu chuyện. Sai vì không biết ý đồ của tác giả và nhà nước cộng sản đã sắp sẵn một kế hoạch lớn là” Chờ khi Việt Nam làm chư hầu cho Trung Cộng, Việt Nam trở thành một khu tự trị dưới quyền lãnh đạo của Bắc Kinh thì chẳng cần đòi, Trường Sa, Hoàng Sa lại thuộc về ta! Kế hoạch lớn của CS đấy, còn ai không phục nào?

Rồi chuyện “Thành Đô”, chuyện về những hiệp thương biên giới để đưa Nam Quan, Bản Giốc, Lão Sơn, Tục Lãm, quá nửa vịnh Bắc Bộ… sang đất người cũng thế. Tất cả là máu xương là nỗi đau của Dân Tộc, Trần Đĩnh cũng không một lần nhắc đến. Không nhắc đến một chữ không phải là vì Trần Đĩnh bị khuyết tật tai mũi họng. Hay không có liên hệ với “truyện tôi”, nhưng có lẽ là chuyện chẳng đáng lo. Mai kia cũng là của ta hết. Bạn ta giữ thì cũng như là ta, “bên kia biên giới cũng là anh em” nhỉ? (Tố Hữu). Cộng sản là thế, họ đi buôn xương bán máu dân tộc, đã toan tính như thế nên việc những Điếu Cày, Phương Uyên, Việt Khang… vào tù không có chi là lạ!

III. Chuyện xét lại

Câu chuyện về xét lại là chuyện lớn nhất trong Đèn Cù, nó gần như trải dài trên toàn bộ cuốn sách. Nó lớn và trải dài cũng là phải. Bởi lẽ, nó chính là động lực để cho Đèn Cù ra đời. Ra đời vì nhiều lý do. Trước hết, giới thiệu thành phần chủ lực của xét lại gồm Hoàng Minh Chính, tác giả và một số bằng hữu trong nhóm bạn văn thơ, báo chí như Lê Đạt, Huy Văn, Trần Châu… là nhóm không thích chiến tranh nê kẻ bị bắt, kẻ bị tù. Rồi bị khai trừ đảng! Thứ hai, tố giác đích danh dàn ngựa Tàu do Duẩn, Thọ, Hữu dẫn đầu, chủ chiến mở chiến tranh vào nam, làm chết đồng bào mình, lại còn ép thiếu tá Hồ Quang trong đội quân của Chu Đức ở Quảng Đông, hiện được bố trì làm chủ tịch nhà nước Việt cộng “không được bỏ phiếu, không được nói gì trong đại hội”, phần Chinh, Giáp thì sửa soạn quần áo vào va ly mà đi nghỉ mát ngoài hoang đảo. Thứ ba, tỏ nỗi thất vọng vì tam xên Minh, Chinh, Giáp… yếu quá, bị đè nên phải theo Mao! "Nhưng rồi Trường Chinh mà tôi rất tin là chống Mao đã cuốn cờ… Và Bác cũng lui vào sau cánh gà nốt, góp phần vào cuộc diễn tấu hùng ca bằng những bài thơ thúc trống trận" (tr263). Làm tác giả bị vạ lây!

Tôi đang có một thắc mắc lớn. Không biết là tác giả Đèn Cù đã về thành phố chưa, hay ông ta vẫn còn là phóng viên cho báo “sự thật” của CS ở trong những khu nhà vách nứa ở Atêka?

Sở dĩ tôi thắc mắc như thế là vì muốn biết cho chắc ông ta đang ở đâu? Nếu như ông ta đang ở Atêka mà viết hướng dẫn dư luận như thế là đúng sách của nhà nước Việt cộng. Cứ nói bừa, phát thanh bừa cũng có người nghe, vì chẳng có chuyện gì khác ngoài cái chữ… bừa! Nhưng nếu đã về sống ở thành phố, nhất là đang ở vào thời đại thông tin toàn cầu mà tác giả viết bừa theo cái kiểu tuyên truyền ấy thì thật là khó coi, nếu như không muốn nói là ấu trĩ. Bởi vì:

Thứ nhất, Đèn Cù là thao thức lớn của tác giả, là nỗi đau của “xét lại”. Độc giả là những người ở thế kỷ 21, đang sống cách cái thời của tác giả ở Atêka đến 60 năm. Có thể nói, vì đi sau, họ nghe, biết khá rõ về thành tích, tư cách, tính thiện ác của từng nhân vật trong dàn voi giấy, ngựa giấy, chó giấy mà tác giả thường nhắc đến ra sao. Họ chờ tác giả, cho họ thấy được những sự thật liên quan đến những đương sự này để họ có thêm những dữ kiện mà đánh giá thực hư hơn là nghe tuyên truyền. Kết quả, chuyện chờ không thấy. Lại thấy, một lối xảo thuật tuyên truyền chính gốc của CS trong thập niên 50, 60 thế kỷ trước, muốn lôi kéo những người đi sau về với cái tư tưởng rêu mốc, bệnh hoạn cho rằng HCM tốt lắm, thương dân lắm. Chinh “đáng làm bí thư suốt đời” và Giáp không tham chiến! Trong khi đó, cho đến khi tay bắt chuồn chuồn, Hồ Chí Minh vẫn viết: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người (Hồ không nói gì đến hy sinh của cán bộ, của đảng). Dù sao chúng ta cũng phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”(Di chúc).

Chẳng lẽ Trần Đĩnh không có cảm nhận, viết như thế là sai, là gian ư? Gian vì muốn lôi kéo những người đi sau vào cuộc thương ghét, hận thù của chính tác giả đã trải qua. "Yêu Chinh, ghét Duẩn" tạo ra cái hỏa mù là cộng sản với tam xên Minh, Chinh, Giáp tốt, không muốn mở chiến tranh, là ông thánh, là đỉnh cao vòi vọi! Người đi sau không nên có thành kiến với những nhân vật này. Trái lại, cứ việc bái lạy y! Có trách, có chống thì chỉ nên chống dàn ngựa Tàu là Duẩn, Thọ, Hữu mà thôi. Rồi thêm sai vì tác giả đã không dám nhìn một thực tế là. Ngay từ trước thời di cư 1954, chẳng còn ai xa lạ với những khuôn mặt cùng hung, cực ác trong tập đoàn cộng sản Hồ Chí Minh. Dân chúng đã quá sợ hãi những cảnh cán bộ, đảng viên CS đem dao mã tấu đến gõ cửa nhà dân vào giữa đêm rồi. Chẳng ai muốn nghe theo chúng nữa. Và đó cũng là lý do họ tháo chạy khỏi miền Bắc, trong đó có cả cha mẹ và anh em của tác giả đấy.

Chuyện rõ ràng như thế, lẽ nào tác giả không biết? Không biết nên cứ thổi ống làm Đèn Cù tự bốc hỏa, cháy nham nhở. Nó làm chính tác giả bị tổn thương, bị đồng hóa với làng thổi. Bởi vì, sớm, muộn gì cộng sản cũng bị tiêu diệt. Càng thổi ống đu đủ cho Y bao nhiêu là làm hại chính bản thân mình và xã hội bấy nhiêu. Vẫn biết, vết chân trâu đi trong trời mưa có đọng lại chút nước, nhưng không dễ làm người đi sau trượt té xuống vũng bùn. Cũng chẳng ai muốn đầm mình trong vũng nước ấy. Nghĩa là, người Việt Nam hôm nay dù chưa thoát ách cộng sản, nhưng tầm kiến thức của họ không phải chỉ đặt vào trong những hàng chữ to mà quý ông đã viết, đã dán ở khắp đầu đường đến xó chợ ở trong lòng phố, lại còn kéo cả về nông thôn mà khuấy động nữa. Nói toạc ra là, cái thời đại oanh liệt cán cộng dùng dao mã tấu chém chữ đã chết rồi. Người dân Việt sẽ không nằm trong cái vũng bùn ấy mà ọp ẹp như loài cóc, Hồ Chí Minh “oán sối, oán sối” và chờ “bạn ta sẽ trả đất lại cho ta” đâu. Trái lại, sẽ là cuộc đứng dậy để có một ngày mai không cộng sản. Theo đó, chuyện tuyên truyền cho CS chẳng lừa được ai nữa. Nó không đáng một đồng xu. Đồng xu vốn đã chẳng còn giá trị, nay càng mạt hơn, vì mua một bó rau muống cũng phải cần đến 5, 7 ngàn đồng!

Nói thế là thẳng mực, chẳng nghiêng bên tàu, cũng chẳng đổ sang tây. Chỉ tiếc. Tiếc vì mãi đến hôm nay, sau hơn 40 năm bị khai trừ ra khỏi cái tổ chức CS, tác giả vẫn như người trong cơn mê sảng, đầu óc quay cuồng như ngày bị tước mất lá bài miễn tử là tấm thẻ đảng! Thật tội! Bạn tôi bảo, vì bị tẩy não, bị nhồi sọ quá lâu, nên tác giả không hiểu được lý do tại sao, một bà mẹ, do chính tác giả viết trong cuốn sách này, chắp tay lạy người con mà bà đã cưu mang, đã đẻ dứt ruột ra, sau khi anh ta bỏ nhà ra đi theo cộng sản và trở về, thay vì ôm lấy con vào lòng? Chẳng lẽ tác giả không biết đó cũng là trường hợp của chính bản thân, hay của những cha mẹ có con cái đi theo Việt cộng ư? Có phải họ không muốn nhìn con? Không, không phải thế. Họ chỉ không muốn nhìn thấy cái gian dối do con cái của họ mang vào nhà thôi! Bà không còn thương con, không muốn dạy cho nó trở thành người tử tế hay sao? Thưa, bà đã biết là không có thuốc chữa. Bằng chứng ư? Chính Trần Đĩnh đã đau xót lẫn tiếc nuối khi bị khai trừ ra khỏi cái tổ chức đầy gian trá ấy, thay vì vui mừng mở tiệc vì nhìn thấy ánh sáng mới của cuộc đời!

Trần Đĩnh viết “tình cờ gặp Minh Trường, phóng viên nhiếp ảnh Thông tấn xã năm 1971 đã cùng tôi vào vùng rốn lụt của Hải Dương. Anh thuộc lớp người đầu tiên về Sài Gòn chiến thắng. Nhưng anh đã nếm một chiến bại đớn đau. Hơn một năm sau kể lại với tôi, giọng anh vẫn run run như nghẹn lại... Thì mẹ anh mở cửa. Thì mẹ liền chắp hai tay lạy: - Anh còn sống thì tôi mừng nhưng anh về thì tất cả các đứa con bao lâu nay sống với tôi, chăm sóc phụng dưỡng tôi đều đã bị các anh lôi đi tù hết mất rồi. Anh về thì nhà này tan nát, thì tôi trơ trọi. Thôi, tôi xin anh, anh đi với đồng chí của anh đi cho mẹ con tôi yên..:.(tr486). Trần Đĩnh có là một trong những Minh Trường này không? Thật là tội cho bà mẹ Việt Nam.

Nhớ lại, từ khi bắt dầu đọc những dòng tô son, kẻ phấn, sơn phết dầu bóng ở bên ngoài cái Đèn Cù của nhà báo Ngô Nhân Dụng, tôi không nghĩ là mình sẽ viết đôi ba điều. Nhưng nay, tôi buộc tôi phải viết. Viết vì tác giả vẫn cứ “nửa nạc, nửa mỡ” cho cái chủ thuyết cộng sản ấy là vô địch, là con đường thần kỳ đi mở nước. Mở nước từ người rừng đến đỉnh cao thiên đường cộng sản trong những cuộc đấu tố. Nên tác giả không dám viết lên một sự thật là người Việt Nam từ già đến trẻ, từ Bắc đến Nam, từ thành thị cho đến nông thôn, từ trong ra ngoài, ngay từ cái thời tác giả bỏ nhà lên rừng đã khẳng định một cách chắc chắn rằng: Chính cái tập đoàn và hệ thống cộng sản dưới tay của Hồ Quang theo lệnh của Nga Tàu đã tiêu diệt cuộc sống nhân bản của người Việt Nam, không phải chỉ ở trong thời chiến, mà còn cả sau khi hết chiến tranh nữa. Chính tập đoàn cộng sản này đã đẩy cả nước và đồng bào Việt Nam rơi vào cuộc sống thống khổ như ngày hôm nay. Tai họa này chẳng phải chỉ có phe Duẩn, Thọ, Hữu gây ra, như tác giả đã viết. Trái lại, tất cả đều là những hạng mục voi giấy, ngựa giấy, chó giấy dưới trướng của Hồ, trong cái khung đèn do Tàu cộng thiết kế để gây họa cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Riêng chuyện xét lại, câu chuyện đã làm cho tác giả đau đớn khôn nguôi, theo tôi, nó không to lớn như tác giả tưởng tượng, và nó cũng chẳng cứu được thêm một vài người dân nào. Trái lại, có thể vì nó mà có thêm nhiều người bị chết oan. Bởi vì, không phải đến nay người ta mới nhìn thấy chuyện “xét lại” ra sao, là gì? Trái lại, ngay từ đầu, câu chuyện xét lại đã phơi ra giữa ban ngày như một thế cờ. Nó được xếp đặt và diễn tiến rất thuận buồm xuôi gió làm lợi cho tập đoàn cộng sản mở chiến tranh vào Nam.

Trước hết, ai cũng biết chuyện voi đầu đàn, voi dày mả tổ đã bị Tàu cộng xích cổ, cột chân rồi. Chủ nhân bảo nó quỳ, nó không dám đứng. Nay nếu tậu thêm được một dàn ngựa nữa để cho nó hết lòng hết sức, ganh nhau phục vụ cho mưu đồ của chủ nhân thì tại sao họ lại không làm? Ấy là chưa kể đến mối lợi dùng dàn ngựa mới cho đàn voi kia phải tuyệt đối giữ lòng trung thành với chủ. Một lợi, mười lợi, có trăm điều lợi ấy, tại sao Trung cộng không lợi dụng? Hỏi thế là đã trả lời cho toàn bộ việc Duẩn Thọ hết lòng theo Mao, phục vụ Mao và Minh, Chinh, Đồng, Giáp cũng đã hết dạ trung thành với Tàu như thế nào rồi. Nên khi chủ nhân Tàu dùng dàn ngựa mới cho công tác nô lệ thì lẽ dĩ nhiên, việc ra lệnh cho Hồ Chí Minh vờ im lặng, không bỏ phiếu, bảo Chinh cuốn cờ, cho Giáp vờ dọn đồ vào vali để tạo cảnh giả là nằm trong kế hoạch. Kết quả của kế hoạch này chính là cái vụ “xét lại” được tạo ra. Nó được tạo ra để giúp cho kế hoạch thêm hoàn hảo.

Bởi lẽ, cả Trung Cộng cũng như tập đoàn cộng sản đều biết rất rõ ràng rằng, nếu được quyền có ý kiến thì sẽ có đến 80% hoặc nhiều hơn, tính trên tổng số dân miền Bắc không muốn có chiến tranh với miền Nam. Họ không muốn có chiến tranh với miền Nam vì nhiều lý do: Chiến tranh lâu quá rồi, cô nhi quả phụ nhiều quá rồi, ai cũng sợ chết. Ai cũng muốn có bát cơm no, có giấc ngủ yên là hài lòng. Kế đến, rất nhiều người có thân nhân, người quen cuốn gói chạy vào Nam, nay mỡ chiến tranh là cầm súng Nga Tàu đi giết chính anh em, cha mẹ, bà con của mình hay sao? Đã thế, sau cuộc đấu tố làm rúng động và thảm xát lòng người tại miền Bắc, người còn sống đã nhìn ra bộ mặt hiếu chiến tham tàn của tập đoàn cộng sản. Có ai muốn tiếp tục làm tôi mọi cho chúng mở chiến tranh đâu? Có nhà văn nhà báo, anh công nhân, anh nông dân nào thích chiến tranh? Theo đó, Trần Đĩnh cũng chỉ là một trong số 80% trên. Nhưng, Việt cộng rất cần một số người như Đĩnh có tên trong nhóm xét lại để làm mồi cho chiến tranh bùng phát.

Lý do, Trung cộng thích chiến, nhưng cũng đã có kinh nghiệm khi đánh nhau với Mỹ ở Triều Tiên. Đánh Mỹ thì dứt khoát không thể thắng nó được, nhưng vẫn muốn đánh. Đánh nó để nổ, để cho người ngoài biết là Tàu cộng không sợ Mỹ! Tàu hơn Nga! Tuy nhiên, Tàu cộng không muốn đánh Mỹ ở trong nước Tàu, mà muốn kêu mấy dàn ngựa, vài thớt voi ở phía nam nhập cuộc để kéo chiến tranh ra khỏi nước. Bởi lẽ, đến thời điểm đó, nỗi lo canh cánh bên lòng của Trung cộng là Mỹ sẽ giúp Đài Loan tấn cho Trung cộng một trận. Hay trả cho Trung cộng mấy quả bom vì vụ Trung cộng đưa hàng triệu quân sang Triều Tiên tấn Mỹ. Nên Trung cộng, kẻ mang cuồng bệnh bành trướng có khi nào không hiếu chiến, có khi nào không muốn đẩy chiến tranh xuống miền Nam? Trước là tránh cảnh tàn phá trong nước, tự giải tỏa bớt áp lực của Mỹ từ vụ Triều Tiên và Đài Loan. Sau là thực hiện cuộc chiến tiêu hao người ở phương Nam để tiện cho việc đưa người sang chiếm lấy đất trống nhà hoang mà lại được tiếng là giúp đỡ người anh em cùng đảng giải phóng đất nước, đánh quân xâm lược! Kế hoạch ấy ai không biết, đọc qua vài sự kiện thời sự là người ta có thê đọc vanh vách được cái kế hoạch của Trung cộng. Khổ nỗi, tập đoàn voi giấy, ngựa giấy, chó giấy thì không! Đã thế, cứ hung hăng như con bọ xít, tưởng rằng tình hữu nghị hữu hảo, cá nhân thì được Tàu sủng ái, chống lưng, nên nhất định tranh nhau lao đầu vào cuộc chiến đánh miền Nam cho Trung cộng. Xưa thế, nay cũng vẫn vậy.

Két quả, lợi chưa thấy đã thấy từng đàn voi, từng dàn ngựa dàn hàng ra quyết chiến giết tự do. Một bên thì khua chiêng đánh trống thúc dục mọi giới phải lao đầu vào cuộc chiến đánh thuê mở rộng nước cho Trung cộng. Một bên thì ỡm ờ, vờ không thích chiến tranh, tạo ra một cảnh giả để cho một số người mắc bẫy! Nhân đó tạo ra một cái tên gọi là “xét lại” cho hợp thời. Nhà nước cộng sản liền theo kế hoạch, tóm lấy năm bảy “đồng chí” có công, có tên tuổi, làm cho những kẻ lừng khừng khác hoảng sợ. Không muốn chiến cũng phải khua chiêng đánh trống lao đầu vào chỗ chết. Dĩ nhiên, chuyện xét lại nổ ra chỉ có một mục đích để “rung cây nhát khỉ”, trấn áp những kẻ lừng khừng, làm cái đòn bẩy buộc mọi người phải tuyệt đối theo chỉ đạo của đảng lao vào cuộc chiến. Nó không nổ ra để triệt hạ đối phương như Stalin đã từng thanh toán đối thủ. Nếu nó có mục đích triệt hạ thì Trần Đĩnh, Hoàng Minh Chính… đã đi mò tôm lâu rồi, làm gì có Đèn Cù. Và làm gì có cảnh kẻ bị kết tội mà vẫn được lãnh đạo gọi đến chuyện trò, anh anh, em em!

Cục diện chính “xét lại” là thế. Duẩn, Thọ, Hữu, hay Chinh, Đồng, Giáp cũng chỉ là một dàn ngựa chạy cờ dưới trướng của HCM theo lệnh của Trung cộng, đi mở biên cương cho Tàu xuôi về phương nam mà thôi. Ngoài ra chẳng có một lý lẽ nào khác.

Bằng chứng ư? Đèn Cù ra đời 8/2014 Trần Đĩnh cũng không có một chữ, một ý tưởng dù nhỏ cho thấy là “xét lại” có ước mong Đèn bị cháy, Cộng sản bị tiêu diệt để cho dân nhờ. Trái lại chỉ là than thở, thất tình, tuyệt vọng, tiếc cho việc ”xét lại” không có cơ hội quay và bị triệt hạ. Kế đến, cuộc chơi cũng đã được xác minh là cần phải có do Nguyễn Trung Thành, người trực tiếp thụ ủy vụ án. Người đi bắt xét lại và rồi cũng là người xin xét lại vụ án, bảo Đĩnh: “Là người tra cứu hồ sơ của bất cứ ai lọt vào danh sách ứng cử ủy viên trung ương trước mỗi đại hội. Một thế lực khủng trong hậu đài. Thế mà đùng một cái Nguyễn Trung Thành gửi thư đề nghị Trung ương xóa vụ án “xét lại” Nguyễn Trung Thành hơi đắn đo, rồi nói: - Thì là oan… Là đặt ra, dựng lên... chứ sự thật không có gì cả” ( tr.524).

Ngoài cái trò chơi giả tưởng ấy, về mặt chính diện, "xét lại" tự bản chất chỉ là một hiện tượng hữu danh vô hại của những người không thích chiến tranh. Nó tuyệt đối không có tư duy ưu tư vì dân tộc. Nói toạc ra là nhóm xét lại ấy, dù có đôi lúc tác giả dùng ngôn từ rất to như “lật đổ, chống đảng” nhưng thực tế là họ chưa có, hoặc không bao giờ có tư tưởng kết luận chủ nghĩa Cộng sản là sai lầm. Và đảng CS là một thảm họa cho con người và cho đất nước. Tập thể này cần phải bị tiêu diệt, bị đào thải ra khỏi xã hội. Họ tuyệt đối không nhìn nhận chủ thuyết này đã tàn phá luân thường đạo lý của xã hội, làm băng hoại đời sống con người. Họ hoàn toàn không nhận ra rằng, bao lâu chế độ cộng sản còn tồn tại, bấy lâu dân tộc Việt Nam còn bị đối xử như loại nô lệ của thời bán khai. Ở đó sẽ còn là hận thù chồng chất trên hận thù, Ở đó còn gian trá chồng trên gian trá. Ở đó là sự tan nát những truyền thống tốt đẹp từ gia đình ra đến làng thôn, mang nghĩa đồng bào mà bao nghìn năm do cha ông gây dựng nên. Ở đó là cuộc dấu tố hành hạ niềm tin lành thành của người dân vào tôn giáo. Ở đó là có phá chùa đập miếu đốt nhà thờ.

Nói cách khác, cái “xét lại” của họ không có tư duy từ bỏ và tiêu diệt chủ thuyết cộng sản tại Việt Nam. Họ không thấy điều cần phải làm. Họ cũng không giống 80 % dân số kể trên, là những người đã không thích chiến tranh, lại còn muốn tiêu diệt tập đoàn cộng sản Hồ Chí Minh nữa. Họ chỉ chống nhau, chống kẻ đã đẩy họ ra khỏi cuộc “cơm no bò cỡi”, mất cuộc xe hơi nhà lầu, mất hưởng lộc mà thôi. Qủa thật, cộng sản nào thì cũng là cộng sản. Dù còn trong vòng, bị khai trừ hay bỏ chạy cũng vẫn cùng một tư duy. Sợ sự thật. Không bao giờ dám tự nhận là đã sai lầm đi theo cộng sản để gây ra tai họa cho đồng bào và cho đất nước của mình. Bằng chứng, Hoàng Minh Chính, người được coi là lãnh tụ của nhóm, trong chuyến đi gọi là chữa bệnh tại Hoa Kỳ, vẫn rặt một luận điệu Hồ là đích thực, là cứu nước. Nhưng nhóm này, nhóm khác đi sai đường lối, sai chủ trương của đảng. Xem ra tất cả là quanh co dối trá. Dối trá đúng như Gobachev đánh giá về họ: “Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”. Đèn Cù khó là ngoại lệ!

IV. Lý lịch Hồ Chí Minh và thân phận tác giả trong Đèn Cù

Bảo Giang
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Thu Nov 13, 2014 8:04 pm


Đèn Cù, bản cáo trạng trước khi đèn bị cháy (P. 3)

Bảo Giang (Danlambao)




IV. Lý lịch Hồ Chí Minh trong Đèn Cù

Có người sẽ bảo là “rách việc” khi tôi đề cập đến phần lý lịch của Hồ Chí Minh trong loạt bài viết về Đèn Cù. Bị trách, tôi nhận. Nhưng không thể không viết. Bởi lẽ, một trong những nỗi thắc mắc lớn của người Việt Nam hiện nay, ngoài việc muốn biết về “số phận Việt Nam” qua mật ước ở Thành Đô là việc bạch hóa lý lịch thật của Hồ Chí Minh. Ông ta là thiếu tá Hồ Quang, người Tàu, gốc Hẹ, đảng viên đảng cộng sản Tàu theo hồ sơ của quân ủy trung ương Trung cộng vừa công bố, hay là Nguyễn Sinh Cung người làng Kim Liên? Hai điểm thắc mắc này ai cũng muốn biết và nó có khả năng đưa đến cái chết bất đắc kỳ tử cho chế độ CS tại Việt Nam. Bởi lẽ, khi người dân Việt Nam biết Hồ Chí Minh là người Tàu, biết được mật ước Thành Đô, đảng cộng sản phải tan theo bánh xe Cù thị. Tiếc là, cho đến nay hai nguồn chứng cớ quan trọng nhất, đều nằm trong tay phía cộng sản, không ai có thể tiếp cận được.

Thứ nhất, tất cả những hồ sơ liên quan đến Nguyễn Ái Quốc từ 1925 đến 1933 và sau này, đều nằm trong tay KGB của Nga và cụm tình báo Hoa Nam. Nên sự đổi thay, nếu có, cả việc tráo đổi người theo nguồn tin là Nguyễn Ái Quốc đã chết về bệnh lao sau khi ra khỏi tù ở Hồng Kông vào năm 1933, cũng hoàn toàn nằm trong tay hai tổ chức này.

Thứ hai, việc DNA cái xác của Hồ Chí Minh đang nằm phơi khô ở Ba Đình cũng không có cơ hội thực nghiệm và giảo nghiệm trước khi chế độ này bị triệt tiêu. Mật ước Thành Đô cũng chung số phận.

Tuy nhiên, không phải vì những trở ngại này mà người ta ngừng đi tìm kiếm sự thật. Trái lại, bằng nhiều hình thức khác nhau, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra dược những lý lẽ rất mạnh mẽ để bảo vệ cho luận cứ của mình trong việc đặt nghi vấn về lý lịch của Hồ Chí Minh, qua tài liệu mở, qua những cuốn sách được cho là của Hồ Chí Minh, trong đó có Ngục Trung Nhật Ký. Đây là một tập thơ viết bằng chữ Hán, không có tên tác giả và đã gây ra khá nhiều tranh cãi về tác quyền. Việt cộng thì đánh bóng và công bố đây là tập thơ của Hồ Chí Minh... vổ được. Hơn thế, còn nâng cấp nó lên là hàng “tài sản văn hóa” của dân tộc... tàu ô. Ở chiều ngược lại, có nhiều bài viết, trong đó phải kể đến cuốn “Ngục Trung Nhật Ký không phải là của Hồ Chí Minh” do học giả Lê Hữu Mục dày công nghiên cứu, biên soạn và đã được phát hành mấy năm trước đây. Kế đến, những bài phân tích chững chạc, mạch lạc của giáo sư Tâm Việt, giáo sư Lê Trí Viễn, ông Đỗ Thông Minh, có cùng quan điểm và nhận được nhiều sự biểu đồng tình tích cực. Cá nhân tôi có đề cập đến vấn đề này đôi ba lần trong loạt bài “Tác giả Ngục Trung Nhật Ký không phải là người Việt Nam”.

Dĩ nhiên, những bài viết này chưa có đủ tài liệu dẫn chứng một cách xác thực đi kèm. Tất cả là những suy luận, những phán đoán. Những suy luận, phán đoán ấy đã dựa vào những quy luật nhất định, có giá trị về thời gian và bối cảnh mà tập thơ đã hoàn thành. Tất cả đều định hình theo quy luật về thơ như thể thơ, phong thơ, ý thơ, tứ thơ, khổ thơ, nghĩa thơ, hồn thơ, đạo thơ, và văn tự của thơ trên văn bản mà chứng minh. Sự chứng minh, phán đoán, theo tôi, là có thể chấp nhận được, nhưng nó vẫn chưa là chứng từ để kết luận.

Nay trong Đèn Cù, tác giả Trần Đĩnh, đưa ra một đoạn viết khá ngắn, không một dẫn chứng, liên quan đến tập thơ và lý lịch của HCM. Trần Đĩnh viết; "Tàu Tưởng bắt tù Cụ Hồ chỉ cốt để báo cho biết nó chả ngọng Cụ là cộng sản, cụ muốn hoạt động thì hãy chịu cương tỏa của nó... Nhờ tập thơ giãi bày tâm sự trong tù với Tàu Tưởng, tôi đây yêu nước chứ không cộng sản, rồi nhờ có thêm người - như Hồ Học Lãm nói với Trương Phát Khuê, Cụ đã được ra tù và cùng với Nguyễn Hải Thần lãnh đạo Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội.” (tr. 37).

Sự thật thế nào?

Đọc thoáng qua, ai cũng thấy, đây là một đoạn viết ngắn, khá ngắn, nhưng nó lại mang một sức chuyên chở ý rất nặng và rất lớn. Lớn như một tờ giấy chứng thực tập thơ là của Hồ Chí Minh? Nặng hơn hàng trăm, hàng nghìn những trang báo, bài viết của những dịch giả như Huệ Chi, Nam Trân, Đỗ Văn Hỷ... và những bài thuộc diện thổi ống nói về tập thơ của các nhà văn, nhà báo Việt cộng, cộng lại. Bởi lẽ, Trần Đĩnh ở vào cái vị thế mà những người kia không bao giờ có. Trần Đĩnh gần “Hồ”, Trần Đĩnh biết nhiều, biết hết mọi chuyện về “bác”. HCM có thể nói đùa, bỡn với Trần Đĩnh "thế người ta đi đái cũng theo à?", trong lúc những người khác nếu có dịp tiếp xúc với Hồ theo từng nhóm, từng đoàn thì việc giữ cho cái trống ngực khỏi đập loạn nhịp đã là may mắn rồi, nói chi đến câu chuyện thân tình. Họ chỉ viết theo tiếng kẻng!

Theo đó, khi Trần Đĩnh viết về tập thơ, quyết đoán như thế, chuyện người ngoài có tin hay không mặc kệ. Riêng cánh làng thổi thì mừng đến rơi nước mắt. Rồi những đôi mắt xanh sao, vàng vọt, lơ láo lo lắng vì không biết trả lời ra sao trước những thách đố cho rằng tập thơ ấy không phải là của Hồ Chí Minh đều dồn về Trần Đĩnh, coi Trần Đĩnh như là cứu chúa. Dù chẳng quen biết Trần Đĩnh, nhưng nếu cần bầu Trần Đĩnh vào vai trò thủ lãnh bảo vệ tập thơ là của “bác” thì tất cả đều giơ tay. Lý do, ngay chuyện kín “cụ Hồ che râu đến dự một buổi”, nói ra là bôi tro trát trấu vào mặt “bác”, là đụng vào cái búa của đảng, Trần Đĩnh cũng huỵch toẹt ra rồi. Chuyện này ai dám nói, dám viết? Trần Đĩnh dám viết là có chứng cớ, là khả tín? Chẳng biết sự khả tín ra sao, đã thấy Bùi Tín vội vàng nhảy vào dựa hơi, ăn ké "Tôi có thể chứng thực những điều Trần Đĩnh viết ra là chân thực” (Người đẹp nhất trong Đèn Cù). Lạ thật, không biết Bùi Tín lấy tư cách gì, tiêu chuẩn nào mà cấp giấy chứng thực cho Trần Đĩnh? Bạn tôi bảo. Lạ quái gì. Cộng đảng viên nào cũng có cái bệnh lạ này như nhau. Bệnh đảng. Bệnh ồm ộp từ vũng nước dưới chân trâu! Ngửa mặt lên là bằng trời. Chỉ tại cái vũng nước quá cạn!

Liệu cái “chứng thật”, cái “thế giá” này có đủ khả năng đánh bạt, đánh đổ toàn bộ những lý luận, những bài viết cho thấy Hồ Chí Minh là người Tàu, gốc Hẹ và tác giả tập thơ Ngục Trung Nhật Ký không phải là của Hồ Chí Minh (Nguyễn Sinh Cung) hay không? Tôi cho là bất khả, ngoại trừ hai trường hợp sau:

Thứ nhất. Nếu họ trưng ra được tất cả những tài liệu theo năm tháng cùng với những hình ảnh từ 1932-1943 là những năm mà người ta gọi 10 năm mất tung tích của Hồ Chí Minh được công bố gắn liền với giấy chứng nhận DNA trên cái xác phơi khô của HCM do những cơ quan chức năng thẩm quyền quốc tế đảm nhận. Khi ấy, cái “tổ hợp” thắc mắc kia không đánh cũng tan. Sẽ có nhiều người phải bẻ bút. Trong đó có thể có cả tôi. Ít nhất là tôi sẽ có bài sám hối và xin lỗi độc giả về những loạt bài có liên hệ đến lý lịch và tập thơ NTNK. Tuy nhiên, việc đưa ra bằng chứng về những tội ác mà HCM đã phạm với dân tộc và đất nước Việt Nam tôi vẫn cứ tiếp tục. Vì đó là bổn phận của người cầm bút phải đi tìm sự thật và truyền đi sự thật.

Thứ hai. Một khi không có được những chứng liệu như đã nói ở trên, thì chính đoạn viết ấy lại là sự xác định Hồ Chí Minh là người Tàu và tập thơ không phải là của Nguyễn Sinh Cung. Khi đó, những câu chuyện của làng thổi như những bài ca vô tận về “Người hay ngợm” chỉ còn là tiếng ọp ẹp trong vũng nước dưới chân trâu như đã từng, và Đèn Cù khéo mà tự bốc hỏa. Nó thiêu rụi cả tác giả và cả cánh làng thổi từ xưa đến nay. Trừ trường hợp tác giả cho thấy đây là một đoạn văn mở ngược ý, để chứng minh Hồ Chí Minh là người Tàu, yêu nước Tàu và không phải là tác giả của Ngục Trung Nhật Ký? Nghĩa là Trần Đĩnh muốn dùng một số nội dung “râu ông cắm cằm bà” của một số bài thơ để phản chứng cho đoạn viết vô lý của minh. Bởi vì, Trần Đĩnh đã biết HCM là người Tàu, và tập thơ là của người khác. Nhưng không thể viết theo ý mình, nên phải chọn cách tránh né, nói ngược này để diễn đạt ý muốn viết?

Đến đây, tôi chưa có kết luận là bạn nên ngả theo phía nào trước. Tuy nhiên, việc tìm ra sự thật trong đoạn viết của Trần Đĩnh là “chân thật” là khả tín như làng thổi tung hê theo ý của họ, hay nó lại là “tôi đây yêu nước Tàu, không phải cộng sản”, không có một khó khăn nào hết. Trái lại, nó sẽ phơi bày ra ánh sáng công luận chỉ sau một câu hỏi: Dựa vào những tiêu chuẩn nào để Trần Đĩnh viết ra đoạn văn đầy tính xác quyết như giấy chứng nhận về lý lịch, rồi ban cấp cho Hồ Chí Minh là tác giả của tập thơ NTNK? Theo tôi câu trả lời gồm có hai phần. Thứ nhất, tìm hiểu về sự gần gũi và cái thế giá cá nhân của Trần Đĩnh với HCM. Thứ hai, phân đoạn viết trên thành ba phần để tìm lời giải đáp.

A. Sự gần gũi và thế giá của Trần Đĩnh

Không ai phủ nhận Trần Đĩnh có sự liên hệ khá gần gũi với HCM trong một thời gian dài từ Atêka cho đến sau này. Gần gũi đến nỗi, Trần Đĩnh và bạn hữu có thể thoải mái tán gẫu về chuyện thích "gái nạ dòng của Hồ". Hơn thế còn gần gũi ngay cả khi y đi đái nữa. Trần Đĩnh viết (1960?): “Sau bữa cơm trưa, thấy Cụ quần áo cánh nâu đi vòng ra sau dẫy nhà tranh đến rặng chuối thay hàng rào, tôi đi theo. Cụ thuốc lá ngậm miệng, tay vén ống quần lên đái. Thấy tôi gần như ở ngay bên, cụ quay ngoắt lại hỏi, điếu thuốc khẽ lật bật ở môi: “Người ta đái cũng theo à?” Không ạ, cháu...”. Thế đứng sát vào người ta nhòm gì?” Câu tra hỏi đùa bỡn đã đóng một dấu ấn phơi phới vào quan hệ bác cháu. (tr. 181)

Một người có hoàn cảnh như thế thì hẳn nhiên là có thể nắm rất vững về giọng nói, âm nói và cách nói chuyện bằng tiếng Việt của Hồ Chí Minh? Đây là một lợi thế tốt hơn là chứng cớ tốt để Trần Đĩnh, một người được giao trách nhiệm viết tiểu sử cho Hồ Chí Minh, viết “bất khuất” đưa ra đoạn viết xác quyết ở trên. Thoáng qua, nó khả tín và chắc chắn hơn những chuyện vẽ vời của cánh làng thổi, làng dịch, làng ăn ké. Tuy nhiên, nó vẫn có đầy khuyết tật cần phải vạch ra.

Thứ nhất. Tất cả những sự kiện về Nguyễn Sinh Cung từ Làng Kim Liên, đến khi vào Huế theo học, kế bị đuổi học, rồi lưu lạc vào Phan Thiết. Xuống tàu xin làm bồi bép. Đến Pháp thì xin vào học trường thuộc địa. Sau thất bại về đường công danh, học vấn, Thành đi theo cộng sản Pháp. Sang Liên Xô, vào tù ở Hồng Kông 1931. Rồi về hang Pác Pó 1941. Lại sang Tàu, đổi thành Hồ Chí Minh, bị Tàu Tưởng bắt, thì Trần Đĩnh hoàn toàn dựa vào những sách báo của đảng cộng sản làm tuyên truyền. Trần Đĩnh viết “Mừng Đảng 30 tuổi, mừng Cụ Hồ 70, mừng 15 năm thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ngoài ba đại khánh còn Đại hội lần thứ ba của Đảng. Tháng 3, Tố Hữu triệu tập mấy người lập nhóm viết tiểu sử Hồ Chí Minh với danh nghĩa Ban nghiên cứu lịch sử đảng. Gồm Tố Hữu, Phạm Bình (Ban nghiên cứu lịch sử đảng), Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh và tôi. Hai nhà văn vào tận quê Cụ sưu tầm tài liệu. Phạm Bình cung cấp tài liệu. Tôi viết. Cố nhiên cũng sưu tầm cả tài liệu. Hai nhà văn trở ra với nhiều điều giật gân. Cụ sinh năm 1891! Cụ Khiêm, anh trai Cụ nói thế, có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng. Báo cáo với Cụ thì Cụ nói của người ta thế nào thì cứ để thế không sửa gì hết. Hai nhà văn và tôi bảo nhau: Bác muốn dân dễ nhớ nên lấy tròn 1890. (tr. 167)

Đến khi bắt tay vào việc, Trần Đĩnh đã xác nhận phải viết theo cái búa chỉ đường, không viết theo điều mình biết, Trần Đĩnh kể "Phải viết một loạt bài về lịch sử đảng, tôi đã đọc những tài liệu về chuyện này. Lẽ tất nhiên đều ỉm đi, cho tất cả vào cái sọt giấy vĩ đại là sự quên, sự lờ, sự nhắm mắt lại. Gọn một chữ là sự gian dối. Để đổi lấy uy tín đảng" (tr. 192). Nghĩa là phải bỏ qua mọi tài liệu, Trần Đĩnh đã viết bằng sự gian dối để được lòng đảng. Tôi rất trân trọng, ngưỡng mộ lòng quả cảm của Trần Đĩnh trong câu viết này. Tôi tin rằng, đây chính là tiếng nói tự đáy lòng Trần Đĩnh. Đáy lòng còn có hình ảnh của một bà mẹ kính yêu và tổ Quốc Việt Nam trong Trần Đĩnh.

Như thế, câu trả lời đã có. Trần Đĩnh không viết theo những tài liệu, theo chứng cứ có thể là có thật, hay những điều Trần Đĩnh nghe, biết. Trái lại, Trần Đĩnh đã viết bằng sự giả dối, viết dưới cái búa của đảng cộng sản. Cái búa này, cho đến nay chưa bao giờ rời xa Trần Đĩnh! Theo đó, sự gần gũi thân tình, biết hết về HCM tự nhiên mất giá trị. Nó không thể nói lên, hoặc chứng mình cho những điều Trần Đĩnh biết và viết là giống nhau. Từ đó sự khả tín và “chân thật” có lẽ cũng không còn. Bởi lẽ, nếu có biết rất thật âm thanh ấy không phải là âm thanh của người Việt Nam thuần túy. Giọng nói ấy là giọng nói của một người ngoại, thuộc dòng phát âm độc âm như Việt Nam, và có vóc dáng hao hao Việt Nam, nhưng không phải là cái lề thói thổ âm, kiểu cách, điệu bộ của người ở vùng làng Kim Liên, Nam Đàn. Trần Đĩnh cũng phải lờ nó đi, không được phép thắc mắc và phải viết bằng sự giả dối, và uy tín đảng!

Ấy là chưa kể đến phần tâm lý luôn nằm sâu trong lòng Đĩnh là: "gần vua như gần cọp”. Sự gần gũi giữa đôi bên không phải là một quan hệ ngang hàng, thân cận, nhưng là một thuộc hạ khá thấp, tiếp xúc với một lãnh tụ cao nhất, không tránh khỏi những cảm xúc tâm lý bất ổn. Lại không phải là một gián điệp do địch gài vào, nên không để ý, hay không đánh giá, không thắc mắc người đối diện mình là ai. Thay vào đó là sự tôn kính và tôn sùng lãnh tụ ngay từ trước ngày bước chân vào Atêka, nên không thể có sự tìm hiểu cách thế nói chuyện, giọng âm có khác với người Việt Nam hay không. Trái lại, nhìn tất cả những sự việc giả dối chung quanh cá nhân người này bằng cái nhìn tôn kính, tôn sùng lãnh tụ, nên nếu có thấy cái lối phát âm khác lạ, kiểu nói khác lạ, Trần Đĩnh cũng sẵn sàng đánh lừa chính mình bằng nhận định “bác” ở ngoại lâu quá nên nói líu cả lưỡi, đôi khi quên mẹ nó cả tiếng Việt. Hay nói tiếng Tàu. Nói chữ Đ lại ra chữ L. Giống như cuốn băng duy nhất HCM trả lời trong cuộc phỏng vấn với phóng viên Nhật. Như thế, sự gần gũi tự nó không thể là một chứng cớ, một điểm tựa giúp cho Trần Đĩnh trong trường hợp viết đoạn văn như giấy chứng nhận ở trên. Sự xác thực của nó chỉ còn dựa vào nội dung của tập thơ NTNK.

B. Ba điểm chính trong đoạn viết của Trần Đĩnh

1. Những lý do được đưa ra khi HCM bị bắt ở Túc Vinh:

a. Trần Đĩnh xác định: HCM bị bắt vì là cộng sản "Tưởng bắt tù Cụ Hồ chỉ cốt để báo cho biết nó chả ngọng Cụ là cộng sản”. Trong tập thơ cũng có một bài có thể chứng minh tác giả là cộng sản thuộc đảng cộng sản Phúc Kiến.

b. Lý do bị bắt do nhà nước CSVN công bố: bị tình nghi là gián điệp "Khi kiểm tra căn cước tuần cảnh phát hiện ra rằng ngoài chứng minh thư của: Quốc Tế phản xâm lược hiệp hội Việt Nam, phân hội” ra. Hồ Chí Minh còn mang theo thẻ hội viên đặc biệt của “Quốc Tế Tân Văn Xã”, và giấy thông hành quân dụng của Văn Phòng Tư lệnh Đệ Tứ chiến khu cấp... tất cả các giấy tờ đều cấp năm 1940, đã quá thời gian sử dụng. Họ nghi Hồ Chí Minh là gián điệp nên bắt giữ”. (Lichsuvietnam). Không cho biết tên, tuổi ở trong những loại giấy tờ này.

c. Lý do Hồ bị bắt do Tàu Tưởng (chữ của Trần Đĩnh) công bố. Tàu Tưởng không có công bố lý do khi bắt Hồ Chí Minh. Tuy nhiên việc đưa tác giả đi rong trên phố cho bà con xem mặt, như nhà nước CSVN đã cho dẫn tù binh Mỹ diễu phố ở Hà Nội vào những năm cuối 1960 hay đầu 1970 để nuôi thêm lòng căm thù của nhân dân với đối phương thì tác giả cho biết bị bắt vì tội làm Hán gian. Hán gian với Tàu Tưởng có thể hiểu là hoạt động cho phát xít Nhật, hay là nằm vùng cho Tàu cộng. "Ngoài phố tranh nhau xem Hán gian, Hán gian ta vốn thực vô can, vô can vẫn bị nghi là có. Thực khiến lòng ta lạnh tới gan" (Trên Đường Phố, người dịch Nam Trân).

d. Lý do bị bắt do chính tác giả đưa ra:

“Ta người ngay thẳng lòng trong trắng,
Lại bị tình nghi là Hán gian” (Đường đời hiểm trở).

Đây có lẽ là lý do đúng nhất. Và còn hơn cả sự đúng nữa. Chính tác giả đã xác định bản thân là người Tàu.

Chi tiết nào chứng minh tác giả là người Tàu? Tác giả là người Tàu vì một lẽ rất đơn giản. Khi một người Tàu bị bắt vì nghi án làm việc cho ngoại bang, cho đối phương chống lại nhà cầm quyền đương thời, đương nhiên bị gọi là bọn Hán gian. Nếu tác giả là người Việt hoạt động cho Việt cộng, cho Nga, cho Tàu khi bị bắt ở Mỹ, ở Pháp, ở Úc hay ở bên Tàu đều bị gọi là Việt gian. Người này không bao giờ bị gọi là Mỹ gian, Pháp Gian hay là Hán gian. Cũng thế, khi một người Tàu phạm cùng loại tội bị bắt tại Việt Nam, tại Mỹ, tại nguyên quán đều bị gọi là Hán gian. Ở đây, chính tác giả đã xác nhận bị nghi là Hán gian. Rồi ngoài phố cũng tranh nhau coi Hán gian. Chẳng lẽ Hán gian này lại có thể là người Việt ư?

Xin hỏi, những phi công của Hoa Kỳ, bị bắt và bị đưa đi diễu phố ở Hà Nội cho dân ném đá, xỉ vả và bạn của tác giả nhảy ra vờ đấm hụt để khỏi bị quy vào thành phần, họ bị gọi là gì? Bọn xâm lược đế quốc Mỹ, bọn Mỹ gian, hay là Việt Gian, Hán gian? Nếu những tù binh này bị gọi là Việt gian, là Hán gian thì tôi chấp nhận cái lý Hán gian trên là người Việt. Rồi những người Việt Nam hoạt động cho Việt Nam Cộng Hòa, làm việc cho Pháp bị Hồ Chí Minh chém lén, họ có bị ghép vào tội là Hán gian hay không? Hỏi là trả lời. Ngắn gọn, người mang quốc tịch nào, khi bị bắt vì có hoạt động nguy hiểm chống lại chính quyền đương thời hay hoạt động cho kẻ thù của quốc gia sở tại thì bị gọi bằng chính cái tên nước mà kẻ đó đeo trên mình. Theo đó, tác giả chính là một người Trung Hoa, mà chúng ta thường có thói quen gọi là người Tàu. Kế đến, khi Tàu Tưởng đưa tác giả đi rong ngoài phố cho dân chúng nhìn mặt thì càng quả quyết là sau những cuộc hỏi cung, Tàu Tưởng đã biết rõ tác giả là ai, ở đâu, đã bị tình nghi có liên hệ với tổ chức nào chống lại chính quyền đương thời. Về điểm này, thưa ông Trần Đĩnh, ý ông thế nào? Tác giả có phải là người Việt Nam không? Phần tôi, xin cám ơn tác giả Trần Đĩnh đã dùng phản đề, ngầm ý, để giúp cho độc giả nhìn rõ chân tướng tác giả là người Tàu rất yêu nước Tàu!

2. “Nhờ tập thơ giãi bày tâm sự trong tù với Tàu Tưởng”

Phải công nhận đây là một ý kiến rất lạ lùng và rất đặc sắc mà tác giả Trần Đĩnh đã khám phá ra, đã nêu ra làm chủ đề cho đoạn viết này. Thật vậy, nỗi lòng, tâm sự u uẩn của một người có thể giãi bày trọn vẹn ra cho người ngoài, người đối diện với mình qua những bài thơ, để nhờ đó tạo sự cảm thông. Một nàng kiêu sa, ngúng nguẩy, không thèm tiếp chuyện ai kia, nhưng khi đọc được dòng tâm sự của chàng về mình qua những dòng thơ trữ tình thì lòng mềm ra như bún. Cũng thế, một Tàu Tưởng mặt mũi đỏ gay, đang hò hét vang cả nhà, bất chợt nhận được một tập thơ của một người tù trong tay, Y không thể không liếc mắt đọc qua. Đọc rồi đưa đến cảm thông. Nhưng nếu người tù trao cho Tàu Tưởng một xấp giấy đầy những lời trần tình thống thiết, bi ai hay biện minh thì những trang giấy ấy có nhiều cơ hội bị quăng vào xọt rác. Tại sao thế nhỉ?

Điều này thì chính Trần Đĩnh biết rõ hơn ai hết. Viết bình luận, thời sự, phê bình, viết báo thì dựa vào những sự kiện trước mặt, có sẵn mà viết, mà bình, mà giải. Viết văn thì dùng trí óc hư cấu từ câu chuyện có thật của mình, của người hay bất chợt bắt gặp trong đời mà vẽ vời, văn hoa thành truyện, thành tiểu thuyết. Nó không buộc phải chứng dẫn sự kiện. Đến thơ, lại là một chuyên đề hoàn toàn khác biệt với những khuynh hướng trên. Thơ là hơi thở, là nghĩa sống của tâm hồn. Ở trong thơ không là những dòng chữ chạy theo sự kiện gian dối, búa liềm. Nó là chân thật, là thao thức của tâm hồn. Nó là tiếng nói từ đáy lòng, là những dòng chữ tuôn chảy, vươn tới đỉnh cao đẹp và chân thiện. Nó là cái đẹp tinh khôi thuần khiết của nhân bản tính, nên người ta gọi nó là thơ, hồn thơ. Cũng thế, ở trong Ngục Trung Nhật Ký hầu như có tất cả mọi vẻ đẹp cao đẹp của một tập thơ. Nó không có một dấu hiệu nào là dùng dao mã tấu chém chữ, nó lại cũng chân thật đến điên rồ nhận mình là Hán gian.

Thật vậy. Ngục Trung Nhật Ký hầu như có mọi tố chất tạo nên một vẻ đẹp thanh cao của một người yêu nước, yêu nước thiết tha. Bỗng nhiên, vì một lý do nào đó, nhất thời thân bị giam trong nhà lao. Cuộc giam cầm này xem ra không cho ông một nỗi đau đớn của thể xác, nhưng chém vào lòng ông một nhát dao trí mạng. Hán gian! Và từ hai chữ này, tác giả đã trải nỗi lòng của mình ra theo từng bước chân, trên từng trang giấy với những nhà lao đã qua. Mà lạ, không một nhà lao nào để lại trong ông nỗi oán than về thể xác. Nhưng tất cả như làm héo úa lòng ông vì tiêu pha ngày tháng vô ích trong khi tổ quốc vẫn có thể cần đến ông trong một công việc gì, dù là nhỏ bé. Bất cứ người nào đọc NTNK cũng đều thương cảm cho số phận của cánh chim bàng trong lồng. Tiếc là khi ra đi, chung cuộc, ông không để lại tên tuổi quê quán để cho người đời sau kính vọng ông.

Nhưng bỗng dưng, HCM... vồ được tập thơ, cho người dịch ra tiếng Việt rồi nham nhở hô hoán, thổi phồng lên “nỗi lòng của bác ở trong tù”. Và nay, Trần Đĩnh, người rất gần gũi với Hồ Chí Minh, lại cho rằng, nhờ tập thơ tâm sự, giãi bày nỗi lòng này mà Tầu Tưởng tha cho “bác”. Thật, cái trí tưởng tượng của chàng thanh niên 19 tuổi lên Atêka ngày nào vẫn còn vượt đi ngàn dặm. Nhưng không biết, những bài thơ nào được coi là tiêu biểu mà Trần Đĩnh gọi là “giãi bày tâm sự trong tù với Tàu Tưởng, tôi đây yêu nước, chứ không cộng sản”. Liệu có phải là bài này hay không?

Nhà nhà hoa kết với đèn giăng,
Quốc khánh reo vui cả nước mừng;
Lại đúng hôm nay ta bị giải,
Oái oăm giá cản cánh chim bằng
“Tết Song thập bị giải đi Thiên Bảo” (Người dịch: Nam Trân)

Hay là:

Tráng sĩ đua nhau ra mặt trận,
Hoàn cầu lửa bốc rực trời xanh.
Trong ngục người nhàn quá đỗi,
Chí cao mà chẳng đáng đồng chinh.
“Buồn bực” (Người dịch: Nam Trân)

Nếu là một trong hai bài này thì rõ ràng tác giả biện minh ông ta không phải là cộng sản, nhưng là một người rất yêu nước, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ cho quê hương. Nhưng đó là quê hương Tàu chứ không phải quê hương Việt Nam. Vì ngày “Tết Song Thập” chính là ngày Quốc Khánh của Trung Hoa Dân Quốc. Ông buồn. Buồn vì ngày mà cả nước mừng reo vui, (có thể ông đã từng góp công góp sức cho ngày này). Nay, thân ông như một cánh chim bàng, vẫn sẵn sàng vì tổ quốc mà lại bị coi là Hán gian phản quốc, bị rẻ khinh chẳng đáng giá một đồng xu!

Nỗi lòng của ông không chỉ có bấy nhiêu. Nhưng vượt lên trên cả những nỗi oan tình, oán than, dù cô quạnh trong chốn nhà giam, tác giả vẫn không oán hờn người bắt mình. Thay vào đó là một khí phách lớn, bỏ qua mọi tỵ hiềm, oán giận cá nhân mà viết lời kêu gọi đồng bào trong cả nước hãy nghe theo lời Tổng Thống Tưởng Giới Thạch mà chiến đấu chống phát xít Nhật và tiêu diệt tập đoàn cộng sản Mao Trạch Đông. Đã thế, còn ca tụng những chiến công của những viên tướng của Tưởng đã chiến thắng Tầu Mao ở Chiết Giang như là những anh hùng của dân tộc. Tác giả viết:

Đọc lời giáo huấn của ông Tưởng (Người dịch: Đỗ Văn Hỷ)

Gian khó không lùi, vẫn tiến lên,
Thù nhà nợ nước, nghĩa đương nhiên;
Quyết tâm gắng gỏi và kiên nghị,
Nhất định thành công sẽ có phen

Tướng quân Lương Hoa Thịnh thăng chức phó tư lệnh (Người dịch: Trần Đắc Thọ)

Đốc quân ngày trước vùng Tương, Chiết,
Chống giặc năm nay mạn Miến, Điền;
Lừng lẫy uy danh, thù mất mật,
Khải hoàn mừng trước, xướng thành thiên.

Phần cá nhân tác giả thì ngồi nhìn trời, ngắm trăng mà bước đi theo cái đạo trung trinh, cái nghĩa tiết tháo của vườn Đào:

“Cành lá khéo in hình Dực Đức,
Vần hồng sáng mãi dạ Quan Công"
(Tức Cảnh, người dịch Nam Trân)

Có thế, đây quả thật là những bài thơ có khả năng giãi bày lòng yêu nước của tác giả với Tàu Tưởng. Ai đọc cũng có thể thấy được nỗi lòng vì đất nước của tác giả. Hơn thế, biết rõ Tổ quốc của tác giả là nước Trung Hoa. Như thế, tác giả tuyệt đối không phải là Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Ái Quốc). Đã thế, tâm hồn tác giả xem ra hiền hậu, khoan dung, hoàn toàn khác biệt với cái độc ác, vô lương, bá đạo, bất nghĩa của Hồ Chí Minh.

3. Những cuộc gặp gỡ và vận động xin trả tự do cho tác giả và cho Hồ Chí Minh?

Đến đây, tôi buộc tôi phải có cái tiểu đề cho rõ ràng để phân biệt cho hai trường hợp, tác giả Ngục Trung Nhật Ký và Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, tôi không thể lừa tôi, tôi không thể lừa dối bạn đọc và dư luận. Lý do, mọi người đã nhìn thấy rõ đây là hai người hoàn toàn khác nhau, nhưng xem ra nhà nước và đảng CSVN lại cứ ỡm ờ cho hai cái khác này quy vào một người chỉ vì ăn phải bả của HCM. Và đây có phải là điểm mà Trần Đĩnh muốn cho mọi người nhìn thấy sự thật bằng phản đề chăng?

Thú thật, tôi rất ngạc nhiên, không biết tác giả lấy tài liệu ở đâu ra, hay chính HCM nói cho Trần Đĩnh nghe là nhờ ông Hồ Học Lãm nói giúp, nên Trương Phát Khuê đã thả Hồ Chí Minh ra. Trong khi đó theo tài liệu được ghi lại của Quốc Dân Đảng Việt Nam thì: "Sau khi xin phép Trương Phát Khuê vào thăm Nguyễn Tường Tam thì cũng xin thăm luôn Hồ Chí Minh, dù không biết Minh là ai. Sau đó hai họ Vũ và Nghiêm đề nghị BCH/VNVMĐMH, đứng ra can thiệp xin trả tự do cho Tam và Minh, Lần lượt sau đó hai người này được trả tự do và về trụ sở của VNCMĐMH để chờ hậu bổ ủy viên” (Chương II: “VIỆT NAM CÁCH MẠNG ĐỒNG MINH HỘI" - Hoàng Văn Đào). Tôi không viết về chuyện ai đã vận động để Trương Phát Khuê trả tự do cho HCM. Vì một bên có tài liệu, một bên nói bằng... mồm. Và cả hai cùng chẳng ăn nhập gì đến những cuộc thăm viếng và làm thay đổi đời tạm giam của tác giả. Bởi lẽ, chính tác giả kể về chuyện này, chẳng có Nghiêm, chẳng có Vũ. Cũng chẳng có Hồ Học Lãm, như sau:

Lính tráng tuần canh nhìn nhẵn mặt,
Hôm nay mới được gặp văn nhân;
Người trông nho nhã, ai không thích,
Mái tóc ta xanh lại mấy phần.
(Khoa viên họ Trần tới thăm. Người dịch: Nam Trân)

Hay nói về tấm thịnh tình của cố cựu khi đến thăm tác giả?

Họ Ngũ trưởng khoa với họ Hoàng,
Thấy ta cùng cực động lòng thương;
Ân cần thăm hỏi và cưu giúp,
Như nắng bừng lên giữa giá sương
(Khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng. Người dịch: Huệ Chi).

Thế là quá rõ ràng.

4. Phần ngoại đề

Hãy tạm bỏ quên những khác biệt về tài liệu sang một bên. Một câu hỏi cần phải trả lời ngay để có thể tìm ra sự thật của câu chuyện là. Nếu tập thơ là của Hồ Chí Minh thì khi nào Hồ Chí Minh đã dùng tập thơ này để giãi bày, tâm sự nỗi lòng với Tàu Tưởng? Có phải là vào giai đoạn trước khi Hồ Chí Minh được thả chăng? Sự thường là thế. Nhưng nếu có việc trao tập thơ này cho Tàu Tưởng, theo tôi, một trong ba trường hợp sau đã xảy ra và Hồ Chí Minh đều mất mạng.

1. Hồ Chí Minh không bao giờ được Trương Phát Khuê trả tự do, và có thể bị vùi xác trong chốn nhà lao. Sẽ không có sự việc cho HCM gia nhập vào VNCMĐMH và đưa về Việt Nam.

2. Hai là sẽ phải giao cho Pháp để lấy tiền mua vài lít rượu đế! Vì Pháp đang cần bắt và sẵn sàng trả tiền cho ai bắt được những tên CSVN đầu sỏ ở Việt Nam.

3. Thứ ba quan trọng hơn cả, Hồ Chí Minh đã lĩnh được cái búa của Mao trước khi ra khỏi nhà lao. Tại sao lại như vậy?

Đơn giản là trước kia Tàu Tưởng chỉ nghi tác giả là Hán gian. nhưng qua tập thơ tác giả lại lòi ra là tên cộng sản thuộc đảng ủy Phúc kiến. Đây, Tác giả viết:

"Một canh... Hai canh... lại ba canh,
Trằn Trọc băn khoăn giấc chẳng thành.
Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt,
Sao vàng Năm Cánh mộng hồn quanh"
(Không ngủ được, người dịch Nam Trân.)

Cờ đỏ Sao vàng là cờ của đảng cộng sản ở Phúc Kiến. Tàu Tưởng biết rất rõ lá cờ này. Khi đó cộng sản tại Việt Nam chưa du nhập là cờ này vào tổ chức của họ. Theo đó, tác giả thật sự có lẽ đã không còn. Ông ta đã chết vì Tàu Tưởng hay vì cái búa của Mao? Hoặc giả, đã biến tướng thành một người khác? Nhưng tại sao lại phải chết?

Giả sử Hồ Chí Minh là tác giả. Khi biết Hồ Chí Minh là cộng sản, nếu Tàu Tưởng không bán Hồ cho Pháp thì cũng sẽ phát tán tin tức, cho phổ biến rộng rãi những bài thơ của Hồ, một kẻ phản đảng cộng ở Phúc Kiến, ca tụng Tưởng Giới Thạch, ca tụng Lương tướng quân, kẻ thù không đợi trời chung với Mao cho các tù nhân trong tù đều biết mà noi gương. Mục đích này dĩ nhiên chẳng tử tế gì, nhưng là nhờ tay những tù nhân cộng sản cuồng tín của Mao ở trong tù thịt Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, kẻ chống Mao như Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu còn không tránh được cái búa của Mao, xá chi một tên tù quèn An Nam như Hồ Chí Minh! Rồi làm gì có cảnh Trương Phát Khuê nuôi cộng sản, bỏ cả tiền lộ phí và phát quân trang quân dụng, vũ khí cho Hồ Chí Minh, đưa Minh về Nam lập nghiệp, giúp Mao trạch Đông đánh phá phía sau lưng tổ chức của Trương?

Về phía Mao, nếu Tàu Tưởng đã mua chuộc được tên phản đảng, đã bảo vệ y và đám tù của Mao không thịt được Hồ Chí Minh thì Hồ cũng không tránh được cái búa tạ của Mao trên đường về Việt Nam. Làm gì có chuyện Mao cung phụng cho Hồ từ gái, đến nhân sự cố vấn, tiền bạc và quân trang quân dụng để Hồ giúp Tưởng, đánh Mao? Như thế, chỉ có một lý lẽ duy nhất để Hồ sống sót. Y là Hồ Quang, người của Mao, là gián điệp của Hoa Nam, được những tên nằm vùng dưới trướng của Tàu Khuê bảo vệ. Hơn thế, còn tìm cách để Khuê cho Hồ về nam lập phòng tuyến cho Tàu Tưởng, nhưng thực tế là làm việc cho Mao?

Ấy là chưa kể đến trường hợp, khi tập thơ được dùng để "giãi bày tâm sự với Tàu Tưởng”. Nó không còn nằm ở trong tay Hồ Chí Minh nữa. Làm gì có chuyện Tàu Tưởng chỉ xin chép lấy bản sao làm kỷ niệm, còn bản chính màu xanh nhạt với ngày tháng đề 8/1932-9/1933 trả lại cho Hồ Chí Minh đem về Việt Nam, giao cho "bầy em" dịch ra tiếng Việt mà ộp ẹp, ê a?

Tóm lại qua đoạn văn ngắn trên, tôi cho rằng, Trần Đĩnh không muốn đốt chính mình. Trần Đĩnh chẳng ngô nghê. Trái lại, Trần Đĩnh cò thể có một chủ đích khác? Tuy nhiên, kết luận của đoạn viết này là khá rõ:

- Tác giả NTNK là một người Hán. Nếu Hồ Chí Minh là tác giả NTNK thì y là người Tàu.

- Không có nhiều chứng cớ cho thấy Tàu Tưởng biết Hồ Chí Minh là cộng sản.

- Tập thơ không phải là của Hồ Chí Minh, nên không có chuyện dùng tập thơ để giãi bày với Tàu Tưởng.

- Những người hoạt động để cứu Hồ Chí Minh và những người đến thăm tác giả là những người hoàn toàn khác biệt.

Không có liên hệ gì với nhau, và những cuộc thăm viếng cũng có mục đích khác nhau. Một bên vì muốn cứu một người Việt Nam mới bị bắt giam, nhưng không ai biết lý lịch của y ra sao, là ai, cũng không biết y là kẻ theo cộng sản. Chỉ nghe Khuê nói y là người Việt Nam, tên là Hồ Chí Minh và mới bị bắt giam. Một bên, có thể là đến thăm bạn đồng môn đồng liêu trước kia, nhưng nay bị vướng vào vòng lao lý vì đã lầm đường theo cộng sản Phúc Kiến. Những cuộc viếng thăm này có lẽ chỉ có mục đích thăm bạn, và nhờ ảnh hưởng của họ, hy vọng bạn xưa bớt bị cực hình ở trong tù của Tưởng mà thôi. Nhưng Hồ Chí Minh vì lý do nào đó vồ được tập thơ và gây ra nghi án văn học này thì chưa có lời giải đáp.

Sự chủ quan mang tính xác định của Trần Đĩnh trong đoạn viết này sẽ là nguyên cớ làm cháy Đèn Cù. Ngoại trừ trường hợp Đĩnh đã viết bằng sự gian dối cho vừa lòng đảng! Đó lại là một câu chuyện khác!

(còn tiếp)

Bảo Giang
danlambaovn.blogspot.com


Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Sun Dec 07, 2014 1:42 pm


Đèn Cù bản cáo trạng trước khi đèn bị cháy (P4)




Bảo Giang (Danlambao) - ... Dù đứng nhìn từ bất cứ góc cạnh nào, theo tôi, Đèn Cù của Trần Đĩnh miên viễn có một cuộc sống vững chắc trong lòng nhân gian. Cuộc sống và giá trị của nó về mặt luân lý, đạo đức xã hội sẽ được nói đến nhiều hơn về mặt “ biến động “ chính trị. Nó còn sống mãi trong nhân gian bời vì, bản thân cái Đèn Cù, trước đây rất gần gũi với cuộc sống đời thường. Nay nó lại nhắc cho ta thấy cảnh lang sói của đảng cộng. Trước kia nó mang tính hài, mua vui cho người bằng những hình ảnh voi giấy ngựa giấy. Nay, vẫn là những voi giấy, ngựa giấy, chó giấy, nhưng bằng hình người, bằng quan cán, đã làm bại hoại nền văn hóa và luân thường đạo lý của xã hội Việt Nam, bằng cách che râu dấu mặt, bằng sự áp đặt cho nhau một thứ luật lệ không có hàm tính người. Mà khởi đầu là hình ảnh tồi bại của Hồ Chí Minh. Với chỉ tám chữ “cụ” Hồ che râu đi dự đấu tố (một buổi)”, tác giả đã phô diễn trọn vẹn hình ảnh, và đạp nát tên tuổi và sự nghiệp cực vĩ đại của Hồ Chí Minh. Một sự nghiệp phản luân lý, phản đạo đức mà có lẽ không có kẻ thứ hai dưới bầu trời này làm được...


V. Thân phận tác giả và người dân Việt trong Đèn Cù

Trần Đĩnh viết: “tôi đã tự nguyện làm thủ phạm tàn phá trước hết vào chính ngay mình. Tôi vốn yêu viết. Nhưng đã không viết nổi. Đứa thủ phạm là tôi bắt tôi viết dưới bóng tối của Thù Hằn và Dối Trá”. Đúng thế, Trần Đĩnh đã tự nguyện đi vào con đường này khi trở thành một đảng viên cộng sản. Nhưng xem ra đó không phải là một trường hợp đơn lẻ của tác giả. Trái lại, còn là số phận của rất nhiều người như ông. Nghĩa là, chẳng có ai ngờ hình ảnh của Đèn Cù với những voi giấy ngựa giấy, chó giấy bằng người trong cái vòng quay mê sảng kia lại là số phận, hay trói buộc vận mệnh của đất nước và người Việt Nam vào với nó!

Cuộc sống của cái Đèn Cù gắn liền với những vòng quay. Tác giả đã nhìn ra những vòng quay, đã vẽ lại chuyện của nó, mở ra cuộc sống của Đèn Cù. Ở đó, những hình thú xuất hiện từ 1930 đến nay đều như những đàn voi giấy, ngựa giấy, chó giấy làm người, cứ thay nhau mê sảng, chạy đuổi theo những vòng quay ma quái, bất kể đến sự khốn khổ của con người, bất kể đến sinh mệnh và sự sống còn của cả một dân tộc. Để ở đó, thân phận của tác giả, của con người bị đè nghiến, bị chà đạp. Ở đó, niềm tin của tôn giáo bị lăng mạ, bị xúc phạm. Luân thường đạo lý và văn hóa nhân bản của dân tộc bị triệt hạ và đất nước dần mất chủ quyền. Trong nhà mất cha mẹ, mất anh em, ra ngoài mất tình nghĩa, mất láng giềng, mất xóm thôn. Mất trọn từ tinh thần đến vật chất. Gọn một câu là mất trắng. Sự mất trắng được tác giả định hình một cách sắc bén, rõ nét. Nó là kết quả từ việc nhà nước CS đưa ra định nghĩa về người đảng viên. Trần Đĩnh viết:

”Định nghĩa đảng viên là ngọc là vàng của đảng cho nên vào tổng kiểm thảo, Tố Hữu yêu cầu học viên rất ngặt. Hễ là con em hay liên quan với địa chủ, học viên đều phải thành khẩn tự khai báo với đảng mọi sai lầm tội lỗi của bản thân, chẳng hạn đồng tình, về hùa với gia đình, thậm chí cùng với gia đình trực tiếp đàn áp, bóc lột nông dân... Thứ hai, phải vạch ra mọi thủ đoạn đàn áp, bóc lột nông dân cùng tội ác của bố mẹ, gia đình, họ hàng địa chủ, cường hào gian ác. Thứ ba trên cơ sở thành khẩn khai báo kia mà tuyên bố là căm thù bố mẹ, tỏ ra đã dứt khoát lập trường vô sản, đoạn tuyệt với kẻ thù giai cấp. Không đạt yêu cầu căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ thì bản tổng kiểm thảo bị “phá sản”, học viên đó phải ngồi học lại cho tới khi nào lập trường vô sản, lập trường nông dân thắng, anh ta công khai tuyên bố căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ mình (mới thôi). Tố Hữu làm đúng lời Bác Hồ thôi”. (trang 74-75)

Có ai không rùng mình, không kinh hoảng, không lạnh người khi đọc đoạn viết kể ra những quy định, những nguyên tắc căn bản làm thước đo cho lập trường vô sản của các học viên (đoàn, đảng viên) cộng sản không? Có ai ngờ rằng trong lòng của tổ chức này lại có những điều khoản man rợ với chủ trương, trước là chối bỏ quyền làm người của con người, khước từ quyền có quan hệ tình cảm yêu thương với cha mẹ và gia đình. Sau còn phải “công khai tuyên bố căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ” như là điều kiện tiên quyết để bày tỏ lập trường vô sản hay không?

Tôi thực sự kinh hoàng sợ hãi khi đọc lại những dòng chữ này. Lúc đầu mắt tôi hoa lên không thể tin vào chữ. Tâm trí tôi không thể tưởng tưởng ra được là trên đời này lại có một thứ giáo điều vô giáo dục đến như thế. Mà nào có phải chỉ có bấy nhiêu đâu. Sau khi học viên đã “công khai tuyên bố căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ” là người Việt Nam, người đảng viên còn phải thể hiện mình theo bản điều lệ đảng, trong ấy có ghi rõ “lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam, ”... Đảng Lao động Việt Nam nguyện học tập Đảng Cộng Sản Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao Trạch Đông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân Trung Quốc (tr. 49)”. Theo đó, chẳng còn một chút hình bóng Việt Nam nào ở trong lòng họ nữa. Thật kinh hãi quá.

Tôi thường đọc sách. Thỉnh thoảng có đọc những cuốn sách nói về đời sống trong hoang dã. Ở đó, nhiều tác giả viết về đời sống của những bầy sư tử, bầy cọp hay những đàn voi, bầy ngựa. Họ mô tả về cuộc sống hài hòa của từng đàn với sự góp mặt của ba hay bốn thế hệ. Chúng không thể chuyện trò với nhau, nên đôi khi có những cuộc tranh chiến, nhưng thường là rất ngắn, mang tính cá thể hơn là tập thể. Chúng có những tiếng kêu, những biểu lộ cho nhau biết sự đau đớn, sự vui mừng, đôi khi là giận dữ. Nhưng tuyệt đối, không bao giờ có sự biểu lộ là đoạn tuyệt với nhau. Càng không bao giờ coi nhau như kẻ thù. Vậy mà trong tổ chức của đảng cộng sản VN, một tổ chức tự ban cho mình đủ mọi danh nghĩa, danh hiệu, từ mức độ tiến bộ, đến trí tuệ đỉnh cao, tiến hóa hơn hẳn những trí tuệ của con người, kể cả con người thời cổ đại hay con người của hôm nay, mà có những quy định trong kiểm điểm, tự phê, kiểm thảo đòi buộc học viên phải “công khai tuyên bố căm thủ bố mẹ, đoạn tuyệt bố mẹ” để tỏ lập trường vô sản với đảng thì quả là sự kinh hoàng đến kinh tởm. Khi đọc những điều lệ, quy định này, tôi thực sự không biết đây là tổ chức của người hay của ma? Nếu bảo là tổ chức của ma quái thì chắc không đúng. Mà bảo là của người thì có lẽ càng sai. Bởi vì, Lưu Cộng Hòa, (một học viên?) đã cay đắng bảo với Trần Đĩnh là: “Nay nhận mình là con vật mới đúng đấy” (tr 244)


Tôi không biết nhận định của Lưu Cộng Hòa đúng hay sai. Tuy nhiên, tôi cho rằng đoạn viết về định nghĩa và những quy định để tạo nên người đoàn đảng viên CS là một đoạn văn quan trọng và kinh dị nhất trong Đèn Cù. Quan trọng vì nó đã cho mọi người thấy rõ chủ trương vô gia đình và những phương cách triệt hạ, tiêu diệt tình cảm gia đình ở trong lòng các đoàn đảng viên CS. Kinh dị, vì nó không chỉ là một phương cách đào tạo cán bộ bằng thuần lý thuyết. Trái lại, là một phương cách triệt để trong thực hành. Hơn thế, còn là một điều kiện duy nhất. Bởi vì “Không đạt yêu cầu căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ thì bản tổng kiểm thảo bị “phá sản”. Nghĩa là điều kiện này không đạt, chưa đạt, học viên phải học tập lại cho đến khi đạt mới thôi! Như thế, chính cái quy luật “tự phê, tự kiểm thảo” này là đầu mối của tất cả mọi bất hạnh của Việt Nam từ 80 năm qua. Từ đấu tố, gây tội ác, chiến tranh, cho đến nghèo đói tụt hậu, nước mất chủ quyền, mất đất đai, biển đảo và đạo đức của xã hội bị băng hoại đều bắt nguồn từ cái luật lệ man di này.

Nhớ lại, từ hơn 80 năm qua, người ta không xa lạ gì với những câu chuyện ở làng này, huyện nọ, tỉnh kia, con cái phải đấu tố cha mẹ dưới áp lực từ cái búa, cái liềm của Hồ chí Minh. Ngay trong “Chứng từ của một Giám Mục” cũng có ghi lại một câu chuyện rất thương tâm, đau đớn như sau: “một người phụ nữ đứng tuổi, rất thương người cha già chị chăm sóc hằng ngày. Chị nói với bố “Ông có biết tôi là ai không?” người cha ngậm ngùi, trước nhìn đứa con dứt ruột mình đẻ ra và nói: Thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ.” (tr. 393). Tuy nhiên, xưa nay, chưa có ai nhìn thấy, hay nghe ai nói đến sự kiện đảng CS buộc các đoàn đảng viên trong kiểm thảo phải “công khai tuyên bố căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt bố mẹ” như là một điều kiện tiên quyết để bày tỏ lập trường vô sản của bản thân. Cũng không ai biết các phương cách thực hiện chủ trương vô gia đình, triệt hạ tình cảm trong gia đình của cộng sản như thế nào. Nên hầu như đều cho rằng, việc các đội gọi là “cải cách” làm áp lực, đẩy con cái ra đấu tố cha mẹ, với lời dụ dỗ của cán bộ là “làm như thế để cứu cha mẹ và cứu chính mình”, chỉ là những hành động lạm dụng quyền lực nhất thời của những kẻ vô giáo dục, trong hàng ngũ cán cộng vô văn hóa tự tung tự tác mà thôi. Đó không phải là một chủ trương, một sách lược lớn của cộng sản nhằm tiêu diệt nền tảng của các gia đình trong xã hội.

Nay thì mọi chuyện đã phơi bày, đã được xác minh. Đèn Cù như một bản cáo trạng luân lý, phơi bày tất cả những tội ác phạm đến con người và phạm đến nền luân lý, đạo đức của xã hội Việt Nam do cộng sản thực hiện. Theo đó việc các đội đấu áp lực, buộc con cái đấu tố bố mẹ, không phải là chuyện tự tung tự tác của những thành phần vô giáo dục trong đảng cộng sản tạo ra. Trái lại, đây là một trong những phương cách cơ bản trong sách lược vô gia đình của CS mà mọi học viên (đoàn đảng viên) cộng sản phải có nhiệm vụ thực hiện trong đời sống của công chúng đế phá hoại đời sống của các gia đình, ngõ hầu tận diệt tình cảm của các cá nhân trong các gia đình. Đánh bật con người ra khỏi nơi nương tựa vững chắc nhất là gia đình. Để từ đó, mọi người mất chỗ tựa, chỉ còn biết nhìn vào đảng và bước đi theo mệnh lệnh của CS. Theo chủ trương này, việc che râu dấu mặt đi dự đấu tố, việc viết bản cáo trạng (bản đấu tố) “địa chủ ác ghê” với nội dung ngậm máu phun người để mở đầu cho cuộc đấu tố nhân dân Việt Nam do Hồ Chí Minh thực hiện, không phải đơn thuần là sự biểu lộ cái tư cách đểu cáng, tồi bại, tối bất lương của cá nhân Y. Nhưng còn là bài học thực tế cho mọi cán bộ đảng viên cộng sản phải noi theo nữa. Bằng chứng là:

“Chu Văn Biên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ-Tĩnh, bắc ghế ngồi trên thềm cao chỉ tay vào mặt mẹ đẻ chắp tay đứng ở dưới sân dằn giọng: -Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi mà mi thì nhất định sẽ chống lại... Bà mẹ cắn lưỡi không chết. Ít lâu sau, nhảy giếng tự tử thành... Chu Văn Biên ký lệnh xử tử bất kỳ ở đâu... - Biên nay làm gì? - Đề bạt thứ trưởng nông nghiệp!”(tr 109)

Chu Văn Biên có là một học viên trong khóa học cao cấp trong Atêka hay không, không thấy Trần Đĩnh nhắc đến. Nhưng việc làm của tên cẩu trệ này, và việc y được đề bạt lên hàng thứ trưởng từ thành tích chỉ vào mặt mẹ mà đấu tố, đã chứng minh một cách quyết liệt là Y đã được đào tạo rất bài bản theo đúng chủ trương của CS. Nó đã chứng minh CS có chủ trương tận diệt tình cảm của con người ngay từ trong gia đình. Nó đã chứng minh CS chính là thủ phạm làm phá sản nền văn hóa nhân bản của dân tộc, làm băng hoại nền luân lý đạo đức của xã hội Việt Nam. Dĩ nghiên, sự tàn phá luân thường đạo lý của xã hội do CS chủ trương, chưa ngừng lại ở đó. Trái lại, nó còn tiếp diễn về lâu về dài và ở dưới nhiều hình thức khác nhau. Nơi trường học, trong giáo dục, đào tạo, chẳng nơi nào trẻ em được giáo dục, được đào tạo với một tinh thần nhân bản hướng thượng, “Tiên học lễ, Hậu học văn” phải thảo hiếu với cha mẹ, kính trọng ông bà, bảo vệ tình nghĩa đồng bào. Trái lại, ở bất cứ nơi đâu cũng chỉ thấy những khẩu hiệu thúc giục mọi giới, mọi cấp, học tập theo gương đạo đức “cụ” Hồ. Mà cái đạo đức lớn nhất của Hồ Chí Minh lại chính là việc viết ra bản đấu tố “địa chủ ác ghê” để ngậm máu phun người, và sau đó “che râu đi dự đấu tố” người ân nhân, và giết vợ từ con!

Ở trên, nhắc đến Chu Văn Biên, một kẻ chỉ vào mặt mẹ mà đấu tố để được đề bạt lên hàng thứ trưởng, mà không nhắc đến Nguyễn Tư Nghiêm, một người đã giả điên, bị đưa vào nhà thương điên, khi từ chối, không thể nói căm thù bố mẹ được, dù chỉ là nói giả vờ cho qua mắt đảng là một thiếu sót lớn. Qua câu chuyện dù nhỏ, nhưng tôi cho rằng nó mang một ý nghĩa cực lớn, như một bài học luân lý làm người đầu tiên cho những đảng viên cộng sản phải nhận biết. Tiếc rằng, lý lẽ sống của họ là lòng căm thù, là gian dối và tội ác. Nên ngay cha mẹ, người sinh thành, dưỡng dục cho họ khôn lớn, họ còn căm thù, còn đoạn tuyệt, thì cái gương của Tư Nghiêm chẳng đáng là gì để bận tâm. Khéo mà nó đã như một truyện cười cho khóa học kiểm thảo ấy! Tôi thực sự ngưỡng mộ Nguyễn tư Nghiêm trong câu chuyện này. Nhờ đoạn viết này, mà người Việt Nam có thêm được một ít hiểu biết về cái tổ chức không có “hàm tính người” đang ngự trị trên phần đất Việt Nam. Và có thêm một lý lẽ chính đáng nữa để cương quyết loại trừ cái tổ chức vô luân này ra khỏi xã hội Việt Nam.

Trở lại thân phận của tác giả trong Đèn Cù. Tôi cho rằng, vì cái quy luật không có hàm tính người trong kiểm thảo, và hình ảnh của Nguyên Tư Nghiêm, mà trong gần 600 trang giấy trải lòng, Trần Đĩnh đã không viết ra thân phận của mình từ những hư cấu văn chương, khiếm thị, hay từ những bi quan yếm thế, thất bại. Trái lại, tác giả đã viết bằng cái minh mẫn từ những vòng quay. Khi thì nó đưa Trần Đĩnh lên cung mây với khát vọng của tuổi trẻ hòa thân vào nghiệp nước, hăng hái lên đường để góp phần mình vào việc tranh đấu cho đất nước thoát cảnh ngoại xâm với mong ước có Hòa Bình, Tự Do, Dân Chủ và Độc Lập. Khi thì nó nuông chìu, ưu ái tác giả hơn người bằng những lời khen thưởng. Và rồi nó đưa tác giả vào một đường lên hãnh diện lớn “Được gần gũi và biết và mến phục một dân tộc vĩ đại, một văn hóa vĩ đại. Được nói một ngôn ngữ nhiều người nói nhất hành tinh.” (Tr.153). Tưởng thế là lên tít trên cao, cao mãi với đảng cộng không nhân tính. Không bao giờ ngờ đến chuyện có một ngày rơi trở lại làm người. Người có nhân!

Dù không ngờ, chuyện ấy đã đến. Từ đỉnh cao, trong mơ ước đi lên, nó đạp Trần Đĩnh xuống hàng chó ngựa trong cuộc tranh giành vòng quay xin làm nô lệ cho ngoại bang của lãnh đạo. Bản thân tác giả bị hạ tầng công tác, đi lao công trong nhà máy. Dĩ nhiên, đi lao động không phải là cực hình, sự cực hình chính là bị đày ải như một tên nô lệ. Bấy nhiêu vẫn chưa đủ ê chề, nó đạp Trần Đĩnh ra khỏi cuộc chơi bằng một mảnh giấy khai trừ, để Trần Đĩnh rơi vào trong hoảng loạn, ray rức, tủi hổ, nối tiếc và đầy những ân hận!

Trần Đĩnh viết về mình như thế có lẽ là thật. Rất thật. Nhưng tôi cho rằng, đó không đơn giản là số phận của riêng tác giả. Trái lại, nó còn là số phận của con dân Việt Nam nữa! Bởi vì khi Trần Đĩnh lên Atêka, có hàng hàng lớp lớp người Việt Nam đã thực lòng ra đi theo bước chân sơn hà nguy biến. Mục đích của họ là cứu nước khỏi cuộc xâm lăng của thực dân Pháp. Ước mơ lên cao là thế, nhưng cái vòng quay ma quỷ, vô gia đình do Nguyễn Ái Quốc đưa vào Việt Nam theo lệnh của Mao từ 1930, được Hồ Quang tiếp nối từ sau 1933, đã không quay theo ước mong của người Việt Nam. Trái lại, nó quay sang Tàu, nó dần dần giết chết và thay đổi cả bộ nào của người dân Việt, để ở đó không còn sức sống. Ở đó chỉ còn lại những thân phận nô lệ bạc nhược, không tự chủ. Tệ hơn thế, bị vùi dập như thân chó ngựa trong cuộc đấu tố. Ở đó, nhân bản đạo lý và con người bị đào thải ra bên lề xã hội. Rồi được thay vào đó là lối sống, lẽ sống của xã hội là chủ nghĩa CS chỉ có đúng năm chữ để hành sự: Gian trá và tội ác.

Từ cuộc thống trị của tội ác và phi nhân bản của CS, ngoài cái chết của hơn 172 ngàn người dân vô tội với hàng trăm ngàn gia đình phải ly tán, là nền luân lý đạo hạnh và văn hóa nhân bản của xã hội Việt Nam cũng bị đào bới tận gốc rễ. Những tội đại ác, con giết cha mẹ, chồng giết vợ, tình nhân giết nhau theo gương Hồ Chí Minh giết Nông Thị Xuân ngày càng nhiều. Và tận cuối đáy của xã hội là hàng năm có đến hàng trăm ngàn trẻ sơ sinh chưa nhìn thấy cuộc đời đã mất mạng vì cái “đạo đức” được gọi là đạo đức Hồ Chí Minh. Một thứ “đạo đức” mà những thiếu niên, những bà mẹ trẻ chưa nhìn thấy mặt con, đã bị CS nhồi sọ ngay từ trước khi bước chân vào học đường. Và lớn lên trong một xã hội chỉ biết khai mở phần “hạ bộ” với những gian trá, lừa đảo. Không bao giờ có được những bài học đạo đức hướng thượng theo tinh thần của Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung. Kết quả, nghĩa trang Hài Nhi mỗi lúc một mọc lên như nấm ở trên mọi phần đất nước. Và rất thản nhiên, nhà nước mở ra những trung tâm gọi là nạo, cạo thai cho lũ trẻ! Rồi bên cạnh sách lược đào tạo cán bộ, đảng viên với lòng “căm thù bố mẹ và đoạn tuyệt với bố mẹ”, cộng sản còn thi hành sách lược “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, buộc mọi người phải tham gia vào những cuộc đấu tố giết người. Kết quả, luân thường đạo lý và tình nghĩa đồng bào của Việt Nam cũng đã tan bay theo những dòng máu chảy trong vu khống, đầy oan khiên của đồng bào mình. Từ đó, nó tiếp tục đẩy dân ta vào vòng cùng khốn và bị nghiền nát dưới cái chủ nghĩa vô gia đình, vô tổ quốc vô tôn giáo của CS. Và đây, mới chính là cái ý nghĩa đích thực xuống hàng chó ngựa trong xã hội cộng sản do cái vòng quay ma quỷ của nó tạo ra.

Vòng quay chưa dừng lại ở đó. Trái lại, còn trêu người, lửng lơ với câu chuyện được xét lại. Việc cá nhân là xét lại bản án xét lại của Trần Đĩnh. Việc chung là xét lại sách lược đấu tố trong cải cách ruộng đất. Vẽ ra con đường dân chủ giả hiệu. Kết quả, tất cả chỉ là những ngôn từ trống rỗng, nhằm mục đích xoa dịu sự phẫn uẫn của mỗi cá nhân hay tập thể cho trôi qua với thời gian. Sau đó, cộng sản lại bước sang một bước lừa gạt kế tiếp. Hoặc giả, thả thêm những cái lưỡi câu mới nhằm móc chặt vào cổ họng của từng cá nhân để không ai có thể lên tiếng. Như thế, cuộc khai trừ Trần Đĩnh ra khỏi đảng như là một kết quả phải đến của hai sự sai lầm cộng chung lại. Một bên vì sai lầm tin và đi theo đảng. Một bên thì lợi dụng con người, bắt nó làm phương tiện cho một chủ trương của nhà nước. Cuộc khai trừ ấy có khác gì sự sai lầm của người dân đi theo CS, để rồi bị đuổi cùng giết tận do chính sách lược mà CS dành sẵn cho những người vì mơ ước có Độc Lập, có Tự Do mà lên đường?

Nó khác gì một cuộc tổng lừa bịp trong chiến tranh giải phóng miền nam để “xây lại bằng mười năm xưa”, để bao nhiêu người miền Nam nhẹ dạ theo nó và bao nhiêu con cháu của họ từ Nam đến Bắc đã mất mạng, ngụp lặn trong bể máu của dân tộc, để thỏa mãn cho một nhu cầu quyền lực giai đoạn của cộng sản, và mở rộng biên giới cho Tàu cộng! Sau cùng, hàng trăm ngàn người chết trên biển khơi, hàng triệu người phải bỏ nước đi tìm Tự Do, và hàng triệu người đi tù. Rồi cả nước phải ngồi chung trong một cái trại tù nô lệ kéo dài từ Bắc đến Nam. Với những hình ảnh ấy phơi bày, Đèn Cù không phải chỉ nói lên thân phận của một vài cá nhân, mà còn là thân phận của người Việt Nam, trong đó có cả tác giả nữa!

VI. Trần Đình và Đèn Cù trong cuộc sống nhân gian


Thật rất khó để có được cái nhìn bao quát, đầy đủ về Đèn Cù. Khó vì, người đứng bên đây nhìn thấy cái đầu. Kẻ đứng bên kia lại thấy cái đuôi. Người thấy con voi, kẻ thấy bầy lang sói. Ấy là chưa kể đến những góc khuất mang tính bí hiểm. Nói về Đèn Cù, khác gì câu chuyện người đứng bên kia sông, người đứng bên này, cùng tả vê dòng nước đang cuồng cuộn trước mặt. Hẳn nhiên là có nhiều khác biệt, nhiều góc khuất. Nói chẳng bao giờ cùng. Đặc biệt, trong hoàn cảnh của Việt Nam hôm nay, cái nhìn về Đèn Cù còn có thể là một đối nghịch, khó gần, khó gỡ!

Người ở trong nước vì cuộc sống, tìm đọc Đèn Cù có lẽ không nhiều. Và cái mục đích đi tìm cũng khác nhau. Nhưng hầu như đều có chung một ý tưởng: Táo bạo, táo bạo quá. Viết thế này thì chết. Chả biết chữ chết họ muốn dành cho đảng cộng sản, dành cho Hồ Chí Minh hay dành cho Trần Đĩnh?

Người ở bên kia đại dương, cũng háo hức tìm dọc, xem Trần Đĩnh viết gì. Họ thấy nhiều điểm khuất, nhiều góc tối, nhiều điều khác với ý nghĩ của họ. Họ chưa hay không nhìn nhận những điểm sáng nổi bật làm nên danh phận Đèn Cù. Kết quả là nhiều cái thở dài. Lại tuyên truyền, hảo tuyên truyền. Tác giả mà không đội quần đảng lên đầu, không viết theo tiếng kẻng mà còn sống được ư? Lại vẫn chung một đường thổi với kịch sĩ “mặt thật”, thợ mò “đỉnh cao vòi vọi”, thợ bu “thắng cuộc”! Phần cá nhân, tôi cũng không có ngoại lệ.

Trước hết, tôi đã viết ra đôi, ba góc khuất trong Đèn Cù. Mục đích không phải để “vạch lá tìm sâu” vì nó nhiều quá rồi, cần gì phải vạch. Cũng không để phản bác cái nhìn “một bên” của tác giả. Trái lại, tôi chỉ muốn mở rộng thêm ra, làm sáng tỏ thêm những góc khuất, có thể là tác giả đã biết rất rõ, như trường hợp HCM là người Tàu? Y đã nói và viết tiếng Hẹ, tiếng nói của người “khách gia” khi đến thăm Móng Cái vào năm 1960. Xin nhớ, đây là lần đầu tiên HCM đến, tại sao Y lại thành thục khu vực, lại biết rõ cả ở góc bên kia đường là nơi ở của một chị bí thư? Những thắc mắc này đã tiềm ẩn trong Trần Đĩnh từ những năm đó, lẽ nào Trần Đĩnh không ngộ ra âm thanh, cũng như cách nói tiếng Việt của HCM? Tuy nhiên, Trần Đĩnh phải nhắm mắt lại, tạm “quăng nó vào trong cái thùng rác vĩ đại là sự quên”. Bởi lẽ, nó là những điểm chết, điểm bí mật của nhà nước mà trong hoàn cảnh này, mạng sống của con người cần giữ lại để có thể lưu ký về sau, hơn là một thách thức, quá lớn vào lúc này?

Theo đó, tôi viết ra những điểm mà lẽ ra trong Đèn Cù phải có, phải bàn đến trong lẽ thật. Không có ý gì khác. Bởi lẽ, chính tôi cũng biết, đường còn dài, những người trong cuộc như tác giả không còn nhiều. Nếu họ không viết ra, thì ai sẽ viết đây? Những đời sau lấy gì để làm bằng chứng là nó thuộc thời của tội ác mà trị tội ác? Sự đòi hỏi, nhìn chung là như thế, nhưng thực tế, ai cũng biết là không hề dễ dàng gì. Lý lẽ thì có nhiều, thực tế chỉ có một. Cái búa của CS chưa lúc nào rời xa Trần Đĩnh. Cũng thế, Quản Trọng không chết theo chủ là công tử Củ, chẳng ai cho đó là bất trung, vì sự “còn” của Quản Trọng không phải là vô ích. Hy vọng, sự “còn” của Trần Đĩnh cũng sẽ hữu ích cho việc giải đáp và soi sáng cho nhiều góc tối còn thiếu sót trong Đèn Cù.

Trong khi đó, đảng và nhà nước CS mới lướt qua mấy hàng, răng đã nghiến ken két. Cái chốt lựu đạn đã mở ra rồi, chì còn một cái ném nữa là xong! Thật ra, việc nhà nước và đảng cộng sản muốn biếu không Trần Đĩnh một cái búa, hay một quả lựu đạn thì quá dễ dàng. Nhưng làm thế là tự sát, là tự xác định những điều Trần Đĩnh viết về Hồ Quang, về đảng, về chủ trương đường lối cũng như phương án sử dụng nhân sự vào các vị trí cấp cao, trọng điểm của đảng, của nhà nước là hoàn toàn chính xác. Giết người là nghề của họ, nhưng trường hợp này xem ra rất khó diệt khẩu. Nên đành phải ngậm bồ hòn! Uất từng đám, nghẹn từng cơn mà không thể ra tay. Bởi vì, trời đã sinh ra “bác” muôn mặt, muôn gian trá, đã che râu dấu mặt đi làm chuyện gian ác hại người, còn sinh ra Trần Đĩnh để cho Y viết lại những chuyện ấy vào sách sử, thì đành chịu vậy. Phải chi nó viết vào cái thời... chưa “giải phóng” miền Nam thì đã nhờ Lê Văn Tám! Nói thế là Đèn Cù và tác giả luôn nằm trong nguy cơ bị đốt. Nếu nhà nước chưa tặng Trần Đĩnh cái búa không phải là vì cộng sản tử tế. Trái lại, chỉ là một cái may cho Trần Đĩnh.

Nhưng dù đứng nhìn từ bất cứ góc cạnh nào, theo tôi, Đèn cù của Trần Đĩnh miên viễn có một cuộc sống vững chắc trong lòng nhân gian. Cuộc sống và giá trị của nó về mặt luân lý, đạo đức xã hội sẽ được nói đến nhiều hơn về mặt “ biến động “ chính trị. Nó còn sống mãi trong nhân gian bời vì, bản thân cái Đèn Cù, trước đây rất gần gũi với cuộc sống đời thường. Nay nó lại nhắc cho ta thấy cảnh lang sói của đảng cộng. Trước kia nó mang tính hài, mua vui cho người bằng những hình ảnh voi giấy ngựa giấy. Nay, vẫn là những voi giấy, ngựa giấy, chó giấy, nhưng bằng hình người, bằng quan cán, đã làm bại hoại nền văn hóa và luân thường đạo lý của xã hội Việt Nam, bằng cách che râu dấu mặt, bằng sự áp đặt cho nhau một thứ luật lệ không có hàm tính người. Mà khởi đầu là hình ảnh tồi bại của Hồ Chí Minh.

Với chỉ tám chữ “cụ” Hồ che râu đi dự đấu tố (một buổi)”, tác giả đã phô diễn trọn vẹn hình ảnh, và đạp nát tên tuổi và sự nghiệp cực vĩ đại của Hồ Chí Minh. Một sự nghiệp phản luân lý, phản đạo đức mà có lẽ không có kẻ thứ hai dưới bầu trời này làm được. Những bạo chúa từ kim cổ như Kiệt, Trụ, Tần Thủy Hoàng, hay Hitler, Stalin, kể cả Mao Trạch Đông đã giết hàng trăm ngàn người, hàng triệu người, đều phải cúi đầu chào thua. Bởi vì, xét về bạo ác họ không thua Hồ Chí Minh, nhưng chẳng một ai trong họ dám che râu dấu mặt đi dự một cuộc giết người ân nhân như Hồ đã làm. Như thế, tên tuổi ấy, việc che râu dấu mặt ấy mãi còn là hình ảnh sống động, còn là câu chuyện truyền tụng trong nhân gian. Rồi ra, nó sẽ còn là câu chuyện răn đe con trẻ trong nhân gian phải giữ lấy đạo làm người, “ Mày liệu đấy, ông Trời có mắt, không để cho mày che râu dấu mặt đi làm chuyện gian ác, giết người đâu!

Sau những câu chuyện ấy là đầy dẫy những hình ảnh của những voi giấy ngựa giấy chó giấy đã kinh qua kiểm thảo, thành lãnh đạo sau khi đã “công khai tuyên bố căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt bố mẹ”, là những người đã mang nặng đẻ đau, làm lụng vất vả cách này hay cách khác để nuôi sống chính bản thân họ. Để từ bài kiểm thảo này, kẻ thì trở thành cán nhớn buôn dân bán nước, kẻ thì chỉ vào mặt mẹ đang quỳ dưới thềm như: “Chu Văn Biên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ-Tĩnh, bắc ghế ngồi trên thềm cao chỉ tay vào mặt mẹ đẻ chắp tay đứng ở dưới sân dằn giọng: - Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi”. Ôi sao cái bài diễn này lại giống HCM và đúng như lời của Lưu Cộng Hòa sau cuộc kiểm thảo đã nói đến thế “Nay nhận mình là con vật mới đúng đấy” (tr. 244).

Kết quả của những câu chuyện ấy là hình ảnh của bà mẹ Việt Nam. Bà rất thương yêu con cái của mình. Nhưng bà đã phải chằp tay lạy đứa con khi nó trở về nhà, thay vì ôm con vào lòng chỉ vì nó đã thoát ly gia đình và đi theo tập đoàn vô gia đình, đầy gian dối của Hồ Chí Minh. Bà lạy một cách nhẹ nhàng mà đau đớn. Bà không có cái uất ức, bộc trực như người em nhỏ bị tước đoạt quyền sống, quyền làm người, phải gào thét lên khi nhìn thấy mặt mũi của những tên cộng sản: “đảng cộng sản đi chết đi” (Nguyễn phương Uyên). Bà nén nước mắt rơi “Tôi lạy anh, anh hãy đi theo các đồng chí của anh đi. Xin anh để cho chúng tôi yên”. Bà đã thay mặt những người đàn bà Việt Nam mà nói lên nỗi đau đớn tận lòng bà. Bà đẻ ra con, nào ngờ nó học được cái thói che râu dấu mặt gian trá của Hồ Chí Minh! Bà nào muốn đuổi con đi, nhưng không thể để nó đem cái gian trá và tội ác với đồng bào vào nhà Việt Nam! Chỉ ngần ấy thôi Đèn Cù của Trần Đĩnh đã không bao giờ chết trong nhân gian.

Tuy nhiên, Trần Đĩnh còn làm được nhiều hơn thế trước khi đèn tắt, trước khi dậu đổ. Anh như người bị nghiện rồi cai nghiện. Sau hơn bốn mươi năm cai nghiện Trần Đĩnh nhận ra cái bàn đèn (bác đảng) là một thứ tội ác. Khi ngủi thấy mùi thuốc của bàn đèn, của con nghiện là Trần Đĩnh ói mửa. Trần Đĩnh kể: “Phải viết một loạt bài về lịch sử đảng, tôi đã đọc những tài liệu về chuyện này. Lẽ tất nhiên đều ỉm đi, cho tất cả vào cái sọt giấy vĩ đại là sự quên, sự lờ, sự nhắm mắt lại. gọn một chữ là sự gian dối. Để đổi lấy uy tín đảng” (tr. 192) Viết thế là Trần Đĩnh đã công khai xác nhận, tất cả những gì Trần Đĩnh viết có liên quan đến đảng cộng sản đều là viết bằng sự gian trá, không có nhân bản tính, không có sự thật. Nghĩa là, những “Tiểu sử Hồ Chí Minh”, “Bất Khuất”, hay nhật ký của Phạm Hùng, Lê Văn Lương... không được Trần Đĩnh viết ra bằng tài liệu thật, bằng cái trí năng, bằng sự chân thật của người. Trái lại, Trần Đĩnh đã phải viết ra những cuốn sách ấy từ cái bút đặt dưới cái búa của cộng sản. Nó là sự gian trá và tuyên truyền. Nay đã hết nghiện, trở lại đời sống bình thường của người, Trần Đĩnh đã công khai rút lại, hay phủ nhận những cuốn sách đó không phải là trí tuệ, tâm huyết của Đĩnh, nhưng là sự gian trá của người đảng viên chỉ biết tuyên truyền và dối trá theo lệnh từ cái búa đảng!

Kế đến, như một lời tạ ơn gia đình, tạ ơn đồng bào vì những bao dung để Trần Đĩnh được trở lại kiếp sống nhân bản của con người. Đồng thời cũng như một lời tạ tội với gia đình, tạ lỗi với đồng bào vì những hành động nông nổi của tác giả đã góp sức tuyên truyền cho tội ác để nó có thêm cơ hội tàn phá quê hương Việt Nam. Trần Đĩnh viết: “Mấy chục năm sau, sống với đất nước đang dần dần nhận diện được kẻ đã đày ải mình, tôi bắt đầu cảm nhận thấy hạnh phúc. Ít nhất tôi đã nhận ra tội ác và lên án nó giữa lúc nó đang có bộ mặt huy hoàng nhất, có niềm tin gần như trọn vẹn của dân. Ít nhất tôi đã đương đầu, không quỳ gối trước nó. Cũng như đã ngay thẳng nhận mình từng đi theo nó, tội ác.” (tr. 497) Lời xin lỗi, nhận mình đã nhúng tay vào với tội ác của Trần Đĩnh làm xúc động lòng người. Tôi ngưỡng mộ và nể trọng Trần Đĩnh vì những lời tự tâm này. Ngưỡng mộ Trần Đĩnh, sau vấp ngã, đã đứng dậy, đem cái tâm của mình vào ngòi bút để cùng với đồng bào lên án và tiêu diệt sự ác. Và nể trọng lòng quả cảm của một kẻ sĩ có tâm với đồng bào, với gia đình và đất nước. Xin chúc mừng anh đã giả từ bàn đèn và về với cuộc sống chân tình của một dân tộc đầy nghĩa cả.

Như thế, dẫu là muộn màng, nhưng quá đủ, điều mà nhiều người chờ nay đã thấy. Trần Đĩnh không công khai công bố chống cộng sản, không kêu gọi đồng bào và các đoàn đảng viên đứng lên đập nát cái vòng quay ma quỷ đang tàn phá quê hương Việt Nam. Nhưng xem ra, Đèn Cù trong thực tế đã làm nhiều hơn cả những điều nhiều người mong đợi. Trần Đĩnh đã đem lương tri của cuộc sống nhân bản sau 40 năm tủi hổ, nối tiếc, dàn vặt, đạp nát hình tượng Hồ chí Minh. Đạp nát cái khung hình và khẩu hiệu mà CS đã rêu rao trong suốt 80 năm qua chỉ bằng đúng tám chữ vỏn vẹn ““cu” Hồ che râu đi dự một buổi” đấu tố ân nhân là bà Nguyễn Thị Năm! Hàng nghìn tấn sách, báo của làng thổi ống đu đủ viết về cái gọi là đạo đức HCM đã thành đống giấy dơ bẩn, đống rác đầy ký sinh. Nó phải bị đào thải. Theo đó, nếu hình tượng của HCM chưa được cộng sản chính thức đeo cho tấm khăn che mặt, hay chưa bị dân chúng treo lên, cũng chưa bị đạp đổ từ những nơi nó đang chiếm ngự, cũng không còn ý nghĩa gì. Bạn tôi bảo “Anh bán thịt chó không cần biết chữ, chỉ cần treo cái đầu chó lên trước quán thay cho những hàng chữ quảng cáo là đủ”!

Vâng, trên đất nước ta, hình ảnh của cái đầu chó và những người bán thịt chó, biết chữ hay không biết chữ, vẫn còn nhiều. Nhưng tôi hy vọng, sau Đèn Cù, sẽ có nhiều tiếng nói dõng dạc hơn, can đảm hơn, vững tin hơn, mạnh mẽ hơn và đồng loạt hơn, thay vì những tiếng ọp ẹp trong vũng nước dưới chân trâu, để cùng với mọi người, nhất là hỗ trợ lớp trẻ nhìn lại bản thân, nhìn lại con đường của quốc gia, của gia đình của dân tộc mà có được những hành động đồng thuận, thích ứng với trào lưu mới. Trào lưu xây dựng một đất nước trong yên vui, thái bình, thịnh trị. Ở đó người dân có quyền sống, sống trong tình nhân bản. Ở đó, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng tự do xây đựng lấy đời sống hạnh phúc cho cá nhân và gia đình cũng như tập thể của mình được hoàn toàn tôn trọng. Ở đó, nền tảng văn hóa, luân lý đạo đức của xã hội phải được phục hồi, phục hoạt triệt để. Ở đó, trẻ vào học đường được học những bài học tử tế về lòng yêu nước thương nói về. tình bác ái về lòng cao thượng. Nhờ đó, hình ảnh của cái đầu chó cũng dần biến khỏi các cửa tiệm.

Cám ơn tác giả Trần Đĩnh, đã cho những đọc giả đi sau nhìn rõ tận mặt, những bộ mặt thật của một tập thể đã và đang sống với luật lệ vô gia đình, vô xã hội, vô tổ quốc, vô tôn giáo của cái bàn đèn cộng sản tại Việt Nam.

Bảo Giang
danlambaovn.blogspot.com


Về Đầu Trang Go down
nguyenle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Thu Dec 18, 2014 12:15 am


CS làm thì làm bậy, nói thì nói láo





Le Nguyen (Danlambao) - Người xưa có nói “ở trong chăn mới biết chăn có rận” nhằm chỉ cho người đời sau biết rằng, chỉ có những người sống cùng, ở cùng trong một nhà, một tổ chức, một quốc gia mới biết chính xác chuyện xảy ra bên trong hơn những ai đứng ở ngoài nhìn vào phán đoán. Cụ thể như nói về đảng CSVN thì những lời nói của đảng viên cộng sản nói về bản chất con người cộng sản, về nội bộ đảng hẳn chính xác hơn và không ai có lý do đổ cho “phản động lưu vong, thế lực thù địch...” bịa đặt, nói xấu cán bộ đảng viên, nói xấu lãnh đạo đảng, nhà nước CSVN.

Chẳng hạn như Lê Duẩn nói ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc hay Lê Duẩn công khai chê Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhát như thỏ đế trong cuộc họp nội bộ, chuyện này không thể đổ cho phản động dựng chuyện nói xấu được?... Cũng như chuyện Trường Chinh đấu tố cha mẹ trong cải cách ruộng đất hay kêu gọi bỏ lối viết âu tây trở về với chữ Trung Quốc... bỏ bệnh viện cắt, đục, nạo, khoét dùng lại thuốc dán danh tiếng của Tàu!... Cũng như Hồ Chí Minh không biết Hoàng Sa, Trường Sa là của ai, chỉ biết lờ mờ đó là những bãi hoang chim ỉa nhưng lại mạnh miệng bảo thuộc hạ, nếu đồng chí Trung Quốc có muốn thì cho họ đi?...

Những chuyện như thế, ngày nay ai cũng biết và còn những chuyện khác chỉ có những ai “ở trong chăn cộng sản mới biết chăn có rận”. Rận... vô đạo, vô nhân, vô tâm, vô tư cách, vô nhân cách... chỉ rặt ròng một thứ “làm thì làm bậy, nói thì nói láo” như Hoàng Tùng, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn, Trần Độ, Phạm Quế Dương, Bùi Tín, Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Dương Thu Hương, Vũ Thư Hiên, Trần Mạnh Hảo, Bùi Ngọc Tấn, Lê Hiếu Đằng, Huy Đức, Trần Đĩnh... Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào, Nguyễn Quang Lập... mỗi người một góc nhìn khác nhau, mỗi người tiếp cận một góc nhỏ sự thật về lãnh đạo đảng, nhà nước và con người đảng tính nhiều tính thú của CSVN.

Không phải chỉ có bấy nhiêu tên tuổi là đủ để vẽ nên bức tranh xám xịt manh màu sắc đặc thù cộng sản mà còn một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên vì nhiều lý do, nói theo ngôn ngữ vu vơ của tuyên giáo là “...phần tử xấu, đối tượng bất mãn, không kiên định tự chuyển biến, tự chuyển hóa?...” tiết lộ chuyện thâm cung bí sử của làm bậy, nói láo trong nội bộ đảng CSVN.

Thế nhưng dù lý do nào đi nữa, dù còn hay không còn thần thánh lãnh tụ, dù còn hay không còn mê cuồng cộng sản, tất cả những người cộng sản này đều có chung một kết luận là “Cộng sản làm là làm bậy, nói là nói láo!”



Làm bậy, nói láo là đặc thù của CSVN do những cá nhân nguyên là cộng sản lẫn đang là cộng sản qua quá trình dài trải nghiệm đời sống cộng sản, sống trong nội bộ cộng sản đánh giá cán bộ đảng viên cộng sản chứ không do các thế lực xấu hay phản động lưu vong xuyên tạc, nói xấu... và ai cũng biết xuyên tạc, nói xấu “nói không thành có, cãi có thành không” là sản phẩm đặc thù của băng đảng chuyên làm là làm bậy, nói là nói láo CSVN làm ra, tàng trữ, phát tán tràn lan trong đời sống xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Những việc làm, lời nói của Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn được trích dẫn ở đầu bài là điển hình làm bậy, nói láo của lãnh đạo đảng CSVN và qua quá trình chứng kiến lời nói, việc làm của lãnh đạo to đến lãnh đạo bé, từ cộng sản cha đến cộng sản con cho mọi người thấy, chúng nó có cùng một mẫu số là làm bậy, nói láo truyền đời không thể chối cãi được và làm bậy, nói láo không ngừng phát triển trong đời sống cộng sản, chính xác là CSVN.



Đối với những ai can đảm, vượt qua sợ hãi vạch trần chuyện làm bậy nói láo của chúng trên mọi mặt đời sống. Cụ thể là không ai lạ với chuyện làm bậy, nói láo làm mất thể diện quốc gia của lãnh đạo cộng sản trên diễn đàn quốc tế về nhân quyền, nhân phẩm của người dân Việt Nam bị chà đạp thô bạo ai cũng biết. Thế mà nếu có ai can đảm vượt qua sợ hãi vạch trần chuyện làm bậy của chúng đều bị chúng sử dụng đặc thù làm bậy, nói láo bịa đặt vu khống, gán ghép điền vào sự kiện và thời gian cụ thể cho phù hợp với những con chữ đã qua sử dụng theo từng vụ việc như luận điệu sau đây:

“...Thời gian qua, được sự hà hơi, tiếp sức của các thế lực thù địch, một số cá nhân, tổ chức phản động không ngừng chống phá nhà nước ta bằng nhiều hình thức. Chúng luôn tìm cách móc nối, lôi kéo một số phần tử xấu, những đối tượng bất mãn chế độ ở trong nước để phá hoại, làm ra nhiều tài liệu chống phá nhà nước, phỉ báng chính quyền, tuyên truyền kích động nhân dân, công khai đòi lật đổ chế độ, sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền kêu gọi nước ngoài can thiệp vào nội bộ Việt Nam....”


Đọc đoạn văn trên, chỉ nghe thấy những lời kết án, luận tội khơi khơi như “...thế lực thù địch... tổ chức phản động... móc nối, lôi kéo... phần tử xấu, đối tượng bất mãn... chống phá nhà nước, phỉ báng chính quyền... kêu gọi nước ngoài can thiệp vào nội bộ Việt Nam...” tuyệt nhiên bản luận tội không nói rõ, không chỉ ra phần tử xấu, đối tượng bất mãn đã nói viết, đã bày tỏ quan điểm chính kiến chống phá đảng, phỉ báng nhà nước, tuyên truyền kích động như thế nào?

Nội dung kết án quy chụp, vô bằng vô chứng này không khác gì bản luận tội bà Nguyễn Thị Năm - địa chủ yêu nước được bàn tay nhào nặn của tác giả C.B tức Hồ Chí Minh biến thành “địa chủ ác ghê” xử tội chết trong cải cách ruộng đất và không ai có thể phủ nhận, chối bỏ chuyện Hồ Chí Minh qua sự kiện bà Nguyễn Thị Năm là không làm bậy, không nói láo để giết người đàn bà yêu nước góp công, góp của không ít cho kháng chiến chống pháp.




Đọc một đoạn văn khác về loại kết tội vu vơ của cung cách làm bậy, nói láo cộng sản theo khuôn mẫu Hồ Chí minh. Dù từ ngữ, câu cú có khác nhưng nội dung cũng không có gì khác, cũng chỉ là quy chụp, kết tội lợi dụng “tự do, dân chủ” tuyên truyền chống phá, kích động nhân dân chống đối chính quyền, xuyên tạc sự lãnh đạo của đảng nhà nước... với lời lẽ như sau:

“... Các đối tượng cơ hội chính trị thường lợi dụng bất cứ sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội nổi cộm để bịa đặt, xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý của Nhà nước, kích động và vận động nhân dân chống đối chính quyền, xúc phạm danh dự cá nhân, làm mất niềm tin của nhân dân vào các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước...”


Đọc tài liệu lịch sử và chứng kiến tận mắt, nghe tận tai lời nói, việc làm của cán bộ đảng viên cộng sản đến quan chức lãnh đạo thuộc nhiều thế hệ, nhiều đời cộng sản, phải công nhận là kết luận “cộng sản làm là làm bậy, nói là nói láo” của những người sống trong chăn cộng sản quả tuyệt vời, quá chính xác không sai vào đâu được.

Đáng ghê tởm hơn là dù biết đồng bọn làm bậy trắng trợn chúng vẫn hùa vào nói láo lem lẻm để bảo vệ cho việc làm bậy của đồng bọn, bất chấp luật pháp, bất chấp đạo lý với lý lẽ tức cười như sau:

“... Bọn rận chủ phản động này cũng phải công nhận là chúng nó cũng có tài bới móc thật, cơ mà chúng nó quên một điều, đấy là nước Việt Nam chúng ta có luật pháp, có chính quyền chứ không vô bổ như bọn rận chủ phản động các ngươi! Mọi chuyện rồi sẽ có các lực lượng, cơ quan chuyên trách vào cuộc điều tra giải quyết, sẽ đảm bảo những lợi ích tối đa cho mọi người dân!...”

Có lẽ đến thời điểm này, những hành động vô luật vô pháp của cán bộ đảng viên, quan chức lãnh đạo các cấp nhan nhản xảy ra trước mắt hằng ngày đã trở thành phổ biến, chỉ có người mù mới không thấy và mở mồm nói láo trắng trợn như “...Việt Nam chúng ta có luật pháp... rồi sẽ có cơ quan chuyên trách điều tra... đảm bảo lợi ích tối ta cho mọi người dân(?)...”

Ngày nay người dân Việt Nam, có thể có cả những người ngoại quốc quan tâm đến Việt Nam đều biết Việt Nam xã nghĩa có một rừng luật nhưng chỉ sử dụng duy nhất có luật rừng hay diễn tả luật pháp Việt Nam theo cách hài hước, thông minh của những người dân cọ sát với môi trường xã hội chủ nghĩa “công lý xã nghĩa Việt Nam là tên của một diễn viên hài”

Có không biết bao nhiêu vụ án mà công an dùng nhục hình, tra tấn nghi phạm với những tội vớ vẩn gây chết người, cướp đi không ít mạng người dân vô tội với báo cáo cùng một kịch bản là chết do tự tử đến đứa con nít còn thấy sự vô lý của cái gọi là tự tử này? Thế mà khi thân nhân của nạn nhân khiếu nại, tố cáo tội ác của kẻ thủ ác, tố cáo nghi phạm có hành vi phạm tội giết người và để đối phó với chuyện làm bậy: một là cơ quan chức năng không nhận đơn khiếu nại, tố cáo; hai là cơ quan trách nhiệm đưa ra bản kết luận cho rằng không đủ yếu tố buộc tội; ba là cho rằng bản báo cáo của các điều tra viên thực hiện công tác điều tra đúng quy trình, tự tử là khách quan?... cụ thể là các vụ việc gây ra cái chết của ông Trịnh Xuân Tùng, Nguyễn Văn Khương, Hoàng Văn Ngài, Nguyễn Công Nhật, Ngô Thanh Kiều, cô Trần Thị Hải Yến...



Bên cạnh người dân chết trong đồn công an ngày càng tăng, là không biết bao nhiêu người bị tội oan, chết oan bởi tư duy độc ác hơn loài thú dữ “không tội đánh cho có tội, có tội đánh cho chừa...” và đã có biết bao nhiêu người không được may mắn, không có cơ hội như nạn nhân Nguyễn Thanh Chấn, Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn Chưởng... sống sót để kêu oan mà phải chết oan, chết thế cho “đại gia” lắm tiền, cho quý tử của các quan chức đảng, nhà nước. Những vụ việc đã đang xảy ra trong nước Việt Nam như vừa nhắc đến, có phải là luật pháp xã nghĩa Việt Nam đảm bảo lợi ích tối đa cho mọi người dân?

Chắc chắn những việc làm bậy của công an cộng sản, tức là tra tấn, đánh đập nạn nhân cho đến chết rồi đổ cho tự tử, là làm đúng pháp luật? Chỉ có kẻ thiểu năng trí tuệ mới không biết, chuyện công an cộng sản làm bậy? Vậy vì cớ gì mà có nhiều kẻ bênh vực cho việc làm bậy này?... Có lẽ chỉ có một câu trả lời, một cách giải thích duy nhất là chúng cố tình nói láo, làm chứng gian để bao che cho nhau làm bậy mà thôi.

Thực ra chuyện hùa theo làm bậy nói láo của đám cộng con là công an, văn nô bồi bút, tuyên giáo... một phần do mê cuồng, phần khác do thiểu năng trí tuệ nên đáng thương hơn đáng giận dù hậu quả của chúng gây ra cũng không phải là không nghiêm trọng! Đáng giận chăng là chuyện làm bậy, nói láo của đám cộng sản cha là đám lãnh đạo trung, cao cấp của đảng, nhà nước CSVN. Chuyện làm bậy nói láo của đám lãnh đạo này không những đáng giận mà còn đáng quan ngại bởi làm bậy nói láo của đám cộng cha này đã để lại hậu quả cực kỳ nghiêm trọng, khó khắc phục. Cộng sản cha, chúng làm bậy nói láo bất chấp đạo lý nhân cách, bất chấp thể diện quốc gia, bất chấp sự sống còn của đất nước dân tộc – làm bậy chỉ nhằm mục đích duy nhất bảo vệ sự sống còn của đảng và nói láo dù biết rằng xã hội chủ nghĩa cuối thế kỷ này không biết đã có chưa nhưng ngoài miệng vẫn lem lẻm, lẻo lự chủ nghĩa xã hội là sự chọn lựa đúng đắn của toàn dân!

Muốn ngăn chận chuyện làm bậy nói láo sinh sôi nẩy nở trong đám cộng con phải dũng cảm đứng lên chống lại những kẻ làm bậy nói láo bất kể chúng là ai. Muốn triệt tận căn con bệnh làm bậy, nói láo của đám cộng cha, không còn cách nào khác là phải giải trừ độc tài cộng sản, xóa bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng CSVN và thiết lập thể chế chính trị tự do dân chủ.
Dù chính thể dân chủ không phải là chiếc đũa thần vạn năng chữa trị bá bệnh, không phải là chính thể hoàn hảo đẩy lùi ngu dốt, mê cuồng cộng sản nhưng chính thể dân chủ thừa sức ngăn chận, loại trừ chính trị gia, đảng chính trị cầm quyền làm bậy, nói láo tràn lan như trong chế độ độc tài toàn trị CSVN.

Le Nguyen
danlambaovn.blogspot.com

Về Đầu Trang Go down
nguyenle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Sat Dec 20, 2014 2:31 am

Một số gian dối và bí mật của CS được tiết lộ...



Đèn cù Tập II: những bí ẩn được tiết lộ


Nguyễn Văn Tuấn
Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

Trong Đèn Cù Tập II, Trần Đĩnh có thuật lại một số sự kiện đáng chú ý, dù có khi chỉ là một câu phát ngôn hay một thái độ. Tuy nhiên, những hành vi có vẻ thoáng qua đó nó cho chúng ta một vài tín hiệu về tâm tính, trình độ, và có khi cả nhân cách của những người cộng sản thời xưa.

Trại gái

Một nhân vật được tác giả nhắc đến trong sách là Chu Đình Xương. Thoạt đầu đọc qua, tôi thấy quen quen, nhưng sau khi tra tìm thì biết ông từng giữ chức giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Bộ (chắc như Sở Công An ngày nay?) Chu Đình Xương kể rằng thời kháng chiến ở vùng Việt Bắc, ông Đinh Đức Thiện (em của Lê Đức Thọ) từng lập một trại gồm toàn gái để "cán bộ đến cấp bậc nào đó đến giải quyết sinh lí, kiểu nhà thổ của lính Nhật" (trang 173). Nghe nói sau này ông Trường Chinh biết được và yêu cầu phải giải tán.

Hồ Chí Minh gặp Ngô Đình Diệm


Chu Đình Xương kể chuyện đánh đập tù nhân trong xà lim, và đáng chú ý là cả chuyện "thủ tiêu phản động" (trang 173). Như vậy thời đó quả thật có chuyện Việt Minh sát hại những người kháng chiến chống Pháp nhưng không đứng về phía Việt Minh.

Chúng ta biết rằng ông Ngô Đình Diệm bị Việt Minh bắt vào tháng 9/1945 ở Huế. Sau đó, họ đưa ông Diệm lên tận vùng gần biên giới Việt – Trung. Trong lúc đó thì Việt Minh giết anh ông Diệm là Ngô Đình Khôi và học giả Phạm Quỳnh ở Huế. Chính trong thời gian này ông Hồ Chí Minh đã gặp ông Diệm trong tù. Chu Đình Xương còn cho biết chính ông là người dẫn Hồ Chí Minh đến gặp ông Diệm và Phan Kế Toại. Sau này, chúng ta biết rằng chính Hồ Chí Minh phóng thích ông Diệm và ông Toại. Tôi nghĩ có lẽ chính vì nghĩa cử đó mà sau này ông Diệm giữ mộ ông Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp rất tốt.

Hình nhân Hồ Chí Minh


Một chuyện khác do Chu Đình Xương kể cũng đáng chú ý là ông Hồ Chí Minh từng có người giả (gọi là "hình nhân"). Chuyện kể rằng năm 1946, ông Hồ từ Pháp về Hà Nội qua đường Hải Phòng. Ông đi từ Hải Phòng về Hà Nội bằng xe lửa, nhưng vì sợ bị ám sát nên an ninh dắt ông cụ (lúc đó phải bịt râu) đi thẳng về một địa điểm bí mật. Còn người đứng trên xa vẫy vẫy chào công chúng đứng đón ông cụ là một hình nhân, người có dáng dấp rất giống ông cụ Hồ! Hình nhân này phải đeo râu giả làm cụ Hồ.

Điều trớ trêu là đến kì Cải cách ruộng đất, người ta đem hình nhân này ra đấu tố là "địa chủ phản động ác ôn". Hình nhân khóc nói "Tôi từng đóng thay bác Hồ để phản động có bắn thì tôi chết thay bác thế nhưng phản động không bắn, mà nay đảng lại bắn tôi, ôi bác Hồ ơi…" Thế là sau đó người ta hạ hình nhân xuống phú nông và thoát án tử hình.

Xin tài trợ từ Mĩ

Chuyện Việt Nam hùng hồn đòi nợ Mĩ sau chiến tranh thì chẳng có gì là bí mật, nhưng có câu chuyện vui vui liên quan đến vụ này trong Đèn Cù Tập II. Chuyện kể rằng Nguyễn Cơ Thạch lúc bấy giờ là Thứ trưởng Ngoại giao gặp Richard Holbrooke (cũng Thứ trưởng Ngoại giao Mĩ) ở Hà Nội. Ông Thạch đòi Mĩ bồi thường mấy tỉ USD, nhưng Holbrooke cười cười nói Mĩ chẳng có nợ nần gì VN và chẳng có văn bản nào cả để… đòi nợ.

Thấy "đòi nợ" hơi khó, ông Thạch mời Holbrooke đi ăn tối. Trong bữa ăn tối với chả chiên, Thạch hạ giọng năn nỉ Mĩ viện trợ nhân đạo. Nhưng Holbrooke lại mỉm cười nói viện trợ nhân đạo thì có thể ok, nhưng ở Mĩ việc đó phải qua Quốc hội phê chuẩn. Nói chung, câu chuyện cho thấy "Anh hùng như thể khúc lươn / Khi co thì ngắn, khi vươn thì dài".

Vì vật chất


Chúng ta biết rằng người cộng sản xem vật chất nhẹ hơn tinh thần và ý chí. Ít ra là họ nói như thế. Chẳng hạn như Phạm Văn Đồng từng hùng hồn tuyên bố "Phương Tây là vật chất, vật chất, vật chất khốn nạn. Phương Đông là tinh thần, tinh thần, tinh thần cao quí." Nhưng trong thực tế thì chúng ta biết rằng không phải như thế; họ cũng rất mê vật chất, cũng ham ăn ngon mặc đẹp, và cũng đam mê học đòi những thói quen của người tư sản.

Người sắp chết thường nói lời nói thật. Đó là trường hợp Lê Duẩn. Trước khi chết, ông Duẩn cho gọi các lí thuyết gia (đúng hơn là "tuyên truyền gia") và nói: sau 60 năm hoạt động cách mạng đến nay, ông mới hiểu ra câu của Mác nói lợi ích vật chất là động lực mạnh mẽ thúc đẩy người lao động. Mao bất lực không làm cho dân sướng về vật chất, nên phịa ra cái gọi là "chân lí chính trị" hàng đầu, tư tưởng hàng đầu. Còn ông Lê Duẩn vì "nghe thấy sướng quá nên bê luôn về cho dân xài, ai nói về vật chất bác phang cho tội xét lại."

Đèn Cù Tập II cho biết rằng thời đó ở ngoài Bắc có cái nông trại tên là Tam Thiên Mẫu giữa Cẩm Giàng và Thuận Thành nuôi đủ bò, dê, heo, gà, ngỗng, vịt, cá, lươn, ếch, v.v. cung cấp cho Bộ Chính trị. Còn ở Thái Bình thì có đồng trồng lúa riêng cho các vị trong Bộ Chính trị. Trong khi đó thì dân chúng không đủ gạo ăn và thiếu thực phẩm.

"Đĩ đực"

Trong Đèn Cù Tập II, tác giả Trần Đĩnh cung cấp một thông tin thú vị về những mâu thuẫn trong giới lãnh đạo chóp bu. Chẳng hạn như ông Nguyễn Văn Linh không ưa gì ông Lê Duẩn, và vì muốn làm hoà với Tàu, nên ông Linh nói với Giang Trạch Dân rằng ông Duẩn đã sai lầm khi "bắt tay" với Liên Xô. Nói cách khác, họ không ngần ngại "vạch áo cho người xem lưng". Ông Linh từng nhận xét về cách làm kinh tế của Lê Duẩn là "lãnh đạo gì mà làm ăn như cái 'con c..'." (Trang 181).

Một chi tiết thú vị là Nguyễn Văn Linh cũng không ưa ông Trần Văn Trà và Lê Giản. Ông Linh rất ghét đa nguyên. Chính Lê Giản kết nạp Nguyễn Văn Linh vào đảng ở Hải Phòng. Thế mà trước khi lên chức tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh gọi Lê Giản và Trần Văn Trà là "những thằng đĩ đực" (Trang 250).

Những bí ẩn được tiết lộ?


Đèn Cù Tập II có nhắc đến ông Dương Bạch Mai, là bậc trí thức Tây học gốc Nam Bộ. Ông sinh ra ở Bà Rịa 1904, qua đời 1964 ở Hà Nội. Ông là người chống lại đường lối thân Tàu, ông đòi đảng phải cải thiện đời sống cho dân, đòi dân chủ, v.v. Trang wikipedia chỉ nói cái chết của ông là "đột tử". Nhưng trong Đèn Cù, tác giả trích dẫn lời của Hoàng Minh Chính cho rằng "Họ cho anh Mai uống bia có thuốc độc, chết chưa kịp buông cốc, ngay tại Quốc hội."

Một chi tiết khác cũng khá thú vị là bà Nguyễn Thuỵ Nga, người vợ bé (miền Nam) của ông Lê Duẩn từng là người tình của ông Nguyễn Văn Trấn (Trang 256). Ông Trấn cũng là một trí thức gốc Nam Bộ, cùng thời với Ung Văn Khiêm, nhưng cũng bị thất sủng và bị phe thân Tàu cho về vườn. Ông Trấn còn là người nổi tiếng với tác phẩm bị cấm "Viết cho mẹ và Quốc hội". Bà Nga học làm báo từ ông Trấn, và có lẽ vì thế mà bà có duyên với báo chí sau này.

Một chuyện cá nhân khác liên quan đến ông Lê Đức Anh. Chuyện kể rằng thời Đại tá Lê Trọng Nghĩa làm chánh văn phòng Bộ Quốc phòng, ông Lê Đức Anh là trung tá. Vợ ông từ Nam ra tận văn phòng làm ầm lên vì ông lấy vợ bé! (Trang 279).

Trong cuốn "Bên thắng cuộc" chúng ta đã đọc biết ông Đỗ Mười từng bị bệnh tâm thần. Chi tiết này cũng được Trần Đĩnh nhắc đến trong Đèn cù Tập II. Tác giả viết: "Các lão thành hỏi nhau có nhớ hồi nào Đỗ Mười điên nằm Việt – Xô. Lên cơn, ông leo lên cái cây cạnh cổng đứng xoạc chân cành thấp giơ tay hét xung phong. Các cô y tá ra dỗ bác xuống đều ù té chạy. Bác mặc quần đùi, trận địa pháo đài bày ra hết." (Trang 278). Con trai và cháu ông Đỗ Mười cũng bị điên.
___________________

Chú thích: Những câu chữ trong ngoặc kép là trích từ sách Đèn Cù Tập II.

(1) Trích "Vietnam, a history, tr.216-217" một đoạn đối thoại giữa ông Hồ Chí Minh và ông Diệm:

Ông Diệm nhớ lại rằng cuộc trò chuyện giữa ông và ông Hồ rất thẳng thắn:

Ông Diệm: Anh muốn gì ở tôi?

Ông Hồ Chí Minh: Tôi muốn ở anh điều anh luôn luôn muốn ở tôi – sự hợp tác của anh để giành độc lập. Chúng ta theo đuổi một điều giống nhau. Chúng ta phải chung sức với nhau.

Ông Diệm: Anh là một kẻ tội phạm đã đốt cháy và hủy hoại đất nước, và anh lại còn bắt giam tôi.

Ông Hồ Chí Minh: Tôi xin lỗi anh vì sự cố không may ấy. Khi quần chúng bị áp bức nổi dậy, những sai lầm là điều không thể tránh khỏi và những thảm kịch đã xảy ra. Nhưng tôi luôn tin rằng hạnh phúc của nhân dân sẽ bù đắp được hết những sai lầm ấy. Anh thù hận chúng tôi nhưng chúng ta hãy quên chuyện ấy đi.

Ông Diệm: Anh muốn tôi phải quên rằng những thuộc cấp của anh đã giết chết anh trai tôi?

Ông Hồ Chí Minh: Tôi chẳng biết gì hết về chuyện ấy. Tôi chẳng liên can gì đến cái chết của anh trai anh. Tôi cũng lấy làm tiếc về những điều thái quá ấy cũng giống như anh. Làm sao tôi có thể ra lệnh cho người ta làm việc ấy rồi giờ đây lại đưa anh tới đây? Không phải chỉ có vậy, tôi cho đưa anh tới đây để mời anh giữ một chức vụ quan trọng trong chính phủ của chúng tôi.

Ông Diệm: Anh trai tôi và con trai của anh ấy chỉ là hai trong hàng trăm người đã bị giết và hàng trăm người nữa bị phản bội. Làm sao anh dám mời tôi hợp tác với anh?

Ông Hồ Chí Minh: Tâm trí của anh hướng về quá khứ. Anh hãy nghĩ đến tương lai – giáo dục, cải thiện mức sống của người dân.

Ông Diệm: Anh nói mà không biết suy nghĩ. Tôi đấu tranh cho lợi ích của đất nước, nhưng tôi không thể bị chi phối bởi áp lực. Tôi là một người tự do.Tôi sẽ mãi mãi là một người tự do. Anh hãy nhìn thẳng vào mặt tôi. Tôi có phải là một người sợ áp bức hay sợ chết không?

Ông Hồ Chí Minh: Anh là một người tự do.”

.

Về Đầu Trang Go down
nguyenle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Mon Dec 22, 2014 12:30 am


Đèn Cù Tập II: đấu đá nội bộ


Nguyễn Văn Tuấn
Theo FB Nguyễn Văn Tuấn


Tiếp tục đọc Đèn Cù Tập II. Nhưng trang sau của quyển sách có vẻ "ác liệt" hơn, với giọng văn "confrontational" hơn và thẳng thắn hơn. Nếu không biết tác giả là người từng ở trong "hệ thống", người đọc có thể lầm tưởng rằng ông là người miền Nam từng đi tù cải tạo! Do đó, tôi ngần ngại trích dẫn những đoạn ác liệt...


Những sự thật cần xét lại

Miền Bắc Việt Nam từng có vụ án "xét lại chống đảng". Dĩ nhiên, hai chữ "xét lại" đó chẳng có dính dáng gì với ý nghĩa của nó, mà là một vụ thanh trừng những người thân Liên Xô lúc đó. Cuốn sách Đèn Cù dành khá nhiều trang để viết về vụ án này, vì tác giả là một trong những nạn nhân. Ở đây, tôi chỉ muốn mượn hai chữ xét lại để nói rằng trong Đèn Cù Tập II cũng đưa ra nhiều sự việc cần phải … xét lại.

Chẳng hạn như ngày thành lập ngành công an. Nói chính xác là "công an nhân dân", bắt chước theo Tàu, dĩ nhiên. Theo sách vở thì ngày thành lập lực lượng này là ngày 19/8/1945 và có sắc lệnh hẳn hoi. Nhưng Trần Đĩnh trích lời của ông Lê Giản (người phụ trách công an thời đó với chức vụ Tổng giám đốc Tổng nha công an) cho biết ngày đó chưa có chính phủ VNDCCH thì làm gì có sắc lệnh. Vả lại, ngày 23/8/1945 thì ông Hồ Chí Minh mới về đến Hà Nội, và ngày 28/8 mới công bố danh sách chính phủ (trang 362).

Năm 1945 VN có bao nhiêu đảng viên đảng cộng sản VN? Nhiều nguồn cho biết con số là 5000 người, tức rất ấn tượng. Nhưng theo Trần Đĩnh cho biết thì năm 1960, "Cụ Hồ nói với tôi: Nói năm 1945 có 5000 đảng viên là ngoa. 500 mới đúng. Thôi, cứ cho ngoa thành 5000. Năm ngàn người này từ đấy đã đoạt lấy quyền lực của 25 triệu đồng bào" (Trang 376).

Trong Đèn Cù Tập II, tác giả kể chuyện "sửa lưng" tướng Võ Nguyên Giáp rất thú vị. Ông cho biết vào năm 2000, trong hội thảo liên tịch (với Bắc Kinh) về con đường tiến lên XHCN, tướng Giáp có đăng một bài viết trên báo Nhân Dân, với nội dung 3 điểm:

(1) cách mạng VN là sớm nhất ở Đông Nam Á;
(2) VN lập nước cộng hoà dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; và
(3) thắng lợi trong kháng chiến là gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Nhưng Trần Đĩnh viết thư cho tướng Giáp phản bác cả 3 điểm. Thứ nhất, thật ra, Nam Dương (Indonesia) là nước nổi dậy đầu tiên giành độc lập (ngày 15/8/1945), còn Phi Luật Tân thì giành độc lập từ cuối thế kỉ 19. Thứ hai, không có cái gọi là "cộng hoà dân chủ nhân dân", mà chỉ có "Việt Nam dân chủ cộng hoà". Thứ ba, từ năm 1945 đến 1951, đảng đã tuyên bố giải tán, chưa làm xong cách mạng dân chủ thì lấy đâu ra chủ nghĩa xã hội mà gắn liền với chiến thắng. Tác giả còn nhắc tướng Giáp rằng trong "Đại thắng mùa xuân", tướng Văn Tiến Dũng đã gạt tên tướng Giáp ra khỏi sách.

Kể xong những sự thật này, tác giả Trần Đĩnh than: "Nhà nào cứ dạy con dối trá thì nhà ấy chắc sẽ lụn bại. Dối trá, nguồn gốc của mọi đốn mạt, sẽ triệt tiêu hết mọi điều tử tế".

Ông Lê Giản cũng rất phản đối chuyện quân đội phải trung thành với đảng. Ông nói "Bác nói quân đội trung với nước, hiếu với dân, đứa nào lãnh đạo dạo ấy mà chả nhớ như thế, thế mà đem đối nghiến ngay ra thành trung với đảng, biến béng luôn quân đội thành của riêng của đảng" (trang 363). Xem ra câu này rất thời sự tính, vì ngài tổng bí thư mới tuyên bố rằng "Chỉ có Đảng Cộng sản VN là tổ chức duy nhất lãnh đạo Quân đội nhân dân VN. Sự lãnh đạo quân đội không thể phân chia cho bất kỳ một cá nhân nào, một lực lượng chính trị nào khác" (1).

Nhồi sọ


Chuyện nhồi sọ trong XHCN thì chẳng có gì mới, nhưng câu chuyện tác giả kể trong Đèn Cù Tập II thì phải nói là khá độc đáo. Tác giả kể rằng năm đó, khi đội bóng đá của VN bị đội bóng đá của Thái Lan uy hiếp dữ dội, các ủng hộ viên hô hét "Việt Nam, Việt Nam". Hình như hô hét như thế vẫn chưa đủ, họ còn lôi cả ông cụ ra: "Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng". Nhưng "bác" vẫn không cứu được sự thất bại thê thảm của đội Việt Nam.

Một anh chàng y tá hỏi tác giả có xem đá bóng với Thái Lan, tác giả nói không xem vì mệt quá và ghê quá. Anh ta nói vì danh dự dân tộc nên phải coi chứ bác. "Tôi hỏi thế 1958 Sài Gòn vô địch bóng đá, bóng bàn, xe đạp châu Á, thì có hét ủng hộ nó không? Anh y tá nói ngay: 'Cháu nghe nói các bác lão thành nói ngày xưa chúng nó muốn bêu cộng sản nên bố trí cho Sài Gòn thắng chứ nguỵ nó đá đâu bằng Hà Nội.' Tôi nhắm mắt giả vờ ngủ. Thấy hình như võ mồm này là võ mồm tuyên huấn mở rộng sang quần chúng" (Trang 365).

Đấu đá nội bộ


Ông Lê Khả Phiêu giữ chức tổng bí thư đảng từ 12/1997 đến 4/2001. Trong thời gian trước đại hội 11, có một sự đấu đá quyền lực diễn ra khác ác liệt giữa các phe nhóm có liên quan đến ông. Ông Nguyễn Đức Tâm (lúc đó là trưởng ban tổ chức trung ương) viết hẳn một lá thư tố cáo các ông lãnh đạo cao cấp. Còn các tướng như Hoàng Minh Thảo, Phùng Thế Tài, Đồng Văn Cống thì tố cáo ông Phiêu. Theo Trần Đĩnh, "nghe đồn bị dồn đến đường cùng, ông Phiêu đã vung lên một tờ giấy nói ai gửi tiền ở ngân hàng nào, bao nhiêu đô tôi biết hết, ít nhất 200 trương chủ, người nhiều nhất là 2 tỉ đô" (trang 403).

Tác giả Trần Đĩnh còn tiết lộ rằng một tài liệu chui của Nguyễn Chí Trung, thư kí riêng của ông Lê Khả Phiêu, viết tố cáo ông Đỗ Mười. Trong Chương 38, Trần Đĩnh kể lại những cuộc đấu đá nội bộ giữa các lãnh đạo chóp bu rất ác liệt. Có một vị lãnh đạo tố cáo vị kia 10 điểm như bán đất, bán biển cho Trung Quốc; lộ ý đồ bí mật chiến lược với Giang Trạch Dân; hoãn kí hiệp định thương mại Việt – Mĩ; thành lập tổ chức nội gián nhằm lật đổ nội bộ; quan hệ với gái, và gái gián điệp; địa phương chủ nghĩa, vân vân và vân vân (trang 404).

Có một chuyện tôi thấy thú vị, trong đó tác giả kể rằng Nguyễn Hưng Định (nguyên thư kí riêng của ông Lê Thanh Nghị) thuật lại rằng "một hôm ông Đỗ Mười đến nói chuyện với Lê Đức Bình (lúc đó là trưởng ban nội chính): 'này, thằng Phiêu nó xin làm trợ lí an ninh quốc phòng cho thằng Mạnh, cậu thấy sao?' Bình đáp: Để anh ấy vào chỗ quan trọng đó thì nguy to có ngành anh à. Ít lâu sau, Mười lại đến: 'Này, không được làm trợ lí, thì Phiêu lại xin cho nó dọn nhà đến gần Bộ Chính trị?' –Dạ không, anh ấy sẽ phao tin lên rằng anh ấy vẫn thao túng được Bộ Chính trị. Ít lâu sau lại: 'Này, tớ định cho thằng Hữu Thọ làm trợ lí thứ nhất cho thằng Mạnh', Bình vội gạt: 'Chớ chớ anh ạ, cậu Hữu Thọ này là phần tử cơ hộ số 1 của đảng ta đấy. Bài hắn phê phán chủ nghĩa cơ hội chính là hắn tự soi gương mà viết." (trang 406).


Về Đầu Trang Go down
nguyenle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Tue Dec 23, 2014 1:34 am


Đèn Cù Tập II: vài giai thoại


Nguyễn Văn Tuấn
Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

Hãy thú nhận! Đọc sách loại hồi kí hay bán hồi kí (như Đèn Cù của Trần Đĩnh) độc giả thường để tâm đến những … giai thoại. Tôi cũng chẳng phải là một ngoại lệ, tức là thỉnh thoảng cũng bị cuốn hút theo những câu chuyện mang tính giai thoại của tác giả. Thật ra, đối với hồi kí chính trị và trong bối cảnh giấu diếm thông tin, những giai thoại đôi khi cũng nói lên vài điều về đương sự.

Dương Thu Hương


Bà là một nhà văn có tài và rất nổi tiếng vì tính kiên trực trước bạo quyền. Trong Đèn Cù Tập II, Trần Đĩnh kể về bà Hương với nhiều chi tiết … bi hài. Năm 1994, bà Hương từ Pháp về Hà Nội thì bị công an lục soát hành lí và tịch thu hộ chiếu. Khi đại sứ quán Đức mời bà sang Đức thì họ phải lo làm hộ chiếu cho bà. Phía VN biện minh rằng không có chuyện tịch thu hộ chiếu, họ chỉ sửa hộ chiếu đục lỗ thôi. Khi bà Hương đến nhận hộ chiếu, người của Cục xuất nhập cảnh yêu cầu bà đến phường để lấy dấu và chủ kí xác nhận. Ở phường, bà Hương khai như sau:

"Tên họ: Dương Thu Hương
Đã bị bỏ tù vì chống chủ nghĩa xã hội.
Lí do ra tù: do sức ép quốc tế và sự sụp đổ của thành trì xã hội chủ nghĩa"

Mấy người công an ai cũng kiếm cớ ra nhìn cho được người khai những câu chữ đó. Khi đến nhận hộ chiếu, lại gặp rắc rối theo kiểu Việt Nam, người ta yêu cầu ghi vào biên bản nói rằng Nhà nước đã vui lòng cấp hộ chiếu cho bà Dương Thu Hương, nhưng bà thiếu thiện chí đã từ chối vì hận thù chủ nghĩa xã hội. Bà Hương xem biên bản rồi ghi bên cạnh là: "Tôi không hận thù chủ nghĩa xã hội như trong biên bản người đại diện Nhà nước ghi bởi lẽ nó chỉ là một khuynh hướng ấu trĩ của tư tưởng nhân loại. Nhưng tôi chống nó tới cùng bởi lẽ nó đem hợp thức hoá chế độ độc tài, toàn trị lên đầu nhân dân" (Trang 390). Cuối cùng Dương Thu Hương không có hộ chiếu, và bà phải fax cho đại sứ quán Đức để nói lí do.

Chuyện "Chủ tịt"


Một trong những giai thoại tôi thấy hay hay vì nó nói lên sự sùng bái cá nhân thời bao cấp. Chuyện kể rằng một lần nọ nhà in xếp chữ (thời đó còn xếp chữ in) thế nào mà chữ "Chủ tịch Hồ Chí Minh" bị xuống dòng một cách vô duyên biến thành "Chủ tịt Hồ Chí Minh"! Đụng đến dù chỉ cái tên của ông cụ là cả toà soạn nhốn nháo lên. Tất cả cán bộ nhân viên toà soạn báo, tất cả cán bộ nhân viên nhà in, binh lính, sĩ quan, v.v. phải tập hợp đứng im để cho an ninh quân đội điều tra. Dĩ nhiêu câu hỏi lởn vởn trong đầu "người ta" là tại sao có sự nhầm lẫn chết người như thế? Cố ý hay vô tình? Gián điệp cài vào? Ai là thủ phạm? Kể từ đó, tác giả cho biết ông không bao giờ viết về cụ Hồ trên sách báo nữa (trang 501).




Chuyện bắt Lê Trọng Nghĩa

Ông Lê Trọng Nghĩa thường được nhắc đến trong Đèn Cù khá nhiều lần, vì ông dính dáng vào "vụ án xét lại chống đảng". Ở trang 545, tác giả thuật lại việc bắt Lê Trọng Nghĩa, lúc đó là Cục trưởng Cục tình báo quân đội, đậm màu Statsi. Ngày 8/1/1968, "Nghĩa họp giao ban xong, thì được Văn Tiến Dũng bảo sang bên Phạm Ngọc Mậu có việc. Nghĩa lái xe sang. Mậu nói luôn: Đồng chí bị bắt! Nghĩa vặn: Đồng chí mà bắt?"

Người ta hỏi cung ông Nghĩa rất nhiều, và đặc biệt xoáy vào vấn đề ai là người giao cho ông liên hệ với CIA để chuẩn bị đàm phán Việt – Mĩ? Chủ ý là khai thác để ông Nghĩa khai ra người giao nhiệm vụ là tướng Giáp. Nhưng ông Nghĩa thản nhiên nói: người giao nhiệm vụ là đồng chí Lê Duẩn!

Đồng chí X


Thời gian gần đây, người theo dõi thời sự VN đều nghe đến cách nói "Đồng chí X". Tôi tưởng đó chỉ là cách nói mới của ông Chủ tịch Trương Tấn Sang, nhưng đọc Đèn Cù mới biết cách nói này đã xuất hiện từ 1971. Năm đó, trong một nghị quyết của đảng, người ta từng bêu tướng Giáp bằng tên X (trang 591).

Tàu rất ghét tướng Giáp. Họ từng trương biểu ngữ trước cửa Thiên An Môn để nói xấu tướng Giáp ngay trước mặt đoàn của Việt Nam do Lê Thanh Nghị dẫn đầu. Năm 1978, khi tướng Giáp sang Tàu cám ơn Tàu đã chi viện cho Bắc Việt Nam đánh Mĩ, thì phía Tàu cho ông ăn cơm với chén bị mẻ!

Trong Đèn Cù Tập II, tác giả cho biết rằng Mao Trạch Đông từng nói với ông Lê Duẩn rằng "Đại biểu của phái hữu ở Việt Nam đại khái như Võ Nguyên Giáp, đại biểu của phái tả đại khái như Nguyễn Chí Thanh. Cách mạng Việt Nam muốn lên thì phải hạ cánh hữu xuống" (trang 592).

Nạn nhân của thể chế


Trong một chương cuối của sách, tác giả Trần Đĩnh cho rằng ông Hồ chính là "nạn nhân trước hết của chủ nghĩa cộng sản và của đảng chính trị kiểu Lenin" (trang 619). Ngay từ đầu, Stalin đã cho đàn em huấn luyện cho các lãnh tụ cộng sản tương lai của VN như Nguyễn Ái Quốc thấm nhuần chân lí: Việt Nam phải chịu sự kiểm soát của Liên Xô và răm rắp tuân lệnh Stalin.

Nhưng sau này thì chính ông lại là nạn nhân của thể chế ông xây dựng nên. Sử gia nổi tiếng người Pháp là Pierre Brocheux viết rằng "trong vụ án xét lại chống đảng, ông Hồ Chí Minh cũng đã nhận ra bản chất của chế độ nhưng chẳng làm gì được. Hơn nữa, kể từ năm 1960, chính nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh mới thực sự là những người nắm quyền. Theo nghiên cứu của tôi thì cả một giai đoạn trước khi qua đời, ông Hồ bị cách li khỏi quyền lực, tức là không hề có quyền gì. Ông ấy tự biến hành một biểu tượng." (Trang 633).

Những câu hay


Tôi đọc thấy trong Đèn Cù Tập II có nhiều câu phát ngôn đáng được trích dẫn. Đáng trích dẫn vì những câu đó tóm tắt một cách đầy đủ những vấn đề mà chúng ta quan tâm.

"Trật tự đang chế ngự tại đây là một trật tự quan liêu giết chết cá thể, đè bẹp mọi đặc thù, loại bỏ mọi thăng hoa, một trật tự không sự sống. Vâng đất nước Tiệp đang có yên bình của các bãi tha ma" (trích phát biểu của Vaclav Havel, Trang 267).

"Buồn thay cho những nhân dân mà lòng yêu nước đã bị giam cầm vì mất tự do" (trang 396).

"Càng yêu nước càng phải tôn trọng sự thật" (trang 398).

"Ngày xưa, Việt Minh luôn xoáy vào cái 'nhục mất nước' để kêu gọi làm cách mạng. Nay không thể xoáy vào cái nhục nghèo nàn, lạc hậu" (trang 401).

"Cộng sản mang ở trong lòng sức mạnh phá phách. Cần có quyền lực thì lãng phí xương máu nhân dân, khi có quyền lực rồi thì tham nhũng tiền của nhân dân" (Trang 503).

"Đánh cho Mĩ cút, đánh cho Hoa vào", "Thằng Tây nó tếch, thằng Tàu nó sang" (trang 505).

"Vào đảng cộng sản là theo đuổi có hiệu quả công cuộc ăn cắp cuộc sống, ăn cắp lòng tin" (trích Nhà văn Pháp Claude Roy, cựu đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, trang 507).

"Có thể khẳng định một điều: chiến tranh 'chống đế quốc Pháp, Mĩ' của Việt Cộng đều chịu sự chỉ đạo của ý thức hệ cộng sản – chính quyền ra từ nòng súng, vừa 'giải phóng dân tộc' vừa 'đánh đổ từng bộ phận chủ nghĩa đế quốc', góp phần quan trọng 'giải phóng loài người'." (Trang 634).

===

Thế là tôi đã đọc xong và ghi chép lại vài nội dung trong cuốn Đèn Cù Tập II. Đó là những chất liệu mà tôi nhặt được trong sách. Có thể nói tôi chỉ mới thu thập dữ liệu - data, chứ chưa phân tích và bàn luận. Tôi còn đang "tiêu hoá" nội dung cuốn sách, những chất liệu và thông tin trong sách trước khi viết ra những nhận xét của tôi.

Nhưng nói chung, cảm tưởng ban đầu là đây là một cuốn sách bổ sung rất tốt cho tập "Bên thắng cuộc" của Huy Đức, "Những lời trăn trối" của Trần Đức Thảo, và "Đêm giữa ban ngày" của Vũ Thư Hiên. Những cuốn sách này cung cấp cho chúng những phác hoạ về các nhân vật quyền lực ở miền Bắc trước đây cùng những việc làm của họ, và qua đó góp phần giải thích tại sao VN vẫn còn là một nước nghèo nàn, lạc hậu và tham nhũng tràn lan như hiện nay.

Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Sat Jan 03, 2015 9:19 am


Giết, giết mãi, Hồ say máu thắm
Đâm, đâm hoài, Đảng nhắm tử thi
Đảng Hồ chém giết phân ly
Đồng Bào oằn oại, độn trì thi công


Đèn Cù và những điều chưa biết về Hồ Chí Minh


.

Về Đầu Trang Go down
nguyenle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Sun Jan 11, 2015 10:44 am




HỒ CHÍ MINH, TỘI NÀO NẶNG NHẤT?

Ngô Nhân Dụng

Trong thời gian đi Nga và Ba Lan gần đây, tôi được nghe nhiều câu chuyện chế nhạo Hồ Chí Minh, mà những người Việt đã sống ở Hà Nội hay kể với nhau từ những năm 1950, 60 tới giờ. Tất nhiên người ta lén lút kể giữa những người thân và có thể tin cậy. Cấm kể cho trẻ em nghe, vì trẻ con không biết gì có khi kể lại với người ngoài thì cha mẹ chỉ có tù mút mùa. Những chuyện cười ở miền Bắc thường rất sâu, sâu và hiểm. Nhiều người gọi tên ông ta là Minh Râu, nghe mãi mới hiểu đó là ông Hồ. Có nhà văn kể chuyện một anh tên là Hinh, cứ ra đường ra chợ ngẩng mặt lên trời tìm cái gì đó, làm bao nhiêu người hùa theo cũng ra đường ngoảnh mặt lên trời tìm kiếm, mỗi ngày một đông hơn. Cuối cùng đám đông hỏi anh ta tìm cái gì, chính anh ta cũng không biết. Bài văn đăng lên báo, sau mới có người mách ra rằng, tên Hinh là do họ Hồ và tên Minh ghép lại, nhà văn và tờ báo đều mang họa!

Nhưng người miền Bắc đã ghét thì thường thù ghét Hồ Chí Minh thâm gan tím ruột, cho nên phần lớn các chuyện cười không có tinh thần hài hước rí rỏm như dân miền Nam. Một anh bạn đang định cư ở Phần Lan kể tôi nghe một câu chuyện cười nghe xong thì muốn khóc. Sau năm 1975, ở chợ Gạo, tỉnh Ðịnh Tường có một ông thợ hớt tóc treo tấm biển viết, “Không gì quý hơn cạo mặt, váy tai.” Váy, là đọc trại chữ “ngoáy,” theo lối người miền Nam. Ðó chỉ là một dòng quảng cáo. Nhưng khi công an nhìn thấy hàng chữ đó treo bên cạnh tấm hình ông Hồ thì họ hiểu. Sau đó anh thợ hớt tóc biến mất, đến bây giờ cũng chưa ai biết anh còn sống hay đã bị thủ tiêu từ hồi đó rồi. Vợ con anh ghi ngày anh bị bắt giữa đêm khuya làm ngày giỗ. Từ năm 1945 đến nay đã có biết bao nhiêu người bị thủ tiêu theo lối đó.



Ðã có bao nhiêu người vì Hồ Chí Minh mà chết? Khi gặp những người Việt ở Ðông Âu và Nga, nhiều người từng sống trong chế độ cộng sản ở miền Bắc Việt Nam từ những năm kháng chiến chống Pháp cho tới ngày nay, người ta thường đặt câu hỏi đó. Không kể bà Nông Thị Xuân đã sinh con với Hồ Chí Minh rồi bị thủ tiêu, và em gái bà Xuân, thì con số trực tiếp hoặc gián tiếp chết vì Hồ Chí Minh lên đến nhiều triệu. Nhưng việc giết người thường không do bàn tay của ông Hồ dính vào, ông gây những tội ác nặng gấp ngàn lần tội sát nhân. Cho nên người ta cũng thi đố nhau: “Trong số những tội ác của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam, tội nào nặng nhất?”

Nhiều người cho việc ông Hồ theo chủ nghĩa cộng sản là tội nặng nhất. Tất cả tai họa trùm lên nước Việt Nam suốt từ năm 1945 đến giờ đều chỉ vì có người đem chủ nghĩa cộng sản theo lối Stalin về áp dụng ở nước ta. Thực ra thì trong thập niên 1920-30, rất nhiều nhà cách mạng Việt Nam đã bị chủ nghĩa cộng sản quyến rũ; trong số đó có nhiều người rất đáng kính trọng, từ Nguyễn Thế Truyền đến Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm. Ông Truyền là người đã tổ chức cho nhiều thanh niên Việt Nam từ Pháp đi Nga, sau ông về nước và từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Các ông Thâu và Hùm sau lãnh đạo nhóm Cộng Sản Ðệ Tứ ở Sài Gon. Họ đều là những nhà ái quốc nhiệt thành và hy sinh cả cuộc đời cho lý tưởng. Việc tin theo chủ nghĩa Marx-Lenin không nhất thiết gây nên tội ác nếu người ta giữ được lòng nhân. Vì vậy, nhiều người cho rằng, tội nặng nhất của Hồ Chí Minh không phải việc theo chủ nghĩa cộng sản mà là việc xin làm đồ đệ của Stalin, hoàn toàn tuân lệnh Cộng Sản Ðệ Tam.

Tội ác này rành rành, không cách nào bào chữa được. Vì trong những năm Hồ ở Nga, đầu thập niên 1920 và lần sau trong thập niên 1930, ông ta chắc chắn đã chứng kiến những thủ đoạn tàn ác của Chúa Ðỏ Stalin đối với những đối thủ chính trị của ông ta. Những đồng chí của Lenin như Rykov, Bukharin, Kamenev và Zinoview bị Stalin bắt bớ, hành hạ và đưa ra tòa rồi thủ tiêu cả mạng sống lẫn sự nghiệp chính trị của họ; tất cả Bộ Chính Trị thời Lenin đều lần lượt bị Stalin giết để ông ta nắm lấy độc quyền. Hồ Chí Minh chắc chắn phải chứng kiến những cảnh này, thời gian đó những người cộng sản đối lập với Stalin đã hô hoán cho cả thế giới biết. Nhưng Hồ đã chọn con đường theo Stalin và học tập những thủ đoạn của ông này, sau đem về áp dụng ở Việt Nam. Chính vì Hồ Chí Minh đóng vai một gián điệp trung thành của Stalin và Ðệ Tam Quốc Tế trong hơn 20 năm, cho nên đến năm 1945 chính phủ Mỹ không thể nào tin ông ta là người muốn giao hảo với một nước tư bản như nước Mỹ, dù ông ta đã xin nhiều lần.

Việc áp đặt chủ nghĩa cộng sản Xít-ta-lin-nít trên vận mạng dân tộc Việt Nam là một tội ác. Những người đã sống ở miền Bắc đã chứng kiến các thảm họa do chính sách tập thể hóa, đánh tư sản, đấu tố giết người do Hồ Chí Minh chủ trương. Nhưng nhiều người cả hai miền Nam-Bắc coi tội đó cũng còn nhẹ hơn tội gây ra cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn từ năm 1959 đến 1975, mà Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm. Những nước bị chia đôi trên thế giới cho hai khối tư bản và cộng sản, chỉ có Bắc Hàn là gây chiến, nhưng cuộc chiến đó ngắn ngủi. Trung Cộng cũng không dại dột tấn công Ðài Loan, dù Tưởng Giới Thạch lúc nào cũng hăm dọa “Quang phục lục địa!” Ðông và Tây Ðức sống bên nhau cho đến ngày chế độ cộng sản sụp đổ thì thống nhất. Hồ Chí Minh đã đẩy hàng triệu thanh niên vào một cuộc chiến tàn khốc chỉ vì tham vọng cộng sản hóa toàn thể dân tộc Việt và toàn thế giới, theo đúng những chỉ thị của Ðệ Tam Quốc Tế khi ông Hồ rời Nga về Trung Quốc cuối năm 1924. Nước Việt Nam đã thống nhất, nhưng thống nhất trong một chế độ vô học, bất lực, tàn nhẫn, khiến cuộc sống người dân cả hai miền Nam-Bắc thê thảm hơn, có lúc nạn đói đã giết hàng ngàn nông dân.

Làm chết hàng triệu thanh niên vì một chủ nghĩa sai lầm, vì áp dụng một chế độ tàn ác, ngu dốt, và tham nhũng tràn ngập, đúng là một tội ác lớn. Nhưng nhiều người Việt ở trong nước bây giờ còn thấy một tội ác khác của ông Hồ, một tội lớn hơn nữa. Ðó là tội hủy hoại cả nền đạo lý của dân tộc. Bao nhiêu điều nhân nghĩa tổ tiên truyền lại đã bị xóa bỏ, thay thế tất cả các giá trị bằng một lòng trung thành với đảng, tức là trung thành mù quáng trước mệnh lệnh của bọn lãnh đạo đảng. Bọn này sống giả dối, chuyên dùng thủ đoạn gian dối, độc ác, gieo những hạt giống xấu cho cả xã hội. Ðó là di sản kinh hoàng nhất mà Hồ Chí Minh đã để lại trên đất nước ta. Chiến tranh chấm dứt, cảnh chết chóc có thể quên đi sau mười năm. Kinh tế suy sụp có thể phục hồi dần dần sau khi chịu thay đổi cho người dân sinh hoạt tự do hơn. Nhưng một nền đạo lý bị tàn phá thì phải vài thế hệ mới tái lập được. Ðó là tội ác lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam.

Sở dĩ bữa nay đem kể chuyện những cuộc bàn luận về Hồ Chí Minh trong mục này, cũng vì vừa có một tờ báo ở khu Tiểu Sài Gòn đăng một bài trong đó tác giả ca ngợi Hồ Chí Minh một cách lố bịch mà người có trí khôn bình thường không thể nào viết được. Một người ký tên là Hà Văn Thủy viết “Bài học khó quên” trên tuần báo Việt Weekly đã viết một câu như sau: “...người Việt được sự dẫn dắt của Hồ Chí Minh, một danh nhân văn hóa thế giới, một thánh nhân mang tầm vóc Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn!”

Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn là những nhân vật tưởng tượng trong huyền sử Trung Hoa. Ðem ví ông Hồ với hai nhân vật tưởng tượng đó, rõ ràng là chỉ có mục đích lừa bịp bằng huyền thoại hóa, thần thánh hóa. Những bạn trẻ mà tôi gặp ở Ðông Âu cũng nhiều người nói thẳng rằng, nếu nước Việt Nam mà không có ông Hồ Chí Minh “dẫn dắt” thì đâu đến nỗi bị cộng sản cai trị để rơi vào tình trạng nghèo đói bậc nhất trên thế giới trong mấy chục năm trước đây! Rồi bây giờ quay ngược đầu chạy theo tư bản nhưng vẫn cố bám lấy độc quyền, để nước ta đứng hạng chót trong số các nước Á Ðông - trừ Bắc Hàn!

Rõ ràng là tác giả Hà Văn Thủy chỉ viết một lời tán tụng như trên theo công thức, chỉ thị hoặc theo đơn đặt hàng. Vì sau khi ca tụng Hồ Chí Minh như vậy, ông ta lại viết những câu hoàn toàn trái ngược!

Trong một đoạn sau đó vài trăm chữ, Hà Văn Thủy muốn tỏ ra mình có tinh thần khách quan, đã viết, “Từng kinh qua thảm họa cải cách ruộng đất ở miền Bắc (do “thánh nhân” Hồ Chí Minh chủ trương) nên tôi tán thành cuộc cải cách điền địa ở miền Nam (dưới thời Tổng thống Ngô Ðình Diệm)... Nông dân miền Nam đạt mức sống trung nông, là điều mà nông dân miền Bắc nằm mơ không thấy! Và quả là tôi thèm muốn tự do báo chí, ngôn luận, lập hội cùng những tự do khác mà thành thị miền Nam được hưởng!” Vậy những công trạng của ông thánh nhân, Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn đó chỉ là dùng một đảng độc tài cướp đoạt những quyền tự do căn bản của người dân hay sao?

Và di sản của cái ông Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn là gì? Ông Hà Văn Thủy nói ông ta hiểu tâm trạng của sử gia Keith Talor khi ông này viết rằng, đất nước Việt Nam đang “phải chịu đựng một cơ cấu cai trị chuyên chế, thối nát và (phải chịu cảnh) nghèo nàn.” Rồi ông Thủy thú nhận ngay rằng, “Ðúng là tình hình Việt Nam đang như thế.”

Biết nó như thế, tại sao không biết hỏi thêm rằng, ai đã dựng lên cái đảng Cộng Sản Việt Nam để họ đưa đất nước đến tình trạng chuyên chế, thối nát và nghèo nàn như vậy? Còn ai vào đó nữa nếu không là Hồ Chí Minh? Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn có mang tội như vậy hay không?

Xưng tụng Hồ Chí Minh một cách giả tạo, theo chỉ thị hoặc theo đơn đặt hàng, thì dễ lâm vào cảnh bất nhất, tự mình mâu thuẫn với mình. Nhưng ca ngợi Hồ Chí Minh bằng những lời giả dối đó, ở giữa một môi trường xã hội toàn những người đã từng là nạn nhân của chế độ cộng sản, bao nhiêu người đã liều chết vượt biển để thoát nạn cộng sản, họ chỉ thấy Hồ Chí Minh là quỷ ác hiện hình, thì đó là một hành động xúc phạm vô ý thức và vô liêm sỉ. Chính vì những người bán rẻ lương tâm vẫn còn ca tụng Hồ Chí Minh như thế mà trong mục này chúng ta phải tiếp tục vạch rõ những tội ác của Hồ Chí Minh, dù trong lòng không còn nuôi chút oán thù nào với một người đã qua đời gần 40 năm để cho xác chết còn bị đám đàn em lợi dụng cho đến bây giờ. Bao giờ bọn cường hào tham nhũng bất lương ngưng khai thác cái xác chết của ông Hồ, chắc lúc đó linh hồn ông ta mới được yên ổn.

















.
Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Mon Jan 19, 2015 4:11 pm


"Rặt một lũ khỉ"




Hai Ngơ (Danlambao) - Thế có tức mình không cơ chứ. Chị vừa nghe các em "nhập kho" Bọ Lập là chị đã ứa gan tràn mật ra ngoài. Nay lại nghe các em hung hăng tiết vịt "Thu Gom" thêm cả Ngọc Già nữa. Đúng là các em "coi trời bằng vung", chọc vào nách chị, để chị phải bới cái mả bố đảng CS nhà các em lên đây mà.

Chị bẩu cho các em biết! Nói với các em mà dùng chữ nghĩa văn chương hoa lá hẹ thì thật phí nhời, phí cả chữ nghĩa. Với các em chỉ có chửi và chửi, cho sướng cái lỗ mồm... Mặt dày mặt dạn trơ ra như đá thì khuyên lơn răn bảo như mấy tay trí thức u mê phò đảng, đề nghị với kiến nghị phỏng được ích gì.

Bảy mươi năm qua các em làm vương làm tướng, làm mưa làm gió, làm trò khỉ trên đất nước này, từ thời "Tên trắng răng bạc đầu HCM" đến nay thì có cậu nào học hành học vị cho đàng hoàng tử tế. dật một lũ chữ Nhất bẻ đôi không biết, bần nông chân đất mắt toét, gặp thời "chó nhảy bàn thờ" chứ hay ho giỏi giang cái con mẹ gì. Cứ miễn sao phấn đấu vào được đảng, nhắm mắt nhắm mũi vâng nghe theo đảng là lên Lon lên Lương, lên Ông lên Bà ngay, chứ học hành bằng cấp làm đếch gì cho nhọc.

Bởi vậy hễ cứ nhắc tới bầy đàn nhà các em là chị muốn tốc váy chửi cha cái lũ CS, nhất là hai thằng tây râu và thằng đầu trọc, tổ sư của cái nòi CS, rồi cả cái tên già Hồ lưu manh xảo trá cũng học đòi ăn theo để râu để ria, tí tuổi đầu ranh hỗn láo tự xưng "cha già dân tộc". Đúng là lố bịch bố láo bố khoét. Chị nói thật với các cậu, Nhìn cái râu ria của chúng chăng khác mẹ gì cái râu ria của chị. Còn cái thằng đầu trọc, tổ sư cha nhà nó chẳng khác gì cái đầu "con tự do" một tí tẹo nào.

Bọn chúng đúng là lũ quỷ đội lốt người. Gieo rắc cho thế gian thế giới toàn điều xấu điếu ác, mà bẩu chị không chửi thì hóa ra chị là người gỗ à! Hả các em cộng sản?

Còn nói về cái đảng CS thổ tả ôn dịch nhà các em, thì tội lỗi của nó gây ra cho dân tộc xưa rày thì chả giấy mực nào mà ghi cho hết. Chả người dân nào mà không hay không biết, nên chị cũng không cần nói nhiều, bươi móc chuyện xửa chuyện xưa đầu rau rế rách làm chi cho mỏi cái lỗ mồm. Chị chỉ hỏi hà cớ gì mà các em bắt bớ người ta?. Những nhà dân chủ chống Tàu. Thế ra chống Tàu xâm lược là có tội à! Như vậy cả cái dân tộc VN này trừ cái đảng thối tha của các em ra còn toàn là người có tội "Chứ còn gì nữa"!... Vớ vẩn nhỉ? Viển vông hết sức... Đảng và cái nhà nước CS hiện nay là người Tàu hết hay sao mà làm những chuyện nghịch đạo nghịch lý oái oăm như vậy. Ai đời lại đi bắt bớ giam cầm đày đọa những con người yêu dân yêu nước chống giặc ngoại xâm. Cha tổ bố nó, trên thế giới có cái đảng cái chính quyền nào độc tài bạo lực ngược ngạo như thế này không hở giời?

Chị chẳng cần phải nói đâu xa cho nhọc cái "cửa" mình. Cứ nhìn ngay mấy cái chữ mà mấy em đặt trên đầu các văn bản giấy tờ kể cả hiến pháp hay cương lĩnh đảng của nhà các em. Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc. Hố! hố! hố! Lúc đầu chị đọc thì chị buồn nôn, Sau đó lại đâm ra buồn cười. Mấy cái chữ ấy đúng là nó đang chửi cha nhà các em lên đấy. Phải không các cu các cậu?

Chị nói thật. Các em vẫn tật nào chứng nấy, xảo trá gian manh không bao giờ chừa. Dấu đầu hở đuôi, lấp lửng lập lờ đánh lận con đen. các em hay dấu cái chữ "nhưng", để cho nhân dân chúng chị ngộ nhận khó hiểu. Chị thử đoán thế này xem có đúng với mưu mô ý đồ của các em không nhé.

- Độc Lập: Nhưng phải theo sự chỉ đạo của Mẫu Quốc Trung Cộng.

- Tự Do: Nhưng phải vâng nghe theo đảng. Không được cải cách phản biện, và nhất là nói lên sự thật. Còn bằng không thì đi hỏi ông Quang Lập hay ông Ngọc Già thì sẽ rõ. Đừng dài dòng lắm chuyện...

- Hạnh Phúc: Nhưng phải biết vì "Đại Cục" mà chịu thiệt thòi một tí. Hy sinh ruộng nương đất đai cửa nhà cho đảng và nhà nước "lên kế hoạch". Nếu cố tình không chịu làm cái "nghĩa vụ cao đẹp" đó thì ra vườn hoa Mai Xuân Thưởng mà cắm trại vui chơi, ngắm hoa ngắm kiểng tiêu dao tháng ngày. Hoặc được hạnh phúc như các em ở vùng cao Bắc Lạng. Được vui chơi vượt đèo lội suối tới trường. Cơm măng cơm muối, thịt chuột thịt dế bổ dưỡng hấp dẫn đúng không? Cha tiên sư cái đảng CS nhà các em! Một lũ sâu dân mọt nước. Bất nhân bất nghĩa, xảo trá lưu manh phét lác như cuội.



Thú thực nhìn mặt các em chị ngán lên tới gáy. Đứa nào cũng nặc mùi tửu sắc dung tục. Lại còn lú lẫn như cái nhà anh Cả Trọng, cơ mưu nham hiểm như cái nhà cậu Tư Sâu. còn em Hùng hói thì thôi khỏi bàn, em này nhìn qua là thấy rượu gái in hình trên mặt. Tên này thượng đội hạ đạp. Tướng dạng bất nhân, bị phá tướng bởi cái mồm loe môi tỡn tham lam ích kỷ, tráo trở ngụy biện: "Quốc hội là dân, mà dân quyết sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai" Đấy các vị nghe xem. Nói thế mà hắn nói cũng được. Cha tiên nhân bố mặt dày mặt dạn hơn cả đế dép...

Vậy chứ ba thằng các em cộng lại, chị thấy cũng chẳng nhằm gì so với nhân vật cộm cán nhất trong tứ quái Ba Đình CS nhà các em dưới đây. Em này thuộc hàng bậc thầy của các bậc thầy. Ông Trùm của các ông Trùm. Thế mới kinh. Hai mang nhưng biết che chắn ẩn mình. Ăn vụng nhưng biết chùi mép. Tài năng thủ đoạn khó ai sánh bằng. Chỉ nghe tên thôi cũng thấy chứa đầy ẩn số: "Ba X". Thế mới nguy hiểm đáng sợ. Một tên gian hùng sở trường sở đoản. Biết lợi dụng thời cơ, thời cuộc. Tạo vây tạo cánh, biết dùng người và nắm được những yếu điểm của đối phương phòng lúc trở trào. Tham nhũng thuộc loại tổ sư, tai tiếng nhất trong các đời TT Cộng sản VN. Tên ma đầu giáo chủ này nói một đàng làm một nẻo. Miệng hắn bô bô tuyên bố chống Tàu nhưng ngược lại cho bọn côn an bắt bớ đanh đập, đàn áp đủ mọi thành phần. Dân chủ bờ lốc bờ leo, nhân dân biểu tình chống tàu hắn làm tuốt luốt, tàn bạo dã man không chút nương tay.

Thực chất tên này là tên theo Tàu nhưng khéo che chắn dấu diếm, chẳng cải cách cải tổ con mẹ gì đâu. Đàn bà như chị nhìn sơ qua cũng biết. Cậu mày tuyên bố lùm sùm chống bọn TC thực ra chỉ là "bài vở, kịch bản" mà thôi. Trước đây sắp phải ra trước vành móng ngựa ở Đại hội 6 TW đảng em cũng vờ vịt đi tham quan hội chợ ở Nam Ninh Quảng Tây Trung cộng, nhằm mục đích cầu cứu thày Tàu ra tay che chở cho em thoát hiểm. Bây giờ cũng vậy. Sắp đến hội nghị 10 và đại hội đảng TW nhiệm kỳ 12. Để tranh thủ sự quan tâm của thày Tàu giúp đỡ cho em ngồi vào chiếc ghế Tổng Bí mà em đang mơ ước. Em đã chẳng ngại ngùng nịnh Tàu ra mặt bằng những câu có lông có cánh: "Quan hệ hữu nghị Trung Việt là dòng chảy xuyên suốt 65 năm qua". Ghê gớm nhẩy. Chữ nghĩa khoa trương lộng ngôn nhẩy. Thật không còn lời nịnh bợ ca tụng nào súc tích và hay hơn nữa. Cha tổ bố cái lỗ mồm nhà cậu dẻo hơn kẹo kéo. Cậu lắt léo đường nào cũng được. Trước đây cậu chửi nó là "Hữu nghị viển vông" Bây giờ cậu lại bợ mông nịnh nó: "hữu nghị Trung - Việt là dòng chảy xuyên suốt 65 năm qua". Khéo thật. Chị nghĩ da mặt em cũng dày quá da voi...




Cậu Dũng nghe này!

- 65 năm qua chúng đã dạy cho VN một bài học nhớ đời. 6 vạn dân quân VN chết chóc thương tật, dưới họng súng dã man bạo tàn của chúng, năm 79 biên giới phía Bắc.

- 65 năm qua bao lần chúng cướp đất đai biên giới biển đảo. Ải Nam Quan thác Bản Dốc. Hoàng Sa Gạc Ma.

- 65 năm qua nó lừa phỉnh mang đến cho VN một cuộc chiến huynh đệ tương tàn do sự ngu dốt của đảng CSVN gây ra, vùi chôn 5 triệu sinh linh người Việt. Xương chất thành núi máu chảy thành sông, đất nước tan hoang trở về thời đồ đá.

- 65 năm qua là 64 hồn oan người lính Gạc Ma và 74 người lính Hoàng Sa vẫn vọng về từng ngày trong lòng dân tộc

- 65 năm qua nó tạo cho ta một nền kinh tế hom hem ọp ẹp, lệ thuộc hoàn toàn vào nó, em có biết không hả thằng em TT.

"Dòng chảy hữu nghị" há! há! há!... Dòng chảy hữu nghị cái "Con khẹc". Chữ nghĩa ba hoa sáo rỗng, nặc mùi thủ đoạn lừa bịp. Chị nói vậy có đúng không cậu Dũng? Chị đi guốc trong bụng cậu "chứ còn gì nữa".

Cậu Dũng này! cái chuyện đấu đá nội bộ trong đảng của các em, chị rất là thông cảm. Chẳng qua em nào cũng chỉ vì cái chức cái quyền, cái lợi ích mà các em phải đấu đá chí tử quyết liệt với nhau. Mục đích là tranh thủ được sự quan tâm giúp đỡ của thày Tàu. Cất nhắc phe cánh của mình được ngồi vào những chiếc ghế quyền lực thượng đỉnh và vinh hạnh cúc cung phục vụ cho chúng, chứ chị nghĩ chẳng có em nào có tinh thần yêu nước thương nòi gì ráo. Chẳng có phe bảo thủ, mà cũng chẳng có phe cải cách. Hai phe các em đều là bợ đít hít mông Tàu cả. Chị đàn bà thật nhưng nhận xét của chị cũng tinh tế ra phết đấy chứ cậu Dũng hỉ.

Chị để ý cứ mỗi lần có sự sắp xếp cơ cấu nhân sự vào các chức vụ cao nhất của đảng CSVN, là y như rằng thày Tàu cử các quan to của họ sang. Họ sang để chi vậy cà. Để chỉ thị cho "đảng ta" hay sao vậy cậu Dũng? Lạ lùng thật.

Tiên sư cha cái thằng Tàu ô nham hiểm, miệng thì hảo lớ bụng đầy dao găm. Cha tổ bà những thằng, những con hại dân bán nước. Rồi đây các em cũng thân kề miệng lỗ như già Hồ vậy thôi. Thử hỏi các em mang theo được những gì, ngoài sử sách viết về các em như Ích Tắc, Chiêu Thống, cùng với sự nguyền rủa cay nghiệt của cả một dân tộc đổ lên đầu gia đình con cháu các em. Chị suy nghĩ thấm rồi. Cái ác cái xấu nào cũng phải có giá trả của nó. Lưới giời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát. Cố gắng sống bằng cái Tâm Thiện cho những tháng ngày còn lại, để phần nào chuộc lại lỗi lầm, các em ạ.

Nghe chị nói này! Trên chính trường đấu đá với nhau là chuyện thường tình, chị đây thông cảm. Nhưng xét thấy các em tàn ác vô nhân tính quá. Giết chóc lẫn nhau, giết cả đồng chí đồng rận của mình đã từng cùng nhau vào sinh ra tử. Loài thú hoang dã cũng không nỡ ăn thịt sát hại đồng loại của mình như vậy. Còn các em "Đuổi cùng giết tận", dồn đuổi nhau đến bước đường cùng. Kẻ thì chung thân người thì tử tội, Ngọ chết do Gan, lan man Thanh nhiễm độc phóng xạ, thật hết sức oan ức tội tình. Cha tổ bố cái thằng "Chức quyền danh lợi". Chính vì mày mà lũ em chị đang từ người biến thành súc vật, tranh quyền đoạt lợi với nhau. Chị mà bắt được mày thì mày chỉ có chết. Chị kẹp đầu mày vào cái "ấy" của chị, ba ngày chị không cho thở, xem mày còn ngông cuồng, mê hoặc được ai nữa không hả, cái thằng "Chức quyền, danh lợi" khốn nạn kia... May cho mày hôm nay mát giời, chứ không thì chị còn đào mả ông nhà mày đến tối.



Thật ra chị cũng chẳng muốn đào mồ đào mả CS nhà các em làm gì. Chẳng qua chị thấy bắt bớ Bọ Lập, Ngọc Già bằng cái thủ đoạn hết sức tiểu nhân bỉ ổi. Bức xúc chị không nhịn nổi nên chửi vung tàn tán cái lũ CS nhà các em lên một lúc cho nó hả giận xì hơi thế thôi. Chứ chị biết có chửi thế chứ chửi nữa thì cũng chỉ như "nước đổ lá môn, nước đổ đầu vịt". Các em tật nào chứng nấy chẳng chừa. Mặt trơ như đá, mặt dày hơn cả da bò thì còn trông vào đâu mà sửa với chữa.

Nói tóm lại là thế này nhé! Ông Quang Lập cũng từng là đồng chí đồng đội. Người ta cũng chỉ nói lên tiếng nói trung thực về cái sai cái xấu của đảng và nhà nước để biết mà sửa chữa khắc phục. Cũng như tấm gương để soi rọi cái bản mặt lấm lem của mình mà thôi, chứ ông ta có làm gì nên tình nên tội mà bắt bớ giam cầm đày đọa. Ghép vào điều này điều nọ, chụp mũ chống báng phản động thật là tàn nhẫn bất công. Một con người ốm đau bệnh hoạn ngặt nghèo như vậy, trong tay chỉ có cây bút bàn phím thì làm sao lật đổ được chính quyền mà các em sợ hãi ông ta như vậy. Cũng vậy cả nhà anh Ngọc Già, "Trên răng giữa có cây bút" chứ có hơn gì, mà các em cũng dùng quyền lực độc tài ức hiếp người ta. Các em bắt người dùng làm miếng mồi để ra giá mặc cả với người Mỹ à! Nếu vậy thì hèn hạ hết sức. Thiếu gì cách mà sao các em hay dùng cái cách khốn nạn bỉ ổi này, bảo sao bàn dân thiên hạ người ta không chửi bố các em lên. Đúng là không tàn nhẫn ác ôn không phải là loài CS. Thật tởm lợm cho cái đảng CS mê muội tăm tối của các em. Dật một tuồng lưu manh xảo trá...

Các em có cái cố tật là nói như vẹt. Chả còn hiểu mình đang nói những gì, tuyên bố những gì, sai đúng ra sao chẳng cần biết, chỉ nói và nói. Tiện đây chị nhắc lại cho các em nhớ, rồi học lấy câu uốn lưỡi bảy lần trước khi nói nhé! kẻo dân tình người ta chửi bố lên cho mà nghe.

Thứ nhất - Cả Trọng: "Chỉ có đảng CSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo QĐNDVN. Sự lãnh đạo quân đội không thể phân chia cho bất kỳ một cá nhân nào, một tổ chức chính trị nào khác". Hố! hố! hố!... Thế thì gọi con mẹ nó là Quân Đội của đảng CSVN cho nó hoạch tọec bố nó ra. Chữ nghĩa u u minh minh, bịp bợm vờ vờ vịt vịt. Quân đội nào là của nhân dân. Chẳng có cái loại quân đội nào mà lai kết hợp cùng bọn côn an còn đảng còn mình, hèn với giặc ác với dân. Đàn áp cưỡng đoạt ruộng đất nhà cửa của dân. Đúng là lấp lửng lập lờ giả mù ra mưa như Cả Trọng. Chị đây rất là khinh bỉ cái loại người này.

Thứ nhì - Ba X và Hùng hói: chị đã nói nhiều ở phần trên, chị cho thông qua.

Thứ ba - Ông tướng Phùng Thủ Lợn: Ông này mới là ngơ ngơ ngẩn ngẩn như vừa xơi cám xong: "Tôi thấy lo lắng lắm, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Tôi cho rằng cái đó là nguy hiểm cho dân tộc". Buồn cười nhẩy?... Thế dân tộc không được ghét được chống lại cái thằng cướp nước, cướp đất đai biển đảo của mình à! Đầu cậu có vấn đề gì vậy. Chạm mạch à! Cậu nên nhớ rằng: trong sử sách cha ông xưa gọi chúng là giặc, các ngài có sợ "méo" gì đâu, mà sao em tiếng là người đứng đầu quân đội VN "bách chiến bách thắng" lại lo lắng run lên cằm cặp dúm đít heo vào thế. Khí phách người lính ở đâu?... Tổ quốc danh dự em ném ở xó nào mà tuyên bố bi quan yếm thế nhu nhược như vậy? Chị nói thật dân tộc VN này chẳng có gì phải nguy hiểm cả. Có chăng là nguy hiểm cho cái dân tộc Tàu của nhà cậu mà thôi. Chị hỏi thật. Thế quân đội hiên nay là QDNDVN hay là QĐNDTQ mà sao chị thấy toàn bắt nạt dân không vậy. Cậu là người Việt hay là người Tàu mà sao cậu lo chuyện tào lao ngược đời chó không ngửi được như rứa hả cậu Phùng Thủ Lợn? Ngư đân VN đang từng ngày từng giờ bị bọn khốn nạn bành trướng TC đàn áp đánh đập, bị xua đuổi không cho đánh bắt ngay trên vùng biển của mình, đang trông chờ vào sự chở che bảo vệ của cậu đấy, cậu có biết không? Hay cậu biết mà cố tình làm ngơ. Cậu còn phát biểu nhiều câu rấm rớ ngứa cả lỗ tai bàn dân thiên hạ: "Láng giềng là bất biến". Bất biến cái "Con tự do của bác Hồ". Thế Tây Tạng có phải là láng giềng của bọn TC không?. Thế mà nay đã "biến "thành tỉnh tự trị của nó rồi đấy. Còn VN chừng vài năm nữa đây đảng CS các em cũng "biến" nó thành tỉnh tự trị như vậy chứ có khác gì. Đúng là "Biết thì thưa thốt. Không biết thì dựa cột mà nghe", dốt nát lại sính văn chương chữ nghĩa. Dở người à! Nói về cậu thì nhiều chuyện vừa tức vừa cười. Chị để lại hôm nào rảnh nói tiếp.

Qua việc các em nói các em làm 70 năm qua, chị nghĩ đảng CSVN và cái nhà nước của nó mới là "Phản Động". Phản bội lại quê hương dân tộc, đất nước ngàn đời cha ông gầy dựng. Bỗng một ngày phải tan tác tàn tạ, và có nguy cơ chịu sự đô hộ cai trị của bọn bành trướng CS Bắc Kinh lần nữa, bởi bàn tay nhơ bẩn nhám nhúa của đảng CSVN các em. Buồn này, uất ức này, dân tộc VN để đâu cho hết...

Chị bảo thật! Khôn ngoan thì bẩu nhau tìm cách rút êm trong danh dự. Trả lại quyền tự do tự quyết về cho nhân dân. Còn bằng không các em tự chuốc lấy nhục nhã với muôn vàn đau khổ. Thời gian còn rất ít. Bẩu nhau tính toán đi nhé. Chị đi uống đá chanh cho nó mát cái họng đây. Bố tiên sư CS các em. "Rặt Một Lũ Khỉ"...

Hai Ngơ (Em gái Cả Đẩn)
danlambaovn.blogspot.com

Về Đầu Trang Go down
lenguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Mon Feb 16, 2015 10:31 am


Nếu mọi người biết đảng CSVN thật sự là gì?





Le Nguyen (Danlambao) - Thời đại Hồ Chí Minh, nói như cố ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện “chỉ có cái loa là vui thôi” bởi cái loa là công cụ tuyên truyền của đảng CSVN và chỉ có cái loa là được vô tư hò hét hò hát, vô tư nói thánh nói tướng không ai có quyền nói khác hay được nhiều cơ hội nghe được tiếng nói khác ngoài tiếng nói của đảng, nhà nước CSVN. Thời đại Hồ Chí Minh không chỉ có đơn thân cái loa phục vụ công tác tuyên truyền mà đảng CSVN còn trang bị cho đội ngũ “loa” tuyên truyền, vũ khí bạo lực, khủng bố để trấn áp, bịt miệng, tiêu diệt những ai khôn ngoan, những ai còn tính người không nghe theo lời dối trá, xúi giục làm theo điều độc ác, phi nhân tính của đảng - với danh xưng đúng bản chất bạo tàn của nó mang là đội “vũ trang tuyên truyền”. Vũ trang tuyên truyền là vừa tuyên truyền, vừa sử dụng bạo lực trấn áp, nói cụ thể là tuyên truyền láo không được là vặt lông mần thịt, đúng với cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của mần thịt.

Thời thông tin bùng nổ, với kỹ thuật thông tin hiện đại, những bí mật lịch sử lần lượt được bạch hóa, những nhân chứng sống bên trong lẫn bên ngoài đảng cộng sản đã có nhiều cơ hội, điều kiện với diễn đàn lề dân thoáng đãng đủ rộng để vạch trần dối trá, tố cáo tội ác cộng sản đã gây ra cho đất nước, dân tộc Việt Nam trên ¾ thế kỷ đã qua. Thế cho nên, thời nay các lãnh đạo đảng CSVN đương quyền, nắm giữ trong tay nhiều phương tiện kỹ thuật thông tin, có đủ điều kiện tiếp xúc với tài liệu lịch sử, có cơ hội tiếp cận với nhân chứng sống, với thế giới dân chủ văn minh thời đương đại nên không có lý do biện hộ cho những phát ngôn dối trá, không đúng sự thật, là nói láo vì thiếu thông tin, không biết gì về Hồ Chí Minh, về đảng CSVN trong thời đại thông tin này!

Đến thời điểm hiện tại, có lẽ chỉ có giai cấp công nhân, nông dân thành phần lao động nghèo sống ở vùng sâu vùng xa không đủ điều kiện để tiếp xúc với kỹ thuật thông tin truyền thông hiện đại, chỉ biết có loa đài, chỉ nghe lời tuyên truyền của các cán bộ tuyên giáo của đảng nên không biết Hồ Chí Minh là tên cộng sản đệ tam, lãnh tiền nhận lệnh của Nga – Tàu thực hiện ý đồ nhuộm đỏ Việt Nam và không biết đảng CSVN đích thực là đội quân đánh thuê cho cộng sản quốc tế.

Có lẽ chính vì không biết sự thật của bác đảng nên có một bộ phận không nhỏ bị bịt mắt, bịt tai để họ ngộ nhận tôn thờ thánh hồ, tin đảng tài tình sáng suốt và không nhận ra bản chất vô đạo, độc ác của hồ, của đảng CSVN nên cứ hy vọng, cứ tin vào lời hứa hão thay đổi, đổi mới của đảng cho cuộc sống tốt đẹp hơn trong tương lai.

Chính ở thái độ ngồi chờ và hy vọng ở ngày mai tươi sáng do đảng hứa hẹn mang lại của đại bộ phận nhân dân, của cán bô, đảng viên cộng sản nên cho dù họ biết lý tưởng cộng sản, chủ nghĩa xã hội là sai lầm, là tội ác chống con người nhưng họ không quyết liệt đứng lên chỉ vào mặt cộng sản nói cộng sản nói láo. Cũng như họ không dứt khoát chống lại tuyên truyền dối trá của tuyên giáo cộng sản nên các lãnh đạo đảng cộng sản thời nay mới có cơ hội nói láo không biết ngượng mồm, không biết xấu hổ, dù biết chuyện mình nói là láo nhưng vẫn cứ nói.

Lãnh đạo cộng sản đương quyền không những nói láo về chuyện bác đảng trong qua khứ mà họ còn trơ trẻn nói láo về đảng lãnh đạo cả trong thời hiện tại. Có lẽ không ai là không biết các lãnh đạo đảng đời nay thừa biết hiện trạng xã hội, hiện tình đất nước thê thảm toàn diện như thế nào – thê thảm đến độ không thể “phê và tự phê” sửa chữa được nữa. Qua câu nói của một trong những lãnh đạo cao cấp tại chức “...dân chủ là xu thế không thể đảo ngược...” Có thể họ biết chỉ có một cách duy nhất là phải xóa bỏ chế độ độc tài cộng sản đi để giật dậy tinh thần dân tộc, thiết lập chính thể dân chủ ngõ hầu dẫn dắt đất nước tiến lên hùng cường, thịnh vượng sánh vai bè bạn năm châu, hòa nhập vào dòng sống văn minh của nhân loại mới xứng đáng là con người có trách nhiệm với dân với nước.

Thế nhưng, lãnh đạo đảng CSVN đương thời không những không thức tỉnh từ bỏ con đường tàn dân hại nước mà lại còn tiếp tục dấn sâu vào tội ác, vào tuyên truyền dối trá về cái gọi là thành công của đảng cộng sản lãnh đạo trong công cuộc đổi mới kinh tế, hội nhập quốc tế trong mấy thập kỷ qua. Thật ra lớp hào nhoáng của cái được gọi là thành công, thành quả của công cuộc đổi mới qua kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của đảng CSVN, chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền, chỉ là lừa gạt được những người nhẹ dạ, cả tin kém tư duy nhận thức lẫn thiếu điều kiện tiếp cận thông tin đa chiều và chỉ được nghe có mỗi thông tin từ loa đài của đảng, nhà nước CSVN.

Đối với những ai thường xuyên tiếp cập báo lề dân đều nhận ra “thành quả” dối trá, bịp bợm của đảng CSVN về cái gọi là đổi mới và hội nhập quốc tế.

Cái gọi là thành công đổi mới, hội nhập quốc tế mà tuyên giáo, tuyên truyền viên, dư luận viên thường vinh vào bề nổi của những công trình xây dựng khu gia cư, nhà cao tầng, khu nghỉ dưỡng cao cấp, sân golf, khách sạn, nhà hàng, đường xá, cầu cống, khu công nghiệp, bến cảng, sân bay... cùng với lớp nhà giàu, đại gia mới nổi chơi siêu xe, du thuyền, dinh thự triệu đô... để tuyên truyền cho thành công của đổi mới nhằm bịp bợm thành phần lao động nghèo không điều kiện tiếp cận thông tin và với một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên mù đảng vì nhiều lý do.

Dù thế, tuyên giáo cộng sản không thể lừa gạt được số đông bạn đọc báo lề dân luôn theo sát tình hình đất nước và đại bộ phận bạn đọc theo dõi báo lề dân không ai là không biết đằng sau lớp hào nhoáng của cái gọi là thành quả đổi mới của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là tài nguyên quốc gia, tài sản của dân chạy vào túi của tầng lớp vô nhân siêu giàu có nguồn gốc đảng, là những công trình xây dựng thiếu chất lượng, vừa xây xong không bao lâu thì đã sụt, lún, nứt...

Ai cũng biết trong cái gọi là thành quả đổi mới, là nguồn gốc tạo nên tầng lớp vô nhân siêu giàu trên máu nước mắt, trên thành quả lao động của giai cấp nông dân nghèo bị chiêu bài “sở hữu toàn dân” của đảng cưỡng cướp để cho giai cấp mới, siêu giàu thể hiện tài cướp bóc, phù hợp với bản chất cướp của đảng vốn có và không cần phải núp dưới bóng đội quân tiên phong nào cả, khi đã cướp được quyền lực nhà nước và xã hội.

Cũng như những ai theo dõi báo lề dân đều biết trong cái gọi là thành quả đổi mới của đảng cộng sản liên tục vài thập kỷ, có trên dưới 10 tỷ đô la mỗi năm của thành phần mà lãnh đạo đảng CSVN phỉ báng, gọi là “chây lười lao động, chạy theo bơ thừa sữa cặn...” chuyển về hà hơi cho đảng sống, cùng với 10 tỷ đô la viện trợ hoàn lại, không hoàn lại hằng năm của các nước dân chủ “thế lực thù địch” và với số nợ nước ngoài lên đến gần $1,000 đô la cho mỗi đầu người dân Việt Nam, cục nợ đó là con số không hề nhỏ cho người dân của một nước còn thuộc dạng nghèo như Việt Nam!

Cái gọi là thành quả của nhiều thập kỷ đổi mới, hội nhập của đảng CSVN không dừng lại ở đó, nó còn khiến cho những người lương thiện cảm thấy xấu hổ khi cầm hộ chiếu Việt Nam đi qua các trạm kiểm soát nhập cảnh nước ngoài và cảm thấy hình ảnh dân tộc bị xúc phạm khi thấy các biển cảnh báo ăn cắp, biển cấm vào các cửa hàng ăn uống, siêu thị bằng chữ Việt. Những hình ảnh đáng xấu hổ đó, không phải tất cả nhưng đa phần do một bộ phận không nhỏ cán bộ ngành ngoại giao, hàng không quốc doanh, du sinh con cháu các quan chức đảng viên cộng sản... tổ chức buôn lậu, rửa tiền, lập đường dây chuyển hàng ăn cắp về Việt Nam tiêu thụ... gây ra.

Thành quả đổi mới của nhiều thập kỷ rõ nét hơn nữa là đảng CSVN ra rả, hô hào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng không làm ra được ốc vít chất lượng cho máy điện toán, không sản xuất ra được vỏ chai đúng chuẩn cho các công ty đa quốc ở Việt Nam đóng chai xuất cảng ra nước ngoài... và các công ty quốc doanh nắm giữ vai trò của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, độc quyền sản xuất kinh doanh, một mình một chợ nhưng số lãi sinh ra không tương xứng với vốn đầu tư hay cứ lỗ năm này sang năm khác, ngay cả dù được đảng, nhà nước bơm ngân sách nuôi như nuôi trứng hứng như hứng hoa vẫn không thể đứng vững mà phải “tuyên bố” phá sản vì nợ không khả năng chi trả...

Thành quả đổi mới, hội nhập còn ấn tượng hơn nữa là dù tài nguyên, khoáng sản trong lòng đất của một đất nước “mệnh danh” là rừng vàng bạc bể mà các tập đoàn quốc doanh độc quyền, các công ty “mũi nhọn kinh tế” của đảng, nhà nước đào lên, hút lên bán vẫn lỗ hoặc có lãi rất khiêm nhường, không đủ để bù đắp cho sự hủy hoại, tàn phá môi trường thiên nhiên gây ảnh hưởng xấu, khó khắc phục đến đời sống con người, đời sống sinh vật trong vùng khai thác tài nguyên thiên nhiên và chuyện đào, hút dưới lòng đất lên bán vẫn lỗ, chắc chỉ có xảy ra trong nước đảng độc quyền lãnh đạo mang tên CSVN?

Nghiêm trọng hơn cả của đổi mới hội nhập, không phải chỉ làm cho tài nguyên cạn kiệt, hố bất công ngày càng sâu, khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa mà nghiêm trọng nằm ở chỗ xã hội băng hoại, phẩm chất con người, ngày càng suy thoái đạo đức lối sống, sự dữ lên ngôi và tình người tính người dần mất hút trong tính thú, tính ác của sinh vật người. Có thể nói, cạn kiệt tài nguyên, tài sản quốc gia tuy nghiêm trọng nhưng vẫn không nghiêm trọng bằng tài sản con người bị hủy hoại, bị vong thân tha hóa và cái đảng CSVN gọi là thành quả đổi mới hội nhập đích thực là hậu quả nghiêm trọng khó khắc phục, không thể khắc phục nếu đảng vẫn nắm độc quyền lãnh đạo và chế độ cộng sản vẫn tồn tại trên đất nước Việt Nam!

Liệt kê một số hậu quả nổi cộm của mấy mươi năm đổi mới, hội nhập với chủ trương, đường lối kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà đảng CSVN kể lể công lao cũng giống như đảng kể lể công lao đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ cứu nước cho đến thời đại tin học này đã bị lột trần bạch hóa nên rất ít người không nhận ra cái gọi là công lao của đảng - đích thực là tội ác, là bịp bợm, dối trá nối dài của đảng CSVN. Nếu tất cả mọi người chúng ta biết rõ mặt thật của đảng CSVN và ai cũng tích cực vạch trần, chuyển tải thông tin đến những bộ phận ngộ nhận, hiểu mơ hồ về cộng sản, chắc chắc cộng sản sẽ tan đi như thiên tài thơ, ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện tiên báo số phận cộng sản trong tập thơ Hoa Địa Ngục, trước khi hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa tan vỡ, chủ nghĩa cộng sản bị loài người tiến bộ đào thải, vất vào thùng rác lịch sử, có những câu sau:

“...Nếu nhân loại mọi người đều biết
Cộng Sản là gì tự nó sẽ tan đi
Thứ sinh thành từ ấu trĩ ngu si
Sự hiểu biết sẽ là mồ hủy diệt...”

Le Nguyen
danlambaovn.blogspot.com

.
Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Wed Feb 18, 2015 9:36 am

Bản chất cs: Làm thì làm bậy, nói thì nói láo nên có...

Quán Khóc





Danlambao - Trong bóng đêm độc tài, đằng sau bức màn tre đen tối của bưng bít thông tin và tuyên truyền định hướng toàn diện, internet còn mấy chục năm sau mới ra đời... lúc ấy Quán Khóc đã có mặt - Quán Khóc Hồ Chí Minh:



Nhiều thập niên sau, trong thời đại tin học, đứng từ vùng ánh sáng của internet, có những người nhìn những khuôn mặt mếu máo mà dân Bắc Hàn dành cho "lãnh tụ kính yêu" của một đất nước vẫn còn bao phủ trong màn đêm bưng bít và nhớ lại quán khóc một thời trên đất nước. Nhớ lại để thấy hình ảnh của những thiếu nữ, những người đàn ông, những em bé choàng khăn đỏ... là chân dung của họ ngày xưa dành cho "cha già dân tộc". Hình ảnh của một Quán Khóc khác, không cùng thời đại nhưng thức uống vẫn mặn chát như nhau - Quán Khóc Kim Jong-il:



Nhưng chợ trời internet và vùng ánh sáng của thông tin vẫn không đóng cửa được những Quán Khóc. Vẫn còn đó những Quán Khóc dập dìu kẻ bán người mua quay quần xung quanh cái bàn được làm bằng cỗ quan tài. Trong những Quán Khóc ấy, bản nhạc ngày xưa tưởng đã chết vẫn được tiếp tục sập xình nức nở:
...
Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười...
(Tố Hữu - Đời đời nhớ ông).





Danlambao
danlambaovn.blogspot.com




Đây mới thực sự là khóc thật của chế độ csVN:



Một người phụ nữ khỏa thân gào khóc đến lạc giọng
ngay trước trụ sở tiếp dân của trung ương đảng
và thanh tra chính phủ (Hà Đông - Hà Nội):

“Con của tôi chết hết rồi.
Còn một mình tôi nữa thôi đảng ơi.
Tôi ăn gì, uống gì đây đảng ơi.
Tôi lấy gì mà sống đây đảng ơi.”

.
Về Đầu Trang Go down
hoango
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Fri Feb 20, 2015 11:43 am


Đầu năm, lộ ảnh ngai vàng trong cung điện hoành tráng của cựu TBT Nông Đức Mạnh




CTV Danlambao - Ngay trong ngày đầu năm mới, tư dinh của cựu tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, ông Nông Đức Mạnh đã bị lộ một số hình ảnh xa hoa với bộ ngai vàng đầu rồng hoành tráng. 

Những hình ảnh này được đăng trên báo Tiền Phong Online - cơ quan trung ương của đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

Nội dung bài tường thuật về chuyến thăm sáng mùng 1 tết Ất Mùi (19/2/2015) của phái đoàn quan chức thuộc đoàn thanh niên cộng sản HCM đối với các cựu lãnh đạo cộng sản, trong đó có ông Nông Đức Mạnh.

Chuyến đi do bí thư thứ nhất trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Đắc Vinh dẫn đầu.

Tiếp đón đoàn khách viếng thăm, cựu tổng bí thư CSVN Nông Đức Mạnh đã cho thấy sự xa hoa, giàu có của mình khi ngồi trên chiếc ngai vàng đầu rồng hoành tránh.

Toàn bộ nội thất trong phòng tiếp khách của ông Mạnh đều là những thứ đắt tiền, trông giống như một cung điện được dát vàng của các vua chúa.

Sau bộ ngai vàng là bức tượng bán thân lớn của Hồ Chí Minh cũng được dát vàng, đây cũng có thể là nơi TBT Nông Đức Mạnh thờ cúng bố mình.





Ông Nông Đức Mạnh là tổng bí thư đảng CSVN trong suốt 10 năm, tức 2 nhiệm kỳ, từ năm 2001 cho đến năm 2011.

Theo một số thông tin đã được rò rỉ ra bên ngoài, trong thời gian còn giữ quyền lực, TBT Nông Đức Mạnh và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận hàng trăm triệu đô-la để đồng ý cho Trung Cộng vào khai thác bauxite tại Tây Nguyên.

Sau khi về hưu, ông Nông Đức Mạnh cưới thêm vợ mới là đại biểu quốc hội Đỗ Thị Huyền Tâm. Trong một lá đơn tố cáo đã được công bố trên Danlambao, bà Nông Thị Bích Liên (con gái ông Nông Đức Mạnh) đã phản đối cuộc hôn nhân này, đồng thời cáo buộc bà Đỗ Thị Huyền Tâm muốn dùng 'vỏ bọc của vợ nguyên tổng bí thư' để tránh bị khởi tố, xét xử do các hành vi trốn nợ và vi phạm pháp luật.

Ông Nông Đức Mạnh cũng được cấp một căn biệt thự rộng 850 mét vuông, nằm trên con đường ven Hồ Tây.

CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com
 
So sánh: Phòng tiếp khách của TT Obama và ngai vàng cựu TBT Nông Đức Mạnh

 

Nơi tiếp khách của đương kim tổng thống Hoa Kỳ - những kẻ bị cho là đế quốc bóc lột...
Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Sat Feb 21, 2015 12:50 pm


Một sự so sánh




Ảnh trái: Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm tự tin vận khăn đóng áo dài truyền thống của dân tộc trong buổi tiếp đón Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej tại Phủ Tổng thống, ảnh chụp năm 1960.

Ảnh phải: Cựu tổng bí thư đảng CSVN Nông Đức Mạnh trong bộ vest bóng lộn, ngồi trên ngai vàng đầu rồng, nhưng bộ dạng vẫn lộ rõ sự đồng bóng đến mức lố bịch của một tay trọc phú đua đòi. Ảnh chụp hôm 19/2/2015, trong chuyến đi chúc tết của bí thư trung ương đoàn Nguyễn Đắc Vinh tại tư dinh ông Nông Đức Mạnh.




Ngai vàng và tượng đồng

Ngô Việt (Danlambao) - Thật tình mà nói thì khi nhìn cảnh “cung điện” của cựu TBT đảng CSVN, ông Nông Đức Mạnh, tôi không thấy có chút gì nể phục vì vẻ xa hoa của nó. Đã vậy tôi còn cảm thấy có chút buồn cười hài hước gì ở đây. Đồ vàng mã? Cảnh của sân khấu chèo, hay sân khấu ca nhạc, kiểu như sân khấu hài sớ táo quân, bày biện cảnh cung điện trên thiên đình mà chúng ta vẫn thấy trên TV mỗi dịp xuân về! Tất nhiên ông Nông Đức Manh, không phải là vua, thành ra ghế ngồi có dát vàng, chạm khắc đầu rồng thì nó cũng chỉ là cái ghế để ngồi, chứ nhất đinh nó không phải là ngai vàng để  “Mạnh Vương, ngự!”

Trước đây, chúng ta cũng được chứng kiến tư thất sang trọng của ông Lê Khả Phiêu, một cựu TBT tiền nhiệm của ông Nông Đức Mạnh. Ở đây không có “ngai vàng” nhưng có trống đồng, ngà voi, tượng đồng bán thân của ông Phiêu và có cả vườn rau sạch trồng trên sân thượng để cho ngài TBT và gia đình sử dụng, tránh nhiệm độc khi ăn phải rau dơ do người dân trồng bán ở bên ngoài.

Không hiểu quí ngài khi đúc tượng đồng của mình, xây dựng cung điện hoành tráng như là của vua chúa thật sự để làm gì? Để dân chúng tôi khi nhìn thấy những thứ đó để nhớ đến các ngài chăng? Không bao giờ! người dân sẽ nhớ đến các ngài qua những công việc mà các ngài để lại cho dân cho nước.

Khi nhắc đến ngài TBT Lê Khả Phiêu, chắc chắn người dân Việt Nam sẽ nhắc đến gần một ngàn cây số vuông đất biên giới phía bắc mà Việt Nam đã cắt để nhượng cho Trung cộng, để họ không lộ chuyện bí mật chuyện đời tư của ngài! Xa hơn chút nữa, khi nhắc đến ngài, người dân Huế, sẽ nhớ đến Trung đoàn trưởng Lê Khả Phiêu, chỉ huy chiếm đóng thành phố Huế trong tết Mậu Thân mà kết quả là hơn 5000 người dân Huế thiệt mạng trong những ngày tết thiêng liêng của dân tộc Việt Nam.

Còn ngài Nông Đức Mạnh thì sao? Ôi ngài nổi tiếng với câu nói: “Chúng ta phải biết nuôi con gì trồng cây gì để đời sống người nông dân giàu lên...!” Cây gì con gì của ngài nói, đến nay vẫn còn là những ẩn số... Đời sống của người dân ngày càng đi xuống và đời sống của các ngài càng ngày giàu sang! Nhớ đến ngài Nông Đức Mạnh là phải nhắc đến chủ trương lớn của đảng CSVN và nhà nước CHXHCNVN: dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Giờ này thì dự án này đã là thứ gân gà khó nuốt rồi đó, mặc dù mới đây ông Nguyễn Tấn Dũng có lên gân bảo dự án đã có lãi (?). Tin mấy ngài là bán thóc giống mà ăn. Quan trong hơn nữa, một khi những hồ bùn đỏ vỡ ụp, làm ô nhiễm cả một vùng đất nước rộng lớn thì lúc đó dù còn sống hay đã chết rồi quí ngài vẫn không chạy thoát khỏi sự trừng trị của người dân.

Người Việt nam mình có câu: Nghĩa tử nghĩa tận. Nhưng cũng có câu: Cọp chết để da người ta chết để tiếng. Các ngài dù gì thì cũng là những con người của lịch sử, ít nhiều hậu thế sau này sẽ nhắc đến. Họ nhắc chuyện tốt hay xấu là do công việc các ngài làm khi còn sống nhất là lúc đương chức. Người Việt Nam hôm nay nhắc Trần Hưng Đạo thì cũng nhắc Trần Ích Tắc, nhắc Vua Quang Trung thì cũng nhắc Lê Chiêu Thống. Lịch sử sẽ phán xét các ngài một cách công bằng không vì cái tượng đồng hay một chiếc ghế giả ngai vàng.

Ngô Việt
danlambaovn.blogspot.com


“Mênh mông tình dân”
Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Tue Sep 08, 2015 9:19 am


 
Khi dối lừa là… sự thật!

Hà Văn Thịnh
Tác giả gửi tới Dân Luận
3-9-2015

Đọc những bản tin về Lễ diễu binh nhân Kỷ niệm 70 năm ngày Quốc khánh (tôi không xem TV), không thể tin ở mắt mình: Một sĩ quan Quân y, đeo quân hàm trung tá (trên ve áo), sinh năm 1993(!), ngực gắn đầy huân, huy chương các loại? Cái tức chỉ mới ở cấp độ… vừa vừa. Thế nhưng, đọc tiếp, thấy ông Trung tướng Võ Văn Tuấn, Phó Tổng tham mưu trưởng, trả lời báo chí rằng, tuy là thiếu úy, nhưng theo quy định, phải đeo hàm trung tá cho… thống nhất (Motthegioi.vn; 09:55, 3.9.2015) thì sự uất nghẹn lên đến tận cùng! Thì ra, để đảm bảo tính THỐNG NHẤT, DUY NHẤT, người ta có thể đạp đổ mọi giá trị?

Chưa bàn đến chuyện cộng đồng mạng đang xôn xao: Thiếu úy Quân y Phạm Trúc Sơn Quỳnh là… sinh viên trường Đại học Thương mại (vì chưa kiểm chứng được); chỉ xin luận về cái việc giả dối luôn được coi là sự thật, nó nguy hại và mang tính “truyền thống” khủng khiếp đến mức nào.

Thứ nhất, xin hỏi ông trung tướng rằng, từ cổ chí kim, ở bất kỳ quốc gia nào (không kể mấy nước XHCN), có chuyện quân hàm, huy chương, được đeo một cách tùy tiện để diễu qua diễu lại trước mắt hàng triệu con người như thế hay không? Ở đây, công khai trước mắt toàn dân tộc mà lại ủ mầm dối trá thì người dân biết tin vào ai? Không lẽ, dối trá, tùy tiện lại trở thành quy định của ta? Làm sao để có quân lệnh như sơn, làm sao việc tôi hay ai đó đeo quân hàm thì bị bắt ngay lập tức mà trong diễu binh lại coi là bình thường?




Những tấm huy chương đó do một cô gái trẻ đeo, chẳng lẽ cũng lại là quy định? Nếu đúng thế thì đó là sự sỉ nhục đối với những người vào sinh ra tử để có được chúng? Xét về tuổi, sinh năm 1993, đeo được quân hàm thì chỉ có thể tốt nghiệp trung cấp y-dược; tức là… y tá hay hộ lý, dược tá vì, chưa thể tốt nghiệp đại học y – dược 6-7 năm. Sự kệch cỡm và trơ tráo là không thể chối cãi. Có lẽ, đây là cách tốt nhất để vả vào mặt hàng loạt sĩ quan cấp tá khác, có phải vậy không?

Thứ hai, báo chí cho biết có 70% trong đội ngũ nữ “quân y” đã có gia đình; vậy, căn cứ vào đâu để đề nghị cấp bằng khen cho một cô gái còn son trẻ? “Động tác” chuẩn, đẹp, tập luyện cả đêm ngày…; chỉ là sự tư biện trắng trợn. Bốn tháng trời tập có mỗi đi đều, vung tay cho đúng thỉ chỉ có ai đó thiểu năng mới không làm được. Còn tập đêm, tập ngày chỉ là do kém mà thôi. Tại sao không đặt ngược câu hỏi rằng 70% của 200 người , tức là trên dưới cả trăm phụ nữ có con mọn không cần tập như thế vẫn đi đúng, đẹp chẳng kém gì? Nói rằng cô thiếu úy – trung tá đẹp hơn về vòng 1 hay gương mặt thì còn khả dĩ, chứ cho rằng đẹp hơn trong một khối 200 người thì quả là sự phỉ báng tư duy: Đẹp hơn có nghĩa là khối đó có hàng trăm người không đẹp bằng – tức là đi đều sai, chào không đúng, cũng đồng nghĩa là khối nữ quân y diễu binh thất bại. Nếu quả là vậy thì “khối trưởng” có gì đáng tặng bằng khen? Một đất nước mà cái gì cũng GIẢ, từ cấp bậc đến huân chương, danh hiệu anh hùng, đẹp, chuẩn…, là phải hiểu sao đây?

Thứ ba, riêng chuyện bố của cô thiếu úy – bà trung tá, là sĩ quan (cao cấp – vì ít khả năng có chuyện con dám đeo quân hàm cao hơn bố, trong khi quy định, thượng tá là cán bộ cao cấp) ở Tổng cục Hậu cần, đủ để biết cái “thị trường” sao – vạch là hình như có vẻ đúng? Biết bao nhiêu phụ nữ (trong số 140 người) trong khối quân y vừa là con dân đen, vừa nuôi con nhỏ xứng đáng hơn mà không được khen? Thì ra, khen hay chê không phải do tài năng, phẩm hạnh mà có phải là CCCC hay không mà thôi. Phải chăng chính ông trung tướng đang ngầm khẳng định cho cái ‘chân lý’ không có ai chịu nổi là vì mục tiêu thống nhất, duy nhất, các vị muốn làm gì thì làm, diễn ra sao thì diễn?

Thứ tư: tôi được biết các tàu bệnh viện, xe cứu thương trên thế giới đều in dấu chữ thập đỏ trên nóc, 4 phía để đối phương không bắn nhầm (quy định quốc tế, xem ảnh chụp tàu bệnh viện Mỹ vừa đến Đà Nẵng). Thế, tại sao bác sĩ, y tá quân đội ta, cô nào cũng cầm AK (trừ chỉ huy là súng ngắn), mặt đằng đằng sát khí? Họ ra trận để cứu người hay bắn người? Nếu họ bắn rồi bị bắn chết thì lấy ai cứu thương binh; hoặc giả, để thương binh… chết luôn?





Trên đây là câu hỏi xin ông trung tướng trả lời. Nếu tôi sai (cầu mong là thế – vì, tôi sai thì đất nước được nhờ), là do kiến thức hạn hẹp, không hiểu hết cái ý thâm, nghĩ ngắn rõ ràng như của các ông. Tuy nhiên, bài này rất tình cờ được viết trong ngày kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh từ giã cõi đời (suốt mấy chục năm trời, thế hệ chúng tôi thắp hương vào ngày… 3.9!), nên có liên tưởng về “truyền thống” dối trá đắng cay. Xin kể ông nghe.

Thuở đó, tôi cũng như nhiều học sinh lớp 7, lớp 8 khác, đã khóc Bác rất chân thành – khóc dàn dụa đến hết nước mắt theo đúng nghĩa đen của từ này. Sau đó, chúng tôi lùng, tìm để học thuộc nhiều bài thơ viết về nỗi đau “tả” cái đau đớn thật sự của hàng triệu con người. Tất nhiên, cũng có bài thơ không hay (thậm chí là phản động) như bài Bác ơi của Tố Hữu. Tố Hữu kể rằng ngày Bác mất, ổng đang bỏ đi chơi đâu đó: Chiều nay con chạy về thăm Bác. Rồi, ổng miêu tả ổng đang lần mò, rình rập nhà bác; không thèm thắp cho người chết một đốm nến tàn: Con lại lần theo lối sỏi quen… Phòng lạnh, rèm buông, tắt ánh đèn…

Tạm không bàn đến những câu thơ dở mà hãy nói đến những câu thơ hay, trong đó có những câu này (tôi quên tên tác giả, nhờ bạn đọc tìm dùm):

Hôm nay, tháng Chín, ngày ba
Bác mất
Từ đó
Những bình minh khổ đau
Những hoàng hôn nước mắt
Lên đường cùng chúng ta…

Lại xin không bàn về cái tài tiên tri của nhà thơ; quả là từ khi đó đến giờ, có không ít khổ đau và nước mắt đã “lên đường”; mà chỉ xin nhấn mạnh rằng, mấy chục năm sau, tôi nghe đính chính rằng thực ra Bác mất ngày 2.9 chứ không phải ngày 3. Thật là đau đớn cho ông nhà thơ nọ vì nếu là ngày 2 thì không thể vần với chữ ta ở câu sau. Thành thử đành phải vất vào sọt rác cái chữ “hay”.

Rồi, tôi còn được biết rằng, Bác viết trong Di chúc là cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa; nhưng Đảng ta đã quyết định xóa bỏ “20 năm”(!)
Tất cả đều nhằm mục đích… thống nhất?

Đến đây thì hẳn là ông trung tướng đã buộc phải đồng ý với tôi rằng, khi người ta có thể sửa cả di chúc, tức là, hoàn toàn có thể dối lừa mọi chuyện?

Bước khởi đầu của dối trá (tạm tính là khởi đầu) tai họa đó, cứ nghĩ là do… chiến tranh, không làm rối loạn lòng dân, nên nghe đôi khi, cũng xuôi xuôi. Bây giờ, tra trốc, mốc trọ rồi tôi lại còn nghe thêm lý ‘trấu’ là do thống nhất, từ ông, thì quả là hết thuốc chữa.

Các ông cứ nghĩ dối trá ‘cho vui’, dân ngu khu đen chẳng biết, chẳng dám nói gì thì quả đúng là khủng khiếp…

Viết bài này, mong các ông đọc và bớt dối trá đi cho người dân đỡ khổ, đỡ đau. Đừng đưa “quy định” ra để lấp liếm: Tôi từng biết có người cấp bậc đại úy làm trưởng phòng CSGT trong khi cấp trung tá là phó phòng (nghe đâu bây giờ sắp thay đổi).

Xin lưu ý các ông là lần diễu binh sau (kỷ niệm 80 năm, nếu có) đừng cho bất kỳ cô bé mặt búng ra sữa nào đeo lon trung tá, bởi như thế là làm tái phát vết thương chiến tranh của hàng triệu cựu chiến binh đang buộc phải lặng im dù bị sỉ vả đắng cay!…

Huế, 3.9.2015


Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 231
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Sat Oct 29, 2016 9:00 pm

 

Chúng tôi bị cộng sản tuyên truyền những điều tệ hại về Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Paulus Lê Sơn (Danlambao) - Giới trẻ chúng tôi thật bất hạnh vì những trang sử đen tối và dối trá mà cộng sản Hà Nội bịa đặt viết nên để nhồi nhét và làm tha hóa tư tưởng tâm hồn của cả một thế hệ, không, có lẽ là vài thế hệ. Nhưng khi sự thật lịch sử được phơi bày thì chính những gian dối đó sẽ là phát súng lục bắn vào chính họ.

Cộng sản tuyên truyền dối trá về tất cả mọi lĩnh vực nhằm mục đích ngu hóa và dẫn đưa con người ta tới sự nghi kị, thù hằn và sai lầm trong ngu muội để dễ bề cai trị và đánh tráo các giá trị tốt đẹp phổ quát của con người.

Trong đó có những nhân vật lịch sử, những con người mà cộng sản cho là đối chọi với họ. Tôi muốn nói đến hình ảnh của Cụ Tổng Thống Ngô Đình Diệm đệ nhất Việt Nam Công Hòa.

Cộng sản đã bịa đặt, tuyên truyền nhồi sọ vào đầu chúng tôi những gì về TT Ngô Đình Diệm?

Tháng 04.2011, tôi bị bắt vào công an Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, một người tự xưng là kiểm sát viên gặp tôi để hỏi cung, sau đó ông ta nói: “Thằng Diệm đã lê máy chém khắp miền Nam để giết người”.

Trong chiêu bài tuyên truyền của cộng sản có những khái niệm bị đánh tráo. Họ viên vào Luật 10-59 để xuyên tạc và bóp méo nhằm quy chụp cho TT Diệm và Việt Nam Cộng Hòa.

Trong khi đó, không tìm thấy tài liệu lưu trữ văn khố nào của chính thể Việt Nam Cộng Hòa lẫn của cộng sản Hà Nội đề cập về việc áp dụng án tử hình từ luật 10-59 để chém được bao nhiêu người bị tòa án kết tội “Trừng phạt sự phá hoại, sự xâm phạm an ninh quốc gia, sự xâm phạm sanh mạng hay tài sản của nhân dân và thiết lập tòa án quân sự đặc biệt”.

Trong “luật 10-59” cũng không có điều khoản nào buộc dùng máy chém cho án tử hình. Hình ảnh lưu trữ về nội dung của “luật 10-59” cho thấy không đề cập đến chuyện “trả thù những người kháng chiến cũ” như lâu nay vẫn được tuyên truyền từ phía Hà Nội. Ngoài ra, “luật 10-59” cũng không thấy mô tả về hành vi phạm tội nào giúp có thể liên tưởng đến chuyện “tạm đình chiến 2 năm, chờ ngày tổng tuyển cử hai miền”, như sách giáo khoa của Hà Nội dựng nên khi cáo buộc chính quyền Ngô Đình Diệm đã vi phạm đình chiến, “lê máy chém” để trả thù “những người kháng chiến cũ”.

Tại sao một chuyện tày trời như vậy mà cho đến ngày nay cũng chưa thấy cộng sản công bố giải mật bất kỳ tài liệu nào, kể cả văn thư lưu trữ cho biết những ai đã bị thi hành án tử bằng máy chém? Ngoại trừ một nhân vật duy nhất được sách giáo khoa mô tả là ông cán bộ cộng sản nằm vùng Hoàng Lê Kha, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh.

Cộng sản nói: “Quân Mỹ và Diệm ăn thịt người”? Ấy thế nhưng, tôi lại được nghe những nhân chứng sống kể lại rằng: “Người Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng Hòa họ ‘ác lắm’ nên họ rất chăm lo tới đời sống của người dân, trẻ em đến trường được uống sữa, ăn bánh mì, được học hành tử tế, được hưởng nhiều chính sách an sinh xã hội tốt đẹp”.

Ngày nay, nhờ Facebook chúng ta thấy nhiều hình ảnh người lính Mỹ QL VNCH vui đùa bồng bế trẻ con, chăm sóc người già, họ xả thân cứu người bị bom rơi đạn lạc của quân đội Bắc Việt.

Cộng sản tuyên truyền: “Diệm chỉ là con chốt thí và là tay sai của Mỹ”. Thế nhưng, trên thực tế Cụ Diệm là một người chống Pháp và cũng chẳng tin Mỹ.

Theo lời ông Bùi Kiến Thành, cộng sự thân cận của Tổng thống Ngô Đình Diệm thì đến năm 1962, Tổng thống Ngô Đình Diệm không muốn Mỹ đưa quân vào Việt Nam mà muốn đàm phán với chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chính vì điều này mà người Mỹ đã chỉ đạo các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa khởi động cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Ngô Đình Diệm.

“Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962, ông Diệm nói với người Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4.000 năm lịch sử không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân dân ủng hộ. Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể nào thắng được và chúng tôi (Việt Nam Cộng Hòa) cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể chấp nhận được”.

Với cộng sản nói người nào xấu xa là người đó có phước và tốt lành, nếu người nào được cộng sản khen ngợi, nịnh đầm thì thật là vô phước.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã được dân tộc Việt Nam chọn và Cụ cũng đã chọn dân tộc Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử. Lịch sử cần phải được sáng tỏ và trả lại sự thật, danh dự cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Paulus Lê Sơn
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo   Today at 7:14 pm

Về Đầu Trang Go down
 
Bản chất CS - Làm thì làm bậy, nói thì nói láo
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Nhận Định, Phản Biện-
Chuyển đến