Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
viet phung PHAT nghia cuoc lang cong pham sinh ngoc thuy nguoi nghe rang huyen nguyen thang Thầy trai Ngày quan mien HUNG thanh tien nhung
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 TẬP TRUYỆN NGẮN của ALICE MUNRO (NOBEL 2013)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
NHViet



Posts : 215
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: TẬP TRUYỆN NGẮN của ALICE MUNRO (NOBEL 2013)   Mon Dec 02, 2013 11:16 am


TRUYỆN NGẮN CỦA ALICE MUNRO (NOBEL 2013):

THỊ TRẤN BÊN ĐƯỜNG



Lời giới thiệu: Alice Munro sinh ngày 10 tháng Bảy năm 1931 ở Wingham, Ontario, Canada, với tên khai sinh là Alice Ann Laidlaw. Cha của bà là chủ nông trại, mẹ là cô giáo. Bà trải qua tuổi thơ ở thị trấn Clinton, nơi bà cũng thường trở về sau này. Theo học đại học Western Ontario, nhưng rời trường sớm khi lập gia đình năm 20 tuổi. Bà và gia đình sống ở một đảo ngoài khơi Vancouver nhiều năm nay, coi sóc tiệm sách có tên là Munro. Hai ông bà có với nhau ba đứa con, hôn nhân của họ thời trẻ có một thời kỳ tan vỡ. Sinh quán của Alice Munro, Ontario, là tỉnh bang lớn nhất Canada, gần bên Ngũ Đại Hồ. Vùng phía nam của tỉnh là vùng có khí hậu ôn hòa, cảnh sắc xinh đẹp, đất nông nghiệp bằng phẳng, nhiều sông hồ. Trong truyện của Munro, có cảnh vật của Ontario hoặc thiên nhiên hoang dã trên đảo Vancouver.
Truyện của bà viết về đời sống những người bình thường, với văn phong giản dị, trong trẻo và đẹp. Nhưng đó là bề ngoài dễ gây ngộ nhận. Thật ra văn của Alice Munro không dễ hiểu. Người đọc cần chú tâm đến từng chi tiết mà bà để lại dọc đường. Bên trong là sức mạnh của sự mô tả chính xác, phân tích sắc bén các xung đột, sự nghiêm khắc với thói dung tục và a dua, tính hài hước, và lòng trắc ẩn. Alice Munro nhận nhiều giải thưởng, trong đó ba lần giải General Governor, giải thưởng danh giá nhất Canada, và giải Man Booker International năm 2009. Dù sức khoẻ yếu, bà có khả năng làm việc đều đặn, bền bỉ. Tác phẩm (tạm dịch): Vũ Điệu Những Cái Bóng Hạnh Phúc (Dance of The Happy Shades)(giải GG), Cuộc Đời Những Cô Gái và Đàn Bà (Lives of Girls and Women), Bạn Nghĩ Bạn Là Ai Kia? (Who Do You Think You Are), Những Mặt Trăng Của Mộc Tinh (The Moons Of The Jupiter), Tiến Triển Của Tình Yêu (The Progress of Love) (giải GG), Chạy Trốn (Runaway). Năm 80 tuổi, xuất bản tập Quá Sức Hạnh Phúc (Too Much Happiness). Tiếp sau đó, trước sự ngạc nhiên của nhiều người, tác phẩm mới Cuộc Đời Yêu Dấu (Dear Life). Một truyện của bà, Gấu Về Qua Núi (The Bear Came Over The Mountain), một chuyện tình cảm động, đã được Sarah Polley chuyển thành phim với các tài tử Julie Christie và Gordon Pinsent. Truyện ngắn sau đây, nguyên văn tiếng Anh “Miles City, Montana” rút từ tập The Progress of Love, 1985, NXB Alfred A. Knoft. Miles City là tên một thị trấn nhỏ, dân số không quá một ngàn người, Montana là một tiểu bang ở vùng Tây Bắc nước Mỹ, sát biên giới Canada.
Kín đáo, khiêm cung, Alice Munro không phải là người của công chúng, và ít khi xuất hiện trên báo chí, ngoại trừ tác phẩm của mình. Cách đây bốn năm, khi tôi đến nghe một buổi hội thảo ở Vancouver sau giải Man Booker International, với nhiều nhà văn nổi tiếng như Margaret Atwood đọc những tham luận xúc động, đầy yêu mến, nhằm tuyên dương tác phẩm của bà, Alice Munro đã không có mặt. Trên thế giới nhiều người vẫn không biết đến tên bà- mặc dù năm 2005, tuần báo Time đã chọn bà là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất- cho đến ngày 10 tháng 10 năm 2013 vừa qua. Ngày hôm đó, Ủy ban giải thưởng Nobel đã không thể liên lạc được với nhà văn để báo tin vui. Các độc giả cũng không tìm đọc bà như tìm đến các tên tuổi văn học khác, đôi khi họ bắt gặp bà một cách tình cờ trên kệ sách, và tự hỏi: bà này là ai?
Tôi chọn truyện “Miles City, Montana” vì đó là truyện ngắn đầu tiên của bà mà tôi được đọc, cách đây mười bốn năm, trong một thời kỳ hỗn loạn. Truyện của bà đã giúp tôi đứng lại, nhìn xuống, thấy được chính thật tình trạng của mình. Tôi dịch truyện ngắn này như một lời cám ơn lặng lẽ.


THỊ TRẤN BÊN ĐƯỜNG

Truyện ngắn của ALICE MUNRO
NGUYỄN ĐỨC TÙNG dịch

Cha tôi băng qua cánh đồng ôm xác một đứa bé trai bị chết đuối. Họ có nhiều người, trở về sau cuộc lùng kiếm, nhưng ông là người mang xác thằng bé. Những người đàn ông mình mẩy đầy bùn, mệt lả, bước đi đầu cúi xuống, như thể họ là những người có lỗi. Ngay những con chó cũng chán nản, lông nhểu nước từ con sông lạnh giá. Thế mà vài giờ trước đó khi khởi sự, chúng còn tỏ ra bồn chồn, chạy quanh sủa ăng ẳng, những người đàn ông quyết tâm, căng thẳng, và có một không khí kích động bị kìm nén lại, không diễn tả được, bao trùm toàn bộ khung cảnh. Lúc đó ai cũng biết rằng có thể họ sẽ tìm thấy một điều gì khủng khiếp.
Tên của thằng bé là Steve Gauley. Tám tuổi. Tóc và quần áo nó nhuốm bùn, bê bết cỏ, cành vụn và lá chết. Nó là nỗi cự tuyệt được gởi lại từ mùa đông. Mặt nó úp vào ngực cha tôi, nhưng tôi vẫn còn thấy được một lỗ mũi, một vành tai nhét đầy bùn xanh lợn cợn.
Tôi không nghĩ thế. Tôi không nghĩ rằng tôi đã thực sự trông thấy những điều ấy. Có lẽ tôi đã thấy cha tôi mang xác thằng bé, thấy những người khác đi theo ông, những con chó, nhưng tôi không thể nào được phép đến gần tới mức nhìn thấy một thứ gì như bùn trong lỗ mũi. Chắc là tôi đã được nghe ai đó kể lại và tự mình tưởng tượng ra. Tôi nhìn thấy khuôn mặt của nó không thay đổi trừ những vết bùn – khuôn mặt quen thuộc của thằng Steve, mặt nó nhọn, vẻ lém lỉnh – và thật ra không thể nào như thế được; nó phải sưng phồng lên chứ, phải biến dạng và dính bùn khắp nơi sau nhiều giờ ngâm trong nước.
Việc mang về một tin như thế, một bằng chứng như thế, cho một gia đình mỏi mắt trông chờ, nhất là người mẹ, khiến cho những người đi lùng kiếm đứa bé cử động nặng nề, nhưng điều đang xảy ra ở đây còn tệ hại hơn nữa. Rõ ràng là có một nỗi xấu hổ (nghe người ta nói thế) rằng thật ra chẳng có một người mẹ nào cả, chẳng có một người phụ nữ nào hết – không bà nội không bà ngoại không cô không dì không chị không em – đứng chờ thằng Steve và trao cho nó nỗi đau buồn thương tiếc xứng đáng kia. Cha của Steve là một người làm công, hay uống rượu nhưng không phải là kẻ say sưa, một người đàn ông được chăng hay chớ nhưng không phải quá ham chơi, một kẻ không thân thiện mấy nhưng không làm phiền ai. Mối tình phụ tử xem ra cũng ngẫu nhiên, và vì đứa bé bị người mẹ ra đi bỏ lại, và hai cha con vẫn tiếp tục sống với nhau, xem chừng càng có vẻ tình cờ. Họ sống trong ngôi nhà với mái nhọn lợp gỗ xám ở xó núi quê mùa, trông chỉ khá hơn túp lều chút đỉnh – người cha sửa chữa mái nhà và dựng những cái giá đỡ ở bên dưới, cũng vừa đủ thôi và cũng đúng lúc cần thiết – và cuộc đời của hai cha con cũng dựa dẫm vào nhau tương tự như thế; tức là cũng tốt vừa đủ để cho cơ quan can thiệp vì quyền lợi của trẻ em không can dự vào gia đình của họ. Hai cha con không ăn chung với nhau, không ai nấu cho ai, nhưng nhà vẫn có thức ăn, đôi khi người cha cho con một ít tiền để mua thức ăn ở tiệm và người ta thấy thằng Steve tới đó mua những thứ xem ra cũng cần thiết như bột làm bánh hay bữa ăn tối kiểu bột mì có thịt.
Tôi biết rõ Steve Gauley. Tôi cũng thích nó, nhưng phần nhiều là không thích. Steve lớn hơn tôi hai tuổi. Nó đến chơi ở chỗ chúng tôi vào các ngày thứ bảy, ra vẻ coi khinh những trò của tôi nhưng lại không thể bỏ mà đi được. Tôi cũng không thể ngồi lên ghế xích đu mà không có nó khởi động và khi tôi có muốn bỏ cuộc nó liền chạy tới đẩy một cái khiến tôi hoảng lên co rúm người lại. Nó chọc ghẹo những con chó. Nó làm cho tôi phiền bực – có tính toán và rất quỷ quái, sau này tôi nghĩ lại – bằng cách khiến tôi làm những việc mình không tự nghĩ ra: đào khoai lên để xem chúng lớn cỡ nào khi còn nhỏ xíu, chất củi lên thành đống để chúng tôi nhảy từ trên đó xuống. Ở trường chúng tôi chẳng bao giờ nói chuyện với nhau. Steve cô độc nhưng không đau khổ. Nhưng vào những buổi sáng thứ bảy, khi chợt nhìn thấy cái dáng của nó điềm tĩnh, gầy gò, xuyên qua hàng rào dương liễu, tôi biết là tôi sắp tham dự một điều gì đó và Steve sẽ quyết định điều ấy. Đôi khi chúng cũng êm xuôi. Chúng tôi giả đò làm cao bồi huấn luyện những con ngựa hoang. Chúng tôi chơi đùa trên cánh đồng cỏ gần bờ sông, không xa lắm chỗ Steve bị chết đuối. Chúng tôi giả đò làm ngựa và kỵ sĩ, la hét, mang dây nhợ, vung vẩy những ngọn roi làm bằng cây lá, ở trên bờ con sông không tên chảy xuôi xuống vùng Saugeen ở phía Nam tỉnh Ontario.
Đám tang được tổ chức trong nhà chúng tôi. Nhà của Steve không đủ chỗ cho đám đông đến dự bởi tình cảnh đặc biệt. Tôi vẫn còn lưu giữ ký ức về căn phòng đầy người nhưng không nhớ là có tấm hình nào của thằng Steve trên quan tài của nó hay có linh mục nào đến làm lễ, hay có những tràng hoa được gởi đến. Tôi chỉ nhớ rằng tôi cầm một bông hoa, loại thủy tiên màu trắng, chắc là ngắt từ chậu bông ai đó đẩy vào cửa, vì lúc ấy chưa phải là mùa của liên kiều trổ bông hoặc hoa huệ và cúc vạn thọ hay gặp trong rừng. Tôi đứng trong hàng của những đứa trẻ, mỗi chúng tôi cầm một bông thủy tiên. Chúng tôi đồng ca bài hát của trẻ con, có một người nào đó chơi đàn cương cầm: “Khi Người Đến, Khi Người Đến, Làm Nên Châu Ngọc Rạng Ngời”. Tôi mang đôi tất màu trắng, chúng ngứa kinh khủng, đầy những nếp nhăn ở đầu gối và mắt cá chân. Cảm giác đối với những đôi tất này trên chân tôi lẫn lộn với cảm giác trong ký ức của tôi. Thật khó diễn tả. Chắc là chúng có liên quan gì đó tới cha mẹ tôi. Liên quan tới người lớn nói chung nhưng đặc biệt là cha mẹ tôi? Cha tôi người là mang xác Steve từ bờ sông lên, và mẹ tôi là người gần như đã làm tất cả các việc thu xếp cho tang lễ này. Cha tôi trong bộ đồ vest màu xanh sậm và mẹ tôi trong chiếc áo đầm nhung nâu với cái viền cổ sa-tanh kem. Họ đứng bên nhau mở miệng ra khép miệng lại trong bài nguyện ca, và tôi đứng xa, giữa những đứa trẻ khác, nhìn chăm chú. Tôi có cảm giác ghê tởm điên cuồng và đau đớn. Trẻ con đôi khi có cảm giác bực bội căm ghét như thế đối với người lớn. Kích thước, những cái bóng lổn nhổn, sức mạnh bồng bềnh. Hơi thở, sự thô ráp, lông lá, sự chế tiết khó chịu. Nhưng còn hơn thế nữa. Và cơn giận đi kèm chẳng có gì rõ ràng và đúng mức. Không có một việc gì làm thoải mái hơn và cuối cùng tôi gập người lại nhặt một hòn đá ném về phía Steve. Không thể nào hiểu được hay diễn tả được, mặc dù cảm giác ấy dần biến thành một thứ nặng nề, thành mùi vị trên lưỡi, một mùi vị tình cờ – loãng, đầy nghi hoặc hay quen thuộc.
Hai mươi năm sau hoặc lâu hơn nữa, năm 1961, chồng tôi, Andrew, và tôi mua được một chiếc xe mới toanh, cái xe đầu tiên – tức là cái xe mới đầu tiên. Hiệu Morris Oxford, màu vỏ hàu (người bán xe gọi nó bằng một cái tên thú vị hơn) – một chiếc xe loại nhỏ khá bự, với nhiều chỗ ngồi đủ cho chúng tôi và hai đứa trẻ. Con bé Cynthia lên sáu và Meg ba tuổi rưỡi.
Chồng tôi chụp một bức ảnh tôi đứng bên xe hơi. Tôi mặc quần trắng, áo cổ cò màu đen, và mang kính râm. Tôi đứng dựa vào cửa xe, nghiêng hông để làm mình gầy đi.
“Tuyệt vời,” chồng tôi nói. “Hay lắm. Nhìn em giống Jacky Kennedy.”
Thời ấy khắp nơi những phụ nữ trẻ tuổi, tóc đen, mảnh mai, đều được bảo rằng, khi họ diện đồ sành điệu, hoặc khi chụp hình, trông giống đệ nhất phu nhân Jacky Kennedy.
Andrew chụp nhiều hình cho tôi và những đứa trẻ, nhà chúng tôi, khu vườn, đồ đạc, kỷ vật. Anh chụp hình, ghi chú tỉ mỉ lên đó, gởi về cho mẹ của anh và dì của anh và cậu của anh ở Ontario. Anh cũng đưa những bức hình để tôi gởi cho ba tôi, cũng đang sống ở Ontario, và tôi cũng làm thế nhưng không đều đặn như anh. Khi nhìn thấy những bức ảnh lẽ ra tôi phải gởi đi rồi hãy còn nằm lăn lóc, Andrew bối rối bực bội lắm. Anh muốn những thứ kỷ vật này được chuyển đi hết.
Mùa hè năm đó chúng tôi về thăm nhà thật, chứ không phải chỉ những bức hình. Chúng tôi lái xe từ Vancouver, nơi đang sinh sống, về Ontario, nơi chúng tôi cũng gọi là nhà, trên chiếc xe hơi mới toanh. Năm ngày đi đường, mười ngày ở đó, năm ngày trở về. Lần đầu tiên Andrew được nghỉ làm trong ba tuần lễ. Anh làm việc trong bộ phận pháp luật của công ty thủy điện tỉnh bang British Columbia.
Buổi sáng thứ bảy, chúng tôi mang vali, hai bình thủy – một cà phê, một nước chanh đường – trái cây, bánh mì, sách ảnh, vở tô màu, bút chì, giấy vẽ, thuốc diệt côn trùng, áo len (phòng khi trời lạnh ở trong vùng núi), và hai đứa con gái của chúng tôi lên xe hơi. Andrew khóa cửa lại và Cynthia nói kiểu cách: “Chào giã biệt, nhà ta ơi”.
Meg nói: “Chào giã biệt, nhà” rồi nó nói thêm “Thế bây giờ chúng ta sống ở đâu?”
“Không phải chia tay mãi mãi,” Cynthia nói “Chúng mình sẽ trở về. Mẹ ơi! Con Meg nghĩ là chúng ta sẽ không bao giờ về đây nữa.”
“Em có nói thế đâu,” Meg bảo, lấy chân đá vào sau lưng chiếc ghế ngồi của tôi. Andrew và tôi mang kính râm lên và chúng tôi lái xe vượt qua cầu Sư tử xuyên qua cửa ngõ Vancouver. Chúng tôi rũ bỏ ngôi nhà của mình, hàng xóm của mình, thành phố của mình, và – ở biên giới giữa tiểu bang Washington và tỉnh British Columbia – đất nước chúng tôi. Chúng tôi lái xe về phía Đông đi xuyên qua nước Mỹ, dọc theo xa lộ cực Bắc, con đường này sẽ chạy trở vào Canada lần nửa ở Sarnia, Ontario. Tôi không biết chúng tôi đã chọn con đường này vì thời ấy quốc lộ xuyên Canada chưa xây dựng xong hay vì chúng tôi muốn có cảm giác lái xe qua một nước khác, chỉ hơi khác một chút thôi – một chút đỉnh của sự thú vị và phiêu lưu.
Ai cũng phấn chấn. Andrew khoái chí hoan hô chiếc xe hơi nhiều lần. Anh nói anh thấy rõ là nó chạy ngon hơn chiếc xe cũ của chúng tôi, một cái xe Austin đời 1951 bò chậm như rùa khi lên dốc và mang hình ảnh một bà già rầu rĩ. Andrew bảo thế.
“Thế chiếc xe mới này có hình ảnh của cái gì?” Cynthia hỏi. Nó lắng nghe chúng tôi chăm chú và thích tập nói những chữ mới lạ như chữ hình ảnh. Thường nó nói cũng đúng.
“Sống động,” tôi bảo “Giống kiểu xe thể thao. Nhưng không khoe mẽ.”
“Nó tiện lợi, nhưng vẫn có đẳng cấp riêng,” Andrew bảo. “Giống như hình ảnh của anh.” Cynthia ngẫm nghĩ về điều ấy và nói với sự tự hào thận trọng “Thế nghĩa là giống như ba muốn ba cũng y vậy, phải không ba?”
Tôi thật hạnh phúc vì cảm giác rũ bỏ. Tôi muốn rũ bỏ hết. Trong ngôi nhà của mình dường như lúc nào tôi cũng tìm chỗ để trốn – đôi khi trốn mấy đứa trẻ nhưng nhiều hơn là công việc cần làm, tiếng điện thoại reo và giao thiệp với hàng xóm. Tôi muốn chạy trốn, ẩn núp để có thể tập trung vào công việc thật sự của mình, một thứ gì như gợi lại quá khứ xa xăm. Tôi đã sống trong tình trạng bị vây hãm, khi nào cũng đánh mất một điều gì tôi đang giữ trong tay. Nhưng cuộc du hành mới dễ dàng làm sao. Lúc này tôi có thể trò chuyện với chồng, với các con và quan sát những điều chúng muốn tôi quan sát – một con lợn ở trên bảng chỉ đường, một con ngựa non trên cánh đồng, một chiếc xe hơi Volkswagen nằm trên xe tải lớn – và đổ ly nước vào những chiếc tách nhựa, và những thứ này thứ kia bay hòa quyện trong nhau suốt ngày trong tôi. Một sự kết hợp quan trọng mà tôi có thể đạt tới. Điều này làm tôi đầy hy vọng, thấy tâm hồn thanh thản, nhẹ nhõm, mà một người quan sát bàng quan mới làm được. Một người quan sát chứ không phải  một người canh giữ.
Chúng tôi rẽ về phía Đông ở Everett và vượt lên vùng Cascades. Tôi chỉ cho Cynthia lộ trình trên bản đồ. Trước hết tôi chỉ cho con bé bản đồ của toàn nước Mỹ, đồng thời cũng thấy được phần cực Nam của Canada. Tôi dở qua trang khác của cuốn bản đồ gồm những tiểu bang mà chúng tôi đi qua. Washington, Idaho, Montana, North Dakota, Minnesota, Wisconsin. Tôi chỉ cho Cynthia những vạch đứt quãng xuyên hồ Michigan, cũng là đường của chuyến phà chúng tôi sẽ qua. Kế đó chúng tôi sẽ lái xuyên Michigan đến cây cầu nối liền Hoa Kỳ và Canada ở vùng Sarnia, Ontario. Về nhà.
Bé Meg cũng muốn nhìn.
“Mày đâu có hiểu gì,”Cynthia bảo. Nhưng nó cũng lôi tập bản đồ ra băng ghế sau.
“Ngồi xuống đi,” nó bảo em “Ngồi yên. Chị chỉ cho mà xem.”
Tôi có thể nghe tiếng động những ngón tay Cynthia chỉ đường cho Meg rất chính xác, như tôi vừa mới làm với nó. Nó coi hết bản đồ các tiểu bang, biết cách tìm chúng theo mẫu tự.
“Mày có biết cái vạch kẻ này là đường gì không?” Cynthia hỏi. “Cái đó kêu bằng xa lộ. Đó là nơi mà chúng ta sẽ lái xe đi. Chúng ta đang đi trên chính cái vạch này đây.”
Meg chẳng nói gì cả.
“Mẹ ơi, chỉ cho con chúng ta đang ở chỗ nào lúc này,” Cynthia nói.
Tôi lấy tấm bản đồ lên, chỉ con đường đi xuyên qua núi, và nó lấy lại bày cho Meg. “Có thấy vạch kẻ này không, nó rất là ngoằn nghoèo. Nó ngoằn nghoèo bởi vì có nhiều lối vòng quanh. Những chỗ ngoằn nghoèo là những khúc quanh.” Nó lật một trang rồi chờ một lát. “Bây giờ chỉ cho chị xem chúng ta đang ở đâu”. Rồi nó kêu lên với tôi “Mẹ, Meg hiểu. Nó chỉ ra được cái chỗ đó. Meg cũng hiểu bản đồ!”.
Đối với tôi có vẻ chúng ta bịa tạc ra các phẩm chất của trẻ con. Chúng ta xếp đặt chúng sao cho mọi thứ vận hành êm thắm. Cynthia thì sáng láng và cần cù, nhạy cảm, nhã nhặn, cẩn thận. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn trêu đùa nó về việc quá chú ý, chuyên tâm làm bằng được những điều thật ra thâm tâm chúng tôi cũng muốn. Bất cứ cái gì chậm chạp, bị thất bại, bị cự tuyệt, đều làm nó xúc động sâu xa. Con bé có mái tóc mượt, làn da đẹp nõn nà, nhưng dễ bị ăn nắng, dễ ngấm mùi của gió, của lòng tự hào, của cả sự tủi hờn. Meg thì cứng rắn hơn, kín đáo hơn – không nổi loạn nhưng đôi khi ương ngạnh, bí ẩn. Sự lặng lẽ của nó gây cảm giác về sức mạnh của tính cách, trong khi sự ương ngạnh lại là dấu hiệu của tính độc lập điềm tĩnh. Tóc nâu, và cắt thành những lọn thẳng. Mắt vàng sẫm, trong veo, chói sáng.
Chúng tôi hài lòng với những tính cách của con mình, thích thú với vẻ trái ngược nhau và vẻ xác định của từng cá tính. Chúng tôi không thích lắm quan điểm nặng nề, bảo thủ của cha mẹ. Tôi sợ cảm giác trở thành kiểu bà mẹ thân thể thì chảy xệ xuống, người nặng mùi vải bông, mùi sữa, nghiêm khắc với ba chuyện vặt vãnh. Tôi tin rằng tất cả những nỗi lo lắng quá mức của người mẹ, nhu cầu của họ vác lên vai vai trò của mình, chính là nguyên nhân của chứng đau khóc dạ đề ở trẻ con, chứng đái dầm, chứng hen suyễn. Tôi thích nuôi dạy con kiểu khác – sự liều lĩnh đầy giễu cợt, tính chế nhạo của những bà mẹ có trình độ chuyên môn thường viết bài cho các tạp chí. Trong các tạp chí ấy, những đứa trẻ tự mình lớn lên, sắc cạnh, bất thường, không bị bẻ gãy. Có những bà mẹ, với sự hóm hỉnh thông minh của họ, đã cứng cỏi được như thế. Những người mẹ trong đời thật làm tôi thích thú là những người có thể nhấc phone lên và thản nhiên nói, “Liệu cái bào thai Hitler của tôi có vô tình chạy qua nhà chị không?” Họ có thể cười hăng hắc trên đám sương mù đặc như sữa.
Tôi nhìn thấy một con nai chết cột trước chiếc xe tải nhỏ.
“Có ai đã bắn hạ nó,” Cynthia nói, “Những người thợ săn bắn mấy con nai.”
“Mùa săn đã tới đâu,” Andrew trả lời. Chắc là họ tông phải nó trên đường. Con có thấy bảng báo hiệu vẽ nai băng qua đường không?”
“Con sẽ khóc nếu chúng ta tông phải một con nai,” Cynthia nói nghiêm nghị.
Tôi làm những cái bánh mì kẹp với bơ, đậu phụng, mứt cam và quýt cho mấy đứa trẻ và món cá hồi sốt cà chua cho chúng tôi. Nhưng tôi không bỏ rau diếp xà lách vào và Andrew tỏ ra thất vọng.
“Nhưng em chẳng có miếng nào,” tôi bảo.
“Thế em chẳng có cách nào kiếm được à?”
“Em đã mua cả một bó cải xà lách vừa đủ cho bánh mì xăng uých, nhưng rồi em nghĩ không cần.”
Thật ra tôi nói dối, tôi đã quên mất.
“Có rau diếp xà lách thì ngon hơn,” anh nói.
“Em thì thấy chẳng có gì khác nhau,” sau một hồi tôi nói. “Đừng có cáu kỉnh như thế chứ.”
“Anh không cáu, anh chỉ thích xà lách ở trong món bánh mì kẹp mà thôi.”
“Em chẳng nghĩ chuyện đó quan trọng chi.”
“Thế nếu anh quên đổ xăng thì sao?”
“Hai chuyện đó khác nhau chứ.”
“Thôi hãy hát một bài ca,” Cynthia bảo. Rồi nó bắt đầu hát.
Năm chú vịt nhỏ một ngày đi ra
Đi lên ngọn đồi và đi thật xa
Một chú vịt nhỏ đi qua và kêu
Quác quác quác
Bốn con vịt nhỏ lúc lắc quay về
Andrew siết chặt tay tôi, bảo “Thôi mình đừng cãi nhau nữa.”
“Anh nói đúng. Lẽ ra em cần phải mua cải xà lách.”
“Thôi chuyện đó có chi quan trọng đâu.”
Tôi ước gì tôi có thể hướng những cảm giác về Andrew thành những cảm hứng có ích và đáng tin cậy. Tôi đã cố gắng viết hai danh sách, một là những thứ mà tôi thích về anh, cái kia là những thứ tôi không thích – trong đời sống thân mật vợ chồng có những thứ tôi thích, những thứ tôi ghét – như thể tôi hy vọng rằng điều này có thể mang lại một chứng minh nào đó, một kết luận nào đó. Nhưng rồi tôi lại bỏ cuộc vì thấy những điều ấy tôi biết rồi – rằng tôi có nhiều mâu thuẫn không sửa được. Đôi khi tiếng bước chân của anh ấy đối với tôi cũng có vẻ độc tài chuyên chế, cái miệng của anh ấy cũng có vẻ bần tiện và tự mãn, thân thể của anh cứng rắn thẳng thớm như một rào cản – một cách đầy ý thức, đầy bổn phận, sự hài lòng đáng ghét của quyền lực đàn ông – ở giữa tôi và niềm vui sướng hay nhẹ nhõm mà tôi có thể đạt được trong đời mình. Thế rồi không hề báo trước anh bỗng trở thành người bạn tốt, một người bạn đường quan trọng nhất trên đời. Tôi cảm nhận sự ngọt ngào của thân xác thanh thản, ý tưởng nghiêm nghị, sự yếu đuối dễ vỡ của tình yêu của anh, mà tôi hình dung ra là nó thuầm khiết hơn và trong sáng chân thật hơn so với tình yêu của tôi. Tôi có thể khi thì xúc động sâu xa vì sự cứng cỏi, tính khuôn phép đúng mức, khi thì chế nhạo chúng. Tôi nghĩ chồng tôi thật là khiêm tốn khi đứng ngay ngắn vào vị trí  của người chồng đã mặc định, vai trò của người cha, một người đi làm việc mang tiền về, và khi tự so sánh với những người đàn ông như vậy, tôi thấy mình là kẻ ích kỷ đáng ghét bí mật. Cũng không hẳn bí mật lắm, không phải nhìn từ phía anh.
Từ dưới sâu xa những cuộc cãi lộn giữa hai vợ chồng, chúng tôi lột hết những sự thật xấu xa nhất. “Anh biết có một điều gì đó rất ích kỷ và rất giả dối ở nơi em,” Andrew có lần nói, “Anh lúc nào cũng biết chuyện đó. Anh cũng biết rằng chính vì vậy mà anh yêu em.”
“Đúng thế,” tôi trả lời. Cảm thấy đau buồn nhưng tự mãn.
“Anh biết rằng em sẽ sống tốt hơn nếu chẳng có anh.”
“Đúng, em có thể như thế đấy.”
“Mà anh cũng hạnh phúc hơn nếu không có em.”
“Đúng chứ.”
Và rồi cuối cùng – cuối cùng – xô đẩy nhau, hành hạ nhau, chúng tôi lại vỗ tay và cười phá lên, cười vào mặt những kẻ ngốc khờ kia, tức cũng là chúng tôi. Sự đau khổ của họ, sự nhớ tiếc của họ, khả năng tự bào chữa cho mình của họ, chúng tôi đã vượt qua những điều ấy, chúng tôi tuyên bố họ là những kẻ nói dối. Chúng tôi uống rượu vang trong bữa tối hay quyết định tổ chức những bữa tiệc.
Đã nhiều năm tôi không gặp lại Andrew, không biết anh còn giữ dáng người thanh mảnh, hay tóc anh đã bạc, vẫn thói quen lúc nào cũng đòi ăn rau diếp xà lách, thích nói thật, hay vẫn nồng nàn và thất vọng như xưa.
Chúng tôi qua đêm ở Wenatchee, Washington, nơi nhiều tuần lễ không mưa. Chúng tôi ăn tối trong một nhà hàng dựng bên thân cây- không phải cây ghép trong chậu mà cây bông gòn mạnh mẽ cao lớn. Sáng sớm khi mặt trời mọc, chúng tôi lái xe ra khỏi thung lũng có nước tưới, leo lên những ngọn đồi khô cằn, sỏi đá, dốc đứng, mỗi ngày một thêm nhiều đồi cho đến khi tới một cao nguyên rộng xuyên qua bởi sông Spokane và sông Columbia. Trung du và thảo nguyên, dặm đường này đến dặm đường kia. Rồi có những con đường thẳng tắp, những thị trấn nông trại nhỏ, những kho tồn trữ lúa mì. Một cái bảng trên đường ghi rõ vùng chúng tôi đi vào, hạt Douglas, là nơi sản xuất lúa mì lớn thứ hai ở Mỹ. Có những thị trấn trồng nhiều cây xanh bóng mát. Hoặc ít ra tôi nghĩ chúng được trồng, bởi vì không thấy những cây lớn như thế ở vùng quê lân cận.
Tất cả khung cảnh ấy chào đón tôi một cách huy hoàng. “Vì sao em yêu chúng đến vậy?” Tôi bảo Andrew. “Chẳng phải vì nó hấp dẫn hay sao?”
“Vì nó gợi nhớ tới quê nhà của em,” Andrew nói. “Một nỗi hoài hương khẩn trương bi thiết”.
Nhưng anh nói thế với giọng tử tế.
Khi nói đến chữ “quê nhà” và ám chỉ Ontario, hai chúng tôi nghĩ đến những vùng khác nhau. Cố thổ của tôi là một nông trại nuôi gà tây, nơi cha tôi sống như người đàn ông góa vợ, và mặc dù đó là ngôi nhà mẹ tôi hằng sống, bà đã từng dán giấy lên tường, sơn phết dọn dẹp, sắp đặt bàn ghế, vẫn thấy rõ dấu hiệu của điêu tàn, của cuộc sống bắt đầu hoang dại. Một đời sống tiếp tục kiểu mà mẹ tôi không thể đoán trước hay tha thứ. Có những buổi tiệc của những người thợ làm gà tây, thợ máng nước, thợ nhổ lông gà, đôi khi có một hai chàng trẻ tuổi sống tạm vài ngày như quán trọ, rủ rê bạn bè tới tiệc tùng vui nhộn. Đời sống ấy, tôi nghĩ tốt hơn nhiều cho cha tôi so với cuộc sống cô đơn lặng lẽ, mà tôi cũng không bài bác và chẳng có quyền gì để phê phán. Andrew hoàn toàn không thích tới đó, cũng dễ hiểu thôi, bởi vì anh không phải loại người có thể ngồi lòng vòng quanh bàn bếp với những người thợ làm gà, kể chuyện chọc cười vui vẻ. Những người thợ ngượng ngùng khi có mặt anh, cảm thấy như bị coi thường, và đối với tôi thì cha tôi, những khi họ ở đó, cần đứng về phía họ. Và không chỉ Andrew là bực bội. Tôi chịu được chuyện pha trò của đám thợ, nhưng cũng phải cố gắng lắm.
Tôi ước những ngày nhỏ dại, trước khi gia đình có trại gà tây. Trước đó chúng tôi nuôi bò sữa và bán sữa cho hãng phô-mát. Trại gà không thể nào sánh được với trại nuôi bò hay nuôi cừu. Bạn có thể thấy những con gà tây nằm trên một băng dài nối tới những thùng đông lạnh và thịt chuẩn bị ăn được. Chúng không có vẻ giả tạo của đời sống thanh bình trong trại gia súc, những con lợn trong vườn cây râm mát. Chuồng gà là một dãy nhà dài, tiện lợi, làm bằng tôn. Không có những cái túi hay cỏ hay chuồng. Ngay mùi phân gà tuy loãng hơn nhưng lại khó chịu hơn phân bò. Không có một hình ảnh nào về cuộn cỏ, hàng rào hay chim chóc ca hát hay bụi mận gai trổ bông. Những con gà tây để đầy trên mặt đất nhưng chúng đã được rửa sạch. Chúng trông không giống những con chim lớn mà giống một thứ đồ đem giặt biết đập cánh.
Một lần nọ, ít lâu sau khi mẹ tôi qua đời và khi tôi đã lập gia đình – thực tế là tôi đã gói đồ đạc chuẩn bị về ở với Andrew ở Vancouver – tôi ở lại nhà vài ngày với cha tôi. Trời mưa lớn khác thường suốt đêm. Sáng sớm, trại nuôi gà ngập lụt. Ít nhất là những chỗ thấp bị ngập nước- trông như cái hồ với những hòn đảo nhỏ. Những con gà đứng xúm xít lại trên các hòn đảo ấy. Gà tây là thứ rất ngốc. Cha tôi vẫn nói, “Con có biết gà không? Có biết chúng xuẩn ngốc cỡ nào chưa? Vậy mà gà vẫn còn là Einstein nếu đem so với bọn gà tây này”. Nhưng chúng vẫn biết tụ lại trên cao để tránh chết trôi. Bây giờ chúng xô đẩy nhau đến ngạt thở, run lạnh và chết. Không thể chờ nước rút. Chúng tôi kiếm chiếc xuồng cũ, tôi chèo còn cha tôi nắm những con gà lôi chúng lên xuồng, mang chúng vào trại gia súc. Trời vẫn còn mưa lai rai. Công việc thật vất vả, nhàm chán và khó chịu. Chúng tôi cười phá lên. Tôi cảm thấy hạnh phúc có dịp làm việc với cha tôi. Tôi cảm thấy gần gũi với thứ công việc nặng nhọc, lập đi lập lại, kinh khủng, khi thân xác bạn rã rời, trí óc chìm nghỉm (dù đôi khi tinh thần khinh khoái), và lòng tôi chưa chi đã nảy sinh mối hoài niệm lạ lùng về nơi chốn đây, cuộc sống này, trong những ngày sắp tới. Tôi nghĩ là nếu Andrew nhìn thấy tôi trong hoàn cảnh như thế, trong mưa, lòng bàn tay đỏ ửng lên, người đầy bùn, vừa cố nắm chặt chân gà vừa chèo thuyền, chắc anh chỉ muốn lôi tôi ra khỏi chỗ này và làm tôi quên bẵng đi mọi việc ở đây. Cuộc sống thô sơ như nhiên này làm anh tức giận. Sự gắn bó của tôi với nó càng làm anh giận dữ. Tôi nghĩ lẽ ra tôi không nên lấy anh. Nhưng lấy ai bây giờ? Một trong những người thợ làm gà tây chăng?
Và tôi cũng không muốn ở đây lâu. Có lẽ tôi sẽ buồn khi bỏ đi, nhưng còn tệ hơn nếu có ai đó khiến tôi phải ở lại.
Mẹ của Andrew sống ở Toronto trong một căn hộ chung cư nhìn ra công viên Muir. Khi Andrew và người chị của anh còn ở nhà, mẹ họ ngủ ngoài phòng khách. Chồng của bà, một bác sĩ, qua đời khi những đứa trẻ còn nhỏ dại chưa đến tuổi tới trường. Bà học một khóa huấn luyện thư ký và bán căn nhà của mình với giá rẻ mạt, dọn vào cư xá, nuôi dạy con cái tươm tất, với sự giúp đỡ của vài người thân- người chị của bà tên Caroline, người anh rể tên Roger. Andrew và chị đi học trường tư và đi cắm trại mùa hè.
“Thế mà em cứ tưởng là nhờ quỹ tương tế xã hội kia chứ?” Có lần tôi bảo thế, chế nhạo anh về việc anh tự cho mình là một người nghèo. Trong trí tôi, đời sống thành thị của Andrew an toàn quá mức, cầu kỳ kiểu cách. Mẹ của anh về nhà ôm lấy đầu sau một ngày làm việc đầy tiếng động, ánh sáng chói chang của văn phòng tiệm tạp hóa, nhưng đối với tôi đời sống của bà không có gì khó khăn hay đáng thán phục. Tôi không nghĩ bản thân bà tin rằng mình là một người đáng thán phục – chỉ là không may mắn. Bà lo lắng về công việc của mình ở văn phòng, quần áo, việc bếp núc, con cái. Bà lo âu gần như về tất cả những gì mà Roger và Caroline có thể để mắt tới.
Caroline và Roger sống ở phía đông của công viên, trong một ngôi nhà đá đẹp tuyệt. Roger cao, hói đầu, da mặt tàn nhang, có cái bụng lớn nhưng rắn chắc. Cuộc giải phẫu ở vùng họng làm ông nói giọng khó nghe – như tiếng thì thào thô ráp. Nhưng ai cũng chú ý nghe cả. Có lần trong bữa ăn tối ở ngôi nhà bằng đá kia – tất cả những bàn ghế đồ đạc trong phòng ăn đều lớn, màu tối lộng lẫy, nguy nga – tôi hỏi anh một câu. Tôi nghĩ là có liên quan đến Whittakers Chambers, câu chuyện của ông ta xuất hiện trên báo Bưu Điện Chiều Thứ Bảy. Tôi hỏi nhẹ nhàng thôi nhưng anh nghĩ là có dụng ý khiêu khích và gọi tôi là bà Gromyko, ý muốn nói người mà tôi cùng chia sẻ quan điểm. Có thể anh cần một đối thủ nhưng chẳng tìm thấy ai. Trong bữa ăn tối, tôi nhìn thấy tay của Andrew run lên khi anh bật lửa châm thuốc cho mẹ anh. Dượng Roger trả tiền cho việc học hành cho Andrew, và có chân trong ban giám đốc của một số công ty.
“Dượng ấy chỉ là một người có quan niệm ương bướng,” sau này Andrew bảo tôi. “Làm gì mà em cứ phải tranh cãi với ông?”
Trước khi chúng tôi rời Vancouver, mẹ của Andrew viết thư, Roger có vẻ tò mò về ý định của con muốn mua một cái xe hơi loại nhỏ! Dấu chấm than của bà diễn tả lo ngại. Vào thời đó, đặc biệt là ở Ontario, việc mua một chiếc xe hơi nhỏ kiểu châu Âu thay vì xe Mỹ cỡ bự trông như là một bản tuyên bố – một tuyên bố về lập trường mà Roger đánh hơi được từ lâu.
“Nhưng xe này không thuộc loại xe nhỏ,” Andrew nói bực bội.
“Đó không phải là điểm chính,” tôi bảo anh. “Điểm chính là, mắc mớ chi tới dượng ấy!”.
Chúng tôi qua đêm thứ hai ở Missoula. Người ta bảo chúng tôi trong một trạm đổ xăng ở Spokane, là có chỗ sửa chữa xe cộ phụ tùng dọc theo tuyến đường cao tốc số 2 và chúng tôi đã lái qua những dặm đường nóng nực đầy bụi bặm, những thời gian chờ đợi rất dài, vì vậy chúng tôi rẽ về xa lộ liên tỉnh, băng qua Coeur d’Alene và Kellogg để vào Montana. Qua khỏi Missoula chúng tôi hướng lên phía nam về phía Butte, nhưng rồi vòng lại để thăm Helena, thủ phủ của tiểu bang Montana. Trên xe hơi chúng tôi chơi trò Tôi Là Ai?
Cynthia đóng vai một người Mỹ, một người đã chết, và có thể là bé gái. Có thể một phụ nữ. Cô ấy không có mặt trong câu chuyện. Cô không hề xuất hiện trên tivi. Cynthia cũng không đọc gì về cô ta trong sách. Cô không phải là người đã từng tới thăm lớp mẫu giáo hay bà con gì của bạn bè của Cynthia.
“Cô ta có phải là người không?” Andrew hỏi một cách tinh ý đột ngột.
“Không! Đó là thứ mọi người quên hỏi!”
“Một con vật,” Tôi nói sau khi đã suy nghĩ.
“Có phải đó là một câu hỏi không? Có mười sáu câu hỏi!”
“Không, đó không phải là một câu hỏi. Mẹ đang suy nghĩ. Một con vật đã chết.”
“Đó là con nai,” Meg nói, nhưng nó không phải là người chơi.
“Không công bằng!” Cynthia nói. “Meg không chơi.”
“Con nai nào?” Andrew nói.
Tôi bảo, “Ngày hôm qua”
“Ngày hôm trước,” Cynthia nói. “Meg không chơi. Không ai đoán được.”
“Con nai trên xe tải,” Andrew bảo.
“Đó là một con nai cái, vì nó không có gạc, và đó là một con nai Mỹ, và nó đã chết rồi,” Cynthia bảo.
Andrew nói, “Cha nghĩ đó là ý tưởng bệnh hoạn, đóng vai một con nai chết.”
“Con hiểu rồi,” Meg nói.
Cynthia bảo, “Con nghĩ con biết bệnh hoạn nghĩa là gì. Đó là một thứ sầu muộn.”
Helena, một thị trấn khai mỏ bạc cũ, trông hoang vắng ngay trong ánh nắng bình minh. Rồi đến Bozeman và Billings, không tiêu điều chút nào –sống động mạnh mẽ với nhiều dặm dài lóng lánh kim tuyến của bãi bán xe hơi cũ. Chúng tôi mệt lử và cảm thấy nóng ngay cả khi chơi trò Tôi Là Ai? Những thành phố bận rộn và tẻ nhạt nhắc tôi nhớ tới những địa điểm khác ở Ontario, và tôi sực nghĩ, điều gì thực ra đang chờ đợi mình ở đó – những đồ đạc bia đá trong phòng ăn của dì dượng Caroline và Roger, những bữa ăn tối khiến tôi phải ủi những bộ trang phục của trẻ con, nhắc chúng về những cái nĩa và một cái bàn ăn khác một trăm dặm xa, những trêu đùa chọc ghẹo của đám thợ làm gà tây của cha tôi. Niềm vui thú tôi hằng nghĩ tới – thả mắt nhìn ra xa vùng quê êm ả hay uống một chai Coke trong tiệm tạp hoá cũ với những cây quạt trần và mái tôn cao – đã bị những thứ ấy giựt phăng mất.
“Meg buồn ngủ,” Cynthia nói. “Nó nóng quá. Làm con ngồi gần cũng nóng lây.”
“Mẹ hy vọng là nó không bị sốt,” tôi bảo, không ngoảnh lại.
Chúng tôi làm những chuyện này vì cái gì, tôi nghĩ thầm, và câu trả lời đến ngay – để khoe thôi. Để cho mẹ của Andrew và cha tôi niềm vui gặp cháu của họ. Đó là bổn phận. Nhưng đằng sau cái đó chúng tôi còn muốn khoe một điều gì khác nữa. Thực là những đứa trẻ hăm hở biết bao, tôi và Andrew, những kẻ lúc nào cũng đi tìm sự tán đồng ở người khác. Như thể vào một lúc nào đó ở một điểm nào đó chúng tôi đã nhận được những thông điệp khó nuốt không thể nào quên – rằng chúng tôi đã đi quá xa, và rằng sự thành công thông thường trong đời đã ở sau lưng chúng tôi quá lâu. Dượng Roger đã phát đi những thông điệp ấy, tất nhiên theo cách của ông – nhưng mẹ của Andrew, mẹ tôi và cha tôi, cũng không ai khác biết cách phát đi thông điệp. Tất cả họ đều muốn nói với chúng tôi rằng “ Cẩn thận đấy, phải hoà hợp với mọi người thôi”. Cha tôi khi tôi còn ở trung học đã từng chế nhạo rằng tôi nghĩ mình quá thông minh nên chắc không bao giờ có một đứa bạn trai. Rồi ông quên bẵng điều ông nói trong một tuần, nhưng tôi thì không bao giờ quên. Andrew và tôi không quên điều gì cả. Chúng tôi dễ bị tổn thương.
“Con ước có một bãi biển,” Cynthia nói.
“Có lẽ có một cái,” Andrew bảo. “Ngay phía sau đường lượn vòng.”
“Không có đường vòng nào cả,” Cynthia bảo, giống như tức tối.
“Mẹ cũng muốn nói thế đấy.”
“Con ước gì có một ly chanh đường.”
“Mẹ thì muốn có cây đũa thần và biến phép một ly chanh đường,” tôi nói. “Được thôi, Cynthia? Hay là một ly nước nho vắt? Rồi mẹ hoá phép một bãi biển ở đó nữa”
Cynthia im lặng và tôi cảm thấy hối hận ngay. “Có thể trong thị trấn trước mặt sẽ có một bể bơi,” tôi nói. Tôi nhìn bản đồ. “Ở thị trấn Miles City. Dù sao chúng ta sẽ có một thứ gì đó mát để uống.”
“Xa hay gần hả em?” Andrew hỏi.
“Không xa lắm đâu,” tôi nói, “Ba mươi dặm, cỡ đó.”
“Ở thị trấn Miles City,” Cynthia nói, giọng trầm xuống như đang niệm chú, “sẽ có một bể bơi xanh ngắt đẹp tuyệt dành cho trẻ con và một công viên cây cối mơ màng.”
Andrew bảo tôi, “Em có thể bắt đầu vài thứ em thích”.
Nhưng quả thật có một bể bơi. Một công viên nữa, mặc dù nó không giống ốc đảo trong mơ của Cynthia. Những cây cối thảo nguyên có lá mỏng – cây bông gòn và cây dương – cỏ uá, và hàng rào thép bao quanh bể tắm. Bên trong hàng rào ấy, một bức tường chưa xây xong gồm những tấm xi măng ghép. Không có tiếng cười đùa, tiếng giỡn nước; xuyên qua lối vào tôi nhìn thấy tấm bảng ghi bể bơi tạm đóng cửa từ mười hai giờ trưa đến hai giờ chiều. Lúc đó là mười hai giờ hai mươi lăm phút.
Nhưng tôi vẫn gọi, “Có ai đó không?” tôi nghĩ có người quanh đây, vì một chiếc xe tải nhỏ đỗ trên lối vào. Trên thành xe có tấm bảng ghi:  Chúng tôi có mưu lược để sửa chữa ống nước. (Chúng tôi cũng có dịch vụ hút cầu Roto- Rooter).
Một cô gái chạy ra, mặc áo cứu hộ màu đỏ bên ngoài bộ đồ tắm. “Xin lỗi, chúng tôi đóng cửa.”
“Chúng tôi vừa lái xe ngang qua,” tôi nói.
“Chúng tôi đóng cửa mỗi ngày từ mười hai giờ trưa đến hai giờ chiều. Trên bảng có ghi rõ.” Cô ta đang ăn bánh mì xăng uých.
“Tôi có thấy tấm bảng,” tôi nói. “Nhưng đây là nơi đầu tiên có nước tắm rửa sau nhiều ngày đường, mà các cháu thì nóng nực quá sức, và tôi mong chúng có thể nhảy ùm xuống nước một lát- chỉ năm phút thôi mà. Chúng tôi sẽ canh chừng chúng.’
Mộ cậu trai trẻ xuất hiện sau lưng cô gái. Chàng trai mang quần jeans và áo thun in hàng chữ Roto- Rooter.
Tôi định kể chúng tôi đi từ British Columbia đến Ontario nhưng chợt nhớ đối với nhiều người Mỹ mấy cái địa danh Canada này chẳng gợi lên điều gì nên thôi.”Chúng tôi lái xe xuyên liên bang,” tôi nói. “Chúng tôi không có thời giờ để chờ bể bơi mở cửa. Chỉ hy vọng là các cháu có cái gì tắm mát một chút.”
Cynthia chạy chân không tới đằng sau tôi.”Mẹ. Mẹ ơi, bộ đồ tắm của con đâu?” Rồi nó dừng lại, nhận ra tính nghiêm trọng trong cuộc thương lượng của hai chúng tôi. Meg đang trèo ra khỏi xe hơi- vừa thức giấc, áo kéo lên đầu, quần tụt xuống bẹn, bày cái bụng hồng hồng.
“Chỉ có hai đứa bé này thôi à?” cô gái hỏi.
” Chỉ hai cháu này thôi. Chúng tôi sẽ canh chừng chúng ạ.”
“Tôi không thể cho người lớn vào đây. Nếu chỉ có hai đứa, tôi nghĩ tôi có thể coi được. Tôi đang ăn trưa.” Cô ta hỏi Cynthia, ” Cháu có muốn xuống hồ bơi không?”
“Dạ có ạ,” Cynthia trả lời rõ ràng.
Meg nhìn xuống đất.
“Chỉ một lát thôi, vì hồ bơi đã đóng cửa,” tôi nói.” Chúng tôi thực cám ơn cô lắm lắm,” tôi bảo cô gái.
“Thôi vậy, tôi có thể ăn trưa ngoài ấy, nếu chỉ có hai cô bé này.” Cô nhìn ra xe chúng tôi như thể  bỗng dưng tôi có thể lôi ra thêm vài đứa trẻ nữa.
Khi tôi tìm ra bộ đồ tắm của Cynthia, nó mang ngay vào phòng thay đồ. Nó không muốn ai, ngay cả Meg, nhìn thấy nó ở truồng. Tôi thay đồ cho Meg, nó đứng trên ghế trước trong xe. Nó có bộ đồ tắm bằng vải hồng với dây buộc và nút cài. Có giải rút ở đũng quần.
“Người cháu nóng lắm,” tôi nói.” Nhưng tôi nghĩ không phải bị sốt đâu.”
Tôi thích giúp Meg mặc hay cởi áo quần, vì cơ thể nó còn chưa tự ý thức về mình, với tính thờ ơ ngọt ngào, một cái gì như mùi sữa, của trẻ sơ sinh. Cơ thể của Cynthia thì từ lâu đã được gọt giũa, tạo hình và thay đổi, để trở thành chính Cynthia. Ai cũng  muốn hôn lấy hôn để, quệt mặt vào người Meg. Đôi khi nó nhăn nhó bực bội, đánh lại chúng tôi, và tính tự lập quyết liệt, sự ngượng ngùng giận dữ này, càng làm nó thêm hấp dẫn, khiến người ta cứ muốn ôm nghiến lấy, thọc lét, kiểu người thân trong nhà.
Andrew và tôi ngồi trong xe hơi, cửa kính hạ xuống. Tôi nghe được tiếng nhạc vẳng ra từ radio và nghĩ đó là máy của cô gái hay bạn trai cô ta.Tôi khát quá, ra kỏi xe, tìm một chỗ mát mẻ, hay một cái máy bán thức uống, đâu đó trong công viên. Tôi mang quần đùi và sau hai bắp chân ướt lẫm mồ hôi. Tôi thấy một vòi nước uống bên kia công viên và đi tới đó bằng lối vòng dưới bóng hàng cây. Không có gì là có thật cả cho đến khi bạn bước ra khỏi xe. Lừ đừ vì nóng, vì mặt trời trên các ngôi nhà bỏng rộp lửa, hè đường, cỏ cháy, tôi bước đi chậm chạp. Tôi chú ý đến một chiếc lá bị dẫm nát, bóp vụn một que khuấy cà phê dưới gót giày, nheo mắt nhìn thùng rác cột vào thân cây. Đó là cách bạn quan sát những vật hèn mọn nhất bỗng trồi lên bề mặt thế giới, sau khi bạn đã lái xe đi thật lâu- bạn cảm nhận được tính chất riêng biệt của chúng, nơi cư ngụ chính xác và nỗi trùng hợp tình cờ đáng thương của việc bạn cũng có mặt nơi đây để nhìn ngắm chúng.
Những đứa trẻ đâu rồi?
Tôi xoay người lại, bước rất mau, không hẳn là chạy, tới bên một đoạn hàng rào nơi bức tường bên trong chưa xây xong. Từ đây tôi có thể nhìn thấy hồ bơi. Tôi thấy Cynthia, đứng ngâm mình trong nước ngang thắt lưng, vung tay đập nước và chăm chăm nhìn một vật gì phía cuối hồ bơi, nhưng tôi không thấy được. Căn cứ vào dáng đứng của nó, sự chăm chú, vẻ mặt, tôi nghĩ nó đang coi mấy trò của cô gái cứu hộ và gã bồ cô ta. Tôi không thấy Meg. Nhưng tôi nghĩ nó đang chơi ở chỗ nước cạn- cả hai đầu nước cạn và nước sâu tôi đều không nhìn thấy.
“Cynthia!” Tôi phải gọi hai lần con bé mới nhìn ra chỗ đứng của tôi.”Cynthia! Meg đâu rồi?”
Có vẻ Cynthia, bất cứ khi nào tôi nhớ lại cảnh này, quay mình duyên dáng về phía tôi, rồi xoay cả người trong nước- làm tôi nghĩ tới một vũ điệu ba lê – và dang tay ra như đứng trên sân khấu. “B- i- ế- n- m- ấ- t!”
Cynthia vốn có tính duyên dáng tự nhiên, mà con bé lại học múa, vì thế những động tác này có thể đã xảy ra đúng như thế thật. Nó quả thật có nói “Biến mất!” sau khi đã nhìn quanh mặt hồ một lượt, nhưng điệu bộ và cách nói giả tạo này, cái kiểu không hề khẩn trương chi, thì chắc là do sự tưởng tượng thêm của tôi. Nỗi sợ hãi xâm chiếm lập tức khi không tìm thấy con bé Meg- ngay cả khi tôi tự bảo mình có lẽ nó đứng phía nước cạn- đã là nguyên cớ khiến những cử chỉ của Cythia trở nên quá chậm chạp, quá vô lý đối với tôi, và giọng điệu của chữ “Biến mất” ngay trước khi hàm ý của nó kịp xuất hiện (hay là con bé che giấu, ngay tức thì, cảm giác tội lỗi của nó?) trở nên một lời nói ích kỷ không chịu nổi.
Tôi la lớn lên gọi Andrew, và cô gái coi hồ bơi lập tức xuất hiện. Cô chỉ tay về phía vùng nước sâu và nói, “Cái gì kia kìa?”
Ở đó, ngay trước mắt tôi, một nhúm giải rút hồng hồng phồng lên, trông như một bó hoa, ngay dưới làn nước. Làm sao một nhân viên cứu nạn lại có thể đứng dừng lại và chỉ tay, sao cô ta lại có thể hỏi như thế, sao không nhảy ùm xuống nước và bơi về phía ấy? Cô ta không bơi; mà chạy dọc bờ nước. Nhưng lúc ấy Andrew đã leo lên hàng rào. Bao nhiêu thứ xảy ra không thể giải thích chút nào- cử chỉ của Cynthia rồi đến điệu bộ của cô nhân viên cứu nạn- và bây giờ tôi lại có cảm giác rằng Andrew nhảy phóc một cái đã qua được hàng rào cao bảy bộ. Chắc anh phải trèo nhanh lắm, túm chặt hàng rào dây thép.
Tôi không thể nhảy hay leo gì cả, tôi chạy về phía lối vào, ở đó có một cái cổng kiểu mắt cáo, khoá chặt. Cái cổng không cao lắm, và tôi đu người trèo qua. Tôi chạy dọc theo hành lang xi măng, tới sát mép nước.

(xem tiếp phía dưới)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 215
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: THỊ TRẤN BÊN ĐƯỜNG - ALICE MUNRO (tiếp theo)   Mon Dec 02, 2013 11:33 am



THỊ TRẤN BÊN ĐƯỜNG - ALICE MUNRO (tiếp theo)

Bi kịch kết thúc.


Andrew nắm được Meg đầu tiên, và kéo nó lên khỏi mặt nước. Anh chỉ cần vươn tay ra là nắm lấy nó, vì Meg phần nào đang tự bơi, nhưng đầu đã hụp sâu trong nước – nó lặn ngụp về phía thành hồ tắm. Anh bồng nó đi, và cô cứu hộ bước nhanh phía sau. Cynthia vừa trèo ra khỏi nước và chạy về phía họ. Chỉ một người thờ ơ với toàn bộ sự việc là gã bạn trai của cô nhân viên, cứ ngồi trên ghế dài phía nước cạn, uống một thứ nước pha sữa. Anh ta còn mỉm cười với tôi, và tôi nghĩ thật kẻ là vô cảm, mặc dù nguy hiểm đã qua. Cũng có thể anh ta có hảo ý. Tôi để ý thấy anh ta không tắt radio đi, chỉ vặn nhỏ xuống.
Meg không uống nước đầy bụng. Con bé thậm chí chưa kịp sợ hãi. Tóc dính bết vào đầu và mắt mở to, vàng long lanh.
” Con muốn xuống lấy cái lược,” nó nói.”Con không biết nước sâu thế.”
Andrew nói,”Meg vẫn tự bơi! Nó bơi mình nó. Anh thấy bộ đồ tắm của con trong nước rồi anh thấy nó bơi”
“Nó sắp chìm nghỉm luôn rồi,” Cynthia nói. “Không phải vậy sao? Meg sắp chết đuối.”
“Tôi không biết mọi chuyện có thể xảy ra như thế.” Cô cứu hộ nói. “Con bé vừa mới ở chỗ này, chỉ một thoáng đã không còn đó nữa.”
Chuyện xảy ra là Meg đã lên khỏi nước ở phía nước cạn và chạy dọc theo bể bơi đến đầu kia, chỗ nước sâu. Nó thấy một cái lược người nào đánh rơi dưới đáy. Nó khom người cúi thật sát để lượm cái lược lên, tưởng là nước không sâu. Nó chồm người lên nữa và trượt chân xuống hồ, rơi bõm một cái nhưng không ai nghe được tiếng động- kể cả cô gái cứu hộ, đang bận hôn anh bồ của mình, hoặc Cynthia đang đứng mãi nhìn hai người. Đó đúng là lúc khi tôi đứng dưới bóng cây và chợt nghĩ, Bọn trẻ đang ở đâu vậy? Đó cũng là lúc, Meg trượt chân, lấy làm ngạc nhiên, xuống làn nước trong xanh dễ đánh lừa người ta.
“Mọi chuyện ổn rồi,” tôi bảo cô nhân viên, lúc ấy gần sắp khóc. “Con bé bơi rất nhanh.” (Mặc dù thường chúng tôi không nói về Meg như thế. Chúng tôi nói nó ngẫm nghĩ mọi chuyện trước đã rồi mới thong thả làm.)
“Em đã bơi, Meg”, Cynthia nói, kiểu như chúc mừng. (Sau này nó kể cho chúng tôi nghe về việc hai người kia hôn nhau.)
“Con không biết là nước sâu thế,” Meg bảo. “Con đã không bị chết đuối.”
Chúng tôi ăn trưa ở một tiệm bán thức ăn mang đi, có bánh mì kẹp thịt heo hamburger và khoai tây chiên, ngồi quanh một cái bàn ngoài trời không xa lắm xa lộ cao tốc. Quá vui mừng, tôi quên bẵng mua cho Meg một cái bánh mì kẹp không mùi, và phải cạo bỏ dưa và mù tạt bằng muỗng nhựa, rồi lau miếng thịt với tấm giấy chùi miệng, trước khi đưa cho con bé ăn. Tôi lợi dụng cái thùng rác gần đó để lau chùi xe hơi. Rồi chúng tôi lại lên đường lái xe về phương Đông, cửa kính xe hơi phía trước mở hết ra. Cynthia và Meg ngủ thiếp đi trên băng ghế sau.
Andrew và tôi thầm thì trò chuyện về những điều vừa xảy ra. Giả sử tôi không linh cảm vụt chạy đi tìm những đứa trẻ vào lúc ấy? Giả sử chúng tôi đi vào thành phố để uống một cái gì, như dự định ban đầu thì sao? Làm thế nào Andrew có thể nhảy qua hàng rào? Anh ấy trèo lên hay thực sự đã nhảy qua? (Anh không thể nào nhớ nổi.) Làm cách nào anh đã chạy tới và chụp lấy Meg nhanh đến thế? Và nghĩ đến chuyện cô nhân viên cứu hộ không hề nhìn nhỏi gì đến con bé. Rồi Cynthia đứng trân trân nhìn hai người kia hôn hít nhau. Nó chẳng nhìn thấy gì khác nữa. Không nhìn thấy Meg rơi khỏi mép nước.
Biến mất.
Nhưng nó còn bơi. Nó nín thở và tiếp tục bơi.
Một chuỗi những biến cố may mắn.
Đó là tất cả những gì chúng tôi trò chuyện- may mắn. Nhưng tôi không thể ngừng mà không nghĩ đến chuyện tệ hại xảy ra theo hướng ngược lại. Vào lúc này đây, chúng tôi đã có thể phải ngồi điền những tờ đơn khai báo. Người ta mang Meg khỏi vòng tay của chúng tôi, cơ thể nó được quấn lại chuẩn bị chở đi xa. Về lại Vancouver- nơi chúng tôi chẳng bao giờ lưu ý đến một thứ gì như là nghĩa địa- hay tới Ontario? Những bức tranh nguệch ngoạc mà Meg vẽ sáng nay chắc vẫn còn nằm lại trên ghế ngồi của nó sau xe. Làm thế nào tất cả những điều này có thể chịu đựng được, làm sao con người có thể đương đầu nổi với những câu chuyện như thế? Đôi vai và hai bàn tay và hai bàn chân ngọt ngào, tròn trịa, mái tóc nâu óng ả, vẻ mặt hài lòng và bí ẩn – tất cả đều giống hệt như lúc nó còn sống. Một bi kịch hết sức đời thường. Một đứa trẻ chết trôi trong một bể bơi vào buổi trưa một ngày mùa hạ sáng lòa. Mọi việc sẽ thu gọn lại mau chóng. Hồ bơi sẽ mở cửa lại lúc hai giờ chiều. Cô nhân viện cứu hộ sẽ run rẩy một lúc và xin phép nghỉ việc chiều hôm đó. Cô sẽ lái xe ra đi cùng với người tình trên chiếc xe tải nhỏ hút cầu Roto-Rooter. Cái xác của đứa bé sẽ được khâm liệm trong chiếc quan tài nhỏ để chở đi. Thuốc an thần, những cuộc gọi điện thoại, những thu xếp này nọ. Sự trống rỗng bỗng nhiên ập tới, nỗi chìm khuất và dịch chuyển mù tối. Thức giấc choáng váng vì thuốc ngủ và an thần, trong một lát chợt nghĩ thầm ồ đó là điều không thật. Rồi nghĩ rằng giá như chúng tôi không dừng lại bên đường, giá như chúng tôi đừng đi con đường này, giá như họ không cho phép chúng tôi dùng bể bơi. Có lẽ sẽ không một người nào biết gì về cái lược im lặng nằm dưới đáy hồ kia.
Có một điều gì đó tồi tệ đối với trí tưởng tượng kiểu này, phải không? Một điều gì như sự xấu hổ. Đặt ngón tay của bạn lên hàng rào thép gai, nhận một cú sốc điện, biết được cảm giác ấy thế nào, rồi giựt tay lại. Tôi tin là Andrew còn tỉ mỉ hơn tôi về những điều này, và vào lúc ấy anh cố tình nghĩ đến việc khác.
Khi đứng tách khỏi cha mẹ tôi trong tang lễ của Steve Gauley và quan sát họ, tôi đã bắt gặp cảm giác mới mẻ này, không thoải mái chút nào về họ, tôi nghĩ rằng tôi bắt đầu thấu hiểu một điều gì đó về cha mẹ, lần đầu tiên trong đời. Một điều gì nghiêm trọng chết người. Tôi hiểu ra rằng họ có dính líu tới tai nạn này. Thân thể cao lớn, cứng nhắc, trong y phục nghiêm trang, vẫn không thể nào chắn ngang giữa tôi và cái chết đột ngột kia, hoặc bất kỳ một cái chết nào khác. Họ đã tán thành tai nạn ấy. Có vẻ như vậy. Họ đã cho phép cái chết của những đứa trẻ và cái chết của tôi nữa, xảy ra, không phải bởi lời nói hay hành động của họ, mà bởi vì chính họ đã sinh ra những đứa trẻ ấy trên đời – họ đã sinh ra tôi. Họ đã tạo ra tôi, và vì lý do đó cái chết của tôi – bất kể họ khóc thương thế nào, bất kỳ họ chịu đựng ra sao – đối với họ cũng đều không phải là thứ không tự nhiên hay không thể xảy ra được. Đó là một điều có thật, dù ngay lúc ấy tôi cũng biết rằng thật ra họ không đáng trách.
Nhưng tôi đã trách họ. Tôi đã buộc tội họ về sự trơ tráo, thói đạo đức giả. Thay mặt cho Steve Gauley, cho tất cả những đứa trẻ khác, những kẻ biết rằng chúng có quyền vươn thẳng lên tự do, được sống cuộc đời mới, tuyệt diệu, không bị mắc vào những cái bẫy của người lớn với đời sống thất bại, tình dục và các tang lễ của họ.
Steve đã chết đuối, người ta bảo thế, bởi vì nó gần như là một đứa trẻ mồ côi và được phép rong chơi tự do tha hồ. Nếu nó được nhắc nhở kịp thời, giao cho công kia việc nọ để làm, được giám sát kỹ càng, nó đã không thể nào tuột tay từ một cành cây mỏng mảnh không đáng tin cậy chút nào mà rơi xuống ao nước mùa xuân, rơi vào một cái hố đào sỏi gần bờ sông – nó đã không chết đuối. Nó đã bị bỏ rơi, nó đã được thả rong tự do, và nó đã chết. Và cha nó vẫn thấy đó là một tai nạn, như thứ có thể xảy ra cho một con chó. Ông ta không có cả một bồ đồ lễ tử tế để mặc trong ngày đám tang của con, cũng không cúi đầu khi cầu nguyện. Nhưng ông ta là người lớn duy nhất mà tôi không thèm trách cứ. Ông ta là người duy nhất mà tôi không thấy rõ sự tán thành. Ông ta đã không thể ngăn ngừa một điều gì, nhưng ông ta cũng không dính líu đến tai nạn – không giống như những người lớn khác trong khi cầu nguyện lời Chúa với giọng trầm trọng không mấy tự nhiên, làm rỉ ra thứ tín ngưỡng và thứ mất danh dự đáng hổ thẹn.

Khi tới vùng Glendive, không xa biên giới North Dakota, chúng tôi có một chọn lựa – hoặc là tiếp tục đi theo xa lộ liên tỉnh, hoặc là hướng về Đông Bắc, phía Williston, rẽ vào đường số 16, vài đường khác, và trở lại với xa lộ cao tốc số 2.
Hai chúng tôi đồng ý rằng đường liên tỉnh thì nhanh hơn, và quan trọng nhất là không nên chạy xe quá nhiều– tức là xài tiền –trên đường. Cuối cùng chúng tôi quyết định rẽ vào xa lộ số 2.
“Em thích thế hơn,” tôi nói.
Andrew bảo, “Đó là vì chúng ta đã định như thế từ đầu.”
“Chúng ta sẽ không được gặp Kalispell và Havre. Và Wolf Point nữa. Em thích cái tên đó.”
“Chúng ta sẽ gặp chúng trên đường trở về nhà.”
Andrew nói câu “trở về nhà” với một vẻ vui sướng đáng ngạc nhiên đối với tôi. Tất nhiên tôi hoàn toàn nghĩ rằng chúng tôi sẽ quay về nhà sau chuyến đi, với chiếc xe của chúng tôi và cuộc đời của chúng tôi và gia đình của chúng tôi nguyên vẹn, sau đi đã đi qua biết bao dặm đường, đã trải qua biết bao chuyện trung thành và rắc rối, xích lại gần nhau hơn, nhìn xuống con đường liều lĩnh của mình. Nhưng vẫn thật là an ủi khi nghe anh ấy nói thế.
“Điều anh không thể nào hiểu được,” Andrew nói, “là làm sao em nhận được tín hiệu ấy. Phải là một thứ linh cảm mà chỉ những người mẹ mới có.”
Phần nào tôi cũng muốn tin thế thật, tự sưởi ấm mình trong khả năng linh cảm ngoại cảm kia. Phần khác tôi muốn cảnh báo Andrew – cảnh báo tất cả mọi người – đừng bao giờ dựa dẫm vào những thứ ấy.
“Điều mà em không hiểu,” tôi nói “là làm sao anh có thể nhảy qua hàng rào.”
“Anh cũng đâu có biết.”
Chúng tôi tiếp tục trò chuyện như thế, với hai đứa trẻ trên băng ghế sau, đặt hết tin tưởng vào chúng tôi, bởi chúng cũng chẳng có chọn lựa nào khác, và chúng tôi thì tin rằng mình sẽ được tha thứ, cùng với thời gian, về tất cả những điều mà trẻ con nhìn thấy và lên án trước tiên: bất cứ điều gì vô cảm, tùy tiện, bất cẩn, nhẫn tâm – những lỗi lầm vừa tự nhiên vừa cá biệt của chúng ta.

Alice Munro

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
hoangvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: TẬP TRUYỆN NGẮN của ALICE MUNRO (NOBEL 2013)   Mon May 05, 2014 6:33 pm


Alice Munro và những cơn sóng ngầm của cuộc sống


« Tôi thật sự hi vọng nhờ vậy truyện ngắn sẽ được xem như một nghệ thuật quan trọng, chứ không chỉ là cái viết chơi mày mò cho đến khi viết được truyện dài ».



Đỗ Tuyết Khanh

Giải Nobel văn chương năm nay đánh dấu hai sự đầu tiên : Alice Munro là nhà văn Canada đầu tiên1 đoạt giải này và đây cũng là lần đầu Hàn lâm viện Thuỵ Điển vinh danh một tác giả chuyên viết truyện ngắn, một thể loại thường bị xem là thứ yếu trong làng văn. Có lẽ cũng để cô đọng như thể văn này, lời giới thiệu của Uỷ ban Nobel, thường rất hoa mỹ thậm chí đôi khi rườm rà khó hiểu, năm nay rất ngắn gọn, chỉ vỏn vẹn một câu “Alice Munro, bậc thầy của truyện ngắn đương đại” (“Alice Munro, master of the contemporary short story”). Trên 110 người đã được trao giải Nobel văn từ năm 1901 cho tới nay, Alice Munro mới chỉ là tác giả nữ thứ 13. Như mọi năm, gần đến mùa Nobel, bên cạnh các phỏng đoán, cá cược về người sẽ đoạt giải văn, dư luận làng văn lại nhắc nhở, chỉ trích sự chênh lệch nam nữ thái quá này. Không biết có phải để “trả đũa” mà Uỷ ban Nobel đã chọn từ “master”, một danh từ trung tính nhưng thường hàm ý phái nam (cũng như chữ “thầy”), thay vì “queen”, chẳng hạn, trong lời giới thiệu. Alice Munro năm nay 82 tuổi nhưng không phải là người cao niên nhất khi đoạt giải, kỷ lục ấy vẫn thuộc về Doris Lessing, Nobel 2007 lúc 88 tuổi.
Trước khi được giải Nobel, Alice Munro đã được trao nhiều giải văn học lớn, cho hầu hết các tuyển tập truyện ngắn của bà: ba lần giải Governor General's Award for Fiction, là giải văn học lớn nhất của Canada, hai lần giải Giller Prize, và các giải Canadian Booksellers Award, Trillium Book Award, National Book Critics Circle Award (Mỹ), WH Smith Literary Award (Anh), Commonwealth Writers Prize, O.Henry Award, PEN-Malamud, v.v. Năm 2009, bà được trao giải Man Booker International Prize của Anh, là giải văn học quốc tế lớn nhất dành cho các tác giả Anh ngữ, cho toàn bộ các sáng tác của bà. Truyện ngắn của Alice Munro thường xuất hiện trên các tập san lớn như The New Yorker, The Atlantic Monthly, The Paris Review, và được đăng lại trong 14 tuyển tập, mỗi cuốn cách nhau ba hay bốn năm, từ 1968 đến 2012.
Alice Munro cũng không thiếu chức danh và danh hiệu: viện American Academy of Arts and Letters bầu chọn bà là thành viên danh dự người nước ngoài năm 1992, bà được Royal Society of Canada trao tặng huy chương Lorne Pierce Medal năm 1993, và National Arts Club của Mỹ tặng thưởng huy chương Medal of Honor for Literature năm 2005. Năm 2010, bà được nước Pháp phong chức danh Chevalier de l’Ordre des arts et des lettres. Trong giới văn học, bà thường được khen ngợi và mệnh danh là một Tchekhov của Canada,
Alice Munro là người kín đáo, sống ở Clinton, một thành phố nhỏ tiểu bang Ontario, gần hồ Huron, ít xuất hiện trong những buổi tiệc tùng xã giao, sự kiện thời thượng, và ít trả lời phỏng vấn. Những năm sau này, bà thường xuyên được nhắc đến như một trong những nhà văn xứng đáng đoạt giải Nobel nhưng cũng thường xuyên với lời bình là khả năng này rất nhỏ vì bả chỉ viết truyện ngắn. Phản ứng của bà sau khi biết tin được giải : « Thật là tuyệt vời cho tôi. Vả tuyệt vời cho truyện ngắn. Tôi rất vui vì giải này sẽ làm rất nhiều người Canada hài lòng, và văn học Canada được chú ý nhiều hơn ». Bà cũng nói : « Tôi thật sự hi vọng nhờ vậy truyện ngắn sẽ được xem như một nghệ thuật quan trọng, chứ không chỉ là cái viết chơi mày mò cho đến khi viết được truyện dài »(*).

Những gốc rễ của một văn nghiệp phong phú

Alice Ann Laidlaw sinh ngày 10.7.1931 tại Wingham, tiểu bang Ontario, mẹ, Anne Clarke Laidlaw, là cô giáo và cha, Robert Eric Laidlaw, làm nghề nuôi chồn và cáo xám bạc để lột da bán. Thời kỳ kinh tế suy thoái, làm ăn thua lỗ, ông Laidlaw chuyển sang nuôi ngỗng cũng thất bại, hết vốn liếng ông xin vào làm gác dan đêm cho xưởng đúc của thành phố. Năm Alice 10 tuổi, mẹ của cô mắc phải một dạng hiếm của bệnh Parkinson, sức khoẻ ngày càng suy yếu và đời sống gia đình càng khó khăn chật vật.
Thời ấy, trong một xã hội còn duy trì những phong tục, truyền thống văn hoá và tôn giáo của những cộng đồng di dân đến lập nghiệp vào thế kỷ 19, để thoát khỏi hoàn cảnh, các cô gái nghèo chỉ có hai con đường: lấy được chồng giàu hay đi học làm cô giáo. Từ nhỏ Alice đã phải đối mặt với nghèo đói, của gia đình và chung quanh, bệnh tật nan y, sự hung bạo ở nhà, ở trường học và ngoài xã hội, chỉ có thể thoát qua trí tưởng tượng, của người khác, rồi của chính mình. Lối thoát đầu tiên là sách vở, cô say mê đọc đi đọc lại những tác phẩm ưa thích nhất, đặc biệt quyển Wuthering Heights của Emily Brontë. Khi đọc sách vẫn chưa đủ, cô bắt đầu tập viết văn, tự tạo ra thế giới hư cấu của chính mình. « Sách vở có gì thần diệu trước mắt tôi và tôi muốn thành một phần của sự thần diệu ấy. Đối với tôi sách quan trọng hơn hết, quan trọng hơn cuộc sống rất nhiều ». Giấc mơ thành nhà văn, sống để viết, tuy không thể thổ lộ với ai, bắt đầu từ đấy.
Mười tám tuổi, Alice tốt nghiệp trung học với điểm cao nhất địa phương, được học bổng hai năm đi học Anh ngữ và học viết báo tại đại học Western Ontario. Học bổng chỉ đủ mua sách vở và trang trải một phần chi phí, cô phải xoay sở kiếm thêm : bán máu, hầu bàn, tỉa cây thuốc lá, làm trong thư viện. Năm 1951, hết học bổng cô phải bỏ học và đứng trước sự lựa chọn : lấy chồng – nhận lời cầu hôn của một anh sinh viên bạn – hay trở về nhà lo cho mẹ. Cô quyết định lo cho chính mình và thành hôn với Jim Munro, nhưng sự thoát ly phải trả giá bằng mặc cảm tội lỗi đeo đẳng suốt đời.
Hai vợ chồng trẻ, chỉ mới 20 và 22 tuổi, về sống ở Vancouver. Jim cai quản một cửa hàng bách hoá và Alice đóng vai trò nội trợ trong một gia đình trung lưu tiêu biểu của những năm 1950. Những đứa con nhanh chóng ra đời, Sheila, khi Alice mới 21 tuổi, Catherine – chỉ sống được 2 ngày sau khi sinh – rồi Jenny và Andrea. Năm 1963, gia đình Munro dời về Victoria, thủ đô tiểu bang British Columbia, mở tiệm sách Munro’s Books, hiện vẫn hoạt động và nổi tiếng là một nhà sách chất lượng cao, kiên trì trước sự cạnh tranh của các siêu thị và đại công ty sách.
Song cuộc hôn nhân khập khiễng ngay từ đầu giữa một người chồng gia trưởng, xuất thân từ một gia đình khá giả và có khuynh hướng bảo thủ, và một Alice phóng khoáng, ngày càng bị giằng co giữa những bổn phận làm vợ, làm mẹ, giúp chồng bán sách, và con người riêng của mình, những nhu cầu của bản thân, nhất là cái thôi thúc từ thuở nhỏ: viết văn. Vì Alice không ngừng viết, truyện ngắn đầu tiên ra mắt độc giả, The Dimensions of a Shadow, đăng trên tập san của đại học Western Ontario năm 1950, khi Alice mới 19 tuổi. Từ đó cô bắt đầu viết cho những tập san văn học Canada như Tamarack Review và Canadian Forum, tham gia chương trình « Anthologies » của đài phát thanh Canadian Broadcasting Corporation (CBC). Robert Weaver, chủ nhiệm chương trình này, là người có công lớn khuyến khích Alice đeo đuổi nghề văn, giúp các sáng tác của cô ngày càng được biết đến và ưa chuộng rộng rãi hơn. Song phải đợi đến 1968 tập truyện đầu tiên của Alice mới ra đời, Dance of the Happy Shades đoạt ngay giải Governor General's Award for Fiction, giải văn học lớn nhất của Canada. Tập truyện Lives of Girls and Women xuất bản năm 1971 đoạt giải Canadian Booksellers Award, củng cố vị trí của Alice như một nhà văn tài năng, được cả độc giả lẫn đồng nghiệp mến phục. Việc viết lách được người thân nể nang hơn nhưng cũng đào sâu hơn mâu thuẫn giữa các bổn phận gia đình và những đòi hỏi thì giờ và tâm trí của nghề văn. Những khác biệt về tính tình, quan điểm giữa hai vợ chồng cũng gay gắt hơn, những trăn trở của Alice như hoà theo biến chuyển của xã hội thời ấy, những thập niên 1960, 1970, với các phong trào giải phóng phụ nữ, cách mạng tình dục. Cuộc hôn nhân ngày càng rạn nứt.
Năm 1973, Alice ly dị sau 22 năm sống với Jim Munro, công việc viết văn càng cấp bách khi trở thành phương tiện mưu sinh. Cô về dạy văn tại đại học York University gần Toronto và sau đó được đại học Western Ontario mời về đảm nhiệm một số hoạt động văn học. Cô gặp lại một người bạn cũ thời sinh viên, Gerald Fremlin, mà cô thầm yêu cách đó 20 năm. Họ hẹn nhau ăn trưa và chỉ sau ba ly martini quyết định sống chung. Gerry Fremlin là người cùng quê với Alice, mẹ của ông lúc ấy bệnh nặng cần được chăm sóc nên họ dọn về ở với bà cụ trong ngôi nhà Gerry sinh ra, ở thành phố Clinton, cách Wingham, nơi sinh của Alice, chỉ vài chục cây số. Họ cưới nhau năm 1976 và ở luôn trong ngôi nhà ấy cho đến bây giờ. Gerry Fremlin đã qua đời tháng 4. 2013.
Như một cái vòng được khép lại, Alice trở về với những khung cảnh thiên nhiên và xã hội của nơi sinh ra và lớn lên, đã góp phần hun đúc tâm hồn, tư duy và cá tính của cô, và là bối cảnh của hầu hết các sáng tác ngay từ ban đầu : những tỉnh lẻ quanh hồ Huron, những nông trại, đồng lúa, khu rừng, sông ngòi, đầm nước, quen thuộc với độc giả tới mức được mệnh danh là Munro County. Trong các bản tin và bài báo vừa qua, sau khi giải Nobel được công bố, tất nhiên có câu chơi chữ thế nào cũng gặp phải « Alice in Nobel land »2 nhưng nếu đã « lẩy Kiều » thì đúng hơn phải là « Alice in Munroland ».

Những con người và cuộc đời trong thế giới Munroland


Tóm tắt cuộc đời của Alice Munro cũng là tóm tắt nội dung các sáng tác của bà. Những gì đã trải qua hay chiêm nghiệm là chất liệu được pha trộn, hư cấu hoá, thay đổi ít nhiều từ truyện này sang truyện kia nhưng vẫn rõ nét, như một nhịp điệu trở đi trở lại trong bản nhạc: một người thân, thường là người mẹ, bị bệnh nặng vô phương cứu chữa, một ông chồng khó tính và độc đoán, những cô gái nửa quê nửa tỉnh đi tìm chỗ đứng trong xã hội, sự xung đột ngấm ngầm hay lộ liễu giữa những tầng lớp giai cấp khác nhau, những số phận hèn mọn, cuộc đời gian truân, những hôn nhân tan vỡ đôi khi vì cái không đâu, những người đàn bà ngoại tình có khi chỉ vì một phút bốc đồng hay ham muốn tình dục. Và rất nhiều những ra đi, xoay lưng lại với tất cả : chồng bỏ vợ, vợ bỏ chồng, con bỏ cha mẹ, một người đàn ông hỏi cưới một cô gái và đổi ý vào phút chót, không một lời giải thích.
Thế giới Munroland là những tâm trạng bất an, phân vân trước những đòi hỏi trái ngược, những tình huống bấp bênh có thể đảo lộn bất cứ lúc nào theo một chiều hướng bất ngờ và không nhất thiết hợp lý. Đằng sau mặt kính trong trẻo của cuộc sống hàng ngày là những lừa dối, dối nhau hoặc tự dối lòng, những phản bội nho nhỏ hay ghê gớm, những gì không nói ra được hay không thể tự giải thích. Những cơn sóng ngầm dưới mặt hồ phẳng lặng.
Alice khám phá thế giới vô hình ấy qua những thể hiện tầm thường của cuộc sống, tìm vào các ngõ ngách của tâm hồn qua những đi đứng, ăn nói thường ngày. « Cuộc đời của thiên hạ, ở Jubilee hay ở bất cứ đâu, đều tẻ nhạt, giản dị, kỳ lạ và sâu thẳm – những hang động sâu hun hút lót thảm lino của nhà bếp. » (Epilogue : The Photographer, trong Lives of Girls and Women, 1971).

Phương tiện cho mục đích ấy là một cái nhìn sắc bén, một ngôn ngữ giản dị, trong sáng, không cầu kỳ uốn éo nhưng đánh mạnh vào cảm xúc người đọc.
Alice diễn tả rất tài tình sự đau khổ. Những nỗi đau thầm kín, câm lặng :
“Giống như có một mũi kim ác nghiệt cắm đâu đó trong phổi nàng, nếu thở từ tốn thì không cảm thấy gì. Nhưng lâu lâu phải thở mạnh, nó vẫn nhói lên ở đó”
(Runaway, 2004)

Hay cái cào xé trong một cô gái trẻ có ba đứa con nhỏ bị chồng giết trong một lúc nổi cơn giận vợ :
“Doree chạy ra khỏi nhà, bước loạng choạng trên sân, hai tay ôm ghì lấy bụng như vừa bị chém ngang người và đang cố giữ cho khỏi bung ra… Dạo ấy Doree cứ nhồi nhét vào miệng bất cứ gì quơ được. Hết đất cát, cỏ lá, đến chăn mền, khăn tắm và cả quần áo của mình. Thể như nàng muốn kìm hãm tiếng gào thét chỉ chực trào ra cùng với những hình ảnh quay cuồng trong đầu.”
(Dimensions, trong Too much Happiness, 2009)

Trầm tĩnh hơn nhưng cũng mãnh liệt không kém ở một bà mẹ khác, bỏ chồng ra đi và chồng nhất quyết không cho đem con theo:
Cái này là đau buốt đây. Nó sẽ thành kinh niên. Kinh niên tức là thường xuyên nhưng chắc cũng không phải là liên tục không dứt. Cũng có nghĩa là không chết người. Mình sẽ không khỏi được nhưng sẽ không chết. Sẽ không cảm thấy nó mỗi giây phút nhưng cũng sẽ không thoát khỏi nó trong nhiều ngày. Và mình sẽ học được vài mánh để làm dịu nó hay quên nó đi, để đừng rốt cuộc lại phá vỡ cái mà vì mình muốn có nên phải chịu nỗi đau này. Không phải lỗi của Brian. Anh vẫn là con người ngây thơ hay hoang dã, anh không biết ở đời có những nỗi đau dai dẳng như thế này. Hãy tự nhủ, đằng nào cũng mất con. Tụi nó sẽ lớn lên. Bà mẹ nào rồi cũng sẽ đến lúc gặp cái buồn riêng tư, hơi vô duyên ấy. Con rồi nó sẽ tha thứ khoảng thời gian này, nó sẽ bỏ mình, cách này hay cách khác. Hoặc cứ bám theo mình cho đến lúc mình không biết làm gì với nó, như Brian vậy.
Nhưng mà sao vẫn đau quá. Cái đau phải mang theo và quen với nó cho đến khi cái tiếc nuối chỉ là quá khứ chứ không phải một hiện tại có thể có.
(The Children Stay, trong The Love of a Good Woman, 1998)

Đa số các nhân vật chính của Alice là phụ nữ. Nhưng bà cũng đồng cảm với những đau đớn của người nam. Ở đây, một người đàn ông, vợ mất sau 4 năm hôn mê trong bệnh viện:
Họ tìm anh khắp nơi. Cuối cùng Isabel cũng đã ra đi. Họ nói “ra đi” thể như nàng ngồi dậy rồi đi ra. Cách đấy chỉ khoảng một giờ, có người ghé vào xem, nàng vẫn thế, và bây giờ nàng đã ra đi. Anh đã thỉnh thoảng tự hỏi, lúc ấy sẽ có khác gì không. Nhưng cái khoảng trống vắng thay cho nàng thật kinh dị … Anh tưởng cái này đã xảy ra với Isabel từ lâu rồi, nhưng không phải. Bây giờ nó mới thế. Lúc trước nàng có đó và bây giờ nàng không có đó. Không một tí ti nào. Như chưa bao giờ có đó. Và mọi người tất bật chung quanh, thể như cứ thu xếp những chuyện cần làm là có thể vượt qua cái khủng khiếp này. Anh cũng tuân theo thủ tục, ký vào chỗ người ta bảo ký, thu xếp – như người ta nói – cho cái di hài. Di hài, chữ nghĩa hay thật, cứ như cái gì để quên, khô queo trong một ngăn tủ đầy bồ hóng. Và chỉ ít lâu sau, anh thấy mình đã ở ngoài đường, tự bảo mình cũng đầy đủ lý do như ai để chân này bước trước chân kia. Cái anh mang theo, tất cả những gì anh mang theo, là một thiếu vắng, thiếu không khí, thiếu hoạt động bình thường của phổi, một khó nhọc chắc sẽ không bao giờ hết
(Leaving Maverley, trong Dear Life, 2012)

Đau khổ, cô đơn và mất mát. Mất vì bệnh tật cướp đi, vì một oái oăm của định mệnh, vì hậu quả hành động của chính mình, nhưng cũng vì một quyết định không thể hiểu được của người kia. Một người chồng bỗng dưng bỏ đi, một đứa con biến mất, không một lời từ biệt, giải thích, để lại những câu hỏi day dứt không bao giờ được trả lời.
Và nửa tiếng sau khi lão kia đi, bà cụ kể, ông Fullerton khoác cái áo vét nâu, đội mũ. Tôi phải xuống gặp một anh chàng dưới phố. Anh đi bao lâu, tôi nói. Ờ, một lát thôi. Thế là ông ta ra đường, đi theo hướng lão kia vừa đi – hồi đó tụi tôi còn ở ngoài rừng – và cái gì đó khiến tôi nhìn theo ông. Mặc cái áo đó chắc ảnh nóng lắm. Và lúc đó tôi biết ổng sẽ không trở về. Mà làm sao tôi có thể ngờ, ổng thích chỗ này lắm. Mới đó còn bàn chuyện đem sóc len về nuôi sau nhà. Đàn ông họ nghĩ gì trong đầu, chẳng bao giờ biết được, dù có sống chung một nhà.
(The Shining Houses, trong Dance of the Happy Shades, 1968).

Con gái tôi bỏ đi, không một lời từ biệt mà có lẽ nó cũng không biết lúc ấy là nó đã bỏ đi. Nó không biết là nó đi luôn. Rồi lần lần, chắc thế, nó hiểu ra là nó không muốn về chút nào. Đó chỉ là một quyết định cho cuộc đời của nó từ nay. Có thể là nó lúng túng, ngại phải giải thích cho tôi. Hay không tìm ra lúc. Mình cứ nghĩ là cái gì cũng phải có lý do này nọ, rồi phải tìm hiểu cho bằng được. Tôi có thể nói cả trăm thứ tôi đã làm sai. Nhưng có thể lý do ở đây không dễ thấy. … Juliet vẫn mong có ngày có tin từ Penelope, nhưng là mong phất phơ vậy thôi. Bà hi vọng như người khôn lanh hi vọng được ban ơn dù không xứng đáng, được tự nhiên khỏi bệnh, đại loại vậy.
(Silence, trong Runaway, 2005)

Có thể hiểu tại sao có người thấy truyện của Munro nặng nề, bi quan, đọc xong chán đời quá. Song phê bình thế cũng oan vì người đọc vẫn thỉnh thoảng bật cười trước một nhận xét dí dỏm, so sánh ngộ nghĩnh và độc đáo. Như ở đây, sự đỏm đáng của hai cô gái mới lớn dưới con mắt đứa em trai:
Có khi một trong hai bà chị đứng trước gương cả hai mươi phút hay hơn nữa, ngắm nghía mình dưới đủ mọi góc cạnh, kiểm tra răng lợi, hết vén tóc ra sau lại xoã ra phía trước. Rồi cô nàng đi ra, có vẻ hài lòng hay ít ra cũng xong việc, nhưng chỉ đến căn phòng khác, tấm gương khác là làm lại hết từ đầu, cứ như vừa được gắn một cái đầu mới toanh.
(The Love of a Good Woman, trong tuyển tập cùng tên, 1998).

Hoặc :
Mùa hè có khi buổi trưa cô Moira chạy xe 15 cây số từ Porterfield lên Jenkin’s Bend đưa con gái Mary Agnes lên chơi. Cô Moira biết lái xe. Cô Elspeth và cô Grace phục lắm (mẹ tôi cũng đang học lái xe, hai cô bảo chậc, chỉ liểu lĩnh, học làm gì). Khi thấy chiếc xe mui vuông kiểu cổ băng qua cầu lên dốc từ bờ sông, hai cô chạy ra đón, mừng rỡ rối rít, xuýt xoa tấm tắc cứ như cô em vừa tìm được lối đến sau khi vượt sa mạc Sahara chứ không phải trên con đường đầy nắng bụi từ Porterfield.
(Heirs of the Living Body, trong Lives of Girls and Women, 1971).



Và ở đây Alice chỉ cần vài câu để cho thấy một người đàn ông tính xét nét khó chịu, không hiểu vợ ngay cả khi nàng châm biếm:
Trên lò sưởi có hai chiếc bình Wedgwood3 tô điểm bằng một vòng tròn lá xanh. Patrick rất thích chúng. Có khi đi làm về, anh đi thẳng vào phòng khách và xê đi xê lại hai cái bình anh thấy có vẻ bị xô đẩy không còn ngay ngắn.
« Có ai nghịch mấy cái bình này không đấy ? »
« À có. Hễ anh vừa đi làm là em chạy ngay vào đẩy tới đẩy lui. »
«  Anh muốn nói Anna kìa. Em không để con bé sờ mó vào đấy chứ ?»
(Mischief, trong The Beggar Maid, 1978).

Trào lộng cũng là cách thể hiện sự khoan dung của Alice đối với nhân vật, kể cả những nhân vật xấu tính. Bà đồng cảm nhất với những người là nạn nhân, của hoàn cảnh, của số mệnh, những số phận hẩm hiu, những người dị dạng, khuyết tật, thường xuất hiện trong nhiều truyện. Bà bao dung với những vụng về, lố bịch, hay ngu ngốc vì cái hay cái dở đều nằm trong số phận làm người. Sự đồng cảm với những người bị xã hội khinh rẻ hay ruồng bỏ cũng xuất phát từ cảm giác, có từ thuở ấu thơ, bị hắt hủi vì không vào khuôn phép. Là một đứa trẻ ương ngạnh, hay cãi lại và lý sự, Alice thường phải chịu những trận đòn nhừ tử của cha (như mô tả trong Royal Beatings). Trong một xã hội còn phong kiến và tôn ti đẳng cấp, cô phải che giấu những mong ước, tham vọng, bị coi là điên rồ và ảo tưởng đối với một cô gái, nhất là nghèo. Cuộc hôn nhân với một người khác giai cấp cũng mang đến những khổ tâm, phân tâm, giữa sự hoà đồng cần thiết vào gia đình trưởng giả của chồng và gốc gác nghèo hèn của gia đình mình. Trong tập truyện The Beggar Maid (1978), nghèo nàn được miêu tả sống động, có lúc sống sượng, vì thực tế nó là thế. Như trong đoạn về nhà vệ sinh ngoài trời dành cho nữ sinh của trường nơi nhân vật Rose đã học :
Tuyết đắp dày cui trên chỗ ngồi và mặt đất. Dường như nhiều người không nghĩ đến nhắm cái lỗ. Trong đống tuyết, dưới một lớp băng nơi tuyết vừa tan lại đông đặc lại, là những đống phân chỗ ê hề, chỗ đơn chiếc, như được bảo quản dưới kính, từ vàng khè đến đen thui và đủ mọi màu ở giữa. Chỉ nhìn thôi Rose đã buồn nôn, và tuyệt vọng. Nàng đứng trước cửa, không thể cố bước vào, quyết định nhịn.
(Privilege, trong The Beggar Maid, 1978)

Đấy là chuyện một trưởng nghèo ở vùng quê Canada cách đây đã sáu, bảy chục năm. Thật buồn và thương học sinh, sinh viên ở Việt Nam ngày hôm nay có nơi vẫn còn chịu cái cảnh phải nhịn ấy.
Những đối chọi giữa giàu nghèo thường nổi rõ hơn cả với cái gì trần tục, tầm thường nhất:
Flo dành dụm tiền xây buồng tắm trong nhà nhưng không có chỗ nào khác ngoài góc bếp. Cửa không kín, tường chỉ là ván ép. Kết quả là một tiếng xé giấy, một cái nhích mông đều rõ mồn một cho ai đang làm việc, nói chuyện hoặc ăn trong bếp. Người trong nhà quen những âm thanh thầm kín của nhau, không chỉ những lúc nổ đùng mà cả những khẽ thở dài, sôi ùng ục, ậm ạch, và khai báo. Và họ đều là những người cả thẹn lắm. Thế nên chẳng bao giờ có ai tỏ vẻ nghe thấy gì hoặc lắng tai để ý, không có một lời bình phẩm nào. Người làm ra các tiếng động trong buồng tắm không dính dáng gì với người từ trong đó đi ra”
(Royal Beatings, trong The Beggar Maid, 1978).

Điều rõ nhất với căn nhà của bà Henshawe và của Flo, Rose nghĩ vậy, là cái này phản lại cái kia. Trong những căn phòng thanh lịch của bà Henshawe, Rose lúc nào cũng nhớ đến cái thực tế trần trụi ở nhà, như cái cục gì mãi vẫn không tiêu. Và khi về nhà, cái nền nếp hài hoà của nơi kia làm lộ rõ cái nghèo nàn tội nghiệp, xấu hổ của những người không hề nghĩ mình nghèo. Nghèo không chỉ là nghèo kiết xác, như bà Henshawe có vẻ nghĩ thế, nó không chỉ là thiếu thốn. Nó có nghĩa là gắn những cái đèn nê-ông xấu xí và hãnh diện về chúng. Là lúc nào cũng nói chuyện tiền bạc và xầm xì về những thứ thiên hạ mới sắm, không biết họ đã trả xong hết chưa. Là hãnh diện và ganh tị về cặp rèm giả đăng-ten bằng nhựa Flo mua về treo lên cửa sổ phòng khách. Nghèo cũng có nghĩa là phải móc quần áo lên cái đinh đằng sau cửa và nghe mọi tiếng động thoát ra từ buồng tắm.
(The Beggar Maid, 1978)

Alice không giáo điều, không tuyên bố những câu đao to búa lớn. Quan điểm chính trị xã hội ít được đề cập và chỉ thể hiện gián tiếp như trong đoạn sau :
Trong lán có một cái lò và nhiều kệ bằng gỗ tạp ngổn ngang những thùng sơn và dầu quang, hũ sen-lắc và dầu thông, lon dùng để rửa cọ và cả vài chai thuốc ho sậm đặc. Tại sao một người đàn ông ho kinh niên, phổi đã nếm khí độc trong Chiến Tranh (lúc Rose còn nhỏ xíu, người ta vẫn gọi là Chiến Tranh Vừa Qua chứ không phải Thứ Nhất), lại phải ngày qua ngày hít thở hơi bốc từ sơn và dầu thông? Thời đó những câu hỏi kiểu ấy ít được đặt ra hơn bây giờ. Trên băng ghế trước cửa tiệm của Flo mấy ông già hàng xóm ngồi tán dóc, ngủ gật, hứng nắng, nhiều ông cũng suốt ngày ho hen như vậy. Thực tế là họ đang chết dần, từ từ và lặng lẽ, do cái “bệnh xưởng đúc”, gọi thế thôi nhưng chẳng hàm ý oán trách gì lắm đâu. Họ đã làm cả đời trong cái xưởng đúc của thành phố và bây giờ họ ngồi yên, với khuôn mặt tàn tạ vàng vọt, húng hắng ho, cười khục khặc, thỉnh thoảng buông vài câu sàm sỡ bâng quơ về một phụ nữ đi ngang qua hay một cô gái đạp xe trên đường
(Royal Beatings, trong The Beggar Maid, 1978)

Đồng cảm với người khác cũng có nghĩa chấp nhận là có những điều mình sẽ không bao giờ được biết, một vườn riêng, không gian riêng mình không được vào dù mình có gần gũi bao nhiêu với người ấy. Trong Walker Brothers Cowboy, hai đứa bé đi theo cha trong một chuyến chào hàng. Trên đường về người cha ghé vào căn nhà một bà cụ và một người đàn bà, người quen cũ của ông nhưng ông không nói họ là ai. Và tuy ông không dặn dò, cô bé cũng hiểu là đây là chuyện riêng của ông, không cần kể lại cho ai và với mẹ ở nhà.
Cha tôi lái xe, thằng em tôi nhìn hai bên đường xem có con thỏ nào không và tôi cảm thấy như cuộc đời của cha tôi trôi qua theo chiếc xe trong bóng chiều tà, tối sẫm lại và trở thành khác lạ, như một phong cảnh kỳ diệu trước mặt trông vẫn ấm áp, bình thường và quen thuộc nhưng sau lưng biến thành một cái gì không bao giờ có thể đoán biết, với đủ mọi màu trời và khoảng cách không thể mường tượng.
(Walker Brothers Cowboy, trong Dance of the Happy Shades, 1968).

Bậc thầy của truyện ngắn


Được hỏi tại sao bà chỉ viết truyện ngắn, Alice trả lời là vì khi còn trẻ, bà có rất ít thì giờ, giữa các công việc nội trợ, lo cho mấy đứa con nhỏ, và lúc ở Victoria, còn phải làm nửa ngày ở tiệm sách. Và ngay những lúc ngắn ngủi xén bớt được trên thì giờ phải dành cho các bổn phận khác cũng không hoàn toàn rảnh rang để tập trung vào viết lách, với những quấy rầy chung quanh và mặc cảm tội lỗi bỏ bê việc nhà. Bà nhớ lại những lúc đứa con gái đầu, Sheila, khi ấy hai tuổi, mon men lại gần, bà thường một tay xua con ra chỗ khác, tay kia vẫn tiếp tục đánh máy. Trong một buổi phỏng vấn với nhà văn Graeme Gibson, năm 1973, bà nói : “Trong suốt hai mươi năm, không có ngày nào mà tôi không phải bận tâm về nhu cầu của một người khác. Và như vậy có nghĩa là viết lách phải được sắp xếp song song hoặc trước sau những công việc ấy … Sáng tác được gì trong điều kiện ấy quả là một phép lạ”.
Không ngạc nhiên mà Alice cảm thấy phải có một không gian riêng cho mình:
“Đàn ông có thể làm việc ở nhà, không có vấn đề. Ông đem việc về nhà, đã có chỗ dọn riêng cho ông, mọi chuyện trong nhà sắp xếp lại xoay quanh ông. Công việc của ông là hiển nhiên, ai cũng hiểu thế. Không ai chờ đợi ông trả lời điện thoại, tìm hộ cái gì lạc đâu mất, ra xem tại sao trẻ con khóc hay cho con mèo ăn. Ông có thể đóng cửa phòng. Nhưng thử tưởng tượng bà mẹ nào đóng cửa phòng, đối với lũ trẻ ở ngoài, ô hay sao lại có thể thế được. Một người đàn bà ngồi thẫn thờ, nhìn xa xăm vào một thế giới trong đó không có bóng dáng chồng con là phản lại luật của trời đất. Nhà và phụ nữ, do đó khác lắm. Người đàn bà không bước vào nhà, làm gì đó rồi lại đi ra. Nàng là căn nhà, không thể tách rời.”
(The Office, trong Dance of the Happy Shades, 1968).

Alice đã diễn đạt cụ thể những ý của nhà văn Anh Virginia Woolf trong bài tiểu luận bất hủ A Room of one own. Song những sáng tác phong phú của bà, trải dài trên mấy chục năm, không là phép lạ mà kết quả của tài năng, sự say mê, và tính cần mẫn thừa hưởng từ truyền thống Presbyterian trong giáo dục của gia đình và xã hội. Một quá trình sáng tác dài như thế tất nhiên có những thay đổi cả hình thức lẫn nội dung, phản ánh những biến chuyển sâu rộng trong suốt thời kỳ Alice đã sống. Alice 8 tuổi khi Canada tham gia Đệ nhị thế chiến năm 1939, học đại học những năm sau chiến tranh và 38 tuổi khi các phong trào giải phóng phụ nữ và hippie đạt cao điểm vào những năm 1968-69. Bà 50 tuổi khi bước vào thập niên 1980, và đại đa số các tác phẩm của bà đặt trong bối cảnh của nửa thế kỷ ấy, từ những thập niên 1930 đến 1980.
So sánh các tập truyện đầu tiên và cuối cùng, có thể nhận thấy một số khác biệt. Những truyện đầu tiên có nhiều tính chất tự truyện hơn, dày đặc hơn vì còn quá nhiều thứ để nói, để tuôn vào, dù cái tài cấu trúc và lối hành văn gãy gọn, cái “giọng” rất đặc biệt của Alice đã hiện rõ. Điều dễ hiểu là khi còn trẻ, chất liệu chính của mỗi nhà văn là cuộc sống của chính mình, cái quá khứ còn rất gần, chi phối mạnh mẽ mọi cảm xúc. Càng sống lâu, cảm hứng càng đến từ bên ngoài nhiều hơn, chất liệu là chiêm nghiệm những gì đã nghe, thấy hơn là những trải nghiệm của bản thân. Như Alice nói, với cái dí dỏm cố hữu, khi trả lời phỏng vấn của The Paris Review, hè 1994 :
“Bây giờ tôi ít viết truyện riêng tư hơn lúc trước vì lý do rất dễ hiểu. Tuổi ấu thơ đã khai thác hết, trừ phi có thể, như William Maxwell, mỗi lần quay về vẫn tìm ra những cái tuyệt vời mới trong đó. Cái chất liệu sâu sắc, riêng tư trong nửa cuộc đời còn lại là những đứa con. Mình có thể viết về cha mẹ khi họ đã khuất, nhưng con cái thì vẫn còn đây và mình sẽ cần nó vẫn còn muốn đến thăm mình trong viện dưỡng lão.”
Song ngay cả những truyện đầu tay cũng đã cho thấy Alice có óc quan sát rất nhạy bén và khả năng tài tình nắm bắt những chi tiết tưởng như vô thưởng vô phạt nhưng khi lồng vào cốt truyện lại chuyên chở những ý nghĩa sâu sắc không thể ngờ. Và như nhiều nhà văn, bà như con ong hút mật, tất cả những gì nghe, thấy, đều có thể là đầu đề cho một cốt truyện nảy ra. Thái độ miêu tả trong đoạn trích dưới đây không phải là sự tọc mạch mà là bản năng của người có thiên hướng, và năng khiếu, diễn đạt cuộc sống:
“Averill đi vòng quanh boong tàu và nghe thiên hạ nói chuyện. Cô nghĩ đến câu vẫn thường nghe, mỗi lần đi xa bằng tàu thuỷ là có dịp gác hết tất cả qua một bên, “hết tất cả” tức là cuộc sống hàng ngày, lối sống, cái nhân vật là mình khi ở nhà. Nhưng trong mọi câu chuyện cô nghe lóm được, thiên hạ lại làm ngược lại hẳn. Họ nói về họ, kể về công ăn việc làm, con cái, vườn tược, nhà cửa. Trao đổi bí quyết, cách làm bánh và cách ủ phân bón. Phải đối phó với con dâu thế nào và nên đầu tư vốn liếng ra sao. Rồi những chuyện ốm đau, phản bội, bất động sản.”
(Goodness and Mercy, trong Friend of my Youth, 1990)

Những tập truyện sau này cũng cô đọng hơn, câu chữ vắn tắt, nhiều ẩn dụ, phần nào “khó đọc “ hơn vì đòi hỏi người đọc phải chăm chú và động não. Alice cũng nổi tiếng là đã cách tân thể loại truyện ngắn với một cấu trúc độc đáo. Câu chuyện không theo thứ tự thời gian mà ngắt quãng, hiện tại xen lẫn với quá khứ, người đọc không hiểu chuyện gì đã hay sẽ xảy ra, đoạn này liên hệ thế nào với đoạn sau, và chỉ đến trang cuối mới vỡ lẽ. Thì ra thế, cái mấu chốt là vậy, phải rồi, cần phải đọc lại từ đầu. Đọc từ tốn và bỗng đó đây hiện lên vài chi tiết ban nãy không để ý và bây giờ có một ý nghĩa tuyệt hay, mở ra những suy nghĩ, hình ảnh mới, chiếu lên bức tranh toàn diện một ánh sáng mới. Trong nhiều truyện, người đọc vừa thắc mắc vừa cảm thấy sờ sợ bất an, vì với Alice truyện khó mà kết thúc trong hân hoan hồ hởi, cái gì sẽ xảy ra đây, lạy bà, đừng làm con bé nó chết. Rồi lắm khi truyện chấm dứt, con bé không chết, nhưng người đọc cũng chưng hửng. Truyện của Alice thường không có hậu, không có happy end4 và cũng không có kết luận, chấm dứt bằng một câu lơ lửng, có khi chỉ một vài chữ lập lại, như tương lai bất định của nhân vật và sự ngơ ngác của người đọc.
Truyện không có kết luận nhưng cũng không thật sự có mở đầu. Trong những truyện sau này, Alice ít khi có mào đầu dẫn nhập, câu chuyện thường mở đầu với nhân vật đang làm gì đó, ngồi đợi xe lửa, lái xe trong đêm, nói gì với ai. Những diễn biến tuần tự (hay không) cho đến lúc chấm dứt bằng cái kết cục không phải là kết luận. Người đọc có cảm tưởng nhân vật đã sống trước và sau câu chuyện, mình chỉ chứng kiến một khoảnh khắc nhất định trong một mảnh đời tác giả kể cho nghe, như đi qua nhà ai, thấy bức rèm kéo ra, đứng nhìn sinh hoạt của họ một lúc đến khi cái rèm lại đóng vào. Và nếu hỏi Alice “Rồi sao nữa?” thì chắc sẽ được nghe trả lời “Thì là vậy”.
Diễn đạt cuộc sống tinh vi và chi phối người đọc đến như thế thì quả Alice Munro là bực thầy của truyện ngắn đương đại. Xin chịu thầy!

Và bây giờ?


Năm 2012, Alice Munro tuyên bố tuyển tập Dear Life vừa phát hành sẽ là tác phẩm cuối cùng của bà. Bốn truyện cuối của quyển này được tách riêng dưới tựa “Finale” (Hồi kết) và lời bạt : “Bốn sáng tác cuối trong quyển này không hẳn là truyện. Chúng là một đơn vị riêng, có tính cách tự truyện về cảm xúc, dù có thay đổi đôi chút về sự việc. Tôi nghĩ rằng đây là những điều đầu tiên và cuối cùng – và thiết thân nhất – tôi muốn nói về đời mình”.
Trả lời phóng viên khi nhận giải Trillium Books Award cho Dear Life , bà nói : “Không phải là tôi không say mê viết văn nhưng ai cũng đến lúc có cái nhìn khác về cuộc đời mình. Và có lẽ, đến cái tuổi của tôi, mình không còn muốn cái cô độc của người viết văn”. Alice đã vài lần nhắc đến giải nghệ. Năm 2006, bà bảo “ Tôi không biết có còn đủ sức làm việc này nữa hay không”, và sau đó vẫn có sức viết nhiều, viết khoẻ. Nhưng bây giờ, ở tuổi 82, sau một lần phẫu thuật tim và chống chọi với bệnh ung thư bằng hoá trị, Alice không còn sung sức như trước.
Trả lời phóng viên, Peter Englund, thư ký thường trực Hàn lâm viện Thuỵ điển, nói :” Bà Munro đã làm một công việc phi thường, quá đủ để đoạt giải Nobel. Nếu bà muốn thôi viết thì là quyết định của bà.”
Trong niềm vui và xúc động khi mới nghe tin, được hỏi giải Nobel có thể làm bà thay đổi ý, Alice cười nói: “Tôi làm chuyện này từ bao năm rồi. Viết và ra sách, cứ đều đặn từ lúc 20 tuổi. Làm việc như thế cũng là rất lâu nên tôi thấy đã đến lúc nghỉ ngơi. Nhưng có thể cái này làm tôi suy nghĩ lại”. Song gần đây Alice thông báo sẽ không đến Stockholm nhận giải Nobel ngày 10 tháng 12 sắp tới vì lý do sức khỏe, và chưa chỉ định ai sẽ thay thế. Lạy Trời Alice sống thêm lâu, để những giòng cuối dưới đây của truyện cuối cùng trong phần “Hồi Kết” quyển Dear Life không phải là kết luận, theo đúng truyền thống Munro:
“Tôi không về nhà khi bệnh của mẹ tôi vào giai đoạn cuối và lúc đám tang. Tôi có hai đứa con nhỏ và không có ai để gửi ở Toronto. Cũng phải xoay sở lắm mới chịu nổi chi phí chuyến đi và chồng tôi coi thường những xử sự hình thức. Nhưng cũng chẳng nên đổ lỗi cho anh. Tôi đồng tình với anh lúc ấy. Có những điều chúng ta vẫn bảo không thể tha thứ được, hoặc chúng ta sẽ không bao giờ tự tha thứ. Nhưng chúng ta vẫn cứ xí xoá đấy thôi – thường như cơm bữa”.
(Dear Life, 2012).

Không đủ tài để bắt chước Alice Munro chấm dứt mà không chấm dứt, xin mượn lời của nhà văn Tân Tây Lan Fiona Kidman: “Tôi tạ ơn Munro, cuộc đời thân quí của bà, những truyện bà đã cho chúng ta và cái đẹp bình dị, chân phương của những câu văn. Bà không nhất thiết phải chấm dứt ở đây, nhưng nếu quả là vậy thì đây là hồi kết tuyệt đẹp.”

Đỗ Tuyết Khanh
25.10.2013

(*)Diễn Đàn: tất cả các đoạn dịch từ tiếng Anh trong bài này đều do Đỗ Tuyết Khanh thực hiện.
1 Có người quan niệm Alice Munro là người thứ nhì vì trước đó đã có Saul Bellow là nhà văn Canada đầu tiên đoạt giải Nobel văn chương năm 1976. Song Saul Bellow là nhà văn Mỹ, sinh năm 1915 tại Lachine, tiểu bang Québec, nhưng cùng gia đình sang Chicago năm 1925 lúc 9 tuổi, nhập quốc tịch Mỹ năm 1941 và sống ở Mỹ cho đến khi mất năm 2005. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông gắn liền với thành phố Chicago. Cha mẹ ông là người Do Thái Nga, đầu tiên di cư sang Canada rồi định cư ở Mỹ. Nếu xem ông là người của Canada thì Israël hoặc Nga cũng có thể «nhận họ hàng» như vậy !
2 Alice in Wonderland, tác phẩm kinh điển của Lewis Carroll.
3 Wedgwood là công ti Anh nổi tiếng từ thế kỷ 18, sản xuất bát đĩa đồ gốm sang trọng cho giới thượng lưu.
4 Khi nhận giải Man Booker Prize năm 2009, Alice Munro kể lại lúc lên 7 tuổi, đọc truyện Nàng tiên cá của Hans Christian Andersen, bà đi đi lại lại mãi ngoài sân, cố tìm một hồi kết khác để cứu cô bé tiên cá đừng biến thành bọt biển. “Đi tìm một hồi kết có hậu. Không thể ngồi yên cho đến khi nghĩ ra. Rồi 70 năm sau, công việc của mình vẫn là diễn tả cuộc đời. Không còn nghĩ đến những hồi kết có hậu, nhưng vẫn làm công việc ấy. Cái mình đi tìm là ý nghĩa, âm vang, một nét đẹp lạ lùng trong cái ánh sáng lung linh trên mặt biển là cô bé tiên cá và người yêu bất tử của nàng”.

Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: TẬP TRUYỆN NGẮN của ALICE MUNRO (NOBEL 2013)   Mon Jul 14, 2014 7:50 pm

Đọc thêm một truyện ngắn của nữ văn sĩ Alice Munro
Qua bản dịch của Trần Minh Hương.




MÙA GÀ TÂY

Tặng Joe Radford

Lúc mười bốn tuổi tôi được nhận vào làm việc ở Vựa Gà Tây cho mùa Giáng Sinh. Lúc đó tôi còn quá trẻ để có thể kiếm việc trong một cửa hàng hay làm nhân viên hầu bàn bán thời; tôi cũng còn quá nhút nhát.
Tôi là người mổ gà. Những công nhân khác cùng làm trong Vựa Gà Tây là Lily, Marjorie và Gladys, cũng là những người mổ gà; Irene và Henry, nhổ lông; Herb Abbott, người đốc công, chịu trách nhiệm giám sát toàn bộ công việc và tham gia vào bất cứ chỗ nào thiếu người. Morgan Elliott là chủ nhân kiêm giám đốc. Ông ta và con trai, Morgy, làm công việc giết gà.
Tôi biết Morgy hồi còn đi học. Tôi nghĩ anh ta đần độn và đáng ghét, và tôi thấy khó chịu khi phải chấp nhận anh ta ở một vị thế mới và có vẻ cao cấp hơn tôi, vì anh ta là con trai của ông chủ. Nhưng ông chủ đối xử với anh ta thật thô lỗ, mắng và chửi anh ta, xem anh ta chẳng hơn gì một thằng làm công mạt hạng. Một người nữa cũng có liên quan với ông chủ là cô Gladys. Cô là em gái của ông chủ, và trong trường hợp của cô thì hình như có sự đối xử ưu ái. Cô làm việc chậm chạp và ra về nếu cảm thấy không khoẻ. Cô có vẻ không ưa Lily và Marjorie, tuy vậy, cô có chút thiện cảm với tôi. Cô về ở nhờ với Morgan và gia đình ông ta sau khi cô đã làm việc nhiều năm ở Toronto, trong một ngân hàng. Đây không phải là công việc quen thuộc của cô. Lily và Marjorie hay nói lén về cô khi cô không có ở đó, họ nói cô bị suy nhược thần kinh. Họ nói ông Morgan bắt cô làm việc trong Vựa Gà Tây để trả cho chi phí ở nhờ. Họ còn nói, mà không sợ họ đang tự mâu thuẫn, rằng cô làm công việc này vì đang theo đuổi một người đàn ông, và người đàn ông ấy là Herb Abbott.
Trong mấy đêm đầu tiên sau khi bắt đầu làm việc ở đó, tất cả những gì tôi thấy mỗi khi nhắm mắt lại là lũ gà tây. Tôi thấy chúng được treo lộn ngược, trụi lông và cứng đơ, tái và lạnh, đầu và cổ mềm nhũn, mắt và mũi vấy máu bầm; những cái lông còn sót lại — sậm đen và dính đầy máu — trông như một cái vương miện. Nhìn chúng, tôi không thấy ghê tởm, mà chỉ có cảm tưởng là công việc sẽ bận bịu vô tận.
Herb Abbott chỉ việc cho tôi. Em hãy đặt con gà lên bàn và chặt cổ nó bằng con dao phay. Sau đó em cầm miếng da lỏng ở cổ và kéo ngược lại cho lòi cái cuống diều nằm giữa cổ họng và khí quản.
“Sờ viên sỏi này xem,” Herb nói với vẻ khuyến khích. Anh bảo tôi dùng mấy ngón tay túm lấy cái diều. Rồi anh chỉ cho tôi cách luồn bàn tay vào sau cái diều và cắt nó ra, cả cổ họng và khí quản nữa. Anh dùng cái kéo lớn để cắt xương sống.
“Túm lấy, túm lấy”, anh nói nhẹ nhàng. “Bây giờ, thọc tay vào.”
Tôi làm theo. Bên trong con gà thì lạnh ngắt và tối tăm.
“Cẩn thận tránh những cái giằm xương”.
Mò mẫm trong khoảng tối tăm ấy, tôi phải kéo những cái màng nhầy giãn ra.
“Đứng dậy nào.” Herb lật con gà và gập từng cái chân. “Quỳ lên, Mẹ Nâu. Nào.” Anh lấy con dao lớn để ngay lên khuỷu chân con gà và cắt đứt cái ống chân.
“Nhìn mấy con giun này”.
Những sợi dây màu trắng ngà, được kéo ra từ ống chân con gà, đang uốn éo.
“Đó là những cái gân gà đang rút lại. Bây giờ đến phần thú vị!”
Anh xẻ phần hậu môn của con gà, một mùi hôi bay lên.
“Em có được học hành đàng hoàng không vậy?”
Tôi không biết nói sao.
“Mùi gì biết không?”
“Hydrogen sulfide.”
“Em có học,” Herb nói và thở dài. “Được rồi. Em dùng mấy ngón tay móc bộ lòng ra. Từ từ, từ từ. Giữ mấy ngón tay lại với nhau. Cuộn bàn tay lại. Dùng mu bàn tay chạm vào những cái xương sườn. Dùng lòng bàn tay nắm lấy mớ lòng. Có cảm thấy gì không? Tiếp tục đi. Giựt đứt những sợi dây — càng nhiều càng tốt. Tiếp tục đi. Rờ thấy cái cục cưng cứng không? Đó là mề gà. Rờ thấy cái cục mềm mềm không? Đó là trái tim. Thấy chưa? Rồi hả. Móc mấy ngón tay quanh cái mề gà. Từ từ thôi. Bắt đầu kéo về phía này. Đúng rồi. Đúng rồi. Bắt đầu kéo nó ra.”
Việc này không hề dễ chút nào. Tôi cũng không chắc rằng cái tôi nắm được là cái mề gà. Tay tôi đầy một đống lầy nhầy lạnh ngắt.
“Kéo đi,” anh nói, và tôi lôi ra một đống lầy nhầy óng ánh.
“Được rồi. Mớ xôm xốp này. Em biết nó là gì không? Là phổi. Còn đây là tim. Cái này là mề. Còn đó là mật. Này, em đừng bao giờ làm bể túi mật, không thì nó sẽ làm đắng hết cả con gà.” Rất khéo léo, anh moi ra hết những thứ tôi còn để sót, kể cả hai hòn dái, trông như hai quả nho màu trắng.
“Một đôi bông tai dễ thương,” Herb nói.
Herb Abbott là người đàn ông cao, chắc và đầy đặn. Tóc anh đen và mỏng, được chải thẳng từ đằng trước ra đằng sau, và mắt anh hơi xếch, vì vậy trông anh giống như một ông Tàu da tái mét hay giống như bức hình của Quỷ Sứ, ngoại trừ mặt anh không có râu ria và trông hiền lành. Bất cứ việc gì anh làm trong Vựa Gà Tây này — từ việc mổ gà, như việc anh đang làm bây giờ, đến việc chất hàng lên xe tải, hay treo những xác gà lên — đều được làm với những động tác thuần thục, gọn gàng, một cách nhanh nhẹn và khoan khoái. “Để ý Herb xem — anh ta đi cứ như đang ngồi trên một chiếc thuyền trôi,” Marjorie nói, và quả như vậy. Herb đã từng làm đầu bếp theo mùa trên những chiếc du thuyền trên hồ. Rồi anh làm việc cho Morgan cho đến hết mùa Giáng Sinh. Thời gian còn lại, anh giúp việc cho một tiệm bi-da, làm bánh hamburgers, lau dọn, và ngăn chặn những cuộc đánh nhau trước khi chúng xảy ra. Đó cũng là nơi anh đang ở: anh có một phòng phía trên tiệm bi-da trên con đường chính.
Trong tất cả các công việc tại Vựa Gà Tây, dường như chỉ có Herb là người luôn nghĩ đến hiệu quả và uy tín của lò mổ; chính anh là người giữ mọi việc trong tầm kiểm soát. Nếu bạn thấy cách anh ta đứng trong sân nói chuyện với ông Morgan — một người đàn ông mập, lùn, mặt đỏ, và hay nạt nộ bất ngờ — thì chắc chắn bạn sẽ nghĩ Herb là ông chủ còn Morgan chỉ là người làm thuê. Nhưng thật ra không phải như vậy.
Nếu không có Herb chỉ việc cho tôi, thì chắc là tôi đã không học được cách mổ gà. Đôi tay tôi rất vụng về và tôi rất thường cảm thấy xấu hổ về điều đó, nên nếu người hướng dẫn tỏ ra một chút cử chỉ mất kiên nhẫn thì cũng đủ khiến cho tôi run rẩy luống cuống. Tôi không thể chịu được khi có bất cứ ai đứng nhìn tôi làm, ngoại trừ Herb. Cụ thể hơn, tôi không thể chịu được nếu Lily và Marjore, hai chị em ở tuổi trung niên, nhìn tôi mổ gà. Họ làm việc rất nhanh, thành thạo và hay ganh đua. Họ vừa làm vừa hát vừa trò chuyện thô lỗ và thân mật với những cái xác gà tây.
“Đừng có khoèo tôi chứ, cái thằng già bạo dâm!”
“Đúng là cái lỗ đít già!”
Tôi chưa bao giờ nghe phụ nữ nói chuyện kiểu này.
Gladys không phải là một người mổ gà nhanh nhẹn, nhưng cô rất thành thạo; nếu không thì chắc hẳn là Herb đã chỉ việc cho cô. Cô không bao giờ hát và không bao giờ chửi thề. Tôi nghĩ cô khá lớn tuổi, mặc dù cô trẻ hơn Lily và Marjorie; chắc là cô đã ngoài ba mươi. Cô có vẻ như bị xúc phạm bởi mọi thứ đang xảy ra, và cố giữ những lời phê phán chua chát trong lòng. Tôi chưa bao giờ thử nói chuyện với cô, nhưng một ngày kia cô bắt chuyện với tôi trong căn phòng vệ sinh lạnh lẽo và chật hẹp bên cạnh lán mổ gà. Lúc đó cô đang trét đồ trang điểm lên mặt mình. Phấn trang điểm rất chỏi với màu da của cô, trông như cô đang đắp sơn màu cam lên một bức tường trắng gồ ghề.
Cô hỏi có phải tóc tôi quăn tự nhiên.
Tôi nói là phải.
“Chứ không phải tóc uốn hả?”
“Không.”
“Em may mắn thiệt đó. Chị thì đêm nào cũng phải cuốn ống lô. Hoá tính tự nhiên trong cơ thể chị không cho phép chị uốn tóc quăn.”
Phụ nữ có nhiều cách nói khác nhau về diện mạo bên ngoài của họ. Một số người nói toẹt ra rằng họ làm đẹp vì nhu cầu tình dục, làm đẹp cho đàn ông. Một số người khác, như Gladys chẳng hạn, lại ăn mặc bình thường như làm công việc quản gia, đây là loại người tự hào về những điều khó khăn của mình. Gladys rất duyên dáng. Tôi có thể hình dung cô làm việc ở ngân hàng, trong chiếc áo đầm màu xanh dương với cái cổ áo màu trắng loại mà bạn có thể tháo rời ra và đem giặt vào ban đêm. Chắc hẳn là cô cũng hay than phiền và bắt bẻ.
Một lần khác, cô nói với tôi về chuyện kinh nguyệt của cô, nó ra nhiều và làm cô đau bụng. Cô muốn biết về kinh nguyệt của tôi. Có một vẻ khó chịu, nghiêm nghị và lo âu trên mặt cô. May thay Irene nói vọng ra từ buồng cầu và cứu tôi ra khỏi tình huống khó xử này. “Làm như tôi nè, rồi cô sẽ không bị những thứ rắc rối ấy nữa, ít ra cũng được một thời gian.” Irene chỉ lớn hơn tôi vài tuổi, nhưng cô ta vừa lập gia đình sau khi có bầu, và đang ở vào những tháng cuối của thai kỳ.
Gladys làm như không nghe thấy, vẫn tiếp tục hứng hai bàn tay dưới vòi nước lạnh. Tay của mọi người ở đây đều đỏ và tấy vì làm việc nhiều. “Chị không thể xài xà-bông này được. Nếu chị dùng nó, tôi sẽ bị ngứa,” Gladys nói. “Nếu chị mang xà-bông của chị vô đây, thì chị không thích người khác xài, bởi vì nó mắc lắm — đó là loại xà-bông chống dị ứng.”
Tôi nghĩ cái ý tưởng mà Lily và Marjore nêu ra — rằng Gladys mê Herb Habbott — thì chẳng qua là vì họ tin rằng những kẻ độc thân thì nên bị chọc ghẹo và làm cho xấu hổ bất cứ lúc nào, và chính họ cũng thích Herb, khiến họ có cảm giác rằng chắc chắn có ai đó đang theo đuổi anh ấy. Họ thắc mắc về anh ấy. Cái mà họ thắc mắc là: Tại sao một người đàn ông như anh ấy lại không muốn gì cả? Không vợ, không gia đình, không nhà cửa. Những chi tiết về cuộc sống hàng ngày của anh ấy, những sở thích nho nhỏ của anh ấy, đều được quan tâm. Anh ấy lớn lên ở đâu? (Nơi này, nơi kia, hay bất cứ nơi nào.) Anh ấy học đến lớp mấy? (Cũng vừa đủ trình độ học vấn.) Bạn gái anh ấy ở đâu? (Không bao giờ nhắc đến.) Nếu phải chọn giữa trà và cà-phê, anh ấy chọn thứ nào? (Cà-phê.)
Khi họ nói Gladys đang theo đuổi anh ấy, họ rất muốn nói về chuyện tình dục — anh ấy muốn gì và anh ấy có những chiêu gì. Chắc chắn họ cảm thấy một sự tò mò đầy khêu gợi về anh ấy, mà tôi cũng vậy. Anh ấy khơi dậy cảm giác tò mò vì anh ấy rất cẩn trọng và không bao giờ đùa giỡn giống như những người đàn ông khác quanh đây, đồng thời anh ấy cũng không quá khó tính hay quá lịch sự. Một vài gã đàn ông, khi chìa cặp dái gà tây cho tôi xem, thì chắc là vì họ nghĩ rằng những hòn dái sẽ là một trò đùa tục tĩu đối với tôi, khiến một đứa con gái như tôi sẽ cảm thấy mắc cỡ; một loại đàn ông khác thì lại cảm thấy xấu hổ về chuyện này và nghĩ là họ phải bảo vệ tôi để tôi khỏi bị trêu chọc. Người đàn ông nào không thuộc vào một trong hai loại này thì hình như là không bình thường — có lẽ đối với các phụ nữ lớn tuổi, cũng như đối với tôi. Nhưng một điều gì đó đối với tôi là chuyện bình thường, thì cũng có thể làm cho những phụ nữ khác khó chịu. Họ muốn gây sốc cho anh ấy. Họ muốn cả Gladys cũng gây sốc cho anh ấy, nếu có thể.
Thời đó — ít ra là ở Logan, Ontario, vào cuối những năm bốn mươi — chẳng ai có ý tưởng rằng đồng tính luyến ái đang lan ra khỏi những nơi kín đáo riêng tư. Chắc hẳn phụ nữ thời đó tin rằng đồng tính luyến ái là hiện tượng hiếm hoi và có những giới hạn nhất định. Trong thị trấn có vài người đồng tính luyến ái, và mọi người đều biết đó là những ai: đó là anh chàng nhã nhặn, có giọng nói nhẹ nhàng và mái tóc xoăn, làm nghề dán giấy tường và tự cho mình là nhà trang trí nội thất; đó là anh chàng mập mạp và được cưng chiều — con một của bà quả phụ của ngài bộ trưởng — anh ta đã dám tham gia vào các cuộc thi làm bánh của phụ nữ và đã tự tay đan móc một tấm khăn trải bàn; đó là một người đàn ông mắc bệnh tưởng, hành nghề nhạc sĩ phong cầm trong nhà thờ và dạy âm nhạc, luôn giữ trật tự cho dàn đồng ca và học trò của mình bằng cách la hét quát tháo. Một khi cái nhãn đã được dán xong như vậy, thì người ta có nhiều cảm thông hơn cho những người đồng tính luyến ái, và những tài nghệ về trang trí, đan móc, và chơi nhạc của họ được mọi người hưởng ứng — đặc biệt là phụ nữ. “Tội nghiệp cho anh ta,” họ nói. “Anh ta vô hại.” Họ — nhất là đám phụ nữ — thật sự tin rằng chính cái sở thích làm bánh và chơi nhạc là yếu tố quyết định, và đó là những công việc biến người đàn ông thành đồng tính luyến ái — chứ không phải những công việc khác mà anh ta làm hay muốn được làm. Cái khát vọng chơi vĩ cầm được người ta xem là tác nhân làm cho người đàn ông đánh mất nam tính, chứ không phải đó chỉ là một thứ đam mê nhằm tránh sự cám dỗ của đàn bà. Thật vậy, người ta có cái ý tưởng rằng bất cứ người đàn ông chân chính nào cũng muốn tránh sự cám dỗ của đàn bà, nhưng hầu hết đều mất cảnh giác, và đành chịu thua luôn.
Tôi không muốn đi sâu vào vấn đề Herb có phải là người đồng tính luyến ái hay không, bởi vì cái định nghĩa ấy hoàn toàn vô ích đối với tôi. Tôi nghĩ có thể anh ấy là người đồng tính luyến ái, nhưng cũng có thể không phải vậy. (Ngay cả khi xem xét lại những chuyện đã xảy ra sau này, tôi cũng nghĩ như vậy). Anh ấy không phải là câu đố quá hóc búa để giải đáp.
Một thợ nhổ lông khác, cùng làm việc với Irene, là cụ Henry Streets, một người hàng xóm của chúng tôi. Chẳng có gì đáng nói về cụ ngoại trừ cụ đã tám mươi sáu tuổi mà vẫn “làm việc như quỷ”, như cách cụ tự nói về mình. Cụ hay đổ rượu whisky vào trong cái bình thuỷ, và suốt cả ngày cứ thỉnh thoảng lại uống. Chính cụ Henry đã nói với tôi, khi chúng tôi đang ở trong bếp tại nhà, “Cháu nên kiếm một việc làm ở Vựa Gà Tây. Ở đó họ đang cần một thợ mổ gà.” Ngay lập tức ba tôi nói, “Không phải nó, Henry. Nó chỉ có mười ngón tay cái thôi,” và cụ Henry nói là cụ chỉ nói giỡn thôi — vì đó là công việc dơ dáy. Nhưng tôi đã quyết là sẽ làm thử công việc này — tôi rất muốn thành công trong một công việc như thế. Tôi ở trong tình trạng giống như một người trưởng thành cảm thấy xấu hổ rằng mình chưa bao giờ học đọc, còn tôi thấy mình vụng về trong các công việc tay chân. Đối với những người mà tôi biết, thì công việc của họ là những điều mà tôi không làm nổi, và người ta xem công việc là điều để họ tự hào về bản thân và dùng nó để đánh giá người khác. (Khỏi cần nói là những điều tôi làm rất tốt, như những bài tập ở trường, thì lại bị người ta nghi ngại hoặc bị khinh thường.) Bởi vậy thật là một sự ngạc nhiên và một sự khải thắng khi tôi không bị đuổi việc, mà còn có thể mổ gà tây với một tốc độ không đến nỗi quá tệ. Tôi không biết rằng mình có thật sự hiểu là Herb Abbott chịu trách nhiệm chừng nào về việc này, nhưng anh ấy hay nói, “Em làm tốt lắm”, hoặc vỗ vào hông của tôi và nói “Em đang trở thành một người mổ gà giỏi — em sẽ tiến rất xa,” và khi tôi cảm thấy cái chạm nhanh và dịu dàng xuyên qua cái áo ấm dày và cái áo khoác dính đầy máu mà tôi đang mặc, tôi cảm thấy mặt mình đỏ lên và muốn tựa vào anh khi anh đang đứng phía sau tôi. Tôi muốn tựa đầu mình vào bờ vai rộng và chắc nịch của anh. Buổi tối khi ngủ, tôi nằm nghiêng, cạ má của mình vào gối và tưởng tượng rằng đó là bờ vai của Herb.
Tôi tò mò muốn biết cách Herb nói chuyện với Gladys, cách anh nhìn cô ấy hay lưu ý đến cô ấy. Sự tò mò này không phải là sự ghen tuông. Tôi nghĩ tôi muốn có chuyện gì đó xảy ra giữa họ. Tôi run rẩy trong sự mong đợi hiếu kỳ, cũng như Lily và Marjorie vậy. Tất cả chúng tôi đều muốn thấy dấu hiệu gợi tình từ anh ấy, nghe nó trong giọng nói của anh ấy, không phải vì chúng tôi nghĩ nó sẽ làm anh ta giống như những người đàn ông khác, mà bởi vì chúng tôi biết với anh ấy nó sẽ hoàn toàn khác. Anh ấy tử tế và kiên nhẫn hơn hầu hết phụ nữ, đồng thời cũng nghiêm khắc và lãnh đạm, giống như bất cứ người đàn ông khác. Chúng tôi muốn biết làm cách nào để có thể gây cảm xúc nơi anh ấy.
Không biết có phải Gladys cũng muốn điều này hay không, nhưng cô ta không tỏ ra bất cứ dấu hiệu gì. Tôi không thể nào biết, đối với những người đàn bà như cô ấy, phải chăng họ đần độn và nguy hiểm như vẻ bề ngoài của họ, chẳng cần điều gì khác ngoài những cơ hội để gây hấn và chê bai người khác, hay phải chăng họ đều bị ngộp thở với những ngọn lửa âm thầm và những khát khao vô vọng.
Marjorie và Lily nói về hôn nhân. Họ không có điều gì tốt đẹp để nói về nó cả, ngoại trừ họ có cảm tưởng rằng đó là một trạng huống mà không ai được phép tránh né. Marjorie nói rằng chỉ một thời gian ngắn sau khi lập gia đình, cô ta đã vào căn chòi gỗ và định uống thuốc chuột.
“Lẽ ra tôi đã uống rồi”, cô ta nói. “Nhưng người đàn ông lái xe bán dạo đồ tạp hoá lại vừa tới nhà và tôi phải chạy ra mua các thứ. Chuyện này xảy ra khi tôi còn sống ở nông trại.”
Chồng cô ta đối xử rất tàn nhẫn với cô ta trong những ngày ấy, nhưng sau đó ông ta bị tai nạn — ông ta bị xe máy cày cán qua người và bị nặng đến độ sau đó ông ta mất khả năng lao động suốt đời. Họ chuyển đến thị trấn, và bây giờ Marjorie trở thành người trụ cột của gia đình.
“Một tối nọ hắn bắt đầu càm ràm và nói rằng hắn không muốn ăn tối. Thế là tôi cầm cổ tay hắn và giơ nó lên. Hắn sợ tôi sẽ vặn tay hắn. Hắn thấy rằng tôi sẽ làm điều đó. Tôi hỏi ‘Anh nói cái gì?’ Hắn liền nói, ‘Tôi sẽ ăn.’”
Họ nói về cha họ. Ông thuộc thế hệ cũ. Ông có một cái thòng lọng trong căn chòi gỗ (không phải cái chòi nơi Marjorie định uống thuốc chuột — cái chòi này cũ hơn và ở một nông trại khác), và mỗi khi họ làm ông điên tiết, ông bắt họ xếp thành hàng và doạ sẽ treo cổ họ lên. Lily, cô em, đã sợ run lẩy bẩy cho đến khi khuỵu xuống. Cũng người cha này đã sắp xếp cho Marjorie lấy người bạn nối khố của ông khi cô ta mới mười sáu tuổi. Đó chính là người chồng đã khiến cô ta muốn uống thuốc chuột. Người cha đã bắt Marjorie phải lấy chồng vì ông không muốn cô ta dính vào những chuyện rắc rối.
“Ông ta rất nóng máu,” Lily nói.
Tôi cảm thấy ghê sợ, và hỏi, “Tại sao các chị không bỏ trốn?”
“Lời nói của ông ta là luật lệ,” Marjorie nói.
Họ nói rằng đó là vấn đề đối với lũ trẻ bây giờ — nghĩa là bây giờ lũ trẻ quyết định mọi việc. Lời nói của người cha cần phải được tuân theo. Họ đã dạy con rất nghiêm khắc, và chưa đứa nào trở nên hư hỏng. Khi con trai của Marjorie đái dầm, cô ta doạ sẽ cắt chim thằng nhỏ với con dao mổ lợn. Thế là thằng nhỏ hết đái dầm.
Họ nói chín mươi phần trăm bọn con gái bây giờ uống rượu, và chửi thề, và vừa nằm vừa uống vừa chửi. Họ không có con gái, nhưng nếu họ bắt gặp chúng làm những chuyện này, họ sẽ đánh cho một trận nhừ tử. Họ kể rằng cô Irene thường đi xem khúc côn cầu với chiếc quần trượt tuyết có đường xẻ ở đáy quần và không mặc quần lót, để cho tiện việc đái xuống tuyết sau đó. Khủng khiếp.
Tôi muốn nêu ra một vài điều nghịch lý. Chính Marjorie và Lily cũng uống rượu và chửi thề, và có gì quá tuyệt vời về sự cả quyết của một người cha đã làm cho con mình chịu đựng cả một cuộc đời đau khổ? (Tôi chưa bao giờ thấy Marjorie và Lily vui vẻ với nhau — điều này không thể có, bởi vì cái cảm nghĩ của họ về hậu quả, bởi vì thái độ kiêu hãnh và lối sống của họ.) Tôi có thể nổi giận vì sự thiếu lô-gíc trong cách nói chuyện của hầu hết những người lớn — cách mà họ tuyên bố mà không cần biết là có bằng chứng hay không. Làm sao mà những đôi tay của những người đàn bà này lại thật tài tình, tinh vi và khéo léo đến thế — bởi tôi biết họ rất giỏi trong những việc khác cũng như trong việc mổ gà; họ rất giỏi may chăn, vá quần áo, vẽ, dán giấy tường, nhào bột và gieo hạt — nhưng cách nghĩ của họ thì thật cẩu thả, vụng về, và dễ gây phẫn nộ như vậy nhỉ?
Lily nói cô ta sẽ không để chồng cô ta đến gần mình khi ông ấy uống rượu. Marjorie nói từ cái lần chết hụt vì bị băng huyết, cô ấy không bao giờ để chồng mình đến gần, chấm hết. Lily nói khi ông ta đang uống rượu ông ta có thể làm bất cứ điều gì. Tôi có thể thấy đó là vấn đề sỉ diện khi không để chồng mình đến gần, nhưng tôi không chắc lắm rằng “đến gần” phải chăng có nghĩa là “làm tình”. Cái ý tưởng mà Marjorie và Lily đang tìm kiếm cho những mục đích như thế thì có vẻ hơi kỳ lạ. Răng của họ xấu tệ, bụng thì chảy xệ, khuôn mặt thì chán phèo và đầy tàn nhang. Tôi quyết định nên hiểu “đến gần” theo đúng nghĩa của nó.
Hai tuần trước Giáng Sinh là thời gian bận rộn nhất ở Vựa Gà Tây. Tôi phải vào lò mổ một tiếng đồng hồ trước khi đến trường và một tiếng đồng hồ sau giờ học và nguyên cả hai ngày cuối tuần. Buổi sáng khi tôi đi bộ đến lò mổ, đèn đường còn sáng và sao mai vẫn còn lấp lánh. Vựa Gà Tây ở ngay bên cạnh một cánh đồng tuyết trắng, với một hàng thông cao đằng sau, và luôn luôn, dù lạnh và vắng vẻ đến mấy, hàng thông vẫn vươn cao những cành cây, thở dài và rỏ nước. Dường như khó có thể tưởng tượng rằng trên đường tới Vựa Gà Tây, cho một giờ làm việc vào buổi sáng, tôi đã trải qua một cảm giác về sự hứa hẹn và đồng thời một cảm giác về sự bí mật hoàn hảo, bất khả tư nghị của vũ trụ, nhưng tôi đã trải qua như thế. Herb có điều gì đó liên quan đến cảm giác này, và cả cái lạnh nữa — một chuỗi những buổi sáng băng giá và trong trẻo. Sự thật là, những cảm giác như thế không phải là khó có. Tôi có được những cảm giác đó nhưng không biết làm sao kết nối chúng với bất cứ điều gì trong cuộc sống thật.
Một sáng kia, Vựa Gà Tây có thêm một người mổ gà mới. Đó là một kẻ lạ mặt, khoảng mười tám hay mười chín tuổi, tên Brian. Hình như hắn có họ hàng hay bạn bè gì đó với Herb Abbott. Hắn đang ở chung nhà với Herb. Hắn đã làm việc trên những chiếc du thuyền trên hồ vào mùa hè trước. Hắn nói hắn đã chán ngấy công việc đó, và hắn từ bỏ.
Nguyên văn hắn nói là “Đụ mẹ, mấy cái thuyền đó, tao chán lắm rồi.”
Ngôn ngữ được dùng trong Vựa Gà Tây thì xuề xoà và tự do, nhưng riêng chữ chửi thề này thì chưa bao giờ nghe ở đó. Và Brian sử dụng nó hình như không phải vì bất cẩn mà với vẻ phô trương, có cả sự xúc phạm và khiêu khích. Có lẽ cái thái độ của hắn đã tạo ra ấn tượng đó. Hắn khá đẹp trai: tóc vuốt keo, mắt xanh, da mặt hồng hào, cơ thể cân đối — loại đẹp trai mà ai mới nhìn cũng đều đồng ý. Nhưng một ý tưởng ấu trĩ và dai dẳng đã bám vào hắn và hắn đã để cho tất cả vốn liếng bản thân của hắn biến thành trò bắt chước. Cái miệng hắn trông ướt át và hầu như lúc nào cũng mở hé, cặp mắt hắn khép hờ, hắn diễn tả bản thân bằng một cái liếc mắt đầy hy vọng, và cử chỉ của hắn thì lười lĩnh, phô trương, mời gọi. Có lẽ nếu cho hắn lên sân khấu với một cái microphone và một cái đàn guitar và để hắn rên rỉ, gào thét và múa may, thì chắc là trông hắn giống như một danh ca thật sự. Không có sân khấu, trông hắn chẳng có sức thuyết phục. Sau một thời gian ngắn, trông hắn chỉ giống như một người bị chứng nấc cụt trầm trọng — cái vẻ gợi tình liên tục của hắn trở nên nhàm chán và vô nghĩa.
Nếu thái độ hắn nhẹ nhàng hơn một chút, thì có lẽ Marjorie và Lily đã thích hắn. Có thể họ đã bày ra cái trò chơi là bảo hắn hãy khép cái miệng nhớp nhúa của hắn lại và đừng có quơ tay lung tung như thế. Thay vì vậy, họ nói họ chán ngấy hắn, và đó là họ nói thật. Có một lần, Marjorie cầm con dao mổ lên. “Hãy giữ khoảng cách của mày,” cô ta nói. “Tao muốn nói là đừng đụng tới tao, em tao và con bé kia.”
Cô ta không nói là hắn phải giữ khoảng cách với Gladys, bởi vì Gladys không có mặt lúc đó và có lẽ Marjorie thật ra cũng chẳng muốn bảo vệ cô ấy. Nhưng chính Gladys là người mà Brian muốn chọc ghẹo. Gladys liệng cái dao xuống, đi vào nhà vệ sinh và ở trong đó mười phút và đi ra với khuôn mặt lạnh như đá. Cô ra về, nhưng không còn nói là cô cảm thấy bệnh như trước nay cô vẫn thường nói. Marjorie nói là ông Morgan đã rất giận Gladys vì cô ăn nhờ ở đậu mà không chịu làm việc và ông sẽ không bỏ qua cho cô nữa đâu.
Gladys nói với tôi, “Chị không chịu được những thứ như thế. Chị không chịu được những người nói về những chuyện như thế và cái loại... những hành động như thế. Nó làm chị muốn ói mửa.”
Tôi tin cô ấy. Mặt cô tái nhợt một cách khủng khiếp. Nhưng tại sao, trong trường hợp đó, cô không phàn nàn với ông Morgan? Có lẽ mối quan hệ giữa họ rất khó chịu, hay có thể cô không muốn chính mình phải nhắc lại hoặc diễn tả lại những hành động như thế. Tại sao không có ai trong chúng tôi phàn nàn — nếu không phải với ông Morgan thì ít ra cũng phàn nàn với Herb chứ? Tôi chưa bao giờ nghĩ về điều này. Brian dường như chỉ là một cái gì đó mà tôi phải chịu đựng, cũng như chịu đựng sự lạnh cóng trong cái lán mổ này và mùi máu, mùi rác rưởi. Khi Marjorie và Lily doạ là sẽ phàn nàn, thì lý do lại là sự lười biếng của Brian.
Hắn không phải là thợ mổ giỏi. Hắn nói hai bàn tay hắn quá to. Vì thế Herb mang hắn ra khỏi khu mổ gà, bảo hắn quét dọn, đóng gói lòng gà, và chất hàng lên xe tải. Điều này có nghĩa là hắn không phải ở một chỗ nhất định hay làm một việc nhất định trong một thời gian nhất định, vì thế rất nhiều khi hắn chẳng làm gì cả. Thường thì hắn chùi sàn, rồi bỏ đó và đi lau bàn, rồi bỏ đó và hút một điếu thuốc, tựa vào cạnh bàn và làm phiền chúng tôi cho đến khi Herb kêu hắn ta giúp chất hàng. Herb lúc này rất bận rộn và mất rất nhiều thời gian để giao hàng, nên có lẽ anh không biết mức độ chây lười của Brian.
“Tao không hiểu sao Herb không đuổi việc mày,” Marjorie nói. “Tao đoán câu trả lời là tại vì anh ấy không muốn mày ăn nhờ ở đậu miễn phí trong nhà anh ấy, và vì mày không biết đi chỗ nào khác để ở.”
“Tôi có chỗ để đi,” Brian nói.
“Câm cái miệng ướt nhẹp của mày lại,” Marjorie nói. “Tao thấy tội cho Herb, anh ta bị kẹt cứng.”
Ngày cuối cùng ở trường trước Giáng Sinh chúng tôi được về sớm vào buổi chiều. Tôi về nhà thay quần áo và đi làm lúc khoảng ba giờ. Không có ai làm việc cả. Mọi người đều ở trong lán mổ, nơi ông Morgan Elliott đang huơ con dao phay trên bàn mổ và gào thét. Tôi không biết ông đang gào thét vì chuyện gì, và nghĩ rằng ai đó đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng trong công việc; có lẽ người đó là tôi. Và lúc đó tôi thấy Brian đang đứng phía bên kia cái bàn, với vẻ mặt nhăn nhó và bần tiện, và đứng lùi lại khá xa. Cái vẻ dâm đãng vẫn còn trên mặt hắn, nhưng có phần giảm bớt, trộn lẫn với một vẻ cay cú bất lực và đôi chút sợ sệt. Đây rồi, tôi nghĩ, Brian đang bị đuổi việc vì cẩu thả và lười biếng. Ngay cả lúc tôi nghe ông Morgan nói “dâm tặc”, “nhơ nhuốc” và “bệnh hoạn”, tôi vẫn nghĩ là Brian bị đuổi việc vì lười biếng. Marjorie, Lily và ngay cả cô Irene ăn mặc diêm dúa, cũng đang đứng xung quanh, với vẻ thất vọng và khá thành khẩn, giống như cử chỉ của trẻ con khi thấy ai đó bị la mắng ầm ĩ và đuổi ra khỏi trường. Chỉ có cụ Henry là dường như còn giữ được một nụ cười kín đáo trên khuôn mặt. Gladys không có mặt ở đó. Herb đứng gần ông Morgan hơn mọi người khác. Anh không can thiệp vào nhưng luôn để ý đến con dao phay. Morgy thì đang khóc lóc, nhưng trông anh ta không có vẻ như đang chịu đựng điều gì nguy hiểm đến tính mạng.
Ông Morgan gào lên, bảo Brian phải cút ngay. “Cút ngay khỏi thị trấn này — tao nói thật đấy — và đừng chờ đến ngày mai nếu mày còn muốn các xác của mày nguyên vẹn! Cút ngay!” ông ta hét lên, và quơ con dao phay một cách đầy kịch tính về phía cửa. Brian bắt đầu đi về phía cửa nhưng, không biết hắn có cố ý hay không, cặp mông của hắn đưa qua đưa lại như trêu chọc. Điệu bộ này làm ông Morgan nổi điên và ông rượt theo hắn, quơ con dao phay như đang diễn trên sân khấu. Brian bỏ chạy, ông Morgan đuổi theo hắn, và cô Irene khóc thét lên, ôm lấy cái bụng bầu. Ông Morgan quá mập nên chẳng chạy nổi và có lẽ cũng không thể ném con dao phay quá xa. Herb đứng ở cửa ngó theo. Một lát sau, ông Morgan trở lại và liệng con dao phay lên bàn.
“Tất cả trở lại làm việc! Đừng có đứng trố mắt ra ở đây nữa! Tao không trả tiền cho tụi bây đứng đây mà trố mắt ra! Còn mày làm sao vậy?” Ông ta hỏi, nhìn thẳng vào mặt Irene.
“Dạ không có gì,” Irene trả lời một cách ngoan ngoãn.
“Nếu mày có vấn đề gì thì hãy rời khỏi nơi này.”
“Cháu không có sao mà.”
“Thế thì tốt!”
Chúng tôi trở lại công việc. Herb cởi chiếc áo choàng dính đầy máu, mặc chiếc áo khoác vào và bước ra ngoài, có lẽ anh đi xem thử Brian có kịp lên chiếc xe buýt cuối ngày hay không. Anh chẳng nói gì. Morgan và con trai ông đi ra sân, còn Irene và Henry thì đi sang lán bên cạnh, nơi họ nhổ lông gà, làm việc trong đống lông gà cao tới đầu gối mà lẽ ra Brian đã phải quét chúng đi rồi.
“Gladys đâu?” tôi hỏi nhỏ.
“Đang phục hồi thần trí,” Marjorie nói. Cô ta cũng nói nhỏ hơn thường ngày, và phục hồi thần trí cũng không phải là loại từ ngữ mà cô ta và Lyli thường dùng. Đó là những từ dùng để nói về Gladys, với ý định chế giễu.
Họ không muốn kể lại chuyện đã xảy ra, bởi họ ngại ông Morgan có thể quay lại và bắt gặp họ đang nói và sẽ đuổi việc họ. Những công nhân tốt như họ thì sợ bị đuổi việc. Ngoài ra, họ cũng đã chẳng thấy gì cả. Chắc họ đang bực mình vì họ đã không được chứng kiến. Sau này tôi mới biết là Brian đã làm gì đấy hay đã giơ cái gì đấy cho Gladys thấy khi cô ta vừa bước ra khỏi nhà vệ sinh, và cô ta bắt đầu la hét và trở nên hoảng loạn.
Có thể cô ta sẽ bị trầm cảm lần nữa, họ nói. Và hắn sẽ đi khỏi thị trấn này. Và đó là điều đáng mừng cho cả hai.

***

Tôi có bức ảnh chụp cả toán nhân viên của Vựa Gà Tây trong Đêm Giáng Sinh. Nó được chụp với một máy ảnh tự động có đèn flash — một món quà Giáng Sinh đắt tiền của ai đó. Tôi nghĩ máy ảnh đó là của Irene. Nhưng Herb Abbott chắc hẳn là người đã chụp bức hình. Chỉ anh ấy mới là người có thể tin được là biết sử dụng hay tức khắc học cách sử dụng những thứ mới mẻ, và máy ảnh tự động là thứ khá mới mẻ lúc bấy giờ. Bức ảnh được chụp vào khoảng mười giờ Đêm Giáng Sinh, sau khi Herb và Morgy trở về từ chuyến giao hàng cuối cùng và sau khi chúng tôi đã rửa sạch bàn và lau nền nhà xi-măng. Chúng tôi cởi bỏ những cái áo choàng dính đầy máu và những chiếc áo lạnh dày cộm, rồi đi vào một phòng nhỏ gọi là phòng ăn, ở đó có một cái bàn và một lò sưởi. Chúng tôi vẫn mặc quần áo làm việc: quần yếm và áo. Đàn ông đội mũ, còn đàn bà buộc khăn tay trên đầu, theo kiểu thời chiến tranh. Trong ảnh, tôi trông rắn rỏi, tươi tắn và biểu lộ tình đồng đội, nghĩa là tôi biến thành một mẩu người mà tôi chẳng nhớ nổi có phải lúc ấy mình đúng là như thế hay giả vờ như thế. Tôi trông già hơn nhiều so với cái tuổi mười bốn. Irene là người duy nhất cởi chiếc khăn buộc tóc, để xoã mái tóc đỏ. Cô ta nổi bật với vẻ hiền hậu, khêu gợi và mời gọi, đúng như tiếng đồn về cô ta, nhưng hình ảnh đó không giống như dáng vẻ mà tôi nhớ về cô ta. Vâng, cái máy ảnh ấy chắc là của cô ta; cô ta làm dáng cho bức ảnh, với điệu bộ đó, rõ ràng cô ta có chủ ý hơn bất cứ ai khác. Marjorie và Lily thì mỉm cưới, đúng như cái cách của chính họ, nhưng nụ cười của họ có vẻ chua chát và bất cần. Với mái tóc giấu sau chiếc khăn, và với dáng vẻ ấy khi họ ở bên nhau, họ giống như hai chàng công nhân tháo vát, vui vẻ nhưng rất dễ nổi cáu. Khăn buộc tóc có vẻ không hợp với họ; mũ lưỡi trai có vẻ hợp hơn. Cụ Henry thì rất phấn khởi, hài lòng là một thành viên của nhóm, cười toác miệng và trông trẻ hơn tuổi của cụ khoảng hai mươi năm. Và Morgy, với dáng xấu hổ, không tin vào sự hào sảng của bữa tiệc thưởng công, và ông Morgan rất xúc động, ra dáng ông chủ và mãn nguyện. Ông vừa thưởng cho mỗi chúng tôi một con gà tây. Mỗi con gà đều mất một cánh hoặc một chân, hoặc mất một cái gì đó, và những con gà này không thể đem bán nguyên giá. Nhưng Morgan cố gắng nói với chúng tôi rằng thịt của những con gà khuyết tật là ngon nhất, và ông còn khoe cho chúng tôi thấy rằng chính ông cũng lấy một con như vậy đem về nhà.
Chúng tôi đều cầm những cái cốc hay những cái tách sứ to và dày, trong đó không phải đựng trà mà đựng rượu whisky làm bằng lúa mạch. Ông Morgan và cụ Henry đã uống từ chập tối. Marjorie và Lyli nói họ chỉ muốn nhấm nháp chút xíu thôi, và chỉ uống rượu vì bây giờ là Đêm Giáng Sinh và họ đang lạnh cóng chân. Irene nói cô ta cũng lạnh cóng chân, nhưng điều đó không có nghĩa là cô ta uống ít. Herb đã rót rượu một cách khá hào sảng không chỉ cho cô ta mà cho cả Marjorie và Lily nữa, và họ không hề từ chối. Anh đong từng chút rượu cho tôi và Morgy, một cách rất hà tiện, và đổ Coca-Cola vào. Đây là lần đầu tôi uống rượu, và kết quả là suốt nhiều năm sau tôi cứ tưởng rượu-lúa-mạch-pha-Coca-Cola là một loại thức uống tiêu chuẩn và tôi luôn yêu cầu loại thức uống này, cho đến khi tôi thấy chỉ có một vài người uống thứ rượu pha ấy và điều đó khiến tôi tá hoả. Nhưng Đêm Giáng Sinh năm đó tôi chẳng bị gì cả; Herb đã không cho tôi uống nhiều đủ để tôi say. Ngoại trừ cái vị hơi lạ, và cảm giác riêng của tôi là sợ bị say, tôi đã uống thứ rượu pha ấy giống như uống Coca-Cola.
Tôi không cần có Herb trong bức ảnh để nhớ lại dung mạo của anh ấy. Nghĩa là lúc nào anh ấy cũng giống như chính anh ấy, trong suốt cả thời gian ở Vựa Gà Tây và vài lần tôi trông thấy anh ấy trên đường phố — vẫn đúng là cái dung mạo của anh ấy, mà lúc nào tôi thấy anh ấy cũng y như vậy, ngoại trừ một lần.
Cái lần anh ấy trông có vẻ khác với chính anh ấy là cái lúc mà ông Morgan đang nguyền rủa xua đuổi Brian và, sau đó, khi Brian đã chạy thoát ra ngoài đường. Sự khác biệt này là gì? Tôi cố nhớ lại, bởi vì lúc đó tôi đã ngắm anh ấy rất kỹ. Cũng không khác gì nhiều. Mặt anh ấy có vẻ tái hơn và tối hơn, và nếu bạn phải diễn tả sự biểu cảm trên khuôn mặt đó bạn có thể nói nó biểu lộ sự nhục nhã. Nhưng anh ấy cảm thấy nhục nhã vì điều gì? Nhục vì Brain, vì cái thái độ mà Brian đã ứng xử chăng? Chắc chắn lúc đó đã trễ rồi; vì có bao giờ Brian đã ứng xử khác đâu nào? Nhục vì Morgan đã phản ứng quá dữ dằn và đầy kịch tính? Hay nhục vì chính mình, bởi anh ấy nổi tiếng là người hay ngăn chặn những cuộc đánh lộn và cãi vả kiểu này ngay từ đầu, nhưng anh ấy lại không làm được điều đó ở đây? Hay anh ấy cảm thấy nhục vì đã không bênh vực cho Brian? Có phải anh ấy mong rằng đáng lẽ anh ấy phải làm điều đó, nghĩa là bênh vực cho Brian?
Đó là tất cả những điều tôi tự hỏi lúc bấy giờ. Sau này, khi tôi hiểu biết nhiều hơn, ít ra là về tình dục, tôi tin rằng Brian là người yêu của Herb, và Gladys đã cố gắng lôi kéo sự chú ý của Herb, và đó là lý do tại sao Brian đã làm nhục cô ấy — chẳng biết là có hay không có sự thông đồng và cho phép của Herb. Có thật là một người như Herb — loại người nghiêm nghị, kín đáo, trọng danh dự — lại thường thích loại người như Brian, lại đi phung phí tình yêu vô vọng cho một kẻ đồi bại, ngu xuẩn, một kẻ chưa phải là quỷ sứ, hay một con quái vật, nhưng là loại người chuyên gây ra phiền toái triền miên? Tôi tin rằng lúc ấy, với tất cả sự nhẹ nhàng và cẩn trọng của mình, Herb đã vì Brian mà oán ghét tất cả chúng tôi — không phải chỉ riêng đối với Gladys, mà đối với tất cả chúng tôi — và đó là cảm nghĩ của anh ấy khi tôi quan sát kỹ nét mặt anh ấy và thấy có một sự man dại và vẻ khinh bỉ hả hê. Nhưng đồng thời cũng có sự xấu hổ — xấu hổ cho Brian, cho cả anh ấy và cho cả Gladys, và ở một mức độ nào đó, xấu hổ cho tất cả chúng tôi. Nhục nhã cho tất cả chúng tôi — đó là điều tôi đã nghĩ vào lúc ấy.
Tuy nhiên sau này, tôi đã gạt bỏ lời giải thích này. Đã đến lúc tôi cần gạt bỏ những điều mà tôi không lý giải được. Giờ đây, tôi chỉ nghĩ đến khuôn mặt của Herb với vẻ biểu hiện khác thường và tổn thương; tôi nghĩ đến chuyện Brian đã làm trò khỉ đằng sau sự nghiêm trang của Herb; tôi nghĩ đến sự lưu tâm kín đáo của tôi đối với Herb, và ước muốn của tôi được quan hệ với anh ấy, giá như tôi có bất cứ một cơ hội nào, để rồi tôi dọn đến và ở gần bên anh ấy. Quyến rũ làm sao, thú vị làm sao, cái triển vọng thân mật ấy, với chính con người không bao giờ ban phát điều ấy. Tôi vẫn còn cảm nhận được sự lôi cuốn của một người đàn ông như vậy, của sự hứa hẹn và từ chối của anh ấy. Tôi vẫn muốn biết những điều đó. Bất cần những sự kiện. Cũng bất cần những giả thuyết.
Khi tôi uống hết ly rượu tôi muốn nói một điều gì đó với Herb. Tôi đứng bên cạnh anh ấy và chờ cái khoảnh khắc anh ấy không lắng nghe ai hay không nói chuyện với ai, và chờ khi cuộc chuyện trò càng lúc càng nhốn nháo của những người khác có thể che giấu những điều tôi cần nói.
“Em lấy làm tiếc khi bạn anh phải đi khỏi nơi đây.”
“Điều đó cũng bình thường thôi.”
Herb nói một cách ôn tồn và với chút hài hước, và cử chỉ đó đã ngăn chặn tôi, không cho phép tôi có quyền tiếp tục nhìn vào hay nói về cuộc sống của anh ấy. Anh ấy biết tôi đang muốn gì. Chắc chắn anh ấy đã từng có nhiều kinh nghiệm về chuyện này, với rất nhiều phụ nữ. Anh ấy biết phải đối phó như thế nào.
Lily uống thêm một chút whisky trong cốc và kể chuyện cô ta và người bạn thân thiết nhất của cô ta (đã chết, vì bệnh gan) có lần đã cải trang thành đàn ông và trà trộn vào phía dành cho đàn ông trong quán bia, nơi có bảng hiệu CHỈ DÀNH CHO ĐÀN ÔNG, bởi vì họ muốn xem nơi đó như thế nào. Họ ngồi trong một góc và uống bia, mở to mắt và giỏng tai lên nghe, và không ai thèm nhìn họ đến lần thứ hai hoặc thắc mắc gì về họ, nhưng chẳng mấy chốc thì sự phiền toái xảy ra.
“Bọn tôi đi đâu bây giờ? Nếu bọn tôi đi trở lại chỗ của đám đàn bà, và bất cứ ai thấy bọn tôi đi vào nhà vệ sinh nữ, thì họ sẽ gào lên như có án mạng xảy ra. Còn nếu bọn đi vào nhà vệ sinh nam, thì chắn chắn sẽ có người nhận ra là bọn tôi không đi tiểu đúng cách. Trong khi đó thì bia đang chảy xuyên qua bọn tôi như muốn nổ tung toé ra!”
“Khi bọn mày còn trẻ thì có thứ gì mà bọn mày không làm!” Marjorie nói.
Vài người nữa đưa ra lời khuyên cho tôi và Morgy. Họ nói chúng tôi nên vui chơi khi còn có thể. Họ bảo chúng tôi nên tránh xa mọi rắc rối. Họ nói họ đã qua thời tuổi trẻ. Herb nói rằng chúng tôi là một tập thể đoàn kết và đã làm việc rất tốt nhưng anh ấy không muốn làm phiền những ông chồng của đám phụ nữ vì đã giữ họ ở lại quá trễ. Marjorie và Lily biểu lộ sự thờ ơ đối với chồng của họ, nhưng Irene nói cô ta rất yêu chồng mình và sự thật không phải là anh ta đã bị lôi trở lại từ Detroit để cưới cô ta, mặc kệ ai muốn nói sao thì nói. Henry nói đó là một cuộc sống tốt nếu bạn không nản chí. Morgan nói ông chân thành cầu chúc mọi người một mùa Giáng Sinh vui vẻ nhất.
Chúng tôi rời Vựa Gà Tây trong khi tuyết đang rơi. Lyly nói phong cảnh giống như một tấm thiệp Giáng Sinh, và đúng là giống thật, tuyết bay quanh những ngọn đèn đường trong thị trấn và quanh những dãy đèn màu người ta trang trí trước sân nhà. Morgan cho Henry và Irene quá giang về nhà trên chiếc xe tải vì lòng ưu ái đối với người già, người có thai và mùa Giáng Sinh. Morgy lái xe theo đường tắt qua cánh đồng, còn Herb thì thả bộ về nhà, đầu cúi xuống và tay đút trong túi quần, bước chầm chậm, giống như anh đang ở trên boong một chiếc du thuyền trôi trên hồ. Marjorie và Lyli khoác tay với tôi như thể chúng tôi là những chiến hữu lâu năm.
“Tụi mình hát đi,” Lily đề nghị. “Hát cái gì bây giờ?”
“Hát bài ‘Ba Vua’ nhé?” Marjorie hỏi. “Hay bài ‘Chúng Ta, Ba Người Mổ Gà Tây?”
“Bài ‘Tôi Đang Mơ Một Đêm Giáng Sinh Đầy Tuyết Trắng.”
“Sao lại mơ? Mình đã có rồi mà.”
Và thế là chúng tôi cùng hát.

------------
Dịch từ nguyên tác “The Turkey Season”, trong Alice Munro, Selected Stories (New York: Vintage Books, 1991) 289-311.
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: TẬP TRUYỆN NGẮN của ALICE MUNRO (NOBEL 2013)   Sat Oct 25, 2014 11:16 am

Thêm 2 Truyện ngắn của Alice Munro


Nhà văn Alice Munro. Ảnh: AP.


CẬU CON TRAI VÀ CÔ CON GÁI

Cha tôi là một người nuôi cáo. Ông nuôi những con cáo lông bạc trong những cái chuồng đến hết mùa thu và khi sang đầu mùa đông, ông giết chúng, lấy lông và da đem bán cho Công ty Hudson’s Bay hoặc là các thương nhân Montreal Fur.
 
Vài tuần trước Giáng Sinh, cha tôi làm việc sau bữa ăn tối trong tầng hầm được sơn trắng và chiếu sáng bởi một chiếc đèn vài trăm watt trên bàn. Laird và tôi ngồi trên bậc cửa cao nhất và chăm chú nhìn theo ông. Cha tôi lột da những con cáo, sau khi bị lột mất bộ da và lông, con cái trở nên bé tẹo, y như những con chuột, trần truồng, bị ném vào một cái bao tải và chôn vùi trong các bãi rác. Henry Bailey, người phụ việc cho cha tôi hẩy nhẹ chiếc bao có những con cáo vào tôi, bảo đó là “món quà Giáng Sinh” khi bước xuống cầu thang. Mẹ tôi nghiêm mặt, bà không thích công việc giết chóc này và càng không muốn nó diễn ra ngay trong ngôi nhàcủa chúng tôi, bởi vì nó sẽ để lại mùi. Sau khi tấm da được căng trên cái bàn, cha tôi bắt đầu xử lý một cách rất tinh tế. Ông loại bỏ máu đọng và các bong bóng mỡ. Mùi máu và mỡ cáo thâm nhập vào cả ngôi nhà. Tôi cảm thấy yên ổn với cái mùi đó, giống như là mùi cam và lá thông vậy.
 
Tại thời điểm này, ống khói của ngôi nhà vẫn chưa được xây xong, để lại một cái lỗ vuông giữa sàn nhà. Trong bóng tối, tôi và Laird nằm trên giường, nhìn ánh sáng mờ mờ trên chiếc cầu thang và hát. Laird thích hát bài “Jingle Bells” còn tôi hát “Danny Boy”. Tôi thích cảm nhận giọng hát của mình, yếu đuối và cầu khẩn, ngày càng lớn hơn trong bóng tối. Laird cứ hát và rồi ngủ quên luôn. Tôi cuốn chăn quanh người và suy nghĩ về những câu chuyện của riêng tôi cho đến đêm. Đó là những tưởng tượng về tương lai của tôi, tôi sẽ trở thành một anh hùng, cứu người từ trong tòa nhà bị đánh bom. Tôi hạ hai con sói điên dại, cưỡi một con ngựa tốt, đi giữa đường, đón nhận sự biết ơn sâu nặng của dân làng…
 
Cha tôi nuôi cáo trong một khu vực được quây lại bằng một hàng rào bảo vệ, có cửa ra vào và khóa. Có những cái cũi nhỏ cho lũ cáo ngủ. Chúng được cho ăn và uống trong những chiếc lon bằng thiếc cũ. Tất cả các con cáo đều có tên, nó được in trên một tấm bảng treo bênh cạnh cửa chuồng. Cha tôi gọi chúng với những cái tên như Prince, Bob, Wally, và Betty. Tôi hay đặt tên là Star, Turk, Maureen hay Diana, còn Laird thì thích cái tên Maude, Harold và Mexico. Tuy nhiên, những con cáo không quan tâm đến những cái tên. Cha tôi đã hai lần bị nhiễm độc từ các vết cắn. Khi tôi mang nước cho chúng uống, chúng lảng vảng lên xuống, không cả them sủa, lầm lừ nhìn tôi với đôi mắt màu vàng và khuôn mặt dữ tợn. Đó là sự thù địch.
 
Tôi giúp cha tôi cắt cỏ và xếp nó lên trên chuồng cáo để chúng không bị nắng. Cha tôi rất ít khi nói chuyện với tôi trừ trường hợp liên quan đến công việc. Tuy nhiên, tôi vẫn tự nguyện làm việc giúp ông với một chút cảm giác tự hào. Khi tôi xếp xong đám cỏ lên trên nóc chuồng cáo thì trời cũng gần tối. Có một hôm, tôi thấy mẹ tôi đứng nói chuyện với cha tôi phía trước chuồng cáo, lúc đó, cha tôi vừa mới làm xong viêc cho chúng ăn xong, chiếc tạp đề trước bụng ông đẫm những máu và trong tay ông là một cái xô đựng thịt. Tôi cảm thấy bất ngờ vì nhìn thấy mẹ tôi đi xuống chuồng cáo. Mẹ tôi là một bà nội trợ tất bật, luôn tay luôn chân cả ngày. Tôi ghét việc phải ở trong bếp nực nội của mẹ vào mùa hè. Chỉ cần ra được khỏi đó là tôi chạy biến ngay lập tức, chỉ sợ không nhanh thì mẹ tôi sẽ nghĩ ra cái gì đó và sai tôi làm. Với tôi, việc nhà dường như là một cái gì đó vô tận, ảm đạm và buồn chán. Tôi thích những công việc ngoài trời cùng với cha tôi hơn.Mẹ tôi nói với cha tôi rằng: “Chờ đến khiLaird lớn hơn một chút nữa, anh sẽ có một sự giúp đỡ thật sự thôi.”
 
Tôi không nghe được những gì cha tôi nói nhưng tôi rất hài lòng bởi cái cách ông đứng nói chuyện. Trông ông rất lịch sự, như một nhân viên bán hàng vậy. Tôi thắc mắc chuyện mẹ tôi trông đợi điều gì đó ở Laird. Nó thậm chí còn chẳng bao giờ ở cùng tôi được một lần cho đến khi tôi làm xong việc. Thay vào đó, nó chơi xích đu, chạy lòng vòng, bắt sâu bắt bướm. “Và sau đó con bé gái sẽ giúp em nhiều việc trong nhà hơn”. Mẹ tôi nói tiếp và điều đó khiến tôi cực kỳ khó chịu. Mẹ bảo với cha là tôi luôn trốn việc nhà khi bà ấy vừa mới quay đi và rằng tôi không giống như một đứa con gái.
 
Tôi đã bỏ đi, chui vào ngồi trên một túi thức ăn trong một góc chuồng cáo, không muốn thò mặt ra khi cha và mẹ đang nói chuyện. Tôi cảm thấy mẹ tôi không đáng để được tin cậy nữa nhưng tôi cũng nhớ là bà ấy rất yêu tôi. Mẹ thường ngủ rất muộn vào ban đêm chỉ vì muốn khâu cho tôi một chiếc váy theo những yêu cầu khó khăn của tôi.Tuy nhiên, bây giờ, mẹ giống như kẻ thù của tôi vậy. Bà đang âm mưu, lên sẵn một kế hoạch để bắt tôi ở trong nhà nhiều hơn dù biết là tôi vô cùng ghét điều đó và không cho tôi làm những công việc mà tôi thích cùng với cha tôi. Tôi ấm ức, ngồi dập gót chân vào túi thức ăn của lũ cáo và đã không ra khỏi đó cho đến khi mẹ tôi đi mất.
 
Tôi mong đợ là cha tôi sẽ không để ý đến những gì mà mẹ tôi nói. Ai có thể tưởng tượng được Laird sẽ làm công việc của tôi như thế nào? Nó làm sao nhớ được tất cả các ổ khóa, cách làm sạch thức ăn và chuyển nước vào các lon thiếc qua một chiếc lá ở đầu một cây gậy hay là làm cho dây chuyền thức ăn không bị lộn ngược lên trên? Tôi quên không nói những con cáo được cho ăn cái gì. Chiếc tạp đề đẫm máu của cha tôi đã nhắc nhở tôi. Chúng được ăn thịt ngựa tươi. Tại thời điểm này, hầu hết nông dân ở đây vẫn còn nuôi ngựa và khi chúng quá già hay là bị gãy chân, liệt chân, chủ sở hữu những con ngựa này sẽ bán chúng cho cha tôi và nhận về khoảng 5 đến 12 đôla. Thường thì cha tôi và Henry đi lấy ngựa, họ bắn chết nó rồi mang về. Tuy nhiên, nếu còn nhiều thịt ngựa, họ sẽ để cho chúng sống thêm một vài ngày hoặc là vài tuần trong các chuồng dành riêng tại trang trại. Chúng tôi có thể nuôi được lũ ngựa qua mùa đông vì có khá nhiều cỏ khô.
 
Mùa đông năm tôi 11 tuổi, chúng tôi đã có hai con ngựa được đưa đến, tên của chúng là Mack và Flora. Mack là một con ngựa thồ, đen bóng và rất hờ hững. Flora là ngựa kéo xe, khá là đỏng đảnh, khó chiều. Mùa đông năm ấy cũng là lúc tôi nghe được những lời phàn nàn của mẹ tôi về tôi với cha tôi. Tôi cảm thấy bất an. Trong tâm trí tôi, dường như mọi người đã mặc định sẵn tư tưởng này rồi, rằng một cô gái thì không thể thoát khỏi những công việc nhà và phải trở thành một người dịu dàng, khéo léo.
 
Bà ngoại tôi đã ở cùng với chúng tôi trong vài tuần và tôi thường phải nghe những câu như: “Con gái không được đóng cửa mạnh như thế”,“Con gái phải chụm hai đầu gối lại với nhau khi ngồi xuống”. Tệ hơn nữa là, khi tôi thắc mắc điều gì đó, tôi phải nghe cáu gắt rằng, “Đó không phải là việ ccủa một cô con gái”. Tôi tiếp tục đóng sầm cửa ra vào và ngồi một cách càng vụng về, thô lỗ càng tốt. Tôi nghĩ rằng, nếu tôi làm như vậy, tôi sẽ khiến cho mình được bỏ qua.
 
Khi mùa xuân đến, những con ngựa được cho ra ngoài, trong sân nuôi gà vịt. Mack đứng tựa vàotường nhà kho còn Flora thì chạy lung tung khắp nơi. Tuyết tan dần, để lộ những mảnh đất màu nâu xám. Thật tuyệt vời khi tất cả các cửa được mở tung ra, cho phép ánh sáng mặt trời tràn khắp không gian và tận hưởng không khí trong lành.Henry đóng lốc lịch mới lên tờ lịch cũ, đổ một ít yến mạch lên tay Laird và chỉ cho Laird cách cho Mack ăn. Răng của Mack khá xấu xí, nó ăn rất chậm, từ tốn nhai đám yến mạch trong miệng. Henry buồn buồn bảo rằng, Mack đã quá già yếu mất  rồi. “Anh sẽ bắn nó vào hôm nay sao Henry?” tôi hỏi, vì Mack và Flora đã ở trong chuồng được khá lâu và tôi gần như là đã quên mất việc chúng sẽ bị giết.
 
Henry không trả lời tôi. Thay vào đó, anh ta bắt hát với một giọng chế nhạo, buồn và cao.Mack vẫn kiên nhẫn nhai chỗ yến mạch trên tay Laird. Tôi bước ra ngoài trước khi Henry hát hết bài hát và ngồi xuống bậc cửa. Tôi chưa bao giờ thấy Henry và cha tôi bắn một con ngựa nhưng tôi biết họ đã làm việc đó. Mùa hè năm ngoái, tôi và Laird đã chứng kiến cảnh họ chôn cất nội tạng của một con ngựa. Chúng tôi đã nghĩ đó là một con rắn lớn màu đen cuộn mình trong ánh nắng mặt trời.Tôi cho là nếu chúng tôi đi vào nhà kho và tìm được một vết nứt rộng nào đó,chúng tôi có thể nhìn thấy việc là Henry và cha tôi làm. Điều đó không hẳn là tôi muốn xem, chỉ là nếu biết được thì sẽ tốt hơn.
 
Cha tôi đi khỏi nhà, mang theo một khẩu súng. Ông bắt gặp chúng tôi và bảo chúng tôi đi chỗ khác chơi nhưng tôi đã dắt Laird vào nhà kho để lén xem việc Mack bị bắn.Áp tai vào tường nhà kho, tôi có thể nghe thấy tiếng cha tôi và Henry nói chuyện và sau đó là tiếng bước chân nặng nề và mệt mỏi của Mack. Chúng tôi chất cỏ khô thành đống và trèo lên cao. Tôi chỉ cho Laird một vết nứt rộng bằng tay áo trên vách rồi bảo nó hãy im lặng và chờ đợi. Nếu cha tôi hay là Henry phát hiện ra được, chúng tôi sẽ gặp rắc rối lớn.
 
Cha tôi cầm súng. Henry dắt Mack đến. Hai người nói gì đó với nhau mà chúng tôi không nghe thấy. Mack bắt đầu tìm kiếm cỏ tươi mặc dù mắt của nó đã bị bịt kín. Cha tôi bước đi trên một đường thẳng, dừng lại ở khoảng cách có vẻ như đã phù hợpvới ông. Henry tránh qua một bên, cách xa Mack nhưng vẫn giữ dây thừng. Cha tôi nâng khẩu súng lên và dường như Mack cũng cảm nhận được cái gì đó, nó ngẩng đầu lên, cha tôi nã một phát súng vào đầu nó.
 
Mack không ngã xuống ngay lập tức, nó lảo đảo sang một bên sau đó từ từ đổ xuống, đá đá chân vào khoảng không vài giây. Lúc đó, Henry cười. Laird thì thào, “Nó chưa chết đâu!”. Và tôi thấy hình như là vậy thật. Tuy nhiên, chân của Mack đã bất động, các cơ bắp của nó run lên rồi ngừng lại. Cha tôi và Henry đến gần, kiểm tra vết đạn trên trán con ngựa xấu số và bấy giờ thì tôi nhìn thấy vũng máu màu nâu sẫm trên thảm cỏ.
 
“Bây giờ thì chỉ còn việc lột da và cắt thịt nữa thôi. Mình đi!”, tôi kéo tay Laird. Chân tôi vẫn còn run và tôi thầm cảm ơn đám cỏ khô. Giờ thì tôi đã biết cách mà họ bắn một con ngựa. Tôi nhảy xuống trước, Laird ngoan ngoãn đưa hai tay cho tôi đỡ nó. Đột nhiên, tôi nhớ tới chuyện lần đầu tiên tôi dẫn Laird vào chuồng ngựa, bảo nó leo lên đến tận bậc thang cuối cùng và sau đó chạy đi nói với cha tôi rằng, “Laird đang ở trên đỉnh cầu thang”. Cha mẹ tôi vội vàng chạy đến. Cha tôi leo lên cầu thang, nói chuyện với Laird bằng giọng rất dịu dàng và đỡ nó xuống trên hai cánh tay của ông còn mẹ tôi thì tựa lưng vào cầu thang và bật khóc. Họ nói với tôi rằng, “Tại sao lại không trông chừng em?”, nhưng chẳng ai biết sự thật cả. Laird cũng không đủ khôn ngoan để nói lại cho họ biết. Hôm ấy, nó đã mặc một cái áo khoác màu nâu và trắng khá dày. Sau này, mỗi lần nhìn thấy chiếc áo ấy trong tủ, tôi đều cảm thấy nặng nề và tội lỗi.
 
Tôi nhìn Laird, người thậm chí chẳng nhớ nổi cái câu chuyện ấy nữa và tôi không thích điều này tí nào. Biểu hiện của Laird không hề hoảng sợ hay bực bội nhưng có vẻ xa xôi thế nào ấy. “Nghe này”, tôi nói với Laird, bằng một cái giọng tươi sáng bất thường và vô cùng thân thiện, “em sẽ không nói ra chuyện này đâu, phải không?”.

“Vâng”, Laird trả lời lơ đãng. “Hứa nhé?”, tôi hỏi lại một lầnnữa. “Em hứa!”, Laird móc ngoéo tay với tôi. Mặc dù vậy, nó vẫn có thể gặp phải ác mộng vì những gì đã thấy. Tôi nghĩ đến việc xóa mọi thứ vừa diễn ra ra khỏi đầu Laird. Tôi đã dùng hết số tiền tôi dành dụm vào chiều hôm đó để cho Laird đi xem một chương trình của Judy Canova và cả hai chúng tôi đã cười rất nhiều. Sau đấy, tôi nghĩ rằng, sẽ không còn vấn đề gì nữa.
 
Hai tuần sau đó, họ sẽ bắn Flora. Tôi biết điều đó từ đêm hôm trước, khi nghe được cha và mẹ tôi nói chuyện với nhau. Thời gian này, tôi không nghĩ đến việc xem ngựa bị bắn nữa. Tôi còn bận rộn với việc đi học, làm điệu trước gương và tự hỏi là tôi sẽ xinh như thế nào khi lớn lên. Cái chết của Mack, cách làm việc của cha tôi và Henry đối với tôi là chuyện bình thường. Tôi đã quen với cái chết của động vật và coi nó là chuyện cần thiết để chúng tôi được sống. Tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy áy náy một chút và không còn sự đam mê với công việc của cha tôi như ngày trước.
 
Đó là một ngày đẹp trời, chúng tôi chơi ở quanh sân, nhặt những cành cây bị gãy trong cơn bão mùa đông. Chúng tôi muốn dựng một chiếc lều với những cành cây đó. Lúc ấy, tôi nghe thấy tiếng hí của Flora và sau đó là giọng la hét của cha tôi và Henry.Tôi cùng Laird chạy xuống chuồng gia súc để xem chuyện gì đang xảy ra. Cửa mở toang, Flora thoát khỏi tay Henry và chạy tự do trong sân nuôi gà vịt, từ đầu này sang đầu kia. Chúng tôi trèo lên hàng rào. Thật thú vị khi nhìn thấy Flora chạy và hí, liên tục đá hai chân sau lên như đe dọa. Cha tôi và Henry chạy sau Flora, cố gắng chụp lấy dây cương. Họ gần như đã dồn được con ngựa vào một góc nhưng lại thất bại trong việc bắt giữ nó. Flora hướng về phía cửa đã bị mở và dường như nó muốn chạy ra đường. Cha tôi hét lên bảo tôi đóng cửa lại.
 
Tôi chạy rất nhanh, băng qua khu vườn, qua những gốc cây, nhảy qua một con mương để đến chỗ chiếc cửa đang mở. Cánh cửa nặng nề. Tôi cố nhấc nó lên. Flora phi nước đại đến thẳng chỗ tôi. Laird lao tới để giúp tôi nhưng thay vì đóng cửa lại, tôi mở rộng nó ra hết sức tôi có thể. Flora không hề chậm lại, nó phóng thẳng qua cửa.Laird nhảy lên nhảy xuống, la hét tôi đóng cửa lại ngay cả khi đã quá muộn để làm điều đó. Cha tôi và Henry xuất hiện ngay sau đó nhưng họ không kịp nhận ra những gì tôi đã làm. Họ chỉ nhìn thấy Flora đang băng băng chạy trên con đường của thị trấn.
 
Cha tôi và Henry không hề lãng phí bất cứ một giây nào, họ quay trở lại nhà kho, lấy dao, súng và nhảy lên chiếc xe tải. Laird hét lên rằng, “Cho con đi với!”, Henry mở cửa kéo nó vào trong rồi phóng xe đi. Tôi tự hỏi, điều gì sẽ xảy ra với tôi đây? Tôi đã không vâng lời cha và tôi cũng không thể hiểu nổi là tại sao tôi lại làm chuyện đó. Flora không thể nào thoát được, họ sẽ bắt nó lại ngay. Ở nơi hoang dã này, chúng tôi cần thịt ngựa để nuôi sống những con cáo và cần những con cáo để nuôi sống chúng tôi. Tất cả những gì tôi đã làm là thêm việc cho người cha vốn đã rất vất vả của tôi. Và khi mà cha tôi phát hiện ra chuyện này, ông ấy sẽ không bao giờ tin tưởng tôi nữa. Tôi trở về nhà, trả lời câu hỏi của mẹ tôi là Flora đã chạy mất thay vì nói tôi đã để cho nó chạy mất. Mẹ tôi bảo rằng, “Tội nghiệp cho bố con quá, ông ấy sẽ phải đuổi nó khắp vùng mất thôi.”Tôi đã định nói cho mẹ tôi biết sự thật nhưng rồi tôi lại im lặng và trở về phòng của mình.
 
Gần đây, tôi đang cố gắng để tạo nên một căn phòng theo đúng ý của tôi, giường có mành che ngăn cách, bàn trang điểm và áo váy. Tôi dự định sẽ chia rõ ranh giới căn phòng giữa tôi và Laird. Chúng tôi không còn hát vào ban đêm nữa vì Laird đã nói tôi rõ ngớ ngẩn khi tôi hát. Dù sao thì chúng tôi cũng không còn sợ nên chuyện đó chẳng quan trọng, nhưng tôi vẫn tiếp tục những câu chuyện trong tưởng tượng của mình về tương lai.

Hơn một giờ sau, chiếc xe tải quay lại. Henry và cha tôi thay chiếc quần đẫm máu bằng đồ làm việc bình thường, rửa ráy ở bồn nước và vuốt lại tóc tai. Mẹ tôi đã chuẩn bị xong bàn ăn. Laird chìa cánh tay với một vệt máu trên đó ra như khoe và nói rằng, “Em và cha đã bắt được Flora và sẽ cắt nó thành 50 mảnh”. Mẹ tôi cằn nhằn, “Mẹ không muốn nghe những thứ như thế và cũng đừng mang máu đến bàn ăn.” Cha tôi nhấc Laird lên, đem nó đi rửa tay. Chúng tôi vừa ăn uống vừa nghe cha và Henry kể lại chuyện đuổi bắt Flora. Laird nhìn qua chỗ tôi và nói với giọng hết sức kiêu ngạo: “Đó là lỗi của chị vì đã để Flora đi!”. “Cái gì cơ?”, cha tôi hỏi lại.

Laird nói: “Chị có thể đóng cửa lại nhưng không làm. Chị còn cố mở cửa ra và thế là Flora chạy được”. “Có đúng thể không?”, cha tôi hỏi. Tất cả mọi người nhìn vào tôi. Tôi gật đầu, mãi không nuốt nổi chỗ thức ăn trong miệng. Tôi xấu hổ. Nước mắt tràn ngập trong mắt tôi. Cha tôi hơi gằn giọng, “Con đã làm gì thế hả?”. Tôi không trả lời, cúi gằm mặt xuống, chờ đợi một cái bạt tai nhưng điều đó đã không xảy ra. Mọi người im lặng khá lâu cho đến khi Laird la lên, “Chị ấy đang khóc”.

“Đừng bận tâm!”, cha tôi trả lời. Ông ấy còn nói thêm một câu như là để giải thoát và xá tội cho tôi, “Chị con cũng chỉ là một cô gái thôi!”. Tôi không phản đối, ngay cả trong trái tim tôi cũng không phản đối. Có lẽ, đây chính là sự thật.

Thi Vũ (Lược dịch)


Các tác phẩm của Alice Munro. Ảnh: Usa.


Những con ruồi trên bệ cửa sổ

Nàng tựa mình trên chiếc ghế dựa cũ kỹ trong căn phòng kính ở nhà nàng. Nàng không định đi ngủ. Bây giờ đang là một buổi chiều cuối thu đẹp đẽ, thanh bình - ngày diễn ra cuộc tranh tài Grey Cup, mà nhẽ ra nàng sẽ tham dự tiệc tùng với mấy người bạn, và cùng theo dõi trận đấu qua truyền hình. Vào phút cuối, nàng đã lấy lý do để được ở nhà. Mọi người cũng đã bắt đầu quen với cách xử sự này của nàng, mặc dầu vài người vẫn tỏ ra lo lắng. Nhưng nếu nàng góp mặt, thói quen và nhu cầu khẳng định mình luôn biến nàng thành linh hồn của buổi tiệc. Vì thế, mọi người cũng chẳng lo ngại gì nhiều.

Những đứa con nói với nàng, hy vọng nàng không sống trong quá khứ.

Nhưng nàng tin rằng: điều mình đang làm, điều mình muốn làm, nếu có thời gian, không phải là sống trong quá khứ mà là mở cánh cửa quá khứ để nhìn sâu nào nó, thấu hiểu về nó.

Nàng dần dần thiếp đi trong nắng chiều, và nàng nhận thấy mình đang bước vào một căn phòng nào đó xa lạ. Căn phòng kính, rực sáng, chìm khuất vào một hành lang tăm tối. Chìa khóa gắn ở cửa phòng, nàng nghĩ rằng chìa khóa luôn được gắn như thế, dù việc này, nàng chưa bao giờ gặp trong đời thực.

Đó là một phòng trọ tồi tàn, một căn phòng dành cho những người khách nghèo túng, khổ sở. Một chiếc đèn trần, mấy cái móc áo làm bằng kẽm, một tấm vải hoa màu hồng chen lẫn màu vàng có thể kéo qua lại, che phủ nơi phơi quần áo. Tấm vải hoa có lẽ là để mang đến cho căn phòng chút sinh khí, nhưng kỳ thực, nó lại có tác động ngược lại.

Nàng nhận ra Ollie - chồng của nàng, Ollie đang nằm trên giường. Mới đây, chàng và nàng đã đi khắp mọi miền bằng xe hơi, và chỉ mình chàng cầm lái trong những chuyến lưu diễn ấy. Với cái nóng bức và bụi bậm của ngày hôm này, người chàng mệt mỏi, rã rời. Nàng không biết lái xe. Nàng đang lịch kịch mở những chiếc tủ đựng áo quần, và đi tắm. Khi nàng bước ra, chàng đang ngái ngủ, nhưng qua khe mắt nhắm hờ, chàng thấy nàng đang tự ngắm mình trước tấm gương gắn ở tủ áo quần, cái gương lấm tấm những vệt đen ở những chỗ mà lớp tráng thủy ở mặt sau bong đi. Nàng mặc một chiếc váy satin màu vàng, một cái khăn quàng màu đen có in hình hoa hồng. Trang phục được may theo ý nàng, nhưng chẳng hề tôn lên vóc dáng của người mặc. Da mặt nàng đã được đánh phấn, nhưng vẫn thiếu sinh khí. Những lọn tóc được kẹp và xịt keo, cứ như một cái mũ nằm bẹp dí trên đầu. Đuôi mắt chằng chịt những nếp nhăn, mí mắt sụp, trông buồn ảo não. Có thể nói, toàn bộ cơ thể nàng như bị kéo xuống bởi sức nặng của mớ áo quần, tóc tai và son phấn.

Nàng đến bên giường, cúi xuống và cởi giày cho chàng. Chàng bảo nàng không cần phải làm thế. “Anh chuẩn bị phải đi đây! - chàng nói - Anh phải đến gặp họ”.

Nàng chẳng nói gì, nàng đứng trước gương và tự ngắm mình, với lớp y phục rườm rà và bộ tóc giả. Tâm hồn nàng trĩu nặng, nàng bước quanh phòng như định làm một điều gì đó, nhưng rồi chẳng biết phải làm gì.

Ngay khi cúi xuống định cởi giày cho Ollie, nàng cũng không nhìn mặt chàng. Và chàng nhắm nghiền mắt để tránh nhìn thấy mặt nàng. Họ đã trở thành những diễn viên chuyên nghiệp, họ cùng ăn, cùng ngủ, cùng ở bên nhau. Thế nhưng, trừ những lúc trước đôi mắt của khán giả, họ chưa bao giờ dám nhìn lâu vào mắt nhau. Họ sợ phải nhận ra một điều gì đó khủng khiếp.

Tủ quần áo với tấm gương loang lổ được kê sát tường - che một phần cửa sổ, khiến ánh sáng bên ngoài bớt lọt vào phòng. Nàng tỏ ra nghi ngại trong chốc lát rồi gắng hết sức nhích một góc tủ dịch chuyển sang bên vài tấc. Nàng nín thở vén tấm màn đầy bụi lên, chợt thấy, ở phía xa nhất của bệ cửa sổ, vốn bị che khuất bởi màn cửa và tủ quần áo, là một đống ruồi.

Ai đó từng sống trong căn phòng này, đã tiêu khiển bằng cách giết những con ruồi, rồi nhặt xác chúng, chất thành đống, bỏ trong hốc cửa sổ này. Nàng kêu lên khi nhìn thấy chúng, không phải vì hốt hoảng mà vì ngạc nhiên, thích thú. Thật lạ! Những xác ruồi khiến nàng cảm thấy vui, giống như đó là châu ngọc dưới kính hiển vi, những sắc màu lấp lánh, cánh mỏng như voan. Nàng gào lên, nhưng không phải vì nàng thấy những con ruồi ở bệ cửa. Mà vì nàng không có kính hiển vi, và những con ruồi đã mất đi màu sắc óng ánh của mình khi chúng chết. Những thân thể nhỏ bé, lộn xộn của lũ ruồi hòa trộn vào nhau nơi góc kẹt. Nàng có cảm giác sẽ nhìn thấy chúng ngay khi nàng đặt tay lên tủ áo hay vén tấm màn.

Nàng đã làm Ollie tỉnh ngủ, đánh thức chàng. “Việc gì thế?”, chàng làu bàu. “Em bị ong đốt à?”. “Không!”, nàng nói, chỉ tay vào lũ ruồi. “Em biết chúng nằm ở đó”.

Ollie ngay lập tức hiểu ra ý nghĩa của việc ấy đối với nàng, niềm vui của nàng, mặc dầu chàng không thể hòa cùng vào niềm vui ấy. Giờ đây, chàng chỉ quan tâm mỗi một điều, là làm thế nào cho những lần diễn xuất của chàng và nàng thành công.

“Em biết vào lúc nào?”.
“Khi em nhìn vào trong gương. Khi em nhìn cửa sổ. Em cũng không biết lúc nào nữa”.

Nàng vui sướng, giọng nói trong trẻo, đôi mắt long lanh như bao lớp bụi trần đã được tẩy rửa. Nàng với tay ôm quàng cổ chàng và tựa đầu sát ngực chàng, khiến những giấy tờ bỏ trong túi áo của chàng kêu sột soạt.

Đây là những giấy tờ bí mật mà chàng có được từ một bác sĩ nổi danh - một người mà chàng gặp trong cái thành phố này, chuyên về chăm sóc sức khỏe cho những người nghệ sĩ phải lưu diễn dài ngày. Chàng bảo với vị bác sĩ ấy chàng rất lo lắng về tình trạng tâm lý của nàng - người có thể nằm bẹp trên giường nhìn trần nhà hàng tiếng đồng hồ mà không lộ vẻ đói khát, người nhiều ngày có thể không nói một lời (trừ khi phải biểu diễn trên sân khấu). Nàng không phải là một người bình thường, nàng là một người độc đáo, sống với người độc đáo có thể sẽ hết sức căng thẳng. Nàng đã từng bị bệnh động kinh, và sẽ như thế nào nếu những cơn động kinh ấy quay trở lại. Bác sĩ hiểu chuyện này và đã chỉ cho chàng một nơi để đưa nàng đến điều trị, an dưỡng tinh thần.

Chàng không muốn nói cho nàng biết việc này. Quả tình, nàng cũng đã cảm nhận một điều gì đấy, nhưng nàng không muốn biết.

Nàng tin rằng, họ có thể làm những điều khác với việc này, họ có thể cùng sống một cuộc đời khác. Còn chàng, chàng sẽ quên phắt cái ý nghĩ đưa nàng vào trại an dưỡng, quên phắt mớ giấy tờ vớ vẩn đó.

Nàng cảm thấy tất thảy những hiểm họa tan biến theo những tiếng sột soạt khẽ khàng dưới gò má nàng.

Dường như, một người nào đó, trầm tĩnh và quả quyết, đã đưa nàng ra khỏi căn phòng ấy - căn phòng với những móc áo bằng kẽm và tấm vải hoa. Dịu dàng, đưa nàng ra khỏi những mệt mỏi, đau khổ của cuộc đời, như xuyên qua bao lớp bồ hóng đen tuyền, qua bao lớp tro tàn mong manh, để trở về với những nguồn sáng tươi vui, trong trẻo, thuần khiết.

LÊ MINH KHA
Dịch từ “Flies on the windowsill”
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 241
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: TẬP TRUYỆN NGẮN của ALICE MUNRO (NOBEL 2013)   Sat Jun 25, 2016 12:12 am



Trốn chạy - tập truyện ngắn của Alice Munro


Trốn chạy gồm tám truyện ngắn với nhan đề ngắn gọn: “Trốn chạy”, “Tình cờ”, “Sắp rồi”, “Nín lặng”, “Đam mê”, “Báng bổ”, “Mắc lỡm”, “Thần lực”. Có thể nói, mỗi câu chuyện trong Trốn chạy chứa đủ chuyện đời để lấp đầy một tiểu thuyết điển hình (Nhận xét của tờ The Boston Globe).

Các câu chuyện dẫu được kể với giọng văn đẹp đẽ, thấu suốt và đi vào lòng người - một giọng kể đơn giản mà lại thành ra độc đáo giữa những áng văn thử nghiệm hay hậu hiện đại thời nay – khiến ta tưởng như đang được nghe một người phụ nữ thật sự kể chuyện, với những ngừng nghỉ nhấn nhá, những khúc quanh cảm xúc, những khi quay ngược lại câu chuyện để giải thích. Không câu hỏi nào được trả lời, cũng không tình thế nào được giải quyết. Không nhiều nút thắt mở tình tiết, chỉ có những thắt mở của cảm xúc. Hình ảnh sau chót trong câu chuyện cuối cùng về một bà già ngồi trên ghế bập bênh hồi tưởng về quá vãng, rồi bị dẫn ra khỏi cơn mơ màng bởi một người “dịu dàng và dứt khoát” - có thể là người chồng đã khuất - như ẩn dụ về một người kể chuyện đang tiên liệu trước cái kết cho sự nghiệp của mình.

Có thể coi Trốn chạy như tác phẩm tổng hợp của một trong những nhà văn khai thác đào sâu tâm hồn con người sắc sảo nhất. Alice Munro cứ thế kể chuyện bằng những lời văn bình thản, đẹp đẽ, thấu suốt, đến độ người đọc thoạt tiên không nhận ra câu chuyện đã làm lòng mình đau nhói.


** Truyện ngắn TRỐN CHẠY

           
Tại nhà, Sylvia không còn việc gì để làm ngoài việc mở toang những cánh cửa sổ. Và nghĩ đến – với sự háo hức khó mường tượng mà không khỏi gây ngạc nhiên – là chốc nữa đây cô sẽ được gặp Carla.
            Tất cả những vật dụng cá nhân mang hơi hám bệnh tật đã được dời đi hết. Căn phòng chung của Sylvia và chồng, cũng là nơi hấp hối của anh, đã được dọn dẹp ngăn nắp hệt như chưa từng xảy ra chuyện gì. Carla đã giúp quét dọn trong những ngày hỗn loạn giữa chuyện hỏa táng và chuyến đi Hy Lạp. Mỗi một bộ đồ Leon đã mặc hoặc chưa từng thử qua, cùng với những món quà chưa tháo hộp do các cô em gái tặng, đã được chất đầy ghế xe sau để giao cho tiệm bán đồ cũ. Những viên thuốc, bộ dao cạo râu, những lon thuốc bổ trợ lực chưa mở nắp – thứ nước đã từng giúp kéo dài sự sống anh cho đến bây giờ – những thùng bánh mè mà anh ăn, những chai lotion còn nguyên mà anh thường dùng để xoa bóp lưng, tấm da cừu anh đã nằm bên trên – tất cả mọi thứ đó đã được gom vào bao ni lon và vứt bỏ như rác, và Carla không thắc mắc gì cả. Cô không bao giờ lên tiếng, “Có lẽ người nào đó cũng có thể dùng được những thứ này,” hoặc thốt lên rằng những lon nước đó còn nguyên chưa mở nắp. Khi Sylvia nói, “Tôi ước gì mình đã không quyên những bộ quần áo. Tôi muốn đốt toàn bộ trong lò thiêu hủy rác.” Carla không lộ vẻ ngạc nhiên.
            Họ làm sạch lò nướng, lau chùi kệ dựng chén dĩa, chùi bóng tường nhà và cửa sổ. Một ngày kia Sylvia ngồi tại phòng khách đọc những lá thư phân ưu cô đã nhận. (Không có những chồng giấy má hay sách vở cần phải soạn dẹp và không có những bài viết chưa hoàn tất hay bản thảo nghệch ngoạc dở dang – thói quen mà mọi người bắt gặp từ những người viết lách. Anh đã nói với cô từ những tháng trước là anh đã ném bỏ hết tất cả không hối tiếc.)
            Những khung cửa sổ to tướng dựng nên vách tường nghiêng hướng nam của căn nhà. Sylvia ngước lên và bị choáng ngợp bởi ánh dương ẩm hơi nước vừa ló dạng – hoặc cũng có thể cô bất ngờ bởi hình ảnh của Carla, chân trần, tay trần, trên chóp thang, khuôn mặt viền vòng những lọn tóc màu hoa bồ công anh còn quá ngắn để tết thành bím. Cô đang cật lực chùi cọ tấm kính. Khi cô trông thấy Sylvia đang nhìn mình, cô dang rộng hai đôi tay thể như đang bị xiên nơi đó, pha trò nheo mặt bắt chước những con đầu hổ phù gắn đầu mái nhà. Rồi cả hai cùng cười phá lên. Sylvia cảm nhận tiếng cười róc rách chảy khắp thân châu cô như một giòng suối nghịch ngợm. Cô trở lại chăm chú những lá thư và Carla tiếp tục công việc lau chùi. Cô quyết ý là những dòng chữ này – dù chân thành hay chiếu lệ, tôn kính và thương tiếc – phải nên đi theo số phận của tấm da cừu và những hộp bánh mè.
            Khi cô nghe tiếng Carla kéo chiếc thang xuống, nghe tiếng giày trên sàn gỗ, bỗng nhiên cô trở nên bẽn lẽn. Cô ngồi y một chỗ, đầu cúi gập khi Carla bước vào phòng và đi ngang nhà bếp để bỏ cái xô và tấm khăn chùi vào bồn rửa chén. Carla không ngừng tay, cô nhanh nhẹn như con chim, nhưng cô cũng còn đủ thời gian để cúi đặt một nụ hôn lên Sylvia đang nghiêng nghiêng đầu. Rồi cô khe khẽ huýt sáo.
            Nụ hôn cứ luẩn quẩn trong tâm trí của Sylvia từ lúc ấy. Nó chẳng mang một thông điệp đặc biệt nào cả. Một nụ hôn cổ vũ khuyến khích hoặc để báo việc gần sắp xong. Nó mang ý nghĩa họ là hai người bạn thân vừa sánh vai trải qua nhiều nỗi muộn phiền. Hoặc có thể đó là cử chỉ đón nhận mặt trời vừa ló dạng. Hay ngay lúc đó, Carla đang muốn trở về nhà bên cạnh những con ngựa của cô. Tuy thế, Sylvia lại nghĩ đến nụ hôn như một đóa hoa rực rỡ đang rộ nở, những cánh hoa muốt xoải dài trong lòng cô hơi ấm xôn xao, như một ánh lóe mãn kinh.
            Thỉnh thoảng trong lớp thực vật học có đứa học nữ trò xuất sắc, sự thông minh và nhiệt quyết và tính tự cao tự đại vụng về, và ngay cả lòng đam mê thế giới thiên nhiên của nó, làm cho cô nghĩ đến hình ảnh mình lúc trẻ. Những đứa như vậy hay bu quanh cô một cách sùng bái, mong mõi một thứ tình nào đó chúng không tài nào, trong nhiều trường hợp, tưởng tượng ra nổi, và chúng khiến cô bắt đầu cảm thấy khó chịu.
            Carla không giống bất cứ ai trong số họ. Nếu cô có hao hao trông như một người nào đó trong quãng đời của Sylvia thì có lẽ là cô giống những cô gái Sylvia quen biết thời trung học. Họ là những cô gái sáng dạ nhưng không bao giờ quá sáng chói, những vận động viên ung dung nhưng không sỡ hữu tinh thần tích cực cạnh tranh quá mức, sôi động nhưng không ồn ào. Lạc quan một cách rất tự nhiên.
            “Để xem, chị đã ở đâu kìa, trong khu làng nhỏ bé này, trong khu làng nhỏ bé này với hai người bạn già, ừ, thỉnh thoảng chiếc xe bus chở du khách hay ngừng nghỉ ở nơi đó, hệt như đang bị lạc đường, rồi hành khách bước xuống xe và nhìn qua nhìn lại một cách hết sức hoang mang khi họ nhận ra nơi đây chẳng là đâu cả. Không có gì để mua sắm.”
            Sylvia đang nói đến Hy Lạp. Carla ngồi cách cô vài bước. Cô gái đô con, có phần hơi e dè nhưng chói rực, cũng đã ngồi xuống đó, trong căn phòng tràn ngập ý nghĩ về cô. Cô cười uể oải và gật đầu chậm rãi.
            “Và thoạt đầu,” Sylvia nói, “chị cũng bị hoang mang. Trời quá nóng. Nhưng ánh sáng thật sự là rất tuyệt đẹp. Rồi chị cũng tìm ra việc gì đó để làm, và cũng chỉ có vài việc đơn giản để lấp đầy thời gian. Chị phải đi bộ nửa dặm để mua dầu và nửa dặm ngược hướng khác để mua bánh mì và rượu vào buổi sáng. Rồi chị ăn trưa dưới bóng râm của những tàn cây. Cái nóng sau buổi trưa quá sức chịu đựng nên chị chẳng có thể làm gì khác ngoài việc đóng kín những cái màn cửa sổ và nằm lên giường, đôi khi nằm đọc sách. Thoạt đầu thì đọc sách. Riết rồi chán đến độ không muốn làm cả điều đó nữa. Tại sao lại phải đọc sách? Một lúc sau chị nhận ra bóng nắng đang chảy dài và chị thức dậy đi bơi lội.”
           
“Ồ,” cô tự ngắt ngang chính mình, “Ô, chị đã quên bẵng mất.”
            Cô đứng dậy và lấy ra gói quà cô đã mua, thật ra cô không quên như lời đã nói. Cô chỉ không muốn trao nó cho Carla ngay lúc ấy, cô muốn khoảnh khắc đến tự nhiên hơn, và trong lúc cô đang kể chuyện chuyến đi cô cũng đã nghĩ sẵn trong đầu đoạn cô nhắc về biển và bơi lội. Và nói, như bây giờ cô đang nói, “Bơi lội làm chị nhớ đến vật này bởi vì nó là một mô phỏng bé xíu, em biết không, nó là vật mô phỏng con ngựa họ tìm được dưới nước. Làm bằng đồng thiếc. Họ nạo vét nó từ dưới đáy lên, sau biết bao nhiêu năm. Nghe nói nó thuộc về thời đại trước công nguyên.
            Khi Carla bước vào nhà và tìm kiếm việc khác để làm, Sylvia nói: “Thôi, ngồi xuống đây một chút đi, chị không có ai trò chuyện từ lúc trở về. Làm ơn nhé.” Carla ngồi xuống trên vành ghế, chân giạng, đôi tay vùi giữa hai đầu gối, trông có vẻ bơ vơ. Như đang gắng đạt tới lối lịch sự xã giao cô hỏi, “Chuyến đi Hy Lạp ra sao?”
            Bây giờ, cô đang đứng, cô vẫn chưa bóc mở hết hoàn toàn lớp giấy gói nhàu nát quấn chung quanh con ngựa.
            “Họ nói nó tượng trưng cho một con ngựa đua,” Sylvia nói. “đang nhảy cú nhảy vọt cuối cùng, sự gắng sức cuối cùng của cuộc đua. Người nài ngựa, cũng thế, một thiếu niên, em có thể nhìn thấy không, cậu ta đang thúc dục con ngựa cố vượt qua giới hạn sức mạnh của chính nó.”
            Cô đã không nói là người thiếu niên khiến cho cô nghĩ đến Carla, và ngay trong lúc này cô cũng không biết phải giải thích ra sao. Cậu thiếu niên chỉ khoảng độ mười hay mười một tuổi. Có lẽ sức mạnh và sự thanh nhã của cánh tay cầm cương, hay những nếp nhăn trên vầng trán trẻ thơ của cậu, niềm say sưa và sự gắng sức thuần khiết, trông hệt như hình ảnh Carla lúc lau chùi những cánh cửa sổ rộng lớn vào mùa xuân năm ngoái. Đôi chân rắn chắc của cô khi mặc quần đùi, đôi vai rộng, những vệt chùi hào phóng trên mặt kính, và cái lối cô xoải hai tay giỡn đùa, mời mọc và yêu cầu Carla phải tươi cười.
            “Vâng em có thể thấy được,” Carla trả lời và tỉ mỉ xem xét bức tượng màu nâu xanh. “Cám ơn chị rất nhiều.”
            “Không có chi. Chúng ta uống cà phê nhé? Chị mới vừa pha xong. Cà phê ở Hy Lạp rất nồng, nồng hơn thứ chị thích, nhưng bánh mì thì ngon tuyệt. Và những quả sung chín ngon đến sững sờ. Ngồi đây một tý đi, làm ơn. Em nên ngắt lời chị khi chị cứ huyên thuyên như thế này. Ở đây thì sao? Mọi việc ra sao?”
            “Trời cứ mưa liên miên suốt ngày.”
            “Chị cũng thấy được điều này,” Sylvia nói vọng lên từ phòng lớn cuối nhà bếp. Trong lúc rót cà phê, cô quyết định sẽ không nhắc đến món quà khác cô đã mang về. Nó không tốn một xu (con ngựa thì đắt hơn cả số tiền cô gái có thể tưởng tượng), đó chỉ là một hòn sỏi trắng hồng mà cô đã nhặt trên đường.
            “Cái này cho Carla,” cô nói với bạn cô, Maggie, lúc đó đang đi bên cạnh cô. “Tôi biết là tôi hơi ngớ ngẩn. Tôi chỉ muốn nó có được một mẩu đất của nơi này.”
Cô đã có nhắc đến Carla với Maggie, và Soraya, một người bạn khác của cô, kể cho họ nghe sự hiện diện của cô gái ngày càng trở nên quan trọng đối với cô, một sự gắn liền khó giải thích đang lớn dần lên giữa họ, và điều đó đã giúp an ủi cô trong những tháng ngày khủng khiếp của mùa xuân năm ngoái.
          “Thể như trông thấy một người – một người tươi tắn và tràn đầy sức sống bước vào trong nhà.”
            Maggie và Soraya cười một cách khó chịu.
            “Thì lúc nào cũng là một đứa con gái,” Soraya nói, kèm theo cái duỗi biếng lười của hai cánh tay nâu nặng nề, và Maggie nói, “Rồi ai cũng sẽ chạm trán với điều đó. Mơ mộng đến một đứa con gái.”
            Sylvia mơ hồ giận dữ bởi cái từ hủ lậu đó – mơ mộng.
            “Có lẽ vì tôi và Leon không có con,” cô nói. “Thật ngu xuẩn. Một thứ tình mẫu tử sai lệch.”
            Các bạn của cô đồng lên tiếng, đại khái là có thể điều đó thật ngu xuẩn, nhưng dẫu sao, cũng là một thứ tình.

          
** Về truyện ngắn TRỐN CHẠY

            
"Trốn chạy" là tập truyện ngắn thứ mười một của Alice Munro. Đây là tập truyện duy nhất mà nhan đề tiếng Anh chỉ có đúng một chữ, Runaway, và toàn bộ tám truyện ngắn trong đó cũng vậy. Dịch giả cũng rất khéo khi đã dịch các tên truyện bằng chỉ đúng hai chữ trong tiếng Việt.
            Cách đặt tên này dường như cố để lộ cho người đọc biết trước đề tài của truyện, nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó, và phần việc còn lại của độc giả trở nên khó khăn hơn, khi bằng cách nào đó phải vượt qua cái từ được cho biết trước để có thể bước thong dong mà không bị “mắc lỡm”, như tên một truyện ngắn trong tập. Cách đặt tên này đầy mạo hiểm, như cách trong truyện trinh thám người viết cho biết trước ngay từ đầu ai là thủ phạm. Như một hiệu ứng chung, người đọc mong ngóng một diễn biến làm lật đổ mọi dự đoán từ đầu – một nỗi mong ngóng đầy bất an.
            Truyện ngắn đầu tiên, được lấy tên làm nhan đề cho cả tập, cho thấy sự tỉnh táo làm chủ ngòi bút của tác giả, khi kỹ thuật viết được vận dụng đậm đặc nhiều hơn mức cần thiết so với phong cách của Alice Munro, nhưng nó vẫn chỉ là công cụ, một thứ công cụ tinh vi nhưng hữu ích, để bà đi sâu vào tận ngóc ngách tâm lý nhân vật. Truyện ngắn Trốn chạy, như tên truyện gợi ý, kể về hai cuộc trốn chạy: nhân vật nữ chạy trốn khỏi người chồng lỗ mãng, và con thú cưng chạy trốn khỏi cô. Thậm chí còn có một cuộc trốn chạy thứ ba, ấy là nhân vật chính Carla chạy trốn khỏi cái gọi là nhà.
            Bối cảnh của truyện là một trang trại nơi hai vợ chồng Carla và Clark sống nhờ nghề nuôi ngựa thuê. Qua hình tượng thời tiết, cuộc sống khó khăn của họ được hé lộ: “Mùa hè năm nay mưa dầm mưa dề” , rồi sau đó là đời sống hôn nhân không như ý muốn: “mây trắng ra, mỏng đi, cho lọt chút xíu thứ ánh sáng khuếch tán không bao giờ bừng lên nổi thành ánh mặt trời thật sự, và thường thì cũng tắt trước bữa tối”. Cảm giác bức bí, ngột ngạt do thời tiết được nâng lên khi Carla phải sống chung với người chồng cộc tính. Anh xô xát với đám chủ nợ, gây sự ở một hiệu thuốc hay quán cà phê, và cục cằn với cả con ngựa Lizzie mà anh được thuê nuôi. Cao trào của sự bức bí là khi Clark biết rằng ông hàng xóm Jamieson mới mất từng nhận được món tiền lớn cho một giải thưởng thơ, anh âm mưu “bắt lão ta phải trả giá” và buộc Carla phải sang nói chuyện với bà Jamieson.
            Đến đây, cũng cần phải nhấn mạnh tầm quan trọng của các khoảng trắng phân đoạn trong tập truyện. Ở Trốn chạy, chúng không chỉ nhằm tách biệt các mẩu trần thuật, mà còn nhằm thay đổi cường độ của nỗi bức bí. Ở giữa hai khoảng trắng, trong lúc Carla kinh sợ khi phải sang nhà Jamieson, cô chợt trăn trở về sự biến mất của con dê nhỏ Flora: “cảm giác đau đớn đơn thuần vì mất Flora, có lẽ là mất Flora vĩnh viễn, gần như là nỗi khuây khỏa so với mớ bòng bong nàng vướng phải liên quan tới bà Jamieson, và so với nỗi khổ phập phù của nàng với Clark”. Khoảng trắng thứ hai còn có mục đích thay đổi điểm nhìn trần thuật, mặc dù vẫn ở ngôi thứ ba, nhưng từ Carla sang bà Jamieson, tức Sylvia. Bà hiểu rằng sự suy sụp của Carla không phải vì con dê biến mất, mà bởi cô không thể chịu đựng được thái độ của Clark đối với cô.
            Nếu như việc con dê biến mất mang tính biểu tượng về việc giải thoát như là sự cám dỗ trong đời Carla – có lần cô mơ thấy Flora ngậm một quả táo đỏ – thì việc cô trốn chạy khỏi Clark là điều lý trí nhất người ta có thể tưởng tượng ra, thậm chí là “điều duy nhất thể hiện lòng tự trọng mà người ở tình cảnh của Carla có thể làm”. Mỉa mai thay, chiếc xe buýt mà cô hớt hải bước ra vì “sợ không gian kín” cũng không khác là bao “nhà lưu động”, tức chiếc xe moóc của hai vợ chồng. Mỉa mai thay, cũng như trước kia cô từ bỏ bố mẹ và cuộc sống tiện nghi để chạy theo Clark, giờ đây cô từ bỏ mọi thứ liên quan đến Clark để chạy trốn khỏi anh, và khi có vẻ tìm thấy tự do, thì cô lại muốn thoát khỏi nó.

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: TẬP TRUYỆN NGẮN của ALICE MUNRO (NOBEL 2013)   Today at 7:12 pm

Về Đầu Trang Go down
 
TẬP TRUYỆN NGẮN của ALICE MUNRO (NOBEL 2013)
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến