Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
mien tien nhung quan nguoi Ngày nghe viet cuoc Thầy rang nghia thanh sinh phung cong trai pham HUNG thang thuy huyen lang nguyen ngoc PHAT
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Quê nhà, khi nhìn lại

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
bhtran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Quê nhà, khi nhìn lại   Tue Aug 13, 2013 12:25 pm


Quê nhà, khi nhìn lại

bởi Bích Huyền

Quê hương là những điều nhỏ nhặt, giản dị trong đời sống hàng ngày khi xưa, nay trở thành những kỷ niệm trân quý nhất trong đời sống tha hương...






Ngồi viết lại cảm xúc của mình về những ngày tháng cũ khi có dịp trở về ngôi nhà xưa... Mà lạ thay, trái tim của một người đã toan về già như tôi vẫn còn đầy những cảm xúc nóng hổi của thời ấy khi nhớ lại...

Khi xe dừng lại bỏ tôi đứng tần ngần trước dãy cư xá ngày cũ của gia đình mình, trái tim tôi như đập nhịp thảng thốt rối bời. Cái cầu thang lên dãy lầu trên cư xá với tay vịn tròn bóng lại là chỗ cầu tuột cho tôi mỗi khi di chuyển lên xuống. Tôi sờ lại cái tay vịn nhẵn bóng này như thấy lại hình ảnh con bé sún răng là tôi ngày đó…

Lên cầu thang rẽ phải, tôi hồi hộp để nhìn lại ngôi nhà của mình nằm gần cuối dãy phố. Đứng ở hành lang ngó qua bên kia đường cách một công viên là ngôi nhà thờ chính toà, có cái gác chuông bằng hình tượng điêu khắc thật nghệ thuật... Như vẫn nghe đâu đây tiếng chuông đổ giục giã của buổi lễ chiều năm cũ...

“Ngày ấy đã xa
Tôi còn nghe ngân vang trong trí tưởng
Tiếng chuông của ngôi giáo đường
Rót đầy thinh không…”

Khi gõ cửa xin phép người trong nhà được vào thăm hỏi, tôi được biết ngôi nhà cũ của tôi bây giờ phân cho nhà tập thể trú ngụ, mỗi gia đình đều có một khoảng không gian riêng của họ trong từng phòng ở trong căn nhà, nên họ cũng chỉ chăm chút sửa sang lại cho riêng tổ ấm của mình thôi, vì thế quang cảnh chung của ngôi nhà không gì thay đổi.

Từ bức tường nhà còn lỗ chỗ vết đóng đinh treo ảnh hồi xưa của gia đình, đến cái lan can cũ kỹ mất vài thanh song chắn, khung cửa sổ hình chiếc thuyền dong buồm, cánh cửa cái xiêu vẹo, nền gạch bông vàng trắng... Khi đưa tay sờ lại song sắt cửa sổ của ngôi nhà cũ thời thơ ấu, tai tôi vẫn như còn nghe tiếng réo gọi của đám bạn hàng xóm rủ ra ngoài chơi, nhưng đành bất lực đưa mắt thèm thuồng vì tôi đang bị nhốt ở nhà, bởi mạ khóa trái cửa lại đi chợ... Hành lang nhỏ hẹp của dãy cư xá là sân chơi của chúng tôi. Đám trẻ nhỏ của chúng tôi rượt đuổi, hò hét bày trò chơi u, đánh đũa, nhảy lò cò, chơi trò đóng tuồng hát cải lương, đóng kịch... Trí tưởng tượng của trẻ thơ thật là phong phú.

Tuổi thơ của chúng tôi thời ấy không hề biết tị hiềm và cạnh tranh. Chúng tôi vui chơi với nhau trong tình bạn bè lối xóm thân thiết, bất kể hoàn cảnh gia đình của nhau. Dù nhà tôi thuộc dạng nghèo nhất cư xá công chức đường Phạm Hồng Thái bấy giờ...

Bao nhiêu năm không có dịp trở lại quê nhà cũ... giờ trở lại đứng ngẩn ngơ trước ngôi nhà xưa mà nhìn chung không hề thay đổi. Chỉ đứng một chỗ tần ngần trước ngôi nhà cũ, mà tôi như thấy lại quá nhiều điều tưởng như chìm khuất. Quá khứ của mười mấy năm sống ở đó lần lượt trôi chầm chậm qua trí nhớ.

“Ai quên được những ngày xa xưa đó
Nơi ngày xanh nảy nở như hoa
Muôn đời mãi mãi thiết tha
Êm đềm kỷ niệm còn ghi không mờ”

Tôi như thấy lại dáng ba tôi mỗi sáng còm cõi bên ly cafe đọc báo trước khi đi làm. Thấy anh chị em chúng tôi quây quần trước nồi cơm đậu với cục đường thẻ mạ chia phần để ăn sáng trước khi đi học... Thấy ngôi trường Trung học có tên là Phụng Sự, có tôi bé loắt choắt trong chiếc áo dài trắng dài thậm thượt… Thấy lại mạ tôi sáng nào cũng mặc áo dài xách giỏ đi bộ ra chợ, khi trở về ngồi trên chuyến xe lôi với cái giỏ nhiều rau ít thịt cá. Nhớ mỗi sáng thức dậy sớm đi lễ mà vừa đi vừa ngủ gục bị mạ cốc đầu thật đau…

Trở về Sài Gòn, tôi gặp lại ông bạn cũ ngày xưa thời niên thiếu. Bây giờ chúng tôi, đều vượt ngưỡng cửa tri thiên mệnh, mái tóc chớm bạc, gặp nhau kể lể trong tiếng cười mà mắt lại long lanh… nhắc hai tiếng “hồi đó” mà sao êm đềm nghe giống như lời má kể chuyện đời xưa…

Quê nhà… Bạn bè thời thơ ấu và những kỷ niệm tuổi thơ mãi mãi là một hình ảnh cô đọng lấp lánh thật tinh khôi trong trí nhớ còn lại của tôi bây giờ…

* Trở về mái nhà
Như tìm về kỷ niệm tháng năm xưa
thời thơ ấu
Dưới bầu trời tháng sáu
Lối cỏ rêu phong còn in dấu gót chân son
(Trần Thị Lai Hồng)

http://www.voatiengviet.com/audio/audio/71170.html
• Chương trình này Bích Huyền biên soạn theo bài viết của Vũ Trà My trong trang Văn của art2all.net
• Những bài hát trong chương trình:
Tuổi Thơ của Lê Thương (Ánh Tuyết hát)
Quê Hương Tuổi Thơ Tôi của Từ Huy (Thu Phương hát)
Cho Tôi Lại Từ Đầu của Trần Quang Lộc (tác giả hát). Bài hát này Bích Huyền trích từ trang Nhạc của Nhóm Nghệ sĩ Chân Trần trên www.art2all.net.





Vũ Trà My

Sinh quán tỉnh An Giang. Quê gốc ở Huế. Định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1990. Tốt nghiệp AIS - San Jose State University. Hiện nay là chủ biên tờ báo online. www.yahoovanhoaviet.com.

Trước 1975 viết cho Tuổi Ngọc và trang thiếu nhi của báo Chính Luận. Có bài viết ở Hợp Lưu và Văn ở Hải ngoại, cùng các trang văn học của các website, ký với nhiều bút hiệu khác.

voatiengviet.com
.
Về Đầu Trang Go down
tnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Lối cũ chẳng sao quên   Tue Aug 20, 2013 2:36 pm


Lối cũ chẳng sao quên

Bích Huyền




"Ðường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn thương lòng..."
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay -
Ðoàn Chuẩn-Từ Linh)

Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời. K1, K2, K3, K4... những chữ số ký hiệu kinh hoàng. của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi... mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. Cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi...

Những khẩu hiệu: "Chào mừng thành công Ðại Hội Ðảng 5" "Ðảng Cộng sản Việt Nam, Người lãnh đạo Tài Tình", "Ðảng Cộng sản Việt Nam muôn năm..." lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ mang tính "Pháp lệnh" bằng những lời thô tục "Cấm ỉa đái". Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.

Ở cái ga xép èo uộc gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải hoa Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ... Che che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn công an kinh tế. Chính sách của Ðảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.

Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Tân Lập bằng đường sông nữa. Ðạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang qua những thửa ruộng khô cằn của vùng đất miền trung du. Cái hình ảnh "quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì..." của một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán. "Vườn không nhà trống tàn hoang" còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắc điêu tàn?

Ðảng Cộng sản Việt Nam, đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi! mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to như những chiếc thùng rỗng! Ðảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Ðảng, bấy nhiêu năm Ðảng phá nát tan? Ðể những người dân quê hiền hoà cởi mở trở nên ngu ngơ câm lặng đến thế kia sao?

Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu... tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọ miếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng hót. Như một vùng đất chết.

Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước. Ðể rồi khi biết mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô tù chiến khu về, rầm rập bước chân.

Trong thời gian, "Hồi chuông ngân nga trong chiều thu ngập gió... Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời." Ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ: "Phải chi ngày ấy các anh không đi theo phong trào Thanh Niên Cứu Quốc thì nay em đâu phải đi bốc mộ chồng ở một nơi đèo heo hút gió này!" Ba người anh im lặng. Họ như muốn quên đi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Ðánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước. Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ độ với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội đã bừng lên một sức sống mới.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Ðảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũ nhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa chủ, cường hào, ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động. Thất vọng, đớn đau nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ... Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một công viên mang tên Thống Nhất. Ðến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.

Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch mới lạ của miền Nam. Vì nơi đây được tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị Cộng sản tù đầy, hành hạ.

Các anh tôi, vài năm đầu "Sài Gòn giải phóng" vì đường lối của Ðảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm "giác ngộ" để hoà nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. "Ðảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng." Ðó là lần một anh nói với tôi: "Người em không yêu làm em khổ, em đâu có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đời mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối..." Một anh khác: "Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ có rút ra cũng bị vỡ tan. Thôi em ạ, không còn còn đường nào khác!"

Trên con đê này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh em đi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.

Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu là thửa ruộng. Vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.

Lần nầy trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường. Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban Chỉ Huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn leo lét. Cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên. Nhưng cũng bị từ chối. Ðang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không, thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại:"Các bác tìm nhà ai thế?" Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.

Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ông đang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.

Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh như một chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê "Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung..." chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.

Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Ðêm yên lặng. Ðêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.

Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích: "Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người). Tù chính trị chuyển đi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam Ninh. Ða số vào Nam.

Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi: "Ðược biết cô về đây bốc mộ cho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây."

Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tốn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có một số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.

Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Ðể khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôn tìm người quen chuyên việc cải táng.

Gian phòng khác rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Ðức Mẹ trên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước , cả nhà xúm nhau cày cấy mới có gạo ăn.

Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy... Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.

Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ở miền núi không phải là chuyện dễ dàng.

Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Ðĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau "tập tàng" - đủ mọi loại rau hái ngoài vườn - mát ngọt. Tôi không ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một thượng khách ở nơi đây. Thế mới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn tìm thấy một tấm lòng.

Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ Chỉ Huy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không phải Thiếu Tá Nguyễn Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người nước ngoài, cách đây không lâu, về đây bốc mộ bố. Cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.

Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoản lại nhìn vào mấy bao thuốc là "555" anh tôi mang đến làm quà. "Ba con năm vừa nằm vừa ký", cho nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.

Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.

Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Công muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ "ngụy quân ngụy quyền". Nhưng tiếc tay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.

Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế hoạch công tác hàng tháng, tuần... Hình ảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Ðây là nơi làm việc của toán công an canh gác.

Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bản đồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?

Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.

Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thế nào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tù đẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ đi vì rêu phủ.

Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Ðêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ. Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiến những chú dế bé xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.

Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua dùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, tàn cong vòng... khói nhang thơm toả ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất, lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻng đều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi nhu vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.

Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão thành có trấn an: "Ðất núi miền khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!"

Thế cho nên khi những nhát búa đầu tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứ giật thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan...

Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bàn bè đã dồn tất cả cho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta... tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện "học tập cải tạo".

Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng: "Ðã trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào." Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời như nổi gió. Cỏ cây chao đảo. Ðồi núi quay cuồng. Quanh tôi cảnh vật mờ đi...

Lâu lắm, khi tôi tỉnh dậy, đống tro tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái xanh to bằng gang dùng thổi cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôi đã đổ bột nhang thơm với rượu trắng để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông...

Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng...



.
Về Đầu Trang Go down
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Tue Jul 01, 2014 2:30 am


NHỮNG MẢNH QUÊ NHÀ

             
Gửi Frank và các con: Khôi, Hưng, Khả Tú





- Cô ạ, con phải nộp bốn trăm đô để lãnh chồng con ra.
- Trời, sao mà nhiều thế! Họ giữ chồng con mấy ngày?
- Thưa, chỉ có hai ngày.
- Thế những người không có đủ tiền nộp cho họ thì sao?
Người cháu cười nhẹ:
- Họ biết ai có tiền, ai không cô ạ. Chúng con nghèo, nhưng họ biết mình có thân nhân ở nước ngoài. Họ biết con sẽ đi vay mượn, rồi gia đình bên đó gửi về trả sau. Với người không kiếm được đâu ra tiền, họ trả về ngay, chứ ai hơi đâu giữ cái xác nghèo cho tốn chỗ.

Đấy là câu chuyện đầu tiên, khi người cô từ phi trường Tân Sơn Nhất bước vào nhà người cháu.

 Một tuần trước ngày người cô từ Mỹ về thăm Việt Nam được tin người cháu rể bị tử nạn xe gắn máy, người cháu đi một mình, nên lúc chết không có thân nhân bên cạnh. Người quen trong xóm đi qua, đắp cho anh chiếc chiếu, rồi chạy về xóm báo cho vợ con. Nhưng công an đã đến trước, đem xác về đồn. Thân nhân muốn lãnh ra, thì phải nộp tiền giữ xác. Một số tiền bằng lợi tức của người chết kiếm được trong bốn tháng. (Việc làm của người cháu là thổi kèn cho các đám tang, mỗi tháng vừa tiền lương vừa tiền thưởng, kiếm được từ chín mươi đến một trăm đô la).

Khi nhận được tin dữ, người cô cứ ngỡ rằng mình về đến Việt Nam sẽ thấy mấy mẹ con người cháu khóc lóc, ôm chầm lấy mình. Nhưng người cô chỉ gặp một người đàn bà trẻ, khuôn mặt đông cứng lại, thấy cô mình khóc, thì quay mặt đi một lúc, rồi quay lại phụ với cô mang hành lý ra xe. Bây giờ, người cô ngồi nghe người đàn bà góa trẻ, kể chuyện về cái chết và kể chuyện đám tang cho chồng. Kể bằng một giọng bình thản như kể chuyện đám tang của nhà hàng xóm.Và vẫn với khuôn mặt đông cứng đó, người cháu thỉnh thoảng lại phải quay đi nơi khác, để tránh nhìn vào đôi mắt ướt sũng của người cô. Người chồng lúc chết không được sửa soạn trước, chắc chẳng thể ngờ rằng vợ con mình lại phải nộp cho Công An địa phương một số tiền lớn như thế, để lãnh xác mình về. Nếu biết, thì nỗi sợ chết của anh sẽ lớn đến thế nào! Người ta đã chôn xuống đất cả nhạc công, lẫn nhạc cụ.

 Trong mười ngày gia đình người cô ở Saigòn, người cháu vẫn chạy đi, chạy lại từ khách sạn trên phố về nhà cháu ở Tân Thái Sơn. Cháu vẫn nhanh nhẹn, tháo vát, nói luôn miệng. Nhưng thỉnh thoảng, cô bắt gặp cháu ngồi thừ người ra, hai mắt đỏ hoe. Gặp ánh nhìn của cô, thì khuôn mặt cháu đông cứng ngay lại, quay đi chỗ khác. Lòng cô quặn thắt.

Người mẹ nói nhỏ:
- Cẩn thận chân con.

Cô gái nhìn xuống. Xém chút nữa thì cô giẫm phải cái lò than hồng nhỏ, bên cạnh cột đèn. Gọi là cái lò nhưng thực sự chì có mấy cục than đốt, đựng trong một cái chậu thau nhôm nhỏ, trên để một cái vỉ có hai trái ngô đang nướng, mùi ngô non thơm lừng. Hà Nội buổi tối thật là nhộn nhịp. Cô đang cùng mẹ đi ở phố Lý quốc Sư ngắm cửa hàng hai bên hè. Những quán ăn nhỏ, xếp bàn ghế ngay ra đường, những chiếc bàn thấp và những chiếc ghế rất nhỏ. Cha cô đang ngồi vào một trong những chiếc ghế đó ở góc phố, uống bia và nói chuyện với những thanh niên Hà Nội. Họ nói được rất ít tiếng Anh và cha cô thì mới bắt đầu nói tiếng Việt từ khi đến Hà Nội. Mẹ cô bảo: “Cha con nói tiếng Việt nghe như tiếng Ấn Độ, mẹ chẳng hiểu gì cả”.

Nhưng hình như những người thanh niên đó và cha cô, họ hiểu nhau. Trông họ vui vẻ và thân thiện nhau lắm. Họ mời cha cô ăn một miếng “chả Rươi”, đó là món trứng chiên trộn lẫn với những con sâu ngũ sắc, vớt lên từ ruộng, chỗ nước ngọt và nước mặn ráp nhau. Mẹ cắt nghĩa cho cô nghe như thế và nói thêm: Món này muốn cho thật ngon bao giờ cũng phải cho một ít vỏ quít thái nhỏ vào .




Gia đình cô đến Hà Nội được ba hôm rồi. Hôm mới từ khách sạn bước ra phố, cha cô thấy là cần phải mua một cái nón. Ông lựa mãi mới mua được chiếc nón vải có mầu xanh lá cây đậm. Mẹ bảo: “Đó là nón cối của bộ đội”. Mẹ không cho cha lấy cái nón có gắn hình ông sao mầu vàng, mẹ còn dặn thêm: “Anh sẽ không dùng được cái nón này, khi anh về Mỹ”. Trong những ngày ở Hà Nội, cha đi ra ngoài luôn luôn đội cái nón cối đó. Có những người đàn ông trong thành phố, mặc đồng phục, và đội nón cối đi làm việc. Khi thấy cha cô cũng có một cái nón giống họ, họ tươi cười hỏi:
- Cháu bác Hồ đi đâu đó?

Cha cô vẫy tay chào lại họ.
Cha cô hồn nhiên, tưởng là đi đến đâu mà đội chiếc nón đó, cũng sẽ được chào hỏi, hay ít nhất cũng không làm phiền ai.

Khi vào miền Nam, ở Sài Gòn, cha cô cũng vẫn đội chiếc nón đó vào một tiệm ăn, thì có một người đàn ông bước đến nói với cha cô rằng: “Ở đây chúng tôi không cần thêm một VC nữa.” Cha cô, từ hôm đó, mua một chiếc nón khác đội.

Cả cô và cha cô, đây là lần đầu tiên đặt chân đến Việt Nam. Mẹ cô là người đàn bà Việt Nam đầu tiên cha cô gặp trên đất Mỹ và kết hôn, còn cô thì được sanh ra ở Los Angeles, năm nay cô mươi mốt tuổi. Đối với cha con cô, quê hương của mẹ cô có nhiều điều cần học hỏi và khám phá. Mặc dù trước khi về thăm Việt Nam, cha cô đã ra thư viện mượn một chồng sách viết về Việt Nam để tìm hiểu về địa lý cũng như cách ứng xử, nhưng quả thật câu chuyện về Cái Nón Cối trên thì không có sách nào chỉ dẫn. Ngay cả mẹ cô là người Việt, cũng không ngờ được hai phản ứng trái ngược nhau hoàn toàn cho một cái nón trên cùng một xứ sở.

Hà Nội đối với cô là một thành phố đẹp, cái đẹp hiền lành cổ kính cộng thêm một chút chênh vênh, cái mới có tham dự nhưng vẫn rụt rè. Ở thành phố này, cô tìm thấy cái nghèo khó, giản dị của những người gánh hàng bán rong, những con đường hẹp và những cống rãnh không lối thoát, những ngôi nhà mới cất có chiều ngang rất hạn chế, nhưng chiều cao thì mặc sức. Chúng cũng đuợc trang trí và sơn phết nhái theo kiến trúc của Âu Mỹ, và chúng thản nhiên đứng sát cạnh những ngôi nhà ọp ẹp, cũ kỹ. Mẹ cô bảo những ngôi nhà cũ kỹ này hình như họ quên mở cửa từ ngày mẹ cô rời Hà Nội (có nghĩa là một ngày rất lâu như cổ tích vậy). Cô đi theo mẹ qua những con phố bao giờ cũng bắt đầu bằng chữ “Hàng”: Hàng Trống , Hàng Gai, Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bông, Hàng Đường v.v. Mẹ bảo ở thời xa xưa, người ta chỉ cần đọc tên phố là biết ở đó bán gì. Nhưng ngày nay họ cứ bầy ra tất cả những gì họ có thể bán được, ngay trước cửa hiệu của những con đường đó. Phần đông là bán cho du khách và Việt kiều.

Gia đình cô ở khách sạn Phúc Lợi, ngay cạnh Nhà Thờ Lớn Hà Nội, mỗi buổi sáng, chuông nhà thờ đổ báo hiệu lễ năm giờ sáng. Cô còn ngủ, nhưng cả cha mẹ cô đều dậy đi bộ sang xem lễ. Khi xem lễ xong, cha cô ghé ngồi xuống chiếc ghế thấp ở ngay góc đường, uống nước trà và mua bánh mì trứng ốp la của bà cụ bán hàng. Mới có mấy hôm mà họ đã thành bạn, mặc dù cô biết chẳng ai hiểu ai nói gì cả. Một hôm mẹ ghé mua bánh thay cha, mẹ hỏi cụ bao nhiêu tiền, thay vì nói giá thì cụ lại trả lời:
- Bác trai vẫn trả cho tôi mười ngàn.

Mẹ cô cứ khen mãi về cách nói của người Hà Nội. (Vì mẹ biết cụ bán cho những người ở đó chỉ có bốn ngàn)

Cha cô muốn thuê một chiếc xe đạp để đi một vòng, mẹ sợ lắm nhưng cản không được đành phải để cho cha đi. Mẹ đưa cho cha một ít tiền Việt và cái địa chỉ của khách sạn. Cha đạp xe ra tận cầu Long Biên, chụp ảnh những người buôn bán bằng thuyền trên sông. Cha kể, mỗi lần muốn chụp ảnh, mấy bà bán hàng xòe đủ năm ngón tay đưa lên, cha phải trả đủ năm ngàn mới được chụp. Khi gần hết tiền, cha đưa ba ngón tay lên mặc cả, mấy bà lắc đầu lia lịa. Sau biết là cha thực sự hết tiền mấy bà mới chịu xuống giá. Mẹ cô cười mãi về tài trả giá của cha. Sau đó cứ mỗi lần định mua món gì, mẹ bảo gọi cha ra mặc cả.

Gia đình cô đi thăm họ hàng bên nội của mẹ, ở cách Hà nội cả trăm cây số. Đó là một ngôi làng nhỏ ở sát sông Hồng, thuộc tỉnh Yên Bái. (Mẹ bảo quê nội chính của mẹ ở Nam Định, nhưng bây giờ họ hàng lập nghiệp ở đây, nên mình về đây thăm, lần khác mẹ sẽ cho đi Nam Định). Gặp ai mẹ cũng khóc và cô thì thấy mọi nguời chung quanh khóc cũng mủi lòng khóc theo. Những đứa bé ở trong họ vây chung quanh cô. Chúng vuốt những sợi lông măng mầu vàng trên cánh tay cô, xem có thật hay không. Cô cao lớn, chúng thì bé nhỏ, gầy guộc. Những người cô phải gọi bằng anh chị cũng bé nhỏ hơn cô, mặc dù cô đoán có người nhiều tuổi hơn, làm cho cô thấy ngượng ngập vì cái chiều cao của mình. Những đứa bé dắt cô ra vườn sau xem con sông phù sa đỏ quạch và những vuờn rau cải xanh ngắt của gia đình, họ trồng ngay sát bãi phù sa. Những bụi tre, bụi chuối, khóm mía, cây bưởi, cây đu đủ, chuồng gà, chuồng lợn, chuồng chim bồ câu. Tất cả đều mang một vẻ đẹp mà cô chưa được nhìn ngắm bao giờ. Cha cô nói:
 - Họ có nhiều thứ quá ! Kể cả nhà trên mặt nước (Waterfront House). Sống như thế này sao bảo rằng thiếu thốn được.

Mẹ chậm rãi nói:
- Anh nghĩ lại đi, mùa đông ở Lào Cay, Yên Bái rất lạnh, khi không trồng được rau để ăn và đem ra chợ bán, thì sống bằng gì? Lương hưu trí của anh Chính có hai trăm ngàn một tháng (14.000 = 10 đô la) còn cái mà anh gọi là “Waterfront House” thì chỉ là mối lo cho mùa nước lớn.

 Có một hình ảnh cô cho là rất ngộ nghĩnh khi thấy cha cô ngồi ăn cơm giữa những ông bà bác của cô, họ thay nhau tiếp thức ăn vào bát của cha, cha cứ phải nhìn mẹ, vì không thể nào ăn hết được. Khi ăn cơm xong, họ dắt cha ra sân trước, ở đó đã có sẵn một chậu nước, nhưng ai đó lại chạy vào trong bếp mang ra một ấm nước sôi để pha vào, cha cô xua tay rối rít. Để cho mọi người hiểu mình là người giản dị, cha cô chạy thẳng ra giếng, tự bơm nước lên rửa mặt, nước ở giếng bơm lên có mầu hồng, để một lúc phù sa đóng dưới đáy chậu một lớp khá dầy.

Lúc ở Mỹ bắt đầu ra đi, mẹ cô chỉ sợ cha con cô đòi về nửa đường. Bây giờ thì cả cô và cha đã bàn với nhau về ngày trở lại Việt Nam lần tới. Quê hương của mẹ đẹp quá!



 Tôi đứng ở đầu mũi tầu, gió thổi ngược, tầu trôi vào giữa vịnh Hạ Long với trên hai ngàn hòn đảo nhỏ, sáng nay đứng im trong màn sương, trông như những người thợ lặn vừa nhô lên từ dưới nước, đang hoang mang định hướng giữa những vòng sóng vây quanh. Tầu trôi chầm chậm, mặt trời chưa mọc, trong màn sương dầy đặc đó có những chiếc thuyền thúng, thuyền tam bản đang rẽ nước đi ra từ sau những hòn đảo nhỏ, để tiến về phía tầu lớn của du khách. Tất cả gom lại thành một bức tranh thủy mặc được phóng lớn, một bức tranh được vẽ bằng cây cọ của thợ trời.

Mỗi chiếc thuyền tam bản tiến về phía tầu, trên đó bao giờ cũng có ba người. Một người đàn ông, điều khiển cho thuyền chạy bằng một cái máy đuôi tôm, một người đàn bà bán hàng và một đứa nhỏ. Có thuyền bán trái cây, nước ngọt, thuốc lá và bánh kẹo; có thuyền bán hải sản, những con cá, tôm, cua, ếch, lươn, v.v. còn sống bơi lội trong những cái thau nhựa xanh đỏ. Thuyền thúng nhỏ hơn nên nhiều khi chỉ bán có cần câu và mồi câu cho du khách. Khi thuyền cập sát vào tầu, người đàn bà đứng lên, quăng một cái giây vào một then ngang nào đó của thân tầu và rút lại một cái nút rất khéo léo, rồi thuyền nhỏ tự nó được kéo đi theo thuyền lớn. Du khách trên tầu có thể cúi xuống mua tôm, cá tươi đem lên tầu nhờ nhà bếp luộc, ăn luôn tại chỗ hay mua một nải chuối vừa chín tới, một túi mía, một gói hạt dẻ rang, để vừa nhâm nhi vừa ngắm tầu từ từ đi vào bức tranh thủy mặc.

Khi du khách còn đang sững sờ với vẻ đẹp của nước, của trời, thì đúng lúc một đứa bé độ năm hay sáu tuổi từ phía sau của chiếc thuyền đi ra, nó gầy gò, lem luốc, nó đứng chênh vênh ở mũi thuyền mà không hề sợ ngã, hình như nó đang rao bán một món hàng. Nhưng không phải, nó đang làm công việc của một đứa bé ăn mày:
- Ông bà cho cháu xin tiền ăn quà!
- Ông bà cho cháu xin tiền ăn quà!

Lời nói lập đi lập lại như một cái máy được bấm nút. Có khi vừa nói, đứa bé vừa lơ đãng nhìn mấy hòn đảo hay cúi xuống nhìn mấy con tôm đang nhảy trong cái thau nhựa. Người đàn bà đang bán hàng giơ tay đập vào lưng nó mấy cái nhắc nhở, lúc đó nó lại ngửng đầu lên nhắc lại lời rao:
- Ông bà cho cháu xin tiền ăn quà!
- Ông bà cho cháu xin tiền ăn quà!

Bốn năm chiếc thuyền tranh nhau cập sát vào tầu của du khách. Trên chiếc thuyền nào cũng có một đứa bé, con trai hoặc con gái ở lứa tuổi lớp hai, lớp ba bước ra đứng ở mũi thuyền. Chúng gầy gò, mặt mũi còn ngơ ngáo, quần áo xộc xệch, đứng chênh vênh như một hòn đảo nhỏ.



Vịnh Hạ Long đẹp lắm! Đúng là một kỳ quan của thế giới. Cái đẹp không thể tả bằng lời, không thể chỉ xem bằng phim ảnh, mà phải đến tận nơi để thăm những hang động (Hang Thiên Đàng, Hang Đầu Gỗ, Hang Sửng Sốt ) để nhìn tận mắt quần đảo, để nghe tiếng gió trên vịnh vào buổi chiều, để ngắm sương mù trên vịnh lúc bình minh. Và nhất là để nghe tiếng van xin thản nhiên của những em nhỏ như những tiếng giao hàng.

Một mùi hương thơm ngát đưa từ khu vườn phía sau vào trong nhà. Những người khách mới đến hít hà hỏi chủ nhà:
- Mùi hoa gì mà ngào ngạt thế !
- Dạ, hoa cà phê, bà chủ nhà trả lời.
- Cho chúng tôi ra vườn được không ?
- Dạ, chủ nhà vừa đáp vừa đứng lên đưa khách ra vườn.

Nói là vườn thì chắc là không đúng, vì phía sau rộng đến sáu mẫu tây. Trước khi đi sâu vào trong những hàng cây, mọi người đi qua một chiếc sân trải xi măng khá rộng, trên sân là những hạt cà phê có mầu đỏ, xanh, tím, nâu đang phơi và bốc lên một mùi ngai ngái của những hạt cây bị ẩm, chưa khô hẳn. Những người khách vừa hắt hơi vừa hỏi chủ nhà:
- Nhỡ đang phơi thế này mà mưa ập xuống thì sao?
- Dạ chúng em chỉ nhìn trời mà chạy vội ra, thu vào được bao nhiêu thì thu, còn không phải đợi nắng quay lại.

Cả khách và chủ đi lẫn vào dưới những cây cà phê đang ra hoa trắng xóa. Không ai hỏi và không ai nói nữa. Hương hoa cà phê làm những tiếng động nhẹ cũng như ngừng hẳn lại, như chìm hẳn vào trong mùi hương. Ở đây êm ả quá! Những ngưới khách từ phương trời xa lắc đến, họ không còn nhớ được những xa lộ với sáu hoặc tám hàng xe cùng chạy một lượt, những cao ốc và những tiếng động rào rào như sóng biển. Họ cũng quên hết những câu chuyện kể về một đất nước chiến tranh, những quả pháo kích và thuốc khai quang, những đám cháy và những bãi mìn. Bom đạn, chết chóc hình như chưa bao giờ ghé qua đây. Có chiếc động cơ chạy của một chiếc máy gì đó. Từ trong lùm cây, một chiếc xe thồ cũ kỹ, được gắn bằng đầu máy của một chiếc xe Honda. Một thanh niên trạc hăm ba, hăm bốn tuổi đang lái về phía khách. Bà chủ nhà giới thiệu:

- Đây là cháu lớn của chúng tôi, cháu thôi học và làm rẫy cà phê từ lúc mười bốn tuổi. Hai năm nay cha cháu mất, cháu trở thành người lãnh trách nhiệm chính cho phần thu thập lợi tức cho cả gia đình.

Những người khách ngắm nhìn người thanh niên. Nước da anh sạm đen, tóc dầy, nụ cười tươi, trên mặt anh không có cái khắc khổ chịu đựng của một người vất vả. Anh nói cho khách nghe về những may rủi của từng vụ mùa, về số cà phê thu được và số cà phê loại bỏ. Khi cà phê được giá thì cả tỉnh Long Khánh của anh người nào cũng no đủ, mấy năm nay cà phê mất giá, cả tỉnh xơ xác, chợ cũng không có rau mà bán.

 Trong khi anh than vãn về sự thiếu hụt, nét mặt anh vẫn tươi. Khách nhìn vào hai bàn tay của anh, hai bàn tay nứt nẻ, thô nhám, đen đủi nhựa cà phê. Anh đang đưa tay ra hái một đóa hoa ngang mặt, bất giác khách liên tưởng đến những bàn tay của những thanh niên bằng tuồi anh ở bên kia biển, những bàn tay sạsh sẽ, hồng hào chỉ cầm bút và gõ gõ trên máy vi tính. Đóa hoa cà phê trắng muốt tỏa hương thơm nằm gọn trong bàn tay đen đúa của anh, trông như cánh của một con chim bồ câu nhỏ nằm trong một mảnh bom. Bàn tay anh có lẽ là vết tích duy nhất của chiến tranh để lại khi đi qua mảnh đất này.

 Chiến tranh thật sự đã đi qua đây, nó lấy mất tuổi thiếu niên của anh, nó lấy đi sách vở, bạn, trường. Nhưng may mắn nó còn để lại cho anh những bông hoa cà phê thơm ngát, trắng ngần.

tmt
http://tranmongtu.blogspot.com


Về Đầu Trang Go down
donguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Thu Jul 03, 2014 9:37 pm



Về Cần Thơ
 
Từ xa tôi về thăm lại Cần Thơ
Vào tháng Năm đúng mùa hoa phượng trổ
Ngôi trường cũ bây giờ sao lạ quá
Cần Thơ bây giờ không giống ngày xưa
 
Từ bến Ninh Kiều theo chuyến đò đưa
Con nuớc lớn về Cái Răng chợ nổi
Sông nước bao la gió lồng lộng thổi
Qua những địa danh quen thuộc một thời
 
Bao chiếc ghe buôn cây trái gọi mời
Xoài, ổi, mãng cầu, sầu riêng, vú sữa
Cồn Ấu, Cái Răng, Phong Điền, Bang Thạch
Rải rác ven bờ ruộng lúa vườn cây
 
Hôm nay không ngờ tôi cũng về đây
Con sông rộng chia thành bao nhánh nhỏ
Cứ thong thả ngồi trên xuồng ba lá
Mình đi về những làng mạc xa xa
 
Cây trái ruộng vườn màu mỡ phù sa
Hai bên bờ sông bóng dừa lơi lả
Vẫn không thiếu những căn nhà mái lá
Thật tội tình nằm nép cạnh bờ mương
 
Quê của ai mà tôi cứ luyến thương
Con ốc con cua cũng thành đặc sản
Dân quê nhịn thèm một đời vất vả
Sống cách nào khi vật giá leo thang?
 
Tôi đã về thăm chợ Nổi Cái Răng
Ngồi gần bên anh, ngồi gần bên chị
Chị mù loà đưa bàn tay sờ soạng
Nắm tay tôi khen mũm mĩm tròn vo
 
Nhớ lại ngày xưa lứa tuổi học trò
Có người  bảo tôi xinh mà... sổ sữa
Ôi kỷ niệm nay đã không còn nữa
Cần Thơ bây giờ... không phải ngày xưa
 
                                                               

Giã biệt Cần Thơ, giã biệt Cần Thơ!
 
Nguyên Nhung 2014
 
***
 
Link download PPS: Ve Can Tho tho Nguyen Nhung.pps


https://app.box.com/s/bx51nrcr5d4y6ncsr55y
.
Về Đầu Trang Go down
leminh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Sun Jul 20, 2014 8:01 pm


TRỜI ƠI! DUYÊN DÁNG VIỆT NAM!!!


Đây là bài phóng sự có lẽ của 1 việt kiều lấy tên Khuyết danh về thăm quê.



- Mấy người?
- Bốn, hai Việt Kiều với hai Việt Cộng!
Đó là câu đối đáp giữa nhóm người vừa bước vào tiệm phở với ông chủ tiệm. Cách ăn nói ở Việt bây giờ coi mòi tự nhiên và hình như họ không còn e dè gì nữa.
Về nước, mặc bộ đồ lao động, da được phơi nắng hai ba tuần nám đen cho giống người VN, tôi ung dung ngoắc chiếc xe ôm và oách như người Di cư 54:
- Đi Thủ Đức!
Gió chiều lồng lộng trên xa lộ Biên Hoà, tôi mỉm cười đắc chí, lẩm bẩm ca bài "Từ bắc vô nam tay cầm bó rau.... đay, còn tay kia... chúng ông dắt con cầy..."
Chạy ngang khoảng Cát Lái, chú xe ôm bắt chuyện: - Anh ở lước lào về?
Ô hay, sao lại "lước lào về" xế lày?
Tôi hỏi: - Anh tưởng tôi là Việt Kiều à? Tôi quê ở ngoài Hà Lam Linh đấy.
Anh nhất định tôi chẳng lừa được anh.
Có đời nào người trong "lước" mà lại ra đường đứng ngẩn ngơ ngó trời ngó đất, ngó cái bảng hiệu, ngó tùm cây bông giấy và ngó... con gái đi đường, y hệt đám bộ đội hồi mới vô nam năm 75!
Anh giải thích thêm: - Ra đường, cứ thấy ai băng qua lộ mà thập thò như con nít, nắm tay nhau hai ba người như dân quê lần đầu ra tỉnh, chắc trăm phần trăm họ là Việt Kiều đấy.
Hôm về quê, vợ chồng tôi ra chợ, cũng được chào đón một câu rất niềm nở:
- Mời anh chị Việt Kiều mua cho em ít rau.
Tôi ngạc nhiên, nhưng con em giải thích: - Ai đời vào chợ mà mặt mày ngơ ngáo, chợ quê có ai đi cả hai vợ chồng như thế, mà có đi chăng nữa cũng nguời đầu chợ kẻ cuối chợ lo mua đồ mà về cho sớm, chứ có đâu dẫn nhau đi vô hàng rau, nhìn quả khổ qua, ngó thúng cà pháo, ngó cả bó rau dền.
Nhớ lúc mới bước xuống phi trường, tôi mắc cười ngay cái bảng ghi hàng chữ "Tổ Lái", người đi bên cạnh hỏi nhỏ:
- Cười gì thế?
- Cái bảng ghi Tổ Lái.
- Kệ họ, đó là lối đi dành riêng cho tiếp viên và phi công, mình đi lối bên này.
Khi về tới đò Vàm Cống gần Long Xuyên, vợ tôi lại chúm chím cười với hàng chữ: Cụm Phà Vàm Cống.
Thằng em tôi thấy thế nói rằng: - Ăn thua gì, ở SG còn có một cơ quan đề là Cụm Cảng Hàng Không Phía nữa kìa.
Từ đường lộ vào nhà Má tôi còn hai cây số nữa, khi bước xuống đò, tôi thấy hàng chữ sơn trên một tấm tôn treo toòng teng: Đừng cột ghe xập nhà.
Em tôi lại phải giải thích là nhà làm de ra phía trên sông, nếu người ta cột ghe vào mấy cây chống sàn nhà, khi tàu lớn chạy ngang sẽ tạo ra sóng nhồi xóc chiếc ghe, thì nó sẽ giật tung lên và đổ nhà là cái chắc.
Bao nhiêu năm xa nhà, về lại thì cái gì cũng lạ và dễ tức cười, mà người ở nhà họ cũng cười cái lạ của mình. Tôi ra phố chợ, đặt tiệm da giầy một cái bao điện thoại theo ý mình, đeo vào, thằng bạn lắc đầu cười:
- Y như cái bao đựng đạn súng lục.
Mặc cái áo sơ mi kiểu Hawaii định ra phố, bà chị nói: - Trông cậu y như phường tuồng!
Tôi ở Garden City, KS. muốn về VN phải lên Wichita để đón máy bay, lái xe hơn ba tiếng đồng hồ. Khi đi, mùa hè oi ả, mặc chiếc quần ngắn cho nó mát, lên đến nơi, gặp bạn bè nói chuyện đến khuya, gần nửa đêm chuẩn bị áo quần để sáng mai ra phi trường sớm mà về VN, lục quần áo mới thấy "sự cố" là không có cái quần dài nào cả, vội vàng ra chợ Walmart kiếm cái quần vào lúc nửa đêm. Walmart bán đủ mọi cỡ áo quần, duy chỉ có size của tôi nó lại không bán, cuối cùng cũng lựa được một cái tạm hài lòng: lưng rộng hơn hai số, bù lại, chiều dài ngắn đi một số.
Hôm sau tôi mặc vào cảm thấy nó làm sao ấy, nhưng lỡ rồi, mặc đại, đi đường cứ lâu lâu lại phải ôm nó mà xốc lên vì dây lưng cũng quên tuốt ở nhà.
Về đến SG, bà chị tôi nhìn em thương hại quá, cứ xuýt xoa hoài, tội nghiệp nó ở Mỹ mà quần áo xốc xếch, xộc xệch!
Trời mùa hè VN nóng thật, con tôi không muốn đi giầy nên tôi dẫn nó ra chợ Thái Bình mua đôi dép Nhật, tôi định tập cho nó trả giá cho quen. Hỏi giá thì bà hàng nói 4,500 đồng, thằng bé ngơ ngác không hiểu nên tôi phải thông dịch từ tiếng Việt qua tiếng Việt:
- Giá bốn mươi lăm trăm đó con, trả giá đi.
Thằng bé nói: - Đâu cần trả đâu, được rồi, rẻ quá mà.
Những người chung quanh cười um lên, xúm lại coi thằng Việt Kiều con mua đồ.
Có bữa kia ngồi ở quán cóc đầu ngõ uống cà phê, đứa em thò cổ vô gọi: - Anh ra đây xem Việt Kiều Con bị đày.
Tôi ngạc nhiên không hiểu nó nói gì, ra xem thì thấy một bà già kè hai đứa nhỏ khoảng dưới sáu tuổi, ăn mặc có vẻ tươm tất lắm, không biết là đi nhà trẻ hay ra công viên chơi nhưng mặt tụi nó ỉu xìu.
Thì ra hai đứa bé đó có cha mẹ làm Nail ở Mỹ, không hiểu sao lại giao chúng về cho bà ngoại nuôi, cả xóm này gọi tụi nó là hai thằng Việt Kiều Con Bị Đày!

MỜI BẠN CÙNG TÔI KHÁM PHÁ SỰ ĐỔI MỚI CỦA VN TRONG 3 TUẦN THĂM QUÊ CỦA TÔI.

Xe Đò Nằm: Hồi này có một loại xe đò (xe khách) gọi là xe đò nằm. Đi xe này hành khách không ngồi ghế như xe đò thường, mà được nằm dài ra. Xe có ba dãy giường, mỗi dãy ba chiếc giường sắt và lại còn chồng lên một tầng nữa, vị chi là 24 cái giường.
Đây là loại giường hiện đại điều chỉnh được, tựa như giường ở trong bệnh viện.
Xe có điều hoà không khí và mở nhạc vàng nghe thoải mái. Mỗi người lên xe đều được phát một chiếc mền để đắp vì xe mở máy lạnh.
Hành khách mua vé qua điện thoại, tài xế sẽ bốc khách hẹn trước tại bất cứ khúc đường nào trên tuyến xe sẽ chạy qua.
Xe chạy khá đúng giờ, giá vé cũng tương đối hạp với túi tiền, thí dụ tuyến Rạch Giá-Vũng Tàu là 125,000 một lượt (chưa tới 8 đô la). Lơ xe rất điệu nghệ, phục vụ hành khách rất lịch sự và tận tình.
Hôm đó, nằm kế tôi là một cô nhìn dễ thương lắm, nhưng hai giường lại cách nhau đến nửa thước. Tôi ước ao lần sau họ ghép giường gần nhau hơn, để hành khách có thể nằm mà dòm nhau, âu cũng là cách rút ngắn thời gian trên đường dài.
Ai cũng biết xe đò VN có cái tật là hễ thấy khách đón xe thì không cần biết họ muốn đi tới đâu, anh lơ nhảy xuống kéo ào lên xe, miệng la "Tới luôn bác tài".
Chuyến tôi đi, có hai cha con ông kia lên xe, xe chạy một quãng thì lơ xe mới khám phá ra "có vấn đề". Ông già có tính tiết kiệm, đặt mua vé có một giường, mà lại dẫn theo cô con gái. Ông cãi với lơ xe:
- Hai người ngồi trên giường thì cũng choán chỗ y như một người nằm chớ gì.
Mặt nạ lịch sự của anh lơ xe bèn rớt xuống, anh ta với ông già xổ tiếng Đức với nhau một hồi, rồi sau cùng ông già nhượng bộ trả thêm 20,000 để cô con có thể ngồi ké ở phía cuối giường.
Tôi rất tội nghiệp mà không thể mời cô ngồi qua phía giường tôi, hoặc là mua cho cô một vé, vì hôm đó tôi đang đi chung với "con gấu yêu dấu" của tôi!

*Ăn Uống : Nghệ thuật ẩm thực VN thì quá siêu đẳng rồi, tôi xin không đề cập đến những chuyện uống máu rắn, ăn bò cạp hoặc trích mật gấu ..., mình chỉ làm một người bình thường ăn những món ăn bình thường.
-Bạn muốn xài tiền triệu?
Mời vào tiệm C. Steak House ở đường Đinh Công Tráng (chợ Tân Định), một miếng T Bone 6oz… giá rất nhẹ nhàng là 250,000 (tiệm này có vẻ kỳ thị nặng, trên bảng giá đề: Thịt bò Mỹ: 250.000 thịt bò Úc: 225.000, thịt bò nội địa :180.000)..
Miếng steak ăn vào, nuốt đến đâu, thấy nó nghẹn nghẹn đến đó, vì giá cả là một, nhưng cũng tại vì nó giống như miếng thịt được bỏ trong Microwave!

- Bạn muốn xài tiền lẻ? Mời bạn đi ăn cháo lòng bình dân với tôi.
Tôi biết cô bán cháo lòng ở quê, trước 1975 cô thuộc loại sắc nước hương trời, nhưng hồng nhan đa truân, cô đã kẹt lại. Quán cô chỉ là một cái bàn làm bằng gỗ tạp nho nhỏ, trên để mấy chai lọ lỉnh kỉnh như muỗng đũa, nước mắm, ớt... ngang chỗ cô ngồi là một nồi cháo đang sôi ọc ạch đặt trên cái cà ràng lửa liu riu.
Là khách đặc biệt nên tôi được cô vồn vã hỏi thăm và ân cần đưa cho một đôi đũa không nằm trên ống đũa "dân gian" trên bàn, cô lau cẩn thận bằng một miếng giẻ và nói:
- Anh dùng đũa này sạch hơn.
(Đũa của cô có nhiều loại: Sạch, sạch vừa, sạch hơn)
Cháo bán giá từ 3 ngàn một tô, dĩ nhiên khách muốn thêm thịt, thêm lòng thì sẽ tính thêm tiền.
Tôi ngồi ăn cháo mà ái ngại cho cuộc đời cô, vì cách đây hơn hai mươi năm, thấy cô đi ngoài đường thì tôi "chỉ nhìn mà không dám nói" vì nghĩ tới cái thân phận "quản chế" của mình.
Chợt một bà đi ngang phía trước, bà bước bỗng một chân và né sang phía trái, tôi ngạc nhiên khi thấy động tác của bà nên chú ý nhìn xuống mặt đường thì - eo ơi một đống phân chó nằm thù lù ở đó. Khiếp đảm, tôi bèn gài tờ giấy bạc vào dưới tô rồi cám ơn cô chủ quán để vọt gấp. Dợm đứng lên thì cũng vừa lúc cánh cửa sắt phía sau lưng cô hàng mở ra, một mùi nồng nặc xộc vào mũi tôi, thì ra đây là cửa hàng bán phân bón và thuốc trừ sâu rầy, mà cô hàng chỉ thuê phía trước chái hiên để bán buổi sáng. Khách hàng của cô cứ tự nhiên ăn uống kề bên những bao phân và những chai thuốc sâu độc hại, có điều mỗi lần xe đò chạy ngang, bụi tung lên mù mịt nên mùi phân bón cũng vì thế mà bớt đi phần nào!

Tham Dự Phiên Toà Lưu Động
Đang lững thững gần chợ Kinh 8 để ngó ông đi qua bà đi lại thì tôi nghe "loa cột đèn" thông báo hôm nay có phiên toà lưu động xử vụ ăn cắp trong chợ cách đây ít lâu, phòng xử ở ngay trong trường tiểu học Đông Thọ, Tân Hiệp, Kiên Giang.
Trong sân trường có một xe công an, phía trước có hai anh công an đang đọc báo, thiên hạ xầm xì rằng hai người bị còng ngồi phía sau là một cặp vợ chồng, tôi nhìn thấy tụi nó nhóc quá, chừng mười bảy mười tám tuổi là cùng.  Viên chức toà án, nhân viên an ninh và ấp đội chộn rộn chạy lăng xăng trong sân trường.
Tới giờ xử, bị cáo được dẫn từ xe vào trong trường, rồi thủ tục rất rườm rà, nào là trình diện bị cáo, nào là giới thiệu thành phần các cấp dự phiên toà và tuyên đọc quyền hợp pháp của bị cáo ..
Theo cáo trạng, hai vợ chồng trẻ vì túng tiền nên len lỏi vào chợ bấm dây chuyền của một đứa bé mà má nó đang bồng trên tay, bị phát hiện thì cô vợ đưa tang vật cho chồng, anh này nuốt ngay vô bụng.  Họ bị bắt đem vào nhà thương rọi X ray và bị truy tố.

Phiên toà bắt đầu bằng cảnh thư ký toà đọc tên tuổi, lý lịch của bị cáo, cáo trạng bị truy tố ... sau đó là phần chất vấn giữa Công Tố Viên và bị cáo:
- Bị cáo tên gì?
- Tên là Hoa, ông có tên tui ở trong miếng giấy ở trên đó.
- Bị cáo bị tội gì có biết không?
- Dạ bị chi tố tội chôm đồ, bấm dây chiền.  (bị truy tố tội chôm đồ, bấm dây chuyền)
- Bị cáo tả lại cảnh âm mưu đi bấm dây chiền như thế nào.
- Đâu có âm mưu gì đâu, hết tiền nói đi vô chợ kiếm tiền xài với trả nợ thôi.
- Bị cáo hãy kể rõ, ở nhà hai vợ chồng bàn tính âm mưu như thế nào để giựt dây chiền trong chợ.
- Ông đổ oan, chứ đâu có mưu gì, làm sao ở nhà mà biết có đứa nhỏ ở trong chợ có dây chiền mà âm mưu.
- Bị cáo không quí trọng sức lao động, không chịu làm ăn lương thiện mà tối ngày cứ lo đi giựt đồ là làm sao, bị cáo có muốn nói gì không?
- Đâu có tối ngày đi giựt đâu, lâu lâu mới làm một lần, giờ muốn xin dìa.
- Bị cáo phạm tội, bị cáo lại xin về, bị cáo nói vậy nghe có được không?
- Chứ lỡ rồi biết làm sao giờ, ở tù rồi ai nuôi con, nó còn nhỏ híu mới chín tháng hà.
- Cha bị cáo bao nhiêu tuổi? Làm nghề gì?
- Tuổi hổng nhớ, nghề đi ghe.
- Tuổi cha mà không nhớ, hay dữ, đi ghe mà làm nghề gì?
- Đã nghề đi ghe là nghề đi ghe chứ ai mà biết làm gì.
- Bao lâu về một lần?
- Dạ vô chừng, ổng có bà nhỏ, về vô chừng lắm.
Quan toà đúng là Phụ Mẫu Chi Dân nên quay qua hỏi thân nhân bị cáo có ai muốn nói gì không, thì một bà quấn khăn rằn đứng lên xưng là mẹ bị cáo:
- Ông có cách gì coi cho nó dìa sớm sớm một chút tui đội ơn, nó là "con ních" đâu có làm hại ai bao giờ, tự tay giựt dây chiền mới bị bắt có một lần hà.
Quan toà rất thông cảm, cười cười rồi nói: - Mới bị bắt có một lần, còn thoát được mấy chục lần rồi?
Thằng chồng đen thui, chắc gốc Miên, không thấy nó nói gì ngoài những câu trả lời về lý lịch khi toà hỏi, đa số là con vợ nói xen vô.
Thằng bạn tôi thì thầm: - Đàn bà ở đâu cũng lắm mồm, kể cả khi ra toà.
Phiên toà toàn là những câu đối đáp cù cưa như trên, nghe cũng buồn cười và giải trí được chốc lát.
Phiên toà kết thúc bằng một bản án 36 tháng tù dành cho mỗi người.
Dân trí ở miền quê hình như còn quá mộc mạc, họ không coi phiên toà ra gì, hoặc họ lì rồi nên coi như một trò hề trong phiên xử.
Nhìn cảnh anh Trung uý Công An đeo quân hàm oai vệ, bước bẻ góc ở ngoài sân khi trình diện bị cáo với quan toà, rồi nghe những lời đối đáp giữa quan toà và bị cáo, giống như hai cảnh ở hai nơi, bị ép duyên vào một màn kịch bi hài.

Đi Thăm Mộ Ngô Tổng Thống
Báo chí hải ngoại đưa tin rằng anh em ông Diệm được cải táng rồi đem chôn ở Lái Thiêu, nên tôi hỏi người bạn:
- Ông biết nghĩa trang Lái Thiêu có mộ anh em ông Diệm ở đâu không?
- Ai nói với ông là ông Diệm chôn ở Lái Thiêu?
- Thấy báo nói vậy.
- Lầm tuốt. Ba anh em họ Ngô và thân mẫu của họ đều chôn ở nghĩa trang Vườn Ngâu - Thủ Đức, chỗ này còn có tên là Thừa Thiên Tương Tế vì bên kia xa lộ có cái bảng đề là Lái Thiêu nên người ta tưởng lầm vậy, chứ phía bên này đường là thuộc về quận Thủ Đức.
Anh xe ôm ở gần nhà cãi lại: - Hổng dám đâu. Mộ ông Diệm chôn cùng chỗ với ông Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn đó… Họ đều là người Huế hết mà, ngay nghĩa trang Gò Dưa gần đây chớ đâu xa.
Thế là tôi và ba người quen được anh ta hướng dẫn đi thăm.
Trời chiều mưa sụt sùi, nhưng nghĩa trang không có không khí ảm đạm, coi cũng khá đẹp. Chúng tôi đứng nhìn mộ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trang trí như một hòn non bộ lớn.
Lúc chúng tôi đứng chụp hình thì anh xe ôm lội cùng khắp mà không kiếm ra mộ ông Ngô Đình Diệm, anh ta tẽn tò nói tụi tôi ra ngồi chờ ở quán cà phê rồi xách xe đi kiếm. Cả tiếng đồng hồ sau mới quay trở lại và cho biết người bạn tôi đã nói đúng: Họ được chôn ở nghĩa trang Vườn Ngâu chứ không phải Gò Dưa.
Chạy xe khoảng 5 cây số nữa mới đến nơi, người ta chỉ cho ngôi mộ ông Diệm đề là Gioan Baotixita Huynh, mộ kế đó là của bà mẹ, tức là bà Ngô Đình Khả, rồi mới tới mộ ông Nhu đề là Giacôbê Đệ. Ngay kế bên là một ngôi mộ có hình một người mặc quân phục VNCH, mang một sao hai bên cổ áo, đề tên Trần Văn Ân. Cách đó dăm ngôi mộ mới là mộ ông Ngô Đình Cẩn, phía trước đề tên là Cẩn, nhưng phía sau lưng bia lại đề tên Can.  Những người giữ nghĩa trang kể cho tôi nghe rằng tháng trước có người đặt một tấm bia mới đề tên là Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, rồi đem tới gắn lên ngôi mộ, đang làm thì công an tới bắt đập bể ra, còn người thì bắt đi làm kiểm điểm.
Ngày còn ở lính, tôi không hề nghe tên Chuẩn Tướng Trần Văn Ân bao giờ, hay đây là Đại Tá Ân, có bà vợ cũng là Nữ Quân Nhân, hai vợ chồng tử nạn khi bay trên chiếc trực thăng C&C trong một cuộc hành quân trên vùng Cao Nguyên(?)

Cuộc Sống Xã Hội
Hồi thời kỳ chống Mỹ cứu nước, cứ ra đến ngõ là gặp anh hùng, còn bây giờ đến quán cà phê, vô tiệm phở hay lúc đến thăm người quen, đều nghe người ta nói về những tỷ phú!
Hầu hết là chuyện nhà cửa đất đai, nào là giá một mét vuông đất từ một triệu vọt lên năm triệu, mà có người sở hữu đến dăm ngàn mét vuông; lại nghe ông kia mua một miếng đất năm bảy chục ngàn cách đây mấy năm, bây giờ nếu bán cũng được ít nhất hai ba tỷ!
Tôi đang ngồi ở quán cà phê, một anh cò đất xề tới gạ: - Bên kia có miếng đất 3 ngàn mét, nếu anh trả chừng 500 ngàn một mét (một tỷ rưỡi) nó bán ngay, bảo đảm với anh, chỉ tháng sau là anh sẽ bán được 3 tỷ, nếu không dô mánh như vậy, thằng này xin làm con anh.
Trời ơi, nhìn cặp mắt láo liên của nó, tôi đã ngán rồi, nó lại còn xin làm con tôi nữa thì xin chạy mất dép.
Cứ chỉ nghe nói không thôi, thì tiền ở VN sao dễ kiếm quá.
Vậy mà hễ cứ "giúp vốn" cho đứa cháu nào, thì cứ y như rằng năm sau cụt vốn, nó nói "Làm ăn ở VN bây giờ khó lắm chú ơi !  Chú ở xa không biết ..." Tôi quát lên:
- Làm ăn ở đâu không khó ?  Chỉ có nằm ngửa ăn sẵn mới dễ thôi.
Hôm tôi lại nhà người thân, anh đã đặt cọc để mua một miếng đất 40 ngàn đô, thì có một anh bá vơ chạy xe tới đưa cho coi một bản đồ qui hoạch, mà trong đó chỉ rõ miếng đất kia đã bị qui hoạch làm công viên và nhà thể thao. Anh ta nói:
- Thấy anh tính mua thì thương mà báo cho biết vậy, mai mốt có mất đất thì đừng trách là thằng em không báo trước.
Trời ạ, bây giờ còn biết tin ai ?  Lên hỏi Địa Chính thì họ cũng trả lời mờ ớ.  Hay là thằng cò kia nói thế để mình nản, đi mua miếng đất của nó ở chỗ khác (?).
Bên cạnh những người nói chuyện tiền tỷ, thì lại có những cảnh lầm than quá sức.
Gia đình tôi có làm bữa tiệc đãi bà con họ hàng lối xóm nhân dịp chúc thọ mẹ tôi được 90 tuổi. Sau bữa tiệc, có một số lon bia bán ve chai. Tôi thấy con cháu gọi chị mua đồ nhôm vô, hai người nói gì đó rồi chị ta tất tả ra đi, và khoảng hai giờ sau trở lại. Chị nhờ tôi phụ đếm số lon bia đã uống hết, chứa trong mấy cái thùng giấy. Tôi hỏi:
- Chị tính đếm từng lon hay sao?
- Dạ, vì mỗi lon giá đến 200, nếu lộn thì lỗ.
Tôi nhìn đống lon bên trong chứa lẫn lộn tàn thuốc lá lẫn xương gà.
- Con cháu tôi nói với chị là bao nhiêu lon?
- Dạ cô nói là 24 két, mỗi két 24 lon, nhưng chắc không còn đủ vì có nhiều người uống rồi lấy luôn lon.
- Hồi nãy thấy chị vô rồi đi luôn, tưởng chị không mua.
- Dạ không có, tại không đủ tiền nên phải về vựa vay thêm.
- Vựa ở đâu? Vay như thế nào?
- Dạ cũng gần, cách đây 5 cây số, đi xe ôm có ba ngàn đồng hà, vay rồi chiều về bán lại, trả họ tiền lời.
- Sao hồi sáng chị không đem về bán cho họ rồi mai đem tiền vô trả?
- Dạ sợ cô nhỏ không chịu.
Tôi thấy chán đời cho cô quá, tính ra số tiền chưa tới trăm ngàn, nếu không ngồi đếm với cô thì có vẻ bất nhẫn, mà ngồi đếm đống lon hôi rình đó thì tôi chẳng hào hứng tí nào. Tôi nói:
- Thôi, khỏi đếm nữa, cô cứ đưa cho con nhỏ 20 ngàn thôi, thiếu bao nhiêu tôi bù.
Cô ngước lên nhìn tôi rồi ứa nước mắt nói nhỏ:
- Cám ơn anh.

Vừa lúc đó mẹ tôi bước ra hàng hiên vì có tiếng người đàn bà la chói lói ở phía trước bờ sông, rồi một người chạy như bay vô sân:
- Cứu mạng! Cứu mạng! Bà ngoại ơi, ngoại có thuốc gì cho đứa con của con mấy viên, không thôi nó chết.
Mẹ tôi hỏi:
- Con chị bị đau gì mà đến nỗi chết? Mà tôi đâu biết thuốc gì mà cho.
- Dạ, nó đang giựt đùng đùng dưới ghe kìa, hông có thuốc chắc nó chết.
Tôi xen vào:
- Ở nhà chỉ có thuốc cảm thôi chứ có thuốc gì mà cho, sao chị không đưa nó lại Trạm Y tế coi.
- Dạ thuốc cảm cũng được chú Hai, ở Trạm Y Tế họ đâu có cho cái gì đâu.
- Tôi chỉ có thuốc cảm người lớn thôi chứ không có thuốc con nít.
- Dạ chú Hai cho con đi, con dìa bẻ làm hai cho thằng nhỏ uống cũng được mà.
Tôi vô lục túi lấy chai thuốc Tylenol đưa cho chị nhưng vẫn ngần ngại nói: - - - Thuốc này là thuốc người lớn, tôi sợ con chị uống không hạp.
Chị ta sợ tôi đổi ý nên chụp vội chai thuốc trên tay tôi rồi nói: - Dạ không sao đâu, con cho nó uống mỗi lần nửa viên.
Những người thợ gặt mướn tạm trú bên bờ kinh, hay ngủ dưới ghe, họ ra ruộng từ khi còn tối trời, mang theo cả đứa con mới sanh chưa đầy tháng, thằng bé nằm chổng chân ngọ ngoạy trong cái thúng, phơi nắng cả ngày mặc dù có tấm mủ cao su che phất phơ trên đầu, chắc là đang tập làm Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ ngày xưa. Thỉnh thoảng nó khóc ré lên thì bà mẹ chép miệng:
- Chắc thằng nhỏ bị kiến lửa chích!
Cô em gái tôi kể một chuyện khó tin nhưng có thật: - Thằng bé mười ba tuổi vào nhà bà ngoại với chiếc giỏ đeo toòng teng trên ghi đông xe. Bà già hỏi:
- Mày có cái gì đem vô cho tao đó Tèo?
- Dạ không có gì cho ngoại hết, má con nói đem em con vô nhờ ngoại chôn giùm!
Thì ra má nó nghèo quá không có đất chôn con, nên mới bỏ đứa nhỏ vô cái bị cói, kêu nó đem vô nhờ bà ngoại chôn.

Ấp Văn Hoá Khắp miền quê, đâu đâu cũng thấy nhiều khẩu hiệu, thỉnh thoảng có tấm áp phích lớn đề là Ấp Văn Hoá.  Đây là những ấp đã đạt đủ những tiêu chuẩn gì đó về nếp sống văn minh, tiến bộ, xoá nạn mù chữ...
Tôi đến nhà bạn chơi, cũng là một Ấp Văn Hoá, chứng kiến cảnh hai đám người chửi lộn nhau to tiếng, họ dùng toàn những lời lẽ "thầy chạy" luôn. Tôi chọc bạn tôi:
- Dân xóm mày chửi tục quá.
Nó nói:
- Họ không phải dân ở đây, họ ở ấp Văn Hoá bên kia, qua đây để gặt mướn.
Tôi diễu:
- Ở ấp Văn Hoá mà còn chửi nhau hả?
Nó cười:
- Càng ở Ấp Văn Hoá, càng chửi tục điệu nghệ hơn.

Đi Câu Giải Trí
 Gọi một chiếc Taxi, tôi nhờ anh tài xế đưa đến một nơi câu cá giải trí, anh ta cam đoan biết rõ một hồ câu có lý lắm, lại có tiếp viên phục vụ và ngồi nói chuyện hết xẩy.  Rồi ông chở tôi vào khu giải trí Thanh Đa.  Chỉ là một cái hồ nông toen hoẻn rộng chừng một công đất, nước đục ngầu và có váng phèn.  Từ cổng vào có ít bụi dừa nước đứng xơ rơ còi cọc.  Chung quanh hồ có trồng một ít cây ăn trái như dừa, xoài và ít bụi tre, cứ cách vài ba bước lại làm một cái lều dã chiến, lợp lá, treo mấy cái võng.  Có tiếp viên thật, nhưng là những anh thanh niên từ miền Bắc vào, họ lăng xăng mắc võng, dưa cần câu tới rồi mắc mồi bằng những miếng đậu hũ chiên vàng, nếu cá dính câu thì họ sẽ gỡ cá, bỏ vào giỏ hoặc đem đi chiên nướng theo yêu cầu của khách. .
Câu hơn nửa ngày, khách câu khoảng 50 người mà tôi thấy chỉ có một cần dính cá, nản quá tôi bảo anh phục vụ:
- Anh làm thế nào thì làm, mồi câu nào tốt nhất thì cứ móc vô cho tôi, nếu câu dính một con cá tôi tặng riêng anh 10 ngàn.
Thánh thật !  Chỉ một lát là đầu cần câu tôi nhúi xuống, tôi gặc mạnh cần rồi ra sức quay vào, con cá khá lớn lao trên mặt nước nhủi qua kéo lại làm rối nùi dây câu của những người gần đó, thế là từng tràng tiếng chửi thề vang lên.
Tôi hết hứng, bỏ dở buổi câu mà lòng chán nản.

Thương Quá Em Bé Việt Nam
Ăn sáng ở lề đường Phan Thanh Giản, một em bé chừng mười hai mười ba tuổi cứ quẩn quanh mời tôi mua vé số, gương mặt và ánh mắt trông rất tội nghiệp.  Tôi từ chối vài lần vì biết nếu mình mua của em này, thì vô khối người khác sẽ đổ xô vào mời mua thì rất kẹt, nhưng khi nhìn đến ánh mắt van lơn của em, lòng thương người rất hiếm hoi của tôi nổi dậy, tôi muốn mua giúp em để hôm nay em có thể về sớm một bữa. Tôi hỏi:
- Bình thường em bán đến mấy giờ thì hết xấp vé số này?
- Dạ thường thì ít khi hết lắm, nhưng nếu còn dư thì em phải đem về trả cho đại lý trước 3g chiều, nghĩa là trước khi sổ số.
Em nói từ sáng tới giờ mới bán được có 3 tấm, còn lại 97 tấm. Tôi kêu em đếm lại coi còn bao nhiêu tấm tôi mua hết cho, để hôm nay có thể về nhà nghỉ. Trong lúc tôi ăn thì em ngồi đếm từng tờ và nói còn đúng 97 tấm, giá 5 ngàn 1 tấm, vị chi là 485 ngàn. Tôi móc 500 ngàn ra đưa luôn, nói khỏi thối.
Thằng bé sung sướng nói cám ơn rồi lách vào dòng người xuôi ngược trên phố đông nghẹt những xe và người.
Đúng là: Sáng nay tươi hồng, trời không có mây... tôi tiếp tục bữa ăn sáng tuyệt vời.
Ở Mỹ mỗi lần mua vé số dĩ nhiên tôi mong mình trúng, mà trúng là trúng lớn để tôi có thể điềm nhiên lật ngửa cái xe cà tàng của tôi lên mà đốt, tuy nó có vẻ hơi bạc bẽo, nhưng để giã từ cái sự không sung sướng của kiếp nghèo, nếu không trúng đi nữa thì âu cũng là mua một niềm vui trong chốc lát, vì đời chỉ vui khi có hy vọng.
Đọc bài essay của một sinh viên nói về mua vé số, tôi thấy cũng có lý, vé số giúp cho mọi người trúng.
Này nhé: Ngân sách nhà nước hưởng 40%, người bán lẻ và giới quảng cáo 20%, người trúng hưởng 40% .. và ngay cả chúng ta cũng trúng luôn vì ta chỉ bỏ ra có mấy đồng, mà mua được niềm hy vọng, rẻ quá đi ấy chứ.
Những tín đồ các tôn giáo đã bỏ ra bao nhiêu tiền của, cũng chỉ là mua lấy một hy vọng mai sau có về cõi trời được hơn người khác, mà niềm hy vọng này chưa được ai kiểm chứng cụ thể cả, còn mua vé số thì có người trúng thật rồi.
Hoan hô những người mua số như tôi là những người thông minh.
Lần này mua số ở VN, tôi lại thêm được cái lợi nữa là làm cho một em bé dễ thương vui được một ngày.
Ông Trương Quang Nhơn viết bài kể chuyện ông bị thằng đánh giầy lấy đinh đục cho thủng giầy rồi đòi tiền vá. Tôi nghi ông này vẫn còn thù Cộng Sản nên đặt chuyện viết "linh tinh".
Buổi chiều về nhà, tôi móc xấp vé số ra cho các cháu, tụi nó đang ồn ào chia chác thì có đứa hỏi:
- Bác mua bao nhiêu tấm?
- Thằng nhỏ biểu là 97 tấm.
- Bác có đếm không?
- Đếm làm gì?
- Thế thì bác bị nó lừa rồi, chỉ có 75 tờ thôi bác ạ.
Tôi suy nghĩ và tội nghiệp cho thiếu niên VN bị thất học, ngần ấy tuổi rồi mà đếm có mấy chục tấm vé số hãy còn sai.
Bọn nhóc trong nhà vừa cười vừa la:
- Ê, bác Việt Kiều bị thằng bán vé số nó lừa!
Tôi phân vân: Không lẽ thằng nhỏ đó nó nỡ lừa tôi, mà sao nó nghĩ cái kế lừa tôi mau như vậy được. Có lẽ nó đã lừa nhiều quả như vậy rồi.

Sách Báo
Tôi vào nhà sách mua một số sách báo mới xuất bản năm 2006.
Trong thời chiến tranh, nếu phải viết để tuyên truyền thì không nói làm gì, nhưng bây giờ đâu cần làm vậy nữa, vậy mà có những câu chuyện hay ký sự về thời chiến đã không được thi vị hoá một chút nào, toàn nói những chuyện mà người đọc bình thường cảm thấy tội nghiệp cho tác giả, bà Mã Thiên Đông viết cuốn Chuyện Giờ Mới Kể, nói về những cuộc khủng bố hay những toán đặc công đột nhập vào SG khoảng thập niên 60 hay Tết Mậu Thân. Tôi có cảm tưởng bà ta bị bệnh hoang tưởng hay là xã hội đã làm cho bà và một thế hệ cùng thời có những suy nghĩ như vậy.
Bà kể cứ chỗ nào mà đám xung kích nội thành có mặt thì bên phe Quốc Gia kể như "Tàn đời cô Lựu". Chỉ có nửa tiểu đội đặc công tấn công vào Đài Phát Thanh mà họ tả xung hữu đột, bắn cháy một xe nồi đồng, quân địch chết 38 người còn lính bị thương thì nằm la liệt khắp các nơi. Các chiến sĩ còn rất trẻ mới 17 hoặc 18 tuổi.
Ban đầu thì tôi tưởng rằng bà tả nhân dân anh hùng của SG nổi dậy nên họ rành rẽ đường đi nước bước như thế, nhưng tác giả tiết lộ đó là những du kích ở làng Trung Hoà Hạ, dưới miệt Củ Chi - Hậu Nghĩa. Trước giờ nổ súng 15 phút họ còn cách Đài Phát thanh 100 thước, với lời hứa hẹn là Đại quân sẽ tiếp viện, chỉ cần họ giữ vững 15 phút mà thôi.
Bà Mã Thiên Đông còn viết một cuốn sách quái đản: Kẻ Bị CIA Cưa Chân Sáu Lần.
Chuyện kể Mỹ dùng 10 chiếc trực thăng đổ quân để chặn bắt một anh Giao Liên ở trong rừng, họ thiệt hại một máy bay lên thẳng và chết mấy chục quân. Bắt được anh Giao Liên họ mừng lắm, chở ngay về SG cho ở trong một biệt thự tráng lệ, hứa hẹn nếu anh chịu khai báo thì sẽ tưởng thưởng cặp lon Trung Tá, cho 100 ngàn đô la với 10 người con gái đẹp phục vụ ngày đêm.
Dĩ nhiên câu chuyện lâm li ở chỗ là cái anh Vẹm con này đã thấm nhuần lý tưởng của Bác và đảng, nên từ chối những thứ kia, thế là CIA đem anh đi cưa chân đến 6 lần, mỗi lần một khúc. Một anh Bác sĩ Nguỵ còn doạ đểu, khi cầm cái cưa dứ dứ và nói cắt đến chỗ này, chỗ này... để cho anh sợ mà khai hết bí mật ra.
Đọc xong những "Đại tác phẩm" này tôi lẩm bẩm: - Sách báo như thế này mà cũng bày đặt viết rồi xuất bản.
Bà xã tôi cười mũi: - Sách vớ vẩn như vậy mà cũng có người mua đọc, rồi tức mới hay

Người Xưa Lối Cũ
Có người về VN thăm thắng cảnh quê hương, có người về kiếm thế hưởng thụ ăn chơi, cũng có người về vì tình cảm sâu đậm đối với thân nhân bạn bè năm cũ, thoáng đâu đó, có người tìm về để ôn lại một mối tình xưa.
Tôi theo người bạn đi đến nhà người xưa của nó. Bước chân vào con hẻm cụt có bóng mấy cây khế rợp mát, chân nó bước líu ríu như lê không nổi. Đến trước căn nhà có cây ngọc lan toả bóng, thấy có người đàn bà đang quét lá, tôi với tay bấm chuông, chứ thằng Thịnh như người mất hồn. Người đàn bà hỏi:
- Hai ông kiếm ai?
Thịnh buột miệng nói liền: - Thưa bác, cô Hằng có ở nhà không ạ?
Người đàn bà vừa mở cổng vừa ngờ ngợ: - Anh là ai mà biết Hằng?
- Trời ơi, bác không nhớ cháu hay sao? Cháu là thằng Thịnh hồi trước đây có kèm cho Hằng lúc cô thi Tú Tài đó.
Cây chổi rớt xuống đất cái xẹp, hai tay bà ôm chầm lấy Thịnh và tiếng khóc oà ra:
- Trời ơi anh Thịnh, em là Hằng đây mà.
Thì ra qua hơn 30 năm, Hằng ngày xưa nay đã hơn 50 rồi. Thời gian nó tàn phá chẳng chừa một ai.
Hôm tôi về Rạch Giá, vừa bước xuống con đò ngang thì đã có cả hơn chục người đứng ngồi dưới đò, ai cũng đưa mắt nhìn tôi, miệng cười cười như chào hỏi, nhưng tôi không nhận ra mặt ai quen, bỗng có một người đàn ông chừng 50 tuổi nhưng tóc còn loe hoe có mấy sợi phất phơ trước gió, vồn vã:
- Anh mới về chơi ạ, anh còn nhớ em không?
Đầu óc tôi bây giờ tây ta lẫn lộn, chỉ nhớ mang máng hình như anh này là Khanh Khờ. Và để tỏ ra là người nhiều tình cảm, chẳng bao giờ quên anh em bạn bè, tôi tiến tới vỗ vai rồi cả quyết:
- Quên thế chó nào được, cậu là thằng Khanh Khờ đây mà!
Nguyên cả chuyến đò cười ngặt nghẹo, có người ôm bụng rũ xuống cười suýt rớt xuống sông. Tôi sượng trân, còn người đàn ông hem hễ kia nói như than:
- Em là Đĩnh đây, nhưng mà thằng Khanh mới bị khờ, còn em thì bình thường mà anh.
Tôi chỉ còn biết xin lỗi anh ta vì cái tài nhớ dai của mình.
Về đi lại trên bờ con kinh xưa, tôi gặp một thiếu phụ bồng con trên tay, thôi đúng là người vợ của bạn tôi rồi, tôi xăng xái hỏi:
- Xin lỗi, chị là chị Độ phải không? Anh chị hồi này khoẻ chứ?
Cô ta ngơ ngác vài giây rồi lí nhí: - Dạ thưa, Độ là tên của bố mẹ cháu ạ.
Ôi! Từ Thức về trần, tôi quên béng đi là mình đã xa quê hương một thế hệ rồi.
Ngày còn nhỏ, thập niên 50, tôi thường nghe bản Gạo Trắng Trăng Thanh khi nghe tiếng cắc cụp đều đều ở quê tôi, vùng suối rừng Thủ Dầu Một. Người dân vần công giã gạo cho nhau, cũng là dịp trai gái hẹn hò gặp gỡ qua công việc và lời ru tiếng hát:
"Trong đêm trăng, tiếng chày khua, ta hát vang trong đêm trường mênh mang. Ai đang xay, chày buông lơi nghe tiếng vơi tiếng đầy ".
Bây giờ không còn cảnh giã gạo đêm trăng nữa, nhưng bạn tôi, một ông Pilot 69A - Ông Đông Nguyên (thi sĩ Điên Ngông) - cũng trong tâm trạng Từ Thức về trần như tôi, nặn ra được một bài thơ có thể làm Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phiền lòng:

Ta về giã lại cối xưa
Nửa đêm trăng tỏ bóng dừa ngả nghiêng
Thấy trong gạo trắng ưu phiền
Thương em hạt gạo còn nguyên nỗi buồn
Vận nước xoay vần, có những người đi xa, có những người còn ở lại, bài Tình Già của Phan Khôi sao mà thấm thía quá thể:
Hai mươi bốn năm xưa
Một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ngọn đèn mờ trong gian nhà nhỏ
Hai mái đầu xanh kề nhau than thở...

Để rồi:
Hai mươi bốn năm sau
Tình cờ QUÊ CŨ gặp nhau
Đôi mái đầu đều bạc
Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được...

Người ta nói "Quê hương là chùm khế ngọt", ngọt như vần điệu ca dao và ngọt như nụ hôn người tình.
Vài vần thơ lạc điệu, xin gửi cho ai có những kỷ niệm khó quên của cây khế quê nhà:

Năm xưa có cây khế ngọt
Quả non đeo nhẹ trên cành
Tay trần anh đưa muốn hái
Em cười: Khế hãy còn xanh
Hôm nay anh cầm trái khế
Muốn cắn vào năm cánh hồng
Nhưng rồi nâng niu tay khẽ
Ôm ấp chuyện xưa vào lòng…

Khuyết Danh


Về Đầu Trang Go down
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Thu Jul 24, 2014 1:25 pm


Nước Mỹ "nhà quê"


Nguyễn Thị Thanh Lưu 





Lạ lùng là, cái thứ nhà quê đang dần hiếm hoi ở quê nhà, tôi lại nhiều lần gặp lại trên đất Mỹ. Và tôi gọi đó là nước Mỹ nhà quê. Tôi càng nhớ quê quắt quay vì nước Mỹ nhà quê tôi đang sống.

Berkeley hôm nay không có nắng, một ngày âm u hiếm hoi trong suốt cả năm lịm nắng. Mây xám từ ngoài vịnh kéo vào tầng tầng lớp lớp che khuất bầu trời thẳm xanh cố hữu của Cali. Ngồi cắn miếng thịt kho tàu đăng đắng nước hàng, nghe gió thổi vi vút ngoài cửa sổ, chao ôi là nhớ những mùa trở gió ở quê hương.

Có lẽ với những kẻ tha phương như tôi, nỗi nhớ là nỗi niềm thường trực. Dù cuộc sống xứ người với những lo toan thường nhật vẫn từng giây từng phút rượt đuổi nỗi nhớ trong tôi, dù các thiết bị công nghệ hiện đại cũng đang lừa mị tôi rằng, nỗi nhớ đâu có chỗ trong cái thế giới phẳng thông thống thông tin này, thì tôi, trong những khoảnh khắc thảng hoặc của lòng, vẫn bần thần – nhớ! Chỉ cần nhìn một mảnh sân đầy lá rụng, thấy một trời mây xám đầu đông, ngửi thấy mùi khói cơm thơm ấm hay mùi nước mắm hoi nồng của nồi cá kho…, tôi lại chùng lòng nghĩ về quê mẹ.



Tôi không nhớ lắm thị thành, không nhớ ồn ào, khói bụi, không nhớ quán xá đông người, không nhớ đèn đuốc long lanh. Tôi nhớ quê tôi – mảnh đất miền Trung ngột nắng hè và buốt rét mưa đông, tôi nhớ sông Lam vẫn đổi dòng để bên bồi bên lở, tôi nhớ chợ phiên quê vui vẻ hỏi thăm nhau. Tôi không mấy nhớ ầm ĩ nói cười những cuộc vui tàn đêm, không nhớ những mặt người dù quen tên nhưng chỉ nhìn tôi bằng mặt nạ. Tôi nhớ cô hàng xóm nghèo sẻ chia với mẹ con tôi một bát canh mùng tơi vào bữa cơm trưa khô khát gió Lào, tôi nhớ những nụ cười chân thật, những hỏi han trìu mến trên đường đê lộng gió của những người dân quê – những người tôi chưa hề quen mặt, biết tên. Ở cách xa quê hương nửa vòng trái đất, nếu ai hỏi tôi nhớ gì, tôi bảo: chỉ nhớ QUÊ!

Quê ấy chẳng phải thị thành khói bụi, chẳng phải những con đường chí chát tiếng còi xe, hầm hập hơi người những nút tắc giao thông. Quê ấy chẳng phải biển người vô cảm chen chúc nhau trong cuộc mưu sinh vội vã, chẳng phải đám đông quen quen chỉ nhìn nhau cười nghi hoặc và dè sẻn một câu chào. Quê ấy chẳng phải nơi tôi từng ngỡ là chốn quen thân đầm ấm để rồi giật mình nhận ra những ghẻ lạnh khó ngờ. Quê ấy – tôi nhớ quắt quay mười mấy năm rồi, những khi tôi đứng giữa đám đông mà lòng ngập hoang vu, những khi tôi trở thành khán giả bất đắc dĩ trong những trò đời mà nhân vật chỉ toàn sắm vai phản trắc. Và cả trong những lần bước hụt chân trên đường đời nhiều hố hiểm, tôi đã nhớ cồn cào quê ấy của tôi.




Có lẽ nói cho đúng thì tôi nhớ nhà quê. Lạ lùng là, cái thứ nhà quê đang dần hiếm hoi ở quê nhà, tôi lại nhiều lần gặp lại trên đất Mỹ. Và tôi gọi đó là nước Mỹ nhà quê. Tôi càng nhớ quê quắt quay vì nước Mỹ nhà quê tôi đang sống.

Khi một người xa lạ mỉm cười thân thiện chào tôi trên đường phố Mỹ, tôi bất giác nhớ nụ cười chân chất của những bác nông dân tôi gặp trên đường làng lấm bụi.

Khi đôi vợ chồng hàng xóm người Mỹ nâng niu mấy quả trứng gà đầu tiên của lũ gà họ mới nuôi sang cho, tôi nghĩ đến bát canh mồng tơi trưa nắng ngày nào của cô hàng xóm cũ. Khi nghe bà hàng xóm già thao thao bất tuyệt về chuyện làm vườn, khi nhìn những mảnh vườn xinh xắn với muôn sắc hoa và trĩu trịt trái cây trên mọi con phố Berkeley, tôi lại nhớ về những khu vườn xanh bóng cây trong xóm cũ, lại thương mẹ tôi giờ phải mỏi chân leo sân thượng trồng rau, giữa Hà Nội chỉ mỗi người thôi đã chật lắm rồi.

Khi nhìn bọn trẻ con trong khu phố kéo nhau đến nhà bà hàng xóm để thăm đàn gà bà nuôi cạnh đường ô tô chạy, tôi lại nhớ những trưa nắng cùng lũ bạn đi câu cào cào cho đàn gà bác hàng xóm nuôi ăn Tết. Khi một gia đình sống cùng khu phố mời mọi người cứ tự nhiên lấy chanh họ vừa mới hái trước sân nhà, tôi lại tưởng như ngửi thấy mùi thơm của quả mít bổ ra chia cả xóm ngày xưa. Khi cô bạn hàng xóm người Mỹ đi chợ tạt qua nhà chỉ để hỏi tôi muốn mua giúp gì không, tôi lại nhớ đến những mẩu giấy chi chit chữ của cô hàng xóm cũ ở quê mỗi lần tôi giúp cô đi chợ. Khi chị hàng xóm mời tất cả mọi người trong khu phố đến nhà tụ tập mỗi thứ tư hàng tuần để cùng ăn cơm tối và nói chuyện phiếm, tôi không khỏi mỉm cười nghĩ đến hội chè chát của mẹ ở quê.

Giờ bè bạn hỏi tôi, sống ở Mỹ thế nào, đô-la, xe hơi, áo quần hàng hiệu, v.v… ra sao? Tôi biết trả lời sao, vì tôi chỉ thấy mình rất nhà quê ở nước Mỹ nhà quê. Cô hàng xóm người Mỹ hỏi tôi, chắc nhớ quê, thèm về quê lắm nhỉ? Tôi biết trả lời sao, khi quê ấy của tôi không chỉ cách xa đằng đẵng không gian mà hình như cũng bằn bặt cả phía ngược chiều thời gian mất rồi!


Về Đầu Trang Go down
Ng.Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Wed Aug 20, 2014 10:53 am




Một Thời Chinh Chiến Điêu Linh
                                            
Nguyên Nhung

Anh là một phóng viên chiến trường, ngoài phần lương khô và vật dụng cá nhân trong ba lô mang trên lưng như bao nhiêu người lính khác, anh còn phải đeo lủng lẳng cái máy quay phim và caméra trước ngực. Hành trang anh chỉ có thế, mũ sắt trên đầu, cuốn sổ tay trong chiếc túi áo có nắp gắn hai chữ “Báo Chí”, hai tấm thẻ bài, một bộ râu tua tuả vì đã mấy ngày anh theo đoàn quân tiến vào trận địa. Người lính ra chiến trường đã có cây súng làm bạn, riêng anh, người phóng viên chiến trường đi vào vùng lửa đạn, chỉ vỏn vẹn có chiếc máy quay phim, đã ghi lại biết bao nhiêu hình ảnh trung thực của người lính sống thời chiến chinh gian khổ, trên mọi nẻo đường  đất nước.

Tiếng đạn bay líu chíu ngang đầu, anh thầm nghĩ: "Không biết sống chết lúc nào". Chiếc máy quay phim đã thu vào bao nhiêu thước phim giữa mặt trận khi nóng bỏng, lúc âm ỉ đến lạnh người. Ðoàn quân lầm lũi tiến vào rừng dừa trước mặt, phân tán mỏng theo lệnh viên sĩ quan chỉ huy. Những bóng người lầm lũi bước, đôi giày vải ướt sũng trên thửa ruộng sâm sấp nước, đói và mệt, chiếc ba lô trên vai anh như nặng trĩu xuống. Trong bóng chiều nhập nhoạng, thần chết như rập rình chiếc lưỡi hái trên thân phận người lính, cơn mưa chiều luồn những giọt tái tê vào lòng người chiến sĩ.

Anh nhớ lại trận đánh ở vùng Thới Lai, Cờ Ðỏ vào mùa mưa năm trước, trong một vùng dầy đặc cỏ lác và sông rạch. Không phải lần nào quân ta cũng thắng. Ðêm ấy, anh bị mất phương hướng, giữa bóng đêm chập chùng và ánh trăng khuya mờ ảo, anh lần mò ra được đường cái, ở đấy có một ngôi chuà nằm chơ vơ ven quốc lộ. Dưới ánh trăng mờ, ngôi chùa âm u không một ánh đèn, không một tiếng chuông tiếng mõ, chỉ có mùi dìu dịu của hoa sứ phảng phất giữa đêm khuya. Ðã mấy ngày mà trận đánh chưa kết thúc, sự yên tĩnh tạm thời để chờ một cuộc đụng độ tiếp theo, dân chúng hầu như đã tản cư ra quận lỵ, hoặc chạy theo phía bên kia vào những làng mạc xa hơn.

Ngôi chùa tương đối nằm ở khu khá yên tĩnh giữa hai lằn đạn, nhưng không có bóng dáng người dân nào ở đó. Trong bóng tối mờ mờ và yên lặng, anh lần mò men theo mấy bụi cây thấp trước cổng chùa, anh nhìn thấy nhiều thân người nằm la liệt trên sân, im lặng như một bãi tha ma. Họ đang ngủ, quá mệt mỏi cho nên anh chỉ kịp cởi ba lô vứt xuống đất, rồi cứ thế nằm vật xuống bên cạnh một người lính. Anh cần ngủ hơn tất cả mọi thứ trên đời, dù chưa ăn uống gì nhưng anh không cảm thấy đói, chỉ có giấc ngủ mới làm anh tạm quên đi tiếng đạn réo, tiếng bom rơi, tiếng đại bác rền rĩ trong những giờ phút căng thẳng của chiến trường. Anh thiếp đi thật mau, trong lúc ngủ mê hình như anh có đạp chân vào người lính kế bên nhưng không nghe tiếng chửi thề, hạnh phúc nhất của người lính có lẽ là những phút giây hiện tại, tạm quên đi nỗi nguy hiểm, cận kề với nỗi chết.

Chưa bao giờ anh có một giấc ngủ ngon lành đến thế. Không chiêm bao mộng mị, không giường, không chiếu, chỉ có một mặt đất ẩm lạnh và bầu trời nhấp nháy sao đêm. Gió đêm như được ướp mùi hương của những bông hoa sứ làm loãng đi mùi gì tanh tanh giống như mùi máu.

Sáng ra, ánh mặt trời rọi vào mặt anh khiến anh thức giấc, chim chóc hót líu lo chào một ngày vừa lên, sự sống của muôn loài vẫn diễn ra bình thường dù chiến tranh và sự chết đang hiện diện quanh quất, đó đây. Anh hoàn toàn tỉnh giấc, thèm một ly cà phê và điếu thuốc thơm buổi sáng, rồi lạ lùng ngó đám người nằm ngủ trên sân chuà, chợt một cảm giác lạnh toát chạy dài trên sống lưng người lính. Giờ thì anh đã hiểu, đêm qua anh đã ngủ một giấc ngủ tròn trịa và yên bình bên những người lính tử trận, xác họ ngày hôm nay sẽ được chở về nhà xác trên tỉnh lỵ, chờ thân nhân đến nhận.

" Không phải lúc nào ta cũng thắng ", anh nghĩ như vậy khi nhìn những tử thi nằm lạnh lẽo suốt đêm trên sân chùa. Chiến tranh là vậy, thắng hay thua thì bên nào cũng có người nằm xuống, có những giọt nước mắt của mẹ già, vợ dại, con thơ, chỉ có điều thật buồn khi tất cả đều là người Việt Nam. Anh nghe có tiếng bước chân nhẹ nhàng của một tà áo đà lướt bên hiên chùa, và mùi nhang thoảng bay trong gió. Một vị sư già có lẽ là người duy nhất còn lại nơi đây, đang cầm một nắm nhang ra cắm xuống trước những thây người nằm la liệt dưới sân chùa, miệng lầm rầm niệm Phật. Ðôi mắt nhà sư thoáng một vẻ ngơ ngác và sợ hãi, khi nhìn thấy một người sống đang ngồi thu lu giữa đám người chết, cả hai cùng im lặng không nói được lời nào.

Năm 1969, anh theo cuộc hành quân miền biên giới giữa Campuchia và Việt Nam, Cộng quân đang cố thủ trong vùng núi Cô Tô, Châu Ðốc. Người phóng viên chiến trường hơn ba mươi tuổi, đang độ chín mùi của nghề nghiệp, hăng say lao vào vùng lửa đạn khi Cộng quân dùng Campuchia làm bàn đạp thôn tính miền Nam.

Gia đình anh gốc gác miền Bắc, cả một thời ấu thơ và thanh niên anh gắn bó với quê nhà, may mà năm 1954 anh nhanh chân chạy thoát. Bố anh chết ngay năm đó, tất cả gia tài, sự nghiệp bỗng dưng mất hết trong một ngày khiến người cha phẫn chí mà chết. Mẹ anh dẫn ba đứa em dại, đầu quấn khăn tang lếch thếch lên chuyến tàu há mồm xuôi Nam. Một cuộn phim của dĩ vãng vừa hiện về trong trí anh, căn nhà gạch hai gian bề thế phố Cửa Tiền, rặng bàng trước cửa, hoa gạo đỏ mùa hè, giếng nước Tiền Hùng, cái ao sau nhà xanh um khóm chuối ngự, cả một tuổi thơ đầm ấm và mối tình đầu tuổi thanh xuân nằm lại sau lưng cho một tất tả bỏ chạy.

Từ trên máy bay trực thăng anh nhảy xuống theo gót chân người sĩ quan chỉ huy, máy quay phim chạy rè rè thâu vào hình ảnh núi non chất ngất, những người lính chạy lúp xúp nép vào những bờ đá cao tiến tới. Ðịch bắn ra như mưa, viên đạn đi ngọt như cắt từ một hốc núi bay thẳng tới ngực anh, anh chưa thấy đau vì tầm đạn đi nhanh quá khiến anh ê ẩm như bị một viên gạch ném tới đột ngột. Cho đến khi anh thấy ấm ấm và rát bỏng trên ngực áo, máu đã ướt thẫm hai chữ Báo Chí trên chiếc áo nhà binh. Anh loạng choạng ngã xuống với thước phim đang quay dở, chỉ kịp nhìn thấy loà nhoà hình ảnh người lính cứu thương bế anh lên chiếc trực thăng tải thương, đang phần phật đôi cánh quạt trên một vùng cỏ xanh.

Lần ấy viên đạn đi cách tim anh khoảng hai cm, nếu không giải phẫu kịp, máu ứ đầy phổi có lẽ anh đã nằm xuống ngay tuổi ngoài ba mươi. Anh thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, phải nằm trong Quân y viện mấy tháng trời, để được nhìn thấy sự hy sinh và đau đớn tận cùng của người lính trong thời chiến. Những hình ảnh ấy vương vấn trong hồn anh, mãi mãi về sau, tim anh vẫn thắt lại khi bất chợt hôm nào nhìn thấy trên vỉa hè, người thương binh lê đôi nạng gỗ, khập khễnh bước khi đôi mắt chất chứa nỗi bất hạnh cho cả một tương lai

Năm 1972, mặt trận lại sôi động ở vùng biển Long Toàn, Trà Vinh. Bom đạn rền rền át cả tiếng sóng biển rì rào, người dân Khờ Me sống ở những làng mạc hiền hoà với chuà chiền cổ kính, lại vội vã bỏ vùng quê đi lánh bom đạn. Nhà cửa đổ nát, vườn tược tan hoang, anh ứa lệ nhìn hai đứa bé lạc mẹ, mặt mày nhem nhếch nước mắt, nước mũi giữa cảnh khói lửa tơi bời. Giữa vùng giao tranh, chỉ có lằn đạn líu chíu trên đầu người thường dân vô tội, quê hương mình sao khốn khổ đến thế.

Anh nhớ lại một ngày năm 54, năm ấy anh mới mười tám tuổi và đứa em út mới lên sáu, mẹ anh trắng hai bàn tay làm lại cuộc đời trên miền Nam tự do. Những buổi chiều gió mưa, mẹ con ngậm ngùi nhớ về quê nhà. Khu phố êm ả có rặng bàng trở màu khi mùa thu đến, những buổi chợ phiên người trong các làng quê kĩu kịt gánh hàng ra chợ Nghệ.

Người phóng viên chiến trường đâu phải lúc nào cũng ngồi trên máy bay, đâu phải lúc nào cũng theo đuôi Tư lệnh để quay cảnh chiến thắng, gắn huy chương lên ngực áo người chiến sĩ. Anh đã phải ngắm nhìn chiến tranh như phải xem một bức tranh vẽ bằng máu, thâu vào hình ảnh và sự chiến đấu cam go của người lính nơi vùng lửa đạn. Trong khi ấy, chiến tranh quả là khó hiểu, những bàn tay dấu mặt như mụ phù thuỷ đang vẽ vời những lời nguyền ruả sấm sét xuống quê hương anh. Chiến trường này tiếp nối đến chiến trường khác, những cuộc hành quân liên miên từ tháng này qua tháng nọ, nghĩ đến đời sống gian khổ của người lính trong vùng đóng quân đầy những rủi ro bất trắc, anh chỉ ao ước một ngày nào chiến tranh chấm dứt. Một ngày nào đó những thước phim của anh chỉ là hình ảnh nụ cười dễ thương của trẻ thơ, là nét mặt vui tươi của người lính giữa khung cảnh ấm cúng của gia đình, là đôi mắt hấp háy của mẹ già không ứa lệ, khi đêm đêm vẫn thì thầm cầu nguyện sự an bình cho những đứa con.

Anh phóng viên chiến trường giơ ống kính lên, thâu bằng cận ảnh hai khuôn mặt ngây thơ, bốn con mắt ngơ ngác giữa khói lửa mịt mù của hai đứa trẻ thơ mà anh bắt gặp, khi cuộc chiến không bao giờ tính toán được sự bi thảm của nó. Những đôi mắt trẻ thơ sợ hãi, ngác ngơ khi địch quân dùng khu vực nhà dân làm bàn đạp để tiến quân, hai đứa bé còn lại khi cha mẹ chúng có thể đã ngã xuống bởi những lằn đạn vô tình.

Tình cảm giữa người và người bắt anh phải quên đi những thước phim, những tấm hình giá trị khi lọt vào tay bọn thông tấn nước ngoài.Hai tay bế hai đứa bé anh băng ra khỏi khu nhà đang rần rật cháy, giờ phút ấy anh chỉ có một ý nghĩ phải mang hai đứa bé ra khỏi vùng giao tranh, dù có thể lãnh một viên đạn của đối phương.

Suốt một đời làm lính và xông pha nơi những chiến trường nóng bỏng, anh phóng viên chiến trường đã bao phen đối mặt với tử thần. Anh còn bị thương một lần nữa trước khi chiến tranh kết thúc, chiếc máy bay trực thăng bị hỏa tiễn tầm nhiệt bắn trúng đằng sau đuôi, như một khối sắt khổng lồ rớt xuống cánh đồng ngập nước vùng Ðồng Tháp Mười. May là Thượng đế đã che chở anh, đã cho anh trở về với một xác thân lành lặn.

Ngày chiến tranh kết thúc, một kết thúc bi thảm khiến anh hụt hẫng. Người lính bại trận trở về miền quê với những vết đau âm ỉ mỗi lần nhớ đến bạn đồng đội cũ. Trong những chiều gió mưa, lòng anh bùi ngùi khi hồi tưởng đến một khoảnh khắc nào đó, bóng dáng những người lính năm xưa giờ như những bóng ma buồn bã trong dĩ vãng, và anh lặng lẽ nghe những giọt nước mắt buồn tủi chảy ngược vào tim buốt lạnh.

Từ đây cuộc đời bắt đầu là những chia xa, bạn bè anh tan tác mỗi người mỗi nơi mỗi ngả. Có những người nằm xuống trong giờ thứ 25 của cuộc chiến, đã bị quên lãng với mồ hoang mả lạc. Có những người ra đi làm  cánh chim cô đơn, gậm nhấm nỗi sầu vong quốc. Có những người đi vào chốn lao tù với đói khát triền miên, khi trở về chỉ là những chiếc bóng ngác ngơ , sợ hãi cả tiếng bước chân của chính mình.

Sau ba mươi năm ngày chiến tranh kết thúc, người phóng viên chiến trường năm xưa nay đã già, ngồi bán cá kiểng, cá đá cho trẻ con trước khuôn viên một trường tiểu học, cạnh ngôi giáo đường cổ kính. Mỗi lần nghe tiếng chuông ngân ban chiều, anh lại thì thầm đọc mấy câu kinh cho những linh hồn đã khuất.

Gia tài của anh chỉ có một hồ cá bằng thủy tinh với những con cá đủ màu bơi lội nhởn nhơ. Cả một xã hội cá quây quần bên nhau lượn lờ tranh sống, những cọng rong xanh, vài con lăng quăng sót lại từ bữa ăn chiều. Anh chép miệng, bầy cá đã no rồi, chứ lúc đói chúng nó cũng tranh nhau đớp mồi như đám người khốn khổ chen nhau chờ phát chẩn. Lúc này anh đâm lẩn thẩn như thế, chuyện cá chuyện người cứ lẫn lộn trong con mắt người phóng viên đã hết thời

Lúc ấy trời đã về chiều, hai đứa bé đánh giày độ trên mười tuổi vào hàng, ngắm nghía mấy con cá lia thia được rọng riêng trong những chiếc keo thủy tinh trên bệ gỗ, giữa mỗi cái keo đều có một tấm giấy cứng để che cho chúng khỏi nhìn thấy mặt nhau. Mỗi đứa chọn một con, chúng thò tay vào túi lôi ra những đồng tiền nhàu nát, đưa cho người bán cá. Hai thằng nhỏ bày ra cuộc đá cá ngay cửa hàng của người bán cá, tự nhiên anh cũng cảm thấy hào hứng muốn theo giõi trận đá cá của hai đứa trẻ con. Không biết ở đâu lố nhố mấy đưá trẻ nữa quần áo bẩn thỉu, chân đi đất, xúm vào bu xung quanh hai thằng nhỏ đánh giày, khiến anh tự nhiên hồi hộp như ngày xưa mỗi lần theo đoàn quân vào vùng lửa đạn.

Hai con cá trong một cái keo, không biết thù nhau tự kiếp nào xông vào nhau, hai cái thân cá mình xanh vây đỏ lúc ấy phồng lên những chiếc vảy óng ánh, mình chúng như to ra qua thành thuỷ tinh, xoắn lấy nhau đẩy ra những cú húc tơi tả. Lũ trẻ vây xung quanh nín thở, hai con cá lia thia mê mải tấn công nhau, thỉnh thoảng chiếc mỏ cá lại va vào thành keo đau điếng. Sau một lúc quần nhau dữ dội, một con như ngộp thở ngoi lên mặt nước hớp không khí, cái mình cá vẩy óng ánh màu xanh nay đã nhợt nhạt như màu miếng vỏ dưa cố chạy thoát thân, lũ trẻ đứng bên ngoài vỗ tay hét rộ lên những tràng cười khoái chí.

Tan cuộc, hai thằng nhỏ đánh giày bỏ hai con cá cho người bán cá, bưng hộp đồ nghề đi về ngả thành phố, chỗ “hotel” và mấy quán rượu có đông người ngoại quốc và đám Việt kiều về thăm quê. Trời giăng giăng những đám mây đen khiến phố xá chừng như tối xầm lại, bất giác anh chợt nhớ đến cơn mưa đầu mùa của tháng tư năm nào làm lòng quặn lên một nỗi buồn. Tự nhiên, người phóng viên chiến trường năm xưa cảm thấy ngùi ngùi, tưởng mình như con cá bại trận manh giáp tả tơi, bị vứt lại bên lề đường một cách thảm thương

Tội nghiệp anh, những cuộn phim của dĩ vãng như run rẩy theo làn khói thuốc, anh bập hoài điếu thuốc đen trên môi, những móng tay cáu vàng ám khói. Cơn mưa chiều đột ngột đổ xuống rơi lộp độp trên tấm poncho nhà binh che trên vỉa hè, gõ những nhịp trống vào đầu khiến anh nghĩ đến những cơn mưa nơi vùng hành quân năm xưa, khi anh còn là một người lính. Anh tưởng tượng lát nữa đây khi về nhà, với âm thanh hùng hồn của một ngày nào rất xa, anh sẽ tường thuật cho đứa cháu ngoại nghe trận đá cá chiều hôm nay trước cửa trường học. Hai con cá cùng một loại đá nhau chí tử, một con thắng nhưng cũng ê ẩm, lòng vòng trong chiếc keo thuỷ tinh chật hẹp, không hy vọng đá nổi một trận nữa, một con bại anh quăng ra mặt đường, đã nát mình dưới những vòng xe lăn.

Phố đã lên đèn, anh thu dọn cửa hàng để về nhà mà lòng nặng trĩu một nỗi buồn không tên tuổi. Anh phóng viên chiến trường năm xưa thì thầm nói với mình, "Hơn ba mươi năm rồi, chẳng biết còn ai nhớ đến mình không nhỉ? "

Viết cho anh tôi, 1 phóng viên chiến trường.

NN
Về Đầu Trang Go down
nhatrang
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Sun Aug 24, 2014 1:15 pm




Mất mát


Ta lại về đây thăm chốn xưa
Hàng dừa cát trắng tắm trong mưa
Giọt buồn trời khóc hay ta khóc?
Biển sóng chập chờn nước đong đưa

Có phải đây là quê của ta?
Nha Trang ngày ấy nhận không ra
Còn đâu cảnh cũ người xưa cũ?
Lạ bước trên đường đi thật xa

Phố biển yêu thương của ta ơi!
Ngày xưa thân ái mất đâu rồi?
Thùy dương cát trắng còn đâu nữa?
Phố xá lao xao người những người!

Có phải đây là nhà của ta?
Hay quê ta ở tận nơi xa?
Trở về chỉ thấy mình với bóng
Lữ khách bơ vơ kẻ mất nhà

Cung Thị Lan





* Nguyễn Hồng Hạnh (Sacto CA)
Đọc bài thơ này Hồng Hạnh tôi biết Cung Thị Lan người Nha Trang thành phổ biển thơ mộng.
Nơi ấy sinh tôi ra 70 năm về trước, nhưng nay có còn đâu?
Từ ngày giặc cộng chiếm quê tôi, đã thay đổi từng mỗi tên đuờng, không những thế mà thay đổi luôn cả con người, từ những cô gái mỹ miều hiền dịu nay đã trở thành những người đanh đá, ranh ma... thật buồn và chán nản cho một kiếp con người.

.
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Fri Aug 29, 2014 5:08 pm





Hãy Ngủ Yên Đà Nẵng Của Tôi Ơi

Tôi viết bài thơ gởi về Đà Nẵng
Có còn chăng thành phố của bao giờ
Thuở học trò tôi viết mộng thành thơ
Thơ tôi đấy, sao buồn hơn nước mắt.
(Thơ Trần Trung Đạo)

Tôi viết về nhiều nơi, những nơi tôi đã đi qua và cả những nơi tôi một lần đặt chân đến. Tôi viết về Sài Gòn và những ngày bão lửa 75, về Hội An và những mùa lá đổ trước sân chùa, về khu kinh tế mới Đồng Xoài và những nơi mùa Xuân không còn trở lại.

Nhưng, ngoại trừ những dòng thơ của tuổi học trò nhiều sáo ngữ, mãi đến hôm nay tôi mới viết riêng một bài về Đà Nẵng. Tại sao? Đơn giản chỉ vì tôi muốn giữ riêng cho tôi trong giấc mơ về một thành phố dấu yêu, về những con đường hoa phượng đỏ và một thuở hoa niên đầy kỷ niệm.

Đà Nẵng của tôi, một thời được xem như là một Lebanon của Châu Á, thành phố chiến tranh, xô bồ, tang tóc. Nơi đó, tháng 3 năm 1965, bước chân của những người lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ để làm đầu cầu cho cuộc chiến tranh tốn kém nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Địa danh Đà Nẵng xuất hiện nhiều lần trong quân sử Mỹ, nhiều hơn cả những mặt trận lừng danh trong thế chiến thứ hai như Bulge, Ardennes, Midway v.v. Đà Nẵng với những doanh trại, bãi biển được gọi bằng tiếng Mỹ: China Beach, TienSa Camp, Monkey Mountain.

Đà Nẵng của tôi, nơi những buổi chiều của tuổi mười ba, tôi vẫn thường đứng nhìn những đoàn xe mang nhãn hiệu Sealand, RMK, GMC nối đuôi nhau mỗi ngày trên chiếc cầu màu đen mang tên của một viên tướng Thực Dân. Những chiếc chiến xa nặng nề, những khẩu đại pháo nòng dài được cất lên từ chiếc tàu lớn neo ngoài cửa biển Sơn Chà. Tiếng gầm thét của những đoàn phi cơ chiến đấu đang đáp xuống phi trường quân sự ngoài ngã ba Duy Tân. Tiếng nhạc, tiếng cười, tiếng chọc ghẹo, okie, hello, goodbye của những người lính Mỹ và những cô gái Việt Nam vào tuổi chị tôi, vọng lại từ những hộp đêm dọc bờ sông Bạch Đằng. Tất cả đã khơi dậy trong lòng tôi nhiều câu hỏi, nhiều băn khoăn và cả những tủi thẹn đầu đời của một đứa bé Việt Nam, xót xa cho số phận của một cây cổ thụ bốn ngàn năm đang biến thành cây chùm gởi. Tại sao? Tại sao lại là Đà Nẵng? Tại sao là Việt Nam quê hương tôi mà lại không phải một nơi nào khác?

Đà Nẵng của tôi, như định mệnh an bài, cũng là nơi an nghỉ của người lính Mỹ đầu tiên thuộc chiến hạm lừng danh Hoa Kỳ, USS Constitution. Không phải đợi đến 1965, khi các chiến hạm thuộc Đệ Thất hạm đội thả neo tại cửa biển Đà Nẵng để đổ bộ các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên, nhưng từ hơn 120 năm trước, Đà Nẵng đã là một nơi hẹn hò đầy định mệnh giữa quân đội Việt Nam thời Thiệu Trị và Hộ Tống Hạm Hoa Kỳ đầu tiên của hải quân Mỹ dưới quyền của hạm trưởng John Percival. Theo các tài liệu còn ghi lại, năm 1845, chiến hạm USS Constitution của Hải Quân Hoa Kỳ, trên chuyến hải hành 2 năm vòng quanh thế giới, dừng lại cảng Đà Nẵng để xin cung cấp thực phẩm và nước ngọt. Cũng tại hải cảng lịch sử nầy, Hạm trưởng John Percival xin phép quan trấn thủ thành Đà Nẵng để chôn cất thủy thủ William Cook vừa qua đời, dưới chân Núi Khỉ nằm trong rặng Sơn Chà. Thậm chí ông còn “viện trợ” 2 Mỹ kim để lo phần hương khói. Tiếc thay, chỉ vài ngày sau đó, vì việc triều đình Huế bắt giam Giám Mục Dominique LeFevre, đã làm cho tang lễ thắm đượm tình nhân đạo của con người, biến thành một xung đột quân sự giữa hai quốc gia. Cuộc chạm trán ngắn ngủi năm 1845 rất ít người biết đến. Những viên đại pháo bắn vào lãnh hải Việt Nam, dù chỉ để đe dọa, cũng đã vô tình gây thương tích cho quan hệ đầy oan trái giữa hai quốc gia Việt Mỹ sau này.

Đà Nẵng của tôi có khu Ngã Ba Huế nhộn nhịp, nơi tôi từ Hội An về thăm cô tôi những chiều thứ Sáu trong những chiếc xe khách hiệu Renault già nua màu xanh đậm. Tôi vẫn nhớ căn nhà nhỏ, ánh đèn dầu loe lắt, bàn tay xanh xao của cô khi dúi vào túi tôi những tờ giấy bạc được gói kín trong nhiều lớp vải. Đó là những đồng tiền khó khăn và vô giá mà cô dành dụm cho đứa cháu trai vào Hội An nương náu trong chùa ăn học. Tôi ra Đà Nẵng tìm cô vào đầu năm 1968. Nhà cô nghèo, con cháu lại quá đông. Nhiều đêm tôi phải ngủ đói trên căn gác của một trại cây ở hẻm 220 Hùng Vương, ngang hông phường Thạc Gián. Vài tuần sau, vì nhà đông đúc, cô đưa tôi đến sống với người anh họ và bà chị dâu vô cùng khó tánh ở Cỗ Mân, Sơn Chà. Chị dâu tôi khó tánh đến nỗi, chỉ sau một thời gian ngắn, tôi không chịu đựng được nữa nên lặng lẽ bỏ đi. Tôi vào chùa Viên Giác. Năm tháng như mây trời, bao độ hợp tan mang theo những giận hờn, thương ghét. Cô tôi đã về bên cõi khác nhưng lòng tôi sao vẫn nhớ vẫn thương. Trên xứ người, nhiều đêm không ngủ được, nhớ lại tiếng ho của người cô bịnh hoạn, tôi vẫn còn nghe nhức nhối như thuở mới về thăm. Chiến tranh và nghèo đói đã cướp đi bao thế hệ Việt Nam vô tội.

Đà Nẵng của tôi không phải chỉ là điêu linh tang tóc mà còn là thành phố cảng đẹp tuyệt vời. Những bờ biển uốn cong như mái tóc của người con gái Việt Nam đang đứng trông ra Thái Bình Dương bao la bát ngát. Từ eo biển mỹ miều đó những thương thuyền ngoại quốc đã đến thăm thành phố từ mấy trăm năm trước. Đà Nẵng của tôi có hàng phượng đỏ hai bên đường Bạch Đằng, đường Độc Lập với những chiếc ghế đá dọc bờ sông mang chứng tích của một thời học trò đầy kỷ niệm. Đà Nẵng của tôi có bãi Mỹ Khê (chứ không phải China Beach), với bờ cát trắng chạy dài và hàng dương vi vu theo gió, có bãi Thanh Bình với những chiếc ghe đánh cá đi về và cảnh chợ chiều nhộn nhịp. Những ngày hè oi bức, tôi và đám bạn vẫn thường ôm đàn ra ngồi dựa lưng vào những gốc dương liễu dọc bãi biển. Trong tiếng sóng từng nhịp vỗ vào bờ, chúng tôi cùng cất cao bài hát Ra Khơi như để cổ võ cho những chiếc thuyền đánh cá đang giong buồm ra biển. Tôi đâu biết vài năm sau, bạn bè tôi cũng lần lượt ra khơi như thế nhưng chẳng còn ai dám đến tiễn đưa.

Đà Nẵng của tôi có những hàng cây sao tình tự dọc đường Thống Nhất, nối từ bờ sông đi ngang qua Trường Nữ, nơi các cô cậu học trò Phan Châu Trinh, Phan Thanh Giản vẫn thường đứng đợi người trong mơ sau mỗi buổi tan trường. Những chiếc áo dài trắng thướt tha. Những mái tóc thề chấm vai thơ mộng. Những đôi mắt nai tơ đó đã từng là nguồn cảm hứng của nhiều nhà thơ xứ Quảng đa tình. Xin mời đọc vài câu thơ của nhà thơ Luân Hoán viết về các cô nữ sinh Đà Nẵng:

chiều chiều luồn chợ Vườn Hoa
trôi theo Đồng Khánh bám tà áo bay
mắt hồng liệng cái ngoắt tay
dắt qua Độc Lập dựa cây đèn đường
chập chùng xuân ảnh vải hương
ngó ai lòng cũng yêu thương tức thì
giả vờ châm thuốc nhâm nhi
nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình.
(Đà Nẵng, thơ Luân Hoán)

Các cô nữ sinh của một thời thơ mộng tung tăng như những con bướm vàng trên đường Thống Nhất, Lê Lợi, Hoàng Diệu, Khải Định ngày xưa, đã không về nữa. Các cô đã ra đi, đã bỏ lại sau lưng mình hàng cây sao rợp bóng bên đường, bỏ lại những chiếc ghế vuông, những ly chanh muối, những quán chè. Các cô bây giờ đã lớn, đã trưởng thành. Nhiều cô đã là những bà mẹ tay bồng tay bế, để rồi, 17 năm sau ngồi nhớ lại năm mình 17 tuổi.

Mười bảy năm trời không thấy nhau
Aó xưa giờ chắc đã phai màu
Tôi đi góp lá ngàn phương lại
Đốt lửa cho đời sương khói bay.
(Thơ Trần Trung Đạo)

Và các cậu học trò cũng thế. Những chàng thanh niên với buồng phổi và trái tim chất đầy hùng khí của xứ địa linh nhân kiệt đã ra đi. Thế hệ trẻ Việt Nam trong thời chinh chiến và cả khi đất nước hòa bình, đã chịu đựng quá nhiều thiệt thòi mất mác. Nỗi bất hạnh lớn nhất của một đời người vẫn là bất hạnh không có tuổi hoa niên. Các cậu học trò ngày ấy ra đi, bỏ lại sau lưng những chiếc xe đạp, những quán Cà-phê Thạch Thảo, Thanh Hải, Ngọc Lan, những rạp hát Trưng Vương, Chợ Cồn, bỏ lại cây đàn guitar cũ kỹ và những bản tình ca chưa viết trọn trong sân trường. Để rồi nhiều năm, sau cuộc biển dâu, chinh chiến, gian lao, tù tội trở về. Trở về chỉ để thấy thành phố xưa nay đã đổi chủ và con đường xưa nay đã đổi thay tên. Tuổi thơ không bao giờ trở lại. Suối vẫn chảy, nước vẫn reo nhưng điêu linh tang tóc đã xua bầy nai tơ lạc đàn đi biền biệt, mất dấu đường về bên khe đá cũ.

Sau 1975, những bãi biển Mỹ Khê, Thanh Bình, Tiên Sa, Thanh Khê, Tân Thái, Mân Quang, Chợ Mai, Chợ Chiều, Non Nước, Nam Ô, v.v.., vẫn còn là điểm hẹn nhưng không phải là nơi hẹn hò của những cặp tình nhân, nhưng là nơi những người con Đà Nẵng hẹn nhau để bỏ quê hương mà ra đi. Xin đừng hỏi họ đi đâu, về đâu trong những đêm tối trời lầm lủi đó. Không ai biết chắc. Chỉ một điều họ biết là họ không còn chọn lựa nào khác hơn là phải ra đi. Không một người dân Quảng nào bỏ quê hương ra đi mà không đau xót. Xin đừng dán lên lưng, lên trán họ những nhãn hiệu theo Tây, theo Mỹ. Không. Người dân Quảng là những người yêu nước. Ông cha họ đã từng cười mà bước lên máy chém Thực Dân. Những cơn bão lụt tàn phá mỗi năm đã không làm họ bỏ làng mạc ra đi. Nạn hạn hán làm ruộng đồng khô cháy mỗi năm không buộc họ phải bỏ mồ mả tổ tiên ra đi. Sụp căn nhà này họ căm cụi xây trên nền đất cũ căn nhà khác. Trôi căn nhà này họ lại xẻ gỗ, lợp tranh xây lên căn nhà khác. Bao thế hệ đã sống và đã chết trên vùng đất cày lên sỏi đá đó. Nhưng chế độ mới, một chế độ nhân danh những mục tiêu tốt đẹp nhất trên đời đã buộc họ phải ra đi. Sự thôi thúc của tự do như tiếng gọi thiêng liêng của người cha già vọng về từ một nơi xa thăm thẳm. Và sẽ không ai biết, bao nhiêu người, trong số hàng ngàn, hàng vạn người bỏ Đà Nẵng ra đi, đã đến được HongKong, Philippines và bao nhiêu người không may mắn đã bị chôn sâu trong lòng biển, chết thảm thương trong bàn tay hải tặc, chết trong đói khát sau những tuần, những tháng lênh đênh ngoài biển cả.

Thưa Mẹ
Chúng con là người Việt Nam lưu lạc
Ngày ra đi không hẹn buổi quay về
Chẳng phải là sương mù sao khóc lúc đêm khuya
Chẳng phải gió sao đời là giông bão
Chẳng phải mây sao miệt mài trôi nổi
Chẳng phải là rừng sao héo úa mỗi tàn thu.
Mười tám năm
Chúng con sống trong âm thầm và chết giữa hoang vu
Biển cả, rừng sâu, non mờ, núi thẳm
Chúng con đi gót chân mòn vạn dặm
Ngơ ngác nhìn nhân loại, tủi thân nhau.
(Thơ Trần Trung Đạo)

Hai mươi tám năm, quá khứ có thể quên dần nhưng hiện tại thì sao? Xin đọc một bản tin của báo Thanh Niên phát hành tại Sài Gòn ngày 18 tháng 7 năm 2003: “2 nữ sinh10 tuổi, của Trường Trung Học Hòa Phước và 1 nữ sinh Trường Trung Học Phan Thanh Tài thuộc thôn Giáng Nam 1, xã Hoà Phước, huyện Hòa Vang, Đà Nẵng, bị hụt chân chết đuối trong khi đi cào hến và bắt ốc kiếm tiền mua sách vở chuẩn bị vào năm học mới.” Sau 28 năm “độc lập, tự do, hạnh phúc”, tuổi thơ xứ Quảng vẫn còn phải bắt ốc hái rau kiếm tiền mua sách vở cho năm học mới, chẳng khác gì chuyện hai đứa bé Nghi Xuân Tấn Lực trong cổ tích Phạm Công Cúc Hoa ngày xửa ngày xưa. Tại sao và tại ai ? Phải chăng nên đổ thừa cho ốc hến?

Đà Nẵng của tôi, sau 1975, không còn thơ mộng nữa. Những câu ca dao đậm đà tình quê hương đất nước: “Ngó lên hòn Kẽm đá Dừng, thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi” đã được thay bằng những khẩu hiệu đấu tranh giai cấp chất chứa toàn chuyện oán thù. Những điệu hò khoan đậm đà hương vị Quảng Nam “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, rươụ hồng đào chưa nhấm đà say” đã được thay bằng những những đêm dài học tập, thảo luận, khuyến khích thầy cô, cha mẹ, anh em tố cáo lẫn nhau. Ánh trăng không còn là những dải lụa vàng Duy Xuyên đang trải trên dòng sông Hàn mỗi đêm Rằm, nhưng là những vết dao nghèo đói đang chém xuống một quê hương vốn đã chịu đựng nhiều bất hạnh.

Ngày cuối cùng của tôi ở Đà Nẵng như đoạn kết của một cuốn phim buồn. Tôi và cô bé, lý do cho những bài thơ tình học trò đầy sáo ngữ của tôi, ngồi trên chiếc ghế đá trên đường Bạch Đằng, nhìn sang hướng Sơn Chà.

- Anh sắp phải đi xa.
- Em biết.
- Sao em biết, anh chưa nói với em mà?
- Anh nói với em rồi. “Anh phải vô Sài Gòn học đại học. Học xong anh sẽ về quê, không đi nữa.” Em còn nhớ anh nói với em câu đó lúc mấy giờ, ngày nào và tại đâu nữa kìa.
- Không phải. Đó là chuyện hồi chưa “giải phóng”, bây giờ thì khác.
- Bây chừ anh tính đi đâu?
- Anh vượt biên. Nếu đi lọt, có thể anh sẽ qua Mỹ học.
- Bộ ở Việt Nam không có trường cho anh học sao. Em nghe nói Mỹ xa lắm, chắc là xa hơn Sài Gòn nhiều. Mùa hè làm sao anh về thăm quê được.
- Anh sẽ về nhưng chắc không phải mùa hè.
- Anh lại hứa.

Hai đứa nhìn ra sông. Chiếc phà An Hải vẫn mệt mỏi đưa người qua lại. Giọng hát buồn não nuột của anh thương phế binh cụt hai chân từ ngoài bến vọng vào: “Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi. Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì. Tôi là người đi chinh chiến dài lâu. Nên mộng ước đầu nghe như đã chìm sâu”. Anh hát để tưởng nhớ bạn bè nhưng không biết rằng bạn bè anh đang lần lượt bỏ anh đi. Hàng phượng dọc bờ sông đã bắt đầu nở rộ nhưng không còn để “Mỗi năm đến hè ,lòng man mác buồn” nhưng là mùa chia tay vĩnh viễn, nát tan.

Nước sông Hàn lững lờ trôi mang theo dăm chiếc lá. Hai đứa ngồi im lặng, không biết phải nói gì. Nói gì rồi cũng chia tay. Em đơn giản, hồn nhiên và ngây thơ đến tội nghiệp. Em sẽ chẳng thể nào hiểu được tôi, và tôi cũng chẳng biết giải thích thế nào cho em hiểu. Trái đất của em nhỏ nhoi, bao bọc bởi những rặng tre xanh hiền hòa. Tâm hồn em là giòng sông mùa thu êm đềm, tĩnh lặng. Tâm hồn tôi thì hoàn toàn tương phản, trùng điệp núi đèo, ghềnh thác. Tôi sinh ra trong cuộc đời này để gánh hết khổ đau, để làm tên du mục đi lang thang trên chính quê hương mình. Và ngày mai, tôi lại sẽ bắt đầu hành trình du mục mới. Con nước trôi còn biết mình đang ra biển. Chiếc lá rơi còn biết cội quay về. Nhưng tôi không biết sẽ về đâu. Khi xa Đà Nẵng, nếu có một điều tôi đã không dám nói với em, đó là một lời xin lỗi mãi mười năm sau tôi mới viết thành thơ:

Tôi vẫn nợ em một lời xin lỗi
Nợ quê hương một chỗ đất chôn nhau
Nợ cha mẹ những nhọc nhằn khuya sớm
Tôi nợ tôi mộng ước thuở ban đầu.
(Thơ Trần Trung Đạo)

Hai mươi hai năm rồi tôi chưa về Đà Nẵng. Cô tôi đã qua đời. Bạn bè mỗi người một ngã. Cô bé ngày xưa đã có gia đình. Khuôn mặt thành phố mang nhiều thay đổi. Đà Nẵng thân yêu ơi, có còn nhớ đến tôi không? Căn gác đường Hùng Vương, căn nhà lá phía trong Ngã Ba Huế, cồn cát trắng ở Mân Quang, nơi tôi chôn dấu kho tàng tuổi thơ khốn khổ của mình, biết có còn nhận ra tôi, cho dù tôi trở lại. Và đêm nay, tôi ngồi đây, tưởng tượng một ngày về Đà Nẵng:

Có còn nhận ra tôi không?
Hỡi thành phố cũ
Những mái ngói xanh rêu
Bức tường vôi loang lỗ
Bài thơ xưa ghi dấu một phần đời

Có còn nhận ra tôi không?
Hỡi mơ ước tuổi hai mươi
Bờ bến cũ, ngậm ngùi thân sỏi đá
Tôi về đây, sông xưa, dòng nước lạ
Ngó mây trời mà khóc tuổi hoa niên

Có còn nhận ra tôi không ?
Hỡi cây đa cũ trong sân
Nơi tôi đứng những chiều thu lá đổ
Đừng hát nữa đa ơi, bài ca buồn vạn cổ
Tấm thân gầy đau nhức nhối trong đêm

Có còn nhận ra tôi không?
Hỡi những giọt cà-phê đen
Ly rượu đắng cho môi đời bớt nhạt
Khói thuốc bay như mây trời phiêu bạt
Trên con đường nay đã đổi thay tên

Có còn nhận ra tôi không?
Hỡi bè bạn anh em
Ai còn sống và ai đã chết
Ai ở lại lao đao, ai phương trời biền biệt
Giờ chia tay sao chẳng hẹn quay về

Có còn nhận ra tôi không?
Hỡi ghế đá công viên
Những mái lá che tôi thời mưa nắng
Từ nơi đấy trong đêm dài yên lặng
Tôi ngồi nghe sông núi gọi tên mình

Có còn nhận ra tôi không?
Hay tại chính tôi quên.
(Thơ Trần Trung Đạo)

Và biết đâu, nhờ chưa về, mà thành phố còn nguyên vẹn trong trái tim tôi, bởi vì, nếu tôi về thăm, Đà Nẵng chắc sẽ không còn nữa. Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi.

Trần Trung Đạo
Về Đầu Trang Go down
Ng.Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Thu Sep 18, 2014 10:50 pm


NỒI  CANH  RIÊU  CÁ


Truyện Nguyên Nhung



Cứ ra Tết độ mùng bảy là cụ Chánh lại làm một nồi canh riêu cá. Lúc ấy trời đã sang xuân, nắng dịu, gió thổi hiu hiu, những món rau tươi cũng rất sẵn sàng cho nồi canh riêu cá được đậm đà, mát mẻ hơn. Mọi người sau những ngày Tết ăn nhiều thứ nóng nảy, nặng bụng, đều cảm thấy khoan khoái, dễ chịu với nồi canh riêu cá, một món ăn dân giả, ngon miệng trên những mâm cơm của gia đình miền Bắc.

Bà Chánh người Bắc Ninh, nơi xuất xứ những bài dân ca quan họ nổi tiếng. Thuở còn trẻ, bà cũng có đi hát đối, không phải vì ăn chơi, lãng mạn gì nhưng đấy là nền văn hoá đặc trưng của dân tộc. Bà Chánh vào Nam thấy đám trẻ mỗi lần hát bài Dân ca Quan Họ, bà lại nhớ đến khúc "Người ơi, người ở đừng về" , cũng vì mấy câu "Hai bên vạt áo ướt đầm như mưa" mà ông Chánh độ ấy còn trẻ, gốc người Thái Bình, đã phải về quê nói với cha mẹ đến xin cô gái Bắc Ninh về làm vợ.

Năm năm mươi tư, dạo ấy bà Chánh còn trẻ, mới độ bốn mươi thì ông chết, bà một mình dẫn ba người con xuôi Nam. Bà Chánh vẫn ở quê chồng, tỉnh Thái Bình, vùng đồng chiêm. Sau khi ông Chánh qua đời, bà Chánh nửa muốn đem con về quê mình, nhưng rồi thời cuộc đưa đẩy, từ đấy cứ theo người làng nước chạy ra Hải Phòng xuống tàu đi Nam. Bởi vậy khi ra đi, bà cũng mất liên lạc luôn với gia đình ở quê nhà, lúc cùng lũ con ngồi trên chiếc tàu há mồm của Mỹ lênh đênh từ biển Bắc xuôi về Nam, nước mắt bà cứ tuôn như mưa. Nhờ ơn trời cả nhà đi được hết, không thiếu một mống. Năm ấy anh con trai cả mới mười tám, đứa con út lên bảy. Cũng vì bà muộn con, lấy chồng mấy năm cầu khẩn mãi trời mới làm phúc cho được mống con trai, rồi thêm luôn hai cô con gái.

Tưởng hôm ấy ra đi bà Chánh bặt tin luôn người thân ở quê nhà, nhưng lần hồi khi vào Nam họ cũng gặp lại nhau. Hóa ra lúc thời thế hỗn độn, người nào người nấy cứ im ỉm mà từ giã làng quê. Lắm nhà kẻ ở người đi, chỉ có một dải đất mà biền biệt ngóng chờ nhau đến hai mươi năm chưa gặp lại. Hai mươi năm ly loạn, bom đạn giăng giăng trên quê hương làm đau lòng người dân hiền lành trên hai miền đất nước, bà Chánh vẫn khắc khoải nhớ từng con đường làng, lũy tre xanh, những thửa ruộng xanh màu lá mạ, gác chuông nhà thờ vươn lên khoảng trời đầy mây tím, vài cánh chim bay về tổ mỗi khi chiều xuống. Miền Nam mưa nắng hai mùa, Tết đầu tiên đón Xuân trời nắng chang chang, món thịt đông miền Bắc không thể thực hiện được. Chợ Tết dưa hấu chất cao như núi, bánh tét thay cho bánh chưng, mùa Xuân mà nóng đến chảy mỡ, bà cứ nhớ cái rét ở quê xưa thắt cả ruột.

Bà Chánh tiêu biểu cho một người phụ nữ Việt Nam hiền lành, tần tảo và đảm đang. Bà chẳng hiểu chính trị, chính em là gì, nhưng từ lúc Tây về nước, Việt Minh lên nắm chính quyền, rồi sau này lại bảo là Cộng Sản, xem ra làng quê đã có chiều thay đổi. Từng đoàn bộ đội từ mặt trận kéo về, ngày thì họp, đêm lại văn nghệ, đánh trống, phèng la, thanh niên nam nữ, trẻ con trong làng họp nhau lại để nhảy "son đố mì " thì bà đâm sợ. Tự nhiên người ta nhòm ngó nhau từ cái rổ đi chợ cho đến nồi cơm trong bếp, người ta bươi móc sự giàu nghèo của nhau mà kết tội. Làng bên chồng lẫn lộn vàng thau, chẳng biết ai tốt ai xấu, ai thật ai giả, có một số đi biệt đã lâu nay trở về xem chừng con người đổi khác. Mỗi chiều, ngay cả tiếng chuông nhà thờ nghe cũng đã buồn mênh mang, dường như từ độ ấy, nghe đã vắng tiếng cười vui trong các thôn ổ, gặp nhau bỗng nghi ngại điều gì, đa số những người lớn tuổi thường nhìn nhau rồi quay vội đi nén tiếng thở dài. Tuy là đàn bà, lại góa bụa, nhưng bà cũng biết nhìn xa, cứ kiểu cách này thì đám con bà khó mà nên người. Thế là một đêm tối trời, bà dẫn lũ con theo dăm người trong họ nhà chồng bỏ làng ra đi, nước mắt cứ tuôn như mưa giầm tháng Bảy.

***

Quan trọng nhất vẫn là vại dưa, vại cà, Tết lại phải thêm món dưa hành để ăn với thịt mỡ. Món dưa hành miền Bắc sau này cũng có khác đi khi ở miền Nam, vì mỗi nơi có một lối muối khác nhau. Miền Nam ăn cái gì cũng ngọt, cho nên dưa hành chua ngọt ăn cũng hay hay. Ở làng bà ngày xưa, hễ thời làm con gái là phải biết muối dưa muối cà, cô nào đoảng vị, "muối dưa, dưa khú, muối cà, cà thâm" là kể như ế chồng.

Nay thì mọi người đã gọi bà Chánh bằng cụ, khi anh con trai lấy vợ rồi có được ba đứa con lớn lồng nhồng cả lên. Cô con gái kế cũng đi lấy chồng, còn mỗi cô út kén cá chọn canh vẫn ở nhà với mẹ, cụ Chánh vẫn ở với con trai. Phong tục Việt Nam mình thế, "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử". Đó là cụ theo lối cổ, chứ thời buổi này mọi thứ thay đổi cả rồi, còn mấy ai lại chịu lệ thuộc con cái như phụ nữ Việt Nam ngày xưa.

Buổi sáng hôm nay, cụ Chánh vọc tay vào vại dưa, xem lại mớ dưa chua cụ làm từ trong Tết. Mấy ngày Tết, cả nhà đã thanh toán nhanh chóng mấy món thịt đông, thịt kho nước dừa ăn với dưa cải, dưa hành của cụ. Dạo còn ở Bắc cụ Chánh chỉ làm thịt kho tàu, thịt thái từng miếng nhỏ cỡ hai đốt ngón tay, kho xong miếng thịt đỏ au, tươm mỡ, rất đậm đà. Nhưng từ lúc vào Nam, cụ bắt chước người miền Nam cắt thịt từng miếng to tướng, kho với hột vịt và dùng nước dừa tươi, nồi thịt kho trông thật hấp dẫn, vừa mềm, vừa béo, vừa thơm. Dầu vậy, thịt kho tàu hay thịt kho nước dừa, nếu không có món dưa cải chua thì vẫn chưa đủ bộ. Ngay từ khi miếng dưa chua chưa đủ chua, còn nồng nồng vị cay và thơm lựng mùi hành xanh, các con các cháu cụ đã thắc thỏm khen ngon , đã bảo cụ Chánh làm dưa khéo từ hồi con gái.

Hôm nay chỉ còn ít thịt kho, cả nhà ăn đã ngán, cụ Chánh nhìn mớ dưa còn lại bảo con dâu:

- "Hôm nay đi chợ nhớ mua bún, cá thu tươi với lại cà chua, thìa là , hành lá. Nhớ là cà chua phải thật chín, rau sà lách, rau kinh giới và tía tô, thêm một bó ngò rí nữa mẹ nó ạ."

Cô con dâu người Nam, gốc miền Tây Nam Bộ, tính tình rất đơn sơ cho nên độ mới về làm dâu, mẹ con cũng có vài khác biệt nho nhỏ. Chẳng hạn cụ kho thì phải mặn, người miền Nam lại thích ngọt cho nên lúc nấu ăn, thế nào cũng phải cho thêm tý đường. Lâu dần cụ Chánh cũng quen với lối nêm nếm cuả miền Nam, ăn canh chua đã thấy ngon, nhưng món riêu cá của cụ cũng chẳng xa lạ gì với cô con dâu gốc Nam Bộ ấy nữa. Bây giờ "Nam Bắc đề huề", cô con dâu đã biết pha tiếng "ạ" mỗi lần nói chuyện với bà con bên chồng, cái giọng Nam pha Bắc nghe ngọt ngào dễ thương làm sao.

Cô con dâu hiểu ý mẹ chồng, năm nào cũng vậy, nồi canh riêu cá là món cuối cùng tổng hợp tất cả những món ngon ngày Tết còn lại, vậy mà cả nhà ai cũng thích. Chị xách giỏ đi chợ, nhớ kỹ những món mẹ chồng dặn, vì cụ Chánh chả mấy khi ra chợ, cụ ở nhà lãnh phần ru cháu ngủ. Ra Tết đồ hàng bông rất rẻ và rất non, xanh mươn mướt. Bao năm rồi về làm dâu cụ Chánh, chị đã quen cái món rau xanh ăn với canh riêu cá của bà mẹ chồng. Những món bánh chưng, lạp xưởng, giò thủ, giò lụa, thịt kho, xáo măng giờ này xem đã nặng bụng lắm. Giữa tiết trời thế này, trong người thấy hao háo một cái gì man mát, tươi tươi , xem ra món canh riêu cá đáp ứng thật là đúng lúc.
Cô con dâu đi chợ về, bình thường thì chị vẫn nấu ăn, nhưng đặc biệt món canh riêu cá ngày đầu năm phải đích thân do cụ Chánh nấu. Cụ rửa sạch mấy khứa cá thu với một chút nước muối, bao nhiêu thứ tanh tưởi trôi đi nhờ nước muối. Sau đó, cụ xát một chút muối tiêu vào từng khứa cá, rồi mới chiên sơ trên chảo mỡ. Cụ Chánh vớt hết dưa chua còn lại trong vại, dưa đã chua, ăn tươi thì hơi ghê răng nhưng chua thế này thì nấu riêu ngon tuyệt. Cụ trầm trồ nhìn mớ cà chua chín đỏ thẫm, cà phải chín thì nồi canh mới ngon, là vì trong cái chua ngọt của cà lẫn với cái chua dôn dốt của dưa, nó hòa hợp y như là có thuyền thì phải có sông vậy.

Cụ Chánh thái dưa, thái cà, đảo trên bếp với một chút hành lá, rồi tất cả những thứ thịt thà, mắm muối còn dư trong trạn cụ đổ cả vào nồi riêu. Người ta cho cụ là người tằn tiện, không bỏ phí một tí gì, nhưng nếu đã trải qua trận đói năm Ất Dậu như cụ, cả nhà suýt chết đói nếu không có người họ hàng giúp cho ít gạo nấu cháo, thì không thông cảm được cái lòng của cụ. Cái kinh nghiệm quí giá ấy, sau này các con cụ mới thấy rõ, nhất là anh con trai phải đi "cải tạo" mấy năm, càng nghĩ anh lại càng thương mẹ đã chắt chiu, tiện tặn.

Bây giờ cụ Chánh quay lại với nồi canh dưa của mình. Tý nữa thì cụ quên, còn phải cho vào tí mắm tôm, nhờ vậy hương vị của nồi canh dưa mới đậm đà, mà mấy anh muối hoặc nước mắm không làm sao có được. Ngần ấy thứ hỗn hợp với nhau, có thể nói nồi canh riêu cá là một thứ canh đặc biệt hòa hợp tất cả những thứ đồ ăn linh tinh còn lại của nhà bếp, bát thịt kho cũ, bát mắm ăn dở, tất cả trộn lẫn vào nhau để thành một hương vị riêng. Bếp vừa lửa, canh sôi vài dạo, canh dưa phải nấu kỹ mới ngon, nhưng cũng không lâu quá để miếng dưa cải vẫn còn hơi sần sật, và cái màu cà chua đỏ thẫm lẫn lộn với màu dưa cải vàng, một lớp mỡ váng trên mặt nồi canh, nhìn đã thấy thèm.

Cụ Chánh cho những khứa cá thu chiên vào nồi canh dưa, cá lẫn với dưa, bốc lên một mùi dễ chịu. Người ta cũng có thể nấu dưa với sườn heo non, hoặc thịt bò bắp, nhưng thật ra không anh nào qua mặt được thứ riêu cá. Cụ sống ở vùng biển nên dùng cá biển cho tiện, thực ra thịt cá thu vừa thơm, vừa bùi, đem kho riềng thì phải gọi là vô địch trong các thứ cá, trẻ con ăn không sợ hóc xương. Nồi canh dưa không thể nào ngon nếu không có hành, thìa là. Khi nấu canh xong, người nội trợ phải cho vào nồi canh rồi bắc ngay xuống bếp, mùi hành lá và thìa là đặc biệt dậy lên một mùi thơm khó mà tả nổi.

Trong lúc nồi canh đặt trên bếp, cụ Chánh đã lo sửa soạn món rau sống. Trong chiếc rổ to, những cọng sà lách non mềm mại, tươi hơn hớn như con gái đang xuân, rau ngò rí thật thơm, kinh giới, tía tô, dấp cá đầy vị thuốc. Người Việt Nam mình sống trên đống thuốc mà không biết, những thứ rau cỏ hàng ngày đã cung cấp bao nhiêu thứ mát tì, mát vị, bổ âm bổ dương, lại cứ cầu kỳ đi tìm những thứ thuốc giời ơi, uống lắm chỉ phá gan, nát thận. Cứ nghiệm cái câu "thịt cá hương hoa, dưa cà căn bản", mới biết ông bà ta ngày xưa đã tìm ra được chân lý trong vấn đề ẩm thực, mới thấy cái văn minh, văn hóa của dân tộc tiềm tàng ngay từ trong cách ăn, nết ở.

***

Trưa hôm ấy, mâm cơm được dọn lên chỉ duy nhất có nồi canh riêu cá, đấy là dấu hiệu báo Tết đã hết, các món ngon, đầy bụng cũng không còn, nhà nhà đã trở lại những thức ăn dân giả đạm bạc. Gia đình anh con trai cả, gia đình cô con gái lớn, cô con út chưa chồng nhưng anh rể tương lai cũng được mời đến ăn canh riêu cá của cụ, chắc chắn là anh sẽ thành con rể sau này khi đã có dịp thưởng thức canh riêu cá.

Cả nhà quây quần quanh nồi canh riêu nóng, một rổ bún trắng ngần, mát như lụa, bún chan canh riêu nóng ăn với rau sống và một chút nước mắm cay. Cái hài hòa của thực phẩm và rau cỏ đi với nhau làm khoan khoái lục phủ ngũ tạng trong cơ thể con người, nhưng cái chính là nó đã nói lên sự bền chặt, ấm áp của một gia đình đoàn tụ. Họ nhai rau ráu, họ húp sùm sụp, miếng rau quyện vào miếng cá, bún cứ thế trôi tuồn tuột vào bao tử mọi người trong nhà, ăn đến đâu mát ruột đến đấy. Cụ Chánh hể hả nhìn niềm vui khoan khoái giãn ra trên nét mặt lũ con cháu cụ. Bát canh riêu cá chứa đựng biết bao nhiêu tình yêu của một người mẹ, đậm đà như miếng cá nằm trong bát canh sóng sánh, mát mẻ dịu dàng như các thứ rau xanh biểu hiện cho một tấm tình quê mộc mạc, chuyên chở được tất cả tình thương của người mẹ Việt Nam trong gia đình, với tình quê hương bàng bạc trong đó.

Sau bữa ăn, hai cô con gái phụ chị dâu dọn dẹp mâm bát, cả nhà quây quần trong phòng khách uống nước vối ăn chè kho. Năm nào cũng thế, nồi chè kho ăn lăn lóc mãi ra giêng cũng chưa hết, vì nó ngọt quá, nhưng cứ xong một bữa canh riêu cá ngon lành, miếng chè kho hình như bùi đậm hẳn lên, khi được chiêu bằng ngụm nước vối nóng.

***

Chẳng ai ngờ được có một ngày cụ Chánh lại theo đám con sống ở quê người. Sau năm 75, anh con trai bị đưa đi cải tạo ngoài miền Bắc, cụ lại khăn gói gió đưa đi thăm con, rồi nhân tiện đáo về quê cũ thăm mồ mả cha mẹ, ông bà. Bao nhiêu năm xa quê, cụ cứ thắt cả ruột khi nhìn lại xóm làng cũ, nơi chôn nhau cắt rốn nay đã tàn tạ, xác xơ, may là mồ mả cha mẹ vẫn còn vì nhờ có mấy tấn đá ong quây quanh nên cũng còn dấu vết.

Chuyến xe lửa từ Nam ra Bắc, đi qua bao nhiêu đoạn đường dài, cụ Chánh không ngủ được, cụ đứng tựa vào khung cửa sổ của con tàu, ngắm nhìn cảnh quê xưa đang lần lượt trở về trong tầm mắt của cụ. Làng xóm miền Nam khác xóm làng miền Bắc, chỉ cần vượt qua ranh giới hai miền là cụ đã nao nao xúc động, khi nhìn thấy cây đa cao ngất với những luỹ tre xanh bao bọc thôn làng, dăm nóc nhà ngói đỏ, mấy đứa trẻ con đang chơi đánh đáo dưới bóng cây cổ thụ râm mát. Cụ cứ bùi ngùi mãi, lúc bước thấp cao về tới quê xưa, ngôi Thánh Đường hồi ấy đẹp đẽ xiết bao, nay đã nghiêng ngả, tiều tụy như người ốm lâu ngày không vực được dậy. Nhưng lúc ấy hai miền Nam Bắc có khác gì nhau, mà cụ cũng không còn đường để chạy, mãi cho đến ngày anh con trai và cả gia đình được đi Mỹ theo diện HO, là cụ vui vẻ đi ngay không nuối tiếc.

Nói như thế không có nghĩa cụ là người bạc bẽo với quê hương, nhưng nếu không theo con cháu đi nước ngoài, mong gì cụ có để giúp đỡ cho người còn ở lại. Sang Mỹ, người cụ có khoẻ ra nhưng cái lưng lại còng hơn, bao nhiêu năm vất vả người cụ không đổ xuống là may. Suốt ngày trong nhà, cụ lạch từ nhà trên xuống nhà dưới, từ trong nhà ra ngoài sân, rồi từ cái khoảng sân sau mát mẻ ấy, cụ trồng rau. Anh con trai sợ mẹ già vấp ngã khi vun tưới cho vườn rau sau nhà, đã gắn sẵn cho mẹ một hệ thống tưới cỏ tự động. Cứ mỗi chiều, cụ Chánh lạch bạch ra vườn, ngồi ở mé hiên gần cây hoa đào, phe phẩy chiếc quạt trong tay, cụ nhìn những tia nước phun lên rào rào trên những luống rau, luống cà, cụ lại ngỡ trời mưa. Cơn mưa xuân ở quê nhà ngày xưa cũng y như thế, trong trí cụ lại lan man hình ảnh mình với áo tứ thân, những câu dân ca Quan Họ ngày trẻ tuổi. Cánh đồng lúa chín với những cô thôn nữ hai má rám nắng hồng, đôi môi đỏ vì miếng trầu cánh phượng, những mối tình quê mộc mạc và đằm thắm, ý tứ kín đáo mà lại biết bao nhiêu tình. Buổi chiều mắt cụ Chánh tuy đã hấp hem, nhìn những giọt nước đọng trên rau cỏ trong vườn, sao nó cứ thấm thía tình tứ như câu quan họ ngày xưa:

"Người ơi! Người ở đừng về,
Người về ta chẳng ý y cho về,
Ta giữ vạt áo, ý a ta đề câu thơ,
Người ơi! Người ở đừng về
Người về em những ý y khóc thầm,
Hai bên vạt áo ướt đầm, đầm như mưa,
Người ơi! Người ở đừng về..."

Không biết có phải vì chiều nay nắng hanh hanh, cơn gió Xuân chợt tới mà bà cụ già tự dưng lại cất cái giọng khàn khàn để ca lại cái bài Dân ca Quan họ . Những giọt nước mắt nóng hổi bỗng dưng cứ chảy dài xuống đôi gò má nhăn nheo, cụ lấy vạt áo lau vội đôi hàng ïlệ, hóa ra cái tình quê vẫn còn nguyên trong lòng cụ, như hương vị nồi canh riêu cá cụ cũng vẫn mang theo từ quê nhà tới quê người. Thế cho nên dẫu sống ở xứ người, sung sướng tới đâu, chẳng mấy ai đã quên được mảnh đất quê nhà, và những kỷ niệm ở quê hương, một lúc nào đó sống dậy, lại biến thành những nỗi nhớ đằm thắm dịu dàng cho suốt một đời vậy.

Bởi thế, đã bao nhiêu năm qua đi không thay đổi, nhà cụ Chánh vẫn duy trì nồi canh riêu cá, rau tươi và món chè kho vào ngày mùng bảy Tết. Đạm bạc, đơn sơ, nhưng cái ấm cúng của một gia đình xum họp, ràng buộc với nhau bằng nồi canh riêu cá của bà mẹ già mới là những gì phải ghi nhớ mãi.

Để tưởng nhớ đến Mẹ Già
với "Nồi Canh Riêu Cá" ở quê nhà năm xưa.

Nguyên Nhung

Về Đầu Trang Go down
HoangNL
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Mon Sep 22, 2014 2:28 pm



ĐƯỜNG VỀ QUÊ CŨ  
                                           
                                                         
Hoàng Nguyên Linh      
                                                     
     Sau bao năm đắn đo và suy nghĩ, cuối cùng tôi đã về Việt Nam. Tôi về với một mục đích chính là thắp nén hương lên mộ mẹ tôi, người mẹ mà trên 50 năm tôi không gặp.

     Phi cơ chở tôi đáp xuống phi trường Nội Bài Hà Nội. Tôi không có một cảm giác gì cả. Tôi không vui, không mừng. Có lẽ tại tôi đi xa Việt Nam quá lâu hay tại tôi chưa từng sống ở Hà Nội, hoặc có thể vì nơi đây là trung tâm quyền lực đã điều khiển cuộc chiến kéo dài bao nhiêu năm khiến cho hàng triệu người chết. Thành phố này tôi không có kỷ niệm như Sài Gòn nên đến Hà Nội tôi cảm thấy như mình là một du khách đến thăm một xứ lạ. Lúc chưa về Việt Nam tôi nghe người ta  nói muốn đi dễ dàng, không bị làm khó thì bỏ 10, 20 đô la vào cái sổ thông hành, lại có người nói nếu bỏ tiền vào đó coi chừng bị gài bẫy… cho nên đầu óc tôi khá căng thẳng, tôi không biết nên  chọn lựa thế nào cho đúng…

     Trước kia tôi nghe người ta tả cảnh thật đẹp của Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường, với Hồ Hoàn Kiếm, đền Quan Thánh, Hồ Tây, chùa Một Cột, Văn Miếu Quốc Tử Giám vân vân, nhưng nay đến Hà Nội những nơi này không có gì lôi cuốn tôi. Tôi ở khách sạn nằm trên phố Hàng Đường, rất gần với chợ Đồng Xuân, ngôi chợ này không lớn như tôi tưởng, có lẽ nhỏ hơn chợ Bến Thành trong Sài Gòn, nhưng tôi nhớ nó và muốn biết nó vì lúc mới di cư vào Nam, bố tôi xin cho tôi nhập học lớp Nhất trường tiểu học di chuyển Tôn Thọ Tường. Sáng và chiều là của trường chính, chúng tôi đi học nhờ nên chỉ được xếp vào buổi trưa. Trong giờ tập đọc cô giáo gọi tôi lên đọc bài, bài tập đọc nói về chợ Đồng Xuân, tôi không nhớ bài này trích từ đâu và tác gỉa là ai, nhưng khi đọc hết bài cô giáo hỏi tôi “Chợ Đồng Xuân ở đâu?”. Tôi sợ quá, lính quýnh trả lời liều: “ Thưa cô ở ngoài Bắc”, cô giáo hỏi vặn tôi: “ Ngoài Bắc, nhưng ở tỉnh nào hay thành phố nào?”, tôi không trả lời được. Có lẽ cô giáo thấy một thằng bé quê mùa như tôi, từ Thái Bình (người ta hay gọi đùa là Thái Lọ) vào thẳng Sài Gòn nên không biết Hà Nội, không biết chợ Đồng Xuân. Từ đó tôi nhớ mãi tên của ngôi chợ này.

     Sau khi đi thăm hết các nơi chính, chúng tôi hỏi người tài xế của hãng du lịch là ăn ở đâu ngon nhất đưa chúng tôi đến, anh tài xế đề nghị nên đến quán chả cá Lã Vọng vì hầu hết khách du lịch Hà Nội mọi người đều ghé quán này nó vừa ngon, vừa rẻ. Đến cửa chúng tôi phải đứng đợi khỏang 30 phút. Mùi mắm tôm cùng với mùi cá nướng và lá thì là thơm phức càng lôi cuốn khách đứng đợi. Khi chảo cá nướng được mang lên, tôi tò mò hỏi người bồi: “Ở đây anh dùng mỡ gì để nướng cá?”, người bồi hãnh diện trả lời: “ Chúng tôi dùng mỡ lợn, ngon lắm”. Anh ta dùng danh từ “mỡ lợn” khiến tôi phát sợ, nếu dùng danh từ quen thuộc “mỡ heo” như trong Nam có lẽ tôi bớt sợ hơn, và từ đó tôi không bao giờ vào quán này nữa dù quán cùng nằm trên phố Hàng Đường nơi tôi ở. 

     Sau 3 ngày ở thành phố này tôi không thấy có gì lôi cuốn. Thành phố quá xô bồ, bụi bặm, mùi cống rãnh xông lên hôi thối, xe gắn máy chen chúc nhau trên phố, không có một trật tự nào. Tôi về Hà Nội như một du khách, tôi không cho thân nhân và bạn bè biết trước để khỏi có có sự đón đưa. Ngày thứ ba tôi gọi cho cô em gái và người em họ con ông chú để báo tin hôm sau tôi về quê ở Thái Bình. 

     Thành phố Hà Nội những ngày gần Tết càng xô bồ, phố xá quá đông người. Chiếc xe chở tôi, Thế và Hằng khó khăn lắm mới ra khỏi thành phố. Xe phải mất hơn 2 giờ mới vào được thị xã Thái Bình. Thành phố khác lạ so với khi xưa. Hai bên đường có những dẫy nhà cao, khá đồ sộ nhưng tôi có cảm tưởng sự xây cất rất cẩu thả, nếu chẳng may có một trận động đất nhẹ, tất cả những ngôi nhà 3,4 tầng này sẽ sụp đổ dễ dàng.

     Rồi chúng tôi vào đến làng Kỷ, nơi tôi đã được sinh ra và lớn lên. Tên làng Kỷ đã có từ lâu lắm, về sau đổi lại là Hội Châu, và bây giờ gọi là làng Minh Châu, huyện Thanh Quan. Chồng bà Huyện Thanh Quan một thời đã làm tri huyện ở đây. Ngày xưa làng tôi được bao bọc bởi lũy tre xanh, con đường dẫn vào làng được trải những viên đá thật lớn. Nhưng nay dấu vết cũ không còn gì nữa. Thế chỉ cho tôi chỗ ngày xưa gọi là Quán Cháy, miếu và lăng cụ Thượng Quốc, lăng cụ Hàn không thấy đâu. Tất cả còn sót lại là Mả Cả, nơi chôn cất của bao nhiêu đời dân trong làng và ngôi chùa rất linh thiêng của làng. Phía bắc làng tôi là làng Thượng Phú, thị xã Châu Giang, phía tây là làng Tầm Phương, Tống Thỏ và Trực Nội, phía đông là làng Tể, nơi ông Ngoại tôi ở, phía nam là sông Trà Lý, bên kia sông là huyện Kiến Xương. Tôi nhớ đến bài thơ của một thi sĩ người làng Kỷ đã làm bài “Về Làng Kỷ” khi mẹ ông mất:
 
Làng Kỷ nhỏ nhoi bên sông Trà Lý
Tiếng chuông chùa khấp khểnh bước chân trâu
Sáo ai thổi bên cầu khuya khoắt thế
Ngọn đèn dầu thao thức đốt lòng nhau
 
Làng Kỷ buồn mong manh như nét vẽ
Khi gió mùa đông bắc lạnh tràn qua
Tần tảo mẹ đôi chân trần tím tái
Cầu đá buồn bữa bữa gập ghềnh mưa…
 
Làng Kỷ nghèo nuôi chúng tôi rau cháo
Lặn lội thân cò bãi chợ, bến sông
Câu ca dao mẹ ru sờn mép võng
Mẹ đi rồi ! Câu hát có còn không  ?
 
Làng Kỷ giờ không nghèo như xưa nữa
Nhưng cứ buồn xao xác cứ bâng khuâng
Lối cũ còn đây người xưa giờ đâu nhỉ
Có ai về Làng Kỷ với tôi không ? …
                                  
     Có, tôi đã về Làng Kỷ. Nhưng không như ý bài thơ, với tôi lối cũ không còn như xưa nữa, không còn lũy tre xanh, không còn cầu đá bắc qua con lạch nhỏ, không còn cây đa đầu làng, không còn mẹ tôi và người em con ông chú đã ra đi. Tôi đã thắp nén hương lên mộ mẹ. Đây là lần đầu sau 50 năm tôi rời xa quê huơng, bây giờ mới được về thăm mộ mẹ và cũng buồn không biết còn có dịp về quê lần nữa không. Cúng mộ mẹ tôi xong, tôi đến nơi có mộ cụ tổ, cụ cố, ông bà và các cô chú cùng người em họ của tôi. Hoàng Hưng lúc tôi vào Nam em chưa biết đi, nhưng nay em đã lìa đời lúc tuổi ngoài 30. Hoàng Hưng chết tại miền Nam cùng một lúc với bố vợ. Sau chiến tranh phải khó khăn lắm mới tìm được mộ và mang hài cốt về. Mộ hai bố con chôn sát nhau. Rất may tôi đã không tham gia trận này, nếu không tôi đã cầm súng hăng say giết quân thù và biết đâu trong trong đó có em tôi. Hết chiến tranh bây giờ chỉ còn tình người, các người thân ở lại tôi không thấy họ như quân thù trong lúc chiến tranh nữa. Họ cũng như chúng tôi tất cả chỉ là nạn nhân và bị quay cuồng trong một guồng máy…

     Ngọc Lan năm nào cũng vậy, những ngày gần Tết đều về thắp hương cho bố và cho chồng. Còn gì đau khổ bằng có hai cái tang trong một ngày. Nhìn người thiếu phụ trẻ tuổi chừng chưa tới 50 tôi không khỏi ngậm ngùi. Tôi liên tưởng tới câu hát: “Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu…”

     Ngọc Lan dáng người nhỏ nhắn, thanh cao, hiền dịu, chồng chết đã lâu nhưng vẫn còn thương chồng nên chưa tái giá. Nhìn Ngọc Lan tôi thấy có vẻ quen thuộc nên hỏi Thế và được biết Ngọc Lan là em bà Nết, cháu ông Thân, người làng kế bên. Nói đến bà Nết thì tôi nhớ rõ. Nết lớn hơn tôi hai tuổi. Lúc chưa vào Nam mẹ tôi nói đợi tôi đủ 13 tuổi, lúc đó Nết 15 sẽ đi hỏi Nết làm vợ cho tôi. Mẹ tôi bảo: “ Gái hơn 2, trai hơn 1 là đẹp đôi”. Tuy mới 12 tuổi nhưng tôi đã biết phân biệt được người con gái đẹp và người con gái xấu. Nết người thon và cao như Ngọc Lan bây giờ nhưng hình như đẹp hơn Ngọc Lan. Da nàng thật mịn và trắng hồng. Trong vùng Nết là người con gái đẹp nhất nên mẹ tôi mới chọn cho tôi. Mẹ tôi hỏi: “ Con có bằng lòng lấy Nết làm vợ không?”, tôi trả lời: “ Con không biết”. Tuy không hiểu chuyện vợ chồng là gi nhưng vì Nết đẹp nên tôi cũng thấy vui vui, làm bạn với Nết chắc tôi cũng thích. Hình như Nết đã nghe có người nói bắn tin nên nàng rất thích vì gia đình tôi giầu hơn nhà nàng, tôi lại khá đẹp trai và cao lớn, Tuy kém nàng 2 tuổi nhưng tôi cũng lớn bằng nàng hoặc cao hơn nàng. Đi đường gặp tôi nàng vui lắm, nhưng trái với Nết, tôi rất thẹn thùng mỗi khi găp nàng, tôi thường giả vờ nhìn đi chỗ khác chứ không dám nhìn thẳng, nghĩ lại tôi thấy một thoáng tiếc thương…

     Rồi phong trào cải cách ruộng đất và đấu tố được phát động, chúng tôi bị học tập hình thức đấu tố cha ông. Từ lớp học đến đoàn thể thiếu nhi chúng tôi phải tự kiểm thảo. Tôi sợ nhất là buổi học tập kiểm thảo nơi lớp học của tôi. Anh Quỹ, tên người dạy tôi lớp nhì. Anh bắt chúng tôi gọi là “anh” chứ không được gọi là “thầy” cho có vẻ cách mạng, anh nói gọi “thầy” chứng tỏ hãy còn phong kiến, lạc hậu. Trong bản tự kiểm thảo chúng tôi phải ghi tất cả những tội lỗi, xấu xa từ bé tới lớn mà chúng tôi mắc phải. Anh Qũy đưa ra một tiền đề là từ trước tới giờ vì chưa được cách mạng giáo dục nên mọi người đều có tội lỗi, ai khai được nhiều tội của mình thì người đó là người thành thật nhất và đã giác ngộ, ai khai ít tội thì người đó không thành thật và chưa giác ngộ. Chúng tôi thi nhau khai tội của mình, không có tội cũng tạo ra để khai. Cuối cùng có một học sinh được các bạn bầu hạng nhất vì khai ra được nhiều tội. Tôi còn nhớ anh ta tên Nhuế, người gầy gò, nhỏ bé. Được bầu hạng nhất, Nhuế mừng lắm và được gọi lên đứng gần bảng đen, khoanh tay trước ngực và nhìn xuống cả lớp. Anh Quỹ đọc từng tội rồi bắt đầu chửi tới tấp suốt từ sáng đến trưa, lúc anh Quỹ đập bàn, lúc anh hét thật to như áp đảo “tội nhân”, cứ mỗi câu anh Quỹ lại gằn từng tiếng: “Em Nhuế! em Nhuế!”, chúng tôi ngồi dưới sợ quá, trong khi đó Nhuế nước mắt chảy ròng ròng, độc ác hơn nữa là anh Qũy không cho lau nước mắt và cứ thế nước mắt, nước mũi chảy ra. Anh nói nếu lau đi thì tội hãy còn, phải để cho tội lỗi chảy đi. Nhuế phải khoanh tay đứng chịu sự xỉ vả nặng nề và liên tục trong gần 3 giờ đồng hồ nên đã té lăn ra nền lớp học, mấy người ngồi bàn trên phải lấy nước lạnh lau mặt cho Nhuế, mãi gần nửa giờ sau Nhuế mới tỉnh lại và buổi kiểm thảo chấm dứt. Anh Qũy mặt vẫn lạnh lùng và tuyên bố: “ừ nay em Nhuế đã trở thành một thiếu nhi tháng Tám gương mẫu…”. Đó là kỷ niệm sợ hãi nhất của tôi trong thời đi học trong vùng do Việt Minh kiểm soát. Rồi phong trào đấu tố bộc phát mạnh, chú của bố tôi bị bắt mang ra đấu tố trước, đoàn thiếu nhi chúng tôi được điều động đến để cổ võ cho phiên tòa, làm cho âm thanh của tiếng “đả đảo” thêm vang dậy, tiếng  “giết” người thêm lạnh lùng. Ông bị trói ở sân đình làng, mấy người canh điền ngày trước đứng ra tố khổ và gọi loa: “Đả đảo tên địa chủ cường hào gian ác!” tức thì cả tập thể cùng hô: “Đả đảo! Đả đảo!”, rồi tiếng loa lại kêu lên: “Ai đồng ý giết!”  tức thì cả đán đông cùng hô: “Giết! giết!”.  Tiếp theo là gạch, đá ném ào ào vào đầu và người ông. Cứ như vậy lập đi lập lại nhiều lần, ông chú của bố tôi gục đầu xuống, máu chảy ròng ròng. Một người canh điền tên Tuệ Cụt, gọi hắn như vậy vì hắn không có ngón chân cái cho dễ phân biệt với Tuệ Lé trong làng, hắn đã làm việc cho chú của bố tôi trong nhiều năm, hắn đi đến bên ông, tay cầm viên gạch thật to đập mạnh vào đầu ông một lần nữa cho thỏa mãn lòng căm thù của hắn. Tiếng loa kêu lên: “Tên địa chủ cường hào gian ác đã đền tội trước nhân dân!”. Xác ông được cởi trói và đem bó chiếu vùi xuống hố chứ không được bỏ trong hòm gỗ. Một miếng sắt được viết vội vàng bằng sơn để trên mộ: “Nấm mồ của tên địa chủ cường hào gian ác…”. Bố tôi thấy vậy sợ hãi ban đêm chạy trốn khỏi làng, tìm đường vào Nam, tôi đi theo bố, thế là chuyện lấy vợ không xong và mãi gần 20 năm sau tôi mới lập gia đình. Nếu không có phong trào đấu tố và cải cách ruộng đất, tôi không vào Nam và đã lấy Nết rồi cuộc đời tôi không biết sẽ thay đổi ra sao…

     Dù mới gặp Ngọc Lan lần đầu sao tôi thấy rất thân quen. Ngọc Lan ở Hà Nội, nhà không xa với phố Hàng Đường nơi khách sạn tôi ở. Ngọc Lan ngỏ ý mời tôi đến nhà chơi. Tôi nhận lời và nói khoảng 10 giờ sáng hôm sau tôi sẽ tới. Ngọc Lan và Nết đón tôi ở cửa. Ngọc Lan giới thiệu tôi với chị nàng:
     - Bác Văn, anh họ nhà em mới ở Mỹ về chơi.
     Ngọc Lan chỉ Nết:
     - Đây là chị ruột của em. Còn con trai em đi chơi với bạn chưa về.
     Nết cúi đầu chào tôi và mời:
     - Mời bác vào trong nhà uống nước.

     Bây giờ tôi mới để ý, người vùng tôi họ hay gọi nhau là “bác” hay “ông” thay cho con cháu họ chứ không gọi anh hay chị dù là người nhà. Tôi vào ghế ngồi rồi vừa hỏi chuyện vừa quan sát Nết. Người đàn bà này đã một lần mẹ tôi định hỏi làm vợ cho tôi. Tuy một vài nét của người con gái đẹp ngày xưa vẫn còn trên khuôn mặt nhưng nhìn tổng quát thì “nàng” nay đã già, đôi mắt hom hem, tóc bạc gần nửa đầu, làn da mịn màng ngày xưa nay không còn nữa và đã nhăn nheo, hai chiếc răng cửa đã rụng. Tôi nhớ đến lời nói của người bạn trong một hội cựu học sinh khi lên diễn đàn kể chuyện về Việt Nam và  khuyên mọi người là đừng bao giờ gặp lại người yêu cũ, sẽ vỡ mộng vì “nàng” nay không còn như xưa nữa và đã trở thành bà lão rồi. Nhưng tôi đến thăm chị em Nết không phải trong ý nghĩ đó, tôi đến thăm vì tình thân thuộc và tình quê hương nơi tôi.

      Hình như Nết còn nhớ chuyện mẹ tôi định hỏi nàng cho tôi mấy chục năm về trước nên thỉnh thoảng điểm nụ cười khiến cho hai chiếc răng rụng càng rõ thêm. Để xóa tan không khí im lặng, Ngọc Lan hỏi chị:
     - Ngày xưa chị có biết bác Văn trong làng không ?
     - Biết chứ sao không. Bác ấy con nhà giầu nhất trong vùng ai mà không biết. Nếu không có cuộc di cư…
     Nết bỏ lửng câu nói ở đó nhưng tôi biết nàng định nói gì. Hai chị em khẩn khoản mời tôi ở lại ăn cơm trưa, tôi từ chối lấy lý do xe của hãng du lịch đến đón, tài xế xe không đợi được. Thấy trong nhà chỉ có hai chị em, tôi muốn hỏi nhưng rất khó nhập đề. Sau khi hỏi thăm về gia đình tôi xong, nét mặt Nết có vẻ buồn buồn rồi kể:
     - Chồng em và đứa con trai lớn đã chết tại chiến trường miền Nam, không mang được xác về. Sau  chiến tranh tưởng thằng con trai út sẽ được gần mẹ, không ngờ lại có chiến tranh với Trung Quốc ở phương Bắc nên cháu cũng bị chết ngoài mặt trận, thằng cháu này mang được xác về chôn. Nhà đơn chiếc nên hai chị em ở với nhau. Na (tên cũ của Ngọc Lan) có nhiều người hỏi nhưng em nó ngại không muốn đi lấy chồng nữa…

     Nghe xong câu chuyện tôi cảm thấy thật buồn. Đi đâu cũng thấy hậu quả của chiến tranh, nhất là dân miền Bắc họ cực khổ hơn trong Nam rất nhiều nhưng họ vẫn tiếp tục chịu đựng. 

     Sau mấy tuần lễ đi từ Bắc vào Nam, mặc dù đi trong dịp Tết nhưng sao tôi không thấy điều gì vui, không thấy đâu là mùa Xuân quê hương, tất cả chỉ thấy cảnh lầm than, đói khổ. Hầu như nhà nào cũng có người chết vì chiến tranh, nhưng người dân vẫn âm thầm sống cho qua ngày.

     Về đến Hoa Kỳ đã lâu nhưng tôi lúc nào cũng nghĩ đến cảnh đáng thương của hai chị em Ngọc Lan  cũng như bao nhiêu gia đình Việt Nam khác nơi quê hương cũ của tôi…


Trích trong tập truyện “Mẹ Và Những Muà Xuân”
của Hoàng Nguyên Linh, xuất bản năm 2008
Về Đầu Trang Go down
tranvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Fri Oct 24, 2014 9:50 am


Những câu chuyện về đàn bà

 
Tuấn Khanh




Người đàn bà ngồi tựa vào tường trên lối mòn của một con hẻm. Mệt mỏi và thiếp đi cạnh quang gánh của mình. Hai đầu gánh là đủ thứ quà vặt như bánh tráng, kẹo, đến chanh, ớt… rồi có cả đồ chơi trẻ con chằng cột. Chị như muốn kéo cả thế giới chung quanh đi theo mình trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn không có ngày tháng cuối.

Hình ảnh đó đẹp đến mức tôi dừng lại, muốn chụp tấm ảnh làm kỷ niệm thì chị choàng tỉnh. Chị sợ hãi hỏi tôi chụp ảnh để làm gì. Có lẽ những cuộc rượt đuổi hàng rong trên hè phố là cơn ác mộng triền miên khiến chị không bao giờ có được chút thanh thản. Trò chuyện ít lâu, mới biết chị đi từ Quảng Ngãi vào bán hàng rong để gửi tiền về giúp cho gia đình. Tháng nhiều thì được 700-800 ngàn. Tháng ít thì 300-400 ngàn.

Người phụ nữ ấy chỉ là một trong hàng trăm ngàn con người đang lưu lạc mưu sinh trên đất nước này. Ẩn trong nụ cười hay lời rao hàng đơn giản đó, là những câu chuyện đời trôi dạt theo miếng ăn, trắc trở hơn những câu chuyện dài truyền hình giả tạo, nhưng buồn thay, chẳng có mấy người xem.

Khi chị ngồi giở mẩu giấy ghi lại tiền nong đã buôn bán trong ngày. Những ngón tay lần mò trên con số ngắn và nhỏ hơn biết bao lần những biên lai tính tiền thường nhật trong thành phố. Những ngón tay của chị nhiều ngày tháng không có được hơi ấm của chồng. Bao nhiêu người phụ nữ trên đất nước này đã bước lên chuyến xe đời khốn khó và không biết ngày nào có lại được hơi ấm từ người đàn ông của mình? Một trong những người phụ nữ như vậy mà tôi gặp nói rằng bà đã rời khỏi nhà gần 15 năm, sống một mình, làm lụng gửi tiền về quê nhưng chưa bao giờ có ý định chọn một tấm chồng khác.

Khi tôi xin được chụp hình chung với gánh hàng rong của người phụ nữ từ Quảng Ngãi, chị hốt hoảng nói không được. Hỏi mãi, thì chị mới nói thật là sợ chụp hình chung, nếu lỡ chồng đang đi làm ở quê thấy được, tưởng chị “mèo mỡ” sẽ buồn giận, tội nghiệp lắm.

Tôi cứ ước mình viết được một bài hát về người phụ nữ này, hay những người phụ nữ tương tự như vậy. Những nốt nhạc không bật ra được, cứ nghẹn lại trong hốc sâu nào đó. Những người đàn bà được mô tả đẹp như cổ tích trong văn chương, hội hoạ… thường thấy, chưa bao giờ có đủ hình ảnh quê mùa và ngọt ngào đến vậy. Không cần cầm súng hay bước ra bục tuyên hô, những người đàn bà vô danh này chống chọi cho một linh hồn đất Việt mong manh, giữa thời phụ nữ đang phải là một cái gì đó rất khác lạ.

Nhưng tôi vẫn còn nợ một bài hát khác, về những người phụ nữ Việt vô danh khác.

Trên một chuyến đi, may mắn được ngồi cùng vài cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan về thăm quê, tôi bèn xin hỏi chuyện đời sống của họ. Nói về chuyện báo chí Việt Nam vẫn mô tả cuộc sống đi lấy chồng Đài Loan như địa ngục hay nô lệ, các cô nhìn nhau, rồi nhìn tôi cười.

“Cũng có những người không may, nhưng không phải ai cũng vậy, anh à”, một cô gái đồng hương Cần Thơ giải thích. Những cô gái rất trẻ nói về cuộc sống mới của mình. Họ nói rằng đã chọn hài lòng với cô đơn, hài lòng với những khó khăn mà họ phải trãi qua, ít nhất để cho mình, cho cha mẹ mình thoát nghèo khó. Ở miền Tây, có rất nhiều nơi được đặt tên là làng Đài Loan, làng Hàn Quốc… chỉ vì những đứa con gái lấy chồng xa xứ tằn tiện chi tiêu chỉ để dựng lại nhà cho gia đình mình.

Khi được hỏi về nạn bạo hành gia đình của các cô lấy chồng ngoại quốc. Một người lại nhìn tôi cười, hỏi rằng “bộ anh không không biết là lấy chồng dưới quê xứ mình cũng bị đánh tới chết cũng không ai cứu à?”.

Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi này mở ra cho tôi một góc nhìn khác về những người phụ nữ Việt tìm duyên tha hương. Chắc chắn họ không hoàn toàn những kẻ điên cuồng hay mất nhân cách như báo chí vẫn gièm xiểm. Thật buồn khi có một thời đại mà những người phụ nữ Việt phải chọn cuộc sống khác hơn ở quê hương mình. Rất nhiều người đã phỉ báng họ. Nhưng giữa chọn lựa rất thực tế, có thể tự xoay sở cho đời mình, họ đủ thành thật để không màng một tiếng thơm hảo. Nỗi buồn xin gửi lại cho quốc gia và thời cuộc, họ chỉ là nạn nhân.

Có thể rồi những người phụ nữ này bình an, nhưng họ khó mà có được hạnh phúc. Điều mà mọi tôn giáo dạy con người đi tìm, cả thế gian mơ đến thì họ chấp nhận lìa bỏ trong kiếp sống tạm, để có thể làm được gì đó cho gia đình, hoặc không là gánh nặng ở quê nhà. Cũng như người đàn bà mưu sinh đến từ Quảng Ngãi, bao giờ thì những người phụ nữ lấy chồng xa này sẽ có, hay cảm nhận được hơi ấm của hạnh phúc đời mình?

Trong những ngày xưng tụng phụ nữ được ghi vào lịch, hình bóng “xấu xí” của những người phụ nữ này chắc không thể có trong diễn văn hay những bông hoa đẹp, dù là phô diễn. Cũng không có những bài ca nào chia sẻ, hát về họ giữa một hiện trạng đất nước thiếu những trái tim biết yêu thật thà. Những bài ca chỉ vang lên lời xảo biện.

Một đất nước thật đáng buồn, nếu chỉ còn biết có hot girl hay xưng tụng một giai cấp khoe khoang mua sắm tiền tỉ, thèm khát những vẻ đẹp bề ngoài. Khi trò vui che lấp các số phận, đến một ngày nào đó, tất cả chỉ là mồi thiêu như các loại hàng mã trong niên đại cô hồn. Thật ghê sợ những đêm hoa đăng tranh đua vùi chôn sự thật mà lẽ ra chúng ta cần phải đối diện.

Tôi ước mình viết được bài ca để hát về câu chuyện của những người đàn bà vô danh ấy, một ngày nào đó. Những số phận ấy tầm thường mà khác thường. Nhưng những nốt nhạc hiện thực vẫn chưa thể vang lên, vì vừa chớm thì đã chết lặng trong những cuộc vui hoa đăng bất tận trên đất nước này. Những tượng đài tốn kém mọc lên, những bông hoa đủ màu ngập ngụa đất nước, rực rỡ như phấn son, che lấp giọt mồ hôi hay nước mắt con người.


Về Đầu Trang Go down
AnHuynh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Sun Nov 23, 2014 3:46 pm

GS Ân viết cho ĐS Ngô Quyền nên "quên" không nói HS NT cũng chăm và học giỏi như PKý, CVA,... Sad


Biên Hòa, Ngô Quyền và Tôi

             
*Kính tặng ông Hiệu Trưởng Phạm Đức Bảo
 

GS Huỳnh Công Ân

Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về
(Ca dao miền Nam)

Dường như tỉnh Biên Hoà là một phần định mệnh của cuộc đời tôị. Tuy tôi sinh ra ở tỉnh Thủ Dầu Một (thời VNCH gọi là Bình Dương), một tỉnh giáp ranh với Biên Hòa, nhưng lạ lùng thay trong khai sinh tôi lại ghi nơi sinh là Thủ Dầu Một, Biên Hòa. Thành ra khi khai lý lịch tôi không biết mình phải ghi nơi sinh là Thủ Dầu Một hay Biên Hòa cho đúng. Tôi đành ghi cả hai tỉnh là nơi sinh của mình cho hợp với khai sinh để tránh tội khai man lý lịch. Tôi có hỏi ba tôi về việc này thì ông cho biết vì ngày trước, tỉnh Thủ Dầu Một không có tòa án hòa giải nên ba tôi phải sang Biên Hòa để lập khai sinh cho tôi . Lại nữa, trong 5 năm liên hệ với Biên Hòa (1969-1975) tôi đã làm thầy giáo và lính chiến (lính thực sự chứ không phải là lính biệt phái) cho thủ phủ miền Đông này. Vì vậy, tôi đã có khá nhiều kỷ niệm vui, buồn với Biên Hòa qua chức vụ quân nhân của tiểu khu Biên Hòa cũng như giáo chức của trường trung học Ngô Quyền.

Tuy khai sinh tôi có ghi nơi sinh là Biên Hòa nhưng mãi đến khi đi trình sự vụ lệnh thuyên chuyển từ một tỉnh xa tít miền Tây về trường trung học Ngô Quyền tôi mới đến Biên Hòa lần đầu tiên vào mùa khai trường niên khóa 1969-1970. Thành phố Biên Hòa tuy có lớn hơn thị xã Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Bình, nơi tôi dạy học 4 năm đầu của cuộc đời thầy giáo, nhưng vốn lớn lên và sống ở thủ đô Sài Gòn nên tôi vẫn cảm nhận đây cũng chỉ là một tỉnh lỵ không phải là nơi phồn hoa, náo nhiệt như Sài Thành hoa lệ, thành ra tôi tự nhủ mình nên dè dặt trong lối sinh hoạt để giữ cho đúng tác phong thầy giáo.

Khi gặp ông Hiệu Trưởng Phạm Đức Bảo, một người đứng tuổi, to lớn, có dáng dấp một võ sư hơn là một giáo sư (nghe nói ông tập tạ hàng ngày), tôi cảm thấy thoải mái vì ông ấy rất cởi mở và thông cảm. Được biết tôi là một sĩ quan biệt phái, từng phục vụ ở đơn vị tác chiến và đã bị thương ở chiến trường , ông ân cần hỏi thăm vết thương của tôi. Lại biết nhà tôi ở Sài Gòn và có giờ dạy trường tư dưới đó, nên ông bảo tôi yên tâm, ông sẽ nói ông Giám Học xếp 15 giờ chính thức của tôi vào hai ngày đầu tuần.

Từ đó, hàng tuần tôi lái lambretta từ Sài Gòn  lên Biên Hòa dạy hai ngày thứ hai và thứ ba, đêm thứ hai ở lại Biên Hòa ngủ ở nhà người anh họ, chiều thứ ba trở về Sài Gòn coi như đã là weekend, những ngày còn lại thì dạy tư và vui chơi ở Sài Gòn. Đây thật là một giai đoạn hạnh phúc nhất của đời tôi . Đồng nghiệp và học tròở Ngô Quyền cũng rất dễ chịu. Ban giám đốc trường: ông  Hiệu Trưởng Phạm Đức Bảo dễ dãi, ông Giám Học Phạm Khắc Thành ca va, ông phụ tá giám học Hoàng Đôn Trịnh thì hơi reglo một chút. Học sinh thì đa số rất chăm học và học giỏi không thua sút các trường lớn Pétrus Ký, Chu Văn An, Gia Long, Trưng Vương ở Sài Gòn. Cũng tại trường Ngô Quyền Biên Hòa, tôi có vinh hạnh phụ trách một lớp 12 B  mà trong số học sinh có nhà thơ tài hoa Nguyễn Tất Nhiên và nhân vật nữ tên Duyên đã đi vào giai thoại văn chương Việt Nam qua các bài thơ tình tuyệt tác của Nguyễn Tất Nhiên. Tôi còn nhớ ngày anh chàng Hải (tên thât của Nguyễn Tất Nhiên) rụt rè tới bàn thầy, trao tặng tôi tác phẩm đầu tay của anh tựa là "Thiên Tai”, không ngờ về sau  anh chàng này lại trở thành một trong những thiên tài của văn thơ hiện đại Việt Nam.

Nhưng, ngày vui qua mau, định mênh đưa đẩy tôi trở lại quân đội sau một đêm nhậu nhẹt với bạn bè và ấu đả với một nhân vật có thế lực ở Sài Gòn mà hậu quả là tôi bị bộ Quốc Phòng  trả về đời sống quân nhân bằng một quyết định quân kỷ. Khi lên nhận sự vụ lệnh trả về Quân Đội tôi được cho một đặc ân chọn đơn vị. Định mệnh lạ khiến tôi chọn tiểu khu Biên Hòa. Khi được tin này, ông Hiệu trưởng dắt tôi vào Tiểu Khu gặp thiếu tá Thành, tham mưu trưởng tiểu khu gởi gắm. Tôi đuợc đưa về đại đội 3/463 DPQ trấn giữ cầu Đồng Nai trên xa lộ Sài Gòn Biên Hòa. Nhờ sự giúp đỡ sốt sắng của ông Hiệu Trưởng, tôi không bị đẩy ra chiến trường trong mùa hè đỏ lửa năm 1972. Nếu không, chắc gì tôi còn sống đến ngày hôm nay để viết những dòng chữ này. Vì vậy ân nghĩa này của ông Hiệu Trưởng suốt đời tôi không quên được. Sau biến cố 1975, được tin ông bị nạn, tôi rất lo lắng, nhưng nay qua tin của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Ngô Quyền biết ông vẫn còn mạnh khoẻ và có thể qua Hoa Kỳ dự Buổi Hội Ngộ Trùng Phùng năm 2006 tôi rất mừng cho ông.

"Hai năm trấn thủ lưu đồn, ngày thì việc nước, tối dồn việc quan" 1972-1973 của tôi ở cầu Đồng Nai cũng qua mau. Ngày thì đánh bi da, cá độ uống bia với các sĩ quan cùng đơn vị, tối đến đi đốc canh các vọng gác ở vòng rào và chân cầu. Thỉnh thoảng dẫn một trung đội theo xe tiểu khu đi hộ tống các đoàn xe chở đạn tiếp tế các đơn vị hay chở tân binh đi thụ huấn ở quân trường Vạn Kiếp khi các đoàn xe này đi qua lãnh thổ tiểu khụ vào mùa thi, tôi được tiểu khu cắt dẫn lính bảo vệ trường thi. Mấy ông cảnh sát lem nhem lợi dụng nhiệm vụ trật tự, mưu toan ném bài giải vào phòng thi bị tôi chận lại tịch thu hết.

Cuối năm 1973, tôi nộp đơn lên bộ Quốc Gia Giáo Dục xin cứu xét can thiệp với bộ Quốc Phòng cho tái biệt phái tôi về dạy học. Đơn được giải quyết và tôi được trả lại ty Giáo Dục Biên Hòa mà Trưởng Ty bấy giờ là ông Phạm Đức Bảo. Lúc đó vào giữa niên khóa, để khỏi làm xáo trộn thời khóa biểu các đồng nghiệp, tôi xin ở lại Ty làm việc . Ông Trưởng Ty xếp tôi làm ở phòng Học Vụ mà trưởng phòng là ông Lê Hồng Sanh. Niên khóa sau, chán công việc hành chánh tôi xin ông Trưởng Ty về lại trường Ngô Quyền đứng lớp. Đầu năm 1975, tôi có giấy thuyên chuyển về Trung Tâm Giáo Dục Hồng Bàng Sài Gòn. Tuy nhiên, hàng tháng tôi vẫn còn lên Biên Hòa lãnh lương. Gần cuối tháng tư năm 1975, nhân lên Biên Hoà lãnh lương, tôi ghé một quán nhậu gần rạp Biên Hùng lai rai vài chai bia với món chem chép xào tiêu. Khi đó phòng tuyến Xuân Lộc đã vỡ, cộng quân đang uy hiếp Biên Hòa, qua men bia tôi nhìn thành phố Biên Hòa trong những giờ phút yên tĩnh mong manh trước khi cơn đại hồng thủy ập đến.

Sau biến cố 75, tôi đã lên Biên Hòa hai lần. Một lần trước khi đi tù cải tạo để chứng kiến cảnh không, đường trống của thành phố Biên Hoà thân yêu đã đổi chủ. Lần thứ hai, sau khi đi tù cải tạo về, tôi ngơ ngác giữa thành phố Biên Hòa xa lạ, trước trường trung học Ngô Quyền đổi thay da thịt. Ôi cảnh cũ đây mà người xưa giờ ở đâu? Ký ức đưa tôi về những kỷ niệm cũ: còn đâu những buổi trưa ở phòng giáo sư tranh thủ binh xập xám với các bạn đồng nghiệp Lê Văn Túy, Lê Quý Thể, Lâm Tấn Văn… để chờ giờ lên lớp. Còn đâu những đêm ở nhờ nhà anh Lê Quý Thể chứng kiến "quý thầy" xoa mạc chược, có lần cảnh sát đến xét sổ gia đình, cũng làm lơ bỏ đi khi biết các Thầy là Giáo Sư Ngô Quyền. Tình nghĩa trước năm 75 là thế ấy. Làm sao tìm được những thứ ấy trong xã hội Viêt Nam bây giờ?

Những gì tôi viết ở đây là tự đáy tâm hồn, không màu mè, che đậy. Thầy giáo cũng là con người, nhiệm vụ là truyền thụ kiến thức, nếu có những khuyết điểm xin mọi người thông cảm bỏ qua. Ở hoàng hôn của cuộc đời, sống lại với kỷ niệm cũ là những giây phút hạnh phúc nhất còn lại.

Montreal, Canada đầu Xuân 2006
(Trích Tuyển tập NQ 2006)

Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Mon Aug 10, 2015 12:06 am



Chuyện Làng Buổi Giao Thời

Ngô Nguyên Dũng

Phóng dịch một trích đoạn tiểu thuyết, nguyên bản Đức ngữ
"Tausend Jahre im Augenblick"
(Trong khoảnh khắc ngàn năm), cùng tác giả.


Tin tức loan truyền như cơn dịch hành tại Cái Bàu, một làng quê heo hút đất Hậu giang, rằng kẻ lạ vừa đặt chân tới không phải là người bình thường. Đã hơn tuần nay, dân làng thấy người đàn ông lạ mặt dắt theo con vượn, tới ngồi trầm tư cạnh gốc bồ đề trồng bên lối vào đình làng. Hôm nào tan lớp, Lâm và chúng bạn cũng tạt ngang, xét nét ngắm nhìn người khách và con thú liếng láu.

Người đàn ông cao ốm, gần như loã thể, chỉ quấn quanh hông một tấm khố bẩn thỉu, khó đoán được màu sắc. Màu tóc ông xám tro vằn vện, thắt cẩu thả từng bện dài, nổi bật trên nước da cháy nắng. Diện mạo ông khác lạ với cặp chân mày trắng như chỉ, ngó như hai con sâu tằm no lá, vắt trên hai lõm mắt đen đục. Không như người bản xứ, ông có một sống mũi thẳng, nhú mấy sợi lông bạc. Chòm râu quai hàm cắt ngắn khiến gương mặt ông đượm nét bí ẩn, như thánh hoá, rạng ngời nguồn an tịnh vô biên, bắt Lâm nghĩ tới thần sắc những vị chân sư.

Với Lâm và lũ trẻ con, mấy món tư dụng của ông mới thật lý thú: một gậy gỗ khắc chữ loằng ngoằng khó hiểu, chuôi nắm quấn chỉ đỏ bạc màu, một rổ con đựng hạt ngũ cốc cho chim ăn lúc nào cũng được đặt cạnh chỗ ông ngồi kiết già, và một chiếc xe kéo phủ vải màu cam, lốm đốm vết dơ. Không một ai được thấy những gì ông đem theo suốt chuyến du hành. Cũng không đứa nào dám hỏi, vì theo lời đồn, ông già lạ không rành rẽ tiếng bản xứ. Với riêng Lâm, cậu đặc biệt mê mẩn mấy sợi dây xỏ hạt cườm muôn sắc quấn cổ, cổ tay và cổ chân người đàn ông. Và, lẽ đương nhiên, đứa nào cũng thích ngắm con vượn lém lỉnh có bộ lông trắng bám bụi và cái mặt đỏ ké như đào kép hát bộ hoá trang.   

Làng Cái Bàu gồm khoảng năm chục gia cư rải rác đó đây, trong số đó bật ra một dinh thự tráng lệ xây kiểu Tây của điền chủ Lê Tấn Phát. Mái nhà lợp ngói đỏ âm dương, được thiết kế một hệ thống kiến trúc tân thời: giàn máng xối nhôm hứng nước mưa đựng trong dãy lu đất cao cả thước, dựng lố nhố bờ tường phết vôi trắng, xây trên nền nhà lót gạch tàu cao năm bực cấp. Ngoài ra còn có một trường sơ học, tàn tích một nhà thờ Thiên chúa giáo sau nhiều cuộc chiến lớn nhỏ, một ngôi chùa Phật giáo Nam tông của người Khờ-me, và một thuộc tông phái Hoà hảo, thành quả từ viễn tưởng đức tin của một giáo chủ người Việt, nhằm hoà đồng Phật giáo Nam tông với Khổng và Lão giáo.

Cái Bàu cách biển độ một ngày rưỡi, nếu đi bằng xuồng tam bản gắn máy đuôi tôm. Nơi đó, theo lời ông bà thuật lại, từng là bãi đỗ của người tứ xứ tới bằng thuyền nhỏ hoặc tàu buồm ba cánh: dân Trung hoa và Nhật bản từ phía bắc, dân đảo Java từ biển đông, dân Ấn độ và người da trắng từ phương tây xa xôi. Họ đổ xô tới vùng thổ ngơi phì nhiêu này như bầy ruồi nhặng vồ vập bu lấy xác thú rữa thúi thời quân chủ An-nam, để rồi gieo rắc nhiều tai hoạ.

Nhưng không một ai biết rõ, người đàn ông lạ mặt kể trên tới đây bằng phương tiện gì. Chỉ sau một đêm, đã thấy ông ngồi đó. Theo lời thầy giáo làng, ông là một vị sư du mục khổ hạnh tới từ Ấn-độ, Tích-lan hoặc A-phú-hãn, cũng không chừng.
»Những xứ này ở đâu, thưa thầy?« đám học trò lao nhao.
»Ối, ai biết đâu nà«, ông thầy giáo trả lời thờ ơ. »Dò trên bản địa đồ thế giới, thấy chúng nằm ở hướng tây, cách đây hằng ngàn rặng núi, sông ngòi và bình nguyên. Ở những nơi mà bò, khỉ, chuột là những sinh vật linh hiển; mà nhuỵ hoa nghệ tây đáng giá hơn vàng; mà thần thánh vất vưởng nhiều hơn người; mà những lang y sử dụng củ rễ, lá cây và quặng kim chữa bệnh nan y; mà các nhà luyện kim lấy cát đun chảy thành những hột thuỷ tinh, pha lê và kim cương sắc sảo nhất; mà người ta đãi cát lấy vàng từ những mạch nước rừng già. Và rất nhiều điều huyền bí khác, chúng ta không thể tưởng tượng nổi đâu.«  

Hồi nào tới giờ Lâm chỉ thấy người ta lấy hột cườm kết tràng hoa đám ma cho giới nhiều tiền của, hoặc khâu lên áo quần, mũ mão cân đai cho đào kép hát bộ mà thôi. Giờ đây cậu còn biết thêm, chúng được làm từ khoáng chất nào. Khi nghe Lâm kể lại, cậu Bảy lộ vẻ ngờ vực. Cậu cứ nằng nặc tin rằng, hột cườm kết tủa từ nhựa cây. Cây trổ bông màu gì, hột cườm có màu ấy. Duy nhất một chuyện không thuyết phục được Lâm, khi cậu giải thích, những cái lỗ nhỏ xíu được mấy bà dùng gai cây keo hoang xoi từng lỗ một.

Chợt bữa nọ có tin cô con gái út của điền chủ Lê Tấn Phát qua đời vì bị rắn cắn. Tang lễ kéo dài ba ngày. Hôm đưa đám ra nghĩa địa dòng họ Lê, Lâm và cậu Bảy đếm thấy bảy tràng bông cườm muôn sắc, tương đương số tuổi của người chết.
»Ước gì con có được một mớ hột cườm đem về chơi«, Lâm thủ thỉ.
»Đâu có gì khó! Khuya nay cậu cháu mình ra đó ăn cắp«, cậu Bảy xăng xái.
Tối ấy, Lâm xin phép má xuống nhà dưới ngủ chung mùng với cậu Bảy, chờ khuya xuống. Lâm nôn nao khó chợp mắt, cho tới lúc cậu mệt mỏi thiếp vào giấc ngủ nồng nàn hương ổi chín. Chuyện gì xảy ra sau đó, cậu nhớ lại như ký ức bị tấm vải thưa che chắn cơn mê muội. Chỉ rõ nét trong hồi tưởng cậu là thứ ảnh sắc lợt lạt và cái mùi đậm đà một khuya tháng tám, như thể cậu lạc bước vào giấc chiêm bao huyễn hoặc. Tiếng cú văng vẳng rợn người, lúc cả hai mon men tới cạnh hàng rào so đũa trồng quanh nghĩa trang dòng họ Lê. Trên vòm cây, bầy đom đóm lập loè những đốm lân tinh điệu múa tình ái, tựa như những hoang hồn thắp nhang lượn lờ khúc dạ hành. Váng vất đó đây là tạp hương đất mới, tro trầm nhang, hoa úa và thứ mùi không tên, mà mãi về sau Lâm mới nghĩ ra: mùi cái chết.
»Nghĩa địa là bữa tiệc thịnh soạn cho loài cú vọ. Ở đó, mấy con chuột, con nào con nấy mập ú, vì ăn xác người«, cậu Bảy thều thào. Sống lưng Lâm rợn buốt một đường, bắt cậu ớn lạnh, dẫu đêm lặng gió, oi bức. Tiếng cú kêu lẻ, theo lời những người lớn tuổi, báo hiệu một trường hợp tử vong. Mùi đất mới đắp mộ và hoa héo nhắc nhớ Lâm hương trái chín sớm, không tên gọi, trộn lẫn thứ cảm giác quá vãng mù câm, ma ám. Cậu Bảy châm đèn cầy, đưa cho Lâm, rồi rút kềm, lẹ tay cắt mớ dây kẽm xỏ hột cườm uốn lượn tràng hoa tang.

Cậu vừa làm vừa tụng: »Vong hồn trinh nữ linh thiêng, xá tội cho hai đứa tui, vượt cầu chóng vánh qua miền tử sanh. Đầu thai trở lại cõi thanh… Nam mô quán thế âm bồ tát…«
Tim Lâm đập thình thịch. Cậu run tay đón lấy bó kẽm, trút lẹ chuỗi hột cườm vô túi vải, mồ hôi rịn ướt khắp lỗ chân lông. Chặp sau, cậu nghe tiếng mình lẩm nhẩm tụng theo. Ngọn đèn lắc lay theo nhịp thở hổn hển, bất chợt tắt ngúm sau cơn gió thốc. Lâm hoảng hốt buông tay. Bóng tối ụp xuống như phủ vải đen. Lâm hét lên.
»Thôi, đủ«, cậu Bảy mấp máy, lầm bầm chửi rủa và không kềm chế được, cậu địt ra tiếng một tràng dài. »Cậu cháu mình quấy phá vong hồn người chết bao nhiêu đó đủ rồi, đi về!«
Không ai nói thêm tiếng nào, cùng lượt cuống chân rời nghĩa trang.
»Mới nãy là tín hiệu của hồn ma trinh nữ. Mình không được phép làm phiền thêm nữa«, cậu Bảy giải thích trên đường về.

Những gì Lâm trải qua sau đó, suốt đời cậu không bao giờ quên. Sau khi rửa sạch mớ hột cườm và phân loại theo màu, cậu đem ngâm chúng trong nước mưa, mỗi màu một chén riêng. Hôm sau, cậu ngẩn ngơ thấy chén nước nhuốm màu, và nhúm hột cườm hoá thành những viên pha lê trong vắt. Lâm nhớ lại mẩu chuyện thầy giáo kể lại dạo nào và nghĩ ngợi không ngớt về khởi thỉ của vạn vật, của đất trời, luôn cả lời trăn trối sau cùng của ông nội trước khi nhắm mắt:
»Có phải mọi vật đều thay nhau biến đổi khôn lường?«
Lâm không dám sở hữu lâu nhúm hột cườm ma. Một chiều tháng chín nắng tươi, cậu đem chôn chúng trong vườn rau, bên mấy bụi hành, ngò và tía tô. Ít lâu sau, người chị họ lo chuyện bếp núc trong nhà thuật lại, lúc chị ra vườn cắt rau, thấy mọc một loài cây dại chưa hề thấy, đơm bông trắng mơn mởn, thơm ngát. Lâm hiểu ngay, hương trinh cô gái vừa tái sinh từ tinh lực những hạt mầm thuỷ tinh. Sự kiện linh diệu này bắt Lâm thường nghĩ tới chuyện kể của cậu Bảy về chất nhựa cây sặc sỡ và cô gái yểu mệnh. Cô nhỏ có tên Bạch Mai, đẹp như tranh vẽ, Lâm gặp gỡ hằng ngày ở trường làng. Tóc cô xoã dài, đen nhánh và mịn màng như nhung lụa. Cặp mắt cô ngó như hai hột hạnh nhân và, đã có lần Lâm ngó gần, trong vắt hỗ phách như màu nước một loại trà quí. Một lần duy nhất, cậu được nắm bàn tay cô dịu nhiễu, dắt qua cầu khỉ lấm sình vào mùa mưa. Lần ấy Bạch Mai phải xắn quần, cho Lâm chiêm ngưỡng làn da trứng gà bóc. Lâm ước sao, sẽ có một ngày cưới được một người vợ tươi tắn như vậy. Kể từ hôm cô nhỏ đột ngột qua đời vì rắn cắn, Lâm phiền muộn một thời gian dài. Cậu thấy mình mất mát và trơ trọi như kẻ cô độc tuyệt đối trên mặt đất.

»Có gì đâu. Ai trong chúng ta cũng phải một lần chết«, cậu Bảy lý luận đơn giản. »Chết chưa phải hết, mà là khởi đầu một kiếp sống khác.«
»Giữa đó là cái gì?« Lâm thắc mắc.
»Trụi lủi một mình, vậy thôi!«, cậu Bảy điềm nhiên trả lời.
Từ khi đó Lâm nghĩ mình hiểu ra lý lẽ của trụi lủi, như thể đó là một thực thể sờ mó được, mà cậu có thể cảm nhận bằng ngũ quan.
Cậu Bảy lớn hơn Lâm sáu tuổi, là em út trong mười hai anh chị em còn sống. Ba người qua đời trong trận dịch ghiền ngủ. Khi Lâm lên bảy, cậu được bà ngoại xin ba má Lâm cho tới ở chung, vì bữa nọ bà chiêm bao thấy có người xuống lệnh biểu bà cho cậu đi học trở thành thầy thuốc, nhằm cứu vớt dân làng trước một tai ương không tránh được. Tại vùng đất gồm bảy ngôi làng nơi đây, vỏn vẹn độc nhất một trường sơ học ở Cái Bàu, có ba lớp với một thầy và hai cô giáo tốt nghiệp từ tỉnh thành. Từ đó cậu Bảy dọn tới nhà ba má Lâm và học chung lớp vỡ lòng với cậu. Từ buổi học đầu tiên, cậu không những là bạn đồng môn, mà còn là người che chở Lâm khỏi bị mấy đứa khác hiếp đáp. Trước đó cậu là trẻ chăn trâu, có sở thích nặn sình làm đạn, lắp ná bắn cá thòi lòi lúc nước ròng. Cậu có tài vặt địt ra tiếng khi có lời yêu cầu, và địt không kiểm soát khi hồi hộp quá độ. Cậu còn hãnh diện tuyên bố, thông thạo vài ngón tiểu xảo võ tự vệ.  

»Coi nè, đây là thế hổ rình mồi.« Nói rồi, cậu gấp chân chồm hổm, hai cánh tay dang rộng, ngón cong xoè. »Còn đây là thế rắn hổ mang công hãm«, cậu đổi bộ, đứng một chân, một cánh tay giơ thẳng, bàn tay chụm lại, ngó như cái đầu rắn chực mổ.
Lúc đó Lâm để ý thấy cậu Bảy có hai bàn tay lớn chần vần, ngón dài chắc nịch và sực nhớ mấy lời người khác phê phán, cậu Bảy là một con người kỳ quái.
»Tay lớn, củ lớn«, cậu Bảy vênh mặt.
Nước da cậu Bảy dang nắng nâu sẫm, phèn ăn đóng vẩy, vì vậy cánh tay láng lẩy mồ hôi và bàn tay ô dề của cậu ngó tựa con rắn hổ mang chúa. Hết thảy những gì cậu phô diễn hay kể lại, Lâm đều thán phục. Bản thân Lâm, được bà mụ ráp nắn, là phản diện của cậu Bảy và là đứa con khó nuôi của gia đình. Má cậu, bà Tư Phụng, vào những dịp giỗ quải hiện diện đông đủ bà con chòm xóm, lại điềm nhiên thuật lại những kinh nghiệm lúc thai nghén Lâm, bằng điệu bộ và giọng nói học theo tuồng hát, như thể bà bị đồng nhập và Lâm là chiến lợi phẩm bà giành được. Với bà, Lâm là đứa con trong mơ đúng nghĩa ngữ cảnh.

Lâm có thể nhắm mắt đọc lại mẩu chuyện má kể:
»Bữa đó nhằm khuya rằm tháng mười một, tiết trời oi ả. Ba sắp nhỏ có chuyện bất ngờ, đã về quê từ mấy hôm trước. Tui đương say ngủ, chợt nghe có giọng ai kêu, lay tui tỉnh giấc, bước chưn không ra ngoài. Không khi nào tui quên được quang cảnh khuya ấy, trăng nạm vàng, nhấp nháy đầy sao. Và không gian lênh láng cái mùi gì như thèm muốn. Bà con cô bác tưởng tượng nổi hông, cái mùi thơm rượn tình níu tay tui kéo đi. Trong bóng tối nhấp nháy màu trăng đêm, tui thấy rõ ràng cái mùi tụ lại thành dải lụa phất phơ, dẫn tui tới chỗ hẹn. Với ai, để làm chi, hổng biết nữa. Tui thấy lòng mình phấn chấn, trộn chút bồn chồn và đắn đo, để rồi cuối cùng tui tới đứng trước ngôi mộ đồ sộ của ông cả người da trắng xa lạ. Chắc bà con cô bác hiểu tui muốn nói ai? Tại đó, tui đặt lưng xuống mặt đá hoa cương, ngóng chờ nôn nao trong tư thế sẵn sàng. Bất giác tui rùng mình thấy ra tấm vải lụa đọng thành luồng sữa sền sệt, tọt vô miệng như được ai cầm quặng rót. Thiệt tình, đã nư! Sau đó, mới bảy tháng mười lăm ngày, cũng nhằm một khuya rằm, thằng Lâm chào đời, chui ra cái ọt như được bôi mỡ, hổng đau hổng đớn gì hết á!«

Trong lúc nghe chuyện, khách khứa ai cũng ngậm tăm. Vài người lén lút đảo mắt ngó ông Phạm Quang, chồng bà Tư Phụng. Như lệ thường, ông ngồi một bàn riêng với đám bạn tửu lượng mạnh.
»Tưởng gì, mấy chuyện đờn bà ngủ mớ«, ông giơ tay cất giọng nhừa nhựa, ợ một tiếng lớn rồi hô cụng ly.
Nếu ai có miệng lưỡi độc địa, sau khi theo dõi tài diễn tuồng linh động, tràn trề dâm tình của bà Tư Phụng, hẳn nhoẻn cười hệch hạc kèm lời bình, chắc bà ta bị hồn ma giáo sĩ người da trắng cưỡng bức tới độ cấn thai. Nghe kể, thuở sơ sanh Lâm có nước da trắng hồng như da heo lang và đầu tóc luông luốc màu nắng nhiệt đới, với con mắt trái có màu xanh cẩm thạch, nhiều năm sau mới đổi nâu giống như mắt phải. Còn người đàn ông da trắng mang cái tên, không biết đọc sao cho đúng, khắc trên mộ bia là ai, hiện nay chỉ một ít cư dân, đã từng trải qua những thời chinh chiến của đất nước, còn nhớ.

Cậu Bảy đã có lần góp mặt trong những dịp lễ lạt ấy. Cậu bị chuyện kể của người chị thu hút tới độ, mỗi lần sau đó có dịp nhắc lại, cậu đều sanh nạnh bóng gió, bằng thứ từ ngữ trắng trợn, Lâm là đứa con cầu tự trời cho, là kết quả của tình chồng vợ thiêng liêng, còn cậu không khác gì một mớ rác rến sau khi giao cấu.
»Nhưng mà cậu Bảy«, Lâm ngần ngừ phản đối, »cậu nói ông bà ngoại như vậy đâu có được. Con thấy chuyện vợ chồng thương với… xụ đâu có giống nhau.«
Chuyện sử dụng từ ngữ tục tằn về hành động trai gái ăn nằm với nhau, với Lâm, là một điều cấm kỵ, sau lần cậu lỡ lời, bị má xáng cho một bạt tay đích đáng.
»Đúng đó! Nhưng cậu không biết nói kiểu huê dạng«, cậu Bảy công nhận. »Không phải cậu cháu mình được thầy dạy, người ta cũng là động vật có vú như chó, heo với lại chuột sao? Nè, cậu để ý thấy, con cái có bao nhiêu núm vú, nó đẻ một lứa bấy nhiêu con. Nhiều quá, tụi nó chết đói.«

Lý luận rạch ròi của cậu Bảy được Lâm chấp nhận vô điều kiện, nhưng Lâm thừa lanh lợi để xách mé.
»Sao đàn ông cũng có núm vú, mà không biết đẻ con«, cậu vặn vẹo.
Cậu Bảy cứng họng giây lát, nhưng tìm ra ngay câu trả lời. »Tại đực rựa không có tử cung với lại cái hạ bộ thích hợp. Ngốc còn bày đặt!«
Lời giải thích xác đáng của cậu Bảy làm Lâm chưng hửng. Cậu là con trai nối dõi độc nhất của dòng họ Phạm. Sau khi hạ sanh liên tiếp năm cô con gái, bà Tư Phụng đem lễ vật tới chùa, khấn Phật và hết thảy thánh thần quen tên ban phước cho bà một mụn con trai. Lời cầu xin được chứng giám qua câu chuyện huyền bí bà thường thuật lại cho mọi người cùng nghe. Và, đứa con Phật ra đời. Lễ ăn mừng đầy tháng được tổ chức rình rang, tụ họp bà con gần xa với đầy tớ, có hát bộ giúp vui, ngay tới ban giáo viên của mấy cô con gái cũng được mời dự. Những kẻ có tà ý và ganh tỵ rủ rỉ, con mẹ Tư Phụng được chồng cho phép, hoặc hành nghề bán dâm hay làm thiếp, dám chừng còn là vợ nhỏ của điền chủ Lê Tấn Phát. Nếu không, làm sao vợ chồng bà, người là kẻ giúp việc trong nhà người là tá điền cho gia đình họ Lê, có đủ khả năng chi tiêu cho một bữa tiệc linh đình gồm một con heo, năm con gà trống thiến, năm con vịt xiêm, chưa kể vô số cá, rượu đế, còn thêm tiền mướn con hát và tay đờn độc huyền từ chợ tỉnh? Và cơ ngơi của vợ chồng bà đâu phải là nhà của nông dân nghèo khó. Tuy cũng lợp lá, nhưng ba má Lâm dựng hai căn riêng biệt, cách đó bảy bước là nhà bếp đủ rộng và chỗ tắm bao bọc lá chằm, xây bên hồ sen. Có một số chi tiết mà nhiều người không muốn nhìn nhận, là gia đình họ Phạm có được những tiện nghi này, từ dạo cậu Bảy dọn về ở chung. Nếu không, họ đã hiểu ra, mớ tài sản xuất phát từ ông bà ngoại Lâm. Ba má Lâm, đặc biệt người mẹ, lúc nào cũng cố gắng giũ bỏ lai lịch mình, bằng cách cho bầy con đi học chữ. Ngay tới chuyện đặt tên con, bà Tư Phụng đã phí phạm nhiều đêm mất ngủ, nát óc lựa ra những từ vựng hoa mỹ, có ý nghĩa. Không như người khác chọn cho con những cái tên rau cỏ hay cầm thú thông dụng, hoặc theo thứ tự vì lý do sinh đẻ hàng loạt, cả việc sử dụng những từ dung tục, hy vọng ma quỷ xa lánh, năm cô con gái của bà Phạm đều mang tên hoa hay linh thú trích từ thi ca bắt đầu bằng vần L, như Liên, Lan, Liễu, Lài và Loan. Cho thằng út cưng, ông bà Phạm chọn tên Lâm, từ ngữ bao trùm cảnh giới động và thực vật.

Bà Tư Phụng tin chắc, nhiều sự kiện trong đời sống bà đã được tiền nhân định sẵn. Bà nhớ hoài giọng kể kiêu hãnh của bà ngoại về thời Trịnh-Nguyễn phân tranh. Hồi đó, trên đường lánh nạn, chàng thanh niên kế vị triều đình nhà Nguyễn đã trọ tạm nhà cha mẹ bà một thời gian dài. Trong khoảnh khắc buông thả say đắm, cô con gái mặn mà nhất của gia đình đã dâng hiến tình yêu cho vị hoàng đế lưu vong, và cho ra đời một mụn con mang dòng máu quí tộc. Bốn mươi năm sau, cuộc tranh chấp chấm dứt, chàng thanh niên trở về kinh đô Phú Xuân, đăng quang hoàng đế, khai sáng triều đại nhà Nguyễn.

Một trưa hè oi ả, sau một đêm mất ngủ vì chứng bệnh dạ dày, ngài ra nhà thuỷ tạ ven hồ sen hóng mát. Trong cơn đầy bụng vì các món ăn cung đình khó tiêu, ngài sực thèm một bữa cơm dân dã, đạm bạc đã từng nếm qua trong lần bôn ba lưu lạc vùng nước lợ miệt đồng bằng Cửu long, được chính tay cô con gái lớn, thân thể phảng phất hương dầu bạc hà, dọn ăn. Bữa ăn có canh chua me cá lóc nấu với cà dại, khóm, đậu bắp, giá, bạc hà, gia vị rau om, và cá trê kho tộ, kèm cơm Nàng Hương. Ngài phân vân, không rõ mình ngon miệng vì bụng đói cồn cào sau cuộc hành trình nhọc nhằn hay vì hương vị độc đáo của món ăn, chỉ biết lần ấy ngài đã được dịp tận hưởng một bữa no nê. Cùng lúc, tâm tư ngài nhớ lại những chi tiết trong lần giao tiếp thân xác với người đẹp thơm tho dầu bạc hà. Ngài tự hỏi, cô gái ấy ở đâu hiện giờ và cô sửa soạn cho ai thưởng thức những món đặc sản ấy?

Ngay hôm sau, ngài cho vời người trung thần đã đồng hành cùng ngài suốt đoạn đường lưu vong tới hầu, trút cạn niềm riêng, rồi ra lệnh cho ông lên đường truy tầm tông tích gia đình người nông dân và cô gái năm nọ. Ba tháng sau trở lại, ông báo tin đã tìm ra manh mối, nhưng không thể thuyết phục nàng theo về hoàng cung, vì nàng đã có người phối ngẫu. Nàng nhờ ông đem dâng hoàng thượng một tờ giấy lụa phác hoạ hoa đào, thủ pháp tinh xảo thảo mực tím chép bản chỉ dẫn nấu món canh chua cá, một đặc sản gia truyền.

»Bẩm Hoàng thượng, thiếu phụ nhân danh đứa con do thiên long ban tặng, nhờ hạ thần tấu lời vấn an và chúc Ngài vạn tuế«, ông gập đầu tấu.
Không rõ những sự kiện được các lão bà bên ngoại Lâm kể lại, với mảnh ký ức hao hụt vì tuổi già, có phản ảnh đúng thực tế hay chỉ là những hoang tưởng của bẩm tính giàu sáng kiến độc đáo, là điều không thể kiểm chứng sau cuộc phân tranh và kháng Pháp đẫm máu kéo dài hằng bao thế kỷ, đã để lại nhiều thương tích trong ý thức mọi người, và rồi dần dà trôi vào quên lãng. Kiếp nhân sinh vốn dĩ vô thường, nên điều đó đối với Lâm chẳng có gì quan trọng. Mang trong người huyết thống đế vương từ một giọt máu rơi đã ba đời lợt lạt, thì có gì đáng vinh hạnh?

*

Cứ mỗi chủ nhật, ngày nghỉ duy nhất trong tuần, bà Tư Phụng lại sai Liên, cô con gái lớn, dạy đánh vần hay đọc cho nghe mấy tờ nhật trình cũ rích của nhà ông điền chủ liệng thùng rác. Bà tỏ ý tâm đắc với những truyện dài đăng từng kỳ. Vận mạng những nhân vật chính trong nhiều chuyện tình lôi cuốn bà tới độ, bữa nọ trong lúc rửa chén, bà cảm nhận rõ nỗi thôi thúc sáng tạo, xui bà nghĩ ra một tiểu thuyết bình dân diễm lệ. Bằng tính mẫn cảm nữ phái và đường gươm bén ngót của văn tự, bà sẽ xoáy vào tim, sẽ khơi lệ giới nữ độc giả cạn ráo như vắt chanh lấy nước. Bà suy tưởng, quyển tiểu thuyết đầu tay của bà sẽ thuật lại đời sống tình cảm của một phụ nữ sống trong một xã hội nặng nề luân lý đạo đức giả, dưới thời thực dân thống trị. Sau khi cấn thai vì bị một tên lính lê dương da đen rạch mặt hãm hiếp trong một trận Tây ruồng, và bị họ hàng làng xóm khinh bỉ, nàng tới trú thân trong một ngôi chùa của dân Khờ-me, chờ ngày sinh nở. Phải rồi, tình huống bi thảm này cần được miêu tả chi li từng chi tiết, chẳng hạn sư ông trú trì sẽ giữ vai mụ đỡ, và đứa trẻ sơ sinh sẽ có trên má dấu chàm y hệt vết sẹo trên mặt kẻ cưỡng dâm. Theo lời thầy bói làng coi tướng, thân thể đứa nhỏ tiên ứng một vài dấu tích đế vương: trái tai hai tấc, xoáy tóc trôn ốc, hai cánh tay dài khác thường và nốt ruồi son trên dương vật. Nhưng tiến trình vương nghiệp của thằng nhỏ phải được diễn tả sao cho văn vẻ mặn mòi, bà chưa nắm được ý. 

Lẽ đó, một sáng chủ nhật bà cắp một rổ xoài, tới dọ ý thầy Văn Tài, một người quen thân của gia đình, có tiếng học sâu hiểu rộng. Tuổi đã bốn mươi lăm mà thầy vẫn chưa lập gia đình, sống cùng mẹ già mắt loà và một con mèo xiêm mắc chứng bạch tạng có cặp mắt đỏ hồng ngọc, trong một gian nhà kê vỏn vẹn chiếc trường kỷ gỗ dày, là nơi ăn chốn ngủ của mẹ con thầy, cũng là chỗ chiều chiều thầy kèm dạy Lâm cùng nửa tá học trò.

»Theo như tui biết, tên lính lê dương da đen là một người châu Phi«, thầy giải thích cho bà Tư Phụng, sau khi bà kể cho thầy nghe chuyện văn mạch đứt đoạn. »Chị nghĩ sao, nếu chị cho thằng da đen được vinh danh thành người hùng, sau ngày thằng chả từ Đông dương trở về nước tên là Marronga, tỷ dụ vậy. Và rồi, qua một cuộc bầu cử không mấy phân minh, chả lên ngôi quốc trưỏng với tám mươi phần trăm số phiếu?«
Bà Tư Phụng tịnh khẩu trước tầm kiến thức và óc sáng kiến dồi dào của ông thầy, chỉ biết gật gù tán đồng.
»Theo lời pháp sư răn dạy«, thầy Văn Tài tiếp tục đắm đuối trong cảnh sắc hư cấu, »và để gột sạch cũng như đền bù những tội đồ xấu xa trong quá khứ, thằng đen cho quảng bá khắp Đông dương một yết thị có in hình chả và nhận được tới một trăm bảy mươi sáu hồi đáp kèm ảnh chụp trẻ lai da đen. Trong số đó có một tấm thuyết phục hơn hết, vì mặt đứa nhỏ mang dấu tích giống hệt chả…«
»Hổng biết thầy nghĩ sao, chớ tui thấy chuyện hơi hơi khó tin«, bà Tư Phụng ngắt lời.
»Sao vậy? Hổng phải chị mới nói, chị định viết một truyện tưởng tượng, chớ đâu phải hồi ký? Để rồi, cha con trùng phùng trong một trường hợp hi hữu, và lẽ đương nhiên thằng con trở thành kẻ nối ngôi cha. Quyển tiểu thuyết của chị được chấm hết bằng một đoạn kết có hậu như vậy. Tui tin chắc, cuốn sách của chị sẽ được văn giới đón nhận như một chấn động long trời, như một hoả diệm sơn phún lửa lở đất.«

Quyển tiểu thuyết bi hài không bao giờ được khởi công, và tâm nguyện trở thành nữ sĩ thành danh trong văn đàn Việt-Miên-Lào của bà Tư Phụng cũng không bao giờ thành tựu. Sau khi mắc phải chứng bệnh sốt nhiễm trùng và được thầy thuốc làng chữa khỏi, khả năng cảm nhận của bà như thể mặt kiếng lấm bụi được cơn mưa tháng tám dội sạch. Không sót lại chút gì, dẫu chỉ một sợi chỉ nối, những tư tưởng sáng tạo minh mẫn dạo nào trong ý thức bà. Quá khứ biệt tăm không dấu vết, tương lai rỗng rang không dự tính. Nhưng nhờ vậy, bà thấy người nhẹ nhõm như vừa phủi sạch những mê muội hồng trần, chỉ giữ lại những tính lành, bảng lảng chút siêu nhiên. Như một con rùa đánh hơi được mùi đất sinh quán, như thính giác loài dơi nghe được chướng ngại trong tăm tối, như một con ó biển thấy ra đáy thẳm đại dương, như một con kiến tiên ứng mùa lụt lớn, như hột lúa cảm nhận được hơi ẩm cơn mưa ấm để nẩy mầm. Bà Tư Phụng chủ động được chính mình, có một cá tính tự tin, không vướng víu bất kỳ di tích tổ tiên nào. Bà tin chắc, bằng tất cả bẩm năng vay mượn từ các loài thú kể trên, bà có thể phác hoạ trong trí tấm địa đồ thế giới, không cần dụng cụ. Bà còn nghĩ ngợi quàng xiên, dám chừng mình là kẻ tái sanh từ những giống thú ấy sau muôn kiếp luân hồi.

Ngô Nguyên Dũng
(Đức, tháng 7.2015)



Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Quê nhà, khi nhìn lại   Today at 1:50 am

Về Đầu Trang Go down
 
Quê nhà, khi nhìn lại
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến