Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
Ngày thanh HUNG thang huyen cong NHẬT phung quan mien cuoc nhung nguyen sinh viet ngoc lang rang pham Thầy nghe nguoi tien nghia thuy trai
Latest topics
January 2017
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Nước Đức, 25 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
PVChuong
Admin


Posts : 257
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Nước Đức, 25 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ   Thu Aug 15, 2013 7:08 pm


Mikhail Gorrbachov: “Tôi đã để cho Bức tường Berlin sụp đổ như thế đấy”





Dưới đây là bài trả lời trên nhật báo La Repubblica (Italia) của nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, nguyên Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorrbachov nhân kỷ niệm 20 năm ngày sụp đổ Bức tường Berlin. Gorrbachov sẽ đến Italia vào giữa tháng 10 để tham dự một hội thảo quốc tế do Diễn đàn chính trị thế giới (WPF) mà ông làm chủ tịch tổ chức để nhìn lại sự kiện lịch sử này.



- Gorrbachov, từ khi nào ngài nhận thấy rằng đã đến thời điểm để nước Đức thống nhất?
- Lịch sử không thể diễn ra trong một ngày và tôi không thể chỉ ra chính xác một ngày cụ thể nào. Trên thực tế, sự sụp đổ của Bức tường Berlin chỉ là hồi chót của một quá trình đã diễn ra từ rất lâu. Khi Liên Xô bắt đầu tiến hành một loạt thay đổi mang tính bước ngoặt, như tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên, thì ở các nước Đông Âu khác, những cuộc cách mạng đầu tiên cũng diễn ra, theo cả cách êm đẹp và không êm đẹp, khi bắt đầu tiến trình giải trừ quân bị giữa Mỹ và Nga để chấm dứt Chiến tranh Lạnh, với việc tháo bỏ các đầu đạn hạt nhân, thì chúng tôi đứng trước một thực tế hết sức buồn bã, là nước Đức, chỉ nước Đức, đang đứng trước con đường lịch sử. Người Đức cảm thấy bị xúc phạm. Và tôi hiểu điều đó.

- Theo ngài, đâu là thời điểm bắt đầu cho việc tái thống nhất nước Đức?
 - Chúng ta đang nói về năm 1988. Đấy là lúc ở Đức bắt đầu xuất hiện những cuộc biểu tình đầu tiên. Tại Moscow, chúng tôi nhận được các tin tức nói rằng các công dân Đông Đức đang tìm cách sang Cộng hòa Liên bang Đức thông qua ngả biên giới Hunggari, lúc đó đã mở cửa biên giới với Áo. Điều tương tự cũng xảy ra với đại sứ quán Đức ở Ba Lan và Tiệp Khắc, nơi mà người Đông Đức có thể xin tị nạn chính trị dễ dàng hơn. Số người làm đơn xin sang Tây Đức theo dạng này ngày càng lên cao và tới một con số khổng lồ vào mùa Hè năm 1989. Những điều đó xảy ra trước khi báo chí nắm được tình hình, rất lâu trước khi Hans-Dietrich Genscher (ngoại trưởng Đức bấy giờ) tuyên bố tại Praha, Tiệp Khắc (nay là Cộng hòa Séc và Slovakia), rằng nước này sẽ mở cửa biên giới với Cộng hòa liên bang Đức. Lịch sử đã được viết theo cách ấy và các sự kiện tiến triển theo từng ngày, với 2 khả năng duy nhất xảy ra, hoặc là chúng ta tìm cách để chế ngự chúng và phát triển theo ý chúng, hoặc là chúng ta bị chúng cuốn trôi.
 
- Như vậy là vào lúc đó, ngài cho rằng việc thống nhất nước Đức là không thể tránh khỏi?
- Những gì mà tôi biết được vào cuối năm 1988 là đã quá muộn để ngăn chặn các sự kiện này lại. Người Đông Đức không hề có ý định chấm dứt các cuộc biểu tình để trở về nhà và họ đấu tranh đến cùng, cho đến khi đạt được mục đích mới thôi. ngày 26/1/1989, trong khi ở Berlin đang diễn ra những cuộc biểu tình mới, tôi triệu tập một cuộc họp khẩn cấp của trung ương đảng cộng sản Liên Xô mở rộng, với sự có mặt của các đại diện tướng lĩnh quân đội, để hỏi ý kiến của họ. Tất cả cùng thống nhất rằng người Đức sẽ không chịu buông xuôi và họ không còn tuân lệnh của Liên Xô nữa.



 
- Đảng cộng sản Liên Xô không cảm thấy sợ hãi trước sự thống nhất của nước Đức sao?
- Đấy là một thời điểm hết sức nóng bỏng. Trong đảng nổ ra những cuộc đấu tranh nảy lửa chống lại tôi và chống lại perestroika. Lúc đó, hàng loạt cải cách về chính trị cũng như những cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên của chúng tôi được đưa ra bàn luận. Năm 1989, trung ương đảng họp ngay sau khi diễn ra cuộc bầu cử vào tháng 3 với kết quả rất đáng chú ý, là bầu cử tự do, danh sách ứng cử từ 7 đến 27 thành viên, thay vì một cái tên duy nhất như trước đây. Lần đầu tiên tất cả các tổ chức và lực lượng chính trị đưa ra các ứng viên của họ và cuối cùng, 35 bí thư ở các vùng của đảng không trúng cử. 84% các nghị sĩ quốc hội Liên Xô là đảng viên đảng cộng sản. Trong cuộc họp ấy, trung ương đảng không chấp nhận cho nước chúng tôi cũng như các quốc gia khác cấu thành khối các quốc gia trong hiệp ước Vacsava, có thể quyết định quyền tự chủ nếu như thay đổi những người lãnh đạo. Đấy là cơ hội để những người chống đối trong đảng đứng lên chống lại những cải cách chính trị và coi đó như là những đe dọa chết người đối với họ, và họ chống đối rất quyết liệt. Họ đã từng im lặng trong một thời gian dài, vì không có đủ can đảm để bước lên đấu tranh. Rất nhiều lần tôi đã phải dùng nắm đấm để đập lên bàn nhằm giữ trật tự.

- Thế còn những nhà lãnh đạo Đức thì sao?
- Năm 1989, tôi sang Đức 2 lần. Tháng 6/1989, tôi sang Bonn và gặp Kohl. Đó là một cuộc nói chuyện rất chân tình. Các nhà báo có hỏi tôi về việc liệu chúng tôi có bàn với nhau về các sự kiện xảy ra trên đất Đông Đức không. Dĩ nhiên là chúng tôi có thảo luận về điều ấy, nhưng chúng tôi không quyết định điều gì cả. Đấy không phải là một vấn đề có thể bàn bạc trên bàn. Chính lịch sử sẽ phán xét chúng tôi. Khi nào ư? Tôi và Kohl cùng đưa ra câu trả lời cứ như là chúng tôi cùng một lúc nhất trí với nhau về điều ấy: không phải thế kỷ 21. Tuy nhiên, các sự kiện đi theo một con đường khác. Điều mà chúng tôi thấy rõ ràng là không thể ngăn cản được những gì xảy ra trên đất Đức. Kohl đã gọi điện cho tôi nhiều lần và câu hỏi mà tôi luôn nghe là “Chúng ta phải làm gì đây?”. Tôi nói với ông ấy: “Ngài cứ bình tĩnh và không được làm bất cứ điều gì manh động, nếu không chúng ta sẽ gặp rắc rối lớn đấy”. Chính vào lúc ấy, ông ấy đưa ra 10 điểm bàn về việc để cho 2 nước Đức sát lại gần nhau, với một loạt lộ trình quan trọng cho việc thống nhất. Ở Moscow, chúng tôi không cảm thấy hào hứng lắm với việc làm của Kohl, nhưng chúng tôi hiểu là việc tiến hành bầu cử ở nước Đức thống nhất sau này đã buộc ông ấy phải hành động.





- Ngài thấy điều gì khi đến Berlin?
- Tôi tới Berlin vào ngày 6/10/1989, để kỷ niệm 40 năm ngày thành lập nước Cộng hòa dân chủ Đức. Tôi còn nhớ là vào lúc đó, tôi nhận thấy một bầu không khí bất ổn. Quyền lực của đảng đã không còn giúp họ kiểm soát được đất nước nữa. Đấy là một thực tế được thừa nhận, chưa nói gì đến các vấn đề có liên quan trực tiếp đến Bức tường Berlin. Có cảm giác là người Đức cảm thấy dường như mình đã bị bỏ rơi và lãng quên, chỉ riêng họ thôi, trong khi thế giới xung quanh đã thay đổi nhanh chóng, mà điều ấy thì bức tường lại ra sức ngăn cản. Người dân không còn chịu đựng được nữa. Từ nhiều tháng trước đó, các quảng trường luôn chật cứng những người biểu tình chống chế độ. Khi tôi sang đó, trong những sự kiện được tổ chức nhân 40 năm quốc khánh Đông Đức, có cả Fackelzug, lễ rước đuốc tuần hành, với sự tham gia của các đại diện từ 28 vùng trong cả nước. Đứng trước tôi có một nhóm thanh niên trẻ trung gào lên bằng tiếng Đức, “Gorrbachov, hãy ở đây một tháng nữa thôi”, “Gorby, tự do”. Thủ tướng Ba Lan Tadeusz Mazowiecki đến gặp tôi và nói: “Mikhail Sergeevich, ngài có hiểu tiếng Đức không?”. Tôi trả lời: “Đọc hiệp định bằng tiếng Đức thì khó, chứ những gì mà họ gào lên với tôi, tôi hiểu cả”. Ông ấy trả lời: “Thế thì bây giờ ngài sẽ hiểu rằng đấy chính là sự kết thúc”.

- Có đúng là Honecker đã tiết lộ với ngài một trong những rắc rối lớn nhất của ông ta không?
- Tôi đã gặp ông ấy trong những ngày đó và nói chuyện khá dài, ít nhất là 3 tiếng. Tôi quan sát ông ấy khá kỹ và tôi cảm thấy ông ấy không ổn lắm, tôi có cảm giác là dường như tất cả không hiểu được sự vĩ đại của những sự kiện đang xảy ra quanh họ, không biết được những gì mà họ phải đối đầu ở phía trước. Chính vì thế, ngày hôm sau, tôi đề nghị được gặp tất cả các ủy viên trung ương đảng cộng sản Đông Đức. Tôi không buộc tội ai cũng như không buộc ai phải phản ứng. Trung thành với nguyên tắc mà tôi đã chọn, tôi kể lại cho họ nghe về perestroika, về việc tại sao và như thế nào mà trong một số trường hợp, chúng ta đưa ra những quyết định chậm trễ khiến phải trả giá đắt và nếu ngược lại thì như thế nào. Trong một số trường hợp, chúng ta lại tỏ ra quá vội vã, tự đẩy chúng ta vào những tình huống hết sức khó khăn. Tôi nói rằng để nắm bắt được tiến trình đang xảy ra, cần phải hết sức thông minh. Thế rồi bài nói chuyện hôm đó trở nên nổi tiếng, và được đúc kết lại thành công thức “Ai đến chậm, lịch sử sẽ trừng phạt người đó.”





- Mikhail Sergeevich, các nhà lãnh đạo châu Âu phản ứng như thế nào. Họ muốn duy trì sự tồn tại của Bức tường Berlin ư?
- Ngoại trừ Mỹ ra, tất cả đều phản đối. Thacher khẳng định là bà không ủng hộ. Bà không nói điều này một cách công khai, mà nói trong một cuộc gặp chính thức với tôi. Andreotti chống lại và đặc biệt Mitterrand chống kịch liệt. Ông nói: “Tôi yêu nước Đức rất nhiều. Tôi muốn cứ duy trì hai nước Đức cùng lúc. Tất cả các nhà lãnh đạo Âu châu đều sợ, nhưng họ lại không đưa ra được bất cứ đề xuất nào về việc làm sao để đối phó với tình hình. Tôi nói rõ với họ là tôi muốn bức tường sụp đổ và nước Đức cần thống nhất, nhưng họ muốn chúng tôi ngăn cản họ lại, bằng quân đội của Gorbachov. Tất cả đều đến gặp tôi, từng người một, và yêu cầu một cách công khai. Mitterrand thậm chí còn sang tận Kiev để bàn bạc với tôi về vấn đề này.

- Ngài có hối hận điều gì không?
- Tôi đã nghĩ đến điều này hàng nghìn lần trong những năm qua, rằng điều gì có thể sẽ xảy ra, nếu như quân đội và xe tăng sẽ rời trại để lên đường đến Berlin. Chắc chắn sẽ có đổ máu. Thế chiến thứ 3 có thể sẽ tới. Tôi bây giờ có thể tin chắc vào điều đó. Phần còn lại, thì tôi đã nói ngay từ đầu, với lãnh đạo các nước trong khối Vácsava, rằng Liên Xô sẽ không can thiệp vào nội tình nước họ. Họ có thể không tin tôi, nhưng tôi luôn giữ lời. Chúng tôi không hề nhúng tay vào bất cứ việc gì liên quan họ. Và đấy chính là bi kịch lớn của họ.

Nguồn: Ba Sàm/TTXVN


    
20 năm sau, Mikhail Gorrbachov hồi tưởng lại những sự kiện đã xảy ra mà ít người biết đến trong sự sụp đổ của Bức tường Berlin. Ngồi trong phòng làm việc của mình ở Moscow, ông nói về những diễn biến của ngày ấy với một sự bình thản. Nhưng bản thân những lời nói của ông lại toát ra biết bao nhiêu tình cảm, sự hài lòng và cả những uất ức về những gì ông đã chứng kiến trong các năm 1988 và 1989, những năm tháng không thể nào quên đã tạo ra một phần của lịch sử thế kỷ 20. Ông nhớ lại những người dân Berlin đã hướng về phía ông mà kêu lên “Gorby”, hãy ở lại cùng với chúng tôi”, “Gorby tự do”. Ông nhớ lại những cuộc gặp mặt với các đảng cộng sản Đông Âu khác trong thời điểm lịch sử thế giới chuẩn bị sang trang mới, những cuộc điện đàm kéo dài với Thủ tướng Đức Helmut Kohl, với “đồng chí” Erich Honecker, người đứng đầu đảng cộng sản Đông Đức, những cuộc chiến nhằm duy trì “perestroika” (sự cải tổ chế độ kinh tế và chính trị của Liên Xô) trong đảng cộng sản Liên Xô và cả những nỗ lực của phương Tây trong việc ngăn chặn quá trình thống nhất nước Đức. “Tất cả đều chống lại tiến trình ấy. Thatcher khẳng định điều đó từ London, Mitterrand từ Paris, Andreotti từ Roma. Họ sợ. Họ muốn ngăn chặn người Đức thống nhất thành một quốc gia hùng mạnh trở lại và họ chờ đợi Liên Xô đưa xe tăng vào Đức cùng với quan lính của Gorrbachov. Trong những cuộc gặp gỡ chính thức, tôi luôn nói thẳng thắn với họ, từng người một về vấn đề nước Đức thống nhất. Thậm chí Mitterrand còn đến gặp tôi ở Kiev. Về câu chuyện này, tôi xin nói thẳng, chỉ có 2 dân tộc anh hùng, là người Đức và người Nga.”



Tường Berlin đổ: chấm dứt Chiến Tranh Lạnh


Mặc dù Mĩ và Liên Bang Soviet kí những hiệp ước hạn chế kho vũ khí của mình, cuộc chạy đua vũ trang của hai nước lớn ấy vẫn là một cuộc đua dường như không có đích. Sang thập kỉ 1980 cuộc đua mới bắt đầu giảm nhiệt độ, vì cả Mĩ và Liên Bang Soviet phải dùng ngân sách giải quyết nhiều vấn đề kinh tế và xã hội nội bộ. Mikhail Gorbachev lên nắm quyền, xét lại tất cả những chính sách đối nội và đối ngoại của Liên Bang Soviet.

Thấy rằng Liên Bang Soviet không đủ sức tiêu nhiều ngân sách vượt quá sức của một nền kinh tế yếu kém, Gorbachev muốn dùng tất cả lực lượng để cải tổ kinh tế và xã hội, giảm chi tiêu quân sự. Khi ông tuyên bố không can thiệp quân sự tại các nước chư hầu ở Đông Âu thì gió cách mạng nổi lên, dân chúng tại các nước đó bắt đầu nổi dậy chống lại kiểm soát của Moscow. Cộng sản ở Đông Âu tan rã, các nước chư hầu li khai, đẩy Liên Bang Soviet tới bờ vực phá sản.

Tại Đông Đức, sau khi dựng xong bức tường Berlin, chính quyền Ulbricht xây dựng một nền kinh tế mạnh, tiếp tục con đường thuần phục Liên Bang Soviet và đàn áp không nương tay tư tưởng chính trị đối lập. Mười năm sau, Erich Honecker kế tục Ulbricht làm lãnh đạo Đảng Cộng Sản Đông Đức. Honecker còn cứng rắn hơn Ulbricht, ông cũng như nhiều nhà độc tài cộng sản khác ở Đông Âu, dùng một công cụ cai trị rất tàn bạo: Stasi, công an mật.

Từ 1980 cho tới khi sụp đổ vào 1989, Đông Đức là một trong những quốc gia mạnh về kinh tế, nhưng lại khét tiếng về chế độ cai trị sắt máu. Năm 1989, cứ 165 dân Đông Đức thì có một mật thám.iv Chế độ Honecker đã vượt quá sức chịu đựng của dân chúng, và khi thời cơ đến thì mọi phẫn nộ của dân chúng bùng phát.

Năm 1989, dân Đông Đức nổi dậy chống lại chế độ hà khắc của Honecker, nhiều người tìm cách bỏ trốn. Đến cuối năm, biểu tình lớn nổ ra. Ngày 9 tháng Mười Một, chính phủ cộng sản không cưỡng lại được sức mạnh của dân chúng, mở cửa biên giới với Tây Đức. Hàng trăm ngàn người từ Đông Đức vượt biên giới tràn qua Tây Đức, tìm lại người thân và tự do của mình. Người Đức từ hai bên bức tường ùa tới, dùng búa tạ hạ sập bức tường này. Vài tháng sau ngày bức tường Berlin sụp đổ, tuyển cử tự do diễn ra tại Đông Đức, tân chính phủ do Đảng Dân Chủ Ki-tô Giáo (Christian Democrats) lãnh đạo thực hiện chính sách thống nhất nước Đức. Ngày 3 tháng Mười 1990, Tây và Đông Đức thống nhất dưới một chính thể dân chủ.

Nguồn: thongtinberlin.de


***
 
Videoclip Sự Sụp Đỗ của Bức Tường Bá Linh in 1989




Người Việt chứng kiến tường Berlin sụp đổ


.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Bức Tường Bá Linh, nó đổ như thế nào   Sat Sep 21, 2013 11:59 pm


Bức Tường Bá Linh, nó đổ như thế nào

Mary Elise Sarotte
Chuyển ngữ: Đinh Từ Thức

Lời người dịch: 9 tháng 11, 2009 là kỷ niệm 20 năm ngày Bức tường Berlin sụp đổ. Đối với nhiều người, bức tường đổ vì trước đó ông Reagan đã kêu gọi “Ông Gorbachev, phá bỏ bức tường này” (Mr. Gorbachev, tear down this wall). Ông Gorbachev không chống đỡ nó nữa, thế là nó đổ.

Tất nhiên, cả ông Reagan và ông Gorbachev đều góp phần vào việc đưa Bức tường Berlin đến chỗ sụp đổ, nhưng đó là chuyện gián tiếp, xa xôi. Có ba yếu tố đã trực tiếp khiến Bức tường Berlin sụp đổ ngày 9 tháng 11 năm 1989, là dân chúng, đảng Cộng sản Đông Đức, và giới truyền thông.
 
 
Tranh mural trên bức tường Bá-Linh (nay là East Side Gallery–quãng tường dài 1.3 km và là nơi triển lãm lộ thiên ở gần trung tâm thành phố cho khái niệm tự do), vẽ cảnh Leonid Brezhnev hôn Erich Honecker trên xe Trabant vượt qua bức tường (họa từ bức tranh tường #25 (vẽ năm 1990) của Dmitri Vrubel, "Mein Gott hilf mir, diese tödliche Liebe zu überleben" ("Cầu xin Chúa cho tình yêu chết người này được tồn tại")), phố Mühlenstraße, quận Friedrichshain-Kreuzberg

Sống dưới chế độ độc tài, với quân đội hùng mạnh và hệ thống công an, mật vụ dầy đặc, lúc đầu dân chúng sợ sệt, chịu yên một bề. Nhưng bị đàn áp quá, người dân hết sợ, đã liên tiếp kéo nhau xuống đường biểu tình phản đối. Có những đám biểu tình đông tới nửa triệu người, như đã diễn ra vào ngày 4 tháng 11, khiến đảng Cộng sản bối rối, thay vì đàn áp như thường lệ, đã phải họp bàn, đối phó bằng nhượng bộ.

Đảng Cộng sản Đông Đức, như bất cứ đảng cầm quyền độc tài nào, nhiều kinh nghiệm đàn áp hơn kinh nghiệm chiều theo lòng dân. Khi không thể đàn áp được nữa, thì miễn cưỡng phải nhượng bộ. Nhưng vì không thật lòng, không theo lớp lang hợp lý, nên đã gây ra tai nạn, tự mình hại mình.

Sự mau mắn của truyền thông, đã giúp người dân nắm được cơ hội, để cùng nhau có quyết định sinh tử, đập bỏ bức tường, giải phóng bản thân, và đất nước mình.

Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một nước lớn với quân đội hùng mạnh và mạng lưới công an bao phủ toàn diện xã hội, đã tự nhiên tan biến trong hòa bình.

Hai mươi năm nhìn lại, truyền thông ngày nay thuận tiện hơn 20 năm trước nhiều; mấy đảng cộng sản còn sót lại thì vẫn như thế, lúc nào cũng đàn áp, khi nào không đàn áp được nữa, mới chịu nhượng bộ. Riêng dân chúng, vẫn là yếu tố quyết định: Vùng dậy từ 20 năm trước, hay chịu khuất phục thêm vài chục năm nữa, không phải là quyết định của những Reagan hay Gorbachev, mà là quyết định của mỗi người dân, trước trách nhiệm với chính mình, với con cháu mình, và đất nước mình.

Mary Elise Sarotte kể lại đầu đuôi Bức tường Berlin đã đổ như thế nào vào ngày 9 tháng 11. Một bài học lịch sử rất giá trị và hấp dẫn:


 
Một tai nạn nhỏ làm lịch sử lộn nhào.


Khi các sự kiện đã đi từ tin tức hàng ngày vào sử sách, thật khó có thể tưởng tượng là chúng có thể xẩy ra theo bất cứ cách nào khác. Cuối cùng, chúng đã là lịch sử. Và 20 năm sau, sự sụp đổ của Bức tường Berlin có vẻ giống như loại lịch sử đó – một sự việc làm thay đổi lịch sử thế giới mà chúng ta tưởng nhớ và ăn mừng, các anh hùng và bọn hung ác đều đã được xác định, những hình ảnh và những gì nổi bật đều đã được biết đến.

Nhưng câu truyện thật về sự sụp đổ của bức tường thì ít gọn gàng hơn những gì có thể hiện ra trong kính chiếu hậu. Cái “quyết định” mở ranh giới không phải là một lựa chọn có ý thức. Thay vì là thắng lợi chắc chắn do sức mạnh của tự do, nó đã là một sự hỗn độn và có khả năng trở thành bạo loạn. Một trong những biến cố trọng đại nhất của thế kỷ vừa qua, thật ra, đó là một tai nạn, một thứ bán hài kịch và lỗi lầm quan liêu, đã xẩy ra phần lớn nhờ giới truyền thông Tây phương, cũng như ngọn trào lịch sử.

Cái gì đã thực sự xẩy ra?


Vào những ngày đầu của tháng 11 năm 1989, có những cuộc biểu tình khổng lồ của dân Đông Đức đòi cải tổ kiểu Gorbachev. Các nhà cai trị độc tài ráng nhượng bộ bằng cách công bố thể lệ du hành “mới”. Mặc dầu thể lệ nói sẽ có tự do, nhưng vẫn bao gồm hạn chế vì lý do an ninh quốc gia, như vẫn được dùng để ngăn dân Đông Đức bỏ đi. Không có người nào trong số thảo ra thể lệ mới này đã nêu ra những bước rõ rệt cần thiết để mở ranh giới, như là tham khảo với Liên Xô, hay báo cho lính gác biên phòng biết sắp có thay đổi như vậy. Tóm lại, không có dấu hiệu là giới thẩm quyền đã chủ tâm cho mở bức tường vào ngày 9 tháng 11.

Vào 6 giờ chiều hôm đó, một thành viên, đồng thời là người phát ngôn của Bộ chính trị Đông Đức là Guenter Schabowski đã xếp đặt một cuộc họp báo. Ngay trước khi khởi sự, ông ta nhận được một tờ giấy cập nhật về thể lệ mới, với gợi ý nên công bố. Ông ta đã không tham dự vào những cuộc thảo luận về thể lệ, và không có thì giờ đọc tài liệu trước khi bắt đầu.

Cuộc họp báo kéo dài cả giờ vô cùng tẻ nhạt, đến nỗi Tom Brokaw có mặt hôm đó đã nhớ lại là “chán phèo”. Nhưng vào mấy phút cuối cùng, câu hỏi của một nhà báo Ý về du hành đã đánh động trí nhớ của Schabowski. Ông ta đã cố gắng tóm tắt các thể lệ mới nhưng trở nên bối rối, và những câu nói của ông có vẻ lang bang, bất định. Ông nói: “Dầu sao, hôm nay, như tôi được biết, một quyết định đã được thành hình. Đó là một hảo ý của Bộ chính trị đã được đề ra, là loại bỏ một khoản trong luật về du hành”.

Trong số những câu lằng nhằng ấy, có vài mẩu đã bật ra, như: “Đi qua trạm ranh giới”, và “có thể cho mọi người dân”.

Bỗng chốc, mọi nhà báo trong phòng đã có những câu hỏi. Một người hỏi lớn: “Bao giờ chuyện đó có hiệu lực?” Người khác la lên: “Ngay bây giờ?” Schabowski vừa bối rối lẩm bẩm, trong khi lật qua các trang giấy, cho đến khi thốt ra: “Tức thì, ngay bây giờ”.

Brokaw nhớ lại: Giống như “một tín hiệu đến từ ngoại tầng không gian, và làm rúng động căn phòng”. Một số ký giả các hãng thông tấn vội chạy đi gửi tin, nhưng câu hỏi tiếp tục dồn dập, trong số có: “Cái gì sẽ xẩy ra cho Bức tường Berlin bây giờ?”

Hoảng sợ về những gì đang diễn ra, Schabowski kết luận bằng những câu trả lời lung tung hơn: “Về vấn đề du hành, do đó, về vấn đề vượt bức tường từ phía chúng tôi, chưa có câu trả lời, riêng về vấn đề ý nghĩa, của chuyện này, tôi có thể nói thế này, ranh giới tăng cường. Hơn nữa, cuộc thảo luận về những vấn đề này có thể ảnh hưởng tích cực nếu Cộng hòa Liên bang (Tây Đức) và nếu NATO cũng can dự và cùng giải giới”.

NATO không thể giải giới trước bữa điểm tâm sáng mai, rõ ràng Schabowski không chờ đợi nhiều chuyện gì có thể xẩy ra trong đêm. Nhưng chậm quá rồi – cho đến 7 giờ 03 phút chiều, tin tức loan rằng Bức tường Berlin đã mở.

Bên kia ranh giới, hãng truyền hình ARD của Tây Đức thận trọng loan báo vào bản tin lúc 8 giờ chiều, nói rằng có thể bức tường sẽ sắp sửa được “thông qua”. Nhưng vào chương trình tin tức kế tiếp lúc 10 giờ 30 tối – bị trễ tới 10 giờ 42 vì trận đấu túc cầu – bản tin tức đã làm lớn. Hanns Friedrichs, nhà điều hợp có tư thế như Cronkite ở Đức tuyên bố: “Ngày 9 tháng 11 này là một ngày lịch sử”. Đông Đức “đã loan báo rằng, khởi đầu tức thì, ranh giới của họ đã được mở ra cho mọi người.” Chương trình tin tức chiếu cảnh trực tiếp từ Berlin, nơi chỉ có một phóng viên, đã không bắt được màn kịch, hay đám đông ở cổng Brandenburg hoặc ở giao lộ tại phố Invaliden. Đã gần bốn tiếng đồng hồ từ khi Schabowski kết thúc cuộc họp báo, nhưng vẫn chưa có ai vượt qua hay reo mừng. Các nhà báo đã đi trước thực tế — dầu sao, thực tế cũng sắp bắt kịp. Dân Đông Đức cũng có thể lén theo dõi thông tin từ phía Tây, tin vào tin tức, và bắt đầu tập trung ở phía họ của bức tường.

Tại trạm giao lộ ở phố Bornholmer thuộc Đông Berlin, sĩ quan cảnh vệ Harald Jager đã giữ nhiệm vụ này từ năm 1964, cũng đã theo dõi Schabowski trên truyền hình. Điếng người vì những câu trả lời, anh nói với các đồng đội rằng lời lẽ của người phát ngôn giống như của kẻ loạn trí, và bắt đầu gọi đi các nơi. Các thượng cấp đoan chắc với anh rằng việc du hành vẫn còn cấm cản, và anh cùng các đồng đội vẫn phải canh gác như thường lệ.

Nhưng chẳng bao lâu, nhóm của Jager đã phải bận rộn vẫy đuổi một số người muốn vượt qua sau khi đã nghe tin từ phía Tây. Một xe cảnh sát tới, và vị sĩ quan đã dùng loa phóng thanh loan tin rằng không ai có thể được đi qua, nhưng đám đông tiếp tục kéo tới.

Chỉ trong chốc lát, đám cảnh vệ tại Bornholmer đã bị áp đảo bởi hàng ngàn người. Chuyện tương tự cũng đang diễn ra tại một số tạm giao lộ khác. Bị trấn áp và lo sợ cho an toàn của chính bản thân mình, Jager và các đồng đội tính rằng việc dùng bạo hành có thể mau chóng khiến tình hình vượt tầm kiểm soát. Vào khoảng 9 giờ, họ quyết định để cho một số người vượt ranh giới kiểu nhỏ giọt, hy vọng có thể giảm bớt áp lực, để dân chúng bình tĩnh trở lại. Các cảnh vệ kiểm điểm từng cá nhân, ghi chép chi tiết, và trừng phạt những người om xòm nhất bằng cách không cho trở lại. Họ ráng làm như vậy trong một khoảng thời gian. Nhưng vài giờ sau, một đám đông khổng lồ đã hô lên: “Mở cổng, mở cổng!”.

Sau khi bàn luận thêm, Jager quyết định rằng nâng cây cản là giải pháp duy nhất. Vào khoảng 11 giờ 30 đêm 9 tháng 11, sự phân chia nước Đức và Chiến tranh Lạnh đã chấm dứt.


Trạm kiểm soát Charlie vào năm 1996

Suốt đêm, các trạm kiểm soát khác cũng được mở tương tự. Mỗi điểm mở, lại có thêm người tràn sang phía Tây, và thêm hình ảnh phát ngược trở lại phía Đông; lại đến lượt có thêm nhiều người phía Đông kéo xuống đường. Vì đang có cuộc họp cấp cao để giải quyết cuộc khủng hoảng do dân chúng biểu tình, những người có quyền ra lệnh đàn áp đẫm máu phần lớn không được thông báo, và không biết rằng cái vị thế trong sinh mạng chính trị của họ đã bỗng nhiên tan biến.

Tất nhiên, rồi cuối cùng bức tường cũng sẽ sụp đổ, nhưng không nhất thiết theo cung cách ấy. Mở ra vào thời điểm muộn hơn có thể gặp nguy hiểm hơn. Nhà lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev đã nói rõ rằng ông sẽ không dùng bạo lực khi thay đổi chính trị bắt đầu tràn khắp Đông Âu, nhưng điều gì sẽ xẩy ra, nếu ông ta đã tụt xuống giai đoạn mất hết quyền hành? Một nhà lãnh đạo khác của Liên Xô có thể làm gì?

Ngay cả giờ khắc xẩy ra cũng đáng kể: Bức tường đã mở khi rất nhiều nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Đông Đức đang tự cô lập trong các cuộc họp, và nhiều nhà lãnh đạo quan trọng của Liên Xô – vì sự khác biệt về thời gian – đã đi ngủ. Điều gì sẽ xẩy ra, nếu họ có đủ thì giờ để tăng cường ranh giới trước khi bị tràn ngập vì biển người ập tới. Như mọi chuyện đã diễn ra, không ai trong số họ có thể lập một lực lượng chống trả tức thì, và mau chóng trở thành quá muộn để cúu vãn những gì đã xẩy ra chiều hôm ấy.


Graffiti ghi tiểu sử (curriculum vitae) của bức tường Bá Linh


Chúng ta muốn nghĩ rằng, mọi biến cố vĩ đại đều có những nguyên nhân vĩ đại. Và rõ ràng là các sức mạnh chính trị, kinh tế, và quân sự trong một thời gian dài đã tạo ra Chiến tranh Lạnh – cũng như làm cho nó kết thúc. Nhưng những biến cố trọng đại cũng có thể xẩy ra theo kiểu đột kích lịch sử, khi tất cả các áp lực dài hạn gặp nhau một cách bất ngờ. Sự mở bức tường Berlin, phần lớn không chủ tâm, đã là một sự việc như thế, một ý nghĩ bất ổn đối với những người nhìn lịch sử như là kết quả của chiến lược và kế hoạch của những nhà lãnh đạo chủ chốt.

Nếu chỉ một vài việc khác đi, có thể chúng ta đã không có những ký ức vui vẻ để ăn mừng. Nhưng nhờ có những lời lẩm bẩm của một giới chức Đông Đức thiếu ngủ, một vài ký giả phương Tây quá hăng hái và sự sẵn sàng của những người dân Đông Đức không ngại nguy hiểm kéo tới bức tường, Chiến tranh Lạnh đã đạt tới điểm kết thúc mau lẹ trong hòa bình.

Mary Elise Sarotte là giáo sư về bang giao quốc tế tại University of Southern California và là một Bosch public policy fellow tại American Academy ở Berlin. Bà cũng là tác giả của cuốn "1989: The Struggle to Create Post-Cold War Europe," phát hành vào tuần này.

Nguồn: How it went down: The little accident that toppled history, của Mary Elise Sarotte
The Washington Post, Outlook, Sunday, November 1, 2009.



Kỷ niệm 20 năm sụp đổ bức tường Bá Linh, nghĩ về VN
(Ðài RFA)

.
Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Ký ức về bức tường Berlin: Chuyện kể lại của một người dân Đông Đức về văn hóa gieo sợ hãi   Wed Oct 16, 2013 11:53 am


Ký ức về bức tường Berlin:
Chuyện kể lại của một người dân Đông Đức về văn hóa gieo sợ hãi


Alexander Hamrle


Đám đông dân chúng Tây Berlin trước bức tường Berlin sớm ngày 11-11-1989, khi họ nhìn lính gác biên giới Đông Đức phá một phần bức tường để mở một giao điểm giữa Đông và Tây Berlin ở gần quảng trường Potsdamer. (Gerard Malie/AFP/Getty Images)

Bức tường Berlin, một biểu tượng của sự phân cách giữa Đông và Tây Âu trong ba thập niên đã sụp đổ vào ngày 09 tháng 11 năm 1989. Làn gió của sự đổi thay tại Đông Âu đã chấn động nền tảng của bức tường. Hình ảnh những người dân Đức thoải mái khi đứng trên đống gạch đổ nát cuối cùng đã ghi lại thời đại đó. Sự sụp đổ của bức tường đã lan truyền khắp Đông Âu, và các cuộc cách mạng hòa bình phần lớn đã chấm dứt sự thống trị của cộng sản từ nước này tới nước khác. Chỉ hơn hai năm sau, Liên bang Xô Viết đã sụp đổ. Hai thập niên sau đó, chúng tôi nhìn lại sự sụp đổ của bức tường và làm sáng tỏ ý nghĩa của nó.





HAMBURG, Đức—Ông Fred Hosse, 60 tuổi là một trong số nhiều người dân Đông Đức từng mong ước đào thoát sang Tây Đức. Ông là trưởng nhóm thợ làm trong hầm chứa cỏ, rơm của một công ty quốc doanh ở Madgeburg, một thị trấn nhỏ tại Đông Đức. Vào mùa xuân năm 1984, ông đã bị sa thải sau khi bảo vệ cấp dưới của mình trước mặt người giám đốc.

Sau khi ông Hosse cố gắng đi ra khỏi Đông Đức, nhà chức trách cộng sản đã đòi hỏi ông phải rút lại đơn xin thị thực xuất cảnh và bắt đầu làm cho cuộc sống của ông trở thành khó khăn.

Ông phải lên trình diện với cảnh sát một tuần hai lần để họ lấy khẩu cung. Quá trình này đều giống nhau mỗi lần: Sau khi chờ đợi ba giờ đồng hồ, ông được gọi vào một phòng thẩm vấn, nơi cảnh sát và người tra hỏi buộc ông phải rút lại đơn xin thị thực xuất cảnh.

Ngoài hai người thẩm vấn trong phòng, còn có hai viên sỹ quan cảnh sát, ông nói. “Họ đứng đằng sau tôi, cạnh tường, và luôn phải nhìn lên trần nhà để họ có thể tập trung vào giọng nói, cách sắp đặt ý tưởng và tâm trạng của tôi,” ông Hosse kể lại.

Cùng với lúc việc tra hỏi ông đang tiếp diễn, đơn xin việc của ông Hosse cũng bị từ chối; ông tin rằng hai việc này có mối liên hệ với nhau. Thậm chí con gái ông cũng bị tách riêng ra và bị thầy giáo và bạn trong lớp quấy nhiễu, ông nói.



Dù ông không bị dọa dẫm bởi cách đối xử này, ông đã sớm nhận ra rằng nhà ông đang bị theo dõi từng giờ và ông cũng bị bám theo khi đi bất cứ nơi nào.

Ông Hosse đã không hiểu tại sao ông phải chờ lâu như vậy mới được giấy phép xuất cảnh cho tới sau khi bức tường sụp đổ. Vào năm 1990, ông nhận thấy rằng người bạn thân của ông trong 17 năm trời là một gián điệp.

Nhìn lại, ông thấy mình thật may mắn. “Vấn đề có thể tệ hơn nhiều,” ông nói. “Tôi có thể đột nhiên bị biến mất, giống như nhiều người khác vậy.”

Chỉ hai tuần trước khi bức tường Berlin sụp đổ, ông Hosse cuối cùng đã nhận được giấy phép xuất cảnh. “Có thể lúc đó họ đã biết rằng bức tường sẽ sớm sụp đổ,” ông nói.

Thậm chí khi ông được cấp phép để ra đi cùng vợ và đứa con gái 10 tuổi vào năm 1989, cảnh sát không hề tỏ ra dễ dãi chút nào. Ông không được phép đi sang Tây Đức tại giao giới gần nhất, mà phải đi đường vòng qua ngả Bavaria, xa hơn 600 dặm.

Ông chỉ có thể mang theo mình những gì đựng được trong một va-li nhỏ; Stasi, cảnh sát mật vụ Đông Đức, đã tịch thu tất cả những thứ còn lại bao gồm đồ đạc và nhà cửa của ông.

Nghĩ lại quá khứ, ông Hosse nói: “Người cộng sản cũng xấu xa như bọn Nazis [phát-xít]".


.
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Nước Đức, 25 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ   Sat Nov 08, 2014 1:02 am


Nước Đức, 25 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ, phần 1


Tường An, thông tín viên RFA, Paris -
Thứ Sáu, ngày 07 tháng 11 năm 2014


Bức tường Bá Linh được dựng lại bằng hàng ngàn những chiếc đèn lồng trắng , là một phần của dự án "Lichtgrenze 2014" để kỷ niệm 25 năm sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh ngày 09 Tháng 11 năm 2014 - AFP

Để kỷ niệm 25 năm bức tường Bá Linh sụp đổ. Kính mời quý vị cùng thông tín viên Tường An nhìn lại những thành tựu cũng như những bất cập còn tồn đọng sau 25 năm thống nhất qua những chia sẻ của người Việt sống tại Cộng Hòa Liên Bang Đức

Bức tường Bá Linh


Đêm 13 tháng 8 năm 1961, tại Bá Linh, một bức tường dài 156 km được dựng lên chia đôi 2 miền ý thức hệ. Bức tường đã giam cầm sự tự do của hơn 3 triệu người dân ròng rã 28 năm.

Mảng tối của hàng triệu cư dân Đông Đức chỉ thực sự được phơi bày sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ ngày 9 tháng 11 năm 1989.

25 năm trôi qua, sau ¼ thế kỷ thống nhất, nước Đức còn, mất những gì, người dân của xứ sở Karl Marx và Einstein này thua thắng ra sao ở buổi chung cuộc?

Mặc dầu trong một sớm một chiều, 40 triệu người dân Tây Đức đã phải cưu mang thêm 18 triệu người dân Đông Đức, thế nhưng, tinh thần dân tộc đã giúp họ vượt qua mọi khó khăn ban đầu để vực dậy nền kinh tế và đưa nước Đức thành một quốc gia cường thịnh như hôm nay. Ông Lê Nam Sơn, ngụ tại thành phố Hannover nói :
“Trước đó, cuộc sống bên Tây Đức rất là dễ dàng, thoải mái. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, toàn nước Đức thống nhất thì nói chung cuộc sống không khá như trước. Nhưng để bù lại, cả một nước Tây Đức họ đã vực dậy phần còn lại bên Đông Đức và sánh ngang hàng với các nước Châu Âu. Nhưng người lãnh đạo của nước Đức có cái viễn kiến và họ đã đưa nước Đức lên ngang hàng với các nước Tây Âu, chuyện đó không phải là dễ.”

Theo chị Thục Quyên ở Munchen, đa số người dân Đức hài lòng với cuộc thống nhất đất nước. Họ đặt tinh thần dân tộc lên trên mọi khác biệt để xây dựng đất nước. Chị Thục Quyên nói :
“Có khoảng 70% dân chúng đánh giá là cuộc thống nhất của đất nước họ từ tốt đến rất tốt. Phần lớn dân chúng rất là bằng lòng với tình hình chính trị và xã hội của đất nước họ. Điểm son của dân tộc Đức là tuy họ đã sống dưới 2 thể chế chính trị đối ngược với nhau trong hơn 40 năm trời nhưng người dân Đức vẫn có lòng tin tưởng ở tình anh em, tình dân tộc của họ. Và cái rất là hay là họ rất là sáng suốt, họ đã tách cái đảng Cộng sản của Đông Đức ra, là cái chính quyền phải chịu trách nhiệm. Người dân Tây Đức Tự do và người dân Đông Đức đã dẹp bỏ được những nghi kỵ với nhau, và vì vậy họ mới bắt được tay với nhau và làm việc.”

Thực vậy, dưới sự điều hành của Thủ tướng Merkel và Tổng thống Gauck, cả 2 đều xuất thân từ Đông Đức, nước Đức đã trở thành một nền kinh tế đứng thứ tư trên thế giới và là đầu tàu của nền kinh tế Âu châu. Từ Hannover, ông Lâm Đăng Châu nói :
“Đa số người dân 2 miền Đông Tây sống hoà thuận. Chính trị Đức ổn định, kinh tế Đức cho đến bây giờ rất ổn định, coi như là vững mạnh nhất ở Âu châu bây giờ.”

Bức tường đổ và sự hãnh diện của người Đức


Nhìn vào sự cư xử của người dân Đức, theo ông Nguyễn Đình Tâm ở Bá Linh thì người ta có cảm tưởng hình như chưa hề có một bức tường nào ngăn cách giữa người dân Đông và Tây Bá Linh trước và sau năm 1961. Ông nói :
“Hồi đó, bức tường chưa sập nhưng vẫn có những người bên Đông Đức sang bên này để gặp bà con. Chính quyền Tây Đức còn tặng cho những người dân Đông Đức 100 Đức Mã. Rồi đến khi bức tường sập, thì người dân Tây Đức mở rộng vòng tay họ đón tiếp (người dân Đông Đức) như người thân thiết của họ.”

Cho tới nay, người dân Đức đã phải đóng góp hàng ngàn tỷ Đức Mã để cưu mang thêm một nền kinh tế trì trệ sau gần 30 năm dưới chế độ Cộng sản. Từ Bá Linh, ông Hoàng Kim Thiên nói :
“Kinh tế của Đông Đức trước 1989 thì không phát triển gì nhiều. Nhưng sau khi bức tường đổ, Tây Đức đã phải bỏ ra rất nhiều tiền. Ở Tây Đức, mỗi người dân đi làm phải đóng 7% thuế để xây dựng Đông Đức. Sau 25 năm thống nhất, kinh tế nước Đức vẫn giữ rất là vững. Thì đó là sự hãnh diện của người Đức.”

Sự khác biệt về mặt vật chất đã được san bằng, còn về con người thì sao ? Theo chị Anh Đào ở Bá Linh, thì đâu đó vẫn còn sự khác biệt về tư tưởng giữa những con người của thế giới tự do và những người đã sống một thời gian dài dưới chế độ cộng sản. Chị Anh Đào nói :
“Nói chung sau 25 năm, sự thống nhất của nước Đức rất là hoàn hảo. Mặc dù còn một số ít những người dân Đông Đức vẫn còn những tư tưởng của chế độ cũ, nhưng từ từ họ vẫn hoà mình với phía bên Tây Đức này.”

Sự khác biệt này, theo ông Hoàng Kim Thiên dần dần cũng đã được san bằng:
“Trước đây khoảng 10 năm. Thí dụ như trong hãng, xưởng, thí dụ như người Tây Đức có vẻ phóng khoáng hơn, tức là họ nghĩ gì thì họ nói đó. Còn người Đông Đức họ hơi dè dặt một chút xíu. Nhưng bây giờ, sau 25 năm qua, tôi thấy cái tinh thần đó không còn nữa.”

Một điều ngoạn mục là sau một thời gian đầu tư để lấp đầy khoảng trống giữa Tây và Đông Đức. Giờ phía bên Đông Đức lại hình như vượt trội cả Tây Đức về mặt hạ tầng cơ sở cũng như chất xám. Ông Lâm Đăng Châu nói :
“Trước đây người dân Đông Đức qua Tây Đức để tìm công ăn việc lắm để sinh sống. Nhưng từ năm 2013 thì ngược lại : Những người dân Tây Đức đã bắt đầu qua Đông Đức để bắt đầu xây dựng sinh sống làm ăn. Đấy là những sự phát triển rất là ngoạn mục. Nước Đức họ vui mừng thấy đó là một trong những tiến bộ.”

Từ Bá Linh, chị Mỹ Lâm cũng ghi nhận những thành quả thực tế mà Tây Đức đã đóng góp cho Đông Đức:
“Phải nhìn nhận rằng sự giúp đỡ của Tây Đức cho Đông Đức rất là lớn và những thành quả đó cũng thấy được, bằng chứng là ở Berlin có nhiều những bệnh viện được xây ở Đông Đức còn tối tân gấp mấy lần những bệnh viện đã có sẵn ở Tây Berlin. Hạ tầng cơ sở, đường xá, bệnh viện, trường học, nhà cửa được xây dựng lại rất là mới.”

Với hàng chục ngàn người Việt đang lao động tại Đông Đức trước 1989, sự hội nhập tuy quả là không dễ dàng sau khi cánh cửa tự do mở ra, nhưng sau 25 năm , ông Nguyễn Thành Lương ở Frankfurt cũng đã ghi nhận những thành công đáng kể của họ:
“Người Việt sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ chạy qua bên này (Tây Đức) thì không được hưởng những ưu đãi (như người Tây Đức lúc đó) nhưng dần dần người mình cũng chịu khó làm ăn và hội nhập. Mấy năm trở lại đây thấy họ cũng bắt đầu làm ăn đàng hoàng, không còn lối làm ăn chụp giựt trước đây nữa. Đó cũng là một thành công! Và nhất là một trong những thành công mà báo chí Đức mấy năm gần đây nói rất nhiều về sự học hành của con em người Việt mình ở bên Đông.”

Được sống trong một không khí hoàn toàn tự do, từ Berlin, ông Nguyễn Duy Tân, một cựu đảng viên Cộng sản phát biểu :
“Cảm nghĩ của tôi thực sự là bình an. Mọi người đều có sự công bằng trước pháp luật và trước cơ quan công quyền nhà nước. Ai cũng được quyền tự do tham gia vào việc của nhà nước. Đó là giá trị mà tôi cảm thấy may mắn, hạnh phúc được sống trong một nền Tự do.”

Đó cũng là sự may mắn của ông Nguyễn Thành Lương, một thuyền nhận tị nạn ở Tây Đức khi gặp được người phối ngẫu là chị Mai, một công nhân xuất khẩu lao động ở Đông Đức. 25 năm bức tường sụp đổ là gần 25 năm mà ông Nguyễn Thanh Lương sống chung dưới một mái nhà:
“Từ sự may mắn của tôi, tôi cũng chia sự may mắn đó cho nhà tôi sớm được hội nhập.”

Từ sự thống nhất của một quốc gia, đến sự thống nhất của hai tâm hồn. Đây có phải là một thí dụ tuyệt vời về sự hoà giải ? Chị Mai vui cười nói :
“Đấy mới là thống nhất nhỉ ???”

Bên cạnh những hào quang của một nước Đức thống nhất. Đâu đó vẫn còn chập chờn những mảng xám. Sau những niềm vui hội ngộ là những sự thật trần trụi mà người dân hai miền Đông Tây của nước Đức phải đối diện và giải quyết. Xin mời quý vị xem tiếp trong phần hai.

*

Nước Đức, 25 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ, phần 2

Tường An, thông tín viên RFA, Paris


Cổng vào chợ Đồng Xuân của người Việt ở Berlin, Đức. - Photo: duhocduc.edu

Chiếc huy chương nào cũng có những mặt phải và mặt trái của nó. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ ngày 9 tháng 11 năm 1989, niềm vui thống nhất của người dân hai miền Đông Tây chưa trọn vẹn thì họ đã phải đối diện với những khó khăn về vật chất khi mà 40 triệu người dân Tây Đức đã phải gánh thêm trên vai cuộc sống của hơn 18 triệu dân Đông Đức với tất cả những hệ luỵ còn sót lại của 28 năm dưới chế độ Cộng sản và cả những di sản trước đó do chiến tranh để lại.

Người Việt từ Đông Đức

Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, gần 60 ngàn người Việt đang học tập và lao động ở Đông Đức đứng trước sự chọn lựa: tiếp tục tương lai trên nước Đức tự do nhưng mới mẻ và đầy thách thức hay trở về với chủ nghĩa Cộng sản quen thuộc tại Việt Nam với số tiền trợ giúp của chính quyền mới ? Khoảng 40.000 người Việt đã chọn con đường hồi hương với 3000 Đức Mã. Anh Nguyễn văn Mài, là một công nhân hợp tác lao động ở Đông Đức vào thập niên 80, nay cư ngụ tại Hannover kể lại:
“Khi bức tường Bá Linh đổ, ai có điều kiện thì chạy sang Tây Bá Linh, tôi còn nhớ lúc đó ai qua Tây Bá Linh thì chính quyền mới cho 100 Đức Mã. Một trăm đô Mác lúc đó đối với anh em mình là to lắm. Thế là lúc đó nước Đức đổi tiền theo tiêu chuẩn 1 ăn 1, người Việt mình nói chung lúc đó là vui vẻ. Sau đó nước Đức người ta thấy hoàn cảnh công ăn việc làm khó khăn quá cho nên người ta động viên người Việt nhà mình, nếu ai muốn hồi hương thì người ta sẽ bồi thường 3000 đô Mác cho mỗi người và thế là đại đa số người Việt mình hồi hương.”

Đông Đức tan rã kéo theo nhiều nhà máy phải đóng cửa, người dân Đông Đức thất nghiệp. Người dân Tây Đức đi làm phải đóng thuế vào “Quỹ Quốc Gia” để xây dựng lại một Đông Đức đầy bất trắc. Người Việt từ Đông Bá Linh chạy sang Tây Bá Linh, đa số sống chủ yếu bằng những nghề buôn bán nhỏ, bán thuốc lá lậu, cuộc sống bấp bênh, tỷ lệ tội phạm cao trong thời kỳ giao thoa này. Chị Mai, cũng hợp tác lao động ở Đông Đức, nay sống tại Frankfurt cho biết:
“ Ở lại thì lúc đầu thì cũng khó khăn lắm, người ta đi kiếm việc làm, lúc đầu thì bán quần áo, sau này có phong trào bán thuốc lá lậu. Sau đó thì từ từ họ được định cư lại thì họ làm ăn cũng ổn định”

Chưa đầy 3 năm sau ngày nước Đức thống nhất, người ta đã thấy manh nha những tư tưởng bài người ngoại quốc mà nạn nhân đầu tiên bị nhắm đến là những người lao động nhập cư. Điển hình là sự kiện ném bom xăng vào khu nhà ở của người ngoại quốc ở thành phố Lichtenhagen, Rostock đã gây chấn động chính trường Đức và thu hút sự quan tâm của thế giới. Anh Mài tiếp:
“Khi mà bức tường Bá Linh đổ, khi mà chế độ bắt đầu thay đổi thì trong một số người Đức bắt đầu xuất hiện những tư tưởng bài xích người ngoại quốc. Những người mang tư tưởng kỳ thị họ ở bên Đông Đức, đại đa số là thanh niên. Bởi vì khi bức tường Bá Linh đổ thì không những người Việt nhà mình thất nghiệp mà ngay cả người Đức cũng bị thất nghiệp, vì vậy họ cho rằng là do những người lao động ở Đông Đức là nguyên nhân khiến cho họ không có việc làm.”

Những khác biệt về tư tưởng Đông và Tây

Sau 25 năm xây dựng và phát triển, sự cách biệt giàu nghèo giữa Đông và Tây Đức hầu như đã không còn. Thế nhưng, đâu đó vẫn còn một khoảng trống chưa thể lấp đầy, đó là sự khác biệt về tư duy, về cách hành xử của người dân Tây Đức, quen sống thoải mái tự do và người dân Đông Đức, hình như vẫn chưa thoát ra được cái bóng của chế độ Cộng sản vẫn còn đeo đuổi. Chị Anh Đào ở Bá Linh nhận xét:
“Hai tư tưởng khác nhau, mặc dù ở xứ tự do này, nhưng những người bên Đông Đức vẫn còn lập trường bị gò bó. Còn bên Tây Đức mỗi người đều có 1 tư tưởng, thành ra mình rất là thoải mái khi mình nói chuyện, nhưng khi mình nói chuyện với anh chị em bên Đông Đức; ngay cả tới bây giờ cũng vậy, họ nói cái gì cũng rất là dè dặt.”

Hàng chục năm sống dưới chế độ bao cấp, anh Mài cho biết không khỏi bỡ ngỡ khi phải hội nhập vào xã hội tư bản, nơi mà ai cũng phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Anh chia sẻ:
“Làm việc ở các nhà máy bên Đông Đức, tuy nó có định mức nhưng làm việc cũng nhẹ nhàng thôi. Thế nhưng khi mà làm việc bên Tây Đức thì cường độ nó cao hơn, nhưng tất nhiên là thu nhập cũng cao hơn. Và cái tâm lý lo lắng mất việc làm thì nó thường trực trong đầu của người Việt mình hơn. Bên Đông Đức thì không có như thế, công ăn việc làm không phải lo gì cả.”

Khi nước Đức thống nhất, chị Anh Đào có dịp làm quen với một cộng đồng người Việt mới đến từ bên kia bức tường Bá Linh. Chị nhận xét:
“Giữa người Việt Đông Đức và Tây Đức thì riêng em, em có nhận xét là từ sinh viên du học cho đến những người tị nạn hầu như ai cũng có một kết quả rất tốt. Họ không có nhiều criminel (tội phạm) nhiều như sau khi mở bức tường. Sau khi mở bức tường, bên Đông Đức thì có những gia đình sống mực thước, nhưng cũng có những người bên Đông Đức hợp tác lao động muốn tiến thật xa cho nên họ làm tất cả những cái gì mà họ có thể làm. Những hành động của họ, những việc làm của họ, họ không sợ hậu quả xấu cho cộng đồng hoặc là đối với người Đức.”

Sau thời gian cần thiết để ổn định cuộc sống mới, vẫn như câu tục ngữ ngàn đời của Việt Nam “phi thương bất phú”: người Việt, đa số từ Đông Đức đã lập nên khu thương mại nổi tiếng Đồng Xuân với hơn 250 gian hàng, khu buôn bán sầm uất của hơn 4000 người Việt sống hợp pháp và bất hợp pháp. Anh Mài nói:
“Khi mà bức tường đổ thì chúng tôi đại đa số đều thất nghiệp hết. Mạnh ai thì người ấy lo cho bản thân. người Việt mình chủ yếu là lo buôn bán để kiếm tiền, bởi vì buôn bán đối với người Việt mình dễ dàng hơn. Và người Việt mình chịu khó đi len lỏi khắp nơi để mà kiếm tiền.”

Với hơn 120.000 người Việt đang sống tại Đức, trong đó có khoảng 88.000 người có giấy tờ hợp pháp và phần còn lại sống bất hợp pháp. Cộng đồng Việt Nam tại Đức có thể được chia ra thành 4 nhóm: 1 nhóm rất ít là sinh viên du học trước 1975, nhóm thứ hai gồm khoảng 40.000 người là thuyền nhân tị nạn Cộng sản. Nhóm thứ ba gồm khoảng 20.000 người ở lại sau khi bức tường bá Linh sụp đổ và nhóm thứ tư cũng khoảng 40.000 người đến Đức bằng đủ mọi ngõ ngách khác nhau, đa số là sống bất hợp pháp. Nhóm thứ nhất và thứ nhì đã hoàn toàn ổn định ở xã hội Đức, đa số thành công và là mẫu mực của sự hội nhập. Nhóm thứ ba và thứ tư sống co cụm như là một xã hội Việt Nam thu nhỏ ở phần phía Đông của nước Đức.

Nói chung, người Việt Tây Đức sống rải rác và hoà nhập vào xã hội Đức, trong khi đó người Việt ở Đông Đức sống gần như tập trung trong một xã hội riêng của họ. Sinh hoạt của họ cũng mang ít nhiều mô hình của chế độ Cộng sản. Chị Mai nói:
“ Vẫn như hồi xưa…!!! Trong nước ra như thế nào thì trong nước vẫn như thế. Nói chung là cái mô hình họ mang từ Việt Nam sang. Tức là họ vẫn có công đoàn, vẫn có hội phụ nữ, vẫn có chi bộ, rồi vẫn có đoàn thanh niên, phụ nữ…. Tất cả đều phải áp dụng trong đội quản lý người lao động. Trước đấy, đi lao động thì hộ chiếu của bọn mình thì do sứ quán giữ, mình không được giữ. Sau này người ta vẫn hội họp, vẫn sinh hoạt kiểu như thế!”

Dù nước Đức đã ăn mừng 20 năm, rồi 25 năm thống nhất và phát triển, cộng đồng người Việt tại Đông Đức này vẫn hầu như đi bên lề sự hội nhập ấy, dù họ cũng có những phát triển theo cách riêng của họ. Theo chị Anh Đào, một sự hoà hợp là khó có thể.

“Không thể hoà hợp được, là vì theo em thấy, những anh chị em sống bên Đông Đức hình như họ vẫn còn dưới một sự control (kiểm soát) của toà đại sứ Việt Nam. Có thể họ có những cái không đồng ý nhưng vì gia đình họ vẫn còn ở Việt Nam hoặc là một cái lợi riêng gì của họ cho nên họ không thể hoà đồng hoặc là nói lên những gì họ muốn nói.”

Bức tường Bá Linh đã được san bằng, nhưng những khác biệt về tư tưởng sau 30 năm chia lìa vẫn còn đó. 25 năm tuy dài nhưng vẫn chưa đủ cho một cuộc thống nhất trong tư duy nếu không có sự nỗ lực từ hai phía. Bức tường Bá Linh đã đổ, nhưng đâu đó vẫn còn một bức tường Bá Linh trong lòng mọi người.


Berlin Wall - Now and Then
















.
Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Nước Đức, 25 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ   Sun Nov 09, 2014 4:54 pm


The Fall of the Berlin Wall: 25 Years Later




Nov. 7 (Bloomberg) -- November 9th marks the 25th anniversary of the fall of the Berlin Wall. Bloomberg’s Hans Nichols reflects on the history of the wall and what has changed in the years since the wall was opened, re-unifying East and West Germany. He speaks on “Bloomberg Surveillance.”




LIVE - Commemorative ceremony of 25th anniversary of Berlin Wall fall
Party at the Brandenburg Gate on 9 November 2014: http://ow.ly/E1vDy

.
Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Nước Đức, 25 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ   Thu Dec 04, 2014 12:24 am



Từng bước nhỏ thay vì những tuyên bố vĩ đại:
Bài học về thống nhất - tự do - dân chủ


Thục Quyên

Dù Cộng hòa Liên bang Đức là một nước giàu mạnh, dẫn đầu trong khối Âu châu và thế lực trong thế giới, lễ kỷ niệm 25 năm "Bức tường Ô nhục Berlin sụp đổ "(13/08/1961-09/11/1989) đã không chú trọng biểu dương lực lượng quân sự hay sức mạnh tài chính. Mọi cố gắng tổ chức là để nêu cao giá trị tình người, sự gắn bó dân tộc, sức mạnh văn hóa và chiến thắng của tinh thần bất bạo động.

Cuộc thăm dò ý kiến trong những năm qua tại Đức cho thấy 70% dân chúng đánh giá cuộc thống nhất đất nước họ từ tốt tới rất tốt, và bằng lòng với tình hình chính trị, xã hội cũng như kinh tế hiện tại . Ngay 30% còn lại, với những chỉ trích nặng nhẹ, cũng dứt khóat không muốn trở lại tình trạng 25 năm trước.

Câu nói của cố Tổng thống Mỹ J.F.Kennedy ngày 26/06/1963 khi đứng trước Bức Tường trong cuộc viếng thăm Berlin của ông đã nói lên một sự thật đơn giản:

Tự do có nhiều khó khăn, và dân chủ không phải là tuyệt hảo. Nhưng chúng tôi không bao giờ phải dựng lên một bức tường để giữ lại những người dân của chúng tôi - để ngăn cản họ rời bỏ chúng tôi.

"Freedom has many difficulties and democracy is not perfect. But we have never had to put a wall up to keep our people in -- to prevent them from leaving us".

Cùng với dân tộc Đức, cả thế giới đã xúc động cực độ khi sự sụp đổ "Bức tường ô nhục Berlin" đến như với một phép lạ: Ngoạn mục. Bất thần. Nhanh chóng. Không đổ một giọt máu.

Nhưng không một người Đức nào cho tới ngày nay, kể cả các chính trị gia và các nhà tranh đấu dân chủ, tuyên bố là mình đã biết trước thời điểm hay cách thức xảy ra. Mọi người đều đồng ý ,con đường đưa tới Tự Do và Thống Nhất đã rất dài, khó khăn, và chỉ có thể đạt được với chủ lực đóng góp và hy sinh của dân chúng cả hai miền Đông và Tây trong ý nguyện  rõ ràng :

Chúng ta là nhân dân. Chúng ta là một dân tộc.  (Wir sind das Volk. Wir sind ein Volk).

Chính phủ và nhân dân Đức cho tới nay luôn luôn khiêm nhường và nhớ ơn sự tiếp tay của những nước bạn.

Vào thời điểm cuối năm 1988, sự độc quyền của các đảng cộng sản được sự hỗ trợ Liên bang Xô viết trong mấy chục năm đang trên đường tan rã. Một nhân tố quan trọng là vị Tổng thống Liên Xô đương nhiệm Mikkhail Gorbachov, đứng trước những thất bại và nguy cơ tan rã của các nước thuộc khối Xã hội Chủ nghĩa, đã sáng suốt bác bỏ chủ thuyết Brezhnev. Theo đó Moscow có thể dùng vũ lực can thiệp nếu bất cứ nước nào tìm cách tách ra khỏi sự kiểm soát của Xô viết (như đã từng xảy ra năm 1956 tại Hungary, và năm 1968 tại Tiệp Khắc).Từ đó các diễn biến dân chủ ở Đông Âu và nhất là ở Đông Đức tăng hẳn nhịp độ.

Phát biểu trước đài tưởng niệm các nạn nhân của Bức Tường Berlin sáng ngày 9/11/2014, Thủ tướng Đức Angela Merkel tuyên bố:

"Thông điệp của Bức Tường Berlin là chúng ta có khả năng để xây dựng, chúng ta có thể chuyển đổi để sự việc trở nên tốt đẹp hơn,  một thông điệp cho chúng ta ở  Đức cũng như cho những người khác ở châu Âu và thế giới. Và trong tình hình ngày hôm nay , càng đặc biệt cho những người ở Ukraine, Syria, Iraq và trong nhiều, rất nhiều vùng khác trên thế giới,  nơi mà tự do và nhân quyền đang bị đe dọa hoặc thậm chí chà đạp.

Wir haben die Kraft zu gestalten. Wir können Dinge zum Guten wenden. Das ist die Botschaft des Mauerfalls – sie richtet sich an uns in Deutschland ebenso wie an andere in Europa und der Welt, in diesen Tagen ganz besonders an die Menschen in der Ukraine, in Syrien, im Irak und in vielen, vielen anderen Regionen unserer Welt, in denen Freiheits- und Menschenrechte bedroht oder gar mit Füßen getreten werden.

Bối cảnh: quỵ ngã và điêu tàn

Sự thành hình của "hai nước Đức" bắt nguồn từ sự qụy ngã sau thế chiến thứ Hai (1939-1945) của Âu Châu, với hơn 49 triệu người thiệt mạng, các thành phố lớn bị tàn phá nặng nề, các khu công nghiệp hủy hại. Hạ tầng cơ sở kinh tế điêu tàn, hàng triệu người vô gia cư.

Riêng nước Đức, sau khi Berlin thất thủ và Hitler tự tử, chỉ còn lại là một mảnh đất nhỏ từ Na Uy phía Bắc cho đến phần trên của Ý, và sau ngày 09/05/1945  khi các lực lượng Đức cuối cùng đầu hàng vô điều kiện, đã bị các lực lượng Mỹ, Anh, Liên Xô và Pháp chiếm đóng. Ngoài ra Đức còn bị buộc phải phi quân sự hóa, phi phát xít hóa, và bị tịch thu tài sản để bồi thường chiến tranh.

Ngay sau đó, chính liên minh Đồng Minh đã bị rạn nứt vì xung đột ý thức hệ. Tại châu Âu, mỗi phía liên minh với nhau trong khu vực ảnh hưởng. Về phía Tây, các nước Mỹ, Anh và Pháp đã lập ra Liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) . Về phía đông, Liên Xô lập ra liên minh với các nước Đông Âu khác với Hiệp ước Warsaw. Các nước phụ thuộc Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng chính trị thông qua viện trợ kinh tế theo kế hoạch Marshall, trong khi các nước kia trở thành các nước cộng sản phụ thuộc Liên Xô.

Năm 1949, với sự gia tăng căng thẳng của Chiến tranh Lạnh, nước Đức đã tách đôi trên cơ sở các vùng kiểm soát của Đồng Minh phương Tây và Liên Xô thành Cộng hoà Liên bang Đức (Tây Đức) và  Cộng hoà Dân chủ Đức (Đông Đức).

Để ngăn chận làn sóng người Đông Đức chạy sang Tây Đức ngày càng nhiều, bắt đầu từ năm 1952,  biên giới giữa hai nước Đức được bảo vệ bằng hàng rào và có lực lượng canh phòng. Tuy nhiên ranh giới của các khu vực chiếm đóng giữa Tây Berlin và Đông Berlin lại vẫn còn bỏ ngỏ, vì thế mà gần như không thể kiểm soát được và trở thành một lỗ hổng để người dân chạy qua Tây Berlin.

Từ 1949 đến 1961 khoảng 2,6 triệu người đã rời bỏ Đông Đức và Đông Berlin, trong số đó vẫn còn 47.433 người chạy trốn chỉ riêng trong hai tuần đầu của tháng 8 năm 1961. Vì những người này thường là những người trẻ tuổi và được đào tạo tốt nên việc di dân này là mối đe dọa cho sức mạnh kinh tế của Đông Đức và cuối cùng là cho sự tồn tại của "quốc gia" này.

Đêm 12 rạng sáng ngày 13/08/1961
phía Đông Đức bắt đầu cho phong tỏa các đường bộ và đường sắt dẫn đến Tây Berlin. Quân đội Xô Viết được đặt trong tình trạng báo động và hiện diện tại các cửa khẩu biên giới của Đồng Minh. Tất cả các liên kết giao thông còn tồn tại giữa hai phần Berlin đều bị gián đoạn.

Erich Honecker, sau này trở thành Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, lúc đó với cương vị là bí thư trung ương Đảng về an ninh đã nhân danh ban lãnh đạo Đảng Cộng sản, chịu trách nhiệm chính trị về việc lên kế hoạch và thực hiện việc xây bức tường. Cho đến tháng 9 năm 1961, ngay trong lực lượng canh phòng đã có 85 người đào ngũ sang Tây Berlin.

Bài học từ bạn và thù


Trước mắt người dân Đức và thế giới, bức tường Berlin xây bằng bê tông, gạch và giây kẽm gai đã cụ thể hóa Bức Màn Sắt trừu tượng. Dân chúng thành phố Berlin đã ngay tức khắc phản ứng mãnh liệt với bức tường được chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức gọi là "Tường thành bảo vệ chống phát xít" và ngược lại đối với  Cộng Hoà Liên Bang Đức là một "Bức tường Ô nhục".

Suốt ngày 13/08/1961 và những ngày nối tiếp, khắp Đông Berlin đã có nhiều cuộc biểu tình vài trăm người tự phát. Cảnh sát Nhân dân giải tán những người biểu tình bằng hơi cay, vòi rồng và dùi cui. Lác đác có những cuộc đình công nhỏ. Ngày 16/08, gần 300.000 người phía Tây Đức cùng với thị trưởng Willy Brandt tập trung trước tòa thị chính Schöneberg ở phía tây của thành phố, kêu gọi phản ứng mạnh mẽ của các cường quốc phương Tây và sự bảo đảm tự do cho Tây Bá Linh.

Nhưng các cường quốc phương Tây phản ứng rất chậm và dè dặt.

Bức tường Berlin đánh dấu sự thất bại kép
của chính sách nước Đức trong thời gian đó.

Phía Cộng hòa Dân chủ (Đông Đức) đã thất bại trong nổ lực thiết lập một nước theo chủ nghĩa xã hội được dân chấp thuận, để đối ngược với chủ nghĩa tư bản Tây phương. Hàng triệu người, trong đó có nhiều lao động trẻ và có kỹ năng, đã rời bỏ  Đông Đức để qua phía Cộng hòa Liên bang, gây một tình trạng xuất huyết trầm trọng.

Nhưng Bức Tường cũng cho thấy nổ lực của Chính phủ Cộng hoà Liên bang (Tây Đức)  dựa vào các cường quốc Tây phương mong dùng chính sách "sức mạnh" để ép Liên Xô lui, hòng đạt được thống nhất nước Đức, cũng thất bại. Mỹ đã không can thiệp quân sự khi bức tường Berlin được xây dưới sự bảo vệ của Liên Xô. Họ tôn trọng những lĩnh vực mà Liên Xô đã đặt ảnh hưởng, như đã từng không phản ứng nhân dịp cuộc nổi dậy và bị Hồng quân đàn áp ngày 17/06/1953 tại Đông Đức và cuộc cách mạng năm 1956 tại Hungary.

Việc phát hiện rằng không có cách ngắn hạn nào để thống nhất nước Đức, và ngay cả sự liên lạc tình cảm thiêng liêng giữa người dân hai miền còn mắc nguy cơ bị gián đọan nói chi là sự thống nhất kinh tế hay chính trị , đã đưa tới một làn sóng xét lại cách suy nghĩ cũng như đường lối chính trị tại Cộng hoà Liên bang Đức.

Willy Brandt và cú sốc thực tế


Đêm 12 rạng sáng ngày 13/08/1961 khi được tin Berlin bị chia cắt , thị trưởng đương nhiệm Willy Brandt đã tức tốc bỏ dở cuộc vận động đang tới cao điểm tranh cử chức thủ tướng Cộng hoà Liên bang Đức để trở về Berlin dầu sôi lửa bỏng, chung vai sát cánh với người dân của mình. Vừa tới nơi, ông đã dứt khóat tuyên bố đường hướng đấu tranh tại buổi họp đặc biệt của Quốc hội:

Một phe đảng tự gọi là chính phủ mà ra sức để bỏ tù người dân của mình: Trụ bê tông, dây thép gai, vùng đất chết, tháp canh và súng máy, đó là những đặc thù của một trại tập trung.

Nhưng chúng sẽ không tồn tại.

Trong tương lai, chúng ta sẽ đưa thêm nhiều người từ khắp thế giới đến Berlin, nhiều hơn chúng ta đã làm trong qúa khứ,  để họ có thể nhìn thấy thực tế trần truồng, lạnh lùng và tàn bạo của cái hệ thống đã hứa hẹn một thiên đường trên trái đất. [...]

Eine Clique, die sich Regierung nennt, muß versuchen, ihre eigene Bevölkerung einzusperren. Die Betonpfeiler, der Stacheldraht, die Todesstreifen, die Wachtürme und die Maschinenpistolen, das sind die Kennzeichen eines Konzentrationslagers. Es wird keinen Bestand haben. Wir werden in Zukunft noch sehr viel mehr Menschen als früher nach Berlin bringen, aus allen Teilen der Welt, damit sie die kalte, die nackte, die brutale Wirklichkeit eines Systems sehen können, das den Menschen das Paradies auf Erden versprochen hat. [...]

Trong suốt tháng 8/1961, tương ứng với những cảm xúc của người dân Berlin, Willy Brandt đã bước ra khỏi thế đứng chính trị đảng phái của mình để mang một vai trò phi đảng phái và hoàn toàn có tính cách dân tộc. Ông trực tiếp nhắc nhở các cường quốc phương Tây giữ vững lời cam kết bảo vệ nền Tự do của Tây Bá Linh, kêu gọi Mỹ có phản ứng mạnh mẽ với Liên Xô, đồng thời tìm cách hướng dẫn người dân Berlin giữ bình tĩnh, tránh tạo dịp cho Đông Đức và Liên Xô gây ra một cuộc tàn sát đẫm máu.

Tuy nhiên, những cố gắng của ông lúc đó đã không thành công hoàn toàn như ý muốn: Chính phủ Mỹ đã từ chối lời đề nghị và yêu cầu trợ giúp của ông; Tổng thống J.F.Kennedy sau nhiều ngày tránh né không lên tiếng, đã viết thư khuyên Brandt từ bỏ hy vọng về một đất nước được thống nhất nhanh chóng, và phải chấp nhận thực tế.

Với Bức tường Berlin, sự tách đôi Đông và Tây Đức đã được "bê tông hóa" theo đúng nghĩa đen. Hy vọng cuối cùng của Willy Brandt dựa vào Berlin để ngăn chận sự phân chia nước Đức đã một sớm một chiều chỉ là ảo tưởng. Trong tức tưởi ông phải đối diện với một bên là tấn công vũ bão của kẻ thù, bên kia là sự tháo lui của đồng minh, chung quanh là sự nghi ngờ thù hằn của những nước láng giềng đã một thời bị đàn áp xâm chiếm bởi Đức Quốc Xã, và ngặt nghèo hơn cả là sự mâu thuẫn thế hệ trong toàn quốc: thế hệ sau thế chiến lên tiếng buộc tội gắt gao thế hệ cha ông mình đã vì lý do này hay lý do khác tiếp tay với độc tài gây ra cuộc thảm sát người Do Thái và thế chiến thứ 2 nên mới đẩy dân tộc rơi vào tình trạng kiệt quệ, chia cắt bởi các thế lực Đông-Tây: Tại sao qúi vị có thể để những điều đó (bắt bớ và tàn sát) xảy ra cho người Do Thái? Tại sao cha mẹ lại tham dự trong đoàn thanh niên Hitler? Tại sao lại chấp nhận và tự nguyện tham dự chiến tranh? Từ 1945, sau khi thua trận, qúi vị có xét lại mình hay không? Đảng Quốc Xã và Lãnh tụ của nó (Hitler) không bao giờ có thể tung tác được nếu không có sự im lặng đồng ý và sự vô tâm bất động của đại đa số công dân Đức. Mọi người đều có trách nhiệm!

Willy Brandt: "Cách tốt nhất để dự đoán tương lai là tạo ra nó"


Nhưng chính hoàn cảnh khắc nghiệt cũng là dịp để người anh hùng nổi trội khỏi đám đông.

Bị dồn vào thế bí, Willy Brandt đã chứng tỏ khả năng vượt khỏi khuôn khổ những lối suy nghĩ và hành động thông thường, lội ngược dòng những xu hướng chính trị để tìm cách xoay chuyển thời thế.

Cái chết thảm thương của một thanh niên 18 tuổi bị lính canh Đông Đức bắn và bỏ mặc nằm vướng trong dây kẽm gai chảy máu cho tới chết ở chân bức tường Berlin ngày 17/08/1962 là tác động khơi mào cho "Chính sách phương Đông" của Brandt, đưa tới ký kết những hiệp ước rất quan trọng giữa Cộng Hoà Liên bang Đức với các nước Đông Âu láng giềng và Liên Xô, để giảm bớt sự căng thẳng của Chiến tranh Lạnh với thế giới cộng sản, khiến Đông Đức không thể đơn độc cưỡng lại việc ngồi vào bàn hội nghị. Vì mục tiêu cuối cùng của "Chính sách phương Đông" chính là để tạo lợi thế đưa đến vô hiệu hóa cái Brandt gọi là "bức tường vô nhân đạo" chia đôi dân tộc Đức.

Biết không thể phá bỏ bức tường này bằng những lời tuyên bố vĩ đại, bằng nguyền rủa hay bằng bom đạn, Willy Brandt đã sáng chế một giải pháp cực kỳ tinh tế là đi từng bước nhỏ, tạo sự liên hệ và tiếp xúc văn hóa cũng như kinh tế cho dân chúng hai bên để chính sức mạnh đoàn kết của họ đục thủng dần bức tường ngăn cách kiên cố. Tháng 12/1972 một hiệp ước ký kết giữa Tây và Đông Đức chấp nhận Đông Đức là một lãnh thổ độc lập và có chủ quyền (nhưng chỉ có một quốc tịch Đức duy nhất). Đổi lại, người dân Tây Đức được thăm viếng, xum họp với gia đình bên Đông Đức. Chính sự gặp gỡ, trao đổi tin tức và những giúp đỡ tài chính họ mang cho thân nhân đã đánh thức sự so sánh giữa cuộc sống tại hai phần đất nước và gây ý thức về Tự do Dân chủ nơi người dân Đông Đức.

Cùng với Egon Bahr , Willy Brandt gọi ý tưởng cách mạng của mình là "Đổi thay bằng cách xích lại gần", dùng sự cảm thông và liên hệ giữa con người với con người để phá vỡ ngục tù ý thức hệ. Tuy được giới trẻ và số đông ủng hộ nhưng cũng không thiếu những chông gai đến với ông từ không những nhà cầm quyền CS Đông Đức mà Willy Brandt còn chịu sự chống phá quyết liệt của những thành phần bảo thủ Tây Đức, ngay cả trong đảng Xã hội (SPD) của ông, buộc tội ông "cấu kết với cộng sản". Sự chống phá đôi khi gồm cả những thủ thuật ty tiện như vu cáo, bôi nhọ thanh danh, cuối cùng cũng đã đẩy ông đến bước phải từ chức Thủ tướng năm 1974 nhưng trong lòng người dân ông đã mãi mãi giữ chỗ đứng của một "Thủ tướng của trái tim" (Kanzler der Herzen).

Lấy can đảm "dứt khoát nhận lãnh trách nhiệm tội ác chiến tranh" làm nền tảng xây dựng tương lai

Mặc dù nước Đức đã phải trả một cái giá rất đắt sau chiến tranh nhưng đối với thế giới điều này không chứng tỏ dân tộc Đức đã thực tình nhìn nhận lỗi lầm liên đới với Đức Quốc Xã mà có thể chỉ vì bị thua trận. Phải tới khi vị thủ tướng Đức Willy Brand qùy xuống trước đài tưởng niệm người Do Thái ở Warsaw ngày 7/12/1970 trong chuyến thăm Ba Lan của ông, những vết thương của các nạn nhân chiến tranh mới được phần nào xoa dịu. Một cử chỉ can đảm cho thấy tầm vóc lớn của con người Willy Brandt, làm cả thế giới khâm phục. Đó cũng là dấu hiệu chân thành thiết yếu để thế giới khôi phục lại lòng tin tưởng vào dân tộc Đức. Tháng 12 năm 1971 Willy Brandt nhận giải Nobel Hoà Bình.

Lời cuối cho Việt Nam


Trong bài phát biểu nhận giải thưởng Nobel Willy Brandt nhấn mạnh: "nói chuyện Hoà Bình không đủ, chúng ta phải xây dựng Hoà Bình bằng hành động". Và ông đã chấm dứt bài, nhắc đến dân tộc Việt Nam và những nước nhược tiểu khác:

Tôi không thể ngưng nhắc nhở qúi vị và chính bản thân tôi cần phải nhớ đến những con người còn đang sống lầm than trong chiến tranh ngay trong giờ phút này, đặc biệt là trong tiểu lục địa Ấn Độ và Việt Nam. Cũng như ở Trung Đông và các khu vực khủng hoảng khác. Tôi không muốn ồn ào kêu gọi, vì đòi hỏi người khác phải giữ chừng mực, biết điều và khiêm tốn thì rất dễ. Tôi chỉ gởi lời cầu mong từ trái tim tôi tới tất cả những người đang có thế lực trong tay để gây chiến tranh, hãy nhường bước cho lẽ phải và gìn giữ Hoà Bình.

Aber ich kann nicht aufhören, ohne Sie und mich an die zu erinnern, die in diesem Augenblick im Krieg leben und leiden, vor allem auf dem indischen Subkontinent und in Vietnam. Ich beziehe die Menschen im Nahen Osten und in anderen Krisengebieten mit ein. Mir ist nicht nach dem lauten Appell zumute. Es ist leicht, von anderen Maß, Vernunft, Bescheidung zu fordern. Aber diese Bitte kommt mir aus dem Herzen: Alle, die Macht haben, Krieg zu führen, möchten der Vernunft mächtig sein und Frieden halten.

Dân tộc Việt Nam đã được gì sau gần 40 năm thống nhất và không chiến tranh?


Nhìn sức mạnh xã hội, kinh tế của nước Đức, xuất phát từ một nền tảng chính trị TỰ DO DÂN CHỦ nhân bản và đứng đắn, người Việt chúng ta thay vì chỉ sôi sục niềm ao ước có lẽ nên nhập tâm khẩu hiệu "Can đảm đòi Dân chủ" của Willy Brandt làm ngọn lửa soi sáng cho mọi hoạt động của mình. Và xây dựng sự cảm thông, liên hệ giữa con người với con người để phá vỡ ngục tù ý thức hệ bằng cách mỗi người trong chúng ta tự quỳ xuống trước tổ tiên và dân tộc, thẳng thắn can đảm nhận lãnh trách nhiệm đã nhầm lẫn trong qúa khứ của chính bản thân mình.

T.Q.
Tác giả gửi Bauxite Việt Nam BVN
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Nước Đức, 25 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ   Today at 8:49 pm

Về Đầu Trang Go down
 
Nước Đức, 25 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Chính Trị-
Chuyển đến