Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
rang nhung quan mien cuoc cong tien thuy ngoc nghia pham PHAT phung lang huyen HUNG Ngày viet nguoi trai thanh nguyen nghe sinh thang Thầy
Latest topics
June 2017
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Vụ án "Nhân Văn Giai phẩm"

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
VSonYen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Vụ án "Nhân Văn Giai phẩm"   Tue Sep 03, 2013 8:10 pm

Vụ án "Nhân Văn Giai phẩm"



Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Nhân văn - Giai phẩm: Những nhân vật có liên quan    Thu Sep 05, 2013 1:41 am


Nhân văn - Giai phẩm: Những nhân vật có liên quan

Nguyễn Ngọc Chính

Vụ án Nhân văn-Giai phẩm (NVGP) được kết thúc tại Hà Nội với phiên tòa đầu năm 1960. Bản án dành cho 5 nhân vật có liên quan gồm Thụy An (Lưu Thị Yến), Nguyễn Hữu Đang: mỗi người 15 năm tù + 5 năm mất quyền công dân; Minh Đức (Trần Thiếu Bảo): 10 năm tù + 5 năm mất quyền công dân; Phan Tại: 6 năm tù + 3 năm mất quyền công dân và Lê Nguyên Chí: 5 năm tù + 3 năm mất quyền công dân (1)

Ngoài 5 nhân vật bị xử trước tòa, NVGP còn dính líu đến rất đông các nhân vật liên quan gồm những văn nghệ sĩ và cấp lãnh đạo đứng trong hàng ngũ ‘cảm tình viên’ hoặc ‘công tố viên’. Mới thoạt nhìn, NVGP chỉ có tính cách một ‘vụ án văn nghệ’ thông qua hai ấn phẩm Nhân văn (do Nguyễn Hữu Đang chủ trương, Số 1 ra ngày 20/9/1956, đến Số 6 đang in bị đình chỉ ngày 15/12/56) và Giai phẩm (Nguyễn Hữu Đang và Lê Đạt ở trong ban biên tập) gồm Giai phẩm Mùa xuân chuyên về thơ, Giai phẩm Mùa thu xuất bản ngày 29/8/1956 và Giai phẩm Mùa đông tháng 12/1956.

Một khi đã nhìn sâu vào vấn đề, người ta còn tìm thấy các yếu tố chính trị-xã hội của miền Bắc trong thời kỳ này. Năm bị cáo nói trên chỉ là phần nổi của tảng băng chìm được đưa ra ánh sáng, phần còn lại, trong bóng tối, là những nhân vật có liên quan đến cả một hệ thống chính trị-văn hóa-xã hội tại miền Bắc trong cuối thập niên 50 và 60.    

Nhân vật chủ chốt trong NVGP, Nguyễn Hữu Đang (bí danh Phạm Đình Thái), được xác định như một nhà chính trị và văn hoá nổi tiếng tại miền Bắc đồng thời là một trong những khuôn mặt trí thức, dấn thân tranh đấu cho tự do dân chủ can trường nhất trong thế kỷ 20. Là cột trụ của phong trào NVGP, Nguyễn Hữu Đang đã bị bắt, bị cầm tù, bị quản thúc và mất quyền tự do phát biểu trong suốt 59 năm, từ tháng 4/1958 đến khi ông mất vào tháng 2/2007.

Đi theo cách mạng từ những buổi đầu, có óc tổ chức và tài hùng biện, ông còn được coi là ‘cánh tay phải’ của Hồ Chí Minh. Năm 1929, Nguyễn Hữu Đang gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Ông hoạt động tích cực trong Hội truyền bá quốc ngữ từ năm 1938, làm báo cùng Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh) và Trần Huy Liệu. Công lớn nhất của ông là việc tổ chức ngày tuyên ngôn độc lập 2/9/1945.

Nguyễn Hữu Đang tham gia Chính phủ Lâm thời, làm Thứ trưởng Bộ truyên truyền, rồi Bộ thanh niên, Chủ tịch uỷ ban vận động mặt trận văn hóa. Ông cũng là người đứng ra tổ chức Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội. Mãi đến năm 1947, Nguyễn Hữu Đang mới được chính thức kết nạp vào Đảng nhưng đến năm 1948, ông ngưng mọi sinh hoạt Đảng và trở về Thanh Hóa.

Người ta giải thích Nguyễn Hữu Đang ‘chia tay’ với cách mạng sau Đại hội Văn hoá Toàn quốc lần thứ hai (khai mạc ngày 15/7/48 ở Việt Bắc). Trong hội nghị này, Trường Chinh đọc bản báo cáo nổi tiếng Chủ nghiã Mác và văn hoá Việt Nam. Nguyễn Hữu Đang, có lẽ vì không đồng ý với Trường Chinh nên đã rút lui về Thanh Hoá, không tham dự đời sống văn hoá-chính trị nữa. Sự ‘ly khai’ của Nguyễn Hữu Đang không chỉ vì bất đồng ý kiến về văn hoá mà còn cả những bất đồng về chính trị.

Bản báo cáo của Trường Chinh đã nêu lên vấn đề: “Nghệ thuật phục vụ cho mục đích chính nghĩa là nghệ thuật hợp chân lý. Nghệ thuật phục vụ cho mục đích phi nghĩa là nghệ thuật phản chân lý. Tuyên truyền của phe xâm lược, phản động là tuyên truyền phản chân lý. Tuyên truyền của phe cách mạng là tuyên truyền chân thật, phù hợp với chân lý rõ ràng”.

Báo cáo cũng đề ra đường lối ‘phê bình đúng nguyên tắc’, ‘chú trọng đả kích tư tưởng, văn học, nghệ thuật phản động của địch’. Đường lối văn nghệ tuyên truyền cách mạng này đã tạo ra nhiều lớp người viết với những sáng tác mà nhạc sĩ Tô Hải, trong cuốn Hồi ký của một thằng hèn, đã gọi là thời kỳ ‘bồi bút, bồi nhạc’. Cao điểm là cuốn Bọn Nhân văn giai phẩm trước toà án dư luận và ảnh hưởng của nó còn kéo dài tới ngày nay.

Mãi đến năm 1989, Nguyễn Hữu Đang mới được ‘phục hồi’. Một năm sau, ông được trả lương hưu và kể từ 1993 về sống ở Nghĩa Đô, ngoại ô Hà Nội cho đến lúc mất. Sự ‘phục hồi’ ghi trong tiểu sử chỉ là hình thức, vì trên thực tế, Nguyễn Hữu Đang chưa bao giờ được phục hồi quyền phát biểu tự do như một công dân.

Theo Thụy Khê, sở dĩ có buổi trả lời phỏng vấn của Nguyễn Hữu Đang trên RFI tháng 9/1995 là nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Tuyên ngôn Độc Lập 2/9/1945. Buổi thu thanh duy nhất này, được phát làm hai lần trên đài RFI (http://thuykhue.free.fr). Đó là lần phỏng vấn đầu tiên và cũng là cuối cùng. Về sau, không thể liên lạc được với Nguyễn Hữu Đang, mặc dù ông có điện thoại riêng, nhưng đường dây luôn luôn bị kiểm soát, chỉ nói được vài câu là bị cắt ngay.


Nguyễn Hữu Đang
(1913-2007)

Có thể nói, phong trào NVGP bắt đầu khi hai nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt phê phán tập thơ Việt Bắc (2) của Tố Hữu là “dòng thơ lục bát không có gì mới, nội dung vân vê kỷ niệm không lấy gì làm sâu sắc”. Tuy nhiều người phê phán nhưng tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu vẫn giành được Giải thưởng Văn học giai đoạn 1954-1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam. Về sau, nhóm Nhân Văn còn viết nhiều bài được coi như là những Thất Trảm Sớ, đặc biệt, bài của Nguyễn Hữu Đang nói về thiết lập nhà nước pháp quyền.

Bài tham luận của Nguyễn Hữu Đang đọc trước lớp học 18 ngày và bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi là hai tác phẩm chủ chốt, đã thuyết phục Trương Tửu và những nhà trí thức khác tham gia tích cực, tạo nên một phong trào rộng lớn: Phong trào NVGP.

Đảng Lao Động học tập chính sách của Mao Trạch Đông và Liên Xô nên mới có việc nới rộng tự do văn nghệ ở miền Bắc, tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày và Nguyễn Hữu Đang mới có cơ hội trở lại văn trường và chính trường, giữ vai trò lãnh đạo phong trào NVGP.

Ngược lại, Tố Hữu là người cũng phê phán quyết liệt phong trào NVGP năm 1958 với tư cách là người thay mặt Đảng Cộng sản Việt Nam phụ trách mảng văn nghệ. Ông cũng được đánh giá là con người khá bảo thủ, khi bị phê bình về các tác phẩm của mình thì thường có phản ứng rất quyết liệt. Cũng vì những lý do đó cho nên đã có nhiều ý kiến coi Tố Hữu là tác giả chính của vụ án văn nghệ-chính trị này.

Tố Hữu, tên thật Nguyễn Kim Thành, là một nhà thơ và cũng là nhà chính trị tiêu biểu trong suốt thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ tại miền Bắc. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng bộ trưởng.

Tố Hữu sinh ngày 4/10/1920, tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cha ông là một nhà nho nghèo, lận đận trong thi cử và phải kiếm sống rất chật vật nhưng lại thích làm thơ, thích sưu tập ca dao tục ngữ. Mẹ ông cũng là con của một nhà nho, bà thuộc nhiều ca dao, dân ca Huế. Như vậy, cha mẹ và quê hương Huế đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tố Hữu.

Mẹ ông mất năm ông mới 12 tuổi và năm 13 tuổi, ông vào trường Quốc học (Huế). Tại đây, được trực tiếp tiếp xúc với tư tưởng của Karl Marx, Friedrich Engels, Vladimir Ilyich Lenin, Maxim Gorky... qua sách báo, kết hợp với sự vận động của các đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam bấy giờ (Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu), cậu học sinh Nguyễn Kim Thành sớm tiếp cận với lý tưởng cộng sản. Ông gia nhập Đoàn thanh niên và được kết nạp vào Đảng Cộng sản năm 1938.

Vào giữa năm 1938, sau khi đỗ thành chung, Nguyễn Kim Thành sang Lào. Tại đây, ông viết bài Lao Bảo, một cụ đồ nho người Quảng Bình, sau khi hàn huyên đã tặng chữ Tố Hữu để đặt bút danh cho Nguyễn Kim Thành. Cụ đồ giải thích theo Khổng Tử: “Ngô nhi tố hữu đại chí”, nghĩa là “trẻ ta sẵn có chí lớn”.

Nguyễn Kim Thành trân trọng nhận bút danh Tố Hữu do cụ đồ tặng, nhưng chỉ dám được hiểu với nghĩa khác: Tố là trong trắng, Hữu là bạn; hai chữ Tố Hữu với ý nghĩa là người bạn trong trắng. Một số bạn của ông không đồng tình với cách giải thích này vì họ cho là ông không giữ được sự trong trắng trong tình bạn.


Tố Hữu
(1920–2002)

Tố Hữu là một nhà thơ chính trị. Ông có nhiều bài thơ ca ngợi các lãnh tụ cộng sản quốc tế như Stalin (Đời đời nhớ Ông) hay Mao Trạch Đông (Đường sang nước bạn). Bài thơ ca tụng Stalin ông viết vào tháng 3/1953 trong tập thơ Việt Bắc có những câu:

Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin…

Và rồi khi nghe tin Stalin chết:

Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười.

Thơ Tố Hữu nặng mùi chiến đấu nhưng cũng đậm sắc tôn vinh những lãnh tụ vô sản của thế giới:

Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin bất diệt.

Làm thơ như thế đã giúp Tố Hữu leo dần tới Bộ Chính Trị và sau này đã từng có lúc ông nhà thơ khẩu hiệu trở thành lãnh đạo sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước qua chính sách “giá-lương-tiền”.

Suốt gần 30 năm, sách vở ngập tràn thơ Tố Hữu. Trong lãnh vực giáo dục, bài thi môn văn nào cũng Tố Hữu. Giải bình thơ hay nào cũng Tố Hữu. Biết bao thế hệ đã coi đấy là một ‘tượng đài thơ’. Vũ Thư Hiên kể lại một giai thoại về Tố Hữu trong Đêm gữa ban ngày (3):

“… Trong một buổi Tố Hữu đến giảng tại Trường Nghiệp vụ Văn hóa, kịch sĩ Bửu Tiến đứng lên xin hỏi:
- Thưa anh Tố Hữu, theo anh thì thơ anh hay hay thơ cụ Nguyễn Du hay?


Nhà thơ khiêm tốn trả lời:
- Tôi không dám so sánh tôi với cụ Tiên Ðiền. Thơ của tôi chưa được kiểm chứng qua thời gian, nó là thơ thời hiện tại. Cần phải có một khoảng cách mới đánh giá được...
- Vậy tại sao trong các kỳ thi tuyển, thi tốt nghiệp học sinh không học thơ Nguyễn Du mà chỉ học thơ anh mới có hi vọng đỗ? - Bửu Tiến hỏi tiếp - Lâu nay đề thi nào cũng là thơ Tố Hữu cả, trò nào không học thơ Tố Hữu tất trượt.
- Cái này không phải lỗi tại tôi. Các đồng chí phải đấu tranh với Bộ Giáo dục.


Bửu Tiến cười nhạt :
- Bộ Giáo dục chúng tôi không ngại. Nhưng cái chính là muốn đấu tranh chúng tôi phải biết… tránh đâu...”

Nhiều người cũng chia sẻ với Tố Hữu qua bài thơ nổi tiếng Bầm ơi, dạt dào tình nghĩa gắn bó giữa chiến sĩ cách mạng và người dân nghèo trong thời kỳ kháng chiến. Bài thơ có đoạn:

Bầm ơi có rét không bầm
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non...

Tố Hữu được mệnh danh là nhà thơ ‘chín năm’ (Chín năm làm một Điện Biên…) trong thời kháng chiến nhưng Tố Hữu sau này cách xa một trời một vực, không những về chức tước, mà cả về tình người. Thế cho nên, một sĩ phu Bắc Hà đã nhại 4 câu Bầm ơi bằng những lời chua chát:

Bầm ơi có rét không bầm
Vônga con cưỡi, gà hầm con xơi
Con thương bầm lắm bầm ơi
Bảy mươi, bầm vẫn phải ngồi nhá khoai...

Ngoài chuyện ‘nhại’ thơ Tố Hữu, tưởng cũng nên kể thêm chuyện ‘hoạ’ thơ Tố Hữu theo chiều hướng... tiếu lâm dân gian. Khi Tố Hữu cho đăng trên báo Văn nghệ và nhiều báo khác bài “Đảng và thơ”, nguyên văn như sau:

Trên năm mươi tuổi Đảng và thơ
Từ ấy hồn vui mãi đến giờ
Mái tóc pha sương chưa cạn ý
Con tằm rút ruột vẫn còn tơ

Thuyền con vượt sóng không nghiêng ngả
Nghiệp lớn muôn đường lộng ước mơ
Mới nửa đường thôi, còn bước tiếp
Trăm năm duyên kiếp, Đảng và thơ.

Ngay sau đó, từ Hà Nội lan truyền khắp cả miền Bắc bài thơ hoạ, ý và lời đối nhau chan chát:

Năm mươi năm ấy vẫn còn thơ
Từ ấy đua chen mãi đến giờ
Mái tóc pha sương chưa hết dại
Con tằm rút ruột chẳng còn tơ

Thuyền con quá tải không qua sóng
Mộng lớn tài hèn chớ ước mơ
Với giá, lương, tiền dân khốn đốn
Trăm năm bia miệng, hỡi nhà thơ!

Người ta kháo nhau rằng tác giả bài thơ họa này là một sĩ phu “thứ thiệt”: nhà trí thức văn hóa, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Nay thì Tố Hữu đã qua đời, người ta vẫn chưa xác định được vai trò thực sự của ông trong vụ NVGP. Mới đây, gia đình ông đã bán căn biệt thự ở phố Hồ Xuân Hương, Hà Nội, với một số tiền khá lớn lên đến hàng triệu đô la.

Trong khi những người như Tố Hữu được hưởng bổng lộc, những người có liên quan đến NVGP như Trần Dần, Hữu Loan lại bị đầy đọa. Bà Phạm Thị Nhu, vợ ông Hữu Loan (tác giả Màu tím hoa sim), kể:

“Chúng tôi nuôi 10 đứa con thật vô cùng vất vả. Ông nhà tôi đi thồ đá, tôi làm 2 sào ruộng, lại xay bột làm bánh bán ở chợ. Hôm nào bán ế là gánh về một gánh nặng, cả nhà ăn trừ bữa. Tôi cứ xào một xoong to toàn các thức rau, các con đi học về là nhào vào múc ăn thay cơm. Ba đứa trai lớn thì hàng ngày phải dậy từ 3 giờ sáng, kéo 3 chuyến xe cải tiến chở đá từ trên núi xuống hồ cách 2 cây số, bán cho các thuyền rồi mới ăn vội bát cơm độn để chạy bộ 7 cây số đi học."


Hữu Loan
(1916 - 2010)

Các con của Hữu Loan gần như không có ai vào được đại học vì cái bóng lý lịch của một kẻ thuộc hàng ngũ Nhân Văn. Một người con thi đủ điểm để du học nước ngoài cũng không được đi. Ông đã bị biết bao người thân trách cứ. Nhưng, khi quyết định rời bỏ Hà Nội về quê, Hữu Loan đã nói với vợ:

“Thôi thì bà với các con chịu khổ để cho tôi được sống lương thiện. Tôi mà chịu khó hót thì nhà lầu xe hơi sung sướng đấy, nhưng tôi không làm được”.

Hữu Loan giải thích: “Làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi, viết vừa lòng dân thì đi tù như chơi. Thôi, tôi về đi cày”.

***

Nhà thơ Văn Cao là người thực sự có liên quan đến NVGP nhưng lại không bị ra tòa. Ông đã nói đến thực chất của chế độ, đòi quyền tự do tư tưởng, tự do sáng tác, và chủ trương đổi mới văn học. Trong bài Anh có nghe thấy không, Văn Cao nói đến sự ‘bế quan toả cảng tinh thần’ trong chế độ cộng sản. Ngay những dòng thơ mở đầu, Văn Cao đã đưa người đọc đến một không gian kín mít, một bầu không khí nghẹt thở sau khi cách mạng thành công:

Cửa đóng lại từ chín giờ
Không một cuốn sách chờ đợi
Dù những ngôi sao đang nở trên trời
Dù đêm mùa xuân bắt đầu trở lại

Văn Cao đã phác họa một thực tế rất ‘đời thường’ trong bối cảnh xã hội miền Bắc thời cuối thập niên 50:

Chung quanh còn những người khôn ngoan
Không có mồm
Mắt không bao giờ nhìn thẳng
(...)
Bây giờ không còn những tiểng nổ to
Nhưng còn những tiếng rạn vỡ
Có thể thu hết những khẩu súng phản động
Nhưng vẫn còn
Những khẩu súng đưa người tự tử.

Giọng điệu của bài thơ Anh có nghe thấy không rất ôn hòa nhưng không kém phần quyết liệt. Văn Cao chỉ thẳng vào bọn gian thần, bọn dốt nát, bọn ‘kìm kẹp văn hoá tư tưởng’:

Những con người không phải của chúng ta
Vẫn ngày ngày ngang nhiên sống
Chúng nó còn ở lại
Trong những áo dài đen nham hiểm
Bẻ cổ bẻ chân đeo tội ác cho người.

Nhưng lạ lùng là cả ‘triều đình’ và bọn nịnh thần không ai dám động đến Văn Cao. Chẳng lẽ họ không hiểu? Kể cả những người lắm chữ như Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi? Dĩ nhiên là họ hiểu. Nhưng bởi Văn Cao là một tài năng lớn, trên tất cả ‘chúng nó’ và, hơn thế nữa, Văn Cao lại là tác giả bài Tiến quân ca. Chính bài quốc ca này đã đỡ đòn cho Văn Cao trong toàn bộ hành trình NVGP.


Văn Cao
(1923-1995)

Vũ Thư Hiên trong Đêm giữa ban ngày kể lại những lời Văn Cao nói với ông về vụ án NVGP: người khởi xướng vụ ‘đánh’ NVGP là Trường Chinh, tên thật là Đặng Xuân Khu (1907–1988), người đã từng giữ chức Chủ tịch Quốc hội Việt Nam (1960 - 1981), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (1981 - 1986) và Tổng bí thư Đảng Cộng sản (tháng 7/1986 - tháng 12/1986). Văn Cao nói:

“… Không phải Hồ Chí Minh đâu, Ông Cụ không nghĩ ra cái đó, Ông Cụ không tệ đến thế. Cũng không phải Nguyễn Chí Thanh. Ðừng vì vụ Trần Dần bị giam vào cải hối thất mà đổ cho lúy. Thằng cha lúc ấy còn bận củng cố địa vị vừa chiếm được của général Giáp. Tác giả chính là Longue Marche, cậu nghe rõ chưa, là Trường-Chinh…

… Cần phải công bằng. Tố Hữu có không ưa mình, có làm khổ mình thật, do lòng đố kỵ mà ra. Mình cũng ghét cái thằng bắng nhắng ấy lắm. Nhưng có thế nào nói thế ấy. Tố Hữu chỉ là kẻ thừa hành thôi. Nói gì thì nói, trong lòng Tố Hữu vẫn còn một chút gì của nhà thơ chứ. Bề ngoài thì thế đấy - Tố Hữu lãnh đạo cuộc đánh từ đầu chí cuối. Người ta tưởng vụ Nhân văn - Giai phẩm nổ ra là bởi báo Nhân văn đăng mấy bài phê bình thơ Tố Hữu, Tố Hữu tức, Tố Hữu đánh. Nhầm hết.

Longue Marche mới là kẻ sáng tác ra Nhân văn - Giai phẩm. Ðể chạy tội Cải cách ruộng đất. Ðể tạo ra cái hố rác mà trút mọi tội lỗi của lúy vào đấy. Chính Longue Marche chứ không ai khác. Ðừng tước bản quyền của lúy, tội nghiệp!

Longue Marche còn cho mời mình và Nguyễn Tuân đến gặp. Lúy nói cả tiếng đồng hồ về đảng tính, về trách nhiệm đảng viên. Chiêu hồi mà. Nguyễn Tuân nghe, mặt hất lên, ngáp không cần che miệng. Nguyễn Tuân vẫn thế - bất cần đời. Ðôi lúc cũng có hèn một tí, hèn có mức độ thôi, trong đại đa số trường hợp là kẻ bất chấp.

Mình nói với Longue Marche: "Nếu trong vườn hồng có sâu thì ta phải chịu khó mà bắt bằng tay, từng con một. Ðổ ụp cả đống thuốc trừ sâu vào đấy thì chết cả vườn hồng. Rồi anh sẽ thấy: qua đợt đánh phá này không biết bao giờ nền văn nghệ Việt Nam mới ngóc đầu dậy được!"

Lúy nghe, mặt câng câng. Cái cách của Trường Chinh là thế. Lúy gọi mình đến còn có ý này nữa: lúy muốn mình phải hiểu - tôi đã chịu khó nghe các anh rồi đấy nhá, tôi dân chủ lắm rồi đấy nhá ! Chứ còn cái nền văn nghệ của các anh, nó đáng giá mấy xu?".


Trường Chinh
(1907-1988)

Trường Chinh, bí danh Ông Năm, còn là một thi sĩ với bút danh Sóng Hồng. Ông vốn được cánh làm báo Hà Thành đặt biệt danh là ‘Ông-Gạch-Nối’ vì ông thích dùng gạch nối (-) trong mọi danh từ riêng. Ông luôn viết tên mình là Trường-Chinh và suốt một thời gian rất dài, các báo ở Hà Nội buộc phải in tên ông như vậy nếu không muốn bị cạo.

Thời ông làm Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, mọi văn bản ông ký đều có gạch nối trong các danh từ riêng và các báo răm rắp đăng nguyên xi như thế. Thậm chí, vẫn theo quyết định của riêng Ông Năm, ba chữ tạc bằng đá quý màu mận chín trên cửa Lăng Bác Hồ và ba chữ đúc bằng vàng ròng trong Lăng đều viết: HỒ - CHÍ - MINH.

Bởi vậy nên mới có chuyện hi hữu trong làng báo Việt kể từ khi dân ta biết làm báo: trên cùng một trang báo, chỉ riêng tên Trường-Chinh và văn bản do ông ký là có gạch nối trong danh từ riêng, còn tất cả các bài và văn bản khác, kể cả văn bản chính thức của Đảng, đều không làm như vậy.

***

Trong vụ NVGP, nhà văn Nguyễn Tuân ‘thoát nạn’ nhưng thỉnh thoảng ông vẫn ‘xì’ ra những bài bút ký bị kết tội là ‘có hơi hướng chống đối’, chẳng hạn như Phở, Tình rừng... Người ta còn kể những giai thoại hư hư thực thực về cái tính ‘ngang cành bứa’ của tác giả Vang bóng một thời.

Có người kể rằng trong một cuộc họp của Hội nhà văn, Nguyễn Tuân ngồi gần nhà thơ Khương Hữu Dụng vốn nổi tiếng ‘dễ bảo’. Bỗng Nguyễn Tuân quẳng cho Khương Hữu Dụng một mẩu giấy có hai hàng chữ:

Bác là Khương Hữu Dụng
Tôi là Nguyễn Vô Tuân.

Người khác lại kể, một hôm, Tố Hữu đi xe Vônga đến thăm Nguyễn Tuân. Đích thân Nguyễn Tuân ra mở cổng và trịnh trọng nói: "Thưa ông, Nguyễn Tuân không có nhà"

Nói xong, Nguyễn Tuân lững thững đi vào để mặc Tố Hữu bẽ bàng ‘chết đứng như Từ Hải’ trước tình huống bất ngờ. Tác giả Vang bóng một thời là người thẳng tính nhưng lại ưa châm chọc. Trong vụ NVGP ông được xếp vào hàng ngũ ‘cảm tình viên’.


Nguyễn Tuân (1910 - 1987)
(Tranh của Đinh Quang Tỉnh)

Trong đại hội nhà văn, Nguyễn Tuân đã khéo léo chê lối viết văn dài lê thê, ông dẫn một thí dụ người xưa viết văn ngắn mà hay như thế nào để chửi bọn xu nịnh. Ông kể chuyện Cái Rắm, mà người miền Nam gọi là… đánh địt:

Một hôm nhà vua đang ngự triều bỗng đánh rắm, tả quan lắng tai nghe rồi tâu: “Muôn tâu bệ hạ, nghe như tiếng đàn tiếng sáo”, hữu quan hít hà rồi tâu: “Muôn tâu bệ hạ, ngửi như mùi huệ mùi lan”. Nhà vua nghe tâu sướng tai lắm, nhưng rồi lại đâm lo: “Phàm thiên hạ đánh rắm thời phải thối, nay trẫm đánh rắm lại không thế, e trẫm băng đến nơi”. Tả hữu mặt chảy dài. May sao nhà vua lại phát ra một cái tiếp. Tả quan vươn cổ ra tâu: “Muôn tâu bệ hạ, thối ạ!” Hữu quan cũng không kém: “Muôn tâu bệ hạ, không những thối mà còn thối lắm ạ!”.

===

Chú thích:

(1): Xem Nhân văn-Giai phẩm: nhà văn Thụy An trên cũng trên trang blog này. 

http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/nhan-van-giai-pham-nha-van-thuy-an.html


(2): Các bài thơ trong Việt Bắc của Tố Hữu sử dụng nhiều thể thơ như thơ tự do, thơ ngũ ngôn, song thất lục bát, đặc biệt là thể thơ dân tộc: lục bát. Trong lần xuất bản đầu tiên năm 1954, tập thơ gồm 24 bài với bài đầu tiên là Cá nước, sáng tác năm 1947, và kết thúc với bài Lại về, sáng tác năm 1954. Tập thơ cũng có 6 bài thơ dịch, bao gồm thơ của Louis Aragon (Pháp), Konstantin Mikhailovich Simonov (Nga), thơ kháng chiến của Nam Tư và thơ tuyệt mệnh của ông bà Rosenberg (Mỹ). Trong những lần in sau đó, tập thơ Việt Bắc được bổ sung thêm 4 bài Đêm xanh, Lạnh lạt, Tình khoai sắn, Trường tôi, sáng tác vào năm 1946.

(3): Đêm giữa ban ngày, Vũ Thư Hiên:
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4nqntn31n343tq83a3q3m3237nvn
Về Đầu Trang Go down
TamTran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Sự đàn áp của chính quyền Cộng Sản đối với Phan Khôi và những người trong phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm   Fri Sep 06, 2013 1:42 am

Sự đàn áp của chính quyền Cộng Sản đối với Phan Khôi và những người trong phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm


04/09/2013

Phan Đắc Lữ
Mấy ý kiến phát biểu nhân cuộc tọa đàm về quyển sách Nắng Được Thì Cứ Nắng của Phan An Sa ngày18 tháng 8 năm 2013.





Kính thưa quý bà con tộc Phan làng Bảo An.

Kính thưa quý khách.

Trong buổi tọa đàm về quyển sách Nắng Được Thì Cứ Nắng của anh Phan An Sa hôm nay, ( 18-8-2013) tôi sẽ không bàn về tài năng, đạo đức và nhân cách của cụ Phan Khôi trong lĩnh vực báo chí và văn chương. Việc ầy để nhường cho những nhà học thuật, những nhà phê bình văn học nghệ thuật uyên bác. Ở đây tôi chỉ xin nêu ra một số hành động đàn áp và đối xử của chính quyền CS đối với những người tham gia vào phong trào NhânVăn – Giai Phẩm nói chung và với cụ Phan Khôi nói riêng.

BỐI CẢNH LỊCH SỬ NHỮNG NĂM 1955—1959. Những năm cuối đời của cụ Phan Khôi:

Những năm từ 1955 đến 1959, một nửa đât nước Việt Nam từ vỹ tuyến 17 trở ra với ba sự kiện “long trời lở đất” xảy ra vô cùng đau thương, tang tóc:

- Cải Cách Ruộng Đất
- Phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm
- Cải tạo Tư Sản

Cải Cách Ruộng Đất với hàng trăm ngàn người bị đấu tố, bị tù đày và bị giết oan. Hậu quả là lực lượng sản xuất nông nghiệp hùng hậu và năng động ở nông thôn bị tiêu diệt hoàn toàn. Nền đạo lý, đạo đức ngàn đời của dân tộc bị phá vỡ tận gốc : vợ tố chồng, con tố cha, anh em tố nhau … hệ lụy đến ngày nay vẫn chưa khôi phuc đươc mà càng ngày càng trầm trọng hơn.

Vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm là phong trào những văn nghệ sỹ, trí thức trụ cột trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, rất trung thành với chế độ. Có thể do tác động từ sai lầm trong trong Cải Cách Ruộng Đất ; họ đứng lên đòi hỏi dân chủ và tự do trong sáng tác văn hoc nghệ thuật mà bị đàn áp, tù đày đến thân tàn ma dại !

Vụ cải tạo Tư Sản đã triệt tiêu hết nguồn tài sản và nhân lực của guồng máy sản xuất công nghiệp ở Thủ Đô Hà Nội và các thành phố ở miền Bắc Việt Nam. Bao nhiêu gia đình tan nát, ly tán, con cái không đươc học hành.

Những sai lầm đó đã đưa đất nước và nhân dân đến cảnh nghèo đói triền miến suốt 30 năm. Đến nay, Đảng và chế độ đã cho người dân thấy sự sai lầm qua “ đổi mới” : Khôi phục lại chế độ Tư bản!

Riêng vụ Nhân Văn- Giai Phẩm tôi sẽ nói rõ về một số người mà tôi quen biết và hiểu biết qua tư liệu văn hoc, báo chí…đã bị chính quyền CS dàn áp, vu khống, bôi nhọ nhân phẩm, tù đày một cách dã man :

Nguyễn Hữu Đang : Người được cử làm trưởng ban tổ chức ngày lễ tuyên ngôn độc lập tại Ba Đình 2 tháng 9 năm 1945. Sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm bị dàn áp, tháng 4/1958 Nguyễn Hữu Đang bị bắt trên đường tìm vào Nam.

Ngày 19 – 1- 1960 ông bị đưa ra tòa, bị kết án 15 năm tù và 5 năm quản chế. Ông đã trải qua các nhà tù từ Hỏa Lò chuyển lên Yên Bái rồi dày qua trại giam Hà Giang. Năm 1973 ông được thả theo diện “đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris” và bị quản chế tại Thái Bình. Những ngày ở Thái Bình ông sồng trong nhà kho của một hợp tác xã, đấy là những ngày đói rách, cơ cực nhất của một nhà văn hóa, môt trí thức lớn của đất nước: Hằng ngày ông đi sưu tầm bao thuốc lá để đổi cho bọn trẻ con cóc nhái về làm thức ăn!

Năm 1989 “được phục hồi”. Năm 1990 được trả lương hưu. Năm 1993 về sống ở Nghĩa Đô, ngoại thành Hà Nội cho đến khi mất năm 2007.

Hữu Loan (Tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim bất tử): Sau năm 1954 Hữu Loan về lại Hà Nội, làm việc trong tòa soạn báo Văn Nghệ. Cuộc đời ông chuyển biến trong giai đoạn 1955-1956 khi xảy ra phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm. Chính bài thơ bất tử “Màu Tím Hoa Sim” mà chính quyền đã buộc tội ông là phản động, ông bị “đánh” tơi bời. Vào năm 1956 ông bỏ Đảng về quê đi cày, đi thồ đá để nuôi con. Theo lời ông kể: “Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe thồ đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đẩy xe cut-kit, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đùn hay kéo. Xe cut-kit họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi tôi , cho người rình rập sát hại tôi. Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi. ”
Những gì đã diển ra trong cuôc đời ông như là huyền thoại. Thi sỹ Hữu Loan đúng là một đấng trượng phu !

Hoàng Cầm: Sau vụ đàn áp nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm, Hoàng Cầm tuy không bi đi tù nhưng ông bị khai trừ ra khỏi Đảng, khai trừ ra khỏi Hội nhà văn Việt Nam. Tất cả các tác phẩm văn học của Hoàng Cầm bị cấm
xuât bản. Trong các bài “đánh” Hoàng Cầm, bọn bồi bút luôn luôn dùng hai chữ “đồi trụy” nhằm vào đời tư của ông : Vì ông nghiện thuốc phiện và có nhiều vợ, vì ông là một thi sỹ lãng mạn, đa tình. Sau khi bị kỷ luật, ông về sống với bà Lê Hoàng Yến, một cựu hoa khôi đất Hà thành ở 43 Lý Quốc Sư Hà Nội. Những năm sống bị quản chế, ông làm đủ mọi “ nghề” : Đẩy xe ba gác chở vật liêu. Nhưng, một nhà thơ chuyên cầm bút nhẹ nhàng đôi tay làm sao mà đẩy xe ba gác được! Ông bỏ “nghề”. Sau đó chuyển sang viết thuê Ông viết thuyết minh cho film đèn chiếu của Xưởng film Đèn Chiếu thuộc bộ Văn Hóa, một loại film từng ảnh một bất động và đọc lời thuyết minh.

Tuy ông không bị đi tù vì tham gia Nhân Văn – Giai Phẩm, nhưng lại đi tù vì một vụ án khác : Từ năm 1959 đến năm 1960 ông sáng tác tập thơ Về Kinh Bắc. Về Kinh Bắc là một kiệt tác của đời thơ ông. Những năm 60-61, tôi được vinh hạnh gặp và quen thân ông. Ông xem tôi như một người em, một người bạn thơ vong niên (ông hơn tôi 15 tuổi ) Những đêm thứ Bảy Chủ nhật ông hay rủ tôi ra thị xã Phủ Lạng Thương, Bắc Giang (những năm đó tôi công tác tại nhà máy Phân đạm Bắc Giang) hay ra ga Hàng Cỏ Hà nội, đi lang thang suốt đêm, uống chè chén ở những quán cóc vỉa hè và ngâm cho tôi nghe những bài thơ trong tập thơ Về Kinh Bắc. Trong đời, tôi chưa bao giờ nghe một giọng ngâm thơ nào hay như giọng ngâm thơ của Hoàng Cầm Cho nên ông dược mệnh danh là “Con Oanh Vàng Kinh Bắc”.

Năm 1982, do ông sơ suất, bị chính quyền CS phát hiện ra tập thơ Về Kinh Bắc. Họ ghép tội ông phán động, chống lại chế độ, bỏ tù ông 18 tháng. Trong vụ án nầy có nhiều người liên lụy. Sau khi được thả vê, ông bị bệnh tâm thần. Vợ con ông cũng bị vạ lây : gia đình sống trong cảnh đói nghèo, túng quẩn. Hằng tháng ông phải lên trình diện chính quyền để được cấp 12 cân gạo. Vợ ông, bà Lê Hoàng Yến mất năm 1985. Năm 1988 ông “được phục hồi”. Tập thơ Về Kinh Bắc được xuất bản. Ông mất năm 2010, để lại cho đời một khối lương thơ văn đồ sộ, rât có giá trị.

Trẩn Dần: Nguyên nhân xuất phát phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm bắt nguồn từ quân đội. Những người chủ xướng trong đó có Trần Dần. Trong trường ca Nhất Định Thắng có mấy câu :

Tôi bước đi
Không thấy phố
Không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
Trên màu cờ đỏ

Vì những câu thơ trên, kết hợp với cuốn nhật ký ghi chép lại những cảnh đấu tố hãi hùng trong Cải Cách Ruộng Đất, kết hợp với việc ngày 16-5-1955 ông làm đơn xin ra khỏi Đảng, xin ra khỏi quân đội , kết hợp với việc ông tham gia tất cả các báo Nhân Văn và Giai Phẩm, cho nên ông bị ghép vào tội phản động, làm gián điệp, chống Đảng, chống chế độ. Tháng 2 năm 1956 ông bi bắt cùng với Tử Phát ở Bắc Ninh, bị giam trong hầm kín. Sau đó, ông và một số ít người nữa, làm bản tự kiêm điểm, nhận tội, xin Đảng khoan hồng để được an thân. Nhưng, với một người lãnh đạo văn nghệ và cầm đầu cuộc đàn áp Nhân Văn – Giai Phẩm một cách tàn bạo, chỉ biết : “…Thương cha, thương mẹ, thương chồng – Thương mình thương một, thương ông (Stalin) thương mười “ thì làm sao có thể thương được Trần Dần và những người chống Đảng, chống chế độ. Rốt cuộc lại, ông vẫn phải sống bĩ cực đến mãn đời. Ông mất ngày 7 tháng 1 năm 1997.

Trên đây là bốn nhân vật trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm tôi nêu ra sơ lược làm điển hình, làm nền. Còn nhiều người nữa như : Lê Đạt, Phùng Cung, Phùng Quán, Tử Phát, Trương Tửu, Thụy An, Trần Đức Thảo v. v… đều bị kỷ luật hoặc bị đi tù nhiều năm. Vi khuôn khổ bài viết nên không nêu hết được. Trọng tâm trong bài phát biểu hôm nay là nói rõ hơn về sự đàn áp của chính quyền và cách hành xử của mọi người đối với cụ Phan Khôi :


Phan Khôi (1887-1959)

Phan Khôi : Đối với cụ Phan Khôi thì Tố Hữu cầm đầu một “đạo quân bồi bút ” hùng hậu, không những “ đánh ” như những người trong Phong trào NhânVăn – Giai Phẩm mà còn mở một chiến dịch bão táp, quyết chôn vùi tài năng, thanh danh, đạo đức và lòng yêu nước vô bờ của cụ:

Trước tiên, nhà văn Nguyễn Công Hoan (Tác giả tiểu thuyết Đống Rác Cũ) “ đánh” cụ bằng một bài thơ Đường luât vừa dở, vừa tục tĩu, vừa hỗn láo, nhân ngày sinh lần thứ 70 của cụ ( 6 -10 – 1957). Bài thơ như sau :

Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi !
Thọ mi xin chúc chớ hòng ai
Văn chương đù mẹ thằng cha bạc
Tiêt tháo tiên sư cái mẻ ngoài
Lô- đích, trước cam làm kiếp chó
Nhân văn, nay đã hít gì voi ?
Sống dai thêm tuổi cho thêm nhục
Thêm nhục cơm trời chẳng thấy gai !
(Nguyễn Công Hoan) (Tư liệu của Nguyễn Vạn An)

Trong bài Tưởng Niệm Về Phan Khôi của Trần Duy có một đoạn miêu tả lại ngày gia đình cụ bị đuổi nhà tại 51 Trần Hưng Đạo, Hà Hội như sau:

Một buổi chiều tôi đến 51 Trần Hưng Đạo thì gặp cảnh một quan chức có quyền lực quát đuổi vợ chồng ông ra khỏi nhà 51 Trần Hưng Đạo. Người nầy quát lớn: “tống cổ thằng già khốn nạn nầy ra khỏi đây!

Vợ ông, bà Huệ ôm chăn màn sách vở ; ông Phan Khôi lảo đảo theo sau. Ra cổng gặp tôi, ông chào nói : “ thôi, anh về đi…buồn không cần thiết. Đến buồn mà cũng không cần thiết, kể cả khi bát nước hắt đi vẫn không hớt lại được.

Hôm sau tôi gặp lai vị quan chức hôm qua, nguyên là bạn học cùng tôi thời tiểu học ở Quy Nhơn, Bình Định; tôi hỏi : “ Ăn ở, đói xử với nhau như vậy có quá lắm không ? Nhất là tầm tuổi ông Phan cũng ngang hàng cha chú chúng mình.”

Ông bạn tôi cười nói: “ Cậu có biết chuyện lên đồng không ? Người lên đồng nói những điều không do họ chịu trách nhiệm, họ nói những điều từ thế giới khác. ”

Người bạn của họa sỹ Trần Duy thời tiểu học ở Quy Nhơn mà ai cũng biết đich danh là nhà thơ tài hoa Chế Lan Viên, người giỏi ca ngợi bác Hồ, ca ngợi Đảng, ca ngợi cảnh sống ở nông thôn miền Bắc VN tươi đep mà xã viên mỗi người mỗi tháng được chia 4 – 5 cân thóc. Có lẽ, trong lòng người thi sỹ ấy còn một chút lương tri, nên ông đã sám hối. Trong thơ di cảo, ông ân hận là mình đã làm thơ cổ võ những người lính chết năm Mậu Thân :

“ Mậu Thân, 2000 người xuống đồng bằng
Sau một đêm chỉ còn lại có 30 ”
( Ai ? – Tôi!)

Cũng trong bài Tưởng Niệm về Phan Khôi này, cụ Phan Khôi kể cho Trần Duy nghe một mẫu chuyện: Đó là chuyện một nhân vật lão thành cách mạng viết một số bài báo quy cho Phan Khôi cái tội làm tay sai cho bọn mật thám Pháp: Bọn Pháp nhét ông dưới gầm bàn của một tiệm ăn ở Sài Gòn- Chợ Lớn để ông Phan theo dõi môt cuộc họp giả trang của tổ chức Đảng. “Tôi kể chuyện ấy không nhằm minh oan, nhưng là để chứng minh sự ngu dốt của người đã bịa ra câu chuyện ấy

Năm 1958, tôi có đọc trên báo Nhân Dân, nhà nghiên cứu tuồng cổ Hoàng Châu Ký và trên tạp chí Văn Nghệ, nhà văn Đào Vũ bịa đặt, vu cáo cụ Phan Khôi rằng : Mỗi lần ở Sài Gòn về quê, Phan Khôi ra bãi bồi triền sông Thu Bồn, hể đầu cây ba – ton của Phan Khôi cắm ở đâu là đất đó của Phan Khôi. Những người dân làng Bảo An tập kết ở Hà Nôi ai cũng biết đó là bịa đặt, vu cáo, nhưng không ai dám phản đối.

Còn rất nhiều người: những bạn bè chí thân của cụ như : Tú Mỡ – nhà thơ trào phúng, nhà thơ Thế Lữ, người mà trước năm 1945 dẫn cả một đoàn kịch nói ăn ở nhà cụ cả tháng trời để diển kịch ở sân đình làng Bảo An tuy nhà cụ rất nghèo. Đặt biệt là Hồng Quang, một cán bộ cao cấp không dám ký tên thật, cùng với Phùng Bảo Thạch, Nguyễn Đổng Chi… đồng loạt viết bài bịa đặt, vu khống, nhục mạ cụ một cách hèn hạ !

Cách đây mấy năm, tôi có nghe dư luận nói rằng : Cụ Nguyễn Đổng Chi (Thân phụ của giáo sư Nguyễn Huệ Chi) khi còn công tác ở Ban Văn – Sử -Địa, cụ bị dảng ủy cơ quan ép buộc cụ phải viết một bài “đánh” Phan Khôi. Nhưng cụ Nguyễn Đỗng Chi là nhà văn hóa lớn, có đạo đức, có nhân cách, sau đó cụ ân hận, lương tâm rây rứt, cụ thừơng tâm sự với mọi người : Vì không cưỡng lại đươc sức ép của Đảng ủy, của chính quyền, cụ đã viết bài
toàn bịa đặt, vu khống một học giả tài giỏi, yêu nước, cương trực, đức độ như cụ Phan Khôi ! Những ngày trước khi qua đời, cụ có dặn dò lại với con trai là giáo sư Nguyễn Huệ Chi, sau này phải giải oan cho cụ, đế linh hồn cụ được thanh thản nơi suối vàng ! (Viêc nầy đúng sai đến đâu, mong giáo sư Nguyễn Huệ Chi là người trong cuộc, chỉ giáo cho. )

Trên đây là cách hành xử của những người ngoài xã hội. Còn những việc sảy ra trong gia đình cụ mới là đau thương, bi đát: Trong thời gian này, người con trai trưởng của cụ Phan Khôi là anh Phan Thao, ( Đại biểu quốc hội đầu tiên của nước VNDCCH ) đang công tác tại báo Nhân Dân ; hằng ngày anh phải đọc, biên tập, duyệt và cho in những bài báo cố tình suy diển, bịa đặt, vu khống, bôi nhọ nhân cách cha mình. Thổi bùng lên ngọn lửa căm thù đối với một người cương trực, yêu nước như cha mình, lòng anh đau như dao cắt. Anh đọc những bài báo đó mà “tối sầm mặt mũi”. Nhưng, với cái Vòng – Kim – cô – Đảng siết chặt trên đầu, anh không thể nào không cho đăng những bài như thế. Anh biết cha mình đúng hoàn toàn, bị oan sai, bị đối xử bất công, nhưng anh không đủ can đảm để đứng về phía chân lý mà bênh vực cha mình ! Vô hình trung, anh đã đứng về phía cái ác, cái vô luân, đồng lõa với chính quyền, bôi nhọ thanh danh cha mình. Thật đau thương ! Giống như những gì xảy ra trong Cải Cách Ruộng Đất !

Sau đây tôi xin trích một vài đoạn trong sách Nắng Được Thì Cứ Nắng của anh Phan An Sa, người con trai út của cụ Phan Khôi, để thấy rằng, những xung đột trong gia đình cụ Phan Khôi là rất nặng nề :

Sau khi Giai Phẩm Mùa Thu –Tập 1 phát hành, trong đó có bài Phê Bình Lãnh đạo Văn Nghệ, các con trai, con gái cụ đọc, giật mình kinh hãi anh PhanThao đến thăm cha, anh nói :

- “ Dạ thưa thầy, con biết trong bài Phê Bình lãnh đạo Văn Nghệ, thầy nói toàn sự thật và ai cũng hiểu là thầy mong muốn sự việc tốt lên. Sự ngay thẳng của thầy, con làm sao lại không biết ạ ? Nhưng con vẫn lo lắm, lúc nầy nhiều chuyện rất không ổn

Thật ra là trước ông, anh không dám nói hết được những gì anh định nói. Ông nhìn con, tỏ ý không hài lòng. Ông nói :

– Anh hiểu như thế là được ! Còn lo, thì có cái chi mà lo ? nhiều việc không ổn thì phải bình tĩnh mà gỡ từng việc một. Muốn gỡ những việc đó thì trước hết phải sửa chữa các khuyết điểm. Muốn sửa chữa khuyết điểm thì phải có người chỉ ra các khuyết điểm để mà sửa chữa. Thầy của anh đây là người chỉ ra các khuyết điểm ấy đấy. Chỉ ra khuyết điểm mà là làm khó cho các anh sao ?

Anh Phan Cừ, em kế Phan Thao, sỹ quan cục Quân Báo, Bộ Tổng Tham Mưu, đến thăm cha, bằng ngôn ngữ cuả một quân nhân, anh nói :

- Ở Bộ Tổng tham Mưu, con làm việc ở cục 2, không biết nhiều về các anh làm bên văn nghệ quân đội. Nhưng thưa thầy, đọc Giai Phẩm Mùa Xuân hồi đầu năm, con thấy có nhiều bài của anh em văn nghệ sỹ quân đội viết là rất không có lợi cho công cuộc đấu tranh đòi hiệp thương thống nhất đất nước. Chưa chắc thầy đồng ý với con, nhưng con cũng xin nói rõ với thầy như thế.

Ông nhìn thẳng vào người con trai thứ hai của mình, nói :

- Anh nói không có lợi, là không có lợi ở chỗ nào ? Chắc anh cũng đã đọc bài Phê Bình Lãnh Đạo Văn nghệ của thầy rồi và anh cũng thấy không có lợi phải không ? Không có lợi là sợ bên địch nó xuyên tạc, nó lợi dụng,
phải không ? Chuyện nầy thì tôi đã nói luôn ở trong đó rồi, anh còn nói làm chi nữa ?


Cách đây mấy năm, chị Phan Thị Kỹ Khanh (Phan Thị Miều) có viết tập hồi ký Nhớ Cha Tôi Phan Khôi, trong đó có đoạn chị viết :

“ Những ngày vui vẻ của cái gia đình mới được sum họp ấy đã qua nhanh, khi cuối năm 1957, cha tôi bị liên can vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, đăng nhiều bài bộc lộ những sai trái, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân với cách mạng. Sau vụ nầy, ông bị đình chỉ công tác, chuyển đổi chỗ ở rồi nghỉ viêc luôn.”

Qua đoạn văn trên cho ta thấy: Người con gái của cụ Phan Khôi, khác với hai người anh ruột, không thấy cha mình hoàn toàn đúng, bị oan uổng, bị đối xử bất công mà nhận định là cha mình sai trái, đứng hẳn về phía nhà cầm quyền, gay gắt lên án cha mình. Không biết vi thật lòng hay vi bị sức ép nào mà Phan Thị Mỹ Khanh viết đoạn văn trên ? hay viết như thế để được cho in sách ? Nhiều bạn đọc ngưỡng mộ tài năng và kính trọng nhân cách cụ Phan Khôi đã phê phán chị Phan Thị Mỹ Khanh.

Nghĩa tử là nghĩa tận ! Ngày ông mất, ngoài hai bà vợ, con cháu, dâu rể trong nhà; không một ai trong bạn bè, đồng nghiệp, bà con thân tộc, đủ can đảm đến phúng viếng, tiễn đưa Phan Khôi về nơi an nghỉ cuối cùng : Họ sợ bị liên lụy ! Nhà thơ Trần Dần nhờ người mang một vòng hoa đến phúng viếng, bị Phan Thao từ chối. Họa sỹ Trần Duy lấm la lấm lét, mắt trước mắt sau đến nhìn mặt ông Phan Khôi lần cuối cùng được mấy phút rồi lặng lẽ… chuồn! không dám ngồi lâu, sợ người ta nhìn thấy.

Một cổ quan tài gỗ mộc, trên chiếc xe tang màu đen cũ kỹ, có hai con ngựa… còm lọc cọc kéo đi, qua mấy phố phường Hà Nội, ra nghĩa trang Hợp Thiện. Không kèn, không trống, không có một vành khăn trắng nào chít trên đầu vợ con. Người con trưởng cũng chẳng đội rế, chống gậy. Đó là ngày 17 tháng 1 năm 1959. Ông nhắm mắt, xuôi tay vào ngày 16 tháng 1 năm 1959.

Mười mấy năm sau, nghĩa trang Hợp Thiện bị giải tỏa. Ngày di dời lên nghĩa trang Bất Bạt, Sơn Tây, vợ con ông Phan Khôi ly tán mỗi người một nơi, không ai biêt có thông báo di dời, ngôi mộ đất của ông bị thất lac. Người con út của ông là anh Phan An Sa bỏ ra bao nhiêu công sức truy tìm. Nhưng vẫn không tìm thấy hài cốt cuả cha mình. Phần mộ của ông ở Bạc Hà khang trang là ngôi mộ gió. Ngày thanh minh, bà con tộc Phan làng Bảo đi tảo mộ vẫn đến thắp hương vái ông, để tỏ lòng ngưỡng mộ.

Vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm đã lùi sâu vào quá khứ gần 60 mươi năm. Nhũng người tham gia phong trào Nhân Văn – Giai Phâm và những người “đánh” Nhân Văn – Giai Phẩm hầu hết đã ra người thiên cổ ! nhưng chắc chắn rằng, dưới Suối vàng, không có một người nào được thanh thản tâm hồn. Lịch sử và dư luân đã khẳng định: Nhà cầm quyền, những người lãnh đạo văn nghệ, những bồi bút ăn theo đàn áp những người trong phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm nói chung và Phan Khôi nói riêng là sai lầm, là tàn bạo. Triệt phá hết lực lượng sáng tác văn học, nghệ thuật của đất nước.

Mấy chụcc năm sau nền văn học rơi vào bế tắc : Chế Lan Viên sau này sám hối bằng 2 tập thơ di cảo, cho rằng thơ mình là Bánh vẽ . Nguyễn Khải, một cây bút tiêu biểu của Hội Nhà Văn Việt Nam, trong bài “Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất” xem giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Hồ Chí Minh là “Tấm bia mộ sang trọng cắm lên một đời văn đã tới hồi phải kết thúc.” Và mai sau những tác phẩm văn học của ông chỉ để cho con cháu ông bán cho ve chai!

Suốt một thời gian dài diễn ra cảnh đàn áp những văn nghệ sỹ, trí thức yêu nước trong vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm cho ta và đời sau thấy rằng : Chính quyền CS, lãnh đạo văn nghệ là những kẻ lấy oán mà trả ân ! Giống như trong Cải Cách Ruộng Đất và Cải Tạo Tư Sản.

Lịch sử đã từng xảy ra những vụ án oan sai. Triều đại nhà hậu Lê, đời vua Lê Thái Tông xảy ra vụ án oan khuất Lệ Chi Viên, đại thi hào Nguyễn Trãi – Thị Lộ cùng với 3 họ bị tru di. Thế nhưng, chỉ 20 năm sau, đời vua Lê Thánh Tông lên ngôi, biết vụ án oan sai, đã ra chiếu chỉ minh oan cho Nguyễn Trãi – Thị Lộ. Thế mà nay, chính quyền CS sau gần 60 năm, vẫn chưa có một văn bản nào giải oan cho vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm, nói chung và Phan Khôi nói riêng, chỉ âm thầm “ Sửa sai ” bằng cách trao giải thưởng nầy, giải thưởng nọ, cho xuất bản tác phẩm văn học, ra cái vẻ ta đây vẫn đứng đắn ; độ lượng khoan hồng cho những kẻ lầm đường lạc lối.

Tôi với cụ Phan Khôi là bà con trong tộc Phan làng Bảo An, tôi vai em, cùng đời thứ 13. Sinh sau cụ những 50 năm. Tôi là người rất kính trọng, ngưỡng mộ tài năng và đức độ của cụ. Cụ Phan Khôi là niềm tự hào của tộc Phan làng Bảo An và là niềm tự hào chung của dân tộc Việt Nam !

Sài Gòn, ngày 18 tháng 8 năm 2013
Phan Đắc Lữ



Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Sổ tay thường dân Tưởng Năng Tiến – Nhân Văn Giai Phẩm   Mon Sep 09, 2013 1:08 am


Sổ tay thường dân Tưởng Năng Tiến – Nhân Văn Giai Phẩm



“Trong một xã hội đã kéo dài hơn nửa thế kỷ về sự mê muội dân trí, về sự độc tài về chính trị, sự lừa dối, sự đầu độc để có sự đồng thuận về vụ NVGP và các nhân vật của nó thật khó như đáy bể mò kim… Nhưng trong đêm tối không phải không có những người đã nhìn thấy ánh sáng của chân lý.” (Lê Hoài Nguyên)

Cuối năm 1973, nhà văn Bùi Ngọc Tấn được thả khỏi tù. Lúc đến văn phòng làm thủ tục giấy tờ phóng thích, ông chợt nhìn thấy một tác phẩm của mình trên bàn giấy của những nhân viên công an ở trại:

“Tên hắn in trên bìa sách chứng tỏ điều đó. Như có một ma lực, hắn bước đến chỗ ấy. Hắn buộc miệng kêu to như gặp lại con mình:

-Thưa các ông các bà, đây là sách tôi viết.

Mọi người ngơ ngác…

-Cái gì? Anh nói cái gì?

Hắn cầm lấy cuốn truyện. Bìa có đóng dấu trại. Hắn nhìn mãi vào những tên hắn in trên bìa sách. Thật không tin được... Hắn lắp bắp như người nghẹn thở:

- Quyển sách này của tôi.

Cô trung sĩ nhìn giấy tờ của hắn. Rồi lại nhìn tên hắn in trên bìa sách. Cô đưa tờ lệnh tha cho ông Thanh Vân đọc. Ông ngẩn lên nhìn hắn chăm chú từ đầu đến chân. Rồi với giọng hiểu biết:

- Anh lại Nhân văn Giai Phẩm chứ gì?

- Báo cáo ông, Nhân văn Giai Phẩm có từ năm 1956, tôi bị bắt năm 1968.

- Thế anh bị bắt về tội gì?
(Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Hoa Kỳ: 2000, 127- 129).

Từ 1956 đến 1973 là một khoảng thời gian khá dài, đủ dài để nhà nước CHXHCNVN biến bốn chữ “Nhân Văn Giai Phẩm ” thành một… tội danh:

- Anh lại Nhân văn Giai Phẩm chứ gì?

Và thêm mười năm sau nữa thì “Nhân Văn đã hoàn toàn bị tẩy sạch” – theo như tường thuật nhà phê bình văn học Thụy Khuê, trong phần lời tựa tác phẩm (*) mới nhất của bà:

“Năm 1984, khi trở về Hà Nội, tôi muốn tìm lại, dù chỉ một dấu vết nhỏ, chứng minh sự hiện diện của Nhân Văn Giai Phẩm trong lòng người dân Bắc. Nhưng vô ích. Tất cả đều đã bị xóa sổ. Kín đáo dò hỏi những người thân trong gia đình sống ở Hà Nội, thuộc thế hệ ‘phải biết’ Nhân Văn, xem có ai còn nhớ gì không? Nhưng không, tuyệt nhiên chẳng ai ‘nghe nói’ đến những cái tên như thế bao giờ: linh hồn Nhân Văn đã bị xóa trong ký ức quần chúng, và như vậy, ‘nọc độc’ Nhân Văn đã hoàn toàn bị tẩy sạch.

Ðó là lý do chính khiến vài năm sau, khi thực sự bước vào nghề cầm bút, tôi đã coi Nhân Văn Giai Phẩm là một trong những nghi vấn văn học hàng đầu, cần phải tìm hiểu. Bài viết đầu tiên của tôi về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đăng trên nguyệt san Văn Học, California, số 27, tháng 4 năm 1988; tiếp theo là những buổi phát thanh trên đài RFI, trong nhiều chương trình từ 1991 đến 2004, trong số đó có những buổi phỏng vấn các tác nhân chính của phong trào: Lê Đạt, Hoàng Cầm và Nguyễn Hữu Đang.

Cuốn sách này tổng kết công việc tìm kiếm và thu thập các dữ kiện xung quanh phong trào Nhân Văn Giai Phẩm trong hơn 20 năm, từ 1988 đến ngày nay.”


Thụy Khuê. Ảnh: RFI

Thụy Khuê mô tả thành quả “công việc tìm kiếm và thu thập các dữ kiện xung quanh phong trào Nhân Văn Giai Phẩm trong hơn 20 năm” của mình bằng tên gọi (khiêm tốn và giản dị) chỉ là một cuốn sách. Thực ra, đây là một công trình biên khảo (dầy đến 957 trang giấy) và chỉ cần xem qua thư mục cũng như phần phụ lục – gồm 164 trang – cũng đủ khiến cho bất cứ ai còn quan tâm đến phong trào Nhân Văn cảm thấy ấm lòng, và bồi hồi xúc động.

Trong buổi tọa đàm bỏ túi – tại toà soạn Diễn Đàn Giáo Dân, vào sáng hôm 03/ 03/2112 – những người hiện diện (Trần Văn Cảo, Nguyễn Đình Cường, Nguyễn Chí Thiện, Trần Nguyên Thao, Trần Phong Vũ … ) đều lặng nhìn tác phẩm, còn thơm mùi mực của Thụy Khuê, với rất nhiều xúc cảm. Cái cảm xúc của những kẻ được chứng kiến cảnh một chiếc tầu chìm (mang theo hàng ngàn sinh mạng, cùng với những di sản vô giá) đã nằm im lìm dưới lòng đại dương – hơn nửa thế kỷ qua – vừa được trục vớt ra khỏi biển sâu.

Nhờ vào sự tận tụy của Thụy Khuê, và một số những đồng nghiệp của bà (trong cũng như ngoài nước: Lại Nguyên Ân, Phạm Thị Hoài …) những tiếng kêu uất nghẹn và những mảnh đời oan khuất – tưởng đã tiêu trầm với thời gian (nay) vẫn còn tươi rói và nguyên vẹn, gần như không thiếu một ai (**).

Thụy Khuê chia tác giả của Nhân Văn Giai Phẩm ra làm hai thành phần khác biệt:

“Loạt bài chính luận trực tiếp định hướng tư tưởng của các nhà trí thức và loạt bài sáng tác dấn thân nói lên khát vọng tự do của các văn nghệ sĩ. Hai thể loại này đan cài và bổ sung cho nhau, tạo nên làn sóng đấu tranh toàn diện cho tự do dân chủ và tự do tư tưởng.”

Cả hai, tất nhiên, đều phải trả giá bằng những đòn thù hung bạo và ti tiện như nhau. Trong khuôn khổ của một trang sổ tay, chúng tôi xin phép sẽ không nhắc đến tên những hung thủ hay thủ phạm (họ không đáng gì để chúng ta phải bận tâm) và chỉ ghi lại đôi nét chính, về vài ba nhân vật (theo thứ tự alphabetique) mà số phận bi đát nhất so với những người đồng cảnh, qua ngòi bút của Thụy Khuê:

-“Thụy An (1916 – 1989) là một khuôn mặt nổi trội, bị kết án nặng nề nhất. Trường hợp của bà giống như một bi kịch Hy Lạp, và cho đến nay, chưa mấy ai hiểu được những khúc mắc ở bên trong.. “


Thụy An. Ảnh: DR

“Thụy An là ai?

“Là phụ nữ duy nhất, không viết bài cho NVGP, nhưng tên bà bị nêu lên hàng đầu trong ‘hàng ngũ phản động’, bà bị quy kết là ‘gián điệp quốc tế’, lãnh án 15 năm tù cùng với Nguyễn Hữu Đang…”

“Về việc bà chọc mù mắt, dư luận chính thức loan rằng bà bị tai nạn ở mắt, khi đi lao động cải tạo. Chúng tôi hỏi nhà thơ Lê Đạt, người rất thân với bà trong suốt hành trình Nhân Văn Giai Phẩm: có phải trong Hỏa Lò chị Thụy An tự chọc mù mắt ? Lê Đạt lặng lẽ gật đầu, không thêm một lời nào cả…”

“Tháng 10/1974 Thụy An được thả theo diện ‘Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris’, cùng với Nguyễn Hữu Đang. Bà bị trả về quản thúc ở Hoà Xá. Trên đường giải về làng, khi bị đẩy xuống xe tù, bà bị ném đá. Bà mất ngày 10/6/1989, tại nhà riêng ở đường Lê Văn Sỹ, Sài gòn.”

-“Phùng Cung (1928-1998) đại diện cho tất cả những người bị tù không có án, thậm chí không có lý do, hoặc lý do mơ hồ, khó hiểu, trong danh sách hàng trăm người bị xử lý nặng, hoặc hàng ngàn người, đã ‘liên hệ’ xa gần với NVGP, với nhóm ‘Xét lại chống đảng’ những năm sáu mươi.

Mỗi cá nhân là một trường hợp, là một chân dung bị xoá, bị đưa đi biệt tích, trong cô đơn, đau khổ…”


Nguyễn Chí Thiện (trái) và Phùng Cung. Ảnh: trenews.net

“Dưới mắt Phùng Cung, chính sách đấu tranh giai cấp của đảng cộng sản, được mô tả dưới dạng phân chia giai cấp giữa Chó và Người. Giai cấp mà ông gọi là chó thuộc thành phần những kẻ ‘úp mặt hôn mê liếm lộc’, những kẻ ‘cưỡng bức ngữ ngôn’, những kẻ ‘tình nguyện trọn kiếp bút nô’, những kẻ ‘ngợi ca tội ác’… Và trong bối cảnh, chó đô hộ người, các công tác dò thám, hãm hại, thủ tiêu, đạt đỉnh điểm. Sự triệt tiêu văn hoá trở thành quốc sách.Chưa một ngòi bút nào đi xa đến thế trong việc mô tả xã hội độc trị…”

“Bài Nghe đêm gói trọn nỗi cô đơn cuối đời của con người bị lưu đầy, vì chữ nghiã, từ tuổi thanh niên đến lúc đầu bạc:

Đêm chợt nghe
Trong gối vọng tiếng ru
Lắng tai mới rõ
Tiếng tóc mình chuyển bạc …

Đó là sự cô đơn của kẻ một mình một ngựa trên hành trình mở nước và dựng nước về phía văn hóa, tình nước và tình người.”

-“Nguyễn Hữu Đang (1913-2007)
là một trong những khuôn mặt trí thức dấn thân tranh đấu cho tự do dân chủ can trường nhất trong thế kỷ XX. Là cột trụ của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyễn Hữu Đang đã bị bắt, bị cầm tù, bị quản thúc và mất quyền tự do phát biểu trong 59 năm, từ tháng 4/ 1958 đến tháng 2/2007, khi ông mất…”


Nguyễn Hữu Đang. Ảnh: congdongnguoiviet.fr

“Sau thời kỳ quản thúc ở Thái Bình, được về sống tại Cầu Giấy, ngoại ô Hà Nội, ông vẫn bị ‘chăm sóc’ kỹ càng. Điện thoại của ông, cũng như của các thành viên cựu Nhân Văn đều bị kiểm soát, nhưng riêng ông, ông không được phục hồi quyền phát biểu, tức là không được quyền trả lời phỏng vấn công khai như những người khác…”

“Nguyễn Hữu Đang là một khuôn mặt chính trị, văn hoá và đấu tranh, hiếm có trên chính trường Việt Nam dưới chế độ cộng sản. Một người theo đảng từ lúc 16 tuổi, hiểu rõ hơn ai hết quy luật tuân thủ của một cán bộ cộng sản. Nhưng ông đã đi ra ngoài trật tự ấy. Nguyễn Hữu Đang luôn luôn giữ vị trí tự do trong hành động cũng như tư tưởng của mình. Chính trong tư thế tự do ấy, ông đã đứng lên lãnh đạo phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đã tạo được một thời kỳ sôi nổi, trong vòng bốn tháng, trí thức và văn nghệ sĩ, dám nói, dám viết những điều mình nghĩ, dám chủ trương cải tiến xã hội Việt Nam thành một nước dân chủ theo đà tiến của thế giới bên ngoài.”

“Nhưng Nguyễn Hữu Đang đã thất bại. Sự thất bại của Nguyễn Hữu Đang cũng là sự thất bại chung của một dân tộc. Và hậu quả kéo dài đến ngày nay: nước Việt là một trong những nước cuối cùng, ở thế kỷ XXI, vẫn còn chưa biết nhận diện, để đòi hỏi những quyền cơ bản và tất yếu nhất của con người, đầu tiên là quyền tự do tư tưởng.”

Công trình biên khảo của Thụy Khuê không chỉ giới hạn vào phong trào Nhân Văn. Trong phần lời tựa, bà cho biết thêm:

“Trong quá trình làm việc, có những ngã rẽ bất ngờ: khảo sát về Phan Khôi, tôi thấy sau khi đi Pháp về, Phan Châu Trinh giao cho Phan Khôi nhiệm vụ viết lại lịch sử đời mình, từ đó, phải tìm hiểu về những ngày Phan Châu Trinh ở Pháp, dẫn đến mối tương quan giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh, người tự nhận là lãnh tụ đầu tiên của phong trào Việt kiều Yêu Nước.”

“Tôi tìm đọc nguyên văn tiếng Pháp các bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc, mới thấy tác giả những bài viết này phải là người biết tiếng Pháp rất sâu và có văn tài; không thể là người mà Trần Dân Tiên mô tả trong cuốn hồi ký ‘Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch’. Vậy có một sự giả mạo lịch sử quan trọng cần phải tìm hiểu đến nguồn cội. Đó là lý do tại sao có phần biên khảo về Vấn đề Nguyễn Ái Quốc trong cuốn sách này.”

“Sự giả mạo lịch sử quan trọng” này, và công việc “tìm hiểu đến nguồn cội” của Thụy Khuê đã đưa đến lời khẳng định của bà, ở đầu chương 16, như sau:

“Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Và ông không hề ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. Trong phạm vi khảo luận này … chỉ chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến1923. Thời gian này, ông tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh.”

Về cú “knockout” vô cùng ngoạn mục này của Thụy Khuê (kể như đã chấm dứt vĩnh viễn sự nghiệp giả trá của một nhân vật lịch sử vào bậc quan trọng nhất ở Việt Nam) chúng tôi xin được phép để dành cho những trang sổ tay kế tiếp, cũng trên diễn đàn này.

Tưởng Năng Tiến


(*) Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc, biên khảo của Thụy Khuê, sách dầy 976 trang, bìa cứng, Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2012, giá bán 40 M.K, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:

-Tủ Sách Tiếng Quê Hương
P.O.Box 4653
Fall Church, VA 22044
- Email: info@tiengquehuong.com

(**) Theo chỗ hiểu biết của chúng tôi, trong công trình biên khảo này, chị Thụy Khuê đã không nhắc đến một số tên tuổi quen thuộc khác, cũng có liên quan ít nhiều đến phong trào Nhân Văn như Bùi Quang Đoài, Thanh Châu, Hoàng Huế, Hoàng Yến, Hữu Loan, Tạ Hữu Thiện … Tuy nhiên, nếu nói theo Lê Đạt (“…ở đất nước Việt Nam, những người đau khổ vì Nhân Văn chắc rất nhiều, không thể đếm xuể được”) thì sự sai sót – dù vì bất cứ lý do gì – là điều rất khó tránh khỏi.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 305
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Nhân văn - Giai phẩm: Nhà văn Thụy An   Fri Sep 13, 2013 11:42 am


Nhân văn - Giai phẩm: Nhà văn Thụy An

Nguyễn Ngọc Chính


Cuối thập niên 80s tôi có một người học trò tuy tuổi đã cao nhưng cũng cố học Anh văn để được đoàn tụ cùng con cái ở nước ngoài. Đó là nhà văn Thụy An, người đã bị chính quyền miền Bắc thanh trừng trong vụ án Nhân văn - Giai phẩm trong những năm 1955-1957.

Nhưng thôi, chuyện học tiếng Anh của bà cụ chỉ là ‘chuyện nhỏ’, xin nói đến ở phần cuối của bài viết này. Bà Thụy An sinh năm 1916 tại Hà Nội (hơn tôi đến 30 tuổi), nhũ danh Lưu Thị Yến, viết văn, viết báo từ trước năm 1945.

Thụy An là nhà văn nữ duy nhất bị kết án ‘phản động’, ‘gián điệp’… với hình phạt 15 năm cải tạo thuộc ngũ nhân bang Nhân văn - Giai phẩm, dù tác phẩm của bà không phê phán chế độ một cách quyết liệt hay thâm trầm như Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt, Phan Khôi…

Là người có khiếu thơ văn từ nhỏ nên năm 13 tuổi bà đã có thơ đăng trên báo Nam Phong (1929) và 3 năm sau, lại nhận được giải thưởng văn chương của Triều đình nhà Nguyễn. Bà Thụy An đã từng làm chủ nhiệm những tờ Đàn Bà Mới (Sài Gòn), Phụ Nữ Tân Văn (Sài Gòn), Đàn Bà (Hà Nội), một thời là quyền giám đốc Việt Tấn Xã và phóng viên chiến trường.
(http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A5y_An)

Vũ Ngọc Phan viết trong Nhà văn hiện đại: “Tác giả Thụy An vốn là một nhà thơ. Tôi đã đọc thơ của Thụy An trong ‘Phụ Nữ Tân Văn’, trong ‘Đàn Bà Mới’ và trong tuần báo Đàn Bà”.

Đánh giá về tiểu thuyết Một linh hồn của Thụy An, Vũ Ngọc Phan viết: “Một linh hồn” chính là một tiểu thuyết tình cảm, tả những tính tình rất ngây thơ, rất trong sáng của Vân, một cô gái giàu lòng tín ngưỡng và giống như một bông sen, tuy “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”… Một linh hồn cũng đáng kể là một tiểu thuyết xuất sắc của phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay: tác giả đã giàu tưởng tượng, truyện lại xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn”.




Chân dung nhà văn Thụy An

Theo Wikipedia, bà Thụy An kết hôn với giáo sư Bùi Nhung, em ruột học giả Bùi Kỷ. Kết quả cuộc hôn nhân là 6 người con ra đời và sau đó hai người ly hôn. Người chồng thứ nhì của bà Thụy An là ông Đỗ Đình Đạo, người của Việt Nam Quốc dân đảng. Nguyên do cái chết của ông Đạo, cho đến ngày nay, vẫn còn nhiều nghi vấn. (1)

Trong thời kỳ Nhân Văn–Giai Phẩm, nhà văn Phan Khôi nhận bà là con nuôi. Sau khi báo Nhân Văn và Giai Phẩm bị đình bản, bà bị bắt năm 1958 và trong phiên tòa xét xử bà tại Hà Nội, nhiều nhân chứng đều cho rằng bà đã có ảnh hưởng không nhỏ đối với một số văn nghệ sĩ tham gia phong trào này. Tuy nhiên, những người trong cuộc như Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt lại phủ nhận sự tham gia của bà trong nhóm.

Theo báo Nhân Dân (ngày 23/04/1958), bà Thụy An bị kết tội gián điệp vì có quan hệ gần gũi với gia đình tướng De Lattre de Tassigny và Giám đốc Sở mật vụ Pháp Marty.

Về vụ xử gián điệp, báo Thủ đô Hà Nội ngày 21/01/1960 (số 382) tr. 4. đưa tin:

“Ngày 19-1-1960, Tòa án Nhân dân Hà Nội đã xử vụ gián điệp có tổ chức do bọn Nguyễn Hữu Đang và Thụy An cầm đầu. Nhiều đại biểu các tầng lớp nhân dân Hà Nội đã tới dự phiên tòa này.

“Bọn gián điệp bị đưa ra xét xử gồm năm tên: Nguyễn Hữu Đang, Lưu Thị Yến tức Thụy An, Trần Thiếu Bảo tức Minh Đức, Phan Tại và Lê Nguyên Chí.

“Ông chánh án Nguyễn Xuân Dương, hai ông hội thẩm Nguyễn Tử Các và Phùng Bảo Thạch đã lần lượt hỏi các tội phạm, và bọn chúng đã được tự do trình bày hết tư tưởng và hành động của chúng trong thời gian phạm pháp.

“Thụy An là một tên gián điệp lợi hại của bọn đế quốc. Khi hòa bình được lập lại, y đã nhiều lần xuống Hải Phòng bàn định kế hoạch hoạt động gián điệp phá hoại với bọn tay sai của Mỹ – Diệm. Sau khi Chính phủ ta tiếp quản Hải Phòng, y trở về Hà Nội, chịu mệnh lệnh của một số phần tử người nước ngoài trong đó có tên là Đuya-răng, thi hành những âm mưu và hoạt động phá hoại miền Bắc nước ta. Âm mưu của chúng nhằm xuyên tạc sự thật, khích động lòng người, gây nghi ngờ, hoang mang chống đối với chế độ dân chủ nhân dân. Chúng gọi thủ đoạn này là thủ đoạn “phá hoại tư tưởng, phá hoại nền tảng chính trị”. Đó chính là một thủ đoạn gián điệp rất quỷ quyệt của Mỹ, tinh vi và độc ác hơn phá hoại bằng vũ khí, – lối gián điệp “tác động tinh thần”, “chiến tranh tâm lý”. Đối với nhiệm vụ gián điệp mà Đuya-răng đã giao cho, Thụy An thú nhận: “Tôi đã làm việc đó một cách thích thú, và nó phù hợp với tư tưởng phản động của tôi”.

“Năm 1956, Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi nhập thành một nhóm. Tháng 9-1956, dựa vào tiền bạc của những phần tử tư sản phản động, bọn chúng xuất bản tờ báo Nhân văn. Nguyễn Hữu Đang thú nhận: “Thực chất tư tưởng của tôi và những người theo tôi là phản động, cho nên lúc đó chúng tôi bàn ra một tờ báo để làm lợi khí chống đối. Tờ báo Nhân văn do chính tôi giữ một vai trò chủ chốt”.

“Thụy An thường xuyên gặp Đuya-răng báo cáo tình hình. Thụy An thú nhận: “Đuya-răng bảo tôi: giờ bà hãy đứng ngoài, nhưng phải để mắt trông nom mọi việc”. Do đó Thụy An không có tên trong tòa soạn báo Nhân văn nhưng y đã tích cực cổ động cho báo Nhân văn…, cho một tay chân của Phan Tại đến giúp việc Nguyễn Hữu Đang. Phan Tại đã vận động người giúp tiền cho Nhân văn, lợi dụng sân khấu, điện ảnh để tiến hành phản tuyên truyền; Minh Đức đã câu kết với một số phần tử xấu như nhóm Trương Tửu xuất bản một số sách nội dung giống như Nhân văn, mục đích đều là chống lại chế độ dân chủ nhân dân.

“Trong những hoạt động phá hoại của bọn Phan Tại, Minh Đức đều có bàn tay chỉ huy của Nguyễn Hữu Đang và Thụy An. Thụy An thú nhận “là cố vấn của Phan Tại”, còn Nguyễn Hữu Đang “là linh hồn của nhà xuất bản Minh Đức” (lời khai của Minh Đức). Hơn thế nữa, Nguyễn Hữu Đang còn mưu đồ thành lập một đảng chính trị phản cách mạng.

“Sau khi báo Nhân văn bị đóng cửa, bọn Nguyễn Hữu Đang và Thụy An vẫn câu kết chặt chẽ với nhau và tiếp tục hoạt động gián điệp phá hoại. Thụy An thú nhận: “Sau khi báo Nhân văn bị đình bản tôi vội đến báo cáo tình hình với Đuya-răng và xin chủ trương. Đuya-răng bảo tôi: Lúc này là lúc bà phải đi sát với họ”. Nguyễn Hữu Đang và Thụy An lấy nhà Phan Tại làm một “câu lạc bộ” bí mật, tụ tập một số phần tử phản cách mạng chuyên đem những luận điệu phản tuyên truyền của bọn Mỹ – Diệm và những sách báo phản động của bọn đế quốc ra bàn và thảo luận những âm mưu phá hoại mới. Nguyễn Hữu Đang thú nhận: “Trong thời gian đi lại với Thụy An, những câu nói phản tuyên truyền của chúng tôi rất nhiều, và tôi nhận rằng tôi đã bịa đặt ra những việc không đúng sự thật và đã gây tai hại là gieo rắc hoang mang và hoài nghi…”

“Trong khi Nguyễn Hữu Đang và Thụy An ra sức “tác động tinh thần” như vậy, thì Minh Đức được Đang giới thiệu với những phần tử tư sản phản động cung cấp cho hàng triệu đồng (tiền cũ), cho in lại hàng loạt sách của thời thuộc Pháp để tiếp tục đầu độc các tầng lớp thanh niên, còn Phan Tại thì lợi dụng việc tập kịch, ca hát để phục hồi nếp sống trụy lạc, đồi bại của thời tạm bị chiếm. Đến khi chúng thấy âm mưu và hoạt động của chúng bị bại lộ, chúng định trốn vào Nam để tiếp tục làm tay sai cho Mỹ – Diệm. Lê Nguyên Chí thú nhận: “Đang nói với tôi, Đang vào theo Mỹ – Diệm sẽ được chúng tin dùng và sẽ làm được những việc lớn”. Đang cùng Lê Nguyên Chí chuẩn bị trốn đi Nam.

“Sau khi luật sư Đỗ Xuân Sảng bào chữa cho các tội phạm, căn cứ vào chính sách xét xử và trừng trị của Tòa án nhân dân là nghiêm trị bọn chủ mưu và bọn ngoan cố, khoan hồng với những người lầm đường, bị lừa gạt đã biết hối cải, Tòa án đã tuyên án:

(1)   Nguyễn Hữu Đang, 15 năm phạt giam, 5 năm mất quyền công dân;
(2)   Lưu Thị Yến tức Thụy An, 15 năm phạt giam, 5 năm mất quyền công dân;
(3)   Trần Thiếu Bảo tức Minh Đức, 10 năm phạt giam, 5 năm mất quyền công dân;
(4)   Phan Tại, 6 năm phạt giam, 3 năm mất quyền công dân;
(5)   Lê Nguyên Chí, 5 năm phạt giam, 3 năm mất quyền công dân.




Bà Thụy An
(người đứng giữa trong số 5 bị cáo Nhân văn-Giai phẩm)

Báo Quân đội nhân dân ngày 21/01/1960 viết về bà Thụy An:

“Thụy An tên thật là Lưu Thị Yến, trước Cách mạng tháng Tám đã từng làm tay sai cho bọn Mác-ty, Gờ-răng-giăng là những tên trùm mật thám thực dân ở Đông Dương. Khi toàn dân ta hy sinh gian khổ để kháng chiến, Thụy An được giặc tin dùng, cho làm Phó giám đốc Việt Tấn xã, một cơ quan tác động tinh thần của địch, chuyên phản tuyên truyền, chống kháng chiến. Nó đã có mặt ở nhiều nơi xảy ra chiến sự, trên xe bọc sắt của bọn võ quan cao cấp Pháp hay bọn chỉ huy cao cấp bù nhìn. Khi hòa bình vừa lập lại, nó chạy ra vùng tự do khai với chính quyền ta xin ở lại. Ở lại để làm gì, những sự việc trên đã cắt nghĩa khá rõ ràng.

“Bọn Nhân văn – Giai phẩm còn tung ra một loạt “tác phẩm” để minh họa cho “chính sách” phản động của chúng. Phan Tại viết và diễn một loạt kịch ‘Ghế chợ giời’, ‘Bù nhìn bắp cải’, ‘Hai con chuột’ để tuyên truyền cho nếp sống đồi trụy, đề cao thế lực đồng tiền, dùng danh từ mập mờ trên sân khấu để đả kích kháng chiến, khuyến khích người bỏ trốn đi Nam. Trần Duy viết ‘Những người khổng lồ’, ‘Tiếng sáo tiền kiếp’ để đả kích những người cộng sản, tuyên truyền cho thứ nghệ thuật đồi trụy, nuối tiếc thời nô lệ. Thụy An viết ‘Thiếu úy Nguyễn Lâm tòng quân’, ‘Trên bàn mổ’ để phục vụ bọn đế quốc, ca tụng bọn Việt gian bán nước, đả kích sự lãnh đạo của Đảng. Chúng sáng tác với một dụng ý rất thâm độc. Thụy An thú nhận trước Viện công tố: “Tôi viết truyện ‘Thiếu úy Nguyễn Lâm tòng quân’ để nói rằng trong tên Việt gian bán nước cũng có con người. Tôi viết truyện ‘Trên bàn mổ’ để nói lên là chuyên môn không phụ thuộc vào chính trị”. Những lời thú nhận đó càng xác nhận một lần nữa rằng bọn Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Phan Tại đã dùng vũ khí văn nghệ để hoạt động phản cách mạng.

***

Bà Thụy An là người phụ nữ duy nhất - ở trong hay ở ngoài phong trào - bị kết án làm gián điệp. Bà là một trường hợp đặc biệt, theo Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang, bà không ở trong Nhân Văn - Giai Phẩm, vậy mà tên bà được nêu lên hàng đầu trong hàng ngũ phản động với nhãn hiệu “Con phù thuỷ xảo quyệt” và những lời lẽ độc địa nhất dành cho bà: “Như vắt ngửi thấy máu, Thụy An như rắn bò tới các câu lạc bộ Hội Nhà văn phun nọc độc mạt sát chế độ ta bần cùng hoá nhân dân”.

Vụ án Thụy An có phải là một vụ án chính trị hay là một sự quy kết oan uổng?

Nhà báo Nguyễn Hữu Đang (một trong những người sáng lập nên Hội truyền Bá Quốc ngữ, nguyên Thứ trưởng Bộ Thanh Niên và là người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt quốc dân) khẳng định với RFA (Đài châu Á Tự do), nguyên văn như sau:

“Bà Thụy An không tham gia gì vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cả. Bà ấy không viết một bài, một câu, một chữ nào cho Nhân Văn cả. Bà ấy cũng không hề mách nước, bàn bạc gì với người khác hay với tôi bao giờ cả. Không, không hề có, tuy rằng có quan hệ, thỉnh thoảng có gặp nhau, cũng nói chuyện”.




Ông Nguyễn Hữu Đang

Nhà thơ Lê Đạt cho biết: “Tôi nhắc lại một lần nữa là chị Thụy An chưa bao giờ ở trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cả. Nhưng chị Thụy An rất thân với anh em trong Nhân Văn Giai Phẩm và đặc biệt là thân với tôi. Người ta buộc tội chị Thụy An, người ta cứ buộc tội mập mờ thế thôi, nhưng tội chính của chị Thụy An là thế này: Là gián điệp cài lại để lũng đoạn nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Nhưng cho đến khi tôi biết thì tôi cũng chẳng thấy chị ấy viết bài nào cho Nhân Văn Giai Phẩm cả. Thế mà chị ấy đối với tôi thì lại rất quý, chị ấy luôn luôn mua đồ đạc cho tôi, cho vợ con tôi, và tôi cũng chẳng thấy chị ấy bàn với tôi về việc viết một bài nào cho Nhân Văn Giai Phẩm cả. Thế cho nên việc ấy tôi cho cũng là một cái oan rất lớn.

“Tôi có thể bảo đảm 100% chị ấy không phải là gián điệp. Tại vì thế này: Nếu là gián điệp thì phải có chứng cớ chứ! Chị nhận tiền của ai? Nhận tiền ở đâu? Liên lạc với ai? Cho đến bây giờ tôi vẫn thấy đó là một câu hỏi mà nhà nước chưa trả lời tôi được. Chưa có chứng cớ thì làm sao có thể kết luận người ta là gián điệp được. Thì cứ cho tôi là người mù mờ đi, tôi bị chị mua chuộc đi. Tôi nhớ lại tất cả cuộc đời của tôi, thì chị ấy chưa mua chuộc tôi lần nào cả. Và chị ấy chỉ giúp đỡ tôi rất nhiều. Cho nên đến bây giờ tôi thấy là: Riêng về trường hợp chị Thụy An, tôi vẫn rất ân hận. Tại vì chúng tôi đã được phục hồi nhưng chị Thụy An chưa được phục hồi gì cả. Mà một trong những tội lớn nhất của chị ấy là mua chuộc tôi. Thì như các bạn đã biết, tôi chưa từng cảm thấy bị mua chuộc mà chắc cũng chưa ai mua chuộc được tôi. Cho nên tôi thấy riêng tôi bây giờ nói những dòng này, tôi vẫn khao khát và thiết tha có một dịp nào đó, người ta phục hồi chị Thụy An một cách chính thức. Không có thì riêng tôi, tôi đối với chị Thụy An, tôi vẫn cho là món nợ.

Còn về chị Thụy An, tôi phải nói thế này: Chị Thụy An là một người rất giỏi. Chị ấy là một trong những cây bút nữ đầu tiên của Việt Nam. Mà theo tôi, chị Thụy An nói kín hở cho tôi biết, thì chị ấy đã từng tham gia kháng chiến! Việc liên lạc với kháng chiến trong thời ấy thì mình mất mối là chuyện bình thường, mà mất mối thì mình không thể chứng minh được. Bây giờ cũng đã lâu rồi, đã gần 50 năm rồi. Tôi thấy chúng ta có thể mở những kho tài liệu ra để buộc tội hoặc minh oan cho một người cho rõ ràng và khi mình đặt rõ ràng về phận vị rồi thì mình phải trả lại danh dự cho người ta. Và lúc đó chúng ta hãy bàn đến vấn đề chị Thụy An đóng góp gì trong cái phong trào thời ấy. Lúc đó chúng ta có đủ bình tĩnh hơn để bàn về vấn đề này. Riêng tôi thì không bao giờ tôi quên công của chị Thụy An đối với tôi cả”.
(http://vannghe.free.fr/ledat/traloi/nhanvan-pvledat.html).




Nhà văn Lê Đạt

Năm 1973, bà Thụy An cùng với Nguyễn Hữu Đang được thả trong diện “Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris”. Sau năm 1975, bà làm đơn xin vào Nam sinh sống để hy vọng được đoàn tụ với các con tại nước ngoài và đó cũng là lý do tôi trở thành người kèm Anh văn cho bà.

Trong “Hồi ký của một thằng… hèn”, có đoạn nói về Nhân văn - Giai phẩm. Nhạc sĩ Tô Hải, người đã soạn hàng trăm ca khúc ca tụng ‘đảng quang vinh’, đã viết: “Tôi… run khi Phùng Quán rủ tôi đến chơi một “nhà văn nữ có thể đọc ngược Hamlet (!) bằng tiếng Anh”: Thụy An” [sic].

Có lẽ vào thập niên 50-60 nhạc sĩ Tô Hải khi đó còn hăng say phục vụ cách mạng chứ chưa như thập niên 2000s đã ‘giác ngộ’ cách mạng nên mới nghĩ rằng trình độ Anh văn của bà Thụy An ở mức thâm hậu đến độ có thể ‘đọc ngược’ Hamlet của Shakespear. Không có điều gì để trách ông Tô Hải vì những gì ông biết về bà Thụy An chỉ thông qua bộ máy báo chí thời kỳ đó… 

Tuy nhiên phải nói lại cho đúng: Đây là chi tiết sai sự thật vì nếu bà Thụy An có trình độ tiếng Anh như ông Tô Hải mô tả thì chắc chắn tôi là người phải xin thọ giáo bà chứ không phải là người giúp bà học những câu như “How are you?” hoặc “My name is Yến”.

Thật trớ trêu, hồi xưa tôi lại là học trò của con bà, thầy Bùi Dương Chi, dạy Anh văn trên Ban Mê Thuột. Nhân vật Phong, trung úy biệt kích 81 trong truyện ngắn Năm tháng khó quên có phần hư cấu từ những chuyện bà kể về gia đình mình. Tôi đã lồng Phong vào hoàn cảnh gia đình đó, nhưng nhân vật Phong lại đội lốt trung úy pháo binh Ngô Nghĩa, người đã trốn trại cải tạo và bị xử bắn ngay sau khi bị phát hiện tại phi trường L19, Trảng Lớn.

Trong Năm tháng khó quên, gia đình Phong phải đối mặt với vấn đề vào Nam hay ở lại Hà Nội năm 1954. Bốn anh em cũng được hỏi ý kiến: muốn theo bố vào Nam hay ở lại Hà Nội với mẹ. Đến lượt Phong, chú bé đỏ mặt tía tai vì giận dữ: “Ông chẳng theo đứa nào hết!!!”. Theo lời kể của bà Thụy An, chính thầy Bùi Dương Chi đã nói câu đó trong phút tức giận của một chú bé đứng trước hoàn cảnh ly tan của gia đình!




Chân dung nhà văn Thụy An
(trong cuốn "Nhà Văn hiện đại")

Tôi học hỏi rất nhiều điều từ bà Thụy An. Bà là một phụ nữ gầy còm, ốm yếu sau những năm dài cải tạo nhưng cũng từ dáng người mảnh khảnh đó tỏa ra một sức mạnh tinh thần đáng nể phục.

Trong thời gian cải tạo bà đã tự hủy hoại một con mắt để từ đó trở đi “chỉ nhìn đời bằng một con mắt”. Một hành động, theo tôi, là dũng cảm đối với một phụ nữ. Trên thế gian này chưa chắc có được một người đàn ông - chứ không nói gì một người phụ nữ - đủ can đảm, thừa nghị lực để tự chọc vào mắt mình!

Năm 1958, bà Thụy An đã từng nói: “Thế giới chỉ cần vài trăm người đàn ông đàn bà QUẢ CẢM. Thực hành QUẢ CẢM đó là những người dám tin vào CHÂN LÝ, dám diễn đạt CHÂN LÝ trong cuộc sống. Những người không run sợ trước CÁI CHẾT, hơn nữa còn chào mừng CÁI CHẾT…”

Trong thời gian đầu khi bị giam giữ chờ ngày ra tòa, bà đã vượt qua mọi hình thức cân não, đấu tranh tư tưởng của cán bộ chấp pháp. Tuy nhiên, theo lời bà, sự căng thẳng duy nhất, khó vượt qua nhất, lại là tiếng giọt nước nhỏ đều đều suốt đêm từ robinet đâu đó vang đến phòng giam. Từng giọt… từng giọt… suốt đêm này qua đêm khác khiến thần kinh căng lên như giây đàn giữa đêm thanh vắng…






Truyện ngắn Thu Hương tôi đề cập đến trong Hồi ức một đời người (Chương 7: Thời Mở Lòng) cũng dựa theo một ý tưởng của bà Thụy An: con người có cái đầu, nói rõ hơn bộ não, là hoàn toàn của mình, không một sức mạnh nào, không một thế thế lực nào có thể xâm phạm vào quyền sở hữu riêng tư đó.

Đây là quan điểm chính trị của bà Thụy An nhưng trong truyện Thu Hương tôi kể lại cuộc tình của một người đàn ông có vợ nhưng vẫn ngoại tình, anh ta ‘kê cả một cái giường trong đầu để ân ái với người tình trong khi vẫn nằm bên vợ’. Một trường hợp đồng sàng dị mộng vẫn thường xảy ra trong cuộc sống tình cảm ngang trái của con người. Rất tiếc, bản thảo truyện Thu Hương nay đã thất lạc, không biết sau này tôi có đủ thời gian và kiên nhẫn để viết lại hay không.

Những ngày cuối đời, bà Thụy An sống cô đơn trong gian nhà nhỏ thuê gần đường Bùi Hữu Nghĩa, bên hông chợ Bà Chiểu, Sài Gòn. ‘Bạn vong niên’, theo lời bà vẫn thường nói đùa, chỉ có tôi năng lui tới.

Khi có quà của con cháu gửi từ nước ngoài về bà không quên chia xẻ với gia đình tôi: một cục xà bông Dial bà cắt làm đôi, phần tôi một nửa. Tuần sau bà lại cắt cho tôi một nửa phần còn lại, “Tôi chỉ cần ¼ cũng đủ rồi, anh đem nốt về cho các cháu dùng”.

Mang tiếng là kèm cho bà tiếng Anh nhưng thực ra công việc quan trọng nhất của tôi là chuyện trò với bà và dịch một số thơ của bà sang tiếng Anh. Đa số là trường ca lục bát kể lại những chuyện xưa như Thiếu phụ Nam Sương, Truyện trầu cau, Hòn vọng phu… Tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức để dịch những trường ca của bà sang thơ bằng tiếng Anh.

Tôi làm công việc này với tất cả trân trọng của một người cảm thấy trách nhiệm của mình trước những tâm huyết bà dành cho người phụ nữ Việt Nam. Bản dịch được bà chuyển sang Mỹ, sang Pháp cho con cháu để hiểu rõ hơn về thân phận người phụ nữ Việt Nam, một đề tài mà trong những năm cuối đời bà theo đuổi.

Trong những năm tháng cuối cùng tại Sài Gòn, bà Thụy An có tham vọng dùng văn thơ để diễn tả những nghịch cảnh người phụ nữ Việt Nam phải đương đầu trong suốt chiều dài lịch sử. Thiếu phụ Nam Sương với nỗi oan khiên khi đêm đêm dùng cái bóng của mình trên vách để dỗ dành con trong lúc chồng đi chinh chiến. Đứa con ngây thơ không chịu nhận cha thật của nó khi chinh chiến trở về, thậm chí còn thẳng thừng từ chối “không, không cha tôi đến tối mới về…”.

Trong Sự tích trầu cau, sự hiểu lầm của cặp song sinh Tân-Lang giống nhau như hai giọt nước đã khiến người vợ phải tuẫn tiết để minh oan cho những ngộ nhận giữa cả ba người. Cuối cùng thì họ đã biến thành lá trầu, cây cau và cục vôi để vĩnh viễn hòa quyện với nhau.

Ở Hòn vọng phu, người ta tìm thấy tấm lòng chung thủy của người phụ nữ ôm con chờ chồng đi chinh chiến miền xa. Dù chờ cho đến hóa đá, một tình tiết mang tính cường điệu, nhưng vẫn biểu hiện tấm lòng của người phụ nữ trong cuộc sống bình thường.

Suốt thời kỳ chiến tranh, người phụ nữ Việt Nam lại phải đương đầu với những tang tóc của chồng con trong cuộc chiến. Dù đó là bà mẹ miền Bắc hay miền Nam nhưng vẫn chung một niềm đau mất chồng, mất con…. Đến lúc hòa bình họ cũng vẫn chưa được hưởng những phút giây thanh thản khi chồng con phải ly tán trong trại học tập cải tạo. Hình như số phận của người phụ nữ Việt Nam lúc nào cũng hẩm hiu và bế tắc.  

Nữ văn sĩ Thuỵ An mất tại Sài Gòn năm 1989 khi chưa kịp sang Hoa Kỳ đoàn tụ cùng con cái. Đám tang của bà chỉ có vài người họ hàng thân thuộc và chòm xóm. Tôi nghĩ bà mất trong niềm hy vọng đoàn tụ là một đoạn kết có hậu (happy ending) vì nếu còn sống, niềm hy vọng đó sẽ mỏi mòn đối với một bà cụ sau khi đã cống hiến quãng đời 15 năm và một con mắt tại trại cải tạo Lý Bá Sơ ngoài miền Bắc.

Hình như chúng ta vẫn nợ Một Lời Kết về bà Thụy An. Những người trong cuộc đã minh oan cho bà, vấn đề còn lại là trả lại danh dự cho một người đã khuất.

------------------------

(1) Nguyễn Ngọc Chính: "Tôi biết rất rõ, ông Đỗ Đình Đạo không phải là chồng bà Thụy An cho nên trong đoạn này tôi viết: "...Theo Wikipedia, bà Thụy An kết hôn với giáo sư Bùi Nhung, em ruột học giả Bùi Kỷ. Kết quả cuộc hôn nhân là 6 người con ra đời và sau đó hai người ly hôn. Người chồng thứ nhì của bà Thụy An là ông Đỗ Đình Đạo, người của Việt Nam Quốc dân đảng." Đấy là theo Wikipedia và theo lời GS Bùi Dương Chi (con ruột của bà), thông tin trên Wikipedia có phần sai lạc khi dùng câu "...Người chồng thứ nhì...".

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên Online
NHViet



Posts : 264
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Nhìn Lại Vụ Án Nhân Văn - Giai Phẩm Cách Đây 40 năm   Tue Sep 17, 2013 12:05 am


Nhìn Lại Vụ Án Nhân Văn - Giai Phẩm Cách Đây 40 năm

Hoàng Tiến





Đứng ở góc độ nghiên cứu văn học, nhiều lúc tôi cứ tự hỏi, cái gì là nguyên nhân sâu xa, cái cốt lõi, cái mạch ngầm, nó đã gây nên một vụ án văn học, có thể nói là kinh thiên động địa, là chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử Việt Nam với tầm vóc quy mô như thế. Từ một trào lưu văn học, trở thành một vụ án văn học, rồi đẩy thành một vụ án chính trị. Tiếp theo là bắt bớ, tù đầy, và hàng loạt văn nghệ sĩ phải đi cải tạo lao động ở các nhà máy hoặc ở nông thôn trong nhiều năm trời. Sau nữa là sự quản thúc, sự cấm đoán sáng tác kéo dài hàng vài chục năm. Đến khi được cởi trói cho văn nghệ sĩ (*) thì nhiều người đã đầu bạc, da nhăn nheo; người thì bại liệt; người tâm thần; có người chết trước khi được cởi trói.

Có phải là vấn đề đấu tranh tư tưởng, đấu tranh giai cấp theo học thuyết Mác-Lênin được đem thực hiện trong địa hạt sáng tác?

Nhìn hiện tượng, thì thế giới phe xã hội chủ nghĩa bấy giờ có vụ Ba Lan, vụ Hung-gia-ri, ở Liên Xô có đại hội Đảng lần thứ 20 chống sùng bái Xít-ta-lin. Trong nước thì sai lầm cải cách ruộng đất. Hồ Chủ tịch phải thay mặt Đảng và Chính phủ xin lỗi nhân dân. Cả nước đang sửa sai. Các nhà lãnh đạo Việt Nam lo ngại, thấy văn nghệ sĩ đòi sinh hoạt dân chủ và tự do sáng tác, liền giơ cao cây gậy chuyên chính. Diễn biến phải kể từ tập Giai phẩm mùa xuân do nhà xuất bản Minh Đức ấn hành tháng 1-1956, rồi đến lớp học 18 ngày do Hội Văn nghệ Việt Nam tổ chức vào tháng 8-1956 nghiên cứu tài liệu Trung ương về sự đổi mới của Liên Xô chống sùng bái cá nhân. Ở lớp học này văn nghệ sĩ đã lên tiếng phê phán sự lãnh đạo khắc nghiệt và đòi tự do sáng tác. Sau đó có báo Nhân Văn, báo Trăm Hoa, rồi tạp chí Giai Phẩm Mùa Thu, Giai Phẩm Mùa Đông. Rồi các báo và tạp chí trên bị đóng cửa. Rồi khóa học tập nghiên cứu cho 304 văn nghệ sĩ được mở ở Thái Hà Ầp năm 1958. Chia nhóm, chia tổ, kiểm thảo, phê bình, đấu tranh tư tưởng định rõ địch ta. Rồi là tù đày và lao động cải tạo như nhiều người đã biết, nhiều người còn nhớ.

Thời gian đã lùi xa đến 40 năm rồi. Thời gian đã giúp ta bình tĩnh để nhìn nhận lại nhiều sự việc. Phải thừa nhận rằng, anh em Nhân Văn - Giai Phẩm đều là những người có tài đang độ phát tiết tinh hoa. Những người chỉ đạo việc kiểm thảo hành hạ anh em là những người tài năng đã cạn kiệt hoặc tài năng chỉ ở dạng trung bình. Cái đuôi chuột dù dấu kín đến mấy rồi vẫn thòi ra. Trong cái bề bộn rối rắm của sự việc, chân lý lại thường ở dạng rất đơn giản. Tôi đã thấy được cái đuôi chuột thò ra ở sự cấm đoán sáng tác nghiệt ngã đối với anh em Nhân Văn - Giai Phẩm kéo dài quá đáng. Những 30 năm! Nhờ vậy mà tôi nhìn ra cái mạch ngầm, cái cốt lõi, cái nguyên nhân sâu xa, là sự đố kỵ tài năng, được phủ đậy lên bằng tấm màn đấu tranh tư tưởng, đấu tranh giai cấp. Tào Tháo muốn giết Lưu Bị, bởi biết Bị là kẻ anh hùng. Ông Tố Hữu lãnh đạo văn nghệ thời đó, hẳn phải biết tài thơ của các ông Hữu Loan, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Trần Dần, Văn Cao, Lê Đạt, Phùng Quán ...vv... Nếu họ tồn tại, thì thơ ông khó mà được suy tôn như người ta đã suy tôn. Vậy tốt hơn hết là triệt đi, không cho họ viết báo, in sách nữa.

Mà quả vậy, khi Nhân Văn - Giai Phẩm bị đánh tan tác, thì một thời gian dài, học sinh chỉ được học thơ Tố Hữu. Những đề thi lên lớp, thi chuyển cấp, hoặc thi vào đại học, về môn văn, không trật được thơ Tố Hữu. Các nhà xuất bản thi nhau tái bản thơ Tố Hữu, coi là một tiêu chuẩn để tỏ rõ lập trường. Các báo chí, những ngày kỷ niệm lớn, trên trang nhất, đều đặt hàng thơ Tố Hữu. Những nhà nghiên cứu phê bình không nói đến Tố Hữu bị coi là có vấn đề. Chính tôi hồi còn làm biên tập nhà xuất bản Thanh Niên (khoảng 1957), ông tổng biên tập đọc một bản thảo đưa in đã hỏi: " Sao thằng này không nói đến thơ Tố Hữu nhỉ? Không dùng!" Ngàn ngàn những buổi nói chuyện thơ Tố Hữu được tổ chức khắp mọi nơi. Các nhà lý luận phê bình có hạng khen thơ Tố Hữu hết lời. Tuyệt không một ai dám nói đến chỗ thiếu sót, cái bất cập trong thơ Tố Hữu. Người ta cố tạo một ấn tượng: Tố Hữu là thần tượng của thi ca Việt Nam. Không thiếu những thanh thiếu niên chỉ biết Tố Hữu là nhà thơ duy nhất Việt Nam, và hay nhất Việt Nam.

Lịch sử vốn có sự công bằng. Hay nói cách khác, trong văn chương cũng có nguyên lý Archimède, vật thể nặng đến đâu thì chìm đến đấy. Khi anh em Nhân Văn - Giai Phẩm được cởi trói, trở lại văn đàn, thì thơ Tố Hữu vắng vẻ hẳn đi. Báo chí đăng lại những bài Đèo Cả, Màu tím hoa sim của Hữu Loan, bài Tây tiến, Mắt người Sơn Tây của Quang Dũng, bài Bên kia sông Đuống và Mưa Thuận Thành của Hoàng Cầm...vv... Độc giả bấy giờ mới vỡ ra, ta có những bài thơ rất giá trị mà lâu nay không được biết.

Sự tôn sùng quá đáng đã gây những phản tác dụng. Chưa có một nhà thơ Việt Nam nào mà thơ được quần chúng nhại lại như thơ Tố Hữu. Xin đơn cử vài bài:

    Bài Bầm ơi:
    Bầm ơi rét cũng mặc bầm?
    Von-ga con cưỡi, gà hầm con xơi.
    Con đi sướng thế bầm ơi,
    Mặc cho bầm ở nhà ngồi nhá khoai!

Bài 50 Năm Tuổi Đảng và Thơ:
Năm mươi năm tuổi Đảng và thơ,
Từ ấy thơ "dui" đến tận giờ.
Tóc mặn muối tiêu thơ nước ốc,
Thương con tằm bện nhện nhường tơ.
Thuyền rò vượt sóng thuyền ngoi ngóp,
Mộng lớn thăng quan hết ngóng chờ.
Mới nửa đường quan cầu đã gãy,
Áo quan muốn mặc chớ đòi thơ.

Bài Một Tiếng Đờn:
Nắng hè sao đã vội hoàng hôn
Tươi thế mà sao lệ bỗng tuôn
Mới hay nhân quả là như vậy
Vui lắm thì ra cũng lắm buồn.

Danh lợi đua chen được mấy ngày
Phù vân một thoáng gió xua bay
Thủy chung không dễ, đâu bè bạn
Êm ấm hồn sao được phút giây.

Đúng vậy, còn gì đau khổ hơn
Đời chuyên khơi dậy nỗi oán hờn
Còn đây một chút trong cô lạnh
Mới thấm nhân văn một tiếng đờn.

Chân dung Tố Hữu được nhà thơ Xuân Sách khắc họa bằng mấy câu thần tình:

"Từ ấy" trong tim ngừng tiếng hát
Trông về "Việt Bắc" tít mù mây
Nhà càng "lộng gió" thơ càng nhạt
"Máu" ở chiến trường "hoa" ở đây.

Vân vân... và.... vân vân...

Nhà thơ Hữu Loan về quê làm ruộng, thồ miá, thồ đá nung vôi, sau 30 năm mới trở ra Hà Nội đã thành một ông già râu tóc bạc trắng. Hỏi ông đánh giá về thơ Tố Hữu? Ông suy nghĩ một lát, rồi trả lời: "Một nhà thơ trung bình".

Tôi cho đánh giá của nhà thơ Hữu Loan là đúng mực.

Vì đã là một thần tượng thi ca, thì ngoài nội dung tư tưởng, còn phải có đóng góp về phương thức biểu cảm. Thơ Tố Hữu được phần nội dung tư tưởng cách mạng, nhưng phần hình thức biểu hiện không có đóng góp mới. Ông sử dụng những hình thức biểu hiện sẵn có như thể lục bát, hoặc thất ngôn trường thiên và ngũ ngôn trường thiên của thể cổ phong. Mà lục bát thì ông không thể hơn được Nguyễn Du, cũng chưa hơn được Nguyễn Bính. Các cách thức biểu hiện khác (gọi là thể tự do), thì đã có cả trong phong trào thơ mới giai đoạn 1930 -1945. Họ (những nhà thơ lãng mạn) là những người đóng góp, chứ ông (Tố Hữu) là người lặp lại.

Câu thơ của Phạm Huy Thông:

Sở bá vương ngồi yên trên mình ngựa
Đưa mắt buồn lặng ngắm chân trời xa
Trong sương thu nhẹ đượm ánh dương tà
Quân Lưu Bang đang tưng bừng hạ trại.
(Tiếng địch sông Ô - 1935)

Ấm cuối câu thứ nhất Phạm Huy Thông gieo vần trắc, gợi hình một võ tướng gắn chặt với chiến mã, con chiến mã bám chắc xuống mặt đất, giống như một khối tượng.

Ấm cuối câu 2 và câu 3 gieo vần bằng, làm câu thơ thoát ra, ngân dài, như không gian bát ngát bao la trước mặt Hạng Võ.

Ấm cuối câu thứ 4 hai vần trắc liền nhau (hạ trại), nghe như thấy tiếng đóng cọc dựng lều của quân sĩ Lưu Bang đang bao vây Hạng Võ ở vùng Cai Hạ, dẫn đến tiêu diệt đối thủ dũng mãnh này.

Câu thơ của Tố Hữu:

Mã Chiêm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ
Ngựa rung đầu hý mạnh giữa tàn quân
Đồi non xa thấp thoáng đỉnh non gần
Đã khuất phục dưới lá cờ binh Nhật.
(Mã Chiêm Sơn - in trong tập Từ Ầy xuất bản năm 1946)

Ấm cuối của câu 1 và câu 4, Tố Hữu cũng gieo vần trắc; âm cuối câu 2 và câu 3 cũng gieo vần bằng, y hệt Phạm Huy Thông. Nhưng câu thơ của Phạm Huy Thông ăn nhập chặt chẽ giữa nội dung và hình thức biết bao! Một thành công trong nghệ thuật biểu cảm của lối thơ 8 âm tiết được sáng tạo trong phong trào thơ mới. Còn hình tượng Mã Chiêm Sơn của Tố Hữu chỉ là một phiên bản vụng về. Ngay câu đầu, hai từ "buông cương" và "ngẫm nghĩ" làm cấu trúc câu thơ lỏng lẻo hẳn đi, rã rời hình ảnh một chiến tướng, đâu còn có thể "đánh tan xương quân Nhật một sư đoàn". Bạn hãy đọc to lên, ngâm lên nữa càng hay, sẽ nhận ra rất rõ sự hơn kém về tứ về âm của cả khổ thơ, của từng câu thơ, của từng lời thơ.




Các nhà phê bình thường lớn tiếng khen ngợi cái nhạc điệu vui vẻ, lách chách của chú bé liên lạc Lượm như một sáng tạo nhạc điệu trong thơ Tố Hữu:

Chú bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh
Ca-lô đội lệch
Mồm huýt sáo vang
Như con chim chích
Nhảy trên đường vàng...
(Lượm - 1949)

Cũng nên biết trước đó, thơ mới đã miêu tả đối tượng bằng nhạc điệu, như bài "Sương rơi" của Nguyễn Vỹ có trước bài "Lượm" gần 15 năm.

Rơi sương
Cành dương
Liễu ngả
Gió mưa
Tơi tả
Từng giọt
Thánh thót
Từng giọt
Tơi bời
Mưa rơi
Gió rơi
Lá rơi
Em ơi!...
(Sương rơi - 1935)

Hơn nữa, thơ Tố Hữu có khá nhiều hạt sạn. Lấy như bài "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên" (1954), ông viết:

Chúng bay chỉ một đường ra
Một là tử địa, hai là tù binh.

Có lời bình rằng:

Đã một mà lại hóa hai
Một hai, hai một, khổ tai bực mình.

Trong bài "Ta đi tới" (1954), ông cũng viết:

Đường ta rộng thênh thang tám thước

Nghe buồn cười. Thênh thang mà lại có 8 thước. Vả lại thơ không nên bám sát lấy con số thực quá. Thơ cần khái quát bản chất để có thể bốc lên, bay lên. Vì câu thơ trên, nên thành một giai thoại văn học. Giai thoại kể rằng, nhà thơ Trần Đăng Khoa hồi còn là một chú thiếu nhi đã xin phép bác Tố Hữu cho cháu được chữa:

Đường ta rộng thênh thang ta bước

Như thế câu thơ mới thơ hơn.

Thơ Tố Hữu có nhiều câu sáo ngữ. Khi nghe tin Xít-ta-lin mất, Tố Hữu viết:

Thương cha thương mẹ thương chồng
Thường mình thương một thương ông thương mười.
(Đời đời nhớ ông - 1953)

Lại nữa:

Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin!
(Đời đời nhớ ông - 1953)

Hỡi ôi! con mình dứt ruột đẻ ra, tiếng đầu lòng phải là gọi mẹ, gọi bố, gọi bà, vừa dễ phát âm vừa biết bao tình cảm thiêng liêng huyết thống. Đằng này nó lại gọi tên một con người xa lạ nước ngoài, vả lại rất khó phát âm với con trẻ Việt Nam. Câu thơ chỉ có thể là giả dối, nếu không thì tác giả là người đã để mất linh hồn dân tộc.

Lại câu:

Chân dép lốp mà bay vào vũ trụ

Mới nghe tưởng rất tự hào. Suy nghĩ một chút thì thấy lố. Xét nghĩa đen, vào vũ trụ không đi dép lốp được, phải có một loại giầy đặc biệt. Xét nghĩa bóng, nó giống chuyện một anh ngố, đi nhờ xe người ta lại nghĩ mình cũng oai như người ta.

Thổ lộ tình yêu cũng nguyên tắc, máy móc; lại có phần trịch thượng, ban ơn:

Mà nói vậy: "Trái tim anh đó
Rất chân thật, chia ba phần tươi đỏ:
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều
Phần cho thơ, và phần để em yêu..."
Em xấu hổ: "Thế cũng nhiều anh nhỉ!"
Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí.
(Bài ca Mùa xuân 61)

Nhà thơ Nadim Híchmét, người Thổ-nhỉ-kỳ, cũng là nhà thơ cộng sản, ông nói khác: "Cộng sản có thể chung nhau nhiều thứ. Riêng má người yêu thì không chung được."

Cô bạn giáo viên dạy văn phổ thông trung học bình phẩm về hai câu thơ cuối đoạn: "Em thì chẳng việc gì phải xấu hổ. Em sẽ nói: "Xin lỗi, tôi không thể yêu ông." Đến hôn nhau mà cũng còn phân biệt "đồng chí" với "quần chúng", thì không sao hiểu nổi. Có lẽ môi những người đồng chí được cấu tạo bằng thép, khi chạm nhau chúng kêu coong coong."

Làm duyên đấy thôi cô ạ! Khối các ông cộng sản hai ba vợ, ngoài ra lại còn bồ bịch hàng đống.

Thơ Tố Hữu được in nhiều trong sách giáo khoa. Các nhà trường đều học. Coi như thơ kinh điển. Bài thơ "Bài ca Tháng Mười" của ông, mở đầu bằng khổ thơ:

Thuở Anh chưa ra đời
Trái đất còn nức nở
Nhân loại chửa thành người
Đêm ngàn năm man rợ
(Bài ca Tháng Mười - 1950)

Từ "Anh" ở đây viết hoa, để chỉ Liên Xô, người anh cả phe Xã hội chủ nghĩa, nơi có cuộc Cách mạng Tháng Mười. Tôi không lấy cái chuyện Liên Xô bây giờ tan rã để bắt bẻ tác giả. Tôi cứ cho Cách mạng Tháng Mười là một sự kiện đáng ca ngợi. Nhưng ca ngợi làm sao cho người ta nghe được, không cho mình là quá lời, là tâng bốc. Lại không được miệt thị dân tộc mình và miệt thị các dân tộc khác. Giữ được tinh thần bình đẳng tỉnh táo của người cầm bút. Xin hỏi tác giả bài thơ: Vậy trước Cách Mạng Tháng Mười, những giá trị nhân bản của nước Nga như Puchkine, Tolstoi, Tchékhov... là chửa thành người ư? là man rợ cả ư? Lại còn những Shakespeare, Byron của Anh; Voltaire, Rousseau của Pháp; Goethe của Đức; Tagore của Ần Độ; Lý Bạch, Đỗ Phủ của Trung Quốc... đều chửa thành người cả ư? đều man rợ cả ư? Rồi những giá trị nhân văn của chúng ta như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du... cũng chửa thành người ư? cũng man rợ cả ư? Tụng ca như vậy là lối bốc đồng của một thứ kiến thức loại học sinh phổ thông, nếu không muốn nói là sai lầm về phương pháp tư tưởng của cán bộ cách mạng.

Người như vậy mà ở cương vị lãnh đạo tối cao về văn nghệ sẽ không tránh khỏi khi cực tả khi cực hữu, có hại cho phong trào hơn là sự đắp bồi cho phong trào phát triển.





Nghe nói, khi ông Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố cởi trói cho văn nghệ sĩ, ông Trần Độ tác giả của nghị quyết 05 về văn hóa và văn nghệ, là người đã giúp ông Nguyễn Văn Linh nói được câu cởi trói, có gặp ông Tố Hữu, hỏi ông nghĩ gì về anh em Nhân Văn - Giai Phẩm bây giờ. Ông Tố Hữu, suy nghĩ một lát, với giọng trọ trẹ xứ Huế, trả lời: "À, cái bọn ấy, thì bây giờ tôi rất tiếc, rất tiếc, là ngay lúc đó tôi không diệt hết chúng nó đi". Hỡi ôi! Một người nghệ sĩ, một nhà thơ, mà suy nghĩ hệt một nhà chính khách độc tài. Ông Tố Hữu đúng là một Lischenko của Việt Nam vậy.

Lischenko của Liên Xô cũ, là một nhà khoa học trung bình, được Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô trọng dụng cho phụ trách công tác khoa học, đã dùng quyền lực của mình bắt bớ, trấn áp, tù đày những người trái ý kiến mình, làm chết đi nhiều nhà khoa học tài năng. Ông ta đã có công kéo lùi nền khoa học Xô Viết chậm 50 năm so với thế giới, nhất là về mặt di truyền học. Điều này báo chí Liên Xô đã nói công khai.

Ông Tố Hữu, là một nhà thơ trung bình, được Đảng Cộng Sản Việt Nam trọng dụng cho phụ trách công tác văn nghệ, đã dùng quyền lực cũng trấn áp, tù đày, làm thui chột đi nhiều tài năng văn học. Ông cũng đã kéo lùi nền văn học Việt Nam ít nhất là 30 năm, tính từ 1957 cho đến thời kỳ đổi mới mở cửa 1987. Ông Tố Hữu đã có công tạo ra một nền văn nghệ minh họa, những nhân vật dàn dựng theo khái niệm, những bài thơ cổ vũ cho thời sự, phong trào. Ông đã tạo nên tính hèn nhát cho người cầm bút, biết là bánh vẽ mà vẫn ngồi ăn, tự dối mình và dối người, tự kiểm duyệt tác phẩm đến khô cứng, để rồi chỉ dám thổ lộ nỗi lòng trong nhật ký hoặc di cảo sau khi chết. Hùa theo ông để kiếm lợi có những anh lý luận đồ tể cứ lên gân chụp mũ kết tội, để từ một anh cán bộ thông tin quận 8 (Gia Lâm cũ) nhảy tót lên làm viện phó Viện Văn Học, không có công trình. Cùng hùa theo ông để an phận là những văn nghệ sĩ đã cạn kiệt tài năng lại không muốn ai hơn mình, một số bị ép buộc không thể không nói, và một số người ngộ nhận. Sau này tỉnh ngộ, nhà viết kịch Bửu Tiến trên diễn đàn Đại Hội Nhà Văn lần IV đã công khai lên tiếng xin lỗi anh em Nhân Văn - Giai Phẩm. Nhiều người không nói được công khai đã xin lỗi cá nhân. Nguyễn Hữu Đang được phân nhà, được trả lại lương hưu. Văn Cao được tiêu chuẩn khu A bệnh viện Việt Xô. Hữu Loan được tỉnh ủy Thanh Hóa xây nhà. Hoàng Cầm ốm quá phải nghiện hút trở lại. Phan Khôi chết. Nguyễn Sáng chết. Sĩ Ngọc chết. Chu Ngọc chết. Hoàng Tích Linh chết. Đặng Đình Hưng chết. Phùng Quán chết. Phùng Cung chết... Trần Dần bại liệt chết dần chết mòn, rồi từ giã anh em... Những con người một thời từng là những viên đá lát đường.

Tuy nhiên, văn học vẫn có sự phát triển tự thân, ngoài ý muốn người lãnh đạo. Vẫn có những bài văn, cuốn sách, câu thơ như những vì sao tỏa sáng lấp lánh trên tấm màn đêm đen kịt của sự khắc nghiệt. Nhưng đấy là đề tài của một bài nghiên cứu khác. Ở đây chỉ nói đến những đối thủ thơ của Tố Hữu là các nhà thơ Hữu Loan, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Trần Dần.... ngay từ những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, đã có những tứ thơ kỳ vĩ, những vần điệu đổi mới đến kinh ngạc.

Tài thơ Hữu Loan, ông thành công cả hai loại thể tài tráng ca và thể tài trữ tình với phương thức biểu cảm khác lạ chưa từng thấy trong thơ Việt Nam.

Tóc râu chùm vai rộng
Không nhận ra người làng
Rau khe
cơm vắt
áo phai màu chiến trường
Ngày thâu vượn hú
Đêm canh gặp hùm lang thang
(Đèo Cả - 1946)

Hoặc:

Gian nguy lòng không nhạt
Căm thù trăm năm xa
Máu thiêng sôi dào dạt
Từ nguồn thiêng ông cha
Cần xây chiến lũy ngất
Đây!
hình hài niên hoa!
(Đèo Cả - 1946)

Đoạn kết bài Đèo Cả giống một bức tranh nổi tiếng của Répine lỗi lạc nước Nga xưa, mô tả những người Dapôrôgiơ nổi lên khởi nghĩa chống Sa hoàng. Những người dân hiền lành chất phác làm sao! nhưng hiên ngang khí phách làm sao! Bức tranh mà nhà thơ Hữu Loan khắc họa cũng là những con người bình dị vừa bỏ tay cày, tay búa, tay bút, làm cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp tái xâm lược (năm 1946), thiếu thốn mà rất vui, rất hào hùng:

Sau những trận đánh
Những người lính Đèo cả
trở về
Người hái cam rừng
ăn nheo mắt
Người vá áo
thiếu kim
mài sắt
Người đập mảnh chai
vểnh cằm cạo râu
Suối mang bóng người
soi những về đâu?
(Đèo Cả - 1946)

Khí phách hào hùng này có thể ví không hổ thẹn với khí phách của cha ông đời Trần chống giặc Nguyên Mông, hào hùng đến kỳ vĩ, còn được ghi lại trong sử sách:

Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu
Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu
(Phạm Ngũ Lão)

(nghĩa: Cầm ngang ngọn giáo giữa giang sơn mấy năm nay,
Khí phách của ba quân như mãnh hổ nuốt sao ngưu)

"Màu tím hoa sim" của Hữu Loan lại tràn đầy tính trữ tình trong nỗi đau xót mất mát của chiến tranh, cũng với phương thức biểu cảm lối bực thang, mà Hữu Loan gọi là thơ "xuống hàng". Lối này làm người đọc phải đọc chậm, ngắt giọng, nhấn chữ, nó đập mạnh vào trực giác chúng ta (intuitivement), nó làm nổi hình khối lên (en relief).

Nàng có ba người anh
đi bộ đội
Những em nàng
có em chưa biết nói
Tóc nàng xanh xanh.
Tôi
người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng
như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo cưới
Tôi vận đồ quân nhân
đôi giầy đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo
(Màu tím hoa sim - 1949)

Chiến tranh là đau khổ, là tang tóc, tất nhiên. Chỉ có kẻ kiếm chác mới thấy chiến tranh là vui, thấy chiến tranh là đẹp.

Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
đầy bóng tối
Chiếc bình hoa
ngày cưới
thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh
tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ôi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông nhau một lần!

Đúng là những giọt máu của tác giả đã nhỏ lên trang giấy (tác giả mất vợ, mất người yêu trong kháng chiến), khiến cho người đọc, đọc đến đây, cũng không cầm được nước mắt.

Có lần tôi hỏi Hữu Loan:

- Anh nghĩ gì khi viết những câu chữ:

Chiều hoang tím
có chiều hoang biết
Chiều hoang tím
tím màu da diết
Nhìn áo rách vai
tôi hát
trong màu hoa.

Hữu Loan nói:

- Có người đã đổi đầu đề bài thơ của tôi là Đồi Sim Màu Tím. Màu tím như vậy thành cụ thể mất rồi. Vì vợ tôi thích màu tím, màu u tím với tôi lúc này là một ảo giác, một ảo ảnh, tôi hát trong màu hoa ấy, tôi mê, tôi tỉnh, tôi say, tôi phát cuồng, tôi... như thế nào nhỉ, tùy các nhà phê bình nhận xét.

Tôi nói:

- Tác giả đã nhập thần vào câu thơ. Tôi hát trong màu hoa... là một câu thơ trong chữ có quỉ (ngôn trung hữu quỉ). Nó không có thực mà lại rất thực về mặt tâm linh. Đọc lên thấy gai cả người. Và chỉ còn biết đốt hương lên mới cảm nhận hết vẻ sắc lan tỏa và ý nhị của ngôn ngữ nghệ thuật khi chúng được sắp xếp cạnh nhau.

Hữu Loan là một tài thơ. Nếu không dẹp đi, thì thơ tụng ca, thơ tuyên truyền kiểu Tố Hữu không thể lên ngoi được.



Trường hợp Quang Dũng bị đánh cũng hơi lạ. Ông không tham gia bài vở gì với Nhân Văn hay Giai Phẩm. Tính ông hiền lành, hơi nhát nữa. Hồi ấy không biết có báo nào in lại một bài thơ của ông trong kháng chiến, bài:

"Khuya khoắt sông bờ vắng.
Lửa hồng quán tản cư.
Lính mấy chàng vất vả.
Tìm sống một đêm thơ...."

Rồi ông bị quy tội. Rất giống trường hợp Vũ Trọng Phụng. Ông Phụng mất từ lâu rồi, không có quan hệ gì với Nhân Văn - Giai Phẩm. Chỉ vì tác phẩm của ông được nhà xuất bản Minh Đức in lại. Rồi Nhân Văn - Giai Phẩm làm lễ kỷ niệm Vũ Trọng Phụng. Thế là ông bị đánh. Đánh tơi bời. Để rồi sau này lại sửa sai, và bây giờ đặt tên đường phố Vũ Trọng Phụng.

Bài "Tây Tiến" của Quang Dũng đầy chất bi hùng ca, có những câu:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mà vẫn mang cái vẻ sắc mộng mơ lãng mạn của những chàng trai Hà Nội xếp bút nghiên cầm súng lên đường:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm

Lời thơ cùng nhạc thơ Tây Tiến đường bệ, mang khí phách của những tráng sĩ xả thân vì đại nghĩa:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành...
(Tây Tiến -1948)

Thơ trữ tình của Quang Dũng cũng tuyệt vời. Thế hệ chúng tôi, ai chẳng nhớ bài "Mắt người Sơn Tây":

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì.

Những cô gái Sơn Tây "yếm thủng tầy giần" trong ca dao, bỗng trở nên thơ mộng biết bao dưới ngòi bút Quang Dũng:

Vầng trán em mang trời quê hương
Mắt em chứa nỗi buồn Tây phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương.

Trong chiến tranh, những mong ước thật bình dị, chỉ có được ở những tâm hồn thuần phác, tràn đầy lòng yêu quí nơi quê cha đất mẹ:

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Lên núi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng.
(Mắt Người Sơn Tây - 1949)

Nghe nói, sinh viên đại học Huế thời chưa giải phóng, đã in hình nhà thơ Quang Dũng nhỏ xíu lồng trong những trái tim đeo dưới cổ. Họ đánh giá Quang Dũng là một trời thơ.

Quang Dũng là một trời thơ. Quả có vậy. Và đấy cũng là lý do để ông chịu hoạn nạn.



Hoàng Cầm là nhà thơ giàu tính dân gian như Tố Hữu, nhưng tài hoa hơn Tố Hữu. Thuở trẻ ông đã nổi tiếng với những kịch thơ: Hận Nam Quan, Kiều Loan, Lên Đường; và trong kháng chiến chống Pháp thì nổi tiếng với hai bài "Đêm Liên Hoan":

Đêm liên hoan
Đầu người nhấp nhô như sóng bể ngang tàng...

Nhưng nổi tiếng nhất là bài "Bên kia sông Đuống" (1948):

Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ...

Hầu hết những người đã tham gia kháng chiến ở Việt Bắc, trong cảnh núi thẳm rừng sâu, lòng náo nức hẳn lên khi đọc những vần thơ:

Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng.

Nhờ thế mà họ chịu đựng được gian khổ. Sốt rét, thiếu ăn, áo quần rách không kim chỉ, phải lấy dây buộc lại, được tặng biệt hiệu thân yêu là Vệ túm. Có lúc cả đại đội mới có chục viên ký-ninh chống sốt rét vàng khè, đắng hơn mật cá mè, phải pha ra những chai lít nước mỗi người uống một tí, gọi là phòng chống sốt rét (bằng đường tinh thần). Ầy thế mà vẫn vui, vẫn háo hức với những câu thơ:

Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trẩy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.

Sông Đuống bỗng trở thành một con sông nổi tiếng của đất nước là nhờ bài thơ này. Sông Danube mà cả thế giới trầm trồ vì có bài "Danube xanh". Sông Volga nổi tiếng là nhờ khúc hát "Kéo thuyền trên sông Volga". Bến Tầm Dương là cái quái gì trong các bến bờ ở các con sông dọc ngang Trung Quốc, nếu không có Bạch Cư Dị. Sông Tiền Đường cũng chẳng là cái đinh gì, nếu không có Nguyễn Du. Con sông Lô, rồi chẳng còn ai nhớ đến, nếu không có Văn Cao với bản "Trường ca sông Lô"... Thế mới biết vai trò của nghệ sĩ thật đáng quý trọng vậy!

Thời gian rồi sẽ trôi đi. Người ta có thể quên nhiều thứ. Nhưng những tài thơ thì sẽ còn mãi mãi.

Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp.

Tài thơ đã làm Hoàng Cầm vinh quang, và cũng làm Hoàng Cầm tai vạ. Gì thì gì, chứ tôi tin là ở thế kỷ 21, con cháu chúng ta sẽ còn ngâm:

Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ.

Trần Dần là một trong ba người sáng lập ra nhóm Dạ Đài sau Cách Mạng Tháng 8 (Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch) chủ trương cách tân thi ca. Điều này được nói rõ trong tuyên ngôn của nhóm, đăng trên tạp chí Dạ Đài số 1. (Hiện ông Dương Tường ở số 3 ngõ Phan Huy Chú, Hà Nội còn giữ được bản tuyên ngôn này.)

Giải phóng thủ đô 1954, Trần Dần tiếp tục đổi mới thi ca. Ông làm thơ lối bực thang, người ta bảo chịu ảnh hưởng của Maiakovski Liên Xô cũ. Nhưng theo tôi, từ 1946 bài Đèo Cả của Hữu Loan đã viết theo lối bực thang, hồi ấy chưa ai biết thơ Maiakovski, Hữu Loan gọi là thơ xuống hàng. Vậy là chưa chắc Trần Dần đã chịu ảnh hưởng Maiakovski, mà ảnh hưởng Hữu Loan thì sao. Vả lại không loại trừ trường hợp những ý tưởng lớn thường gặp nhau (Les grandes idées se rencontrent). Điều thấy rất rõ là Trần Dần luôn luôn tìm cách biểu hiện mới, gần cuối đời, bại liệt nằm một chỗ, ông làm thơ mi-ni. (Ông Dương Tường hiện giữ nhiều thơ mi-ni của Trần Dần, hy vọng sẽ được công bố).

Bài "Nhất Định Thắng" in trong tập Giai Phẩm Mùa Xuân 1956, có những câu:

Gặp em trong mưa
Em đi tìm việc
Mỗi ngày đi lại cúi đầu về
- Anh ạ!
họ vẫn bảo chờ...
Tôi không gặng hỏi, nói gì ư?
Trời mưa, trời mưa
Ba tháng rồi
Em đợi
Sống bằng tương lai
Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi
Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã
Em đi
trong mưa
cúi đầu
nghiêng vai
Người con gái mới mười chín tuổi
Khổ thân em mưa nắng đi về
lủi thủi
Bóng chúng
đè lên
số phận
từng người
Em cúi đầu đi, mưa rơi
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ
(Nhất Định Thắng - 1956)

Bài thơ dài gần 400 câu, đoạn kết, được Hoàng Cầm góp ý, để đỡ sái:

Hôm nay
Trời đã thôi mưa thôi gió
Nắng lên đỏ phố đỏ nhà
Đỏ mọi buồng tim lá phổi
Em ơi đếm thử bao nhiêu ngày mưa!
[...............]
Anh bước đi
đã thấy phố thấy nhà
Không thấy mưa sa
Chỉ thấy nắng lên
trên màu cờ đỏ
Ta ở phố Sinh Từ
Em này
Hôm nay
đóng cửa
Cả nhà ra phố mít-tinh
Vung cờ đỏ
hát hò
vỡ phổi
Hỡi những con người
thành phố
thôn quê
Đói no lành rách
Người đang vui
Người sống đang buồn
Tất cả!
Ra đường!
Đi!
hàng đoàn
hàng đoàn
Đòi lấy tương lai
Hòa Bình
Thống Nhất
Độc Lập
Dân Chủ
Đó là tim
là máu đời mình
Là cơm áo!
Là ái tình!
Nhất định thắng!
(Nhất định thắng - 1956)

Rõ ràng là so với phong trào thơ mới 1930 - 1945, hay cả thơ trong kháng chiến chống Pháp, phương thức biểu cảm của anh em Nhân Văn - Giai Phẩm đã khác đi rất nhiều.

Báo Văn (của Hội Văn Nghệ) số 28 ngày 15-11-1957 còn đăng bài "Hãy Đi Mãi" của Trần Dần. Có những đoạn:

Hãy đi mãi!
Dù có phen trót ngã
hãy bó đôi chân lầm lỡ
mà đi.
Hãy tin chắc
rồi ta
xứng đáng
một vòng hoa đỏ nhất
phủ quan tài
Tôi chửa có khi nào quên táo bạo
chửa khi nào quên hát
quên đau.
Tôi yêu đất mẹ đây
có cỏ hoa làm chứng
Tôi yêu chủ nghĩa này
cờ đỏ cãi cho tôi.
Nhưng
chẳng thể rúc kèn cũ rích
vác loa mồm kêu:
"Hiện tại rất thiên đường!"

Đoạn kết của bài "Hãy đi mãi":

Tôi vẫn nâng chiếc đầu lâu
nặng nề sáng tạo
như
nâng một viễn vọng đài
trên cuộc sống hàng ngày
nhí nhách.
Tôi vẫn cháy
ngọn hải đăng con mắt
ở trong biển sống
từng đêm
Tôi vẫn đóng những câu thơ
như người thợ
đóng tàu
chở khách
đi về phía trước
Nói
loài người -
đã biết sống chung nhau.
Nói
tất cả -
chẳng còn ai bần tiện
chẳng còn lo
cơm áo
nợ nần.
(Hãy Đi Mãi - 1957)




Phùng Quán thì không được liệt vào hàng đối thủ của Tố Hữu. Hồi ấy ông còn rất trẻ, chưa mấy tên tuổi. Hăng hái, sôi nổi, xin vác cờ đi đầu đoàn biểu tình. Ông bị đánh vì lãnh đạo cho là bướng bỉnh. Tuy vậy, ông đã lộ ra có tài năng, nếu gặp điều kiện thuận lợi, có thể trở thành một cây to cành lá sum sê.

Phùng Quán có những bài thơ đăng trên Giai phẩm mùa xuân, Giai phẩm mùa thu. và bài "Lời mẹ dặn" đăng trên báo Văn số 21 ra ngày 27-9-1957.

Bài "Lời Mẹ Dặn" có thể nói là bài thơ tiêu biểu của Phùng Quán lúc bấy giờ. Đoạn kết như sau:

Người làm xiếc đi trên dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chìu
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt
được lưỡi tôi.
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
(Lời Mẹ Dặn - 1957)

Phùng Quán gọi Tố Hữu bằng cậu (mẹ Phùng Quán là em Tố Hữu, cách xưng hô ngoài Bắc gọi là bác). Thế mới biết cái học thuyết đấu tranh giai cấp (Lutte de classes) của ông Marx đưa vào áp dụng ở Việt Nam, đã làm mất đi cái ấm áp tình họ hàng huyết thống từ bao đời của người Việt Nam, nay đeo đôi kính giai cấp nhìn nhau một cách lạnh tanh chỉ thấy địch và ta hoặc ta và địch.

Còn có thể đưa ra nhiều dẫn chứng nữa về Lê Đạt, về Văn Cao, về Phùng Cung, về Chu Ngọc, về Trần Lê Văn...vv... nhưng thiết tưởng đã quá đủ để độc giả bình tĩnh ngày nay nhận ra cái sự thật, cái mạch ngầm của vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm, nó là sự đố kỵ tài năng vậy.


Phần Kết

Nói lại vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm sau 40 năm để làm gì bây giờ? Ông Tố Hữu đã thôi lãnh đạo văn nghệ từ lâu rồi. Trong không khí mở cửa và đổi mới hiện nay, không đến nỗi nghiệt ngã như thời bao cấp nữa. Cứ lấy những vấn đề báo chí và xuất bản phẩm ngày nay đề cập, thì thấy những việc mà Nhân Văn - Giai Phẩm nói đến chỉ là những bước đi đầu tiên.

Thời ông Tố Hữu, nhiều văn nghệ sĩ có tài đã từng bị hành hạ. Sau giải phóng miền Nam (1975) đã có bệnh chảy máu chất xám, nhiều trí thức đã phải bỏ nước ra đi. Bây giờ không loại trừ khả năng bệnh chảy máu tài năng, đã có những ca sĩ vượt biển, những cô văn công đi nước ngoài không về. Và năm nay cả một đoàn rối nước xin tỵ nạn.

Càng xem lại đường lối chỉ đạo với văn nghệ sĩ, chính sách đối xử với văn nghệ sĩ.

Hoàng Tiến.



.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Đọc lại Phùng Quán viết về Nguyễn Hữu Đang   Mon Dec 23, 2013 3:45 pm


Đọc lại Phùng Quán viết về Nguyễn Hữu Đang


Giới thiệu:

Nguyễn Hữu Đang là tên tuổi lớn, một nhân cách cực lớn. Ông tham gia phong trào yêu nước rất sớm, được cụ Hồ tin cậy giao cho việc chủ trì (trưởng ban) tổ chức lễ độc lập 2.9.1945 (cụ Hồ bảo "có khó mới giao cho chú"); một trong những người đứng đầu Nhân văn Giai phẩm, chịu mức án cao nhất khi đảng và nhà nước do ông góp phần xây dựng nên xử vụ án tai tiếng này. Suốt 15 năm ông bị đầy ải biệt giam ở nhà tù tuốt tận vùng núi cao Đồng Văn, Hà Giang (từ 1958 đến 1973) đến nỗi không hề biết miền Bắc có chiến tranh; rồi được thả mà không có tự do, bị đưa về quê Thái Bình quản thúc gần 20 năm trời. Ông mất tháng 2.2007 tại Hà Nội, tang lễ của ông cũng bị "người ta" làm khó dễ.

Nguyễn Hữu Đang là một tấn bi kịch thời đại, đầy rẫy oan khiên, nhưng cho đến giờ vẫn chưa có ai đứng đầu nhà nước này, đảng cầm quyền này nhận lỗi trước linh hồn ông (cũng như các ông Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Trần Dần...).

Cách nay vài năm, tôi có dịp trò chuyện với nhà văn lão thành Thái Vũ (tên thật Bùi Quang Đoài, thời ấy cụ là sinh viên, đệ tử của các thầy Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh) cũng bị lên bờ xuống ruộng khi "người ta" quy kết cho Thái Vũ tội tham gia Nhân văn giai phẩm. Ông Thái Vũ bảo các nhà văn bị xử lý oan sai đều sẵn lòng tha thứ cho chính quyền bởi họ là những tâm hồn độ lượng nhưng chính quyền này thì chưa biết bao giờ mới hết xóa bỏ hận thù.

Bài viết dưới đây của nhà văn Phùng Quán, một đàn em, người gần gũi với Nguyễn Hữu Đang, đủ cho chúng ta độ tin cậy về sự thật lịch sử, về con người Nguyễn Hữu Đang, chủ yếu trong thời gian ông bị quản thúc chặt chẽ ở quê nhà. Chúng ta chưa có tư liệu nào về thời gian Nguyễn Hữu Đang chịu án tại Hà Giang, ngoài một vài trang nhắc đến ông trong tập hồi ký Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn (cả hai tác giả đều từng được đảng ưu ái cho ăn cơm tù chốn Đồng Văn). Giam cầm một người tài giỏi như ông Nguyễn Hữu Đang suốt 15 năm để con người ấy không phát huy được gì phục vụ cho nhân dân, đất nước, đó là tội ác, cần phải lên án mạnh mẽ. Ai muốn biết thêm về Nguyễn Hữu Đang, có thể đọc thêm bản báo cáo của nhà văn Lê Hoài Nguyên, tức đại tá A25 Thái Kế Toại, người được coi là hiểu và đánh giá công bằng nhất về Nhân văn giai phẩm.

Bài của nhà văn Phùng Quán được đăng lần đầu trên Talawas năm 1993 sau khi báo Văn nghệ không chịu đăng.

(Nguyễn Thông, Sài Gòn, Vietnam)





Ngọn tre vật vã cuối trời đông

Phùng Quán

Anh Nguyễn Hữu Đang thì tôi được biết mặt từ mấy chục năm trước, nhưng rất ít khi được truyện trò với anh. Mỗi lần tôi được anh hỏi chuyện, tôi bối rối, sướng mê người, đâu không khiến mà chân cứ rút về thành tư thế đứng nghiêm, như ngày còn làm lính trinh sát mỗi khi được chính uỷ sư đoàn hỏi chuyện.

Tôi nghĩ bụng: Tôi là cái thá gì mà được một người như Nguyễn Hữu Đang hỏi chuyện? Nguyễn Hữu Đang, người đã tham gia cách mạng từ khi tôi còn chưa đẻ, nhà hoạt động công khai của Đảng cùng thời với Trường Chinh, Trần Huy Liệu, một trong những người lãnh đạo và chủ chốt của Hội truyền bá quốc ngữ cùng thời với Phan Thanh, cụ Nguyễn Văn Tố. Một trong những người sáng lập và tổ chức Hội Văn Hoá Cứu Quốc cùng với Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, người được cử đi dự đại hội Tân Trào và đứng tên trong danh sách Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời. Và cuối cùng là trưởng ban tổ chức ngày Đại Lễ của đất nước: 2-9-1945.

Cách đây khoảng 15 năm, anh từ cao nguyên Hà Giang trở về, tá túc tại quê nhà. Hàng năm vào dịp giáp tết lại thấy anh đảo lên Hà nội trên chiếc xe đạp thiếu nhi Liên xô. Anh mang đến cho mấy bạn cũ mỗi người một cân gạo nếp. Một lần tôi cũng được anh cho một cân. Tôi cảm động ngạc nhiên hỏi anh:

- Anh kiếm đâu ra gạo nếp cho chúng em thế?
Anh cười:
- Anh sống ở nông thôn cũng phong lưu ra phết. Không những có gạo nếp biếu bạn lại có cả thóc và rơm cho nông dân vay.
- Hiện nay anh đang làm gì ở đó?
- Anh nghiên cứu Lão Trang và dịch lại cuốn lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô qua bản tiếng Pháp. Đối chiếu, thấy bản dịch in sai nhiều quá.

Hai năm trở lại đây không thấy anh lên Hà nội nữa. Mấy anh em quen cũ chúng tôi hỏi nhau: “Không biết anh Đang có gặp chuyện gì trắc trở dưới đó?”. Nỗi lo lắng này thường xuyên ám ảnh tôi. Nhân thể muốn tìm hiểu về công trình Lễ Đài Độc Lập, năm đó tôi nhất quyết phải về quê thăm anh, mặc dầu đã gần giáp Tết.

Vừa đi tàu, vừa ô-tô xe đạp.
Sáng 26 tết tôi có mặt ở thị xã Thái Bình. Để đỡ bớt thì giờ tìm kiếm, tôi hỏi đường đến Sở Văn Hoá và Hội Văn Nghệ Tỉnh, hỏi địa chỉ của anh.

Tôi thực sự ngạc nhiên thấy nhiều anh chị em cán bộ ở hai cơ quan này không biết Nguyễn Hữu Đang là ai. Có vài người biết nhưng lại rất lơ mơ.

“Hình như ông ta ở Quỳnh Phụ, Kiến xương hay Tiền Hải gì đó...”
May tôi gặp được một nhà thơ trẻ. Khi biết rõ ý định của tôi, anh hăng hái nói: “Cháu sẽ đưa chú ra cái quán thịt chó nổi tiếng, ở đó thường có mấy anh cán bộ về hưu trạc tuổi chú lui tới hỏi thế nào cũng có người biết.” Tôi theo anh bạn thơ trẻ ra quán thịt chó, và phải cắn răng lại vì số tiền còm cõi trong túi, gọi một đĩa thịt luộc và hai chén rượu cho phải phép. Đợi chừng nửa tiếng, có một người đã đứng tuổi để chiếc xe “cúp”, trước cửa, đi vào quán. Nhà thơ trẻ đứng bật dậy, nói với tôi:

- Ông này ở cơ quan an ninh tỉnh, hỏi chắc ông biết.
Tôi vội níu tay anh lại, dặn nhỏ:
- Cậu nhớ đừng giới thiệu mình là ai, sẽ rách việc!
- Biết rồi, biết rồi, chú không phải dặn.
Anh bạn trẻ đi đến gặp ông ta, nói cái gì đó và chỉ tay về phía tôi. Anh cán bộ an ninh tươi cười bắt tay tôi, ngồi đối diện và tươi cười hỏi:
- Xin lỗi cụ, năm nay cụ hưởng thọ được bao nhiêu tuổi ạ?
Tôi đoán chắc anh ta thấy tôi ăn bận nhếch nhác: quần áo bà ba nâu, chân dép lốp, râu tóc bạc trắng, nên hỏi vậy. Tôi liền nói phứa lên:
- Cám ơn đồng chí - tôi cười - Cũng thất thập cổ lai hy rồi đồng chí ạ!
- Trước cụ có làm công tác ở đâu không ạ?
- Tôi làm thường trực cho một cơ quan thương nghiệp trên Hà nội... về hưu đã gần được chục năm rồi.
- Cụ là thế nào với ông Nguyễn Hữu Đang ạ?
- Tôi có quen biết gì với ông ta đâu. Thậm chí cũng chưa biết mặt. Chẳng là ở tổ hưu của tôi có một cụ nghe đâu hồi bí mật cùng hoạt động với ông ta. Biết tin tôi về thăm đứa cháu họ, công tác giáo viên ở Quỳnh Côi, ông cụ gần tôi đưa tôi mười ngàn bạc gửi biếu ông ấy mà giao hẹn phải đưa tận tay, tôi tưởng ông ấy ở thị xã, hỏi loanh quanh mãi không ai biết...
Anh cán bộ cười:
- Ông ấy đâu có ở thị xã. Hiện ông ấy đang ở thôn Trà Vy, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương, cách đây gần hai chục cây số. Ngược gió này mà cụ đạp xe về tới đó cũng vất vả đấy...
Thấy tôi chăm chú lắng nghe, anh cán bộ trở nên cởi mở:
- Nói để cụ biết, trước kia cái ông Đang ấy cũng là người hoạt động cách mạng có tên tuổi... Nhưng rồi ông ta giở chứng, làm báo làm văn chống đối Đảng và Nhà nước, bị xử phạt mười lăm năm tù ngồi, đưa lên giam trên trại tù ở Hà Giang. Mãn hạn tù, ông ta xin về cư trú tại quê quán. Tuy vậy ông ta vẫn thuộc diện đối tượng... Cách đây mấy năm, ông ta lén sang Nam Định không có giấy đi đường đến nhà một đối tượng mà công an đang theo dõi. Công an hai tỉnh liền phối hợp, hỏi giấy đi đường rồi bắt giam bốn tháng ở nhà lao hai tỉnh để cảnh cáo, và tổ chức khám nhà. Sau đó thả cho về...
Tôi tỏ ý sợ hãi, gãi đầu gãi tai:
- Chà... Biết rắc rối thế này thì tôi chẳng gặp ông ấy nữa... Đem tiền về trả lại thôi...
Anh cán bộ xuề xoà:
- Không sao đâu, cụ ạ, chính sách của ta bây giờ là đổi mới tư duy. Nghe đâu bây giờ ở trên cũng đang sửa soạn cho ông ấy được hưởng lương hưu. Nếu cụ muốn về thăm ông ấy, cứ việc về. Tôi chỉ đường cho cụ.

Anh cán bộ chấm ngón tay vào ly rượu, vẽ lên mặt bàn, chỉ vẽ cho tôi rất cặn kẽ con đường từ thị xã về chỗ anh Đang tá túc. Tôi đứng lên rối rít cảm ơn anh...

Con đường đá mười mấy cây số chi chít ổ gà. Gió cuối đông buốt như kim châm táp thẳng vào mặt. Nhưng vừa đạp xe tôi vừa nghĩ ngợi miên man về sự thăng trầm của những kiếp người tình nguyện dấn thân vì nghĩa lớn, nên con đường như cũng bớt xa... Đến chỗ ngã ba rẽ vào trường phổ thông cấp 1, 2 xã Vũ Công - nơi anh Đang tá túc - tôi vào cái quán bên đường, uống ly rượu cho ấm bụng. Ông cụ chủ quán khi biết tôi từ Hà nội về tìm thăm anh Đang, rót rượu mời tôi và nói:

- Ông ấy thỉnh thoảng vẫn ngang qua đây, tôi đều mời vào uống nước. Ông ấy tần tiện khét tiếng cái xã Vũ công này. Mới cách đây mấy hôm, ông ấy đèo sau xe cái giỏ tre ràng buộc rất kỹ. Ông ấy kể với tôi, tối qua bắt được con rắn gì dữ lắm, phun phì phì, bò vào nhà. Định làm thịt ăn nhưng tiếc, chở lên huyện bán cho một tay buôn rắn độc, kiếm lấy mấy nghìn mua mấy lạng mỡ lá.
Tôi phì cười:
- Ông ấy bây giờ lại thêm cái tài bắt rắn độc, mà mất công đạp xe mi-ni những mười mấy cây số để đồi lấy mấy lạng mỡ lá... Vui thật!
Tôi có người bạn làm thơ tên là Tuân Nguyễn, chết lâu rồi, làm câu thơ mới nghe thật vô nghĩa, nhưng cứ bất chợt lại hiện ra trong trí nhớ tôi: “Cuộc đời vui quá không... buồn được!”. Ông chủ quán rót thêm ly rượu nữa, giọng hào hiệp:
- Ly này tôi đãi cụ! Mà khổ, ông ấy có bán được đâu. Chiều tối ông ấy đạp xe về, phàn nàn: nó không chịu mua, nó bảo loại rắn này không nằm trong bộ Tam Xà!
Tôi cười ngất.

Anh Đang ở gian đâu hồi nhà bếp của khu tập thể giáo viên, trước mặt là ao cá Bác Hồ của xã. Đứng bên kia bờ ao, một cô giáo chỉ cho tôi:
- Bác ấy đang ngồi ở bậc cầu ao kia kìa! Đang cọ rửa cái gì mà chăm chú thế không biết...

Tôi dắt xe đạp qua sân trường, vòng ra gần sát sau lưng anh. Anh đang dùng nắm rơm cọ rửa những viên gạch vỡ đôi, xếp thành chồng cao cạnh chỗ ngồi. Tôi đứng lặng nhìn anh. Đầu anh đội cái mũ cối méo mó, khoác cái ruột áo bông thủng be bét, quần áo lao động mầu cháo lòng, hai ống chân ôm vòng hai dây cao su đen nom như hai vòng cùm sắt, chắc chắn để nhét hai ống quần vào đó chống rét, lưng anh khòng xuống hình chữ C viết nghiêng... Tôi chợt nhớ cách đây không lâu, tôi được nghe những người cùng thời với anh kể: Hồi mặt trận Bình dân, Nguyễn Hữu Đang là cán bộ được Đảng cử ra hoạt động công khai, ăn vận sang trọng như một công tử loại một của Hà Thành, thắt cà-vạt đỏ chói, đi khắp Trung Nam Bắc diễn thuyết, oai phong, hùng biện, tuyên truyền cách mạng... Mỗi lần cách mạng cần tiền để hoạt động, Nguyễn Hữu Đang có thể đến bất cứ một nhà tư sản Hà nội nào giàu có vay vàng, tiền. Mà những người này trao vàng, tiền cho anh đều không đòi hỏi một thứ giấy tờ gì, vì họ tin sâu sắc rằng trao vàng, tiền cho anh, là trao tận tay cho Cách mạng... Và bây giờ, anh ngồi đó, gần tám chục tuổi, không vợ không con, không còn không nhà, lưng khòng chữ C viết nghiêng, tỉ mỉ cọ rửa những viên gạch vỡ - Chẳng hiểu để làm gì - Như người bõ già trong chuyện Hương Cuội của Nguyễn Tuân cọ rửa những viên cuội trắng để tẩm kẹo mạch nha vào dịp tất niên... Miên man nghĩ vậy và tôi bật phì cười.

- Anh Đang!
Tôi nghẹn ngào gọi. Anh quay lại, chớp chớp mắt nhìn tôi rất lâu. Gương mặt già nua với mái tóc bạc húi cao, cằm mép lốm đốm những chân râu hạt vừng, vụt rạng rỡ hẳn lên. Anh cười để lộ hai hàm răng vàng xỉn, cùn mòn gần nửa vì năm tháng...
- Phùng Quán? Chú về đây từ lúc nào thế!

Hai anh em chúng tôi ôm chặt nhau giữa bậc cầu ao. Cả hai gương mặt già nua phút chốc đẫm lệ... Cái chái bếp căn hộ độc thân của anh rộng khoảng năm mét vuông, chất kín những tư trang, đồ đạc. Mấy cây sào ngọn tre gác dọc ngang sát mái, trên vắt cả chục cái khăn mặt rách xơ như giẻ lau bát, áo may ô thủng nát, quần lao động vá víu, cạp quần đeo lủng lẳng một chùm lục lạc vỏ hộp dầu cao su Sao vàng xuyên thủng, buộc dây thép, bên trong có hòn sỏi nhỏ. Đụng vào, chùm lục lạc kêu lên reng reng nghe rất vui tai.
Sau đó, tôi được anh giải thích tác dụng của chùm lục lạc. Đi lại trong đường làng những đêm tối trời, anh thường bị cánh thanh niên đi xe đạp, xe máy phóng ẩu đâm xầm vào, làm anh ngã trẹo tay, sầy gối. Học tập sáng kiến của đồng bào các dân tộc Việt Bắc, treo mõ vào cổ trâu - “Trâu gõ mõ, chó leo thang” - Anh Đang chế chùm lục lạc đeo vào cạp quần, báo hiệu có người để họ tránh xa. Tác dụng thứ hai quan trọng không kém... Mỗi lần đạp xe trên đường vắng, nghe tiếng lục lạc loong cong ngang thắt lưng, tự nhiên cảm thấy đỡ đơn độc... Chính giữa gian trái kê chiếc tủ gỗ tạp nhỏ, hai cánh mọt ruỗng không khép kín được, khoá một chiếc khoá lớn như chiếc khoá của nhà kho. Trên nóc tủ xếp một chồng mũ cối, mũ vải, mũ lá mà ở Hà nội người ta thường quẳng vào đống rác. Cạnh tủ là một cái giường cá nhân, bốn chân giường được củng cố thêm bốn chồng gạch. Trên giường một đống chăn bông trần rách thủng. Và một xấp quần áo cũ làm gối... Sát chân giường kê chiếc bàn xiêu vẹo chỉ có hai chân, hai chân kia được thay bằng hai sợi dây thép buộc treo vào tường. Mặt bàn lát bằng nan tre. Anh nói giọng Lão Trang:
- Một cái bàn bốn chân là một con vật. Khi nó chỉ còn lại hai chân nó là một con người.

Trên mặt bàn xếp kín những chai lọ, vỏ đồ hộp, hai cái đèn dầu làm bằng lọ mực Cửu Long, vài con dao làm bằng mẩu lưỡi liềm gẫy, và ba bốn cái bát hương, nắp đậy là những viên gạch vỡ. Anh chỉ nắp đậy, giới thiệu với giọng trang trọng của thuyết trình viên giới thiệu hiện vật trong các bảo tàng nghệ thuật:
- Nó là loại gạch nung rất già, gần đạt tới tiêu chuẩn của các sành sứ cổ. Sức nặng và độ bàn của nó làm cho tất cả các loại chuột, mối, gián phải kính nể.

Bây giờ thì tôi đã hiểu anh cọ rửa những viên gạch vỡ để làm gì.
Dưới bàn là mấy chục đôi dép cao su hư nát, đứt quai, được bó thành từng bó, hai cái vại muối dưa rạn nút, sứt miệng, một đống bản lề cửa, sắt vụn, đinh cong queo, mẩu giây thép han rỉ... Tất cả những đồ lề đó, phủ lên một lượt bụi tro...

Lúc tôi bước vào, gian buồng mờ mịt khói. anh giải thích:
- Giờ này các cô giáo nấu ăn. Bếp tập thể ở sát bên kia tường. Tôi đã trộn rơm với bùn trát những khe hở sát mái, nhưng khói vẫn cứ lọt sang - Anh cười - Chịu khó một chút nhưng cũng có cái lợi. Thỉnh thoảng lại được ngửi mùi xào nấu lẫn với khói, cái mũi được bồi dưỡng... Trong việc dở nào cũng có việc hay và ngược lại.
- Để em đạp xe ra chợ mua cái gì về ăn...
- Thôi khỏi cần, chú về chơi hôm nay là rất gặp may. Sáng nay tôi vừa chế biến được một mẻ thức ăn, ngon vô địch. Chú nếm rồi sẽ biết. Cơm cũng có sẵn rồi. Tôi nấu lúc sáng, ủ vào lồng ủ rơm, còn nóng nguyên. À, tôi lại có cả rượu cho chú, rượu cam xuất khấu hẳn hoi, quà của Hội nhà văn gửi biếu vào dịp tết năm ngoái... Tôi chỉ mới mời mấy thầy giáo mấy chén, còn đủ cho chú say sưa suốt mấy ngày ở chơi.

Anh xăng xái lấy chùm chìa khoá buộc chung với chùm lục lạc, mở khoá tủ tìm chai rượu. Tôi liếc mắt nhìn vào mấy ngăn tủ. Những xấp quần áo cũ nát để lẫn với những chồng báo, giấy má, sách vở ố vàng. Ngăn dưới cùng để rất nhiều chai lọ, vỏ đồ hộp, vỏ bia lon, và nhiều chồng các loại vỏ bao thuốc lá.

Anh lúi húi lục tìm một lúc khá lâu mới lôi được chai rượu cam còn già nửa.
- Đây rồi! Bây giờ già hoá lẩm cẩm. Để chỗ này lại tìm sang chỗ kia.
Tôi cười, nói:
- Nhìn anh, em cứ tưởng là một nhà quý tộc Nga thời Sa Hoàng, tự tay tìm chọn loại rượu quý cất giữ một trăm năm trong hầm rượu, để đãi khách quý.
Tôi chỉ những chồng vỏ bao thuốc lá, hỏi:
- Anh chơi sưu tập vỏ bao thuốc lá à? Thế mà em không biết. Trên nhà em, các bạn đến chơi, hút các loại thuốc lá ngoại hảo hạng, vỏ bao vất lung tung, vợ em ngày nào cũng phàn nàn vì phải dọn nhặt đem đốt.
Anh kêu lên:
- Thế có tiếc không. Lần này chú về trên đó nhớ dặn cô ấy, có vỏ bao thuốc lá ngoại cứ cất giữ cho anh Đang, càng nhiều càng tốt. Nó là hàng đối lưu của tôi đấy...
- Hàng đối lưu? Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Để tôi dọn cơm ăn rồi tôi giảng cho chú nghe thế nào là hàng đối lưu. Tôi xem ra chú mù tịt về môn kinh tế chính trị học.
Tôi ngắm nhìn bao quát căn nhà độc thân của anh, hỏi:
- Hơn mười lăm năm qua anh đã sống ở gian buồng này à?
- Ngày tôi mới về xã, tôi sống ở trại lợn của Hợp tác xã. Chẳng là cán bộ xã cũng thông cảm hoàn cảnh khó khăn của tôi, nên đề nghị ra đó trông coi giúp như nhân viên của trại. Ở đó có một gian nhà kho cũng thoáng mát, tôi có thể ăn ở, đọc sách, viết lách kết hợp với việc trông coi trại. Mỗi mùa hợp tác xã trả công điểm mấy chục cân thóc, mấy chục cân rơm làm chất đốt. Số thóc, rơm này tôi không phải dùng đến, trong mấy năm tiết kiệm được hai tạ ba thóc, hai trăm sáu chục cân rơm cho bà con vay. Ngoài ra, vào dịp tết Hợp tác xã bồi dưỡng thêm ít thóc nếp, đem lên Hà nội biếu các chú. Khi tôi bất tay vào dịch cuốn lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô, tiếng lợn kêu ầm ĩ quá làm tôi mất tập trung tư tưởng, nên phải xin thôi công việc trông coi trại, chuyển về đây để được yên tĩnh hơn.

Anh lôi dưới gầm giường ra một cái xô tôn thủng đáy đặt lên miệng xô miếng gỗ dán:
- Đây là bàn ăn - Anh giới thiệu, và vần tiếp ra hai cái vại muối dưa sứt miệng - còn đây là ghế ngồi. Bà con nông dân nghèo mà phí phạm thế đấy. Hai cái vại còn tốt thế này mà đem quẳng bụi tre... tôi nhặt về cọ rửa sạch sẽ lật đít lên, làm thành cái ghế ngồi vừa vững chãi lại vừa mát. Chú ngồi thử mà xem, có khác gì ngồi trên đôn sứ đời nhà Minh.

Anh dọn ra hai cái đĩa, rồi chọn trong hai cái bát hương đậy viên gạch vỡ gắp ra năm, sáu viên gì đó tròn tròn, đen xỉn, nom rất khả nghi. Anh chỉ vào mỗi đĩa, giới thiệu thực đơn đãi khách:
- Đây là chả thịt cóc băm viên. Đây là chả thịt nhái... Có cả mì chính, hạt tiêu nhá! Mười mấy năm nay nhờ bồi dưỡng thường xuyên hai thứ đặc sản này mà tôi rất khỏe, còn khỏe hơn cả chú.
Anh nhắc trong cái rổ phủ đầy rơm để ở góc nhà, xoong cơm đã ăn một góc mà anh giới thiệu vẫn nóng nguyên. Nói đúng hơn là một thứ cháo rất đặt, có thể xắn thành từng miếng như bánh đúc:
- Ba năm trở lại đây tôi phải ăn cơm nhão, nếu ăn cơm khô thì bị nghẹn. Tôi nấu cơm với nước vo gạo nên rất bổ. Chẳng là các cô giáo thường đổ phí nước vo gạo. Tôi đưa cho các cô cái chậu, dặn đổ nước vo gạo vào đấy cho tôi, để tôi chắt ra nấu lẫn với cơm. Tinh tuý của gạo nằm trong nước vo, bỏ đi thật phí phạm.
- Nhưng cóc nhái đâu ra mà anh bồi dưỡng được thường xuyên thế?- Tôi hỏi.
- Ấy, chỗ này mới là bí quyết. Phải huy động lực lượng quần chúng, tức là các cháu thiếu nhi. Biết các cháu ở đây thích chơi vỏ bao thuốc lá, nhất là các loại vỏ bao đẹp, mỗi lần lên thị xã hoặc sang Nam Định chơi, tôi nhặt nhạnh về, đổi cho các cháu lấy cóc nhái. Cũng có khi đổi một vỏ bao lấy ba con cóc hoặc năm con nhái, các loại khác hai cóc, ba nhái, bởi vậy tôi mới gọi là hàng đối lưu, chú hiểu chưa... Mỗi tháng tôi chỉ cần ba bốn chục cái vỏ bao thuốc lá là thừa chất đạm, mà là loại đạm cao cấp... Hôm nào chú về tôi gửi biếu cô, chú Cung, mỗi nhà mấy viên nếm thử. Cô chú ăn thịt cóc của tôi rồi sẽ thấy các thứ thịt khác đều nhạt hoét!

Anh rót rượu, chọn gắp viên chả cóc, nhái bỏ vào bát cho tôi, ân cần, âu yếm, trang trọng, làm tôi ứa nước mắt, anh hỏi:
- Chú đi đâu mà lại lặn lội về tận đây vào lúc tết nhất sắp đến nơi?
- Em về đây chỉ một mục đích là thăm anh. Hơn hai năm nay không thấy anh lên Hà nội, chúng em rất lo, không biết anh đau ốm gì, liệu anh có còn sống không? Vê đây thấy anh vẫn khoẻ mạnh, em rất mừng... Anh là nhân chứng của một quá khứ hào hùng của đất nước. Nếu anh chết đi, tàn lụi như cỏ cây, không nhắn gửi lại gì cho thế hệ sinh sau, theo em là một tổn thất không gì bù đắp được...
Tôi lấy anh xem một số tư liệu liên quan đến ngày Đại Lễ 2-9-1945, vừa sao chụp được:
- Từ lâu, em vẫn mơ ước viết một cái gì đó, một thiên trường ca chẳng hạn, về công trình Lễ Đài Độc Lập thật tráng lệ, thật hào hùng... Anh là trưởng ban tổ chức Ngày Độc Lập như trong tư liệu hiện còn lưu giữ được. Em muốn được tận tai nghe anh kể lại những kỷ niệm, những hồi ức mà anh cho là sâu sắc nhất... Mà nếu anh không dùng đến thì cho em xin...

Anh im lặng rất lâu, dùng đũa tém lại những mảnh vụn thịt cóc, nhái trong đĩa, gắp bỏ vào bát mình những mảnh khác rớt xuống mâm ván. Anh chăm chú nhìn vào cái đĩa đã tóm gọn, như đang gắng đọc những hồi ức in lại trong lớp men sành... Anh chợt nói, mắt vẫn không rời cái đĩa:
- Thấp thoáng thế mà đã bốn mươi bẩy năm trôi qua... - Anh chợt nói - Tôi còn nhớ như in hôm đó là ngày 28 tháng 8... Tại sao tôi nhớ, vì đó là thời khắc lịch sử phải được tính từng phút một... Năm đó, tôi bước vào cái tuổi băm ba. Chính phủ cách mạng lâm thời họp phiên cuối cùng tại Bắc Bộ Phủ để quyết định ngày lễ ra mắt quốc dân đồng bào... Tôi tính rất nhanh trong đầu: Tháng 8 có 31 ngày, như vậy chỉ còn có 4 ngày nữa thôi... Tôi suy nghĩ cân nhấc trong một phút, hình dung ra tất cả những khó khăn như núi mà tôi phải vượt qua để tổ chức được một ngày Đại Lễ như vậy, trong khi đó mình chỉ có hai bàn tay trắng...
- Ông Đang ơi! Ông Đang!... Tiếng con nít gọi nheo nhéo ngoài cửa, ngắt ngang câu chuyện của anh.

Tôi nhìn ra thấy hai chú bé trạc 9, 10 tuổi, mỗi chú cầm một cành tre, đầu cành tre thõng thượt một con rắn nước, mình nhỏ bằng chuôi dao, đầu bị đập dập còn nhỏ máu tươi.
- Ông có đổi rắn nước không ạ?
Anh Đang bỏ bát đũa ra cửa, xem xét cẩn thận hai con rắn nước. Rồi hỏi:
- Các cháu định đổi như thế nào?
- Ông cho cháu mỗi con hai cái vỏ bao ba số.
- Các chú đừng có giở thói bắt chẹt! - Giọng nói và thái độ của anh đã chuyển hẳn sang giọng của dịch vụ đổi chác - Mỗi con rắn này chỉ trị giá bằng hai con cóc. Nhưng thôi thì ông đành chịu thiệt vậy, mỗi con bằng một vỏ bao ba số, các chú có chịu đổi thì đổi, không đổi thì thôi!
Hai chú bé ngần ngừ một lúc, rồi nói:
- Chúng cháu đổi ạ!

Anh quay vào mở khoá tủ, chọn lấy ra hai cái vỏ bao ba số, đưa cho mỗi chú một chiếc, và cầm lấy hai con rắn. Hai chú bé cũng xem xét hai cái vỏ bao cẩn thận không kém ông Đang xem xét hai con rắn. Một chú nói:
- Ông đổi cho cháu cái vỏ bao khác, cái này bên trong không có tờ giấy vàng.
Anh cầm cái vỏ bao xem lại, cười:
- Được, ông sẽ đổi cho cái vỏ bao khác. Sau này chú mà làm cán bộ thu mua thì nhà nước không phải chịu thua thiệt.
Anh cầm hai con rắn bỏ vào cái rổ con ở góc nhà. Mặt tươi hẳn lên, như người buôn bán vừa vớ được món hời:
- Thịt rắn còn bổ hơn thịt cóc. Tối nay tôi sẽ đãi chú món rắn om riềng mẻ, ăn vào chú sẽ thấy tăng lực gấp đôi, có thể đạp xe một mạch lên đến bến phà Tân Đệ.

Tôi ở lại chơi với anh Đang ba ngày, thuê một anh phó nháy ở xã trên xuống chụp chơi mấy “pô” làm kỷ niệm. Bữa cơm tiễn tôi, anh có vẻ buồn. Vừa dùng đũa tém tém mấy khúc rắn om mặn chát nổi muối trong đĩa, anh vừa nói:
- Hiện tôi đang cố gắng hoàn thành thiên hồi ký, thuật lại tất cả những gì có liên quan đến thế sự, kể từ khi tôi bước chân vào con đường hoạt động cách mạng cho đến những năm tháng gần đây... Trong hồi ký, tôi sẽ đề cập đến những việc mà từ trước đến nay tôi chưa hề tiết lộ với ai. Ví dụ như bản thảo tuyên ngôn của ông Hồ viết... Còn hay mất, nếu còn thì bây giờ ở đâu. Hoặc ông định sửa hai câu trong bản tuyên ngôn, nhưng không kịp vì bản chính đã đưa đi in mất rồi. Là trưởng ban tổ chức ngày lễ, tôi phải phụ trách in ấn những tài liệu có liên quan đến vận mệnh của đất nước này... Như chú biết đấy, hiện nay trong bảo tàng Hồ Chí Minh cũng như bảo tàng Lịch sử, không có bản Tuyên ngôn Độc lập... Tôi sợ sẽ làm không kịp mất, gần tám chục tuổi đâu rồi còn gì, mà lại không có điều kiện làm việc, ban đêm coi như chịu chết, đèn đóm tù mù, đúng là đóm thật...

Anh im lặng một lúc lâu rồi ngẩng lên nhìn tôi, nói tiếp:
- Chú có biết điều lo lắng nhất của tôi hiện nay là gì không? - Không đợi tôi đoán, anh nói luôn - Tôi lo nhất là không biết chết ở đâu. Lúc sống thì tôi ở nhờ nhà ai mà chẳng được ở đây cũng như ở trên Hà nội... Những lúc chết thì người thân mấy cũng làm phiền người ta. Có ai muốn một người không phải ruột rà máu mủ chết ở nhà mình? Ngay cả cái chái bếp này cũng vậy, tôi nằm chết sẽ làm phiền nhà trường, các thầy cô giáo, các cháu học sinh. Bởi vậy mà hai năm nay tôi không muốn lên Hà nội. Ở đây, tại quê hương bản quán, tôi đã chọn sẵn chỗ để nằm chết... Chú ra đây tôi chỉ cho, đứng ở đây cũng nhìn thấy...

Tôi theo anh ra đứng lên cái trụ xi măng cầu ao cá. Gió mùa Đông Bắc lạnh thấu xương thổi thốc vào mặt hai anh em. Anh chỉ tay về phía một bụi tre gần cuối xóm, đơn độc giữa cánh đồng, ngọn tre đang vật vã trong gió buốt:
- Đấy, dưới chân bụi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ đầy lá tre rụng, rất vừa người tôi... Tôi sẽ nằm ở đó chết để khỏi phải phiền ai... Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó trước khi nhắm mắt xuôi tay...

Trở vào nhà, cả người tôi nổi gai, ớn lạnh, chắc là vì bị cảm lạnh. Tôi dốc hết rượu ra bát uống ực một hơi chống lạnh. Rượu vào lời ra, tôi cất giọng ngâm to mấy câu thơ của Phùng Cung mang về tặng anh:

Mắt già rộng chớ
Rắc mãi phong lưu
Góp nhặt đem về thúng cũ
Quỳ dưới chân quê
Trăm sự cúi đầu
Xin quê rộng lượng
Chút thổ phần
bò xéo
cuối thôn...!

Phùng Quán - Tháng 12, 1992



Bức ảnh này nhà báo Xuân Ba vừa gửi cho, trong đó gồm ảnh: nhà văn Phùng Quán (đứng), nhà văn hóa Nguyễn Hữu Đang (ngồi) trong buổi Phùng tiên sinh tổ chức mừng thọ 80 cho bác Đang năm 1992 tại nhà Phùng, phần bút tích bác Quán tặng Xuân Ba, và chính bác ấy chép lại bài thơ viết về Nguyễn Hữu Đang.
Về Đầu Trang Go down
donguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ án "Nhân Văn Giai phẩm"   Thu Feb 06, 2014 1:37 pm


TỘI ÁC CỘNG SẢN, HỒ CHÍ MINH, TỐ HỮU
 TRONG VỤ ÁN NHÂN VĂN GIAI PHẨM


.
Về Đầu Trang Go down
tnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ án "Nhân Văn Giai phẩm"   Mon Feb 10, 2014 11:28 am


BBC - Nhân Văn Giai Phẩm


.
Về Đầu Trang Go down
vandinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ án "Nhân Văn Giai phẩm"   Mon Feb 10, 2014 3:31 pm


Nhân Văn Giai Phẩm và Truyền thống tranh đấu cho tự do dân chủ



Chương trình Nói chuyện với Ngô Nhân Dụng
Đinh Sinh Long phỏng vấn
Kỹ thuật: Quang H Nguyen
.
Về Đầu Trang Go down
VNguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ án "Nhân Văn Giai phẩm"   Sun Jul 20, 2014 4:01 am


Nghi án sáu chục năm





Trần Gia Phụng (Danlambao) - Cách đây sáu chục năm, trước khi Việt Minh cộng sản tiếp thu Hà Nội (10-10-1954), tại thành phố nầy xảy ra vụ án mạng ông Đỗ Đình Đạo, một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, mà cho đến nay chưa biết ai là thủ phạm, nhưng lại ảnh hưởng lâu dài đến cuộc đời của nữ văn sĩ Thụy An.

1. Nữ văn sĩ Thụy An


Bà Thụy An tên thật là Lưu Thị Yến, sinh ngày 24 tháng 8 năm bính thìn (21-9-1916), con gái đầu của ông Lưu Tiến Ích và bà Phùng Thị Tôn, người làng Hòa Xá, huyện Ứng Hòa, Hà Đông. Bà từ trần tại Sài Gòn ngày 7 tháng 5 năm kỷ tỵ (10-6-1989), thọ 74 tuổi (tuổi ta), pháp danh Nguyên Quy. (Theo tộc phả Bùi tộc Châu Cầu, Phủ Lý, Hà Nam.)

Năm 1934, lúc 18 tuổi, bà kết hôn với ông Bùi Nhung (1907-1987). Bùi Nhung là con cụ Bùi Thức (tiến sĩ Nho học), người Châu Cầu, Phủ Lý, Hà Nam, và là em ông Bùi Kỷ (phó bảng Nho học), và cũng là em bà Bùi Thị Tuất tức bà Trần Trọng Kim. Hai ông bà Bùi Nhung-Thụy An có sáu người con là Bùi An Dương, Bùi Thụy Băng, Bùi Thu Linh (nữ), Bùi Dương Chi, Bùi Ngọc Trinh (nữ) và Bùi Châu Công.

Sau khi sinh người con út, Thụy An sống ly thân với Bùi Nhung, nhưng không ly dị. Lý do vì lúc đó, Bùi Nhung liên hệ tình cảm với bà Lưu Thị Trạch, tên thường gọi là Việt. Bà Trạch hay Việt là em ruột bà Thụy An, nên Thụy An im lặng rút lui, nhường chồng cho em.

Bùi Nhung là nhà văn, nhà giáo, bút hiệu Băng Dương, đã từng làm giám đốc Đài phát thanh Hà Nội năm 1948-1949 và sau đó 1951-1954. Bùi Nhung còn làm giám đốc đài phát thanh Hải Phòng năm 1954, trong thời gian 300 ngày trước khi Hải Phòng bị Việt Minh tiếp thu. (Việt Minh tiếp thu Hải Phòng ngày 13-5-1955.) Trong thời gian nầy, xảy ra vụ án mạng Đỗ Đình Đạo ngày 29-7-1954. Bà Thụy An bị nghi ngờ và bị bắt giữ ở nhà ga xe hỏa gần Hải Phòng. Bùi Nhung biết được, đã đến thăm bà Thụy An.

Bà Thụy An là nữ tiểu thuyết gia duy nhất có tên trong bộ sách Nhà văn hiện đại do Vũ Ngọc Phan biên soạn. Bộ sách nầy gồm 4 quyển, do Tủ sách Tao Đàn, Nxb. Tân Dân ấn hành tại Hà Nội từ năm 1942 đến năm 1945, đánh số trang liên tục, trong đó quyển tư viết về các tiểu thuyết gia. Bộ sách nầy về sau được tái bản nhiều lần. Vũ Ngọc Phan cho rằng tiểu thuyết Một linh hồn (xuất bản 1943) của bà Thụy An là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam trước năm 1945.

Ngoài tài làm thơ và viết tiểu thuyết, bà Thụy An còn làm báo, viết phóng sư. Sau khi kết hôn, Thụy An cùng chồng vào Sài Gòn lập ra tuần báo Đàn Bà Mới. Bùi Nhung làm giám đốc chính trị (directeur politique), còn Thụy An làm giám đốc kiêm chủ bút (directrice et rédactrice-en-chef).

Tại Sài Gòn, lúc đầu báo quán Đàn Bà Mới nằm trên đường Leman. (Đường Leman về sau là đường Cao Bá Nhạ, quận 1.) Sau đó, báo quán đổi qua số 43 đường Galliéni. (Đường Galliéni về sau đổi thành đường Trần Hưng Đạo.) Báo Đàn Bà Mới xuất bản hàng tuần vào ngày Thứ Bảy, ra số đầu tiên (số 1) ngày Thứ Bảy 1-12-1934. Khi đổi trụ sở qua đườngGalliéni, Đàn Bà Mới cũng đổi ngày ra là Thứ Hai hằng tuần. Số cuối cùng (số 95) ra ngày Thứ Sáu 4-6-1937.



Năm 1938, bà Thụy An ra Hà Nội, xuất bản tuần báo Đàn Bà, phát hành vào ngày Thứ Sáu hàng tuần, số đầu ra ngày 16-2-1938 và số cuối vào tháng 4-1939. Tòa soạn tuần báo Đàn Bà đặt trên đường Wiélé. (Đường nầy về sau đổi thành đường Tô Hiến Thành.)



Theo bà Bùi Ngọc Trinh, con gái của bà Thụy An, thì Thụy An từng làm Giám đốc Vietnam Press, nhưng theo người cháu của bà Thụy An thì ông biết chắc chắn Thụy An có làm việc cho Vietnam Press, nhưng không rõ chức vụ. (Nói chuyện với ông Quyền tại San Jose ngày 8-7-2014.)

Cũng theo nguồn tin trong gia đình, thì vào năm 1951, Thụy An đưa bốn trong sáu người con, vào sinh sống ở Sài Gòn. Đó là An Dương, Thu Linh, Ngọc Trinh và Châu Công. Hai người còn lại là Thụy Băng và Dương Chi sống với ông Bùi Nhung và bà vợ sau của ông Nhung.

Không được biết do tình trạng gia đình, hay do công việc, Thụy An lúc nầy hay ra vào Sài Gòn - Hà Nội. Theo lời kể của Bùi Thụy Băng, con trai bà Thụy An, thì khoảng nửa tháng trước khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội, Thụy An từ Sài Gòn ra Hà Nội. (Thụy Khuê, Nhân văn Giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, Virginia: Nxb. Tiếng Quê Hương, 2012, tr. 179.) Tuy nhiên, Việt Minh tiếp thu Hà Nội ngày 10-10-1954. Nếu nửa tháng trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội tức khoảng cuối tháng 9. Trong khi đó, Đỗ Đình Đạo chết ngày 29-7-1954. Lúc đó, Thụy An đã có mặt tại Hà Nội. Vậy Thụy An phải ra Hà Nội trước ngày nầy. Nếu trước nửa tháng thì có thể trước ngày ký kết hiệp định Genève 20-7-1954. Đây là chuyến đi cuối cùng của Thụy An vì sau đó bà mắc nạn và ở lại đất Bắc.

Văn nghiệp bà Thụy An khá phong phú. Bà có thơ đăng trên tạp chí Nam Phong năm 13 tuổi (1929). Bà làm nhiều thơ nhưng không in thành tập. Về tiểu thuyết, ngoài truyện dài Một linh hồn, bà xuất bản hai tập truyện ngắn là Vợ chồng (25 câu chuyện về hạnh phúc gia đình) và Bốn mớ tóc. Bìa sau của tập truyện ngắn Bốn mớ tóc có in dòng quảng cáo: Đón đọc Nhà lãnh tụ, là sách bà Thụy An dự tính sẽ viết về Đỗ Đình Đạo.

Thụy An còn nhiều tác phẩm viết sau năm 1954 ở Bắc Việt Nam và cả trong thời gian ở tù vì vụ Nhân văn Giai phẩm, chưa được ấn hành. Dầu bị xáo trộn trong gia đình, Thụy An vẫn tiếp tục hoạt động báo chí, sáng tác văn thơ, nhưng bất ngờ bà bị mắc nạn vào nghi án về cái chết của người bạn gia đình là Đỗ Đình Đạo.

2. Đỗ Đình Đạo bị đột tử

Đỗ Đình Đạo sinh ngày 17-7-1911 tại Hà Nội, là con của cụ Đỗ Đình Tiến (bị Việt Minh giết) và cháu nội của Đô thống Đỗ Đình Thuật. Ông gia nhập Đại Việt Dân Chính Đảng do Nguyễn Tường Tam thành lập năm 1938, rồi gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Năm 1952, thủ tướng chính phủ Quốc Gia Việt Nam là Nguyễn Văn Tâm giao cho Đỗ Đình Đạo chỉ huy Đoàn Quân Thứ Lưu Động (Groupe Administratif Mobile en Opération viết tắt là GAMO) ở Bắc Việt. Trước hiệp định Genève, Việt Nam chưa bị chia hai, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ ngày 7-7-1954. Hai ngày sau (7-7-1954), ông Diệm bổ nhiệm Hoàng Cơ Bình làm đại biểu chính phủ tại Bắc Việt kiêm chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ Bắc Việt. Uỷ ban nầy còn có Trần Trung Dung làm uỷ viên dân sự và thiếu tướng Nguyễn Văn Vận làm uỷ viên quân sự, chính thức hoạt động ngày 12-7-1954. Hoàng Cơ Bình mời Đỗ Đình Đạo vào Uỷ ban Bảo vệ Bắc Việt, có thể vì ông Đạo đang chỉ huy binh đoàn GAMO, nắm trong tay lực lượng quân sự.

Những người lúc đó ở Hà Nội cũng như ở Hải Phòng, chuẩn bị di cư vào Nam, cho biết là đã được tin Đỗ Đình Đạo bị ám hại vào cuối tháng 7-1954. Trong sách Việt Nam Quốc Dân Đảng, tác giả Hoàng Văn Đào xác định Đỗ Đình Đạo đột ngột từ trần tại nhà số 1 đường Tuyên Quang, Hà Nội tối 29-7-1954. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ II, Sài Gòn: 1970, tr. 489.)

Đường Tuyên Quang về sau đổi thành đường Cao Bá Quát. Ngôi nhà nầy là nhà của bà Thụy An. Lúc đó, Hà Nội vẫn còn thuộc chính quyền Quốc Gia Việt Nam. Nhà đương cuộc tìm thấy Đỗ Đình Đạo bị đột tử một mình trong nhà bà Thụy An, nên truy tìm bà để mở cuộc điều tra và chận bắt bà tại ga xe lửa nhỏ gần Hải Dương.

Được tin nầy, báo chí Hà Nội liền chạy những bài phóng sự về cái chết của Đỗ Đình Đạo, có tựa đề nóng bỏng, giật gân, nhằm hấp dẫn độc giả: Vụ án vì TÌNH, TIỀN HAY CHÍNH TRỊ? Báo chí còn cho biết bản khám nghiệm pháp y tử thi Đỗ Đình Đạo do bác sĩ Phán ký tên, kết luận rằng ông Đạo bị chết vì chất độc cyanure de mercure. (Theo lời người con ông Đạo.)

Khi Đỗ Đình Đạo bất ngờ từ trần, bà Đỗ Đình Đạo cùng 12 người con đang sinh sống ở Sài Gòn. Được hung tin, bà Đạo ngất xỉu, đau yếu. Chị của ông Đạo cùng người con gái đầu của ông Đạo, lúc đó 22 tuổi, từ Sài Gòn ra Hà Nội, lo việc tang ma cho nạn nhân.

Dựa vào những bài phóng sự trên báo chí, nhiều câu chuyện chung quanh cái chết của Đỗ Đình Đạo được bàn tán, nhất là mối liên hệ giữa Đỗ Đình Đạo với người chủ nhà là Thụy An.

3. Liên hệ giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo


Để thấy rõ mối liênn hệ giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo, trước hết cần chú ý là Đỗ Đình Đạo không phải chỉ là bạn của Thụy An, mà còn là bạn với cả Bùi Nhung, chồng bà Thụy An.

Về phía Thụy An, tuy sống ly thân với Bùi Nhung, nhưng bà không ly dị chồng. Thụy An đã im lặng hy sinh hạnh phúc của mình cho em ruột mình, và vẫn còn thương yêu chồng con nên không đoạn tuyệt chồng mà bà chỉ tự ý sống ly thân, chứ không phải bà ly thân vì phán quyết của tòa án. Đây là sự hy sinh mà ít phụ nữ có thể chịu đựng được.

Về phía Đỗ Đình Đạo, ông là một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, chỉ huy một binh đoàn lớn. Ông giao thiệp rộng, và ông cũng là bạn của Bùi Nhung. Ông không thể tự mình làm hại đến tình bạn và cũng là tình đồng chí với Bùi Nhung. Chắc chắn Đỗ Đình Đạo không dại gì có mối liên hệ bất chính với Thụy An để bị mang tai tiếng, mất bạn bè, mất đồng chí, còn bị giới chính trị, dân chúng và ngay cả binh đoàn GAMO, chê cười, khinh dễ mình, làm suy giảm niềm tin của mọi người.

Đỗ Đình Đạo có vợ và 12 người con. Người con đầu sinh năm 1932 và người con út sinh năm 1954, ngay trước khi Đỗ Đình Đạo qua đời. Đỗ Đình Đạo chăm sóc gia đình, vợ con rất chu đáo. Gia đình ông hạnh phúc. Các con ông Đạo xác nhận ông Đạo là chỗ thân tình với hai ông bà Bùi Nhung và Thụy An, chứ ông không phải là tình nhân của Thụy An.

Trong gia đình Bùi Nhung, người cháu của Bùi Nhung cho biết rằng Thụy An và Bùi Nhung đều là bạn của Đỗ Đình Đạo.Vảo đầu năm 1954, người cháu nầy sống trong nhà của Bùi Nhung ở Ngõ Nhà Đo (Hà Nội). Người nầy thấy Đỗ Đình Đạo thỉnh thoảng đến nhà Bùi Nhung, nhưng để theo dõi tin tức thời sự hơn là chuyện tình cảm. Người nầy khá kính trọng Đỗ Đình Đạo, cũng đã từng gặp gỡ riêng tư và có một lần đi xem hát giải trí ở Hà Nội với Đỗ Đình Đạo.

Như thế, trong thực tế, không hề có liên hệ tình cảm nam nữ giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo. Cũng trong thực tế, những hoạt động cá nhân của hai bên cho thấy đây là mối liên hệ bạn bè và nhất là chính trị lúc bấy giờ. Các con cháu trong gia đình của cả hai bên, lúc đó đã khôn lớn, có người học lớp Đệ tứ (lúc đó học lớp đệ tứ tức lớp 9 là khá lớn tuổi), có người học năm cuối bậc trung học (chuẩn bị thi tú tài), biết quan sát, cũng chẳng thấy có dấu hiệu tình cảm gì giữa hai bên. (Người viết hỏi chuyện riêng biệt con cháu hai bên.)

Ngang đây vấn đề liên hệ bạn bè giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo đã khá rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “quan hệ vợ chồng”(?) như Việt Minh cộng sản tuyên tuyền khi kết án Thụy An và một số sách báo sau nầy viết lại.

4. Nghi án vụ Đỗ Đình Đạo bị đột tử?

Có một câu hỏi mà chắc chắn nhiều người đặt ra là tại sao Đỗ Đình Đạo bị đột tử tối 29-7-1954 tại nhà Thụy An? Lúc đó, Thụy An vừa từ Sài Gòn ra Hà Nội vì mục đích là để kiếm cách cứu Bùi Việt Quốc là con của Bùi Nhung với người vợ sau là Lưu Thị Trạch, em gái bà Thụy An. Bùi Nhung đang làm giám đốc Đài phát Hà Nội. Bùi Việt Quốc bị Việt Minh bắt cóc để áp lực Bùi Nhung không được di chuyển đài Phát thanh Hà Nội xuống Hải Phòng để tiếp tục tiếng nói của chính phủ Quốc Gia Việt Nam trước khi cộng sản tiếp thu Hải Phòng (13-5-1955), rồi mang vào Nam Việt Nam. Ngoài ra, Thụy An còn ra Hà Nội nhằm thông báo cho Đỗ Đình Đạo một số tin tức và diễn tiến chính trị ở Sài Gòn.

Khi Đỗ Đình Đạo bị đột tử trong nhà bà Thụy An, thì thủ tục đầu tiên chính quyền Hà Nội, thuộc chính phủ Quốc Gia Việt Nam, phải tìm chủ nhà để mở cuộc điều tra. Chủ nhà chính là bà Thụy An. Vụ án mới chỉ bắt đầu tiến hành, cuộc điều tra chưa kết thúc, chưa đưa ra xét xử trước tòa án. Đây mới chỉ là nghi án, chưa có kết luận gì cả, nhưng do đề tài báo chí TÌNH, TIỀN HAY CHÍNH TRỊ, nên nhiều dư luận đồn đoán lan truyền.

Một trong những lời đồn đoán quan trọng là người ta nghi ngờ phải chăng Thụy An làm việc cho Việt Minh cộng sản, nên nhận lệnh giết Đỗ Đình Đạo là một lãnh tụ quốc gia? Tuy nhiên, nếu Thụy An theo lệnh của Việt Minh giết Đỗ Đình Đạo, thì sau khi hành động, Thụy An phải tìm đường trốn vào mật khu của Việt Minh để được an toàn. Lúc đó Việt Minh đang bao vây Hà Nội và chờ đợi ngày tiếp thu. Đàng nầy, không có chuyện Thụy An trốn theo Việt Minh.

Ngoài ra, cuộc sống của Thụy An trước cũng như sau khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội (10-10-1954), cho thấy rằng trước sau Thụy An chẳng liên lạc gì với Việt Minh, cũng không cộng tác với Việt Minh. Chẳng những thế, Việt Minh còn trù dập và vu cáo Thụy An làm gián điệp cho Pháp trong vụ án Nhân văn Giai phẩm năm 1960.

Sau nầy, chính Thụy An cũng thổ lộ là bà không biết ai giết Đỗ Đình Đạo? Cần chú ý thêm là khi xuất bản tập truyện ngắn Bốn mớ tóc, Thụy An cho in trên bìa sau sách nầy dòng quảng cáo: Đón đọc Nhà lãnh tụ, là sách bà Thụy An dự tính sẽ viết để ca tụng Đỗ Đình Đạo. Như thế, xét cho cùng, nếu không giúp đỡ Đỗ Đình Đạo, người bạn của gia đình, thì Thụy An chẳng có lý do gì để đầu độc Đỗ Đình Đạo. Bà giết ông Đạo để làm gì? Chẳng vì tình, cũng chẳng vì tiền, mà cũng chẳng vì tranh chấp chính trị?

Thực tế, dư luận chung lúc đó cho rằng chính Việt Minh đã ám sát Đỗ Đình Đạo. Việt Minh vốn chủ trương giết tiềm lực, tiêu diệt tất cả những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, có khả năng đối kháng với Việt Minh. Từ năm 1945, nhiều lãnh tụ quốc gia bị Việt Minh thanh toán mà không vết tích như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Trương Tử Anh, Nguyễn Hữu Thanh (Lý Đông A), Nhượng Tống…

5. Thụy An bỏ trốn

Theo lời bà Thụy An sau nầy kể lại cho người cháu của ông Bùi Nhung, thì ngày 29-7-1954, Đỗ Đình Đạo mượn nhà Thụy An để tổ chức hội họp. Tin trong gia đình bà Thụy An cho biết hôm đó là một cuộc họp chính trị, có người không muốn dùng công sở của chính phủ, cũng không muốn thuê các nhà hàng hay khách sạn vì sợ lộ bí mật, nên ông Đạo mới mượn nhà bà Thụy An để tổ chức hội nghị, tức địa điểm trung lập. (Nói chuyện với ông Q., cháu Bùi Nhung ngày 8-7-2014.)

Cũng tin trong gia đình, Đỗ Đình Đạo bị đột tử tối 29-7-1954, thì sáng ngày hôm sau, Thụy An về nhà. Bà thấy Đỗ Đình Đạo đã chết, nằm ngay ngắn, trên bàn có một bát (tô) miến, mà về sau nhà đương cuộc Hà Nội nói là có chất độc. Bà Thụy An không biết ai đã giết Đỗ Đình Đạo, hay Đỗ Đình Đạo tự sát, nhưng trước tình trạng nầy, bà hoảng sợ bỏ trốn.

Trên chuyến tàu hỏa từ Hà Nội đi Hải Phòng, Thụy An bị bắt tại một nhà ga nhỏ cuối cùng trước khi đến Hải Phòng, và bị tạm giữ ngay tại đó, trong một căn phòng, bên ngoài do một người da đen, bận thường phục canh gác. Vì vậy Thụy An không biết cơ quan nào đã bắt mình: Phòng nhì Pháp, hay sở Liêm phóng (Công an), hoặc Cảnh sát?

Được tin vợ bị bắt, Bùi Nhung liền tìm đến thăm. Ông Nhung nói với vợ đại ý rằng ông không đủ thế lực và khả năng để bảo lãnh Thụy An ra khỏi tù. Bà hãy đợi xem tình hình, rồi sẽ liệu định sau. Thụy An liền nhờ Bùi Nhung mua giúp cho bà một chai rượu Tây (Pháp), để bà tặng cho người canh gác, nhằm nhờ ông ta giúp đỡ khi có việc cần. Bùi Nhung làm theo lời vợ yêu cầu. Bà Thụy An tặng chai rượu cho người canh gác. Tối hôm đó, người da đen canh gác uống rượu say. Bà Thụy An lợi dụng cơ hội bỏ trốn. (Toàn bộ câu chuyện về cái chết ông Đạo và bà Thụy An bị bắt, bỏ trốn theo lời bà Thụy An kể lại cho người cháu tên là Q. năm 1988. Ông Q. nói chuyện với người viết tại San Jose ngày 8-7-2014.)

Thụy An kể rằng khi người tây đen đang say sưa, bà xin đi nhà vệ sinh (cầu tiêu), rồi chui xuống lổ hầm nhà vệ sinh và bỏ trốn ra ngoài. Bà đến nhà một người bạn gần đó tắm rửa và thay áo quần, rồi theo xe hỏa trở ngược về Hà Nội.

Thời bấy giờ, loại cầu tiêu phổ thông là cầu tiêu đổ thùng. Cầu tiêu xây cao, phía dưới là một hầm cầu, xây kín 3 phía, còn chừa một phía làm cửa. Trong hầm cầu đặt một cái thùng để đựng chất uế thải. Mỗi tối hay sáng sớm, một người phu đổ thùng đến mở cửa, thay thùng cũ, đặt một thùng khác thế vào. Vì không dội nước, nên cái lỗ cầu thường rộng để khỏi bị dính khi đi cầu. Nhờ vậy, Thụy An mới chui xuống được hầm cầu để bỏ trốn.

Khi chính quyền Quốc Gia Việt Nam di chuyển vào Nam sau hiệp định Genève, hồ sơ vụ việc Đỗ Đình Đạo và Thụy An được Tòa thượng thẩm Hà Nội chuyển vào Tòa thượng thẩm Huế. Trong hồ sơ nầy, đến đoạn Thụy An bỏ trốn, thì người ta ghi rằng bà Thụy An trổ nóc cầu tiêu để thoát thân. (Theo lời kể của ông M. Đ.N. tức giáo sư Nguyễn Hữu Thứ, chánh án Tòa thượng thẩm Huế. Giáo sư Thứ kể cho người viết là ông đã tận mắt đọc lại hồ sơ nầy.)

Như thế là hai nguồn tin riêng biệt (tòa án và Thụy An) đều cho biết rằng Thụy An bỏ trốn sau khi vào cầu tiêu. Chỉ khác nhau là phía tòa án cho rằng Thụy An trổ nóc nhà cầu mà ra, còn Thụy An tự kể là đã chui xuống hầm cầu trốn đi. Thực ra sức vóc phụ nữ thì khó có thể trổ nóc để thoát thân và trước viễn cảnh bị giam cầm, Thụy An phải chấp nhận chui hầm cầu dầu thiếu vệ sinh và hôi hám để bỏ trốn.

Do bị chính quyền Quốc Gia Việt Nam truy nã, Thụy An lo ngại, không dám di cư vào Nam Việt Nam mà đành phải ở lại Bắc Việt Nam, trong khi Bùi Nhung và con cái đều vào Nam. Sau đó, tại Bắc Việt Nam, Thụy An lại bị liên hệ vào một vụ án khác. (Vào Nam Việt Nam, Bùi Nhung xuất bản năm 1965 tập hồi ký Thối nát, về giai đoạn 1945-1954.)

6. Thụy An và vụ án Nhân Văn Giai Phẩm

Sau năm 1954, tại Bắc Việt Nam nhà văn lão thành Phan Khôi chia giới văn nghệ sĩ Hà Nội thành hai thành phần rõ rệt: 1) Nhóm “lãnh đạo văn nghệ” hay những “ông quan văn nghệ”, viết văn theo lệnh của đảng Lao Động (LĐ tức đảng Cộng Sản), được đảng LĐ tin cậy, giao nhiệm vụ chỉ huy, đứng đầu là Tố Hữu. 2) Nhóm “quần chúng văn nghệ” là những thành phần còn lại, yêu tự do dân chủ, không muốn gò bó trong giáo điều và sự quản lý của “lãnh đạo văn nghệ.” Nhóm thứ hai đông đảo hơn, vận động cởi trói văn nghệ. Cao điểm của cuộc vận động là các báo Giai Phẩm vàNhân Văn xuất hiện năm 1956.

Đảng LĐ liền trấn áp, tổ chức học tập, bắt bớ, tù đày những văn nghệ sĩ phản kháng. Thế nhưng vẫn chưa đủ. Thụy An không tham gia và không viết bài cho cả hai báo Giai Phẩm và Nhân Văn, vẫn bị bắt giam tại ngục thất Hỏa lò Hà Nội vì bị cộng sản cho rằng bà tác động mạnh đến hai nhóm nầy. Khi viên công an cộng sản hỏi cung, y nói với bà Thụy An rằng: "Chị có mù đâu mà không thấy chế độ tốt đẹp ra sao, lại không giác ngộ và mất tin tưởng ở chế độ, trong đầu chứa chấp toàn ý tưởng phản động.” Trở về lại phòng giam, Thụy An tự chọc mù một mắt. Cán bộ trai giam hỏi Thụy An lý do vì sao tự chọc mù một mắt, bà trả lời: "Chế độ của các anh nhìn một mắt cũng đã thấy quá nhiều cái xấu xa chịu không nổi rồi, để cả hai mắt chắc tôi không sống nổi." (Thụy An kể chuyện cho người cháu là ông Q.) Đúng là đàn bà dễ có mấy tay!

Ngày 21-1-1960, Thụy An bị Tòa án cộng sản kết tội 15 năm tù giam, vì bị tố cáo là tiếp tay cho cả hai nhóm Giai phẩm và Nhân văn, và làm gián điệp cho Pháp. Tuy nhiên, theo Thụy An, vụ án nầy chỉ là sự trả thù cá nhân của Tố Hữu mà thôi. Thụy An kể rằng trong một lần gặp nhau ở Hội nhà văn Hà Nội, Tố Hữu nói với Thụy An: "Tôi thấy chị làm thơ cũng khá, sao không đưa cho báo đăng?" Thụy An liền trả lời: “Thơ thì chỉ có một cái chiếu mà anh ngồi hết cả chỗ thì còn đâu ra chỗ mà ngồi. Tôi không thích ngồi ở mép chiếu." Từ đó Tố Hữu để tâm thù ghét và kiếm cơ hội ám hại Thụy An. Đó là nguyên nhân chính đưa đến việc Thụy An bị bộ máy tuyên truyền cộng sản dưới quyền Tố Hữu vu cáo và bà bị truy tố ra tòa án, để cuối cùng lãnh 15 năm tù giam. (Bà Thụy An kể cho ông Q.)

Thụy An ở bị nhà cầm quyền cộng sản giam từ 1960 đến 1973. Sau hiệp định Paris (27-1-1973), bà ra khỏi tù trong dịp mà cộng sản gọi là “Đại xá chính trị phạm”. Bà được cộng sản cho vào sinh sống ở Sài Gòn năm 1977. Lúc đó, một số con của bà đã di tản qua Hoa Kỳ. Bà liên lạc được với các con nhưng chưa có cơ hội gặp lại. Sau đây là thư bà Thụy An gởi cho người con trai đầu là Bùi An Dương: (thủ bút do ông Q. cung cấp)




Kết luận

Trước đây, đã có nhiều sách báo viết về vụ án mạng Đỗ Đình Đạo, nhưng thiếu ý kiến của những người trong cuộc hoặc con cháu của người trong cuộc kể lại. Ngoài các tài liệu cũ, bài viết nầy chẳng những dựa vào những cuộc nói chuyện với con cháu của cả hai bên ông Đỗ Đình Đạo và bà Thụy An, mà còn kiểm chứng thêm với một số thân hữu lớn tuổi đã từng trải qua giai đoạn chuyển tiếp ở Hà Nội và Hải Phòng năm 1954, trước khi di cư vào Nam, đã từng đọc báo hay nghe thuật lại diễn tiến vụ án. Hy vọng bài báo nầy có thể góp thêm vài thông tin mới, ví dụ mối quan hệ giữa Đỗ Đình Đạo và Thụy An là tình bạn trong sáng giữa hai người và hai gia đình, chứ hai người không phải là tình nhân như một số tài liệu trước đây.

Tuy nhiên, cuối cùng vấn đề quan trọng là ai đã sát hại Đỗ Đình Đạo tối 29-7-1954 tại nhà số 1 đường Tuyên Quang, tức đường Cao Bá Quát, thì vẫn chưa có câu trả lời cụ thể, ngoài sự hoài nghi là cái chết của Đỗ Đình Đạo nằm trong kế hoạch giết tiềm lực của Việt Minh cộng sản, thủ tiêu tất cả những ai có khả năng chống lại cộng sản. Như thế, nếu cộng sản còn cầm quyền, thì có thể nghi án nầy sẽ chìm dần theo thời gian mà chẳng bao giờ có phần kết luận.

(Toronto, 16-7-2014)

Trần Gia Phụng
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
nguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ án "Nhân Văn Giai phẩm"   Wed Sep 10, 2014 3:04 pm


VỤ ÁN NHÂN VĂN GIAI PHẨM
TỘI ÁC CỦA HCM VÀ CHẾ ĐỘ CSVN




Vai trò của nhạc sĩ Văn Cao trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm


Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Vụ án "Nhân Văn Giai phẩm"   

Về Đầu Trang Go down
 
Vụ án "Nhân Văn Giai phẩm"
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Lịch Sử, Tài Liệu-
Chuyển đến