Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
cuoc lang nguoi nhung Thầy phung viet PHAT trai thanh thang sinh nghe tien pham huyen nghia HUNG quan nguyen cong ngoc rang Ngày thuy mien
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Sun Aug 18, 2013 12:52 pm


CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI 




Trong một bài viết hôm 12/8/2013 của ông bác sỹ Benjamin S. Carson - một tài năng y học của thế giới - trên Real Clear World về chủ đề chính phủ mới ở Trung Hoa chống lại hiến pháp của Hoa Kỳ. Ông cho rằng, 3 bài viết trên các trang nhất Tân Hoa Xã, Nhân Dân nhật báo và Hỏa Tuyến Bình luận của một giả có bút hiệu là Ma Zhongcheng, có nghĩa là Trung thành với chủ nghĩa Marx - đều cho thấy là một kiểu sửa lại những bài tuyên truyền cũ của thời Mao Trạch Đông ở thập niên 1970.

Theo Bùi Mẫn Hân - Minxin Pei - một chuyên gia về chính trị Trung Quốc tại Claremont McKenna College, gần đây đã viết, "Các lãnh đạo mới của Trung Hoa có thể bỏ qua một số cải cách về kinh tế, hành chính phù hợp với mục tiêu bảo tồn sự cai trị của Đảng Cộng sản. Nhưng nó sẽ không chấp nhận bất cứ sáng kiến ​​nào có thể gây nguy hiểm đến độc quyền chính trị của đảng cộng sản, mặc dù đảng cộng sản ở Trung Hoa bây giờ không còn lý tưởng của cộng sản".

Qua những chính sách cải tổ gần đây của Trung Hoa, nổi bật nhất là chiến lược kinh tế ba phàm là của Lý Khắc Cường - Likonomics: không kích thích kinh tế, giảm nợ và tái cơ cấu - cũng thấy thấy nó chỉ đơn thuần là 3 biện pháp tạm thời giải nguy cho nền kinh tế Trung Hoa. Không giống với chiến lược của ông Shinzo Abe - Abenomics - là một phức hợp cải cách gồm 3 mục tiêu chính trị song hành với 3 mục tiêu kinh tế cho nước Nhật. Càng không giống như Hoa Kỳ là, mỗi lần thay đổi lãnh đạo có trường phái khác nhau, thì chính trị và kinh tế cũng đổi theo.

Ở Việt Nam cũng vậy, trong bài viết Bàn về kỷ vật của chủ tịch nước trao cho tổng thống Obama của tôi, những sự kiện tôi đã liệt kê, chứng minh hùng hồn cho việc đối với đảng cộng sản thì không có chuyện chuyển đổi. Thậm chí, sau sự kiện Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, đảng cộng sản ở Việt Nam còn sửa đổi hiến pháp năm 1992, để thêm cái điều 4 nhằm khẳng định độc tôn cầm quyền ở Việt Nam, mà các hiến pháp 1946, 1959 và 1980 chưa bao giờ có điều này.

Lịch sử thế giới về các quốc gia có đảng cộng sản cầm quyền cũng cho thấy rõ điều này. Những năm 1950s, một số quốc gia Đông Âu như, Ba Lan, Tiệp Khắc và Nam Tư, họ đã chán chê đảng cộng sản, họ muốn ly khai và thay đổi nền chính trị theo phương Tây. Nhưng dưới sự kiểm soát của Liên Xô bằng mọi cách cả chính trị lẫn quân sự đã không cho phép họ chuyển đổi nền chính trị từ đơn nguyên sang đa nguyên, và nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường tự do. Mãi đến khi Liên Xô thất bại và sụp đổ vì sau một thời gian dài đi theo nền kinh tế bao cấp, mà phải chạy đua vũ trang với Hoa Kỳ và phương Tây, trong khi phải bảo kê cả các đồng minh cộng sản trên toàn thế giới, thì sự sụp đổ thực sự mới diễn ra ở Đông Âu.

Nhưng dù, Trung Hoa đã từ bỏ nền kinh tế bao cấp từ 1978, sau khi Đặng Tiểu Bình thỏa thuận với Hoa Kỳ bằng Thông Cáo Thượng Hải 12/1972, và Liên Xô cùng Đông Âu sụp đổ 1990, đảng cộng sản ở Trung Hoa vẫn không từ bỏ con đường độc tôn cầm quyền của mình. Việt Nam nằm cạnh Trung Hoa cũng phải đi theo Trung Hoa bằng Hội nghị Thành Đô, để đảng cộng sản ở Việt Nam tiếp tục khẳng định độc tôn cầm quyền bằng hiến pháp sửa đổi 1992.


Hơn nửa triệu người trước Quảng trường Thiên An Môn ngày 04/6/1989 vẫn bị xe tank, súng đạn của Đặng tàn sát chỉ trong 1 đêm.

Bây giờ, Trung Hoa đang khủng hoảng tài chính do nền kinh tế định hướng thị trường xuất khẩu và sản xuất hàng hóa giá rẻ, đẩy tăng trưởng bằng đầu tư công từ tiết kiệm của hộ gia đình. Kinh tế Trung Hoa chắc chắn sẽ hạ cánh nặng nề, nhưng với ngôi vị độc tôn cầm quyền của đảng cộng sản không thể lung lay. Vì với tư tưởng của Mao, họng súng đẻ ra chính quyền, các quốc gia có đảng cộng sản nắm quyền sẵn sàng độc ác để giữ sự độc tôn cầm quyền. Thiên An Môn đẫm máu, mới đây nội loạn Tây Tạng, Tân Cương, họ đã đàn áp dã man.

Việt Nam là bản sao tận tụy và trung thành nhất của Trung Hoa từ sau 1990, là đồng minh chiến lược của Trung Hoa cũng đang sụp vào vũng lầy của một nền chính trị nửa dơi, nửa chuột và kinh tế kiểu mang màu sắc Trung Hoa. Cho nên khi Trung Hoa không sụp đổ, thì đảng cộng sản ở Việt Nam vẫn còn độc tôn nắm quyền hành cai trị.

Tất cả những điều trên cho ta thấy rằng, ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới mà đảng cộng sản cầm quyền, thì chỉ có sụp đổ mới có sự thay đổi thực sự về chính trị và kinh tế. Việc chuyển đổi từ một nền chính trị đơn nguyên và một nền kinh tế do nhà nước chỉ huy sang một nền chính trị đa nguyên và một nền kinh tế thị trường tự do, khi đảng cộng sản chưa sụp đổ là điều ảo tưởng.

BS Hồ Hải





Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!




Cuộc thảm sát tại Quảng Trường Thiên An Môn 1989











.
Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Đảng Cộng sản và "Quyền được chết"   Thu Aug 22, 2013 11:29 am


Đảng Cộng sản và ‘Quyền được chết’

«Quyền được chết» là một khái niệm luật học mới mẻ, chỉ rõ quyền được pháp luật công nhận cho công dân nước mình được tự do lựa chọn cái chết khi mắc  bệnh hiểm nghèo chưa có cách chữa trị, muốn được chết để khỏi phải đau đớn kéo dài trong cơn tuyệt vọng.





Ở nước nào «Quyền được chết» cũng được tranh cãi quyết liệt, chia hẳn thành 2 phái, một phải ủng hộ, tán đồng, cho đó là quyền tự do thiêng liêng của mọi công dân, tư nguyện chấp nhận cái chết để thoát khỏi tình trạng đau khổ kéo dài, quá sức chịu đựng của bản thân, yêu cầu cơ quan y tế và người thân cùng giúp đỡ, hợp tác để thoát khỏi bế tắc, để thực hiện một cái chết an lạc. Theo chữ Hán, người Trung Quốc gọi đó là quyền «an tử». Theo tiếng Hy Lạp cổ, đó là quyền «euthanatos»; tiếng Anh là «euthanasia»; tiếng Pháp là «euthanasie» theo nghĩa từ điển là «cái chết không đau đớn». Tòa Thánh Vatican kiên quyết chống lại quyền này, viện cớ sống chết là do Thượng đế quyết định, thực hiện «euthanasia» là mang tội giết người.

Hiện nay các nước Hoà Lan, Bỉ, Áo… đã chính thức thực hiện quyền «an tử». Ở Hoa Kỳ, mới có các bang Oregon và Texas thực hiện.

Các đảng Cộng sản có liên quan gì đến «quyền được chết»? Xin thưa rằng có.

Cũng như mọi sự vât trên đời, đảng CS có khởi đầu và có kết thúc.

Marx và Engels đã khai sinh ra đảng CS vào ngày 24 tháng 2 năm 1848 khi 2 ông công bố bản «Tuyên Ngôn của đảng CS». Thế kỷ 20 là thế kỷ cường thịnh nhất của các đảng CS trên toàn thế giới cũng như của các Đệ Nhất, Đệ Nhị và Đệ Tam Quốc tế CS. Đến nay tuổi thọ của đảng CS đã được 165 năm. Thoái trào của phong trào CS bắt đầu từ những năm 50 của Thế kỷ 20, đột biến đi xuống từ khi Bức tường Berlin sụp đổ vào cuối năm 1989, tan hoang từ sau khi đảng CS Liên Xô là đảng CS đầu đàn bị giải thể vào cuối năm 1991.

Trong Thế kỷ 20, có lúc đảng CS toàn thế giới họp được những cuộc họp lớn, bao gồm 68 đảng CS vào năm 1957, và 87 đảng vào năm 1960 tại Moscow. Nếu tính cả các nhóm CS theo Mao Trạch Đông hay theo Che Guevra ở châu Á, Mỹ la tinh, có lúc toàn thế giới có đến gần 200 đảng phái theo học thuyết Cộng sản.

Có thể nói đến nay chỉ còn lơ thơ vài đảng CS có thể đếm trên đầu ngón tay, lớn nhất là đảng CS Trung Quốc, rồi các đảng CS Việt Nam, Cuba và Bắc Triều Tiên. Hàng trăm đảng CS lớn mạnh trong thế kỷ trước ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ la tinh, châu Phi đã rã rời, ngừng hoạt động, nằm trong các nghĩa địa và bảo tàng. Nhiều đảng CS đã chết yên lặng bằng cách đổi tên. Nghị quyết 1481 của Quốc hội châu Âu đã đặt chủ nghĩa Cộng sản hiện thực ra ngoài vòng pháp luật, coi đó là tội ác chống nhân loại.

Các đảng CS oanh liệt một thời như đảng CS Anh, đảng CS Đức, đảng CS Áo, đảng CS Ý đã gần như hoàn toàn biến mất trên sân khấu chính trị. Đảng CS Pháp một thời oanh liệt, tự nhận là đảng số một của nước Pháp, từng tham gia chính phủ với chức phó thủ tướng, bộ trưởng, được trên 30% số phiếu bầu, nay ở vào số cuối bảng, chỉ được chưa đến 3 % phiếu, chỉ còn là cái bóng mờ nhạt của chính mình. Nó còn sống, nhưng thoi thóp, đang thở hắt ra, đã thuộc về quá khứ.

Mới đây, nhân đại hội lần thứ 35 của đảng CS Pháp, một số đông hơn 300 giáo sư, trí thức, văn nghệ sỹ, uỷ viên Trung ương đảng, đại biểu Quốc hội có uy tín là đảng viên CS Pháp đã rủ nhau cùng một lúc ký tên, ra tuyên bố vĩnh biệt đảng CS để gia nhập tự do các đảng khác, với thái độ công khai minh bạch, sau khi nhận rõ chủ nghĩa CS không còn sức sống cả về lý luận và cả về thực tiễn. Họ tham gia khai tử đảng CS của mình, coi đó là việc làm có ý nghĩa tích cực, không có ích gì khi kéo dài thêm tuổi thọ của một học thuyết đã phá sản, của một đảng chính trị đang rơi tự do, bị nhân dân Pháp khước từ không tin cậy nữa.

Đây là một hệ quả của sự kiện có ý nghĩa lịch sử, tháng 6 năm 2007, giữa thủ đô Hoa Kỳ đã dựng lên Đài tưởng niệm hơn 100 triệu nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa CS hiện thực, một sai lầm khủng khiếp của Thế kỷ 20, qua đó tên tuổi của các nhà lãnh đạo CS nhúng tay vào tội ác được ghi rõ không khoan nhượng vì là sự thật hiển nhiên: từ Lenine, Stalin, Mao Trạch Đông, đến Hồ Chí Minh, Kim Nhật Thành, Tito, Fidel Castro, Céauçescu, Honecke…Không có lãnh tụ CS nào mà tay không đẫm máu nhân dân nước họ cả.

Đảng CSVN có cùng chung số phận, chung vinh quang hão huyền giả tạo một thời, và chung mối ô nhục gây tội ác chống nhân loại cũng như chống nhân dân bản xứ, như tất cả các đảng Cộng sản khác, không có một ngoại lệ nào cả. Vì tất cả đều cùng chung một học thuyết đấu tranh giai cấp, cùng tôn sùng bạo lực hung hãn, đang cùng chung đà suy thoái tha hóa và tan vỡ không gì ngăn cản nổi, trừ phi thay đổi cả hệ thống chính trị từ độc đảng toàn trị sang dân chủ đa nguyên theo luật pháp.

Việc đổi tên đảng, đổi danh xưng của nước Việt Nam, lập đảng mới, đổi quốc kỳ của nước Việt Nam mới, và tìm một liều thuốc «an tử», giúp đảng CS một kiểu chết thanh thản, chết an lạc, giải thoát khỏi những năm dài bế tắc, lắm bệnh hiểm nghèo vô phương cứu chữa, chỉ ngày càng ô nhục thêm, có lẽ là rất cần thiết, nhân đạo, có ích cho đất nước và nhân dân vậy.

Cũng vì vậy, ý kiến về từ bỏ đảng CS, thoát đảng, lập đảng mới của một số trí thức am hiểu thời thế như luật gia Lê Hiếu Đằng, nhà báo Hồ Ngọc Nhuận được sự quan tâm bàn luận ngày càng sôi nổi của người Việt trong và ngoài nước.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Theo VOA BLOG

Nguồn: http://ttxva.org/dang-cong-san-va-quyen-duoc-chet/
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Sat May 17, 2014 10:32 am


Sự Sụp Đổ của Chủ Nghĩa Cộng sản tại Việt Nam


TS. Nguyễn Hưng Quốc
 


Trước đây, trên thế giới, có 15 quốc gia chính thức theo chủ nghĩa cộng sản và 11 quốc gia tự nhận là cộng sản hoặc theo khuynh hướng cộng sản. Mười lăm quốc gia ở trên là: Albania, Bulgaria, Czechoslovakia, Đông Đức, Hungary, Mông Cổ, Ba Lan, Romania, Liên Xô, Yugoslavia, Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam. Mười một quốc gia ở dưới là: Angola, Benin, Congo, Ethiopia, Mozambique, Zimbabwe, Grenada, Nicaragua, Campuchia, Afghanistan và Nam Yemen. Tổng cộng, từ hai bảng danh sách ấy, có cả thảy 26 nước cộng sản hoặc có khuynh hướng theo cộng sản. Từ đầu thập niên 1990, tất cả các chế độ cộng sản ấy đều lần lượt sụp đổ. Hiện nay, trên cả thế giới, chỉ còn năm nước mang nhãn hiệu cộng sản: Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam.

Chưa có dấu hiệu nào cho thấy chủ nghĩa cộng sản ở năm quốc gia này sẽ sụp đổ sớm. Trong năm nước, có ba nước có quan hệ chặt chẽ với nhau: Trung Quốc, Việt Nam và Lào. Có lẽ Lào chỉ thay đổi được thể chế chính trị nếu, trước đó, Việt Nam cũng thay đổi; và Việt Nam có lẽ chỉ thay đổi nếu trước đó Trung Quốc cũng thay đổi. Như vậy, quốc gia có khả năng châm ngòi cho bất cứ sự thay đổi lớn lao nào là Trung Quốc.

Tuy nhiên, ngay cả khi Trung Quốc và Việt Nam chưa thay đổi và chưa từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, giới nghiên cứu cũng phát hiện những dấu hiệu suy tàn âm thầm của chủ nghĩa cộng sản bên trong hai quốc gia này.

Ở đây, tôi chỉ tập trung vào Việt Nam.

Nhìn bề ngoài, chế độ cộng sản tại Việt Nam vẫn mạnh. Hai lực lượng nòng cốt nhất vẫn bảo vệ nó: công an và quân đội. Dân chúng khắp nơi bất mãn nhưng bất mãn nhất là nông dân, những người bị cướp đất hoặc quá nghèo khổ. Có điều nông dân chưa bao giờ đóng được vai trò gì trong các cuộc cách mạng dân chủ cả. Họ có thể thành công trong một số cuộc nổi dậy nhưng chỉ với một điều kiện: được lãnh đạo. Trong tình hình Việt Nam hiện nay, chưa có một tổ chức đối kháng nào ra đời, hy vọng nông dân làm được gì to lớn chỉ là một con số không. Ở thành thị, một số thanh niên và trí thức bắt đầu lên tiếng phê phán chính phủ nhưng, một, số này chưa đông; và hai, còn rất phân tán. Nói chung, trước mắt, đảng Cộng sản vẫn chưa gặp một sự nguy hiểm nào thật lớn.

Thế nhưng, nhìn sâu vào bên trong, chúng ta sẽ thấy quá trình mục rữa của chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu và càng ngày càng lớn. Như một căn bệnh ung thư bên trong một dáng người ngỡ chừng còn khỏe mạnh.

Sự mục rữa quan trọng nhất là về ý thức hệ.


Khác với tất cả các hình thức độc tài khác, chủ nghĩa cộng sản là một thứ độc tài có… lý thuyết, gắn liền với một ý thức hệ được xây dựng một cách có hệ thống và đầy vẻ khoa học. Thật ra, chủ nghĩa phát xít cũng có lý thuyết, chủ yếu dựa trên sức mạnh và tinh thần quốc gia, nhưng không phát triển thành một hệ thống chặt chẽ và có ảnh hưởng sâu rộng như chủ nghĩa cộng sản. Còn các chế độ độc tài ở Trung Đông chủ yếu gắn liền với tôn giáo cộng với truyền thống quân chủ kéo dài (thường được gọi là độc tài quốc vương, sultanistic authoritarianism) hơn là lý thuyết. Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh: các chế độ cộng sản không thể tồn tại nếu không có nền tảng ý thức hệ đằng sau.

Ý thức hệ cộng sản một thời được xem là rất quyến rũ vì nó bao gồm cả hai kích thước: quốc gia và quốc tế. Ở bình diện quốc gia, nó hứa hẹn giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân; ở bình diện quốc tế, nó hứa hẹn giải phóng giai cấp vô sản và tạo nên sự bình đẳng và thịnh vượng chung cho toàn nhân loại. Ở bình diện thứ hai, chủ nghĩa cộng sản, gắn liền với một ước mơ không tưởng, rất gần với tôn giáo; ở bình diện thứ nhất, đối lập với chủ nghĩa thực dân, nó rất gần với chủ nghĩa quốc gia. Trên thực tế, hầu hết các nước cộng sản trước đây đều cổ vũ và khai thác tối đa tinh thần quốc gia trong cả quá trình giành chính quyền lẫn quá trình duy trí chế độ. Sự kết hợp giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc gia dễ thấy nhất là ở các nước thuộc địa và cựu thuộc địa như Việt Nam.

Sau năm 1991, tức sau khi chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, ý thức hệ cộng sản cũng bị phá sản theo. Thực trạng nghèo đói, bất công và áp bức dưới các chế độ cộng sản ấy đều bị vạch trần và phơi bày trước công luận. Sự hứa hẹn về một thiên đường trong tương lai không còn được ai tin nữa. Tính hệ thống trong chủ nghĩa Marx-Lenin cũng bị đổ vỡ. Nền tảng ý thức hệ của các chế độ cộng sản bị tan rã tạo thành một khoảng trống dưới chân chế độ.



Để khỏa lấp cái khoảng trống ấy, Trung Quốc sử dụng hai sự thay thế: chủ nghĩa Mao và Nho giáo (trong chủ trương tạo nên một xã hội hài hòa, dựa trên lòng trung thành). Việt Nam, vốn luôn luôn bắt chước Trung Quốc, không thể đi theo con đường ấy. Lý do đơn giản: Đề cao chủ nghĩa Mao là một điều nguy hiểm cả về phương diện đối nội lẫn đối ngoại; còn với Nho giáo, một là Việt Nam không am hiểu sâu; hai là, nó đầy vẻ… Tàu, rất dễ gây phản cảm trong quần chúng. Bế tắc, Việt Nam bèn tạo nên cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng ông Hồ Chí Minh lại không phải là một nhà lý thuyết. Ông chỉ là một người hành động. Ông viết nhiều, nhưng tất cả đều rất thô phác và đơn giản. Hơn nữa, ở Việt Nam hiện nay, cũng không có một người nào giỏi lý thuyết để từ những phát biểu sơ sài của Hồ Chí Minh xây dựng thành một hệ thống sâu sắc đủ để thuyết phục mọi người. Thành ra, cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn không trám được khoảng trống do sự sụp đổ của ý thức hệ Marx-Lenin gây ra. So với Trung Quốc, khoảng trống này ở Việt Nam lớn hơn gấp bội.

Mất ý thức hệ cộng sản, chính quyền Việt Nam chỉ còn đứng trên một chân: chủ nghĩa quốc gia.

Nhưng cái chân này cũng rất èo uột nếu không muốn nói là đã lung lay, thậm chí, gãy đổ.




Trên nguyên tắc, Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước rất cao. Bao nhiêu chế độ ra đời từ giữa thế kỷ 20 đến nay đều muốn khai thác và tận dụng lòng yêu nước ấy. Tuy nhiên, với chế độ cộng sản hiện nay, việc khai thác vốn tài sản này gặp rất nhiều khó khăn. Lý do là lòng yêu nước bao giờ cũng gắn liền với sự căm thù. Không ai có thể thấy rõ được lòng yêu nước trừ phi đối diện với một kẻ thù nào đó của đất nước. Hai kẻ thù chính của Việt Nam, trong lịch sử mấy ngàn năm, là Trung Quốc; và gần đây nhất, là Mỹ. Nhưng Việt Nam lại không dám nói quá nhiều về hai kẻ thù này. Với Mỹ, họ cần cả về phương diện kinh tế lẫn phương diện chiến lược. Đề cao truyền thống chống Mỹ, do đó, là điều rất nguy hiểm. Đề cao truyền thống chống Trung Quốc lại càng nguy hiểm hơn: Trung Quốc có thể đánh hoặc ít nhất đe dọa VIệt Nam bất cứ lúc nào.

Bởi vậy, Việt Nam, một mặt, phải hạ giọng khi nói về truyền thống chống Mỹ và phải né tránh việc nhắc nhở đến truyền thống chống Trung Quốc. Hai hành động này có lợi về phương diện đối ngoại nhưng lại có tác hại nghiêm trọng về phương diện đối nội: chính quyền hiện ra, dưới mắt dân chúng, như những kẻ hèn, hèn nhát và hèn hạ. Từ một chế độ được xây dựng trên thành tích chống ngoại xâm, chế độ cộng sản tại Việt Nam lại bị xem như những kẻ bán nước, hoặc bán nước dần dần bằng cách hết nhượng bộ điều này sang nhượng bộ điều khác trước sự uy hiếp của Trung Quốc.

Trước sự sụp đổ của cả hai nền móng, ý thức hệ cộng sản và chủ nghĩa quốc gia, đảng Cộng sản Việt Nam bèn chuyển sang một nền tảng khác: kinh tế với phương châm ổn định và phát triển. Nội dung chính của phương châm này là: Điều cần nhất đối với Việt Nam hiện nay là phát triển để theo kịp các quốc gia khác trong khu vực cũng như, một cách gián tiếp (không được nói công khai), đủ sức để đương đầu với Trung Quốc. Nhưng để phát triển, cần nhất là phải ổn định về chính trị, nghĩa là sẽ không có thay đổi về thể chế và cũng không chấp nhận đa đảng.

Phương châm ấy, thật ra, là một sự bịp bợm: Nó chuyển vấn đề từ chính trị sang kinh tế với lý luận: nếu vấn đề quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay là vấn đề kinh tế thì mọi biện pháp sửa đổi sẽ chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế. Với lập luận này, chính quyền có thể trì hoãn mọi yêu cầu cải cách chính trị.

Tuy nhiên, nó hoàn toàn không thuyết phục, bởi, ai cũng thấy, lãnh vực kinh tế là mặt mạnh nhất của chủ nghĩa tư bản và cũng là mặt yếu nhất của chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản. Tất cả các quốc gia dân chủ ở Tây phương đều có hai đặc điểm nổi bật: về chính trị, rất ổn định và hai, về kinh tế, rất phát triển. Ở Việt Nam, người ta cố thu hẹp phạm vi so sánh: các cơ quan truyền thông chính thống chủ yếu tập trung vào các nước Đông Nam Á, đặc biệt Thái Lan với một thông điệp chính: đa đảng như Thái Lan thì lúc nào cũng bị khủng hoảng. Nhưng ở đây lại có hai vấn đề: Một, dù liên tục khủng hoảng về chính trị, nền kinh tế của Thái Lan vẫn tiếp tục phát triển, hơn hẳn Việt Nam; hai, ngày nay, do xu hướng toàn cầu hóa, tầm nhìn của dân chúng rộng rãi hơn nhiều; chính quyền không thể thu hẹp mãi tầm nhìn của họ vào tấm gương của Thái Lan được.

Về phương diện lý luận, chiêu bài ổn định và phát triển, do đó, không đứng vững. Về phương diện thực tế, những sự phá sản của các đại công ty quốc doanh và đặc biệt, khối nợ nần chồng chất của Việt Nam khiến dân chúng càng ngày càng thấy rõ vấn đề: các chính sách kinh tế của Việt Nam không hứa hẹn một sự phát triển nào cả, nếu không muốn nói, ngược lại, chỉ lún sâu vào chỗ bế tắc.

Thành ra, có thể nói, tất cả các nền tảng chế độ cộng sản Việt Nam muốn nương tựa, từ chủ nghĩa Marx-Lenin đến chủ nghĩa quốc gia và lập luận ổn định để phát triển, đều lần lượt sụp đổ. Chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay như một đám lục bình chỉ nổi bập bềnh trên mặt nước. Sự tồn tại của nó chỉ dựa vào sự trung thành của công an. Do đó, một mặt, đảng cộng sản đưa ra sự khuyến dụ đối với công an: “Còn đảng, còn mình”; mặt khác, họ ngoảnh mặt làm ngơ trước hai tệ nạn do công an gây ra: tham nhũng và trấn áp dân chúng một cách dã man. Nhưng chính sách này chỉ càng ngày càng biến công an thành một đám kiêu binh và càng ngày càng đẩy công an cũng như chính quyền trở thành xa lạ với dân chúng. Sự xa lạ này càng kéo dài và càng trầm trọng, đến một lúc nào đó, trở thành đối nghịch với quần chúng.

Một nhà nước được xây dựng trên một đám kiêu binh, trong thời đại ngày nay, không hứa hẹn bất cứ một tương lai nào cả.

Nguyễn Hưng Quốc
30.04.2014


Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Tue May 20, 2014 1:10 pm


Mô Hình Sụp Đổ của Chế Độ Cộng Sản tại VN


Quốc Phùng


    

Có rất nhiều chỉ dấu báo trước sự cáo chung của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam. Những thực trạng xãy ra tại VN hiện nay rất phù hợp và tương tự như tình hình ở Liên Sô và các nước Đông Âu trước khi tan rã. Ta thử lược qua vài chỉ dấu đưa đến sự sụp đổ của chế độ CS tại VN trước khi bàn đến sự sụp đổ này sẽ diễn ra trong bối cảnh như nào.

Sai Lầm Về Chủ Nghĩa Đưa Đến Chính Sách Khinh Miệt Toàn Dân

     Từ ngàn xưa trong đạo trị quốc, từ Đông sang Tây bao giờ một quốc gia muốn cường thịnh, xã tắc cơ đồ muốn bền vững, cấp lãnh đạo đều phải lấy dân làm trọng. Do đó mà Mạnh Tử hơn 2.300 năm trước đã có câu “Dân vi quý, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinh”. Câu nói trên có ý rằng Dân là quý (trọng) nhất, kế đến là Sơn Hà Xã Tắc (Quốc Gia) và sau cùng mới đến Vua (Người Lãnh Đạo). Đế quốc La Mã được hùng cường trong một thời gian dài cũng là nhờ biết tổ chức xã hội theo mô thức dân chủ và lấy ý kiến của dân (Citizen) làm chính sách.

     Chủ nghiã Cộng Sản, về căn bản đã không tôn trọng con người. Lý tưởng Cộng Sản là mục tiêu tối thượng trong khi con người chỉ là phương tiện thực hiện cải tạo xã hội. Phối hợp với Biện Chứng Pháp, con người rõ ràng chỉ là công cụ để thực hiện chủ nghĩa không tưởng đó mà thôi.

     Vì quá quen thuộc với cách hành xử độc đoán và coi rẽ người dân, Cộng Sản Việt Nam đã vi phạm trầm trọng nguyên tắc lấy dân làm gốc mà tất cả các nước Dân Chủ Tự Do đều tôn trọng. Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc (1) là một văn kiện xiển dương nhân quyền quan trọng nhất của nhân loại ngày nay. Việt Nam là thành viên Liên Hiệp Quốc nhưng hoàn toàn không tôn trọng Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền này. Đó là sự khinh miệt các quyền căn bản của toàn dân Việt Nam và lừa dối thế giới.

     Từ nguyên thủy, đảng CSVN nắm quyền cai trị toàn dân không qua bất cứ một cuộc bầu cử dân chủ nào. Không một chức vụ công quyền từ thượng tầng đến cơ sở mà người dân được quyền ứng cử, ngoài trò hề “Đảng cử, Dân bầu”, kể cả Quốc Hội đại diện cho dân. Điều 83 của Hiến pháp CSVN 1992 xác định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam… Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Nhưng người dân có được quyền tự ứng cử làm Đại Biểu Quốc Hội hay không? Luật sư Cù Huy Hà Vũ đã từng nạp đơn xin ứng cử làm Đại Biểu Quốc Hội nhưng không bao gìờ được đảng cầm quyền chấp thuận. Không cho người dân thường được quyền tham chính, đó là một sự khinh miệt trầm trọng nhất vai trò của người dân trong hệ thống công quyền của CSVN.

     Những quyền căn bản khác của người dân như quyền được biết những Hiệp Ước ký kết với ngoại bang về biên giới lãnh thổ và lãnh hải, quyền được thể hiện lòng yêu nước qua việc biểu tình phản đối ngoại bang chiếm cứ biển đảo của Việt Nam đều bị cấm đoán. Những quyền công dân khác như quyền có ý kiến về việc khai thác Bauxite gây nguy hại môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến ngưới dân, chưa kể đến vấn đề an ninh quốc gia. Việc cho ngoại bang thuê rừng đầu nguồn làm thiệt hại tài nguyên và có nguy cơ mất đất biên giới vĩnh viễn. Dự án Đường Cao Tốc vay mượn tốn kém phải trả hàng mấy thế hệ. Thất thoát tài sản quốc gia qua tập đoàn Vinashin hàng chục tỷ USD v..v… Người dân thường lúc nào cũng bị cấm đoán không được bàn tới vì đó là “bí mật quốc gia” hoặc “vấn đề nhạy cảm”. Đây là sự khinh miệt vai trò của người công dân trước sự tồn vong của đất nước. Quyền tự quyết tối thượng của dân tộc để được bảo vệ tổ quốc và bảo vệ các thế hệ tiếp nối mai sau bị ngăn cấm một cách trắng trợn.

     Những quyền căn bản khác được minh định trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền luôn luôn bị chà đạp. Chẳng hạn quyền Tự Do Ngôn Luận: Cả một xã hội hơn 80 triệu con người Việt Nam tuyệt đối không có lấy một tờ báo hay cơ quan truyền thông tư nhân nào! Những quyền khác như Tự Do Tín Ngưỡng, Tự Do Tư Tưởng, Tự Do Phát Biểu, Tự Do Lập Hội v..v… hoàn toàn bị kềm chế! Đó là sự kinh miệt quốc dân và lừa dối dư luận.

Khủng Hoảng Kinh Tế Gây Ra Bởi Tập Đoàn Bất Tài Tham Nhũng

     Việt Nam được cai trị bởi 15 Ủy Viên Bộ Chính Trị và 160 Ủy Viên Trung Ương đảng CSVN. Đây là một tập đoàn hoàn toàn được bè phái cất nhắc dựa trên lòng trung thành và phe cánh nên khả năng và học vấn chỉ là yếu tố phụ thuộc. Không một Ủy Viên nào được người dân tín nhiệm bầu lên nên điều hiển nhiên là các Ủy Viên này không có bổn phận phải phục vụ nhân dân mà chỉ có nghĩa vụ với bè phái và người đở đầu mà thôi!

     Đại đa số trong 15 thành viên Bộ Chính Trị đều có trình độ học vấn rất thấp và không thông hiểu các định luật kinh tế, không có khả năng ngoại ngữ để nghiên cứu. Hầu hết chưa vượt qua trình độ Trung Học Phổ Thông nhưng theo danh sách cung cấp bởi đảng CSVN cho biết trong 15 thành viên này, 5 người có bằng Tiến Sĩ, 10 người còn lại đều có bằng cử nhân hoặc cao hơn. Thật ra hầu hết đều là những bằng cấp được gọi là “Tại Chức”, có nghĩa là vừa công tác vừa học thêm. Một cán bộ cao cấp càng cần giữ thể diện với nhân dân và thuộc cấp nên vấn đề bằng cấp cũng ưu tiên thuộc về diện “chính sách”.

     Với một tập đoàn lãnh đạo toàn “trí thức” của Bộ Chính Trị đảng CSVN như vừa kể, cộng thêm quyền lực tuyệt đối không một cơ quan nào kiểm soát được, kể cả Quốc Hội, guồng máy tham nhũng mặc tình vơ vét. Từ tài sản công biến thành của riêng qua chính sách “Hoá Giá”(bán rẽ cho cán bộ), đất đai tài sản nhân dân bị “Quy Hoạch” (bồi thường rẻ mạt giống như xung công) chuyển giao cho “Tập Đoàn” gồm toàn thân nhân giòng họ của Lãnh Đạo. Cho thuê biển, thuê rừng. Đơn cử một thí dụ: Dự án “đường cao tốc Bắc Nam” sau khi hoàn tất tốn khoảng 56 đến 60 tỉ USD, nếu tính theo lạm phát phí tổn có thể cao hơn. Như vậy hợp đồng khi duyệt ký Thủ Tướng được bao nhiêu phần trăm? Nên nhớ chỉ 1% thôi cũng đã là 600 triệu USD rồi. Đó cũng là lý do vì tranh ăn nên phe “Thủ Tướng” bị thất thế tại Quốc Hội.

Với trình độ kém cỏi và lòng tham lam vô độ như thế, nền kinh tế Việt Nam XHCN không “Xuống Hố Cả Nước” mới thật là chuyện lạ!

Khát Vọng Dân Chủ Của Toàn Dân

     Khát vọng Dân Chủ là bản năng tự nhiên của tất cả mọi dân tộc trên hoàn vũ, không riêng gì dân tộc Việt Nam. Trong lúc cả thế giới đang tiến dần đến Toàn Cầu Hóa, internet được sử dụng rộng rãi khắp mọi nhà thì tại Việt Nam và Trung Quốc tường lửa hiện diện khắp mọi nơi. Yahoo và Google bị ép buộc phải cung cấp tin tức của các nhà bất đồng chính kiến. Tuy nhiên, khát vọng Dân Chủ tại Việt Nam lúc nào cũng bỏng cháy qua các nhà hoạt động Dân Chủ, đa số là trí thức gồm Bác Sĩ, Luật Sư, Nhà Văn, Ký Giả, Linh Mục, Thượng tọa… Nhiều nhà tranh đấu bị bắt bớ, tù đày và bị quản thúc tại gia như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Cù Huy Hà Vũ… Tội của họ là yêu nước và đòi hỏi Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho dân tộc Việt Nam.

     Các Bloggers mấy năm gần đây gần như không còn sợ hãi. Nhiều người bị bắt giam như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, anh Ba Sàigòn tức luật sư Phan Thanh Hải v..v…hoặc bị hăm dọa như Mẹ Nấm Lê Thị Như Quỳnh, Người Buôn Gió Bùi Thanh Hiếu…

    Qua những nhận định trên về tính cách độc tài toàn trị đưa đến kinh miệt người dân, tập đoàn bất tài tham nhũng khiến đất nước cạn kiệt tài nguyên, kinh tế càng khủng hoảng đời sống người dân càng khốn khó, cộng thêm với khát vọng Dân Chủ của toàn dân… Tất cả sẽ kéo theo sự sụp đổ của chế độ. Câu hỏi đặt ra là: CSVN Sẽ Sụp Đổ Theo Cách Thế Của Liên Sô Năm 1990?


Boris Yeltsin tuyên bố sự cáo chung của chủ nghiã CS

     Tình hình Việt Nam ngày càng gần giống như tình trạng Liên Sô trước khi sụp đổ. Sự đổi mới nửa vời, thiếu cởi mở chính trị, tham nhũng lan tràn, đồng tiền mất gía và nạn lạm phát trầm trọng, nhất là gía cả thực phẩm lên cao cùng cực. Sự phẩn nộ của toàn dân, kể cả một số cán bộ đảng CS, gần như không còn kềm chế nổi.

     Tháng 5 năm 1990 gió đổi chiều trên Liên Bang Sô Viết. Boris Yeltsin được bầu làm chủ tịch chủ tịch đoàn Sô Viết Tối Cao (chủ tịch Quốc Hội Liên Bang) và Mikhail Gorbachev đang làm Tổng Bí Thư đảng kiêm Chủ Tịch nước. Do chính sách Glasnost (cởi mở và tự do phát biểu) và Perestroika (tái cấu trúc) mà nhóm bảo thủ chống lại Gorbachev và muốn làm đảo chánh. Trước đó một năm, Đặng Tiểu Bình, một lãnh tụ cấp tiến Trung Hoa Đỏ, vào tháng 6-1989 đã ra lệnh cho quân đội thẳng tay tàn sát phong trào dân chủ tại Thiên An Môn. Tháng 8-1991 khi Gorbarchev bị giữ tại Crimea. Boris Yeltsin và đám đông dân chúng can đảm chống lại phe “đảo chánh”. Đài truyền hình ABC phát hình toàn thế giới cảnh Diane Sawyer phỏng vấn Boris Yeltsin bên trong toà nhà Sô Viết Tối Cao trong khi đoàn chiến xa bao vây bên ngoài sẵn sàng nhả đạn. Tình hình cực kỳ căng thẳng. Một vụ Thiên An Môn thứ nhì sắp sửa xãy ra trong cái nôi Cộng Sản? Nhưng sau đó, lực lượng “đảo chánh” rút lui trước khí thế của đám đông dân chúng quyết tâm bảo vệ nền Dân Chủ non trẻ vừa mới thành hình. Chế độ Cộng Sản coi như cáo chung! Trước ống kính truyền hình, Boris Yeltsin đứng trên chiến xa bên ngoài toà nhà Quốc Hội đọc bài diễn văn trong đó có một câu để đời “Cộng Sản không thể nào sửa chữa mà cần phải đào thải nó”. Cả thế giới thở phào nhẹ nhõm. Thành trì Cộng Sản đã thực sự sụp đổ từ đây! Chấm dứt 40 năm chiến tranh lạnh mấy lần suýt hủy diệt nhân loại bởi vũ khí hạt nhân.

     Hiện nay Hoa Kỳ đang thay đổi chính sách tại Á Châu và nhất là tại Đông Nam Á. Hoa Kỳ đã có thái độ cứng rắn hơn với Trung Cộng trong khi xích lại gần hơn với Việt Nam. Mọi người Việt từ quốc nội cho đến khắp mọi nơi trên thế giới cùng bày tỏ niềm hân hoan và hy vọng cho cuộc liên minh và đối đầu mới này. Tuy nhiên, chúng ta vẫn hoài nghi về tính khả thi này của CSVN. Đây là một chế độ chuyên chế, độc tài toàn trị và cực kỳ tham nhũng. CSVN muốn kéo dài thời gian thống trị hết đời con sang đến đời cháu vinh thân phì gia nên ngày càng lệ thuộc Trung Cộng và càng tỏ ra nhu nhược đớn hèn. CSVN chấp nhận thà mất Nước chứ không để mất Đảng!!! Rất khó cho cấp lãnh đạo CSVN phải hy sinh quyền lực và đời sống vương giả để chịu hy sinh cho nền độc lập vững bền cho dân tộc bằng cách bước ra khỏi quỹ đạo Trung Cộng. Sau đại hội 11, đảng CSVN cũng vẫn ở vào vị trí chư hầu như từ trước đến nay vì các lý do sau:

     - Chưa có một lãnh tụ CSVN nào đủ tầm vóc thực hiện đổi mới như Mikhail Gorbachev qua Perestroika và Glasnost. Người lãnh đạo đó phải dám nói “không” với CS Trung Hoa và thực hiện đúng mức chính sách liên kết với Hoa Kỳ và Đông Nam Á để bảo vệ tổ quốc. Phải chấp nhận có tiếng nói đối lập và lắng nghe đối lập. Phải bỏ điều 88 bộ luật hình sự dùng để khép tội những nhà bất đồng chính kiến và để đàn áp các Bloggers. Người lãnh tụ đó phải có bản lãnh và can đảm từ chức như Gorbachev đã làm khi Liên Bang Sô Viết tan rã. Một vài nhà phân tích ngoại quốc cho rằng Nguyễn Chí Vịnh có thể đóng được vai trò này. Tuy nhiên, hầu hết mọi người Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước đều rất hoài nghi về tâm địa và thủ đoạn của Vịnh. Không khéo đây là một Lê Chiêu Thống tân thời sẳn sàng đem dâng sơn hà cho giặc…Phải chờ sau đại hội 11 để Vịnh chính thức vào Trung Ương đảng và sau đó được đề cử vào Bộ Chính Trị. Nhưng phần chắc là vận mạng dân tộc sẽ thê thảm hơn nhiều trước thành tích của Vịnh trong Tổng Cục 2 (tình báo quân đội) và những thập thò trao đổi tin tức với Cục Tình Báo Hoa Nam.

     - Cấp lãnh đạo CSVN chưa sẵn sàng từ bỏ quyền lực để chấp nhận một lãnh tụ kiểu “Boris Yeltsin Việt Nam”. Điểm qua các thành phần lãnh đạo CSVN tham gia đại hội 11 sắp tới, ta chỉ thấy xoàng xỉnh, không một khuôn mặt sáng gía nào có thể mạnh dạn đứng ra bảo vệ sự độc lập của Quốc Hội (dù đó chỉ là Quốc Hội bù nhìn được đề cử bởi Mặt Trận Tổ Quốc). Quốc Hội CSVN phải thực sự giám sát việc làm của đảng CSVN. Phải có kiến thức để hiểu biết vấn đề quốc gia. Phải lắng nghe ý kiến của giới trí thức và chuyên gia Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước. Các vấn đề lớn như dự án Bauxite rất nguy hại cho an ninh quốc phòng, môi trường và cả về kinh tế. Cho thuê đất đai biên giới và rừng đầu nguồn, hủy diệt thảm thực vật gây ngập lụt cho hạ lưu và có nguy cơ mất luôn phần đất cho thuê vì dân Tàu định cư vĩnh viễn trên đất đó. Dự án Đường Cao Tốc vay mượn phải trả đến đời con cháu cũng chưa dứt… Quốc Hội đó phải có trách nhiệm và biện pháp bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải và hải đảo như Hoàng Sa và Trường Sa, vô hiệu hoá các công hàm ngoại giao và hiệp định biên giới mà chính quyền CSVN đã ký kết với Trung Cộng…Tóm lại Quốc Hội đó phải có thực quyền để bảo vệ quyền lợi cho dân tộc Việt Nam chứ không phải làm bình phong cho đảng CSVN dể bề thao túng.

     Chắc chắn là chế độ CSVN phải sụp đổ. Nhanh hay chậm tùy hoàn cảnh và thời cơ. Nhưng nếu CSVN không sụp đổ một cách ôn hòa theo cách thế của Liên Sô vì thiếu lãnh đạo tầm cở và có bản lĩnh. Vậy mô thức sụp đổ tương tự nào có thể xãy ra cho CSVN ? Sau đây là những vấn nạn của chế độ này và các hệ quả của nó đưa đến mô hình sụp đổ:

1.- Lòng dân căm phẩn vì “Đại Họa Mất Nước”:




Cuộc Cách Mạng Toàn Dân. Dân chúng Romania tay không đương cự với chiến xa

     Chúng ta vẫn có lý do khi tin rằng tập đoàn lãnh đạo CSVN từ thượng tầng cho đến các cấp vẫn “mũ ni che tai”, lo tom góp tài sản riêng cho gia đình, dòng tộc để chuyển ra nước ngoài. Họ ý thức rất cao một phong trào quần chúng trên địa bàn rộng lớn sẽ nổ ra bất cứ lúc nào. Lòng dân đang nung nấu là vấn đề không thể chối cãi hay che dấu được. Với bản chất ươn hèn với ngoại bang nhưng lại tham tàn và bạo ngược với quần chúng nhân dân, đảng CSVN sẽ không đủ can đảm chọn thái độ tích cực bảo vệ tổ quốc và cải tổ chế độ cho một nền móng Dân Chủ Pháp Trị vững bền. Chắc chắn sau Đại Hội 11, CSVN lại càng thêm bộc lộ tính nô bộc đối với người thầy và cũng là ông chủ lớn Trung Quốc. Đảng CSVN không có những cá nhân đầy đủ bản lĩnh như Gorbachev và Yeltsin nên vấn đề chuyển giao quyền lực êm thấm sẽ vô phương xãy ra. Sẽ có một sự liên kết rộng rãi để hình thành một khối đại thể dân tộc trước “Đại Họa Mất Nước” (2).




2. Cuộc sống người dân ngày càng lầm than khốn khổ:

     Do nạn lạm phát phi mã, tình hình đời sống của giới bình dân và quãng đại quần chúng cực kỳ bi thảm (3). Thống kê chính thức của nhà nước CSVN cho biết lạm phát tăng 11% các mặt hàng, riêng thực phẩm tăng 15%. Nhưng thực ra theo thống kê không chính thức của người dân cho thấy nhiều mặt hàng đặc biệt là thực phẩm đã tăng lên đến 50%. Nạn lạm phát tại Việt Nam phần lớn do dân chúng không tin tưởng vào thị trường và giới chức có thẩm quyền cấu kết gian thương đầu cơ tích trữ tạo lợi nhuận riêng. Cộng thêm hối xuất đô la lên do các “đại gia” bỏ tiền thu mua đô la nên tiền Việt Nam xuống gía 17% (gía chính thức ngân hàng công bố nhưng không có đô la để đổi), thị trường chợ đen chênh lệch trên dưới 30%. Chính phủ vội vã tăng lãi xuất lên (thông báo chính thức 9% và có thể cao hơn nữa) để chận đứng lạm phát. Đây là quyết định sai lầm tệ hại nhất khi bắt chước FED của Hoa Kỳ, thay vì chận đứng tệ nạn đầu cơ. Hành động tăng lãi xuất đó cũng chận luôn đà tăng trưởng kinh tế vốn dĩ đã èo uột rồi! Đời sống nhân dân càng khó khăn gấp bội bởi sự tối tăm của các chính sách kinh tế ngu muội và sai lầm. Hố cách biệt giàu nghèo giữa giới đặc quyền đặc lợi và quảng đại quần chúng càng chênh lệch hơn bao giờ hết. Đại đa số người dân lao động nghèo khó đang vật vã bán thân vì miếng cơm manh áo. Lòng căm phẩn dâng cao đến mức độ người dân khó thể nào tiếp tục chấp nhận được.

     Hàng triệu công nhân làm việc cho các công ty cả nội địa lẫn ngoại quốc đang bị bóc lột sức lao động một cách tàn tệ và bị chèn ép, hành hạ bởi giới chủ nhân ngoại quốc hàng ngày. Dưới sự giám thị và tiếp tay đàn áp của chính quyền, qua sự móc ngoặc giữa “công đoàn nhà nước” với giới chủ nhân, nhân công chịu đựng không khác gì một cổ hai tròng. Trắng trợn nhất là đạo luật cấm công nhân đình công đi ngược lại mọi công pháp quốc tế và là đòn chí mạng đánh vào công nhân vì sự tự vệ duy nhất của họ là đình công!!! Bảo vệ chủ nhân ngoại quốc đàn áp chính người dân của mình: Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện hình là đảng Mafia phản dân hại nước.

     Thêm vào đó, mấy chục triệu nông dân đang khốn khổ vật vã đói khát trên vựa lúa do chính công sức mình tạo nên. Tại sao nông dân nghèo túng và đói khổ như vậy? Đó là do chính sách cho vay khắc nghiệt của ngân hàng nhà nước và chính sách thu mua đầy dẫy bất công. Khi cho nông dân vay vốn để mua giống, phân bón, thuốc sâu rầy và nhiên liệu v..v… nông dân phải chịu tiền lời cao và các hợp đồng ràng buộc. Khi thu hoạch, gía cả bị kềm lại có chủ ý và nông phẩm được thu mua rẽ mạt bởi tư nhân vì tập đoàn nhà nước… không đủ kho chứa! Chưa kể lề thói quan liêu vô trách nhiệm của các “Tổng Công Ty” khi ký hợp đồng cung cấp gạo và nông phẩm gía rẽ cho ngoại quốc làm thiệt hại nông dân mình. Góp phần đánh gục nông dân là thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu rầy mà không được chính quyền quan tâm trợ giúp. Có thời đại nào trong lịch sử Việt Nam mà con cái của nông dân phải bị bán đi làm tì thiếp, nô lệ tình dục và làm lao nô khắp nơi trên thế giới vì nghèo đói? Duy nhất chỉ có thời đại Cộng Sản mới sản sinh những tai họa quái đản cho dân lành.

3. Chính sách sai khiến, đàn áp trí thức và tôn giáo:


Cảnh nhân dân Romania nổi dậy trên đường phố Bucharest 1989

     Đảng CSVN lo sợ giới trí thức và tôn giáo lãnh đạo toàn dân nổi dậy chống lại chính quyền nên đã sử dụng triệt để công an và những phần tử bất hảo, vô thần, đàn áp những nhà trí thức bất đồng chính kiến và các lãnh tụ tôn giáo, làm cho nhân tâm càng thêm công phẩn. Sức chống đối càng thêm được tập trung và quyết liệt hơn khi thời cơ đưa tới. Sẽ có một cuộc Cách Mạng Toàn Dân! Một phong trào quần chúng liên kết nhau lan rộng trên bình diện toàn quốc chống lại bạo quyền để bảo vệ đất nước. Đảng CSVN sẽ bị phân hóa và bị vỡ ra làm hai hay nhiều mảnh là chuyện hoàn toàn có thể xãy ra.

     Ta có thể nhìn thấy được rõ ràng, chỉ cần một biến cố gây tác động nhân tâm rộng lớn, hoặc một sự đàn áp thô bạo sẽ như một mồi lửa dấy động mọi thành phần nhân dân. Những người đang bất mãn đời sống nhọc nhằn nghèo khó và căm ghét chính quyền. Giới trí thức và những nhà hoạt động Dân Chủ cùng tập thể thanh niên sinh viên nếu biết vận dụng quần chúng nhân dân thì các lực lượng công nhân, nông dân sẽ là nòng cốt đứng lên lật đổ bạo quyền. Tiếp tay để tạo cuộc Cách Mạng Quần Chúng là các khối giáo dân Công Giáo, Phật Giáo, Tin Lành, Hòa Hảo…Lực lượng sinh viên học sinh HS-TS-VN, các tổ chức Dân Oan và quảng đại quần chúng sẽ cùng tham gia. Tổ chức chính đảng Quốc Gia sẽ cùng sát cánh với các lực lượng nhân dân để tạo nên cuộc Cách Mạng Toàn Dân. Các chính đảng và tổ chức đấu tranh tại Hải Ngoại sẽ vận động Quốc Tế yểm trợ phong trào Dân Chủ của nhân dân Việt Nam, vận động Quốc Tế để cùng áp lực Trung Cộng không được can dự vào nội bộ Việt Nam giải cứu đàn em. Đồng bào Hải Ngoại sẽ sát cánh cùng Quốc Nội yểm trợ mọi phương tiện đấu tranh giải trừ quốc nạn Cộng Sản…

     Xem ra cuộc Cách Mạng Toàn Dân của Việt Nam sẽ mang màu sắc tương tự một cuộc nổi dậy của nhân dân Romania chống chế độ độc tài Cộng Sản, lật đổ và xử tử hình nhà độc tài Nicolae Ceausescu. Rất khó cho Việt Nam có được cuộc cách mạng nhung như là một diễn biến hòa bình, hay một cuộc cách mạng màu do bởi sự ngoan cố và tham lam vô độ của đảng CSVN. Một cuộc Cách Mạng Toàn Dân có lẽ sẽ là giải pháp thích hợp nhất để bảo vệ giang sơn gấm vóc do cha ông để lại. Đây là lúc từng đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam nên sám hối, trở về với dân tộc. Bài học của đảng Cộng Sản Liên Sô được “hạ cánh an toàn” nhờ không đàn áp nhân dân khốc liệt như đảng Cộng Sản Romania đáng để cho người Cộng Sản Việt Nam suy ngẫm.

QUỐC PHÙNG


*(1) Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
http://www.vietnamhumanrights.net/vi.../phanmodau.htm
(2) DVD “Đại Họa Mất Nước” do Đại Gia Đình Nguyễn Ngọc Huy thực hiện:
http://www.ustream.tv/recorded/11306638
(3) Lạm phát tại Việt Nam 2010
 

Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Sun May 25, 2014 12:34 am


Bức tường Berlin sụp đổ: Nhìn lại bài học lịch sử 1989


Tú Anh (RFI)


Bức tường Berlin bên phía tây, trước ngày bị sụp đổ
Jean-Claude Mouton


Là sản phẩm của Chiến tranh lạnh và cũng là biểu tượng của thế giới lưỡng cực bên tự do tư bản bên độc tài Cộng sản, bức tường Berlin được phía Đông Đức xây dựng vào tháng 8 năm 1961 và sụp đổ vào ngày 9/11/1989. Vì sao bức tường chia cắt không tồn tại được trăm năm như lãnh đạo Đông Đức Honecker tuyên bố trước đó vài tháng ?


24 năm trước đây, bức tường Berlin sụp đổ trong bối cảnh hàng triệu dân Đông Đức biểu tình phản kháng tình trạng ù lì của chế độ Cộng sản và đòi quyền tự do sang Tây Đức.

Lễ hội tưng bừng vào đêm 09/11/1989 chào đón người dân hai miền được trùng phùng sau gần 40 năm chia cắt được xem là hệ quả của ngọn gió cải cách mà lãnh đạo Liên Xô thời bấy giờ là Mikhai Gorbatchev thực hiện từ năm 1985 thổi qua Đông Âu.

Một tháng trước khi xảy ra sự kiện lịch sử « bức tường ô nhục » sụp đổ, thì vào ngày 07/11/1989, nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Cộng Hòa Dân Chủ Đức, đích thân lãnh đạo Liên Xô kêu gọi Đông Đức « cải cách sâu rộng ».

Ngày 03/10/1990 nước Đức thống nhất. Bức tường Berlin sụp đổ kéo theo sự tan rã của toàn khối Cộng sản Đông Âu.

Tình trạng chính trị, kinh tế, xã hội Đông Đức lúc đó như thế nào? Vì sao giới lãnh đạo không thấy được chế độ bị thoái trào ?

Nhà nghiên cứu chính trị kinh tế Âu Dương Thệ, Dormund, Đức Quốc phân tích :

Từ « Bức tường Berlin còn tồn tại 50 -100 năm nữa » tới « Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”.





I. Sự sụp đổ của Cộng Hòa Dân Chủ Đức


RFI đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu chính trị kinh tế Âu Dương Thệ, Dormund, Đức Quốc.

RFI : Bức tường Berlin đã sụp đổ như thế nào?

Âu Dương Thệ : Bức tường Berlin chia cắt thủ đô Berlin được xây rất đột ngột từ 1961 và được bảo vệ ngày đêm rất nghiêm ngặt và sắt máu bởi những lực lượng công an và quân đội Đông Đức. Bức tường Berlin là một biểu tượng ngăn chia giữa chế độ toàn trị Cộng sản Đông Đức (DDR) và chế độ dân chủ đa nguyên ở Tây Đức khi ấy. Nhưng đối với 17 triệu dân Đông Đức (ĐĐ) khi ấy và những người yêu chuộng tự do dân chủ thì đây là một „bức tường ô nhục“!

Mãi tới tháng 6.1989 TBT và Chủ tịch nước ĐĐ Erich Honeker vẫn còn tuyên bố ngay tại Mạc tư khoa là “Bức tường Berlin sẽ còn tồn tại 50 tới 100 năm nữa!“. Nhưng chỉ gần nửa năm sau, ngày 9.11.1989, hàng chục ngàn nhân dân Đông Berlin và Tây Berlin đã leo lên bức tường chia cắt hai thành phố và đục đổ bức tường ô nhục, chấm dứt chế độ toàn trị và mở đường cho 17 triệu dân DDR thống nhất với Tây Đức trong hòa bình và tự do dân chủ. Bức tường Berlin sụp đổ chỉ sau 3 tuần Bộ Chính trị Cộng sản Đông Đức truất phế Honecker. Và chỉ một ngày sau (8.11.89) Bộ Chính trị cho điều tra về sự lạm dụng quyền lực và tham nhũng của Honecker sau gần 20 năm làm Tổng bí thư và Chủ tịch nước.

RFI : Cuộc cải tổ sâu rộng ở Liên Xô của Mikhail Gorbatchev ảnh hưởng gì tới sự sụp đổ của Đông Đức?

Chế độ toàn trị ở Đông Đức không do nhân dân Đông Đức thành lập mà do Hồng quân Liên Xô dựng lên sau khi chế độ độc tài Hitler thất bại trong Thế chiến Thứ 2 (1939-1945). Cho nên dưới con mắt của nhân dân Đông Đức, những người cầm đầu Cộng sản Đông Đức chỉ là cánh tay dài của đảng Cộng sản Liên Xô, không được sư tín nhiệm của nhân dân. Hiến pháp của Đông Đức cũ - cũng tương tự như Hiến pháp của chế độ toàn trị ở Việt Nam - ngay phần mở đầu và Điều 1 đã đề cao chủ nghĩa Marx-Lenin và đảng Cộng sản Đông Đức là lực lượng lãnh đạo toàn xã hội.

Như vậy chế độ toàn trị ở Đông Đức chỉ có thể tồn tại chừng nào còn được Liên Xô ủng hộ và chừng nào Mạc tư khoa còn nắm vững tình hình cả trong lẫn ngoài. Các điều kiện này đã bị mất dần từ khi Gorbatchev làm Tổng Bí thư đảng Cộng sản Liên Xô (1985) với những thay đổi toàn diện các chính sách đối nội và đối ngoại, nhất là với Khối quân sự Vac-xa-va bao gồm nhiều nước Cộng sản Đông Âu, trong đó có Đông Đức. Biến động chính trị vào mùa hè 1989 ở Ba Lan chuyển từ độc tài toàn trị sang dân chủ đa nguyên đã như trận động đất khủng khiếp trong Thế giới Cộng sản. Liên Xô không can thiệp, vì Gorbachov đã đề ra chủ trương không can thiệp vào nội bộ các nước đồng minh. Chấn động chính trị rất mạnh khi ấy đã dội tới cả VN khiến Nguyễn Văn Linh phải trở lại với chính sách đàn áp văn nghệ sĩ và báo chí, đồng thời khởi đầu giải pháp cầu hòa với Bắc kinh.



RFI : Tại sao nhóm lãnh đạo CS Đông Đức đã mất uy tín với nhân dân?

Sau Thế chiến 2 cả Tây và Đông Đức kinh tế hầu như tàn rụi, nhưng Tây Đức chỉ sau khoảng 2 thập niên đã trở thành một cường quốc kinh tế ở Âu Châu với kĩ nghệ tân tiến và trên 60 triệu dân được hưởng cuộc sống sung túc và tự do. Trong khi đó kinh tế Đông Đức theo kế hoạch hóa, công hữu đất đai nên không ngóc đầu lên được. Chỉ vài thí dụ dẫn chứng, Auto hiệu Trabant của Đông Đức tuy rất tồi về kĩ thuật, nhưng muốn mua cũng phải đặt cọc cả hàng năm trước. Sau khi bức tường Berlin bị đổ hàng vạn người Đông Đức chạy vào các siêu thị ở Tây Berlin, thứ hàng được họ ưa chuộng nhất là chuối tiêu. Vì ở Đông Đức chuối tiêu là một xa xỉ phẩm phải nhập cảng bằng ngoại tệ, nhưng Cộng Hòa Dân Chủ Đức không đủ ngoại tệ. Trong khi đó sau khi Đức thống nhất người ta đã tìm thấy trong các biệt thự của các ủy viên Bộ chính trị chỉ toàn các sản phẩm hạng sang, nhập cảng từ Tây Đức và các nước tư bản như TV, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa chén …!

Các sự kiện đó chứng minh là, những người lãnh đạo Đông Đức khi ấy chỉ là những người đạo đức giả, sống trong nhung lụa, không quan tâm tới cuộc sống của người dân, nhưng vẫn tiếp tục cai trị bằng chế độ công an mật vụ - Stasi - và vẫn đề cao chủ nghĩa Marx-Lenin đã hoàn toàn bất cập. Ngay cả khi Gorbatchev đã tiến hành cải tổ sâu rộng ở Liên Xô, nhưng ông Honecker vẫn từ chối cải cách. Cho nên nhân dân Đông Đức ngày càng bất mãn. Vì thế trong dịp dự lễ Quốc khánh thứ 40 của Đông Đức Gorbatchev đã cảnh báo “Kẻ nào đi muộn sẽ bị đời trừng phạt”. Chính khi ấy Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cũng có mặt trong cuộc lễ này và tính ở lại nghỉ một thời gian, nhưng khi Honecker bị truất phế (18.10.89), đã phải hấp tấp về nước.

RFI : Phong trào đòi dân chủ của nhân dân Đông Đức khi ấy ra sao?

Theo dõi nội tình của Đông Đức từ khi được Liên Xô dựng lên vào sau Thế chiến Thứ hai thì thấy, ngay 1953 người dân Đông Đức đã có cuộc nổi dậy rất lớn, nhưng đã bị các sư đoàn Hồng quân Liên Xô sử dụng thiết giáp đàn áp. Các cuộc vận động dân chủ phải tạm thời chuyển vào các hoạt động xã hội -tôn giáo, đặc biệt của Giáo hội Tin lành ở Đông Đức. Mãi tới khi Hiệp ước An ninh và Hợp tác Âu Châu (KSZE) được kí kết ở Thủ đô Helsinki (Phần Lan) 1975 giữa một bên là Liên Xô cùng các nước Cộng sản Đông Âu và bên kia là Mĩ, Gia Nã đại và các nước Tây Âu thì các cuộc vận động cho nhân quyền và tự do dân chủ lại bộc pháp trở lại rất nhanh và rất mạnh. Vì Hiệp ước Helsinki, ngoài việc gìn giữ hòa bình và hợp tác ở Âu Châu, còn qui định cả việc thừa nhận trao đổi thông tin giữa hai khối và bảo đảm nhân quyền cùng các quyền tự do căn bản.

Lúc đầu những người sáng lập tổ chức “Sáng kiến vì Hòa bình và Nhân quyền” (IFM) đưa ra phong trào “Hòa bình và Nhân quyề” theo những qui định của Hiệp ước Helsinki với chương trình hành động gần giống Hiến chương 77 của nhóm ông V. Havel (Tiệp) và trở thành nhóm đối lập quan trong ngay trong lòng chế độ toàn trị DDR.



Các biến động chính trị lớn vào mùa hè 1989 ở Ba lan đã làm bùng nổ phong trào tị nạn của hàng chục ngàn người dân Đông Đức chạy sang các nước lân bang như Hung, Tiệp và vào các sứ quán Tây Đức xin tị nạn chính trị. Chính các cuộc tị nạn đông đảo này đã gây thêm phân hóa trầm trọng ngay trong Bộ chính trị ĐCS ĐD và khiến cho phong trào đòi tự do dân chủ ở Đông Đức đạt đến cao độ. Một phong trào đối lập mới ra đời ở Đông Đức là “Tân Diễn đàn“ (Neus Forum) vào cuối hè 1989 và ra Lời kêu gọi “Vùng lên 89“ (Aufbruch 89) đòi đối thoại giữa nhân dân với nhà cầm quyền để cải tổ chính trị theo hướng dân chủ. Chỉ vài tháng sau đã có trên 200.000 người kí tên ủng hộ Lời kêu gọi.

Các cuộc biểu tình vào chiều Thứ hai mỗi tuần xuất phát từ nhà thờ Nikolaikirche ở Leipzig với các khẩu hiệu „Chúng tôi là nhân dân“, „Khước từ bạo lực“ vào 4.9.89 đã có sức thu hút sự tham gia tích cực của nhân dân rất mạnh, đầu tháng 9 chỉ có 1200 người nhưng tới cuối tháng 10 đã có tới nửa triệu người tham dự. Nó còn thuyết phục cả nhiều cán bộ cao cấp đảng Cộng sản Đông Đức ở địa phương tham gia và nhiều đơn vị công an, quân đội đã chống lại lệnh của Honecker từ chối dùng vũ lực đàn áp người biểu tình. Chỉ một tuần trước khi bức tường Berlin sụp đổ đã diễn ra cuộc biểu tình rất lớn ở quảng trường Alexanderplatz , Đông Berlin với khoảng nửa triệu người tham dự.

RFI : Tây Đức và Liên Hiệp Châu Âu (EU) đã đóng vai trò như thế nào đối với các phong trào đòi dân chủ ở DDR và Đông Âu?

Cuộc „Cách mạng nhung“ diễn ra ở Đông Đức và hầu hết các nước Cộng sản Đông Âu đã diễn ra trong hòa bình, mở ra một kỉ nguyên mới về phương thức thay đổi thể chế chính trị so với các thế kỉ trước đây chỉ thuần dùng bạo lực. Thành công nhanh chóng, lớn lao và ít hao tổn nhân mạng và tài sản này là sáng kiến và công lao đầu tiên của chính nhân dân Đông Đức và các nước Đông Âu. Điều này thật rõ ràng không ai có thể phủ nhận được. Vì họ đã biết kết hợp sức mạnh nội lực và sức mạnh quốc tế của thời đại vào đúng lúc, đúng chỗ.

Nhưng sự hậu thuẫn cả về tinh thần lẫn vật chất của Tây Đức cho Đông Đức và Liên Hiệp Châu Âu cho toàn bộ Đông Âu là một yếu tố cực kì quan trọng. Chính sự hưng thịnh vững vàng của Liên Âu (khi ấy với 12 nước và khoảng 300 triệu người) cả về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đã trở thành một tấm gương cho các cuộc vận động dân chủ tự do ở Đông Đức và Đông Âu trong thập niên 80 vừa qua. Trong các sách Hồi kí của cựu Thủ tướng Đức Helmut Kohl và cựu Ngoại trưởng Đức D.Genscher, cũng như nhiều sách nghiên cứu của các chuyên gia chính trị đã xác nhận, Liên Âu là hậu phương vững chắc cho sự thống nhất Đức và thay đổi thể chế chính trị trong hòa bình và nhanh gọn ở Đông Âu trên hai thập niên trước đây.




II. Cuối trào của triều đình XHCN ở VN?


RFI : Đâu là những tương đồng lớn giữa hai chế độ toàn trị ở Đông Đức và Việt Nam?

Ngày 23.10 trong cuộc họp tổ ở Quốc hội bàn về „Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992“ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố “Xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”. Khi chọn cách chơi chữ như vậy, người cầm đầu chế độ đồng thời là lí thuyết gia của Đảng muốn để cho mọi người biết là, chế độ toàn trị sẽ còn tồn tại tiếp tục cả thế kỉ nữa ở Việt Nam. Một sự tình cờ là, ý tưởng này cũng giống như tuyên bố của Honecker vào giữa năm 1989 „Bức tường Berlin còn tồn tại 50-100 năm“. Tuyên bố giống nhau của hai thủ lãnh độc tài cho thấy, đây là cách nói cường điệu khi họ phải đối diện với nguy cơ. Nhưng điều gì đã xẩy ra ở DDR chỉ nội sáu tháng sau đó thì đã trở thành một sự kiện lịch sử ai cũng biết.

So sánh hai chế độ toàn trị ở VN hiện nay và ở cựu Đông Đức thì tuy có một số điểm khác nhau, nhưng tương đồng là chính. Những người cầm đầu chế độ toàn trị ở VN, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng, cũng rất giáo điều và bảo thủ, bất chấp tình hình quốc tế và trong nước đã thay đổi triệt để, nhưng họ vẫn chống lại nguyện vọng của nhân dân, như Honecker trước đây hơn 20 năm ở ĐĐ. Điển hình mới nhất như trong việc gọi là sửa đổi Hiến pháp. Khởi đầu họ kêu gọi mọi người góp ý kiến và sẵn sàng nghe cả ý kiến trái chiều. Nhưng khi nhân dân thuộc nhiều giới công khai đóng góp ý kiến, đại biểu cụ thể là “Kiến nghị 72” do nhiều nhân sĩ , trí thức trong và ngoài nước đưa ra và được cả hàng ngàn người thuộc nhiều giới- kể cả nhiều đảng viên tiến bộ- kí tên đồng ý thì ông Trọng đã rất kiêu căng ngạo mạn kết án “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức … Xem ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Có tam quyền phân lập không? Có phi chính trị hóa quân đội không? Người ta đang có những quan điểm như thế, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! » Đúng ra phải trân trọng đối thoại với dân, nhưng ông Trọng đã cao ngạo khinh thường những đóng góp thành thực này. Vì vậy chính ông Trọng đã tự đánh mất tư cách và khả năng của người lãnh đạo!



Tại Hội nghị Trung ương 8 đầu tháng 10 những người bảo thủ và các nhóm lợi ích trong Trung ương đã thỏa hiệp ngầm với nhau bắt Quốc hội phải thông qua „Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp 1992“ ngay trong kì họp thứ 6 này để mong kéo dài chế độ độc tài. Mặc dầu những điều căn bản vẫn còn tranh cãi, như để ĐCS độc quyền tiếp tục, kinh tế Nhà nước vẫn nắm chủ đạo, đất đai vẫn thuộc quyền công hữu, quân đội và công an phải tuyệt đối trung thành với Đảng…!

RFI : Sự bất lực và tha hóa đạo đức của những người có quyền lực ở Việt Nam như thế nào và dẫn tới những hậu quả gì?

Chính ông Trọng và các ủy viên Bộ chinh trị đã biết rằng, việc duy trì chế độ độc đảng, trong đó giành quyền ưu đãi gần như tuyệt đối cho những người có quyền lực ở trung ương và địa phương đã không làm chế độ ổn định, mà chỉ phát sinh thêm và trầm trọng hơn tệ trạng tham nhũng của bọn quan tham, biến các tập đoàn nhà nước thành nơi chia quyền, đục khoét tài sản quốc gia một cách vô trách nhiệm. Điển hình như việc làm ăn thua lỗ của Tập đoàn Vinashin vừa phải phá sản ít ngày trước, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Than Việt Nam…đã làm thất thoát cả hàng chục tỉ Mĩ kim. Trong vụ Vinashin Nguyễn Tấn Dũng đã hai lần xin lỗi và nhận trách nhiệm, nhưng ông ta vẫn chỗm chệ ở ghế Thủ tướng!

Chỉ có nhân dân phải gánh vác các hậu quả tại hại này. Rõ ràng nhất như nạn lạm phát cao và thường xuyên trong nhiều năm làm cho cuộc sống của nhân dân rất cơ cực; nợ công ngày càng phình ra đang tới mức mất kiểm soát –trong báo cáo vừa qua tại Quốc hội, Nguyễn Tấn Dũng đòi tăng ngân sách lên 5,3%. Nhiều chuyên viên Việt Nam và các tổ chức tài chánh quốc tế, như Ngân hàng Thế giới, đã cho biết, các con số nợ công mà chính phủ đưa ra còn thấp hơn rất nhiều so với thực tế! Trong ba năm trở lại đây mức tăng trưởng kinh tế của VN mỗi năm lại đi xuống, trong khi nhiều nước trong khu vực lại đang lên!



Trong khi tiền thuế của nhân dân và tài nguyên của đất nước bị lạm dụng và lãng phí khủng khiếp thì sự giầu lên nhanh và bất chính của cán bộ có quyền đã trở thành công khai. Chính ông Trọng đã nói trong nhiều Hội nghị trung ương và qua phong trào chỉnh đảng với các cuộc tự phê bình và phê bình ngay trong Bộ chính trị kéo dài nhiều tuần lễ trong năm 2012…. Nhưng việc chống tham nhũng đã thất bại, không những thế dự tính đòi kỉ luật Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã không thành và đang tạo nên sự chống đối công khai lẫn nhau. Hiện nay Chủ tịch nước Trương Tấn Sang còn kể tiếu lâm, chế diễu công khai cả Nguyễn Phú Trọng lẫn Nguyễn Tấn Dũng.

Nguy hiểm nữa là, do những khó khăn kinh tế, tài chánh và không được sự tin cậy của nhân dân, nên những người lãnh đạo chế độ ngày càng phải quỵ lụy Bắc kinh nhằm mưu đồ bảo vệ cái ghế và tiền bạc. Điển hình nhất là Thông cáo chung 10 điểm ngày 15.10 giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã mở toang cửa cho Bắc kinh tham dự và can thiệp vào nhiều lãnh vực của VN từ quốc phòng, an ninh, chính trị, ngoại giao tới kinh tế, tài chánh, báo chí và văn hóa tư tưởng! An ninh và chủ quyền của Việt Nam đang bị đe dọa!

Nói tóm lại, vì thiếu năng lực và tha hóa đạo đức, nên những người đang nắm quyền lực đang đục ruỗng gia tài của Đảng do các thế hệ trước để lại!

RFI : Các cuộc vận động dân chủ ở trong nước đang phát triển như thế nào?

Chính vì thế, mặc dầu bị đe dọa của chế độ công an trị cực kì tàn bạo, nhưng nhân dân nhiều giới, từ trí thức, chuyên viên, thanh niên, công nhân và nông dân và cả nhiều đảng viên biết quí tự trọng đã không còn sợ. Trong những năm gần đây nhiều giới ở trong nước theo dõi rất sát tình hình thời cuộc và đặc biệt xung đột ở đầu não chế độ toàn trị. Nhiều cuộc vận động đã bung ra trong các lãnh vực đang có bức xúc lớn, như các biểu tình chống sự xâm lấn của Bắc kinh, ủng hộ các vụ khiếu kiện đất đai của nông dân, nhà thờ, đòi tự do cho các thanh niên và các Blogger bị giam giữ trái phép, ra các Kiến nghị và Tuyên bố về sửa đổi Hiến pháp…Phương pháp tranh đấu là hòa bình, khước từ bạo lực, với mục tiêu trong sáng là chấm dứt đàn áp, công an trị và bảo vệ nhân quyền, tiến tới dân chủ đa nguyên. Vài năm trước chỉ có một số người, nhưng nay đang lan tỏa ra nhiều giới và sự tham gia ngày càng tích cực và đông đảo.

Đặc biệt nữa là, các cuộc vận động này đã biết tận dụng các phương tiện thông tin nhanh chóng và quảng đại là Internet cả trong nước lẫn ngoài nước. Nên không chỉ nhiều giới ở trong nước mà cả báo chí quốc tế và chính giới các nước dân chủ biết rất rõ về Kiến nghị 72 của hàng ngàn trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên và đảng viên tiến bộ đòi thay đổi thực sự và toàn diện Hiến pháp, các tuyên bố của Phật giáo và Công giáo, « Tuyên bố về Thực thi Quyền Dân sự và Chính trị », « Tuyên bố 258 » của những người trẻ Việt Nam !, lời kêu gọi từ bỏ Đảng CS và lâp đảng Dân chủ Xã hội của Lê Hiếu Đằng, hay mới đây lời nói rất khẳng khái và đúng đắn của nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên mới 21tuổi tại tòa án « Tôi yêu Tổ quốc, nhưng xin đừng đánh đồng với Đảng ».



RFI : Rút ra bài học nào từ Đông Đức, Đông Âu tới Việt Nam ?

Thế hệ Cộng sản Việt Nam đầu tiên đã biết thu phục nhân dân và có công rất lớn trong việc giành lại độc lập. Đây là gia tài rất quí để lại. Nhưng các thế hệ tiếp sau đã không biết gìn giữ và vun bồi. Trái lại, càng về sau bọn con cháu chỉ thích ham chơi hoang phí và làm điều bạo ngược chống lại dân, tự đánh mất tư cách lãnh đạo. Họ còn đang tháo khoán cho Bắc kinh thực hiện chính sách bành trướng ở biển Đông và bòn rút tài nguyên của Việt Nam . Chính vì thế họ là những người đang đục ruỗng gia tài của Đảng, không những thế còn đang chia bè, chia cánh, tranh giành quyền lợi ích kỉ và thanh toán lẫn nhau!

Vì vậy nhân dân ta đã thức tỉnh và đang đứng dậy, không thể chờ và tin vào những lời hứa cuội của những người cầm đầu chế độ toàn trị! Các cuộc vận động dân chủ đang lên cao ở trong nước cho thấy, nhân dân Việt Nam đang tự tin, quyết nắm lấy tương lai trong chính tay mình.

Tóm lại, trước đây trên hai thập kỉ nhân dân Đông Đức và các nước Cộng sản Đông Âu đã đứng dậy chấm dứt các chế độ toàn trị của các tập đoàn lãnh đạo tham nhũng, bất lực và ích kỉ. Nay nhân dân Việt Nam cũng đang hành động chính nghĩa như vậy!
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Mon May 26, 2014 2:03 pm


Giải “Cộng” nhi thoát ! (Bỏ Cộng sản thì thoát)





Hà Sĩ Phu (Danlambao) - Trong “Thư gửi người đang yêu” nhà văn Phạm Đình Trọng đã nói với những bạn bè còn vương vấn chút “yêu đương” với Chủ nghĩa Cộng sản, rằng chủ nghĩa Cộng sản mà học thuyết Mác-Lê vạch đường là một chủ nghĩa sai lầm, chỉ gây ra tội lỗi với đất nước, không thể sửa chữa mà chỉ có cách duy nhất là xoá bỏ tận gốc.

Có một thực tế là trong nước cũng không ít người đã suy nghĩ gần giống như vậy nhưng còn đắn đo chưa nói hết ra thôi. Nhưng kẻ xâm lược đâu có chờ ta, chúng cứ khẩn trương lấn tới, ngày một nguy hiểm. Nay quân xâm lược đã riễu binh đến sát cửa nhà, thậm chí vào rất sâu trong nội tình, nội địa. Trước tình hình ấy, nhiều Blogger đã bày tỏ ý kiến rốt ráo quyết liệt hơn trước. Tôi xin liên kết nhiều ý kiến về lý luận và thực tiễn đã có trên công luận, từ gốc đến ngọn, nói gọn lại cho rõ ràng hơn.

1. Nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lê đã xong về LÝ LUẬN:

Chủ nghĩa Mác-Lê [1] là một lý thuyết muốn làm điều tốt nhưng nội dung tư duy lại phi khoa học, hoang tưởng, nên sau những phấn khích ban đầu, cuối cùng chỉ tạo ra những xã hội phi lý, đảo ngược luân thường, kìm hãm và phá nát xã hội, tạo những cơ hội bằng vàng cho những kẻ cơ hội chính trị lợi dụng nhảy lên thành những bạo chúa mới, và gây những tai hoạ cực lớn cho nhân loại, vì thế cần phải vứt bỏ.

Trải hơn một thế kỷ và trên phạm vi toàn nhân loại, đến nay nhận thức khoa học đào thải chủ nghĩa hoang tưởng ấy đã hoàn tất. Quanh vấn đề phê phán chủ nghĩa này bây giờ nói gì cũng chỉ là lặp lại (hoặc nhai lại) những điều đã giải quyết xong. Với một chân lý đã hiển nhiên thì mọi lý luận dài dòng đều là thừa. Chân lý đã có (căn cứ vào nhân loại văn minh) thì mặc nhiên sử dụng đâu cần chứng minh lại? Chân lý nằm ở cộng đồng nhân loại 200 nước, trong đó có tất cả những nước tiêu biểu nhất cho tri thức nhân loại, hay nằm ở 4 nước Cộng sản tàn dư đang cố biến thái để tồn tại?

Với người có tim óc bình thường, chân lý ấy khỏi cần bàn cãi. Còn với những luận điểm “chày cối” thì vấn đề lại sang một bình diện khác, không còn ở lý luận khoa học, càng lý luận khoa học bao nhiêu lại càng vô ích bấy nhiêu.

2. Vấn đề Mác-Lê chưa xong trong thực tế Việt Nam.

Mặc dù chân lý đã hiển nhiên, nhưng ở Việt Nam, với 3 “típ” người này thì chân lý ấy vẫn cứ “có vấn đề” để tranh cãi mãi không dứt:

- Những người quá yếu về tư duy khoa học nên lạc hậu về nhận thức,

- Những người có tư duy nhưng còn nặng duy cảm hơn duy lý, nên lúng túng chưa biết xử lý ra sao với gánh nặng tình nghĩa và di sản trong quá khứ.

- Những kẻ cố tình cãi chầy cãi cối vì mục đích duy lợi. Tổng số 3 “típ” người này đang còn rất đông và còn chi phối xã hội, nên trong thực tế câu chuyện Mác-Lê chưa thể chấm dứt.

Tuỳ theo mức độ và động cơ khước từ chân lý mà họ có thể còn những nét đáng yêu, đáng thông cảm, hoặc đã thành đáng trách, đáng giận, hoặc đáng ghét. Với những trường hợp ấy hoặc chỉ cần nói ngắn gọn, chỉ nói vào những chuyện thực tế, hoặc phải ứng xử bằng cách khác, tuyệt nhiên không cần lý luận bài bản dài dòng như một đề tài triết học chuẩn mực cho phí công.

Lại có người suy nghĩ đơn giản: Chính ĐCS ngày nay thực chất có theo Mác-Lê nữa đâu, ta nói Mác-Lê nữa làm gì? Xin thưa, ĐCS chỉ bỏ một phần trong “Mác Kinh tế” thôi, đâu có bỏ lề lối chuyên chính Mác-Lênin-Staline trong hệ thống chính trị? ĐCS còn cần đến Mác-Lê cả về danh nghĩa lẫn nội dung.

Chủ nghĩa Mác-Lê (và dẫn xuất là tư tưởng HCM) vẫn là cơ sở để một đảng CS độc quyền có thể tồn tại, vẫn là yêu cầu có tính chất sinh-tử để duy trì một xã hội với nhiều điều ngang trái như hiện nay, mất nó điều 4 Hiến pháp sẽ không có lý do tồn tại, đảng phải giữ nó như giữ con ngươi của mắt mình chứ không phải chỉ là cái vỏ hờ bên ngoài. Có điều là cái mà người ta cần đặt lên bàn thờ để sử dụng chưa hẳn đã là cái người ta coi là thiêng liêng (như sẽ nói thêm ở phần sau).

Thực chất khẩu hiệu “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” không phải nhằm cái đích XHCN xa xôi mà ai cũng biết là không có thật, mà phải hiểu một cách thiết thực đó là “Kinh tế thị trường kiểu Cộng sản”, tức là quá trình “tư bản hóa theo những bài bản có lợi nhất mà giới CS chóp bu độc quyền mong muốn”, là dùng chuyên chính Vô sản độc tôn để độc quyền tích lũy tư bản, không loại trừ quyền buôn bán tài nguyên và lãnh thổ quốc gia. Chừng nào quá trình tư bản hoá ấy đã xong thì cái vỏ Mác-Lê sẽ hết tác dụng, và buộc phải hết tác dụng, nếu không thì những nguyên lý “có áp bức thì có đấu tranh” và “đào mồ chôn Tư bản” sẽ quay ngược mũi dùi vào chính giai cấp Tư bản đỏ do Mác-Lê đẻ ra.



3. Vua đã cởi truồng , dân làm sao còn giữ “Lễ”?

Tại sao sự giả dối lại phát triển thành căn bệnh phổ biến và trầm kha như hiện nay?

Một chủ nghĩa phi khoa học lại muốn được mọi người tôn vinh là duy nhất khoa học để cả xã hội tuân theo thì đương nhiên phải lừa bịp, kết hợp với bạo lực áp đặt. Nhưng trong hai biện pháp đó thì cách lừa bịp, nguỵ biện, giả khoa học để ngụy tạo sự “tự nguyện” mới là chủ yếu, là sở trường, còn bạo lực với nhân dân chỉ là phương án 2, phương án bất đắc dĩ. Nhưng sang giai đoạn mạt kỳ, thực tế đã phơi bày hết thảy, sự mị dân mất tác dụng, thì phương án 2 dần trở thành chủ yếu, các ĐCS phải bỏ sở trường dùng sở đoản là dùng bạo lực với nhân dân. Uy tín không còn, chính danh không còn, ngai vàng còn giữ được nhờ hết vào đội KIÊU BINH khổng lồ, rải khắp hang cùng ngõ hẻm.



Công an thì ngang nhiên tuyên bố “chỉ biết còn Đảng còn mình”, quân đội chẳng những tuyên thệ trung với Đảng mà còn tuyên bố nhân dân nào theo đảng mới được coi là nhân dân!. Tóm lại, dưới gầm trời Việt Nam thì công an, quân đội đã là của đảng mà dân cũng là của đảng luôn (nếu không chấp nhận điều ấy thì thành thù địch). Kiêu binh vừa gắn chặt với Đảng của xã hội đỏ lại vừa công khai đi sóng đôi với côn đồ của xã hội đen trước thanh thiên bạch nhật, kiêu binh thản nhiên làm điều vô pháp luật, luật là tao, tao thích bắt là bắt cần gì phải lệnh, kiêu binh đánh chết người nếu thích, kiêu binh sẵn sàng văng cả đồ dơ vào mặt những vị đương quyền tối cao của họ nếu cần thiết…, khi kiêu binh đã muốn ra oai với dân thì mặt mũi các quan đương triều cũng chẳng là cái đinh gì, vì họ thừa biết lúc này ai đang cần đến ai?

Phơi hết sự tàn bạo bất cận nhân tình không cần che đậy, đấy là sự tự bóc trần, tự “khoả thân chính trị” của chế độ chuyên chính trong nước. Đồng thời, sự chuyên chính trong thế giới Cộng sản với nhau cũng “khoả thân” luôn không che đậy: việc chính thức thành lập thành phố biển Tam Sa với đầy đủ quy chế hành chính và quân sự, việc kêu gọi đầu tư ngay trong thềm lục địa đương nhiên của Việt Nam, đưa 23.000 tàu đánh cá tràn vào vùng biển Việt Nam… đã tự lột trần cái bản mặt giả dối của chủ nghĩa quốc tế Cộng sản đến mức không còn một chút lá nho, cả những 16 chữ vàng, quan hệ 4 tốt, và cuộc thi ca khúc Việt-Trung và lời kêu gọi tri ân kẻ xâm lược cũng trở nên trơ trẽn, hèn hạ không thể chấp nhận. Làm những điều quá hạ sách ấy, cả thế giới Mác-Lê như muốn thách thức công luận rằng “ông vô lý, ông tàn bạo, ông ngang ngược thế đấy, ông cứ làm trái ý dân, cứ làm trái công pháp quốc tế thế đấy làm gì được ông”?.

Thế là Vua đã cởi truồng tồng ngồng giữa phố như trong truyện ngắn Andersen mà hết thảy vẫn cứ đeo mặt nạ để ca ngợi bộ áo choàng quang vinh vô địch muôn năm! Thực chất chế độ Cộng sản chỉ là một chế độ phong kiến biến tướng [2], nên suốt nửa thế kỷ nay, dù oan ức đến mấy người dân vẫn phải cư xử, ăn nói nhỏ nhẹ cho phải đạo, nói có chỗ dù không bao giờ được trả lời, chỉ nói râu ria cấm nói vào chỗ phạm. Ngay cả khi có báo chí “lề Dân” ở trong nước thì lúc đầu cũng chỉ dám nói vào những việc cụ thể, không chạm đến Đảng, nếu muốn chạm đến gốc rễ của chủ nghĩa và lãnh tụ thì nói theo kiểu “ám chỉ” xa xôi nhưng ai cũng hiểu… Tất cả những sự đeo mặt nạ giả dối ấy chẳng qua là giữ LỄ trong một thể chế phong kiến cho phải đạo, ăn nói ra vẻ cung kính nể nang nhưng trong lòng đã hết tin yêu rồi.

Trò xiếc dối trá lẫn nhau, cố giữ bộ mặt đúng quy cách ấy không thể kéo dài mãi. Phía vua quan đã “khoả thân tới số” thì dân chúng còn cung kính giả vờ sao được? Dùng súng hoa cải uy hiếp kẻ cưỡng chế đất, bắt nhốt Công an để hỏi cung, phụ nữ liều mạng khoả thân để giữ đất… vân vân… là những hành động “phá cách”! (Nhưng mẹ con bà Lài đã lầm, cái giới hạn nhân cách tuyền thống mà bà tưởng là ranh giới phòng vệ cuối cùng thì trong thế giới của những Nguyễn Trường Tô-Hô đâu có giá trị gì?).

Đến giai đoạn này thì các Blogger trong nước cũng không giữ Lễ nữa: không cần ám chỉ mà kể thẳng tên người tên việc dù là thủ tướng hay tổng bí thư, hay Bộ Chính trị. Mác-Lê không còn là điểm nhạy cảm phải kiêng, lại còn nghi ngờ rằng Đảng và nhà nước có định chống xâm lược thật không (hay đã đồng tình với giặc xâm lược?), coi chính quyền chỉ là một đám cướp lớn phản động đã rõ ràng…

Một Blogger tối thân cận với trùm chuyên chính Vô sản đã gọi Hồ Chí Minh là ”Ku Nghệ” mà không bị khiển trách thì đủ biết trong hậu trường họ đối với cụ Hồ cũng chẳng thành kính gì. Lại xuất hiện Blog quanlambao (là tiếng nói của nội bộ Đảng, phe Chỉnh đốn đảng chống phe Tham nhũng) chửi thẳng như tát nước vào mặt đương kim Thủ tướng còn hơn đánh kẻ thù mà không bị trừng trị.

Những ranh giới cũ đã bị phá hết. Một giai đoạn đối thoại mới, bằng ngôn ngữ khác trước, đã bắt đầu. Phía Đảng và nhà nước đã dùng “NGÔN NGỮ” mới (gồm cả ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ hành động) thì nhân dân cũng dùng “ngôn ngữ” mới tương xứng. Vua đã cởi truồng, sao Dân còn giữ Lễ mãi được? Tinh thần nói đúng sự thật, nói hết sự thật đang sang một chất lượng mới.

Cuộc đối thoại mới đã bớt đi rất nhiều mặt nạ phù phiếm để đến gần với sự thật hơn, bổ ích hơn, khẩn trương hơn, hiệu quả hơn. Những lời mạn đàm này gửi đến bạn bè cũng trên tinh thần mới và ngôn ngữ mới ấy.

Một khía cạnh khác của nhu cầu nói thật là nhu cầu về phương pháp. Nếu phía quyền lực đã dùng phương pháp che đậy, nguỵ trang, mơ hồ, chung chung… mà phía phản biện cũng chơi đúng theo cách ấy thì thua! Trong bóng đá người ta bảo thế là “bị áp đặt lối chơi”, phải hết sức tránh. Lúc đầu nói thật quá e sẽ bị quy chụp nên phải thủ thế, nhưng nay đã khác.

4. Tình hình đã quá chín muồi cho một cuộc xâm lược.

Khi Trung quốc chính thức thành lập thành phố Tam Sa (gồm 2 quần đảo HS và TS của Việt Nam) và đưa 23.000 tàu đánh cá vào vùng biển VN nhiều người gọi hành động ấy là liều lĩnh và lấy làm ngạc nhiên. Thực ra không đáng ngạc nhiên và Trung Quốc không hề liều lĩnh khi đã thiết kế chiến lược một cách vững chắc và tính toán cụ thể chắc ăn trăm phần trăm.




Do vị trí địa-chính trị nên Việt Nam trở thành cửa ngõ mà chủ nghĩa Đại Hán buộc phải chiếm lĩnh để bành trướng về phía nam, nhưng Việt Nam trước đây đã kiên cường và mưu lược, phá tan mộng xâm lăng ấy của Trung Quốc.

Bất hạnh thay, sự xuất hiện trào lưu Quốc tế Cộng sản hoang tưởng đã cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội bằng vàng. Họ tận dụng những đặc trưng của Cộng sản để đưa con mồi vào lưới. Con mồi tự tìm đến cái bẫy, nhưng bị tấm màn “Quốc tế đại đồng” che mắt, nhìn cái bẫy thành chốn ruột thịt nương thân. Những năm 1949-1950 khai thông biên giới Việt Trung, một VN đã kiệt lực buộc phải dựa hẳn vào Trung Quốc để có sức đánh nhau với Pháp, những món hàng việt trợ từ vũ khí, quân trang quân dụng đến nhu cầu dân sinh là khởi đầu những trói buộc có tính chiến lược, là sợi dây thòng lọng đầu tiên, tận dụng những quan hệ thân thuộc của những người lãnh đạo đã có với Trung Quốc làm sợi dây liên kết.

Cái thòng lọng thứ hai là do chuyến ngoại giao cầu hòa của Việt Nam diễn ra tại Thành Đô ngày 3-4/9/1990. Xét trong quan hệ có tính lịch sử giữa 2 kẻ thù truyền kiếp thì cuộc cầu hoà này chính là cuộc tuyên bố đầu hàng. Với hiệp ước Thành Đô (nhất định lịch sử sau này sẽ bạch hoá) Trung Quốc đã tẩy rửa được dấu vết chống Trung Quốc của Việt Nam tượng trưng bởi ý chí chống Tàu cứng rắn của TBT Lê Duẩn và cuộc chiến biên giới 1979. Sau hội nghị Thành Đô kế hoạch xâm lược đã thiết kế xong những nước cờ căn bản.




Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam, tức Tổng Bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy. Muốn vậy  phải giữ cho VN yên vị theo chế độ Cộng Sản, không được dân chủ hoá, không được liên kết chiến lược với Hoa Kỳ.

Kết quả của chủ trương liên kết chiến lược với Trung Quốc và liên kết lửng lơ với Hoa Kỳ là đã tạo những “điều kiện cần” và “điều kiện đủ” cho cuộc thôn tính Việt Nam một cách hoà bình.
Điều kiện “cần” là một bộ máy lãnh đạo Việt Nam phải là bộ máy thân thiện Trung Quốc, không coi Trung quốc là xâm lược, đồng thời nhân dân Việt Nam thì tinh thần bạc nhược, không quan tâm đến sự đe doạ của Trung quốc, chấp nhận để “Đảng và Nhà nước lo”. Điều kiện “đủ” là làm sao khống chế được sự phản kháng của lực lượng tinh hoa là những người Việt còn giữ được sự cảnh giác và lòng quyết tâm bảo vệ đất nước, không cho họ đánh thức được dân chúng, đồng thời Hoa Kỳ và quốc tế không can thiệp.

Khi ĐCSVN đã cam kết với ĐCS TQ thực hiện đủ những điều kiện ấy, thì (xin lỗi) chỉ một Trung Quốc ngu mới không tiến hành xâm lược Việt Nam.



Giữa lúc quân xâm lược kéo binh mã rầm rập vào trong biên cương Tổ quốc mà các thủ lĩnh tối cao thì im phăng phắc, nhưng ra lệnh cho khắp nơi hát vang lời hữu nghị và tri ân, cho tướng lĩnh đứng ra tay bắt mặt mừng, và ra sức bắt giữ những người phản đối xâm lược! Cảnh tượng diễn ra như một trận công thành được chuẩn bị chu đáo, có nội công, vô hiệu hóa lính gác, vô hiệu được quân lính trong thành, lại tổ chức sẵn một đội kèn trống chào mừng, nghênh đón sứ quân của thiên triều. Tất cả như có sự phân công, phối hợp trong ngoài vậy. Chẳng trách người dân phải đặt thẳng sự nghi ngờ vào lòng dạ của người cầm vận mệnh đất nước:

“Nguy cơ mất nước là hoàn toàn có thật. Đến lúc này nhân dân buộc phải hỏi: Đảng và Nhà nước có thực sự muốn chống xâm lược không? “

(Cả đến việc thông qua Luật biển, làm nức lòng nhiều người, nhưng tiến hành song song với những động tác ve vãn kẻ xâm lược và cấm dân biểu tình thì có đáng tin không hay chỉ là “đánh trận giả” để đánh lừa dân chúng, giúp kẻ địch tiến thêm một bước nguy hiểm?).

Thiên vạn cổ chưa có trận chiến nào được bố trí vẹn toàn như thế, sao lại bảo cuộc tấn công ấy là liều lĩnh được? Chiến thắng trong tầm tay, an toàn 100% như thế mà không tiến công thì Trung Quốc ngu à?.

5. Giải Cộng nhi thoát! Có từ bỏ Mác-Lê cùng với cái gọi là XHCN mới cứu được nước!


Xem như vậy thì suốt từ 1950 tới nay (2012), tất cã những thiết kế chiến lược và thực thi từng bước chiến thuật cho sự thôn tính Việt Nam kiểu mới của Trung Quốc đều phải dựa trên một nhân tố trung tâm và quán xuyến là đảng Cộng sản, thiết chế Cộng sản, và quan hệ Cộng sản. Việt Nam nếu không là Cộng sản thì Trung Quốc hoàn toàn bó tay.

Vậy, theo lô-gích, đáp số của bài toán phòng thủ đất nước trước nạn Tân Bắc thuộc đã hiện ra rõ mồn một. Một Việt Nam 90 triệu dân, dân chủ pháp quyền phi Cộng sản, có bầu bạn khắp năm châu, chẳng có lý gì phải nằm trong vòng tay “ôm ấp” của Trung Quốc thì anh bạn khổng lồ xấu tính buộc phải nhớ đến những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa mà chìa bàn tay hữu nghị giao thương với sự bình đẳng và kính nể.

Truyện kể rằng: Tướng nhà Minh Lưu Bá Ôn vào thăm mộ Khổng Minh, mặc giáp sắt khi đi qua cổng lát bằng nam châm liền bị hút chặt xuống đất. Lưu Bá Ôn đang luống cuống bỗng ngước nhìn lên thấy một bức hoành trên đề bốn chữ "Giải y nhi thoát" (Cởi áo ra thì thoát) bèn làm theo...

Nay chủ nghĩa Mác-Lê đối với ĐCSVN cũng chỉ như chiếc áo giáp sắt, mặc vào là bị thanh nam châm khổng lồ Trung quốc hút chặt, không ngẩng lên được. Giải Cộng nhi thoát, là cách tự cứu duy nhất, đẹp lòng dân tộc, và vẹn cả đôi đường.



KẾT LUẬN: GIỜ NGUY BIẾN ĐÃ ĐIỂM !


1. Trước mắt, muốn cứu nước, dân ta cần phá cho được cái chiến lược “diễn biến hoà bình” trong quan hệ Trung-Việt, mà thực chất là xâm lược hoà bình và làm mất nước một cách hoà bình! Họ muốn đô hộ một nước khác mà không cần gây một cuộc chiến tranh xâm lược, kế hoạch thật là thâm độc!

Chiến lược xâm lược hoà bình này do nhà cầm quyền Tân Đại Hán khởi thảo và áp đặt, ĐCSVN tự sa vào thế kẹt buộc phải làm theo. Hai đảng thoả thuận kín, quyết định số phận của Việt Nam là nước nhỏ hơn, nhân dân cả hai nước đều được sử dụng như những công cụ.

Chỉ có nhân dân Việt Nam mới giúp được ĐCSVN ra khỏi thế bị kìm kẹp này. Nhưng muốn vậy ĐCS phải dũng cảm chịu đau một chút, khiêm nhường một chút, giảm đi một chút lòng “kiêu ngạo cộng sản” vô lối, để thừa nhận nhân dân, để “lột xác”, thoát khỏi chủ nghĩa hoang tưởng phản tiến hoá để trở về với dân tộc, tìm lại sự vinh quang chính đáng trong niềm kiêu hãnh chung của cả dân tộc.

Bằng sự gặm nhắm của chiến lược Việt-Trung hữu hảo diễn biến hoà bình, “cái ổ chim đại bàng” mà tổ tiên ta gây dựng đang từng ngày từng giờ chật hẹp dần lại một cách toàn diện, thành “cái tổ con chim chích” như vua Trần Nhân Tông đã lo trước nhiều thế kỷ. Hoạ mất nước đã nhỡn tiền!

Không nhân dân nào thích chiến tranh, nhưng lời QUYẾT CHIẾN, chứ không HÒA, của Hội nghị Diên Hồng là vết son trong lịch sử. Hoà bình là quý, nhưng hoà bình để mất nước êm như ru là thứ hoà bình đáng nguyền rủa, không thể so với sự diễn biến hoà bình để tự chuyển hóa thành một nước dân chủ văn minh, chính là thứ hòa bình công chính và kiêu hãnh, không kẻ nào chống được.

2. Về căn bản và lâu dài, xuất phát từ nhu cầu xây dựng đất nước cũng như từ yêu cầu bảo vệ đất nước khỏi hiểm họa Bắc thuộc, xã hội Việt Nam phải từ giã ảo tưởng Cộng sản, trở về một chế độ dân chủ lành mạnh thông thường như các nước văn minh, không có con đường nào khác. Chừng nào còn giữ chế độ gọi là “Xã hội chủ nghĩa” bên cạnh anh Cộng sản khồng lồ Trung Quốc, thì hoạ mất nước là thường trực.

Có thể ĐCSVN lường trước bước thứ hai này nên nghi ngờ và cấm người dân biểu tình chống Trung Quốc xâm lược?

Tôi nghĩ mọi việc hoàn toàn trong sáng, không có gì thủ đoạn ở đây. Cần nói thật với nhau rằng việc trước mắt cũng như lâu dài đều đòi hỏi phải tháo vòng Kim-cô chuyên chính Vô sản, nhưng tính chất hai việc khác nhau xa. Kẻ xâm lược là giặc đến từ bên ngoài, cần phải làm cho họ thất bại trong âm mưu đó, việc ấy phải làm ngay không thể trần trừ, hoàn toàn không giống với quan hệ người trong một nước với nhau, quan hệ được cố kết bởi tình yêu Tổ quốc ngàn đời thiêng liêng, để cùng xây dựng một đất nước văn minh là điều hoàn toàn có thể thực hiện được, mà nước Đức là một tấm gương đầy thuyết phục.

9-8-2012
Hà Sỹ Phu
danlambaovn.blogspot.com

=====================================

[1] Sai lầm gốc từ Mác nhưng phải cộng với Lênin mới thành một thể hoàn chỉnh về chính trị và lan rộng ra thế giới.

[2] Hà Sĩ Phu : http://www.hasiphu.com/ll3.html



PHẦN VIẾT THÊM:

Cần thoát khỏi một vài nguỵ biện và những suy nghĩ tự trói buộc

* Nhiều đảng viên rất lo ngại cho hiện tình xuống dốc và bất lực của đảng hiện nay, nhưng băn khoăn trước câu hỏi: Đảng không ưu việt sao đánh được Pháp, được Mỹ? Đảng cũng làm được nhiều việc tốt đấy chứ? Ba triệu đảng viên hầu hết là tốt thì đảng sao lại xấu được? Xin nêu tóm tắt mấy ý góp phần giải đáp:

- Mác-Lê vào được Việt Nam là do tháp tùng lòng yêu nước, những thành tựu có được là do tựa vào sức mạnh yêu nước của dân tộc mà có. Ở đâu và khi nào nhân tố chuyên chính vô sản phát huy tác dụng, lấn át truyền thống dân tộc, thì ở đó, khi đó, phát sinh sai lầm và tổn thất.

- Cái tốt chủ yếu ở giai đoạn đầu, khi cầm quyền là bắt đầu thoái hóa, càng củng cố được quyền lực thì càng thoái hoá, càng về sau càng thoái hóa. Muốn lấy lại thiện cảm thì phải “ăn mày quá khứ”.

- Cá nhân đảng viên có thể tốt, nhưng đứng trước tổ chức thì những cái tốt cá nhân bị vô hiệu hoá. Tổ chức Cộng sản là phép cộng những “số dương” thành một “số âm”, sử dụng rất nhiều người tốt để thực hiện một điều huyễn hoặc, không tốt. Càng lên trên thì tính “bản thiện” của con người càng bị tính chuyên chính sai lầm của tổ chức lấn át, cho nên càng lên trên càng tiêu cực. Tham nhũng độc quyền ghê gớm nhất đều ở cấp cao. Chính gương tốt, liêm chính, của các đảng viên ở cơ sở là tấm bình phong che cho tội lỗi của cấp cao

- Bởi là người tốt, người yêu nước, nhưng bị dòng lịch sử cuốn vào một trào lưu huyễn tưởng nay đã bị lịch sử đào thải, thì mỗi người đảng viên cộng sản đều phải chọn một trong hai sự “phản bội” không thể thoái thác: hoặc cứ nhắm mắt theo chủ nghĩa thì phản bội dân tộc, hoặc đặt dân tộc lên trên thì sẵn sàng từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê ảo tưởng, đó là sự từ bỏ, sự “phản bội” đáng ca ngợi.

* Một nguỵ biện nhằm chống biểu tình:

Người dân muốn biểu thị quyết tâm chống xâm lược, bảo vệ đất nước thì phương pháp truyền thống ở mọi quốc gia là BIỂU TÌNH. Muốn giúp cho quân xâm lược khỏi bị làm phiền thì nhà cầm quyền Việt Nam hứa với họ là kiên quyết cấm dân VN mình biểu tình. Nhưng không thể công khai cấm biểu tình (vì cấm là phi lý và thất nhân tâm) thì cấm những gì liên quan không thể tách rời với biểu tình là đi đông người trên phố, bèn quy tội là gây rối trật tự, ảnh hưởng đến giao thông. Đây là nguỵ biện dùng “mẹo Trạng Quỳnh”: nếu không thể cấm ỈA thì cấm ĐÁI, không được đái thì làm sao mà ỉa? Thế là không cấm biểu tình mà dân không biểu tình được.

Nhà nước ta quả là nhiều sáng kiến và tận tâm với bạn vàng xâm lược. Nhưng xin thưa điều quy kết này là bậy bạ và phạm pháp. Đường xá là của toàn dân, người dân được sử dụng để đi lại thông thường và đi lại trong những việc đông người chính đáng: đám cưới, đám tang rất cản trở giao thông, đón rước, hội hè rất cản trở giao thông…thì giao thông tạm ngừng một thời gian ngắn, có sao đâu? Biểu tình bảo vệ Tổ quốc còn chính đáng và quan trọng hơn mọi sinh hoạt khác, giao thông phải tạm dừng để phục vụ biểu tình cũng là chính đáng, huống chi lèo tèo vài trăm người thì cản trở nỗi gì? Mẹo “cho Ỉa nhưng cấm đái” này sẽ còn phát huy nhiều nguỵ biện xảo trá khác nữa, nhưng nhân danh một “Chính” quyền mà dùng mẹo bẩn như vậy thì còn “chính” nữa không?

9/8/2012 -HSP-
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Fri May 30, 2014 2:38 pm

CS Đông Đức đã sụp đổ khi dân biểu tình gia tăng từ tháng 5 đến tháng 11 năm 1989

Cuộc cách mạng bất bạo động ở Đông Đức năm 1989 từ bên dưới và trên đường phố qua những con số




Roland Bleiker * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch
 
7 tháng Năm 1989  Hơn 100 người biểu tình chống gian lận bầu cử bị bắt ở Leipzig.

18 tháng Chín 1989 Hơn 100 người biểu tình bị bắt sau buổi lễ cầu nguyện vào ngày thứ Hai tại Nhà thờ Thánh Nicholas ở Leipzig.

25 tháng Chín Cuộc biểu tình vào ngày thứ Hai ở Leipzig: 6.000 người xuống đường đòi quyền tự do đi lại và tự do ngôn luận.

2 tháng Mười Cuộc biểu tình lớn lần đầu tiên ở Leipzig: 25.000 người xuống đường đòi cải cách và công an giải tán họ bằng bạo lực.

7 tháng Mười Nhân ngày lễ 40 năm thành lập Đông Đức, hàng loạt các cuộc biểu tình diễn ra nhiều nơi. Công an dùng bạo lực và bắt rất nhiều người.

9 tháng Mười Sau buổi lễ cầu nguyện vào ngày thứ Hai tại các nhà thờ ở Leipzig, cuộc biểu tình lớn nhất lần đầu tiên ở Leipzig: 70.000 người xuống đường đòi cải cách và họ hô vang "chúng tôi là nhân dân". Cuộc biểu tình diễn ra hoàn toàn ôn hòa.

16 tháng Mười Hơn 120.000 người biểu tình ở Leipzig, 10.000 người ở Dresden và Magdeburg, 5.000 người ở Halle, và 3.000 người ở Berlin.

18 tháng Mười Bộ Chính trị buộc Erich Honecker từ chức.

20 tháng Mười 50.000 người xuống đường ở Dresden đòi tự do bầu cử.

21 tháng Mười Biểu tình diễn ra nhiều nơi. Ở Plauen, một thành phố công nghiệp có 80.000 dân có 35.000 người xuống đường.

23 tháng Mười Những cuộc biểu tình rất lớn ở nhiều nơi. Riêng ở Leipzig, 300.000 người xuống đường đòi cải cách và tự do bầu cử.

24 tháng Mười 12.000 người biểu tình tình ở Berlin.

26 tháng Mười Các cuộc biểu tình diễn ra ở Rostock (25.000 người), Erfurt (15.000 người) và Gera (5.000 người).

28 tháng Mười Biểu tình ở Plauen (30.000 người) và tại nhiều nơi khác.

30 tháng Mười Hơn 400.000 người biểu tình tại nhiều thành phố đòi cải cách, tự do bầu cử, và tự do đi lại. Riêng ở Leipzig 200.000 người xuống đường, 50.000 người ở Halle, 40.000 người ở Schwerin.

31 tháng Mười 15.000 người biểu tình ở Wittenberg.

2 tháng Mười Một Biểu tình ở Gera (10.000 người), Erfurt (30.000 người), Halle (10.000 người), và Guben (15.000 người).

4 tháng Mười Một  Cuộc biểu tình lớn nhất toàn quốc từ trước đên nay. Riêng ở Đông Berlin ước tính khoảng độ từ 500.000 đến 1.000.000 người xuống đường đòi cải cách. Hàng loạt các cuộc biểu tình nhỏ hơn diễn ra ở nhiều nơi.

6 tháng Mười Một  Biểu tình đông người càng nhiều: ở Leipzig (500.000 người), Karl Marx-Stadt (50.000 người), Schwerin, Halle (60.000 người). Ở Dresden các đảng viên lãnh đạo bất đồng chính kiến lãnh đạo 70.000 người tuàn hành phản đối.

7 tháng Mười Một  Toàn bộ chính quyền Đông Đức từ chức.

8 tháng Mười Một 1989 Toàn thể Bộ Chính trị từ chức.

9 tháng Mười Một 1989 Các cuộc biểu tình ở Erfurt (80.000 người) và Gera (10.000 người).
Tối hôm ấy Bức tường Berlin sụp đổ!












Nguồn:

Trích dịch từ phần phụ lục của tác phẩm "Nonviolent Struggle and the Revolution in Eastern Germany" của Roland Bleiker, The Albert Einstein Institution xuất bản, 1993. Tựa đề của người dịch.

http://www.aeinstein.org/wp-content/uploads/2013/10/NonviolentStruggleandtheRevolutioninEastGermany-Eng.pdf

Được dịch bởi:
Trần Quốc Việt
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Tue Jun 03, 2014 2:50 pm


TẠI SAO CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN CHỈ CÓ THỂ THAY THẾ CHỨ KHÔNG THỂ CẢI TỔ




Ông Boris Yeltsin, Cựu Tông thống Nga, cựu Ủy Viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Sô, đã từng tuyên bố:
«Chế độ cộng sản chỉ có thể bị thay thế, chứ không thể cải tổ."


Tại sao?

Thay thế có nghĩa là phải làm cách mạng để thay thế hoàn toàn chế độ, từ ý thức hệ, thể chế chính trị, bắt đầu bằng hiến pháp, tới giai tầng lãnh đạo, và trật tự xã hội. Khác với cải tổ là vẫn giữ chế độ, vẫn giữ giai tầng lãnh đạo và trật tự xã hội cũ; nhưng chỉ thay đổi một vài sự kiện nhỏ, như tu chính hiến pháp, thay một vài người lãnh đạo, và làm xoa dịu một vài bất công quá lộ liễu, trong khi đó thì đại đa số dân vẫn sống trong bất công.



Một trong những nguyên do chính của sự việc chế độ cộng sản chỉ có thể thay thế chứ không có thể cải cách là vì đó là một chế độ độc tài toàn diện, đi từ A tới Z.

Nếu nhìn trong lịch sử nhân loại cận đại, thì chỉ có 2 chế độ độc tài mà ngày hôm nay người ta gọi là độc tài toàn diện, toàn trị, có nghĩa là cai trị trên mọi lãnh vực của đời sống con người, đó là chế độ toàn trị phát xít Hitler và chế độ toàn trị cộng sản. Hai chế độ này, mặc dầu bề ngoài chống nhau, nhưng bản chất của nó giống nhau, chỉ là mặt trái, mặt phải của một đồng tiền. Cả hai đều là tàn dư của chế độ quân chủ phong kiến, cả 2 chỉ là đống tro tàn của chế độ quân chủ phong kiến, nhưng trước khi tàn, nó bùng lên ở bên phải, đó là chế độ phát xít, bùng lên ở bên trái, đó là chế độ cộng sản ; nhưng cả hai đều biết dùng những phương tiện khoa học hiện đại để tăng cường cho độc tài của mình. Đó cũng là ý kiến của nhà văn hào nổi tiếng Georges Orwells, tác giả quyển Trại xúc vật (Animal Farm), xuất bản năm 1945, ví cộng sản như loài xúc vật, rồi quyển « 1984 », xuất bản năm 1949, nói đến độc tài cộng sản là một độc tài cực quyền và đã biết lợi dụng kỹ thuật của khoa học để tăng cường cho những hành động độc tài, như hành động dùng máy bay trực thăng nhòm vào cửa sổ người dân, để theo dõi đời sống tư nhân của họ. G. Orwells tiên đoán cộng sản sẽ sụp đổ năm 1984, vì vậy quyển truyện mang tên 1984. Chế độ phát xít Hitler cũng vậy, muốn kiểm soát con người từ cách suy nghĩ cho tới hành động ngoài đời, chi phối đời sống xã hội trên mọi lãnh vực, từ tư tưởng, kinh tế, chính trị, quân sự, công an, tuyên truyền. Cả hai chế độ đều cai trị dân bằng cái loa, cái còng và cái súng. Cái loa chính là bộ máy tuyên truyền xảo trá, bôi bác sự thật và cho dân ăn bánh vẽ. Chính Goebel, Bộ trưởng Thông tin tuyên truyền phát xít, có nói : « Dù một sự việc không phải là sự thật ; nhưng chúng ta cứ nhắc đi, nhắc lại nhiều lần, lúc đầu dân không tin, sau trở nên bán tín, bán nghi, cuối cùng tin đó là sự thật. » Chúng ta chỉ lấy một sự kiện nhỏ là cả 2 chế độ, đều bắc loa ở mọi đầu phố, ra rả tuyên truyền, bắt dân phải nghe từ ngày này qua ngày khác, không muốn cũng phải nghe.



Về lãnh vực tuyên truyền, thì cộng sản học phát xít. Theo những sử gia, thì khi tiến vào Bá Linh năm 1945, việc đầu tiên Hồng quân Liên sô tìm kiếm, ngoài những nhà bác học Đức, còn có nhật ký của Goebel, với mục đích để học hỏi cách tuyên truyền của ông.

Chính vì chế độ cộng sản cũng như chế độ độc tài phát xít là toàn diện, được ví như một tảng đá, người ta không thể tách nó ra để sửa chữa, cải tổ từng mảnh, từng phần, vì nếu tách ra, thì nó sẽ bể tan. Chỉ có cách là dùng nó, hay vất nó đi, dùng tảng đá khác.

Một nguyên nhân khác, đó là là chế độ được dựng trên sự không tưởng của lý thuyết Mác, lâm vào cảnh đẽo chân để đi vừa giày, từ đó kéo theo sự dối trá để lừa bịp, và dùng cái súng và cái còng để đàn áp, tạo nên một giai tầng lãnh đạo vừa gian manh, dối trá, vừa ác ôn, côn đồ, một bọn ăn cướp, giết người công khai, vì chúng mang danh chủ nghĩa và có quyền.



Ở đây, tôi không thể phê bình chi tiết lý thuyết của Marx, xin quí vị xem những bài trước của tôi (1), tôi chỉ xin nêu ra một vài điều không tưởng và sai lầm. Chẳng hạn Marx chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu. Đây là điều sai lầm và không tưởng : Sai lầm ở chỗ là quyền tư hữu không thể bãi bỏ mà chỉ có thể chuyển nhượng. Chính vì vậy, mà khi đảng cộng sản cướp được chính quyền, nói rằng bãi bỏ quyền tư hữu, đánh tư bản mại sản ; nhưng thực tế là tước đoạt quyền tư hữu của toàn dân, để trao vào tay một thiểu số cán bộ đảng đoàn, xã hội trở nên vô cùng bất công, trái hẳn với điều Marx mơ ước rằng xã hội cộng sản là một xã hội công bằng, cũng như trái hẳn với điều Marx nghĩ là quyền kinh tế quyết định ; nhưng trong xã hội cộng sản, quyền chính trị quyết định. Không tưởng ở chỗ là bãi bỏ quyền tư hữu chính là bãi bỏ một động lực giúp con người làm việc, nên xã hội cộng sản bị lâm vào cảnh cha chung không ai khóc, ruộng chung không ai cày, nhà chung không người chăm xóc.

Những người cộng sản, bắt đầu từ Lénine, nhờ một đảng, dùng bạo lực cướp được chính quyền, áp dụng lý thuyết sai lầm và không tưởng của Marx, bị lâm vào hoàn cảnh « Đẽo chân để đi vừa giày« , dùng bạo lực để đàn áp, giết chóc những ai không nghe theo, đồng thời dùng bộ máy thông tin, tuyên truyền để nói dối người khác và lừa bịp dân.



Không phải là một sự tình cờ khi ông Gorbatchev, đã từng là Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Liên sô tuyên bố :

« Tôi đã bỏ hơn cả nửa đời người đấu tranh cho lý tưởng cộng sản ; nhưng nay tôi phải đau buồn mà nói rằng : Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo. »

Ngày hôm nay, không những sự kiện tuyên truyền và nói láo, mà cả những việc giết người, không chỉ giết dân Nga, mà cả những dân tộc khác, như vụ giết hơn 20 000 sĩ quan quân đội Ba Lan trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến. Chính đương kim Tổng Thống Nga, Medvedev, trong dịp Kỷ Niệm 50 Chiến thắng Đệ Nhị Thế Chiến, đã tuyên bố :

« Chế độ cộng sản là một guồng máy sản xuất sự dối trá và giết người, không những giết chính dân mình, mà cả dân tộc khác. »



Nhà kinh tế học Nga, ông Girsh Itsykhovic Khanin, làm cho người ta ngạc nhiên về công trình nghiên cứu của ông về kinh tế Liên Sô suốt thời gian cộng sản nắm quyền. Theo ông, từ năm 1928 tới năm 1985, Tổng sản lượng quốc gia Liên sô không phải tăng trưởng gấp 84 lần, như giới lãnh đạo thường rêu rao, mà chỉ được nhân lên gấp 6,6 lần. Chẳng hạn từ năm 1928 tới năm 1940, Tổng sản lương chỉ tăng trưởng là 3,2%, trong khi đó chính quyền rêu rao là 13,9% ; từ năm 1980 tới năm 1985, tăng trưởng chỉ là 0,6%, trong khi chính quyền nói là 3,5% ( Theo Capital – Histoire – Les grandes Empires économiques – Hors série Mai-Juin 2011- Paris).



Một chế độ mà dựa trên một lý thuyết vừa sai lầm và vừa không tưởng, lại được áp dụng bởi một nhà nước độc tài, dựa trên độc đảng, chỉ dùng cái loa để tuyên truyền, bôi bác sự thật, cho dân ăn bánh vẽ, dựa trên cái súng và cái còng để dọa nạt, bỏ tù, giết những ai không nghe lời, thì chế độ này chỉ có thể bị thay thế, chứ không thể cải tổ, như chính lời một cán bộ cao cấp Đảng Cộng sản và đồng thời sau này là Tổng thống xứ Nga, ông Boris Eltsine, đã nói.

Paris ngày 09/05/2011
Chu chi Nam

(1) Xin xem thêm những bài về cộng sản, trên http://perso.orange.fr/chuchinam/ 




Về Đầu Trang Go down
vnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Mon Jun 09, 2014 3:13 pm


Tại sao chúng ta phải thay đổi thể chế chính trị trước khi chống giặc ngoại xâm?




Chu Chi Nam (Danlambao) - Đất nước và dân tộc đang đứng trước hiểm họa diệt vong, trong thì đảng cộng sản mặc tình cấu kết với ngoại bang bán đất dâng biển, hèn với giặc, ác với dân, giết hết tinh anh, triệt mọi cơ hội phát triển của người dân, ngoài thì Tàu cộng lộng hành, ngang nhiên kéo dàn khoan đến vùng biển Việt Nam. Con đường duy nhất để chống ngoại xâm là bằng mọi cách phải thay đổi thể chế chính trị, từ độc tài cộng sản qua Dân chủ Tự do, vì có như thế, giới lãnh đạo mới quy tụ được sức mạnh toàn dân, vận động được các quốc gia và cộng đồng yêu chuộng Tự do và Hòa bình trên thế giới cô lập và bẻ gãy mọi mưu mô bá quyền của Tàu cộng...

Sự quan trọng của thể chế chính trị trong đời sống con người, xã hội, văn hóa và văn minh

Nhiều người chưa ý thức rõ vai trò của thể chế hay chế độ chính trị trong đời sống con người và xa hơn nữa là xã hội, văn hóa, văn minh. Chính vì lẽ đó, mà chúng ta nên có một cái nhìn xét lại, rõ ràng hơn, nhất là trước nguy cơ bành trướng của Tàu cộng. Hơn nữa bài học trước mắt tại Ukrain, người dân đã xuống đường lật đổ chế độ độc tài, tham nhũng của Yanukovych, kẻ đã vì quyền lợi cá nhân, gia đình sẵn sàng bó gối quy hàng Nga, sau đó bầu ra vị tổng thống mới với chủ trương đoàn kết toàn dân, thân thiện với thế giới tự do, đối thoại bình đẳng với Nga để bảo toàn lãnh thổ.

Thể chế hay chế độ chính trị là mô hình tổ chức nhân xã, nói một cách dễ hiểu, là tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp của một cộng đồng con người.

Người ta thấy có chế độ độc tài, chế độ dân chủ. Trong chế độ độc tài có nghĩa là chế độ mà quyền hành nằm trong tay một người hay một nhóm người (oligarchie). Trong chế độ dân chủ là chế độ mà quyền hành nằm trong tay người dân, người dân có quyền quyết định số phận của mình, người ta thấy có dân chủ trực tiếp, như ở Thụy sĩ, những quyết định quan trọng đều do trưng cầu dân ý quyết định; và chế độ dân chủ gián tiếp, người dân bầu ra đại diện của mình, trong một nhiệm kỳ, những người được bầu này thay mặt dân lấy những quyết định. Hiện nay, phần lớn những chế độ dân chủ là những chế độ dân chủ gián tiếp.

Trong chế độ dân chủ gián tiếp, người ta thấy có chế độ tổng thống như ở Hoa kỳ, chế độ đại nghị như ở bên Anh và phần lớn ở các quốc gia trên thế giới. Người ta cũng có thể thêm chế độ nửa tổng thống chế, nửa đại nghị chế, như ở bên Pháp.

I. Sự quan trọng của thể chế chính trị trong đời sống con người

Thể chế chính trị giữ một vai trò tối quan trọng trong sự phát triển đời sống con người. Vì vậy có người ví thể chế chính trị như mảnh đất và người dân như hạt mầm. Con người dù là da vàng, da trắng hay da đen có thể ví như hạt mầm, nếu hạt mầm này được gieo vào một mảnh đất tốt, tức sống dưới một chế độ tốt, chế độ tôn trọng con người, những quyền căn bản của con người được bảo đảm, đồng thời được hướng dẫn, dìu dắt bởi một nền giáo dục tốt, một hệ thống an sinh xã hội tốt, thì hạt mầm này sẽ kết bông, nẩy trái. Ngược lại, nếu hạt mầm này được gieo trên một mảnh đất khô cằn, tức một thể chế chính trị xấu, không lo đến quyền lợi của người dân, mà chỉ lo đến quyền lợi của một số người, coi thường những quyền căn bản của con người, áp dụng một hệ thống giáo dục tuyên truyền nhồi sọ, đa số đời sống của người dân trở nên cơ cực, trong khi một thiểu số cầm quyền tiêu sài theo kiểu vất tiền qua cửa sổ, an sinh xã hội của dân không được bảo đảm, trẻ em sơ sinh thiếu dinh dưỡng, khi bệnh thì thiếu thuốc, không có bác sĩ, không dám đi nhà thương, thì tất nhiên hạt mầm này sẽ thui chột, chẳng khác nào được gieo trên một mảnh đất khô cằn, toàn là sỏi đá.

Ngày hôm nay, theo những nhà và viện nghiên cứu về dân chủ, thì chế độ dân chủ, mặc dầu không được coi là chế độ hoàn hảo nhất, nhưng nó được coi là chế độ hiện hành tốt nhất để giúp con người và xã hội phát triển.

Chúng ta hãy lấy thí dụ điển hình để dễ hiểu, hai chế độ chính trị Nam Hàn và Bắc Hàn. Chế độ Bắc Hàn là một chế độ cộng sản độc tài, người dân sống dưới chế độ này không những không thể phát triển được, mà hàng năm còn bị nạn đói hoành hành từ bao chục năm nay. Ngoài xã hội thì những hãng xưởng thiếu điện để chạy nhà máy, trong khi những công thự, những chỗ tôn thờ lãnh tụ, thì điện chan hòa cả ngày lẫn đêm. Giáo dục là một nền giáo dục nhồi sọ, từ trẻ em cho đến người lớn chỉ biết vâng lời, gọi dạ bảo vâng, nhắc lại những khẩu hiệu tuyên truyền rỗng tuếch.

Trong khi đó thì Nam Hàn hiện nay vô cùng phát triển. Chúng ta chỉ cần lấy một vài thí dụ điển hình: Nền khoa học kỹ thuật tân tiến hiện nay được coi là ngành điện thoại cầm tay, vì trong đó là cả một cái máy điện toán tối tân, thế mà Nam Hàn với hãng Samsung đứng đầu trong việc sản xuất và bán trên thị trường đã lâu, trên cả hãng Apple của Hoa kỳ và hãng Nokia của Phần Lan. Ngành xe hơi cũng vậy, hãng Kia của Nam Hàn, mặc dầu mới xuất hiện, nhưng số lượng bán cũng không thua gì những hãng quốc tế nổi tiếng lâu đời khác như hãng Général Motor, Toyota, Wolkswagen, Renault. Nam Hàn từ mấy chục năm nay đã nổi tiếng về giáo dục, người thợ Nam hàn có một trình độ hiểu biết tổng quát đứng đầu thế giới. Người chuyên viên Nam Hàn cần cù làm việc, chịu khó học hỏi, đi làm việc nơi nào cũng được trọng. Bằng cớ là hai tổ chức quốc tế quan trọng nhất thế giới là Liên Hiệp quốc và Ngân Hàng quốc tế, đều được cầm đầu bởi người Nam Hàn.

Được như vậy, tất nhiên do nhiều nguyên do, nhưng một trong những lý do chính, đó là dân Nam Hàn được sống dưới một chế độ tự do, dân chủ, mặc dầu chế độ này mới được thiết lập vào khoảng thập niên 80.

Không nói đâu xa, chúng ta trở về Việt Nam thời cận đại: Hai chế độ miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là hai chế độ cộng hòa, Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa. Hai chế độ này, vào thời đó có thể nói là 2 chế độ dân chủ, tất nhiên không thể so sánh với những nước dân chủ tiền tiến, nhưng nó là một trong những nước dân chủ đầu tiên ở châu Á, chỉ thua có Nhật. Chính vì vậy mà miền Nam cũng đã phát triển, hơn cả Nam Hàn và Đài loan lúc bấy giờ. Nếu tính theo sản lượng đầu người hàng năm thì vào cuối thời Đệ Nhất Cộng hòa, sản lượng của miền Nam Việt nam là 118 $, trong khi đó của Nam Hàn và Đài loan là trên dưới 80 $. Sự phát triển của miền Nam được ngay những người cộng sản công nhận, như ông Lê Đăng Doanh, "nhà kinh tế cộng sản", trong một bài phỏng vấn của đài BBC, cũng công nhận là sau 1975, ông vào thăm miền Nam đầu tiên, ông đã phải ngạc nhiên về trình độ phát triển, ông đi thăm những vùng quê, ông thấy nơi nào cũng có điện, có máy cày, đời sống người dân tương đối đầy đủ. Nhà văn Dương Thu Hương, cùng với "đoàn quân chiến thắng" vào miền Nam, trước đời sống dân miền Nam, bà đã sửng sờ, bà tìm một góc phố, như lời bà kể, để khóc, và sau đó tuyên bố: "Tôi đã cùng một đoàn quân chiến thắng, nhưng mô hình tổ chức xã hội của kẻ chiến bại lại văn minh hơn mô hình của kẻ chiến thắng".







Chính "Luật Người cày có ruộng" của thời Đệ Nhị Cộng hòa Việt nam đã được chính phủ Đài loan bắt chước và đem áp dụng thành công ở nước này. Chỉ tiếc rằng những gì đã được xây dựng ở miền Nam đã bị cộng sản đổ xuống sông, xuống biển. Chính vì vậy mà dân miền Nam đã có câu: "Năm đồng đổi lấy một xu, người khôn đi học, thằng ngu làm thầy".

Hiện nay cộng sản nói rằng đổi mới, nhưng thực sự là trở lại những thành quả của miền Nam trước kia đã đạt được, nhưng khập khiểng, vì thể chế chính trị vẫn là chế độ cộng sản độc tài, vẫn lấy lý thuyết Mác Lê làm nền tảng cho chế độ, như đã được ghi trong hiến pháp; giáo dục thì nhồi sọ, đạo đức thì suy đồi, an sinh xã hội thì không có.







Nếu chúng ta nói đến sự quan trọng của thể chế chính trị trong sự phát triển con người và xã hội, văn minh, văn hóa, thì chúng ta có thể dẫn chứng rất nhiều.

Ở đây tôi chỉ xin nhắc đến ông Alexis de Tocqueville (1805 - 1859), với hai quyển sách nổi tiếng "De la Démocratie de l’Amérique" (Về chế độ dân chủ ở châu Mỹ), viết từ năm 1835 tới 1840, và quyển "De l’Ancien Régime et la Révolution" (Về Chế độ cũ và Cách mạng) xuất bản năm 1856.

Sở dĩ tôi nói đến ông Tocqueville là vì hiện nay, đảng Cộng sản Trung cộng, nhất là Ban Tư tưởng và ý thức hệ đang khuyên các đảng viên đọc và suy ngẫm về quyển sách của ông, đặc biệt là câu trong quyển sách thứ nhì: "Giai đoạn nguy hiểm nhất cho một chế độ, đó là lúc mà nó bắt đầu cải tổ."

Theo Tocqueville, thì "Ý tưởng dân chủ, bắt đầu bằng sự công bằng điều kiện (égalités des conditions) là một cái gì thiêng liêng, không thể tước bỏ được và nó chính là một động lực làm cho những chế độ độc tài sụp đổ". Quyển sách về dân chủ Hoa kỳ là một quyển sách cho tới bây giờ, giới trí thức nước này vẫn cho là một trong những quyển sách hay nhất qua nhận xét, phân tích và tiên đoán về Hoa Kỳ.

Theo Tocqueville thì đây quả là một nền dân chủ gián tiếp, với một hiến pháp thành văn, tôn trọng những quyền căn bản của con người, tôn trọng tam quyền phân lập, và nhất là sự quân bằng quyền hành, giữa quyền trung ương và địa phương, giữa quyền hành pháp và lập pháp, giữa quyền lập pháp và tư pháp. Từ đó cho tới nay, không ai chối cãi rằng nền dân chủ Hoa Kỳ quả là một mảnh đất mầu mỡ cho mọi con người đến từ mọi chủng tộc, nẩy mầm và phát triển.

Với quyển sách thứ nhì, mà nay Ban Tư tưởng Trung ương Trung cộng đang yêu cầu cán bộ học hỏi, nói về tại sao chế độ cũ, tức chế độ quân chủ của vua Louis XVI Pháp lại sụp đổ. Câu trả lời của Tocqueville tất nhiên là vì chế độ này đã cấm đoán tự do. Tuy nhiên ông cũng cảnh cáo chế độ dân chủ là không nên mắc vào "nạn độc tài số đông" (despotisme de la majorité). Để tránh điều này thì nên có sự tản quyền, tôn trọng quyền tự do báo chí và làm thế nào để tam quyền phân lập rõ ràng và nhất là quyền tư pháp được độc lập.

Một câu hỏi đến với chúng ta là tại sao Ban Tư tưởng của Trung Ương đảng Cộng sản Trung cộng lại yêu cầu cán bộ học hỏi tư tưởng của Tocqueville và nhất là suy ngẫm câu vừa nói ở trên: "Thời điểm nguy hiểm nhất của một chế độ..." Vì đảng Cộng sản Tàu cũng ý thức rất rõ rằng mình không thể nào đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại, đó là đi đến thể chế chính trị tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, và từ đó tất nhiên là phải cải tổ, vứt bỏ tư tưởng Mác Lê Mao, chủ trương độc khuynh, độc đảng, độc tài. Tuy nhiên vấn đề là cải tổ thế nào để không đi đến cách mạng, làm sụp đổ chế độ, mất hết những đặc quyền, đặc lợi của một thiểu số người nắm quyền.

Đây là một vấn đề nan giải mà Tocqueville đã nhìn thấy và đặt ra với chế độ quân chủ Pháp thời vua Louis XVI và cho rằng một trong những lý do chính của sự sụp đổ chế độ là vì chế độ này bắt đầu cải tổ.

Từ cái nhìn của Tocqueville, chúng ta nhìn vào lịch sử cận đại.

Chúng ta thấy rằng lịch sử, trái lại với một số nhà tư tưởng cho rằng biến chuyển thế này thế nọ, theo đường thẳng, đường trôn ốc, theo óc tưởng tượng đã đánh đồng lịch sử với toán học, tóm gọn sự biến chuyển lịch sử qua một phương trình toán học, rồi từ đó suy đoán ảo tưởng, nhưng nhiều khi lịch sử chỉ là một sự lập lại, nếu chúng ta đem so sánh sự sụp đổ của đế quốc cộng sản Liên sô dưới thời Gorbatchev và sự sụp đổ của triều đình quân chủ Pháp Louis XVI.

Nhưng phải chăng trong lịch sử cận đại không có một chế độ độc tài nào tự sửa đổi, cải tổ để đi đến chế độ dân chủ mà thành công? Câu trả lời là có. Chúng ta chỉ cần lấy thí dụ gần chúng ta và chúng ta cũng biết đôi chút. Đó là Nam Hàn và Đài loan. Nam Hàn và Đài loan trước thập niên 80 là dưới chế độ độc tài.

Có người cho rằng, độc tài Nam Hàn và Đài loan là độc tài hữu, khác với độc tài Trung cộng và Việt Nam là độc tài tả, có sự khác biệt. Điều này không sai. Tuy nhiên trong chính trị, dù là tả hay hữu, nhất là người lãnh đạo, khi đã sáng suốt, có ý chí nhất quyết làm vì nước vì dân, thì cũng có thể làm nhiều chuyện, trong đó có cả việc thay đổi một chế độ.

II. Sự quan trọng của thể chế chính trị trong xã hội, văn hóa và văn minh nhân loại

Xã hội chúng ta có thể định nghĩa đơn giản là cách sống của một nhóm người có tổ chức, với những truyền thống, luật lệ, cơ chế, trải qua những thời đại. Nói một cách khác đi, đó là cách tổ chức xã hội con người ở vào một thời điểm nhất định nào đó, chính là chế độ, thể chế, tức cách tổ chức chính trị, kinh tế, luật pháp, văn hóa, xã hội.

Văn hóa, văn là đẹp, hóa là biến đổi, đây là tất cả những hành động của con người làm thăng tiến đời sống của mình trên hai phương diện vật chất và tinh thần. Một khi những hành động này có ảnh hưởng rộng lớn, trong một vùng, trải qua một thời gian dài, thì nó trở thành văn minh.

Văn cũng là đẹp, minh là chiếu sáng, có ảnh hưởng lâu dài và rộng lớn.

Một số sử gia và nhân chủng học cho rằng con người trải qua 5 thời kỳ văn minh:

Văn minh trẩy hái, vào lúc con người mới xuất hiện trên trái đất, sống trong hang đá, hái trái cây, săn bắn ở chung quanh để sinh sống.

Văn minh du mục: rồi cây trái, súc vật ở chung quanh cũng trở nên khan hiếm, con người phải đi xa để tìm kiếm, nó bước sang thời kỳ văn minh du mục.

Nhưng ngay dù đi xa để kiếm ăn, thức ăn cũng trở nên khó khăn, con người phải trồng trọt, nuôi súc vật. Nó bước sang thời kỳ văn minh định cư nông nghiệp.

Với nền văn minh này, con người đã có thể thỏa mãn những nhu cầu căn bản của mình, nghĩa là khi đói thì có ăn, khi lạnh thì có áo để bận, con người bắt đầu nghĩ đến những nhu cầu xa xỉ, muốn ăn ngon, mặc đẹp, con người trao đổi với nhau về những sản phẩm mình làm ra, có nghĩa là tôi trồng lúa mì để ăn, nhưng tôi thích ăn lúa mạch, thì tôi trao đổi với người trồng lúa mạch; tôi có thể dệt vải để mặc, nhưng thôi thích mặc lụa, thì tôi trao đổi với người dệt lụa. Con đường Gia vị, Con đường Tơ lụa nối liền đông tây trong lịch sử nhân loại, có nghĩa là thế. Từ đó con người bước sang nền văn minh trao đổi thương mại.

Ngày xưa, con người phải đi xa để trao đổi, nhưng từ ngày có phát minh ra điện, điện thoại, điện toán, con người không cần phải đi xa để trao đổi, con người bước sang nền văn minh tri thức điện toán, như ngày hôm nay.

Vào thời văn minh trẩy hái, du mục, canh nông, lao động chủ yếu là dùng sức mạnh bắp thịt chân tay. Nhưng bước sang văn minh thương mại, nhất là văn minh tri thức điện toán ngày hôm nay, lao động chủ yếu là tư tưởng, phát minh sáng kiến, từ đầu óc con người.

Mỗi một thời văn minh có một hình thức tổ chức nhân xã tương xứng. Thời văn minh trẩy hái, du mục, đó là chế độ gia tộc, bộ lạc. Bước sang thời kỳ văn minh định cư nông nghiệp, là chế độ quân chủ. Nhưng sang thời kỳ văn minh thương mại, tri thức, điện toán, đó là chế độ dân chủ, vì để trao đổi là phải có người khác, phải có đối thoại.

Socrate nói: "Nơi nào có đối thoại, nơi đó mới có tiến bộ và dân chủ" là như vậy. Nhất là vào thời kỳ văn minh tri thức điện toán ngày hôm nay, để phát minh, sáng kiến, con người bắt buộc phải sống dưới chế độ dân chủ, vì phải có tự do tư tưởng, trao đổi tư tưởng, công trình tìm kiếm, thì lúc đó con người mới có thể có những ý kiến mới. Voltaire cũng đã từng nói: "Tự do tư tưởng và ngôn luận là hai cột trụ chính của chế độ dân chủ."

Mỗi một mô hình tổ chức nhân xã là một bước tiến của nhân loại. Nhưng nếu kéo dài quá thì lại trở thành vật cản trở, như chế độ quân chủ là một bước tiến so với chế độ gia tộc và bộ lạc, nhưng kéo dài lâu quá thì trở thành lạc hậu, ngăn cản bước tiến của con người. Trong khi một chế độ như chế độ quân chủ kéo dài cả bao ngàn năm, không những lỗi thời, mà còn trở nên giết người, vì một thiểu số nắm quyền, muốn kéo dài đặc ân, đặc lợi, bổng lộc của mình, không ngần ngại dùng bất cứ thủ đoạn nào, từ thông tin tuyên truyền lừa bịp, đến dùng cái còng với công an và dùng cái súng với lính để đàn áp dân. Người ta nói: "Chế độ độc tài là chế độ của cái loa, cái còng và cái súng" là vậy.

Nhìn vào lịch sử cận đại, 2 chế độ cái loa cái còng và cái súng là chế độ độc tài phát xít Hitler và chế độ cộng sản. Cả hai đều dựa trên quan niệm triết lý, tư tưởng bất bình thường: Hitler cho rằng chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết, không pha trộn với những chủng tộc khác, nên thông minh. Đây là một điều vô cùng phản khoa học. Dân tộc Đức tiêu biểu cho chủng tộc này, nên thông minh, đáng để cầm đầu thế giới. Chính vì vậy nên Hitler đã không ngần ngại phát động chiến tranh khắp nơi. Marx thì cho rằng lịch sử con người là bạo động, là đấu tranh giai cấp, không ngần ngại mở đầu Bản Tuyên Ngôn thư Cộng sản: "Lịch sử nhân loại từ xưa tới nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp." Đây cũng là một cái nhìn quá phiến diện và tổng quát hóa, chẳng có gì là khoa học, như những người cộng sản, bắt đầu bởi Marx thường rêu rao: "Khoa học lịch sử, khoa học biện chứng."

Không cần chứng minh dài dòng, chúng ta chỉ nhìn chính chúng ta và những người chung quanh, xét cuộc đời thì chúng ta rõ: Bình thường con người muốn sống hòa bình. Con người chỉ dùng bạo động trong những trường hợp bị bắt buộc, trường hợp bất bình thường. Điều này đúng với cả lịch sử của những quốc gia.

Marx và những người cộng sản đã lấy cái gì bất bình thường làm cái bình thường, nên từ lý thuyết cho đến chế độ đã trở nên bất bình thường, bệnh hoạn.

Đấy lại chưa nói đến ngay từ lúc đầu, chế độ cộng sản, bề ngoài thì mang nhãn hiệu "Thế giới đại đồng, Anh em cộng sản", nhưng bên trong là chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bành trướng. Bề ngoài mang nhãn hiệu "Liên bang các cộng hòa xã hội Sô viết" ( URSS), nhưng bên trong, Lénine, qua tay em của mình là Staline, vì lúc đó Staline đã đặc trách về vấn đề các dân tộc, tìm cách ép buộc, đàn áp, giết hại những dân tộc chung quanh, bắt họ đi theo Liên sô. Bằng chứng rõ ràng là khi đế quốc Liên sô sụp đổ năm 1989, thì những dân tộc này nổi lên đòi độc lập.

Chính vì mang đầu óc quốc gia cực đoan, bành trướng, nên đã có những vụ tranh chấp Nga - Hoa ở biên giới vào những năm 60, tranh chấp giữa Việt Cộng và Trung cộng, rồi đi đến chiến tranh năm 1979, tranh chấp Việt Miên rồi cũng đi đến chiến tranh trước đó một năm, 1978.

Sau khi Liên sô sụp đổ, thì Việt cộng vội chạy đi thần phục Trung cộng, mở đầu bằng Hội nghị Thành đô tháng 3/1990, và không ngừng ký những hiệp ước dâng đất nhượng biển cho Trung cộng. Nhưng vì Trung cộng từ xưa đã mang mộng bành trướng đế quốc, nay lại được cấy vào vi trùng bất bình thường Mác Lê, nên mộng bành trướng càng ngày càng mạnh. Mặc dầu cả 2 bên, lúc nào cũng rêu rao "Bốn tốt và mười sáu chữ vàng"; nhưng đùng một cái, Trung cộng cho đặt giàn khoan, xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam.

Nhiều người vì tin tưởng ở những câu nói đầu môi, chót lưỡi của cộng sản, "Tình Huynh đệ tốt, Môi hở răng lạnh, Tình đồng chí cộng sản", đã ngỡ ngàng về sự việc Trung cộng đặt giàn khoan dầu ở quần đảo Hoàng sa, thuộc về chủ quyền Việt Nam. Thực ra nếu chúng ta xét lịch sử xa của cộng sản, thì chúng ta không có gì ngạc nhiên. Trung cộng và Việt cộng đã nhiều lần đánh nhau.

Bởi lẽ đó, chừng nào hai dân tộc Việt Nam và Trung hoa vẫn còn phải mang cái ách chế độ cộng sản, lấy lý thuyết Marx làm nền tảng cho chế độ, kêu gọi đấu tranh giai cấp, một lời kêu gọi chiến tranh triền miên, không những chiến tranh trong chính nội bộ, mà còn chiến tranh với nước ngoài, chừng đó hai dân tộc không thể nào sống hòa bình, hòa bình với chính mình, hòa bình với các nước chung quanh và với cộng đồng thế giới.

Người dân sống dưới chế độ độc tài phát xít hay độc tài cộng sản không những chỉ như một hạt mầm gieo trên một mảnh đất khô cằn, mà còn bị giới lãnh đạo dùng như những bia đỡ đạn cho tham vọng bành trướng và đế quốc của mình.

Vì vậy, ngày hôm nay, những chế độ độc đoán độc tài, không phát triển hay phát triển chậm hơn những chế độ dân chủ và đi ngược lại trào lưu tiến hóa của con người là như vậy.

Quả thực nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh, từ trẩy hái qua du mục, quân chủ tới dân chủ ngày hôm nay, mỗi một nền văn minh tương xứng với một mô hình tổ chức nhân xã khác nhau, hay nói một cách rõ hơn, hiện đại hơn là cách tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, hoặc chế độ hay thể chế chính trị khác nhau, từ thể chế gia tộc, bộ lạc, tới quân chủ và dân chủ.

Nước Tàu và Việt Nam hiện nay nói riêng và các nước phương đông nói chung trong đó có cả các nước Trung Đông, những nước này đã có một nền văn minh rất sớm, hơn cả tây phương. Nhưng tiếc rằng chế độ quân chủ kéo dài quá lâu. Ngày hôm nay chế độ cộng sản ở Tàu và Việt Nam cũng chỉ là một chế độ quân chủ phong kiến trá hình. Chế độ quân chủ này trước khi tàn thì bùng lên ở phía phải tức chế độ phát xít, bùng lên ở phía tả, tức chế độ cộng sản, để rồi sẽ tắt luôn như một nhóm lửa trước khi tàn.

Tây phương, mặc dầu văn minh đến chậm hơn đông phương, nhưng đã biết từ bỏ sớm chế độ quân chủ để bước sang chế độ dân chủ và kinh tế thị trường và đã phát triển rất mạnh, vượt mặt đông phương.

Đối với những chế độ quân chủ, từ lạc hậu như ở các nước Trung Đông, cấm đoán ngay cả những người phụ nữ làm đủ mọi thứ nghề, ra đường phải bịt mặt, tới chế độ cộng sản, tước hết mọi quyền căn bản nhất của con người; người xưa có câu "Trễ còn hơn không", hãy từ bỏ thể chế chính trị quân chủ phong kiến, độc tài cộng sản, để bước sang chế độ dân chủ, tôn trọng những quyền căn bản của con người, trong đó có nam nữ bình quyền, có quyền tự do tư tưởng và ngôn luận, thì mới hy vọng theo kịp những nước văn minh. Gương Nam Hàn và Đài loan cho ta thấy rõ. Hai nước này đã từ bỏ chế độ độc tài vào thập niên 80, để bước sang chế độ dân chủ, thế mà ngày hôm nay cả 2 nước đã có thể sánh cùng với những nước văn minh khác trên thế giới.

Đất nước và dân tộc đang đứng trước hiểm họa diệt vong, trong thì đảng cộng sản mặc tình cấu kết với ngoại bang bán đất dâng biển, hèn với giặc, ác với dân, giết hết tinh anh, triệt mọi cơ hội phát triển của người dân, ngoài thì Tàu cộng lộng hành, ngang nhiên kéo dàn khoan đến vùng biển Việt Nam. Con đường duy nhất để chống ngoại xâm là bằng mọi cách phải thay đổi thể chế chính trị, từ độc tài cộng sản qua Dân chủ Tự do, vì có như thế, giới lãnh đạo mới quy tụ được sức mạnh toàn dân, vận động được các quốc gia và cộng đồng yêu chuộng Tự do và Hòa bình trên thế giới cô lập và bẻ gãy mọi mưu mô bá quyền của Tàu cộng. (1)

Paris ngày 07/06/2014
Chu Chi Nam
danlambaovn.blogspot.com
_________________________________________

(1) Xin đọc thêm bài Trung cộng tiêu biểu cho văn minh đông phương và những bài về thể chế chính trị và dân chủ trên http://Orange.fr/chuchinam/

Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Fri Jun 13, 2014 2:06 pm


Cách mạng lật đổ đang đến rất gần






Le Nguyen (Danlambao) - Lịch sử nhân loại từ cổ chí kim, từ đông sang tây và kể từ khi loài người tiến bộ từ bỏ đời sống hang động, săn bắn hái lượm biết kết xã thành lập quốc gia, biết dựng nên chế độ tổ chức cai trị nhà nước - xã hội đã chỉ ra rằng không có bất kỳ chế độ lạc hậu lỗi thời hay độc tài, tàn bạo nào tự nó rời bỏ quyền lực, trao quyền lãnh đạo đất nước cho cá nhân hay tập thể tài năng đức độ xứng đáng hơn hoặc trả lại quyền làm chủ đất nước cho nhân dân. Tất cả mọi cuộc thay đổi thể chế chính trị do lạc hậu lỗi thời hay do độc tài độc ác đều nằm dưới sức ép, sức đấu tranh kiên cường một mất một còn của giai cấp bị trị lên trên giai cấp thống trị, buộc kẻ cầm quyền phải thay đổi hay bị thay đổi và những cuộc thay đổi chế độ chính trị, thông thường xảy ra theo một trong hai cách sau:

Một là giai cấp cầm quyền thức thời biết lắng nghe ý chí nguyện vọng của toàn dân và nhận ra nhu cầu thay đổi mô thức tổ chức cai trị cho phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội, quốc gia đòi hỏi nên tầng lớp thống trị chủ động làm cuộc cách mạng thể chế không đổ máu để bảo toàn mạng sống, bảo vệ quyền lực chính trị lẫn của cải vật chất mà họ đã chiếm hữu trong lúc nắm quyền lãnh đạo quốc gia.

Hai là giai cấp cầm quyền ngoan cố, không thức thời cứ nghĩ rằng với sức mạnh bạo lực khủng bố là chiếc đũa thần vạn năng, có khả năng đè bẹp được mọi cuộc chống đối phản kháng, giữ vững được chế độ, thậm chí là muôn năm trường trị nên lịch sử đã có những cuộc cách mạng vũ lực lật đổ thay đổi thể chế chính trị đẫm máu, diễn ra rất nhiều lần trong quá khứ xa cũng như gần trong giòng lịch sử chính trị của nhân loại.

Ngày nay ai cũng thấy tổ chức cai trị quốc gia theo mô hình cộng sản là tồi tệ nhất so với các mô hình tổ chức cai trị đã được áp dụng trong giòng lịch sử chính trị của xã hội loài người. Nói thẳng ra chế độ độc tài cộng sản là một chế độ phi nhân, hoang tưởng, phản động đi ngược lại chiều tiến hóa của nhân loại, chống lại nhân loại và thế giới loài người tiến bộ đã vất “lý tưởng cộng sản, xã hội cộng sản” vào thùng rác lịch sử.

Thế nhưng tầng lớp lãnh đạo chế độ độc tài cộng sản Việt Nam vì nhiều lý do chủ quan cũng như khách quan, trong đó có lý do tham lam quyền lực, tiền tài vẫn cố giương cao ngọn cờ xã hội chủ nghĩa nhằm lường gạt những kẻ ngu muội như đại biểu quốc hội Nguyễn Bắc Việt - một cá nhân không cá biệt trong tập thể ngu lâu, ngồi trong cơ quan quyền lực cao nhất nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đến thế kỷ 21 vẫn còn mê muội lải nhải luận điệu ngu xuẩn điển hình:

“... Một, phải xác định cho rõ nguyên nhân, phải biết đau lòng với tình hình hiện nay của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. Hai nước xã hội chủ nghĩa lình xình với nhau như thế này, ai có lợi?

Hai, phải tiên định mục tiêu lý tưởng "dĩ bất biến, ứng vạn biến" như Bác đã căn dặn. Đó là phải làm sao giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay. Xem nhẹ chúng ta sẽ chệch hướng.

Thứ ba, nắm chắc quan điểm đường lối, phương pháp cách mạng, pháp luật của Việt Nam trong đấu tranh hiện nay sử dụng Luật biển, sử dụng Hiến pháp của chúng ta để đấu tranh.

Thứ tư, siết chặt kỷ cương thông tin trên báo chí, bảo đảm đúng định hướng và những việc cần làm ngay...” (*)



Phải công nhận rằng đại biểu thạc sĩ Nguyễn Bắc Việt không phải là người duy nhất ngu đảng, ngu xã hội chủ nghĩa, phục vụ trong cái gọi là cơ quan quyền lực cao nhất nước. Nguyễn Bắc Việt cũng không phải là cá biệt ngu lâu trong vũng lầy cộng sản chủ nghĩa, bị xích xiềng trong vòng kim cô dối trá của tuyên giáo cộng sản. Nguyễn Việt Bắc cũng không phải là “trí thức” xã hội chủ nghĩa điển hình cá biệt mà là số đông phổ biến, có niềm tin mù quáng vào đảng, vào chế độ như số đông cá thể có học hàm, học vị của lực lượng công an, quân đội, các cơ quan bộ, ban, ngành...trong hệ thống tổ chức đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam.

Chính vì thực tế cuồng tín ngu dốt, ngu lâu của đại bộ phận cán bộ đảng viên này nên thiểu số lãnh đạo tay sai bán nước cầu vinh biết đến cuối thế kỷ 21 không biết đã có xã hội chủ nghĩa chưa? Mới có thể dẫn dắt những kẻ ngu đảng này vào con đường tội ác chống lại tổ quốc, chống lại nhân dân để bảo vệ thiểu số tham quyền cố vị, thiểu số vô đạo đức, chỉ có mục đích duy nhất là vì lợi ích bản thân và phe nhóm.

Cũng chính vì đám ngu dốt cuồng tín này đốt cháy thiện chí, kiên nhẫn của không ít những người đấu tranh trong ngoài nước, trong ngoài đảng thức thời nhận ra cộng sản là tội ác chống nhân loại, là thảm họa của đất nước dân tộc Việt Nam và biết rằng chỉ có dân chủ hóa mới là con đường đi đến tương lai cho Việt Nam, với khẳng định rằng đảng cộng sản không có con đường nào khác, dù sớm hay muộn phải thay đổi thể chế hay bị tiêu diệt là điều không thể tránh được.

Do đó đã có không ít người chủ trương đấu tranh ôn hòa trong thời gian gần đây không còn kiên nhẫn với đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam nên đã xuất hiện trên thế giới ảo lẫn trong cuộc đời thật kêu gọi đấu tranh theo khuynh hướng đối đầu bạo lực - mạng đổi mạng với an ninh mật vụ, côn an côn đồ cộng sản, thậm chí kêu gọi người dân tự tạo bom xăng, bom mìn tự chế, trang bị súng ống thanh toán ám sát, thủ tiêu các tên côn an ác ôn chống lại nhân dân.

Gần đây đã có một số cá nhân đoàn thể vạch ra ưu thế cũng như giới hạn của phương pháp đấu tranh bạo động lật đổ chế độ độc tài, loại bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản. Trong số góp ý gợi mở đường hướng tích cực với nhiều suy tư cho phương pháp đấu tranh bạo động, có tác giả Vũ Đông Hà viết như sau:

“... Để bấm cò bạn phải có cái gì để bấm. Súng đạn có thể ê hề ở vùng biên giới nhưng thị trường mua bán vũ khí cũng có không ít thành phần tình báo, nắm rõ kẻ buôn người bán và họ có thể là một người bán súng cho bạn. Họ có nhiệm vụ duy nhất là theo dõi thành phần mua súng nhưng không phải là dân buôn thuốc phiện, buôn gỗ, buôn lậu, cũng không nằm trong băng đảng nào. Đó là chưa kể súng đạn đều có những căn cước riêng để từ một vỏ đạn bộ phận an ninh chuyên nghiệp, được đào tạo có bài bản phăng ra xuất xứ. Nhằm có thể thay đổi cả một thể chế độc tài, chắc bạn không phải người lơ mơ và nghĩ rằng chỉ cần có tiền đi lơ ngơ tìm chỗ mua súng là sau đó bình an bấm cò.

Có súng, xác suất bạn dựa cột sau khi bấm cò gia tăng theo tỉ lệ bấm cò của bạn. Nếu sau khi bạn "làm thịt" được một tên côn an hay quan chức ác ôn chắc hẳn bạn phải cho nhiều người biết chuyện đó để dấy động một phong trào tiêu diệt ác ôn. Muốn vậy thì bạn phải có cách phổ biến "thành quả của bạn" và chứng minh đây là một vụ trừ gian diệt bạo của bạn. Nếu không báo lề đảng sẽ cho dân chúng thấy đây chỉ là một vụ giết người lẻ tẻ vì ân oán giang hồ. Do đó, bạn không những chỉ là một xạ thủ có máu lạnh mà còn phải là một chuyên gia thượng thặng hiểu rõ phương thức truy tìm đầu mối những cú điện thoại, xuất xứ một thông tin, clip trên mạng của an ninh chuyên nghiệp để có phương thức qua mặt chúng. Bạn phải trở thành một cao thủ về an ninh tình báo cao cấp hơn cả một tập đoàn chuyên nghiệp ngày đêm được huấn luyện và chỉ tập trung vào lãnh vực này.

Nếu bạn nhảy cấp, không cần tay chân, chẳng cần cò súng, thì bạn sử dụng bom xăng, mìn tự chế. Xác xuất bạn mua những vật liệu nguy hiểm này mà không để lại dấu vết, không bị truy ngược tung tích của bạn tùy thuộc vào kiến thức nhà nghề không thua gì một tên khủng bố quốc tế cao cấp. Bom xăng có thể dễ nhất cho bạn thay vì bom mìn có vật liệu chất nổ. Một lần nữa, khâu khó nhất của bạn là phần quay cảnh dinh thự của một tên quan chức đang nổ cháy và sau đó tung lên thế giới mạng để bàn dân thiên hạ biết đến và tin rằng đó là thành quả của bạn.



Vượt qua hết những thử thách trên, bạn hay nhóm của bạn sẽ thanh toán được bao nhiêu tên côn đồ ác ôn? đốt được bao nhiêu tư dinh của quan chức? làm nổ được bao nhiêu cái đồn của đám côn an? trước khi bạn ra pháp đình mà chế độ độc tài với hơn 3 triệu đảng viên, quân đội, côn an vẫn tiếp tục ngồi trên đầu trên cổ của những người đưa tiễn các bạn về bên kia thế giới...”(**)

Qua trích dẫn trên không khó để chúng ta thấy ưu thế lẫn những giới hạn, rủi ro nhất định trong phương thức đấu tranh bạo động với bom xăng, bom mìn tự chế, súng cá nhân...như vừa bàn đến. Đấu tranh bạo động như thế có rất nhiều khả năng là cuộc chiến lật đổ bạo quyền cộng sản sẽ giằng co, kéo dài và không ai có thể xác định được thời gian chấm dứt. Nói thế không có nghĩa là chúng ta bác bỏ phương cách bạo động xóa sổ chế độ ngoan cố cộng sản với bom xăng, bom mìn tự chế, vũ khí cá nhân... mà với mong muốn rằng, chúng ta cần khai triển kế hoạch, tập trung nguồn lực của các cá nhân, tổ chức có chủ trương sử dụng sức mạnh vũ lực đối đầu với độc tài cộng sản sao cho hiệu quả!

Nghĩa là bên cạnh sử dụng bom xăng, mìn tự chế, vũ khí cá nhân ám sát thủ tiêu các phần tử ác ôn cấp thấp, cấp cơ sở của chế độ...chúng ta cần phải bằng tất cả khả năng, trí tuệ tiếp cận, nhắm vào kho vũ khí khủng của “quân đội nhân dân” đang sở hữu như bom mìn, tên lửa hiện đại của chế độ và suy nghĩ làm sao, vận dụng như thế nào để tổ chức cho bằng được đường dây “nội tuyến”. Từ đó lên kế hoạch ngắn hạn cho đến dài hạn, là với vũ khí bom, mìn, tên lửa...thừa cơ hội cho nổ tung các cơ quan đầu não, trụ cột của đảng cộng sản như bộ chính tri, bộ quốc phòng, bộ công an...vào những dịp đảng tập trung nhân sự lãnh đạo cao cấp tham dự đại hội trung ương đảng, họp quốc hội...

Nếu đấu tranh bạo động, có làm được như thế, có thanh toán trọn gói, hốt trọn ổ bộ đầu não lãnh đạo đảng cộng sản đương quyền, chúng ta mới có thể tránh được thế giằng co, kéo dài có nguy cơ dẫn đến nội chiến lần nữa cũng như nếu chúng ta sử dụng vũ khí hiện đại cho nổ tung bộ đầu não của chính quyền trung ương, vẫn cần số đông quần chúng đồng loạt nổi dậy tiêu diệt chính quyền địa phương và ý tưởng đó phải nằm trong chương trình hành động tổng thể.

Do đó muốn kết thúc chế độ độc tài cộng sản bằng con đường đấu tranh bạo động một cách nhanh chóng thì phương án thanh toán bộ đầu não của đảng cộng sản bằng vũ khí “bom tinh khôn, tên lửa hành trình...” hiện đại nhất đang nằm trong tay “quân đội nhân dân” là không thể thiếu trong kế hoạch, chương trình đấu tranh bạo lực xóa sổ đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam.

Quan sát thái độ ngoan cố, ngu dốt chỉ thấy sức mạnh nằm trên nòng súng của lãnh đạo cao cấp đảng cộng sản cùng với tác động, chi phối của Tàu Cộng vào nội bộ Việt Nam cho chúng ta thấy xác suất thay đổi thể chế độc tài cộng sản sang dân chủ trong hòa bình rất thấp và phương pháp cách mạng vũ trang, thay đổi chế độ nằm dưới sự lãnh đạo của đảng tay sai bán nước cầu vinh đang diễn biến từng ngày, đang tiến đến rất gần với bạo động lật đổ. Điều quan trọng với những ai chủ trương đấu tranh bạo động là làm như thế nào nhanh nhất, ít tốn kém xương máu nhất phải được suy tính, đặt lên hàng đầu trong mọi kế hoạch hành động loại bỏ đảng, chế độ độc tài cộng sản trên đất nước Việt Nam trong tương lai.

Le Nguyen
danlambaovn.blogspot.com
______________________________

Chú thích:

(*) https://www.danluan.org/lien-ket/20140603/dai-bieu-quoc-hoi-nguyen-bac-viet-hai-nuoc-xa-hoi-chu-nghia-linh-xinh-voi-nhau-nhu

(**) http://www.danlambaovn.blogspot.com.au/2014/05/neu-ban-muon-bao-ong.html#more


Về Đầu Trang Go down
HoangNg.
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Sun Jun 15, 2014 9:32 am


Việt Nam phải cách mạng để tồn tại




Phạm Trần (Danlambao) - “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng...” là lời kinh sám hối của Tín đồ đạo Công giáo phải học thuộc từ khi biết đọc và hiểu Giáo lý của đạo.

Đem câu này áp dụng cho hoàn cảnh “trên đe dưới búa” cực kỳ nguy nan trước hiểm họa mất dần chủ quyền đất nước vào tay người Tầu phương bắc thì Việt Nam cần có Cách mạng để tồn tại. Nhưng trước khi có Cách mạng, người dân Việt Nam cần biết những nguyên nhân đưa đất nước đến hoàn cảnh bi đát ngày nay. Trước nhất, 3 nguyên Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh, nếu còn chút liêm sỉ là người Việt Nam và muốn không bị lịch sử lên án phản quốc, họ cần chứng minh mình vô tội trong các thỏa hiệp với Trung Cộng.

Chuyện Đỗ Mười

Người đầu tiên là ông Đỗ Mười, nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Tổng Bí thư đảng Khóa 7 của Cộng sản Việt Nam (CSVN). Ông là người, cùng với nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi ấy là Cố vấn của Ban Chấp hành Trung ương đảng (1986-1997), đã tháp tùng Tổng Bí thư đảng Khóa 6 Nguyễn Văn Linh đi phó Hội nghị bí mật ở Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên, Trung Cộng) trong hai ngày 03 và 04/09/1990. Phía Trung Cộng có Tổng Bí thư đảng, Chủ tịch Nhà nước Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.

Mục đích “lúc đầu”, theo Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” của nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ thì Hội nghị Thành Đô nhằm vào hai vấn đề chính: Campuchia và vấn đề bình thường hòa quan hệ Việt-Trung.

Ngoài ra ông Nguyễn Văn Linh còn ôm mộng sang Thành Đô để “Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa!”

Hồi ký Trần Quang Cơ thuật lại rằng chính ông Linh đã nói với Trương Đức Duy, Đại sứ Trung Cộng tại Hà Nội, trong một cuộc gặp mặt giữa hai người hồi tháng 6/1990 rằng: “Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ xã hội chủ nghĩa, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin. Việt Nam kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin. Những người cộng sản chân chính phải đoàn kết để bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa đế quốc luôn tấn công vào chủ nghĩa xã hội. Chúng tuyên bố đến cuối thế kỷ này sẽ làm cho chủ nghĩa xã hôi biến mất.”

Nhưng tại Thành Đô, phía Trung Cộng đã hoàn toàn chủ động và lái Việt Nam đi theo ý muốn của Bắc Kinh để ép phe Heng Samrin-Hun Sen thân Việt Nam phải chấp nhận giải pháp chính trị “hòa hợp dân tộc” với phe bại trận Khmer đỏ thân Trung Cộng, khi ấy đã phải dạt về biên giới Thái Lan.

Và đây cũng là cái giá Việt Nam phải trả để được bình thường hóa với Trung Cộng, sau 11 năm Trung Cộng đem 600,000 quân tấn công 6 Tỉnh Việt Nam dọc biên giới hai nước năm 1979.

Tuy nhiên, phe Heng Samrin - Hun Sen sau đó đã quay ra hận thù Việt Nam vì Hà Nội đã xen vào “chuyện nội bộ của người Campuchea”.

Ông Trần Quang Cơ viết về thất bại chính trị này của Việt Nam trong Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ”: “Cuộc hội đàm Thành Đô tháng 9.90 hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của ta, hiện tại đó là một sai lầm hết sức đáng tiếc về đối ngoại. Vì quá nôn nóng cải thiện quan hệ với Trung Quốc, đoàn ta đã hành động một cách vô nguyên tắc, tưởng rằng thỏa thuận như thế sẽ được lòng Bắc Kinh nhưng trái lại thỏa thuận Thành Đô đã làm chậm việc giải quyết vấn đề Campuchia và do đó làm việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, uy tín quốc tế của ta bị hoen ố.”

Ông Cơ còn vạch trần “giấc mơ” hão huyền của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh mong được hợp tác với Trung Cộng để bảo vệ Chủ nghĩa xã hội, sau khi khối Liên bang Sô viết tan rã: “Việc ta đề nghị hợp tác với Trung Quốc bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc Mỹ, thực hiện “ giải pháp Đỏ ” ở Campuchia là không phù hợp với Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị mà còn gây khó khăn với ta trong việc đa dạng hóa quan hệ với các đối tượng khác như Mỹ, phương Tây, ASEAN, và tác động không thuận lợi đến quan hệ giữa ta và đồng minh, nhất là quan hệ với Liên Xô và Campuchia.

Trung Quốc một mặt bác bỏ những đề nghị đó của ta, nhưng mặt khác lại dùng ngay những đề nghị đó chơi xấu ta với các nước khác nhằm tiếp tục cô lập ta, gây sức ép với ta và Campuchia.”

Về chuyện này, ông Trần Quang Cơ còn bổ sung thêm phát biểu của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch tại phiên họp kiểm điểm của Bộ Chính trị, sau Hội nghị Thành Đô: “Liên Xô, Anh, Pháp, Nhật, Mỹ đều cho ta biết là Trung Quốc đã thông báo cho họ đầy đủ về Thỏa thuận Thành Đô và nói với họ là lãnh đạo Việt Nam không đáng tin cậy. Trung Quốc đã sử dụng Thành Đô để phá quan hệ của ta với các nước và chia rẽ nội bộ ta...”

Ông Võ Văn Kiệt bổ túc thêm: “Trong thâm tâm tôi, tôi không đồng ý có anh Tô (Phạm Văn Đồng) trong đoàn đi Thành Đô. Nếu có gặp anh Đặng (Đặng Tiểu Bình, người thực sự nắm quyền ở Trung Cộng thời gian này) thì anh Tô đi là đúng. Tôi nói thẳng là tôi xót xa khi biết anh Tô đi cùng anh Linh và anh Mười chỉ để gặp Giang và Lý, không có Đặng. Mình bị nó lừa nhiều cái quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy.”

Hồi ký của nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ kết luận: “Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội thế giới, chống lại hiểm họa “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm “ giải pháp Đỏ ”.

Ngoài những việc bất lợi về mặt ngoại giao cho Việt Nam của Hội nghị Thành Đô do ông Trần Quang Cơ tiết lộ, còn có Văn kiện chính trị quan trọng hơn được gọi là “Kỷ yếu của hội nghị” do chính Lý Bằng soạn để cho hai Tổng Bí thư và Thủ tướng hai nước cùng ký nhưng không được ông Cơ viết ra, có thể ông không được biết hay biết mà bị cấm.

Hai ông Linh và Đồng đã qua đời nên bây giờ chỉ còn lại ông Đỗ Mười là người biết rõ đầu đuôi câu chuyện ở Thành Đô, nhất là hai bên đã đồng ý với nhau và cam kết với nhau những gì trong “Kỷ yếu hội nghị” 1990.

Cho đến nay, 24 năm sau Hội nghị Thành Đô, cả hai nước Việt-Trung đều kín miệng về nội dung “Kỷ yếu hội nghị”, nhưng theo tiết lộ của Cụ Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ của CSVN tại Bắc Kinh từ 1974 đến 1987 thì phía Trung Cộng đã buộc Việt Nam không được nhắc đến 2 vấn đề gai góc có lợi cho Trung Cộng nhưng vô cùng tai hại và hiểm độc đối với Việt Nam, đó là: 1) Chuyện Hoàng Sa đã bị Trung Cộng chiếm của Việt Nam từ tháng 1/1974 và, 2) Cuộc chiến xâm lược của 600,000 quân Trung Cộng vào 6 tỉnh biên giới Việt Nam năm 1979.

Riêng chuyện quân Trung Cộng đánh chiếm đảo Gạc Ma và 7 bãi đá ngầm của Việt Nam trong quần đảo Trường Sa năm 1988 dưới thời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười thì cho đến nay, Việt Nam không dám đánh đuổi quân xâm lược mà còn đang “sống chung hòa bình” ở đó như không có chuyện gì xảy ra, dù rằng 64 lính của quân đội Việt Nam đã bị quân Trung Cộng giết chết trong cuộc chiến 1988.

Bây giờ thì lịch sử Biển Đông đã rẽ sang khúc quanh mới có lợi cho Trung Cộng khi Bắc Kinh “tự do” đặt giàn khoan tìm kiếm dầu Hải Dương 981 vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ ngày 02/05/2014. Trung Cộng cũng đang có kế họach xây dựng một “căn cứ hải-không quân” nổi ở Trường Sa để xác nhận chủ quyền và khống chế Việt Nam và các nước có tranh chấp biển đảo với Bắc Kinh.

Như vậy, nếu ông Đỗ Mười còn là người Việt Nam yêu nước và không muốn tên mình bị lịch sử bôi đen thì hãy can đảm xác quyết với nhân dân có hay không chuyện ông đã cùng với ông Nguyễn Văn Linh và Phạm Văn Đồng cam kết với hai lãnh đạo Trung Cộng, Tổng Bí thư đảng, Chủ tịch nước Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng tại Hội nghị Thành Đô (Tứ Xuyên) năm 1990 rằng Việt Nam sẽ “không bao giờ nhắc đến chuyện Hoàng Sa 1974 và cuộc chiến tranh biên giới 1979”?

Trong khi chờ đợi câu trả lời, và có thể chẳng bao giờ có, của ông thì ông Đỗ Mười và tất cả lãnh đạo của đảng CSVN cần đọc lại đoạn dưới đây trong Hồi ký lịch sử của ông Trần Quang Cơ:

“Ngày 5-10/11/91, sau khi Hiệp định về Campuchia được ký kết ở Paris, Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để hoàn thành việc bình thường hóa mối quan hệ bị trục trặc lớn từ tháng 2/79.

Nhưng trong khi lãnh đạo ta ôm kỳ vọng cùng Trung Quốc “bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc” thì họ đã xác định quan hệ với ta là “thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đầu” (thân nhưng không gần, sơ nhưng không xa, đấu tranh nhưng không đánh nhau).

Trung Quốc nói thế song luôn luôn lấy thế nước lớn để lấn chiếm lãnh thổ lãnh hải ta, và hiểm độc nhất là không ngừng tác động vào nội bộ ta.”

Bộ ba Phiêu-Mạnh-Trọng


Trong trường hợp của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thì ông chỉ cần trả lời với nhân dân xem ông có nhượng đất và nhượng biển cho Trung Cộng khi ký hai Hiệp định “Phân định biên giới trên đất liền” và “Phân định vịnh Bắc Bộ” trong hai năm 1999 và năm 2000?

Mục Nam Quan đã mất, 2/3 Thác Bản Giốc đẹp nhất và một phần Vịnh Bắc Bộ đã thuộc về Trung Cộng có phải là bằng chứng không?

Ông Phiêu cũng cần cho dân biết có bao nhiêu cây số vuông, kể cả điểm cao 1509, hay núi Lão Sơn thuộc tỉnh Hà Giang (tên cũ là Hà Tuyên) đã nằm gọn trong tay Trung Cộng sau cuộc chiến Biên giới thứ hai từ tháng 4 năm 1984 đến tận năm 1990?

Đối với nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thì điều quan trọng nhất là tại sao ông đã “tự ý ký thỏa hiệp để cho Trung Cộng vào khai thác Bauxite ở vùng đất chiến lược Tây Nguyên” để bây giờ chịu thua lỗ không gỡ ra được mà còn nguy hiểm cho an ninh quốc gia?

Ông Mạnh cũng cần phải trả lời thắc mắc tại sao ông đã để cho 90% dự án kinh tế chiến lược lọt vào các Công ty Trung Cộng và không ngăn cản các địa phương cho người Tầu thuê đất trồng rừng và xây dựng cơ sở dọc theo duyên hải trong hàng chục năm khi ông tại chức trong hai khóa đảng từ 2001 đến 2011?

Đối với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người kế vị ông Mạnh từ tháng 01/2011 cũng phải giải thích với lịch sử tại sao ông đã ra lệnh cho Công an ngăn cản, bắt giam và đàn áp thô bạo những người dân biểu tình chống Trung Cộng xâm chiếm biển đảo
và giết hại ngư dân Việt Nam ở Biển Đông từ năm 2011 đến nay.

Ông Trọng cũng có trách nhiệm đã để cho Thương lái Trung Cộng tự do hoành hành và phá hoại kinh tế Việt Nam; để cho hàng hóa Trung Cộng tự do nhập lậu vào thị trường để giết các doanh nghiệp trong nước và để cho các Công ty Trung Cộng tự do đem hàng nghìn lao động phổ thông vào Việt Nam cướp việc của dân Việt?

Ông cũng cần cho dân biết tại sao Nhà nước đã dành nhiều đặc quyền, đặc lợi cho Công ty Trung Cộng trúng thầu các dự án kinh tế quan trọng; cho các doanh nghiệp Tầu Bắc Kinh thuê đất từ 50 đến 70 năm tại các địa điểm chiến lược như Vũng Áng (Hà Tĩnh) và Cửa Việt (Quảng Trị)?

Song song với kế họach “mở rộng lãnh thổ cho Tầu vào nhà”, ông Tổng Bí thư đảng CSVN còn để cho hàng chục nghìn dân Tầu nhập cư bất hợp pháp và lập các khu phố, vùng dân cư xen kẽ với xóm làng và thành phố Việt Nam từ Nam ra Bắc?

Ngoài ra, trong cương vị “lãnh đạo toàn diện nhà nước và xã hội”, ông còn cấm không cho dân và cựu chiến binh tổ chức truy điệu và tưởng niệm những chiến sỹ và đồng bào Việt Nam đã hy sinh trong 3 cuộc chiến chống quân Trung Cộng xâm lược tiêu biểu nhất trong Thế kỷ 20 tại Hoàng Sa (1974), Cuộc chiến biên giới 1979 và trận Trường Sa năm 1988?

Rồi ông cũng hành động đầy nghi ngờ khi bác yêu cầu của Quốc hội muốn Chính phủ báo cáo về tình hình Biển Đông. Giữa lúc Trung Cộng tuyên bố thành lập Thành phố Tam Sa bao gồm Hoàng Sa, Trung Sa (bãi cạn Scarborough có tranh chấp với Phi Luật Tân) và Trường Sa năm 2012 và nhiều ngư dân Việt Nam bị lính Trung Cộng giả dạng Hải giám, Kiểm ngư đánh đập tàn nhẫn, thuyền cá bị tấn công và cướp đi tài sản và ngư cụ thì ông Trọng bảo “tình hình Biển Đông không có gì mới”!



Lê Đức Anh


Cuối cùng là Đại tướng Lê Đức Anh cũng có bổn phận phải bạch hóa “hồ sơ thân Trung Cộng” của ông khi giữ Bộ trưởng Quốc Phòng trong giai đoạn 16/02/1987 – 10 tháng 08/1991 và Chủ tịch Nước từ 23/09/ đến 24/09/ năm 1997.

Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” của nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ đã nói rất rõ vai trò “khuynh loát” và “đi đêm” với các sứ giả Trung Cộng của ông khi Việt Nam bị Trung Cộng ép tham gia vào “giải pháp Đỏ” để tìm giải pháp chính trị cho Campuchea.

“Giải pháp Đỏ” là kế hoạch chính trị của Trung Cộng nhằm tạo thế “liên hiệp bình đẳng” cho phe Khmer đỏ (thân Bắc Kinh) tại bàn hội nghị với phe Heng Samrin-Husen (thân Việt Nam) để thành lập Hội đồng Quốc gia Tối cao Campuchia (Supreme National Council, SNC), sau khi Việt Nam hoàn tất rút quân khỏi chiến trường Campuchea năm 1989.

Ông Lê Đức Anh đã sát cánh với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười làm theo ý muốn của Trung Cộng để, một mặt bảo đảm thế chính trị cho Khmer đỏ sau khi đã “bằng lòng không lập lại vấn đề “tội diệt chủng giết trên 1 triệu người Campuchea” của Khmer đỏ và mặt khác giúp Trung Cộng duy trì “ảnh hưởng của họ ở Campuchea”.

Tuy nhiên, theo quan điểm của Bộ Ngoại giao Việt Nam lúc đó thì giải pháp này bất lợi cho cả Việt Nam lẫn phe Heng Sanrin-Hun Sen nên Bộ Trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch và Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ quyết liệt chống đối nhưng bất thành vì có bàn tay của Lê Đức Anh thúc sau lưng hai ông Linh và Mười.

Vì lập trường “chống giải pháp Đỏ” của Trung Cộng mà Ngoại trượng Nguyễn Cơ Thạch không được tham dự Hội nghị Thành Đô. Và cũng tại Thành Đô, phía Trung Cộng đã công khai yêu cầu phía Việt Nam loại ông Thạch ra khỏi Bộ Chính trị và Bộ Ngoại giao, theo nhiều bài viết không hề bị cải chính của một số cựu viên chức cao cấp đảng, trong đó có Cụ nguyên đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh.

Quả nhiên tại Đại hội đảng kỳ VII tháng 6/1991, ông Nguyễn Cơ Thạch đã bị phe Nguyễn Văn Linh-Đỗ Mười-Lê Đức Anh loại ra khỏi Bộ Chính trị và mất luôn chức Bộ trưởng Ngoại giao, theo yêu cầu của Trung Cộng!

Sau khi thay Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư, ông Đỗ Mười đã mau mắn chứng minh sự “tuân phục Bắc Kinh” của mình, theo Hồi ký của ông Trần Quang Cơ ghi lại: “Ngày 9/7/91, vừa được bầu làm Tổng bí thư, Đỗ Mười gặp đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy tỏ ý muốn cử Đặc phái viên đi Bắc Kinh để thông báo về Đại hội VII và trao đổi về quan hệ giữa hai nước.

Trước đó ít ngày - ngày 11/6/91 - Bộ Ngoại giao ta cũng đã gặp đại sứ Trung Quốc đề nghị mở lại đàm phán cấp Thứ trưởng Ngoại giao hai nước.

Ngày 17/7, Trung Quốc trả lời đồng ý gặp cấp Thứ trưởng ở Bắc Kinh từ 5/8 đến 10/8.

Hai ngày sau, Trung Quốc trả lời đồng ý việc ta cử Đặc phái viên gặp lãnh đạo Trung Quốc, nhưng lại sắp xếp cuộc gặp Đặc phái viên Đảng trước cuộc gặp Thứ trưởng Ngoại giao...

Việc làm trên cho thấy một mặt Trung Quốc muốn gặp ta ở cả hai cấp, mặt khác muốn dùng những thỏa thuận với cấp Đặc phái viên để ép ta trong cuộc gặp cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Để đề cao công việc này, phía Trung Quốc đã đề nghị thay chữ “Đặc phái viên” thành “đoàn Đại diện đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam” tuy Đoàn chỉ có 2 thành viên là Lê Đức Anh và Hồng Hà.

Hồng Hà lúc đó là Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại. Phụ tá đoàn là Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại của Đảng. Tôi nhớ khi đó Bộ Ngoại giao có đề nghị có một Thứ trưởng Ngoại giao là ủy viên Trung ương đi với đoàn để nắm tình hình vận dụng vào cuộc đàm phán cấp Thứ trưởng Ngoại giao ngay sau đó, nhưng đề nghị không được chấp nhận. Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Đặng Nghiêm Hoành cũng không được tham dự các hoạt động của đoàn, trong khi đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Trương Đức Duy lại có mặt trong mọi hoạt động chính thức của đoàn tại Trung Quốc.”

Thế rồi chuyện “hạ mình xin lỗi” Trung Cộng của Lê Đức Anh đã diễn ra, theo ông Trần Quang Cơ kể tiếp: “Ngày 28/7/91, đoàn đã đến Bắc Kinh và trong mấy ngày sau đó đã gặp Kiều Thạch, Lý Bằng, Giang Trạch Dân thông báo khá chi tiết về Đại hội VII. Thông báo cả những ý kiến khác nhau quá trình thảo luận, tranh luận và việc biểu quyết những vấn đề quan trọng trong Đại hội, và cơ cấu nhân sự của Ban Chấp hành Trung ương mới..., Giang Trạch Dân và Lý Bằng tỏ ra quan tâm đến việc Việt Nam sẽ có Ngoại trưởng mới (thay Nguyễn Cơ Thạch) trong kỳ họp Quốc hội tháng 8/91, Giang tỏ ý hài lòng: “Từ đáy lòng mình, tôi hết sức hoan nghênh kết quả Đại hội VII của các đồng chí Việt Nam”.

Đặc biệt mặc dù chuyến đi có mục đích gặp lãnh đạo Trung Quốc thông báo về Đại hội VII và bàn quan hệ hai nước, nhưng Lê Đức Anh và Hồng Hà đã chủ động xin gặp Từ Đôn Tín tới 2 lần, chiều 29/7 và tối 31/7 để tạ lỗi (?).

Mở đầu cuộc gặp chiều 29/7, Lê Đức Anh đã nói:

“Năm ngoái khi đồng chí Từ Đôn Tín sang Việt Nam đã xảy ra một số trục trặc không hay lắm do phía chúng tôi gây ra (!) Đồng chí Nguyễn Văn Linh và chúng tôi khi biết việc này, chúng tôi không vui lắm. Hôm nay gặp đồng chí, tôi nói tình cảm của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và của tôi... Tình hình trục trặc trong quan hệ là một việc đau lòng, nhất là giữa những người cộng sản. Khúc nhạc cũ đã qua rồi, mong các đồng chí yên tâm”.

Chuyện “không hay ho lắm” hay “là một việc đau lòng” chính là cuộc va chạm bằng ngôn ngữ gay gắt mà trước khi bị mất chức, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã “dạy cho Đặc phái viên, Trưởng đoàn đàm phán Từ Đôn Chính một bài học” khi họ Từ sang Hà Nội ép ông Thạch chấp nhận “giải pháp Đỏ” ngồi lên đầu đồng minh Heng Samrin-Hunsen.

Như vậy thì chuyện lãnh đạo CSVN nào thân Tầu, ai qụy lụy Tầu và ai sẵn sàng thỏa hiệp với Bắc Kinh để được tại chức an thân đã rõ chưa, hay cần Trung Cộng đặt thêm vài chục giàn khoan cỡ HD-981 ở Trường Sa và Vịnh Bắc Bộ, hay cạnh đảo Lý Sơn, hoặc gần đảo Phú Quốc thì đảng CSVN mới “sáng mắt sáng lòng”?

Và nếu tất cả các ông Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng và Lê Đức Anh không trả lời được những thắc mắc trong bài này thì liệu Việt Nam có cần một Cuộc Cách Mạng để giữ nước?


(06/2014)
Phạm Trần
danlambaovn.blogspot.com

Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Wed Jul 23, 2014 9:41 am


"Bây giờ số phận của đất nước tùy thuộc vào nhân dân thôi"


Nam Nguyên/RFA  
Thứ Ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014




Trung Quốc âm mưu thôn tính biển Đông khóa chặt Việt Nam trong vòng lệ thuộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đang đứng giữa ngã ba lịch sử, thân Trung Quốc để giữ đảng và vai trò độc quyền cai trị hay chấp nhận cải tổ chính trị, dân chủ hóa đất nước tìm chỗ dựa bảo vệ chủ quyền.

Liên minh và không liên minh

Sự kiện Nhà nước Việt Nam khẳng định không liên minh với ai để chống nước thứ ba, được các nhà phản biện gọi là sự không tưởng trong tư duy chiến lược, hoặc biểu lộ sự nhu nhược chủ hòa với kẻ xâm lăng bá quyền Trung Quốc.

Ông Lê Phú Khải, nhà báo kỳ cựu từng ở trong guồng máy thông tin tuyên truyền của nhà nước Việt Nam từ Hà Nội nhận định:

“ Một nước bé như nước mình, nước Việt Nam mà không liên minh với một nước thứ ba không có một chỗ dựa thì làm sao mà có thể đương đầu với Trung Quốc mạnh hơn mình. Rõ ràng là không tưởng và điều này chứng tỏ nhà nước Việt Nam cũng chưa thoát Trung được, chưa nhìn thấy rõ kẻ thù thâm độc như thế nào, vẫn còn lấn cấn không thoát Trung ra được, không dứt khoát nên mới đưa ra chiến lược như thế.”

Theo ông Nguyễn Trung, một cựu Đại sứ của chế độ Hà Nội, Việt Nam trong thể chế hiện nay, nếu có nài xin cũng chẳng có nước nào muốn liên minh. Trong bài viết được phổ biến trên các trang mạng xã hội, ông Nguyễn Trung cho rằng: “… Nếu dân tộc ta, nước ta còn chưa đủ bản lĩnh sống vì chính ta, thì ai dám liên minh với ta? Xin hãy tự hỏi mình: Bản thân chúng ta có dám kết thân với kẻ ba, bốn mặt, hư, ăn bám và èo uột không.”

Cùng về vấn đề liên quan, TS Phạm Chí Dũng thành viên sáng lập Hội Nhà Báo Độc Lập từ TP.HCM phân tích:

“ Trừ phi người Việt Nam biến thành người Philippines và tự đứng bằng đôi chân của mình và sau đó thì mới nhờ tới người Hoa Kỳ. Khi người Hoa Kỳ thấy người Philippines tự đứng bằng đôi chân của họ, tự dám bắt tàu cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải thì lúc đó Manila mới có được Hiệp định tương trợ quốc phòng đối với Mỹ. Còn Việt Nam bản lĩnh quá kém, cả thế giới coi thường không muốn có bất kỳ mối tương trợ quân sự nào về mặt thực chất, cho dù Việt Nam đã có hàng chục đối tác chiến lược toàn diện mà trong đó đối tác chiến lược toàn diện lớn nhất, có ý nghĩa nhất chính là Trung Quốc và Trung Quốc đang trở mặt với Việt Nam.”

Trong bài viết góp ý với Đại hội Đảng khóa XII sắp tới được phổ biến trên mạng, cựu Đại sứ Nguyễn Trung cảnh báo những kịch bản đen tối nhất có khả năng xảy đến cho Việt Nam. Ông Nguyễn Trung kêu gọi Đảng đấu tranh, cắt đứt cái thòng lọng ý thức hệ và sự nô lệ của quyền lực, cũng như sự cám dỗ của của mọi lợi ích tội lỗi, trả lại quyền làm chủ đất nước cho nhân dân. Từ đó Việt Nam cùng các nước trong khu vực tranh đấu thắng lợi trước bá quyền Trung Quốc, tránh được chiến tranh. Vẫn theo ông Nguyễn Trung, nếu chọn lựa con đường này, chế độ toàn trị cùng với mọi quyền lực và đặc quyền của nó sẽ không còn nữa, Đảng CSVN phải trở thành một đảng khác, hoặc sẽ không tồn tại nữa.



Không còn cách nào khác


Trò chuyện với chúng tôi, nhà báo Lê Phú Khải nhận định:

“ Nếu mà bảo vệ toàn trị thì không thể đi với dân chủ được. Dân chủ là minh bạch là công khai là đa nguyên. Khi mà toàn Đảng hô lên tổ quốc trên hết thì nó khác, còn nếu bây giờ lại chế độ trên hết thì nó khác. Nếu bây giờ bảo hộ chế độ thì Đảng rất là cô đơn không có nhân dân cũng không có đồng minh. Đây là điều Đảng Cộng sản Việt Nam phải lựa chọn không có cách nào khác.”

Đáp câu hỏi của chúng tôi là, có khả năng nào cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam vào kỳ Đại hội Đảng lần thứ XII sắp tới sẽ chọn lựa tổ quốc thay vì độc quyền cai trị. Nhà báo Lê Phú Khải nhận định:

“ Đây là câu hỏi khó vì nó là chính trị, nó biến động, đa dạng và nó bất ngờ, không ai có thể đoán được. Nhưng tôi nghĩ và theo những gì tôi cảm nhận được thì Đảng Cộng sản không thay đổi đâu, bây giờ số phận của đất nước tùy thuộc vào nhân dân thôi.”

Vận mệnh đất nước đang ở trong tay nhân dân như cách nhìn thế sự của nhà báo lão thành Lê Phú Khải. Nhưng nhân dân đâu có quyền lực cũng chẳng có lãnh tụ để đấu tranh. Tuy vậy ông Lê Phú Khải nói là ông vẫn tin vào xu thế thay đổi của thời đại. Ông nói:

“ Tôi nghĩ là thời đại này là thời đại thông tin, xã hội dân sự nó sẽ hình thành và nó sẽ phát triển, nhưng tất nhiên sẽ chậm. Dân trí như thế này thì nó chậm nó lâu, còn nếu đảng cầm quyền đứng ra cải tổ thì nó mau. Nhất định xu thế của thời đại là xu thế dân chủ rồi. Ngay cả Trung Quốc cũng không mạnh và chế độ toàn trị cũng không mạnh, sớm muộn cũng phải thay đổi không thể như thế này mà tồn tại được.”

Khi cảnh báo với Đại hội Đảng khóa XII sắp tới, cựu Đại sứ Nguyễn Trung cũng đề cập tới khả năng Đảng Cộng sản Việt Nam chọn con đường chủ hòa theo kiểu đầu hàng, không kiện ra quốc tế, chấp nhận đàm phán song phương cho vấn đề Biển Đông, gác tranh chấp cùng khai thác, để tạm thời tránh được chiến tranh bảo vệ quyền lực và tài sản của riêng họ. Ông Nguyễn Trung gọi cách chủ hòa như thế là phương án chấp nhận chết dần từng nấc về thể xác, nhưng chết ngay và chết hẳn về nhân cách một quốc gia, một dân tộc. Nhân dân Việt Nam sẽ phản kháng quyết liệt và dù Đảng có dùng nội chiến để đàn áp nhân dân đi nữa, thì theo vị cựu Đại sứ, trước sau và cuối cùng vẫn sẽ là cái chết nhục nhã của quyền lực.

Về phần nhà báo Lê Phú Khải, ông nói  người dân Việt Nam sẽ không chấp nhận đầu hàng Trung Quốc dưới bất cứ hình thức nào. Cho nên sẽ là thảm họa khi nhân dân không còn chấp nhận chính phủ của mình.


Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Wed Jan 14, 2015 1:50 pm




Có bài học nào cho nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam?

Nguyễn Thu Trâm
 
Trong những ngày qua, cả báo chí Việt Nam lẫn Quốc Tế đều đầy kín các bản tin về cuộc chính biến ở Ukraine, về việc cảnh sát chống bạo động đã bắn thẳng vào những người biểu tình khiến hơn 80 người thiệt mạng, mà theo một tài liệu tìm được trong một căn hầm gần nhà của cựu Tổng thống Viktor Yanukovych, thì đích thân Viktor Yanukovych đã vẽ lên kế họach đàn áp đẫm máu người biểu tình Ukraine. Chính ông chuẩn bị đưa 10.000 lính dù, bộ binh và xe tăng phối hợp cùng 20.000 cảnh sát vũ trang sẽ bao vây khu vực chiếm đóng của người dân biểu tình.

Kinh hoàng hơn cả là việc xấp xỉ 100 lính bắn tỉa chuyên nghiệp sẽ được đưa đến, chiếm lĩnh những cao ốc để bắn từ trên cao bắn  xuống  đám đông biểu tình. Kế hoạch này đã được vẽ ra từng chi tiết, sẵn sàng cho cả thành phố Kiev tắm trong biển máu, miễn là dập tắt được làn sóng biểu tình cũng như mọi manh nha đảo chánh nhằm lật đổ chính phủ của tổng thống đương quyền Yanukovych.

May thay, Trời đã không phụ lòng người, cách mạng của nhân dân Ukraine đã thành công trước ngày ĐỊNH MỆNH, tức là ngày mà Viktor Yanukovych sẽ thực hiện hành động đàn áp đẫm máu như kế hoạch đã vạch ra trước đó, nhờ vậy mà máu nhân dân Ukraine không phải chảy thành song, xương không phải chất thành núi như ý định của kẻ đặt quyền lực và quyền lợi cá nhân lên trên lợi ích của dân tộc.

Chỉ 48 giờ sau khi nổ ra cuộc bạo động, Viktor Yanukovych đã phải rời khỏi quê nhà, đào tẩu sang Nga để bảo toàn tính mạng, nhưng với những tội ác mà ông ta đã gây ra với người dân Unkaina, dù đang ở Nga nhưng tính mạng của Viktor Yanukovych đã chắc gì bảo toàn được.

Nhân chính biến ở Ukraine và sự trốn chạy của một nhà độc tài, xin được điểm lại kết cục của một số lãnh tụ cộng sản cũng như một số nhà độc tài, như là một cảnh báo cho các lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam về một kết cục tương tự, không thể tránh khỏi của họ một khi mà nhân dân đồng lòng nổi dậy.

1.     Kết cục của lãnh tụ cộng sản Romania Nicolae Ceauşescu:



Trong khi cả đất nước đang trải qua thời gian cực kỳ khó khăn với những hàng dài người trước các cửa hàng thực phẩm rỗng không, tổng bí thư đảng cộng sản Romania Nicolae Ceauşescu thường xuất hiện trên đài truyền hình nhà nước trong các cửa hàng đầy ắp thức ăn, tới thăm những lễ hội thực phẩm và nghệ thuật lớn nơi người dân mang tới cho ông những loại thực phẩm ngon lành và ca ngợi thành tựu “tiêu chuẩn sống cao” đạt được dưới quyền cai trị của ông. Những đội cung cấp thực phẩm sẽ lấp đầy các cửa hàng trước khi ông đến, và thậm chí những chú bò được nuôi nấng tử tế sẽ được chở đi khắp nước để tham gia vào các cuộc thăm viếng các nông trang của ông. Điều này chắc chắn là không xa lạ gì với Miền Bắc XHCN tại Việt Nam cùng khoảng thời gian đói khát và rách rưới ấy.

Rồi điều gì đến cũng đã đến! Cùng với sự sụp đổ của cái gọi là hệ thống Xã Hội Chủ Nghĩa ở Đông Âu, vào Ngày 21 tháng 12 năm 1989, cuộc tụ họp lớn, được tổ chức tại nơi giờ là Quảng trường Cách mạng, biến thành sự hỗn loạn. Hình ảnh Ceauşescu vô cảm trước sự la ó của đám đông là một trong những khoảnh khắc mạnh mẽ nhất về sự sụp đổ của Chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu. Vợ chồng nhà độc tài, không thể kiểm soát nổi đám đông, cuối cùng phải ẩn trốn trong toà nhà, và họ tiếp tục ở đó tới ngày hôm sau.

Ceauşescu và vợ Elena đã bỏ chạy khỏi thủ đô với Emil Bobu và Manea Mănescu và đi tới ngôi nhà của Ceauşescu tại Snagov, từ đó họ tiếp tục đi tới Târgovişte. Gần Târgovişte, họ bỏ lại chiếc trực thăng, đã bị quân đội ra lệnh hạ cánh, khi ấy chiếc máy bay cũng bị giới hạn chỉ bay trong không phận Romania. Vợ chồng Ceauşescu bị cảnh sát bắt giữ. Cuối cùng cảnh sát giao hai vợ chồng cho quân đội. Ngày 25 tháng 12 cùng năm, hai người bị một toà án quân sự xử tử hình vì tội từ làm giàu trái phép cho tới diệt chủng, và đã bị hành quyết tại Târgovişte.

Vợ chồng Ceauşescu bị một đội hành quyết bắn, với hàng trăm người tình nguyện tham gia, gồm cả binh sĩ thuộc trung đoàn dù tinh nhuệ Ionel Boeru, Dorin Cârlan và Octavian Gheorghiu, bằng dùng súng trường. Đội hành quyết không cần đợi việc trói và bịt mắt hai vợ chồng, như truyền thống dành cho người bị hành quyết theo cách đó, mà đơn giản bắn ngay khi họ xuất hiện. Sau khi vụ xử bắn kết thúc, thân thể hai vợ chồng bị phủ vải bạt. Cuộc xử án vội vã và những hình ảnh về cái chết của hai vợ chồng Ceauşescu đã được ghi lại và phát sóng ngay sau đó ở nhiều quốc gia phương tây. Đoạn băng xử án và những hình ảnh thân thể  đã được chiếu cùng ngày hôm ấy trên TV cho công chúng Romania.

2.     ​Kết cục của nhà độc tài Saddam Hussein:




Là Tổng thống Iraq từ 1979 cho đến năm 2003, nhà độc tài Sadam Husein đã đưa rất nhiều bà con trong dòng tộc ở Tikrit vào nắm những chức vụ quan trọng trong chính phủ. Với những biện pháp tàn bạo, ông đã gieo rắc sợ hãi trong dân chúng, đặc biệt là đối với khối người Hồi giáo Shia chiếm đa số và khối người Kurd.

Sau khi nắm được quyền lực vào năm 1979 sau cuộc đảo chính, Saddam Hussein đã tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài nhằm xâm lăng nước láng giềng Iran suốt 8 năm (1980-1988) làm hàng triệu người chết và tàn phế của cả hai bên. Điều này đã khiến Liên Hiệp Quốc phải thông qua nghị quyết cấm vận Iraq.

Trong nước, ông nổi tiếng vì phong cách lãnh đạo “bàn tay sắt”. Khi con trai ông bị ám sát, ông đã cho quân giết sạch những người dân ở các làng gần đó. Tiêu biểu cho thời kỳ Saddam có cuộc tàn sát 148 dân làng Doujail người Shiite (năm 1982); cuộc tiêu diệt người Kurd ở làng Halabja vào năm 1987 khiến 5.000 người chết; cuộc tàn sát người Shiite năm 1991, sau cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất số nạn nhân lên đến hàng chục vạn người.

Do tàng trữ vũ khí giết người hàng loạt, Saddam Hussein đã bị bắt khi quân đội Hoa Kỳ tấn công vào Iraq, và tháng 11 năm 2005 ông bị đem ra tòa án xét xử, và bị kết tội “chống lại loài người”. Sadam Hussein đã bị thi hành án tử hình bằng treo cổ tại Bagdad, Iraq Lúc 6 giờ 05′ ngày 30 tháng 12 năm 2006.

3.    Kết cục của nhà độc tài Muammar Abu Minyar al-Gaddafi



Muannar Gaddafi là lãnh đạo của “Chủ nghĩa xã hội Hồi giáo” Libya, ông  còn tự phong cho mình là “Vua của các vị vua châu Phi” và “lãnh tụ của chủ nghĩa Hồi giáo”. Là người được xem là độc tài, độc đoán và tàn bạo nhất Bắc Phi, Gaddafi từng có những tuyên bố mà xét về độ lọan ngôn hay vỹ cuồng thì không khác mấy so với các lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam, đại loại như: “Không có nước nào trên khắp hành tinh này lại có một nền dân chủ, ngoại trừ Libya.” Hay:  ”Những kẻ nào không yêu tôi thì đều không đáng sống“.

Ngày 16 tháng 5 năm 2011, Tòa án tội phạm quốc tế (ICC) đã phát lệnh bắt Gaddafi và con trai với cáo buộc phạm tội ác chống lại loài người, bao gồm giết hại và tra tấn người biểu tình trong giai đoạn 15 tháng 2 đến 28 tháng 2 năm 2011. Gaddafi đã thực hiện một cuộc trấn áp đẫm máu nhằm vào người biểu tình chống lại chính quyền của ông, tiếp sau làn sóng nổi dậy ở khắp Trung Đông hồi đầu năm 2011. Ngày 27 tháng 6, Gaddafi và hai người thân cận nhất – con trai Saif al Islam và lãnh đạo tình báo Abdullah al Sanousi đã chính thức bị Tòa án Hình sự Quốc tế ở La Hay ra lệnh truy nã quốc tế. Đến ngày 25 tháng 10, Gaddafi đã bị những người nổi dậy bắn chết sau khi tìm thấy ông đang ẩn mình dưới một cống thoát nước của thành phố. Cùng xác con trai Mutassim và xác của cựu bộ trưởng quốc phòng Abu Bakr Younis, xác của Muannar Gaddafi đã được đem chôn tại một nơi bí mật trong sa mạc.

Bình luận về cái kết cục của Muannar Gaddafi, Tổng thống Obama khẳng định: “Tôi cho rằng, cái chết thê thảm của nhà độc tài Gaddafi là lời cảnh tỉnh mạnh mẽ cho những nhà độc tài khác trên thế giới, rằng nhân dân cần được tự do, họ cần được tôn trọng quyền sống cũng như nguyện vọng cơ bản của mình”.

Trở lại với chính biến tại Ukraina


Với quyền lực tưởng như tuyệt đối trong tay, và với bản chất tàn bạo của một kẻ độc tài, sẵn sàng đàn áp đẫm máu những người biểu tình bằng một kế hoạch thảm sát được hoạch định đến từng chi tiết hành động với một đội quân hùng hậu và tinh nhuệ gồm 10.000 lính dù, bộ binh và xe tăng phối hợp cùng 20.000 cảnh sát vũ trang sẽ bao vây khu vực chiếm đóng của người dân biểu tình. Xét về mưu mô và sách lược thì kế hoạch của Viktor Yanukovych y như một bản sao chép những việc mà đảng, nhà nước và các cơ quan an ninh của Việt Nam vẫn từng làm mỗi khi ở đâu đó trên đất nước diễn ra một phiên tòa “công khai” xét xử những nhà bất đồng chính kiến, những nhà hoạt động nhân quyền, hay những lần tụ tập biểu tình của những người yêu nước, phản đối hành động gây hấn hay cướp đất đai, biển đảo của Trung cộng.

Thế nhưng rõ là thiên bất dung gian, trời đã không dung túng cho kẻ thủ ác, nên cuối cùng thì Viktor Yanukovych cũng đã phải trốn chạy tháo thân trước sự phẫn nộ của người dân. Nhân dân, thông qua Chính phủ mới của Ukraine đã phát lệnh truy nã Viktor Yanukovich, đồng thời cũng đã gửi đơn tố cáo Viktor Yanukovych lên tòa án diệt chủng của Liên Hiệp Quốc.

Nhìn lại lich sử cai trị đất nước của đảng cộng sản Việt Nam, hệ thống tuyên truyền của đảng và nhà nước cũng từng có những chính sách tuyên truyền về những thành tựu kinh tế của nước nhà cũng không khác mấy việc Nicolae Ceauşescu đã từng làm trên đất nước Romani trong khi trên thực tế, người dân của cả hai nước Việt Nam và Romania đều đói rách như nhau. Chế độ cộng sản Việt Nam cũng từng thanh trừng và đàn áp đổ máu các đảng phái đối lập và những người chống cộng cũng y như những gì mà Saddam Hussein đã thực hiện đối với ngưới dân Iraq… Và đó, cái hành động hèn với giặc, ác với dân của Viktor Yanukovych, cùng với tài sản kếch sù của ông ta, xem ra cũng không khác mấy so với thái độ cung kính với giặc và tàn ác với dân của các lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam… Duy có một điều là những gì đã xảy ra cho các nhà độc tài của Romania, của Iraq và của Libya thì chưa xảy ra với các lãnh tụ của CSVN, nhưng điều đó không có nghĩa là sẽ không xảy ra.

Liệu lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN có học được gì cho bản thân và cho gia đình qua lịch sử chính trị của Romania, Iraq, Libya và của Ukraine hiện nay hay không?

Xin xem đây là lời cảnh báo chân tình của nhân dân dành cho quý vị.


​Nguyễn Thu Trâm
Đàn Chim Việt

Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Wed Jul 29, 2015 7:39 pm



“Hãy phá đổ bức tường này!”


Võ Thị Hảo
2015-07-29


Từ trái qua: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rời khỏi lăng cố chủ tịch HCM hôm 20/10/2014. AFP photo

Để sống sót

Theo nhiều nhà quan sát thì các phe nhóm cầm quyền Việt Nam vẫn canh chừng nhau, ăn miếng trả miếng. Quyền lực có lúc phân tán giữa phe thân TQ và phe thân Mỹ bởi rất nhiều người cơ hội gió chiều nào che chiều ấy.

Tình hình có biến chuyển gần đây. Theo báo Boxun của TQ và một số nguồn tin “phái thân TQ” đã phải đầu hàng “phái thân Mỹ”. Phái thân Mỹ  hiện đã chiểm được sự ủng hộ của khoảng 80% ủy viên TW và rồi sẽ nắm ưu thế tuyệt đối.

Dưới sức ép đấu tranh trong nước và quốc tế đang dâng lên mạnh mẽ, người thâu tóm được quyền lực sẽ lựa chọn điều gì?

Có thể xẩy ra hai trường hợp: hoặc độc tài hơn và tàn bạo hơn, hoặc sẽ cải cách và đổi mới ở một mức độ tương thích để sống sót. Kinh tế, chính trị và ngoại giao VN sẽ sụp đổ và bế tắc nếu không thay đổi theo những giá trị dân chủ, tự do theo nguyện vọng của người dân.

Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Trung quốc cùng nhiều dấu hiệu cho thấy ngày tàn của đế chế “tư bản đỏ” TQ không xa. Tương tự thời kỳ mà chính Liên xô cũng đã không thể lo nổi phận mình, buộc phải buông các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Cái phao cứu sinh duy nhất của VN hiện nay là nước Mỹ và khối đồng minh.

Hiện trạng này khiến người ta nhớ lại Diễn văn lịch sử  của Tổng thống Hoa kỳ Ronald Reagan ngày 12/6/1987 tại Bức tường Berlin:

“Tổng Bí thư Gorbachev, nếu ông mưu tìm hòa bình, nếu ông mưu tìm thịnh vượng cho Liên xô và Đông Âu,, nếu ông mưu tìm giải phóng, hãy đến đây nơi cổng này.  Ổng Gorbachev, hãy mở cổng này, hãy phá đổ bức tường này!”

Răng và mắt đều “phát triển vượt bậc”


Người Việt Nam ít nhiều đều hoặc là người của  Cộng sản hoặc nạn nhân của Cộng sản. Hành trình gần một thế kỷ trong con đường xã hội chủ nghĩa đã sinh ra những thế hệ thần tượng sự tăm tối, thế hệ ngu trung, thế hệ lầm lạc… Nhưng cho đến nay, trước đỉnh điểm phô bày những khối ung thư của thể chế này, thì ngay cả nhiều đảng viên đã cả đời trung thành với thể chế này cũng thấy rằng không thể chấp nhận nó nữa. Đơn giản chỉ vì họ biết họ đang lênh đênh trên một con thuyền thủng đáy. Tiếng sôi réo chết chìm đã vang động không gian.

Cuộc đấu đã đến một mất một còn. Hiện tượng Phùng Quang Thanh chết hay sống vừa rồi cùng với những che chắn vụng về của nhà cầm quyền cùng ngành tuyên giáo Việt Nam thật ly kỳ như phim trinh thám, khiến cho dân chúng được một phen mãn nhãn.


Đại tướng Phùng Quang Thanh đến hội trường Bộ Quốc phòng tối ngày 27/07/2015

Việc ông Phùng trở về, nhưng bỗng có sở thích khác thường như chỉ thích xem văn nghệ, không thích vào lăng viếng “Cha già”. Hình hài của ông sau khi xuất viện từ Pháp quốc có vẻ như là một hình ảnh quảng cáo siêu hiệu quả cho tài năng biến dạng của bệnh viện này. Khán giả tính toán ông  trong ảnh của báo “lề phải” dường như cao hơn cả chục cm chỉ trong hơn một tháng nằm viện. Răng và mắt ông đều phát triển vượt bậc. Đặc biệt lại thêm sở thích kỳ lạ: không chịu về nhà, chỉ ở lại Bộ quốc phòng… Những hình ảnh của ông càng khiến dư luận thêm thắc mắc. Khổ là nhà cầm quyền và “lề phải” dối trá quá nhiều rồi nên ngay cả khi nói thật cũng chẳng ai tin. Tất cả những lùm xùm quanh vụ này tố cáo sự giằng co hai phe nhóm quyền lực.

Ai nắm được đồng thời cả công an và quân đội, người đó sẽ thắng.

Và người thắng ấy, nếu là “phái thân Mỹ”,  sẽ có được vô số thuận lợi, được sự ủng hộ của dân VN trong và ngoài nước, được điều kiện vô tiền khoáng hậu để bảo vệ và tái thiết đất nước dưới sự hỗ trợ toàn diện của Mỹ và các nước đồng minh.

“Phá bỏ bức tường này”

Có thể cải tổ Đảng CS  được không?

Cải tổ tương tự chữa một vết thương. Vết thương chỉ có thể lành khi đó không phải là khối ung thư. Với khối ung thư, không thể cải tổ. Dẫu là dạ dày, cũng phải cắt bỏ để thoát chết.

Đảng cộng sản với thể chế độc tài toàn trị có cải tổ được không?
Rất tiếc là không. Lịch sử đã minh chúng điều đó.


Nguyên Tổng Bí thư Đảng CS Liên xô Mikhain Gorbachev, khi trả lời phỏng vấn về những điều mà ông hối tiếc nhất, đã nói: “Đó là việc tôi nấn ná quá lâu với nỗ lực cải tổ đảng Cộng sản.”




Những người theo cộng sản Việt Nam nên hiểu rằng thay đổi thể chế chính trị sang dân chủ đa nguyên không phải với mục đích là trừng trị, cướp đoạt quyền lợi của họ, như đảng cộng sản đã làm với người dân trong Cải cách ruộng đất và sau này. Mà thay đổi thể chế chính trị là để sống sót, cứu tất cả mọi người và để cứu chính cả những người cộng sản.

Tại các nước khối Đông Âu đã không có tắm máu, thậm chí đời sống của người theo cộng sản trước đây đều được cải thiện vượt bậc theo mức sống chung cả nước. Đó không phải vì lòng tốt của một ai đó, mà chỉ vì trong chính thể chế chính trị dân chủ đa nguyên cùng nền tự do ngôn luận, hệ thống giám sát minh bạch đã tự động bảo vệ quyền lợi của mọi công dân khỏi những phân biệt đối xử và thù địch.

Tổng thống Nga V. Putin, vốn là một trong những con cưng và đồng phạm của chế độ cộng sản Liên Xô, lại là một cựu sĩ quan KGB, hẳn cũng khó tránh khỏi một số tội ác, chí ít là khi phải tuân lệnh cấp trên, đã nhận thức rất rõ về việc không thể để nước Nga quay lại thể chế cộng sản. Ông nói: “Đừng mong cái triều đại cộng sản gian tà ấy có cơ hội sống lại trên đất nước này khi dân tộc Nga còn tồn tại.”

Bàn tay nào?

Cán cân sẽ thay đổi, nếu có một ai đó trong tứ trụ triều đình đủ tài năng và khôn ngoan chớp thời cơ nắm cả ngành công an và quân đội để đưa Việt Nam đi theo con đường phong quang nhất mà Liên xô và các nước Đông Âu đã đi từ những năm 90.

Đó là con đường duy nhất để cứu Việt Nam lúc này. Nếu các phe phái nhận thức rõ tình thế, chịu ngồi lại với nhau theo quyền lợi đất nước thì người Việt Nam sẽ không phải đổ máu. Một cuộc thay đổi từ trên xuống, dưới áp lực của người dân Việt Nam và các lực lượng quốc tế. Tại sao không?

Nhiều người nghi ngờ khả năng này. Và ai mà chẳng phải ngờ, bởi các nhà cầm quyền Việt Nam đều đã gây ra quá nhiều thất vọng,  đã làm mọi biện pháp để tước đoạt những quyền đương nhiên của các công dân và đẩy đất nước vào thảm họa.

Nhưng nếu ta nhìn lại lịch sử, những cuộc thay đổi thể chế từ trên xuống là điều không hiếm.

Mùa xuân năm 1991, Tổng Bí thư Đảng CS Liên xô Gorbachev đã bị mắc kẹt giữa hai khuynh hướng quyền lực khiến ông rất khó xoay chuyển tình hình. Một bên là phe bảo thủ cứ cố lật ngược mọi chính sách cải cách của ông. Bên kia là những người am hiểu thời thế, có lương tâm với đất nước, muốn ông thiết lập một hệ thống chính trị đa đảng và đi theo xu hướng cải cách thị trường. Ông phải lựa chọn.

Và nền dân chủ đã đến từ bàn tay của Mikhain Gorbachop. Đương nhiên đó không phải là bàn tay sạch. Ông vốn là một trong những kẻ thống soái thể chế độc tài cộng sản lớn nhất, gần một thế kỷ dìm nhân loại vào ác mộng.

Nhưng ông đã tỉnh ngộ, đã kịp thời hành động và được nhân loại mãi tri ân trên phương diện là người trực tiếp trả lại quyền dân chủ và tự do cho người dân. Lãnh đạo Liên bang Xô viết chỉ 6 năm nhưng nỗ lực của ông là không thể tính đếm. Ông đã giúp  chấm dứt Chiến tranh lạnh, giải thể Liên bang Xô viết, làm sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa trái tự nhiên, chấm dứt gần một thể kỷ ác mộng của loài người trong chủ nghĩa cộng sản. Từ chỗ là một trong những thủ phạm lái con tàu độc tài cản trở phát triển, ông đã được trao giải Nobel Hòa bình và trở thành một anh hùng thời đại.

Có vô số ví dụ về việc con cưng của một thể chế chính trị - vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm, đã thức tỉnh và đứng lên thay đổi thể chế ấy.

Có thể có nhiều người có khát vọng hơn họ, trong sạch hơn họ, nhưng không hội đủ nguồn lực và tài năng, đủ thủ đoạn chính trị để đốn vào tử huyệt của chính thể hiện thời.

Tại sao Myanmar - chế độ độc tài quân phiệt đã đi theo khuynh hướng tự do dân chủ? Ngoài những nỗ lực của bà Aung San Suu Kyi, ai mà ngờ được rằng Than Shwe, kẻ độc tài có nhiều nợ máu với người dân lại là kiến trúc sư của nền dân chủ hiện tại của Myanmar?

Tổng thống Thein Seinn đương nhiệm chính là người được tiền nhiệm Than Shwe – vị tổng thống được cho là  tàn nhẫn nhất trong các nhà độc tài quân sự của Myanmar lựa chọn. Thein Sein đã có công thúc đẩy cải cách thể chế chính trị này bằng việc thoát Trung và mở cửa, đi với Mỹ và phương Tây, bỏ cấm vận, dưới âm hưởng của cách mạng mùa xuân A rập.

Nền dân chủ  đa nguyên sơ khai của Việt Nam có thể đến qua tay một vài nhân vật nào đó trong đám cầm quyền độc tài hiện tại, khi họ tận dụng được sự đấu tranh của người dân, áp lực quốc tế và thời cơ,  là điều hoàn toàn tin được.

Tốt nhất là có một Thánh Gióng. Nhưng Gióng là huyền thoại và chỉ biết đánh giặc rồi bay về trời.

Vậy thì cần những ai đó trong đám nhân quần, với những ưu nhược và vị thế sẵn có, dám sám hối và dâng tặng phần cuối cuộc đời mình cho dân nước Việt Nam, trước hết là cũng để cứu chính họ.

Sao không là một vài người nào đó trong Tứ trụ “Sang Trọng Hùng Dũng?”

Hoặc, sao không là Nguyễn Tấn Dũng?

Các vị này đã kịp hưởng thụ quá nhiều tiền rừng bạc bể mặn mồ hôi và máu của dân Việt. Họ chỉ còn thiếu việc biết sám hối bằng hành động “để có danh gì với núi sông.”

Võ Thị Hảo


Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 215
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Thu Dec 31, 2015 2:15 pm


TỪ MỘT TIA HY VỌNG NHỎ NHOI ĐẾN SỰ MẤT TIN TƯỞNG VÀ KHINH BỈ HOÀN TOÀN…

Nhạc sĩ Tô Hải


Mình cũng chẳng xấu hổ gì khi đã hơn một lần bị “ ném đá” vì cái “tia hy vọng nhỏ nhoi” này khi tự bạch nó trên blog của mình cách đây 7, 8 năm là:
- Không thể có một sự thay đổi về thể chế chính trị nào ở cái đất Việt Nam này trong 5-10 năm tới nêu không cố sự xuất hiện của vài Eltsine hay Goocbachev Việt Nam...

Lý do: Ở VN:

a-/ Không có nổi được một đảng phái, một hội đoàn độc lập (chứ chưa nói đến đối lập), một “ngôi sao phản biện-đối kháng nào thoát khỏi sự đán áp thẳng tay của nhà cầm quyền toàn trị đi dần tới phát xít hóa này (totalitaire fascisant)

b-/ Không có một lực lượng nòng cốt trong trí thức, sinh viên để làm “ngòi nổ” cho một cuộc xuống đường, như trên 60 trường đại học ở bên Tầu đã 5 ngày liền xuống đường đòi dân chủ nhân quyền, mặc dù sau đó có bị đàn áp dã man, máu đã đỏ trên quảng trường Thiên An Môn, nhưng, cho đến nay vẫn làm ngọn đuốc cháy ngùn ngụt trong tim hàng tỷ con người, chờ một ngày sẽ sớm đến, một trận bão lửa lớn sẽ bùng lên thiêu cháy tất cả những vương triều bạo chúa!
Ở ta thì, tuyệt nhiên không một ngọn đuốc một ngọn cờ nào!. (xin nhắc lại: Đây là những ý nghĩ cách đây 7, 8 năm như trên mình đã bộc lộ)

c-/Toàn xã hội bị khống chế bởi một lực lượng “còn đảng còn mình” hung bạo, mù quáng, được ưu đãi đặc biệt về vật chất cũng như tinh thần, rải đều khắp từ thành thị đến nông thôn, từ các đoàn thể nhân dân đến lực lượng cầm súng, từ các nhà máy, trường học đến các học viện khoa học, tự nhiên, xã hội, nhân văn hay tôn giáo…Bọn này sẵn sàng ra tay bóp chết tất cả những ai muốn thay đổi chế độ này.

d-/ Các cơ cấu xã hội đều bị dìm vào cõi ngu muội u mê một cách cố ý bởi một bộ máy “an ninh tư tưởng” khổng lồ, với nhiệm vụ nhồi nhét tất cả những gì là cũ kỹ, phản khoa học, vô văn hóa vào đầu của người dân bị trị với xác quyết:
YÊU NƯỚC LÀ YÊU XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, YÊU ĐẢNG CỘNG SẢN, LÀ NGHE VÀ LÀM THEO NHỮNG GÌ ĐẢNG DẠY. TƯ DUY KHÁC ĐI, LÀM NGƯỢC LẠI LÀ…. PHẢN ĐỘNG, PHẢN ĐẢNG, PHẢN TỔ QUỐC!

Tóm lại là: chỉ cần một nhóm đảng viên nào đó, độ hơn chục anh là có thể qua một bộ máy độ 200 tên nữa (gọi là “Ban chấp hành TW”) là có thể giơ tay thông qua một nghị quyết số gì. . gì. . đó. . Lập tức cả “một bộ máy người” khổng lồ gồm cả hơn 3 triệu đoảng viên và quần chúng tin yêu Đ, nhắm mắt gật đầu “đưa nó vào cuộc sống”, bất kể sẽ gây hậu quả gì! (như thông qua điều 4 hiến pháp, là “Đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”, như “đất đai là sở hữu toàn dân”, như “kinh tế nhà nước là chủ đạo”???…….) Thế là hơn 100 cái đài Phát Thanh và Truyền hình, hơn 100 tờ báo “cho không cũng chẳng ai lấy” đồng thanh hoan hô: ”Đảng ta vô cùng sáng suốt!” “Nhân dân ta tuyệt đối tin tưởng!” Mặc kệ hơn 80 triệu dân chúng mày! Kêu ca, ông cho đi tù!

Bởi vậy, sau một vài lần đi tham gia biểu tình, viết blog, viết bliếc khá hăng hái (khi chưa phải đi xe lăn), mình càng ngày càng… buồn vì:

- Số lượng người tham gia càng ngày càng ít, thậm chí có những gương mặt mà mình xếp vào loại “Không thể bắt, không thể bắn” cũng chỉ ra cho có mặt rồi… lặn mất tiêu… Quần chúng đường phố thì hững hờ, thậm chí còn rủa ”Rách việc! Làm chó gì được họ mà cứ bầy trò …. Mất cả buôn bán, làm ăn”!. Còn những người viết bài trên mạng có lý lẽ, có uy tín cũng không ít người… gác máy…! Đếm lại không còn quá được 10 đầu ngón tay!...

THẾ LÀ mình đành quay về ôm ấp niềm hy vọng cuối cùng mà tướng Charles de Gaulle đã khuyên J. F. Kennedy: ”Không cần gây sự với cộng sản! Không ai lật đổ nổi họ bằng chính họ lật đổ nhau đâu!”

Niềm hy vọng đó lại càng tăng khi được thực tế chứng minh thật hùng hồn bằng: sự xụp đổ của cả một hệ thống cộng sản Đông Âu do Liên Xô với 70 năm cầm quyền đứng đầu! Sau đó là các tuyên bố “phản tỉnh” của Eltsine, Gorbachev, Djilas…. Không phải không có ảnh hưởng lớn tới các vụ “phản (tỉnh) đảng lớn của những tên tuổi đáng kính, hầu hết đều là đảng viên-trí thức lão thành như Hoàng Minh Chính, Đặng Quốc Bảo, Trần Độ, Trần xuân Bách... (xem ảnh dưới đây theo thứ tự từ trái qua từ trên xuống)
 


   
Đây, 4 gương mặt cộng sản lão thành, vào tù ra tội, vào đảng những năm 30-40, chiến tích đầy mình, nhưng cuối cùng phủ nhận chủ nghĩa Mác-Le và đều bị lũ đàn em đuổi cổ khỏi đảng, cho đi tù hoặc... ngồi chơi xơi nước...

Tuy bị đàn áp, thậm chí đi tù, khai trừ, tước quân hàm, cho ngồi chơi xơi nước, nhưng chính họ đã là những cảm xúc cho mấy tướng nói hay nhưng… chưa dám hoặc không dám làm được trò trống gì, hoặc nói một đằng, làm một nẻo như Nguyễn văn An, Võ văn Kiệt, Nguyễn văn Linh…để rồi đến nay năm bè, bẩy mối, cá mè một lứa, “ông chằng bà chuộc”, chẳng ai phục ai….

Sau Hội Đàm bí mật Thành Đô, đại hội Đảng lần thứ XI, ngày 19/1/2011, đã bầu một gương mặt đặc biệt làm Tổng Bí Thư: NGUYỄN PHÚ TRỌNG!

Đây là một con người mà mình đã từng giới thiệu tỉ mỉ trên blog của mình (*) một thứ “của quí- hiếm” của Đảng họ, một đảng viên “hiền lành như đất Đông Hội, quê anh ta”, một tổng bí thư vượt lên trên tất cả các tổng bí thư cộng sản từ trước đến nay: Giáo sư-tiến sỹ bảo vệ luận án tại Viện Hàn Lâm Khoa Học Liên Xô (1981-1982) nghĩa là cái thời Liên Xô đang đại loạn về…. tư tưởng! Anh ta còn tốt nghiệp chính quy cử nhân Văn Khoa Đại Học Tổng hợp Hà-Nội (1963-1967) và ra trường với cái mác đảng viên để được về thẳng tạp chí “Học Tập”, đầu não lý luận của đảng lúc bấy giờ. Và từ đó Trọng ta chỉ có… “đi lên” và…. “đi học”!…Tuy nhiên, dù có con đường thăng tiến nhanh chóng và thẳng tắp, nhưng anh Trọng rất ít bị vạch ra những hành động “ma bùn”, bẩn thỉu về “ đớp”, “ chén” của công hay “nhi nhô em út”, … (như mấy anh Mạnh, Phiêu), ngoại trừ một lần bị bêu danh là … “LÚ” ngay từ lúc còn làm bí thư thành ủy Hà Nội trong câu vè. ”Giầu như Phú/Lú như Trọng/ Lật lọng như Nghiên/ Tiêu tiền như Triệu…. ”

Nói tóm lại, với mình, thì đây là một tổng bí thư SẠCH SẼ… (có thể mình chưa đọc được những thông tin khác chiều?)

MỘT TỔNG BÍ THƯ CÓ VĂN HÓA CAO NHÁT CÁC ĐỜI TỔNG BÍ THƯ LẠI CÓ MỘT CUỘC SỐNG RIÊNG TƯ KHÔNG TÌ VẾT

Còn tìm đâu ra một người “hay”hơn để có thể trở thành một Gorbachev Việt?

Vì theo mình:

-Không thể có một tay nào có cái đầu vô học, có cái tầm muốn giữ vững ngai vàng rồi truyền lại cho muôn đời con cháu, có cái tâm “kiếm chác”, bòn rút tiền của dân, “ăn không từ một thứ gì” mà lại có cái gan dám thay đổi cái cơ chế đầy ung nhọt của một chế độ “vua tập thể” (chữ của Nguyễn văn An) này cả!

- Đặc biệt, năm 2012, khi sang Cuba, ngay cửa ngõ nước Mỹ, ngay lúc chính Fidel vừa tuyên bố “Chủ nghĩa xã hội không phù hợp với Cuba” thì phải tự tin đến thế nào anh ta mới dám cao giọng rao giảng về chủ nghĩa Mác Lê “khát vọng muôn đời của loài người” và “đạo đức cách mạng” của người cộng sản chứ?

Cho nên, khi bị Brazil đóng xập cửa không tiếp để phải trở về nước, anh ta bị mọi người cho là LÚ LẪN nên đã không thức thời, rao giảng những bài kinh đã lạc điệu, đã bị cho vô sọt rác từ lâu, thì mình vẫn có một bài “Anh Trọng đâu có lú”? Bởi vì mình vẫn cho là anh Trọng rất tỉnh táo, vẫn biết mình cần phải nói gì, làm gì để tồn tại chí ít…. chết trên cương vị một “người Mohican cuối cùng” của chủ nghĩa cộng sản” đã diệt vong!

Thậm chí mình còn cố bám lấy một chút xíu hy vọng: ”Biết đâu đấy chẳng qua chỉ là những lời “che chắn” như Gorbachev: “Perestroika và Glasnost là để có nhiều chủ nghĩa xã hội hơn”!!! Rồi chỉ sau đó ít ngày, ông ta lại đổi giọng chửi không tiếc lời cái chủ nghĩa nói dối, lừa bịp xhcn mà ông ta đã theo đuổi cả nửa cuộc đời!



Gorbachev, trùm cộng sản lại chửi cộng sản hơn ai hết

NHƯNG KHÔNG! Anh Trọng không có nổi cái đầu, cái tâm, cái tầm và cái gan làm như thế! Nhất là sau cái nghị quyết TW 4, và sau thất bại trong việc bố trí vài ba tay sẽ cùng anh hốt tất, bắt tất những tên nội xâm cỡ bự, thì anh giở mặt liền tù tì đến mức có người còn cho là anh hơn cả lú mà là điên, là khùng, là dại khờ ngay trong lời ăn tiếng nói! Thật vậy: Nào ai ngờ một nhà lý luận số 1 của đảng lại phát biểu về chống tham nhũng mà cứ như…. đùa chứ:
“Cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi, như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chịu”…
Hoặc cứ như muốn “biện hộ” cho mấy thằng ăn cắp giống như loại Trần văn Truyền, bỗng dưng anh ta lại phát ra một ví dụ chẳng đâu vào đâu, cứ làm như ta đây “thông kim bác cổ" lắm vậy!: Đến Đường Tăng đi lấy kinh cũng phải hối lộ. Bước chân sang nước Phật đã phải hối lộ…Cho nên chúng ta phải xem xét, bĩnh tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt…

Liền sau đó lại giảng dạy: ….
Bản thân mỗi đồng chí và vợ, con phải giữ gìn sự trong sạch, rồi mới chống tham nhũng được, nếu không nói chẳng ai nghe, tay đã nhúng chàm thì không thể làm gì khác được!. . . “
Đó là chuyện trò nội bộ với các đảng viên, các cán bộ đặc biệt được triệu tập về quán triệt Nghị quyết TƯ4. Nhưng….
Ngày 6 tháng 10 2014, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu về vấn đề chống tham nhũng trong cuộc tiếp xúc với cử tri các quận Ba Đình lại giải thích nhẹ nhàng nhằm giảm tội bớt cho các “đồng chí bị lộ” Rằng thì là:
"Phải bình tĩnh, tỉnh táo, rất khôn ngoan, có con mắt chiến lược. Bác Hồ dạy rồi, cha ông ta dạy rồi, đánh con chuột đừng để vỡ bình, làm sao diệt được chuột mà bảo vệ được bình hoa. Tức là phải giữ cho được cái ổn định.”
Đặc biệt ngu là: để bào chữa cho những sự suy thoái trong nội bộ đảng, anh ta đã mang cái thủ đoạn “chủ nghĩa xã hội đang trong quá trình hoàn thiện” ra để lý giải một cách vô chính trị và dại dột nhưng gì đầy bê bối trong mọi mặt đời sống xã hội mà đảng-chính phủ anh ta đang không hoàn thành hoặc vướng nhiều khuyết điểm bằng một câu hết sức vu vơ, vô trách nhiệm như sau:
... Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa. ???
Những ngày gần đây, khi Đại Hội Đảng của các anh ấy càng đến gần thì... hình như sự lầm lẫn, lúng túng của anh Trọng ngày càng nặng có lần họp cử tri (dù có chọn lựa và danh sách có lẽ hầu hết là đảng viên già trung thành) nhưng anh vẫn tưởng nhầm đang họp nội bộ đảng cộng sản đã nói như mơ ngủ…



Và đây lãnh tụ CSVN cuối cùng thề chết không rời các ông tổ Mác-Lê, không bỏ Hán Đế "mọi thứ đều... tốt"

“Các bác thấy vấn đề Biển Đông chúng ta giải quyết như thế có đúng không? Chuyện Biển Đông, càng ngày càng thấy tính đúng đắn của hướng giải quyết, vẫn đảm bảo được môi trường ổn định, hoà bình để phát triển. Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không?
‘Ta xử lý mối quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, Nhật… vừa qua như thế hợp lý không? Để đảm bảo độc lập tự chủ, chơi với mọi nước nhưng không phụ thuộc vào ai mà các nước ta quan hệ, hợp tác đều phải nể trọng như vậy“.

Chẳng những thế, anh ta còn bắt chước phó tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden lôi cả Nguyễn Du ra để bảo vệ bằng được tiêu chuẩn nhân sự Đaị Hội XII lần này của anh ta là: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ Tài!!!

Anh ta nói:
“Trong Truyện Kiều mà ta vừa kỷ niệm 250 năm, Nguyễn Du đã viết: Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Phải chọn người có đầy đủ phẩm chất, năng lực, trình độ bản lĩnh. Nhất là đạo đức, phải trung thành tuyệt đối, với dân, với chế độ, với Đảng, giữ cho được chế độ này, Đảng này, giữ cho được hòa bình ổn định để phát triển đất nước”

Riêng về mặt đối ngoại thì anh Trọng, trên cương vị Bí Thư Tổng Quân Ủy, quân đội ta chắc chắn sẽ không lo oánh nhau với ai nữa, đặc biệt với các đồng chí 4 tốt Tầu rồi, dù cho chúng có xây thêm sân bay, xây thêm hải đăng, bến đỗ, dù chúng có chiếm thêm ít đảo lặt vặt ở Trường Sa…. thì cứ “kiên trì đường lối hòa bình”, “cộng đồng tồn dị”, “tôn trọng nguyên trạng” (mà thủ tướng Phạm văn Đồng đã ký năm 1958) Nếu không để xảy ra đụng độ thì tình hình sẽ bất ổn đến thế nào? Liệu chúng ta có còn ngồi đây mà bàn chuyện đại hội được nữa hay không?

Để kết luận về cái anh “trí thức-lãnh tụ công sản” hiếm có Nguyễn Phú Trọng này, xin mượn một câu khá lịch sự của giáo sư Tương Lai. Ông viết:
. . . ” Về ông Trọng, có lẽ đã hết thuốc chữa. Cho tới bây giờ vẫn là giọng điệu từ giáo trình của Đảng cách nay mấy chục năm bây giờ vẫn nói như thế mà không thấy rằng cái điều đó nó đang kềm hãm cả dân tộc này”

Vậy mà nghe đồn có tin anh ta, cùng một số “cánh hẩu”, đang cố xoay chuyển tình hình, vượt mọi điều lệ để được…”đặc biệt” ở lại thêm ít nhất nửa khóa nữa dù đã quá tuổi. Nếu anh ta thực hiện được ý đồ này thì… CÓ LẼ MÌNH KHÓ SỐNG HẾT NĂM 90 TUỔI SẮP TỚI MẤT vì cứ mỗi lần nghe hoặc đọc phải cái gì anh ta viết và nói là mình tăng-xông lên cao vút muốn “đi ngay” tại chỗ tức thì!…
Thôi thì, viết một entry cuối cùng về con người đã làm mình từ hy vọng đến thất vọng, đến kinh tởm ghê hồn này. Xin khép lại tấm ván cuối cùng của cỗ quan tài Nguyễn Phú Trọng như sau:

Cho đến hôm nay, tia hy vọng cỏn con cuối cùng về một Goocbachev Việt của mình đã tắt ngủm vì mình đã… ”ngây thơ cụ” mà đặt hy vọng vào một kẻ vừa ngu, vừa hãnh tiến, vừa lú lẫn, coi thường thiên hạ, nói năng lung tung, tùy tiện bừa bãi như một thằng điên, một thằng vua cởi truồng mà vẫn tưởng mình đang khoác cái long bào vương giả!

Thôi thì… TẤT CẢ CHỈ CÒN CHỜ VÀO SỨC DÂN VÀ THỜI CƠ VÀNG CỦA CUỘC THANH TOÁN NỘI BỘ DỨT KHOÁT PHẢI ĐẾN MÀ BẤT CỨ DƯỚI CHÍNH THỂ NÀO, NHÂN VẬT PHÚ TRỌNG VÀ BÈ LŨ, CẦN TRƯỚC TIÊN QUẲNG NGAY VÀO ĐỐNG RÁC LỊCH SỬ.


http://to-hai.blogspot.com/2015/12/nhat-ky-mo-lan-160-tu-mot-tia-hy-vong.html
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 231
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Wed Jan 27, 2016 10:18 am

 

Từ tranh chấp Trọng-Dũng, tìm hiểu sáu lý do giúp chế độ CS tồn tại

Trần Trung Đạo (Danlambao) - Nhân dịp có sự đụng độ cá nhân giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng trong đại hội đảng CS lần thứ 12 này, người viết xin tổng kết các lý do chính để những ai, nhất là những người nghĩ mình đang đấu tranh cho dân chủ Việt Nam, hy vọng sự rạn nứt giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản và tốt đẹp cho đất nước thì cũng đừng mơ mộng và kỳ vọng nữa...

*

Hôm đó là ngày 11 tháng 9, 1987 và Mikhail Gorbachev đang nghỉ ngơi trong một biệt thự ở Hắc Hải. Một phụ tá trình lên ông lá thư từ chức Ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Liên Xô của Boris Yelstin. Gorbachev đọc lá thư mà không tin đó là sự thật. Trong lịch sử đảng CSLX đây là lần đầu một lãnh tụ CS cấp trung ương từ chức. Đấu tranh nội bộ dù sâu sắc như giữa Leon Trotsky và Stalin mấy chục năm trước cũng không có chuyện từ chức. Việc tự ý rời nhiệm sở là việc chưa từng có và cũng không được phép. Leon Trotsky bị tước đoạt mọi chức vụ, loại trừ ra khỏi đảng năm 1927 và cuối cùng bị ám sát ở Mexico năm 1940.

Theo lời Gorbachev, ông gọi về Moscow và ra lịnh cho các phụ tá đến khẩn thiết với Yelstin đừng tiết lộ nội dung lá thư ra ngoài vì quần chúng và thế giới sẽ biết sự rạn nứt trong nội bộ đảng CSLX. Hơn một tháng sau đó, trong phiên họp của ban chấp hành trung ương đảng CSLX, Boris Yelstin chính thức từ chức. Tuy phiên họp được tổ chức trong vòng bí mật, các tin tức về Boris Yelstin từ chức cũng đã nhanh chóng lọt ra ngoài. Mảnh vỡ đó đã dẫn tới tự tan vỡ từ trung tâm đảng CSLX, một tổ chức chính trị bí mật, sắt máu và chặt chẽ nhất từ trước đến nay. Đặc điểm bí mật và sắt máu đã giúp cho cơ chế CS tồn tại với một kỷ lục 74 năm tại Liên Xô so với Đảng Cách Mạng Thể Chế Mexico (Mexico’s Institutional Revolutionary Party) cầm quyền được 71 năm.

Nhưng đó không phải là lý do duy nhất.

Nhân dịp có sự đụng độ cá nhân giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng trong đại hội đảng CS lần thứ 12 này, người viết xin tổng kết các lý do chính để những ai, nhất là những người nghĩ mình đang đấu tranh cho dân chủ Việt Nam, hy vọng sự rạn nứt giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản và tốt đẹp cho đất nước thì cũng đừng mơ mộng và kỳ vọng nữa.

Việc mong đợi đảng CS tự thay đổi chẳng những làm nhụt ý chí đấu tranh, chứng tỏ sự yếu kém của mình mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến cả các phong trào dân chủ đang cố gắng vươn lên. Những thư kiến nghị, thỉnh cầu lần nữa “đem đàn gảy tai trâu” như bao nhiêu lần trước. Với Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng, quyền lợi của đảng bao giờ cũng được đặt lên trên quyền lợi cá nhân. Rồi mai đây, sóng gió trong nội bộ đảng sẽ qua, Nguyễn Tấn Dũng mất quyền nhưng không mất lợi, chỉ có đất nước là bị xâm thực dần cho đến khi mất hẳn vào tay Trung Cộng.

Dưới đây là sáu lý do (*):

1. Đảng CS kiểm soát toàn bộ cơ cấu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội bằng tuyên truyền và khủng bố.


Lý do này rất hiển nhiên và dễ hiểu. Tuyên truyền kết hợp với khủng bố tạo thành cột xương sống của chế độ độc tài CS. Ngoài nhà tù và sân bắn, đảng CS áp dụng một chính sách tuyên truyền tàn độc nhất trong lịch sử loài người. Tinh vi đến mức người bị tẩy não hoàn toàn không biết mình bị tẩy não mà cho CS là một lý tưởng của đời người và hiến thân cho đến chết.

Sau cách mạng CS Nga, 1917, công việc đầu tiên Lenin phải làm ngay là thành lập cơ quan tuyên truyền Agitprop và trong giai đoạn đầu còn do chính Lenin đích thân lãnh đạo. Tại Trung Cộng cũng vậy, trong đại hội đảng CS Trung Quốc lần đầu vào năm 1921 chỉ bầu ra vỏn vẹn ba ủy viên trung ương nhưng một trong ba ủy viên đó chịu trách nhiệm tuyên truyền.

Cơ quan tuyên truyền tẩy não trung ương đảng kiểm soát từng chi tiết các sinh hoạt tri thức, thông tin, truyền thanh, truyền hình, báo chí. Hệ thống kiểm duyệt trong chế độ Cộng Sản không chỉ ở trung ương mà theo nhiều tầng lớp. Ngay cả khi các tác giả viết bài cũng đã thực thi tự kiểm duyệt vì họ biết những gì nên viết và những gì không được viết trước khi nạp bản thảo cho cơ quan kiểm duyệt nhà nước. Các tác phẩm phim ảnh được duyệt nhiều lần để bảo đảm khi đến người dân không có một tình tiết nào đi ngược với đường lối của đảng.

Để tồn tại sau những đãi lọc của văn minh nhân loại, phương pháp và mục đích tuyên truyền CS cũng thay đổi theo thời gian. Chẳng hạn, trước năm 1990 nền giáo dục CS đặt nặng lên học thuyết Marx-Lenin nhưng sau này thêm vào một cái đuôi tư tưởng dân tộc như tư tưởng Mao tại Trung Cộng và tư tưởng Hồ Chí Minh tại Việt Nam.

2. Đấu tranh nội bộ nhưng có cùng một mục tiêu và bị chi phối bởi một kỷ luật đảng.

Lịch sử phong trào CS thế giới từ Liên Xô đến Trung Cộng hay như vừa diễn ra tại Việt Nam cho thấy dù có đấu tranh nội bộ, các lãnh tụ CS luôn đặt mục tiêu chung của đảng lên hàng đầu. Các lãnh đạo đảng chọn hy sinh quyền lợi cá nhân vì sự sống còn của đảng. Tất cả đảng viên CS bị chi phối bởi một cương lĩnh duy nhất là cương lĩnh đảng CS.

Để duy trì tính thống nhất, đảng CS áp dụng một kỹ luật sắt trong nội bộ đảng. Ngoại trừ trường hợp Khrushchev tố Stalin trong đại hội lần thứ 20 của đảng CS Liên Xô, ít khi nào một lãnh đạo Cộng Sản đứng lên thẳng thắn vạch trần tội lỗi của lớp lãnh đạo trước. Làm như thế là phản đảng vì đã tạo chỗ hở cho kẻ thù tấn công vào đảng. Không ai tiên đoán được số phận của Boris Yelstin ra sao nếu ông ta từ chức, đừng nói chi dưới thời Stalin mà chỉ 10 năm trước đó.

Đời tư các lãnh tụ CS là tài sản bí mật của đảng. Các lãnh tụ độc tài dù tự sát như Adolf Hitler, bị giết như Benito Mussolini hay bị treo cổ như Hideki Tojo, tội ác của họ cũng đều được phanh phui sau Thế chiến Thứ hai. Các thế hệ lãnh tụ CS thì khác. Tội ác của các lãnh tụ CS được che giấu kỹ. Vai trò của Kim Nhật Thành trong chiến tranh chống Nhật, Hồ Chí Minh trong chiến tranh chống Pháp, Fidel Castro trong chiến tranh chống độc tài Batista, Stalin trong chiến tranh chống Đức, Mao Trạch Đông trong chiến tranh chống Nhật được đề cao đến độ nếu không có họ có thể toàn dân tộc đã bị xóa tên khỏi lịch sử loài người. Hình ảnh Mao Trạch Đông chính thức tuyên bố thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hình ảnh Hồ Chí Minh đọc “tuyên ngôn độc lập” đã được đánh bóng sáng đến mức mọi tội tác tày trời khác của họ đã trở thành trộm vặt.

3. Bảo vệ tính kế tục cai trị của đảng.

Chế độ CS là một chế độ phong kiến đỏ và do đó, đặc điểm kế tục cai trị CS vô cùng quan trọng.

Trường hợp Đặng Tiểu Bình đối với Mao Trạch Đông là một ví dụ điển hình. Đặng Tiểu Bình là một trong những người chịu đựng sự hành hạ và mất mát lớn lao về nhân mạng trong thời Cách mạng văn hóa. Bản thân Đặng Tiểu Bình bị chính Mao thanh trừng nhiều lần và con trai của họ Đặng trọng thương khi bị ném từ cửa sổ xuống đường. Chuyện đời tư của Mao, từ bản chất độc tài, nghi kỵ cho đến cá tính trăng hoa dâm dật, Đặng Tiểu Bình biết hơn ai hết, nhưng khi lên nắm quyền hành, ông ta vẫn tiếp tục sơn son thiếp vàng lên một hình tượng mà cá nhân ông vô cùng căm hận. Trên đồng nhân dân tệ từ đơn vị một đồng cho đến một trăm đồng vẫn in khuôn mặt mỉm cười của một trong những kẻ từng điều khiển bộ máy giết người tập thể khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại.

Là một trong số rất ít lãnh đạo Cộng Sản lão thành còn sót lại từ thời Vạn lý trường chinh và cũng quá thuộc sử Tàu, Đặng Tiểu Bình biết, giống như các triều đại phong kiến Trung Hoa, đặc tính kế thừa của một quyền lực trung tâm là một yếu tố sinh tử của chế độ Cộng Sản. Họ Đặng biết rằng điểm trung tâm vỡ toàn bộ hệ thống cai trị sẽ vỡ theo. Đặc điểm kế tục còn được thể hiện qua tầng lớp “Thái tử đảng”, con cháu của các cựu lãnh đạo đảng, tiếp tục vai trò lãnh đạo như trường hợp Ôn Gia Bảo, Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình tại Trung Cộng. Tại Việt Nam, thành phần “Thái tử đảng” cũng đang “nối bước cha anh”.

4. Sử dụng “thành phần xăng nhớt” cho bộ máy toàn trị.

Thành phần trung thành và cuồng tín do chính sách tẩy não nặn ra đa số là những kẻ dốt nát, ngu ngốc, phát biểu những câu chỉ làm trò cười cho thiên hạ và không thể điều hành bộ máy nhà nước. Bộ máy độc tài toàn trị CS chạy được nhờ vào một thành phần khác có trình độ kỹ thuật chuyên môn cao thuộc các lãnh vực của đời sống mà người viết tạm gọi là “thành phần xăng nhớt”.

Khá đông trong “thành phần xăng nhớt” này là những người có học, có kiến thức về kinh tế chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội, biết được lẽ đúng sai nhưng thỏa hiệp với tập đoàn cai trị để đổi lấy một cuộc sống an nhàn, vinh hoa cho bản thân và gia đình. Thành phần này chấp nhận là xăng nhớt cho bộ máy độc tài tiếp tục cày xéo lên đất nước. Nhiều trong số họ được đào tạo tại các trường đại học danh tiếng thế giới, học và hiểu tường tận các nguyên tắc để xây dựng một xã hội dân chủ nhưng khi về nước họ đã bán thân cho đảng CS. Một khi lớp xăng nhớt này trở thành cặn bã lại có một lớp khác lên thay. Như người viết đã phân tích trong bài “Bàn về tẩy não”, Albert D. Biderman trong bản tin của Viện Hàn Lâm Y Khoa New York gọi thành phần này là những người “cho thấy việc chống lại chỉ là hành động vô ích”, từ đó “phát triển một thói quen tuân phục”, và cuối cùng “đầu hàng có điều kiện” trước đảng CS.

5. Các lãnh tụ CS chỉ giết nhân dân nước họ nên thế giới ít quan tâm.

Không giống chế độ độc tài Đức Quốc Xã tàn sát dân Do Thái, lãnh đạo Cộng Sản các nước thường giết chính đồng bào cùng máu mủ, cùng tổ tiên, cùng đất nước với họ.

Ngay từ sau 1975, dư luận thế giới đã biết đến tội ác của chế độ Pol Pot. Năm 1976, tạp chí Time còn đăng cả bức hình một tội nhân đang bị đánh vào đầu bằng cuốc, tuy nhiên, ngoài Việt Nam tấn công chế độ bằng một lý do riêng vào tháng Giêng, 1978, không một quốc gia nào có hành động cụ thể để ngăn chặn tội ác của Pol Pot.

Theo Black Book of Communism do Harvard do Harvard University Press xuất bản, gần một trăm triệu người bi giết dưới chế độ CS nhưng không phải do nước ngoài xâm lược mà do chính các lãnh tụ CS giết nhân dân nước họ như trường hợp Mao giết 65 triệu, Lenin và Stalin giết 20 triệu, Pol Pot giết 2 triệu, Hồ Chí Minh giết 1 triệu (không tính nhiều triệu người Việt vô tội của cả hai miền trong chiến tranh xích hóa Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975).

6. Lãnh đạo Cộng Sản thường tận dụng ảnh hưởng của kẻ thù đã chết.

Những lãnh tụ Cộng Sản thường tận diệt kẻ thù còn sống nhưng ca tụng kẻ thù đã chết. Stalin ca tụng Lenin, Fidel Castro ca tụng Ernesto “Che” Guevara, Đặng Tiểu Bình ca tụng Mao Trạch Đông.

Lấy trường hợp Che làm ví dụ. Nếu Ernesto “Che” Guevara không làm cách mạng phiêu lưu Nam Mỹ mà tiếp tục ở lại Cu Ba, thất khó tưởng tượng ông ta có thể sống sót dưới bàn tay của Fidel Castro. Một rừng không có hai cọp, một nước không có hai vua, đừng nói chi là quan hệ giữa Che và Fidel Castro rạn nứt trước khi Che tạm biệt vợ con lần cuối và lên đường đi Bolivia cuối năm 1966. Che chủ trương kỹ nghệ hóa đất nước, Fidel Castro chủ trương củng cố quyền lực trung ương.

Sự khác biệt của Che và Fidel Castro khá giống trường hợp của Lưu Thiếu Kỳ và Mao Trạch Đông. Nhưng hôm nay, nếu ai đến Havana, sẽ gặp hình ảnh Che trên khắp ngả đường. Xác chết không nghe được lời ca tụng, không nếm được mỹ vị cao lương, không sống trong các biệt thự có kẻ hầu người hạ, chỉ có đám độc tài đang thống trị đất nước mới thật sự là những kẻ hưởng thụ quyền lực.

Chủ nghĩa Cộng Sản đã tàn rụi ở châu Âu nhưng trong năm nước còn sót lại sự khổ đau, chịu đựng vẫn còn đến hôm nay và không biết đến bao giờ mới hết. Chiến tranh Lạnh đã tàn. Các nước tư bản tự do vì lý do kinh tế đã không còn giương cao ngọn cờ dân chủ như trước nữa. Họ mặc nhiên chấp nhận chế độ Cộng Sản như là một thực tế của mỗi quốc gia hơn là một phong trào quốc tế. Nhân dân Bắc Hàn, Cu Ba, Việt Nam, Lào, Trung Hoa vì thế sẽ tiếp tục là những dân tộc chịu đựng trong cô đơn.

Trần Trung Đạo
danlambaovn.blogspot.com
___________________________________

(*) Nhiều ý chính của bài viết này đã được trình bày trong Chính Luận Trần Trung Đạo, độc giả có thể download sách miễn phí tại trantrungdao.com

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên Online
NHViet



Posts : 215
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Sat May 21, 2016 12:08 am


 
Đảng, chế độ CSVN không còn lý do để tồn tại


Le Nguyen (Danlambao) - Bưng bít thông tin, ngậm máu phun người, ném đá giấu tay là nét đặc thù không lẫn vào đâu được của đám cháu ngoan mù đảng, cuồng Hồ. Những kẻ bị tẩy não không còn tính người do Hồ Chí Minh, là kẻ chưa xác định được nguồn gốc, nhân thân tổ chức giáo dục, rèn luyện trong kế hoạch “vì lợi ích” trăm năm trồng người? Chắc chắn bất cứ ai tiếp cận kho tài liệu của ban tuyên giáo đảng cộng sản do ban tuyên giáo trung ương đảng, do các nhà lý luận cộng sản biên soạn và chịu khó bịt mũi đọc “Văn Kiện Đảng Toàn Tập”, “Hồ Chí Minh Toàn Tập”, “Hồ Chí Minh Biên Niên Tiểu Sử”... sẽ nhận ra Hồ thật đáng sợ! Đáng sợ hơn tổ chức khủng bố của nhà nước Hồi Giáo IS thời nay nhiều lần hơn.

Các tài liệu lịch sử do đảng cộng sản góp nhặt, hư cấu, biên soạn chỉ ra Hồ là bậc thầy trong chiêu trò lợi dụng trẻ em, sử dụng con nít phục vụ cho tham vọng chính trị của Hồ. Những đứa trẻ ăn chưa no lo chưa tới, không có điều kiện đi học chữ thuộc gia đình nông dân ít học, là đối tượng được tổ chức tội ác của Hồ và thế hệ kế cận lãnh đạo đảng cộng sản đưa vào tầm ngắm tuyển chọn đào tào, rèn luyện làm sát thủ đi khủng bố giết người, gây tội ác. Rồi được băng đảng gian manh cộng sản truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang và phong tặng dũng sĩ diệt Mỹ.

Danh sách những tấm gương anh hùng, dũng sĩ tiểu biểu trong lịch sử khủng bố dã man của đảng cộng sản Việt Nam được tuyên giáo cộng sản tuyên dương, phục vụ mục đích tuyên truyền láo, phục vụ tham vọng chính trị gồm có:

1) Lý Tự Trọng, sinh năm 1913 trong gia đình lao động nghèo đông anh em, lúc 10 tuổi được Hồ đưa sang Trung Quốc học tập và hoạt động trong Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội. Năm 1926 về nước hoạt động với nhiệm vụ thành lập đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương và làm liên lạc cho Xứ ủy Nam Kỳ với Đảng Cộng sản Việt Nam...Ngày 9 tháng 2 năm 1931, trong buổi mít tinh kỷ niệm một năm cuộc khởi nghĩa Yên Bái tổ chức tại Sài Gòn, Lý Tự Trọng đã bắn chết viên mật thám Le Grand, bị bắt giam và bị kết án tử hình ngày 20 tháng 11 năm 1931 khi mới 17 tuổi.

2) Võ Thị Sáu, sinh năm 1933 trong một gia đình nghèo “giàu truyền thống cách mạng” ở xã Phước Thọ, quận Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa... Năm 1947 lúc 14 tuổi được kết nạp vào đội công an xung phong quận Đất Đỏ...Tháng 11/1948, Võ Thị Sáu cải trang trà trộn cùng tốp người đi làm căn cước, mang theo trái lựu đạn nằm trong cơi đựng trầu, vào nhà làm việc của tên tổng cai Tòng, rút chốt lựu đạn ném thẳng vào mặt y... Tháng 2/1950, Võ Thị Sáu dùng lựu đạn tiêu diệt 2 tên ác ôn có nhiều nợ máu là Cả Đay và Cả Suốt, không may chị bị địch bắt... Kẻ địch dùng mọi cực hình tra tấn, chị chết đi sống lại nhiều lần nhưng vẫn không hé môi. Chị vẫn giữ vững khí tiết người chiến sỹ Cộng sản, người Công an kiên cường, tin tưởng tuyệt đối vào thắng lợi cách mạng.

3) Vừ A Dính, 13 tuổi đã thoát ly gia đình trở thành đội viên liên lạc của đội vũ trang huyện Tuần Giáo. Trung tuần tháng 6 năm 1949, giặc Pháp huy động tổng lực quân lính từ các đồn trong khu vực để vây ráp hòng tiêu diệt đội vũ trang Tuần Giáo của Vừ A Dính.Trong một lần làm nhiệm vụ liên lạc, Vừ A Dính không may bị giặc bắt và tra tấn bằng những hình thức dã man, đánh đến anh gãy hết tay chân nhưng vẫn không lay chuyển nổi ý chí của anh. Chiều tối ngày 15-6-1949. Vừ A Dính đã anh dũng hy sinh bởi loạt đạn của quân thù bên gốc cây đào cổ thụ ở Khe Trúc gần đồn Bản Chăn, khi chưa tròn 15 tuổi.

4) Ngô Thị Tuyết, sinh ra trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng ở xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, cô bé Tuyết chưa học tròn chữ nhưng sớm có tinh thần giác ngộ cách mạng. Với lòng căm thù giặc sục sôi, năm 13 tuổi cô bé Tuyết đã theo mẹ cùng em trai che giấu, tiếp tế lương thực cho chiến sỹ cách mạng. Năm 15 tuổi làm công tác thăm dò quân dịch và thông tin cho cách mạng. Năm 1965 giặc Mỹ bắn phá ác liệt tại quê hương Bình Sơn, cô bé 17 tuổi tham gia vào đội quân kích xã Bình Đông, rồi góp phần vào chiến thắng vang dội tại thôn Vạn Tường Bình Hải- Bình Sơn, ngày 18/8/ 1965.



Dũng sĩ Ngô Thị Tuyết 7 lần gặp bác Hồ? Để làm gì?...

5) Hồ Văn Mên, sinh năm 1953, tại ấp Thạnh Lộc, xã An Thạnh, huyện Lái Thiêu, tỉnh Sông Bé trong một gia đình nghèo, mồ côi mẹ năm 13 tuổi. Sau 3 năm làm cách mạng từ tuổi 13-14. Đại hội tổ chức chọn đại biểu cho ra bắc thăm bác Hồ cho các dũng sĩ diệt Mỹ báo công đến lượt Mên, ban tổ chức đại hội trân trọng mời bước ra lễ đài, mọi người ngạc nhiên ồ lên vỗ tay tán thưởng vì nhìn thấy dũng sĩ diệt Mỹ là một “thằng nhóc” 14 tuổi, đội nón tai bèo, mặc quân phục giải phóng quá khổ, cả đại hội vỗ tay vang rân, Mên chỉ nói được tiếng kính thưa, rồi đứng chết trân tại bục phát biểu. Lúc này, anh Một Hữu trong đoàn phải ẵm Mên giơ lên cao cho mọi người nhìn thấy rõ, rồi anh đọc thay cho em bản báo công

6) Hồ Thị Thu, lúc 9 tuổi đã là giao liên hoạt động tại Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam) chuyển tài liệu, thư từ cho cán bộ chiến sĩ trong vùng bí mật. Năm 11 tuổi, Thu xung phong vào đội xung kích bí mật của xã hoạt động tại vùng giáp ranh giữa hai huyện Điện Bàn và Duy Xuyên, vận chuyển vũ khí tham gia chống càn trên mặt trận Quảng-Đà. Năm 1967, Thu được giao nhiệm vụ canh chừng các động tĩnh của đồn bốt địch để báo cáo. Thấy lính Mỹ - Ngụy đem rất nhiều súng ra lau chùi, cô cùng 3 bạn nhỏ bí mật nhặt sỏi, cát nhét vào các nòng súng. Tối đó, bộ đội ta tập kích đồn địch, đánh giáp lá cà, không có vũ khí chống trả, địch bị ép ra mép sông, bỏ chạy tán loạn, bỏ lại những khẩu súng toác nòng dính máu. Trận đánh đó ta thắng lớn mà không bị tổn thất. Riêng Thu, được phong tặng danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ khi mới 13 tuổi!


Dũng sĩ Hồ Thị Thu áo đen ôm tay trái của Hồ Chí Minh

Danh sách anh hùng lực lượng vũ trang, dũng sĩ diệt Mỹ được Hồ khen tặng, được đảng tuyên dương đều có cùng một điểm chung là con nhà lao động mù chữ ít học, có hoàn cảnh khó khăn, dễ lợi dụng. Ưu tiên chọn lựa của Hồ, của đảng là còn nhỏ không có điều kiện học hành, chưa đủ hiểu biết để phân biệt đúng sai cũng như không có điều kiện tiếp cận thông tin đa chiều, trung thực để biết được những chuyện xảy ra trong nước và thế giới chung quanh như trẻ em thời đại a còng (@) với truyền thông hiện đại ngày nay.

Nói cách khác tiêu chuẩn tuyển chọn sát thủ của Hồ và đảng cộng sản là trẻ con nhà nghèo ít học, có hoàn cảnh khó khăn dễ dụ, dễ sai khiến. Điều khá buồn cười là thế giới văn minh đã đặt chân lên cung trăng để xem mặt chị Hằng tròn méo ra sao rất lâu rồi và nhân loại cũng đã lên kế hoạch chinh phục sao hỏa cùng nhiều hành tinh khác ngoài Thái Dương Hệ để đưa loài người lên sinh sống trong tương lai khi trái đất quá tải.

Thành thật mà nói với số tuổi 12, 13 và ít học, nếu không nói là mù chữ thì biết chi mà đảng hô hoán, gán ghép cho các em tinh thần cách mạng, giác ngộ cách mạng, tích cực tham gia hoạt động cách mạng? Thực chất của cái gọi là giác ngộ cách mạng của trẻ em nghèo, mù chữ có hoàn cảnh khó khăn là bị lừa bị dụ? Cụ thể là nguyên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được tuyên giáo khoe là giác ngộ cách mạng, tham gia hoạt động “chống Mỹ cứu nước” năm 12 tuổi, giờ công khai đối chất xem, có phải ông Dũng theo cộng sản là do giác ngộ cách mạng hay vì một nguyên nhân khó nói nào khác?

Loài người tiến bộ, văn minh như thế đấy mà cán bộ, quan chức đảng viên đảng cộng sản vẫn còn mang tư duy nhận thức bịa đặt, trơ trẻn chụp mũ, tố điêu những người dân ưu tú bức xúc xuống đường biểu tình đòi được sống trong môi trường trong sạch, chính phủ minh bạch. Chúng xuyên tạc, vu khống những người biểu tình như luận điệu Hồ Chí Minh núp dưới bút danh C.B tố điêu kết tội chết cho bà Nguyễn Thị Nam, người phụ nữ yêu nước đóng góp không ít công của cho kháng chiến chống Pháp.

Cán bộ, đảng viên cộng sản, chính xác là cháu ngoan bác Hồ thấm nhuần tư tưởng dụ con nít của Hồ Chí Minh huấn luyện trẻ em ngây thơ trở thành hung thần tham gia gây tội ác và những đứa đã bị tẩy não, nhồi nhét những tư tưởng phản động vô nhân tính vào đầu trẻ em nên có suy nghĩ ai cũng ngu, xấu như nó. Thế cho nên những tên bồi bút, văn nô đảng viên bại não sử dụng luận điệu xuyên tạc xúc phạm đến những người dân ưu tú xuống đường biểu tình đòi đảng cộng sản trả lời nguyên nhân cá chết, là bị kẻ xấu lợi dụng, kích động vào mục tiêu chính trị như Hồ và đảng cộng sản lợi dụng trong quá khứ, với lý lẽ “suy bụng ta ra bụng người” như sau:

“... Chúng tiếp cận với những người nhận thức non yếu, hạn chế, có hoàn cảnh khó khăn hoặc có tư tưởng búc xúc về một số vấn đề, để dần dần nhồi nhét bằng những câu chuyện bịa đặt, chu cấp tiền bạc hoặc hứa hẹn, rồi tạo ra những “con rối”, giao những nhiệm vụ cụ thể cho ý đồ chống đối, gây rối chính trị...”

Thời nay là thời a còng (@) lãnh đạo của đảng cộng sản vẫn mê ngủ, vẫn mơ màng mộng du trong loa đài của thời đại Hồ Chí Minh. Thời của độc quyền thông tin, bưng bít thông tin, thời chỉ có một tiếng nói duy nhất của cái loa đảng và không ai có điều kiện lẫn phương tiện phát hiện ra được. Chính xác là dù có phát hiện ra đi nữa cũng không đủ can đảm nói, vì nói lên sự thật bác, đảng công khai, không những khó bảo toàn được mạng sống của bản thân người nói mà còn liên lụy đến gia đình, giòng tộc nên nhiều người cam chịu sống nhục dưới chiếc gậy chỉ huy của bạo quyền cộng sản và mặc nhiên cho cộng sản tha hồ láo lừa, bịp bợm.

Ngày nay mọi sự đã khác, với phương tiện truyền thông nhanh nhạy người dân tiếp nhận được nhiều nguồn thông tin đa chiều và các trẻ em thời nay hiểu biết rộng, kiến thức nhiều nhờ vào công cụ truyền thông hiện đại tiếp cận được nếp sống văn minh của thế giới loài người thời đương đại nên không dễ để cho cộng sản dụ dỗ, xí gạt như thời loa đài của Hồ Chí Minh.

Chuyện người dân, có cả phụ nữ và trẻ em bức xúc với sự kiện cá chết trắng bờ biển miền trung, xuống đường biểu tình đòi được sống trong môi trường sạch với một chính phủ minh bạch, là hoàn toàn tự nguyện với ý thức trách nhiệm cao. Hành động bình thường đó là thể hiện quyền làm người cơ bản của thế giới văn minh thời đương đại và chuyện côn an cộng sản học tập làm theo tư tưởng bịa đặt, vu khống, tố điêu của Hồ Chí Minh - cụ thể là vu vạ các bà mẹ xuống đường có cả trẻ con đi cùng là bị kẻ xấu lợi dụng, kích động, xúi giục chống phá đảng, nhà nước?



Sau cá là ngao chết ở bờ biển miền Trung

Có nhiều nhà khoa học phân tích lên tiếng di họa của chuyện cá chết hàng loạt không rõ nguyên nhân rất khủng khiếp, khiến ngưòi dân mọi giới, mọi thành phần xã hội bức xúc về môi trường, thể hiện nếp sống văn minh là xuống đường biểu tình ôn hòa đòi đảng, nhà nước cộng sản “điều tra làm rõ”, rồi công bố kết luận điều tra khoa học cho dân biết nguyên nhân và đề ra biện pháp khắc phục hậu quả, là chính đáng.

Với sự kiện cá chết gây chấn động xã hội, nếu thật sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân thì nhà nước ấy phải lắng nghe nguyện vọng của nhân dân và tìm hướng giải quyết ổn thỏa trong hòa bình. Thế nhưng qua cách đối phó của đảng, nhà nước độc ác, dối tra, ngu dốt cộng sản Việt Nam về vụ việc cá chết hàng loạt, bằng cách sử dụng bạo lực nắm đấm, sức mạnh dùi cui nghiệp vụ trấn áp tàn bạo. Cùng lúc với bịa đặt, vu vạ cho thế lực thù địch xúi giục mọi tầng lớp nhân dân lương thiện xuống đường vì môi trường xanh, sạch, đẹp cho tương lai cháu con mai sau. Hành động của chúng, một lần nữa đủ cơ sở kết luận đảng, nhà nước này là nhà nước côn đồ, là đảng phản động đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, chống lại nhân dân và nó - chế độ bạo tàn cộng sản Việt Nam không còn lý do để tồn tại...dứt khóat nó phải bị loại bỏ khỏi đời sống của người dân Việt Nam.

21.05.2016

Le Nguyen
danlambaovn.blogspot.com




Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 215
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Mon Jun 06, 2016 1:08 pm



Ngăn cản dân biểu tình - Ngày tàn của cộng sản Việt Nam

Trần Quang Thành (Danlambao) - Hôm Chủ nhật 5/6/2016, nhân Ngày Môi trường Thế giới, nhiều cuộc biểu tình tuần hành của các bạn trẻ, của những người dân vì một môi trường sạch, vì cuộc sống của mọi người đã nổ ra ở Hà Nội, Sài Gòn, Vũng Tàu, Nhà Trang, Nghệ An cùng một số địa phương khác và đã bị giới bạo quyền cộng sản huy động lực lượng công an ngăn cản, đàn áp bằng nhiều thủ đoạn từ trắng trợn đến tinh vi. Ở Hà Nội từ đêm thứ bảy 4/6 công an đã đặt chốt canh giữ những người thường xuyên tham gia các hoạt động biểu tình và sáng 5/6 hàng chục người đã bị cưỡng bức lên xe buýt đưa về câu lưu ở công an quận Long Biên đến chiều 5/6 mới được thả ra.

Tại Sài Gòn, các ngả đường dẫn đến công viên 30-4, nhà thờ Đức Bà đều bị lực lượng công an, an ninh, phong tỏa và 3 người đã bị câu lưu.

Cuộc biểu dương lực lượng đông đảo nhất diễn ra ở giáo phận Vinh. Gần một ngàn bà con tham gian biểu tình đã giương cao các biểu ngữ yêu cầu nhà cầm quyền cộng sản phải minh bạch các thông tin về cá chết hàng loạt, biển bị nhiễm độc nặng.

Từ Hà Nội, kỹ sư Nguyễn Trung Lĩnh đã trả lời phỏng vấn của phóng viên Trần Quang Thành.

Xin được nói thêm kỹ sư Nguyễn Trung Lĩnh, người nhiều năm tham gia đấu tranh đòi dân chủ nhân quyên, từng bị công an bắt cóc đưa vào bệnh viện tâm thầm cả năm trời và sáng 5/6 an ninh đã cắm chốt trước cửa nhà không cho ông đi biểu tình.

Nội dung như sau – Mời quí vị cùng nghe.

Youtube PV kỹ sư Nguyến Trung Lĩnh




Trần Quang Thành
danlambaovn.blogspot.

** Đọc thêm về Trần Quang Thành:

Xấp giấy bạc ngoài cánh đồng hoang
- Trần Quang Thành Việt nam

http://thntsaigon.forumsreality.com/t240-topic
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI    Today at 7:16 pm

Về Đầu Trang Go down
 
CỘNG SẢN CHỈ CÓ SỤP ĐỔ, KHÔNG CÓ CHUYỂN ĐỔI
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Nhận Định, Phản Biện-
Chuyển đến