Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
nghe thang quan nhung Ngày phung Thầy lang cuoc tien sinh viet thuy mien nguyen cong trai thanh nghia HUNG pham nguoi huyen ngoc PHAT rang
Latest topics
May 2017
MonTueWedThuFriSatSun
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031    
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Nelson Mandela: Tám Bài Học về Thuật Lãnh Đạo

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Nelson Mandela: Tám Bài Học về Thuật Lãnh Đạo   Sun Dec 08, 2013 12:26 pm


Nelson Mandela: Tám Bài Học về Thuật Lãnh Đạo

Richard Stengel



LGT.  Nelson Rolihlahla Mandela là cựu tổng thống Nam Phi và cũng là vị tổng thống đầu tiên được toàn quốc Nam Phi kể cả người Nam Phi da trắng và da đen bầu ra. Sinh năm 1918, năm nay 93 tuổi, Mandela đã trải qua một thời gian dài đấu tranh bằng phương pháp bạo lực vũ trang để chấm dứt chế độ phân chủng tại Nam Phi. Vì những hoạt động này ông đã bị kết án tù chung thân và phải chịu sự giam cầm trong suốt 27 năm tại những nhà tù hắc ám nhất của Nam Phi. Sau này Mandela thay đổi chiến lược tiến hành đấu tranh bất bạo động và được trả tự do năm 1990. Trong cuộc bầu cử đa đảng và đa chủng đầu tiên năm 1994, đảng ANC của Mandela đã giành thắng lợi, và ông trở thành vị tổng thống da đen đầu tiên trong lịch sử của nước Nam Phi. Mandela nhận được hơn 250 huy chương và giải thưởng cho những hoạt động của ông, kể cả giải Nobel Hòa bình năm 1993. Richard Stengel là nhà văn và ký giả đã cộng tác với Mandela để viết cuốn tiểu sử tự bạch”Bước Đường Tự Do” của Mandela.

Bài viết này được đăng trên Tạp chí Time, số ra ngày 9 tháng Bảy, năm 2008, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật thứ 90 của Mandela.

***

Nelson Mandela chỉ cảm thấy thoải mái khi ở gần trẻ con, và ta có thể nói rằng sự mất mát lớn nhất mà ông phải chịu trong 27 năm tù là không được nghe tiếng khóc của trẻ con hay được cầm lấy tay chúng. Tháng vừa rồi, khi tôi đến thăm Mandela tại Johannesburg, tôi gặp một Mandela chậm chạp hơn, gầy yếu hơn-hành động tự nhiên đầu tiên của ông là dang tay ôm hai đứa con trai của tôi vào lòng. Chỉ trong giây lát chúng cũng quấn quít lấy ông lão đang thân mật hỏi han chúng ăn gì vào buổi sáng và thích môn thể thao nào nhất. Trong lúc chúng tôi chuyện trò, Mandela ôm lấy con trai tôi, bé Gabriel. Cháu có cái tên đệm khá rắc rối là Rolihlahla. Cái tên này cũng là tên cúng cơm thật sự của Mandela. Ông kể cho Gabriel sự tích cái tên đó, và ý nghĩa của nó trong tiếng Xhosa[1]là “kéo cành cây xuống” nhưng ý nghĩa thực sự của nó là “kẻ gây rối.”

Tuần sau, Nelson Mandela sẽ kỷ niệm sinh nhật thứ 90, [trong từng ấy năm,] ông là kẻ đã gây đủ rắc rối cho cả vài kiếp người. Ông đã giải phóng đất nước ông ra khỏi một hệ thống đầy thành kiến quá khích và góp phần vào đoàn kết sắc dân da trắng và đa đen, những kẻ đàn áp và những người bị đàn áp, bằng một phương thức vô tiền khoáng hậu. Năm 1990, tôi làm việc với Mandela gần hai năm để thực hiện cuốn tiểu sử tự bạch Bước Đường Dài Tự Do. Sau chừng ấy thời gian làm việc với ông và khi cuốn sách đã viết xong, tôi cảm thấy một sự hụt hẫng khủng khiếp, như thể mất đi ánh sáng mặt trời.
 
Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau trong những năm qua, nhưng tôi muốn gặp ông lần này, biết đâu lại chẳng là lần cuối, và cho hai đứa con tôi gặp ông thêm một lần nữa.

Tôi cũng muốn bàn với ông về thuật lãnh đạo. Mandela là người mà thế giới có thể xem là một ông thánh ở cõi phàm, nhưng ông vẫn cho là ông tầm thường hơn thế nhiều: chỉ là một chính trị gia mà thôi. Ông đã lật đổ được chế độ Phân chủng và kiến tạo nên một nước Nam Phi dân chủ không phân biệt chủng tộc bằng sự phán đoán chính xác phải thay đổi những vai trò của ông vào lúc nào và như thế nào, [lúc thì] là một chiến sĩ, một nhà tử đạo, một nhà ngoại giao, và một nhà lãnh đạo tầm vóc quốc gia. Là người không thoải mái lắmvới những khái niệm triết học trừu tượng, Mandela vẫn thường bảo tôi là [khi đối phó với] một vấn đề “không phải là một câu hỏi về nguyên tắc, mà là một câu hỏi về chiến thuật.” Ông là một bậc thầy về chiến thuật.

Mandela cũng không cảm thấy thoải mái khi có người thăm viếng hay xin xỏ ân huệ này nọ. Một mặt ông e rằng ông sẽ không thể đáp ứng được sự mong đợi của người dân khi họ đến thăm và xem ông như một vị thánh sống, và mặt khác, ông cũng còn khá tự ái vì nếu không đáp ứng được thì họ nghĩ là ông đã hết thời. Nhưng thực ra, thế giới chưa bao giờ cần đến những tài năng và vai trò của ông-một chiến thuật gia, một nhà vận động chính trị, một chính trị gia-hơn là lúc tại London, ngày 25 tháng Sáu, khi ông đứng lên và lên án sự tàn bạo dã man của nhà độc tài Robert Mugabe của xứ Zimbabwe. Và khi ta đang đi vào giai đoạn chính của cuộc tranh cử tổng thống mang đầy tính lịch sử tại Mỹ[2], Mandela có nhiều điều có thể dạy cho hai ứng cử viên. Tôi luôn luôn nghĩ rằng những điều mà độc giả sắp đọc dưới đây phải được coi là Những Định Luật của Madiba (tên tộc của ông dùng trong bộ lạc hay những người thân cận thường gọi), những quy luật chính trị mà tôi đã thu nhặt được trong những lần đàm luận với ông và qua những sự quan sát cách ứng xử của ông từ xa cũng như ở gần. Tất cả những quy luật này đều mang tính thực tiễn. Và nhiều điều được rút ra từ chính kinh nghiệm bản thân của Mandela. Tất cả đều được tính toán để tạo ra một sự rắc rối tốt đẹp nhất: một sự rắc rối buộc ta phải đặt câu hỏi là làm thế nào để thế giới trở nên tốt đẹp hơn.

Bài học thứ nhất: Can đảm không có nghĩa là không biết sợ - Can đảm là truyền dũng khí “vượt qua nỗi sợ” cho kẻ khác

Năm 1994, khi đang vận động tranh cử tổng thống (lần đầu tiên trong lịch sử Nam Phi), Mandela đi một chiếc phi cơ nhỏ bay bằng cánh quạt để thăm tỉnh Natal, nơi đã từng là bãi chiến trường, và nói chuyện với những người gốc Zulu đang ủng hộ ông. Tôi đồng ý gặp ông sau khi ông nói chuyện xong để còn tiếp tục công việc phỏng vấn. Khi máy bay còn cách phi trường khoảng 20 phút, thì một động cơ bị hỏng. Một số người trên phi cơ bắt đầu hoảng hốt. Điều duy nhất giúp họ giữ được bình tĩnh chính là cử chỉ của Mandela; ông thản nhiên và yên lặng đọc báo như thể là đang đi trên chuyến xe lửa đến văn phòng làm việc. Ở bên dưới, phi trường chuẩn bị cho máy bay đáp khẩn cấp và viên phi công cũng đưa được máy bay đáp an toàn. Khi Mandela và tôi ngồi vào băng ghế sau của chiếc xe BMW được bọc thép chắn đạn để đi đến chỗ họp, ông quay sang nói với tôi: “Chúa ơi, tôi sợ phát khiếp lên được khi máy bay bị hỏng động cơ trên không.”

Trong thời gian hoạt động bí mật, Mandela cũng có nhiều phen sợ hãi, như trong phiên xử tại Rivonia,[3]hay trong thời kỳ bị giam giữ tại nhà tù trên Đảo Robben.[4] Ông nói với tôi: “Dĩ nhiên là tôi sợ chứ!” Chỉ có những kẻ mất trí mới không biết sợ thôi. “Tôi không thể giả vờ là mình là người can đảm và có thể chiến thắng cả thế giới.” Nhưng là một nhà lãnh đạo, ta không thể để cho người dân biết được điều này. “Ta phải tạo ra một bộ mặt can đảm.”

Và đó chính là điều ông đã thực tập: làm bộ can đảm, và những hành động có vẻ “vô úy” ấy đã tạo niềm hứng khởi và dũng khí cho người khác. Đó là một vở kịch câm mà Mandela đã diễn xuất tuyệt hảo trên Đảo Robben, một nơi nổi tiếng là rùng rợn. Những tù nhân bị giam chung trên đảo nói rằng chỉ cần nhìn thấy Mandela bước quanh sân trại, ngực ưỡn thẳng đầy kiêu hãnh, cũng đủ để giúp cho họ thêm sức sống trong nhiều ngày. Mandela biết rằng ông là tấm gương cho người khác và đó cũng giúp cho ông sức mạnh để vượt qua nỗi sợ của riêng mình.

Bài học thứ hai: Lãnh đạo phải đi đầu - nhưng đừng để “hậu cứ” lại đằng sau

Mandela là một người khôn ngoan và kín đáo. Năm 1985 ông phải giải phẫu vì tuyến tiền liệt bị nở lớn. Khi trở lại nhà tù, ông bị giam riêng không cho ở chung với các bạn đồng tù nữa, những người đã ở chung với ông trong 21 năm. Họ phản đối trại giam về lệnh phân cách này. Nhưng, theo lời của Ahmed Kathrada, một người bạn thâm giao, Mandela đã nói với bạn tù là: “Các bạn, cứ từ từ. Biết đâu trong việc này lại chẳng có điều hay.

Điều hay xảy đến chính là việc Mandela tự ý tiến hành đàm phán với chính phủ phân chủng. Điều này là điều cấm kỵ bậc nhất của tổ chức Hội nghị Toàn quốc Phi Châu (African National Congress-ANC). Sau hàng bao thập niên tuyên bố rằng “tù nhân không thể đàm phán” và sau khi cổ võ cho đấu tranh vũ trang để lật đổ chế độ phân chủng, Mandela đã quyết định rằng bây giờ là đúng thởi điểm để bắt đầu “nói chuyện” với những người đang thống trị và đàn áp mình.

Khi Mandela đề xướng đàm phán với chính quyền năm 1985, rất nhiều người nghĩ rằng ông đã thua trong cuộc đấu tranh rồi. Cyril Ramaphosa, lúc đó là một lãnh tụ có thế lực và nồng nhiệt của Công đoàn Phu Mỏ Quốc gia, đã nói: “Chúng tôi nghĩ ông ấy là kẻ phản bội. Tôi đã đến gặp chỉ để nói với ông là ‘Anh đang làm cái gì vậy?’ Đó quả là một đề xuất không thể tin nổi. Và ông đã chấp nhận một sự rủi ro vô cùng lớn lao.”

Mandela phải mở một chiến dịch để thuyết phục ANC rằng con đường ông chọn là con đường đúng đắn. Ông đặt cược bằng tất cả uy tín của mình. Kathrada nhớ lại là ông đi đến từng đồng chí một, những người cùng bị giam trong tù, để giải thích và thuyết phục họ về con đường ông chọn. Từ từ và thận trọng, ông đã thuyết phục được họ cùng đồng hành. Ramaphosa, lúc đó là tổng thư ký của ANC và bây giờ là một đại doanh gia, nói: “Bạn phải mang được hậu cứ đi theo với bạn. Khi đã tới điểm đổ bộ, lúc đó để cho họ tiến bước.

Mandela không phải là loại lãnh tụ “kẹo cao-su”-nhai xong rồi bỏ.

Đối với Mandela, từ chối không đàm phán hoàn toàn là vấn đề chiến thuật, chứ không phải nguyên tắc. Trong suốt cuộc đời, hành động của ông thể hiện rõ nét sự khác biệt này. Cái nguyên tắc vững chắc của ông-lật đổ chế độ phân chủng và đạt được thể chế mỗi người, một phiếu-là một nguyên tắc không thể thay đổi được. Nhưng hầu như bất cứ điều gì giúp ông đạt được mục đích đó, ông đều xem là chiến thuật. Phải nói Mandela là một người lý tưởng thực tiễn nhất.

Ramaphosa nói: “Ông ấy là một con người lịch sử. Tầm suy nghĩ của ông vượt xa chúng tôi. Ông luôn nghĩ đến hậu thế trong tư duy của mình: Thế hệ mai sau sẽ nghĩ thế nào về những việc ta đã làm?” Cuộc sống lao tù đã tạo cho ông khả năng có tầm nhìn chiến lược lâu dài. Bắt buộc phải như vậy thôi, vì đi tù chung thân biết đến ngày nào được thả [mà nghĩ đến chuyện gần]. Ông không nghĩ theo ngày hay tháng, mà cả hàng thập niên về sau. Ông biết là lịch sử đồng hành với ông, và sự thành công là điều tất yếu; chỉ còn lại là vấn đề chừng nào và làm thế nào để đạt được sự thành công này. Ông thường nói, “về lâu về dài tình hình sẽ khá hơn.” Ông chấp nhận đấu tranh trường kỳ.

Bài học thứ ba: Lãnh đạo từ phía sau - và để cho người khác tưởng họ đang dẫn đầu


Mandela rất thích hồi tưởng lại thời thơ ấu và những buổi chiều chăn trâu nhàn hạ. Ông nói: “Bạn biết không, chăn trâu bạn phải chăn từ phía sau đàn.” Nói xong ông nhướng mắt nhìn xem tôi có hiểu được sự so sánh ấy không.

Khi còn là một đứa trẻ, Mandela chịu ảnh hưởng sâu đậm của Jonginbata, vị vua của bộ tộc Xhosa và  là người đã nuôi dưỡng ông khôn lớn. Khi Jonginbata thiết triều, quần thần tụ tập thành vòng tròn xung quanh, và chỉ sau khi mọi người đã phát biểu, nhà vua mới bắt đầu lên tiếng. Mandela nói, công việc của nhà lãnh đạo không phải là bảo người ta làm gì mà là để tạo được sự đồng thuận. Ông vẫn thường hay nói: “Đừng có tham gia vào cuộc tranh luận quá sớm.”

Trong suốt thời gian tôi làm việc với Mandela, ông thường triệu tập những phiên họp những cộng sự viên thân cận tại nhà riêng ở Houghton, một khu ngoại ô lịch sự của Johannesburg. “Nội các trong bếp” của Mandela gồm khoảng một chục người, gồm có Ramaphosa, Thabo Mbeki (bây giờ là Tổng thống Nam Phi sau cuộc bầu cử 1999) và những người khác, ngồi chung quanh chiếc bàn ăn hay đôi khi ngồi thành vòng tròn ngoài sân đậu xe. Vài người lớn tiếng đòi hỏi phải làm nhanh, quyết liệt hơn, và Mandela chỉ ngồi yên lắng nghe. Sau khi mọi người phát biểu và ông lên tiếng, ông nói chậm rãi và đúc kết ý kiến của từng người một cách có phương pháp và rồi thì mới cho biết ý kiến riêng của mình, một cách khéo léo đưa đến quyết định theo ý ông muốn mà không cần phải áp đặt. Cái khéo của thuật lãnh đạo là phải để cho chính mình cũng được lèo lái. Mandela nói: “Điều khôn ngoan là làm sao thuyết phục người khác làm điều mình muốn và khiến cho họ nghĩ rằng đó chính là ý kiến của họ.”

Bài học thứ tư: Hiểu rõ kẻ thù - Và tìm hiểu xem họ thích môn thể thao nào nhất

Từ những năm trong thập niên 1960, Mandela bắt đầu học tiếng Afrikaans,[5] ngôn ngữ của người Phi châu da trắng (Afrikaner), những người đã tạo ra chế độ phân chủng. Đồng chí của Mandela trong ANC vẫn thường chế diễu ông về điều này; nhưng ông muốn tìm hiểu quan niệm và triết lý sống của người Phi da trắng là gì. Vì ông biết rằng sẽ có một ngày ông phải hoặc là đấu tranh hoặc là đàm phán với họ, và ở trường hợp nào đi nữa, định mệnh của cả hai dính liền với nhau.

Việc học tiếng Afrikaans đối với Mandela mang tính chất chiến lược ở hai điểm: khi nói được tiếng của đối phương, ông có thể hiểu được ưu điểm và nhược điểm của họ để hoạch định những chiến thuật đúng đắn. Nhưng đồng thời ông cũng thu phục được cảm tình của đối phương. Mọi người, từ những anh lính gác tù cho tới tổng thống P.W. Botha, đều nể phục Mandela về sự tự nguyện học tiếng Afrikaans và lịch sử của người da trắng Afrikaner. Mandela còn học hỏi thêm về môn bóng rugby,[6] môn thể thao được người Afrikaner yêu chuộng, hầu có thể bàn và so sánh các đội banh và cầu thủ với những người khác.

Mandela hiểu rằng người da đen và da trắng Phi châu có chung một điều căn bản: Người da trắng Afrikaner tin rằng họ là người Phi châu cũng giống như người da đen Phi châu tin họ là người Phi châu. Ông cũng biết rằng chính những người da trắng Afrikaner cũng là nạn nhân của thành kiến: Chính quyền nước Anh và những người di dân Anh quốc vẫn coi khinh những người da trắng Afrikaner. Họ cũng bị mặc cảm tự ti văn hóa tương tự như những người da đen.

Mandela là một luật sư và ở trong tù ông giúp ý kiến cho những người cai tù về những vấn đề luật pháp. Họ là những người kém học và bình dân hơn ông nhiều; cho nên, đối với họ sự việc một người da đen sẵn lòng và có khả năng giúp đỡ họ là một điều phi thường. Allister Sparke, sử gia hàng đầu của Nam Phi nói: “Những người cai tù này là điển hình cho đặc tính thô bạo và tàn ác nhất của chế độ phân chủng, nhưng ngay cả với những phần tử tồi tệ và thô lỗ nhất ông cũng có thể đàm phán được.”

Bài học thứ năm: Giữ bạn ở gần - và giữ kẻ thù gần hơn

Có nhiều người khách được Mandela mời tới nhà riêng ở Qunu, nơi ông lớn lên. Trong số những người này có những người Mandela thổ lộ với tôi là không thể hoàn toàn tin được. Nhưng ông vẫn mời họ ăn cơm, gọi điện thoại hỏi ý kiến, ca tụng và tặng quà cho họ. Mandela là người có sức hấp dẫn mạnh mẽ và ăn nói duyên dáng, và nhờ đó đã tạo được nhiều ảnh hưởng tới đối phương hơn là với đồng minh.

Lúc bị giam trên Đảo Robben, trong vòng những người thân cận của Mandela luôn luôn có những người mà ông hoặc là không thích hoặc là không hoàn toàn tin tưởng. Một người rất gần gũi với ông là Chris Hani, tham mưu trưởng của ANC, một người rất nóng nảy. Có nhiều người cho rằng Hani đang âm mưu hạ bệ Mandela, nhưng ông vẫn rất thân mật với Hani. Ramaphosa nói: “Chẳng phải chỉ có Hani mà thôi. Có những tay kỹ nghệ gia giàu sụ, những gia đình làm chủ hầm mỏ, và phe đối lập nữa. Ông ấy vẫn nhắc điện thoại gọi chúc mừng ngày sinh nhật của họ. Ông đi thăm viếng họ trong những dịp quan hôn tang tế. Ông ấy cho đó là những cơ hội.” Khi Mandela ra khỏi tù, tiếng tăm ông càng nổi bật hơn nữa khi bao gồm cả những người đã giam ông trong vòng những người bạn và mời cả những người lãnh đạo đã giam giữ ông vào Nội Các đầu tiên. Trong số những người nay có những người ông xem rất thường.

Tuy thế, cũng có lúc Mandela phủi tay trước một số người–và cũng có lúc, như những người có sức hấp dẫn mạnh mẽ, ông để cho nguời khác thuyết phục. Như lúc đầu Mandela đã tạo được mối quan hệ thân thiết với tổng thống De Klerk, và đó cũng là lý do ông cảm thấy bị phản bội khi De Klerk trở mặt đả kích ông trước công luận.

Mandela tin rằng ôm lấy đối phương là một cách để chế ngự họ: để họ ở ngoài vòng ảnh hưởng của mình còn nguy hiểm hơn nhiều. Mandela quý trọng sự trung thành, nhưng chưa bao giờ để cho sự trung thành trở thành một chướng ngại trong việc dùng người. Ông vẫn thường nói, “người ta hành động là vì quyền lợi riêng của họ.” Đó chỉ là một thực tế của bản chất con người, chứ không phải là một khuyết điểm. Mặt tiêu cực của sự lạc quan–Mandela là một người lạc quan–là quá tin người. Nhưng ông nhận thức được cách thức hữu hiệu nhất đối với những người ông không tin là trung lập hóa họ bằng sức hấp dẫn của mình.

Bài học thứ sáu: Bề ngoài rất quan trọng, và luôn ghi nhớ phải tươi cười

Khi còn là một sinh viên luật nghèo tại Johannesburg, Mandela chỉ có một bộ đồ vest đã cũ sờn. Ông được đưa đến gặp Walter Sisulu, một người môi giới địa ốc và cũng là một lãnh tụ trẻ của ANC. Mandela thấy đó là một người da đen lịch lãm và thành công, một mẫu người ông muốn noi theo. Còn Sisulu khi thấy ông thì thấy tương lai của Nam Phi.

Sisulu nói với tôi rằng trong cuộc vận động lớn lao trong thập niên 1950 để biến ANC thành một phong trào quần chúng, thì vào một ngày, ông vừa cười vừa kể, “một lãnh tụ quần chúng bước vào văn phòng của tôi.” Mandela là người đẹp trai, cao lớn, một võ sĩ quyền anh tài tử, đi đứng với một phong thái vương giả như một vị hoàng tử. Và anh ta có một nụ cười rực rỡ như ánh mặt trời ra khỏi đám mây.

Đôi khi chúng ta quên là có một mối quan hệ lịch sử giữa người lãnh tụ và nhân dáng của họ. Khi bước vào bất cứ căn phòng nào,tổng thống George Washington là người cao nhất và có lẽ là người to khỏe nhất. Vóc dáng và sức mạnh có lẽ tùy thuộc nhiều vào DNA hơn là với những cẩm nang rèn luyện lãnh tụ, nhưng Mandela hiểu được cách vận dụng phong thái của mình để đạt mục đích đấu tranh. Là lãnh tụ của bộ phận vũ trang hoạt động mật của ANC, khi nào cần chụp hình ông cũng đòi phải có quân phục chỉnh tề và để một hàm râu quai nón. Trong suốt sự nghiệp chính trị ông luôn quan tâm đến cách phục sức phù hợp với cương vị của mình. George Bizos, luật sư riêng của Mandela, nhớ lại là lần đầu tiên gặp ông tại một tiệm may của người Ấn Độ trong thập niên 1950, và Mandela là người Nam Phi da đen đầu tiên đi may một bộ vest. Ngày nay, “quân phục” của Mandela là những chiếc áo sơ-mi hoa hòe rực rỡ như để bảo với mọi người ông là một vị cha già vui vẻ của nước Nam Phi hiện đại.
Khi Mandela tranh cử chức tổng thống năm 1994, ông hiểu là biểu tượng cũng quan trọng như  thực chất. Mandela không phải là một nhà hùng biện tài ba, người ta vẫn thường chẳng để ý gì đến điều ông nói sau vài phút đầu tiên. Nhưng biểu tượng là điều mà người ta hiểu. Khi ra trước diễn đàn, Mandela luôn luôn biểu diễn toyi-toyi, một điệu múa dân gian đã được dùng làm biểu tượng của cuộc đấu tranh. Nhưng điều quan trọng hơn là nụ cười rực rỡ, nhân bản và bao dung của Mandela. Đối với những người Phi da trắng, nụ cười là biểu tượng của sự hỷ xả và sự cảm thông với họ. Đối với cử tri da đen, nụ cười này là biểu tượng của một “chiến sĩ hạnh phúc và vui vẻ” và chúng ta sẽ chiến thắng. Bích chương vận động bầu cử được ANC treo khắp mọi nơi chỉ đơn giản có in hình gương mặt và nụ cười của Mandela. Ramaphosa nói, “Nụ cười, chính là thông điệp của Mandela,”

Sau khi ra khỏi tù, người ta nhắc đi nhắc lại mãi là thật là kỳ diệu khi không thấy Mandela biểu lộ sự cay đắng [về những khổ nhục ông phải chịu đựng]. Thực ra có cả ngàn điều để ông cay đắng, nhưng ông biết hơn ai hết là phải biểu lộ cảm xúc trái ngược với cay đắng. Ông vẫn thường nói: “Hãy quên quá khứ đi”– nhưng tôi biết ông bao giờ quên được.

Bài học thứ bảy: Không có gì hoàn toàn là trắng hay đen

Khi chúng tôi bắt đầu những cuộc phỏng vấn, tôi vẫn thường hỏi ông những câu đại loại như thế này: Khi quyết định ngưng cuộc đấu tranh vũ trang, lúc đó ông nghĩ là không có đủ sức để lật đổ chế độ hay là vì ông biết là có thể chinh phục được dư luận quốc tế bằng con đường bất bạo động? Lúc đó ông liếc nhìn tôi với một cái nhìn lạ lùng vì câu hỏi ngớ ngẩn ấy và nói: “Tại sao lại không thể làm cả hai?”

Tôi đã hỏi những câu hỏi thông minh hơn, nhưng điều ông muốn nói đã rất rõ ràng: Cuộc đời không bao giờ đóng khung trong cái “hoặc là” thế này hay thế nọ. Những quyết định rất phức tạp, và luôn luôn có những yếu tố cần phải cân nhắc. Đầu óc con người vẫn có khuynh hướng tìm một sự giải thích đơn giản, nhưng lại không bao giờ phù hợp với thực tế cả. Những điều trông thẳng như mực tàu thực ra chưa hẳn như vậy.

Sự mâu thuẫn không làm Mandela khó chịu. Trong cương vị một chính trị gia, ông là người thực tiễn nhận thức được là thế giới có vô vàn sắc thái rất tế nhị. Tôi tin rằng Mandela có được sự nhận thức này vì là một người da đen phải sống dưới chế độ phân chủng, một chế độ mà hàng ngày người da đen phải đau khổ trước những lựa chọn làm suy nhược tinh thần: Tôi có nên làm theo ý muốn của chủ da trắng để có được việc tôi muốn làm và tránh bị đánh đập không? Tôi có phải mang theo giấy phép đi đường không?

Trong cương vị một nhà lãnh đạo quốc gia, Mandela có một sự trung thành khác thường với Muammar Gaddafi và Fidel Castro. Họ đã trợ giúp ANC khi Hoa Kỳ còn cho Mandela là thành phần khủng bố. Khi tôi hỏi ông về Gaddafi và Castro, ông nói rằng người Mỹ có thói quen nhìn vấn đề hoặc trắng hoặc đen, và trách tôi là không nhận thức được những điều tế nhị của vấn đề. Mỗi vấn đề đều có nhiều nguyên do. Dù thái độ chống chế độ phân chủng của ông thật rõ ràng và không thể bàn cãi được, nhưng những nguyên nhân của sự phân chủng thì lại phức tạp, xuất xứ từ nguồn gốc lịch sử, xã hội và cả tâm lý nữa. Sự tính toán của Mandela luôn luôn rõ ràng: Mục đích của ta là gì và phương cách nào thực tiễn nhất để đạt được mục đích đó?

Bài học thứ tám: Chấp nhận Bỏ cuộc cũng là lãnh đạo


Năm 1993, Mandela hỏi tôi là có biết có nước nào trên thế giới mà tuổi tối thiểu để đi bầu dưới 18 không. Tôi tìm hiểu và trình cho ông một danh sách những nước mà tiếng tăm không được hay ho cho lắm. Những nước này gồm có: Nam Dương, Cuba, Nicaragua, Bắc Hàn, và Iran. Ông gật đầu tỏ ý hài lòng và khen “tốt lắm, tốt lắm.” Hai tuần sau Mandela lên đài truyền hình Nam Phi và đề nghị hạ thấp tuổi đi bầu xuống còn 14. Ramaphosa nhớ lại: “Ổng cố vận động chúng tôi ủng hộ ý kiến đó, nhưng rút cuộc chỉ có mình ổng thôi. Và Mandela chấp nhận thực tế là ý kiến này không được chấp nhận, và chấp nhận sự thất bại một cách khiêm tốn chứ không tỏ vẻ giận dỗi gì hết. Đó cũng là một bài học về lãnh đạo.”

Biết cách từ bỏ một ý tưởng, một công tác hay mối quan hệ đã bị hỏng thường là loại quyết định khó nhất mà người lãnh đạo phải chọn. Về nhiều phương diện, di sản lớn nhất mà Mandela để lại trong cương vị Tổng thống Nam Phi là cách ông đã chọn khi mãn nhiệm kỳ. Khi đắc cử vào năm 1994, Mandela có thể làm tổng thống suốt đời–nhiều người còn cho rằng đó là điều tối thiểu nước Nam Phi có thể làm để đền bù cho những năm ông chịu tù đày.

Trong lịch sử cả Phi châu, chỉ có một số nhỏ đếm trên đầu ngón tay những nhà lãnh đạo được dân bầu là chịu đi xuống khi hết nhiệm kỳ. Mandela cương quyết là sẽ tạo ra tiền lệ cho những người đi sau-không phải chỉ ở Nam Phi mà còn ở khắp Châu Phi. Ông là nhân vật phản diện của Mugabe,[7] ông là người đã khai sinh ra đất nước nhưng từ chối nắm giữ đất nước làm con tin của mình. Ramaphosa nói: “Nhiệm vụ của ông là vạch ra con đường, chứ không phải là người lèo lái con tàu.” Ông cũng biết rằng người lãnh tụ qua những việc mà họ quyết định không làm cũng thể hiện sự lãnh đạo giống như qua những việc họ quyết định làm.

Nói tóm lại, bí quyết để hiểu được Mandela nằm ở 27 năm ông chịu tù đày. Người thanh niên bước chân lên Đảo Robben năm 1964 là một người đầy tình cảm, bướng bỉnh, và dễ dàng nổi nóng. Người đàn ông bước ra khỏi nhà tù là một người trầm tĩnh và tự chế. Mandela không bao giờ và chưa bao giờ là người tự quan sát nội tâm của mình. Tôi thường hỏi ông là người đàn ông bước chân ra khỏi tù khác với người thanh niên bướng bỉnh khi bước chân vào tù như thế nào. Mandela ghét câu hỏi này lắm. Mãi cho đến một ngày kia ông mới nói: “Khi bước ra, tôi đã trưởng thành.” Không có điều gì hiếm hoi và quý báu cho bằng một người đàn ông trưởng thành.

Chúc Mừng Sinh Nhật, Madiba.

Học Viện Công Dân 2012.
Nguồn: http://www.time.com/time/world/article/0,8599,1821467,00.html

[1] Xhosa là một bộ lạc của tổ tiên của Nelson Mandela, bộ lạc này sinh sống tại  vùng phía đông-nam của nước Nam Phi.
[2] Cuộc bầu cử một tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ với ứng cử viên Barak Obama.
[3] Rivonia thuộc ngoại ô của Johannesberg (thủ đô của Nam Phi), nơi diễn ra vụ xử án 10 nhà lãnh đạo Hội nghị Toàn quốc Phi Châu, năm 1963-1964. Nelson Mandela là một trong 10 người này và bị kết án tù chung thân, thay vì bản án tử hình vì bị thế giới lên án và can thiệp.
[4] Đảo Robben nằm ở phía tây của Cape Town, cách bờ khoảng 7 km. Nhà tù này cũng nổi tiếng như Côn Đảo của VN hay Alcatraz của Mỹ.
[5] Afrikaans, tạm dịch là tiếng Nam Phi, là một ngôn ngữ thuộc miền tây nước Đức và là ngôn ngữ chính của hai nước Nam Phi và Namibia. 95% ngữ vựng là tiếng Đức-Hà Lan vì ngôn ngữ này được hình thành từ thổ ngữ Hà Lan thuộc thế kỷ 17. Số ngữ vựng còn lại thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau như Mã Lai, Bồ-đào-nha, Bantu và Khoisan.
[6] Rugby là môn bóng hình bầu dục, một trong những môn thể thao được ưa chuộng nhất tại Anh và những nước thuộc ảnh hưởng của Anh. Môn bóng này cũng tương tự như môn football của Mỹ.
[7] Mugabe, năm nay 87 tuổi, là tổng thống của Zimbawe đã cầm quyền 28 năm và không chịu từ bỏ quyền lực dù bị thua trong cuộc bầu cử năm 2009.

.
Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Những mốc son trong cuộc đời người anh hùng Nelson Mandela   Thu Dec 12, 2013 3:53 pm


Những mốc son trong cuộc đời người anh hùng Nelson Mandela

Cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Rolihlahla Mandela đã qua đời vào 20h50 tối 5/12/2013 (theo giờ địa phương). Cuộc đời của ông gắn liền với lịch sử phát triển của vùng đất châu Phi nói chung cũng như đất nước Nam Phi nói riêng.




Ông Nelson Mandela sinh ngày 18/7/1918 tại Mvezo, tỉnh Eastern Cape, Nam Phi. Sự nghiệp đấu tranh vì giải phóng đất nước Nam Phi được bắt đầu từ những ngày ông là sinh viên của trường đại học Fort Hare ở quê hương ông, tỉnh tỉnh Eastern Cape. Tên ông đã được một giáo viên tiểu học đặt nhằm vinh danh một anh hùng hải quân nước Anh, Đô đốc Horatio Nelson.

Xin giới thiệu với độc giả những mốc son chính trong cuộc đời của Nelson Rolihlahla Mandela.

1939 – Nelson Mandela bắt đầu cuộc sống sinh viên chuyên ngành nghệ thuật tại Đại học Fort Hare trong Alice , Eastern Cape

1940 – Ông bị đuổi khỏi trường đại học vì đã tham gia vào cuộc biểu tình chống đối.

1941 – Ông chạy trốn khỏi một cuộc hôn nhân sắp xếp. Mandela đã chuyển đến Johannesburg và làm việc như một bảo vệ mỏ vàng trong một thời gian ngắn.

1941 – Ông ủng hộ mạnh mẽ Walter Sisulu, một thành viên tích cực của Đại hội Dân tộc Phi (ANC) – một phong trào chống chủ nghĩa a-pác-thai lớn ở Nam Phi và ngày nay là đảng cầm quyền của nước này. Sisulu đã giới thiệu Mandela tới làm thư ký tại một công ty luật có tên là Witkin, Sidelsky và Eidelmana, và cả hai trở thành đồng nghiệp.

1942 – Ông chính thức bắt đầu tham gia vào ANC. Cũng trong năm này, ông hoàn thành chương trình cử nhân nghệ thuật.

1944 – Ông sáng lập Liên đoàn Thanh niên giải phóng ANC cùng với Anton Lembede, Oliver Tambo và Walter Sisulu.

1944 – Ông kết hôn với Evelyn Mase Ntoko, người vợ đầu tiên. Hai năm sau, con trai cả Madiba Thembekile (Thembi) ra đời.

1948 – Ông được bầu làm thư ký quốc gia của Liên đoàn Thanh niên ANC. Trong năm này, chính phủ Nam Phi chính thức thực hiện các chính sách phân biệt chủng tộc.

17/12/1949 – ANC thông qua chương trình hành động, lấy cảm hứng từ Liên đoàn Thanh niên, chủ trương biểu tình, đình công, bất tuân dân sự và cương quyết không hợp tác với chính quyền.

1950 – Con trai thứ hai và thứ ba của ông ra đời. Trong năm, Chính phủ thông qua luật Đàn áp Cộng sản, chính thức cấm Đảng Cộng sản Nam Phi hoạt động.

1951 – Ông được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên ANC.

1952 – ANC tiến hành chiến dịch ngăn chặn sự bất công pháp luật. Mandela được bầu làm Trưởng tình nguyện viên quốc gia của ANC và đi khắp Nam Phi tổ chức kháng chiến.

1952 – Nelson bị bắt cùng với Walter Sisulu và 18 người khác, bị kết án chín tháng tù giam và lao động khổ sai, và chịu án treo hai năm.

1952 – Ông được bầu làm chủ tịch khu vực Transvaal của ANC, và là người đầu tiên giữ chức Phó Chủ tịch ANC.




Năm 1987, Nelson Mandela ngã bệnh với các dấu hiệu sớm của bệnh lao và đã phải nhập viện tại Bệnh viện Tygerberg tại Cape Town. Trong ảnh là những người biểu tình đòi trả tự do cho ông.

1952 – Là người da đen đầu tiên ở Nam Phi mở công ty luật trong trung tâm thành phố Johannesburg, hợp tác với Oliver Tambo.

1953 – Ông nghĩ ra kế hoạch M (Kế hoạch Mandela) cho các hoạt động ngầm trong tương lai của ANC.

1953 – Con gái của ông ra đời, là người con thứ tư của ông và là con gái thứ hai.

26/6/1955 – Đại hội liên minh các phong trào chống chủ nghĩa A-pác-thai được tổ chức ở Soweto. Ở đây, các phong trào đã thông qua một nguyên tắc cơ bản cho một Nam Phi tự do: “Nam Phi thuộc về tất cả mọi người, kể cả da đen và da trắng. Không có một chính phủ nào có quyền tuyên bố chủ quyền, trừ khi nó dựa trên ý muốn của tất cả mọi người”.

5/10/1956 – Nelson Mandela bị bắt cùng với 150 người khác, bị buộc tội phản quốc. Một phiên tòa kéo dài 5 năm, và cuối cùng tất cả các bị cáo đều được tuyên vô tội.

1958 – Ông Mandela ly dị người vợ đầu Evelyn Mase và kết hôn với bà Winnie Madikizela và sinh người con thứ 5.

1960 – Cảnh sát đàn áp một cuộc biểu tình ôn hòa, giết chết 69 người. Ngay lập tức, một cuộc biểu tình bảo loạn nổi lên khắp Nam Phi. Chính phủ Nam Phi bắt giữ hơn 18.000 người, cấm ANC và các phong trào giải phóng khác.

1960 – Người con thứ sáu của Mandela ra đời.

1961 – Hội đồng xét xử tội phản quốc kết thúc với một tuyên bố trắng án cho Mandela và các bị cáo khác.

1961 – ANC quyết định chuyển từ bất bạo động sang các phong trào bạo lực chống phân biệt chủng tộc. Cánh vũ trang của phong trào, Umkhonto weSizwe ( Tạm dịch: “Ngọn giáo quốc gia”), được hình thành. Ông Mandela lãnh đạo phong trào. Và phải sống cuộc sống ngụy trang để tránh bị chính phủ bắt giữ.

5/8/1962 – Ông bị bắt giữ và giam cầm ở Fort Johannesburg, bị kết tội trốn ra nước ngoài bất hợp pháp và kích động biểu tình. Sau đó, ông bị kết án 5 năm tù trên đảo Robben, gần Cape Town.

20/4/1964 – Tại phiên tòa xử ông của Hội đồng xét xử Rivonia, Mandela đã có những tuyên bố trở nên nổi tiếng thế giới. Trong ngày xét xử đầu tiên, ông đưa ra lý do lựa chọn sử dụng bạo lực của ANC. “Tôi đã ấp ủ lý tưởng về một xã hội dân chủ và tự do, trong đó tất cả mọi người sống hòa thuận với nhau và có cơ hội bình đẳng như nhau. Đó là một lý tưởng mà tôi hy vọng có thể đạt được lúc còn sống. Nhưng …nếu cần, tôi sẵn sàng chết vì lý tưởng đó”.

Sau đó, ông đã bị kết án tù chung thân, tiếp tục bị gửi đến đảo Robben, bị phân loại tù nhóm D, nhóm tù bị đối xử thấp nhất.

Tháng Sáu 16, 1976 – Trong Soweto, cảnh sát nổ súng ở Nam Phi vào học sinh phản đối việc sử dụng các Afrikaans như một phương tiện giảng dạy . Soweto cuộc nổi dậy bắt đầu, nhanh chóng lan rộng trên khắp Nam Phi và để lại thiệt hại rất lớn về tài sản, thiệt hại về người trong thức của nó . Đáp lại, một số lượng đáng kể của trẻ đen lại Nam Phi để tham gia lực lượng của ANC ở các nước láng giềng .

1982 – Mandela được chuyển đến nhà tù Pollsmoor tại Cape Town, cùng với các nhà lãnh đạo ANC khác nhằm loại bỏ ảnh hưởng của họ tới các tù nhân khác trên đảo Robben.

Trong nhiều năm sau đó, rất nhiều phong trào đòi thả tự do cho Nelson Mandela diễn ra trên khắp thế giới. Tượng của ông được điêu khắc ở khắp nơi. Đặc biệt, vào năm 1985, Stevie Wonder từng dành Oscar cho bài hát “I just called to say I love you” tặng riêng cho Mandela. Bài hát sau đó bị cấm trên tất cả các đài phát thanh truyền hình Nam Phi.

11/02/1990 – Tràn ngập trong sự quan tâm của thế giới, ông Nelson Mandela được trao trả tự dò từ nhà tù Pollsmoor tại Cape Town. Sau khi ra tù, ông Mandela đã tiếp tục cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc. Trong năm, ông đã đàm phán với chính phủ và đưa ra một cam kết hòa giải giữa các bên, đưa ANC trở lại hoạt động công khai và chấm dứt phân biệt chủng tộc ở Nam Phi.
Ông được thả sau 28 năm bị giam cầm vào ngày 11/2/1990.




14/9/1991 – Hiệp ước hòa bình quốc gia Nam Phi được ký kết, dọn đường cho việc đàm phán Công ước về một Nam Phi Dân chủ (Codesa). Năm 1992, các cuộc đàm phán chính thức được bắt đầu.

Tháng 7/1993 – Tổng thống Mỹ Bill Clinton trao Huân chương Tự do Philadelphia cho ông Mandela.

Tháng 12/1993 – Mandela và Tổng thống Nam Phi lúc đó, ông FW de Klerk cùng nhận giải Nobel Hòa bình cho các vai trò khác nhau của họ trong việc chấm dứt phân biệt chủng tộc. Ông Mandela cũng lọt vào danh sách Nhân vật của năm do tạp chí Time bình chọn, cùng với FW de Klerk, Yasser Arafat và Yitzhak Rabin.




Mandela giành giải Nobel Hòa bình hôm 9/12/1993 tại Oslo vì đã những cống hiến chống phân biệt chủng tộc một cách hòa bình.

Ngày 10/05/1994 – Ông Nelson Mandela trở thành Tổng thống dân chủ đầu tiền của Nam Phi.

1995 – Ông phải đối mặt với những thử thách mới. Ủy ban Hòa giải được thiết lập và Luật Hòa giải được thông qua.

1996 – Ông Mandela ly dị người vợ thứ hai Winnie Madikizela.

Tháng 7/1998 – Ông Mandela kết hôn người vợ thứ ba Graça Machel khi ông tròn 80 tuổi.

1999 – Trở thành 100 người có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 do tạp chí Time bình chọn.

Tháng 7/2001 – Được chẩn đoán và điều trị thành công ung thư tuyến tiền liệt.

7/2002 – Tổng thống Mỹ George W Bush trao Huân chương Tự do của Tổng thống, giải thưởng dân sự cao quý nhất của Mỹ cho Nelson Mandela.

2003 – Ông đứng tên một chương trình gây quỹ, nâng cao nhận thức chống lại đại dịch AIDS.

2005 – con trai thứ, Makgatho Mandela qua đời vì AIDS ở độ tuổi 54.

Tháng 1/2011 – Mandela nhập viện vì bị nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính.

20h50 Ngày 05/12/2013: Cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela qua đời ở tuổi 95.

Phan Sương


Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 259
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Khác biệt giữa Nelson Mandela - Hồ Chí Minh   Sun Dec 29, 2013 4:39 pm


Khác biệt giữa Nelson Mandela - Hồ Chí Minh




Nguyễn Hùng (Danlambao) - Ngày 05 tháng 12 năm 2013 ông Nelson Mandela qua đời hưởng thọ 95 tuổi. Cách đây 44 năm ông Hồ Chí Minh đã qua đời tại Hà Nội vào ngày 02 tháng 09 năm 1969 hưởng thọ 79 tuổi. Hai người đều là đảng viên đảng cộng sản - lúc đầu bí mật sau công khai, hai người đều có ảnh hưởng đến phong trào giành độc lập giải phóng cho dân tộc mình, một người là từ giữa thế kỷ 20 - ông Hồ Chí Minh, còn người kia là cuối thế kỷ 20 - ông Nelson Mandela. Tuy đều là người cộng sản, nhưng ai hơn ai trong nhân cách và phương cách đấu tranh giành độc lập và quyền tự do dân chủ cho đất nước mình và làm gì cho đất nước và dân chúng sau khi cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền đạt thành công?

Nelson Mandela:


Nelson Mandela và De Clerk cùng lãnh giải Nobel hòa bình

Ông Mandela xuất thân từ gia đình vọng tộc của bộ lạc Thembu tại Transkei thuộc tỉnh Cape. Ông được một quan nhiếp chính nuôi dưỡng và tốt nghiệp cử nhân hàm thụ với Đại Học Nam Phi. Ông đậu văn bằng cử nhân luật cũng bằng cách học hàm thụ với Đại Học Luân Đôn trong thời gian ông bị cầm tù vì đấu tranh chống kỳ thị. Ông có tất cả 3 lần kết hôn: bà Evelyn (1943-1957), bà Winnie (1958-1992), và bà Graca nguyên là góa phụ của cựu Tổng Thống Mozambique (1998- lúc mất). Ông có tất cả 6 người con với 2 người vợ đầu tiên.

Ông là người lãnh đạo Đảng Đại Hội Dân Tộc (ANC) chống lại chế độ cai trị phân biệt chủng tộc tại Nam Phi của người da trắng thiểu số, bằng phương cách ôn hòa trong thời gian đầu và vũ trang sau này. Ông Mandela và đảng ANC cũng đã bí mật tham gia Đảng Cộng Sản Nam Phi từ năm 1955. Ông bị bắt và bị kết án tù chung thân từ năm 1964. Hai mươi bảy năm sau, ngày 11 tháng 2 năm 1990, ông được trả tự do và sau đó trở thành Tổng Thống người da đen đầu tiên của quốc gia Nam Phi không còn nạn phân biệt chủng tộc trong một cuộc bầu cử Tổng Thống bằng cách trực tiếp phổ thông đầu phiếu. Sau khi nhận nhiệm vụ Tổng Thống, thay vì trả thù người da trắng đã đối xử tàn tệ người dân đen da màu trong nhiều thập niên, đã hành hạ và giam cầm ông hơn một phần tư thế kỷ như rất nhiều người nghĩ, ông đã thực hiện chính sách hòa giải xóa bỏ hận thù, cùng cộng đồng người da trắng xây dựng Nam Phi thành một nước tự do dân chủ thực sự, không còn nạn phân biệt chủng tộc, theo chế độ tư sản với đa đảng tam quyền phân lập. Ông giữ chức vụ Tổng Thống chỉ một nhiệm kỳ 4 năm và sau đó từ bỏ chính trường trở về sống cuộc đời còn lại như một người dân Nam Phi bình thường.

Hồ Chí Minh:


Khushchev, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh

Ông Hồ Chí Minh tên thật là Nguyễn Sinh Cung, tự là Tất Thành, cha là ông Nguyễn Sinh Sắc làm quan dưới triều Nguyễn. Hồ Chí Minh dùng tên Nguyễn Tất Thành từ lúc còn học tiểu học. Ông được nhận vào học trường trung học Quốc Học Huế năm 1908 nhưng bị đuổi học vì tham gia biểu tình chống sưu thuế và ngưng học văn hóa từ năm 13 tuổi (?). Ông rời Huế vào sống phiêu bạc tại Phan Thiết một thời gian ngắn và sau đó đến sống tại Sài Gòn. Tại Sài gòn ông theo học trường đào tạo công nhân hàng hải được 3 tháng thì xin được việc làm phụ bếp trên một tàu buôn Pháp vào tháng 6 năm 1911, khi đó tuổi đời chỉ được 16. Sang Pháp ông ở lại sinh sống và hoạt động chính trị với đảng cộng sản Pháp. Năm 1919 ông gia nhập Đảng Xã Hội Pháp, tiền thân của Đảng Cộng Sản Pháp. Trong suốt 30 năm sau đó ông đổi tên thành Nguyễn Ái Quốc. Năm 1920 ông là một sáng lập viên của Đảng Cộng Sản Pháp, và trở thành một đảng viên cộng sản quốc tế. Năm 1922 ông sang Liên Xô và được Đảng cộng sản Liên xô đào tạo chính qui về Chủ Nghĩa Mac-Lênin, tuyên truyền và khởi nghĩa vũ trang bạo lực cách mạng. Năm 1924 ông đến Trung Quốc theo phái đoàn cố vấn của Liên Xô làm công tác thông dịch với tên là Lý Thụy. Từ đó đến năm 1941 ông sống tại Trung Quốc, Thái Lan và Liên Xô, đào tạo và kết nạp đảng viên cho Đảng Cộng Sản Đông Dương, tiền thân của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Ông chính thức trở lại Việt Nam hoạt động vào năm 1941, sau đó bị bắt giam tại Trung Quốc trong một chuyến đi công tác cho cộng sản quốc tế, bị giam cho đến năm 1944.

Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn cho biết Hồ Chí Minh sống độc thân suốt đời, không vợ không con, để dành toàn tâm toàn trí lo cho Tổ quốc, cho dân tộc! Tuy nhiên có nhiều nguồn tin cùng tài liệu tìm thấy trong thời gian gần đây cho biết ông đã từng có một số người vợ. Một trong những bà vợ là Tăng Tuyết Minh. người Tàu, cưới vào tháng 10, năm 1926. Đảng viên cộng sản Nguyễn thị Minh Khai cũng một người vợ khác của Hồ Chí Minh - Nguyễn Ái Quốc (xem trang số 202, quyển sách của nhà sử học Sophie Quinn Judge: Ho Chi Minh, The Missing Years có đoạn nói: ba đại biểu Việt Nam đi dự hội nghị Cộng Sản Quốc Tế ở Nga vào tháng 3, năm 1935, trong đó có Nguyễn thi Minh Khai được Hà Huy Tập giới thiệu là “Quoc’s wife”- vợ của Nguyễn Ái Quốc (tên của Hồ Chí Minh lúc ấy), Hồ chí Minh cũng tham dự hôi nghị với tư cách là đại biểu của Đảng Cộng Sản Quốc Tế. Hồ Chí Minh còn có vợ là người Nga, dân tộc thiểu số... và có cả tin tức cựu Tổng Bí Thư Nồng Đức Mạnh là con trai của ông với một người phụ nữ gốc thiểu số tên là Nồng Thị Xuân, người dân tộc Tày.

Trong suốt thời gian đảng cộng sản Việt Nam tham gia và liên kết với các đảng cách mạng khác đấu tranh giành độc lập từ thực dân Pháp, ông Hồ Chí Minh chưa từng bị chính quyền Pháp bắt giam. Sau khi Việt Nam giành được độc lập lần đầu tiên năm 1945 rồi cuộc chiến chống Pháp trở lại chiếm Đông Dương từ 1945 đến 1954, những đảng phái quốc gia trong tổ chức Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, gọi tắc là Việt Minh, lần lượt bị đảng cộng sản trực tiếp hay gián tiếp tiêu diệt và đảng cộng sản nằm trọn quyền từ sau 1945. Nhưng ông Hồ Chí Minh tiếp tục lợi dụng danh xưng “Việt Minh” làm bình phong cho đảng cộng sản Việt Nam để thu hút những người quốc gia yêu nước gia nhập rồi sau đó tuyên truyền móc nối tham gia đảng cộng sản Việt Nam.

Từ năm 1954, sau khi Pháp bị bại trận, chính thức rút lui và trả lại độc lập cho Việt Nam, Việt Nam phải chịu chia cắt làm 2 vùng vì quan điểm chính trị khác nhau giữa cộng sản và phi cộng sản (quốc gia). Từ Vĩ tuyến 17 về phía Bắc do đảng cộng sản Việt Nam cai trị theo chế độ cộng sản và phía Nam Vĩ tuyến 17 theo chế độ phi cộng sản (quốc gia), xây dựng đất nước trong hòa bình dưới hai chế độ chính trị khác nhau với chiều hướng tiến đến thống nhất hai miền trong hòa bình. Nhưng ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản không chịu ngừng chiến tranh để tập trung xây dựng và phát triển đất nước mà tiếp tục phát động cuộc nội chiến tại miền Nam, gây tổn hại trầm trọng cho đất nước, gây thương vong cho hàng triệu người dân Việt Nam, hằng trăm ngàn gia đình bị ly tán chỉ vì ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã bằng mọi giá quyết tâm đưa cả nước theo chế độ cộng sản với mô hình cộng sản Liên Xô và cộng sản Tàu. Với sự giúp đỡ đầy đủ các loại vũ khí, trang thiết bị chiến tranh và hậu cần từ khối cộng sản quốc tế, quan trọng nhất là từ hai nước cộng sản Liên Xô và Tàu cộng, đảng cộng sản Việt Nam đã thành công, chiếm được toàn bộ lãnh thổ Việt Nam từ ngày 30/04/1975. Từ ngày đó đến nay cả nước sống dưới chế độ độc đảng toàn trị cộng sản rập theo khuôn mẫu Liên Xô, Trung Quốc và chủ nghĩa Mac-Lênin-Mao.

Nelson Mandela và Hồ Chí Minh khác xa nhau kể về cá tánh, phong cách và phương cách đấu tranh nhằm giành lại độc lập tự do dân chủ thực sự cho đất nước và dân tộc mình.

Về cá tánh và nhân cách:

Nelson Mandela là một người bình thường như mọi người, có vợ không chỉ một lần mà ba lần, có con có cháu nội ngoại. Nói chung ông Nelson Mandela là con người thật với đầy đủ tính người, có yêu có hận có lòng nhân ái với tha nhân, ngay đến kẻ thù đã từng đối xử tệ bạc với dân tộc mình và đã giam cầm đày ải ông suốt 27 năm trong các nhà tù khắc nghiệt nhất tại Nam Phi.

Đối lại, ông Hồ Chí Minh tự tạo cho mình là con người có vẻ ảo và thần bí, không là con người thật mà là người lạ. Hồ Chí Minh quá hoàn mỹ đến mức độ khó tin. Ông dùng nhiều tên họ khác nhau, không màng chuyện gia đình để không bận bịu chuyện vợ con hầu hoàn toàn dành tâm trí đấu tranh cho đất nước. Vì theo chủ thuyết Mac- Lê và là người cộng sản trung kiên, tình cảm giữa con người với con người của ông là “người cộng sản-vô sản”. Từ lối suy nghĩ đó dẫn đến những việc làm và hành động vô tâm bất nhân của người cộng sản đối với những người cùng chí hướng, bạn bè, người thân, ân nhân không phải thuộc giai cấp vô sản trong suốt thời gian ông và đảng cộng sản của ông hoạt động bí mật, rồi công khai chiến đấu cùng với các đảng phái khác trước 1945 (tổ chức Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội - Việt Minh) dành độc lập cho đất nước và với dân chúng tại miền Bắc, những trí thức không theo cộng sản sau năm 1954 sống tại miền Bắc, qua các sự kiện như cải cách ruộng đất, phong trào đấu tố địa chủ và tư sản, trí thức tiểu tư sản, phong trào Nhân Văn Giai Phẩm trong giới văn nghệ sĩ cộng sản miền Bắc, và sau đó là những cách thức đối xử và hành động khủng bố giam cầm trả thù rất độc ác vô nhân đối với quân, dân, cán bộ của chính quyền miền Nam từ sau ngày 30/04/1975.

Về đấu tranh giành độc lập tự do nhân quyền cho đất nước và dân tộc:

Ông Nelson Mandela sống suốt cuộc đời tại chính đất nước của ông, không thay tên đổi họ không tự thần thánh hóa mình. Ông được chính quyền độc tài kỳ thị chủng tộc Nam Phi cho phép học tập ngay cả trong khi chịu án tù chung thân và đã đậu bằng cử nhân văn chương và cử nhân luật. Ông bị giam cầm với án chung thân trong hầu hết thời gian ông đứng lên đấu tranh chống chế độ độc tài cai trị phân biệt màu da của thiểu số người da trắng, giải phóng đất nước và dân chúng Nam Phi. Ông bị giam cầm tổng cộng 27 năm cho đến năm 1990.

Trái lại ông Hồ Chí Minh với trình độ học vấn chưa xong bậc trung học, bỏ nước tìm kế sinh nhai tại Pháp, theo đảng cộng sản Pháp rồi được đào tạo tại Liên sô về bạo lực đấu tranh cách mạng vô sản, theo chủ nghĩa Mac-Lênin, phục vụ cộng sản quốc tế dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Nga, rồi được phân công công tác xây dựng và mở rộng đảng cộng sản tại các nước Đông Dương và Đông Nam Á gồm Việt Nam, Miên, Lào, Thái Lan... Ông Hồ Chí Minh chỉ chính thức trực tiếp tham gia cùng các đảng phái quốc gia khác (Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội -Việt Minh) trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp giành độc lập từ năm 1941. Ông Hồ Chí Minh sống rất an toàn trong các căn cứ địa tại vùng biện giới Việt Hoa đến năm 1954, được Trung cộng bảo vệ và chưa một lần bị chính quyền Pháp bắt giam tại trong nước (tuy ông có bị tù vài năm tại Hong Kong rồi tại Quảng Châu vì hoạt động cho cộng sản quốc tế và cộng sản Tàu-Mao Trạch Đông chống lại Trung Hoa Dân Quốc-Tưởng Giới Thạch chứ không vì chống Pháp giành lại độc lập chủ quyền cho Việt Nam).

Ông Mandela được chính quyền kỳ thị màu da dưới sư lãnh đạo của Tổng Thống gốc da trắng, ông De Clerk, trả tự do và đảng ANC của ông Mandela được thừa nhận là đảng đối lập hợp pháp tại Nam Phi. Hai nhân vật cựu thù trước đây nay cùng nhau hợp lực biến đổi Nam Phi từ một quốc gia chuyên chế phân biệt chủng tộc thành một đất nước tự do dân chủ, quyền con người được tôn trọng và nạn phân biệt chủng tộc bị tiêu trừ. Thật là một cuộc cách mạng vĩ đại vô tiền khoáng hậu đã xảy ra tại Nam Phi trong hòa bình, không chiến tranh, không có đổ máu, không gây chết chóc cho người dân vô tội, không chiến lợi phẩm, không người thắng kẻ bại, không có trả thù, không hận thù dai dẳng, không tù đầy cải tạo nơi rừng thiên nước độc, không bị áp đặt một chủ nghĩa không tưởng nào ngoại trừ tình thương và lòng vị tha, một nhà nước pháp quyền được dân trực tiếp bầu lên và tất cả người dân Nam Phi không phân biệt chủng tộc màu da không phân biệt chính kiến cùng nhau hòa hợp hòa giải, cùng nhau xây dựng đất nước, nâng cao mức sống của những người nghèo khổ bất hạnh.

Hai ông Mandela và De Clerk rất xứng đáng được trao giãi Nobel hòa bình và được toàn thế giới ngưỡng mộ. Ông Mandela qua đời được mọi người trên thế giới thương tiếc và hầu hết những vị lãnh đạo thế giới đến viếng thăm tiễn đưa ông lần sau cùng, ngoài trừ một vài lãnh đạo mà trong số đó có Việt Nam, Tàu, Bắc Triều Tiên - 3 trong 5 nước cộng sản cuối cùng còn tồn tại trên thế giới!

Ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam do ông dựng ra thì khác. Trong khi ông Mandela hầu như bị tù tội gần suốt thời gian ông công khai đấu tranh chống chính quyền da trắng, ông Hồ Chí Minh không bị Pháp bắt giam một ngày. Trong thời kỳ chống Pháp dành độc lập ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam đã bí mật thủ tiêu hay dùng bàn tay của thực dân Pháp hãm hại những vị lãnh đạo của các đảng phái không cộng sản (quốc gia). Sau khi cướp được chính quyền và cai trị phân nửa đất nước, vì đã được đảng cộng sản Nga Tàu nhồi sọ lòng hận thù giai cấp, chuyên chính vô sản bạo lực cách mạng, Hồ Chí Minh và những học trò đảng viên cộng sản của ông trở lại bắt giết, cầm tù, đày ải dân lành, tuyên truyền thù hận giai cấp trong lớp người trẻ để chuẩn bị cuộc chiến nhuộm đỏ miền Nam, phục vu ý đồ bành trướng chế độ cộng sản trên toàn lãnh thổ Việt Nam để rồi từ Việt Nam làm bàn đạp nhuộm đỏ toàn vùng Đông Nam Á, phục vụ ý đồ nhuộm đỏ toàn thế giới của cộng sản quốc tế do Liên Xô-Trung cộng lãnh đạo.

Ông Nelson Mandela chỉ làm Tổng Thống Nam Phi một nhiệm kỳ 4 năm sau một cuộc bầu cử tự do dân chủ rồi sau đó rút lui khỏi chính trường. Nam Phi không rơi vào hổn loạn, cảnh giết chóc trả thù của người dân da đen bản xứ đối với người da trắng như nhiều người trên thế giới lo sợ sẽ xảy ra tại nước này. Trái lại họ đã chung sống trong hòa bình, hòa hợp hòa giải và cùng nhau sát cánh phát triển đất nước khắc phục những hậu quả do chế độ phân biệt chủng tộc gây ra và để lại. Ý nguyện của ông sau khi qua đời là được chôn cất tại quê nhà như là một người công dân Nam Phi bình thường. Cả nước Nam Phi chỉ có một vài bức tượng đơn sơ do dân chúng dựng lên để tưởng nhớ ông, không có những bức ảnh hay tượng thạch cao trưng bày khắp nơi tại văn phòng cơ quan chính phủ hay những đền đài lăng tẩm từ trung ương đến địa phương, từ thành phố đến làng mạc xa xôi như ông Hồ Chí Minh ngay cả khi ông còn sống. Ông Nelson Mandela không để lại một “tư tưởng Mandela”, ông để lại một tấm lòng vị tha, tấm lòng nhân ái. Thế giới biết ơn ông, tôn vinh ông, như thế thôi. Rồi tên ông cũng sẽ đi vào lịch sử cùng với những bậc vĩ nhân khác trong lịch sử loài người. Đất nước Nam Phi may mắn có được một nhà lãnh đạo đầy lòng vị tha bác ái. Ông đã cứu sống hàng trăm ngàn, hằng triệu người dân Nam Phi vô tội của hai phe da trắng da màu bằng một cuộc cách mạng ôn hòa. Nếu không phải là ông Mandela lãnh đạo cuộc đấu tranh tại Nam Phi, thế giới đã không như bây giờ và không biết sẽ bị đưa đến đâu? Châu Phi có sống trong hòa bình như hiện nay hay không nếu không có một người như ông Nelson Mandela?

Ông Hồ Chí Minh thì ngược lại. Ông bị nhập tâm và mê hoặc bởi đường lối đấu tranh bạo lực coi rẻ mạng sống con người từ đảng cộng sản Nga-Lenin, rồi sau đó đảng cộng sản Tàu-Mao Trạch Đông. Ông Hồ Chí Minh làm lãnh tụ đảng cộng sản Việt Nam và nắm quyền sinh sát dân Việt Nam cho đến khi qua đời năm 1969, và đảng cộng sản độc quyền cai trị đất nước với chế độ chuyên chính hà khắc suốt từ khi họ hoàn toàn cướp được chính quyền từ năm 1954. Ông Hồ Chí Minh đã dùng tất cả thủ đoạn, sẵn sàng hy sinh mạng sống của hằng triệu thanh niên và người dân Việt Nam của cả hai miền Nam Bắc cho mộng bá chủ của chủ nghĩa cộng sản và đưa cả nước Việt Nam theo con đường vô sản, theo chế độ chuyên chính cộng sản rập khuôn chế độ cộng sản Nga Tàu. Tuy Hồ Chí Minh chết từ năm 1969 nhưng tầm ảnh hưởng của ông vẫn tiếp tục qua những người học trò cộng sản do ông đào tạo. Họ cũng chẳng khác gì so với ông, cũng chỉ có chủ nghĩa cộng sản không tưởng, cũng độc đoán không kém ông, cũng xem thường và không màng đến mạng sống người dân vô tội, cũng lòng câm thù và phân biệt đối xử của giai cấp đảng viên đối với thường dân, cũng chỉ một lòng còn đảng còn mình, cũng vì sự an toàn của đảng cộng sản Việt Nam sẵn sàng trao đất nước cho bọn đại Hán Tàu cộng phương Bắc:

(1) Hồ Chí Minh qua người học trò và là đảng viên thuộc hạ trung kiên Phạm Văn Đồng ký bản công hàm dâng hiến biển đảo cho cộng sản Tàu vào năm 1958 mà mọi mọi người dân Việt Nam đều cho đó là “công hàm bán nước”;

(2) Im lặng đồng lõa với Tàu cộng khi bọn hải quân Tàu cộng xua chiến hạm đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 19 tháng 01năm 1974 trước sự chống trả anh dũng của quân đội miền Nam;

(3) Để cho hải quân Tàu cộng ngang nhiên bắn giết 64 bộ đội công binh trên bải đá ngầm Gạc Ma và công khai chiếm thêm một phần của quần đảo Trường Sa vào năm 1988 mà không chống trả hay phản đối hành động xâm lược của Tàu cộng;

(4) Cắt đất tại vùng biên giới Việt Hoa giao cho Tàu sau cuốc chiến biên giới năm 1979; trao nhiều vùng đất trên khắp cả nước cho Tàu cộng dưới bình phong khai thác trồng rừng trong thời gian từ 50 năm đến 100 năm;

(5) Giao cho Tàu khai thác tài nguyên khoáng sản như dự án Bauxit trên vùng Tây Nguyên, khai thác tài nguyên dưới đáy biển của vùng vịnh Bắc Bộ, bỏ mặc ngư dân bị bọn hải quân Tàu đội lớp hải tặc ngang nhiên tấn công bắn phá tàu thuyền, bắt ngư dân Việt Nam và tàu thuyền đòi tiền chuộc mạng ngay trên Biển Đông, vùng biển của ông cha từ bao đời v.v...

Hồ Chí Minh không chịu ngừng chiến tranh để hai miền xây dựng và sống chung trong hòa bình. Ông đã chỉ thị và lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục phát động một cuộc chiến tranh tại miền Nam, gây ra vô vàn tổn thất về của cải vật chất, gây chết chóc và thương vong cho nhiều triệu người dân Việt Nam vô tội trên khắp hai miền đất nước. Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam đã tinh ranh lừa bịp người dân miền Bắc và thiểu số người dân miền Nam tại những vùng nông thôn để họ chấp nhận hy sinh cho cuộc chiến đẫm máu do đảng cộng sản Việt Nam tiến hành mà họ gọi với một tên rất hoa mỹ là “giải phóng miền Nam” qua sự cổ võ, giựt dây và tài trợ của hai nước cộng sản đàn anh Nga Tàu, một cuộc chiến mà người lãnh đạo thừa kế Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, đã thú nhận rằng “ta đánh (miền Nam) đây là đánh cho Nga cho Tàu”. Ngay cả một số quốc gia trên thế giới cũng bị Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam lừa và bị rơi vào bẩy vì đã ngây thơ ủng hộ hành động gây chiến giết hại chính dân chúng mình của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam. Sau khi chính quyền quốc gia miền Nam Việt Nam bị bỏ rơi, ngày 30/04/1975 miền Nam Việt Nam hoàn toàn lọt vào tay cộng sản.

Người dân miền Nam những tưởng rằng họ sẽ được sống trong hòa bình tự do và rằng sống dưới chính quyền nào cũng không khác gì nhau vì những quyền căn bản của con người đều được luật pháp bảo vệ và chính quyền tôn trọng, không có người thắng trận kẻ bại trận, toàn dân xóa bỏ hận thù, cùng nhau hòa hợp hòa giải và xây dựng lại đất nước bị tàn phá bởi cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt kéo dài hơn 20 năm. Đa số người dân miền Nam, nhiều trí thức chuyên viên miền Nam đã quyết định ở lại quê hương với sự suy nghĩ đơn thuần rằng họ sẽ có dịp đóng góp xây dựng đất nước sau khi hòa bình được tái lập. Nhưng tất cả đều bị Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam của ông lừa gạt. Thế giới tự do, thế giới nhân đạo, thế giới tình người, thế giới tình thương, thế giới nhân bản cũng bị Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam lừa một vố vĩ đại. Thay thế cho những lời nói bánh vẽ “hòa hợp hòa giải dân tộc”, đảng cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của những học trò cộng sản trung kiên của ông Hồ Chí Minh đã tiến hành chính sách trả thù rất tàn bạo, vô nhân đạo đối với các tầng lớp quân cán chính của chính quyền miền Nam. Không những người đang sống mà ngay cả những mộ của chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa bị tử trận trong cuộc chiến tại các nghĩa trang quân đội trên khắp miền Nam cũng bị cầy xới phá bỏ, hằng ngàn mồ mả tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa bị “di tù”.

Hành động trả thù người sống và cả mồ chôn thân xác người chết, tiêu hủy kho tàng văn hóa nhân văn tại miền Nam Việt Nam của những học trò cộng sản của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam, tương tự như những hành động tàn ác của vua Tần Thủy Hoàng của Tàu, không chỉ kéo dài trong một vài năm sau khi cộng sản chiếm toàn bộ miền Nam ngày 30/04/1975 mà vẫn còn tiếp tục xảy ra cho đến hôm nay, suốt 38 năm dài. Hành động trả thù và kỳ thị, không phải kỳ thị chủng tộc như tại xứ Nam Phi của ông Mandela mà là kỳ thị người miền Nam cùng tổ tiên cùng máu đỏ da vàng, con cháu của những quân nhân cán chính, người tư sản, trí thức miền Nam mà cộng sản gọi là “bọn trí thức tiểu tư sản”. Điều vô cùng nguy hiểm cho tương lai sống còn của Việt Nam là Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt đã và đang tiếp tục đầu độc tư tưởng của thế hệ trẻ Việt Nam với tư tưởng Mac-Lenin-Mao rồi “tư tưởng Hồ Chí Minh”, biến họ thành công cụ của đảng cộng sản, mù quáng tôn thờ bọn đại Hán Tàu xâm lược, chỉ biết còn đảng còn mình.

Thế hệ trẻ tiến bộ yêu nước trên khắp ba miền của đất nước hiện nay bị khủng bố, bị bỏ tù, bị vi phạm trầm trọng các quyền căn bản con người bởi chính con cháu của những đảng viên cộng sản kỳ cựu. Nhiều người cứ tưởng thế hệ con cháu của đảng viên đảng cộng sản sẽ có cách suy nghĩ phóng khoáng văn minh tiến bộ hơn cha ông của họ vốn xuất thân thiếu học, và chính họ đã không từng bị thiệt thòi hay bị giam cầm như ông cha của họ. Người dân Việt Nam nghĩ rằng họ sẽ tôn trọng quyền tự do dân chủ, sẽ đứng ra giúp cổ vũ và bảo vệ nhân quyền, chuyển đổi từ một chế độ độc đảng chuyên chính thành cơ chế đa đảng với tam quyền phân lập. Nhưng sự thực hoàn toàn trái ngược. Lớp cộng sản trẻ con cháu của những cán bộ cộng sản kỳ cựu trái lại còn ác độc và vô nhân đạo không thua cha ông của họ. Họ sẵn sàng làm bất cứ việc tàn ác, bất nhân nào miễn là quyền lợi của họ được bảo vệ, được sống trong nhung lụa ăn chơi phè phỡn trên nỗi cơ cực của đai đa số người dân Việt Nam. Hồ Chí Minh đã tạo nên những thế hệ đảng viên cộng sản con cháu không còn lòng nhân, không còn tình dân tộc mà chỉ có lòng thù hận, lòng ích kỷ. Họ cũng như ông Hồ Chí Minh và lớp học trò đảng viên cộng sản đầu tiên của ông, chỉ có một lòng “còn đảng còn mình”.

Nam Phi may mắn có được một Nelson Mandela với lòng nhân đạo, bác ái, vị tha. Ông Mandela đã mang đến cho người dân Nam Phi tự do, dân chủ bình đẳng, hòa hợp hòa giải mà không phải đổ máu và đất nước không bị tàn phá vì chiến tranh.

Việt Nam bất hạnh có một Hồ Chí Minh cộng sản với tư tưởng đấu tranh bạo lực, một tâm địa độc đoán, quyết tâm tiêu diệt đối lập và những ai bất đồng chính kiến với đảng cộng sản. Khi nào người cộng sản Việt Nam chịu từ bỏ chuyên chính độc tài đảng trị thì khi đó Việt Nam mới thoát khỏi tình trạng lạc hậu nghèo đói và đất nước mới thoát khỏi nguy cơ bị bọn bành trướng đại Hán phương Bắc đồng hóa.

Đất nước và dân tộc bất hạnh Việt Nam ngày đêm mong mỏi sớm có được những người lãnh đạo Việt Nam như ông Nelson Mandela của Nam Phi.

Toàn dân Việt Nam, nhất là tuổi trẻ Việt Nam, hiện nay không còn sợ hãi, không chịu thúc thủ mà đang hành động với đầy nhiệt tình và rất dũng cảm. Đúng, tuổi trẻ cả nước đang hành động. Họ đang từng khắc, từng giờ, từng ngày phát triển và hiên ngang anh dũng đứng lên gánh vác trọng trách mà toàn dân Việt Nam mong đợi từ nhiều năm qua: công khai đấu tranh trong ôn hòa trực diện với đảng cộng sản Việt Nam và bọn tay sai đội lớp côn đồ đòi lại tự do dân chủ nhân quyền thực sự cho tổ quốc Việt Nam và bị Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam trắng trợn cướp đoạt. Những thanh niên yêu nước đã và đang bị tù đày với các bản án khắc nghiệt, vô nhân đạo sẽ là những “Mandela” của Việt Nam. Trong một thời gian không xa Việt Nam chắc chắn sẽ được giải phóng khỏi chế độ thực dân cộng sản độc tài toàn trị do Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam áp đặt.

Ngày 28 tháng 12 năm 2013
Nguyễn Hùng
danlambaovn.blogspot.com

Tài liệu tham khảo:

1-Thân thế và sự nghiệp Nelson Mandela
doisongphapluat.com/tin-tuc/the-gioi/than-the-va-su-nghiep-cua-nelson-mandela-a12048.html

2-Nelson Mandela
vi.wikipedia.org/wiki/Nelson_Mandela
blogmrdo.blogspot.dk/2010/02/nelson-mandela.html

3-Hồ Chí Minh
vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh

4-Ông Hồ Chí Minh có mấy vợ? theo Sử gia Trần Gia Phụng
motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/HoChiMinh/OngHomayvo_01.htm

5-Tiểu sử bà Tăng Tuyết Minh
en.wikipedia.org/wiki/Tang_Tuyet_Minh

6-Ho Chi Minh The Missing Years
books.google.com.vn/books?id=knErjpiKxQoC&pg=PA260&lpg=PA260&dq=who+is+Russian+wife+of+Ho+Chi+Minh&source=bl&ots=qXR2EqhCuy&sig=B8aN3jIZuLpAkn3-VvMaWg-6Kgg&hl=en&sa=X&ei=6Py8UrjmIM7akgXx94GYBQ&ved=0CEYQ6AEwAA#v=onepage&q=who%20is%20Russian%20wife%20of%20Ho%20Chi%20Minh&f=false

7-Vụ án Phố Ôn Như Hầu
vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%A5_%C3%A1n_ph%E1%BB%91_%C3%94n_Nh%C6%B0_H%E1%BA%A7u

8-Những sự thật không thể chối bỏ (phần 8 )- Ai đã bán đứng cụ Phan Bội Châu?
danlambaovn.blogspot.com.au/2012/07/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-8-ai.html

9- Hồ Chí Minh và vụ bán Phan Bội Châu cho mật thám Pháp
sites.google.com/site/hcmnhandinhtonghop/ch%C6%B0%C6%A1ng-45-h%E1%BB%93-ch%C3%AD-minh-v%C3%A0-v%E1%BB%A5-b%C3%A1n-phan-b%E1%BB%99i-ch%C3%A2u-cho-ph%C3%A1p

10-Trung cộng thảm sát bộ đội công binh Việt Nam tại bải đá ngầm Gạc Ma, Trường Sa năm 1988
youtube.com/watch?v=BX1xRohp5WI

11. Hai tướng về hưu tố cáo nhà nước của đảng cộng sản VN cho Trung Quốc thuê rừng đầu nguồn
baotoquoc.com/2010/02/11/hai-t%C6%B0%E1%BB%9Bng-v%E1%BB%81-h%C6%B0u-t%E1%BB%91-cao-vn-cho-trung-qu%E1%BB%91c-thue-r%E1%BB%ABng-d%E1%BA%A7u-ngu%E1%BB%93n/

12-Việt-Trung thỏa thuận khai thác dầu khí trên vịnh Bắc Bộ
vov.vn/Kinh-te/VietTrung-thoa-thuan-khai-thac-dau-khi-tren-vinh-Bac-Bo/267193.vov

13- Trung Cộng ép Việt Nam cho đào dầu trên vịnh Bắc bộ
chuacuuthe.com/2013/06/trung-cong-ep-viet-nam-cho-dao-dau-tren-vinh-bac-bo/

14-Thạc sỹ (?) Nguyễn Tuấn Anh, cán bộ đoàn tncs tp HCM cướp Tuyên ngôn Quốc tế Nhân Quyền tại Sài Gòn
youtube.com/watch?v=GkV36HSkImo

15-Hai lá thư gởi cán bộ thành đoàn Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
boxitvn.blogspot.com.au/2013/12/hai-la-thu-gui-mot-can-bo-thanh-oan.html

16-Phiên toà phúc thẩm xử nhà bất đồng chính kiến Ngô Hào
rfa.org/vietnamese/in_depth/appel-trial-of-ngohao-12242013060939.html

17-Những nấm mộ “đi tù”
rfavietnam.com/node/1896
danluan.org/tin-tuc/20131223/nguyen-lan-thang-nhung-nam-mo-di-tu
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Nelson Mandela: Tám Bài Học về Thuật Lãnh Đạo   

Về Đầu Trang Go down
 
Nelson Mandela: Tám Bài Học về Thuật Lãnh Đạo
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Chính Trị-
Chuyển đến