Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
pham nguyen viet lang nhung sinh ngoc Thầy mien Ngày trai HUNG cuoc cong quan nguoi nghe tien thang thuy huyen thanh nghia rang phung NHẬT
Latest topics
February 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728     
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Ăn mày mà đòi xôi gấc

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Posts : 130
Join date : 20/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Ăn mày mà đòi xôi gấc   Thu Nov 10, 2011 11:09 pm

Gấc
B G


Bạn mến,


Thời gian sau này thương nhân lão luyện trổ mòi đánh vào thị hiếu ham thanh chuộng lạ bẩm sinh của quần chúng. Không chỉ khai thác trên bánh vẽ và đưa lời đồn suông, người ta đã trưng hẳn bằng chứng thực nghiệm kèm số liệu kỹ thuật về lợi ích của một thứ gì đó xuất xứ từ xa khơi (exotic) để lời chiêu dụ tăng phần thuyết phục. Tuy nhiên, xác định đúng một phần thường đi đôi với việc lấp liếm phần không đả động tới. Điển hình là nghệ thuật chào hàng làm mà mắt thiên hạ của giới buôn “thuốc” chế từ hoa trái không mọc trên đất này; tỷ như quả nhầu (noni) gốc Hạ-Uy-Di, dứa (hay thơm, trái mập lá nhẵn, hoặc khóm, trái dài lá có gai) từ Tây-Bá-Lợi-Á (?), gấc và măng cụt từ Đông-Nam-Á, v.v…

Trích dẫn theo đây là một khảo luận cẩn thận về quả gấc mà quý thầy thuốc tin là rất bổ cho giác mô (phần cornea phồng như mặt kính đồng hồ phía trước con mắt, dễ bị hư hoại đưa đến mù lòa do ăn thiếu sinh tố A), đã được tác giả lấy đó làm nguồn dinh dưỡng căn bản cho kế sách nuôi dưỡng trẻ còi cọc tại VN. Tài liệu chân chính này ngờ đâu đã bị giới buôn lá lẩu mượn tạm làm tài liệu quảng cáo để tăng cường mãi lực hàng lạ. Dân chào thuốc chẳng ngại hét rằng trên năm bó mà dùng loại nước chế từ quả gấc thì chẳng mấy chốc da mặt cứ căng mọng và nhẵn thín như mông đít trẻ lên ba!

Thêm một khía cạnh nổi bật của sự nghiệp cứu nhân.



Gac: a Fruit from Heaven
by Thuy-Le Vuong

Abstract
Solutions to micronutrient deficiencies that capitalize upon indigenous resources and foodstuffs offer a long-term mechanism for elevating the health status of disadvantaged people. In populations where intakes of animal foods are inadequate and food sources of retinol are not economically possible, efficient use of carotene-rich plants may prevent vitamin A deficiency. In Vietnam, the Gac fruit (Momordica Cochinchinnensis Spreng) is an excellent source of beta-carotene (17-35 mg/100g of edible part). This fruit is familiar to indigenous people and is easy to grow. However it has been under-utilized because it is available only 3 months out of a year; there has been no effort to educate the at-risk population about its nutritional benefit and research efforts in production or preservation techniques have been lacking. This paper describes the fruit, compares its nutritional value with familiar carotenoid-rich fruits, details its traditional usage in preparing rice, and discusses the acceptance of this rice preparation (xoi gac) to Vietnamese preschoolers in their daily diet. Financial support for research directed at improving the production and preservation of indigenous b-carotene-rich crops is needed to alleviate the problem of vitamin A deficiency of children in northern Vietnam.

Introduction
In the battle against malnutrition, chronic vitamin A deficiency stands out as one of the most resistant nutritional problems in developing countries, in spite of the fact that the symptoms are not difficult to identify, the aetiology is well understood, treatments are available, and in most cases a food source of retinol and provitamin A carotenoids is plentiful.

Vitamin A deficiency in Vietnam
The problem of vitamin A deficiency among children was first recorded in 1958, with 1,502 hospitalized cases of keratomalacia in the northern region between 1951 and 1953 (1). However, it was not until 1985, when the prevalence of vitamin A deficiency disorders (VADD) in school age children exceeded WHO's cut-off point criterion for a public health problem, that VADD in Vietnam received international attention. This triggered measures to control the problem and a program was begun to distribute high dose vitamin A capsules to children under age 2 years in all provinces in 1990 (2-4). Nevertheless, chronic vitamin A deficiency persists as one of the prevailing nutritional problems among children in the rural areas of Vietnam (5). Physiologically, sub-clinical deficiencies manifest as susceptibility to infection and growth retardation (6,7). As a public health issue, such widespread infirmities have an equal or higher human and economic cost in developing countries than the more advanced stages of deficiency.

Vitamin A distribution programs do not provide a long-term solution in the rural areas of Vietnam for a number of reasons. Distribution in remote areas is difficult and fragmentary, and can further be confounded by the unstable sociopolitical factors common to emerging countries. Such programs are frequently not available to all age groups of children, or to women of reproductive age. For people of lower economic groups and inhabitants of rural areas, animal products, which can be the best source of vitamin A, are not available in sufficient abundance to prevent vitamin A deficiency. Our dietary assessment of 193 pre-schoolers in two communities of northern Vietnam in 1997 found that daily consumption of meat was less than 15g per child (Cool. A national survey among 13,000 children in northern Vietnam in 1991 reported that consumption of vegetables and fruits among the children with xerophthalmia was 13% of total energy, significantly lower than that among children without xerophthalmia (24%) (9).

Plant food as source of pro-vitamin A
In the diet, vitamin A comes in two forms: preformed vitamin A and provitamin A. Preformed vitamin A is usually in the form of retinyl ester, derived from animal tissue such as egg, fish oils, and flesh, and organ meats. Milk, cream, butter, cheese and fortified foods such as margarine also contain vitamin A. Vitamin A can also be obtained from provitamin A carotenoids which can be converted enzymatically in the intestine and liver to retinol. Carotenoids in plants are the primary dietary source of vitamin A worldwide (10,11). The most efficient pro-vitamin A carotenoid is ߭carotene which is abundant in yellow and orange fruits, such as mangoes, papayas, and yams and in green leafy vegetables such as spinach, kale, sweet potato leaves, and sweet gourd leaves. Consumption of foods rich in b-carotene theoretically can replete individuals to a healthy vitamin A status (12-17).

In the winter of 1997 and summer of 1998, dietary assessment, household-gardens and market surveys were conducted in two communes in the low lands of northern Vietnam. The fruits and vegetables that are available are listed in Table 1. Among the indigenous plants of northern Vietnam, the Gac fruit (Momordica Cochinchinnensis Spreng) has the highest B-carotene content (Table 2). Pro-vitamin A from orange fruits has been shown to be more bioavailable than that from dark-green leafy vegetables (20). The seed membrane and pulp of the gac fruit also contains a significant amount of oil, which is essential for the absorption and transport of b-carotene (21-23). This is especially critical in this population where dietary fat intake is very low (24). Traditionally, Gac seed and pulp are mixed with cooked rice to impart a red color and distinct flavour (25-27). The local name of the dish is Xoi Gac. Because this dish is already well accepted, promoting its consumption could produce a substantial increase in b-carotene intake.

Momordica Cochinchinnensis Spreng (Gac) is botanically classified as Family Cucurbitaceae, Genus Momordica, Species Cochinchinnensis. This rampagenous perennial vine was given the name Muricia cochinchinensis by Loureiro, a Portuguese missionary-priest who published Flora Cochinchinensis in 1790. Later, Sprengel concluded that the plant belonged in the Linnean genus Momordica and changed the name in 1826 (28). The Vietnamese name of Momordica cochinchinensis Spreng is Day Gac (25-27,29-30). M. cochinchinensis is also indigenous to China, Moluccas (Burma), Japan, India, Thailand, Laos, Cambodia, Philippines, Malaysia, and Bangladesh (30-32). Other common names of the plant are listed in Table 3. The plant can be cultivated either from seeds or root tubers. Leaves are alternate and deeply three-to-five-lobed with toothed margins. The leaf stalk is glandular. The gac plant is dioecious, that is, the male and female plants are separate. The flowers are pale-yellow and solitary in the axils of the leaves. The production of parthenocarpic fruits, which is of economic importance, can be accomplished using growth regulators in the female plant in the absence of male plants. However induced parthenocarpic fruits have no seed, whereas hand pollinated fruits contain 18 seeds per fruit on average (33).

The plant starts flowering about 2 months after root tubers have been planted. Flowering usually occurs in April and continues to July/ August and sometimes until September. On average, it takes about 18-20 days for a fruit to mature from emergence of the bud of the female flower. A plant produces 30 to 60 fruits on average in one season. The ripe fruit is picked from August to February (34).

Fruits of M. cochinchinensis are large, densely aculaeate, and green, turning to dark orange or red when ripe. Unlike that of the bitter gourd (Momordica charantia), the exocarp (rind) of the gac fruit is hard and is covered with conical points one-eighth-inch high. The gac fruit available in Vietnam comes in oblong and almost round shapes. There are no differences in the ways the fruits are used or consumed. There are also variations among different fruits with respect to their spine and fruit tips. In some fruits, the spines are smooth and dense, whereas in some, they are hard and widely spaced. The oblong types are 6-10cm in length and round types are 4-6 cm in length. In Vietnam , the oblong fruit weighs between 500g and 1600g and can be 10 to 13 cm long. Shadeque and Baruah reported that in Assam, the fruit weighs from 1 to 3 kg (35). Unlike bitter gourd, which is mostly harvested in the developmental stages, gac fruits in Vietnam are only picked at maturity when the fruit is bright red and seeds are hardened.

The mesocarp of the M. cochinchinensis fruit is one-half-inch thick, spongy and orange. The core is divided into cartilaginous chambers containing bright red fleshy seed pods. Each fruit has on average between 15 to 20 round, compressed and sculptured seeds. The seed membrane and kernels contain oil and are used in traditional medicine (25-27,32). There is no record of any use of the mesocarp. The average weight of the pulp is about 19% of the total fruit weight. An average gac fruit weighing 1kg yields approximately 190g of fruit pulp and 130g of seeds. The seed pulp of a ripe fruit is bright red in color and has a palatable bland to nutty taste.

Nutritional composition of M. cochinchinensis seed pulp
Carotenoid was first identified in gac fruit by Guichard and Bui in 1941 (29). A Vietnamese publication reported that 100g of gac pulp contain 45,780 mg of b-carotene (27). Our chemical analyses of carotene contents gac pulp have been described elsewhere (Cool. In ripe gac fruit, b-carotene is the dominant carotenoid with concentration as high as 35,500 mg/ 100g. The mean concentration of b-carotene in Gac fruit from 4 separate HPLC (high-performance liquid chromatography) assays was 26.06 ? 9.38 mg per 100g. In addition to b-carotene, lycopene was the only carotenoid present in quantifiable amounts. West and Poovlet reported a concentration of 18,810 mg of b-carotene and 89,150 mg of total carotenoids per 100g (18).

In addition to carotene, gac pulp also contains a significant amount of oil. Fatty acid analyses indicate that gac contains 10,198 mg per 100g of edible portion. Of the total fatty acids of gac pulp, 70% are unsaturated, 50% of these are polyunsaturated. The approximate nutrient composition of gac fruit and pulp is shown in Table 4, and the fatty acid composition of gac pulp is given in Table 5.

Traditional use of the gac fruit in Vietnam
In Vietnam, the gac vine is often seen growing on lattices at the entrances of rural homes. The Vietnamese use the seed membranes and the pulp of the fruit in the preparation of xoi gac (red rice) (25-27,32). Traditionally, xoi gac is served at weddings, the New Year (Tet), and for other important celebrations (27). During these occasions, it is essential to mask the white colour of rice, since white is considered the colour of death. To make xoi gac, the pulp of gac fruit is mixed with rice. The seeds are often left in the rice, as proof of authenticity.

The color and fatty acids from the fruit pulp and seed membrane are stirred into the rice, giving it a lustrous appearance and oil-rich taste. The name xoi gac means red rice; and when the gac fruit is not in season, rice with red food colourant is also called xoi gac, which local people occasionally eat for breakfast. In addition to their use in xoi gac, the seed membranes are also used to make a tonic (gac oil) for lactating or pregnant women and children, to treat "dry eyes" (xerophthalmia), and night blindness. Vo reported that when applied to wounds, skin infections, and burns, gac oil stimulated the new growth of skin, and closure of wounds (25). A document on Vietnamese traditional medicine lists the use of the gac seed membrane, which contains ߭carotene and lycopene, to treat infantile rachitis, xerophthalmia and night-blindness. The report notes that the oil extract from the seed membrane can be given to small children to improve growth (26).

Supplementation Trial
A supplementation trial was conducted from December 1997 to Februrary 1998 in Hai-Hung province, northern Vietnam. The objective of the trial was to assess the efficacy of the traditional ߭carotene-rich rice preparation known as xoi gac for improving vitamin A status of children in rural Vietnam. The length of the supplementation period was 30 days. The participants were 193 village children from 31 to 70 months of age in two communes Doan-Ket and Tan-Trao of Hai-Hung province. The children were selected from 711 village children in the above age groups. Selection criteria included a low haemoglobin concentration (100-120 g/L), which has been associated with vitamin A deficiency (36-38). The selected children were assigned to one of the three groups: a fruit group that received rice cooked with gac containing 3.5 mg ߭carotene, a powder group that received rice mixed with synthetic b-carotene powder containing 5 mg ߭carotene, and a control group that received rice without fortification. The usual vitamin A and carotenoid intakes were assessed by a food frequency questionnaire administered to the child's mother before and after the supplementation.

Results
Plasma micro-nutrient concentrations
After the child's initial weight and ߭carotene values had been controlled for, the mean increases in plasma ߭carotene concentrations among children in the fruit group (106?g/dL;95% confidence interval 93 - 119 ?g/dL) and powder group (83 ?g/dL; 95% confident interval, 66 - 101 ?g/dL) were significantly higher than those of the control group (5 ?g/dL; 95% confident interval 2 - 7 ?g/dL). The increase in plasma lycopene concentration was significantly higher in the fruit group (940%) than in either the control group (99%) or the powder group (386%). Plasma retinol concentrations increased significantly in all three groups compared to initial values; the increase was significantly higher in the fruit group than the other two groups. After supplementation, 52% of the children in the fruit group and 47% of those in the powder group reached an adequate haemoglobin concentration (120 g/L). Changes in the hemoglobin concentration of children with a baseline value less than 110 g/L were significantly greater in the fruit group than in the control group (mean difference 16.62 g/L, p <0.05).

Acceptance of xoi gac by the children
All children completed the 30-day feeding program. The attendance of children and mothers at the feeding centre was 100%. One hundred and forty-six children (76%) completed the entire portion (about 120g) every day of the study. The number of the children who consumed the whole amount increased as the program progressed and on the last day of supplementation most children expressed disappointment about the termination of the programme. Eighty-four percent of the children in the fruit group, 72% of those in the powder group, and 76% of those in the control group completely consumed the food. More children in the fruit group than in the other two groups consumed the entire amount every day; however, the difference was not statistically different.

Mothers' health perception and usual consumption of xoi gac
Ninety-five percent of the mothers interviewed recognized that xoi gac is nutritious, and 66% said that their children had consumed xoi gac since the beginning of the season. Eighty-four percent of the women prepared the xoi gac themself, 4% purchased xoi gac at the market and 2% received it as gift. Few houses in the villages grew gac. Among the mothers who prepared xoi gac at home, only 23% used gac from their home garden, 98% purchased the gac fruit from the market, and only 1% received gac as gifts. Among the 46% of the mothers who did not give xoi gac to their children, 74% said that they did not have gac fruit, 3% did not have money to buy gac, 4% did not have time to cook xoi gac, and only 3% reported that the children did not like xoi gac.

The results of the trial suggest that xoi-gac is well accepted by the children. The pro-vitamin A from Xoi Gac, a rich source of b-carotene and lycopene, is highly bioavailable, and that severely anemic children might benefit from b-carotene supplementation.

Discussion
Under-utilization of gac fruit in Vietnam
Production and consumption of M. cochinchinensis (gac) fruit in northern Vietnam in recent years has decreased for the following reasons. The local people have a poor perception of the health and commercial benefits of the plant. There have been no efforts to promote the production of gac fruit, and educate the target population about its nutritional benefits. Consequently, land is allocated to cultivation of staples or crops that bring greater commercial benefits, such as onion, black pepper, or potatoes. This situation has been observed in other regions of the world (39). Traditional micronutrient-rich plant foods have become less abundant and more expensive to obtain because their production has fallen and/or not kept abreast with demand because of increased population pressure. In fact, in many nations in Asia, consumption of vegetables has not met the recommended per capita vegetable supply of 73 kg/year per person, the minimum amount to prevent micronutrient malnutrition. Mean while, there has been a greater research focus on increasing the production of calorie-rich staple crops such as rice, wheat, corn, casava (40).

The gac fruit is only available three months out of the year. In Vietnam, gac vines are grown mainly in the Red River Delta areas. Harvesting of the fruits begins on September and lasts until December. Gac fruits are picked when they are at optimal size, weight, and colour. Poor post-harvest handling and transportation reduce the shelf-life of the fruit. After harvesting, fruits perish quickly and lose marketability after one week without proper storage. In the markets of urban areas, gac fruits are available for only about 3 months, from November to January. A survey of mothers of participants in the supplementation trial revealed that the main reason that mothers didnot feed xoi gac to their children was the unavailability of gac. The use of gac fruit in making xoi gac has declined, because synthetic food colourant is more available and economical. The consumption of gac fruit will be increased if gac fruit is more available. Gac pulp can be simply preserved in sugar, oil, or alcohol however there has been no effort to promote or improve preservation of the fruit.

Improve availability of indigenous nutrient-rich plants to prevent micro-nutrient malnutrition
The problems encountered in most food-based approaches to improving micronutrient status are multifaceted. They include concerns about nutrient concentrations and interactions in the selected food; bioavailability and bioconversion of the nutrient of interest; and issues related to cultural sensitivity (41-43). Despite those problems, solutions to micro-nutrient malnutrition that make used of local food sources offer many benefits. The most apparent advantage is the self-sustainability of the program. Another benefit is that the foods provide not only the deficient nutrients but also calories and other nutrients. Another attributes to long-term success of a food-based strategies are the ready acceptability to target groups due to familiarity. Improved production of the foods will motivate the advancement of methods of processing, storing and preserving the foods, which in turn not only will improve availability of the foods but also will increase household income, which quite often is positively correlated with low nutritional status.

In the attempt to prevent micronutrient deficiency in developing countries by food-based strategies, most efforts have been spent on fortifying foods with synthetic ingredients, or supplying foods that provide the needed nutrients to populations, rather than finding local sources of foods that contain the needed nutrients and promoting local production of those foods. Fortification requires centralized, well-monitored food processing, and effective distribution channels; this type of infrastructure is often rudimentary in third world countries. Fortification of certain nutrients also changes the appearance and taste of the food and renders it less desirable to the target population. The fortification of sugar, monosodium glutamate and fish sauce has been tested in several countries in Latin America and South-East Asia. None of the above fortification methods provides a sustainatable solution to prevent vitamin A deficiency in developing countries. Daily supplementation of needed micronutrients to prevent deficiency, requires commitment of suppliers, often foreign sources, and is usually not appropriate to the local food habits, hence this should only be a short-term measure.

Although the consumption of caloric by people in developing nations has increased since the 1960s, the focus on staple crops such as rice and wheat, has resulted in the decreased availability of micronutrient-rich food crops to millions of disadvantaged people and contributes to the increase in micronutrient malnutrition namely 'hidden hunger' globally (40,44). To rectify the problem of vitamin A deficiency in developing countries, research efforts need to be directed towards identifying local plant foods rich in provitamin A carotene (in addition to staple crops), traditional use of the plants, and methods to improve production and/or preservation Compilations of plants available in South-East Asia and their carotenoid contents have been made available by the work of numerous researchers (34,45,46). For many of these plants, the local use should be identified, because cooking and storing methods can change bioavailability of carotenoids to humans (48). Advanced food processing techniques can be applied to facilitate beneficial local usage, such as the use of provitamin A carotenoid-rich plants in rice coloring or in seasoning of foods. Environment appropriateness and the plant matrix are also important factors in the bioavailability of beta-carotene and should be considered in the selection of plant sources of beta-carotene (21,49). Genetic manipulation of plant genomes by traditional plant breeding or by genetic engineering has been applied to characterize the genes that control the biosynthesis of carotenes in tomatoes, maize kernels in carrot root (50,51). Currently these methods are under investigation to increase the amount of provitamin A carotenoids in staple foods (rice, casava) (39). These technologies and knowledge can be applied to improve the shelf-life of local crops rich in provitamin A carotenoids, to provide continuously and currently available provitamin A in fruits and vegetables, to overcome environmental stress and to enhance marketability of indigenous fruits. Commercial and nutritional benefits will encourage the cultivation of these carotene-rich crops, and their sustainability will be
acheived by maintaining sensible local traditions.

Ăn Mày Mà Đòi Xôi Gấc

─ B G ─




Một

Lòng cầu tiến nhất định vun bồi niềm tự hào dân tộc. Bản tường trình về quả gấc và công dụng thực phẩm của nó trên hội chứng kém dinh dưỡng tại mấy xứ lẹt đẹt như Annamta đã tỏ rõ nhiệt tâm của người làm khảo cứu thực địa với số tài liệu tham khảo trong tay. Cốt lõi chủ đề tập trung vào hoạt chất beta carotene ─tiền sinh tố A lấy tên từ củ cà rốt─ trong quả gấc, với đặc tính hòa tan trong chất béo. Ngoài giá trị biến dưỡng tự chính nó, chất này còn có thể chuyển thành sinh tố A qua xúc tác của phân hóa tố tại lòng ruột non và buồng gan sinh vật.

Beta carotene tương đối lành vì không hay tích tụ làm ốm cả lá gan như thực chất viên vitamin A mà người ta tưởng là báu lắm và uống bừa bãi. Nhiều trẻ được mẹ yêu tẩm bổ bằng cách bón cho ăn đẫy cà rốt vào, hoặc những bé khác được dùng cà rốt để cầm chứng “Tào-Tháo đuổi” liên tục... Sau ít hôm da dẻ các em vàng loẹt ra vì hàm lượng sắc tố b-carotene dâng cao trong máu rồi âm thầm thấm nhuần vào làn da. Ấy vậy mà màu vàng vô hại kia sẽ tự biến dần khi ngưng cà rốt lại.

B-carotene hiện diện trong các loại quả và rau củ có sắc vàng, cam, hoặc xanh thẫm như tầu lá cải mọc loanh quanh giữa chốn quê nghèo. Ngoài tác dụng gạn lọc tia tử ngoại khả dĩ chữa bớt mặt cháy mày nám do nhậy cảm với ánh nắng (trong trường hợp gan và hệ thống tạo huyết bị xáo trộn vì chứa lắm chất porphyrins oan nghiệt), loại tiền sinh tố này còn giúp phòng ngừa chứng còi xương làm thui chột đà lớn của trẻ em. Đi đôi với sinh tố A, b-carotene còn bổ túc cho đôi mắt cơ hàn chống lại tật quáng gà trong chỗ nhá nhem tranh tối tranh sáng, hoặc chứng thối giác mạc mắt tệ hại đưa đến mù loà oan uổng chỉ vì thiếu ăn. Tiền sinh tố A càng thêm quý với dân ta vì có đầy trong quả gấc kiêu sa đeo lủng lẳng trên thửa đất nhà.

Lứa quả chín cây bầu bĩnh to nhỉnh hơn đầu em bé đầy tháng với bề mặt lăm dăm những gai lí nhí. Từ mầu xanh lục gần cuống ửng hồng lên ánh đỏ cam đằm thắm khắp châu thân, trông quả gấc căng mọng lộng lẫy như một giọt nước được phóng đại tô mầu. Đằng sau vẻ quyến rũ, than ơi gấc chỉ còn toàn nét vô duyên của cô gái trời quá tay ban cho tí nhan sắc! Có nó liền bên ta cũng đành chịu phép; đố mà ngoạm ngấu nghiến được như thể đớp quả ổi xá lị no tròn, hoặc vừa mân mó vừa nhai cho phỉ chí bình sinh tựa hồ bốc được nắm xôi to.

Đúng, phải nghe các cụ mà vẽ vời thành bánh thành xôi thì mới ra trò. Phần ruột gấc đầy hạt đỏ như tiết chuyên dùng để làm bánh hay đồ xôi. Những phẩm vật qu‎ý hóa dâng cúng tiền nhân này thường thời chỉ có vào dịp giỗ chạp hoặc lễ tế tơ hồng trong ngày cưới. Người nhà quê còn dùng cùi gấc kho dối với tí mắm muối làm thức ăn qua loa cho xong bữa. Trong khi gấc quý đằng gấc vì chả mấy ai chuộng trồng thứ dây leo um tùm không mấy sai quả này, thì nếp đắt đỏ đằng nếp vì cả nước chuyên canh lúa tẻ. Thêm tí đường, tí rượu, dúm muối, củi lửa cũng là tiền. Ấy là chưa kể bao nhiêu công đoạn gia chính lích ca lích kích mãi mới nên xôi. Thế cho nên ngồi chơi sơi xôi gấc quả là bào ảnh trong những cảnh đời tận cùng bằng số…




Hai

Có những điều mà khoa học mười đời không xuyên thấu nổi bản năng nguyên sơ của loài người. Linh tính cùng giác quan đã luyện nên cuộc sống có hồn trong mỗi cá nhân, và chỉ sống thực bằng xương thịt ngu ngơ thì người mới dễ bề cảm được hồn ấy. Tập quán thân quen cho dù sơ đẳng và thủ công đến đâu, thì vẫn là những điều êm ả khó xoá mờ.

Truyền thống suy nghĩ đại khái hồ như gắn khít vào trình độ văn hoá eo hẹp trong dân gian ta tự bấy lâu. Đối với đa số bình dân thì nghiên cứu khoa học trên những sự việc thường thức vốn hằn sâu trong tâm khảm mọi người thật tình chỉ là vẽ vời cưỡi ngựa xem hoa. Tự đặt mình thành người nước ngoài mà tất bật thổi nồi xôi trên lưng ngựa, sao hòng được thúng xôi rền? Đồ mẻ xôi gấc với bà nội trợ dễ như cắt tiết con gà giò. Của đáng tội, cũng chẳng mấy đỗi mà cả nhà được bữa chén hậu hĩ! Xôi nóng hôi hổi vừa đơm ra mâm vừa khấp khởi mừng thầm, trước để thắp nén hương sau là hưởng lộc… Đời người thấm thoắt độ gang tay, hạnh phúc cố tìm nào chắc sướng hơn cái nắm xôi sốt sồn sột trong tầm tay mộc mạc ấy?

Xôi gấc là xôi đồ với chất quánh mầu đỏ bám quanh hạt trong ruột quả gấc; không có nghĩa suông là “xôi màu đỏ ” theo lối giải thích sơ sài qua vài chữ Ăng-lê. Vả lại, giả sử không sẵn tí dầu mỡ kèm lọ phẩm đỏ loét kè kè bên nách người nhà bếp, thì liệu chõ xôi gấc có được hân hạnh nổi bật sắc bóng bẩy tươi thắm hay không? -- Thực là không; cho dù có đồ khéo mấy thì hạt xôi cũng chỉ hưởng mầu đỏ quạch của viên gạch cũ tối tăm. Bóng tạt li ti của chất gấc se buồn sau khi bị hầm chín đã dậy lên sắc đỏ chết rét trên bề mặt. Xôi lại còn lấy đâu ra “hương thơm đặc thù ” thể theo khứu giác tân thời quen mui với mùi nước hoa hoá học? Có chăng, đấy là mùi nồng chán của bát canh bí rợ suông mà may ra tay ngoại kiều sành sỏi sau khi nhá gần nhẵn cả đĩa đánh hơi thấy vậy!

Dẫu đầy máu dị đoan chả kém dân Trung Hoa, người xưa ta vẫn đâu đớn hèn bám đuôi theo lối Tẫu, bịt mặt nạ đỏ cho phẩm vật chế từ hạt gạo trong ngọc trắng ngà. Quan lang Tiết-Liêu đời Hùng-Vương thứ sáu đã dựa hẳn vào tấm bánh chưng xanh và đĩa bánh dầy trắng ngần để được truyền ngôi báu đấy thôi... Vả lại lúc ấy có đứa giặc nào dám ngang nhiên chõ mồm dị nghị rằng ông hoàng này là súc sinh nghịch tử, dám táo gan chơi mầu trắng tang tóc của bánh dầy để trù ẻo vua cha sớm băng hà trong lúc người còn sờ sờ tại thế hay không chứ?



Ba

Ở những thân mộc ra hoa đực hoặc cái riêng biệt như anh-đào, nhờ mọc chung chạ gốc gần gốc mà hoa cái được bén hơi phấn hoa đực li ti quyện đưa theo làn gió thoảng. Trong khi đó, gấc mọc thành dây leo rồi ra hoa lưỡng tính theo họ nhà dưa Tây. Từng quả gấc chào đời thưa thớt như con nhà cầu tự. Hình như phải nhờ công đức tu hành từ tiền kiếp thì nhụy hoa gấc mẹ mới được ong bướm lả lơi vấy cho tí phấn hoa đực giao duyên. Thiên hạ nản trồng gấc vì mấy ai đã có kinh nghiệm nhân tạo, lấy phấn đầu vòi của đám nhị đực chầu rìa chấm tỉ mỉ vào cửa lòng nhị cái. Với lại, một nắng hai sương cầy sâu cuốc bẫm chưa đủ sặc gạch hay sao mà còn thêm lụy với đám dây leo lằng nhằng bên hàng dậu đổ?

Hẵng để khoa học mò mẫm lần về chuyện nghìn xưa trứng nở ra gà. Thử lách đũa gắp lấy hạt gấc dẹp vừa bằng quả mận khô, còn được bao che bằng lớp màng mỏng nhợt nhạt trong đĩa xôi. Xé toạc màng, một hạt đen đủi tượng hình cái trứng giun đũa trong kính hiển vi trần trụi giơ ra. Kinh nghiệm xưa đã bảo cứ phải gieo hạt gấc đồ chín, sau khi ghè nứt vỏ cứng, thì nó mới mau ra cây con và đơm quả. Điều này đúng hay mơ hồ? Có cần kiểm chứng trong nhà kính xem những hạt lấy từ xôi ươm vào đất sẽ thực sự lên cây leo xum xuê hoa trái, hoặc chỉ dây mọc từ hạt sống sít mới đậu quả? Đã có công trình thực vật học VN nào khảo sát về chuyện ái ân của nhà gấc đến nơi đến chốn, so với loài na Tây (cherimoya) chưa? Na Tây bầy bán ê hề ngoài chợ vì người Tây cất công tìm ra rằng nhị đực phát dục hai hôm sớm hơn nhị cái trong mỗi bông hoa; cho nên nếu ra công cạo phấn nhị đực giữ lạnh hai ngày chờ nhị cái chín mùi rồi chấm vào thì tha hồ mà có quả...

Trên trần gian xoay mòng mòng này, những con mắt hơn đời thường nhìn ra nhiều chuyện hay ho. Dữ kiện cấy mô tế bào một cách quy mô thành giống gấc vô tính với quả không hạt rất xuất sắc trên lý thuyết, vì khả năng sản xuất đáp ứng nhu cầu rộng lớn kéo theo hiệu quả tiền bạc của nó. Phàm đã là ý đồ trục lợi, sự hay ho cần được triệt để phù thủy hóa thành phong trào hợp lý và hấp dẫn thiên hạ. Có giỏi đưa sâu phong trào “siêu thực” ấy vào lòng quần chúng thì mới có nhiều hy vọng ăn tiền khách khó tính. Người ta có thể đua nhau nghiến răng nhắm mắt nuốt đánh ực mùi khai nhằng nhặng của quả nhầu, vì một hôm chợt có con buôn phát giác ra là nó tốt, rồi quảng cáo lia chia để cả nước cùng tin. Thế nhưng nhu cầu về gấc hiện chưa phổ thông như thế, trừ phi phát không cho thiên hạ. Vạn sự khởi đầu nan. Cấy mô cho lắm không khéo hoài công vì mấy ai đã tơ hào về lợi lộc của thứ trái cây khi ẩn khi hiện này đâu mà chịu khó nộp tiền. Nói cho ngay, không đĩa xôi gấc thật nào muốn nhét quả mận khô vào giả vờ làm hột cả!

Ôn cố tri tân. Nhớ năm xưa tại Sài-gòn nổi lên phong trào nuôi ấp chim cun cút. Những kẻ l‎ý tài đằng sau đã lèn tất cả bổ béo hiếm quý như giấc mơ tiên vào quả trứng quèn của con chim lủi thủi đó, đoạn khéo léo đưa lên mạng lưới truyền thông cho toàn cõi được rành. Thế là người người say đắm đâm đầu vào nghiệp vụ kinh doanh nồng nhiệt này... Sau năm 75, khi cần đắp điếm nạn thiếu hụt thuốc Tây trầm trọng, chính quyền bản xứ đã mở hẳn mặt trận tuyên truyền sở trường về lợi lộc của một thứ cây cỏ vớ vẩn được gọi cho ra vẻ thuốc bắc là “xuyên-tâm-liên”. Thảo mộc này xứng đáng được tiến dâng riêng cho Ngọc-Hoàng Thượng-Đế bởi bài bản dược tính tuyệt trần của nó, xoay vòng từ trụ sinh qua chống ung bướu, đau khớp, sa con trê, bạch đái, mộng tinh, thôi thì không sót bệnh gì… Người dân cả mừng vì giá trị khôn tả đó cho nên nơi nơi thi nhau đào bới xới lộn ruộng vườn để trồng cây thuốc, bán cho nhà nước thu mua chế thành viên mà phân phối khắp trong bệnh viện ra ngoài chúng dân èo uột.

Dẫu quả gấc có bổ như sách nói hoặc giả bổ hơn thế nữa, thì bàn dân thiên hạ vẫn thiên về đĩa xôi dễ dãi bóng nhẫy mầu phẩm đỏ rẻ tiền. Tại sao vậy? Vì chắc chắn chưa hề có khoa học gia nào hết mình du thuyết để nhà đương cuộc cho nhổ tiệt cỏ cây hoa lá để trồng gấc từ
Bắc chí Nam; như thể đầu tư vào cây “thuốc” nhất thời nẩy ra tiền tựa xuyên-tâm-liên vậy.




Bốn

Ý niệm quan-trọng-hoá quả gấc như nguồn thực phẩm cứu thế vô hình trung đưa đẩy hướng đi của những trang khảo cứu lên tầm vóc quốc gia! Chủ đề đã lấn sang phạm vi kế hoạch nhà nước xuyên qua thiện chí đưa chất gấc bổ béo vào tận đáy dạ dầy dân tộc. Kế hoạch đó quả nhiên rất cần tiền để xây thêm trung tâm nghiên cứu phát triển giống gấc cao năng xuất bên cạnh các viện trồng lúa, để trả lương huấn luyện cán bộ nông học về dậy nhà vườn canh tác gấc cho khéo, để bảo trì kỹ nghệ lạnh giữ quả ở nhiệt - ẩm độ tối ưu suốt thời gian vận tải không bị thối toét cho tới tay người thèm xôi, để ngoài chi phí tuyên truyền vẫn còn thừa cơm nuôi dân thất nghiệp trá hình tại mấy mươi tỉnh tuần hành giăng biểu ngữ hô hào dân ăn gấc cho sáng quắc mắt. Nếu công quỹ èo uột bị gặm nhấm sát ván, thì thẩm quyền nào đây có đủ thiện chí đứng ra vận động Quỹ Lương-Nông, Nhi-Đồng Quốc-Tế, v.v... của Liên Hiệp Quốc tài trợ cho chương trình? Chưa kể, ai sẽ là người chu toàn ngân khoản cho nông gia mua sào dựng giàn để lũ dây gấc khỏi giơ vòi nhí nhảnh bám đổ hàng dậu nhà quê?

Điều chắc chắn là đến giờ này đâu có nhà nông nào dẹp đồ hàng bông như bầu bí mướp dưa từng mùa nuôi sống gia đình để đi trồng gấc, thứ dây leo xum xuê nhưng quả thì lèo tèo. Gấc hiếm thế làm sao đủ xôi nuôi người chết dở theo chủ chương cứu trợ cao thượng? Những phóng ảnh nối đuôi chuyện dùng gấc bồi dưỡng cho dân thiếu ăn nào khác thừa giấy vẽ voi? Thật vậy, đưa tầm vóc nhỏ bé lên hàng quốc sách dĩ nhiên là điều không tưởng trên bình diện quốc gia.

Dẫu sao thì chính kết quả cuối cùng mới là yếu tố định đoạt giá trị công việc làm. Trên thực tế, bất kỳ công trình khoa học thuần túy nào cũng là thử thách dài ngày và đòi hỏi tham khảo từ nhiều ngành nghề ngang dọc, thậm chí từ phía chính quyền. Tinh thần khoa học vốn là bới lông tìm vết và chi ly như sợi tóc bổ làm tư. Đã dúng tay vào việc tất nhiên cần đâu ra đấy chứ không thể đánh trống bỏ dùi. Nếu thực dạ quan hoài của người làm khoa học với nàng gấc kia như bát nước đầy, thì xét ra người còn cần dấn thân nhiều. Một công trình thực nghiệm có hiệu quả hiện không còn là những con số thống kê dậm chân tại chỗ, dành cho một luận án sinh viên khiêm tốn vào thiên niên kỷ đã qua ...

Việc phòng chữa suy dinh dưỡng bằng xôi gấc nghe ra vượt trên hẳn suy tư tuyệt vọng từ miệng các cụ, “Ăn mày mà đòi xôi gấc”, nói lên hai thái cực khó chập vào nhau trong kiếp làm dân xứ nghèo. Lý thuyết cao xa, chẳng vượt qua thực tế. Thực dụng hơn việc cho nhau ăn xôi gấc có thể là phân phối chính cái hoạt chất của gấc dưới dạng sinh tố A-D tới thành phần dân số kém ăn. Theo đà tiến bộ của mọi ngành, hiệu quả y tế cũng như kinh tế thừa sức nhảy vọt từ lòng quả gấc lẻ loi sang viên thần dược được điều chế hàng loạt. Nói chi ngân khoản to tát dành cho công chúng mà công quỹ tỏ ra không bao giờ có, các bậc phụ mẫu chi dân thừa mứa chỉ cần khẽ búng cái móng tay thôi. Thế là chuyện nhỏ như mấy viên dầu cá, vitamin A-D phối hợp, hoặc sinh tố-khoáng chất tổng hợp thừa sức rơi tự do như thả dù xuống mọi vùng thiếu ăn trên toàn cõi.


0 0 0


Hỏi chứ dân ta có thực sự đói đến nỗi cần tới những bàn tay hiệp sĩ tế độ hay không? Theo cái nhìn phân vân của bất kỳ ai, thì hiện tượng ăn nhậu tối ngày sáng đêm từ thành đến tỉnh trên toàn bề mặt xã hội, hầu như phi sản xuất, đã phản ảnh sự nhập nhằng giữa phồn vinh và suy đồi trên toàn cõi! Vậy thì đầu bài, “Hãy tìm tỷ số giữa thành phần dân có dạ dầy lép kẹp trên lớp người đớp hít cả ngày trong cả nước” có đáng là tiền đề bổ túc cho khảo nghiệm “Nuôi nhau bằng gấc” hôm nay chăng?

Miếng ăn quá khẩu thành tàn, ăn rồi thì xôi nào cũng như xôi nấy mà thôi...
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://thntsaigon.forumsreality.com
 
Ăn mày mà đòi xôi gấc
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến