Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
trai cuoc quan huyen Thầy nguoi sinh nhung Ngày thang nghia rang tien nghe lang nguyen thuy pham phung cong viet HUNG mien thanh ngoc NHẬT
Latest topics
February 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728     
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Xuân và Bài thơ NHỨT CHI MAI

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Xuân và Bài thơ NHỨT CHI MAI   Tue Dec 31, 2013 9:33 am


Xuân và Bài thơ NHỨT CHI MAI

Thích Chân Tuệ




Trong dịp năm hết tết đến, mọi người đều nhắc đến hoa mai. Trong văn học đại chúng, cũng như văn học Phật giáo, có nhiều bài văn bài thơ cảm tác về mùa xuân thường đề cập đến hoa mai.

Những vần thơ bất hủ, những áng văn trác tuyệt đi vào lòng người thường được nhắc tới, những câu thơ tuyệt bích trong thi ca Thiền học về không gian và thời gian, như bài thi kệ "Cáo tật thị chúng" của Mãn Giác Thiền sư:

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhứt chi mai

tạm dịch:

Xuân đi trăm hoa rơi
Xuân đến trăm hoa nở
Việc đời qua trước mắt
Già theo đến trên đầu
Chớ bảo xuân qua hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai.

***

Thiền sư Mãn Giác (1052 - 1096) họ Nguyễn tên Trường, người xứ Lũng Chiền, làng An Cách, con của Trung Thư Viên Ngoại Lang Hoài Tố, ham học, từ trẻ đã học hỏi nhiều và thông hiểu về Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo, được vua Lý Nhân Tông khen ngợi, triệu vào cung và ban cho tên Hoài Tín. Sau đó xuất gia, thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông, thế hệ thứ 8. Vua Lý Nhân Tông và Hoàng Hậu rất mến trọng sư, cho xây một cảnh chùa cạnh cung Cảnh Hưng để tiện việc tham hỏi về Phật học. Thiền sư mất năm 45 tuổi. Vua ban hiệu là Mãn Giác. Rất tiếc các sáng tác của sư không còn giữ lại, chỉ còn một bài "Cáo tật thị chúng" (Báo bệnh dạy chúng) rất nổi tiếng trong văn đàn Việt Nam.

***

Trước hết, về phương diện văn chương, đây là một trong những bài thơ tuyệt vời, thường được trong giới nhà thiền hay những văn nhân thi sĩ nhắc lại cái hay, cái đẹp của ý tứ thơ vào những độ xuân về.

Về phương diện ý nghĩa:

Bài kệ "Cáo tật thị chúng" của Mãn Giác Thiền sư, làm ra trước khi viên tịch, có ý nhắc các đệ tử rằng: xuân đến thì trăm hoa nở, xuân đi trăm hoa rụng, đó là qui luật tuần hoàn, như thiên nhiên có đến có đi, hoa có nở có tàn, con người có sinh có diệt. Điều này có thể nghiệm thấy qua mái tóc bạc trên đầu, thân thể bệnh tật, chuyện gì rồi cũng qua!

Nhưng, đừng tưởng xuân qua hoa rụng hết, đêm qua, sân trước, vẫn còn nhánh mai. Nghĩa là đừng tưởng con người ra đi là cuộc đời kết thúc. Thực ra, cuộc đời vẫn tiếp diễn theo qui luật thiên nhiên, mọi người vẫn tiếp tục cuộc sống, cây cỏ vẫn tốt tươi trở lại sau mùa đông băng giá: xuân qua, hạ đến, thu sang, đông tàn!

Lời thơ uyên áo, thiền vị, ý nghĩa tuyệt vời! Nhứt chi mai là niềm hi vọng, là cái tốt trên đời không thể mất, là sự tồn tại của các giá trị siêu việt. Người tục hiểu khác người tu, nhưng cả hai đều thấy có cái trường tồn bất diệt chi phối cõi đời này. Đó thiệt là điều đáng quí! Bài thơ quả là một thông điệp rất lạc quan!

Ngoài giá trị thi ca tuyệt tác, bài thơ sáu dòng trên nói lên sở ngộ của một bậc thiền sư. Giữa dòng đời mọi vật đều vô thường, biến đổi: đến đi, nở tàn, ngày đêm, trước sau, vẫn có mặt cái thực tại như thật, cái thực tại luôn hiện hữu cùng với con người, mà con người thường không thấy, hay bị che khuất bởi các tướng sinh diệt.

Thiền sư thì thấy rất rõ: hình ảnh nhánh mai vàng rạng rỡ trước sân của thời điểm xuân tàn.

Không phải chỉ có nhánh mai ở bên ngoài cảnh vật, còn hiện diện một nhánh mai vàng rực rỡ trong tâm thức con người, dù cho tâm trạng phiền não của buổi xuân tàn.

Bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, không gian và thời gian nào, con người cũng có điều kiện mỉm cười ngắm nhìn nhánh mai ấy, mặc cho sóng gió của lịch sử, hay bát phong của cuộc đời, cũng không đủ để dập tắt nụ cười ấy, nụ cười của một bậc thiền sư. Cái sở ngộ thực tại, cái thấy thực tại ấy, khiến hành giả sống rất lạc quan, sống với niềm tin không sinh không diệt trong cuộc sống.

Há đây không phải là một sức mạnh tâm lý phi thường, đánh thức tâm thức con người, trước bao nhiêu cảnh xuân tàn đó hay sao? Đây mới thực sự là điểm sống của bài thơ trên, và là điểm sống của thi ca, văn chương thiền học Việt Nam.

Về phương diện tu học:

Mùa xuân có đến ắt có đi theo qui luật tuần hoàn của thiên nhiên, không vĩnh viễn tồn tại, cũng không vĩnh viễn mất đi, có đi ắt có đến theo vòng sanh tử luân hồi.

Con người cũng không tránh khỏi các qui luật này. Trong vòng sanh tử luân hồi, con người đã bao lần trải qua 4 giai đoạn: sanh, trụ, dị, diệt! Muốn thoát ly được sanh tử luân hồi, người tu theo Phật phải làm sao giác ngộ được bản tâm thanh tịnh bất sanh bất diệt.

Trong cuộc sống, khi tiếp xúc với cảnh trần, tâm con người sanh ra không biết bao nhiêu phiền não khổ đau.

Muốn dẹp bỏ các tâm trạng bất an này, con người cần áp dụng tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả. Khi các vọng tâm phiền não hoàn toàn dứt sạch, con người đạt được cảnh giới vô tâm.

Vô tâm tức là không còn bị các vọng tâm phiền não gây khổ đau nữa, nói cách khác: tức là không còn tâm tham lam, sân hận, si mê, ganh tị, đố kỵ, làm phách, mắc mỏ, ỷ già, ỷ tài, ỷ giàu sang, đang thế lực, lăng xăng lộn xộn.

Khi tất cả những thứ đó rơi rụng hết trơn, ví như xuân tàn hoa lạc tận, thì lúc đó bản tâm thanh tịnh, hay chân tâm, hiển lộ. Chân tâm bình đẳng là con người chân thật. Khi đó, con người  chân thật sống trong an nhiên tự tại của niết bàn.

Nếu như phiền não (tham, sân, si) chưa dứt sạch (hoa tàn chưa rụng hết trơn), làm sao thấy được chân tâm, làm sao thấy được nhứt chi mai? Ví như mặt trời luôn sáng tỏ, nhưng vì bị mây đen (phiền não) che khuất, ánh sáng trí tuệ không tỏ đó thôi! Nếu người nào hiểu được rõ ràng thì phước biết bao! Người nào bớt được phiền não khổ đau, thì người xung quanh cũng đỡ khổ biết bao!

Cho nên kinh sách có câu: vô tâm tức niết bàn, chính là nghĩa đó vậy!

Cũng như Thiền sư Mãn Giác đã nói: hoa rụng hết, tức là các phiền não rụng hết. Khi ấy, tâm thanh tịnh hiện tiền, cũng như một nhánh mai hiện diện nơi sân trước hồi đêm qua. Sân trước, sân sau, đêm qua, đêm nay, ngụ ý chỉ sự đối đãi, sự tương đối, trên đời này: có đúng có sai, có phải có quấy, có sáng có tối, có trước có sau, có chánh có tà, có đen có trắng, có ngày có đêm!

Dù sống trong cảnh đời đối đãi nhị biên như vậy, nhưng nếu con người biết pháp môn tu tập, con người vẫn có thể giác ngộ được cái chân thật bất nhị, không còn thấy có hai, dù không gian, thời gian nào, dù người hay vật, sắc hay không, tượng trưng là: nhứt chi mai!
 


Thiền sư Mãn Giác diễn tả mùa xuân theo thời gian cứ tuần hoàn qua lại, xuân đi rồi xuân lại đến. Sự sự vật vật cũng theo thời gian sanh diệt, đổi thay thay đổi, gọi là cuộc đời vô thường!

Mỗi khi xuân đến thì thấy hoa nở, xuân đi thì thấy hoa rụng. Hoa rụng hoa nở theo thời gian tức là sanh diệt, diệt sanh liên tục không ngừng. Con người cũng cùng chung số phận đó, vì tóc trên mái đầu đã bạc trắng cả rồi!

Như vậy, thời gian chi phối cả vạn vật lẫn con người, không có cái gì tồn tại mãi với thời gian. Tất cả chúng ta rồi đây cũng sẽ tuần tự ra đi, kẻ trước người sau, không ai tránh khỏi!

Người đời thường bi quan trước sự vô thường biến đổi của cuộc đời như vậy, nhưng qua hai câu chót, Thiền sư Mãn Giác kết thúc thật tuyệt vời:

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhứt chi mai.

Thiền sư Mãn Giác nói: chớ bảo xuân qua là hoa rụng hết, vì đêm qua trước sân vẫn còn nhánh mai.

Thông thường, thời gian trôi qua, con người lẫn vạn vật, tất cả đều tàn phai hoại diệt. Nhưng trong khi cái vật chất hữu tướng bị hoại diệt đó, còn có một cái bất diệt, thời gian không hủy hoại được. Cũng như ngay trong thân năm uẩn sanh diệt vô thường của chúng ta, có cái thường hằng bất diệt, biểu trưng bằng một nhánh mai, tồn tại dù xuân đã qua.

Tóm lại, cái tâm suy nghĩ phân biệt, lăng xăng lộn xộn, là tâm duyên theo bóng dáng của trần đời bên ngoài.

Tâm đó sanh diệt tùy duyên, tùy cảnh mà có, không thật. Còn bản tâm hằng tri hằng giác, không đợi nghĩ suy mới có, là tâm chân thật, là bản tâm thanh tịnh, không sanh không diệt.

Bản tâm đó giúp mình, việc đến biết đến, việc đi biết đi. Bản tâm đó không hình không tướng, thênh thang trùm khắp.

Chúng ta thường ngày sống với cái tâm phân biệt hạn hẹp, tốt xấu hơn thua nên gọi là mê, mê lầm. Cái tâm phân biệt thì tùy duyên, duyên tốt thì hành xử tốt, duyên xấu thì hành xử xấu, cho nên tâm trạng sanh diệt, thay đổi luôn luôn.

Nếu người nào sống với cái tâm không sanh diệt trùm khắp thì gọi là giác, giác ngộ! Cái tâm chân thật không phân biệt, không sanh diệt, chính là cái “biết” đó thôi, không biến hoại và thường hằng.
Qua bài kệ trên đây, Thiền sư Mãn Giác nhắc cho đồ đệ cũng như chúng ta biết thân này có sanh ắt phải tử, nhưng trong cái thân sanh tử đó có cái tâm chân thật bất diệt.

Đây chính là cốt tủy của đạo Phật vậy.



NHẤT CHI MAI
Thiền sư Mãn Giác


Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhứt chi mai

***
 
Xuân đi trăm hoa rơi
Xuân đến trăm hoa nở
Việc đời qua trước mắt
Già theo đến trên đầu
Chớ bảo xuân qua hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai.

.

Về Đầu Trang Go down
vandinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: MÙA XUÂN NÓI CHUYỆN HOA MAI   Thu Jan 02, 2014 11:23 am


MÙA XUÂN NÓI CHUYỆN HOA MAI

Tuyết Mai




Hoa mai là loại hoa nở đầu tiên trong mùa Xuân. Nói đến mùa Xuân người ta liền nghĩ đến hoa mai, nói đến hoa mai người ta liền nghĩ đến mùa Xuân. Hoa mai là một trong những loài hoa được ưa chuộng nhất từ trước đến nay.

Có  nhiều loại hoa mai, hầu hết các loại mai đều có năm cánh, hay tám cánh, có loại có nhiều tầng nên có rất nhiều cánh. Nhưng hai loại phổ thông được  nhiều người biết đến là hoa mai vàng (huỳnh hoa) và mai trắng (bạch mai). Mai vàng là hoa mai người ta thường nói tới, nở rộ vào mùa Xuân từ miền Trung vào Miền Nam. Màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng, cao sang, màu của vua chúa. Vào khoảng Tết ta, ra khỏi ngoại ô Saigon, đi về hướng Lái Thiêu, Bình Dương, dọc đường nhà nào cũng có một cội mai già, hoa đua nở đầy cành, vàng rực, đẹp  không thể diễn tả. Loại hoa mai thứ hai là "bạch mai" có màu trắng, cũng có năm cánh hay tám cánh như huỳnh mai, nhưng mai trắng rất hiếm quý và có hương thơm dìu dịu, thanh khiết. Có người gọi mai trắng là "Tuyết Mai", vì tuyết có màu trắng.





Hoa mai không có hương sắc quyến rũ như hoa hồng, cũng không sực nức hương thơm như dạ lý, nhưng hoa mai mỏng mảnh, đính trên cành, trên thân cây gầy guộc, cằn cỗi tạo một nét đẹp tương phản, thật duyên dáng, độc đáo.

Tại Việt Nam có một loại hoa mai gọi là "mai tứ quý". Hoa cũng có năm cánh vàng như huỳnh mai, khi hoa tàn thì năm cánh rụng, năm đài hoa đổi thành màu đỏ, úp lại, ôm lấy nhụy là hạt màu xanh. Hạt lớn dần đẩy năm đài hoa bung ra giống như hoa mai đỏ. Vì vậy mai tứ quý được gọi là "Nhị Độ Mai" tức là hoa mai nở hai lần, lần đầu cánh hoa có màu vàng, lần sau cánh hoa có màu đỏ. Loại hoa này nở quanh năm. 

Ngoài hương sắc và duyên dáng, hoa mai được các nhà Nho và các Thiền sư coi là một biểu tượng của  hai đức tính "Nhẫn" và "Dũng".  Chịu đựng thời tiết khắc nghiệt lạnh lẽo mùa Đông, hoa vẫn kết nụ để là đóa hoa đầu tiên chào đón Xuân. Cảm cái đức hạnh thủy chung, cái khí tiết nhẫn nhục và kiêu dũng đó, mùa Xuân phong cho hoa mai là vua của tất cả các loài hoa khác, có tên  là "Đông Quân". Nhiều nữ sĩ có tên "Mai" lấy bút hiệu là "Đông Quân" cũng từ điển tích này.

Từ nét duyên dáng, thuần khiết bên ngoài cho đến tính khí đức hạnh, kiêu dũng bên trong, hoa mai được người Trung Hoa tôn vinh là "quốc hoa". Các nhà Nho và các Thiền sư Trung Hoa cũng như Việt Nam luôn coi hoa mai là một tấm gương, một biểu tượng của vẻ đẹp vẹn toàn, "bách  hoa khôi". Họ đem ghép hoa mai với "tùng" và "trúc" thành một bộ ba "Tam Hữu". Cây tùng tượng trưng cho trượng phu, cứng cõi, ngay thẳng; cây trúc tượng trưng cho sự kiên nhẫn, rộng lượng và hoa mai được gọi là "ngự sử mai" tượng trưng cho sự hiểu biết và nét đẹp vẹn toàn. Người xưa rất quý "tam hữu". 




Trong Hội Thơ Tao Đàn, vua Lê Thánh Tông có bài thơ "Mai Thụ" (Cội mai) như sau:

"Trội cành nam chiếm một chồi
Tin Xuân mãi mãi điểm cây mai
Tinh thân sáng, thuở trăng tĩnh
Cốt cách Đông khi gió thôi (ngừng)
Tiết cứng trượng phu, thông (tùng) ấy bạn
Nết trong quân tử, trúc là đôi (sánh đôi)
Nhà truyền (thống) thanh bạch dăng từng khối
Phỉ xứng danh thơm đệ nhất thời!"

Ngoài ra hoa mai cũng được ghép với lan, cúc, trúc,  thành bộ "tứ quý", tức là bốn loại hoa, kiểng quý, tượng trưng của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.  

Cụ Chu Thần, Cao Bá Quát là một nho sĩ kiệt liệt, một tài năng văn chương lỗi lạc, một đại anh hùng thế thiên hành đạo, suốt quãng đời bôn ba khắp chốn cầu cổ kiếm để xây dựng sự nghiệp bá vương, cụ không gặp bậc chính nhân quân tử nào có cốt cách như "mai ngự sử", vì vậy cụ đã làm hai câu thơ:

"Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái hoa mai"

Có nghĩa là:

"Mười năm xuôi ngược giao du cốt tìm thanh kiếm cổ
Một đời chỉ cúi đầu vái lạy trước hoa mai".

Cụ Chu Thần, Cao bá Quát đã hết lời xưng tụng "bách hoa khôi". Cụ cũng có bốn câu thơ "Trồng mai" được dịch ra như sau:

"Đầu non nắm hạt mai gieo
Giống thanh gửi chốn núi đèo xanh tươi
Nữa mai xuân điểm bầu trời
Bức tranh tuyệt tác cho đời ngắm chung".

Được bái lạy như vậy, hoa mai quả là một loài  hoa rất quý?




Hoa mai đã gợi nhiều cảm hứng cho thi nhân, nên ảnh hưởng rất lớn trong văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Lý Bạch làm thơ:

"Ngồi trên lầu  Hoàng Hạc, nghe tiếng sáo thổi
Giữa tháng năm, chợt vang khúc "hoa mai rơi" ở chốn Giang thành"

Nguyễn Trãi, vị khai quốc công thần nhà Hậu Lê yêu hoa mai vì:

"Yêu mai, yêu tuyết bởi vì đâu?
Vì tuyết trắng, mai thơ và tinh khiết"

Trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du có rất nhiều câu thơ  nói về hoa mai.

"Thướt tha vóc liễu Xuân đầy
Cành mai xa bẻ ngất ngây ý sầu
Biết chàng lòng có thương sâu
Chúa Xuân ngán nỗi chờ lâu mỏi mòn"

Nhiều Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam đã dùng hoa mai làm ẩn dụ cho sự hạnh phúc, niềm vui  giác ngộ trong những bài kệ để truyền dạy Phật pháp cho Phật tử, cho hậu thế. Bài kệ về "Mùa Xuân Hoa Mai" của Thiền Sư Mãn Giác được phổ biến rộng rãi trong giới Phật tử:

"Xuân đi trăm  hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai"

Bài thơ có nghĩa là, cuộc đời là một dòng  sinh diệt, vô thường, biến chuyển theo thời gian và không gian. Xuân đến rồi Xuân đi, hoa cười rồi hoa rụng… là lẽ đương nhiên của vũ trụ, hễ có sinh thì có diệt. Nhưng trong sự sinh diệt của vũ trụ vẫn còn có một cái không sinh diệt đó là Phật tánh, là chân tâm, chân như. Nếu chúng ta luôn tu tập, Phật tánh đó giúp ta có được cuộc sống an lành, hạnh phúc. Tâm  an bình gọi là Tâm Xuân, trong tâm Xuân, cành mai (biểu tượng của hạnh phúc) sẽ còn mãi mãi, không tàn, không rụng. Cần gì phải chờ đến mùa Xuân mới có hoa mai? Hoa nở rồi hoa cũng tàn. Chỉ có cành mai trong tâm Xuân là  tồn tại mãi mãi, ngoài dòng sinh diệt, vô thường, bể dâu của vũ trụ.

Từ ngày lưu lạc tha hương, những thi sĩ hải ngoại luôn mang theo trong tâm tưởng những hoài niệm dấu yêu về một mùa Xuân êm đềm nơi quê cũ. Nhà thơ Nguyễn Vô Cùng thương xót cội mai già:

"Xót cội mai khô, bình rạn vỡ
Thương cành Xuân héo, dạ đầy vơi
Khói hương tàn lạnh từ Xuân ấy
Mà quyện tim ai mãi cuối đời"





Trong khu vườn hoài niệm đó có tang tóc, đổ vỡ, chia ly, bom đạn… Nhà thơ Nguyễn Vô Cùng viết:

"Mùa Xuân này em có về quê mẹ
Thăm dùm anh vườn cũ có còn xanh
Tới gốc mai từng trúng đạn bao lần
Xem có nở nụ hoa nào kịp Tết"

Nhà thơ Đăng Nguyên diễn tả mùa Xuân ở Huế tuyệt đẹp với mai vàng, mai trắng:

"Xuân nào đẹp hơn Xuân Huế
Mai vàng, mai trắng hương xưa
Em cười tươi như hoa ngọc
Thơ ơi! Thương mấy cho vừa
Bao giờ mùa Xuân trở lại
Bao giờ non nước đơm hoa!"
(Nhung nhớ vườn Xuân)
 
Làm thân viễn khách trên miền đất lạ, nhà thơ Phan Khâm luôn thiết tha  nhớ về cố quận,  hồi tưởng lại cảnh mai vàng nở rộ trên đường quê:

"Mùa Xuân  nào mình về thăm Cam Lộ
Ghé chợ Phiên đầy bắp đậu sắn khoai
Đường nhà em còn hoa vàng nở rộ
Mít ổi trong vườn chín cho ai?"

Một lần nữa Xuân lại về trên đất khách, nếu chúng ta  may mắn có được một cành mai để chưng trong nhà ngày Tết thì nét diễm kiều thanh tú của hoa mai cũng không đem lại cho chúng ta niềm vui Xuân rội rã như những mùa Xuân kỷ niệm êm đẹp  quê nhà. Xuân đến rồi xuân cũng đi, mai nở rồi mai cũng tàn, thôi thì chúng ta hãy vun xới mảnh vườn tâm trong ta, biến vườn tâm thành vuờn Xuân tuyệt  đẹp của thế gian. Trong Tâm Xuân luôn có những cành mai.

TUYẾT MAI
(theo Thư Viện Hoa Sen)



.
Về Đầu Trang Go down
leminh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: NHÂN NGÀY ĐẦU XUÂN, BÀN PHIẾM VỀ: MAI   Sat Jan 04, 2014 6:45 pm


NHÂN NGÀY ĐẦU XUÂN, BÀN PHIẾM VỀ: MAI

Sao Khuê




 
Thiền sư Mãn Giác có một bài thơ nổi tiếng làm khi ngài bị bệnh: 
    
Cáo tật thị chứng

     Xuân khứ bách hoa lạc
     Xuân đáo bách hoa khai
     Sự dục nhãn tiền quá
     Lão tòng đầu thưong lai
     Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
     Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Bài thơ đã được dịch là:
                     
     Có bệnh báo mọi người

     Xuân đi trăm hoa rụng
     Xuân tới trăm hoa nở
     Trước mắt việc đi mãi
     Trên đầu già đến rồi
     Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
     Đêm qua hiên trước một cành mai.

Lại cũng có một bài thơ cổ khác nói về một cành mai (nhất chi mai), đặc biệt bài thơ này chỉ có mười chữ làm thành ' Vị tình lai ký nhất chi mai hưũ biệt hoài ' có nghiã là ' Vì tình gửi tới một cành mai tỏ nhớ nhung' mà có thể xếp thành bài thơ tứ tuyệt là:

     Vị tình lai ký nhất chi mai
     Ký nhất chi mai hữu biệt hoài
     Hoài biệt hữu mai chi nhất ký
     Mai chi nhất ký vị tình lai

Sao Khuê xin dịch là:

     Vì tình gửi tới một cành mai
     Gởi tới cành mai tỏ nhớ hoài
     Nhớ hoài một cành mai gởi tới
     Cành mai gởi tới tỏ tình ai.





Qua hai bài thơ trên thì MAI là hoa mai, loài hoa thường chỉ nở và được nhắc đến khi xuân về. Hồi xưa, có nhiều người quá bận công kia chuyện nọ mà quên cả thời gian 'đồn anh đóng bên rừng mai nếu mai không nở anh đâu biết xuân về hay chưa....' vâỵ thì xuân về, mai nở và mai nở xuân về, có xuân là có mai. Những cành mai xum xuê hoa vàng rực rỡ nở ở góc vườn báo hiệu xuân về nên ngày còn ở Việt nam, nhà nào có mảnh vườn cũng ráng trồng cây mai để mỗi năm xuân về Tết đến đón xuân; nhà nào không có vườn thì dù giầu hay nghèo cũng ráng mua lấy cành mai về chưng ngày Tết, vì mai, phát âm theo giọng người miền Nam đồng âm với may-may mắn –và chẳng ai bảo ai, mọi người đều tin hoa mai đem lại may mắn, thịnh vượng cho năm mới.

Mai trồng và mọc ở miền nam VN để đón xuân thường có màu vàng rực rỡ mà mọi người đều gọi tắt là hoa mai. Hoa mai hay hoàng mai (mai vàng) có tên khoa học là Ochna integerrima, họ Ochnaceae, thường chỉ có sắc vàng mà không có hương, tuy vậy hoàng mai ở Huế lại có mùi thơm thoang thoảng.

Hoa mai còn có màu trắng, nhị cũng vàng gọi là bạch mai, còn rất ít ở miền Nam, có mùi thơm thoang thoảng, có lẽ ngày xưa mọc rất nhiều ở khu đồn Bạch Mai hay khu nhà thương Bạch Mai ở Hà nội

     Trung hiếu vẹn tròn hai khối ngọc
     Thanh cao phô trắng một cành mai
    (Tản Đà)

Trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du có câu:

     Thiền trà cạn nước hồng mai
     Thong dong nối gót thư trai cùng về.

theo đó hồng mai là một loại cây trà trên núi, sắc đỏ lợt, lá nhỏ hơn lá trà Tàu, hoa nở từ tháng chạp đến tháng hai, đồng thời với hoa mai nên gọi là trà mai hay hồng mai. Cũng có sách cho là nước sắc của gỗ cây mai già có mầu đỏ hồng nên gọi là hồng mai.

Thủy mai có hoa màu trắng phơn phớt tím, thoang thoảng mùi thơm, khi trồng gần nước thì cây hoa ngả mình về phía mặt nước và đơm hoa nhiều hơn nên còn gọi là mai chiếu thủy. Thủy mai thân nhỏ không thể cắt cành để cắm nên khi trồng phải trồng nguyên cây trong chậu.





Nhiều người cũng thích trồng mai tứ quí, loại này cũng trồng nguyên cây chứ không cắt cành để cắm. Gọi là tứ quí ví mai nở cả bốn mùa, hoa màu vàng nở vào buổi sáng, đến chiều thì cánh hoa rụng xuống, đài hoa khép lại rồi vài ngày sau lại nở ra, đài hoa lúc đó thành cánh hoa màu đỏ sẫm và nhị hoa trở thành những hạt hoa có mầu xanh khi còn non và mầu đen khi đã già; hạt đen này rụng xuống đất lại mọc cho cây hoa mai mới. Mai tứ quí không có hương và ít hoa nhưng nhiều người ưa trồng vì có hoa quanh năm và hoa lại nở hai lần với hai mầu khác nhau. Muốn có hoa nhiều cũng phải tỉa lá như mai vàng.

Mai khôi hoa lại là một loại hoa hồng còn gọi là mân côi hay mai khôi có sách nói là để ướp hương cho trà hồng mai.
         
Mai tơ hay mai đào (tên Hán là kim lâu mai) tên Pháp là Hamamélis, tên khoa học là Hamamélis mollis thuộc họ Hamamelidaceae.

Mai cũng còn là cây mơ (prunus mume), người Hoa gọi là mai, thuộc họ Rosaceae đầu xuân nở hoa, có hai thứ trắng và đỏ. Thứ trắng gọi là lục ngạc mai, nở hết hoa rồi mới nẩy lá, quả chua, chín thì vàng; các vùng đông nam Trung Quốc gần biển, đầu muà hè đổi gió hay mưa vừa lúc mơ chín nên lúc này gọi là mai tiết (mùa mơ chín). Khi xưa Tào Tháo đã gạt quân sĩ là trước mắt có rừng mai (mơ) để giúp đoàn quân tưởng tượng đến vị chua của quả mơ rồi chảy nước miếng mà quên cơn khát. Trong Kiều của Nguyễn Du cũng có câu 'quả mai ba bẩy đang vừa' chỉ quả mơ. Nguyễn Bính cũng có bài thơ  'thơ thẩn rừng mơ cô hái mơ...'

Hoa mai được coi là một trong tứ quí: mai, lan, cúc, trúc.

Trường nữ trung học Gia Long ở Sàigòn ngày xưa đã chọn đóa mai vàng làm phù hiệu gắn trên áo cho các nữ sinh vì hoa mai chẳng những tượng trưng cho muà xuân tươi trẻ cuả tuổi học trò mà mai còn hàm nghiã 'mai cốt cách tuyết tinh thần' chỉ cốt cách thanh cao của loài hoa được tôn là quân tử chi hoa và tinh thần thì trắng tinh như tuyết. 'Mai cốt cách' (tuyết tinh thần)   là dáng người thanh quí như hoa mai nhưng dù người ta bảo 'yếu như liễu, gầy như mai, trắng như tuyết...' thì người mang tên Mai thường có xương cốt thuộc loại cao lớn tuy không mập mạp chứ thực sự ít ai có cái 'nét buồn như cúc điệu gầy như mai '.

Cao Bá Quát, một thi sĩ bất khuất, tài danh, đã ngả bút chê thơ của các vương hầu ở đất Thần Kinh là có mùi nước mắm: 'ngán thay cái mũi vô duyên, câu thơ Thi Xã con thuyền Nghệ An` nhưng lại chịu một đời cúi đầu trước hoa mai 'nhất sinh đê thủ bái hoa mai’, không hiểu nhà thơ cách mạng này cúi đầu trước đóa hoa mai hay cúi đầu trước một người đẹp nào đó có tên là Mai vì Mai thường dùng để đặt tên cho cả con trai lẫn con gái, nhất là con gái: Hoàng Mai, Bạch Mai, Thủy Mai, Thúy Mai, Diễm Mai, Huỳnh Mai, Quỳnh Mai, Liễu Mai, Như Mai, Ngọc Mai, Yến Mai, Tuý Mai v..v.. Tuy vậy quí vị chớ có đặt tên con là Dương Mai kẻo có người lại liên tưởng đến bệnh dương mai (giang mai) là một bệnh phong tình mà người ta nghi là do Dương Quí Phi (Dương Quí phi tên là Mai) mà ra.  

Mai chẳng những dùng để đặt tên mà còn dùng làm họ cho nhiều người (Mai Thúc Loan tức Mai hắc Đế).
 
Quí vị nào mang tên là Mai nên nhớ rằng ngơài ý nghĩa là một loài hoa, mai còn có nghĩa là một loại ngọc tốt (mai khôi). 

Mai quế lộ là tên một loại rượu của Tàu có nghĩa là sương hoa mai và hoa quế.

Mai còn là cây bương. Bương là một loại tre rừng (tre mạnh tông, giang hay nứa) họ Poaceae, có thân to dùng làm côt nhà được. Cây bương khi già có hoa giông như bông lau thường được bó lại, dùng làm chổi để quét gọi là chổi bông mai. Măng của cây bương to và mập gọi là măng mai như trong bài Lính thú:

             ...Ngang lưng thì thắt bao vàng,
                Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài.
                Một tay thì cắp hỏa mai,
                Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền.
                Thùng thùng trống đánh ngũ liên,
                Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa.
                Ba năm trấn thủ lưu đồn,
                Ngày thời canh điếm, tối dồn việc quan.
                Chém tre đẵn gỗ trên ngàn,
                Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai!
                Miệng ăn măng trúc măng mai,
                Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng!
                Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng...



Mai (cây bương) và Trúc (cây trúc) có những đốt thẳng (đốt theo chữ Hán là tiết, chữ tiết nghĩa là đốt cũng có nghiã là lòng dạ, tiết tháo) nên trúc mai chỉ người có lòng dạ ngay thẳng, suốt đời không thay lòng đổi dạ và không quanh co nên trúc mai chỉ người bạn tình chung thủy:

     Trúc nhớ mai, mai về nhớ trúc
     Trúc về rồi, mai nhớ trúc không?
     Bây giờ kẻ bắc người đông
     Kể sao cho hết tấm lòng tương tư.

     hay như trong Kiều của Nguyễn Du:

     Hồn còn mang nặng lời thề
     Nát thân bồ liễu đền ghì trúc mai...

Từ đó mai còn có nghĩa là mai mối. Chuyện kể có một giống trúc mọc bên đầm 'Đố phụ đàm' (đầm đánh đố được vợ) vì ngày xưa có hai trẻ trai gái lúc còn nhỏ chơi vơí nhau rất thân thiết, sợ lớn lên phải xa nhau nên lấy một lóng trúc chẻ làm hai, cầm mỗi người một nưả quăng xuống đầm mà nguyền rằng nếu hai nửa đó kết lại làm một thì sau này được nên duyên chồng vợ... Hai mảnh trúc trôi xuôi rồi kết lại vơí nhau và hai cô cậu thì sau này nên duyên chồng vợ; giống trúc mọc bên bờ đầm này mang tên là mai trúc nên người làm mai cho hai bên nên vợ nên chồng gọi là ông mai hay bà mai (... nhưng em chưa lấy ai, vì thày bảo bà mai, rằng em còn nhỏ lắm, ý đợi người tài trai...).


Làm mai là một việc ngu nhất vì sau khi người ta nên vợ nên chồng thì những lúc cơm không lành canh không ngọt, ông bà mai thường bị đem ra trách móc nên có câu rằng:  

     Ở đời có bốn cái ngu
     Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu.
 
Mai còn là cái 'lưng' của con rùa (mai rùa), con cua, con còn, con ghẹ.

Hàm mai là cái khớp miệng ngựa để cho ngựa không kêu khi cưỡi ngựa đi đêm, muốn giữ bí mật (như vua Quang Trung trong chiến dịch đại phá quân Thanh thì ngựa phải tháo nhạc, đóng hàm (hàm mai) và người phải ngậm tăm (theo Đào duy Anh).

Mai còn nghĩa là chôn, là dấu như mai một (chôn mất đi), mai danh ẩn tích (chôn tên, dấu tung tích tức là đi ẩn), mai cốt bất mai danh (chôn xương không chôn tiếng), mai đầu (chuí đầu mà học, không lý gì đến việc khác), mai táng (chôn người chết), mai u (chôn cái buồn xuống đất), mai tàng (chôn dấu cho biến đi), mai ngọc trầm châu (chôn ngọc xuống đất và làm chìm châu dưới nước ý nói người con gái đẹp tạ thế), mai ngọc thụ (chôn cây ngọc, ý nói người hiền chết thật đáng tiếc), mai phục (quân lính núp sẵn để đánh úp).

Vì mai là chôn nên một dụng cụ đào đất có tên là cái mai (một mai, một cuốc, một cần câu...).

Theo chữ Hán, mai còn là cái mốc từ chữ mai là mốc hay là bụi bay mù khi có gió to.

Mai cũng có nghĩa là từng cái, từng chiếc, một cái thẻ, một thân cây.

Mai còn dùng để chỉ thời gian. Ngày mai là ngày sau ngày hôm nay. Mai kia mốt nọ hay mai sau là một ngày mai nào đó trong tương lai:  
     
     Mai sau dù có bao giờ
     Đốt lò hương ấy so tơ phím này                
    (Kiều)





Trong chuyện 'Nửa chừng xuân' của Khái Hưng, cụ Hàn Thanh tán tỉnh và đòì cưới cô Mai, con gái người bạn học cũ là cụ Tú Ninh Bắc; cụ Hàn Thanh đã rất thú vị tìm ra câu hẹn hò 'vậy mai, Mai nhé'.
 
Sao Khuê cũng có một người bạn biết lợi dụng chữ mai lắm nghĩa này mà làm bốn câu thơ:

     Ngày 'mai' không trở lại
     Lòng chôn dưới vực sâu
     Gửi gió lời trăn trối
     Giã từ cuộc tình sầu...

Vì 'mai' không trở lại nên cuộc tình sầu, nhưng nếu cưới được 'mai' làm vợ thì sẽ sinh con 'hạc': mai thê, hạc tử, lúc đó đời sống thật sự là tiêu dao nơi núi ngàn, mây nội, thong dong... không nhà (homeless) có rừng mai làm vợ và có chim hạc làm con...

Trong thơ văn, 'mai' cũng đem lại nhiều cảm hứng để dệt nên những vần thơ, nốt nhạc về mai. Những áng văn, thi tập có tên mai như 'Nhị đô mai', 'Mai đình mộng ký', 'Mai am thi tập', 'Vịnh lĩnh mai ' v.v. và vì có xuân là có mai hay có mai là có xuân nên bià báo xuân, thiệp xuân có hình hoa mai nở tưng bừng màu vàng rực rỡ. 

Sống ở ngoại quốc, nhiều người vẫn đi tìm lại hương xưa bằng cách gây lại những chậu mai vàng hay mai tứ quí. Ở Mỹ và Canada, khi xuân về cũng có mai vàng rực rỡ nhưng là mai... Mỹ.

Đó là cây Fortysia, tức cây Liên kiều cho hoa màu vàng như hoa mai nhưng cánh nhọn chứ không tròn, theo thiển ý thì không đẹp bằng hoa mai vàng dù về mùa xuân Fortysia cũng kết nụ đơm bông vàng rực rỡ nhìn xa cũng giống như mai vàng, khi hoa tàn thì mới ra lá giống như mai.

Mai được người Trung Quốc trân quí vì mai chịu lạnh mùa đông mà đơm hoa mang cái đẹp đến cho người nên nhiều người không quản ngại mà 'đạp tuyết tầm mai’

Người Việt mình chuộng hoa mai vì hoa đẹp, đem lại may mắn (do đọc chại mai là may):

     Em như tố nữ trong tranh
     Anh như ngọn bút chấm cành hoa mai

hay:
     Canh ba sương nhuộm cành mai
     Bóng trăng em ngỡ bóng ai mơ màng.
 
Mai được trồng trong vườn và mai cũng mọc trong rừng nên mai làm bạn với mọi người từ lúc còn trẻ thơ, lúc trưởng thành vào mỗi độ xuân về và ngay cả những người rút chân khỏi vòng danh lợi mà 'nghêu ngao vui thú sơn hà' vẫn có 'mai là bạn cũ, hạc là người quen'...





Về Đầu Trang Go down
bhtran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Hoa vàng mấy độ… - Hoàng Phố   Tue Jan 07, 2014 3:21 pm


Hoa vàng mấy độ…

Hoàng Phố




Khi những tiếng pháo rộn rã trong đêm giao thừa vang lên để chào đón tết dương lịch năm 2010 vừa im tiếng, thì những người Việt tha hương nói riêng, và những sắc dân Á châu khác như người Trung Hoa nói chung, đang cư ngụ ở vùng vịnh, đã bắt đầu chuẩn bị để đón tết ta trong cái không khí rộn ràng, nao nức. Năm Canh Dần, một năm mới bắt đầu cho một thập niên mới với những…kế hoạch quy mô, hoành tráng…  hơn mọi năm qua, vì năm nay, ngày mùng một tết rơi… đúng vào ngày chúa nhật. Không có gì hạnh phúc hơn được cùng gia đình chung vui trong đêm ba mươi tết với bữa tiệc tất niên, và biết rằng mình sẽ không phải sửa soạn để đi… cày vào buổi sáng hôm sau. Đồng thời cũng biết rất rõ rằng, sẽ không có cái lò bánh tét và bếp lửa hồng bập bùng, réo rắt như những cái tết đã rất xa xưa. Dĩ nhiên, mọi người đều có thể lấy những ngày nghỉ phép để có nhiều thời gian với gia đình, nhưng sẽ có một số đông không nghỉ được, vì vậy niềm vui hình như cũng không được trọn vẹn như tất cả đều mong muốn. Cứ tưởng tượng mọi người đều ở nhà, ngay cả những cư dân địa phương cũng không đi làm, cho tôi cái cảm giác rằng… đất nước  Hoa Kỳ  đều nghỉ để… ăn tết âm lịch, thì niềm hạnh phúc đã nhân lên gấp bội, cho dù sự thật họ không hề tha thiết đến và cũng chẳng biết gì nhiều về phong tục của cái tết ta. Đối với người dân bản xứ, đây là một cuối tuần đặc biệt hơn mọi tuần lễ khác. Họ vui vẻ, chuẩn bị đi mua sắm quà cáp cho người yêu, cho chồng hoặc vợ, rồi sau đó là những bữa ăn tối đầy lãng mạn của ngày valentine. Họ hưởng thụ một cuối tuần dài hơn bình thường vì thứ hai là ngày lễ.

California một vài tuần qua đã đắm mình dưới những cơn bão khá lớn. Mưa giăng mịt mù, gió thổi khắp nơi nhưng cũng không ngăn cản được dòng người đi chợ tết. Những siêu thị á châu tưng bừng rộn rịp đầy màu sắc với nhiều loại  bánh mứt. Có những giỏ quà tết được gói thật đẹp trong bao giấy gương màu đỏ in hình những cánh mai vàng rực rỡ xinh tươi, đầy đủ với những hộp trà, mức, bánh tét và không quên kèm theo một bọc bao lì xì đỏ cho đủ bộ. Bánh, mứt, trà thơm, bánh tét hay bánh chưng tuy không phải là những món hàng xa xỉ mà phải đợi đến ngày tết mới biếu tặng cho những người thân, nhưng nó nói lên một phong tục, tập quán cổ truyền đã có từ ngàn xưa, nhắc nhở cho mọi người biết rằng nguyên đán đã sắp về rồi. Những gian hàng trái cây ngất ngưởng đủ màu, nằm ngay ở lối đi vào siêu thị như mời mọc, và nhất là dừa tươi, đu đủ, mãng cầu và xoài thì không thể thiếu. Mọi người đều mong trong năm mới chỉ... vừa đủ xài… là vui lắm rồi, một câu nói nghe rất quen tai ở khắp mọi nơi mỗi độ xuân về. Vì cái tập tục… dễ thương này, nên má tôi đã phải ngược xuôi, chen chân vào những ngôi chợ khác nhau trong dòng người đông đúc, để tìm mua cho bằng được những loại trái cây ấy. Bà sửa soạn cho mỗi gia đình anh, chị và em chúng tôi đầy đủ một mâm trái cây… vừa đủ xài… trong ngày tết mở ngọ đầu năm, để tặng cho các con, các cháu. Phong tục này bà đã mang theo cả cuộc đời mình từ mấy thập niên qua, với hy vọng chúng tôi luôn luôn được đầy đủ, ấm no trong cuộc sống. Bên cạnh hàng cam và bưởi, là những thùng quít to, vàng cùng với những trái táo đỏ nổi bật giữa màu xanh của dưa hấu, như đang khoe khoang sự tươi tốt của mình.

Trong khi những siêu thị địa phương tràn ngập những bó hoa hồng nhung và cẩm chướng, những cái bong bóng đỏ hình trái tim, những hộp kẹo chocolate mời mọc, để chuẩn bị cho ngày lễ tình nhân, thì những siêu thị và thương xá á đông cũng... mịt trời với những chậu lan đủ loại nhiều màu sắc, cùng với những chậu đại cúc, hoàng cúc, anh đào và huệ. Tôi cũng hoà mình trong dòng người đi sắm tết giữa chợ hoa, hối hả sau những buổi đi làm về dưới những cơn mưa như thác đổ, hy vọng sẽ tìm được cho mình những cây quất xanh đầy những trái nặng trĩu trên cành, để rồi thất vọng vì không có được một chậu nào vừa ý, cho nên đành phải... xài lại những chậu quất năm ngoái, dù bây giờ chỉ còn thưa thớt những trái vàng nho nhỏ nhưng cũng khá xinh. Tuy nhiên, sự thiếu sót đó cũng không làm giảm đi cái không khí ngày tết trong gia đình, khi có sự hiện diện của những đòn bánh tét, bánh chưng bên cạnh lọ dưa món trông rất hấp dẫn, cùng với những cành hồng đào tươi tắn đầy những búp non, hứa hẹn sẽ nở rộ vào ngày mùng một tết.

Thời tiết trong những ngày cuối của năm âm lịch dường như ấm hơn với những tia nắng vàng rực rỡ. Sau những cơn mưa, thành phố mang một sắc thái trong sáng hơn với những đồi cỏ và hàng cây xanh thẫm đầy sức sống. Mặt trời thức dậy sau những ngày lười biếng để mang đến những cơn nắng dịu dàng cho nhân loại chuẩn bị đón xuân. Sau bao nhiêu ngày … xuôi ngược, dọn dẹp, tất bật, trang hoàng nhà cửa để đón mừng năm mới, tết rồi cũng đến. Tràng pháo nổ dòn giữa đêm ba mươi ở chùa DV làm cho những người dân địa phương nhốn nháo. Khói tung bay đầy trời, dòng người đến chùa trẩy hội như nước chảy ào ạt trên đường lộ lớn, đánh thức con phố đang chuẩn bị ru mình đi vào giấc ngủ. Đêm giao thừa tôi nằm lắng nghe những tiếng pháo đì đùng vang vọng từ xa rồi thấy thật nhớ thật nhiều đến những cái tết ở quê hương, những năm tháng của thời nhỏ dại, chỉ mong sao cho thời gian lướt qua nhanh cho tết đến, để có được tiền lì xì, để đi chơi với bạn bè và để có cơ hội tập làm… điệu với quần áo mới. Vậy mà hôm nay, nhìn lại mình, chỉ một thoáng thôi, hai phần tư thế kỷ đã trôi qua, tôi đã đi một nửa đoạn đường đời. Cho nên, dù tất cả mọi thứ được đều chưng bày như nhau, nhưng sẽ chẳng bao giờ tôi tìm lại được cái cảm giác chờ đợi, nôn nao của thời khắc thiêng liêng của đêm trừ tịch như những cái tết xa xưa. Tôi bước xuống nhà, ngồi một mình im lặng trong phòng khách, ngắm nhìn những cành anh đào mơn mởn đã được cẩn thận cắm vào trong cái bình lớn, và những phong bì đỏ đã được treo lên, chậu cúc vàng tươi, cành lan đỏ thắm, rồi để cho tâm tư mình quay về với những kỷ niệm đã thật xa. Ba mươi cái tết tha hương đã có những ngày xuân đi qua không hề hay biết. Tết đến chỉ để nhắc nhở mình vừa được thêm một tuổi, cộng thêm 365 ngày, hay mười hai tháng nữa của thời gian vừa chồng chất trên vai. Những cái tết chỉ thấy bóng dáng của mùa xuân, nhưng không tìm được thi vị của ý xuân. Tôi trở về phòng, cố dỗ dành giấc ngủ, chuẩn bị cho ngày mùng một tết, một ngày bận rộn nhất trong năm. Trong căn nhà này,  ngày mai, sẽ tràn ngập những tiếng cười dòn như những tràng pháo đỏ. Các con và các cháu tôi sẽ vui lắm với những phong bì lì xì đủ kiểu nhìn đẹp mắt, và đây là một tục lệ mà chúng thích nhất khi nguyên đán trở về…

xuân đáo hoa khai sắc mặn mà,
tân niên hỷ lạc tại Lữ gia…
(mừng xuân Canh Dần)

và…
rộn rã tiếng cười như… pháo tết,
bao lì xì đỏ tặng cả nhà…
(mừng xuân Mậu Tý)




Sang ngày mùng hai, tôi vẫn còn nghĩ lễ… tổng thống, nên quyết định làm một chuyến… du xuân mặc dầu hội chợ tết đã bế mạc từ tối hôm qua, sau hai ngày tưng bừng khai mạc với nhiều tiết mục. Tôi lang thang đi vào Oak Hill để thăm bà nội của tôi. Ngày xưa năm nào cũng vậy, hướng đi xuất hành của tôi là đến nhà bà để chúc tuổi cho bà. Bây giờ tôi vẫn giữ thói quen như vậy, chỉ có một điều khác hơn là tôi chỉ nhìn thấy nụ cười và lời chúc của bà trong ký ức. Tôi sẽ mừng tuổi bà với nén nhang thơm thay vì cái phong bì đỏ. Mấy năm nay, tôi đã đổi hướng… xuất hành mà không cần có sự tham khảo của các nhà báo… tử vi.

Khung cảnh nơi đây rực rỡ hơn mọi ngày với những bình hoa tươi và nhiều bóng bóng, nổi bật trên những thảm cỏ xanh ngát được cắt tỉa gọn gàng và đẹp mắt.  Trong khu vực phương đông dành riêng cho người Á Châu, nhà nào cũng được sửa soạn tươm tất, lau chùi sạch sẽ với nền đá mài bóng loáng bên cạnh những dĩa trái cây tươi. Mùi trầm hương của nhang vẫn còn thoang thoảng trong làn gió sớm. Xa xa, cũng có những người đi viếng mộ, đi thăm lại những tình thân đã có trong một khoảng nào đó của cuộc đời. Có những đứa trẻ xúng xính trong những chiếc áo dài cổ truyền Việt Nam, với khăn đóng, hài nhung, cùng gia đình đi viếng mộ, tung tăng cất những tiếng cười trong suốt, hồn nhiên. Có đứa… vất vả khi thắp những nén hương thơm trên nền đất như một lời chào hỏi, và hy vọng người nằm bên dưới sẽ lắng nghe.

Mới đó mà đã năm năm rồi bà tôi về yên ổn ở nơi đây. Đi giữa cái thành phố nhỏ nhắn, tráng lệ này, tôi vẫn tò mò tìm đọc tên tuổi của những người hàng xóm láng giềng của bà.
   
Có người ra đi khi còn rất trẻ, nhìn những tấm hình với nụ cười tươi,  phản chiếu trên những tấm đá mài được đã được xây cất rất đẹp này, không thể hình dung được họ đang… suy nghĩ gì về cuộc đời họ đã đi qua. Việc gì cũng có điểm khởi đầu và nơi kết thúc, nên thân phận con người cũng không thoát ra khỏi cái định luật ấy. Và cũng như tất cả những người thân khác, tôi mong bà đã về đến được nơi chốn bình an.

Nắng sớm dịu dàng nhưng không đủ mang lại hơi ấm giữa những cơn gió mùa đông, tuy hứa hẹn sẽ là một ngày nắng đẹp. Tôi quấn lại khăn và thong thả đi dạo chung quanh. Những suy tư về con người và kiếp sống bao giờ cũng nằm đâu đó trong ký ức của tôi, như một người bạn đồng hành không buông bỏ. Tôi đưa mắt nhìn xa hơn, chỉ có một cái hàng rào ngăn cách thế giới đang luân chuyển ngoài kia với một tốc độ quay cuồng, và sự thầm lặng, tịch mịch nơi đây. Tôi thắc mắc khi cái vòng quay này dừng lại, thì những định mệnh về thân phận của con người trên thế giới hôm nay sẽ ra sao, rồi cảm thấy tự buồn cười cho sự ngớ ngẩn của chính mình.

Những con người nằm đây, đã có ít nhất một lần đi đến nơi này, như những chuyến xe của cuộc đời đến lúc phải dừng lại, bỏ lại sau lưng những chiếc xe đã không còn sử dụng được nữa theo cái định luật đào thải của đất trời. Họ từ giã và buông bỏ lại những …phế liệu đã có một thời trau chuốt, nâng niu…

gởi lại đây những hình hài,
một thời lược dắt trâm cài điểm trang,
một thời oanh liệt hiên ngang,
một thời danh tiếng còn vang hồng trần…
(quạnh hiu…  May, 2006)

… rồi hy vọng một ngày nào đó sẽ được… trở lại, với một kiếp sống khác tươi đẹp, hạnh phúc hơn, một thân, tâm hoàn hảo hơn với những gì mình đã có trong tiền kiếp, và cứ như vậy, tuần tự tiếp diễn với quy luật thành, trụ, hoại, không. Những kiếp nhân sinh ngắn ngủi vẫn xoay vần như một giấc mơ…

một kiếp nhân sinh ngắn ngủi thay,
trăm năm như một giấc mơ say,
xe đời bao chuyến cong lưng chạy,
chuyên chở bao nhiêu nỗi đắng cay,
ganh ghét phô trương rồi cũng vậy,
bon chen cho lắm cũng nằm đây,
vào đời dương thế thân trần trụi,
về lại thiên thu vẫn trắng tay…
(thương vay – December, 2007)

Khi tôi rời nghĩa trang Oak Hill, ngày vẫn còn đầy nắng, từng làn mây trắng đang lờ lững, lang thang trôi trên bầu trời trong xanh bát ngát. Qua những tuần lễ mưa gió mịt mù, mới thấy được cái đẹp của những sợi nắng vàng đang reo vui trong gió.  Giữa những sự khổ đau, mất mát thầm lặng nơi đây, mới cảm nhận và trân trọng niềm hạnh phúc đang hiện hữu trong tay.

Những ngày xuân náo nức rồi cũng đi qua. Mới đó mà tết Nguyên Tiêu lại đến. Tuy không háo hức và rộn ràng như Nguyên Đán, như cũng khá long trọng giữa  không khí của mùa xuân. Chậu mai ngoài vườn đến hôm nay vẫn không chịu … nở hoa mà chỉ trơ cành khẳng khiu với những nhánh cây khô, như đang cố chịu đựng với cái lạnh dai dẳng của mùa đông. Chậu mai tứ quý này ba tôi đã trồng và chăm sóc thật chu đáo từ mấy năm qua, khi nó còn là một cây con bé tí, bây giờ đã cao đến được gần nửa thước. Mãi đến năm ngoái mới trổ những nụ hoa nho nhỏ đầu tiên, như thể nó cố hết sức vươn lên bên cạnh những chậu lan cao lớn.  Có lẽ năm nay ngoài cái khí hậu buốt giá hơn bình thường của tiết lập đông, ba tôi đã quên không tước lá của nó sớm hơn như dự định. Thoang thoảng trong làn gió nhẹ của buổi sớm tinh sương, còn mang theo hương thơm ngây ngất của những cánh ngọc lan. Tôi định ngắt một vài bông nhưng nhận ra nó chỉ vừa mới hé nụ nên thôi. Một vài hôm nữa chắc hoa sẽ nở nhiều và hương hoa sẽ mang lại sự quyến rũ nồng nàn mà tôi rất nhớ. Tôi vẫn thích ngắm hoa nở ngoài vườn, khi chúng còn khoe sắc trên những cành, hơn là những cánh hoa đã được cắt tỉa cẩn thận và được cắm trong những chiếc bình trang trọng.

Xuân đến rồi lại đi và rồi hè sẽ đến. Thu sẽ sang và sẽ tàn cho mùa đông trở lại. Thời gian vẫn bình lặng, âm thầm trôi đi mặc cho những thay đổi với nhiều buồn vui và hệ luỵ của dòng đời. Không ai biết được những gì sẽ tồn tại sau những ngày tháng rong chơi ở nơi đây.

Trên giàn hoa dây xanh mướt ở góc phải của cái patio, tôi vừa nhìn thấy chỉ có một cánh hoa vàng hé nở sau những cơn mưa gió. Tuy không thanh tao như những cánh hoa mai, nhưng dịu dàng, đang tươi cười dưới ánh mặt trời.  Bất chợt, hình ảnh này làm tôi nhớ đến một bài thơ bất hủ rất nổi tiếng của thiền sư Mãn Giác. Bài thơ này đã được nhiều dịch giả dịch từ Hán tự sang chữ nôm, rồi chuyển sang Việt ngữ. Tuy cách hành văn có khác nhau, nhưng cũng bao hàm cùng một nội dung tương tự. Ngụ ý khi xuân đến muôn hoa tươi cười và sẽ rơi rụng khi xuân ra đi. Việc đời trước mắt cứ đi mãi, trên đầu tóc đã điểm sương phai. Đừng bảo rằng khi xuân tàn, thì hoa sẽ rụng hết, vì đêm qua, trước sân đình còn nở rộ một cành mai.

Tôi lẩm nhẩm đọc hai câu thơ sau cùng trong trí nhớ…

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai …

… rồi tự hỏi mình, cho đến bao giờ tôi sẽ cảm nhận được cái ý nghĩa huyền diệu, thâm thuý của thiền sư, khi nhìn thấy sự hiện diện của một cành hoa vàng duy nhất vừa nở đêm qua…

Hoàng Phố
California tháng ba, 2010




Về Đầu Trang Go down
tranvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: TẠC DẠ NHẤT CHI MAI    Thu Jan 09, 2014 10:15 am


TẠC DẠ NHẤT CHI MAI

Phí Minh Tâm

 

"Đêm Trước Một Cành Mai" là một bài thơ thường được nhắc nhở tới mỗi khi người ta nói đến dòng văn học Thiền. Đó là một bài thơ có vẻ như dễ hiểu và có tính chỉ thẳng (trực chỉ) nên đã được nhiều người dịch và giải thích ở nhiều sách khác nhau. Tính bí hiểm mơ mơ hồ hồ thường có của thơ Thiền như dường bị loại trừ ở đây. Bài này được viết ra cũng để góp thêm vào những lời chú giải đó nhân mùa Xuân sắp đến, nếu may mắn không ngoài ý Tổ thì xin là thêm một cành mai cúng Phật.

Ở trên, ta có nói đến cái gọi là dòng văn học Thiền. Cách chỉ danh này không chính xác lắm. Bởi vì các Thiền sư thường không ưa làm thơ và khi làm thơ trong dịp nào đấy thì lại không cố tâm. Mọi chuyện cứ như là hoa bay gió thổi. Thậm chí, có vị còn cấm đoán đệ tử tất cả những gì có tính xảo điệu, như Thiền sư Lâm Tế trong lời thị chúng "... các ngươi ỷ giỏi nói thì ta bóp họng, các ngươi ỷ giỏi làm thì ta bẻ tay..." như dường muốn đệ tử phải là cái gì vụng về nhất. Thơ ngây nhất. Đó là nếu hiểu thơ như là một nỗ lực có tính xảo điệu mô tả tư tưởng và tình cảm thông qua ngôn ngữ, hay là nghệ thuật của một hệ thống tư tưởng biểu tượng. Trong khi đó, các "tư tưởng" của Thiền phải đi thẳng, không qua một hệ thống tư tưởng biểu tượng nào hết.

Thơ của các Thiền sư đều làm từ vô tâm. Thoắt nhiên nó đến, thoắt nhiên nó đi, như trăng đáy nước, như hoa lồng gương. Nói thoắt nhiên cũng không trúng, vì đọc thơ của các Tổ, ta thấy tất cả đều chỉ vào một điều, một cái thấy duy nhất. Nhưng nói không thoắt nhiên cũng không trúng vì những lời thơ đó đều chỉ rằng, các vị đã đưa mắt nhìn đâu trong thế giới cũng chỉ thấy Nó, thấy khuôn mặt thật đó, cái Vô Vị Chân Nhân đó, cái bản lai diện mục đó. Những dòng thơ Thiền được lưu truyền đó đều đứng ngoài cái thoắt-nhiên và cái không-thoắt-nhiên, ngoài cái vô-tâm và cái cố-tâm.

Vấn đề sẽ là cái gì ở ngoài cái cố-tâm và cái vô-tâm, cái đã đưa đến những dòng thơ Thiền hiếm hoi đó?

Sự hiếm hoi của thơ Thiền cũng không phải vì truyền thống "bất lập văn tự." Mặc dù coi thường ngôn ngữ biểu tượng, nhiều vị đã để lại biết bao nhiêu là luận giải, kinh sám. Và bên đó cũng là biết bao nhiêu thơ, hay những dòng văn đẹp như thơ và có khi là đẹp hơn thơ. Thí dụ như Tổ Huyền Giác để lại tập "Chứng Đạo Ca," Tổ Tăng Xán để lại "Tín Tâm Minh."

Như vậy, sự hiếm hoi của Thơ Thiền phải là, Cái Kia, chính là cái khó dùng lời để nói. Cái Kia, chính là cái đã khai sinh những dòng Thơ Thiền, và ngược lại, để gọi được là Thơ Thiền thì tất cả những lời lời chữ chữ đó đều phải chỉ thẳng vào Cái Kia. Cái Kia, chính là cái ở ngoài (chữ ở ngoài không trúng, mà nói ở trong cũng sai) cái cố-tâm và vô-tâm.

Mặc dù, có Tổ đã từ bi nói, bước thành tựu của Thiền giả phải là Vô Tâm Thị Đạo, vô tâm chính là Đạo vậy. Lời đó cũng chỉ mới là phương tiện thiện xảo, vì các Tổ khác đã nói mãnh liệt hơn, đẩy xa hơn và chỉ rõ hơn. Thí dụ, vua Trần Nhân Tông, một Tổ của dòng Trúc Lâm, có thơ là:

Vô tâm do cách nhất trùng quan
(Vô tâm vẫn còn cách cả một ải quan với giác ngộ)

Như vậy, để được công nhận là Thơ Thiền, nếu không đi từ Cái Thấy Kia , chúng ta sẽ vơ thêm một mớ hỗn tạp của thi ca nhập-nhằng-Thiền từ các năm 1960 tới giờ. Điều này đâu có khác gì chỉ thấy mình là bọt sóng mà cứ gọi mình là đại dương.

Từ phân giải trên, ta sẽ nhìn vào thế giới sai biệt và vô sai biệt trong bài thơ hoa mai của Thiền Sư Mãn Giác:

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Bản dịch của Thượng Tọa Thanh Từ trong tập Xuân Trong Cửa Thiền:

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một cành mai.

Xuân nằm trong dòng vận hành bốn nhịp của thời gian, Xuân Hạ Thu Đông. Là bước chân dịu dàng nhưng nghiệt ngã, mang theo hơi ấm và làn gió mát, đồng thời cũng giẫm khẽ và nghiền nát từ từ tất cả những thành hoại của trần gian.

Tất cả các pháp thế gian (ở đây là trăm hoa) đều bị chi phối bởi bước chân của mùa Xuân, nói lên lẽ vô thường của vạn pháp. Khi mùa Xuân đến, trăm hoa đều nở, không gì cưỡng lại được. Khi mùa Xuân đi, trăm hoa đều tàn, không gì cưỡng lại được. Tất cả các pháp thế gian đều mang tính sinh diệt trong nó. Ngay chính sự hiện diện của mùa Xuân cũng là một pháp thế gian, nên cũng là một pháp sinh diệt.

Nhưng không phải vì có mùa Xuân thì trăm hoa đua nở, hoặc ngược lại, vì trăm hoa đua nở nên có mùa Xuân. Trong nghĩa đầu, tất cả pháp thế gian đều là pháp sinh diệt nên phải thuận theo pháp duyên sinh. Trong nghĩa sau, trong hoa đã có Xuân, trong Xuân đã có hoa, tất cả đều trùng trùng duyên khởi trong một pháp giới đan chặt vào nhau. Nhìn hoa thấy Xuân và nhìn Xuân thấy hoa. Đẩy thêm một bước, nhìn vạn pháp (hoa và Xuân hay là Sắc) thấy được định luật (trùng trùng duyên khởi trong Tánh Không) và thấu thoát định luật thì thấy rõ dòng sinh diệt ảo mộng của vạn pháp trong một pháp giới, Sự-Lý dung thông, Sắc với Không vẫn như là một mà không là một, vẫn như không là một mà là một.

Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi

Sau khi nhìn cảnh, tới đây nhìn lại người.Cảnh (hoa và Xuân) và người (cái già đến trên đầu) cũng đều là những pháp vô thường, pháp sinh diệt, pháp thế gian. Nói đến cảnh rồi nói người là để nhấn mạnh hơn tính sinh diệt của vạn pháp, để chỉ thẳng tính có sinh có diệt của các pháp thế gian.

Phải mở một ngoặc đơn để nói rằng chữ cảnh và người ở đây không cùng một nghĩa với chữ cảnh và nhân trong Tứ Liệu Giản của Sư Lâm Tế, nếu hiểu chữ cảnh và nhân của Sư trong nghĩa đơn giản nhất (và có phần không chính xác) là đối tượng của tâm và tâm.

Nhìn Xuân đi, Xuân đến, trăm hoa rơi, trăm hoa nở, thấy việc bay qua đi trước mắt, ngó lại mình thì tóc cũng bạc trắng xóa tự thuở nào. Trăm hoa với mình, mình với trăm hoa nào có khác gì nhau trong dòng sinh diệt, vẫn cùng chia xẻ một nhịp vô thường của các pháp diệt.

Nhưng giữa dòng sinh diệt vô thường ấy vẫn có:

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một cành mai.

Đừng nói rằng Xuân đi, hoa đã rơi hết cả. Bởi vì đêm qua ở sân trước vẫn còn một cành mai hiện diện, mặc cho xuân đi và trăm hoa tàn, mặc cho việc trôi qua và tóc bạc đến. Vẫn còn một cái gì đó vững vàng mặc cho bao giông bão đầy trời, mà mong manh và lung linh dịu dàng để gọi là một cành mai.

Chữ đêm qua (tạc dạ) ý để nói, sự có mặt của cành mai này vượt qua sự tàn phá của thời gian. Nó là cái gì mang tính kiên cố, bất khả hoại của Kim Cương. Và khi nói đêm qua cũng có nghĩa muốn nói là cả đêm nay và đêm mai, không bị ảnh hưởng chút nào bởi cái gọi là phạm trù tiên nghiệm thời gian cả. Nó hoàn toàn không mang tính vô thường, tính sinh diệt của các pháp thế gian. Cành mai này là một pháp vô sinh diệt, một pháp xuất thế gian. Thiền Sư đã đưa mắt nhìn tất cả các pháp sinh diệt, các pháp thế gian (xuân đi, hoa tàn, việc qua, tóc trắng) mà vẫn nhìn thấy một pháp vô sinh diệt, một pháp xuất thế gian (cành mai với tính bất hoại).

Cũng nên mở thêm một ngoặc đơn chỗ này. Hình ảnh đêm qua (tạc dạ) ở trong nhà Phật thường được sử dụng trong hai nghĩa khác nhau. Nghĩa đầu tiên như vừa nói, và ứng dụng trong bài thơ này, hàm cả nghĩa đêm nay và đêm mai, theo mạch văn được diễn dịch. Nghĩa thứ hai sẽ mang ý khác hơn như trong câu:

Sinh tử Niết Bàn do như tạc mộng.
(Sinh tử và Niết Bàn đã như giấc mộng đêm qua.)

Kinh Viên Giác - Chương Phổ Nhãn.

Ngay khi vừa giác ngộ thì thấy được, chuyện Sinh tử và Niết bàn chỉ như giấc mộng đêm qua. Chữ đêm (dạ) không có trong câu vừa dẫn, nhưng được hiểu ngầm, ám chỉ những vô lượng kiếp trôi lăn trong vô minh, chập chờn giữa cõi tử sinh, mong cầu đến bến bờ giác ngộ (Niết bàn), thực sự cũng chỉ là giấc mộng đêm qua (tạc mộng). Đó là chuyện đã qua và không còn nữa, không bao giờ còn nữa, khi Trí Huệ Bát Nhã đã bừng lên. Trong cái thấy của Trí Huệ Phật trong giây phút giác ngộ đó, sẽ thấy không có cõi sinh tử nào phải vượt qua, không có một Niết Bàn nào phải tìm đến. Xin đóng ngoặc đơn.

Chữ sân trước (đình tiền) mô tả một khoảng không gian nơi cành mai chiếm ngụ. Bất kỳ một hiện tượng nào, hoặc một tư tưởng nào, khi xuất hiện cũng ở trong một thời gian và không gian nào đó. Sau khi nói đến đêm qua nay nói thêm là ở sân trước.

Hình ảnh sân trước ẩn tàng hình ảnh đất tâm trong chữ Tâm Địa. Có thể gợi nhớ, Thiền Tông còn một tên gọi khác là Tâm Địa Pháp Môn. Thật sự đã có nhiều tên gọi khác nhau cho Thiền, thí dụ như Thiền có tên tắt là Tông để phân biệt với tất cả các pháp khác dựa vào giáo điển để tu là Giáo; hoặc gọi rõ ràng hơn là Tâm Tông để nói đây là pháp môn chỉ nhìn vào Tâm để thấy được Tính. Cách gọi đất tâm trong chữ Tâm Địa Pháp Môn còn chỉ rõ ràng hơn nữa (chữ Tâm ở đây có nghĩa khá phức tạp là, khi chưa ngộ thì Tâm là Tướng, thường dụ như người thợ vẽ, khi ngộ rồi thì Tâm là Tính, Tâm Tính đồng nhất - Sử dụng chữ đồng nhất ở đây dễ bị ngộ nhận, nhưng khó dùng chữ khác chính xác hơn), cho ta hình dung Tâm của kẻ giác ngộ sẽ bằng phẳng và bền vững như mặt đất, dù tất cả rác rưởi trần gian (nói rõ hơn, biết là vọng thì vọng tự trừ, biết niệm khởi thì niệm tự ngưng) ném vào cũng không làm lay động hoặc dơ đi được (nghĩa gần nhất).

Có nhiều hình ảnh trong Thiền thường được dùng để dụ cho Tâm, như mặt trăng (vọng niệm dụ là mây), như mặt hồ (vọng niệm dụ là sóng), như gương sáng (vọng niệm dụ là bụi). Nhưng với hình ảnh đất tâm thì phép tu đã rõ ràng hơn. Nếu thấy được Tâm như hình ảnh này thì sẽ thấy, Tâm vốn không hề lay động thì tội gì phải tìm cái định, cứ để tự nhiên vào tính bản định của đất tâm thì còn có định nào bằng. Đây cũng chính là nghĩa của bình thường tâm thị đạo vậy, tội gì phải lăng xăng nhập định với xuất định.

Vấn đề chỉ còn là làm sao để Tâm là bình thường, để vào thẳng một niệm vạn năm. Cách dùng chữ làm sao trong câu vừa viết lại dễ gây hiểu lầm, là phải đi tìm cách tu nào cao xa, phức tạp thì lại càng xa đạo. Dùng lời để nói chỗ này thật sự là khó, nên trong Thiền, các Tổ phải dùng nhiều hình ảnh lòng vòng để chỉ thẳng như vậy. Một hình ảnh tương tự được Tổ Bồ Đề Đạt Ma dùng để chỉ tính bản định đó là Tâm như tường vách. Thế mới biết, không muốn dùng lời để nói vì lời không chỉ được chỗ này, mà vì lòng từ bi, các Tổ đã dùng nhiều lời quá rõ ràng.

Chính ở hình ảnh sân trước hoặc đất tâm, cho ta thấy tất cả mọi sinh, trụ, hoại, diệt đều xảy ra, dựa vào và trở lại trên mặt đất, nhưng mặt đất (tâm) ấy vẫn bất động, không tăng, không giảm.

Gom chung ý của đêm qua sân trước (đình tiền tạc dạ), điều này chỉ vào giác tính bình đẳng bất động của Tâm thể. Nương vào (có nên gọi là nương không, hay là quay lại?) tính bản định của nó mà tu thì là con đường đốn ngộ vậy (mà đúng là chẳng phải tu).

Không phải vào định này là trở về với gỗ đá, vì Tâm thể vốn bất động mà diệu dụng vẫn hằng chiếu. Đây là vấn đề thứ nhì, hay nhìn vào mặt khác (có thực là khác không?) của Tâm thể, trổ ra một cành mai (nhất chi mai) vậy. Tâm vẫn hằng bất động, mà diệu dụng vẫn hằng sa, mà Tâm vẫn thường chiếu.

Mặt thứ nhì của Thiền Đốn Ngộ tới đây đã rõ ràng hơn. Ở mặt nhất, vào thẳng tính bản định của Tâm mà tu thì có cần chi phải chỉ với định. Ở mặt nhì, vào thẳng tính thường chiếu của Tâm mà tu thì cần chi phải quán với tưởng. Gọi là hai mặt lại dễ gây ngộ nhận. Bởi vì Tâm thể, mặc dù tịch (rỗng lặng) nhưng vẫn chiếu, và ngược lại, dù vẫn chiếu nhưng vẫn tịch. Vào thẳng được chỗ này chính là Kiến Tính Thành Phật, còn pháp tu nào thẳng tắt hơn không. Lúc bấy giờ thì dù là mặc áo, ăn cơm, dù là vác gươm, vào trận, dù là viết lách, lăng nhăng, vẫn chưa hề rời khỏi đạo tràng. Còn pháp tu nào sảng khoái hơn không?

Nói là thẳng tắt, nhưng giá của nó thực sự là không dễ, như Tổ Hoàng Bá có nói:

Bất thụ nhất phiên hàn triệt cốt
Chẩm đắc mai hoa phác tị hương.

(Nếu không một bận thấu xương lạnh
Sao được trước mũi ngát hương mai).

Đọc lại toàn bài thơ của Thiền Sư Mãn Giác, ta sẽ thấy theo mạch văn cách diễn ý, từ xuân đi, hoa tàn, xuân đến, hoa nở, việc qua, tóc trắng, đến câu chuyển mạch (Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết) để lật ngược lại mặt sau và chỉ thẳng cách tu ở câu cuối, đêm qua sân trước để chỉ vào tính bản định của Tâm, và một cành mai để nói tới diệu dụng, tính thường chiếu của Tâm. Phần trên nói về các pháp sinh diệt, câu cuối nói về pháp vô sinh diệt. Nhưng cả hai không rời nhau mà có được. Nhưng không phải vì có cái này mà có cái kia. Tâm vẫn tự trụ Tâm, cảnh vẫn tự trụ cảnh. Sinh tử (xuân, hoa, việc, tóc trắng) và Niết Bàn (cành mai trên đất tâm bất hoại trước thời gian) không là một, vì một đằng là thế giới sinh diệt, một đằng là thế giới vô sinh diệt; nhưng cũng không là hai, vì một đằng là Sự, một đằng là Lý, vẫn viên dung vô ngại trong pháp giới đất tâm; cũng không vì nương vào nhau mà có, vì sóng vẫn khởi đàng sóng và nước vẫn an nhiên đàng nước; cũng không lìa nhau mà có, vì lìa sóng không thấy được nước và lìa nước không thể có sóng. Nếu lấy hình ảnh quen thuộc thường dùng trong Thiền là sóng với nước để dụ cho Tướng và Tánh, ta có thể thấy toàn bài thơ khi lật ngược từ Sự qua Lý, từ thế giới sai biệt qua thế giới vô sai biệt vẫn viên dung vô ngại trong một pháp giới đất tâm như Kinh Lăng Nghiêm diễn tả:

Toàn Tướng tức Tánh, toàn Tánh tức Tướng.

Nếu bước chân vào được thế giới trùng trùng Sự-Lý viên dung vô ngại của bài thơ này thì còn đâu sợ mà lầm lạc, mà chất vấn đâu là nẻo Niết Bàn, đâu là đường Sinh Tử; đâu là Tổ đường, đâu là nhà ma, cửa quỷ.

Như vậy, toàn bài thơ nói lên cảnh giới của Đốn Giáo Đại Thừa. Nếu phân chia các thời thuyết giáo của đức Phật làm năm thời như các Tổ Hoa Nghiêm Tông đã làm, bài thơ này phô bày cái nhìn ở vào thời kỳ thứ tư, thời kỳ của Đốn Giáo, đưa tới cái nhìn của cảnh giới Lý-Sự vô ngại.

Thật sự ít có bài thơ nào chỉ bày phép tắc nghi quỹ rõ ràng như vậy.

Vẫn đứng ở cõi sinh diệt mà nói về cảnh giới vô sinh diệt bất khả tư nghị thì đúng là đang nằm mơ, ngủ mớ. Nhưng chỉ cần nheo đôi mày lại, mở đôi mắt to ra thì thấy ngay ta vẫn hằng đứng nơi mép bờ vô sinh diệt, vẫn chưa từng bước lạc xuống trần gian. Muốn lìa sinh diệt mà lấy pháp sinh diệt để tu là chuyện trăm kiếp nghìn đời khó thành được. Sao bằng thẳng một niệm vào ngay chỗ của sân trước hoa mai, lấy ngay thanh Kim Cương Tuệ Kiếm nhập pháp vô sinh diệt thì ngại gì chuyện sinh với diệt. Vào ngay được chỗ này, cái gọi là pháp vô sinh diệt cũng còn phải buông bỏ kia mà, không phải nó cũng chỉ là giấc mộng đêm qua sao.

Tài liệu trên diễn đàn Việt Kiếm 


Về Đầu Trang Go down
ngodong
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Vườn thơ thiền trong xuân   Sun Jan 12, 2014 8:16 pm


Vườn thơ thiền trong xuân

Hồng Bối



Có mùa xuân là có thi ca. Thi ca là biểu tượng, tia chớp đầu tiên của mọi ý nghĩ, ngôn ngữ, tình cảm, tâm hồn. Cho nên cứ mỗi dịp xuân đến người ta lại ngồi quây quần bên tách trà để nói về thơ, viết về thơ và ca tụng thơ. Thơ mùa xuân rất nhiều, lắm bài hay nhưng khó tránh khỏi sự trùng ý, trùng từ và trùng cảnh. Bàn về thơ đã khó mà bàn về thơ xuân lại càng khó hơn. Nhân đây chúng ta cũng thử một lần lặn lội đi vào thâm sơn chọn lọc vài ba áng thi tiêu biểu để đem ra thưởng lãm tăng thêm hương vị nét đẹp ngày xuân.

Mở đầu cùng thưởng thức bài Xuân Hiểu tức là Buổi sớm mùa xuân của Mạnh Hạo Nhiên (689-740):

Xuân miên bất giác hiểu
Xứ xứ văn đề điểu
Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu.

“Giấc xuân trời sáng không hay
Chim kêu ríu rít từng bầy khắp nơi
Đêm qua mưa gió tơi bời
Biết rằng hoa cũng có rơi ít nhiều”.

Bài thơ thanh thoát thật đẹp tả lại cảnh buổi sớm mùa xuân trong khi mọi cảnh vật đang tĩnh lặng im lìm thì bị đánh thức bởi tiếng chim kêu ríu rít. Tiếng chim nghe ra không phải vọng trên đầu cành cây hay bên hiên nhà mà là vọng khắp nơi, khiến tiết trời xuân trở nên nhộn nhịp. Tác giả cũng phải ngỡ ngàng trước cái tĩnh và cái động. Lòng không an tịnh, không yêu thiên nhiên thì khó mà thốt nên ngôn từ nhã nhặn như thế. Chính cái nhã nhặn, bình dị làm cho lời thơ thêm phong lưu khoáng đạt. Đặc biệt nhân tố chính ở đây là nhờ tiếng chim xuất hiện. Nếu tiếng chim xuất hiện ngay từ câu đầu thì tứ thơ sẽ không còn trong trẻo vi tế. Trong câu một và câu hai ta dễ dàng nhận thấy sự thanh bình sắc thái ngày xuân. Nhưng qua câu thứ ba nó có vẻ phá đi sự thanh bình của hai câu đầu mà chúng ta vẫn còn băn khoăn. Có lẽ câu cuối là câu hay nhất, vừa gửi gắm được tấm lòng lại nói lên được sắc thái mùa xuân. Phải chăng tác giả làm theo trực giác cảm hứng thấy cảnh sinh tình chớ chưa lập ý, bố cục thì phải. Nên bài Xuân Hiểu vẫn có gì đó đọc lên chưa sướng tai so với bài Xuân Hiểu của vua Trần Nhân Tông (1258-1308):

Thụy khởi khai song phi
Bất tri xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách xấn hoa phi.

“Tỉnh dậy ngó song mây
Xuân về lòng chửa hay
Chập chờn đôi bướm trắng
Liền cánh lướt hoa bay”.

Thông thường trong thi ca sau tả cảnh là tới tả tình, để lồng tình chan hòa với cảnh. Nhưng bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt của vua Trần Nhân Tông đã vượt ra khỏi phạm trù níu kéo của khuôn phép làm nên nét đặc trưng riêng “vô tình mới thật hữu tình”. Cái nhìn của thi nhân không khác chi “sắc tức thị không, không tức thị sắc” cái nhìn thấu cảnh thấu tâm mà lâng lâng thơ mộng lãng đãng trời mây, nhả hương đượm hương. Phải nói Xuân Hiểu là một trong số bài tiêu biểu của vua Trần Nhân Tông hội đủ ba yếu tố làm nên bài thơ toàn hảo đó là: đạt ý, truyền cảm và trì hứng. Chỉ 20 chữ đã làm ta rung động thích thú, càng đọc lại càng muốn đọc. Xuân Hiểu của Mạnh Hao Nhiên so với Xuân Hiểu của vua Trần khác ý thơ chỗ động và không động. Một bên khi căn tiếp xúc trần liền bị trần chi phối; còn một bên khi căn tiếp xúc trần thì không mảy may để trần chi phối. Căn chỉ nhận diện trần đơn thuần. Nếu không phải là người thoát tục, thoát khỏi sự ràng buộc của trần tâm, trần cảnh thì khó lòng xuất khẩu thơ như vậy. Tác giả đã hòa mình với mùa xuân khiến cho người thưởng lãm không biết ở đâu là cảnh, đâu là tình nhưng khi nhìn vào ngữ vận ta sẽ thấy toát lên sự an nhiên, tự tại của người thấu lẽ cõi đời và sống vui với cái vui hiện tại. Như bài Xuân Cảnh tác giả đã nói được ý muốn “sống đời vui đạo”.

Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phu
Khách lai bất vấn nhân gian sự
Chỉ bạng lang cang kháng thúy vi

“Chim kêu dương liễu nở hoa đầy
Bên mái tranh vàng mây chiều bay
Khách vào chẳng hỏi việc nhân thế
Lan can đứng tựa ngắm nhìn trời”.

Đứng trước cảnh thái bình mùa xuân, sống an nhàn với phút hiện tại thì đâu cần bàn chi nữa việc đời, việc hơn thua thời thế. Ta hãy cùng thong dong tự tại đứng ngắm sông, ngắm núi, ngắm cảnh vật để thấy lòng tĩnh lặng. “Nhìn mây mắt thấy trời xanh, cho nên mắt cũng long lanh ánh hồng”. Sự thanh nhàn, ý khoáng đạt trong bài thơ xuyên suốt miên viễn mùa xuân âm hưởng thi vị lẫn đạo vị. Tâm là tâm Phật, Cảnh là cảnh đạo mà đối cảnh vô tâm mới là thiền. Quả là tuyệt diệu, bất khả tư nghì. Đời Lý và đời Trần mang đậm tư tưởng thấm nhuần đạo Phật nên thơ văn luôn có mùi vị giải thoát nơi đạo. Vua Trần Nhân Tông tức Trúc Lâm đại sĩ đã thổi một luồng gió mới về thi ca văn học thông qua đạo Phật. Nếu có dịp chúng ta thử tìm đọc cuốn “Trái tim của Trúc Lâm đại sĩ” ta sẽ thấy thiền ngữ người xưa tuyệt diệu siêu việt cỡ nào, nói chi tiết về cách sống thanh nhàn nhưng luôn vui ở với đạo.




Thơ xuân hay, phần nhiều là của các bậc thiền sư giác ngộ, đã thấu tỏ chân lý việc đời. Hay ở chỗ dung dị mà cao sang, gần gũi lại thoát tục, khách chơi thơ đọc lên sẽ cảm nhận có uy linh gì đó vượt cả nghệ thuật. Nghệ thuật, không phải nghệ thuật mà chính là nghệ thuật. Đây chính là diệu dụng ngôn ngữ cửa thiền. Chúng ta muốn hiểu thiền, trước phải biết tu tâm dưỡng tánh. Nếu không thì suốt đời ta không bao giờ hiểu được ngôn ngữ thiền. Hai câu thơ của Mãn Giác thiền sư (1052-1096):

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

“Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một cành mai”.

đủ cho chúng ta thấy ánh sáng bản thể chân như của chúa xuân là bất diệt, không bao giờ mất hẳn. Khi hồn xuân đủ nhân duyên thì nó hiển thị ra bên ngoài, còn khi thiếu nhân duyên thì lùi về tiềm tàng bên trong. Hai câu của thiền sư là hai câu xứng tầm khó ai sánh bì, nó đặc biệt vì “ý tại ngôn ngoại” bắt chúng ta phải liễu ngộ theo trực giác linh tính của mình. Trong thơ đã hàm ý chân lý và chân lý ta phải tự suy nghiệm. Từ cổ chí kim, biết bao nhà thơ đã ngồi suy nghiệm, suy nghiệm bản thể “Mạc vị xuân tàn” để rồi đột nhiên thốt lên giữa hư vô nơi trường mộng của đêm dài hoang vu “Mùa xuân hiện giữa ngàn mai/ Nguyên hình nữ chúa trên ngày phù du” hay “Xin chào nhau giữa con đường/ Mùa xuân phía trước miên trường phía sau” (Bùi Giáng). Đứng trước cảnh xuân thi nhân không những cảm nhận bằng mắt, bắt bằng tâm mà cả bằng lý trí nữa, và mỗi thi nhân có mỗi vẻ cảm nhận tự thể mùa xuân riêng.

Những nhà thơ chân chính thường lấy thi ca để tịnh dưỡng tâm hồn, làm cho tánh tình mình ngày mỗi sắc bén linh động hễ thấy cảnh là thấy tình. Cảnh là cảnh xuân và tình là tình thơ, mà xuân với thơ thường có mối duyên nợ tự ngàn xưa. Cho nên thơ xuân nhiều hơn thơ gió, thơ trăng, thơ thu, thơ đông… Lạc Nam vì chút tức tưởi cái duyên nghiệp nợ cầm mang “xuân và thơ như hình với bóng” nên vội đề:

Xuân tự ngàn xưa bạn với thơ
Tình xuân là cả vạn lời thơ
Đẹp duyên hoa bút, xuân ngời sắc
Rộn khúc xuân thiều, nhạc ánh thơ.
Xuân vắng, oanh hờn, dầu dáng liễu
Xuân về hương tỏa ngát lời thơ
Xuân nương, thi sĩ, đôi ngời ngọc,
Dệt mộng ngày xuân lấy ý thơ".

Thơ xuân mà làm được nội dung như vậy quả là tài. Không sắc nhưng khó chê khó bắt bẻ. Chỉ dùng một vận “ơ” gây thành một âm điệu mới mẻ, xưa nay tìm hiếm gặp. Nhịp tiếp bài thơ thả từ đúng chỗ, đúng điệu mà khách chơi thơ thường gọi là “thất ngôn bát cú song điệp vận”. Bài thơ của Lạc Nam tiếp ý, tiếp từ nhẹ nhàng du dương uyển chuyển. Đặc biệt bao tâm huyết được dồn về đặt nơi câu kết nên ý và lời nhã nhặn.

Thơ xuân là chút tình của người nghệ sĩ, gởi chút lòng mong đem tình cảm phơi bày với thế nhân. Thơ của Mạnh Hao Nhiên, của Trúc Lâm đại sĩ, của Mãn Giác thiền sư, của Lạc Nam đều là những áng thơ hay, công phu tuyệt đỉnh. Cho nên trong cảnh xuân mới về mỗi nhà thơ là mỗi con mắt thiền, thấy rõ thực tại chân lý cuộc đời, xuân là miên viễn, cảnh là vô thường. Dẫu đời có thăng trầm, có vui khổ nhưng bản chất tinh thể xuân muôn đời vẫn là xuân. Xuân là tánh, cảnh là tướng, mà vốn dĩ tánh bất biến còn tướng tùy duyên. Nói như vậy là để mở ra một lối thoát cho thi nhân, để thi nhân có quyền nắn tạo nên một thế giới thanh sắc thi ca ngôn ngữ chân lý mới. Vì tất cả nghệ thuật của thi ca là lối bày tỏ hiểu biết trực giác tâm linh của mình qua ngôn ngữ.



.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 244
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Xuân và Bài thơ NHỨT CHI MAI   Wed Jan 29, 2014 12:44 pm


Tình Xuân Trong Đường Thi





Theo định luật tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ … xuân không tự hẹn mà đến, xuân đến ở trên đồi cao bằng những bông nắng vàng tơ nở rộ, xuân đến với đồng xanh với những khúc sáo nghê thường véo von, xuân đến trên dòng sông với sóng nước bập bềnh loáng bạc mênh mang … Xuân đến như hơi thở ngọt ngào, như nhịp tim đập tự nhiên của đất trời …

Bức tranh Xuân trong Đường Thi muôn màu, muôn vẻ đã thắp lên niềm tin yêu, hy vọng và lạc quan cho con người và cuộc sống đời thường vốn dầy dãy oan khiên nghiệp chướng, mịt mùng cát bụi vô thường như Thiền Sư Mãn Giác đã dặn dò tăng chúng :

“Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa tươi
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến nơi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai“
(Cáo Tật Thị Chúng)

Xuân vẫn đến đấy chứ … đến đó như giọt nắng vàng hoe treo lơ lửng trên cành , rồi lại ra đi như cơn gió dịu mát vô tình thoảng qua. Thi sĩ Bạch Cư Dị đã cho chúng ta thấy một hình ảnh nhân sinh của khổ lụy vô thường… mùa xuân trong cuộc đời cũng chỉ là một thoáng mộng mong manh ngắn ngủi … mộng đẹp đó nhưng rồi cũng dễ tan đi như mây bay gió thổi theo những buồn vui của cuộc đời…

Như hoa mà chẳng phải hoa
Giống mù mà chẳng phải là mù sương
Nửa đêm chợt đến lạ thường
Sớm mai thức giấc lên đường lại đi
Đến như thoáng mộng xuân thì
Rồi như mây sớm lại đi phương nào ?
(Như Hoa Mà Chẳng Phải Hoa -Bạch Cư Dị)

Thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên đã mở cõi lòng ra phơi bày một cảnh sắc mùa xuân vào một buổi sáng thật sống động khi vừa thức giấc bằng mắt thấy tai nghe với những hình ảnh xuân ấm áp nồng nàn tràn đầy hương sắc dạt dào của hoa nở và thanh âm êm dịu của tiếng chim ca. Nhà thơ đã đi từ cõi mộng, bước ra khỏi “giấc xuân” để cảm nhận một mùa xuân trong thực tại hiện hữu của hương hoa thơm ngát và ngọt lành tiếng chim .. Và sau khi cảm nhận được cái đẹp xuân của thiên nhiên vũ trụ, hoà nhập với cảnh sáng mùa xuân, người thơ đã nhắc cho chúng ta biết rằng đâu phải xuân chỉ mới đến sáng nay … mà xuân đã đến tự đêm qua với mưa rơi và gió thổi để mà thương tiếc thầm cho những cánh hoa đã tàn rơi đêm qua … giữa khung cảnh thiên nhiên chan chứa hương vị thiền trong sáng :

Giấc xuân quên cả bình minh
Chim non ríu rít gọi tình muôn nơi
Đêm qua mưa gió bời bời
Biết bao hoa đã rụng rơi tứ bề
(Sáng Mùa Xuân – Mạnh Hạo Nhiên)

Nhà thơ đã đánh thức chúng ta ra khỏi cái thực tại với ngoại vật tốt tươi diễm lệ, để đi về với sự hồi tưởng tiếc thương ngậm ngùi, với giấc mộng xuân đã qua mau bất chợt …như một tuồng vân cẩu, một giấc mơ ngắn ngủi, tỉnh dậy nồi kê vẫn chưa chín … Thương xuân để mà tiếc xuân như Lý Thương Ẩn đã bộc lộ tình cảm một cách thiết tha da diết khi gió đông (tức là gió xuân) đã báo hiệu mùa xuân trở về, với sự oán trách giận hờn :

Khó dễ gần nhau, khó cách xa
Gió xuân bất lực rũ tàn hoa
(Vô Đề – Lý Thương Ẩn)

Hoặc như Đỗ Phủ đã diển tả cái buồn thấm thía sâu sắc vô cùng khi thấy hoa tàn rụng bay trước cơn gió ơ hờ của mùa xuân .. “phong phiêu vạn điểm chính sầu nhân” ..(gió tung muôn cánh thì nỗi sầu muôn phần) :

Một cánh hoa tàn Xuân kém tươi
Lòng buồn vời vợi, gió chơi vơi
Hoa xuân thấp thoáng, tình vương mắt
Hồn ngỡ bâng khuâng, rượu thấm người
(Khúc Giang- Đỗ Phủ)

Mùa xuân vừa ló dạng đó, nhưng rồi cũng khuất bóng lúc nào chẳng hay. Vui hưởng và thương xuân đó, nhưng rồi mỗi cánh hoa rụng lại báo hiệu một mùa xuân sẽ trở gót quay đi … bồi hồi thương tiếc cho một mùa xuân sắp tàn :

Thềm sân mờ tỏ nở đầy hoa
Mành lụa bên song yến hót ca
Phấn nhạt buông rèm ngồi ứa lệ
Thương xuân, xuân chẳng biết đâu mà !
(Thương Xuân Khúc – Bạch Cư Dị)

Thư thái xuân về lắm sự mong
Gió đông hây hẩy ấm xuân nồng
Tháng năm hờ hững nhìn hoa nở
Bệnh sẵn sầu dâng cảm xót lòng
(Thương Xuân – Dương Vạn Lý)

Đúng vậy … mùa xuân đã tàn phai để lại nỗi buồn khắc khoải khôn nguôi cho người thưởng ngoạn, chẳng khác gì “trong xuân sinh là thu sát điêu tàn, sau hạ trưởng là đông sầu xơ xác ..” nói lên cái định luật vô thường biến chuyển khôn lường của vũ trụ …

Chúa xuân đi mất trời thôi đẹp
Phố cũ hương tàn lạnh bóng thu
(Mộ Xuân Hoài Cảm – Đái Thúc Luân)



Mỗi độ xuân về đã gợi cho những kẻ tha phương ly xứ nỗi niềm nhớ cố quận quê hương, nơi chôn rau cắt rún một cách da diết não nùng … nhất là cặp tình nhân phải cách xa nhau vạn dặm . Vương Duy trong bài Tạp Thi nói chuyện về một đôi trai gái, nhà nàng ở ven sông Hoàng Hà, còn chàng bận công vụ phải về Giang Nam. Nhân có người về Giang Nam, nàng nhắn tin thăm chàng, và chàng cũng dọ hỏi người tin và xót xa đau lòng khi vẫn biết rằng bên song cửa nhà nàng, mai vàng đã nở hoa, cỏ cây xanh ngát, chim non ríu rít trên cành, nhưng “lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, nàng vẫn sầu muộn bên song cửa đợi tin chàng từ phương trời thăm thẳm … Những tình cảm nhớ quê, nhớ người như những cơn sóng bập bềnh đã dồn dập xao xuyến không ngừng …

Anh từ quê cũ mới ra
Hỏi thăm anh biết chuyện nhà ra sao
Nhìn qua song cửa hôm nào
Hỏi anh có thấy mai đào nở hoa ?
(Tạp Thi – Vương Duy)

Nói đến tình yêu quê hương thiết tha mỗi độ xuân về phải nhắc đến nhà thơ Đỗ Phủ, một ngôi sao sáng chói trên Thi đàn Trung Quốc vào thời Thịnh Đường . Ông là nhà nho tiến bộ, hấp thu được những tư tưởng Khổng Mạnh thâm thúy sâu sắc, có một nhận thức rất đứng đắn về nhiệm vụ, bổn phận, và vai trò của kẻ sĩ thanh liêm, nghiêm túc đối với vua, với nước và với dân .. Thơ ông đượm đà tình yêu nước thương dân nồng nàn thắm thiết, tình nhân đạo vị tha bao dung… Thơ ông đã phản ảnh trung thực đời sống trung thực của những người dân bị áp bức bóc lột dưới chế độ phong kiến tàn bạo của giai cấp quan liêu thống trị … Thơ Đỗ Phủ là tiếng nói trung thực đậm đà của chính lòng ông, gây lại một ấn tượng mãnh liệt làm xúc động người đọc .. Nỗi nhớ quê nhà của ông thấm thiết vô cùng khi mỗi độ xuân về khi thấy những cây mai vàng đã bắt đầu hé nụ :

Tháng chạp mai hé nụ
Sang năm nở đầy hoa
Biết rằng ý xuân đẹp
Sao khách vẫn sầu a
Cây chung màu tuyết trắng
Gió vờn sóng sông xa
Vườn cũ tìm đâu thấy
Núi Vu cây rườm rà
(Giang Mai- Đỗ Phủ)

Cố quận quê hương ruột thịt thì mịt mùng xa cách, nỗi nhớ nhung nơi chôn rau cắt rún khi phải sống cuộc đời lữ thứ tha phương .. một nỗi buồn mênh mông sâu lắng và dằng dặc vô cùng để nhà thơ phải khắc khoải tự hỏi “ hôm nao mới được về nhà thăm quê ?” … Bài thơ u hoài vương vấn một nỗi buồn riêng mang khắc khoải và kín đáo:

Sông xanh càng trắng chim trời
Núi cao biếc thắm rạng ngời đỏ hoa
Thấy rằng năm hết xuân qua
Hôm nao mới được về nhà thăm quê ?
(Tuyệt Cú 12 – Đỗ Phủ)

Thơ Đỗ Phủ đã biểu lộ tính cách hiện thực vì ông là nhân chứng của thời đại đã tai nghe mắt thấy được những thảm họa chiến tranh, những nỗi bi thương trầm thống của xã hội phong kiến bất công suy đồi, sự xa hoa trụy lạc của giai cấp thống trị quan liêu, và chính bản thân ông, đời sống ông cũng đã trải qua những thăng trầm tang thương qua cuộc sống cơ hàn, vất vả, và khốn khổ.. Cuộc đời ông hầu như bôn ba tứ xứ nơi đất khách quê người, nên ông đã chứng kiến thường xuyên những cảnh chiến tranh chết chóc, những nhiễu nhương của xã hội và cuộc sống bần cùng, không những của chính bản thân ông mà còn của những kẻ tha nhân không quen biết …Ông đã không được may mắn, thành công trên con đường thăng quan tiến chức như bao kẻ quyền sang biết luồn cúi và nịnh bợ triều đình … Tính tình ông quá ngay thẳng . Ngay khi ông mất nơi đất khách quê người, gia đình ông cũng không đủ tiền đem được linh cửu của ông về quê vì quá nghèo ..Thơ của ông tràn đầy tình nhân đạo sâu sắc, yêu nước thương dân… Chính thơ đã phản ảnh được cái chức năng “Thi ngôn chí “, tức thơ đã nói lên cái chí khí kẽ sĩ trong một giai đoạn lịch sử nào đó ..

Mất nước, còn sông núi
Cây cỏ mọc thành xuân
Thương tình hoa tủi lệ
Biệt ly chim bần thần
Ba tháng tràn khói lửa
Thư nhà giá vô vàn
Tóc bạc ngày thêm ngắn
Cài trâm ắt phân vân
(Xuân Vọng – Đỗ Phủ)

Những người lữ thứ nơi đất khách quê người là những người nhớ quê hơn ai hết, lòng nôn nao chỉ ngong ngóng ngày trở về quê cha đất mẹ, mỗi độ xuân về …

Vô tình nước cuốn hoa tan
Tiễn đi đông lạnh, gió ngàn bay qua
Đêm mơ hóa bướm, nhớ nhà
Đỗ quyên rền rĩ, xót xa trên cành
Vắng thư, ngày tháng trôi nhanh
Mái đầu sương điểm, xuân quanh quẩn gần
Muốn về chẳng mấy khó khăn
Ngũ hồ sương khói, dễ cầm chân ta ?
(Xuân Tịch Lữ Hoài – Thôi Đồ)

Khi làm cánh chim viễn xứ, phải rời tổ ấm của quê cha đất tổ, thì cái nỗi buồn thấm thía và da diết, nẫu nuột thấu tận tâm can phải là cái buồn xa quê hương, khi năm tàn tháng tận, vào những ngày cuối năm, mà phải lê thân quán trọ nơi đất khách xứ người, mà quê hương thì xa vời vợi …

Năm mới quê càng nhớ
Góc trời mắt lệ sa
Già lê thân quán trọ
Xuân đến người phương xa
Sớm chiều cùng vượn núi
Sông gió liễu thướt tha
Khác chi câu truyện cổ
Còn lại bao năm qua ?
(Tân Niên Tác – Lưu Trường Thanh)

Có những nhà thơ còn chút may mắn hơn Đỗ Phủ là đến cuối cuộc đời già, đã đạt được cái hoài bão về thăm quê hương … Hạ Tri Chương đi làm quan xa nhà mãi đến năm 86 tuổi vì già ốm xin từ quan về quê. Sau hơn năm mươi năm xa cách, ông mới về quê vào dịp xuân về, và ông đã cảm khái viết nên bài Hồi Hương Ngẫu Thư (2 bài). Khi ra đi chỉ mang theo kỷ niệm dạt dào và tình cảm gắn bó với quê nhà, mà sau bao nhiêu năm mải mê đeo đuổi sự nghiệp công danh, vẫn cảm thấy tình quê hương là tình cảm thiêng liêng cao quí chẳng hề đổi thay trong lòng dạ người thơ. Nhưng lúc về đến nhà thì bao nhiêu cảnh vật, sự kiện đã đổi thay, đám trẻ quê nhao nhao vì nghĩ rằng nhà thơ cũng chỉ là kẻ lạ lẫm từ phương trời nào xa lạ tạm ghé qua đây. Cha mẹ thì đã qua đời từ lâu, còn bạn bè thì kẻ mất người còn, tạo nên nỗi chán chường ảo não tuyệt vọng của nhà thơ trước cảnh biến thiên của muôn sự, cuộc đời dâu bể tang điền thương hải mong manh vô cùng, nên nhà thơ chỉ còn biết bám víu vào một hình ảnh bất biến đó là sóng nước mặt hồ Gương vẫn còn nguyên vẹn với gió xuân phe phẩy, làm dịu mát lòng người …

Trẻ ra đi, lão mới về
Tóc bông thưa thớt, tiếng quê dạt dào
Trẻ con lạ lẫm nhao nhao
Hỏi cười “Khách ở phương nào đến đây ?”

Quê nhà xa cách tháng năm
Bạn bè thưa thớt biệt tăm phương trời
Mặt Hồ Gương trước ngõ soi
Gió xuân chắc chẳng đổi đời sóng xưa
(Hồi Hương Ngẫu Thư – Hạ Tri Chương)



Nói đến mùa Xuân là nói đến nhựa sống căng tràn, là nói đến tình yêu lai láng dạt dào của những mối tình tuyệt đẹp giữa kẻ nam và người nữ . Bài thơ Đề Đô Thành Nam Trang của Thôi Hộ là một giai thoại văn học nói lên một mối tình xuân muôn thuở nầy .. Chuyện kể rằng chàng sĩ tử Thôi Hộ đi thi bị hỏng, nhân tiết thanh minh đi du xuân ở phía nam thành Đô, thấy một trang trại cây cối xanh tươi tốt đẹp, ghé lại gõ cửa xin nước uống, thì gặp một tuyệt sắc giai nhân đứng dựa cành đào, e lệ chẳng nói năng chi, mà chàng trai Thôi Hộ thì đắm đuối nhìn … Hoa đẹp mà người cũng đẹp thay! Thôi Hộ từ giã bịn rịn ra về, năm sau cũng nhân tiết thanh minh ghé lại trang trại cũ đi tìm người xưa, cảnh vẫn không thay đổi, cây đào vẫn còn đó đùa cợt với gió đông, mà người đi đâu vắng, cửa đóng khen cài.. Thôi Hộ bồi hồi thương nhớ mà cảm xúc viết thành bài thơ đem gài vào cánh cửa ….

Năm ngoái hôm nay cũng cửa nầy
Hoa đào má phấn đỏ hây hây
Người đi đâu mất, còn hoa đó
Ghẹo gió đông cười hoa ngất ngây
(Đề Đô Thành Nam Trang – Thôi Hộ)

Các nhà thơ đã lấy hình ảnh của sự vật chung quanh, những gì bình thường trong cuộc sống mà nói lên những luyến lưu nhung nhớ của những mối tình lãng mạn, tạo dựng lên những bức tranh thơ trữ tình sống động, quyến rũ người đọc . Một Thôi Hộ đã dùng hình ảnh tươi mát của cây đào cười trước gió đông để vẻ nên hình ảnh tha thướt kiều diễm của người con gái, còn Vương Duy thì dùng hình ảnh của cây đậu đỏ để thầm nói lên nỗi nhớ tương tư da diết . Có một truyền thuyết ở miền Hồ Nam có một thiếu phụ có chồng đi lính thú miền xa, chẳng may chồng chết ở biên cương, người thiếu phụ thường đứng dưới cây nầy nhớ chồng khóc thương đến chết rồi hóa thành hạt đậu đỏ, mà người ta thường gọi là hạt “tương tư” để nói lên nỗi nhớ nhung trong tình yêu trai gái hoặc bạn bè :

Nước nam đậu đỏ đâm chồi
Xuân về thắm nở xinh tươi trĩu cành
Chàng ơi hái nhé cho nhanh
Đậu xinh gợi nhớ tình xanh diệu huyền …
(Tương Tư – Vương Duy)

Những cuộc tình thật lãng mạn như duyên với nợ, gần nhau đó để mà xa nhau, để mà nhớ thương khi mùa xuân không hẹn hò và chẳng ngần ngại trở về tự nhiên .. một trái tim thơ đã ngân vang nghìn cung bậc hòa nhập vào trái tim yêu … khi gió xuân khe khẽ xuyên màn …

Cỏ Yên biếc ngọc tơ ngàn
Cành xanh trĩu nặng dâu Tần xa xa
Chàng thân viễn khách nhớ nhà
Thiếp buồn rười rượi ruột rà quặn đau
Gió xuân lạ lẫm từ đâu
Xuyên màn khe khẽ động sầu tâm ai …
(Xuân Tứ – Lý Bạch)

Mùa xuân đến, chồng đi công tác xa, vợ ở nhà nhớ chồng mà đành đoạn tâm cang, đâu còn thưởng thức được cảnh hoa nở chim hót :

Oanh vàng xua đuổi bay xa
Đừng cho chim cất tiếng ca trên cành
Chim kêu làm thiếp giật mình
Liêu tây khó đến đoạn đành tâm can
(Xuân Oán – Kim Xương Tự)

Có những nhà thơ đã bộc bạch tình cảm của mình một cách chất phác chân thành. Họ đã bày tỏ diễn đạt ý nghĩ và cảm xúc của họ đối với bạn bè một cách tự nhiên, không che đậy. Họ đã thích thú tìm thấy trong chân tình bạn hữu những tâm hồn đồng điệu hòa nhịp theo nỗi buồn trầm lắng và niềm vui cất cánh bay cao .. Hãy xem Trần Tử Ngang vào một ngày xuân tiễn bạn tri âm lên đường, chất ngất nỗi niềm nhớ nhung, tâm tình gắn bó thiết tha … lời thơ trầm bổng lưu luyến để mà hỏi “ Gặp nhau, biết bao giờ ? ”

Khói xanh vờn đuốc bạc
Tiệc ngon thơm rượu nồng
Tri ân tình cầm sắt
Đường đi ngăn núi sông
Khuất vòm cây trăng sáng
Sông Ngân tỏa ánh mờ
Lạc Dương chừ muôn dặm
Gặp nhau, biết bao giờ?
(Xuân Dạ Biệt Hữu Nhân – Trần Tử Ngang)

Hoặc bài thơ Ngày Xuân Nhớ Lý Bạch của Đỗ Phủ, cho thấy tình bè bạn, tri kỷ là cái gì cao quí trên cuộc đời nầy …

Thơ ai hơn Lý Bạch
Ý tứ hay xuất thần
Mát tươi như khai phủ
Tài cao tựa tham quân
Vị Bắc cây xuân ngát
Giang Đông mây chiều gần
Bao giờ chia chung rượu
Nâng chén luận thi văn
(Xuân Nhật Ức Lý Bạch – Đỗ Phủ)

Hoặc như Trịnh Cốc tiễn bạn ở bến sông Dương , bên những hàng liễu tha thướt màu biếc ngọc, xuân thắm… Họ đã cùng nhau đàm đạo, uống rượu, ngâm thơ, cùng chia sẻ cay đắng ngọt bùi trên đường đời, để rồi cũng đến ngày phải chia tay, mỗi người đôi ngả… Những cánh hoa dương ủ rũ héo mòn như thông cảm cùng đôi bạn . Mùa xuân là mùa của vui tươi hạnh phúc, của đoàn viên sum họp mà phải chia ly thì đâu có cảnh nào buồn
hơn …

Liễu xanh rờn bến sông Dương
Chạnh lòng ly khách hoa dương héo mòn
Ly đình sáo gió véo von
Tiêu Tương bạn đến, hướng Tần tôi đi
(Hoài Thủy Biệt Hữu – Trịnh Cốc)



Những buổi chiều cuối năm khi nhà thơ nhìn nắng tàn rơi rụng ngoài sân, một nhánh mai vàng vừa hé nụ, báo hiệu cho mùa xuân mới sắp đến, làm nhà thơ dâng tràn cảm xúc ngậm ngùi .. khi nhớ quê, nhớ bạn, tự xót thương cho cảnh ngộ của mình .. Tác giả mượn thể thơ thuật hoài để bày tỏ nỗi lòng u uẩn, bang khuâng, đồng thời hé mở cho thấy cái quan niệm về nhân sinh và cuộc đời, như bài thơ “Nỗi Lòng Đêm Cuối Năm” của Lưu Vũ Tích :

Suốt năm không vừa ý
Năm mới biết sao đây ?
Bạn bè xưa thương nhớ
Bao kẻ còn hôm nay
Lấy nhàn mà vui sống
Tuổi thọ bù gian nguy
Xuân đâu cần mới cũ
Chốn cùng cũng ghé ngay
(Tuế Dạ Vịnh Hoài- Lưu Vũ Tích)

Có những bài thơ mang tính hiện thực, có tinh thần xã hội tiến bộ, khi nhà thơ đã dùng thi ca để phản ảnh bộ mặt thực đen tối của xã hội, cái suy đồi của chế độ phong kiến, cái bất công của giai cấp thống trị vua chúa, cái bất nhân xấu xa của những ông quan có thế lực và tiền tài .. Những bài thơ mang tính chất xã hội có giá trị và đó chính là cái chức năng thiêng liêng và cao quí của kẽ sĩ chân chính .. Người phụ nữ trong chế độ quan liêu phong kiến bị ràng buộc bởi những quan điểm hủ lậu nghiệt ngã như “trọng nam khinh nữ” họ chỉ là những bóng mờ bên lề cuộc đời.

Cung Tây đêm vắng ngát hoa xuân
Muốn cuốn rèm châu oán hận dâng
Ôm ấp cung đàn nghiêng dáng nguyệt
Chiêu Dương mờ mịt bóng cây ngàn
(Tây Cung Xuân Oán- Vương Xương Linh)

Những tháng ngày tuổi xuân phơi phới của cung tần mỹ nữ đã bị đày đọa, chôn vùi trong thâm cung, cấm thành, có khi suốt cả cuộc đời chưa thấy mặt quân vương …

Lầu cao bóng liễu nghiêng che
Oanh ca hót sớm thảm thê cung tần
Hàng năm hoa rụng ai màng
Suối xuân đưa đẩy xuôi dòng ngự câu
(Cung Oán – Tư Mã Lễ)

Người phụ nữ trong cung cấm không được quyền có hạnh phúc, sau một thời gian sung sướng, họ không còn được ơn mưa móc, tự chấp nhận số phận hẩm hiu, âm thầm quạnh quẽ chôn vùi cuộc sống cô đơn trong chốn thâm cung lạnh vắng ủ ê sầu …

Ơn vua thất sủng biết về đâu ?
Thoảng chút hương xưa áo múa nhàu
Tự giận thân mình thua cánh én
Xuân về quanh quẩn bức rèm châu
(Trường Tín Cung – Mạnh Trì)

Họ mỏi mòn lê dài cuộc sống vô vọng, để thời gian vô tình tàn phai nhan sắc, và đôi khi ngẩn ngơ, chua xót và thương tiếc vu vơ cho thời gian hương phấn vàng son đã trôi qua :

Tuyệt trần tuyết phải nhường hoa
Hương thơm thoang thoảng vào tà áo vua
Gió xuân đâu biết bông đùa
Bay về thềm ngọc gió lùa bâng khuâng
(Tả Dịch Lê Hoa – Khâu Vi)

Họ phải âm thầm chịu đựng, nhẫn nhục, chấp nhận cuộc sống lạnh nhạt, lẻ loi, như một bổn phận , hay đúng hơn một sự tự chấp nhận cái thân phận không may mắn, như một duyên phận, định mệnh của cuộc đời hồng nhan hẩm hiu, mong manh ..

Đẹp xinh càng duyên bạc
Muốn về biếng gương soi
Ơn vua chẳng vì sắc
Trang điểm chi vẽ vời
Gió xuân mừng chim hót
Bóng hoa rợp ánh trời
Bao năm cô gái Việt
Phù dung hái nhớ người
(Xuân Cung Oán- Đỗ Tuân Hạc)

Hoặc có những nỗi oán phòng khuê … khi người phụ nữ tự ăn năn hối hận tại sao không biết giữ chồng ở nhà lo việc canh nông đồng áng mà chỉ mong chồng lên đường kiếm tước hầu quyền cao chức trọng …

Thiếu nữ phòng khuê chẳng biết sầu
Ngày xuân tô điểm bước lên lầu
Bên đường chợt thấy hàng dương liễu
Hận xúi phu quân kiếm tước hầu
(Khuê Oán – Vường Xương linh)



Phần đông những kẻ sĩ thời phong kiến chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng triết lý Khổng Mạnh hoặc Lão Tử, mỗi người có một cảnh ngộ khác nhau, để tùy theo đó mà có tư tưởng thái độ và hành động khác nhau . Từ cuối đời Hán đạo Phật du nhập dưới các phái Thiền Tông đã có ảnh hưởng sâu xa đến lối suy nghĩ, hành động, và cảm hứng của các thi nhân. Thơ đã phản ảnh được cái chí hướng, nhận thức, tình cảm và nếp sống của con người …Có những nhà thơ xem thường cuộc sống bon chen danh lợi, chán ngán thời thế mà chỉ thích ngao du sơn thủy, những dòng thơ của họ mang tính lãng mạn tiêu cực. Họ mang tư tưởng “lạc thiên tri mệnh”, muốn lui về ở ẩn sống yên vui qua ngày tháng :

Sống nhàn suy nghĩ triền miên
Đến, đi là sự ngẫu nhiên trên đời
Gió chiều đẩy chiếc thuyền trôi
Đường hoa thơm ngát mời người vào khe
Núi Tây đêm phủ mây che
Sao Nam lấp lánh bốn bề núi cao
Mịt mù sương khói đầm ao
Phía sau rừng thấp trăng sao tỏ mờ
Chuyện đời bỏ mặc ngu ngơ
Ôm cần câu cá nhởn nhơ vui đời
(Xuân Phiếm Nhược Da Khê – Cơ Vô Tiềm)

Chịu ảnh hưởng của đạo học, lấy tư tưởng vô vi xuất thế làm kim chỉ nam cho thực tại nhân sinh, xem công danh sự nghiệp, phù vinh phú quý như mây trôi gió thổi:

Xóa buồn đi, cứ vui chơi
Bận tâm danh ảo, thì đời mất vui !
(Khúc Giang – Đỗ Phủ)

Chán chê nếp sống xa hoa cung đình, từ chối cái hào nhoáng áo mũ xênh xang, có khuynh hướng thoát ly tiêu cực, thích vui thú điền viên, thơ văn của họ mang vẻ đẹp của bức tranh sơn thủy mộc mạc hữu tình, chan chứa đạo vị, an nhiên, dịu dàng và trong sáng…

Cõi trần xa lánh mười năm
Non xanh gối mộng đêm nằm trăng mơ
Lầu son... giấc ngủ vật vờ
Kiếp phù vinh chẳng có cơ thanh bần
Việc triều cương lắm gian truân
Sống say sưa chỉ thêm phần chán chê
Thôi thì quẩy sách về quê
Hoa cười chim hót bốn bề hương Xuân
(Quy Ẩn – Trần Phốc)

Họ an thân ẩn dật sống vui thú với rừng xanh ngan ngát cỏ hoa, suối chảy róc rách, chim kêu vượn hót, những khung cảnh thiên nhiên nhàn hạ, bình dị và tĩnh mịch.. Họ sống cuộc đời thanh cao đạm bạc … nên những lời thơ thường siêu thoát nhẹ nhàng, thoát tục, mang mang đạo vị …

Sang hèn tuy khác bậc
Ra đường phải tranh nhau
Riêng ta không ràng buộc
Sống chẳng phải lo âu
Mưa phùn đêm rơi nhẹ
Cỏ mọc nào biết đâu
Núi xanh trời rạng sáng
Chim ríu rít nhà sau
Thiền sư đôi khi gặp
Tiều phu dạo cùng nhau
Thua kém mình yên phận
Phú quí chẳng bền lâu
(U Cư – Vi Ứng Vật)

"Cuộc đời như giấc mộng – Làm chi thêm cực mà ..” thì cuộc đời cũng chỉ là “hoàng lương mộng” tỉnh giấc mà nồi kê vẫn chưa chín … nhà thơ Lý Bạch đã sống rất phóng túng ngạo nghễ, cách ly xã hội phiền toái, xa lánh trật tự quan liêu phong kiến của triều đình, xem thường cái quan điểm luân lý câu nệ, lễ giáo gò bó của nhà nho, nên những vần thơ của ông cũng phản ảnh sự bất chấp phóng túng hào hoa của ông rất tự nhiên :

Cuộc đời như giấc mộng
Làm chi thêm cực mà
Suốt ngày say bí tỉ
Ngủ lăn trước hiên nhà
Thức dậy nhìn sân trước
Chim hót vui đời hoa
Ngày nào hôm nay nhỉ
Gió xuân vờn oanh ca
Nhìn cảnh mà ngao ngán
Thấy rượu đành rót ra
Nghêu ngao chờ trăng sáng
Hát xong quên sầu ta
(Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí- Lý Bạch)

Có những nhà thơ đã muốn tự tách mình ra ngoài cái phiền toái của xã hội phức tạp, cái hưng phế thăng trầm của lịch sử triều đại, không đoái hoài đến cái vòng luẩn quẩn của phù hoa danh lợi, chỉ thích một cuộc sống nhàn dật vô vi, an nhiên tự tại với núi, sông, mây, gió .. Thái Thượng Ẩn Giả là ai ? những người cùng thời với ông chẳng ai hay biết … Ai hỏi thân thế nhà thơ ? ở đâu ? đi dâu ? Ông chỉ làm bài thơ “Đáp Nhân” (Trả lời người hỏi) … ở đâu, đến đâu cũng chỉ là sự tình cờ ngẫu nhiên … nói lên cái phong độ thư thái của người thơ … Dù cho xuân, hạ, thu, đông bốn mùa thay lá theo định luật tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ .. nhưng tâm hồn và quan niệm sống của người thơ vẫn không thay đổi, vượt thoát ra cái vòng cương tỏa của thời gian sách lịch, của xã hội tầm thường

Tình cờ bước đến gốc thông
Gối cao trên đá giấc nồng chiêm bao
Khó tìm sách lịch núi cao
Rét run đã dứt năm nào chả hay ?
(Đáp Nhân – Thái Thượng Ẩn Giả)

Những bài thơ đã diễn tả tâm trạng bi quan yếm thế … những người đã ngán ngẫm cảnh phù phiếm xa hoa, đã kinh sợ những chông gai cạm bẫy, những phản trắc của cuộc đời cát bụi vô thường … để bây giờ muốn trút bỏ tất cả những tục lụy trần ai của cuộc đời mà tìm đến thiền môn …. Một nơi chốn không còn hận thù tranh chấp, không còn đố kỵ nhỏ mọn ….

Trâm anh trút bỏ tặng quanh làng
Ngán ngẩm xuân tàn tóc cắt ngang
Kinh sợ đời người như nến gió
Giờ đây thân xác tựa sen vàng
Mở xem lá bối lầm chương gấm
Lần học trang kinh ngỡ bụi đàng
Sắc đẹp là không, thôi giã biệt
Sông Tương chắc vắng kẻ quyền sang
(Kỹ Nhân Xuất Gia – Dương Tuân Bá)

Một bài thơ tình mang gốc huyền thoại thần tiên mà người đời vẫn còn ưa thích, đã trở thành điệu hát ca trù rất phổ biến đó là Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai gồm 5 bài thơ chung một chủ đề ..Lưu Thần Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai hái thuốc và gặp hai tiên nữ rất xinh đẹp, mời Lưu Nguyễn về nhà tiếp đãi ân cần. Ở trong núi nửa năm, Lưu Nguyễn xin trở về nhà.. về đến trần gian đã trải qua bảy đời người . Trong 5 bài thơ đó có bài thơ tả “ Tiên Nữ Trong Động Nhớ Lưu Nguyễn” vào một ngày xuân thanh vắng :

Gảy khúc nghê thường chẳng có ai
Mộng trần đâu biết mộng tiên dài
Trời riêng góc động xuân yên ắng
Nẻo khuất dương trần nguyệt úa phai
Khe thắm cỏ tiên vờn cát ngọc
Suối thơm đào ngát nước xanh trôi
Mỏng manh sương sớm đèn trong gió
Muốn gặp chàng Lưu biết hỏi ai ?
(Tiên Tử Động Trung Hữu Hoài Lưu Nguyễn – Tào Đường)



Có những bài thơ hoài cổ vịnh sử, phản ảnh những giai đoạn thăng trầm của lịch sử … như bài Xích Bích Hoài Cổ của Đỗ Mục. Người thơ đã dùng những sự kiện hư cấu để làm câu chuyện thêm hứng thú bằng cách đưa ra một di tích lịch sử phát hiện được trên bãi chiến trường xa xưa, đó là một thanh kích sắt đã gãy và bị chôn vùi trong đất cát lâu ngày, để nhắc lại truyện xưa. Chu Du là danh tướng Đông Ngô thời Tam Quốc, là bạn của Tôn Sách và có công giúp Tôn Sách xây dựng nước Đông Ngô. Khi Tào Tháo đem quân xuống đánh, nhờ Khổng Minh cầu ngọn gió đông về để giúp Chu Du thực hiện được kế hỏa công đốt phá doanh trại của Tào Tháo, chiến thắng trận Xích Bích vẻ vang .. Hai Kiều đây có ý nói là hai người đẹp nổi tiếng của Đông Ngô, Đại Kiều vợ của Tôn Sách và Tiểu Kiều vợ của Chu Du … Trong bài thơ vịnh sử nầy Đỗ Mục đã đặt giả thuyết nếu không có ngọn gió đông giúp Chu Du thì Đông Ngô bại trận và hai nàng Kiều đã bị bắt về đài Đông Tước …

Kích vùi trong cát, sắt chưa tan
Mài rửa, triều xưa thấy rõ ràng
Giá thử Chu Du không được gió
Hai Kiều bị giữ chốn đài xuân
(Xích Bích Hoài Cổ – Đỗ Mục)

Mùa Xuân đến mọi nơi, nhưng không phải nơi nào cũng là chốn để vui xuân, thưởng xuân .. khi mà chiến tranh khói lửa triền miên đã xảy ra, gây bao cảnh biệt ly, tang tóc … Ở những chốn biên cương, đèo heo hút gió … xơ xác ảm đạm thì mùa xuân chỉ còn hoang vắng, lạnh lẽo, thê lương … “mộ biếc ba xuân đầy tuyết trắng “ như những lời than oán rền rĩ của người lính thú biên cương, phải đằng đẵng xa gia đình bao năm tháng …như trong bài thơ tả cảnh biên tái như sau :

Bao năm ải Ngọc với sông Vàng
Mỗi sáng roi vờn với kiếm cung
Mộ biếc ba xuân đầy tuyết trắng
Hắc sơn muôn dặm uốn sông Hoàng
(Chinh Nhân Oán – Liễu Trung Dung)

Xuân đến và xuân đi như gió thoảng mây trôi … Xuân đến cho muôn hoa đua nở, mạch sống tuôn tràn … Xuân đi cho hoa lá héo tàn , lòng người cô quạnh, cảnh trời hiu hắt ..Tuổi xuân cũng chỉ ngắn ngủi tấc gang, chẳng sống được dài lâu .. Xuân đã đi rồi đi đem lại nỗi sầu tàn phai, thương tiếc, nhớ nhung như hai nhà thơ Hàn Dũ và Vương Duy đã bộc bạch :

Biết xuân chẳng ở dài lâu
Cỏ cây khoe sắc muôn màu khắp nơi
Quả du hoa liễu kém tươi
Chỉ còn bông tuyết khắp trời bay giăng
(Vãn Xuân- Hàn Dũ)

Già theo ngày tháng trôi nhanh
Năm quanh quẩn hết, xuân xanh đến hoài
Vui cùng cốc rượu mà say
Cần chi thương tiếc hoa bay ngoài trời
(Tống Xuân Từ – Vương Duy)

Mùa xuân trong Đường Thi là bức tranh thủy mạc màu sắc hài hòa, có những nhà thơ tả cảnh thiên nhiên núi sông cây cỏ hoa bướm bằng những nét chấm phá đơn sơ, mộc mạc, nhưng đó là những gam màu pha trộn của một nghệ thuật hội họa tinh vi và sâu sắc .. Bằng những tầm mắt xa rộng, họ đã cho chúng ta thấy cái huyền diệu của thiên nhiên vũ trụ bao la, của hương vị Thiền và Đạo man mác , của sự thư thái và an nhàn để mà suy tư về sự vô thường và hữu hạn của cuộc đời . Những hình ảnh linh động và âm thanh dạt dào trong ngôn từ tinh vi cô động đã biểu hiệu cảm xúc chân thành, và gợi lên những liên tưởng thâm thúy và tư duy mẫn cảm .. Hãy lắng nghe tiếng chim kêu lanh lảnh bên khe suối mùa xuân của thi sĩ Vương Duy :

Người nhàn hoa quế rụng
Đêm xuân núi đìu hiu
Trăng lên chim thảng thốt
Khe xuân vọng tiếng kêu
(Điểu Minh Giản – Vương Duy)

Bài thơ tả tình và cảnh một cách rất nghệ thuật, mông lung giữa làn sương khói u hoài và ánh trăng soi huyền diệu trên bến nước dập dềnh mênh mông … làm người đọc phải bần thần suy tư : đó là bài thơ “Đêm Hoa Trăng Trên Sông Xuân” của Trương Nhược Hư . Nhà thơ đã xử dụng ngôn ngữ thẩm mỹ một cách tài tình, những hình ảnh âm thanh sống động có sức gợi cảm ngân vang, cùng với sự sáng tạo, tưởng tượng liên kết lạ lùng, gây nên những tác động mạnh mẽ và sự tiếp thụ phong phú nơi người đọc . Bài thơ đã dẫn dắt người đọc đưa những bước chân hụt hẩng vào một thế giới cảm xúc mênh mang của cụ thể và trừu tượng, của vô hình và hữu hình, của thực chất và mộng ảo …

Biển vắng sông êm gợn nước bằng
Lung linh trăng tỏ sóng triều dâng
Mênh mông theo sóng trôi ngàn dặm
Xuân thắm sông nào chẳng có trăng ?

Sông quanh đất ngát thoảng hương đầy
Trăng sáng rừng hoa ngỡ tuyết bay
Lất phất sương rơi nào có thấy
Sông dài cắt trắng chẳng ai hay

Tinh khiết trời sông một sắc màu
Trăng soi vằng vặc suốt đêm thâu
Hỏi ai đã thấy vầng trăng cũ
Có nhớ năm nao rực bến đầu

Kiếp người dâu bể mãi sinh sôi
Trăng chiếu bên sông cũng thế thôi
Chẳng biết vì sao trăng rạng rỡ
Sông dài giục giã nước buông trôi

Lơ lửng mây trôi trắng xóa màu
Hàng phong bến vắng động tâm sầu
Đêm nay thuyền nhỏ ai rong ruổi
Trăng sáng lầu cao gợi nhớ nhau

Quạnh quẽ vầng trăng dạ thốn đau
Sáng soi gương điểm kẻ ly sầu
Luyến lưu trăng ngủ trên thềm ngọc
Quanh quẩn chày đêm dẫu quét lau

Càng ngóng trông nhau cứ biệt tăm
Xin trăng xoải bóng đến thân chàng
Khó mang ánh nguyệt ràng chân nhạn
Rồng cá đua bơi gợn sóng vàng

Hoa rơi đầm vắng mộng đêm qua
Tiếc nửa đời xuân cố quận xa
Sóng nước trôi xuân, xuân sắp tận
Đầm tây trăng xế lạnh đêm tà

Trăng chìm sóng biển dặt dầy sương
Núi Kiệt sông Tương bóng mịt mùng
Mấy kẻ cưỡi trăng nào có biết
Bến cây trăng lạnh nghĩ mà thương …
(Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ – Trương Nhược Hư)

KẾT LUẬN : Thế giới Đường Thi là một bức tranh thủy mặc hài hòa với những con chữ lẫn hồn thơ, là một sự phối hợp tuyệt tác giữa các màu sắc tuyệt mỹ và âm thanh trầm bổng làm quyến rũ người thưởng ngoạn vô cùng …

Trên thi văn đàn Trung Quốc, mỗi một thi-sĩ có một cá tính sắc thái riêng biệt, một phong cách và khuynh hướng khác nhau.. Trong phạm vi thu hẹp đề tài “ Tình Xuân Trong Đường Thi” chúng tôi chỉ xin đan cử một số bài thơ xuân tiêu biểu mà thôi, chứ thật ra kho tàng của Đường Thi chất ngất vô vàn, như khu rừng trùng trùng điệp điệp đầy hoa thơm cỏ lạ… Những người yêu thơ dầu ở cách xa nhau ngàn dặm, không nói, mà vẫn có những điểm tương đầu ý hợp khi cảm xúc được một bài thơ hay, một câu thơ đẹp, một ý thơ thâm thúy nào đó …

Tác giả nếu có gì thiếu sót hoặc bất cẩn xin quí cụ túc nho trưởng thượng miễn thứ, và mong bạn đọc yêu thơ Đường miễn chấp . Tác giả xin chân thành cảm tạ .

Vì chúng tôi chưa có nhu liệu cần thiết để đưa nguyên tác bài thơ chữ Hán lên liên mạng, xin quí bạn đọc thông cảm.

Hải Đà - Vương Ngọc Long


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Xuân và Bài thơ NHỨT CHI MAI   Sun Jan 11, 2015 11:38 am




CÀNH MAI MÃN GIÁC

Thích Lệ Thọ

Mai là một loài hoa đặc biệt chỉ khoe sắc thắm khi tiết trời quang đãng và ấm áp. Vì thế, nó được dân tộc Việt nam yêu quí như một người bạn thân thiết, không thể thiếu vào dịp lễ hội Tết cổ truyền của dân tộc. Ngoài nét đặc biệt đó ra, nó còn là một biểu tượng của sự vươn dậy sau giấc ngủ co mình trong những ngày tháng ảm đạm và giá rét của Thu Đông. Khi nhìn thấy sắc vàng tươi thắm của hoa mai người ta còn liên tưởng rằng, nó đồng hành với mùa xuân vào dịp xuân sắp đến, đang đến hay mới đến. Mang lại vui tươi, hạnh phúc, may mắn, dồi dào, thịnh vượng, sức khoẻ, trẻ trung…

Mùa của sức sống rừng rực dâng lên khiến cho lòng người hân hoan thư thới và lạc quan yêu đời, yêu người hơn. Vì vậy, khi mai nở, xuân về là một nguồn cảm hứng bất tận cho những tâm hồn nhân sĩ, thi sĩ… mặc tình rong chơi hoặc tắm mình trong thiên nhiên:

"Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành Lê trắng điểm một vài bông hoa…"

Từ khoảng trời mênh mông nên thơ đó, mỗi người tự cô đọng cho mình thành những vần thơ bất hủ, những áng văn trác tuyệt đi vào lòng người như bài thi kệ "Cáo tật thị chúng" của Mãn Giác Thiền sư:

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Đây là một trong những bài thơ được trong giới nhà thiền hay những văn nhân thường nhắc lại cái hay, cái đẹp của ý tứ thơ vào những độ xuân về.

Thông thường, hàng năm khi đưa tay bốc đi tờ lịch cuối cùng trên vách, là mọi người đều có cùng một ý nghĩ, xuân đã về. Và cũng lấy đó làm cột mốc thời gian cho ba trăm sáu mươi lăm lần vòng quay của trái đất, để đánh dấu cho ngàn lẻ một chuyện như: Hạnh phúc, vui tươi, thành đạt, tủi nhục, chán nản thất vọng… Nhưng tất cả đều được gác lại với sự bằng lòng hoặc miễn cưỡng, để hòa mình cùng sự vươn dậy của trời đất thiên nhiên đang lai động đến muôn hoa khoe sắc thắm, nghìn lá đâm chồi nẩy lộc mà mọi người gọi đó là biểu tượng Kiết tường, và luôn mong mõi nó sẽ kéo dài cho những ngày sắp tới, để bù lấp cho những điều bất như ý không trông đợi mà nó vẫn đến! Đó là những ngày tận hưởng hương vị của xuân hoặc vui cái Tết cổ truyền của dân tộc. Để rồi sau đó, mọi người lại phải lăng xăng, tất tả, ngược xuôi cho công việc của mình.

Cảm nhận xuân như thế là xuân của thời tiết, vui xuân trong nỗi thụ động của thế thường tình, nên Chế Lan Viên đã gom lại thành những vần:

"Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
Với tôi tất cả là vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…"

Quả là, Thi nhân đã cảm nhận được dòng sinh diệt đang vận hành một cách tùy thuộc, vay mượn, không có tính độc lập mà con người là nạn nhân trong guồng quay vô tận đó! Nhưng, chính tác giả cũng không làm gì hơn, để chia xẻ với những ai có cùng tâm tư – bâng khuâng, xao xuyến… Phải chăng, trong cuộc sống này, tất cả chúng ta không ai thoát được quy luật hiển nhiên khắc nghiệt đó, để phải suốt cả một đời đuổi bắt câu vó thời gian! Nên ngay cả Thi sĩ Mãn Giác Thiền Sư cũng để lại rằng:

Xuân đi, trăm hoa rãi
Xuân đến,trăm hoa khai
Xem chuyện đời trước mắt
Tóc trên đầu đã phai
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Tối qua, vườn trước một cành mai.
(Thi sĩ Võ Đình dịch)

Không, mới đọc vào hai câu đầu của Thi kệ, chúng ta đã nghe lạnh cả hư không và tê buốt cả cõi long, vì cách sử dụng ngôn từ khúc chiết, dè xẻn để chuyển tải ý. Mặc dù, từ ngữ hết sức bình dị, đối với những ai ít khi dùng từ Hán-Việt vẫn có thể hiểu một cách trọn vẹn. Nhưng nó lại mang ý và tứ thơ vô cùng thâm viễn, chúng ta thử đọc lại nguyên văn:

"Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai…"

Sự vận hành của thiên nhiên là thế đấy. Khi xuân đã đi thì trăm hoa rơi rụng, nhưng khi mùa xuân sẽ đến, đang đến thì trăm hoa khoe sắc thắm, dưới nắng vàng dìu dịu và vài cơn gió thoảng đung đưa cành lá. Xuân đến và đi, trong mắt của Thiền sư là thế – thanh thoát, nhẹ nhàng, bình thản và an lạc. Cho nên ngay cả:

"Xem chuyện đời trước mắt
Tóc trên đầu đã phai…"

Cũng chẳng có gì là vướng bận tâm hồn. Bởi, Sinh, Trụ, Dị, và Diệt là như thế, nên cứ bình thản mà sống với hiện hữu. Những việc qua rồi không nên nuối tiếc, những gì chưa đến thì đừng mong cầu. Sở dĩ, mỗi cá nhân cảm thấy mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét và muốn luôn bức bách trong cuộc sống là vì không thể kiềm chế lòng ham muốn. Nói như vậy, không phải triệt tiêu ý chí phấn đấu vươn lên của cá nhân trong guồng máy xã hội. Mà ngược lại, nó mang một chiều hướng tích cực, góp phần cho việc ổn định, phát triển và đem lại hòa bình thế giới bởi mỗi cá nhân là thành viên của một quốc gia, hay nói rộng hơn là thành viên của cộng đồng loài người, nên mỗi cá nhân có hoàn thiện thì thế giớ mới hòa bình, đó là điều kiện ắt có và đủ. Chính vì thế, Mãn Giác Thiền Sư đã khẳng định:

"Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Tối qua, vườn trước một cành mai…"

Để cho chúng ta thấy rằng, qui luật dời đổi tang thương của vũ trụ chỉ là trò đùa đối với những ai đứng bên ngoài sự vận hành và hiểu rõ từng chuyện đời trước mắt một cách linh hoạt, tự tại như Vạn Hạnh Thiền sư đã từng thấy:

Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời
Sá chi suy thạnh việc đời
Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.
(Thích Mật Thể dịch)

Đối với các ngài là thế, bình thản trước cảnh biến đổi thời tiết và bãi bể hóa nương dâu, nên vui buồn, được mất không làm sao nao núng tinh thần. Trong khi đó, tâm tư của chúng ta lúc nào cũng đầy ấp bóng dáng của khổ đau, sợ hãi, lo âu và tránh né sự thật. Vì thế, khi được thì vui, mất thì buồn. Biệt ly thì đau khổ, gần gũi thì hạnh phúc. Ai khen thì nở mặt, ai chê thì ủ rũ. Vừa ý thì hân hoan, trái ý thì cáu giận. Nên khi gặp cảnh biến thiên của vạn hữu vũ trụ thì ngậm ngùi như Nguyễn Gia Thiều:

"Trải qua một cuộc biển dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…"

Trong khi đó, ngoài bộ mặt đau thương biến đổi của Vô thường còn có sự vĩnh hằng, an lạc của tâm thức và ngoại cảnh. Tuy nhiên, chỗ thâm ảo này phải trầy trật lắm mới thẩm thấu được sự thật của vấn đề. Như chúng ta đã đọc biết bao nhiêu lần bài thi kệ của Mãn Giác Thiền sư, nhưng vẫn không có được cái thấy tự tại, an lạc và giải thoát như ngài. Phải chăng, đó chính là mấu chốt của vấn đề mà ngài muốn nhắn gởi đến chúng ta, hãy tu tập, thực hành thiền định, sống trong thiền định. Đừng chạy theo hiện tượng thời tiết và chẻ sợi tóc ra làm muôn mảnh để tìm sự thật trong đó!

Tóm lại, cành mai còn sót lại trước sân chùa sau đêm giao thừa với không khí tưng bừng của ngày lễ hội, hoặc còn sót lại cuối mùa xuân. Thậm chí, cho đến nó không có thật trong mùa xuân đó, thì cũng chẳng có gì để chúng ta thắc mắc. Nhưng chỉ có điều là chúng ta phải ghi nhận là cành mai đó nó có trong mắt của Mãn Giác Thiền sư, và không chỉ có khi mùa xuân sắp đến, đang đến mà nó hiện hữu hằng sát na trong ngài. Bởi vì, ngài đã từng lặng ngắm thế sự thăng trầm như vậy nhiều năm và trực nhận triệt để về tính cách bất biến vô sinh của chân tâm, thấy được bản thể vốn tịch nhiên vắng lặng và bất sinh bất diệt từ xưa đến nay và mãi mãi về sau cũng là như vậy. Thì làm gì còn có đến, đi, tàn, phai và héo úa của một cành mai đối với ngài. Phải chăng, đó chỉ là cách nói thâm trầm của người Đông phương khi muốn diễn đạt một vấn đề cho người khác cùng thấy như mình!

Nhân mùa xuân năm 2000, mùa xuân bắt đầu của một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên đầy hứa hẹn của sự thành tựu khoa học, để phục vụ cho con người về phương diện vật chất, người viết mạo muội nói lên một vài cảm nhận qua bài thi kệ của Mãn Giác Thiền sư để được dịp trao đổi cùng các bậc thức giả, nhằm mang lại món ăn tinh thần cho dân tộc nói riêng và cộng đồng loài người nói chung. Đang khi cầm chung trà, miếng mứt để thưởng thức hương xuân lan tỏa, chúng ta, đồng thời, cũng nên lẳng lặng cảm nhận niềm an lạc, trước một mùa xuân mới, mùa xuân của thời tiết. Nhưng nó lại mang sức sống rừng rực dâng lên khiến cho lòng người hân hoan thư thới, lạc quan yêu đời và ngừơi sống vì mọi người, trên tinh thần vô ngã, vị tha và bình đẳng. Đó là bức thông điệp của Mãn Giác Thiền sư đã gởi cho chúng ta từ nhiều thế kỷ qua!

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Về Đầu Trang Go down
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Xuân và Bài thơ NHỨT CHI MAI   Wed Jan 21, 2015 10:40 am



NHẤT CHI MAI

                                        
Nguyễn như Hải
                     

Hàng năm cứ độ xuân về, các giai phẩm xuân, báo xuân đều trình làng những bài thơ mới. Tuy nhiên có một bài thơ cũ cách đây gần ngàn năm vẫn thường được nhắc đi nhắc lại nhiều lần hàng năm mà không làm ai chán cả. Ðó là  bài thơ của Thiền Sư Mãn Giác. Nó được nhiều học giả và các nhà sư lý giải qua nhiều lăng kính khác. Nhân dịp xuân về tôi cũng mạo muội trình bày nó qua lăng kính của một người Thông Thiên Học.
       
Bản Hán Việt như sau:
                         
Xuân khứ bách hoa lạc                         
Xuân đáo bách hoa khai                         
Sự trục nhãn tiền quá                         
Lão tùng đầu thượng lai                         
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận                         
Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai
     
Bài thơ này được Cụ Ngô tất Tố dịch như sau:
                                                   
Xuân đi trăm hoa rụng                         
Xuân đến trăm hoa cười                          
Trước mắt việc đi mãi                          
Trên đầu già đến rồi                         
Ðừng bảo xuân tàn hoa rụng hết                         
Ðêm qua sân trước một cành mai
 
Về phương diện văn chương, bản dịch của cụ rất hay. Nó được thi nhân lồng vào đó cảm xúc của mình và thi vị hóa thêm  (hoa cười- việc đi mãi- già đến rồi). Cái đẹp thi văn chú trọng nhiều vào nét thẩm mỹ hơn. Ðể cho phù hợp với góc nhìn của mình, mang tính khoa học quy luât hơn. Ðồng thời giữ được nét thản nhiên của thiền và  hai cặp đối đại nhị nguyên (bốn chữ cuối của bốn câu đầu) mà thiền sư rất chú trọng. (Tôi xin mở ngoặc ở đây một chút. Mỗi góc nhìn đều có một sắc thái riêng và giới hạn của nó. Ở đây tôi chỉ nêu ra sắc thái chứ không có ý phê bình.) Tôi xin được dịch như sau:
 
Xuân đi trăm hoa rụng                           
Xuân đến trăm hoa khai                           
Dòng đời qua trước mắt                           
Tuổi già đến sau lưng                          
Ðừng bảo xuân tàn hoa rụng hết                           
Ðêm qua sân trước một cành mai

“Hoa rụng”, “Hoa khai”, “qua trước mắt”, “đến sau lưng” đó là những chữ tôi dùng để mô tả cuộc đời bằng sự quan sát khách quan, một đặc tính của khoa học. Ðồng thời vẫn giữ được âm điệu thản nhiên, một hương vị của thiền. Ngoài ra tôi dùng hai cặp “hoa rụng/hoa khai” và “trước mặt/sau lưng” để đối hai cặp “hoa lạc/ hoa khai” và  “quá/lai”. Tuy rằng không chỉnh về lời, nhưng chỉnh về ý vì nó tạo được hai cặp đối đãi mà Thiền Sư Mãn Giác đã dụng công đưa vào mà đa số những bài dịch khác từ trước tới nay ít chú ý đến điểm này, một điểm then chốt khi bàn luận về thiền.

Trở lại bài thơ trên với hai câu đầu, Thiền Sư Mãn Giác trình bày một quy luật bất di bất dich của thế giới sắc tướng này: đó là lẽ sinh diệt, diệt sinh, thành, trụ, hoại, diệt, xuân, hạ, thu, đông, v…v, quy luật tuần hoàn của vũ trụ, nét đặc thù của thế giới sắc tướng - ẩn hiện, biến ảo và quy luật này chi phối tất cả mọi phần tử trong vũ trụ. Câu ba và câu bốn thiền sư đem quy luật này ứng dụng cụ thể vào con người. Theo dòng đời con người sẽ già và mất . Cái hay của bốn câu thơ trên là chỗ một quy luật khoa học đã được thiền sư trình bày bằng một tiết điệu của thi ca mà không làm mất đi tính chất khách quan của định luật khoa học. Ðọc bốn câu thơ trên ta thấy thiền sư không dùng bất cứ một tĩnh từ hay trạng từ nào (thường thì những tĩnh từ hay trạng từ hay được thi nhân dùng dể diển tả những cảm xúc của thi nhân cùng tăng phần thẩm mỹ. Tuy nhiên, đôi khi chúng làm mất đi cái tính khách quan). Thay vào đó thiền sư dùng toàn động từ để mô tả tánh cách vận hành của một quy luật khoa học một cách rất chính xác, nhưng khi đọc lên lại vẫn có giai điệu thi ca mới hay (thường trong thơ  mà dùng toàn động từ đơn điệu thì nó dễ thành văn xuôi). Ngoài ra thiền sư đã khéo léo trong khi gieo vần, đặt bốn chữ cuối cùng của bốn câu thơ đầu thành ra hai cặp, lạc/khai (diệt/sinh), quá/lai (đi/đến) để tạo thành ấn tượng cho người đọc. Bằng lối điệp ý, Thiền Sư đã xử dụng  hai cặp đối đãi nhị nguyên liên tục trong bốn câu đầu. Ðiều này cho chúng ta thấy thiền sư muốn nhấn mạnh đến quy luật tất yếu này, quy luật của thế giới nhị nguyên đầy sắc tướng này. Nhìn thấy việc dụng công trong việc dùng chữ của tác giả, nên tôi cũng theo ấy mà dịch.

Trong câu ba thiền sư dùng chữ “nhãn tiền”, hẳn là thiền sư muốn nói cái quy luật này quá rõ ràng ai cũng nhìn thấy, nó quá hiển nhiên, lồ lộ giữa ban ngày. Quả thật, quá rõ ràng.  Hoa nở rồi hoa tàn, rụng - MẤT. Con người sinh ra, trưởng thành, bịnh tật rồi chết, hình hài tan biến - MẤT. Quả thật,không còn trật vào đâu KHI NÓ BIẾN MẤT trong thế giới sắc tướng này, và rồi ai cũng đinh ninh là như vậy. Nhưng vừa dứt câu bốn qua câu năm thiền sư liền cảnh giác: “Ðừng bảo xuân tàn hoa rụng hết”. Bây giờ chúng ta lần lượt xem xét từng chữ trong câu trên xem thiền sư muốn truyền đạt điều gì. Xuân tàn  ý nói đến quy luật. Còn hoa ở đây biểu tượng cho Sự Sống là Chơn Nhơn là Bản Ngã, là Bản Lai Diện Mục, là cái gì cũng được tùy bạn gọi. Hoa lạc tận là hoa rụng hết, không còn hoa nữa - biến mất. Tóm lại ý của câu thơ thứ năm là đừng lầm lẫn khi nghĩ rằng sự hủy diệt hình hài, sắc tướng cũng hủy diệt luôn sự sống  ẩn tàng ở bên trong mà Thông Thiên Học gọi là gọi là Chơn Nhơn, con người thực thụ của mình - bất tử, không bao giờ chết. Chỉ có Phàm Nhơn ẩn hiện theo quy luật. Sự hiển rồi ẩn của Phàm Nhơn cho chúng ta cái cảm giác mất mát. Theo Thông Thiên Học, Phàm nhơn không chỉ là Thể Xác này mà nó còn có hai thể khác nữa; đó là Thể Vía và Thể trí. Theo chu kỳ tiến hóa (luân hồi), con người thể hiện qua các thể để tiến hóa nên cái định luật xuân tàn này chỉ ứng dụng cho thế giới sắc tướng của các thể mà thôi. Hình tướng biến thiên, còn mất, ẩn hiện, đôi khi người ta còn gọi nó là thế giới mộng ảo nhưng Sự Sống, Chơn Nhơn, con người thực, linh hồn vẫn trường tồn bất diệt.

       Câu sáu thiền sư sẽ cho chúng ta thấy cái trường tồn bất diệt ấy, một câu thơ thật thần kỳ. Chúng ta hãy xem câu sáu nói gì.

“Ðêm qua” nói về ngày tháng, biểu tượng cho thời gian.

“Sân trước” nói về nơi chốn, biểu tượng cho không gian.

Một cặp nhị nguyên: không gian/thời gian.

     Thường thì chúng ta thấy cặp nhị nguyên xuất hiện dưới dạng có/không, trắng/đen, phải/trái, trước/sau, sinh/tử như một dạng hình học phẳng. Nhưng ở câu kết thiền sư cho chúng ta thấy thêm một dạng thức khác đó là cặp thời gian và không gian như dạng hình học không gian đa chiều. Nó biến ảo khôn lường rất khó mà nhận dạng được chúng. Hải ở Việt Nam, Hải ở  Hoa Kỳ, Hải 1960, Hải 2000 Hải nào là Hải đây? Cặp nhị nguyên này cũng rất quen thuộc với người Thông Thiên Học.

   Ngoài ra thiền sư cũng cho chúng ta thấy chúng trong  dạng  thức nhị nguyên khác: âm/dương.

 “Ðình tiền” - sân trước ý là lồ lộ công khai biểu tượng cho dương tính .

 “Tạc dạ” - đêm tối ý là ẩn kín biểu tượng cho âm tính.

    Quả thật là tài tình khi dụng ngữ. Cùng một chữ mà Thiền sư làm cho người đọc nhận ra được tính đa dạng biến hóa của một cặp nhị nguyên như một viên kim cương lấp lánh nhiều mặt.

    Theo tôi câu sáu này có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất thiền sư muốn truyền đạt là Sự Sống Duy Nhất (nhất chi mai) hay Chơn Nhơn nó thường hằng. Nó lồ lộ giữa ban ngày (đình tiền) vì vô minh (tạc dạ) nên chúng ta không nhận ra được.  Chúng ta chỉ thấy cái sắc tướng bề ngoài mà thôi.

   Muốn hiểu được nghĩa thứ hai mà thiền sư muốn truyền đạt, chúng ta phải để ý đến cách hành văn trong câu sáu. Nó không phải là một câu mà là ba nhóm chữ kết hợp mà không có động từ_: “Ðình tiền_ tạc dạ _nhất chi mai”. Những khoảng hở không động từ này chính là hành động  mà hành gỉa phải tự điền vào. Thật vậy, qua một khoảng cách thì chúng ta phải làm thế nào? Chỉ có một cách duy nhất là phải vượt qua. Phải vượt qua thế giới nhị nguyên đầy sắc tướng này để đến bờ nhất thể _nhất chi mai. Nếu thiền sư dùng động từ vượt ở trong câu thì nó là cái vượt của nhị nguyên mất rồi. Không thể nói được, chỉ có sống thôi, chỉ có hành động thôi.  Thiền sư đã dẫn dắt hành gỉa một đoạn đường rồi để hành gỉa phải tự mình tìm lấy cho mình một hành động thích hợp mà sống-sống thiền. Như thế mới quả thật là thiền. Không nói mà là nói. Không dùng động từ mà đầy cả hành động. Khi sự sống được người ta trình bày, được nói, đươc chuyển thành khái niệm hay được định nghĩa thì nó đã chết tức thì cho nên thiền sư không nói mà để dành cho hành gỉa tự điền vào chỗ trống- tự hành. Quả thật là đầy tính thiền.

    Nói tóm lại bài thơ trên thiền sư Mãn Giác đã dẫn dắt hành giả từ thế giới nhị nguyên đến thế giới trường tồn bất diệt một cách mạch lạc và đầy hương vị của thiền học. Thiền sư ân cần nhắc nhở dù cho sắc tướng có biến thiên thế nào cũng đừng lầm lẫn. Hình tướng bị hủy diệt, tan biến đó chỉ là những biến ảo của thế giới nhị nguyên đầy sắc tướng mà thôi. Hành gỉa phải hiểu rằng còn có "một cành mai " một Sự Sống Duy Nhất vẫn trường tồn, một Bản Ngã duy nhất vẫn bất diệt đang ẩn tàng trong đó. Theo chu kỳ tiến hóa, Phàm Nhơn ẩn, hiện - chết, sống nhiều kiếp làm cho chúng ta có cảm giác mất mát. Sự mất mát, sự ẩn rồi hiện chỉ là sắc thái của những chu kỳ tiến hóa mà thôi. Nên dẫu Phàm Nhơn có ẩn, hiện, biến mất nhưng Chơn Nhơn vẫn còn đó bất diệt.

Ðừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Ðêm qua_sân trước_một cành mai.

Nguyễn như Hải

Về Đầu Trang Go down
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Xuân và Bài thơ NHỨT CHI MAI   Tue Feb 03, 2015 3:16 pm




Ý XUÂN TRONG THƠ THIỀN

Tuệ Phong

Thơ tức họa và họa tức thơ, có nghĩa thơ là bức tranh, bức họa mà tác giả muốn vẽ ra, ngược lại tranh hay họa là những vần thơ không lời. Những vần thơ tuyệt tác cũng là bức tranh tuyệt hảo không thể dùng bút giấy để vẽ lên được.
      
Xuân, hạ, thu, đông trong bốn mùa, mùa xuân cũng là một trong bốn mùa tạo một niềm cảm hứng cho thi nhân nhiều nhất. Có lẽ mùa xuân biểu tượng cho sự đổi mới, một chu kỳ mới bắt đầu cũng biểu tượng cho niềm tin, sức sống bừng lên, khởi sắc, hy vọng, một cái gì ấm áp của đất trời trở về sau những cái lạnh cắt da, vạn vật cuộn thu nhỏ lại của mùa đông.
       
Trong không khí xuân biểu tượng sự trong sáng thanh tịnh, chúng ta hãy thử tìm hiểu ý nghĩa những vần thơ xuân mang hương thiền và tâm tình tác giả.
       
Từ xa xưa những vị Thiền Sư thường hay dùng câu kệ hay bài thơ về thiên nhiên để diễn đạt ý thiền. Chúng ta thấy tư tưởng Thiền thẩm thấu vào toàn thể nền văn hoá viễn đông qua các bộ môn nghệ thuật như hoa đạo, trà đạo, thư đạo v.v, và tập quán đời sống. Thiền không chỉ đến với đời sống qua nghệ thuật, với khái niệm đơn sơ, giản dị, ngay thẳng và hùng tráng của Thiền có sức quyến rũ mạnh đến thành phần võ sĩ Nhật Bản. Tu tập Thiền giúp cho họ không chỉ sống hòa nhịp với trời đất, giác ngộ tinh thần vô ngã mà còn khắc phục tinh thần sợ chết. Có nhiều bài thơ đã nói lên tinh thần này của người võ sĩ, chẳng hạn như bài thơ sau trích dẫn từ “Phật Quang Quốc Sự Ngữ Lục” như sau:

“Càn khôn vô địa trác cô trúc.
Thả hỉ nhân không pháp diệc không.
Trân trọng đại Nguyên tam xích kiếm.
Ðiện quang ảnh lý trảm xuân phong.

Phỏng dịch:

“Sừng sững một mình giữa càn khôn.
Vui thay pháp không ngã cũng không.
Hào hùng Hiệp sĩ vung thanh kiếm.
Nhanh như chớp cắt cả gió xuân.
       
Vào thế kỷ thứ 11 ở Việt Nam, Thiền Sư Mãn Giác (1052-1096) thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông đời nhà Lý, được vua Lý Nhân Tông phong tước hiệu Hoài Tín Đại Sư. Theo Thiền Uyển Tập Anh, Thiền Sư đã làm bài thơ tựa “Cáo Tật thị chúng” có nghĩa thông báo với mọi người có bệnh, và đã viên tịch sau đó thọ được 45 tuổi. Bài thơ tuy chỉ có sáu câu, trải hơn ngàn năm vẫn còn được mọi người ưa thích và truyền tụng cho đến ngày hôm nay.

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Phỏng dịch:

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa nở
Dòng đời trước mặt trôi
Cái già đến đầu rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.
   
Hai câu đầu tác giả diễn tả trạng thái tự nhiên của tạo hóa, vận chuyển thay đổi vạn vật đất trời, như gió thổi mây bay, như trăng tròn rồi lại khuyết, đông qua xuân đến rồi hoa nở, xuân đi thì hoa rụng cứ như thế liên tục đổi thay không ngừng, cũng như trái đất cùng hệ thống thái dương hệ liên tục di động vào không gian vô tận.
      
Hai câu tiếp Thiền sư cũng vẽ lên cho chúng ta thấy hình ảnh tự nhiên vô thường của xã hội loài người và ngay cả chính cái kiếp nhân sinh mỏng manh như hạt sương trong buổi ban mai, sinh ra rồi già, bệnh và chết. Một quy luật bất di bất dịch của tạo hóa, cho dù có sống ở dưới bất cứ thời đại nào hay không gian nào.
       
Đối với thế gian con nguời bình thường cảm thấy thương tiếc, buồn cho hoa xuân tan tác, rơi rụng sẽ không còn nữa khi mùa xuân đã qua đi. Nhưng hai câu cuối của bài thơ cho thấy với tâm thiền định,tác giả đã nhìn hoa xuân dưới con mắt hoàn toàn khác. Đó là “Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hêt” mà ngược lại “Đêm qua sân trước một cành mai”.

Tác giả đã hòa nhập bản ngã cùng vũ trụ, cảm nhận một mùa xuân bất tận, vĩnh cửu vượt thời gian và không gian. Một mùa xuân không bị câu thúc giới hạn bởi tuổi tác, bởi thể xác hữu hạn bởi ngũ uẩn, mà là một mùa xuân bất diệt, đầy ngát hương thơm của hoa mai sống mãi trong tâm hồn, yêu đời yêu người. Mùa Xuân không ở bên ngoài, không phải là đối tượng của sự tìm cầu, mà chính là chúng ta – dòng sinh mệnh bất sanh bất diệt từ vô thủy cho đến vô chung. Bừng tỉnh xoay trở về chính mình, trân trọng từng khoẳng khắc, ta mới nhận ra, quả thật xuân hiện diện khắp mọi nơi, và hoa mai đang tỏa ngát hương thơm! Đó chính là tâm thiền định, là cảnh giới cao nhất của tự do tự tại.
 
Bức tranh Thiền Sư Mãn Giác đời Lý vẽ thật là tuyệt bao gồm cảnh sắc thiên nhiên, xã hội con người và cả tâm đạo trong đó. Không biết có nhà họa sĩ nào có thể vẽ được bức họa như thế không nhỉ?

Tuệ Phong

Về Đầu Trang Go down
tranvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Xuân và Bài thơ NHỨT CHI MAI   Sat Feb 14, 2015 1:36 am


HƯƠNG XUÂN TRONG CÕI THƠ THIỀN


Thích nữ Tịnh Quang




Chư pháp tùng bản lai
Thường tự tịch diệt tướng
Xuân đáo bách hoa khai
Hoàng oanh đề liễu thượng.”
(Ý Kinh Pháp Hoa)

Không gì tuyệt đẹp hơn hình ảnh của mùa xuân, khi hoa đào hoa mai hé nở, khi những mầm xanh đang e ấp chờ đợi trăng nước tháng ngày và sự chuyển giao của đất trời để vẫy vùng sự sống. Vẻ đẹp của mùa xuân đã thêu dệt nên những vần thơ rạng ngời hương sắc qua cảm hứng của kim cổ thi nhân; song song với cảnh sắc huy hoàng đó, các thi nhân cũng đã gợi lên vô vàn hình ảnh xuân thì của các cô gái nõn nà hay những mảnh tình xuân phơi phới được thì thầm trong cõi thi ca lung linh sắc màu xuân biếc. Đi vào cõi thơ xuân, bên cạnh những thinh sắc lộng lẫy của trời xuân, chúng ta có thể nhận ra sự nồng nàn, nỗi khát khao vòi või và hụt hẫng khôn nguôi của các thi nhân đối với xuân, bởi vì mùa xuân cứ đến và đi, hững hờ như nước xuôi cầu, và thi nhân thì cứ muốn lưu giữ lại bóng dáng yêu kiều thuở nao của nàng xuân vô thường đó, rồi nức nở… Vượt lên trên những khát vọng về tình sắc mong manh của xuân, các thiền sĩ đã tạo nên một cõi xuân thi với gam màu riêng biệt qua bút pháp thanh tao tiêu nhã và bằng cảm quan siêu thoát trong đời sống bọt bèo hư ảo. Cứ mỗi mùa xuân về lật từng trang thơ thiền, chúng ta có cảm tưởng như đang sống trong cõi xuân huyền nhiệm, rưng rưng đâu đây hoa vàng sắc biếc trong cuộc đời đầy giá buốt xa xăm.

Mở đầu tông phong trong cõi Thiền xuân này là bài thơ Cáo Tật Thị Chúng nổi tiếng của Thiền sư Mãn Giác (1052-1096) - vị cao tăng thời Lý. Bài thơ chỉ có vỏn vẹn ba mươi bốn chữ trong sáu câu nhưng đã bao hàm toàn bộ tư tưởng tinh hoa của Thiền học cũng như tính thể của nguồn thơ

Nếu vẻ đẹp của Đường thi là nỗi xuyến xao vời vợi về hai nàng xuân, một trở về một biền biệt như:
“Hoa đào (vẫn) cười cợt gió đông
Mà nay chẳng thấy bóng hồng nơi nao”
(Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong).
(Đề Đô Thành Nam Trang-Thôi Hộ)

thì vẻ đẹp của Thiền thi trong thơ của Thiền sư Mãn Giác là linh thể bất diệt ngay trong đêm tối diệt sinh, và được phát họa sinh động qua hai câu kết bằng một cành mai vàng nở giữa đêm khuya trước khi xuân đã tàn hoa đã rụng nhưng nào ai hay biết:

“Đừng nói xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.
(Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.)

Mặc dầu chất xuân trong Thiền thi của Thiền sư Mãn Giác không tạo ra nỗi khắc khoải mông lung nghìn đời của nhân thế hoặc không muốn gây nên cảm giác chơi vơi cho người yêu thơ, nhưng bài thơ này đã có một bước bộc phá mới và thôi thúc chúng ta đi tìm sự bí ẩn đã tạo nên vẻ đẹp thanh thoát ly kỳ về nó. Bí ẩn này có thể tạm thời được biết như là cành tâm xuân luôn hiện hữu trong dòng đời buồn tẻ phù hư.

Có thể từ âm hưởng của cành mai Mãn Giác mà các thế hệ Thiền thi Việt nam về sau đều đã tạo nên những sắc phong của cõi tâm xuân thay vì mô tả khung cảnh hữu tình của bướm hoa mây nước:

“Xuân sang hoa bướm khéo quen thì,
Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kỳ,
Nên biết bướm hoa đều huyễn cả,
Thây hoa mặc bướm để lòng chi.”

(Xuân lai hoa điệp thiện tri thì,
Hoa điệp ưng tu tiện ứng kỳ,
Hoa điệp bản lai giai thị huyễn,
Mạc tu hoa điệp vấn tâm trì).
(Giác Hải thiền sư)

Với tư tưởng “nhậm vận” nên các Thiền sĩ chẳng thấy xuân còn hay mất để rồi ôm ấp những hoài niệm hay mơ về một tiếng pháo xưa khi mùa xuân qua đi:

“… Năm ba ngày nữa tin xuân đến,
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.”
(Nguyễn Khuyến)

Đối với Thi nhân, sự xoay vần của mùa xuân và nỗi khát khao về nó đã bắc nhịp cho thơ giao cảm được tiếng lòng của nhân thế; nhưng một lúc nào đó nhà thơ bỗng cảm thấy ê hề với những khát ái bất tận của chính mình trước sự hữu hạn của xác thân như một nghịch lý của tâm và cảnh:

“Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con.”
(Hồ Xuân Hương)

Mảnh xuân vô thường kia cứ đi đi lại lại khiến cho tình đời thêm già nua và tẻ nhạt, vì vậy nhà thơ cứ mãi ao ức níu kéo hương sắc của xuân với thời gian không bến đợi:

“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.”
(Vội Vàng-Xuân Diệu)

Trong khi đó thiền nhân đã có được những phút giây tương ngộ với mảnh chân xuân trong thời gian vô cùng và ý thức về chiếc bóng choàng trên cái sinh thức phiêu bồng vô hạn nên đâu có sắc màu để héo úa nhạt phai:
”bao thiên niên kỷ, nhìn mây nước
giật mình, thấy bóng vẫn không phai..”
(Lãng Mạn Khúc Du Xuân-CS Liên Hoa)

Chiếc “bóng không phai” là linh thể tối thượng không nhuốm sắc màu thời gian, không bị chi phối bởi bốn mùa mưa nắng rồi cuống lên vì lo sợ ngày xuân vun vút trôi qua “mau với chứ thời gian không đứng đợi.” (Xuân diệu). Không vồn vã rượt bắt mùa xuân, Thiền thi phác họa nhãn quan linh động với cái nhìn thiền quán về lẽ sắc-không khi mùa xuân đến:

“Tuổi trẻ chưa tường rõ sắc - không
Xuân về hoa bướm rộn tơ lòng
Chúa Xuân nay bị ta khai phá
Chiếu trải giường thiền, ngắm cánh hồng."
(Niên thiếu hà tằng liễu sắc, không
Nhất Xuân tâm sự bách hoa trung
Như kim khám phá Đông Hoàng diện
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.)
(Phật Hoàng Trần Nhân Tông)

Trên căn bản quán chiếu, thơ thiền không bị lôi kéo vào thiên kiến vui buồn thương tiếc của thế nhân với những nỗi chập chờn đơn lạnh nghìn đời của nhân thế khi ngày xuân không bao giờ trở lại như Đông Hồ đã tâm sự:

“Tưng bừng hoa nở thắm ngày xuân
Rực rỡ lòng cô hoa ái ân…
Cô buồn, cô tiếc, cô ngùi ngậm
Cô nhớ ngày xuân nhớ tuổi thơ.”
(Cô gái xuân)

Tuy nhiên một vài thi nhân tài hoa của làng thơ cũng không kém phần kiêu hãnh và ngang tàng khi ghép rượu đề thơ để tạm quên đi ngày tháng đất trời, để không còn bị câu thúc trước sự tàn nhẫn của thời gian đã làm đau thương trái tim của họ. Như Lý Bạch đã thổn thức: “Đời chỉ là giấc mộng lớn, cớ gì mà bận lòng, cho nên ta uống rượu say lúy túy, khi tỉnh rượu mới hay ra xuân về, chim hót trong cành hoa, chẳng biết hôm nay là ngày nào, rồi những cảm xúc cất lên, ta nghiêng bình rượu trước cảnh sắc huy hoàng, và hát khúc chờ trăng sáng, khi khúc ca vừa dứt thì tình cũng đã vừa quên.”

(Xử thế nhược đại mộng
Hồ vi lao kỳ sinh
Sở dĩ chung nhật túy
Đối nhiên ngọa tiền doanh
Giác lai miện đình tiền
Nhất điểu hoa gian minh
Tá vấn thử hà nhật?
Xuân phong ngữ lưu oanh
Cảm chi dục thám tức
Đối chi hoàn tự khuynh
Hạo ca đãi minh nguyệt
Khúc tận dĩ vong tình.)
(Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn chí)

Tại sao những nhà thơ lớn đôi khi phải dùng đến men rượu như để thách thức và vượt qua những khổ lụy của đời thường? phải chăng trong cơn men say người ta mới cảm giác rằng trường đời là mộng mị? cho nên để đạt được tâm trạng sảng khoái này nhà thơ phải mượn bình rượu như một thú tiêu dao siêu thái trong cõi “siêu phàm nhập thánh?”
”Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ
Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà.”
(Nguyễn Công Trứ)

Trong cõi Thiền, vạn vật là đối tượng để cho người nhập đạo quán chiếu và trãi nghiệm; trong đời sống thường nhật cũng như trong thi ca, thiền không tạo ra những cảm giác khắc khoải chập chờn giữa mộng và thực thay vì nó điều phối sắc màu mùa xuân qua cái nhìn về thực tại một cách sinh động và hài hòa:
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng trong mây bạc hiện toàn chân.
(Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.)
(Thiền Lão Thiền Sư)

Hay
"Trùng dương Cúc nở dưới rào
Trên cành Oanh hót thanh tao dịu dàng."
(Thiền sư Viên Chiếu)

Xa hơn, thơ thiền vượt thoát yếu tố của định luật nhị nguyên được giới hạn giữa người và cảnh, giữa tâm và vật, giữa một và hai …: Sông xưa chảy mãi làm đôi ngả, ta biết xuân nhau có một thì.(Cô Lái Đò-Nguyễn Bính). Thiền thi tiêu diêu trong vẻ đẹp thanh thoát của đóa xuân vô tướng mà nhà thơ đã cảm nghiệm và tương phùng trong cái nhìn vô sai biệt:

"Người ở trên lầu hoa dưới sân
Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông
Hồn nhiên người với hoa vô biệt
Một đóa hoa vàng chợt nở tung"
(Hoa tại trung đình, nhân tại lâu
Phần hương độc tọa tự vong ưu
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu.)
(Thiền sư Huyền Quang-bản dịch của Nguyễn Lang)

Người với hoa không là hai, chỉ có sự nở tung của cành hoa hay là thực tướng nghìn đời hiển hiện trong giây phút thực tại mầu nhiệm; với lối diễn đạt này giúp cho người đọc thôi đi việc đuổi hình bắt bóng thay vì trực nhận ảo giác của chính mình trên cành xuân đó:
“Hoa pháo đỏ thềm này
Mơ xuân ở bờ kia
Đôi bờ đều như mộng
Xuân - Thu ở đâu kìa?”
(Xuân cảm-Vĩnh Hảo)

Vì quá nao nức nên thi nhân không thể nhận diện được mùa xuân hiện hữu ngay tại đây trong phút giây hiện tại và không thể sống trọn vẹn ngay cả trong cuộc mộng du của chính mình:
“Vì say sưa quá nên tôi đã
Đem đổ hồn xuân xuống suối hồ!”
(Xuân-Nguyễn Bính)

Mùa xuân trong thơ thiền không có pha chế những sắc màu man mác, thương sầu lẫn lộn để thôi miên người đọc cùng thổn thức nhịp đập chung của trái tim nhân thế hoặc “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây,” nhưng nó vẽ nên một phong thái dung nhiếp thực tại giữa người và cảnh hay đúng hơn là bản chất “tuỳ duyên” trong bối cảnh không-thời gian khác biệt: xuân nương du thảo địa, hạ hưởng lạc hạ kỳ…” Với điểm nhắm vào thực tại, Thiền thi dù vô tình hay cố ý cũng đã quên đi sắc màu thời gian quá khứ:
Sống ngày nay biết ngày nay
Còn Xuân Thu trước ai hay làm gì!
(Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu Xuân Thu.)
(Thiền Lão Thiền Sư)

Vì theo nhãn quan của thiền, quá khứ hay tương lai đều nằm trong khoảnh khắc ý thức; cuộc đời khác gì giấc mộng Trang Sinh, cho nên ý niệm về thời gian xa và gần trước hay sau cũng chỉ là ảo tưởng phủ choàng ảo tưởng; cho nên tự nghìn đời xuân chẳng có gì xa xôi cả:
“Ta gọi xuân về, xuân bướm bay
Trang Sinh nằm mộng biết bao ngày
Thời gian dù có nghìn năm nữa
Xuân đến lâu rồi ai có hay.”
(Gọi Xuân Về-Huyền Không)

Hay nói theo cách của thi sĩ Bùi Giáng:
“Thưa rằng ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân.”
(Chào Nguyên Xuân)

Với lập trường “phản bổn hoàn nguyên” và tư tưởng lạc quan, các Thiền sĩ đã thổi chất xuân vào hồn thi ca Việt Nam một cách siêu thái. Ý niệm về bản thể tuyệt đối được lồng trên sắc màu xuân cảnh và tạo nên sự hài hòa giữa chủ thể và đối tượng qua nội dung và cấu trúc của mạch thơ. Chu du trong cõi thơ thiền, người mới vừa nhập môn có cảm thái bàng hoàng như chợt nghe tiếng pháo xuân nổ vang giữa mộng và thực, giữa tỉnh và say, nhưng sau phút giây ngơ ngác đó không ai không một lần ước ao tương ngộ cảnh giới bí huyền với lãng đãng đâu đây cành mai nở vàng trong đêm tối khi xuân đã âm thầm hờ hững ra đi.

Thích nữ Tịnh Quang
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Xuân và Bài thơ NHỨT CHI MAI   Tue Feb 17, 2015 10:35 am




Ngày Xuân đọc thơ Thiền

Thi Vũ



Thực ra không có một dòng thơ riêng biệt gọi là thơ Thiền. Nhưng có thể khẳng định bài thơ nào kêu gọi tới chữ thiền, sử dụng từ thiền sư đều không phải thơ thiền, ngoài sự cố công buột kết, tấn phong.

Xưa nay người ta thường liệt các bài thơ do các vị sư trước tác là thơ thiền. Sư được hiểu như các nhà tu Phật giáo, cạo đầu, mặc áo già, xa lánh trần tục bon chen. Theo hướng đó, thơ thiền nhan nhản các hình ảnh đơn điệu của trúc, suối, bóng sáng tinh khôi, chim hạc bay tà tà nơi cõi xuất thế gian. Tạo hàm oan cho thơ thiền.

Từ 1963 lại đây, có lớp người quay sang làm thơ thiền. Họ để tóc, mặc áo veste, quần jean. Thiền không xuất thế nữa. Thiền nhập thế. Nhập vào quán rượu, la cà từ hộp đêm này tới quán cóc kia. Nhậu la de, lăn lộn trên thân thể đàn bà. Quằn quại bằng tư duy trong cuộc sống khá an nhàn, sung mãn. Nếu còn mang hình thái sư, thì sư biết đánh đàn piano, cắm hoa hồng, vung tay viết chữ thảo hay tương tư em. Từ đó họ rót xuống những bài thơ khi khinh bạc, khi cao cả, oai phong, khi lãng mạn anh em  -  nhưng rất thiền. Người làm thơ ốp bóng vào hình ảnh thời thượng thiền sư. Khác chi những năm 1940, người làm thơ là tráng sĩ. Những năm xã hội chủ nghĩa, người làm thơ là liệt sĩ, viên chức bộ công an, nếu không là công nhân nấu thép (Nay ở trong thơ nên có thép – “bác”). Thêm một hàm oan khác. Cho thơ thiền.

Thực ra không có dòng thơ riêng biệt nào gọi là thơ Thiền. Chỉ có những tấm lòng thiền đọc thơ. Cho nên phải có một tấm lòng thiền, thơ thiền mới xuất hiện.

Thiền là sự phá vỡ u tâm tù ngục, chung hòa vào thực tại đời sống vốn siêu việt hết thảy ý niệm và danh từ [1]. Đặc tính của thiền là thích hợp, đặc sắc của thiền là linh hoạt. Chấm dứt thác loạn trong ý nghĩ, trong tâm tưởng và ngôn ngữ, thơ thiền tuôn như khe suối mát giữa lá rừng và chiều nắng, như lời nói ôn tồn giữa chợ búa tranh đua. Phá mở mọi xiềng xích: tự do vô hạn chính là thiền. Cái « tôi » vỡ ra, căng lên thành thế giới diệu hữu, thành khoảng không lồng lộng vũ trụ. Cái « tôi » dài thành trăm tay sờ mó những tương quan nó với cái khác, kẻ khác. Liên hệ tương duyên lập thành hợp thể vui hòa, an lạc. Ở đó, nó tự do.

Thiếu hiểu biết căn bản về lý sống đạo Phật và thiền, cái nhìn bị méo lệch, phân đôi thành xuất thế và nhập thế khi đánh giá các bài thơ tự gọi là thơ thiền. Thực tại vốn không phân hai. Bị phân hai vì ý niệm đánh giá. Nên cái-ta-nghĩ với cái-ta-được-cảm-nhận khác nhau dị kỳ, ly lìa thực tại tối hậu. Một hôm Tô Đông Pha, thi hào đời Tống, đọc hai câu thơ của Vương An Thạch:        

Minh nguyệt đương không khiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm

nghĩa là :
Minh Nguyệt kêu giữa trời
Hoàng khuyển nằm trong hoa

Tô Đông Pha thấy hay vì hình ảnh và âm điệu, nhưng cho là chối nghĩa bèn sửa lại:
Minh Nguyệt đương không chiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa âm

nghĩa là :
Trăng sáng soi giữa trời
Chó vàng dưới bóng hoa

Thơ vẫn hay nhưng thường, không độc đáo. Vương An Thạch bực nhưng không nói. Vương phái Tô Đông Pha, là quan đại phu, đi sứ Hoàng Châu. Tới nơi, Tô mới biết ở đây có loài chim chỉ hót khi trăng lên, và một loài sâu ưa nằm giữa lòng hoa. Người địa phương gọi là chim minh nguyệt và sâu hoàng khuyển.

Sau bài học rút từ thực tại không hai ấy, Tô Đông Pha bẻ gãy sợi xích xiềng cố tín và ngu muội. Ông phơi phới sống cõi thơ tuyệt diễm. Cõi thơ ấy cũng là cuộc đời ông sống. Phơi phới và phiêu nhiên. Phải chăng cuộc sống mới đã lộ rõ vào bài thơ Lô sơn của ông? Thơ man mác như nhiên, thâm trầm ý vị của kẻ đã chứng và đã ngộ:
        
Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều        
Vị đáo sanh bình hận bất tiêu
Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều

Trúc Thiên dịch :
Khói ngút non Lô sóng Chiết giang
Khi chưa đến đó luống mơ màng
Đến rồi hóa vẫn không gì khác
Khói ngút non Lô sóng Chiết giang

Bài thơ bốn câu, mà hai câu đã lập lại nơi câu mở đầu và câu kết: Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều. Tuy lập ngữ nhưng không lập ý. Bởi chưng con người ở câu một khác với con người ở câu bốn qua quá trình thực chứng. Con người hạ sinh nơi câu một hóa sinh sang câu bốn thành niềm thong dong, phiếu diễu, chủ ngự cõi phù sinh. Núi không còn danh thốt lên khi mắt va chạm tảng đất sững dựng che trời. Núi lột kéo tấm màn che mắt. Mắt thấy điều trước kia mình chỉ biết nhìn. Hơn thế, núi cũng biết nhìn bằng hiện hữu mình trên bình nguyên trải hút cõi nhân sinh ra tới những tinh hà.

Giảng bài thơ Tô Đông Pha tưởng không gì bằng lời tự thuật của sư Thanh Nguyên Duy Tín viết trong Truyền đăng lục, quyển 22: “Sãi tôi ba mươi năm trước khi chưa học Thiền, thấy núi là núi, thấy nước là nước. Sau nhân theo học bậc thiện tri thức chỉ cho chỗ vào, nên thấy núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng phải nước. Rồi nay thể nhập chốn yên vui tịch tĩnh, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước”. Cùng một sự vật, nhưng qua ba tâm cảnh đi từ mê muội, giác hóa đến giác ngộ nên cái bóng của sự vật được hiển lộ thành hình sự vật.

Tưởng như lẩm cẩm, nhưng là diễn trình chặng đường tri thức hay đạo tâm phải trải qua hầu gạt bỏ cuộc đời người ngợm. Mọi vĩ nhân trên mặt đất đều tôi luyện, thăng hoa cuộc đời như thế. Khổng Tử từng tâm sự: “Ta mười lăm tuổi để chí vào sự học, ba mươi tuổi thì trụ vững, bốn mươi thì hết ngờ, năm mươi biết mạng trời, sáu mươi nghe thuận tai, bảy mươi thì tùy lòng muốn mà vẫn không ra ngoài phép tắc”.

Quá trình chứng ngộ cần 70 năm để đạt cái tâm thiền. Nhưng 70 là con số. Không phải khuôn phép cố định. Có người sống trăm năm vẫn như con đỉa trong dĩa máu. Có người vài mươi tuổi đã có thể “tùy lòng muốn mà vẫn không ra ngoài phép tắc” vũ trụ. Bay như diều trên gió. Lội như hạt nước giữa lòng sông.

Đời làm chi có hai chuyện xuất thế, nhập thế? Xuất về đâu? Nhập vào đâu? Sự sống âm ỉ, cường tráng, dữ dội, cuốn chìm hay nâng đỡ những tế bào nhân sinh. Cuốn chìm những tuổi mười lăm (dù đã bảy mươi) kênh kiệu, thác loạn, mê muội. Hoặc nâng đỡ những tuổi bảy-mươi-phi-thời an nhiên trên chốn gập ghềnh.

Xuất thế có chăng chỉ là thoát ly khỏi thế giới thác loạn, tranh chấp, vị kỷ, mê muội, vong thân. Xuất như thế là đã hào hùng, trang nghiêm nhập thế. Nên kẻ mang tâm thiền không xuất, không nhập, chẳng bận tâm sinh tử. Nhà sư tráng sĩ có tâm thiền đời Trần là Tuệ Trung Thượng sĩ trả lời bằng thơ khi có người hỏi lẽ sống chết:    
Trường không túng sử song phi cố       
Cự hải hà phong nhứt điểm âu

Thích Mật Thể dịch:        
Ngại gì bọt nước sôi ngoài bể        
Phỏng có vành xe liệng giữa trời

Hình ảnh, tứ thơ bạo và mới, vừa siêu thực vừa hiện thực. Vừa tỉ giảo, vừa nhận thức bằng thi tính. Sống chết không quan ngại, thì thịnh suy trong đời tỉ như kẻ làm vườn hái trái chín, trái ung. Chẳng áy náy nên thảnh thơi giữa chốn ba đào:
        
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô        
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô        
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy        
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô                              
Vạn Hạnh (thời Lý)

nghĩa là :
       
Thân như bóng chớp, có rồi không       
Tới xuân cây trổ, sang thu rụng hồng        
Nhác trông suy thịnh, lòng không sợ        
Đầu cành, suy thịnh giọt như sương

Nhìn và đã thấy. Chất thơ ngào trộn tư duy. Cảnh thơ thành lý sống. Bài thơ thành món quà truyền tâm. Miêu tả thân xác như ánh, như chớp, mong manh thoáng hiện nhưng mãnh liệt trường tồn. Giữ lại gì nơi đôi mắt ngó vào không gian thăm thẳm mịt mù? Nếu không là nét sấm chớp rạng ngời nơi nhúm nhíu khắc giây khiến thẫn thờ trời đất? Mong manh mà trường cửu. Có đó rồi không đó. Không chẳng mang nghĩa hết, dứt. Không cái vừa có cho cái có được trọn vẹn trong cái không-tiêu-tán. Như cỏ cây mướt lục vào xuân, dù đã, hay sẽ, héo khô nơi chặng đường thu chớm. Những cái có, không, thịnh, suy, khác chi ngọn cỏ chòm cây nơi trò trốn bắt giữa hai mốc thu xuân? Lòng không sợ hãi trước mọi bạo tàn, phụ bạc. Khi biết vòng tròn hương rực lửa quay trong đêm chỉ từ một đóm hương lúc tay quay ngừng lại. Sương cứ rơi đều đầu ngọn cỏ mỗi sáng, dù thất tình ta buồn hay vui. Ngỡ sương mất đi trong lòng đất, ai ngờ đã cất tự trời cao chờ rơi khi đêm tới.

Thơ dùng nhạc để chuyển lời. Dùng vần làm dây xuyên. Dùng hình ảnh bắt mắt. Dùng tình cảm níu tình. Thơ vẽ hình bắt bóng. Tác dựng suy tư làm xương sống cho hình hài. Thơ vạch đường chỉ nẻo. Thơ nắn nụ cười phơi phới trên môi ngôn ngữ.

Người có tâm thiền làm thơ là sống cái tự do trước những điều bức tử. Không rúng động trước thịnh suy, sinh tử. Bởi vậy bệnh hoạn khuấy phiền thân xác kia chẳng khiến lòng trăn trở, âu lo. Nhà thơ thiền Mãn Giác đời Lý có bài thơ nhắn gửi mọi người nhân lâm bệnh  - Cáo tật thị chúng. Bài này nhiều người thuộc và thường được nhắc nhở, duy ít người chú ý mối vận hành ý tứ :
        
Xuân khứ bách hoa lạc      
Xuân đáo bách hoa khai        
Sự trục nhãn tiền quá       
Lão tòng đầu thượng lai        
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận        
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Ngô Tất Tố dịch :
        
Xuân trỗi trăm hoa rụng        
Xuân tới trăm hoa cười        
Trước mắt việc đi mãi        
Trên đầu già đến rồi        
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết        
Đêm qua sân trước một cành mai

Người đọc thường khen tính tích cực và lạc quan bài thơ của người nhuốm bệnh. Thế nhưng thơ đâu là bản báo cáo, trình bày quan điểm, lập trường? Thơ không là sự nói lại. Thơ là sức sống bung từ người. Nhân việc mình đau mà báo với mọi người - Cáo tật thị chứng - nhưng thơ không rơi vào thể thuật hoài biểu diễn cái ta rất chi trọng thể. Tuy vẫn là cái ta khi ý thức còn trong trạng thái vong thức. Tả xuân và hoa, nhưng không là thơ sơn thủy nhắm riêng việc tả cảnh. Xuân và hoa ở đây là bước đi của thời gian trong không gian. Việc đời và người tả ở đây là xê dịch viễn hành của vô thường - cái không cố định. Bài thơ chấm dứt bằng nhận định làm con người thảng thốt trước mỗi đoạn trường: cái mình nhìn không là cái thấy. Dù cái thấy vẫn ở đó, như đóa mai kia nở sớm hay nở muộn nơi chốn chẳng hề chờ.

Suốt bài thơ sáu câu, nhịp hóa thân tăng trưởng vốn trí tuệ, từ thung lũng thường tục lên ngọn đỉnh rạng ngời. Thơ đưa nhạc và tình về với trí tuệ. Thơ thoát ly cảnh sống dung tục, hiển mình vào thực tại tối hậu, ở đó người bật mình sống dậy. Hết thụy miên. Hết mớ gọi. Thôi biệt ly.

Xuân khứ bách hoa lạc là nếp đi của một thực tại thấy mò qua bóng ảnh dung tục. Lòng ta có buồn thương chăng? Xuân đáo bách hoa khai là cái đến của mùa màng nơi thực tại trầm luân. Lòng ta có vui rộn lên chăng? Buồn hay vui chúng ta đều bị giới hạn trong không gian như một thực tại vô thường. Ý nghĩa của Sự trục nhãn tiền quá. Việc đời thoáng qua với bao điều bất như ý, ở đó thời gian chẳng để ta yên. Thời gian liên lỉ chất vấn như vị giám khảo, rồi đánh lên trán ta từng luống nhăn, bôi vào tóc từng nét phấn. Già, chết chợt hiện ra: Lão tòng đầu thượng lai.

Ta bi quan, hốt hoảng, ta cay đắng ngậm ngùi? Bao là dấu hỏi đẩy ta vào đời như tống xuống địa ngục, xui ta hạ thủ theo cách thế giận đời. Nhưng người thơ có tâm thiền, như Mãn Giác, thì không. Ông đã có lời đáp tựa khúc hoan ca:
        
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận        
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai!

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết.
Đêm qua sân trước một cành mai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận là nếp đi của một thực tại. Thực tại ở đây là thực tại tối hậu. Và Đình tiền tạc dạ nhất chi mai là cái đến thực tại, thực tại ở vị trí uyên nguyên. Hết là thực tại phiến diện nơi cõi trầm luân.

Đến hay đi đều là động tác. Khác ở hành trình. Đến hay đi trên hành trình vô minh, mê muội. Hay đến, đi trên quá trình an nhiên, giải thoát? Nô lệ, tự do từ đó hiển ra. Kẻ tự do sống không mô típ. Mọi mô típ đều ràng buộc. Kẻ tự do sống bằng sáng tạo. Người nô lệ sống mòn theo khuôn. Hai câu thơ của nhà thơ có tâm thiền Quảng Nghiêm ở thế kỷ XII đời Lý gợi lên ý đó:

Nam nhi tự hữu xung thiên khí                 
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành
                                                       
Ngô Tất Tố dịch :
        
Tài trai có chí xông trời thẳm        
Dẫm vết Như Lai uổng nhọc mình

Không nên  hiểu theo nghĩa đen thường tục để gán cho nhà thơ mang tư tưởng hoài nghi hay phủ nhận đạo Phật hoặc chống báng đức Phật  - Như Lai. Hào khí dũng mãnh kẻ trượng phu kiệt hiệt, người phá chấp siêu quần mới hiểu ý thơ Quảng Nghiêm. Còn yêu đương thần tượng, khuôn phò đảng kỷ, lý luận theo chỉ thị… khó nắm bắt sức sống vỡ bờ nơi dòng thiền vô biên Phật giáo: khai phóng, sáng tạo và như thật.

Bao lâu còn cột dính, bấy lâu còn nô lệ. Chân sau theo vết trước dành cho việc đi săn hay loài cừu. Con đường đâu phải dấu mòn? Con đường là chân bước và đích đến. Mỗi người làm chuyện mình theo cách mình để giải thoát mình. Chính là giải thoát, chứ không là cách thế. Bởi vậy đâu cần theo vết Như Lai như trong thơ Quảng Nghiêm. Ý thơ này chống cố tín, cuồng tín, giáo điều, chống tinh thần nô lệ. Vũ khí phá chấp của nguyên lý sống Phật giáo.

Thiền vượt mọi giả danh để sống thực. Mắt quay vào đâu sự vật được soi sáng, tình cảm được trân ái. Thơ thiền không chỉ là kệ truyền pháp hay dòng thơ đạo lý. Thơ thiền bát ngát lung linh qua mọi sinh hoạt theo tấm lòng thiền rung cảm.

Lê Qúy Đôn đọc thơ Huyền Quang, vị tổ thứ ba của dòng thiền Trúc lâm Yên tử, phái thiền thứ ba của Việt Nam, chê rằng “hình như không phải khẩu khí của thiền sư” (Thiền dật, Kiến văn tiểu lục). Nhà phê bình Lý Tử Tấn, đời Lê, đọc các bài Xuân nhật tức sự của Huyền Quang, Tảo mai, Xuân cảnh, Nhị nguyệt thập nhất dạ của vua Trần Nhân Tông, vị tổ khai sáng dòng thiền Việt Nam, Trúc Lâm Yên tử, cũng phê bình tương tự: Thi tuy giai phi tăng gia ngữ (thơ tuy hay nhưng không còn khẩu khí nhà sư).

Sao vậy? Có lẽ người chưa sống thiền thích phân biệt. Đọc thơ, hay làm thơ, họ nhắm vào đích, vào lý tưởng, đạo đức, luân lý cố hữu làm chuẩn. Họ không nhìn sự vật như sự vật trong hiện tiền trước mắt. Đôi mắt và tâm tư họ bị nghĩa lý cố định thui chột sức sáng tạo. Cái thấy bị mù lúc trông nhìn. Không thấy, họ đem tâm so sánh nên phân hai thực tại, xa rời và cách ly khỏi thực tại. Ai có thể chỉ bộ phận nào đẹp trên một Người Đẹp? Cắt bộ phận ấy ra còn chăng cái đẹp? Hóa ra đẹp là cái toàn thể tương liên. Người làm thơ thiền diễn thơ cái hiện tại, cái cảm nhận, cái thấy. Họ không dại đem sự kiện nhất thời đang chuyển biến ấy đánh giá hay so sánh với giáo lý hầu đưa tới kết luận mô phạm. Đây là chỗ khác giữa thơ của người có tâm thiền với thơ một ông giáo học. Cái thoáng chớp, cái đang đi, cái tại thế ấy đã là cái vĩnh hằng trong thơ, không bắt gặp lại lần hai. Đòi hỏi hay ước mơ cố tín chỉ là ảo giác. Đa số các nhà Nho xưa và nhà Mác-xít nay đều bị tha hóa khi làm thơ.

Ta thử đọc bài Xuân nhật tức sự của Huyền Quang mà hai nhà phê bình Lê Quý Đôn và Lý Tử Tấn phê phán trên kia:
        
Nhị bát giai nhân thích tú trì        
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly        
Khả lân vô hạn thương xuân ý        
Tận tại đình châm bất ngữ thì

nghĩa là :
        
Giai nhân mười sáu ngồi thêu gấm       
Hoa tử kinh bừng rộn tiếng oanh        
Đáng yêu vô hạn thương xuân ý        
Khi lặng thinh ngừng đưa mũi kim

Hai nhà phê bình chê thiếu “khẩu khí thiền sư” vì tả chuyện giai nhân? Tả hoa, tả bướm, núi, suối, mùa màng, tiên, bụt… thì được. Động tới đàn bà là… Là gì? Sao đàn ông hồ thỉ, phóng khoáng, bay bướm, trượng phu, anh hùng, liệt sĩ… bao nhiêu, lại khe khắt bấy nhiêu khi nói chuyện đàn bà? Một hành xử lạ lùng đối với phụ nữ - mẹ của thế gian. Khổng giáo chăng? Mặc cảm tội lỗi nơi vườn địa đàng chăng? Dù gì thì gì, tính bình đẳng đã mất khi nhìn sự vật. Huống chi giai nhân trong bài thơ chỉ là hình ảnh mà thất tình chưa va chạm!

Đâu là chỗ “khẩu khí thiền sư” mất đi ở bài thơ trên? Chiếc máy ảnh có khẩu khí chăng? Máy rà quay và thu ghi. Người thi sĩ, ngoài cái nhìn và sự thu ghi còn thở phà chất sống vào sự vật khiến lung linh hơn cảnh thật. Điểm quan yếu của bài thơ không chỉ là giai nhân, mà cái người thơ thấy được nụ cười giữa sấm chớp, sự lặng thinh giữa trống chiêng. Hoa tử kinh rộ nở, hương sắc bồn chồn khiến hoàng oanh rộn rã líu lo. Lúc đó xuân đến. Người đẹp dừng kim, tác động trọng đại giữa hai thời biến dịch, lúc giao mùa, khi mê chuyển sang ngộ. Đón xuân ý bao la, vô hạn trên bến không-thời. Một bong bóng nước vừa nổ, òa vào hư không xanh. Tan biến nhưng cũng là giải thoát. Lột tả cảnh ngộ này chỉ biết cậy nhờ vô ngôn. Dù vô ngôn tập đại thành muôn nghìn xướng ngôn trước đó - trái chín sau những mùa hoa kết tụ.

Ý móng dậy từ cảnh xuân. Ý đem người về đâu? Về mộng tưởng, vọng tưởng, ảo tưởng hay biến hóa vào chốn không lời: Vô ngôn, để sự vật tự nhiên biểu hiện? Giai nhân, hoa tử kinh, tiếng oanh hót là những bóng hình xuân, tức ý xuân dậy ở câu ba. Nhưng rồi mọi khái niệm xả bỏ nơi vô ngôn ở câu bốn. Vô ngôn là tiếng nói của tư tưởng, thể hiện trong thơ bằng mũi kim ngừng, bằng làn môi không nói. Cùng một sự xuân, mà hoa khoe sắc, chim líu lo, nhưng giai nhân lại im môi. Đây là chỗ diệu kỳ của thơ.

Tuy nhiên điều cần đính chính là bài thơ trên không phải của sư Huyền Quang, đệ tam tổ dòng thiền Trúc Lâm của Việt Nam. Dù được nhà bác học Lê Quý Đôn và nhà phê bình Lý Tử Tấn đời Lê, hay bộ Việt Âm thi tập của Phan Phu Tiên nhắc tới như thơ của sư Huyền Quang. Thực tế bài trên là của thiền sư Ảo Đường Trung Nhân trước tác, người Trung quốc ở đời Tống. Bài thơ này được học trò của thiền sư là thiền sư Lôi Am Chính Thọ ghi lại trong bộ Gia Thái Phổ Đăng lục. Nhân một hôm thượng đường nói về con chó có Phật tính hay không mà Ảo Đường Trung Nhân phát ra bài thơ ghi dưới tên “Vô Đề”, chứ không phải là “Xuân Nhật tức sự”.

Phải chăng sư Huyền Quang nhắc tới bài thơ Vô Đề, trước tác bên Tàu một trăm năm trước, qua những lần thuyết pháp, giảng thiền, nên sau này đệ tử sao chép tưởng là thơ của thầy mình. Rồi văn học sử Việt Nam cứ lầm lẫn chép theo.

Nhưng đây chỉ là vấn đề xuất xứ văn bản. Chứ đi vào ý thơ, thì Huyền Quang hay Ảo Đường Trung Nhân, thơ vẫn là thơ của người có tâm thiền.

Nhờ có tâm thiền nên không phân biệt, trân trọng và bình đẳng với mọi sự mọi vật. Đa số thơ Việt Nam thời trung đại thường vắng bóng người phụ nữ. Bài trên đã tưởng là của sư Huyền Quang để khẳng định sự bình đẳng giới tính. Song không vì vậy mà thơ Lý Trần thiếu đi. Người thơ có tâm thiền như vua Trần Nhân Tông, cũng là nhà sư và Tổ thứ nhất của dòng thiền Trúc Lâm, không quên thân phận người phụ nữ trong bài “Khuê oán”:
        
Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng        
Hoàng ly bất ngữ oán đông phong        
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại        
Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông

nghĩa là :
       
Thức mình cuốn cửa ngắm cành hồng        
Biếng hót oanh buồn oán gió đông        
Lầu tây chiều xuống buông hờ hững        
Bóng hoa cành ngọn lả phương hồng

Nỗi oán hận buồn thương của người ở phòng khuê thật man mác. Những phi tần không được vua sủng ái. Họ sống bằng nỗi trông chờ như bóng hoa đầu cành hướng phía mặt trời. Thơ bật lên nỗi oán, mà cũng là mối bi thương liên đới của người làm thơ. Nếu chưa tri kỷ, cũng đã tương liên với nỗi khổ con người và là người phụ nữ.

Bao lâu còn những tấm lòng thiền, thơ thiền còn chan chứa. Thơ thiền không giới hạn, trùng trùng như hoa xuân, như rừng lá, như sóng dội. Ta hãy đọc thơ trong cái toàn thể, qua niềm gợi hứng, giữa các mối tương liên. Đừng lo lý giải, tách bạch nghĩa ý. Ta hiểu gì cái đẹp một màu lá, đóa hoa. Ta hiểu gì nét mặt một con người.

Đọc thơ thiền như kẻ vào rừng phong lan. Lúc về quần áo đẫm hương, người lâng lâng, lòng thênh thái. Cần chi tách bạch một làn hương, hái hoa thành bó. Khiến người có tâm thiền như sư Huyền Quang cười ta từ bảy thế kỷ trước:
        
Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ       
Mãn đầu tùy đáo tháp qui lai

nghĩa là :
        
Cười ai không rõ hoa mầu nhiệm       
Hái giắt đầy đầu trở lại nhà.

Những gì ngắt đi từ sự sống, sự sống sẽ mất.

Thi Vũ

Paris, 1.1.1988,
bổ chính Mồng Một Tết Kỷ Sửu 2009

[1] Ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành xứ diệt.

Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Xuân và Bài thơ NHỨT CHI MAI   

Về Đầu Trang Go down
 
Xuân và Bài thơ NHỨT CHI MAI
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Thơ-
Chuyển đến