Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
sinh rang viet ngoc nguoi quan phung tien lang thanh HUNG pham nghe cong Thầy thuy NHẬT thang huyen mien cuoc trai Ngày nguyen nhung nghia
Latest topics
January 2017
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
NTcalman



Posts : 255
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Sat Jan 25, 2014 1:01 pm


2014: Nhớ Mậu Thân 1968, Kẻ đồ tể & Nhân chứng sống



Vũ Thế Phan (Danlambao) - “Gần gũi anh Tường tròn ba chục năm mình chưa nghe ai trong nước nói xấu về anh, chỉ một vài ông hải ngoại, chẳng rõ vì sao cứ đeo lấy anh nói dai như đỉa, kẻ bảo anh cơ hội, người nói anh ác nhân, thật chẳng ra làm sao. Tiện đây nói luôn, tết Mậu Thân (1968) anh Tường ở lại căn cứ trên rừng, không về Huế. Người ta thu băng lời kêu gọi của anh cho phát loa trên xe chạy khắp thành phố, nên nhiều người tưởng anh về Huế thôi. Chuyện này còn cả tấn người đang sống làm chứng, ít nhất có Trần Vàng Sao, Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vĩ, ai không tin về Huế mà hỏi.”

*
Lời người đăng: Tôi không là người Huế cũng chẳng quen biết anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan, nhưng qua những tài liệu tôi sưu tầm được về họ trong vụ thảm sát Mậu Thân 1968 ở Huế, và sau khi đối chiếu, cân nhắc, cập nhật, tôi nghĩ có dịp là phải cho đăng đi đăng lại bài này, chỉ để “nói có sách, mách có chứng” cùng cư dân mạng rằng hai anh em nhà Hoàng Phủ là hai tay bất nhất, nói láo như vẹm. Dám làm mà không dám chịu: công thì đã lãnh hưởng u ê, tội thì vẫn loay hoay chối quanh! Người ta không thể cùng lúc có miếng bơ và tiền của miếng bơ / On ne peut pas avoir à la fois beurre et l’argent du beurre. Còn ai muốn tiếp tục dùng văn chương bao che cho họ, cứ thẳng thắn lên tiếng phản bác bài của tôi trên Dân Làm Báo hay Thông Luận. Nếu họ có oán tôi thì tôi xin chịu, nhưng họ nên oán Internet thì đúng hơn!

*
Hoàng Phủ Ngọc Phan: Tôi không hề giết ai


[“Sau chiến dịch Mậu Thân báo chí ở Sài gòn thường nhắc đến anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan như là hai tên đồ tể khát máu, giết người không gớm tay ở Huế. Sự thực anh Tường không hề về Huế mà ở lại trên căn cứ để làm nhiệm vụ tiếp đón các vị khách từ nội thành ra. Tánh anh Tường rất hiền, không ưa đụng đến vũ khí, dầu chỉ để lau chùi. Cơ quan cấp cho anh một khẩu súng ngắn K.59, anh không ngó ngàng gì tới đến nỗi súng han rỉ, rồi đem cho một người bạn nào đó mượn đi công tác. Người này làm mất súng khiến anh Tường bị phê bình – đúng ra đây là một khuyết điểm đáng phải bị xử kỷ luật nặng. Nhưng anh Tường không ý thức được điều đó. Anh cứ cãi khơi khơi là tại cơ quan giao súng cho anh chứ anh đâu có yêu cầu. Công tác của anh chỉ cần ngòi bút. Người như thế mà có thể giết ai được?”] (Hoàng Phủ Ngọc Phan).

Hoàng Phủ Ngọc Phan khẳng định: “Sự thực anh Tường không hề về Huế mà ở lại trên căn cứ để làm nhiệm vụ tiếp đón các vị khách từ nội thành ra”?



Ngày 24-08-2013, trên blog Quê Choa, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã viết bài “Hoàng Phủ Ngọc Tường”, trong đó có đoạn, nguyên văn:

[Gần gũi anh Tường tròn ba chục năm mình chưa nghe ai trong nước nói xấu về anh, chỉ một vài ông hải ngoại, chẳng rõ vì sao cứ đeo lấy anh nói dai như đỉa, kẻ bảo anh cơ hội, người nói anh ác nhân, thật chẳng ra làm sao.

Tiện đây nói luôn, tết Mậu Thân (1968) anh Tường ở lại căn cứ trên rừng, không về Huế. Người ta thu băng lời kêu gọi của anh cho phát loa trên xe chạy khắp thành phố, nên nhiều người tưởng anh về Huế thôi. Chuyện này còn cả tấn người đang sống làm chứng, ít nhất có Trần Vàng Sao, Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vĩ, ai không tin về Huế mà hỏi.] (1).


Thì đây, chúng ta hãy cùng nghe chính Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời phỏng vấn hệ thống WGBH, ngày 29 tháng 2 năm 1982:

[“Tôi đã đi trên con đường hẻm vào ban đêm, và tôi tưởng rằng tôi đang dẫm trên đống bùn. Thế mà khi tôi bật cái đèn pile lên, máu khắp mọi nơi. Cả một khu vực bị bỏ bom bởi bom đạn Mỹ bắn phá. Và thế rồi, những ngày cuối cùng khi chúng tôi triệt thoái ra khỏi thành phố, kẻ thù của chúng tôi đã thâu lại và đem đi chôn.”] (từ phút 5:55)

Toàn văn bằng video:
http://openvault.wgbh.org/catalog/vietnam-3fe9ec-interview-with-hoang-phu-ngoc-tuong-1982

hoặc:



Lưu ý: Đầu thập niên 1980, bề ngoài Liên Xô và Đông Âu còn mạnh như triều dâng, chủ nghĩa xã hội toàn cầu còn mơ huyền trong ảo ảnh của cái gọi là Ba dòng thác cách mạng. Hoàng Phủ Ngọc Tường không cần che giấu, tự xác nhận sự hiện diện của mình trong Tết Mậu Thân 1968, coi đó như một thành tích...; nhưng rồi thật không may cho ông ta, qua thập niên 1990, thành trì Liên Xô, vệ tinh Đông Âu đua nhau sụp đổ… Máy vi tính và Internet bắt đầu phổ cập. Do đó, trong cuộc phỏng vấn của bà Thụy Khuê trên đài RFI ngày 12 tháng 7 năm 1997, ông ta lại leo lẻo 180°:

[“Người ta cho tôi là một tên đồ tể Mậu Thân ở Huế thì đó là một sự bịa đặt mang ý định vu khống hoàn toàn. Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966 và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu thân 1968, tôi không có mặt ở Huế. Điều quan trọng còn lại, tôi xin tỏ bày ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và đã trở về; ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải chịu cho hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế vào năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc và nhìn từ quan điểm chiến tranh cách mạng”.]

Toàn văn: http://thuykhue.free.fr/tk97/nchpngoctuong.html
Hoặc: http://www.mediafire.com/view/eosl5zlyj8hru1o/HUE-Th%E1%BB%A5y%20Khu%C3%AA%20phong%20van%20hoangphungoctuong.docx



Hoàng Phủ Ngọc Phan viết tiếp:

[“Còn tôi thì có theo chiến dịch về hoạt động ở Thành nội Huế nhưng tôi không hề giết ai cả, suốt gần 10 năm đi kháng chiến cũng không hề làm thiệt mạng một con thú trên rừng chứ đừng nói là con người. Vì lẽ:

- Giết người không phải là chuyện nhỏ, không phải hễ có súng trong tay là có quyền giết người. Tôi không hề có quyền đó.

- Giết người không phải là chuyện dễ, không phải ai cũng có bản lĩnh đó. Mặc dầu trong chiến tranh, trên chiến trường và ngay bây giờ vẫn không thiếu gì những kẻ đáng tội chết nhưng nếu đưa cho tôi một kẻ đáng tội nào đó bảo tôi giết thì nói thật… không dám đâu.

Chúng tôi theo cách mạng trước tiên là vì không thể sống chung với cái ác. Nếu chịu làm ác thì cứ nhảy vào các binh chủng rằn ri của Thiệu - Kỳ hay đầu quân dưới trướng của Liên Thành thì thiếu gì cơ hội?

Từ sau Tết Mậu Thân đến nay, đối phương không ngừng vu khống cho anh em tôi đã tàn sát đồng bào vô tội ở Huế. Tôi nguyên là sinh viên Y khoa nên họ còn trút luôn lên đầu tôi cái tội khi sư diệt tổ là giết các giáo sư người Đức ở Đại học Y khoa Huế. Lúc đầu thì có nhiều người tin nhưng hơn ba mươi năm nay, bà con bạn bè trong nước và cả những người ở nước ngoài có dịp đi về đều đã hiểu được sự thật. Tất cả chỉ là tin đồn do những người có ác ý gieo rắc, không cần chính xác và không ai phải chịu trách nhiệm. Nhưng Liên Thành, là người cầm đầu nhiều cơ quan công lực, rất có điều kiện để kiểm chứng các tin đồn. Vậy xin hỏi Liên Thành: ông nói tôi say sưa lấy máu tươi, giết đồng bào vô tội nhưng chính xác tôi đã giết những người nào? lúc nào? ở đâu?

Nếu ai đó nói chính mắt họ thấy tôi giết người thì chắc chắn đó là kẻ ăn gian nói dối.

Còn nếu Liên Thành hay bất kỳ ai đưa ra được bằng chứng không thể chối cãi rằng tôi đã giết người – như kiểu tên ác ôn Nguyễn Ngọc Loan giết anh Bảy Lốp – thì tôi xin tự vẫn ngay trước mặt họ để tạ tội với đồng bào và khỏi làm nhục lây đến bà con dòng họ.”]

(Trích nguyên văn Hoàng Phủ Ngọc Phan: Nhân đọc bài “Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng”), http://daohieu.com hoặc http://daohieu.wordpress.com.

***

- [“Còn tôi thì có theo chiến dịch về hoạt động ở Thành nội Huế nhưng tôi không hề giết ai cả, suốt gần 10 năm đi kháng chiến cũng không hề làm thiệt mạng một con thú trên rừng chứ đừng nói là con người… Chúng tôi theo cách mạng trước tiên là vì không thể sống chung với cái ác… (sic)! Nếu ai đó nói chính mắt họ thấy tôi giết người thì chắc chắn đó là kẻ ăn gian nói dối. Còn nếu Liên Thành hay bất kỳ ai đưa ra được bằng chứng không thể chối cãi rằng tôi đã giết người – như kiểu tên ác ôn Nguyễn Ngọc Loan giết anh Bảy Lốp - thì tôi xin tự vẫn ngay trước mặt họ để tạ tội với đồng bào và khỏi làm nhục lây đến bà con dòng họ.”] (HPNP).

“Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó,
Tôi biết nó, đồng bào xứ Huế này biết nó;
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao,
Nó là tên trùm đao phủ năm nào...” (2)

1. Nhân chứng sống thứ nhất: Bà Nguyễn Thị Thái Hoà: Hoàng Phủ Ngọc Phan là đao phủ giết người

[“Tôi xin tường thuật lại chi tiết những cái chết đau thương của ông nội tôi, ba người anh, cùng một người bạn của họ, như là một nhân chứng còn sống sót sau Tết Mậu Thân như là tiếng kêu oan cho gia đình tôi, cho linh hồn của những người thân trong gia đình, gia tộc tôi cách riêng, và cho những người dân Huế nói chung, thay cho tất cả những ai bị sát hại trong Tết Mậu Thân 1968 bây giờ còn kẹt lại VN không có cơ hội để nói lên những oan khiên mà họ đã gánh chịu bởi đảng Việt Gian Cộng Sản, và bè lũ tay sai khát máu giết hại dân lành vô tội như anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v...

Năm 1968, tôi đang là sinh viên năm thứ nhất trường Cán Sự Điều Dưỡng Huế. Ngoài những giờ học lý thuyết chung tại trường, bọn sinh viên chúng tôi được chia thành nhiều toán. Mỗi toán từ 8 đến 10 người, luân phiên thực tập ở các trại bệnh trong BV Trung Ương Huế.

Có những trại bệnh sinh viên thực tập theo giờ hành chánh. Có một vài nơi, như phòng cấp cứu, phòng bệnh nội thương… thì giờ thực tập được chia làm ba ca: sáng, chiều và đêm …

Ca sáng từ 7giờ đến 2 giờ chiều, ca chiều từ 2 giờ đến 9 giờ tối, và ca đêm từ 9 giờ tối cho đến 7giờ sáng hôm sau.

Mỗi một nơi chúng tôi được thực tập từ 2 đến 3 tuần lễ.

Hai tuần trước Tết, toán của tôi được chia phiên thực tập ở phòng cấp cứu. Ngày mồng hai, tôi và hai anh bạn vào ca đêm.

Tết năm nay ba tôi bận đi hành quân xa không về kịp ăn Tết.

Thường thì mấy anh em tôi năm nào cũng vậy, đều phải về nhà ông bà nội từ trước ngày 30 Tết, ở luôn cho hết ngày mồng một, rồi sau đó mới được tự do đi chơi, thăm viếng bạn bè…

Sau bữa cơm tối mồng một Tết, khoảng 8 giờ 30 anh Hải lấy xe Honda của anh đưa tôi tới BV, và nói sáng mai anh sẽ đến đón.

Tối mồng một Tết phòng cấp cứu hơi vắng, chúng tôi, mấy anh sinh viên y khoa và hai người nhân viên phòng cấp cứu nói đùa với nhau rằng hôm nay tụi mình… hên! Chúng tôi mang một ít mứt bánh ra vừa ăn vừa nói chuyện, vừa thay nhau thăm chừng những bệnh nhân mới nhập viện từ đêm qua chưa được chuyển trại.

Nhưng qua nửa đêm thì bắt đầu nghe có tiếng súng. Tiếng súng lớn, nhỏ, từ xa rồi mỗi lúc một gần. Chúng tôi thốt giựt mình, băn khoăn nhìn nhau, hoang mang lo sợ. Bầu không khí bắt đầu căng thẳng, mấy anh sinh viên y khoa thì nghe ngóng bàn tán, thắc mắc không biết tiếng súng từ đâu vọng lại…

Lúc đầu chúng tôi tưởng là thành phố Huế và BV bị pháo kích, nhưng không ngờ, chừng 3, 4 giờ sáng, bất thần không biết tứ ngõ ngách nào có chừng mười mấy người tràn vào phòng cấp cứu, họ xưng chúng tôi là quân giải phóng. Đa số mặc áo quần đen, súng mang vai, bị rết ngang hông. Họ bắt tất cả chúng tôi băng bó cho một số người bị thương, đồng thời hò hét chia nhau lục soát, vơ vét, và lấy đi một số thuốc men, bông băng, dụng cụ y khoa v.v… Họ lấy sạch không chừa lại một món nào, kể cả những bánh mứt chúng tôi để trong phòng trực.

Trong lúc bọn họ đang tranh nhau lục lọi, thì ầm một cái, một tiếng nổ rớt rất gần, đâu đó trong BV, rồi tiếng thứ hai, thứ ba…rớt ngay con đường phía trước cổng chính BV, kề phòng cấp cứu… Điện trong phòng cấp cứu vụt tắt. Thừa lúc bọn chúng nhốn nháo kéo nhau đi, chúng tôi mạnh ai nấy tìm đường chạy thoát thân.

Ra khỏi phòng cấp cứu tôi cắm đầu chạy, tôi không định hướng được là mình đang chạy đi đâu. Súng nổ tư bề, cứ nằm xuống trốn đạn, rồi đứng lên chạy, cứ thế mà chạy. Chạy bất kể tả hữu. Cho tới khi tôi đâm sầm vào một người, định thần ngó lại mới biết đó là cha Trung, tuyên úy của BV. Cha từ phía một trại bệnh nào đó tình cờ chạy về phía tôi. Nét mặt cha cũng thất thần, đầy vẻ lo âu, nhận ra tôi, cha hỏi “con ở mô chạy lại đây?”

Tôi nói “từ phòng cấp cứu”.

Vừa nói vừa theo cha, chạy về phía nhà nguyện của BV và cũng là chỗ ở thường ngày của cha. Đến đó thì đã có hai bà sơ dòng Áo Trắng và vài người nữa không biết từ trại bệnh nào cũng chạy lại đây. Tôi nhận ra trong số đó có sơ giám thị suốt trong sáu năm tôi nội trú tại trường trung học Jeanne d’Arc.

Cha Trung quen biết ông nội và ba mạ tôi, thỉnh thoảng ngài có ghé đến thăm ông nội nhà ở đường Hàm Nghi, nên ngài biết tôi. Không biết chạy đi đâu nữa tôi ở lại đó với cha hai bà sơ, và mấy người nữa.

Bốn năm ngày liền chúng tôi chui rúc trong nhà nguyện, không dám chạy ra ngoài và cũng không liên lạc được với một ai từ những trại bệnh khác. Súng nổ tư bề nên ai ở thì cứ đâu ở đó.

Sau khi đám người xưng là “quân giải phóng” ở Cấp Cứu kéo nhau đi chúng tôi không gặp, không thấy bọn VC nào nữa, hay chúng đang lẫn trốn trong những trại bệnh khác thì tôi không biết.

Tới ngày thứ năm, ruột gan như lửa đốt, không biết ông bà nội, mạ và mấy anh em tôi trên đường Hàm Nghi ra sao. Tôi nói với cha Trung, cha ơi con muốn muốn về nhà. Cha bảo, không được, súng đạn tư bề, nguy hiểm lắm, cứ ở đây với cha và mấy sơ đi đã, khi mô có lính mình xuất hiện thì mới đi được. Tôi hỏi, khi mô thì lính mình mới tới, cha nói không sớm thì muộn họ cũng sẽ phản công thôi, cha nói như để trấn an tôi và mọi người thôi chứ trên mặt cha thì vẫn đầy vẻ lo âu…

Không biết nghe tin từ đâu mà một người trong nhóm nói người ta chạy vô ở trong nhà thờ Phủ Cam đông lắm. Tôi nghe càng nóng lòng muốn chạy về nhà. Muốn đi phần vì sốt ruột muốn gặp mạ với mấy anh em tôi, phần vì đói. Đã mấy ngày không có gì ăn ngoài mấy ổ bánh mì cứng còng của Caritas còn sót lại ở nhà nguyện chúng tôi chia nhau gặm…cầm hơi!

Tôi quyết định chạy về tìm gia đình. Tôi liều. Trên người tôi chỉ có bộ đồ đồng phục dính đầy máu, tôi chạy ra phía sau cổng BV, tìm đường về nhà. Vừa chạy vừa lo, ngó tới, ngó lui không một bóng người, nhưng tiếng súng thì nghe rất gần. Không biết mấy lần vấp, tôi té xuống. Té rồi lồm cồm bò dậy, vài bước lại vấp té. Tôi lạnh run, hai hàm răng đánh bò cạp, nhìn cảnh tượng xác người nằm đây đó, máu me đóng vũng. Không biết họ bị thương đâu đó ở bên ngoài chạy vào gục chết ở đây. Quá sợ hải, tôi định chạy trở lại nhà nguyện thì bất thần thấy anh Văn hớt ha hớt hãi từ cổng sau BV chạy vô.

Văn là bạn của anh Hải, anh kế tôi, hai người cùng học ở Văn Khoa. Nhà Văn ở miệt trên, gần dòng Thiên An. Mặt mày Văn xanh xao, hai mắt thất thần, trủm lơ, gặp tôi Văn lắp bắp, nói không ra hơi. Ti ơi, thằng Hải bị bắn chết rồi. Hắn bị bắn ở bên Văn Khoa. Toàn thân run rẫy, tôi khuỵu xuống. Văn đỡ tôi đứng lên. Lại có tiếng nổ rất gần. Văn hoảng hốt kéo tôi chạy lại ngồi xuống bên trong bức tường sát cánh cổng sau BV. Hai đứa tôi run rẫy ngồi sát vào nhau. Lát sau, tiếng được tiếng mất, anh lắp bắp kể. Văn nói mấy đêm rồi Văn với mấy người anh của tôi trốn đạn trong nhà thờ Chánh Tòa (nhà thờ Phủ Cam), nhưng rồi đêm qua có mấy sinh viên của mình dắt một toán VC vô nhà thờ đọc một lô danh sách, họ lùa người đi đông lắm, không biết họ đưa đi đâu. Văn kể một hơi mấy tên “sinh viên của mình” nhưng bây giờ tôi không còn nhớ nổi.

Khi đám người bị lùa đi, thân nhân của họ khóc la thảm thiết.

Sau đó Văn, anh Hải cùng mấy người bạn rủ nhau trốn ra khỏi nhà thờ và mạnh ai nấy tìm đường trốn.

Ra khỏi nhà thờ, không biết trốn chui, trốn nhủi, chạy quanh, chạy co, làm sao mà Văn với anh Hải lại tới được trường y khoa. Anh Lộc, anh Kính đi lạc hướng nào không biết. Hai anh hè nhau chui vô phòng thí nghiêm trốn thì thấy có vài người đã bị bắn chết từ bao giờ mà những vũng máu đọng dưới họ còn tươi lắm. Văn, anh Hải hoảng hồn chạy trở ra.

Chưa ra khỏi cửa thì gặp Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn thị Đoan Trinh cùng mấy sinh viên khác nữa Văn không biết tên, chỉ biết họ đồng bọn với Hoàng Phủ Ngọc Phan. Văn biết mặt Phan là vì Văn có người anh học y khoa cùng lớp với Phan.

Gặp Văn, Phan nạt nộ: tụi mi chạy trốn đi mô? Khôn hồn thì chạy qua bên Văn Khoa tập trung ở đó để đi tải thương!

Hải và Văn biết không thể nào thoát khỏi sự kiểm soát của bọn Hoàng Phủ Ngọc Phan nên vội vàng chạy bộ xuống Văn Khoa, hy vọng bị bắt đi tải thương chứ không bị giết.

Bọn Trinh, Phan chạy xe Honda nên họ tới trước, và cũng đã bắn trước một số người khác rồi. Hải, Văn không biết nên lúc thúc chạy đến. Anh Hải chạy vô trước, nghĩ là sẽ gặp được một số bạn bè khác, cùng đi tải thương với nhau như lời Hoàng Phủ Ngọc Phan nói.

Vừa vô tới giảng đường thì anh Hải bị Hoàng Phủ Ngọc Phan bắn gục ngay. Văn mắc đi cầu, tìm chổ phóng uế nên chạy vô sau anh Hải. Mới tới cửa thì nghe tiến súng, tiếng hét của anh Hải, Văn quay đầu bỏ chạy. Chưa kịp rượt theo Văn thì bỗng ầm, một tiếng nổ đâu đó, trong sân trường đại học, khiến Hoàng Phủ Ngọc Phan và đồng bọn hoảng hốt leo lên xe Honda tháo chạy.

Văn thoát chết, chạy như điên, như khùng, chạy vô BV, và tình cờ gặp tôi trong đó.

Nghe anh Hải bị bắn trong sân đại học Văn khoa, tôi bỏ ý định về nhà, tôi muốn chạy qua Văn khoa tìm anh tôi, hy vọng anh chưa chết, tôi nghĩ sẽ tìm cách đưa anh vô BV cấp cứu. Tôi khóc nói với Văn, em tới chổ anh Hải. Văn can, Ti đừng đi, tụi nó có thể trở lại. Tôi mặc kệ Văn ngồi đó, vùa khóc vừa chạy. Một lát nghe tiếng chân Văn sau lưng, miệng thì nói, Ti ơi, vô BV trốn đi, Hải nó chết thiệt rồi, mà chân vẫn bước theo tôi. Tôi như người mất hồn, vừa đi, vừa chạy, vừa khóc. Trời ơi, thật là khủng khiếp, chỉ một đoạn đường từ cổng sau BV tới sân trường VK mà không biết bao nhiêu là xác người, áo quần vung vãi khắp nơi.

Chúng tôi chạy mới tới trường trung học Jeane d’Arc, thì gặp bọn Hoàng Phủ Ngọc Phan lấp ló trước cổng trường với một nhóm bộ đội Bắc Việt. Người nào mặt mày đằng đằng sát khí. Gặp lại Phan, Văn run rẩy, Phan chưa kịp nói thì Văn đã lắp bắp phân trần, em qua BV kiếm con Ti chớ em không có trốn mô, và xin xỏ, anh cho em với con Ti đem xác thằng Hải về nhà rồi em trở lại đi…tải thương!

Phan không trả lời Văn, hắn nhìn tôi ác độc: mi về nhà kêu thằng Lộc, thằng Kính xuống đây mà đem thằng Hải về.

Tôi líu lưỡi, em không biết hai anh em ở mô mà kêu. Trước đây tôi không hề biết mặt Hoàng Phủ Ngọc Phan, mà cũng chưa hề nghe nói tới tên người này vì trước năm 68 tôi còn là học sinh trung học. Có thể các người anh của tôi thì biết, vì họ là những lớp sinh viên đàn anh, đã từng qua những khó khăn đối đầu với đám sinh viên theo phe “tranh đấu, lên đường xuống đường” của những năm trước.

Hoàng Phủ Ngọc Phan to nhỏ gì với những người đồng bọn rồi quay lại ra lệnh cho tôi với anh Văn đem xác anh Hải về nhà. Chưa biết nghĩ cách nào để đem xác anh Hải về thì Văn thấy một chiếc xích lô của ai bị bể bánh xe sau, nằm chơ vơ cạnh vách tường trường Jeanne d’Arc.

Văn gọi tôi theo anh. Chúng tôi đẩy chiếc xích lô sứt cọng gẫy càng về phía Văn khoa. Có chừng 10 xác người trong đó. Tôi không dám nhìn lâu. Chúng tôi hè hụi khiêng Hải bỏ lên xích lô. Xác anh đã cứng. Đùm ruột lòi ra ngoài trông rất khủng khiếp. Hai mắt vẫn còn mở trừng. Miệng vẫn còn há ra.

Hoàng Phủ Ngọc Phan vừa đánh anh Văn bằng báng súng vừa chửi: Chuyến ni mi trốn nữa, mi gặp lại tau là mi chết!

Văn run rẫy lắp bắp: dạ lạy anh, em không dám nữa mô. Rồi chúng tôi hè hụi đẩy chiếc xích lô mang xác người anh xấu số của tôi nhắm hướng cầu Kho Rèn đi lên. Nhà tôi ở trên đường Hàm Nghi. Qua khỏi cầu một chút. Suốt quảng đường từ đó về đến nhà, có rất nhiều đám lính bộ đội Bắc Việt đứng tụm năm, tụm ba. Chúng tôi không bị bắt giữ lại vì có Hoàng Phủ Ngọc Phan chạy đi trước ra dấu cho họ để cho chúng tôi đi.

Khúc đường ngang trường Thiên Hựu cũng có rất nhiều xác người nằm rải rác. Nhiều vũng máu cũng như xác người bị ruồi bu đen. Đã mấy ngày không có gì trong bụng, tôi vừa đi vừa ói khan. Văn cũng vậy. Chúng tôi rán sức đẩy chíếc xích lô, trong lúc Hoàng Phủ Ngọc Phan cùng hai người đàn bà nữa cứ chạy xe đảo tới, đảo lui hối chúng tôi mau lên. Tôi nghe chúng nó hỏi nhau, bên Lý Thường Kiệt, Nguyễn Huệ còn ai nữa không? Có mấy chiếc xe Honda chở gạo, bánh tét, đã tịch thu của nhà ai đó chạy thẳng vô trường Thiên Hựu.

Lúc đó bỗng dưng có mấy chiếc trực thăng xuất hiện trên trời nhả đạn xuống,Văn nói như reo bên tai tôi, Ti ơi, máy bay của mình. Mừng chưa kịp no, thì trời ơi, từ những cửa sổ trên lầu của trường Thiên Hựu những họng súng lớn nhỏ nhả đạn, nhắm hai chiếc trực thăng mà bắn, lúc đó chúng tôi mới biết là VC đang ở trong trường Thiên Hựu quá nhiều.

Hoảng hồn tôi, Văn chạy lại ngồi sụp xuống bên tường rào của trường tránh đạn.

Phan và đồng bọn biến đâu mất. Tụi nó như ma, khi ẩn, khi hiện. Nhưng chỉ được một lát, hai chiếc trực thang bay đâu mất. Chúng tôi thất vọng, khi thấy Phan với đồng bọn xuất hiện hối chúng tôi đi.

Lên tới cầu Kho Rèn, thấy một đám người, đàn ông, đàn bà, con nít bị bắt trói chung với nhau ngồi trên đầu cầu. Họ ngồi gục đầu xuống hai đầu gối. Tiếng con nít khóc, tiếng mấy bà mẹ dỗ con: nín đi con ơi.

Đi ngang qua họ mà chúng tôi không dám nhìn. Có tiếng người trong đám gọi tôi Ti ơi, quay lại tôi nhận ra chị giúp việc của mẹ tôi và vợ của một chú cùng đơn vị với ba tôi ở tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Tôi đoán họ là những người từ trên Phủ Cam, chung quanh cầu Kho Rèn, Hàm Nghi và những con đường chung quanh đó chạy xuống tìm đường trốn lên Phú Lương thì bị bắt giữ.

Tôi định dừng lại hỏi thăm thì Hoàng Phủ Ngọc Phan trờ xe tới nạt nộ: “đi mau, ngó chi!”

Trên đoạn đường từ Văn Khoa ngang qua trường Thiên Hựu, cầu Kho Rèn, lên tới nhà nội chúng tôi thấy nhiều người bị trói dính chùm vào với nhau đi trước mấy người mặc đồ đen đi dép râu, mang súng.

Súng nổ tư bề mà sao không thấy bóng dáng lính mình ở đâu cả. Chỉ thấy lính bộ dội Bắc Việt khắp nơi.

Trên đường Hàm Nghi, Nguyễn Thị Đoan Trinh chạy ngang nhà nào mà y thị gật đầu là y như rằng trong nhà đó có người bị bắt đem ra, người thì bị bắn tại trước nhà, người thì bị dắt đi, mấy ông bà cụ trong nhà chạy theo nằm lăn ra đường khóc la thảm thiết… Bọn lính Bắc thì cứ chửi thề luôn miệng, đéo mẹ câm mồm, ông bắn bỏ mẹ bây giờ…

Hai chúng tôi cứ nghiến răng, cúi mặt, lầm lủi đẩy chiếc xích lô mang xác Hải đi tới.

Khi gần tới nhà tôi ở số 24 đường Hàm Nghi thì Hoàng Phủ Ngọc Phan và con hồ ly Trinh rà xe lại gần bảo tôi: không được đẩy vô nhà mi. Đẩy lên trên tê!

Đẩy lên trên tê, tôi hiểu đây là đẩy lên nhà ông bà nội tôi. Cũng trên đường Hàm Nghi nhưng nhà nội tôi ở trên dốc, hướng đi lên Phủ Cam. Nhà ba mạ tôi thì ở gần cầu Kho Rèn.

Tôi cũng không hề biết mặt Nguyễn Thị Đoan Trinh trước đó. Trong hoàn cảnh này tôi mới biết mặt y thị là nhờ anh Văn nói. Tội nghiệp anh Văn, cứ tưởng khi Hoàng Phủ Ngọc Phan biểu cùng tôi đẩy xác anh Hải về là được tha chết. Anh Văn và tôi cũng không ngờ rằng đoạn đường từ Văn Khoa lên tới nhà nội trên đường Hàm Nghi là đoạn đường sau cùng chúng tôi đi chung với nhau trong cuộc đời này.

Lên tới nhà nội, chúng tôi đẩy Hải vô bên trong hàng rào chè tàu, bỏ Hải ngoài sân tôi với Văn chạy vào nhà, nhà vắng ngắt, đi từ trước ra sau bếp gọi ông ơi, mệ ơi.

Nghe tiếng ông nội yếu ớt từ trong buồng vọng ra, ai đó, đứa mô đó? Con đây, ông nội. Nghe tiếng tôi, ông tôi hấp tấp chạy ra, bước chân xiêu xiêu, ông tôi chạy lại ôm tôi, ông khóc, ông nói, lạy Chúa lạy Mẹ cháu tui con sống. Tôi không khóc được, tôi run rẫy trong tay ông nội. Ông tưởng tôi sợ nên an ủi, con còn sống mà về được đây là phúc lắm rồi, ở đây với ông nội, không can chi mô! Nghe nói mạ mi đưa ba thằng em mi chạy lên Phú Lương rồi, không biết đi tới mô rồi, có thoát được không? Lạy Chúa, lạy Mẹ phù hộ.

Tôi không nói vì quá mệt, kéo tay ông nội ra ngoài, thấy Văn ngồi bệt dưới nền nhà, ông hỏi, đứa mô giống thằng Văn rứa bây?

Văn oà khóc, tôi khóc theo, kéo ông nội ra sân. Nhìn thấy xác Hải ông nội tôi khuỵu xuống, miệng thì kêu trời ơi, trời ơi, răng mà ra nông nỗi ni…

Chúng tôi đem Hải vào nhà, đặt anh trên divan. Ông nội lấy mền đắp lên xác Hải.

Hai người anh tôi đang trốn trên trần nhà đòi xuống nhìn mặt Hải. Ông nội không cho. Anh Lộc giở nắp trần nhà sát góc tường, thò đầu xuống vừa khóc vừa nói, Ti, đẩy cái ghế đẩu qua cho anh. Tôi nghe lời ra đằng sau bếp lấy cái ghế đẩu mang lên để ngay góc phòng cho anh Lộc nhảy xuống. Ông nội ngó lên, quơ quơ hai tay, giọng ông lạc đi, đừng xuống, ông nội lạy con, đừng xuống, ở trên đó đi mà… Anh Kính đang ở trên đó, cũng đang khóc. Lộc chưa kịp nhẩy xuống thì nghe tiếng nói, tiếng chân người ngoài sân. Anh vội vàng đóng miếng ván lại thì bọn Hoàng Phủ Ngọc Phan cũng vừa vào đến.

Thấy Phan bước vô, mặt Văn biến sắc, anh lắp bắp nói với ông nội, anh Phan cho tụi con đem xác về đó ông ơi. Ông nội đứng im không nói. Hai mắt cú vọ của nó ngó ông nội hỏi: thằng Lộc, thằng Kính ở mô?

Ông nội nói tui không biết. Phan gằn giọng: ông thiệt không biết tụi hắn ở mô? Tụi hắn năm mô cũng về ăn Tết ở đây mà ông không biết răng được?

Ông nội nói, ba ngày tư ngày Tết, ăn xong thì tụi hắn đi chơi, đi thăm bà con họ hàng chứ chẳng lẻ ở nhà hoài răng? Chừ thì tui biết tụi hắn ở nhà mô mà chỉ!

Mắt Phan ngó láo liên khắp nơi, chợt thấy cái ghế đẩu ngay góc phòng, nó cười khan một tiếng.

Tôi đứng núp sau lưng ông nội, Hoàng Phủ Ngọc Phan hung hăng bước tới, xô ông nội qua một bên, nó nắm lấy tóc tôi kéo tôi ra về phía hắn. Ngó lên trần nhà la lớn: Lộc, Kính, Hiệp, tụi mày không xuống tau bắn con Ti!

Nó vừa nói, vừa xoáy mái tóc dài của tôi trong tay, nó đẩy tới, đẩy lui. Tôi đau điếng, tôi sợ, tôi run lẩy bẩy, nước mắt ứa ra nhưng không dám la thành tiếng. Ông nội tôi chấp tay lạy nó như tế sao: tui lạy anh tha cháu tui, con gái con lứa, hắn biết chi mô.

Thằng Phan càng la lớn: tau biết tụi mi trên đó, có xuống không thì nói, tau bắn con Ti.

Phan xô tôi té xuống, lấy chân đạp lên lưng. Chĩa mũi súng lên đầu tôi hô một, hai, ba…

Lập tức anh Lộc mở nắp trần nhà thò đầu xuống la to: đừng, đừng bắn em tau, tau xuống, để tau xuống…

Ông nội tôi chạy lại giữ cái ghế cho anh bước xuống, hai chân ông run, ông té sấp, đang lúc anh Lộc tìm cách tuột xuống, thò hai chân xuống trước, hai tay còn vịn trần nhà, khi đôi chân vừa chạm chiếc ghế đẩu thì Hoàng PHủ Ngọc Phan đã nổ súng, đạn trúng ngay chính giữa cổ, máu phọt ra, Lộc lăn xuống sàn nhà toàn thân anh dẫy dụa mấy cái rồi nằm im.

Mặc ông nội tôi la hét thất thanh, Phan chĩa súng bắn lên trần nhà, nghe tiếng anh Kính lăn tới đâu, nó bắn tới đó, bắn nát trần nhà, hết đạn nó giành lấy cây súng của một thằng khác bắn tiếp, cho tới khi anh Kính tôi rớt xuống theo mấy miếng ván.

Anh Văn ngồi bệt xuống đất, nhắm mắt, bịt tai, run lẩy bẩy, ngồi kề bên cạnh anh người tôi tê cóng, đái ỉa ra cả quần, ông nội tôi nhào tới ôm anh Kính, hai mắt trợn trừng, anh đang thều thào những lời sau cùng, ông khóc, ông chửi rủa thằng Phan, nó say máu, bắn luôn ông nội tôi. Ông tôi đổ xuống bên cạnh anh Kính.


Bắn ông tôi xong chúng kéo nhau đi bắt anh Văn theo. Còn lại một mình, tôi bò lại ôm lấy ông nội, tôi khóc không ra tiếng, tôi thở không ra hơi, hai bàn tay tôi ướt đẫm máu, máu của ông nội tôi, tôi bò sang anh Lộc, bò sang anh Kính, tôi lay, tôi gọi, tôi gào, không ai nghe tôi hết, anh tôi không trả lời tôi, hai con mắt, bốn con mắt, sáu con mắt đều mở trừng, ông nội tôi nằm im, máu trong ngực ông vẫn tuôn ra từng vòi. Tôi gục đầu xuống xác ông lịm đi. Không biết bao lâu thì tôi tỉnh lại, nhưng không ngồi dậy nổi. Cứ nằm ôm lấy xác ông nội. Tóc tôi bết đầy máu, toàn thân tôi, máu, phân và nước tiểu đẫm ướt. Tôi không còn sức để ngồi lên. Không biết tôi nằm bên cạnh xác ông tôi với ba người anh như vậy là bao lâu.

Khi tỉnh dậy thì thấy hai vợ chồng bác Hậu, vài người lối xóm nữa của với ông nội đang ở trong nhà.

Họ dọn dẹp, khiêng bộ ngựa trong nhà bếp ra trước phòng khách, đặt xác ông nội cùng với ba người anh tôi nằm chung với nhau. Hai bác gái đem tôi vào phòng tắm, phụ nhau tắm rửa cho tôi như một đứa con nít, bác Hậu lấy áo quần của bác mặc cho tôi. Tâm trí tôi hoàn toàn tê liệt. Tôi không còn khóc được, không còn mở miệng nói được câu nào. Ngày cũng như đêm ngồi rũ rượi bên cạnh xác của ông tôi, các anh tôi. Tôi không còn sợ chết. Nhưng sao tụi nó không giết luôn tôi? Trời hỡi, trời ơi!

Nhìn thấy tôi tiều tụy, mỗi ngày bác Hậu gái khuấy cho tôi vài muỗng bột bích chi ép tôi uống.

Thiệt ra nhà nội cũng chẳng còn chi. Gạo cơm, bánh mứt thì bị tụi nó khiêng đi hết rồi. Bác Hậu còn giấu được ít gạo, ít than nấu cháo uống cầm hơi với nhau.

Ngày hôm sau thằng Phan trở lại. Bác Hậu xin phép được chôn ông tôi và mấy người anh sau vườn nhà nhưng nó không cho, nói cứ để đó.

Đã hơn bảy ngày, xác đã bắt đầu sình lên và nặng mùi. Mà Phan không trở lại.

Một buổi tối tụi bộ đội Bắc Việt đến lục lọi kiếm gạo. Bác Hậu xin chúng nó đào huyệt sau nhà để chôn ông nội và ba người anh tôi. Chúng nó bảo ừ thối quá rồi thì chôn đi, nhưng chỉ được đào một lỗ huyệt.

Vợ chồng bác Hậu khóc lóc năn nỉ: mấy anh ơi, người chết rồi biết chi, anh cho tụi tui đào 4 huyệt. Chúng không cho. Chúng nó phụ bác Hậu đào huyệt. Bảo đem cả bốn người bỏ xuống chung một lỗ. Lấp lẹ đi, thối quá. Bác Hậu với mấy người trong nhà không ai muốn làm, ngó nhau mà khóc…

Chiều tối hôm đó Văn trở lại với Phan và mấy thằng bộ đội. Chúng nó bắt Văn phụ với mấy thằng bộ đội khiêng từng người ra bỏ xuống huyệt. Hai vợ chồng bác Hậu theo ra vườn.

Tôi kiệt sức nằm vùi một chỗ nhưng tai tôi vẫn nghe rõ những lời đối thoại trong nhà. Tôi không đủ can đảm theo ra vườn chứng kiến cảnh vùi lấp những người thân yêu của tôi. Nằm trong buồng ông bà nội nhưng tôi nghe rõ từng tiếng cuổng xẻng đang đào đất. Tâm trí tôi quay cuồng, ruột gan tôi đòi đoạn. Trời ở đâu, đất ở đâu? Tôi gọi ông tôi, gọi anh Lộc, anh Kính, anh Hải, không ai nghe tôi hết…

Khi bốn cái xác người được bỏ xuống, miệng lỗ chưa được lấp, thì tôi nghe tiếng súng nổ, tiếng kêu gào của vợ chồng bác Hậu, nhưng không nghe tiếng của Văn. Tiếng bác Hậu kêu Văn ơi, Văn ơi giọng bác đòi đoạn, thì tôi biết chuyện gì đã xảy ra cho Văn. Toàn thân tôi lẩy bẩy, tôi cảm thấy khó thở, một lần nữa cứt và nước đái trong người tôi túa ra.

Tôi nghe tiếng mấy thằng bộ đội hò hét bảo lấp đất lại. Bác Hậu và những người hàng xóm của nội tôi đành phải làm theo.

Khi tụi bộ đội VC bỏ đi, bác Hậu chạy vào buồng vò đầu, bức tai, giọng tức tưởi: thằng Văn nằm chung với ba thằng anh mi rồi con ơi! Trời ơi, là trời ơi. Bác Hậu đấm ngực: không biết thằng Văn đã chết chưa mà hắn bắt tui lấp. Văn ơi là Văn ơi, con tha tội cho bác, trời ơi người mô mà ác như rứa…

Tôi lặng người, nghe bác Hậu khóc anh Văn.

Sau lần đó không đứa nào trong bọn chúng trở lại, kể cả tụi bộ đội.

Chắc nhà ông tôi chẳng còn người để mà giết, chẳng còn của cải chi để mà cướp nữa.

Hơn hai mươi ngày, tôi nằm liệt lào trong nhà nội. Bên ngoài súng đạn vẫn tư bề.

Hai vợ chồng bác Hậu không nỡ bỏ tôi lại một mình, trong lúc bác nghe ngóng và biết đa số dân Phủ Cam đã tìm đường chạy thoát được xuống Phú Lương. Bác năn nỉ tôi: rán ăn uống thêm một chút để có sức mà chạy, không lẽ con nằm đây chờ chết? Con không muốn tìm mạ con răng?

Hôm sau nữa tôi theo gia đình bác Hậu tìm đường chạy lên Phú Lương vì nghe nói lính Mỹ, lính mình đã thấy xuất hiện chung quanh đây rồi.

Đi xuống ngã cầu Kho Rèn thì cầu đã bị sập, bác theo đoàn người đi hướng khác, tôi đi theo như người mất hồn, họ đi đâu tôi theo đó, tôi không còn nhớ là mình đã đi qua được những nơi đâu. Có điều tôi lấy làm lạ, trên đường chạy giặc, mỗi khi đạn pháo bắn khắp nơi mà người ta cứ gồng gánh nhau mà đi, không ai chịu dừng lại kiếm chỗ tránh đạn, người ta nói với nhau: khi mô mà có mọc chê hay đạn pháo chi đó thì bọn VC chui vô nhà dân để trốn đạn, chúng nó không ra đường để chặn bắt dân lại, vì vậy người ta cứ chạy bất kể, dưới lằn mưa đạn người ta càng chạy đi đông hơn. Ôi những người dân tội nghiệp của xứ Huế thà chết dưới bom đạn còn hơn để bị lọt vô tay quân sát nhân ác độc.

Cuối cùng thì tôi cũng về đến được Phú Lương gặp mạ và ba đứa em trai của tôi. Quá đau khổ, Mạ tôi bị phát điên khi hay tin cái chết của ba người anh và ông nội.

Ít lâu sau ba tôi trở về sau một đợt hành quân nào đó của tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Thấy mạ tôi như vậy, biết không thể trở lại đường Hàm Nghi ông mướn nhà ở tạm tại Phú Lương.

***

Sau khi Huế được giải thoát. Ba tôi nhờ bà con lối xóm cải táng Văn, ba người anh, và ông nội tôi, tang lễ được cữ hành tại nhà thờ Phủ Cam do cha Nguyễn Phùng Tuệ chủ tế.

Gia đình anh Văn đồng ý cho anh Văn được nằm lại trong miếng vườn nhà ông nội tôi cùng với ba người anh của tôi.

Ba tôi được giải ngũ khoảng giữa năm 69. Mạ tôi vẫn trong cơn điên loạn không thuyên giảm. Ba tôi quyết định bỏ Huế đem hết gia đình vào Long Khánh sinh sống. Nhà nội giao lại nhờ hai bác Hậu coi chừng. Nhà ở 24 Hàm Nghi (gần dường rầy xe lửa) thì bán cho ai đó tôi không rõ.

Thưa ông Liên Thành,

Đó là những cái chết oan khiên của những người ruột thịt thân yêu mà tôi phải chứng kiến tận mắt với muôn ngàn đau đớn. Trong bà con thân tộc nội ngoại hai bên của tôi có rất nhiều người bị bắt đi ở nhà thờ Phủ Cam, một số bị bắt ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế. Số người bị chôn sống, mất tích lên tới 70 người. Tất cả đều là học sinh, sinh viên, thường dân, nông dân, buôn bán ở chợ An Cựu.

Sau Tết Mậu Thân, những người bà con còn lại của tôi quá đau khổ, sợ hãi, họ đã âm thầm bỏ Huế, tản mác khắp nơi, thay tên đổi họ mà sống…

Sau biến cố tháng 4 đen 75, gia đình tôi lại là những nạn nhân của lũ Việt Gian Cộng Sản ác độc, vô luân. Ba tôi và những đứa em trai còn lại cũng đã chết sau mười mấy năm bị đày đọa trong lao tù CS.

Đã 40 năm qua, những vết thương đó vẫn còn tươi rói trong tôi. Nỗi đau mỗi ngày một đầy. Đó là những cái chết oan khiên trong muôn ngàn cái oan khiên của người dân Huế.

Tôi là người con duy nhất trong gia đình còn sống sót sau Tết Mậu Thân cũng như sau những ngày mất nước. Nay viết lại những cái chết thương tâm của những người Thân Yêu trong gia đình tôi với tư cách là một nhân chứng và nạn nhân, để tố cáo Tội Ác của Việt Gian Cộng Sản, có như thế, oan hồn của ông nội và anh em tôi mới có thể siêu thoát.

Tôi sẵn sàng ra làm nhân chứng trước tòa án quốc tế, cũng như xuất hiện trước các phương tiện truyền thông khi cần thiết.

Xin trình tên tuổi ông nội tôi, và của ba người anh bị sát hại:

Tên ông nội:

- Nguyễn Tín, 70 tuổi.

Ba người anh:

- Nguyễn Xuân Kính, sinh viên Y khoa, sinh năm 1942.
- Nguyễn Xuân Lộc, sinh viên Luật, sinh năm 1946.
- Nguyễn Thanh Hải, sinh viên Văn Khoa, sinh năm 1949.
Và Lê Tuấn Văn, sinh viên Văn Khoa, bạn của anh Hải tôi.”]

Toàn văn bức thư của Nhân chứng hiện còn sống Nguyễn Thị Thái Hòa:

***

2. Nhân chứng sống thứ nhì: Audio ông Phan Văn Tuấn, bị Việt cộng dùng vũ lực ép phải đi đào hố chôn sống đồng bào tại Huế trong Tết Mậu thân 1968, trả lời phỏng vấn (Nam Dao).

Hoặc có thể tải xuống hay nghe tại đây, gồm 2 phần:

http://www.mediafire.com/?fvf55xophc7w5nw
http://www.mediafire.com/?qxbldbg2n0lj1qp

3. Nhân chứng sống thứ ba: Video bà Nguyễn Thị Công Minh nạn nhân trong biến cố Mậu Thân 1968 tại Huế.


Hoặc có thể tải xuống hay nghe tại đây:
https://www.mediafire.com/?9nmwv641xshhxa8

4. Nhân chứng sống thứ tư: Thư bà Tâm Anh, em gái nạn nhân Nguyễn Cửu Bính, nói về anh em Hoàng Phủ.

Xin cám ơn anh, khi anh xuất hiện trên đài truyền hình với người anh của bạn học ĐK với tôi là Lê Thị Tôn Kính thì tôi đã mê say theo dõi, rồi sau đó bạn bè gởi đến cho tôi đọc về anh ra sách “Biến Động Miền Trung”, tôi cảm thương cho ông anh của tôi là Nguyễn Cửu Bính bị bắt đi bởi lệnh gián tiếp của tên Hoàng Phủ Ngọc Phan, vì hôm mùng 2 Tết Mậu Thân khi thấy Hoàng Phủ Ngọc Phan đi ngang nhà, anh tôi đã mời Hoàng Phủ Ngọc Phan vào nhà uống café, chỉ thời gian ngắn sau đó, ngày mùng 4 Tết, một toán Việt Cộng đến nhà bắt anh tôi, tôi nghĩ nếu anh tôi không mời Phan vào nhà uống café thì Việt Cộng làm gì biết anh tôi có mặt ở nhà mà đến bắt.

Cha mẹ tôi đã đau buồn vì anh ấy là niềm yêu thương của gia đình chúng tôi! Thiệt cho đến nay tôi vẫn khiếp sợ Cộng Sản và tự đặt câu hỏi: Cộng Sản là ai? Là ma quỉ giết người vô tội để làm gì?

Anh tôi từ khi học trường Quốc Học đã kết nghĩa anh em với Trịnh Công Sơn, Hoàng Tá Tích, và anh Trương Đình Ngôn. Những người nầy chuyên môn túc trực trong nhà chúng tôi để ăn cơm gia đình. Tôi có anh rể là Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng đã coi mấy người nầy như em ruột. Nhưng sao Hoàng Phủ Ngọc Tường là bạn chí thân của Trịnh Công Sơn mà có thể bắt chôn sống anh của tôi được? Thiệt là oan uổng cho cha mẹ của tôi đã nuôi họ, cho ăn uống đối xử với họ như anh Bính. Vậy thì CS Huế thân quen tại sao đã biết anh của tôi không phải là lính VNCH, công an, cảnh sát hay CIA mà đã giết anh ấy về tội gì? Anh ấy rất hiền lành và chẳng bao giờ làm mất lòng ai? Đến nỗi khi CS mang dép râu vào nhà nói cha mẹ của tôi đưa giấy khai gia đình ra cho họ xem, thì họ hỏi Nguyễn Cửu Bính ở đâu ra trình diện. Tôi nghe mẹ của tôi nói rằng: “Con tôi lấy vợ ở Đà Lạt nên ở trên đó” thì mấy thằng cha và con mẹ CS nói rằng: “Bà đừng có nói láo, chúng tôi thấy ông Nguyễn Cửu Bính đi mua hoa mai chiều 30 Tết, mà mùng một Tết không có máy bay đến, mùng hai thì chúng tôi đã chiếm thành phố Huế thì làm sao mà đi Đà Lạt được?”. Nhưng tôi nghe mẹ tôi cứ nói: “Đó là các anh, các chị đã thấy nhầm thằng anh của nó”. Một thằng trong bọn cũng lạ hoắc nói rằng: “Nếu bà nói vậy, chúng tôi tìm ra thì bà chịu gì?”. Mẹ tôi trả lời: “Nếu các anh tìm ra, thì các anh muốn làm sao cũng được”. “Nếu bà nói như vậy thì nếu chúng tôi tìm ra thì chúng tôi bắn chết cả nhà”. Mẹ tôi trả lời một cách thẳng thắn: “Dạ được rồi, tôi bằng lòng”. Nhưng anh Bính ngồi trong tủ thờ có chạm trổ như một miếng gỗ có chạm trổ hình con rồng sơn màu đen không phải là có khuy cửa để vào được, nhưng lấy móng tay nâng vào khía cạnh chạm trổ hình mấy con rồng đó thì chui vào trong tủ được. Ngồi trong đó thật an toàn. Anh Bính ngồi trong nghe như vậy thì đã biết khi buổi sáng mùng hai Tết anh đứng trước song cửa nhà thì gặp Hoàng Phủ Ngọc Phan đi ngang qua nên anh mời vô nhà uống café cho nên khi nghe hai bên đối thoại kinh hoàng quá, thì anh dong hai tay lên đầu và bọn CS trói cấp cánh dẫn đi.

Khi ấy anh bị bắt không mang theo thẻ kiểm tra, cho nên khi chúng tôi đi di tản về từ vùng Bao Vinh trở lại nhà ở 47 Huỳnh Thúc Kháng-Huế thì nghe nói CS đã đem những người bị bắt đi chôn sống.

Mẹ tôi ngày nào cũng đi mấy hầm chôn tập thể tìm kiếm, nhưng một phần vì CS chôn hời hợt cạn quá (có lẽ chôn mau, chôn hối mà chạy) cho nên chó ăn nhìn không được, chỉ trừ khi những người có mang theo thẻ kiểm tra thì thân nhân mới nhận đem về được.

Anh ấy mất đi để lại người vợ trẻ sinh năm 1941 là chị Thu Lan, người Đà Lạt, và cặp con sinh đôi con gái nay chúng đã có chồng con rồi.

Năm 1975 tôi có cảm giác như anh ấy bắt buột tôi phải theo đoàn người rời khỏi VN ngay, cho nên tôi dõng mảnh cãi lại bất cứ ai bảo đừng đi vì đã có người chết ở đảo Côn Sơn do máy bay MiG của Nga viện trợ cho CS bay chỉ 5 phút thôi là thả một loạt bom chết 100%. Còn như ở lại thì đàn ông có tội chúng nó có thể giết chết nhưng đàn bà và con nít vô tội thì tha. Vả lại giết hết thì đất đâu mà chôn? Nhưng tôi trả lời: “Cho dù chết dưới biển, nhưng tôi không muốn chết kiểu của anh Bính!”. Tôi có cảm giác như lời nói đó của anh Bính đã hiện trong tôi nói như vậy. Khi đó cả nhà anh Tôn Thất Xứng cùng đi thật là may mắn.

Tôi xin cám ơn anh đã cho tôi có dịp trả nợ cho hai cô bạn là Trần Lệ Hà ở nước Đức, và Thu Tâm ở Gia Nã Đại. Họ muốn tôi kể chuyện nầy để họ dịch ra bằng tiếng Pháp cho bạn của họ biết bộ mặt thật của Cộng Sản Việt Nam như thế nào? Nhưng tôi có hẹn không biết bao giờ mới có! Vì kể chuyện gì cũng do nhân duyên thích hợp mới được.

Kính chào anh và tôi cũng như bạn Kim Tri hứa sẽ ủng hộ trong những việc làm sáng tỏ nỗi khổ đau của con dân xứ Huế quê mình.] (Tâm Anh)

Huế Mậu Thân 1968


- Tổng Số thường dân thương vong: 7.500 người;

- Số bị thương:1.900 người;

- Số thường dân tử vong: 844 người;

- Số người bị mất tích:1946 người;

- Theo thống kê của tác giả David T. Zabecki trong cuốn Encyclopedia of the Vietnam war thì tại Huế số thi hài nạn nhân tìm được trong mồ chôn tập thể là 2.810 người.

***

Giáp tết Quý Tỵ 2013, để ‘Mừng 40 năm chiến thắng Mậu Thân’, VTV1 đã cho trình chiếu liên tục bộ phim tài liệu «Mậu Thân 1968» gồm 13 tập của nữ đạo diễn Lê Phong Lan, nhằm ‘định hướng’ dư luận theo đảng tính, nhưng tôi quyết tín rằng dù trời có sập sự thật vẫn là sự thật vì nói như báo Nhân Dân [“sự thật rất cứng đầu cứng cổ, người ta không thể tha hồ sắp xếp nó theo trình tự lớp lang nào tùy ý muốn của mình”. Nếu “nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì nhưng nửa sự thật đã là lời nói láo trọn vẹn / Une demi-baguette est toujours du pain, mais une demi-vérité était un mensonge entier” thì việc chọn lọc ghi chép một nửa quá khứ, một nửa lịch sử của một triều đại lại là sự lừa đảo cả một dân tộc.] (3).

Mỗi buổi sáng khi đánh răng chải đầu trang điểm, nữ đạo diễn Lê Phong Lan không thể không thấy bộ mặt mộc của mình trong gương; hoặc tối tối trước khi thiếp ngủ, đương sự không thể không trăn trở tự vấn về ‘tác phẩm điêu’ nói trên của mình, vì tôi tin chắc bà ấy vẫn còn sót lại tí chút cơ bản của kiếp làm Người (viết hoa) có tên là Lương tâm, tối thiểu là đối với con cái do chính bà ấy sinh ra từ thiện duyên! Đừng để rồi lại như ai kia phải thống thiết từ xe lăn “Ngô Minh ơi, mình thèm tiếng người”,“ước được một trận say, được nói một câu tròn vành rõ chữ... thậm chí ước được đi ỉa một mình không người săn sóc... chỉ ước có rứa thôi mà trời kiên quyết không cho...” (1).

[“Ở làng quê nọ, có ông Bí thư rất độc ác, khi nghe tin ông đổi đi nơi khác, dân làng hồ hởi, phấn khởi ăn mừng… Rồi ông Bí thư khác đến, vẫn vậy, nếu không muốn nói còn ác độc hơn ông trước. Một hôm ông Bí thư lâm bệnh mà chết. Đám ma được chính quyền tổ chức rầm rộ. Một bà cụ già, nửa đêm ra đào mồ ông Bí thư, bị bắt, đem ra tòa xử. Tòa hỏi: cớ sao người ta chết rồi, bà lại đào mồ lên làm gì? Bà cụ dõng dạc trả lời: Tội ác không thể chôn đi, mà phải đào lên, phải được xử án, để mọi người "học tập" hầu tránh xa Tội ác!”] (NguyenHa).

“Còn đây cái Tết Mậu Thân:
Việt cộng vào Huế giết Dân, đốt Chùa.
Huế ơi! Nhớ lấy năm xưa:
Việt cộng vào Huế đốt Chùa, giết Dân!”
(Ca dao Huế)

(Tổng hợp và cập nhật, 24-01-2014)

Vũ Thế Phan
danlambaovn.blogspot.com
___________________________

Chú thích:

(1) Bài Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng có ở đây.
(2) Phỏng thơ Nguyễn Chí Thiện.
(3) Trần Thị Hải Ý: Lê Hồ huyết kỳ bí phổ. Nhớ anh Đặng Chí Hùng, soạn giả Những sự thật cần phải biết (phần 6) - Lê Duẩn: Kẻ đồng mưu với Hồ Chí Minh tàn sát nhân dân Mậu Thân 1968.

.


Được sửa bởi NTcalman ngày Sun Feb 07, 2016 9:52 pm; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
nguyenvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Sun Jan 26, 2014 12:08 pm


Mậu Thân 1968: “Guinness” nói láo của CSVN



TIẾNG NẤC NGHẸN LÒNG


Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Có loại bom, đạn pháo Mỹ nào đủ tàn bạo và dã man để đi lựa từng cái sọ người mà đập cho vỡ trước khi phát nổ và còn lấp đất lại? Loại bom nào đủ “thông minh” để trói tay từng chùm nạn nhân trước khi nổ, nhưng lại làm cho nạn nhân chết mà không banh xác? Loại “đạn pháo” nào lùa hàng trăm thầy cô giáo ra bờ suối cột tay chân đập đầu dìm họ xuống đó?...

*

Từ trong nước, tướng công thần chế độ cộng sản, ông Trần Độ, nguyên Phó Chính ủy/Phó Bí thư Quân ủy Quân GPMN- PCT/Quốc Hội - ủy viên Hội đồng Nhà nước 1989 -1992 đã từng nói: “...Hệ thống tuyên truyền của đảng CSVN gần 700 báo, đài, hàng ngàn báo cáo viên “lưỡi gỗ” chuyên nói láo, nói lấy được cho sướng cái mồm, nói láo như phường “vô học”...” (Hồi ký Rồng Rắn-Trần Độ).

Từ quốc tế CS, cựu Tổng bí thư đảng CS Xô Viết, ông Mikhail Gorbachev tuyên bố: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: cộng sản chỉ biết “tuyên truyền và dối trá ”.

Nếu vẫn chưa đủ khả tín thì đồng bào nhân dân chúng ta thử vận dụng hết khả năng kiến thức của mình, tìm hiểu bằng mọi nguồn khác nhau xem, trong “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968” và ngay cả sau đó với quá trình chà đạp Hiệp Định Paris 1973, dùng vũ khí giết hại nhân dân đánh chiếm miền Nam gọi là “đại thắng mùa xuân 1975”, thì lực lượng bộ đội CS Bắc Việt đã làm gì, nói gì...

“Ai nổi dậy? Thời gian nào và tại đâu?” để từ đó có cái chuyện gọi là nhân dân “nổi dậy” hiệp đồng tấn công giải phóng miền Nam như lời họ rêu rao tuyên truyền trong một bộ phim nhiều tập Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đang quảng cáo, phát trên VTV.

Hơn ai hết, hàng chục triệu đồng bào miền Nam, tuổi tầm 60 trở lên từ vĩ tuyến 17 trở vào đến Cà Mau ai ai cũng đều biết rất rõ rằng chuyện nhân dân “nổi dậy” hiệp đồng tấn công giải phóng miền Nam là một sự nói láo hàm hồ, trơ tráo và sống sượng . Bất kỳ người trong cuộc nào đã từng sống tại thời điểm ấy, thì vì liêm sĩ không ai có đủ can đảm để “nói láo” như thế! Gần như đồng bào tại tất cả các thành phố miền Nam xảy ra chiến sự trong Mậu Thân 68 ngày ấy đều chứng kiến quân cộng sản miền Bắc xuất hiện ở đâu là người dân ở đó chạy trốn hết, hay ít nhất cũng tìm mọi cách chạy về phía quân đội VNCH để được bảo vệ. Hoàn toàn tuyệt đối không có một khu vực phường, xã, ấp nào trên toàn lãnh thổ miền Nam tại thời điểm Mậu Thân 68 gọi là “nổi dậy” để “hiệp đồng” với quân CS Bắc Việt.



Ngược lại, một bằng chứng rất “hùng hồn” không thể che giấu hay chối bỏ sự thật là trong đoàn quân CS Bắc Việt đã có một sự “nổi dậy” tự nguyện rời bỏ hàng ngũ để “hồi chánh” với phía VNCH vào Mậu Thân 68, bao gồm các nhân viên và sĩ quan cao cấp, trong đó, theo Wikipedia gồm có:

1. Thượng tá Tám Hà Trần Văn Đắc, chính ủy sư đoàn 5 CS Bắc Việt
2. Trung tá Huỳnh Cự
3. Trung tá Phan Văn Xưởng
4. Trung tá Lê Xuân Chuyên
5. Bác sĩ Đặng Tân, trưởng ty y tế Pleiku
6. Nhà văn Xuân Vũ Bùi Quang Triết
7. Nhạc sĩ Phan Thế
8. Diễn viên Cao Huynh
9. Mai Văn Sổ (em song sinh của Mai Văn Bộ - bộ ngoại giao Bắc Việt)
10. Bùi công Tương; ủy viên tuyên huấn tỉnh Bến Tre...

Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là đỉnh điểm đáng kinh tởm từ bản chất “nói láo” có truyền thống của CSVN.

1968 - sau 15 năm (kể từ 1953) CS Bắc Việt giết hại hàng trăm ngàn đồng bào vô tội trong CCRĐ miền Bắc, nhưng những giọt nước mắt không làm cho ông Hồ hối hận và tư duy những kẻ cầm đầu CS Bắc Việt biết dị ứng với máu người, đồng bào, đồng loại.

Mậu Thân 1968 - với 26 ngày tạm chiếm Thành phố Huế và sau đó trên đường rút lui lên rừng vì thiệt hại nặng khi bị quân đội VNCH phản công tái chiếm, y hệt như sự tàn bạo trong CCRĐ – để tiết kiệm đạn dược - CS Bắc Việt đã giết hại hơn 6000 đồng bào Huế bằng các phương pháp dã man như thời trung cổ. Những hành động của họ đã được 100% thân nhân của các nạn nhân cũng như toàn dân Huế và các phóng viên thông tấn quốc tế chứng kiến, xác định rõ ràng khi phát hiện khai quật thi thể.

Liệu những người nước ngoài sau đây họ có nói dối? và nói dối để họ có được những gì? Ai “đặt hàng” để cho họ nói dối? (như nhà nước CSVN đặt hàng nhiều “tỷ đồng” cho bộ phim “Mậu Thân 1968” mà y thị Lê Phong Lan được chọn làm đạo diễn)?




Marilyn B. Young - trong một tác phẩm nổi tiếng từ châu Âu có tựa đề The Vietnam Wars, 1945-1990 ghi lại: “Trong những ngày đầu của cuộc chiếm đóng Huế 1968 quả thực đã có những vụ xử tử công khai tại chỗ... khi trận chiến gần kết thúc bởi cuộc phản công có hiệu quả của quân miền Nam, lính CS miền Bắc trên đường rút lui khỏi Huế đã xử tử rất nhiều người họ đang giam giữ thay vì thả họ ra hay bắt theo làm tù binh.”

Philip W. Manhard - một cố vấn cao cấp Hoa Kỳ tại Huế bị bắt đem ra trại tù binh ở miền Bắc Việt Nam (trao trả năm 1973) tuyên bố rằng thay vì thả ra thì họ bắn giết “tù nhân” tại chỗ, những người già yếu, thương tật là gánh nặng làm chậm bước chân trên đường rút lui của CS Bắc Việt.

Don Oberdorfer - giáo sư Đại Học Johns Hopkins Hoa Kỳ và là nhà báo của The Washington Post năm 1969, ông đã ở Huế 5 ngày với Paul Vogle, giáo sư dạy Anh Văn người Mỹ tại Đại học Huế và may mắn có dịp tiếp cận phỏng vấn nhiều nhân chứng trong thời gian Huế bị quân CS Bắc Việt và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam chiếm giữ. Theo Oberdorfer, các vụ giết người chia làm hai loại:

1- Loại xử tử có kế hoạch những viên chức liên quan trong chính phủ Việt Nam Cộng hòa và gia đình thân quyến của họ, nhân viên chính phủ và dân sự và những người "theo Mỹ".

2- Loại bắn tại chỗ những ai chạy trốn không trả lời thẩm vấn, những ai nói xấu về cuộc "chiếm đóng" Huế, những ai có thái độ "không tốt" với quân CS cai quản.

Ông Oberdorfer tường thuật rằng hầu hết những người nam trên 15 tuổi trốn tránh trong một nhà thờ khu Phú Cam Huế đều bị đem đi và bắn chết. Khi ông phỏng vấn Hồ Tý - một quan chức chỉ huy MTGPMN trong cuộc tổng tấn công 1968 đã đào ngũ “hồi chánh” - ông này cho biết lãnh đạo CSVN chỉ thị “lưu ý đặc biệt” về những giáo dân tại khu Công Giáo Phú Cam, Huế. (Wikipedia)

Ngày hôm nay để bịt mắt, bịt tai lớp đồng bào công dân trẻ, tuổi 20-50 và hơn thế nữa khi chế độ CS/XHCN khát máu, như ánh tà dương hiu hắt le lói cuối ngày, bị nhân loại nguyền rủa trên khắp thế giới thì CSVN đang ra sức bằng mọi cách, mọi thủ đoạn, cố che lấp những hành vi tội ác tàn bạo, phi nhân cách, phi đạo lý với đồng bào nhân dân trong quá khứ bằng cách “đổ vạ” cho quân lực VNCH và Mỹ như lập luận của nữ đạo diễn “theo đơn đặt hàng Lê Phong Lan” trong 12 tập của bộ phim Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 hiện nay:

“…ở Huế mùa xuân năm 1968 bom đạn, pháo Mỹ từ Hạm đội 7 ngoài khơi Thái Bình Dương bắn vào, 80% thành Huế đổ nát và bị san phẳng như một bãi chiến trường, nhưng tuyệt nhiên, không có một vụ thảm sát nào do quân đội phía ta (CSVN) gây ra như một tiểu thuyết tâm lý chiến của phía Việt Nam cộng hòa đã dựng lên.” (lời Lê Phong Lan)

Người dân Huế như nghiến răng căm hờn hỏi y thị Lê Phong Lan rằng:



Có loại bom, đạn pháo Mỹ nào đủ tàn bạo và dã man để đi lựa từng cái sọ người mà đập cho vỡ trước khi phát nổ và còn lấp đất lại?

Loại bom nào đủ “thông minh” để trói tay từng chùm nạn nhân trước khi nổ, nhưng lại làm cho nạn nhân chết mà không banh xác?

Loại “đạn pháo” nào lùa hàng trăm thầy cô giáo ra bờ suối cột tay chân đập đầu dìm họ xuống đó?

Và có Quân Đội VNCH nào lại không cần bắn mà cứ đập đầu hàng trăm chiến hữu sĩ quan trên cổ còn đeo thẻ bài để chôn sống họ cùng với các công chức chính quyền và nhân dân bà con anh em của mình?

Và không có gì là khó khăn để đồng bào nhân dân không nhận diện ra hành vi này! một hành vi mà ông bà ta hay nói là: “Ngậm máu phun người, nhưng dơ bẩn miệng mình”.

Sau biến cố đau thương ấy đồng bào thân nhân nạn nhân Mậu Thân Huế, chung lòng lập đài, xây bia, tưởng niệm tập thể cho những người thân bị tàn sát oan uổng thì 1975 bị cán bộ lãnh đạo CSVN tại Huế sai người đập phá tan nát, cấm không cho tôn tạo lại?



Đây là Đài tưởng niệm, Bia khắc tên những nạn nhân bị thảm sát trong Mậu Thân – Huế (dù không ghi ai là thủ phạm) vẫn bị CS đập phá chỉ còn lại chân đế, cũng như các Bia tưởng Niệm khác trên tất cả những nghĩa trang chôn tập thể nạn nhân Mâu Thân 1968 ở Huế.

Nếu còn sĩ diện (liêm sĩ) của một “đạo diễn, vô tư trung thực” Lê Phong Lan hãy trả lời những câu hỏi nói trên và dưới đây cho đồng bào nhân dân Huế tại chính trang blog Danlambao này, chứ không phải câu nói đạo đức giả “buồn nôn”: “Tôi làm phim với sự thôi thúc của lương tâm, phải nói ra sự thật”(!?)

Vậy thì “nữ đạo diễn theo đóm ăn tàng” Lê Phong Lan có thể nào giải thích cho rõ ràng của “sự thật”: “nhà nước, đảng” và chính “y thị Phong Lan” đạo diễn bộ phim một mực cho rằng quân đội VNCH và Mỹ gây ra hơn 6000 cái chết đau thương Mậu Thân 68 cho đồng bào Huế, rồi “đổ vạ” cho CSVN? chứ: “tuyệt nhiên, không có một vụ thảm sát nào do quân đội phía ta (CSVN) gây ra như một tiểu thuyết tâm lý chiến của phía Việt Nam cộng hòa đã dựng lên.” (lời Lê Phong Lan)

Nếu “không gây ra thảm sát” thì tại sao CSVN lại cứ ra sức đập phá xóa bỏ dấu vết bia tưởng niệm (mà họ rêu rao là tội ác của Mỹ Ngụy) này như thế? suốt hơn 40 năm qua,vì sao vậy? Trong khi Bia tưởng niệm nạn nhân gọi là tội ác của Mỹ tại Mỹ Lai chỉ có 170 nạn nhân do nhầm lẫn không thể phân biệt được giữa du kích Việt Cộng và dân thường của quân đội Mỹ thì họ lại tôn tạo giữ gìn cẩn thận?

Với câu hỏi này chúng ta nhìn thẳng vào gương mặt của “y thị Lê Phong Lan” nó như hằn lên một “màu máu” trong đôi mắt của một “ác quỷ không còn nhân tính” giữa trần gian!.


Bia tưởng niệm nạn nhân vụ thảm sát tại Mỹ Lai (Ảnh: Reuters)

Giống như vậy, một trường hợp bia tưởng niệm bị tháo bỏ đau lòng khác do CSVN không thể không nhắc đến, nó cũng “bẩn thỉu và vô đạo” như lời của Đức Dalai Lama nhận xét: “Cộng sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh là loài vi trùng độc hại, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời.”

Dù hàng năm bà con Việt kiều từ nước ngoài (những người may mắn sống sót sau những chuyến vượt biển trốn chạy CSVN năm xưa) gửi về nước 5 -7 tỷ/USD năm, một nguồn ngoại tệ quan trọng cho một CS/XHCN còn nhược tiểu đói nghèo, nhưng vẫn không làm cho lòng “nhân ái” của các “chóp bu” CSVN lay động, thay vì bởi “tình dân tộc” góp tay tôn tạo thêm lên cho chu đáo một đài tưởng niệm thuyền nhân bỏ mình trên biển ở trại tị nạn Pulau Galang, Indonesia, khánh thành với sự chứng kiến của ông Sofian De Jalil, Tổng giám đốc Nhà truyền thông của Bộ Ngoại giao Indonesia, và đại diện cao cấp của chính phủ tiểu bang Batam, dù bia tưởng niệm chỉ ghi những dòng chữ đơn giản tưởng nhớ những đồng bào Việt Nam bỏ mạng trên đường vượt biển và tri ân những ai giúp đỡ thuyền nhân, nhưng “nhà nước, đảng” CSVN vẫn gửi công văn ngoại giao chính thức tạo áp lực cho nhà cầm quyền Indonesia tháo bỏ Bia tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam này.


Một nơi tưởng nhớ đồng bào nơi xứ người cũng không yên với CSVN

Chúng ta đọc được những gì trong “nụ cười” như “khinh miệt” của người dân Indonesia bên “tàng tích” bia tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam mà CSVN yêu cầu tháo bỏ? Đồng bào trong và ngoài nước chúng ta hãy dự đoán phía sau nụ cười của viên chức Indonesia này? Ông ấy đang nói gì với bia tưởng niệm?

Hoàng Thanh Trúc
danlambaovn.blogspot.com



.
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Tue Jan 28, 2014 11:33 am


Videos Các Cuộ̣c Tàn Sát Dân Tập Thể Của CSVN

VFC - Thảm sát tại Huế


.
Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Sun Feb 02, 2014 1:33 am


Bởi còn đây nỗi đau Tết Mậu Thân!



Ts. Đặng Huy Văn (Danlambao) - Thật bất ngờ vì mấy ngày Tết Giáp Ngọ trên cả nước trời rất đẹp. Ngày nào cũng có nắng nhẹ, có ngày như hôm nay tại Hà Nội, trời nắng từ sáng đến chiều. Thời nay, Tết không còn là dịp để ăn nữa mà ở nhiều vùng, Tết là để đi chơi bà con bạn bè, đi thắp hương trên mộ những người đã khuất. Vì vậy hôm nay tại Huế, sau 46 năm Tết Mậu Thân 68, có lẽ nhiều bà má đã khóc các con mình, chồng mình bên những ngôi mộ tập thể!

Nghĩ đến đây, tôi đã không cầm được nước mắt khi vừa xem xong bộ phim “Tết Mậu Thân 68” của đạo diễn Lê Phong Lan trên mạng. Trời ơi! Có lẽ trên thế giới không còn có nơi nào lại xem giết người là một “thắng lợi to lớn” như trong bộ phim của đạo diễn Lê Phong Lan đó! Đặc biệt, ở những đoạn thanh minh che dấu tội ác lại quá lộ liễu và vụng về!

Nhân tròn 46 năm Biến Cố Tết Mậu Thân, tôi có một bài khai bút như là một nén tâm nhang để thắp viếng oan hồn của bảy ngàn nạn nhân Huế đã bị chết một cách tức tưởi trong Tết Mậu Thân trước cuộc tấn công man rợ vào ngày Tết của VC!


Bởi còn đây nỗi đau Tết Mậu Thân!

(Kính viếng những oan hồn Tết Mậu Thân tại Huế)

Sáng hôm nay ngày mùng một đầu xuân
Nắng trải vàng dải đất hình chữ S
Trời đẹp thế mà lòng buồn da diết
Bởi còn đây nỗi đau Tết Mậu Thân!

Kìa Bãi Dâu nơi chôn sống xác dân
Của VC vào đêm mùng hai Tết
Cả xác mẹ ôm con còn chưa chết
Đều bị vùi trong những hố đào chung!

Là thành tích để phong tặng “anh hùng”
Đã lập công giết bảy ngàn dân Huế
Được chôn vội trong những mồ tập thể
Vài chục ngày vừa qua Tết Mậu Thân!

Có nhà thơ kiêm luôn cả sát nhân
Kiêm chỉ điểm giết thầy bên Gia Hội
Thơ ông viết từ trái tim nóng hổi
Vẫn còn tươi màu máu của người thân!

Có nhà văn xem giết người là lý tưởng
Giết thầy cô bầu bạn thuở sinh viên
Giết, giết nữa lấy thành tích khen thưởng
Lấy xác người xây hoạn lộ đi lên!

Vào cái đêm tàn sát tại Đá Mài
Bốn trăm người bị trói vào dây thép
VC chối họ hoàn toàn không biết
Nói rằng đây là do Mỹ ném bom!

Những ca từ của nhạc Trịnh Công Sơn
Đã đi vào trong trái tim nhân loại
Tội diệt chủng mang danh “người vĩ đại”
Ngàn năm sau còn truyền mãi sử xanh!

Ôi buồn sao tội ác đã rành rành!
Các nhân chứng nay vẫn còn sống đó
Mà chúng đổi trắng thay đen lịch sử
Còn làm phim dối trá để lưu danh!

Người dân kêu ma khắp nẻo đô thành
Dưới nền nhà vẫn còn mồ tập thể
Đêm mơ ngủ thấy hồn ma lên kể
Thiếu áo quần, không tiền, đói quanh năm!

Thôi đủ rồi! “Thắng lợi Tết Mậu Thân”
Là “chiến thắng” dìm dân trong biển máu
Những hồn oan đang kêu gào con cháu
Mau đứng lên để giữ lấy non sông!

Khỏi giặc Tàu đang xâm lấn Biển Đông
Và chiếm giữ Hoàng Sa bất hợp pháp
Chúng nuôi béo Việt gian bằng tiền bạc
Để âm mưu xâm lược cả núi sông!

Thôi đủ rồi! Lừa dân gần thế kỷ
Nay hãy trao chính quyền lại cho dân
Lãnh đạo dân đâu phải là cai trị
Mà thương yêu, chia sẻ với nhân quần!

Thôi đủ rồi! Lũ buôn dân bán nước
Dù trong ray, có gần nửa triệu quân
Cũng không thể tàn sát dân như trước
Bởi nhân dân nay đã biết kết đoàn!

Nếu các người biết yêu dân thì sống
Còn giết dân, thì địa ngục đang chờ
Giết một triệu dân hãy còn hy vọng
Bởi chín mươi triệu còn đó thời cơ!

Để tiêu diệt lũ tham quyền cố vị
Áp bức dân và tham nhũng khắp nơi
Sẽ đến ngày dân vùng lên trừng trị
Trần Ích Tắc thoát sao được lưới trời?

Mùng 1 Tết Giáp Ngọ

Ts. Đặng Huy Văn
danlambaovn.blogspot.com





Đây là 'gương mặt' Lê Phong Lan -
đồng bào thân nhân, nạn nhân của tội ác cộng sản VN -
Trong và ngoài nước rất cần thiết phải ghi nhớ.
.
Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Sun Feb 02, 2014 11:55 am


Lê Phong Lan và đồng bọn có còn là con người nữa không?




Nguyễn Thu Trâm, 8406 (Danlambao) - Dối trá, bịp bợm vốn là thói thường của cộng sản bởi cộng sản nghĩa là tội ác mà tội chỉ có thể được che đậy với một lời nói dối, và lời nói dối chỉ có thể được duy trì nhờ tội ác. Và phàm kẻ nào từng đem tội ra làm phương thức để đạt đến cứu cánh thì chắc chắn sẽ buộc phải lấy dối trá làm nguyên tắc. Chính vì vậy mà thế gian chẳng ai còn xa lạ gì sự dối trá của cộng sản. Dẫu vậy người Việt Nam nói chung và người dân Huế nói riêng vẫn không thể không phẫn nộ trước sự dối trá quá trắng trợn và ngang ngược của đạo diễn Lê Phong Lan và tập đoàn cộng sản Việt Nam qua bộ phim “Giải mã Mậu Thân”.

Bộ phim này hiện đang trình chiếu trên hệ thống truyền hình nhà nước nhằm bóp méo hoàn toàn một sự thật lịch sử về tội ác của cộng sản họ đã ra tay sát hại hơn 7.000 đồng bào Huế một cách vô cùng man rợ bằng cách đập đầu và chôn sống trong biến cố Tết Mậu Thân 1968, khi cộng sản đồng loạt tấn công các đô thị miền Nam và chiếm đóng thành phố Huế trong 26 ngày đêm, mà phía cộng sản Bắc Việt gọi là “Cuộc Tổng Công Kích và Tổng Nổi Dậy Của Đồng Bào Miền Nam”.

Chỉ với tên gọi cái biến cố thôi cũng đã thể hiện quá rõ bản chất bịp bợm ăn ngang nói ngược của cộng sản bởi thực tế là có cuộc tổng công kích của cộng quân bắc Việt khi Hồ Chí Minh và tập đoàn cộng sản Bắc Việt đã bội ước về lệnh hưu chiến 48 giờ để cho đồng bào hai miền được vui xuân đón tết, nhưng tuyệt nhiên không hề có “cuộc tổng nổi dậy” của nhân dân miền Nam.

Ngoài một số ít trí thức xuẩn động ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản ra, còn lại toàn thể người dân miền Nam thì kinh tởm cộng sản như thế giới loài người từng kinh tởm bệnh dịch hạch, bởi người dân Nam đã từng chứng kiến hơn 1.000.000 đồng bào Bắc Kỳ đã phải bỏ lại ruộng vườn, nhà cửa di cư vào Nam vào năm 1954 để lánh nạn cộng sản, cho nên không thể có chuyện đồng bào miền Nam tổng nổi dậy. Đó cũng chính là lý do mà cộng sản Bắc Việt đã trả thù nhân dân bằng cách nã đạn pháo một cách hết sức bừa bãi vào cán khu dân cư, gây thương vong cho hơn 14.000 đồng bào miền Nam, trong đó hơn 7.000 đồng bào Huế đã bị thảm sát một cách dã man mà phần lớn là chôn sống.

Ấy vậy mà đạo diễn Lê Phong Lan lại dám ăn ngang nói ngược rằng: “Có một động lực vô hình nào đó thôi thúc tôi đi tìm hiểu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trong quá trình đi tìm tài liệu, đi tìm những nhân vật là chứng nhân lịch sử của cả hai chiến tuyến, tôi đã nhìn thấy những tấm ảnh tư liệu ghi lại hình ảnh chiến sỹ giải phóng của ta hy sinh như thế nào, đổ xương đổ máu ra sao… Tôi không tin những người lính ấy lại có thể tạo ra những cuộc thảm sát.”

“Lịch sử đã trải qua 45 năm, thời gian đã có đủ độ lùi để chúng ta nhìn nhận lại về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Thời thế đã đổi thay. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nói chuyện với nhau thật thẳng thắn về tất cả những câu chuyện xảy ra từ 45 năm trước. Trong 10 năm ròng, tôi đã đi, đã tìm kiếm, đã gặp gỡ, phỏng vấn, để xây dựng nên 12 tập phim tài liệu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Tôi gặp gỡ cả những người lính ở hai chiến tuyến, tôi gặp gỡ hỏi chuyện cả những người chỉ huy ở cả hai chiến tuyến. Ở cấp chỉ huy, ở cấp lính, mỗi người đều có cái nhìn khác nhau về cuộc chiến. Suốt 10 năm tôi đi và đi, phỏng vấn và phỏng vấn… Và tôi nghĩ, 12 tập phim tài liệu xây cất trong 10 năm ròng của tôi sẽ giúp khán giả giải mã được sự thật còn gây tranh cãi của chiến dịch Mậu Thân năm 1968.”

“Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Để khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam.” (Sic).


Thật là ngang ngược đến mức không thể nào ngang ngược hơn được nữa! Những nhân chứng sống của vụ thảm sát vẫn còn đó. Những kẻ tội đồ, trực tiếp tắm máu đồng bào Huế là Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh... vẫn còn đó sao lại dám ca ngợi “Chiến Thắng Mậu Thân” và đổ vấy cái chết oan nghiệt của hơn 7.000 đồng bào Huế cho bom đạn cho trọng pháo của Mỹ từ Hạm Đội 7 bắn lên?

Lê Phong Lan đã phỏng vẫn những ai, sao không phỏng vấn Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh về việc hành quyết sinh viên Trần Mậu Tý và cả gia đình các sinh viên Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Xuân Lộc, Nguyễn Thanh Hải và Lê Tuấn Văn cùng ông nội của họ là ông Nguyễn Tín đã ngoài 70 tuổi?

Lê Phong Lan đã đi phỏng vấn những đâu, Sao không về phỏng vấn những cư dân ở cửa Đông Ba, ở Khu Gia Hội, ở Bãi Dâu, Cồn Hến, Vỹ Dạ, Xuân Ổ, Xuân Đợi, Hòa Đa, Phú Thứ, Đông Di, Tây Hồ, sao không phỏng vấn bà con ở An Cựu, ở Phường Vĩnh Lợi, ở xứ Phủ Cam nay là phường Phước Vĩnh để nghe về những vụ hành quyết tập thể những nạn nhân tại Dòng Chúa Cứu Thế hay ở Nhà Thờ Phủ Cam, để nghe vè những hố chôn tập thể mà có những hố dài được tìm thấy cả ngàn bộ hài cốt mà phần lớn nạn nhân đều bị đánh vỡ sọ hay những bộ hài cốt vẫn còn bị trói dính chum với nhau bằng dây điện thoại nhưng tuyệt nhiên không hề có một chiếc nón tài bèo, nón cối, dép râu hay bất cứ một quân trang nào của cộng quân Bắc Việt tại những hố chôn tập thể này.

Chắc chắn rằng những oan hồn của Mậu Thân Huế vẫn chưa thể nào được yên nghỉ, được tiêu diêu khi mà phía nhà cầm quyền cộng sản Bắc Việt vẫn chưa có một lời tạ tội, huống chi lại có một bộ phim thay đen đổi trắng hoàn toàn về sự thật lịch sử này.

Xuống tay sát hại hơn 7.000 đồng bào vô tội trong những ngày vui Xuân đón Tết là một tội ác trời không dung, đất không tha. Việc dàn dựng một bộ phim để bóp méo sự thật, để đổi trắng thay đen, để phủ nhận hoàn toàn tội ác của những kẻ thủ ác lại là một sự man rợ đáng kinh tởm nhất trong thế giới loài người. Việc làm đó của Lê Phong Lan cùng những lời nói ngang ngược của y thị khiến chúng tôi phải đặt câu hỏi rằng liệu Lê Phong Lan và đồng bọn có còn là con người nữa không? Và chúng tôi đang chờ lời phúc đáp của Lê Phong Lan cùng đồng bọn cho câu hỏi này.

Ngày 18 tháng 02 năm 2013
Nguyễn Thu Trâm, 8406
danlambaovn.blogspot.com


.
Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Wed Feb 05, 2014 2:11 am


Lê Phong Lan: láo xác chết, lừa người sống



Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) - Nếu năm 1968 nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sáng tác bài “Hát trên những xác người” sau khi ông chứng kiến cảnh người dân xứ Huế của ông bị thảm sát trong Tết Mậu Thân, thì nay 45 năm sau, đạo diễn gái Lê Phong Lan không biết từ đâu chui ra làm phim láo trên những xác người dân Huế.

“Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Để khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam”.

Trên đây là lời Lê Phong Lan. Chẳng hay nhà đạo diễn gái - nói theo kiểu “chiến sĩ gái”, vì nhà đạo diễn lề đảng này cũng là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng mà bọn làm báo lề dân gọi là “chiến sĩ bưng bô”- “đã gặp nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến” là ai?.

Trong khi đó người trốn lính VNCH Trịnh Công Sơn, người Huế, về Huế đón Tết Mậu Thân, thấy tận mắt dân Huế chết thảm thương do “Cách Mạng” và chạy trốn “Giải Phóng” như thế này:


Hát trên những xác người *

Chiều đi lên Bãi Dâu
Hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Trên con đường
Người ta bồng bế nhau chạy trốn
Chiều đi lên Bãi Dâu
Hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Những hố hầm
Đã chôn vùi thân xác anh em...




Vẫn lời chiến sĩ bưng bô gái, “Một nhân chứng đạo diễn Phong Lan đã gặp và phỏng vấn là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho biết, quân đội Bắc Việt Nam vô cùng nghiêm túc, kỷ luật, không hề có chuyện thảm sát.”

Trong khi đó tay đao phủ “có công lớn” trong vụ thảm sát Mậu Thân là Hoàng Phủ Ngọc Phan lại phát biểu trước đây rằng “những người bị thủ tiêu chôn sống là thành phần ác ôn có nợ máu nhân dân” (Theo Thiện Giao - Kỷ vật Mậu Thân).


Cũng theo chiến sĩ gái bưng bô: “Đó là những thường dân bị chết do những trận bom pháo Mỹ san bằng TP Huế. Rồi sau đó khi Mỹ và VNCH phản kích trả thù lại thời kỳ hậu Mậu Thân cũng giết chóc rất nhiều.”

Nhờ Lê Phong Lan tiết lộ “sự thật lịch sử nói lên sự vĩ đại của cha ông” trên đây mới thấy bọn Mỹ Ngụy cực kỳ ác ôn vì trước khi “phản kích trả thù”, chúng còn đào hầm, trói tay, đẩy nạn nhân xuống hố, đập đầu, chôn sống mấy ngàn người.

Láo trên những xác người nổi bật nhất là “Cách Mạng” vào giải phóng Huế trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968, nhưng đến năm 1972 rồi 1975, chỉ thấy dân Huế chạy vào chứ không chịu chạy ra.

Thì vẫn như 1968 Trịnh Công Sơn...

Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Trên con đường
Người ta bồng bế nhau chạy trốn
Chiều đi lên Bãi Dâu
Hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Những hố hầm
Đã chôn vùi thân xác anh em...





Này Lê Phong Lan, khóc, hát, hay thậm chí bước qua trên những xác người thì sao cũng được, nhưng láo trên những xác người, đặc biệt là trên dưới 6000 dân Huế vô tội bị quân “Giải Phóng” thảm sát hồi Tết Mậu Thân cách đây 45 năm chắc chắn là chuyện trời không dung đất không tha.

Chẳng những láo trên những xác người, Lê Phong Lan còn lừa những người còn sống sờ sờ: “Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, giờ đây Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ... và cả miền Nam đã thay da đổi thịt rất nhiều. Những chiến trường xưa của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nay đã là những đô thị sầm uất hiện đại... góp phần to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.”

Năm Mậu Thân, Huế cũng như toàn cõi miền Nam đang theo nền kinh tế Tư Bản, thì “Cách mạng” vào “Giải phóng” để đi theo nền Kinh tế tập trung, nay nhờ “đổi mới tư duy”, tức chạy theo Kinh tế thị trường mới khấm khá được. Nếu miền Nam không bị “giải phóng” thì cả nước Việt Nam ngày nay đâu có “thần tượng” mấy anh chàng cô nương mắt hí Nam Hàn mà trước 1975 công dân nước VNCH xem thường.

Lê Phong Lan, đúng là kẻ láo người chết, lừa người sống.

Nguyễn Bá Chổi
danlambaovn.blogspot.com





Hát Trên Những Xác Người
.
Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Fri Feb 07, 2014 11:04 pm


Mậu thân Huế - Câu chuyện của Nguyễn Thị Thái Hòa



Nguyễn Thị Thái Hòa -Tôi xin tường thuật lại chi tiết những cái chết đau thương của ông nội tôi, ba người anh, cùng một người bạn của họ, như là một nhân chứng còn sống sót sau tết Mậu Thân, như là tiếng kêu oan cho gia đình tôi, cho linh hồn của những người thân trong gia đình, gia tộc tôi cách riêng, và cho những người dân Huế nói chung. Thay cho tất cả những ai bị sát hại trong tết Mậu Thân 1968 bây giờ còn kẹt lại VN không có cơ hội để nói lên những oan khiên mà họ đã gánh chịu bởi Đảng CSVN, và bè lũ khát máu giết hại dân lành vô tội như anh em Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh...

Năm 1968, tôi đang là sinh viên năm thứ nhất trường Cán Sự Điều Dưỡng Huế. Ngoài những giờ học lý thuyết chung tại trường, bọn sinh viên chúng tôi được chia thành nhiều toán. Mỗi toán từ 8 đến 10 người, luân phiên thực tập ở các trại bệnh trong BV Trung Ương Huế.

Có những trại bệnh sinh viên thực tập theo giờ hành chánh. Có một vài nơi, như phòng cấp cứu, phòng bệnh nội thương... thì giờ thực tập được chia làm ba ca, sáng, chiều và đêm... Ca sáng từ 7giờ đến 2 giờ chiều, ca chiều từ 2 giờ đến 9 giờ tối, và ca đêm từ 9 giờ tối cho đến 7giờ sáng hôm sau.

Mỗi một nơi chúng tôi được thực tập từ 2 đến 3 tuần lễ. Hai tuần trước tết, toán của tôi được chia phiên thực tập ở phòng cấp cứu. Ngày mồng hai, tôi và hai anh bạn vào ca đêm. Tết năm nay ba tôi bận đi hành quân xa không về kịp ăn tết.

Thường thì mấy anh em tôi năm nào cũng vậy, đều phải về nhà ông bà nội từ trước ngày 30 tết, ở luôn cho hết ngày mồng một, rồi sau đó mới được tự do đi chơi, thăm viếng bạn bè…

Sau bữa cơm tối mồng một tết, khoảng 8 giờ 30, anh hai lấy xe Honda của anh đưa tôi tới BV, và nói sáng mai anh sẽ đến đón.

Tối mồng một tết phòng cấp cứu hơi vắng, chúng tôi, mấy anh sinh viên y khoa và hai người nhân viên phòng cấp cứu nói đùa với nhau rằng hôm nay tụi mình… hên! Chúng tôi mang một ít mứt bánh ra vừa ăn vừa nói chuyện, vừa thay nhau thăm chừng những bệnh nhân mới nhập viện từ đêm qua chưa được chuyển trại.

Nhưng qua nửa đêm thì bắt đầu nghe có tiếng súng. Tiếng súng lớn, nhỏ, từ xa rồi mỗi lúc một gần. Chúng tôi thốt giựt mình, băn khoăn nhìn nhau, hoang mang lo sợ. Bầu không khí bắt đầu căng thẳng, mấy anh sinh viên y khoa thì nghe ngóng bàn tán, thắc mắc không biết tiếng súng từ đâu vọng lại…

Lúc đầu chúng tôi tưởng là thành phố Huế và BV bị pháo kích, nhưng không ngờ, chừng 3-4 giờ sáng, bất thần không biết tứ ngõ ngách nào có chừng mười mấy người tràn vào phòng cấp cứu, họ xưng chúng tôi là quân giải phóng. Đa số mặc áo quần đen, súng mang vai, bị rết ngang hông. Họ bắt tất cả chúng tôi băng bó cho một số người bị thương, đồng thời hò hét chia nhau lục soát, vơ vét, và lấy đi một số thuốc men, bông băng, dụng cụ y khoa v.v… Họ lấy sạch không chừa lại một món nào, kể cả những bánh mứt chúng tôi để trong phòng trực.

Trong lúc bọn họ đang tranh nhau lục lọi, thì ầm một cái, một tiếng nổ rớt rất gần, đâu đó trong BV, rồi tiếng thứ hai, thứ ba... rớt ngay con đường phía trước cổng chính BV, kề phòng cấp cứu… Điện trong phòng cấp cứu vụt tắt. Thừa lúc bọn chúng nhốn nháo kéo nhau đi, chúng tôi mạnh ai nấy tìm đường chạy thoát thân.

Ra khỏi phòng cấp cứu tôi cắm đầu chạy, tôi không định hướng được là mình đang chạy đi đâu. Súng nổ tứ bề, cứ nằm xuống trốn đạn, rồi đứng lên chạy, cứ thế mà chạy. Chạy bất kể tả hữu. Cho tới khi tôi đâm sầm vào một người, định thần ngó lại mới biết đó là cha Trung, tuyên úy của BV. Cha từ phía một trại bệnh nào đó tình cờ chạy về phía tôi. Nét mặt cha cũng thất thần, đầy vẻ lo âu, nhận ra tôi, cha hỏi “con ở mô chạy lại đây?” Tôi nói “từ phòng cấp cứu”. Vừa nói vừa theo cha, chạy về phía nhà nguyện của BV và cũng là chỗ ở thường ngày của cha. Đến đó thì đã có hai bà Sơ dòng áo trắng và vài người nữa không biết từ trại bệnh nào cũng chạy lại đây. Tôi nhận ra trong số đó có Sơ giám thị suốt trong sáu năm tôi nội trú tại trường trung học Jeane d’ Arc.

Cha Trung quen biết ông nội và ba mạ tôi, thỉnh thoảng ngài có ghé đến thăm ông nội nhà ở đường Hàm Nghi, nên ngài biết tôi. Không biết chạy đi đâu nữa tôi ở lại đó với cha hai bà Sơ, và mấy người nữa.

Bốn năm ngày liền chúng tôi chui rúc trong nhà nguyện, không dám chạy ra ngoài và cũng không liên lạc được với một ai từ những trại bệnh khác. Súng nổ tư bề nên ai ở thì cứ đâu ở đó.

Sau khi đám người xưng là “quân giải phóng” ở Cấp Cứu kéo nhau đi chúng tôi không gặp, không thấy bọn VC nào nữa, hay họ đang lẫn trốn trong những trại bệnh khác thì tôi không biết.

Tới ngày thứ năm, ruột gan như lửa đốt, không biết ông bà nội, mạ và mấy anh em tôi trên đường Hàm Nghi ra sao. Tôi nói với cha Trung, cha ơi con muốn muốn về nhà. Cha bảo, không được, súng đạn tư bề, nguy hiểm lắm, cứ ở đây với cha và mấy Sơ đi đã, khi mô có lính mình xuất hiện thì mới đi được. Tôi hỏi, khi mô thì lính mình mới tới, cha nói không sớm thì muộn họ cũng sẽ phản công thôi, cha nói như để trấn an tôi và mọi người thôi chứ trên mặt cha thì vẫn đầy vẻ lo âu…

Không biết nghe tin từ đâu mà một người trong nhóm nói người ta chạy vô ở trong nhà thờ Phủ Cam đông lắm. Tôi nghe càng nóng lòng muốn chạy về nhà. Muốn đi phần vì sốt ruột muốn gặp mạ với mấy anh em tôi, phần vì đói. Đã mấy ngày không có gì ăn ngoài mấy ổ bánh mì cứng còng của Caritas còn sót lại ở nhà nguyện chúng tôi chia nhau gặm… cầm hơi!

Tôi quyết định chạy về tìm gia đình.Tôi liều. Trên người tôi chỉ có bộ đồ đồng phục dính đầy máu, tôi chạy ra phía sau cổng BV, tìm đường về nhà. Vừa chạy vừa lo, ngó tới, ngó lui không một bóng người, nhưng tiếng súng thì nghe rất gần. Không biết mấy lần vấp, tôi té xuống. Té rồi lồm cồm bò dậy, vài bước lại vấp té. Tôi lạnh run, hai hàm răng đánh bò cạp, nhìn cảnh tượng xác người nằm đây đó, máu me đóng vũng, Không biết họ bị thương đâu đó ở bên ngoài chạy vào gục chết ở đây. Quá sợ hãi, tôi định chạy trở lại nhà nguyện thì bất thần thấy anh Văn hớt ha hớt hải từ cổng sau BV chạy vô.

Văn là bạn của anh Hải, anh kế tôi, hai người cùng học ở Văn Khoa. Nhà Văn ở miệt trên, gần dòng Thiên An. Mặt mày Văn xanh xao, hai mắt thất thần, trủm lơ, gặp tôi Văn lắp bắp, nói không ra hơi. Ti ơi thằng Hải bị bắn chết rồi. Hắn bị bắn ở bên Văn Khoa. Toàn thân run rẫy, tôi khuỵu xuống.Văn đỡ tôi đứng lên. Lại có tiếng nổ rất gần. Văn hoảng hốt kéo tôi chạy lại ngồi xuống bên trong bức tường sát cánh cổng sau BV. Hai đứa tôi run rẫy ngồi sát vào nhau. Lát sau, tiếng được tiếng mất, anh lắp bắp kể. Văn nói mấy đêm rồi Văn với mấy người anh của tôi trốn đạn trong nhà thờ Chánh Tòa (nhà thờ Phủ Cam) nhưng rồi đêm qua có mấy sinh viên của mình dắt một toán VC vô nhà thờ đọc một lô danh sách, họ lùa người đi đông lắm, không biết họ đưa đi đâu. Văn kể một hơi mấy tên “sinh viên của mình” nhưng bây giờ tôi không còn nhớ nổi.

Khi đám người bị lùa đi, thân nhân của họ khóc la thảm thiết.

Sau đó Văn, anh Hải cùng mấy người bạn rủ nhau trốn ra khỏi nhà thờ và mạnh ai nấy tìm đường trốn.

Ra khỏi nhà thờ, không biết trốn chui, trốn nhủi, chạy quanh, chạy co, làm sao mà Văn với anh Hải lại tới được trường y khoa. Anh Lộc, anh Kính đi lạc hướng nào không biết. Hai anh hè nhau chui vô phòng thí nghiêm trốn thì thấy có vài người đã bị bắn chết từ bao giờ mà những vũng máu đọng dưới họ còn tươi lắm. Văn, anh Hải hoảng hồn chạy trở ra. Chưa ra khỏi cửa thì gặp Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn thị Đoan Trinh cùng mấy sinh viên khác nữa Văn không biết tên, chỉ biết họ đồng bọn với HPNP. Văn biết mặt Phan là vì Văn có người anh học y khoa cùng lớp với Phan.

Gặp Văn, Phan nạt nộ, tụi mi chạy trốn đi mô? Khôn hồn thì chạy qua bên Văn Khoa tập trung ở đó để đi tải thương! Hải và Văn biết không thể nào thoát khỏi sự kiểm soát của bọn HPNP nên vội vàng chạy bộ xuống Văn Khoa, hy vọng bị bắt đi tải thương chứ không bị giết.

Bọn Trinh, Phan chạy xe Honda nên họ tới trước, và cũng đã bắn trước một số người khác rồi. Hải, Văn không biết nên lúc thúc chạy đến. Anh Hải chạy vô trước, nghĩ là sẽ gặp được một số bạn bè khác, cùng đi tải thương với nhau như lời HPNP nói.

Vừa vô tới giảng đường thì anh Hải bị HPNP bắn gục ngay. Văn mắc đi cầu, tìm chỗ phóng uế nên chạy vô sau anh Hải. Mới tới cửa thì nghe tiến súng, tiếng hét của anh Hải, Văn quay đầu bỏ chạy. Chưa kịp rượt theo Văn thì bỗng ầm, một tiếng nổ đâu đó, trong sân trường đại học, khiến HPNP và đồng bọn hoảng hốt leo lên xe Honda tháo chạy. Văn thoát chết, chạy như điên, như khùng, chạy vô BV, và tình cờ gặp tôi trong đó.

Nghe anh Hải bị bắn trong sân đại học Văn khoa, tôi bỏ ý định về nhà, tôi muốn chạy qua Văn Khoa tìm anh tôi, hy vọng anh chưa chết, tôi nghĩ sẽ tìm cách đưa anh vô Bv cấp cứu. Tôi khóc nói với Văn, em tới chỗ anh Hải. Văn can, Ti đừng đi, tụi nó có thể trở lại. Tôi mặc kệ Văn ngồi đó, vùa khóc vừa chạy. Một lát nghe tiếng chân Văn sau lưng, miệng thì nói, Ti ơi, vô BV trốn đi, Hải nó chết thiệt rồi, mà chân vẫn bước theo tôi. Tôi như người mất hồn, vừa đi, vừa chạy, vừa khóc. Trời ơi, thật là khủng khiếp, chỉ một đoạn đường từ cổng sau BV tới sân trường VK mà không biết bao nhiêu là xác người, áo quần vung vãi khắp nơi.

Chúng tôi chạy mới tới trường trung học Jeane d’Arc, thì gặp bọn HPNP lấp ló trước cổng trường với một nhóm bộ đội Bắc Việt. Người nào mặt mày đằng đằng sát khí. Gặp lại Phan, Văn run rẩy, Phan chưa kịp nói thì Văn đã lắp bắp phân trần, em qua BV kiếm con Ti chớ em không có trốn mô, và xin xỏ, anh cho em với con Ti đem xác thằng Hải về nhà rồi em trở lại đi… tải thương!

Phan không trả lời Văn, hắn nhìn tôi ác độc, mi về nhà kêu thằng Lộc, thằng Kính xuống đây mà đem thằng Hải về. Tôi líu lưỡi, em không biết hai anh em ở mô mà kêu. Trước đây tôi không hề biết mặt HPNP mà cũng chưa hề nghe nói tới tên người này vì trước năm 68 tôi còn là học sinh trung học. Có thể các người anh của tôi thì biết, vì họ là những lớp sinh viên đàn anh, đã từng qua những khó khăn đối đầu với đám sinh viên theo phe “tranh dấu, lên đường xuống đường” của những năm trước.

HPNP to nhỏ gì với những người đồng bọn rồi quay lại ra lệnh cho tôi với anh Văn đem xác anh Hải về nhà. Chưa biết nghĩ cách nào để đem xác anh Hải về thìVăn thấy một chiếc xích lô của ai bị bể bánh xe sau, nằm chơ vơ cạnh vách tường trường Jeane d’Arc.

Văn gọi tôi theo anh. Chúng tôi đẩy chiếc xích lô sứt cọng gẫy càng về phía Văn khoa. Có chừng 10 xác người trong đó. Tôi không dám nhìn lâu. Chúng tôi hè hụi khiêng Hải bỏ lên xích lô. Xác anh đã cứng. Đùm ruột lòi ra ngoài trông rất khủng khiếp. Hai mắt vẫn còn mở trừng. Miệng vẫn còn há ra.

HPNP vừa đánh anh Văn bằng báng súng vừa chửi. Chuyến ni mi trốn nữa, mi gặp lại tau là mi chết! Văn run rẫy lắp bắp, dạ lạy anh, em không dám nữa mô. Rồi chúng tôi hè hụi đẩy chiếc xích lô mang xác người anh xấu số của tôi nhắm hướng cầu Kho Rèn đi lên. Nhà tôi ở trên đường Hàm Nghi. Qua khỏi cầu một chút. Suốt quảng đường từ đó về đến nhà, có rất nhiều đám lính bộ đội Bắc Việt đứng tụm năm, tụm ba. Chúng tôi không bị bắt giữ lại vì có HPNP chạy đi trước ra dấu cho họ để cho chúng tôi đi.

Khúc đường ngang trường Thiên Hựu cũng có rất nhiều xác người nằm rải rác. Nhiều vũng máu cũng như xác người bị ruồi bu đen. Đã mấy ngày không có gì trong bụng, tôi vừa đi vừa ói khan. Văn cũng vậy. Chúng tôi rán sức đẩy chiếc xích lô, trong lúc HPNP cùng hai người đàn bà nữa cứ chạy xe đảo tới, đảo lui hối chúng tôi mau lên. Tôi nghe chúng nó hỏi nhau, bên Lý Thường Kiệt, Nguyễn Huệ còn ai nữa không? Có mấy chiếc xe Honda chở gạo, bánh tét, đã tịch thu của nhà ai đó chạy thẳng vô trường Thiên Hựu.

Lúc đó bỗng dưng có mấy chiếc trực thăng xuất hiện trên trời nhã đạn xuống,Văn nói như reo bên tai tôi, Ti ơi, máy bay của mình. Mừng chưa kịp no, thì trời ơi, từ những cửa sổ trên lầu của trường Thiên Hựu những họng súng lớn nhỏ nhả đạn, nhắm hai chiếc trực thăng mà bắn, lúc đó chúng tôi mới biết là VC đang ở trong trường Thiên Hựu quá nhiều. Hoảng hồn tôi, Văn chạy lại nồi sụp xuống bên tường rào của trường tránh đạn. Phan và đồng bọn biến đâu mất. Tụi nó như ma, khi ẩn, khi hiện. Nhưng chỉ được một lát, hai chiếc trực thang bay đâu mất. Chúng tôi thất vọng, khi thấy Phan với đồng bọn xuất hiện hối chúng tôi đi.

Lên tới cầu Kho Rèn, thấy một đám người, đàn ông, đàn bà, con nít bị bắt trói chung với nhau ngồi trên đầu cầu. Họ ngồi gục đầu xuống hai đầu gối. Tiếng con nít khóc, tiếng mấy bà mẹ dỗ con, nín đi con ơi. Đi ngang qua họ mà chúng tôi không dám nhìn. Có tiếng người trong đám gọi tôi Ti ơi, quay lại tôi nhận ra chị giúp việc của mẹ tôi và vợ của một chú cùng đơn vị với ba tôi ở tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Tôi đoán họ là những người từ trên Phủ Cam, chung quanh cầu Kho Rèn, Hàm Nghi và những con đường chung quanh đó chạy xuống tìm đường trốn lên Phú Lương thì bị bắt giữ.

Tôi định dừng lại hỏi thăm thì HPNP trờ xe tới nạt nộ “đi, mau ngó chi!”

Trên đoạn đường từ Văn Khoa ngang qua trường Thiên Hựu, cầu Kho Rèn, lên tới nhà nội chúng tôi thấy nhiều người bị trói dính chùm vào với nhau đi trước mấy người mặc đồ đen đi dép râu, mang súng.

Súng nổ tư bề mà sao không thấy bóng dáng lính mình ở đâu cả. Chỉ thấy lính bộ dội Bắc Việt khắp nơi.

Trên đường Hàm Nghi, Nguyễn thị Đoan Trinh chạy ngang nhà nào mà y thị gật đầu là y như rằng trong nhà đó có người bị bắt đem ra, người thì bị bắn tại trước nhà, người thì bị dắt đi, mấy ông bà cụ trong nhà chạy theo nằm lăn ra đường khóc la thảm thiết… Bộ đội ngoài Bắc thì cứ chửi thề luôn miệng, đéo mẹ câm mồm, ông bắn bỏ mẹ bây giờ…

Hai chúng tôi cứ nghiến răng, cúi mặt, lầm lủi đẩy chiếc xích lô mang xác Hải đi tới.

Khi gần tới nhà tôi ở số 24 đường Hàm Nghi thì HPNP và con hồ ly Trinh rà xe lại gần bảo tôi, không được đẩy vô nhà mi. Đẩy lên trên tê!

Đẩy lên trên tê, tôi hiểu đây là đẩy lên nhà ông bà nội tôi. Cũng trên đường Hàm Nghi nhưng nhà nội tôi ở trên dốc, hướng đi lên Phủ Cam. Nhà ba mạ tôi thì ở gần cầu Kho Rèn.

Tôi cũng không hề biết mặt Nguyễn thị Đoan Trinh trước đó. Trong hoàn cảnh này tôi mới biết mặt y thị là nhờ anh Văn nói. Tội nghiệp anh Văn, cứ tưởng khi HPNP biểu cùng tôi đẩy xác anh Hải về là được tha chết. Anh Văn và tôi cũng không ngờ rằng đoạn đường từ Văn Khoa lên tới nhà nội trên đường Hàm Nghi là đoạn đường sau cùng chúng tôi đi chung với nhau trong cuộc đời này.

Lên tới nhà nội, chúng tôi đẩy Hải vô bên trong hàng rào chè tàu, bỏ Hải ngoài sân tôi với Văn chạy vào nhà, nhà vắng ngắt, đi từ trước ra sau bếp gọi ông ơi, mệ ơi. Nghe tiếng ông nội yếu ớt từ trong buồng vọng ra, ai đó, đứa mô đó? Con đây, ông nội. Nghe tiếng tôi, ông tôi hấp tấp chạy ra, bước chân xiêu xiêu, ông tôi chạy lại ôm tôi, ông khóc, ông nói, lạy Chúa lạy Mẹ cháu tui con sống. Tôi không khóc được, tôi run rẫy trong tay ông nội. Ông tưởng tôi sợ nên an ủi, con còn sống mà về được đây là phúc lắm rồi, ở đây với ông nội, không can chi mô! Nghe nói mạ mi đưa ba thằng em mi chạy lên Phú Lương rồi, không biết đi tới mô rồi, có thoát được không? Lạy Chúa, lạy Mẹ phù hộ.

Tôi không nói vì quá mệt, kéo tay ông nội ra ngoài, thấy Văn ngồi bệt dưới nền nhà, ông hỏi, đứa mô giống thằng Văn rứa bây? Văn òa khóc, tôi khóc theo, kéo ông nội ra sân. Nhìn thấy xác Hải ông nội tôi khuỵu xuống, miệng thì kêu trời ơi, trời ơi, răng mà ra nông nổi ni…

Chúng tôi đem Hải vào nhà, đặt anh trên divan. Ông nội lấy mền đắp lên xác Hải.

Hai người anh tôi đang trốn trên trần nhà đòi xuống nhìn mặt Hải. Ông nội không cho. Anh Lộc giở nắp trần nhà sát góc tường, thò đầu xuống vừa khóc vừa nói, Ti, đẩy cái ghế đẩu qua cho anh. Tôi nghe lời ra đằng sau bếp lấy cái ghế đẩu mang lên để ngay góc phòng cho anh Lộc nhẩy xuống. Ông nội ngó lên, quơ quơ hai tay, giọng ông lạc đi, đừng xuống, ông nội lạy con, đừng xuống, ở trên đó đi mà… Anh Kính đang ở trên đó, cũng đang khóc. Lộc chưa kịp nhẩy xuống thì nghe tiếng nói, tiếng chân người ngoài sân. Anh vội vàng đóng miếng ván lại thì bọn HPNP cũng vừa vào đến.

Thấy Phan bước vô, mặt Văn biến sắc, anh lắp bắp nói với ông nội, anh Phan cho tụi con đem xác về đó ông ơi. Ông nội đứng im không nói. Hai mắt cú vọ của nó ngó ông nội hỏi, thằng Lộc, thằng Kính ở mô? Ông nội nói tui không biết. Phan gằn giọng, ông thiệt không biết tụi hắn ở mô? Tụi hắn năm mô cũng về ăn tết ở đây mà ông không biết răng được? Ông nội nói, ba ngày tư ngày tết, ăn xong thì tụi hắn đi chơi, đi thăm bà con họ hàng chứ chẳng lẻ ở nhà hoài răng? Chừ thì tui biêt tụi hắn ở nhà mô mà chỉ!

Mắt Phan ngó láo liên khắp nơi, chợt thấy cái ghế đẩu ngay góc phòng, nó cười khan một tiếng.

Tôi đứng núp sau lưng ông nội, HPNP hung hăng bước tới, xô ông nội qua một bên, nó nắm lấy tóc tôi kéo tôi ra về phía hắn. Ngó lên trần nhà la lớn, Lộc, Kính, Hiệp, tụi mày không xuống tau bắn con Ti!

Nó vừa nói, vừa xoáy mái tóc dài của tôi trong tay, nó đẩy tới, đẩy lui. Tôi đau điếng, tôi sợ, tôi run lẩy bẩy, nước mắt ứa ra nhưng không dám la thành tiếng. Ông nội tôi chấp tay lạy nó như tế sao, tui lạy anh tha cháu tui, con gái con lứa, hắn biết chi mô.

Thằng Phan càng la lớn, tau biết tụi mi trên đó, có xuống không thì nói, tau bắn con Ti. Phan xô tôi té xuống, lấy chân đạp lên lưng. Chĩa mũi súng lên đầu tôi hô một, hai, ba… Lập tức anh Lộc mở nắp trần nhà thò đầu xuống la to, đừng, đừng bắn em tau, tau xuống, để tau xuống…

Ông nội tôi chạy lại giữ cái ghế cho anh bước xuống, hai chân ông run, ông té sấp, đang lúc Anh Lộc tìm cách tuột xuống, thò hai chân xuống trước, hai tay còn vịn trần nhà, khi đôi chân vừa chạm chiếc ghế đẩu thì HPNP đã nỗ súng, đạn trúng ngay chính giữa cổ, máu phọt ra, Lộc lăn xuống sàn nhà toàn thân anh dẫy dụa mấy cái rồi nằm im.

Mặc ông nội tôi la hét thất thanh, Phan chĩa súng bắn lên trần nhà, nghe tiếng anh Kính lăn tới đâu, nó bắn tới đó, bắn nát trần nhà, hết đạn nó dành lấy cây súng của một thằng khác bắn tiếp, cho tới khi anh Kính tôi rớt xuống theo mấy miếng ván. Anh Văn ngồi bệt xuống đất, nhắm mắt, bịt tai, run lẩy bẩy, ngồi kề bên cạnh anh người tôi tê cóng, đái ỉa ra cả quần, ông nội tôi nhào tới ôm anh Kính, hai mắt trợn trừng, anh đang thều thào những lời sau cùng, ông khóc, ông chửi rủa thằng Phan, nó say máu, bắn luôn ông nội tôi. Ông tôi đổ xuống bên cạnh anh Kính.

Bắn ông tôi xong chúng kéo nhau đi bắt anh Văn theo. Còn lại một mình, tôi bò lại ôm lấy ông nội, tôi khóc không ra tiếng, tôi thở không ra hơi, hai bàn tay tôi ướt đẫm máu, máu của ông nội tôi, tôi bò sang anh Lộc, bò sang anh Kính, tôi lạy, tôi gọi, tôi gào, không ai nghe tôi hết, anh tôi không trả lời tôi, hai con mắt, bốn con mắt, sáu con mắt đều mắt mở trừng, ông nội tôi nằm im, máu trong ngực ông vẫn tuôn ra từng vòi. Tôi gục đầu xuống xác ông lịm đi. Không biết bao lâu thì tôi tỉnh lại, nhưng không ngồi dậy nổi. Cứ nằm ôm lấy xác ông nội. Tóc tôi bết đầy máu, toàn thân tôi, máu, phân và nước tiểu đẫm ướt. Tôi không còn sức để ngồi lên. Không biết tôi nằm bên cạnh xác ông tôi với ba người anh như vậy là bao lâu, khi tỉnh dậy thì thấy hai vợ chồng bác Hậu, vài người lối xóm nữa của ông nội đang ở trong nhà.

Họ dọn dẹp, khiêng bộ ngựa trong nhà bếp ra trước phòng khách, đặt xác ông nội cùng với ba người anh tôi nằm chung với nhau. Hai bác gái đem tôi vào phòng tắm, phụ nhau tắm rửa cho tôi như một đứa con nít, bác Hậu lấy áo quần của bác mặc cho tôi. Tâm trí tôi hoàn toàn tê liệt. Tôi không còn khóc được, không còn mở miệng nói được câu nào. Ngày cũng như đêm ngồi rủ rượi bên cạnh xác của ông tôi, các anh tôi. Tôi không còn sợ chết. Nhưng sao tụi nó không giết luôn tôi? Trời hỡi, trời ơi!

Nhìn thấy tôi tiều tụy, mỗi ngày bác Hậu gái khuấy cho tôi vài muỗng bột bích chi ép tôi uống. Thiệt ra nhà nội cũng chẳng còn chi. Gạo cơm, bánh mứt thì bị tụi nó khiêng đi hết rồi. Bác Hậu còn dấu được ít gạo, ít than nấu cháo uống cầm hơi với nhau.

Ngày hôm sau thằng Phan trở lại. Bác Hậu xin phép được chôn ông tôi và mấy người anh sau vườn nhà nhưng nó không cho, nói cứ để đó.

Đã hơn bảy ngày, xác đã bắt đầu sình lên và nặng mùi. Mà Phan không trở lại. Một buổi tối bộ đội Bắc Việt đến lục lọi kiếm gạo. Bác Hậu xin họ đào huyệt sau nhà để chôn ông nội và ba người anh tôi. Họ bảo ừ thối quá rồi thì chôn đi, nhưng chỉ được đào một lỗ huyệt.

Vợ chồng bác Hậu khóc lóc năn nĩ, mấy anh ơi, người chết rồi biết chi, anh cho tụi tui đào 4 huyệt. Họ không cho. Họ phụ bác Hậu đào huyệt. Bảo đem cả bốn người bỏ xuống chung một lỗ. Lấp lẹ đi, thối quá. Bác Hậu với mấy người trong nhà không ai muốn làm, ngó nhau mà khóc…

Chiều tối hôm đó Văn trở lại với Phan và mấy thằng bộ đội. Chúng nó bắt Văn phụ với mấy thằng bộ đội khiêng từng người ra bỏ xuống huyệt. Hai vợ chồng bác Hậu theo ra vườn. Tôi kiệt sức nằm vùi một chỗ nhưng tai tôi vẫn nghe rõ những lời đối thoại trong nhà. Tôi không đủ can đảm theo ra vườn chứng kiến cảnh vùi lấp những người thân yêu của tôi. Nằm trong buồng ông bà nội nhưng tôi nghe rõ từng tiếng cuốc xẻng đang đào đất. Tâm rí tôi quay cuồng, ruột gan tôi đòi đoạn. Trời ở đâu, đất ở đâu? Tôi gọi ông tôi, gọi anh Lộc, anh Kính, anh Hải, không ai nghe tôi hết…

Khi bốn cái xác người được bỏ xuống, miệng lỗ chưa được lấp, thì tôi nghe tiếng súng nổ, tiếng kêu gào của vợ chồng bác Hậu, nhưng không nghe tiếng của Văn. Tiếng bác Hậu kêu Văn ơi, Văn ơi giọng bác đòi đoạn, thì tôi biết chuyện gì đã xẩy ra cho Văn. Toàn thân tôi lẩy bẩy, tôi cảm thấy khó thở, một lần nữa cứt và nước đái trong người tôi túa ra.

Tôi nghe tiếng mấy thằng bộ đội hò hét bảo lấp đất lại. Bác Hậu và những người hàng xóm của nội tôi đành phải làm theo. Khi tụi bộ đội VC bỏ đi, bác Hậu chạy vào buồng vò đầu,bức tai, giọng tức tưởi, thằng Văn nằm chung với ba thằng anh mi rồi con ơi! Trời ơi, là trời ơi, bác Hậu đấm ngực, không biết thằng Văn đã chết chưa mà hắn bắt tui lấp. Văn ơi là Văn ơi, con tha tội cho bác, trời ơi người mô mà ác như rứa… Tôi lặng người, nghe bác Hậu khóc anh Văn.

Sau lần đó không đứa nào trong bọn chúng trở lại, kể cả tụi bộ đội. Chắc nhà ông tôi chẳng còn người để mà giết, chẳng còn của cải chi để mà cướp nữa.

Hơn hai mươi ngày, tôi nằm liệt lào trong nhà nội. Bên ngoài súng đạn vẫn tư bề.

Hai vợ chồng bác Hậu không nỡ bỏ tôi lại một mình, trong lúc bác nghe ngóng và biết đa số dân Phủ Cam đã tìm đường chạy thoát được xuống Phú Lương. Bác năn nĩ tôi rán ăn uống thêm một chút để có sức mà chạy, không lẽ con nằm đây chờ chết? Con không muốn tìm mạ con răng?

Hôm sau nữa tôi theo gia đình bác Hậu tìm đường chạy lên Phú Lương vì nghe nói lính Mỹ, lính mình đã thấy xuất hiện chung quanh đây rồi. Đi xuống ngã cầu Kho Rèn thì cầu đã bị sập, bác theo đoàn người đi hướng khác, tôi đi theo như người mất hồn, họ đi đâu tôi theo đó, tôi không còn nhớ là mình đã đi qua được những nơi đâu. Có điều tôi lấy làm lạ, trên đường chạy giặc, mỗi khi đạn pháo bắn khắp nơi mà người ta cứ gồng gánh nhau mà đi, không ai chịu dừng lại kiếm chỗ tránh đạn, người ta nói với nhau, khi mô mà có mọc chê hay đạn pháo chi đó thì bọnVC chui vô nhà dân để trốn đạn, chúng nó không ra đường để chặn bắt dân lại, vì vậy người ta cứ chạy bất kể, dưới lằn mưa đạn người ta càng chạy đi đông hơn. Ôi những người dân tội nghiệp của xứ Huế thà chết dưới bom đạn còn hơn để bị lọt vô tay quân sát nhân ác độc.

Cuối cùng thì tôi cũng về đến được Phú Lương gặp mạ và ba đứa em trai của tôi. Quá đau khổ, Mạ tôi bị phát điên khi hay tin cái chết của ba người anh và ông nội. Ít lâu sau ba tôi trở về sau một đợt hành quân nào đó của tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Thấy mạ tội như vậy, biết không thể trở lại đường Hàm Nghi ông mướn nhà ở tạm tại Phú Lương.

Sau khi Huế được giải thoát, ba tôi nhờ bà con lối xóm cải táng Văn, ba người anh, và ông nội tôi, tang lễ được cử hành tại nhà thờ Phủ Cam do cha Nguyễn Phùng Tuệ chủ tế. Gia đình anh Văn đồng ý cho anh Văn đươc nằm lại trong miếng vườn nhà ông nội tôi cùng với ba người anh của tôi.

Ba tôi được giải ngũ khoảng giữa năm 69. Mạ tôi vẫn trong cơn điên loạn không thuyên giảm. Ba tôi quyết định bỏ Huế đem hết gia đình vào Long Khánh sinh sống. Nhà nội giao lại nhờ hai bác Hậu coi chừng. Nhà ở 24 Hàm Nghi (gần đường rầy xe lửa) thì bán cho ai đó tôi không rõ.



Thưa Quý Vị,

Đó là những cái chết oan khiên của những người ruột thịt thân yêu mà tôi phải chứng kiến tận mắt với muôn ngàn đau dớn. Trong bà con thân tộc nội ngoại hai bên của tôi có rất nhiều người bị bắt đi ở nhà thờ Phủ Cam, một số bị bắt ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế. Số người bị chôn sống, mất tích lên tới 70 người. Tất cả đều là học sinh, sinh viên, thường dân, nông dân, buôn bán ở chợ An Cựu.

Sau Tết Mậu Thân, những người bà con còn lại của tôi quá đau khổ, sợ hãi, họ đã âm thầm bỏ Huế, tản mác khắp nơi, thay tên đổi họ mà sống…

Sau biến cố tháng 4 đen 75, gia đình tôi lại là những nạn nhân của CSVN ác độc, vô luân. Ba tôi và những đứa em trai còn lại cũng đã chết sau mười mấy năm bị đày đọa trong lao tù CS.

Đã 40 năm qua, những vết thương đó vẫn còn tươi rói trong tôi. Nỗi đau mỗi ngày một đầy. Đó là những cái chết oan khiên trong muôn ngàn cái oan khiên của người dân Huế.

Tôi là người con duy nhất trong gia đình còn sống sót sau tết Mậu Thân cũng như sau những ngày mất nước. Nay viết lại những cái chết thương tâm của những người thân yêu trong Gia đình tôi với tư cách là một nhân chứng và nạn nhân, để tố cáo Tội Ác của Việt Gian Cộng Sản, có như thế, oan hồn của ông nội và anh em tôi mới có thể siêu thoát.

Tôi sẵn sàng ra làm nhân chứng trước tòa án quốc tế, cũng như xuất hiện trước các phương tiện truyền thông khi cần thiết


Xin trình ông tên tuổi ông nội tôi, và của ba người anh bị sát hại:

Tên ông nội: Nguyễn Tín, 70 tuổi.
Ba người anh: Nguyễn Xuân Kính, sinh viên y khoa, sinh năm 1942.
Nguyễn Xuân Lộc, sinh viên luật, sinh năm 1946
Nguyễn Thanh Hải, sinh viên Văn Khoa, sinh năm 1949
Lê Tuấn Văn, sinh viên Văn Khoa, bạn của anh Hải tôi.


Nguyễn Thị Thái Hòa

____________________________

Bài viết này do tác giả viết vào mục phản hồi trong bài Những con tắc kè ảo vọng của anh Hoàng Thanh Trúc. Dân Làm Báo xin phép tác giả được đăng lại thành một bài riêng.


 
Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Mon Jan 19, 2015 7:10 pm




Vụ thảm sát Tết Mậu Thân, 1968
 
Huy Phương

Vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, Phan Văn Tuấn là một thiếu niên ở tuổi 16, đang học lớp Đệ Tam, trường tư thục Nguyễn Du, Gia Hội Huế, nhà ở khu Chợ Xép, sát cửa Đông Ba. Rạng sáng ngày mồng hai Tết, anh cũng như toàn thể dân chúng thành phố Huế nghe nhiều tiếng nổ chát chúa liên hồi, tiếng đạn pháo kích vào thành phố và tiếng súng giao tranh càng ngày càng nhiều.

Lúc đầu, họ chợt choàng tỉnh dậy và tưởng như nghe tiếng pháo mừng Xuân của ai đó chợt nổ giữa khuya, nhưng sau đó vài phút, trưởng thành trong chiến tranh, người dân đều biết rằng thành phố đang bị tấn công và những cuộc giao tranh đang xẩy ra, bây giờ đang ở ngay trong thành phố.

Tất cả đều xuống hầm trú ẩn hoặc ẩn nấp sát dưới sàn nhà, được che chở bởi những chiếc giường hay những chiếc "phản ngựa" bằng gỗ, và lo lắng theo dõi động tĩnh, từ đó cho đến sáng với niềm lo âu, giữa tiếng súng lớn nhỏ khi dồn dập khi thưa thớt trải dài trong đêm tối, giữa một đêm Huế Mùa Xuân khá lạnh. VC phản bội lệnh hưu chiến để đem quân tấn công nhiều thành phố và thị trấn miền Nam.

Vào tờ mờ sáng, từng đoàn dân chúng từ phía ngoài hớt hải chạy vào thành nội theo ngõ cửa Đông Ba và loan tin VC đã về thành phố, ít lâu sau những toán VC khác đã hiện diện trong vùng của Phan Văn Tuấn. VC có hai thành phần, theo trang bị, cán bộ với dép râu, nón cối, quần dài màu olive, áo sơ mi trắng, đeo xắc cột và mang K.54, đứng tuổi. Binh lính VC với đầu trần hay nón tai bèo, dép râu, hầu hết mặc quần ngắn, áo đủ loại, mang ba lô, trang bị AK 47, lựu đạn, bộc phá.

Ngay trưa mồng hai Tết, Phan Văn Tuấn chạy theo đám trẻ, chứng kiến cảnh xử bắn năm người dân tại ngay cửa Đông Ba, nạn nhân bị trói tay, đứng dựa lưng vào vách thành. Trong số thường dân này, có người đang mặc áo quần ngủ, có người còn đi chân đất, Phan Văn Tuấn chỉ nhận ra một người quen, đó là một viên chức cảnh sát trong thành phố đã về hưu. Chỉ huy toán võ trang và ban lệnh hành quyết năm người dân này là ông thầy dạy Việt Văn trước đây của Phan Văn Tuấn tại trường Nguyễn Du: Tôn Thất Dương Tiềm. Năm người bị bắn phơi xác giữa trời nắng, đầy kiến, ruồi và mãi mấy hôm sau gia đình mới lén lút mang về chôn cất.



Ba ngày sau, khi phi cơ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Đồng Minh bắt đầu can thiệp bắn vào các mục tiêu của CS, thì gia đình Phan Văn Tuấn quyết định chạy về phía đồn Mang Cá tức là Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Họ tránh đi theo các con đường lớn và đi băng qua những khu vườn nhà dân, nhưng đến giữa đường thì bị VC chặn lại, Phan Văn Tuấn bị tách khỏi gia đình và bị bắt dẫn đi cùng với một toán thiếu niên khác khoảng 10 người trở lại vùng chiếm đóng của VC tại chùa Diệu Đế, Gia Hội.

Toán thiếu niên này, dưới sự canh gác cẩn mật của những tên lính VC, tuổi cũng còn rất nhỏ, được dùng trong việc khiêng vác những nhu yếu phẩm như gạo, nước mắm, mì gói từ các hiệu buôn trong thành phố về bộ chỉ huy. Năm ngày sau, toán dân công thiếu niên của Phan Văn Tuấn, vào mỗi đêm, được lệnh mang cuốc đi đào những giao thông hào trong vùng Gia Hội. Toán thiếu niên này đứng theo chiều dọc, đào những chiếc hố bề ngang khoảng hai thước, bề sâu một thước.

Thoạt đầu Phan Văn Tuấn nghĩ đây chỉ là những công sự cho bộ đội VC tránh bom đạn trong thời gian VNCH bắt đầu phản công chiếm lại Huế, nhưng đến đêm giữa ánh đèn chập chờn, VC bắt đầu dẫn ở đâu về từng toán người, cũng như năm người bị giết trong những ngày đầu tại cửa Đông Ba, đều mặc thường phục, có người mang dép, có người đi chân đất. Tất cả đều bị trói tay quặt ra sau lưng và được cột nối liền với nhau như những xâu người bằng những sợi dây điện thoại, dây kẽm hay lạt tre.




Phan Văn Tuấn bắt đầu kinh hoàng khi thấy bọn lính VC, giọng miền Bắc, ra lệnh cho hàng người đứng sát và xoay lưng về phía giao thông hào. Một tên cán bộ bắt đầu đọc bản án tử hình, đại khái cho rằng những người này là "phản bội tổ quốc, phản bội nhân dân". Sau một cái khoát tay, một tràng AK chát chúa nổ, nhưng VC chỉ nhắm bắn vào người đứng ở đầu hàng, trước sức mạnh của loạt đạn bắn gần, ông già bị hất ngửa ra, chới với trong mấy giây và lăn xuống hố. Sức nặng kéo theo người bên cạnh, người tiếp theo cũng đổ nhào, và cứ như thế kéo theo những người khác, tất cả đều ngã xuống giao thông hào.

Giữa tiếng la khóc, van xin, não lòng vang cả một góc trời, bọn VC bắt đầu thúc giục đám dân công của Phan Văn Tuấn: "Nấp, nấp nhanh lên, nhanh lên! Địt mẹ, nhanh lên!"

Tiếng báng súng AK giọng vào vai, vào đầu, khi toán đào hố ngần ngừ, chậm tay. Phan Văn Tuấn sững sờ, một lưỡi lê đâm sát vào sườn, máu chảy đầm vạt áo. "Nấp đi mày!!". Tiếng khóc la, những cái đầu muốn ngẩng cao hơn, những cái miệng đầy đất cát, nhưng đôi mắt trợn trừng, tức giận, tuyệt vọng, u uất. Những cú nện vào đầu nạn nhân đang vùng vẫy dưới hố, những tiếng chửi rủa tục tằn, thêm một tràng AK tiếp theo. "Nấp nhanh lên!!".

Tiếng ồn ào, kêu gào than khóc. Rồi tất cả trở lại im lặng như địa ngục. Hố sâu đã trở thành mặt bằng, nhưng đất còn cựa quậy, có nơi bỗng sụp xuống. Những người dân Huế dưới hầm mộ kia chưa chết hẳn, trừ ông già xếp hàng đầu, may mắn hưởng tràng AK đầu tiên.



Những lần sau, có lúc sợ ánh sáng từ họng súng khai hỏa sẽ bị phi cơ trinh sát phát giác, không cần dùng đến một viên đạn, tên lính VC chỉ cần trở cán cuốc lại, đánh thẳng vào đầu nạn nhân đứng đầu hàng, người này ngã ngửa ra đằng sau, cứ tuần tự như thế, bị chôn sống từng hố từng hố một. Dưới áp lực của lưỡi lê, báng súng và sự canh gác cẩn mật, Phan Văn Tuấn và bạn bè đã trải qua những giây phút kinh hoàng, đào hố, lấp đất chôn đồng bào ruột thịt của mình. Đó là nỗi đau đớn mà Phan Văn Tuấn phải chịu đựng, mục kích trong hơn chục lần trên mười hố chôn sống người như thế trong vùng đất quê hương hiền lành của Tuấn. Cuối cùng, Phan Văn Tuấn và hai người bạn đồng lứa khác đã trốn thoát được, chạy về phía phòng tuyến quốc gia, ôm chặt lấy người lính đầu tiên mà khóc nức nở.

Sau khi quân đội VNCH chiếm lại Huế, Phan Văn Tuấn và hai người bạn đã đi tìm lại những giao thông hào chôn người cho chính quyền địa phương cải táng. Tất cả những người khác trong toán "dân công" cùng với Phan Văn Tuấn đều đã bị VC thủ tiêu trước khi rút ra khỏi thành phố.

Phan Văn Tuấn lớn lên, vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và trở thành một sĩ quan Pháo Binh, năm 1975, bị tập trung trong trại CS và cuối cùng vượt biển sang Úc. Nhưng từ những ngày xẩy ra vụ thảm sát Mậu Thân, anh không bao giờ muốn trở lại Huế, quê hương của mình, không muốn nhìn lại cảnh Huế, nghe tiếng Huế, thưởng thức một dòng nhạc Huế với nỗi ám ảnh và mặc cảm khôn nguôi. Có ai lại ghê sợ chính với quê hương mình.



Phan Văn Tuấn giấu cả với vợ con của anh những gì anh đã xẩy ra tại vùng Gia Hội trong những ngày Tết Mậu Thân tại Huế. Anh muốn quên đi nhưng cơn ác mộng vẫn vò xé tâm hồn anh qua nhiều năm tháng, anh nhớ lại những cái đầu cọ quậy, những cái miệng đầy đất cát, những đôi mắt trợn trừng, van xin hay tuyệt vọng của đồng bào anh.

Năm ngoái, nhân dịp nhớ lại vụ thảm sát Mậu Thân tại Huế, sau gần 40 năm im lặng, Phan Văn Tuấn đã dành cho nhà văn Nam Dao trong chương trình phát thanh "Tiếng Dân Tôi" ở Adelaide, Úc Châu một cuộc phỏng vấn mà qua đó, không những Phan Văn Tuấn đã xúc động vì hồi tưởng, khóc nức nở, mà chính người phỏng vấn cũng nghẹn ngào khóc theo.

Nhắc lại vụ chôn người ở Huế, Phan Văn Tuấn như bị đưa vào một trạng thái mê sảng, điên cuồng, đau đớn như đang ở trong chính cơn ác mộng. Anh hứa rằng anh sẽ không bao giờ nhắc lại câu chuyện này một lần nữa với bất cứ ai, vì không chịu đựng nỗi đau đớn, dày vò đang hành hạ tâm hồn anh khi phải vận dụng trí não để hồi tưởng những câu chuyện cũ.

Không, anh Phan Văn Tuấn ơi! anh phải can đảm để sống và nhớ lại những gì anh đã trải qua, không phải riêng để cho những bà con xứ Huế, cho đồng bào mình, mà cả nhân loại cần có những nhân chứng như anh, để nói lên sự độc ác của con người, trong đó có sự độc ác từ bản chất, không thể tha thứ được của những con người CS, mà ngày nay chế độ này đang còn ngự trị, làm tình làm tội cả dân tộc của chúng ta. Những con người này không còn lương tri, sống trong dối trá, nên Huế ngày nay mới có những con đường tủi nhục mang tên Mậu Thân, mang tên 68, để chúng cười cợt như lũ quỷ đói trên những linh hồn oan khuất của hàng nghìn đồng bào Huế vô tội của chúng ta.

Xin đừng bao giờ quên vụ thảm sát Mậu Thân!!

Huy Phương


Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Sun Jan 25, 2015 1:05 am


Tưởng niệm 45 biến cố thảm sát Tết Mậu Thân Huế


Nhân Chứng Sống Kể Lại Cuộc Thảm Sát
Tết Mậu Thân 1968 Tại Huế
Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Sun Feb 01, 2015 3:07 pm


Đao phủ thủ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Dối Trá Về Vụ Thảm Sát Huế Mậu Thân 1968

 
Video dưới đây, khi Huế và miền Nam VN vừa mới "giải phóng"
  

Hình của Tường bây giờ! KẺ SÁT NHÂN THÀNH PHỐ HUẾ!!!



 

Thư gửi Nguyễn Đắc Xuân, người bạn học ngồi cùng bàn năm xưa từ Bằng Phong Đặng Văn Âu

Thành phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, ngày 20 tháng 12 năm 2010

Này Nguyễn Đắc Xuân,

Lấy tình bạn học ngồi cùng bàn, cùng lớp một thời với mày, tao viết thư này cho mày để trả lời cái email mới nhất của mày gửi cho tao hôm nay. Tao sẽ nhờ trang mạng toàn cầu đăng thư này lên để những thằng bạn học cũ ở trường Quốc Học năm xưa được dịp đọc (bạn ở trong nước lẫn bạn ở ngoài nước). Dưới đây là nguyên văn thư mày:

“Âu ơi,

Mi đã đọc được nhật ký bị thất lạc của tau hả Âu? Trời ơi vui quá. Mấy chục năm nay tau mong có người xác nhận tau có đánh rơi cuốn nhật ký đó. Như vậy chứng tỏ chuyện tau viết trong bài Hậu quả của cái chết của tôi là đúng rồi. Nếu có thể mi cho tau biết mi đọc trong trường hợp nào? Mi còn nhớ gì nữa không?
Còn chuyện kháng chiến VN, tau chỉ nói một câu, và chính câu đó mâu thuẫn giữa tau và tụi bây. Đất nước bị ngoại xâm, bị chia cắt, tau tham gia kháng chiến đánh đuổi ngoại bang, thống nhất đất nước. Như thế là tau thấy hoàn thành nhiệm vụ của người học sử và viết sử VN. Còn mọi chuyện khác ai muốn nói chi thì nói, nói đúng được ca ngợi, nói sai chịu trách nhiệm với lịch sử.
Sáng thứ tư nầy, tau sẽ gặp anh Đặng Văn Việt của mi ở Huế. Tau sẽ nói chuyện mi viết mail cho tau để anh Việt biết cho vui. Tau với anh Việt rất thân.
Chúc mi khỏe mạnh. Tau nghe chưởi cũng nhiều rồi, có chi đáng chưởi nữa mi cứ việc, tau xin nghe tiếp. Nhưng không một chút giận mi. Rất vui mỗi lần nhận được mail của mi.
Thằng Chiếu”.


Nguyễn Đắc Xuân ơi!

Tao sẽ nói lên những gì rất thật mà tao nghĩ về cuộc chiến. (Kèm theo đây là bài viết “Hết Thuốc Chữa” tao mới viết xong). Đã từng là bạn cùng học một lớp, mày biết tính tao không bao giờ chấp nhận sự bất công, sai trái. Ngay cả giáo sư Tôn Thất T. dạy môn Lý Hóa là người nổi tiếng nghiêm khắc, mà nói không phải, tao cũng lên tiếng phản đối. Khi ở trong quân đội, cấp trên sai trái, tao cũng có phản ứng. Người nào giao du với tao không cần phải đề phòng, cảnh giác, vì bạn bè xưa nay vẫn bảo tao là thằng “ruột để ngoài da”. Tao ghét ai chơi trò tiểu xảo, thủ đoạn, nên tao vẫn là cái thằng ưa thích “ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp, trong thú yên hà cuộc tỉnh say” vì tính tao ngông nghênh không bao giờ chịu quỵ lụy người quyền thế.

Khi còn học trong lớp, tao thấy mày là thằng hiền lành, thường bị những thằng khác tinh nghịch chọc ghẹo, ăn hiếp, nên tao luôn đứng ra bênh vực mày. Tao là thằng to khỏe nhất lớp lại có biết chút ít võ nghệ, nên không thằng nào dám dùng vũ lực với tao. Về sau nghe mày tâm sự hoàn cảnh gia đình mày, tao lại càng thương mày hơn. Vì lẽ đó tao mới rủ mày về nhà tao chơi để biết bà cụ tao cưng quý bạn bè của tao như thế nào. Năm ngoái, viết email cho tao, mày nhắc đến bà cụ tao một cách thân tình, nên ác cảm trong tao đối với một thằng theo Việt Cộng như mày cũng giảm đi phần nào. Tình cảm đó có thể mày chê là ủy mị kiểu tiểu tư sản? (Anh Đặng văn Việt cũng bị quy là thành phần tiểu tư sản nên dù lập nhiều chiến công trong kháng chiến chống Pháp, vẫn là Trung tá suốt đời, trong khi thuộc cấp của anh đều lên Tướng.)
Tới giờ phút này mà mày còn bảo mày đi theo Việt Cộng là để chống lại ngoại xâm? Mày cho rằng Mỹ là kẻ ngoại xâm thì đủ thấy trình độ nhận thức của mày quá kém cỏi. Nay mày khoe mày đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, rồi trở thành nhà sử học thì tao thấy tội nghiệp cho thế hệ mai sau của Việt Nam phải học sử do mày viết ra. Mày có biết các Tổng thống Hoa Kỳ trước Đệ nhị Thế chiến đã chống lại chủ trương thuộc địa của các nước thực dân? Mày có biết nếu không có Hoa Kỳ giúp cộng sản Nga chống lại liên minh “Đức – Ý – Nhật” thì nước Nga bị phe Trục đánh sụm rồi, chứ làm gì có thể sản xuất cách mạng đến các nước chậm tiến? Mày có biết Hoa Kỳ đánh bại quân Đức, quân Ý, xong rồi Hoa Kỳ có chiếm lấy một tấc đất nào của Âu Châu không? Hay là Hoa Kỳ giúp cho các nước Âu Châu phục hồi kinh tế qua kế hoạch Marshall? Mày có biết sau khi đánh bại quân Nhật, Hoa Kỳ có chiếm một tấc đất nào của Nhật làm thuộc địa không? Hay Hoa Kỳ giúp Nhật thành một nước giàu đứng hàng thứ hai trên thế giới, làm chiếc dù che chở cho Nhật chống lại tham vọng bành trướng của Trung Cộng? Nếu không có sự hiện diện của Hoa Kỳ đứng đầu khối NATO thì Nga Sô xơi tái Âu Châu rồi? Nếu không có sự hy sinh của những anh hùng Mỹ đẩy lui cuộc xâm lăng của Mao Trạch Đông thì toàn thể bán đảo Triều Tiên đã biến thành hỏa ngục dưới sự cai trị của cha con, cháu chắt Kim Nhật Thành rồi! Làm sao Hàn Quốc (Nam Triều tiên) tồn tại để viện trợ, đầu tư cho Việt Nam Cộng Sản như ngày nay?

Xuân ơi! Tao chỉ sơ lược kể ra cho mày một số sự kiện lịch sử để mày thấy, chứ đừng nghĩ vì tao ăn bơ sữa của Hoa Kỳ, thành công dân Hoa Kỳ mà biến thành một thứ bồi bút đi nịnh nhà giàu. Nếu không có “quân xâm lược Mỹ”, hỏi ai đã bỏ tiền ra nuôi dân Miền Nam sau khi thực dân Pháp cuốn gói? Ai đã giúp gần một triệu dân Miền Bắc chạy trốn họa cộng sản năm 1954? Ai đã bỏ tiền ra để xây trường Đại học để những sinh viên nghèo như mày có thể theo học không phải đóng học phí mà còn được cấp học bổng, để trở thành nhà nọ, nhà kia (nhà văn, nhà thơ, nhà sử học, nhà Huế học) như mày? Mày có bao giờ đọc những gì nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn – một người lớn lên ở Miền Bắc, đi học dưới mái trường xã hội chủ nghĩa ở Bắc – nhận định, so sánh nền văn học hai miền chưa? Đây là lời phát biểu của Vương Trí Nhàn với bà Thụy Khuê trên đài phát thanh RFI: “Văn học miền Nam đã đi trước cũng như đã để lại những thành quả mà bây giờ chúng tôi không dễ gì vượt qua. Nếu công nhận Văn học miền Nam thì Văn học miền Bắc coi như là thua, là kém, là không ra gì cả, thậm chí là hỏng, là vứt đi.” Một chế độ bị đế quốc xâm lược Mỹ bóc lột, kìm kẹp mà có một nền văn học khai phóng như Miền Nam được hay sao, hỡ Xuân? Nếu bảo đọc Vương Trí Nhàn rồi mà hôm nay mày còn dám mở miệng cho rằng mày đi theo Việt Cộng là làm nghĩa vụ của người học lịch sử, làm lịch sử thì rõ ràng mày đọc kinh cứu khổ ba trăm quyển cũng không ăn thua gì?
Nếu mày bảo Hoa Kỳ là quân xâm lược bóc lột xây dựng chế độ tay sai, độc tài thì làm sao Miền Nam có được một Trịnh Công Sơn để mày viết “Có Một Thời Như Thế”? Cụ Hoàng văn Chí xuất bản cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” vào năm 1959, mày có đọc không? Biết bao nhiêu nhân tài thượng thặng của đất nước như Văn Cao, Nguyễn Tuân, Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Quán, Trần Dần … bị Đảng Cộng Sản đầy đọa, vùi dập như thế nào, mày có biết không? Những cây đại thụ văn học từng lên rừng theo Kháng Chiến Chống Pháp còn bị Đảng coi không ra gì. Những thứ như Hoàng Phủ Ngọc Tường, như mày thì hy vọng gì được Đảng đãi ngộ, mà bày đặt vỗ ngực tự hào đi làm cách mạng? Trước năm 1975, có bao giờ nhân dân Miền Nam phải nhai bo bo như lừa, như ngựa không, mà mày hãnh diện về cuộc cách mạng thống nhất đất nước?

Bộ phim tài liệu 13 tập rút từ cuốn sách “ Viet Nam: The Ten Thousand day History”. (Published as a companion volume to “Vietnam: A Television History.” a 13–part documentary film series for the PBS network produce by WGBH Boston, in cooperation with Central Independent Television/ United Kingdom and Antenne –2/France, and in association with LRE Production) do giáo sư Nguyễn văn Lục (em trai giáo sư Nguyễn văn Trung, cựu Hiệu trưởng trường Quốc Học) trích dẫn những gì Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trả lời ký giả:

“Hỏi: Ông có thể mô tả biến cố nổi dậy ở Huế, đặc biệt liên quan đến vụ thảm sát. Ở đây, xin đề nghị ông trả lời cho biết những gì xảy ra bấy giờ ở Huế, có những vụ trả thù, đàn áp?

Hoàng Phủ Ngọc Tường: Ông muốn nói đến vụ thảm sát Mậu thân ở Huế? Đó là một chiến công vĩ đại của nhân dân Huế. Nhưng nhân dân Huế đã phải trả một giá đắt cho chiến thắng này. Đó là là một sự trả thù chưa từng thấy của Mỹ và Ngụy sau đó. Vì thế nhân dân Huế đã phải trả giá đắt nhất so với các thành phố khác của chúng tôi. Cũng chỉ vì ở đây người Mỹ đã chịu sự tổn thất nặng nề về sinh mạng, về vật chất và chính trị tại Huế. Sự trả đũa đã vô cùng khủng khiếp. Nhưng tôi nghĩ rằng tôi là một người đã từng sống qua các thời kỳ chiến đấu chống lại người Pháp và thời chiến tranh chống lại người Mỹ, tôi nghĩ rằng bọn chủ nghĩa thực dân mới thì khôn hơn bọn thuộc địa cũ. Bọn thuộc địa cũ nó chơi “franc jeu” hơn là thực dân mới. Nói cách khác, bọn chủ nghĩa thực dân mới thường bạo tàn hơn thực dân cũ. Và điều đó là chắc chắn đúng như vậy trong suốt cuộc tổng công kích tết Mậu Thân vừa qua. Bởi vì tội ác do Mỹ tạo ra được toàn thể thế giới bên ngoài quan tâm, chúng chuyển tất cả tội ác của chúng và đổ lỗi cho những người làm cách mạng chống lại nhân dân của họ. Tôi ám chỉ việc chúng đã dùng vụ thảm sát như một bửu bối đặc biệt để bôi nhọ cách mạng Việt Nam trong cuộc hòa đàm Paris.

Đây là điều tôi muốn nêu rõ vì tôi biết như là một chứng nhân. Tôi sẽ nói cho ông mọi sự một cách khách quan nhất.
Thứ nhất riêng những người bị giết, có nhiều người đã bị giết chắc chắn là do chúng tôi phải thi hành bản án tử hình. Bởi vì khi chúng tôi đến nhà họ, họ đã bắn đến cùng vào những chiến sĩ của chúng tôi làm bị thương khi chúng tôi kêu gọi họ đầu hàng. Vì thế những người này đã bị chúng tôi bắn chết tại chỗ. Trong đám những người này có tên phó tỉnh trưởng, lúc đó hắn đang sống ở Huế.
Trong một ít trường hợp, một số bị giết vì đã từng tra tấn các cư dân, gây cho toàn thể gia đình phải tù tội và đầy ra Côn Đảo. Chính nhân dân căm thù quá lâu, họ bị tra tấn, gia đình họ phải trả thù. Vì thế, khi cách mạng bùng lên và lấy lại được thế kẻ mạnh, nhân dân bùng lên đi lục soát tìm cho ra những tên bạo ngược này để trừ khử chúng như trừ khử những con rắn độc mà nếu như để chúng sống sót, chúng sẽ tiếp tục gây ra tội ác hơn nữa trong chiến tranh.
Mặc dầu chính sách của chúng tôi chỉ là nhằm cải tạo và không bao giờ giết bất cứ ai đã đầu hàng chúng tôi, song khi dân của thành phố đã nắm công lý trong tay của chính họ, thì các cấp lãnh đạo cách mạng của chúng tôi không còn có thể kiểm soát dân chúng trong suốt thời kỳ đang diễn ra. Nhưng tôi phải nói cho ông biết rằng mỗi một tên bị giết thì chúng đã giết ít nhất mười người khác trong các gia đình bị nạn.
Chúng giết mười người bây giờ giết một người bọn chúng, cái giá đó là rất nhẹ. Giết một người là công bằng. Nợ máu đó, căm thù và thi hành bản án như vậy là rất là nhẹ và công bằng.
Theo tôi nghĩ, bất cứ ai từng theo dõi hoàn cảnh chiến tranh, sự thể có thể chỉ là một sự trả thù nhỏ nhoi. Sự căm thù và sự thi hành bản án như vậy là nhẹ. Và theo tôi, mọi cuộc cách mạng đều giống nhau. Bởi vì đó là một cuộc chiến tranh mà sức mạnh quân sự và trang bị cực kỳ chênh lệch. Nhân dân chúng tôi không sở hữu được những thứ vũ khí như đế quốc Mỹ có. Song điều ấy cũng chẳng sao cả.
Còn đa số đã đầu hàng do chúng tôi giữ lại thì được đưa lên rừng ở trại cải tạo. Hầu hết đã được trở về. Vài người tôi biết chịu đựng không nổi vì khí hậu. Nhưng họ đã trở về với gia đình cả. Nhưng có một số bị giết. Thật không đáng kể, còn lại sau ngày giải phóng đã được trở về.
Phần lớn sự chết chóc đã xảy ra. Một khối lớn những xác chết đó là ai? Chính nhân dân bị bọn Mỹ làm chết không biết bao nhiêu trong các đợt phản kích này. Những người này bị giết và được chôn trong thành phố rồi sau đó được khai quật bởi Mỹ và quay phim tuyên truyền cho Mỹ.
Chẳng hạn, nó đã bỏ bom rơi vào một bệnh viện nhỏ, gần chợ Đông Ba. Nó thả bom làm 200 người vừa chết vừa bị thương. Tôi đã đi trên con đường hẻm vào ban đêm, và tôi tưởng rằng tôi đang dẫm trên đống bùn. Thế mà khi tôi bật cái đèn pile lên, máu khắp mọi nơi. Cả một khu vực bị bỏ bom bởi bom đạn Mỹ bắn phá. Và thế rồi, những ngày cuối cùng khi chúng tôi triệt thoái ra khỏi thành phố, kẻ thù của chúng tôi đã thâu lại và đem đi chôn. (HPNT tự xác nhận sự hiện diện của mình trong Tết Mậu Thân, nhưng trong cuộc phỏng vấn của bà Thụy Khuê năm 1997 thì y lại chối).
Lý do thứ hai, những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra thì có nhiều người đã tham gia cách mạng. Những người này theo lực lượng cách mạng, vào rừng sau cuộc tấn công tết Mậu Thân. Và khi kẻ thù trở về vào thành phố, chúng đã giết những người thân của các gia đình này rồi đem chôn trong các hầm tập thể. Những xác chết của lính giải phóng, những người mà chúng tôi không thể thu nhặt được xác cũng bị chúng đem bỏ vào những hố chôn tập thể.
Cộng thêm vào những tù nhân đi theo chúng tôi vào rừng cũng bị giết hại bởi máy bay Mỹ, chết chung với các đồng chí của chúng tôi. Máy bay Mỹ cũng tập kích và giết chết các đồng chí của chúng tôi. Những giải phóng quân của chúng tôi cũng bị hy sinh.
Trong những năm 1975 đến 1977, trong khi đào các đường mương và kênh dẫn thủy, chúng tôi khám phá ra được rất nhiều hố chôn tập thể, cái được gọi là nạn nhân bị thảm sát thì chỉ toàn là những người mang đồng phục quân Giải phóng và nón tai bèo của lực lượng giải phóng.
Điều này nói lên mưu mô quanh co, xảo quyệt của bọn tân thực dân. Cuộc chiến này là ranh mãnh của chủ nghĩa thực dân mới. Chúng giết hai con chim bằng một hòn đá. Trước hết là vì chúng muốn tìm cách che dấu tội ác của chúng.

Hơn nữa là chúng muốn đổ lên đầu bộ đội cách mạng những tội ác của chúng. Đây là điều mà tôi đã chứng kiến. Và một sử gia người Mỹ sau đó viếng thăm Huế đã nói cách công khai rằng đây là kế hoạch tuyên truyền vĩ đại của Mỹ, một chiến dịch tuyên truyền chiến thuật đã làm hao tổn tiền bạc của Hoa Kỳ cho cân xứng với cái giá về tiền bạc mà tên Kissinger nhằm bôi nhọ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam về tết Mậu thân.
Tôi muốn nhấn mạnh là cả một bộ máy tuyên truyền của Mỹ với thế giới đã cố dùng tất cả bộ máy tuyên truyền để đổi trắng thành đen để lừa bịp nhân loại.
Sự thực là có một số xác chết nạn nhân bị giết là do sự giận dữ của dân chúng.(sic!)
Những con số này quá nhỏ so với con số quá lớn kẻ thù còn sống sót và chúng nó đã chạy ra nước ngoài, chúng tiếp tục nói xấu Việt Nam. Giờ đây họ đã vu khống có tổ chức nhằm chống lại cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, ông phải nhìn nhận rằng mặc dù chúng tôi được sự ủng hộ của khắp thế giới khi chúng tôi chiến đấu chống lại kẻ thù của chúng tôi, mà chỉ có dân chúng tôi bị bịt mồm và chịu đổ máu trước họng súng của kẻ thù. Chúng tôi đã phải đổi máu của chúng tôi một cách đơn độc.

Trong suốt cuộc chiến đấu, chúng tôi đã phải đem lại công lý chống lại kẻ thù không đội trời chung của nhân dân – những kẻ mà thế giới đã nhìn nhận như những tội phạm chiến tranh. Dân chúng thế giới đã có một phiên tòa của Bertrand Russell là một thí dụ cho rằng nếu đã có tòa án kiểu Nuremberg, thì đã có hàng ngàn người đã được tha chết trong trận Tết Mậu Thân là những kẻ đáng bị treo cổ sau khi chiến tranh chấm dứt.
Theo như Bertrand Russsell đã dẫn chứng, công lý chẳng bao giờ được thi hành. Vì vậy mà một sĩ quan Mỹ như trung úy William Calley đã giết nhiều người ở Sơn Mai mà nó không bị lên án treo cổ.
Và để nhằm mục đích gây chú ý trong trường hợp tội phạm này, chúng đã ngụy tạo một cuộc thảm sát Tết Mậu Thân để bôi bẩn cách mạng. Điều này chứng tỏ Mỹ không quan tâm đến vấn đề danh dự của nước lớn đi đánh một nước nhỏ bé. Chính quyền Mỹ đã nói láo về trận tấn công Tết Mậu thân.”

Đó là luận điệu của người cộng sản Hoàng Phủ Ngọc Tường với ký giả vào năm 1982. Nhưng qua năm 1997, Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời bà Thụy Khuê trên đài RFI thì lại khác hẳn. Ông Tường nói: “Người ta cho tôi là một tên đồ tể Mậu Thân ở Huế thì đó là một sự bịa đặt mang ý định vu khống hoàn toàn. Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966 và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu thân 1968, tôi không có mặt ở Huế. Điều quan trọng còn lại, tôi xin tỏ bày ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và đã trở về; ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải chịu cho hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế vào năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc và nhìn từ quan điểm chiến tranh cách mạng”.

Nguyễn Đắc Xuân ơi!
Nghe một số người trong nước nói cho biết Hoàng Phủ Ngọc Tường đi khắp các nơi thờ tự linh thiêng để cầu đảo cho qua khỏi chứng bại liệt, tao cũng cảm thấy tội nghiệp cho y. Chẳng hiểu trong lúc cầu, y có bày tỏ sự hối hận, hay là vẫn kiên định lập trường tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa? Nhờ mày nhắn với y hãy từ bỏ “vô thần” đi thì cầu đảo mới ứng nghiệm được.
Tao từng lái máy bay chở những tù binh cộng sản bị bắt ngoài mặt trận. Tao đối đãi với họ rất tử tế, khi thì mời điếu thuốc, khi thì mời viên kẹo, bởi vì tao biết họ là người bị bắt buộc cầm súng đánh nhau với tụi tao. Tao cũng đã dự các cuộc trao đổi tù binh hai bên. Tù nhân bên Ngụy thì gầy trơ xương, lết không nổi. Tù nhân bên Việt Cộng thì béo tốt, hồng hào. Đó là sự thật, tao không nói điêu.

Tao khinh những trí thức(!) thành phố được hưởng mọi quyền tự do của chế độ lại đi thông đồng làm nội tuyến cho giặc. Những phong trào phản chiến đều là bịp bợm, là công cụ của cộng sản. Kẻ thực sự phản chiến là những người lính của hai bên, vì chiến tranh càng kéo dài thì cơ may sống sót của họ rất mong manh. Vả lại, kêu gọi hòa bình thì phải đòi hỏi hai bên ngưng chém giết. Đàng này chỉ lên án kẻ tự vệ mà không đả động gì kẻ gây hấn xâm lăng thì trí thức cái quái gì? Tu hành cái quái gì? Biểu tình đốt tòa Đại sứ Mỹ, đuổi Mỹ về nước tức là dâng Miền Nam cho quân xâm lược Miền Bắc rồi, còn gì? Tao đã gặp những thằng biểu tình, tranh đấu ở Huế đang sống phây phây trên đất Mỹ này đây Xuân. Bây giờ cái đảng của mày đang lạy lục Mỹ quay trở lại Việt Nam đấy! Mày còn tiếp tục “Chống Mỹ cứu nước” nữa không? Nghe nói mày cũng đi sang Mỹ để “giao lưu” với hải ngoại rồi phải không?

Bây giờ mày hãy trả lời câu hỏi chót của tao, trước khi tao trả lời câu hỏi của mày viết trong email. Có bao giờ mày chứng kiến những nạn nhân trong cuộc giao tranh bỏ chạy về “vùng giải phóng” của Việt Cộng không? Hay là họ chạy về phía Ngụy bọn tao? Nếu mày bảo có thì mày giống Hoàng Phủ Ngọc Tường, nói dối như Vẹm. Nếu mày bảo không hề thấy nạn nhân chiến tranh chạy qua “vùng giải phóng Việt Cộng” mà mày cho rằng mày theo Việt Cộng là làm nghĩa vụ lịch sử thì tao không còn gì để nói. Cái khác nhau giữa chế độ ở Miền Nam và ở Miền Bắc là, nếu mày bị An Ninh VNCH bắt thì tao dù chỉ là một Thiếu tá thôi, nhưng có thể ký giấy bảo lãnh cho mày ra tù và nếu năm 1975 tao kẹt lại thì “lão thành cách mạng” như Hùm Xám Đặng văn Việt cũng không thể bảo lãnh cho thằng em. Tao sẽ bị bỏ xương nơi rừng thiêng núi thẳm vì cái tính không chịu khuất phục bẩm sinh. Nếu Miền Nam áp dụng chế độ “công an trị” như Miền Bắc thì chẳng bao giờ những thứ như Ngô Bá Thành, Nhất Hạnh, Tôn thất Dương Tiềm, Tôn thất Dương Kỵ, Trí Quang, Nguyễn Ngọc Lan có đất sống!

Về cuốn nhật ký của mày, tao được một Đại Úy VNCH cho biết quân đội Hoa Kỳ chuyển giao một số tài liệu Việt Cộng tịch thu được trong một cuộc hành quân lục soát mà có hồi ký Nguyễn Đắc Xuân. Nghe đến tên của Nguyễn Đắc Xuân, tao liền nhớ đến tên của thầy Lê văn Thi – nguyên giáo sư Lý Hóa trường Quốc Học – bị thảm sát trong Tết Mậu Thân là tao giận sôi gan lên rồi, không thèm tò mò đọc. Tao hỏi ông Đại Úy VNCH, Nguyễn Đắc Xuân viết gì trong đó thì được ông ta cho biết mày tường thuật cuộc đánh bom B-52 và kêu lên hai tiếng “Mẹ ơi!” vì quá khiếp đảm.
Có lẽ cuốn nhật ký của mày được lưu trữ trong thư khố An Ninh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đã bị thiêu hủy do những “giải phóng quân” Miền Bắc sau ngày “giải phóng” rồi chăng?

Nguyễn Đắc Xuân ơi! Mày chọn lầm đường rồi! Chế độ dân chủ của Miền Nam hãy còn phôi thai, chưa phải là chế độ hoàn hảo vì vừa mới thoát ra khỏi bàn tay thực dân, vì bị bọn nằm vùng phá hoại và vì bị những hạng trí thức dở hơi tiếp tay cho cộng sản Miền Bắc xâm lăng dưới chiêu bài giải phóng dân tộc. Giữa cái chưa tốt và cái tồi tệ, mày lại đi chọn cái tồi tệ để cho tình trạng nước nhà hôm nay bị suy đồi về mọi mặt từ đạo đức đến giá trị con người. Miền Bắc xâm lăng Miền Nam để hiến toàn cõi đất nước cho Trung Cộng, chứ giải phóng, thống nhất cái quái gì?
Những gì tao viết ở trên, mày đừng nghĩ tao chửi mày. Tao thương mày vì sự mê muội của mày và tao giận mày vì sự ngoan cố của mày tới giờ này mà chưa tỉnh ngộ! Những người đi làm “cách mạng” với mày năm xưa biểu tình đốt tòa Lãnh sự Mỹ trốn biệt đâu hết rồi? Sao ngày nay mày không tập hợp lại để tái lập chiến đoàn quyết tử Nguyễn Đại Thức, để đốt tòa Đại sứ Trung Cộng như năm xưa hăng say chống Mỹ cứu nước? Những Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng đang bán nước cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc mà sao không thấy nhà “cách mạng” nào đăng đàn như năm xưa đọc diễn văn đả đảo quân phiệt Thiệu Kỳ? Khí thế “cách mạng” bị “đảng ta” nghiền cho nát hết rồi sao? Trương Tấn Sang, người Việt gốc Tầu, mới viết bài cương quyết chống “diễn biến hòa bình” để Việt Nam được sáp nhập vào nước Tầu, mày đã đọc chưa?

Thư viết cho mày đến đây đã khá dài. Hẹn mày thư sau. Nhắc lại, tao không chửi mày. Tao chỉ nói sự thật. Hãy cố gắng mở mắt ra mà nhìn sự thật trên đất nước ngày nay ra sao.

Bằng Phong Đặng văn Âu, người bạn học năm xưa của mày.   

Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Thu Feb 19, 2015 11:08 am


Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’


Huỳnh Kim Quang dịch   
17/02/2015

http://vietbao.com/p112a233816/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-het

Nguyên tác Anh ngữ: Olga Dror
Bản dịch Việt ngữ: Huỳnh Kim Quang

Như toàn văn lịch sinh hoạt tại Berleley đã phổ biến, Thứ Tư 25 tháng Hai 2015, nhằm ngày mùng bảy Tết Ất Mùi, sách “Mourning Headband for Huế” --từ nguyên tác tiếng Việt “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca -- chính thức thành đề tài thảo luận tại Đại Học Berkeley, với hai diễn giả chính là Nhã Ca, người viết, và Olga Dror, người dịch.

February 2015
Mourning Headband for Hue
Reading - Literary | February 25 | 4-6 p.m. | 180 Doe Library
Featured Speaker: Nha Ca, writer
Speaker: Olga Dror, Associate Professor of History, Texas A & M University
Sponsor: Center for Southeast Asia Studies

This book event will highlight the new English-language translation of prominent Vietnamese writer Nha Ca's memoir Giai khan so co Hue, which was first published in 1969 as an eyewitness chronicle of the suffering of Vietnamese civilians caught in the city of Hue during the 1968 Tet offensive.

This event will include remarks on the translation by Prof. Olga Dror, the book's translator [in English], and commentary about the book itself by Nha Ca [in Vietnamese, with English language translation provided]

Nha Ca was born in Hue, Vietnam in 1939, but moved to Saigon after her marriage where she established a literary career. After the fall of South Vietnam in 1975, Nha Ca was incarcerated by the new national government. She was allowed to emigrate to the West with her family in 1989 and now lives in southern California.

Olga Dror was born in the Soviet Union and received an M.A. in Oriental Studies from Leningrad State University in 1987. She emigrated to Israel in 1989, and later moved to the U.S. to study Vietnamese history at Cornell University. She received her Ph.D. from Cornell in 2003, and has been a member of Texas A&M's faculty since 2004. Event Contact: cseas@berkeley.edu , 510-642-3609; 322 Wheeler Hall. Berkeley CA 94720 :: 510.642.3467 UC Berkeley.

Tuy giỏi nhiều ngôn ngữ và từng trực tiếp dịch bút ký truyền giáo ở Việt Nam của Linh Mục Adriano di Santa Thecla từ tiếng La Tinh, hay bút ký chạy loạn Huế Mậu Thân của Nhã Ca từ Việt ngữ sang Anh ngữ, công việc chính của Olga Dror là nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Việt Nam tại Texas A&M University. Đó là lý do trong ấn bản Mourning Headband for Hue, ngoài phần dịch thuật, Olga Dror còn có thêm “Translator’s Introduction”, (Giới Thiệu của Dịch Giả) bổ cứu công phu, phân tích tỉ mỉ các quan điểm về Chiến Tranh Việt Nam và trận chiến Huế. Sau đây là bản dịch bài viết công phu của bà về “Giải Khăn Sô cho Huế” và tác giả Nhã Ca.

Hình bìa sách:



Trong số quan điểm [từ phía cộng sản và phía chống cộng] mà tôi nói đến ở đây, Giải Khăn Sô Cho Huế ở vị thế trung lập đại diện người không ảo tưởng, những người đứng ở lập trường trung lập trong cuộc chiến, chỉ trích chiến tranh. Dù những tranh luận về ý thức hệ có thể xảy ra, tác phẩm của Nhã Ca nổi bật lên bởi vì tiếng nói mạnh mẽ làm sáng tỏ những kinh nghiệm của người dân bị mắc kẹt nhiều tuần lễ trong trận chiến khủng khiếp.



TẠI SAO CHÚNG TA NÊN ĐỂ TANG CHO HUẾ


Cho tới nay, Huế không còn được phép chính thức có một ngày giỗ chung, cùng hướng về những người chết tức tưởi trong Tết Mậu Thân.” (Nhã Ca, Giải Khăn Sô Cho Huế)

Có thể không có cảnh tắm máu sau khi Sài Gòn thất thủ và Việt Nam thống nhất, nhưng có nhiều hệ lụy. Nhiều ngàn người bị đẩy vào các trại tù học tập cải tạo, gồm Nhã Ca và chồng của bà, Trần Dạ Từ; hàng trăm ngàn người bỏ trốn hay cố gắng bỏ trốn bằng thuyền, với nhiều ngàn người chết trên biển hay bị bắt ngay trước khi rời bờ biển Việt Nam. Một sĩ quan cao cấp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Nguyễn Công Luận, phản ảnh về biến cố Huế trong hồi ký xuất sắc của ông:

“Nhiều năm sau, vào năm 1972, những hình ảnh kinh khủng của các mồ chôn tập thể năm 1968 đưa đẩy nhiều chục ngàn người từ mọi tầng lớp xã hội sống tại Huế và Quảng Trị đi theo con đường tị nạn chiến tranh. Các phóng viên gọi nó là “bỏ phiếu bằng chân.” Những cuộc di tản kinh hoàng từ các thành phố thuộc phía bắc Nam Việt Nam lại xảy ra lần nữa càng bi thảm hơn vào tháng 3 năm 1975 trước khi Nam Việt Nam bị thất thủ. Rõ ràng là sau đó người dân từ Huế và các tỉnh lân cận đã chiếm một tỉ lệ đáng kể của số thuyền nhân Việt Nam vượt biên khỏi Việt Nam sau khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau tháng 4 năm 1975, nhà cầm quyền Cộng Sản đã xua đuổi rất nhiều thân nhân của các nạn nhân vụ tàn sát năm 1968 tại khu vực Huế và tái định cư họ tại “Những Vùng Kinh Tế Mới” xa xôi.” Điều kiện sinh sống tại “Những Vùng Kinh Tế Mới” thì rất khắc nghiệt.”(103)

Gần một nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ năm 1968. Chính quyền Việt Nam vẫn mô tả Tết 1968 nói chung và trận chiến Huế nói riêng như là một đại chiến thắng. Chẳng hạn, vào ngày 1 tháng 1 năm 2008, Bộ Quốc Phòng và Tỉnh Ủy tổ chức một “hội nghị khoa học”, chủ đề “Trận Tấn Công và Nổi Dậy của Mùa Xuân Mậu Thân 1968,” để kỷ niệm năm thứ bốn mươi biến cố này. Lê Khả Phiêu, cựu tổng bí thư Đảng Cộng Sản (1997-2001); Thượng Tướng Phan Trung Kiên, Ủy viên Trung Ương Đảng và thứ trưởng Bộ Quốc Phòng; và các viên chức và học giả khác đã có mặt. Vấn đề của vụ tàn sát và ai chịu trách nhiệm cho sự kiện đó đã không được chính thức bàn đến.

Những phản ánh của Lê Minh và Hoàng Phủ Ngọc Tường về thảm kịch Huế, được thảo luận đến ở trên, cho thấy một đường nứt có khả năng dẫn tới một sự cởi mở hơn, và có lẽ ngay cả trong chiều hướng có thể có “một ngày giỗ chung, cùng hướng về những người chết tức tưởi trong Tết Mậu Thân.”(104) Dù nhiều năm đã trôi qua sau những phản ánh xuất hiện đó, chưa có điều gì xảy ra cả.

Những ai đã từng sống qua cơn ác mộng của Huế và những người muốn nhìn thấy các sự kiện đó nhận ra rằng có hàng chục trang mạng toàn cầu với những hình ảnh và chứng cứ từ thời điểm đó đã được tạo ra. Nhưng không có sự thừa nhận chính thức của Hà Nội, thì một cuộc đối thoại là không thể có. Tác phẩm của Nhã Ca đã không được xuất bản tại Việt Nam sau chiến tranh; dù nhiều cuốn trong đó, gồm Giải Khăn Sô Cho Huế, có thể tìm đọc được trên mạng lưới toàn cầu, điều này không dẫn tới một cuộc đối thoại với các cơ chế học thuật và chính trị hay với sự quan tâm công khai tại Việt Nam hiện nay.

Nó không phải chỉ quan trọng đối với người Việt mà còn với người Mỹ nữa. Dù tiếng nói của Nhã Ca và tiếng nói của người Việt Miền Nam và Miền Bắc khác mà có thể đem đến sự chú ý của công chúng thì có thể thay đổi quan điểm của chúng ta về chiến tranh và về những gì đã xảy ra tại Huế, hay ít nhất cũng mở ra được đối thoại, tôi không biết. Trong bất cứ trường hợp nào, đây không phải là mục đích quan trọng nhất của tôi, dù tôi sẽ vui vẻ nếu điều đó diễn ra và nếu một ngày nào đó người dân Việt Nam có thể cùng nhau tưởng niệm những người đã chết ở thời điểm Tết Mậu Thân tại Huế, như Nhã Ca cũng đã ao ước.
Mục đích của tôi với tác phẩm này là làm cho sự quan tâm của chúng ta về chiến tranh càng nhập cuộc hơn và khuyến khích bất cứ ai muốn suy ngẫm về vấn đề này có được một căn bản rộng hơn để đạt được kết luận của chính họ.

Giải Khăn Sô Cho Huế được viết trong những tháng sau biến cố tại Huế. Nó cung cấp cơ hội để cho mọi người biết, dù trễ, với quan điểm của người Việt Miền Nam về những gì đã xảy ra tại thành phố đó. Nó là cái nhìn về chiến tranh không qua cặp mắt của một người lính hay một nhà chính trị nhưng qua cặp mắt của những người dân. Những người dân đó đã không có chọn lựa trong cuộc chiến nhưng bị đẩy vào giữa chiến trường kinh hoàng bởi quân đội cùng là đồng bào và các chính trị gia là những người nói thao thao về các chính sách chiến tranh, điều khiển cuộc chiến, và sau đó viết sách về nó. Cuốn sách này mô tả kinh nghiệm của những người dân bình thường mà cuộc đời họ bị thay đổi một cách nghiêm trọng hay bị cắt ngắn bởi bạo lực của chiến tranh; nó là về “những người khác,” những người bị bắt trong vùng khói lửa bom đạn, những người còn sống sót, và những người không còn sống. Nó không phải là cuốn tiểu thuyết, không là tác phẩm hư cấu, mà là cuốn sách mô tả không bóng bẩy về các sự kiện như được chứng kiến qua cặp mắt của tác giả và những người chung quanh bà vào lúc đó. Nó cho chúng ta “những bức ảnh chụp tức thì” của cuộc sống bị hủy hoại và vỡ nát ở thời điểm Trận Tấn Công Tết. Nhưng nó cũng bày tỏ những quan điểm khác nhau về các bên Cộng Sản, Quốc Gia, và Mỹ của cuộc chiến từ các thắng lợi của những người khác nhau.

Một vài đoạn trong cuốn sách liên hệ tới cùng các sự kiện hay mô tả cùng những khuôn mặt như họ được nghe thấy bởi nhiều người, và điều này bổ túc thêm cho sự hiểu biết của chúng ta về tình cảnh phức tạp tại Nam Việt Nam vào lúc đó và tạo ra phong cách gợi nhớ của cuốn phim Rashomon, bộ phim nổi tiếng của đạo diễn người Nhật Akira Kurosawa dựa trên truyện ngắn “Trong Khu Rừng Nhỏ” của nhà văn Nhật Akutagawa Ryunosuke.

Bất luận quan điểm chính trị nào, Giải Khăn Sô Cho Huế nhắc nhở chúng ta để tang cho người Huế, cho dân tộc Việt Nam, cho sự tự hấp thụ các chính sách của đại cường tại Việt Nam, và cho sự từ chối của chúng ta để tìm hiểu thêm về “những người khác,” mà ngay đến ngày nay vẫn tiếp tục ám ảnh các chính sách của chúng ta đến các quốc gia khác.

Olga Dror
Tháng 1 năm 2014

Ghi chú

(103) Nguyễn Công Luận, Nationalist in the Viet Nam Wars: Menoirs of a Victim Turned Soldier [Người Theo Chủ Nghĩa Dân Tộc Trong Các Cuộc Chiến Tại Việt Nam: Hồi Ký của Một Nạn Nhân Trở Thành Người Lính] (Nxb Indiana University Pressm, Bloomington và Indianapolis, 2012), trang 581-82n3.
(104) Nhã Ca, Giải Khăn Sô Cho Huế (Việt Báo, USA, 2008), trang 9.



MỜI XEM TOÀN BỘ :
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Hết)
Huỳnh Kim Quang dịch     17/02/2015
http://vietbao.com/p112a233816/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-het
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 11)
Huỳnh Kim Quang dịch     16/02/201507:38:00
http://vietbao.com/p112a233766/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-ky-11
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 10)
Huỳnh Kim Quang dịch     14/02/2015
http://vietbao.com/p112a233731/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-ky-10
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 9)
Huỳnh Kim Quang dịch    13/02/2015
http://vietbao.com/p112a233640/2/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-ky-9
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ Cool
Huỳnh Kim Quang dịch    12-2-2015
http://vietbao.com/p112a233586/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-ky-8
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 7)
Huỳnh Kim Quang dịch      11/02/2015
http://vietbao.com/p112a233538/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-ky-7
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 6)
Huỳnh Kim Quang dịch    10/02/2015
http://vietbao.com/p112a233490/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-ky-6
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 5)
Huỳnh Kim Quang dịch   09/02/2015
http://vietbao.com/p112a233444/2/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-ky-5
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 4)
Huỳnh Kim Quang dịch    07/02/2015
http://vietbao.com/p112a233380/3/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-ky-4
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 3)
Huỳnh Kim Quang dịch     06/02/2015
http://vietbao.com/a233324/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-ky-3
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & 'Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 2)
Huỳnh Kim Quang dịch    05/02/2015
http://vietbao.com/a233277/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue-ky-2
.
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 1)
Huỳnh Kim Quang dịch     05/02/201510:15:00
http://vietbao.com/a233274/hoc-gia-dich-gia-olgar-dror-viet-ve-nha-ca-giai-khan-so-cho-hue

-------------------------------

TIN LIÊN QUAN :
.
Giới thiệu sách mới: Bản dịch tiếng Anh “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca
Đoàn Thanh Liêm     Thứ Bảy, ngày 07 tháng 2 năm 2015
http://www.diendantheky.net/2015/02/oan-thanh-liem-gioi-thieu-sach-moi-ban.html
.
Giải Khăn Sô Cho Huế: Chờ Đợi Một Ngày Giỗ Chung Cho Việt Nam
Đinh Từ Bích Thúy
Phỏng vấn Nhã Ca & Olga Dror về bản dịch “Mourning Headband for Hue”
20.08.2014
http://damau.org/archives/33014
.
Đọc “Giải Khăn Sô Cho Huế” sau 45 năm
* Tác phẩm được đại học Indiana University Press chuyển ngữ và xuất bản
Ngọc Lan/Người Việt     Thursday, April 24, 2014 7:30:16 PM
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=186955&zoneid=430#.VNbCJU0o7IU
.
“Giải Khăn Sô Cho Huế”, RFA phỏng vấn Nhã Ca
Mặc Lâm, phóng viên đài RFA        2008-02-03
http://www.rfa.org/vietnamese/SpecialTopic/TetOffensive1968/Interview_NhaCa_on_the_occasion_of_1968_Tet_offense_event_MLam-20080203.html
You Tube : https://www.youtube.com/watch?v=dMcmZAJJXJU
.
Giải Khăn Sô Cho Huế (bản pdf) - Việt Nam Văn Hiến
file:///C:/Users/TAM/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary%20Internet%20Files/Content.IE5/3BHTQ0ZZ/GiaiKhanSoChoHue.pdf
Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Wed Sep 02, 2015 12:01 am


 

Khi đồ tể lâm bệnh nặng

Bảng Đỏ (Danlambao) - Ông Hoàng Phủ Ngọc Tường – một nhà văn nổi tiếng của chế độ cộng sản hiện đã lâm bệnh nặng do bị tai biến hô hấp.

Báo Tuổi Trẻ dẫn lời gia đình cho hay, tình trạng bệnh của ông Tường hiện nay là rất nặng.

Cơn tai biến đã xảy ra chỉ 1 tuần sau khi ông này được gia đình đưa từ Sài Gòn về lại Huế - nơi ông Tường bị cáo buộc là thủ phạm gây ra cuộc thảm sát kinh hoàng do quân đội cộng sản gây ra vào dịp tết Mậu Thân năm 1968.

Thảm sát Mậu Thân 1968 tại Huế


Cùng thời điểm này, tạp chí văn chương Da Màu đã cho đăng một bài phỏng vấn đặc biệt, trong đó Hoàng Phủ Ngọc Tường phủ nhận vai trò liên quan trong cuộc thảm sát Mậu Thân 68.

“Mình không có giết ai trong chiến tranh” ông Tường khẳng định trong bài phỏng vấn vừa được công bố sau 7 năm.

Tại thời điểm quân đội cộng sản ra tay thảm sát dân thường vô tội, Hoàng Phủ Ngọc Tường nói rằng ông ta không có mặt tại Huế:

“Họ dự định sau khi vụ Mậu Thân thành công thì sẽ đưa chúng tôi về ra mắt công chúng. Nhưng cuộc tiến công bị chặn lại vì phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa phản kích dữ dội quá…”

“Vì việc không thành nên tôi không được đưa về Huế để ra mắt quần chúng.”

Đối với người dân Huế, đặc biệt là người nhà của những nạn nhân vô tội, đây chỉ là những lời dối trá và chạy tội của Hoàng Phủ Ngọc Tường lúc cuối đời.


Hoàng Phủ Ngọc Tường

Đồ tể

Trong một cuộc phỏng vấn vào ngày 29/2/1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại khẳng định đã có mặt tại Huế vào Tết Mậu Thân năm 1968.

Video cho thấy, ông này nhiều lần nhấn mạnh vai trò của mình như một ‘chứng nhân’ tham gia công việc ‘thi hành bản án cách mạng’ đối với những thường dân.

Ông này còn kể rõ tường tận như: “Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu... Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra...”

Sau 25 kinh hoàng, quân đội cộng sản đã dùng nhiều biện pháp man rợ để giết hại khoảng 6 ngàn người dân Huế vô tội.

Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng em trai mình là Hoàng Phủ Ngọc Phan, cùng với Nguyễn Đắc Xuân… bị coi là những đồ tể gây ra vụ thảm sát.

Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn đăng trên Da Màu, ông Tường lại nói rằng bản thân ông này ‘không chứng kiến’ những vụ giết người tại Huế:

“Còn những vụ giết người hàng loạt, tôi chỉ nghe nói chứ không chứng kiến, nhưng tôi biết là mình không thể hành động như thế”, Hoàng Phủ Ngọc Tường nói.



Chối tội

Sau năm 1975, cũng như nhiều nhân vật đi theo ‘mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam’, Hoàng Phủ Ngọc Tường gần như bị chế độ CSVN loại bỏ. Đến năm 1987 thì ông này lại làm đơn xin gia nhập đảng.

Trong bài phỏng vấn, ông Tường nói rằng đã ‘thôi sinh hoạt đảng’ 3 năm sau đó – tức năm 1990, nhưng không có giấy tờ chính thức.

Năm 1989, ông này bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người và phải ngồi xe lăn. Sau đó, được gia đình chuyển vào Sài Gòn sinh sống.

Trong suốt những năm tháng cuối đời, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã luôn tìm cách chạy tội cho cá nhân và đồng bọn của ông ta trong cuộc thảm sát Mậu Thân 68. Trong khi đó, chế độ CSVN vẫn tiếp tục dùng sự kiện này để ăn mừng trên xác những người dân vô tội, thậm chí chúng còn trơ trẽn dùng cả bộ máy tuyên truyền nhằm đổ lỗi cho ‘Mỹ-Nguỵ’ đã gây ra cuộc thảm sát.

*

Ở đời, con người thì ai cũng có lúc sẽ phải trở về với cát bụi. Tuy nhiên, sẽ thật là một điều bất công nếu Hoàng Phủ Ngọc Tường được chết.

Không phải vì hận thù hay muốn trả thù, cá nhân tôi cho rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường và đồng bọn ông ta cần phải sống cho đến ngày công lý được thực thi.

Ngược lại, muốn được nhắm mắt ra đi, thì đây là cơ hội cuối cùng để Hoàng Phủ Ngọc Tường nói ra sự thật, xem như một lời tạ lỗi cuối cùng trước khi lìa đời.

Bảng Đỏ
danlambaovn.blogspot.com






Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 255
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Tue Feb 02, 2016 9:12 am



Huế rất buồn

Don Oberdorfer * Trần Quốc Việt dịch


Huế - Một thanh niên địa phương dẫn bốn Việt Cộng có võ trang bước vào nhà và hỏi trong nhà có ai là thanh niên. Ông già và bà già nói không, nhưng những kẻ xâm lược này gọi tên những người họ tìm kiếm, và bắt đầu khám nhà.

Một đại úy, hai trung úy, hai trung sĩ quân đội Miền Nam và một công chức ở sở ngân khố địa phương đang trốn trong phòng đầu hàng không chống cự sau khi họ nghe gọi tên. Họ bị trói quặt tay ra sau lưng và bị giải đi. “Họ chỉ đi họp thôi.” Việt cộng nói.

Độ một tuần sau, sau khi lực lượng cộng sản bị đánh bật ra khỏi thành phố, bà già tìm thấy họ nằm trong hố chôn tập thể dưới những nhánh xòe ra của một cây ăn quả trong sân trường trung học địa phương.

“Tôi nhận ra họ rất dễ dàng nhờ vào khuôn mặt và áo quần họ.” Bà hồi tưởng.

“ Hai người trong họ có sợi dây sắt quấn quanh cổ. Tất cả họ đều bị trói tay ra sau lưng. Họ đều bị bắn vào đầu.”

Bà bắt đầu khóc khi bà bắt đầu kể chuyện, rồi lại khóc nức nở lúc gần cuối câu chuyện. Hai trung sĩ, 22 và 23 tuổi, là con bà. Viên công chức là con rể bà. Các sĩ quan đều là những người bà con gần.

Những người trẻ này đã an nghỉ trong cái sân trước dài và hẹp nơi họ nô đùa lúc bé. Chiếm gần hết khoảng sân từ nhà ra đến đường là sáu nấm mộ hình tròn theo kiểu Việt Nam, mỗi nấm mộ có mộ bia ghi tên người nằm bên dưới.

Don Oberdorfer

Nguồn:
Trích dịch từ báo Washington Post số ra ngày 7 tháng Mười Hai, 1969, trang 1. Tựa đề tiếng Anh “’68 Killings By Vietcong Are Detailed.” Tựa đề của người dịch.



Và Huế rất đau thương

Francois Sully và Kevin P.Buckley * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch

Ngay cả những mối quan hệ trong gia đình-sức mạnh gần như huyền bí gìn giữ nên xã hội Việt Nam - cũng đã bị cắt lìa trong dịp Tết. Chẳng hạn vào ngày giao chiến đầu tiên, một cô giáo đẹp và quý phái tên Tôn Nữ Ngọc Nhuận mở cửa biệt thự gia đình thì thấy hai người anh mình mặc quân phục vải ka ki của quân đội Bắc Việt. Sau lưng họ là phân đội du kích đang cầm súng. “Bác Thân đâu?” (Cựu cảnh sát trưởng), một người anh hỏi. Ông nội của họ trả lời bác Thân không có ở nhà. Tàn bạo thay, cháu ông giết ông ngay tại chỗ. Và khi cha chồng của Nhuận trách họ, ông ta cũng không nói được nữa với một viên đạn bắn vào miệng. Rồi vợ ông ta cũng bị giết. Thấy thế, Nhuận chết ngất. Vài giờ sau tỉnh dậy cô thấy tất cả những người khác trong nhà-mười người thân ruột thịt - nằm chết trong vườn.

Nguồn:
Trích dịch từ tạp chí Newsweek số ra ngày 8 tháng Tư,1968 trang 49. Tựa đề tiếng Anh “Sad, Sad Hue”. Tựa đề của người dịch.

Bản tiếng Việt:
Trần Quốc Việt
danlambaovn.blogspot.com


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 255
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Sun Feb 07, 2016 10:01 pm

 


Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”


Nguyễn Lộc Yên (Danlambao) - Có lẽ trong chúng ta ai cũng còn nghĩ ngợi trong nỗi xót xa vì sao Việt Cộng (VC) lại lạnh lùng sát hại đồng bào tàn nhẫn tại thành phố Huế vào “Tết Mậu Thân” năm 1968. Vậy người viết xin ghi lại một số chi tiết về “Tết Mậu Thân” đầy nghiệt ngã và bi thương để ngày xuân chúng ta thắp nén hương cầu những người quá cố sớm về Thiên đường hay cõi Phật.

I- Thời gian và các địa điểm VC đã tấn công vào ngày “Tết Mậu Thân”:

- Vào lúc 2 giờ 33 phút đêm 29 rạng ngày là Mùng Một âm lịch, Tết Mậu Thân (tháng Chạp thiếu) đến sáng là thứ Hai, ngày 29-1-1968 dương lịch, các lực lượng vũ trang của cộng sản, gồm có: Bộ binh, đặc công... đã pháo kích rồi tấn công vào các nơi trọng yếu của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và Hoa Kỳ ở các thành phố và tỉnh lỵ: Huế, Sân bay Đà Nẵng, sân bay Non Nước, Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 VNCH ở Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Đắc Lắc, Pleiku, Qui Nhơn...

- Cũng đêm 29 rạng ngày mồng Một âm lịch, Tết Mậu Thân, đến sáng là thứ Hai, ngày 29-1-1968 dương lịch, quân cộng sản pháo kích và dùng đặc công cùng bộ binh tấn công các nơi trọng yếu của VNCH và Hoa Kỳ ở các thành phố và tỉnh lỵ: Quảng Trị, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Phong Dinh, Vĩnh Long, Cần Thơ...

- Đêm mùng Một rạng ngày Mùng Hai âm lịch, Tết Mậu Thân, đến sáng là thứ Ba, ngày 30-1-1968 dương lịch, Cộng quân tấn công vào các thành phố và tỉnh lỵ: Kiến Hòa, Định Tường, Gò Công, Kiên Giang, Vĩnh Bình, Bình Dương, Biên Hoà, Tuyên Đức, Châu Đốc, An Xuyên, Tuy Hoà tỉnh Phú Yên.

Riêng tại thành phố Huế là trọng điểm trong cuộc tổng tấn công của Cộng quân vào Tết Mậu Thân năm 1968. QLVNCH nòng cốt tại thành phố Huế là Sư đoàn 1 Bộ binh. Vào lúc 2 giờ 33 phút đêm 29 rạng ngày Mùng Một (tháng Chạp thiếu) âm lịch, Tết Mậu Thân, đến sáng là thứ Hai, ngày 29-1-1968 dương lịch, trước khi Cộng quân mở đầu cho cuộc tổng tấn công vào Nội thành Huế, Cộng quân pháo dồn dập vào các nơi trọng yếu của VNCH tại Huế, gồm các nơi: Khu Phan Sào Nam, Phú Bài, Tam Giác, Động Toàn, Đông Ba. Vào khoảng 5 giờ sáng thì Cộng quân đã chiếm được khu Đại Nội. VC đã tấn công bất ngờ ngày Tết âm lịch, ngay thời điểm giao thừa, vì VC nghĩ rằng QLVNCH đang nghỉ ăn Tết sẽ lơ là phòng ngự, VC đã trắng trợn “vi phạm hiệp định ngưng chiến” trong ngày nghỉ Tết?!.

II- Thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế:

Tết Mậu Thân, quân cộng sản đã giết hại đồng bào tại Huế sau này truyền thông gọi là: “Thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế”, đã làm chấn động cả thế giới, mà người Anh, Mỹ gọi sự kiện này là “Hue massacre” tức là “sự tàn sát ở Huế”. Trong 28 ngày Cộng quân chiếm đóng thành phố Huế đã sát hại nhiều người rất hãi hùng. Riêng thường dân bị hại khoảng 7.000 người, trong đó có 844 tử thương và khoảng 1.900 bị thương vì bom đạn, và số người mất tích đã tìm được khoảng 2.800 tử thi từ các hầm chôn tập thể ở tản mác khắp nơi trong thành phố. Sau đấy, đồng bào còn tìm được 19 địa điểm khác do Việt cộng giết hại và chôn rải rác khắp thành phố Huế. Có nhiều người dân bị xử tử tại Gia Hội, các nạn nhân bị giết hại gồm cả người già, phụ nữ và trẻ em.

Một nguồn tin đã cho biết khi Việt Cộng rút lui, vì lo ngại nếu có người còn sống sót trở về, sẽ tiết lộ các nơi ẩn núp của mình, nên VC đã giết hàng loạt những người đang bị bắt.

Tết Mậu Thân đã gây cho 17.134 ngôi nhà tại Huế bị hư hại nặng hay bị phá hủy hoàn toàn!. Tết Mậu Thân, tại Huế bị tổn thất đã ghi nhận: Quân Lực VNCH bị tử thương 384 người, 1.800 người bị thương, và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ 147 tử thương, 857 bị thương. Còn Cộng quân ước tính trên 4.000 người bị tử vong. Tuy vậy, nhà cầm quyền Cộng sản Bắc Việt lại xem cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân dù bị thất bại về chiến thuật, nhưng họ rất vui mừng vì xem đấy là một chiến thắng có tầm vóc lớn về mặt chiến lược. “Thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế” lại tạo thêm điều kiện cho thành phần phản chiến tại Mỹ có cơ hội biểu tình ồn ào hơn.

Việt cộng làm đạo diễn “Thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế” quá tàn khốc, đáng tiếc tội ác tày trời này chưa được phổ biến bằng phim ảnh đầy đủ và rộng rãi, cho nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới biết tường tận?!

III- Nỗi niềm về xuân Bính Thân:

Hy vọng năm Bính Thân sẽ được như sấm Trạng Trình đã tiên đoán: “Thân-Dậu niên lai kiến thái bình”. Tuy vậy, người viết vẫn phập phồng, lo lắng như đã trình bày trong bài viết ngày 2-2-2016: “Sau Đại hội đảng XII, xem xét liên hệ Việt-Tàu thế nào?”(1), ông Hoàng Trung Hải từng là Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, được biết là một nhà tình báo chiến lược của Tàu cộng (2), nay lại làm Bí thư Thành ủy Hà Nội?! Còn nữa, người Phó Chủ tịch Quốc Hội CSVN tại Hà Nội hiện nay là ông Uông Chu Lưu (3), tin tức trong nước cho biết ông ta là một người Tàu do thiên triều Bắc Kinh cho nằm vùng trong nội bộ đảng CSVN tức là nhà cầm quyền Việt Nam?!.

Viết đến đây, tôi lại miên man nghĩ đến vào này giao thừa lâu lắm rồi, khi đấy tôi mới 10 tuổi, Ba của tôi sau khi thắp hương nơi bàn thờ gia tiên xong, thấy rảnh rỗi, ông kể: “Năm 113 (TCN) Thái tử Hưng lên ngôi xưng là Ai Vương, tôn Cù Thị làm Thái hậu. Hán đế thấy Nam Việt vua còn thơ ấu, người đàn bà tầm thường lại lèo lái triều chính, muốn chiếm Nam Việt mà không cần dụng binh, bèn cử An Quốc Thiếu Quí qua Nam Việt để gặp người tình cũ là Cù Thị, rồi dụ dỗ Cù Thị và Ai Vương đem Nam Việt dâng cho nhà Hán. Tể Tướng Lữ Gia biết được âm mưu của bọn chúng. Lữ Gia mật bàn với các quan, đem cấm quân vào giết Cù Thị, Ai Vương và sứ Hán, rồi truyền hịch hạch tội bán nước của mẹ con Cù Thị. Lập Kiến Đức là con trưởng Minh Vương (mẹ là người Việt) lên ngôi xưng là Triệu Dương Vương...”

Nghe xong, tôi cảm thấy ngậm ngùi làm sao, lại nghĩ đến từ năm 113 (TCN) đến nay là năm 2016 đã 2129 năm rồi, lịch sử lập lại lần nữa sao?! Tôi lại miên man suy nghĩ ngày xuân không thể băn khoăn ngậm ngùi, nhưng hoàn cảnh quê tôi hiện tại, không cho phép tôi quên dù dĩ vãng hay hiện tại. Tôi xin phép, được ghi ra đây tâm tư của mình qua bài thơ xuân Bính Thân, như thổ lộ nỗi niềm với bạn đọc, như để kết luận cho bài viết này:

Chúc Xuân tha thiết quê hương

Mùi qua Thân đến chúc quang vinh
“Thân-Dậu niên lai kiến thái bình”
Năm mới hân hoan, tha thiết nghĩa
Ngày xuân đầm ấm, chứa chan tình!
Quê hương, mong mỏi luôn gìn giữ
Quân Hán, quẩn quanh cố rập rình?!
Ngẫm nghĩ Mậu Thân, đau đớn hận?!
Bính Thân, ao ước được khang ninh!

Ngày 7-2-2016

Nguyễn Lộc Yên
danlambaovn.blogspot.com
___________________________________

(1) http://danlambaovn.blogspot.com/2016/02/sau-ai-hoi-ang-xii-xem-xet-lien-he-viet.html
(2) http://www.thaoluanvietnam.com/forum/showthread.php?t=4479
(3) https://www.facebook.com/phamxen/posts/767821479919375




.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 255
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Tue Feb 09, 2016 1:55 pm

 

Tết Bính Thân không quên Mậu Thân Huế


Phạm Trần (Danlambao) - Cách nay 48 năm, truyền thống Tết của Dân tộc Việt Nam đã bị người Cộng sản nhuộm máu đỏ khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa với cuộc tấn công quân sự từ đêm Giao thừa (31/1/1968), sau đó biến thành chiến dịch quân sự kéo dài đến hết năm 1968.

Người Cộng sản gọi đó là “cuộc tiến công nổi dậy và vận động quần chúng nổi dậy chiếm chính quyền”, nhưng không hề có cuộc nổi dậy nào của người dân miền Nam. Cũng không có bất cứ thị trấn hay thành phố nào của miền Nam bị quân Cộng sản chiếm đóng vĩnh viễn.

Quan trọng hơn, không có nhóm dân Việt Nam Cộng hòa (VNCH) nào đã bỏ đất, bỏ nhà để chạy về phía Cộng sản mỗi khi quân Cộng sản tràn đến.

Thương vong đôi bên, kể cả của Quân đồng Đồng minh của VNCH gồm Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Thái Lan, Úc, New Zealand, đã nằm yên trong quá khứ. Những con số không thể kiểm chứng chính xác cũng đã mục nát trong lòng đất.

Nhưng mỗi khi Tết đến, không người dân nào của VNCH lại không nhớ đến nỗi kinh hoàng của các vụ lính Cộng sản thảm sát và chôn tập thể người dân Huế, diễn ra từ sáng sớm ngày 31/01/1968. Sau đó tiếp tục kéo dài trong 26 ngày giao tranh giành quyền làm chủ Huế với Quân đội VNCH và Hoa Kỳ.

Cho đến năm 2012, qua 12 Tập phim “Mậu Thân 1968” của Đạo diễn (Bà) Lê Phong Lan, quá khứ tội ác chiến tranh ở Huế của người Cộng sản đã được che đậy cẩu thả để đạt mục tiêu duy nhất là: đổ tội cho phía VNCH và Hoa Kỳ đã gây ra phần lớn chết chóc cho dân lành.

Nhưng bộ phim được gọi là lịch sử lệch lạc này dù, khởi đầu do Lan bỏ tiền ra thực hiện, nhưng sau khi hoàn tất lại được Đài Truyền Hình Việt Nam mua chiếu độc quyền nhằm bạch hóa trách nhiệm cho quân Cộng sản là chính.

Vì vậy báo đài của Nhà nước đã nhanh chóng kết luận: “Cái gọi là "cuộc thảm sát đẫm máu” chỉ là đòn tâm lý chiến mà Mỹ dựng lên, thực tế Huế đã bị bom Mỹ phá hủy làm nhiều thường dân chết cùng với quân giải phóng và lính Mỹ.”

Sự thật còn đó

Chuyên Mậu Thân 1968, trong nhiều năm được xếp vào loại “nhạy cảm” đối với nhân dân miền Bắc và phe Cộng sản trong Nam, thường gọi quen thuộc là Việt Cộng (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam).

Nhưng tại sao lại cho là “nhạy cảm”? Mời Độc giả đọc lại những gì tôi (Phạm Trần) viết Tháng 01 năm 2013:

“Lê Phong Lan nói: “Vì sao mọi người phía ta tránh nhắc đến Mậu Thân, đó là vì sự tổn thất của quân đội nhân dân Việt Nam ở sự kiện này quá nhiều. Tâm sự với tôi khi trả lời phỏng vấn, nhiều chỉ huy các sư đoàn dạn dày chiến trận còn khóc nức lên vì thương lính. Đó là lý do duy nhất”.

Quả nhiên về phương diện quân sự thì cả quân miền Bắc và du kích trong Nam đã thiệt hại rất nặng. Theo các ước tính quân sự thì trong cuộc tấn công Mậu Thân, CSVN đã vận động từ 323,000 đến 595,000 quân chính quy và địa phương trong Nam để thực hiện kế hoạch chống lại khoảng 1 triệu 200 quân VNCH và Hoa Kỳ với dự kiến chiếm đóng nhiều vùng lãnh thổ của VNCH.

Tuy nhiên kế hoạch hồ hởi của Hà Nội đã bị quân và dân VNCH được sự yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ đánh bại. Khoảng từ 85,000 đến 100,000 quân Cộng sản bị loai khỏi vòng chiến, so với thiệt hại của đồng minh có trên 6,000 tử thương, ngót 30,000 bị thương và trên 1,000 quân bị mất tích.

Thương vong thường dân, tính riêng tại Huế cũng đã có từ 5,000 đến 6,000 người chết và mất tích, đa số bị quân Cộng sản thảm sát bằng nhiều hình thức, kể cả chôn sống hay đập đầu cho chết vì muốn tiết kiệm đạn để chiến đấu.

Nhưng phía Cộng sản đã liên tiếp phủ nhận trách nhiệm và đổ lỗi cho bom đạn của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa gây ra.

Vì vậy, theo tường thuật của báo chí Việt Nam thì bà Lê Phong Lan cho rằng: “Thấy trên mạng có quá nhiều thông tin sai lệch về sự kiện lịch sử này, tới nỗi các thế hệ sinh sau 1975 không còn biết đâu là thông tin sai, đâu là thông tin đúng vì vậy lại càng quyết tâm để làm phim.”

Báo Công an TP HCM ngày 25-01-013 cho biết: “Để hoàn tất bộ phim có đề tài khó này, đạo diễn đã gặp, phỏng vấn tại VN và Mỹ đến 200 nhân chứng cả ba phía Quân đội nhân dân VN, quân đội Mỹ và những người trong bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa để tìm ra sự thật. Ra mắt đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm cuộc tổng tấn công Mậu Thân.”

Rồi bà Lê Phong Lan còn lý giải thêm rằng: “12 tập phim, tôi chỉ muốn tập trung đi tìm câu trả lời cho câu hỏi tại sao Mỹ - một cường quốc, lại can dự vào công việc của một nước nhỏ bé bằng cách phân tích bối cảnh, tình hình, lật lại hồ sơ tư liệu, tìm hiểu ý nghĩa thật sự của Mậu Thân 1968.” (Đài Truyền hình Việt Nam)

“Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Để khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam.”

Vẫn theo người đạo diễn này thì: “Nhiều câu chuyện lịch sử ít người biết được lật lại. Một trong số đó là sự kiện 26 ngày đêm tại Huế từng bị cho là "cuộc thảm sát đẫm máu” được mô tả trong cuốn sách Dải khăn sô cho Huế của nhà văn chế độ cũ - Nhã Ca.”

Báo Dân Việt (23-01-2013) trích lời bà này viết rằng: “Chị nói, nhiều người đã dựa vào cuốn sách “Vành khăn xô cho Huế” của tác giả Nhã Ca để dựng nên những chuyện vô cùng sai lệch về Mậu Thân 1968, làm oan uổng cho rất nhiều người. (Chú thích: Tên đúng là “Giải Khăn Sô Cho Huế”-Phạm Trần)

Trong cuốn sách đó, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường bị vu oan là dẫn đầu một cánh quân đi thảm sát các nhân viên công quyền và người dân Huế, thực tế, trong thời điểm ấy, ông Tường vẫn ở trên chiến khu. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cũng chịu một nỗi oan tương tự, ông chỉ dẫn đầu một toán học sinh, sinh viên nhưng Nhã Ca cũng viết ông dẫn quân đi thảm sát. Tất cả các nhân chứng mà đạo diễn Phong Lan gặp, trong đó có nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định không có một vụ thảm sát nào. Các nhà báo quốc tế yêu cầu được tiếp cận với những hố chôn người tập thể như cáo buộc của chính quyền Việt Nam cộng hòa nhưng họ cũng bị từ chối. Một nhân chứng đạo diễn Phong Lan đã gặp và phỏng vấn là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho biết, quân đội Bắc Việt Nam vô cùng nghiêm túc, kỷ luật, không hề có chuyện thảm sát.”

Tuy nhiên cũng chính Hoàng Phủ Ngọc Tường lại nói với Nhà văn Thụy Khuê trong cuộc phỏng vấn cho chương trình tiếng Việt đài Phát thanh Quốc tế Pháp (Radio France International, RFI) ngày 12/07/1977 rằng: “Trong cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế, của Nhã Ca in sau biến cố Mậu Thân, tác giả cũng nói rằng: Phủ (tức là tôi), không về Huế, và nếu có về thì chắc cũng không giết người. Tôi thành thật cảm ơn chị Nhã Ca đã dành cho tôi điều nhìn nhận khách quan rất quan trọng này, dù trong cảnh tượng máu lửa hỗn quan hỗn quân của Huế Mậu Thân.

Đã không có mặt ở Huế thì làm sao tôi -Hoàng Phủ Ngọc Tường- lại có thể làm cái việc ghê gớm gọi là "đồ tể" Mậu Thân ở Huế được?”

Như vậy thì bà đạo diễn Lê Phong Lan có nói và làm phim đúng không?

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, thành viên của Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế đi theo Cộng sản trong vụ Mậu Thân, còn đối đáp như sau :

Thụy Khuê: Nhìn từ phía những dữ kiện lịch sử mà anh nắm bắt được, diễn biến Mậu Thân đã xảy ra trong một trình tự như thế nào?

HPNT: Huế Mậu Thân đã xảy ra cách đây gần 30 năm. Sách vở, tài liệu đã được công bố từ nhiều phía của cuộc chiến, khá đầy đủ, có thể làm cơ sở cho những phân tích khoa học để giải phẫu một cuộc chiến mà thật ra, không thể đơn giản tách riêng ra trong biến cố Mậu Thân. Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng.
Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế, chứ không phải một chính sách toàn cục của cách mạng. Bởi vì tình trạng giết chóc bừa bãi như vậy, đã không xẩy ra ở những địa phương khác trong Mậu Thân, ngay cả trên một địa bàn rộng lớn với tình trạng xen kẽ giữa những lực lượng đối địch rất phức tạp như ở Sài Gòn thời ấy.

Thụy Khuê: Vậy, theo anh, ai trách nhiệm những thảm sát ở Huế?

HPNT: “Tôi không đủ thẩm quyền để phán xét bất cứ cá nhân nào. Xin trích dẫn theo trí nhớ một ý tưởng trong hồi ký của chính ông Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân: Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi. Qua bài hồi ký tâm huyết này, đã được công bố trên tạp chí Sông Hương, Huế, và sau đó, nếu tôi không nhớ lầm, đã được dịch và in toàn bộ trên báo Mỹ Newsweek, tác giả, Lê Minh (lúc đó đã nghỉ hưu), còn nhắc nhở rằng, điều quan trọng có thể làm, và phải làm bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ.”

Những tiếng nói khác

Ông Đinh Lâm Thanh, trong Bài thuyết trình trong dịp tưởng Niệm 40 năm biến cố Mậu Thân tổ chức tại Paris ngày 02.03.2008, nói: “Tại Huế, CS lùng bắt thành phần quân-cán-chính, tập trung dân để tổ chức đấu tố, bắn giết, chôn sống tại chỗ một số và dẫn những người còn lại theo làm tù dân - tôi nói tù dân, vì tù là những người dân vô tội - trước rút lui tháo chạy trước sức tấn công mãnh liệt của QLVNCH và Đồng Minh.

Nếu tính nạn nhân tại Huế, ngoài số quân nhân, cảnh sát, nhân viên cán bộ hành chánh về nghỉ Tết cũng như những người sống tại địa phương làm việc cho chính quyền Sài Gòn bị Cộng sản bắn ngay tại chỗ là 1.892 người. Ngoài ra người ta còn tìm được 2326 tử thi thường dân trong 22 hố chôn tập thể tại những địa điểm như Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bãi Dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Đông Ba, Trường An, Ninh Hạ, Trường Vân Chí, Chợ Thông, Chùa Từ Quang, Chùa Từ Đàm, Lăng Gia Long, Đồng Di, Vịnh Thái, Phú Lương, Phú Xuân, Thượng Hòa, Thủy Thanh, Vĩnh Hưng và Khe Đá Mài.

Mỗi hố chôn tập thể từ 5, 7 người đến trên 400 nạn nhân như ở Khe Đá Mài. Những nạn nhân nầy bị thảm sát một cách dã man như: Cột chùm nạn nhân lại với nhau và đốt cháy bằng xăng, bắt ngồi trên mìn rồi cho nổ tan xác, chặt đầu, bắn vào ót, đập chết bằng bá súng, đóng cọc từ dưới bàn tọa lên đến cổ, trói tay chân thành từng chùm rồi xô xuống hố chôn sống. Nạn nhân là thường dân vô tội tuổi từ 15 trở lên, gồm có sinh viên học sinh, 6 linh mục là các cha Bửu Đồng, Hoàng Ngọc Bang, Lê Văn Hộ, cha Guy và cha Urbain (dòng Thiên An), và cha Cressonnier (Hội Thừa sai Paris), 5 thầy dòng gồm 3 sư huynh dòng Thánh Tâm là thầy Hec-Man, thầy Mai Thịnh và thầy Bá Long, 2 sư huynh dòng Lasan là thầy Agribert và thầy Sylvestre. Hai thầy dòng Lasan bị bắt và bị chôn sống chung một hố với linh mục Bửu Đồng tại Sư Lỗ, quận Phú Thứ. Ngoài ra Cộng sản còn giết các giáo sư đại học người nước ngoài trong lúc họ đang dạy ở đại học Y khoa Huế và thân nhân họ hàng của những người phục vụ dưới chế độ VNCH. Người ta ước lượng tại thành phố Huế có gần 5.000 người bị Cộng sản giết trong vòng mấy tuần lễ.

Những người lớn tuổi còn sống tại Huế là những nhân chứng sống. Trong đó có hai thanh niên nguyên là học sinh trung học, nay đã 56 tuổi, trả lời phỏng vấn của các nhà báo ngoại quốc. Người thứ nhất tên Tuấn cùng với những học sinh khác đã bị CSBV bắt đào lỗ chôn sống 5 người tại Gia Hội ngay trong ngày đầu tiên khi CS vừa chiếm Huế. Học sinh thứ hai, xin giấu tên, ở Phủ Cam bị bắt đi theo đoàn tù dân đưa chôn sống ở Khe Đá Mài. Cả hai học sinh nầy nhờ một phép nhiệm mầu nào đó họ đã thoát được và sống sót đến ngày hôm nay.” (Khối 8406Tự do Dân chủ cho Việt Nam, 01-2009)

Hai Linh mục Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải hiện còn sống ở Việt Nam kể lại như sau:

“…tại núi Ba Tầng (núi Bân), phía Nam thành phố Huế. Ngôi mộ này lưu giữ hơn 400 bộ hài cốt chủ yếu bốc từ Khe Đá Mài nhưng đã bị chính quyền cộng sản phá đổ trụ bia và để cho hoang phế suốt 32 năm trời…

“Trong toàn bộ biến cố Tết Mậu Thân, có lẽ những gì xảy ra tại Huế là đau thương và đánh động hơn cả, có lẽ cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài là rùng rợn, dã man và thê thảm nhất. Tiếc thay, theo sự am hiểu của chúng tôi, hình như người ta chỉ biết đến kết cục của nó là hàng trăm bộ hài cốt dồn lại một đống dưới khe sau khi thịt thối rữa bị nước cuốn đi lâu ngày, từ đó suy diễn ra sự việc hơn là biết rõ diễn tiến của toàn bộ sự việc kể từ lúc nạn nhân bắt đầu bị dẫn đi đến chỗ hành quyết”. (Đối Thoại online, 17-01-2008)

Hai linh mục Lợi và Giải cho biết họ họ gặp một nhân chứng sống lúc bấy giờ ông ta mới 17 tuổi cũng bị bắt theo đoàn người bị đưa đi giết ở Khe Đá Mài nhưng may mắn lợi dụng lúc đêm tối nên ông đã trốn thoát và hiện còn sống ở trong nước đã kể lại:

“Hồi ấy, tôi mới 17 tuổi, đang là học sinh trung học đệ nhị cấp. Vì tình hình bất an, gia đình tôi đã từ quê chạy về thành phố, cư ngụ tại giáo xứ Phủ Cam, thôn Phước Quả, xã Thủy Phước, tỉnh Thừa Thiên (nay gọi là phường Phước Vĩnh, thành phố Huế) từ mấy năm trước... Khuya mùng Một rạng mùng Hai Tết, tôi nghe tiếng súng nổ khắp nơi và được tin Việt Cộng đã chiếm nhiều nơi trong thành phố Huế... Cả gia đình tôi cũng như nhiều giáo dân ở Phủ Cam đều chạy đến ẩn núp trong nhà thờ để tránh bom đạn. Lính Nghĩa quân của xã và một số quân nhân về phép chiến đấu bên ngoài để bảo vệ đồng bào. Sau mấy ngày, không có tiếp viện nên chiều mùng 5 Tết (3 tháng 2 / 1968) phải rút chạy... Khuya mùng 5 Tết, Việt Cộng tràn vào nhà thờ bắt những người từ 15 tuổi đến ngoài 50 tuổi bất kể là học sinh hay thường dân... và tuyên bố ‘cho đi học tập trong vòng 3 ngày sẽ trở về’ trong đó có tôi... Sáng hôm sau, chúng tôi bị dẫn đi theo đường xe lửa từ Phủ Cam ra Bến Ngự và đến chùa Từ Đàm... Tại đây tôi thấy Việt Cộng rất đông vừa du kích địa phương vừa bộ đội miền Bắc... Ngôi nhà 5 gian thì 4 gian đã đầy người bị bắt từ mấy ngày trước, còn một gian để giam giữ những người mới bị bắt... Tôi gặp những người quen như ông Tín (thợ chụp ảnh), ông Hồ (thợ hớt tóc), anh Trị (con ông Ngọc người đánh đàn trong nhà thờ), ông Hoàng (Đông y sĩ ở Chợ Xép), hai người con trai ông Thắng (làm nghề nấu rượu nuôi heo), hai người con trai ông Vang (nhạc sĩ thổi kèn đồng), anh Thịnh (con ông Năm), hai anh em Bình và Minh (con ông Thục), anh Minh (16 tuổi, con ông Danh nhân viên Công Ty Thủy Điện Huế) đều là học sinh... Chúng tôi ngồi tại chùa Từ Đàm suốt cả một ngày từ sáng tới tối không được ăn uống gì cả... Họ đưa cho chúng tôi mỗi người một tờ giấy để viết bản ‘khai lý lịch’ tên, nghề nghiệp, tên cha mẹ, sinh quán ở đâu... Ai khai gian sẽ bị đem ra bắn... Tôi thấy một số người bị trói vào gốc cây bồ đề và bị đem ra bắn chôn ngay trong sân chùa, trong đó có anh Hoàng Sự (Cảnh Sát) mà tôi biết tên. Họ cho một vài người về nhắn với gia đình tiếp thế lương thực và quần áo, thuốc men cho những người đang bị giam giữ... Khi trời sẩm tối, họ bắt chúng tôi ra ngồi xếp hàng giữa sân chùa. Một anh cán bộ tuyên bố:

- Anh em yên tâm, Cách Mạng sẽ đưa anh em đi học tập trong 3 ngày rồi sẽ cho về với gia đình! Bây giờ chúng ta lên đường!.

Rồi họ dùng dây điện thoại trói tay chúng tôi ra phía sau lưng từng người một, rồi dùng dây kẽm gai nối 20 người làm một toán. Tôi đếm được trên 25 toán như thế (tất cả 500 người). Một người địa phương đi nhìn mặt anh em chúng tôi và nói với nhau:

- Không thấy Trọng Hê và Phú Rỗ trong số giáo dân Phủ Cam ở đây.

(Anh Trọng con ông Hê và anh Phú là hai thanh niên ở Phủ Cam có võ nghệ mà giới du đãng ở Huế biết tiếng. Hai anh đã chạy theo lính Nghĩa Quân xã rút lui khi Việt Cộng vào nhà thờ! Những người bị bắt đến đây đều là dân lành vô tội).

Họ dẫn chúng tôi đi vào đường bên trái Đàn Nam Giao, vòng qua Dòng Thiên An, đến lăng Khải Định, vòng phía sau trụ sở Quận Nam Hòa, ra đến bờ sông Tả Trạch (Thượng nguồn sông Hương)... Đến bờ sông, Việt Cộng cho chặt cây lồ ô (nứa) làm bè để tất cả đoàn người vượt qua sông (khu vực lăng Gia Long), thuộc vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc (vùng núi tranh). Từ đó, chúng tôi bắt đầu đi sâu vào rừng, ban đêm, trời lạnh lắm, khi lên đồi, lúc xuống lũng, lúc lội qua khe... Khoảng 30 bộ đội miền Bắc dẫn chúng tôi đi, họ dùng đèn pin hay đuốc để soi đường, chúng tôi đi trong rừng tre nứa và cây cổ thụ dày đặc... Khoảng nửa đêm, chúng tôi được dừng lại để nghỉ và mỗi người nhận được một vắt cơm. Chúng tôi đoán đã đi được trên 10 cây số rồi! Chúng tôi ngồi gục đầu dưới cơn mưa, cố gắng ngủ một chút để lấy sức còn phải đi tiếp... Bỗng như có linh tính báo trước, người tôi run lên bần bật... Tôi nghe hai tên bộ đội nói nhỏ với nhau:

- Trong vòng 15-20 phút nữa sẽ thủ tiêu hết bọn nầy!

Tôi liền ghé miệng vào tai thằng bạn bị trói ngay trước mặt:

- Tụi mình ráng mở dây trốn đi! Mười lăm phút nữa là bị bắn chết hết đó!

Trời mưa, dây điện trơn trợt, lát sau, chúng tôi mở được giây nhưng vẫn ngồi yên sợ chúng biết. Tôi nói nhỏ:

- Hễ tao vỗ nhẹ sau lưng là tụi mình chạy nghe!

Bọn Việt Cộng đánh thức chúng tôi dậy, một tên nói lớn cho mọi người nghe:

- Chúng ta sắp đến trại học tập rồi. Ai có vàng, tiền, đồng hồ, bật lửa... thì đem nộp, không được giữ trong người... Học tập xong sẽ được trả lại...”

Thế là bọn chúng lột sạch và cho tất cả vào mấy cái ba lô vải. Tên bộ đội đứng gần chúng tôi còn mang trên vai cả chục cái radio mà chúng đã cướp được của dân ở thành phố... Một tay mang súng, một tay mang các thứ vừa cướp được, hắn đi chậm lại cách xa mấy tên kia một quãng... Chúng tôi bắt đầu xuống dốc, nghe tiếng nước chảy róc rách... Tôi vỗ nhẹ vai thằng bạn và cả hai chúng tôi vung tay và nhanh nhẹn phóng ra khỏi hàng. Tôi đá mạnh và tên bộ đội mang nhiều radio... Hắn ngã nhào! Hai chúng tôi lao vào rừng...

Trời tối, rừng già chúng không giám đuổi theo... Khi nghe tiếng đoàn người đi khá xa, chúng tôi mới bò ra khỏi chỗ ẩn núp và đi ngược trở lại... Chừng 15-20 phút sau, chúng tôi bỗng nghe từ phía dưới vọng lên tiếng súng AK, rồi lựu đạn nổ vang rền... Một góc rừng rực sáng! Chen vào đó tiếng khóc la khủng khiếp... không hiểu sao lúc đó, tai tôi nghe rất rõ ràng... Lúc đó khoảng 12-12 giờ 30 khuya... đầu ngày 8 Tết (6/2/1968). Về sau tôi mới biết chỗ đó là Khe Đá Mài...” (Bài thuyết trình của cựu Dân biểu VNCH Nguyễn Lý Tưởng tại cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tổ chức tại Việt Nam Center (Lubbock, Texas) từ ngày 13 đến 15/3/2008)

Đối diện sự thật

Ông Võ Văn Bằng, Trưởng Ban Cải táng Nạn nhân Cộng sản Tết Mậu Thân nói với đài Á Châu Tự Do (RFA) năm 2008: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạc trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng…”

Vẫn theo RFA thì Nhà báo Vũ Ánh, nguyên phóng viên mặt trận hệ thống Truyền thanh quốc gia VNCH, đã có mặt tại Huế từ ngày 5 đến 29 Mậu Thân và đi theo nhiều nhóm tìm hầm chôn tập thể kể lại cảm giác của ông: “Vùng nhiều nhất là quận Phú Thứ và Dạ Lê Thượng có nhiều hầm chôn xác tập thể. Cảm giác của tôi lúc ấy rất lạ, như là bị tê liệt khi nhìn các hình ảnh đó…

“Ngay ở hầm Phú Thứ, chắc khoảng gần 1.000 người. Khui lên, đầu của họ phía sau sọ bị bể hết. Những thi hài bị nối nhau bằng dây điện thoại. Có những người không có vết thương, chứng tỏ bị chôn sống”. (RFA online ngày 1-2-2008)

Trong bài nói chuyện tại buổi 40 năm Tưởng niệm Tết Mậu Thân, Việt Báo Gallery, thứ Bảy 29-3-2008, Nhà văn Nhã Ca tác giả “Giải Khăn Sô Cho Huế” nói:

“Bốn mươi năm trước đây, đúng vào giờ trưa mùng Hai Tết, tại Cửa Đông Ba Huế, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau khi đột nhập, cộng sản khai diễn cuộc tàn sát. Toán nạn nhân đầu tiên gồm 5 thường dân-không hề có người lính Cộng Hòa nào. Tất cả bị trói, bắt đứng quay lưng vào tường thành. Dân chúng đứng coi. Súng AK nổ. Từng người gục chết. Sau cuộc hành hình, thân nhân những người bị bắn nhào ra muốn ôm xác. Họ bị đánh, bị đá, bị đuổi. Xác người bị phơi ngày phơi đêm. Nắng. Máu. Ròi bọ…

“Và cuộc tàn sát tiếp tục. Không bằng súng đạn mà bằng cách chôn sống. Những nạn nhân bị cột trói bằng dây điện dính chùm xếp hàng bên hố. Một vài người bị đập đầu. Cả dây người đang sống bị đạp xuống hố đè lên nhau. Cái đầu nào ngóc lên bị đập bằng cuốc. Cứ thế mà chôn hàng ngàn người. Bạn tôi, chị Tâm Túy cũng đã bị chôn sống. Khi xác đào lên, thấy hai tay chị vói lên như đang cố cào bới đất. Móng tay, móng chân mọc dài hơn. Tóc mọc dài hơn…Bạn tôi bị chôn sống khi còn đầy sức sống..”

“Huế Tết Mậu Thân. Hàng ngàn người đã bị chôn sống như thế”. (Việt Báo ngày 31-3-2008)

Cư sĩ Trí Lực, người đã chôn cất những xác chết nằm lại sau biến cố Mậu Thân kể lại với RFA về nỗi kinh hoàng của ông:

“Hai mươi sáu ngày sau, sau khi Cố đô Huế bình định trở lại thì tôi tận mắt chứng kiến những hầm chôn tập thể được khai quật lên từ vùng Bãi Dâu Gia Hội, những người xấu số đã bị trói quật lại sau lưng và có những mảnh xương sọ bị vỡ nát. Cảnh kinh hoàng là cộng sản đã chon sống bao nhiêu người dân vô tội.

“Nhà văn Đinh Lâm Thanh, hiện sống ở Pháp, cũng là chứng nhân của biến cố Mậu Thân kể:

“Gia đình của tôi vùng Phủ Cam là một, vùng An Vân Thượng là hai, Gia Hội là ba. Bà con xa bà con gần của bên họ ngoại của tôi gồm cả thảy 12 người. Trong 12 người đó, có người bị chôn sống, có người bị bắn tại chỗ, có người bị chặt đầu, có người bị mổ bụng”. (RFA online ngày 7-2-2012)

Ông Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu khu vực Thừa Thiên Huế kể lại trong“cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tổ chức tại Việt Nam Center (Lubbock, Texas) từ ngày 13 đến 15/3/2008”: “Mồ chôn tập thể: Các nạn nhân bị thảm sát tại Huế và Thừa Thiên được tìm thấy tại trường tiểu học Gia Hội, chùa Therevada, Bãi dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng Viện, khu vực phía Tây Huế gần lăng Tự Đức và lăng Đồng Khánh, cầu An Ninh Thượng, cửa Đông Ba, trường An Ninh Hạ, trường Văn Chí, Chợ Thông, Lang Xá Cồn, gần lăng Gia Long, gần chùa Tường Vân, Đông Gi (Di), Vinh Thái, Thủy Thanh, Lương Viện, Phù Lương, Phú Xuân (Phú Thứ), Thượng Hòa, Vinh Hưng, Khe Đá Mài... tất cả 23 địa điểm tại tổng cộng 2326 xác chết (sọ người). Còn khoảng trên 3,000 nạn nhân thuộc tỉnh Thừa Thiên và Huế đã được thân nhân xác nhận là chết hoặc bị bắt đi thủ tiêu, mất tích... không biết họ đã bị giết chết và chôn xác ở đâu?!

Dã man nhất là tại Khe Đá Mài (thuộc vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc, quận Nam Hòa, tỉnh Thừa Thiên) Việt Cộng đã dùng súng trung liên, đại liên, lựu đạn và mìn giết tập thể các nạn nhân, vất xác xuống dưới khe, lâu ngày thịt thối rữa bị nước cuốn đi, chỉ còn 428 sọ người, xương người dồn lại một đống. Người ta đã dựa vào các dấu vết còn lại của nạn nhân như áo len, tượng ảnh, giấy căn cước bọc nhựa (ID)... để biết được thân nhân của mình đã chết ở trong đống sọ và xương lẫn lộn đó. Đa số những nạn nhân nầy là giáo dân bị bắt ở nhà thờ Phủ Cam vào đêm mùng 5 Tết (3 tháng 2/1968) Người ta cũng tìm thấy vết tích của hai ông Lê Hữu Bôi (chủ tịch sinh viên Phật tử năm 1963) và Lê Hữu Bá (sĩ quan Quân Cảnh) tại Khe Đá Mài. Các em học sinh như Bùi Kha (16 tuổi), Phan Minh (16 tuổi), Nguyễn Duyệt (17 tuổi) và nhiều bạn trẻ khác thuộc giáo xứ Phủ Cam cũng bị VC giết hại tại đây...”

Lê Phong Lan nói thật không?


Trái với những lời kể này, Bà Lê Phong Lan cho biết bà đã phỏng vấn ông Lê Khả Phiêu - người chỉ huy một trung đội trong sự kiện Mậu Thân 1968 tại Huế; lãnh đạo Thanh niên phật tử tranh đấu ở Huế theo Cộng sản nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân; nhà báo Mỹ Stanley Karnow, cựu phóng viên tờ Washington Post Don Lux; GS sử học Larry Berman, và cả những người lính từ hai phía.

Bà nói: “Những dẫn chứng lịch sử cho thấy thông tin bị làm méo mó. Vào thời điểm đó, một số hãng thông tấn nước ngoài và các nhà báo độc lập đã tìm hiểu và xác định không tìm thấy hố chôn người tập thể như phía Việt Nam Cộng hòa đưa ra. Câu chuyện của những nhân chứng có thẩm quyền đã làm sáng rõ: cái gọi là "cuộc thảm sát đẫm máu” chỉ là đòn tâm lý chiến mà Mỹ dựng lên, thực tế Huế đã bị bom Mỹ phá hủy làm nhiều thường dân chết cùng với quân giải phóng và lính Mỹ.”

Nhưng, “ông Trương Như Tảng (cựu Bộ trưởng Tư pháp Cộng hòa miền Nam Việt Nam, về sau ly khai chính phủ và vượt biên sang sống lưu vong ở Pháp), thì trong cuộc chiếm đóng Huế, một số lớn người đã bị xử tử vì thuộc thành phần phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (viên chức, cảnh sát, sĩ quan, chính trị gia, địa phương quân...) nhưng cũng có người bị giết mặc dù không tham gia chiến trận. Ông dẫn lời một người bạn rằng do kỷ luật kém ở một số đơn vị, một số thường dân cũng nhân dịp hỗn loạn để trả thù nhau nên đã có những vụ giết hại vô cớ. Một bản báo cáo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng bắt được ngày 25 tháng 4 năm 1968 ghi nhận, họ đã "diệt 1.892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, 790 tên ác ôn, sáu đại úy, 1 trung úy, 20 thiếu úy và nhiều sĩ quan trừ bị…" trong cuộc chiếm đóng Huế.” (Tài liệu trích theo Hồi ký của ông Trương Như Tảng trên Internet)

Ngoài ra, báo cáo chính thức sau Mậu Thân ở Huế còn cho biết: “Một vụ thảm sát gây phẫn nộ dư luận quốc tế là vụ giết 4 bác sĩ người Đức sang giảng dạy và làm việc tại trường Đại Học Y Khoa Huế. Trong bài viết “The Vietcong Massacre at Hue,” xuất bản năm 1976, một bác sĩ có tên Elje Vannema, kể rằng ông bà bác sĩ Horst Gunther Krainick và hai bác sĩ Raymund Discher cùng Alterkoster đã bị giết trong tháng Hai năm 1968 tại chùa Tường Vân hoặc một vùng đất nhiều cây cối cách chùa chừng nửa dặm, nơi người ta tìm thấy thi hài của các nạn nhân. Bác sĩ người Pháp, có tên Le Hir khám nghiệm tử thi các nạn nhân cho biết có dấu vết đạn xuyên qua đầu và ót.”

Như vậy thì Đạo diễn Lê Phong Lan đã biết gì về Mậu Thân ở Huê?

Bài báo năm 2013 của tôi kết luận: “Chẳng nhẽ những người sống sót và nhân chứng đã bịa đặt ra chuyện thảm sát để vu oan cho quân Cộng sản hay bà Lê Phong Lan đã cố tình làm phim để chạy tội cho quân Cộng sản?

Dù cho thế nào thì cũng sẽ có ngày vụ giết thường dân vô tội ở Huế trong vụ Mậu Thân 1968 sẽ được bạch hóa vì lịch sử và những nạn nhân, hay con cháu của những người bị lính Cộng sản tàn sát ở Huế vẫn còn đó. Ngay cả những oan hồn do họng súng, dao găm, búa rìu hay dây nhợ cột vào thân nối nhau bị đẩy xuống hố vẫn còn vất vưởng ở khắp thành phố Huế và vùng phụ cận.

Từ bao nhiêu năm qua, người dân ở Huế đã cố quên đi nỗi đau buồn khi mỗi dịp Xuân về, nhưng năm nay thì bà Lê Phong Lan thay vì đem đến cho họ món quà Tết thì bà lại cố tình lấy dao cắt vào thớ thịt của mỗi người bằng bộ phim “Mậu Thân 1968” để nhắc cho dân Cố Đô biết rằng máu vẫn chưa khô trên thành phố Huế."(hết trích)

Và Tết Bính Thân năm nay (2016) , tôi vẫn hình dung được máu của những người dân vô tội xứ Huế sẽ lại hiện lên. Bởi vì, trong khi sự thật vẫn đang ở trước mắt thì các sách giáo khoa Lịch Sử của Bộ Giáo dục Việt Nam, cho đến bây giờ, vẫn không dám nói đến thảm sát ở Cố Đô. -/-

(Tết Bính Thân)
Phạm Trần
danlambaovn.blogspot.com


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”   Today at 5:45 am

Về Đầu Trang Go down
 
Vui Xuân Bính Thân, xót xa “Tết Mậu Thân”
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Chính Trị-
Chuyển đến