Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
thang nguoi trai cong ngoc rang thuy nhung PHAT viet huyen Thầy HUNG nguyen nghia mien nghe cuoc quan phung sinh pham lang Ngày tien thanh
Latest topics
March 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
vandinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Sat Mar 29, 2014 6:25 pm


Người lính trong lửa đạn, và sau trận chiến - Phan Nhật Nam

 



I. Tháng Chín, ba mươi hai năm trước, 1972 đã là lần lịch sử chuyển mình, núi rừng, đất trời miền Nam đồng vang dội chiến công.

Quân Nam quyết liệt xốc tới nơi những chiến trường Quảng Trị, Bồng Sơn, Kon-Tum, An Lộc… hiện thực một lần nghĩa vụ linh thiêng muôn thuở của người lính – Bảo Quốc An Dân – Sứ mệnh không hề nói thành lời, và được hiện thực với chính máu xương của những con người vô danh cao thượng mà Ðằng Phương, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy mấy mươi năm xưa đã viết nên những dòng máu lệ ngợi ca hùng tráng.

Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước…

Nội dung vĩ đại trên được thực hiện qua những cảnh tượng hùng tráng: Ngày 25 tháng 6, 1972, chiến dịch tái chiếm Quảng Trị khai diễn với các đơn vị, Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, lực lượng diện địa của Tiểu Khu Quảng Trị, phối hợp với các chi đoàn chiến xa, thiết quân vận của Quân Ðoàn I, được yểm trợ bởi các đơn vị pháo cơ hữu, và của vùng chiến thuật dưới quyền chỉ huy của Tướng Quân Ngô Quang Trưởng.

Ðoàn quân quyết tử phục hận đồng vượt tuyến xuất phát Sông Mỹ Chánh tiến theo trục chính Bắc với mục tiêu cuối cùng – Cổ Thành Ðinh Công Tráng hay Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Trị – mà quân ta phải tạm lìa bỏ từ 29 tháng Tư do những ước tính sai lầm của những cấp chỉ huy, giới chức lãnh đạo.


Tái chiếm cổ thành Quảng Trị

Từ Ngã Ba Long Hưng, cửa ngõ phía Nam Quảng Trị, điểm tiến quân cao nhất của Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù trong ngày 7 tháng 7, 1972, đến Cổ Thành Ðinh Công Tráng đoạn đường dài khoảng một cây số, và bề ngang từ nhà ga phía cực tây đến làng Công giáo Trí Bưu phía đông, khoảng cách cũng có bề rộng tương tự. Trên khoảng đất rộng hơn cây số vuông kia, mười lăm ngàn người lính của những đơn vị kể trên đã thay phiên nhau bò, trườn, ẩn núp, gọi pháo, đánh bom, ném lựu đạn, đánh cận chiến ngày lẫn đêm suốt đoạn thời gian liên tục 67 ngày, để đến ngày 14 tháng 9, 1972 những người lính của các Tiểu Ðoàn TQLC đồng lần siết chặt mục tiêu, dựng ngọn Cờ Vàng bay lộng trên gạch đá điêu tàn, giữa tiếng đạn, khói thuốc súng của trận chiến đang hồi kết thúc.




Cờ lên!
Cờ lên! Giữa vũng lửa... Ở Quảng Trị,
Dân với quân cùng lần nước mắt ứa
Một bận Cờ bay Cổ Thành xưa
Bao phần máu xương người lính đổ…

Chiến tích kỳ diệu trên ắt phải được nung nấu từ một nguồn thúc giục vô vàn mãnh liệt mà không thể mua bằng một giá biểu lương bổng nào dầu cao đến bao nhiêu, chắc chắn cũng không do từ một huy hiệu, cấp bậc tưởng thưởng… Người lính đã bậm chặt môi, nghiến răng xốc tới bởi từ dưới những đụn cát loang lổ vùng Hải Lăng, Giáp Hậu, chen giữa những xác chết nặng mùi có những dạng người cử động… Những người sống sót từ lần thảm sát khi rời bỏ Quảng Trị trong ngày 29 tháng Tư, trên đường chạy về Huế, lọt vào ổ phục kích vùng hỏa tập tiên liệu của đơn vị cộng sản, chín cây số nam La Vang kéo dài đến cầu Câu Nhi Phường, xã Giáp Hậu, quận Hải Lăng. Những người sống sót hồi sinh với tiếng nói đứt khúc, thì thầm hấp hối… Lính tới… Lính Cộng Hòa tới…

II. Sau 30 tháng 4, 1975, những người lính kể trên có thể đã chết (theo một tỷ lệ khả thể rất lớn) theo lần sụp vỡ quê hương.

Không phải với cách chết bình an lành lặn, nhưng chết với xác thân bị dầm xé, những tay chân gãy gập, đứt đoạn, xương cốt dập vỡ… Những người chết bị kết án, sỉ nhục từ những ngày sống thoi thóp, và chết đi trong uất hận căm hờn rung động đến cùng tận đất trời. Tiếng gào đau nầy đã dậy lên suốt tuổi trẻ trên từng trang sách của hơn ba-mươi năm qua…

Bởi bản thân vẫn mãi mãi và luôn chỉ là – Người Lính của một Quân Ðội hằng sống, chết vẹn toàn để thực hiện sứ nhiệm báo ân cùng dân tộc khổ nạn trên quê hương điêu linh – Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.


Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn chống trả quyết liệt những ngày cuối Tháng Tư

Nhưng có những con người – những người lính vẫn tồn tại. Phải tồn tại. Họ không chỉ là những người lính bình thường với nỗi truân chuyên, gian khổ, nguy nan đặc thù riêng của đời lính mà là những quân số chịu phần oán nghiệt khốc liệt nhất trong toàn tập thể quân đội – Những thương phế binh bị loại ra khỏi cuộc chiến từ lúc chiến tranh đang nặng độ. Ðây lại là những thương phế binh của một quân đội thất trận, ở lại sau cùng khi những người chỉ huy đã tráo trở đầu hàng, tan hoang tháo chạy, hoặc cùng đày bó tay bẻ súng, vị quốc vong thân. Không vũ khí, không đủ cả giác quan, tay chân, họ ở lại hứng trận đòn báo thù hèn hạ từ một tập đoàn thắng trận bạo ngược tàn nhẫn nhất trong lịch sử đông-tây, mà thông thường khi cuộc chiến chấm dứt, những phe lâm chiến hằng đối xử nhau một cách văn minh với tính bình đẳng huynh đệ… Pháp-Ðức, Mỹ-Nga, Hoa-Nhật… Nhưng, ở Việt Nam, nơi Miền Nam, một bên, kẻ thắng trận, tổ chức bạo lực phát động chiến tranh, giành luôn quyền giết người và thực hiện tội ác vì “độc lập, tự do, hạnh phúc cho đời đời con cháu mai sau!” và một bên, tập thể những con người trần trụi tuyệt vọng, đối tượng của một chính sách bức hại thâm độc vô nhân tính không cơ may được khoan thứ, không phương tiện chống giữ, không hy vọng thoát thân.




Ðau thương hơn nữa, họ không chịu riêng một mình mà kéo theo những người thân thích, nói rộng ra, một lần với miền Nam thất trận cùng đành. Cái chết cũng vô nghĩa và không thể thực hiện được bởi khả năng cuối cùng nầy đã hoàn toàn bị tước bỏ. Họ thật tận chết từ trong mỗi ngày giờ hiện sống, qua bức hại, thanh trừng, lưu đày, hành hình trên chính quê hương từ những người gọi là đồng chủng tộc…

Chúng ta hãy cùng sống lại từng bước của buổi trường chinh vô hạn khốn cùng của mỗi đơn vị người gọi là Thương Phế Binh, với những người mẹ, vợ, và những đứa con của họ. Những trẻ nhỏ hoàn toàn vô tội và vô hại cho dù xét xử dưới bất cứ chế độ chính trị, xã hội nào.

1- Ðứa nhỏ chết dưới đường cống Sài Gòn

Nầy đây, chúng ta hãy nghe thương phế binh Nhị Nguyên viết về hai con nhỏ của tử sĩ Nguyễn Văn Thuận, đơn vị sư đoàn Nhảy Dù, quê Long An… “Thằng Nô, 12 tuổi, Phát 14 tuổi cùng mẹ đi vùng kinh tế mới ở Ðồng Tháp Mười, nhưng đời sống quá cực nhọc và không đủ ăn, bà mẹ dẫn hai đứa con về Sài Gòn sống lang thang. Nô và Phát thường khoe với chúng tôi rằng, cha chúng đi lính mặc áo hoa rừng chết vào mùa mưa 1972. Mẹ chúng đã khóc như mưa lúc nhận xác cha, nên mỗi khi vào mùa mưa, chúng cảm thấy buồn buồn. Gần đến ngày giỗ cha, chúng cố ‘làm ăn’ cho có nhiều tiền để về Long An thăm mẹ. Thường khi các bạn đồng lứa bắt đủ cá xong trở lên mặt đường ngủ thì chúng nó tiếp tục lặn dưới các ống cống thành phố để tìm thêm cá. Có những buổi sáng, chúng tôi thấy hai anh em rét run vì ngâm dưới nước quá lâu.”

“Vào một đêm nọ, tôi thấy hai anh em thằng Nô, Phát lặng lẽ mở nắp cống chui xuống, khoảng vài ba giờ sau thì sấm chớp rầm rầm, chúng tôi choàng thức dậy tìm chỗ trú mưa. Một trận mưa như vũ bão đổ ào xuống thành phố và kéo dài cho đến sớm. Bình thường, hai anh em thằng Phát ở lâu hơn bạn bè dưới cống, nhưng sao giờ nầy chúng nó vẫn chưa lên? Thôi rồi, tôi hốt hoảng hiểu ra mọi sự… Anh em chúng tôi báo động với nhau, hỏi thăm những đứa trẻ đang ngủ gà, ngủ gật cạnh những đống rác ‘giữ chỗ’ cho công việc sáng hôm sau (để moi, nhặt rác). Chẳng đứa nào thấy hai anh em thằng Nô. Cho đến một hôm, ba mươi – ba ngày sau, một đứa khác đang lội bì bõm ở ống cống gần chợ Cầu Ông Lãnh tìm cá, bất ngờ đụng phải một cái gì gống như ‘trái dừa,’ nó nhặt lên, soi dưới ánh đèn, hét tiếng lớn và bỏ chạy. Sợ quá, nó chui đại lên miệng cống ngay gần chợ trước sự kinh ngạc của bạn hàng, nó vừa lượm một cái đầu lâu. Cả chợ hay tin đó liền kêu đội dân quân gác chợ mở cống tìm xác hai đứa nhỏ, nhưng cuối cùng chỉ nhặt được một khúc đùi đã thối rữa, và nửa thân người còn lại. Bọn trẻ nhận ra cái quần đùi màu đỏ của thằng Phát, bên trong còn ít tiền gài kim băng cẩn thận. Tiền đó thằng Phát để dành về quê giúp mẹ làm đám giỗ cha.”

2- Về những người vợ lính

Chúng ta nghe tiếp về những người vợ lính, vợ thương phế binh… Ðấy là những người đàn bà bình thường, đơn giản, trú ngụ ở các trại gia binh của các đơn vị quân đội. Những người đàn bà chỉ ao ước mỗi tháng được mua hàng quân tiếp vụ, thăm chồng nơi chốn hành quân xa với tay xách đựng vài ổ bánh mì, nải chuối, biểu lộ tình nghĩa vợ chồng qua tiếng lời trung hậu, tội nghiệp… Cũng chính họ đã gánh chịu tai họa chiến tranh ngang tầm của người chồng trong cách thế im lặng, thụ động và cam phận… Những buổi sáng tinh mơ trước khi đoàn xe lăn bánh ra khỏi hậu cứ, họ đã có mặt với những đứa con còn ẵm ngửa, đứa dắt tay. Họ biết nói gì với chồng trước mỗi lần đi ngoài lời thầm xin cầu nguyện… Mong lần đi có khi trở lại, và nếu người chồng trở về với những thương tật không thể bù trừ, những mất mát không hề được tái sinh, họ chấp nhận sự thiệt hại đau thương, giá máu đổ xuống một cách khắc kỷ cao thượng qua lời nói nhẹ tênh… “Ừ thôi, ba hắn không chết là tui mừng rồi, còn vợ, còn chồng là được.” Và đời họ, người chồng lính, những đứa con sẽ kéo dài bình an chìm lặng từ nỗ lực đôi vai, chiếc lưng ngồi hằng ngày nơi phố chợ, hoặc với quang gánh nhọc nhằn trên đường xa. Tất cả khổ đau hoạn nạn được quên khuất nhanh chóng với câu nói bình thản… “Ba sắp nhỏ dù đui què, mẻ sứt chi mà còn sống là tui cũng yên lòng.”

Tất cả mối mong ước bình an chịu đựng nhỏ bé nầy đồng bị đổ nhào, lật ngược một cách tàn nhẫn nơi ngày 30 tháng 4, 1975… Chồng chị Liên là anh Hơn, phế binh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh, cụt một chân và lao phổi nặng. Một hôm đi bán nhang chẳng may băng qua đường bị trợt té, một chiếc xe hàng chạy qua thắng không kịp, đầu anh bị cán nát, lòi cả óc ra ngoài. Dẫu chồng chết, chị Liên cũng đã lây bệnh ho khậm khẹt và không hiểu sao chị sợ màu đỏ quá. Nó giống máu hòa trong nước miếng của chồng chị nhổ ra sau mỗi cơn ho, nó cũng giống màu cờ đỏ treo khắp thành phố. Liên cùng chị Mạc, vợ một phế binh khác, và chị Nguyệt lên Long Khánh buôn củi lậu. Cả ba đi tàu chui và khi gần đến ga Bình Triệu thì tuôn củi xuống, Liên có đứa con trai lớn tên Ðức, nhanh nhẹn giúp đỡ mẹ rất đắc lực, nhưng chị Mạc với bé Hoa mới 5 tuổi thì thật là khó khăn, nguy hiểm khi nhảy tàu, vừa bế con, vừa tuôn củi. Liên khuyến khích bạn, “Chị đừng lo, thằng Ðức con tôi sẽ cõng con Hoa nhảy giùm cho…” Nhưng sự “may mắn” không đến với chị Liên được mãi, tai họa đã xẩy ra như một điều tự nhiên của nghiệp khổ phận người Việt Nam.

Một hôm, trời mưa tầm tã, bảo vệ chia nhau ngăn chặn các toa xe. Ðể cứu lấy món hàng, Ðức và những đứa nhỏ leo lên trần xe và chuyền những bó củi qua cửa sổ. Một đứa tuột tay bị cuốn vào bánh xe lửa, thân thể bị nghiền nát vụn dọc theo đường tàu. Về đến ga Thủ Ðức, chị Liên vẫn không thấy thằng Ðức đâu, hỏi thăm lũ nhỏ, có đứa bảo thấy thằng Ðức leo mui xe lửa trốn bảo vệ. Nhưng đến ngày hôm sau, Liên mới biết được rằng, khi xe qua cầu Biên Hòa, con chị đã bị đà ngang đánh vỡ đầu, rơi xuống đường ray, thây xác bây giờ không biết nằm đâu… Cuối cùng, chị Liên gia nhập lực lượng “tình nguyện hiến máu.” Chị có ý định sau khi gom được số tiền bán máu chị sẽ đi buôn lại như xưa vì bây giờ nghe nói cộng sản không còn “ngăn sông cấm chợ.” Chị đã đến các trung tâm tiếp huyết Thủ Dầu Một, Bình Dương, lên tận Lộc Ninh rồi vòng qua Biên Hòa để bán máu. Nhưng vì muốn mau thoát khỏi kiếp sống hè phố chị đã quên chính mình, thân xác càng ngày càng suy kiệt, mặt chị xanh xao, đi không vững, bị xây xẩm luôn. Một đêm chị ngủ trên ghế đá một công viên ở Chợ Lớn, sáng mai người ta tìm thấy xác chị cứng đơ. Khi đem xác đi chôn, số tiền để dành trong túi chị bị công an tịch thu vì không có chứng minh tài chính hợp lệ.

3- Cảnh sống/chết đọa đày của Gia Ðình Thương Phế Binh

Ðây, lời kể của chứng nhân Bùi Anh Sáu về lần “Ghetto, Làng Phế Binh Thủ Ðức” bị triệt hạ: “Ba giờ sáng ngày 1 tháng 7, 1975, Làng Phế Binh Rạch Chiếc Thủ Ðức bị đánh động, vây chặt bởi một đơn vị bộ đội đông đúc có cả xe tăng yểm trợ.

Một đoàn xe chờ sẵn để dồn mọi người lên vùng kinh tế mới Sông Bé (Phước Long cũ)… Kinh tế mới là gì, chẳng ai biết? Sông Bé ở đâu, người người bàn tán xôn xao. Trẻ nít khóc rân, người lớn nháo nhác hốt hoảng dồn đồ đạc, áo quần dưới ánh sáng luồn sục, thúc giục của đèn xe và đèn pin và lời quát tháo chửi mắng… “Chúng mầy là gia đình bọn ngụy quân, lính đánh thuê cho đế quốc Mỹ, có nợ máu với nhân dân, chúng mầy không được quyền ở đây, phải trả lại tài sản cho nhà nước và nhân dân!”

“Chen trong chuỗi la ó hỗn loạn kia có những âm thanh nổ bùng, sắc gọn sau tiếng la hét uất hận… Những thương phế binh tự sát cùng với gia đình, từ chối lên vùng kinh tế mới. Ðến sáng, toàn khu làng phế binh ngày thường sầm uất nhộp nhịp nay vắng hoe, heo hút những đám cháy nhỏ gồm những vật gia dụng bộ đội không cho đem theo; chỉ còn những đơn vị bộ đội đứng gác và các toán đi lại, vào từng nhà kiểm kê. Một đoàn xe khác từ Sài Gòn đến, sau khi đã chất đầy những đồ đạc để sẵn ngoài sân, phủ bạt kín, chạy ra xa lộ, hướng về phía Bắc.”

Gần một năm sau, tất cả những gia đình đi kinh tế mới ở Sông Bé đồng trở về vì không chịu đựng nổi cảnh sống quá cực khổ ở vùng núi rừng hiu quạnh. Có gia đình về không đủ như lúc ra đi vì đã để lại thân xác nơi rừng sâu; có gia đình thì đông hơn trẻ nít, nhưng tất cả đều ốm yếu, nước da vàng vọt, người đầy ghẻ chốc. Họ không còn nhà, nên thường cất những chòi bằng giấy cứng quanh nghĩa địa. Người sống và người chết chen nhau. Vào ngày nắng gắt hoặc mưa giông, nghĩa địa bốc mùi tanh nồng nặc, dần dần ai nấy đều có nước da tai tái như người chết. Nhà cửa khu trại gia binh bị trưng thu, vùng kinh tế mới sống không nỗi, lấy nghĩa địa làm nhà, lề đường là vùng sinh sống, đám dân cùng khổ biến thành “tệ đoan xã hội”, đối tượng của chính sách dồn ép và quét sạch để “làm đẹp tổ quốc giàu, mạnh, xứng đáng thành phố mang tên bác kính yêu.”



Vùng Kinh Tế Mới

Chúng ta nghe tiếp lời của phế binh Bất Hạnh, hiện ngụ tại Khánh Hội, Sài Gòn: “Những cuộc truy quyét thu gọn rầm rộ được phát động trong những xóm lao động, dài theo đường phố Sài Gòn, những vật dụng ăn cướp của đám bần dân bị công an quăng đầy lên xe cây: cây dù, tủ thuốc lá, xe xay nước trái cây, xe bán nón, đòn gánh, rỗ bánh tráng… Chưa hết, bên cạnh những chuyến xe chở hàng tịch thu là những chiếc xe bít bùng chở đầy người già, trẻ nít, người tàn tật, những bà mẹ cùng những đám con thơ nheo nhó đỏ hỏn bế trên tay… Tất cả đồng đưa về trại tập trung về tội “lấn chiếm lề đường.”

Này đây, một cuộc bố ráp điển hình ở Khu Hàng Xanh: “Tôi (Bất Hạnh) không may lọt ổ phục kích, chưa biết phải làm gì trước tình huống thì một xe công an từ đâu phía sau chạy tới, một tên nhảy xuống, giật thùng đồ nghề (vá xe) quăng lên xe. Thế là trắng tay! Làm sao để sống đây hở trời? Những nơi khác, quanh Ngã Tư, tiếng la hét, khóc than vang lên tới tấp. Một chị phụ nữ la thất thanh, chị đang giằng co với một tên công an thúng trái cây, bên cạnh bên chị, hai cháu bé, đứa khoảng 5 tuổi, đứa chừng 3 tuổi bò lăn trên những trái mận, ổi, khóc vang khi thấy mẹ bị tên công an đá quay lông lốc…”

4- Ðối mặt với một chính sách diệt chủng


Sáng ngày 1 tháng 5, 1975, một địa ngục có thật mở ra trên Miền Nam, càng đậm sắc với những người tàn phế ở các quân y viện… Một toán Việt cộng tiến vào Bệnh Viện 3 Dã Chiến buộc chúng tôi rời viện ngay tức khắc. Bọn người này chưởi bới chúng tôi là phản quốc, tay sai đế quốc v.v… Phản quốc nào, quê hương chúng tôi bị chúng xâm chiếm. Tay sai đế quốc nào khi dân tộc chúng tôi, thân thể chúng tôi bị đạn Nga, Tàu gây thương vong. Những chiếc “nón cối” nầy đại diện cho ai mà dám la hét: “Cút, cút ra khỏi đây. Bọn ngụy chúng mầy không được nằm tại đây. Ðồ lính đánh thuê, lũ quân bán nước!” Chúng tôi người này đỡ người kia khập khễnh ra khỏi trại, có những chiến hữu vết thương đang rỉ máu bị vất trần truồng tênh hênh trên lề đường… Gia đình mừng rỡ thấy tôi trở về, nhưng trong hoàn cảnh này ai cũng lo âu cho tương lai của mình.

Hằng ngày tôi thấy trước mặt từng đoàn người, già có, trẻ có và những đám con nít thay phiên nhau giành giựt những thùng đồ hộp, gạo sấy, máy móc từ trong những nhà kho. Dòng người đổ xô tràn vào những kho tồn trữ dưới chân cầu Tân Thuận bị những người đội nón cối xả súng bắn thẳng… Nhiều người giãy giụa dưới đất, trong vũng máu. Dân chúng chạy tản trốn, nhưng vài phút sau họ lại tràn vào đông hơn, bất kể súng đạn, ai bị thì té xuống, những người khác thì cứ nhào lên cậy cửa… Khi những ngày hỗn loạn đầu tháng 5, 1975 qua đi, những thùng đồ hộp bọn em đem về dần cạn, người phế binh phải ra đường kiếm sống với những “nghề cứu đói”, vá lốp xe đạp, sửa hộp quẹt gaz, bán nhang…

Và cuối cùng, đi xin ăn. Nhưng tất cả không thể kéo dài khi Ba Nhiệm làm trưởng ban “Truy quét tệ nạn xã hội” với một bộ phận kinh hoàng, “Nhà nuôi Thị Nghè” được dựng nên để làm địa điểm chuyển tiếp giải quyết tất cả những đối tượng đang sinh sống trên, với vỉa hè, số lượng này càng tăng vọt khi tiếp nhận thêm hàng vạn người từ miền Bắc túng đói tràn vào… Tuy gọi là “nhà nuôi” nhưng thật ra nơi đó là nhà giam theo đúng nghĩa, những người bị đưa vào đây đều bị coi là “tội phạm hình sự,” do đó bị tra tấn và hành hạ thường xuyên. “Tội phạm” là những người bị bắt trong các đợt bố ráp lề đường, họ không có quyền khiếu nại là bị bắt trái phép hay không và cũng không có án phạt rõ ràng; thời gian ở đây được coi như để “nuôi dạy” nên không hạn định thời hạn giam giữ, nhiều người đã ở lại đây vĩnh viễn. Mỗi nhà nuôi có có vài căn trại, mỗi căn rộng chừng 200 thước vuông, với khoảng chừng 100 con người bị giam. Tối tối mọi người phải thay nhau chỗ nằm và ngồi quạt cho nhau. Sáng khi nghe kẻng điểm danh, người nầy gọi người kia, ai nằm im không cục cựa thì đem đi hỏa thiêu tại lò thiêu Bà Quẹo. Người sống thì đi lao động, kể cả người tàn tật, mù hai mắt, cụt tay, chân.

Nếu sống sót từ các “nhà nuôi,” trở về lại Sài Gòn, tình cảnh cũng chẳng sáng sủa hơn và cuối cùng tất cả đồng “chọn” một biện pháp “không còn chọn lựa”… Hoàng Thụy và Sơn, hai phế binh do quá kiệt sức vì bệnh lao và cụt hai chân nên được ra khỏi “nhà nuôi số 4” Phú Giăng, Sông Bé. Họ không dám đi ăn xin, chỉ “xin ăn” lại từ những người sống trong nghĩa địa.

Một buổi chiều, hai anh ra bến Bạch Ðằng, ngước mắt nhìn tượng Ðức Trần Hưng Ðạo một hồi lâu rồi nắm tay nhau nhảy xuống dòng nước chảy xiếc. Xác hai anh được vớt lên, cha anh Sơn đang bán bánh ú, bánh tét quanh chợ Bến Thành hay tin, đến nhìn xác con. Nhưng ông chỉ im lặng đứng chung với đám người hiếu kỳ, không dám nhận là thân nhân người xấu số vì không có tiền mai táng con mình. Ông đứng thẫn thờ nhìn chiếc xe chở xác con ông đi khuất rồi mới dám khóc.

Hoàng Thụy và Sơn không chết một mình, những người lính tàn phế lần lượt “chọn” cho mình những phương tiện và thời điểm thích hợp… Anh Thơm khi ngồi dưới chân cầu Sài Gòn, gần Ngân Hàng Quốc Gia có suy nghĩ rằng, do vợ chồng anh thiếu quan tâm nên đứa nhỏ con anh mới chết vì suy dinh dưỡng; mẹ nó đang “đi khách” ngoài chợ Bến Thành để dồn tiền cho anh làm vốn đi bán nhang… Anh quá mệt mỏi để nghĩ tiếp… Cuối cùng, anh mở hai tuýp thuốc ngủ trút hết vào miệng, bị say thuốc, anh ọc mửa đầy hết áo quần, xong dẫy mấy cái và ngủ luôn dưới chân cầu. Lộc “què” mắc bệnh ho lao, thắt cổ chết trong một toa xe lửa bỏ hoang ở Biên Hòa. Quý “Ðốc-tưa Zivago” không nuôi nổi mẹ già 80 tuổi, bất lực nhìn mẹ hằng ngày cầm lon ra chợ xin thức ăn nuôi thân và nuôi con, nên thắt cổ chết lè cả lưỡi ra. Thanh “liệt” thì mài dao tự cắt cổ, cứa mãi không đứt vì sợ đau, đâm bực mình liền chĩa mũi dao đâm cái phọt vào tim… Nhưng trong những thân thể thương tật kia, ý chí chiến đấu của người lính không hề tàn lụi, họ vẫn giữ nguyên bản lĩnh kiêu hãnh của một quân đội, một đơn vị hằng tạo dựng những chiến tích lừng lẫy, cho dù hành động phản ứng tuyệt vọng bi tráng của họ chắc chắn sẽ đưa đến hậu quả khốc hại cuối cùng với cái chết ghê rợn nhẫn tâm…

Câu chuyện sau đây của phế binh Khát Vọng, hiện ngụ tại Long Hải, Phước Tuy có thể dùng để tạm kết về buổi thụ nạn đau thương của Thương Phế Binh QLVNCH với tất cả bi hùng mà chỉ người trong cuộc mới có thể viết nên, kể lại: Khu chính trị trại Xuân Lộc, Long Khánh thường xẩy ra nhiều chuyện đau buồn. Anh Trần Văn Ðược, trung sĩ nhất Thủy Quân Lục Chiến, cụt một chân và mù một mắt trong trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị, Mùa hè 1972 bị bắt chung với trung úy Phạm Tấn Dũng, binh chủng Nhảy Dù, bị thương năm 1974 trong trận tái chiếm đồi 1062, Thường Ðức, Quảng Nam vì tội “hội họp bất hợp pháp, âm mưu lật đổ chính quyền.”

Một hôm, viên cán bộ quản giáo quê Nghệ Tĩnh vừa được chuyển tới, ra lệnh anh Ðược quét sân. Vì giọng nói người này khó nghe, nên anh Ðược vẫn ngồi yên uống nước trà. Gã cán bộ nhào tới xỉ vả và đánh anh một bạt tai. Nổi nóng, anh Ðược cầm lon guigoz dựng nước nóng tạt vào mặt nó và chỉ tay nói: Mày là giống gì mà mất dạy quá vậy? Bộ tao là súc vật à, ai cho mầy vô phép dữ vậy?!! Tao tuy tàn tật nhưng không để cho mầy sỉ nhục đâu. Ðồ quân mất dạy, con tao còn lớn hơn mày nữa mà… Ðược chưa nói hết câu, tên cán bộ nhào tới đánh anh vào đầu ào cổ, và chưởi rủa những tiếng khó nghe. Anh Ðược bị té xuống đất, nó liền đá vào đầu vào bụng anh. Thấy vậy, anh Dũng cà thọt chạy tới can, bị mất thăng bằng, anh níu áo tên cán bộ này và cả hai ngã xuống đất. Tức thì, bảy tám cán bộ quản giáo khác từ trong nhà chạy ra vây đánh hội đồng, cả hai anh lăn lộn chịu đòn trên mặt đất. Dũng hốt cát ném vào mặt mấy tên cán bộ, đang lúc chúng còn đang dụi mắt, Dũng nắm chân một tên kéo xuống, xong thúc cùi chỏ vào mặt y.

Một tên khác đi tìm một khúc tre làm cột phơi áo quần quất tới tấp vào mình, đầu anh Dũng. Tiếng bình bịch, bồm bộp vang lên khô khan, máu từ đầu và vết thương cụt của anh Dũng bê bết trên đất. Trại viên chạy ra năn nỉ xin tha, đám cán bộ chĩa súng đòi bắn, lùa tất cả mọi người vào phòng; Dũng và Ðược bị kéo lên văn phòng trại.

Trời bắt đầu tối, không ai còn lòng dạ nào để ăn cơm, từ phòng tra tấn đến phòng giam tập thể không xa nhau lắm, nên chúng tôi nghe được câu còn câu mất…

Nội dung những tiếng la hét, tra khảo và trả lời đại khái như sau:

- Mầy đeo cái gì tòn ten dưới cổ hả thằng kia?

- Thánh Giá.

- Cởi nó ra khỏi cổ ngay lập tức.

- Còn lâu. Không ai có quyền buộc tôi phải bỏ nó ra. Bộ muốn cấm đạo hả. Cây Thánh Giá này là tượng trưng cho tín ngưỡng của tôi, không ai có quyền buộc tôi bỏ ra.

Tức thì tiếng huỳnh huỵch vang lên, có lẽ chúng đá vào người anh Dũng. Tên cán bộ người Nam nghiến răng hằn học (chúng tôi chỉ nghe rõ tiếng Nam của tên nầy)… Ðạo hả… Ðụ má đạo… đạo nè…

Bớ người ta chúng đánh người… Họ giết chúng tôi! Anh Ðược gào lên nửa chừng rồi tắt nghẹn. Những tiếng “huỳnh huỵch… bồm bộp” lấn át tiếng la của Ðược. Chúng tôi chỉ nghe những tiếng rên rỉ dứt khoảng rồi im bặt.

Sáng hôm sau, cán bộ quản trại cho hay, hai anh Dũng và Ðược đã “hành hung cán bộ và cắn lưỡi tự tử chết.” Chiều tối, chúng tôi hỏi bốn người hồi sáng đi chôn Dũng và Ðược thì biết rằng xác hai anh đầy vết tím bầm, mắt của Ðược bị sưng tím đen, mặt Dũng thì máu đóng cứng. Hai anh có lẽ chết vì những vết thương ở đầu, máu dưới tóc cứng khô, cạy mãi không được. Khi bó xác, bốn người phải ký giấy chứng nhận các anh tự tử mới cho phép chôn.

III. Người phải lên tiếng nói…


Trong thời gian dài chiến tranh nơi Miền Nam, dẫu trên chiến địa hung hãn, bản thân chúng tôi chưa hề thấy lính Miền Nam hành hạ tù binh, đừng nói tù binh bị thương. Một trong những bức hình nổi tiếng của Nguyễn Ngọc Hạnh, có một tấm ảnh ít người kể ra: Cảnh một lính Dù vác thương binh Việt cộng ở mặt trận Chợ Lớn hồi Mậu Thân, 1968. Thế nhưng, bức hình Tướng Loan bắn tên đặc công lại được phổ biến khắp cùng báo Mỹ và thế giới. Hình như tác giả tấm hình đã có giọt nước mắt muộn màng hối lỗi. Quả thật, thế giới đã từ lâu im lặng đồng lõa cùng tội ác ở Việt Nam một cách quá đỗi hèn hạ và bất công. Phải, người phải lên tiếng nói, nếu không, sự im lặng sẽ là một biểu lộ cứng lòng nhẫn tâm đáng kết án. Thế nên, trong những năm qua, từ tây sang đông thế giới đã hằng có những tấm lòng xa xót cùng nỗi đau của người lính thương trận nơi quê nhà… Nhưng quả thật, tất cả đóng góp nầy chỉ mới là phần cứu nạn khẩn cấp, chứ so cùng thống khổ vô vàn kia vẫn còn rất nhiều thiếu sót.

Và kỳ diệu thay, nguồn mạch Tình Thương Việt Tộc – Nghĩa Ðồng Bào luôn tồn tại sắt son liên lụy mối đau thương kia đã chạm tái tim người – Những người không tham dự cuộc chiến, chưa hề mặc áo lính, nhưng lương năng khởi động từ trái tim xót đau – Trường hợp người tuổi trẻ, Bác Sĩ Phan Minh Hiển – Một của những gương mặt hãnh diện đích thực của cộng đồng Người Việt Hải Ngoại với những đóng góp nhiệt thành tích cực, hiệu quả trong hàng loạt công tác suốt hơn hai mươi năm qua là một điển hình… Cứu cấp người vượt biển, mất tích, trên biển Ðông; cứu trợ người tỵ nạn ở các đảo, ở Pháp; giúp trẻ mồ côi, gia đình nghèo khó, người tàn tật (chủ yếu ở Miền Nam), và cuối cùng, khi những thành phần vừa kể tạm có đời sống ổn định, Phan Minh Hiển dồn nỗ lực yểm trợ với đối tượng Thương Phế Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thành phần hứng chịu khổ nạn nặng nhất, sớm nhất từ cuộc chiến, mà dẫu quê hương đã im tiếng súng hơn hai mươi năm, nỗi cùng khổ kia vẫn chưa có dấu hiệu được bù trừ, như phần cơ thể mất đi không thể tái sinh, như người chết không hề sống lại. Chúng tôi đã là một thế hệ thất bại, nhưng chúng tôi không hề thất vọng bởi luôn giữ vững mối tự tin. Chính chúng tôi chứ không ai khác, là Người Lính thuần thành hằng thực hiện sứ nhiệm BẢO QUỐC AN DÂN. Sự xác chứng nầy hiện thực trong lòng mỗi người dân và chiến hữu chúng tôi xứng đáng nhận lãnh lòng tri ân, phục hồi danh dự và nhân phẩm, bởi chính họ là những Chủ Thể góp máu, xương trong ý nghĩa thực tế, cụ thể nhất để Miền Nam đã một lần sống động dân chủ, tự do – tự do được trả giá bằng đời sống đã mất đi theo tuổi trẻ, hy vọng và sự sống của chính mỗi người lính.

Sau 34 năm của kỳ tích lẫm liệt, 14 tháng 9, 1972-2006
Với máu xương
Người Lính QLVNCH Phan Nhật Nam

.
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Wed Apr 02, 2014 9:12 am


Quốc Hận 30-4-1975: Viết về Người Lính Bất Hạnh VNCH


Mường Giang

Hai mươi năm chinh chiến, QLVNCH đã có 250.000 người gục ngã trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh vì một phần cơ thể đã gửi lại sa trường. Tuy nay chính phủ cũng như QLVNCH không còn nữa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, thì lý tưởng và danh dự của Người Lính càng được sáng tỏ, trong niềm hãnh diện chung của quân-dân Miền Nam.



Lịch sử của một quốc gia là những gì trung thực, mà người dân của nước đó đã ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đã không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Ðã vậy, Hoa Kỳ còn ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, vì lý tưởng riêng của họ.

Thế Chiến 2 kết thúc, Tòa Án Quốc Tế Nuremburg chỉ kết tội những đầu sỏ trong phe Trục mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Ðức-Ý-Nhật… Năm 1920, lãnh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta bị người Ý bắt và tử hình, nhưng chính tổng tư lệnh Ý tại Bắc Phi là người đã ở lại pháp trường để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ý lúc đó.

Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lãnh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đã oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp tôn kính mặc niệm như chính các tướng lãnh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đã tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đã được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lý và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc nghìn thu bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đã chết cho lý tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.

Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đã phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị Cộng Sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có Cộng Sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự hiện diện của người lính miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, tìm đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen Bình Ðịnh Nông Thôn, Cán Bộ Xã Hội... mới biết được thế nào là nỗi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho “ cảnh ba đồng, ba cộc “ của kiếp lính Miền Nam.



Nhức nhối và mai mỉa nhất, đó là hiện tượng ‘thuyền nhân tị nạn‘ sau ngày 30-4-1975. Ngoài tuyệt đại đa số nạn nhân đích thực của CSQT, trong số này không thiếu mặt “những tên tuổi lớn" một thời chạy theo VC đâm sau lưng người lính, những nhà văn, nhà báo, cha cố... kể cả thành phần suốt đời chỉ biết sống ký sinh vào xã hội cũng lợi dụng “danh nghĩa người lính“ để được tị nạn chính trị. Ứa gan hơn là những tên VC trà trộn trong hàng ngũ những người vượt biên, vượt biển, sau khi tới được bờ đất hứa, chúng trở mặt ngay, để lộ diện thành công an, cán bộ, đảng viên như ngày nào để nạt nộ, hăm dọa đồng hương, qua cái đòn “nếu theo Ngụy“ sẽ không được về VN để thăm nhà, như đã thấy tới độ mù mắt khắp nơi tại hải ngoại.

Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.

Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cộng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp mép lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cọng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.

Câu chuyện tướng Nguyễn Ngọc Loan trong trận Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn,vì không thể chịu nổi hành động dã man, đẩy các trẻ em trong xóm ra làm lá chắn đỡ đạn cho đồng bọn tẩu thoát. Vì quá tức giận không kềm chế được, nên tướng Loan đã rút súng Rouleau ngắn nòng, bắn chết tên VC chỉ huy là Bảy Lốp, tại ngả ba Vườn Lài (góc đường Vạn Hạnh, Minh Mạng và Vĩnh Viễn), trước mặt phóng viên Mỹ là Eddie Asams, nên đã chụp được tấm hình này, đem bán rao khắp thế giới và nhận được giải thưởng quốc tế.

Sau ngày 30-4-1975 Tướng Loan tới tị nạn tại Hoa Kỳ, đã bị bọn phản chiến cùng với giới truyền thông Mỹ làm lớn chuyện. Thậm chí có Elizabeth Holtzman (nữ dân biểu DC bang New York) và Dân biểu Harold Sawyer (CH bang Michigan), đã kiện cáo, đòi Chính phủ Mỹ trục xuất tướng Loan ra khỏi Hoa Kỳ, vì tội vi phạm nhân quyền nhưng bị thất bại .

Trước và sau ngày tướng Loan từ trần 14-7-1998, người phóng viên chụp tấm hình năm xưa Eddic Adams, đã viết một bài báo xin lỗi tướng Loan vì sự ray rứt hối hận của mình, trong đó có đoạn “Ông đã làm công việc của ông, còn tôi làm bổn phận của tôi“. Ngày tướng Loan qua đời, Eddic lại viết thêm môt bài báo khác đăng trên tờ Times, đồng thời gới tới một vòng hoa phúng điếu, trên đó có đính một danh thiếp viết tay “General, I ‘am so,so,so.. sorry“. Bao nhiêu đó, chắc cũng đủ làm nhức óc những tên “sống nhờ người tị nạn“ nhưng lúc nào cũng viết lách, làm báo ca tụng VC.

Ðau đớn nhất là trận Hạ Lào 1971, cho dù các đơn vị đã tham chiến như SD Dù, TQLC, Sư Ðoàn 1 BB, Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ và Liên Ðoàn 1 BDQ có bị tổn thất nặng nề. Nhưng cuối cùng QLVNCH cũng đã đạt được mục đích của cuộc hành quân, là phá hủy gần như toàn bộ các cơ sở hậu cần, tiếp liệu tại các mật khu, binh trạm tại đây. Lúc đó, chỉ có Ðại Úy Trương Duy Hy, pháo đội trưởng PDC/44, tham dự cuộc hành quân, tại căn cứ Hỏa lực 30, là tác giả quyển Hồi ký “Tử thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30, Hạ Lào“ là viết sự thật. Ngoài ra tất cả bọn phóng viên Mỹ & Tây phương đều ở Khe Sanh, hằng ngày nhìn cảnh máy bay tải thương xác lính và thương binh về tới tắp. Từ đó chụp hình, diễn dịch rồi gửi về nước, nói là QLVNCH đã thảm bại tại Hạ Lào, giống như hồi Tết Mậu Thân (1968).



Riêng làng báo Sài Gòn cũng vậy, vì không có ai vào tận chiến trường để chứng kiện sự thật, nên chỉ đành “chôm chĩa tin từ báo Mỹ“ rồi “Mao Tôn Cương thành trận đánh cuối cùng không có đại bàng“ rằng “VC đâu có quân số đông đảo để đánh QLVNCH, mà chỉ sử sụng hỏa pháo. Ở đây làm gì có kho tàng như tình báo đã báo cáo láo”. Tóm lại theo họ thì QLVNCH vì sợ hỏa lực của VC nên bỏ chạy. Có đọc những tin tức của báo chí Sài Gòn lúc đó, mới thấy máu của người Lính Miền Nam đã đổ suốt cuộc chiến để bảo vệ cho “đám này“, thật là uổng phí và tội nghiệp cho những kẻ đã nằm xuống truớc ngày 30-4-1975.

Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.

Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cọng sản mang từ Liên Xô - Trung cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, đàn bà và thời gian để đâm thọt, phá hoại những người đang liều mạng xã thân bảo vệ mạng sống thừa thải ký sinh của mình.

Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng, ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.

Chính bọn trí thức thiên tả này đã lợi dụng quyền tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tiền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.

Cuối cùng, VNCH đã sụp đổ, kéo theo sự mất mát toàn diện mà người Việt QG đã tốn xương máu xây dựng. Người chạy thoát ra nước ngoài tuy không bị đau đớn thể xác nhưng tinh thần và sự dằn vặt, cũng đã làm cho họ điên đảo suốt quảng đời lưu vong nơi xứ người. Tội nghiệp nhất, cũng vẫn là Lính phải còng lưng cúi đầu gánh chịu những thảm tuyệt của kẻ thù man rợ, những điều mà chắc chắn thế giới tự do không hề nghĩ tới, vậy mà vẫn tới trong địa ngục trần gian của các nước Cộng sản, trong đó có CSVN.



Ngoại trừ một số rất ít khôn ngoan hay có thân nhân VC bảo lãnh, hầu hết các cấp Quân, Công, Cán, Cảnh của Nam VN đều chịu sự hành hạ nơi chốn lao tù. Chúng bắt tất cả Sĩ quan và cán bộ, công chức, cảnh sát VNCH vào tù, qua cái gọi là “ Trại Cải Tạo “ để đánh lừa thế giới, về sự dã man tàn ác đối với tù nhân chiến tranh, trái với công pháp quốc tế đã qui định. Hầu hết các trại tù đều lập ở Miền Bắc và Bắc Trung Phần, phía bên kia vĩ tuyến 17. Tại Miền Nam, trại tù nằm trong rừng núi cheo leo, ma thiêng nước độc, để lao động khổ sai, chết dần mòn vì sự hành hạ của quản giáo và nổi cực khổ, đói lạnh nhưng ăn uống thì thiếu thốn với khẩu phần hằng ngày, chỉ lưng chén cơm gạo xấu, trộn với khoai bắp, còn những người bị biệt giam thì đói khát vì phần ăn phát rất ít. Nói chung là không còn bút mực nào để kể cho hết nổi hận hờn tủi nhục của người tù dưới chế độ CS. Ðói quá nên người tù phải ăn tất cả những gì có trước mặt như rắn, rít, ếch nhái, chuột, trùn đất, cào cào.. kể cả cỏ chai và cỏ diệu, thay cơm để đủ sức chống chọi với tử thần, lúc nào cũng như chực chờ sẳn bên cạnh :

    ‘Ngày hành xác giữa núi rừng hoang vắng,
    đêm ôm đầu thương tiếc chuyện ngày xưa
    bạn bè đến đây càng lúc càng thưa
    thằng nằm xuống, thằng đày sang trại khác
    thằng chống lại thì xác thân tan nát
    thằng bệnh đau thân xác cũng không còn
    đem xác người đi phá núi dời non
    đem mạng sống để gở mìn tháo đạn
    thay trời dẫn nước vào sông đã cạn
    thay trâu kéo cầy phá vỡ ruộng hoang
    buổi sáng gượng vui nhìn lúa trổ bông
    nữa đêm khóc thầm đời lính bất hạnh
    tôi đã sống qua những ngày đói lạnh
    tôi đã nhét đầy tài liệu buồn nôn
    kiểm điểm nghìn câu cho tốt tốt hơn
    để theo đảng biến người thành khỉ vượn “.

    (thơ mường giang)

Lính sống bị trả thù đã đành, cho tới những người lính đã chết , CSQT cũng không tha, thì nói chi thành phần Thương Phế Binh, Cô Nhi Tư Sĩ của VNCH, lại càng bị đoạ đày thê thảm.Tất cả năm tháng dù nay đã đi vào quân sử nhưng sự thật vẵn còn nguyên trước mắt, với hai cảnh đời hiển hiện như một chứng tích nghìn đời không phai mờ: Ðó là địa ngục VN sau 38 năm bị giặc chiếm đóng và giá trị đích thực của QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn, được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Ðông Nam Á thời đó gồm các Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, Bộ Binh Thủ Ðức, Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát, Trường Ðại Học Quân Sự chứ đâu phải chỉ có những tướng tá từ thời Pháp thuộc?!

Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa:

    ‘... xin vì chàng, xếp bào cởi giáp
    xin vì chàng giũ lớp phong sương
    vì chàng tay chuốc chén vàng
    vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.. ’

    (Chinh Phụ Ngâm Ðặng Trần Côn và Ðoàn Thị Ðiểm)

Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.

Thử hỏi giữa cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Ngày nay, đã có không biết bao nhiêu người ,đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Không biết trong tâm tư đó, có một giây phút nào do lương tâm xao động, khiến trái tim người, chợt nghĩ tới những kẻ bất hạnh đã VỊ QUỐC VONG THÂN?

Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, cũng đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.

    ‘... tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
    sa trường dung ruổi đã phơi thây
    đoàn quân hùng liệt nay về đất
    hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy

    chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
    mà khóc quê hương khuất bến bờ
    nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
    mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô‘

    (thơ Mường Giang)

Xin nghiêng mình trước đồng đội đồng bào đã hy sinh vì đại nghĩa Dân Tộc Việt. Cũng xin chân thành biết ơn Quý Ân nhân đồng hương khắp mọi nẻo đường viễn xứ, đã và đang hướng về những người lính cũ ngày xưa, giờ họ là Quả phụ, cô nhi và thương phế binh VNCH. đang kẹt ở quê nhà.

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 4-2013
MƯỜNG GIANG



.
Về Đầu Trang Go down
hoangvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Thu Apr 03, 2014 2:54 pm


Requiescat in pace – Xin Cho Linh Hồn Này Được Yên Nghỉ Nghìn Thu


Vĩnh Chánh 

Để tưởng nhớ đến các chiến sĩ đã hy sinh trong Chiến Trường Việt Nam và mến tặng các BS. Quân Y của Quân Lực VNCH, đặc biệt các đàn anh trong Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù và các y sĩ tiền tuyến từng sát cánh với các đơn vị tác chiến.

Một cuối tuần đầu thu, có một cuộc hội ngộ nhỏ QYND diễn ra ở quán cà phê Mưa Rừng trong buổi sáng mát lạnh tại Little Saigon. Với sự hiện diện của niên trưởng Trần Tấn Phát, quý đại ca Phạm Gia Cổn, Mai Minh Chí, Nguyễn Mậu Trinh đi cùng anh vợ là Bửu Khải, tức họa sĩ Nguyên Khai và người bạn Nguyễn Đình Cường.

Ngồi bên nhau, BS. Cổn tình cờ đọc cho tôi nghe vài câu thơ của BS. Trần Đức Tường. Tò mò kích thích, về nhà lục soạn kho bài cũ trong tháng 8, 2010 của web svqy.org, tôi tìm thấy bài thơ “Tiễn Anh” do y sĩ Thiếu Tá Trần Đức Tường, Tiểu Đoàn Trưởng TĐQY của Sư Đoàn Nhảy Dù VNCH, là “Đích Thân” của tôi trong thời gian tôi phục vụ TĐQYND, sáng tác khi lần đầu tiên tham dự cuộc hành quân với đơn vị tác chiến trong chức vụ y sĩ trưởng TĐ3ND. Bài thơ đã được phổ nhạc bởi Y Sĩ Đại Úy Phạm Gia Cổn, nguyên y sĩ trưởng TĐ1ND, là đơn vị tác chiến lẫy lừng mà tôi đến nhậm chức hai năm sau.

Đây không phải là một bài thơ hay khúc nhạc diễn tả sự từ giả “Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế” hay nói lên sự sầu vương của chia lìa trong tình yêu “Giờ vĩnh biệt tôi ngại ngùng không nói. Không dám nhìn đôi mắt nhỏ ngây thơ”. Đây cũng không phải là bài thơ soạn theo lời kể chuyện hay thuộc loại phóng sự chiến trường. Đây chính là một bài thơ “sống” với “cảm xúc thật”. Bởi chính tác giả đã làm nhân chứng trước một cái chết hào hùng ngay tại mặt trận khi tiếng súng đang còn rền vang. Với tất cả sự cẩn thận tinh tế của một bác sĩ, lòng kính trọng đối với người quá cố và lời nguyện cầu kín đáo, người y sĩ tiền tuyến dang rộng tay tiếp nhận xác của đồng đội đã tử thương trước khi đến lều cấp cứu, ôm choàng thi thể, dù chỉ để vuốt mắt, thấm đi giòng máu tươi đang còn rỉ, chùi rửa băng bó vết thương.

Trong khi bên ngoài chiến sự vẫn còn tiếp diễn, dưới ánh sáng nhảy múa của hỏa châu và trận pháo, tác giả nằm sát trong hố cá nhân ghi vội những cảm nghĩ đầy xúc động của mình, thể hiện tình cảm thiêng liêng giữa những người từng sát cánh chiến đấu bên nhau trong tinh thần frères d’armes.

Tôi đọc bài thơ “Tiễn Anh” bằng mắt, rồi bằng tiếng. Lúc đầu chỉ ư ê, rồi lớn dần. Tôi lập lại nhiều lần, và nhiều lần hơn nữa. Tôi dừng lại ở từng chữ một của mỗi giòng để cố hình dung khung cảnh trận chiến ngày hôm ấy, ráng soi thấu tâm trạng của anh Tường trong lần baptême de feu này. Sự xúc động mãnh liệt thế nào để Anh sáng tác bài thơ ấy.




Những câu thơ bảy chữ, ngắn nhưng đủ để diễn tả cái chết bất ngờ đột ngột đến trong những giây phút đầu tiên của trận chiến. Với lời thơ chính xác, đau xót nhưng khí khái và sắc bén như mủi nhọn đâm thẳng vào lòng người.

Nhảy xuống cùng tôi trên trận này
Hờn lên khóe mắt, súng cầm tay.
Ai ngờ trong đợt xung phong ấy
Anh chết khi nào anh chẳng hay

Vì không trực tiếp phỏng vấn “Đích Thân”, tôi đành phải một mình mường tượng hình ảnh những chiến binh ND xông vào cuộc chiến hôm ấy. Tôi muốn nghĩ đây là một trận chiến với cảnh nhảy dù ngay trên vùng địch để lòng mình chợt reo lên như những cánh dù bung trong gió. Nhưng dù có nhảy từ trực thăng hay vào vùng bằng đường bộ, “nhảy” đây có nghĩa là nhảy vào trận chiến, xông pha vào chốn đầu tên mủi đạn, can cường chấp nhận mọi gian khó, hy sinh. Súng cầm tay, đạn đã lên nòng, người chiến binh quyết tâm đánh bật quân địch. Không như ánh mắt dã tâm của kẻ xâm lăng luôn hằn vẻ hận thù, ngược lại ánh mắt anh chỉ thoảng “hờn” một cách chính đáng, như thầm ngạo nghễ nói lên chúng mầy bố láo quá! Ta sẽ cho chúng mầy biết tay!

Rồi người chiến sĩ và đồng đội của anh tiến dần đến phòng tuyến của địch. Đạn pháo rơi tơi bời xuống trận địa vẫn không cản được sức tiến của trung đội anh; những tiếng đạn nhỏ bay rít trong gió hay nổ lụp chụp xung quanh anh vẫn không làm anh giùn bước. Anh vẫn bình tỉnh vừa bắn, vừa cẩn thận tiến chậm về hướng rừng thưa. Nơi địch nằm chờ trong các công sự chiến đấu hay chui r úc dưới các hầm hố. Rồi theo lệnh trên, cánh quân anh tạm dừng chân. Trung đội anh nằm rãi dài dựa sau bờ ruộng. Qua điện đài, người đại đội trưởng xin cấp trên yểm trợ bằng súng cối mong dập tắc phần nào hỏa lực của địch trước khi quyết định dứt điểm đối phương.

Cùng với 2 trung đội bạn, trung đội của anh được lệnh cởi bỏ balô, gắn lưởi lê lên nòng súng, chuẩn bị xung phong trong khi đạn súng cối rớt liên tục và chính xác vào phòng tuyến địch. Ngay sau tiếng nổ của viên đạn súng cối cuối cùng, trong tiếng hô xung phong vang rền trời, anh và đồng đội đồng loạt đứng thẳng dây, la lớn những tiếng xung phong đồng thời phóng mình về phía trước, vừa chạy vừa bắn. Chợt thấy ánh sáng loé lên từ khẩu thượng liên của địch nằm kế thân cây lớn, anh chạy nhanh hơn về hướng đó, đồng thời rút quả lựu đạn treo ở dây ba chạc. Không một do dự, anh dùng răng cắn bung kíp lựu đạn và tung mạnh quả lựu đạn vào ổ thượng liên. Cùng lúc ấy, thân hình anh bổng khựng lại rồi anh ngã sập xuống, không kịp nhìn thấy cây thượng liên cùng vài ba thân thể bị văng tung lên trời sau tiếng nổ của quả lựu đạn. Một viên đạn trúng vào đầu anh, đốn ngã anh tại chổ. Sau cuộc xung phong chiếm được vị trí địch, xác anh lính chiến được cáng về lều quân y.

Cũng có thể người chiến sĩ này là một khinh binh đi mở đường cho trung đội của mình. Anh vừa bước đi chậm rải, vừa cẩn thận nhìn trước và 2 bên, nghe ngóng động tỉnh xung quanh. Đi được mươi bước, anh dừng lại, ép mình vào gốc cây, tiếp tục quan sát. Có khi anh quỳ trên một đầu gối, xem xét những vết nghi ngờ trên mặt đất. Vừa qua khúc rẻ của một con đường mòn, anh chợt nhìn thấy một họng súng sáng lên dưới ánh trăng, đang sẳn sàng nhã đạn vào đội hình của anh. Trong một thoáng của chớp mắt, anh vùng lên không một chậm trể, vừa bóp cò khầu súng liên thanh của anh, vừa la to xung phong thẳng vào hướng địch, quyết tìm sinh lộ cho đồng đội của mình qua tử lộ của bản thân. Và anh đã trúng đạn vào đầu, tử thương ngay tại chổ, nhưng anh đã cứu được toán viễn thám của anh trong cuộc phục kích. Còn hy sinh nào cao quý hơn!




Hay người chiến binh này là một vị sĩ quan trẻ tuổi mới ra đơn vị tác chiến và lãnh nhiệm vụ xung trận ngay. Anh đã hăng say chạy từ hầm này qua vị trí nọ để tiếp ứng và nâng đở tinh thần cho toán binh sĩ của mình. Sau những tràng đại liên yểm trợ, anh ra lệnh xung phong. Và trong đợt à l’assaut ấy, anh hướng dẫn toán binh sĩ đánh thẳng vào tuyến địch. Miệng anh la to xung phong, xung phong, một tay anh cầm súng colt, tay kia không ngừng vẩy thúc bước tiến quân. Anh là người đầu tiên gục ngả trên cánh đồng khi địch nhắm bắn vào anh vì biết đây là cấp chỉ huy đơn vị. Anh tử thương tại chổ với viên đạn thù bắn vào đầu, trước khi nhìn thấy địch tháo chạy trước sự dũng mãnh của đợt xung phong anh cầm đầu.

Cũng rất có thể người binh sỉ trọng thương này là một quân y tá Nhảy Dù. Anh gan dạ xung phong vào trận địa cùng với đại đội tác chiến anh phục vụ, ngay bên cạnh người đại đội trưởng. Khi nghe tiếng kêu cấp cứu khẩn cấp, không một do dự anh nhào đến phía người binh sỉ vừa bị thương để làm phận sự. Chính lúc người y tá đang tìm cách băng bó cứu sống đồng đội, anh nhận lãnh một viên đạn vào đầu, gục chết ngay trên mình bạn, như thể lấy thân thể của chính mình che chở cho người thương binh.

Các bạn đưa anh đến chổ tôi
Mày còn dựng ngược vuốt cho xuôi
Súng anh tôi gỡ đem về cất
Sửa lại nhung y đẩm máu rồi

Anh bị vết thương bên trái đầu
Chắc rằng anh chết chẳng nghe đau
Lau đi trên mặt bao đất, máu
Băng lại đầu anh băng trắng phau…




Tôi tự hỏi trong giây phút vừa gục ngã, người chiến binh có kịp kêu lên tiếng “Mẹ Ơi”, như anh từng có thói quen kêu tên Mẹ mỗi khi đau ốm hay gặp rủi ro. Có đủ chăng Anh thì giờ nhớ đến người vợ đang sống bình an ở hậu cứ luôn trông ngóng, chờ đợi anh về. Hay có thấy chăng Anh nụ cười, ánh mắt của người anh thầm yêu mà anh để lại nơi thành phố nhỏ trên bước đường chinh chiến.

Có điều tôi chắc là anh không cảm thấy một đau đớn khi cái chết đến với anh quá nhanh trong bất ngờ. Trong bước tiến xung phóng ấy, anh đang dốc toàn lực chạy nhanh về tuyến địch. Toàn thân anh rướn lên phía trước theo nhịp. Chân anh vững mạnh trong botte de saut. Tim anh đập nhanh đầy hưng phấn. Ngực anh phồng to hít mạnh không khí mang đầy mùi thuốc súng. Mày anh dựng ngược đầy quyết tâm. Mắt anh nở lớn nh́n thẳng, trực diện với nguy hiểm. Tai anh ù điếc vì tiếng hô xung phong của chính mình. Tay anh nắm chặc cây Carbin M2 tự động. Ngón tay anh bóp cò cho ra từng loạt đạn hướng về phía địch. Bổng nhiên, trong một chớp sáng, người anh bổ nhào về phía trước, toàn thân anh rớt mạnh xuống đất, bất động sau một vài co giật nhỏ. Chiếc nón sắt văng nằm bên cạnh, với lổ đạn xuyên phá ở phía trái. Một bên đầu và mặt anh chan hòa với máu Khuôn mặt anh nhăn rúm, mắt anh mở lớn nhìn thẳng vào bầu trời trong xanh; rồi cổ anh nghẹo qua một bên, như muốn hít thở mùi đất mẹ trước khi màn đen sụp xuống vĩnh viễn.

Đưa xác anh không sẳn lá cờ,
Tôi đành tẩm liệm với poncho
Vải dầu che nắng mưa khi trước,
Nay bó thân anh đã cứng đờ

Tôi tiễn anh về một chuyến bay
Mang theo tang tóc chất vơi đầy
Hồn anh theo chuyến tàu bay ấy
Hay vẫn dật dờ phảng phất đây?

Mấy ai từng bước qua trận chiến mà lại không xót xa nhìn thấy những thương binh đổ máu banh ruột, mất tay cụt chân. Có ai không bùi ngùi đau đớn thầm khóc khi đón nhận xác đồng đội tử thương, có khi đã được gói và buộc chặt vào poncho chờ chuyển về tiền trạm, hay oái ăm hơn được đơn vị tạm chôn trên đường di chuyển hay khi căn cứ hoàn toàn bị vây hảm trong nhiều tuần. Trong quá nhiều trường hợp, người y sỉ tiền tuyến cảm thấy bất lực không những vì các vết thương quá nặng, mà còn vì đường tản thương quá dài. Những khi ấy, sự đau xót tăng bội phần, tư tin nghề nghiệp dễ rúng động. Sự hoang mang làm mất đi khả năng suy nghĩ, mấy ai còn được tâm hồn cô đọng và tài thi phú để viết lên bài thơ ai oán hồn tử sĩ như Tiễn Anh



Quân Y nhảy dù tải thương

Với tôi, tôi không có sự may mắn, hay nói khác hơn, không có đủ yếu tố thuận lợi để săn sóc tiển biệt tận tay cho chỉ một đồng đội vừa nằm xuống trong trận chiến đầu đời, mà phải tất bật với hàng chục tử thương. Tôi cũng chưa có đủ chiều dài đời lính chiến hay dạn dày phong sương trong thử thách đúng nghĩa của khói lửa binh đao để diễn tả và cảm nhận cái chết một cách sâu đậm. Và dù tôi có được một thời gian ngắn vừa đủ để thấm hiểu cái tình đồng đội sống chết có nhau, sống chết bên nhau, cùng tiến cùng lùi, cùng chịu pháo với nhau, cùng chia xẻ tâm sự và vui đùa với nhau, tôi nghĩ tôi vẫn không bao giờ có đủ khả năng viết ra một bài thơ khóc đồng đội thấm thía như bài Tiễn Anh. Một bài thơ làm ngay tại mặt trận. Bên cạnh xác bạn.

Khi bài viết này đang vào đoạn kết, tôi nhận được lá thư của “Tường Vi” cho biết bài thơ Tiễn Anh còn có hai đoạn cho phần cuối mà tôi là người đầu tiên được biết. Với sự hân hạnh, tôi xin phép sao chép để bổ túc cho bài thơ Tiễn Anh:

Hậu cứ khi về thăm mộ anh,
Mồ còn mới đất, cỏ chưa xanh,
Sẽ đề lên một bài thơ khóc
Xin chứng cho nhau tấm lòng thành

Dưới ấy xin anh cứ ngậm cười,
Trên này, anh hảy để chúng tôi
Cha già, vợ góa, con côi cút,
Đơn vị chúng mình sẽ chăm nuôi!

Qua hai đoạn cuối này, tôi nhìn thấy tấm lòng thành của “Đích Thân” sẽ về hậu cứ thăm mộ người tử trận cùng gia đình của anh ta. Tôi hy vọng “Đích Thân” đã thực hiện được ý nguyện. Bởi vì dù lòng mong muốn thật nhiều, nhưng đời chinh chiến của người lính khó có được những thời gian riêng tư đó. Tôi mường tượng Thánh Michael, quan thầy của binh chủng Mũ Đỏ, cùng với các thiên thần đã rước linh hồn người tử trận lên chốn chân hạnh phúc, y như trong đoạn kết của phim truyện nổi tiếng “Ghost”.

Requiem Aeternam dona eis, Domine, et lux perpetua luceat eis!

Xin Chúa cho họ được yên nghỉ muôn đời, và ánh sáng ng àn thu soi trên họ

Tôi vô cùng trân quý bài thơ Tiễn Anh của “Đích Thân Tường Vi”. Qua bài thơ, tôi nhìn thấy được con người và tâm hồn của “Tường Vi”. Ở Anh, tôi nhìn thấy cái nghĩa khí của một chiến sĩ, cái lương tâm của một y sĩ tiền tuyến. Ở Anh, tôi thấy được sự độ lượng và lòng vị tha nhân bản. Và ở Anh, tôi thấy được đức độ và tình người trong gian khó hay trong vui đùa, sự hy sinh và lòng tận tụy sẳn sàng chia xẻ khổ đau. Tôi vẫn không hiểu vì đâu Anh có biệt hiệu “Tường Vi”, chử ghép tên của Anh với tên một người đẹp nào chăng! Và đúng như biểu hiệu của hoa Tường Vi là một loại hoa không phô trương, không kiêu sa, nhưng bình dị, thanh tú, đơn sơ bền bỉ, sâu sắc và khiêm tốn, Anh có đầy đủ những đức tính vừa nêu trên.

Vào QYND cuối tháng 5, 1974 cho đến ngày mất nước, tôi chỉ gặp “Đích Thân” một lần duy nhất tại Đà Nẳng khi ra trình diện Sư Đoàn ND và nhận lãnh trách nhiêm làm y sĩ trưởng TĐ1ND ngay trước khi “nhảy” vào vùng trong tháng 8, 1974. Thật sự, lần tiếp xúc quá nhanh chóng đó và ngay cả thời gian phục vụ TĐQY ND quá ngắn không thể nào cho tôi có cơ hội biết về “Đích Thân”. Qua đến hải ngoại, và từ từ sau đó, tôi mới bắt đầu nghe nhắc đến tên của “Đích Thân”, rồi những câu chuyện của những tháng cuối của cuộc chiến, của những ngày cuối trước 30 tháng 4, sự kiện “Đích Thân” cũng trải qua cảnh lao tù CS, khiến tôi càng kính nể “Tường Vi”.

Khi viết lên những dòng chử này, tôi không có tâm trạng của kẻ mong được lên lon, hay chờ đợi một ly rượu Bordeaux, vì không biết chúng mình còn có cơ duyên gặp nhau lần thứ hai. Nhưng tôi chỉ mong nói lên đây lòng kính mến của một đàn em đối với một đàn anh, dù đã gần 40 năm qua. Như một lời tỏ tình, rien n’est trop tard. Tôi phục tư cách của Anh. Tôi phục con người của Anh. Vừa võ vừa văn vừa cả thổi kèn (đủ loại!), lại vừa tu xuất vừa tu đời. Thật đáng nể.

Tôi không mấy am hiểu về nhạc lý dù rất thích nghe nhạc. Bản nhạc phổ theo lời thơ “Tiễn Anh” vẫn chưa có người hát, theo lời của BS. Cổn. Mong một ngày nào đó khi bình an hoàn toàn trở lại trên quê hương VN, chúng ta sẽ cùng hoà tấu bản “Tiễn Anh” . Tôi sẽ cất giọng ngâm ‘Tiễn Anh”, nếu tôi vẫn chưa hát được, hòa cùng với tiếng kèn saxophone và clarinet điêu luyện của đàn anh PG Cổn và của “Đích Thân” Tường Vi. Một bản hoà tấu không cần phải có thêm hai đoạn cuối, như một symphonie inachevée Một gảy đỗ của tuổi xuân trong thời chinh chiến.

Vĩnh Chánh
CA, tháng 10, 2013

________________________________

Theo Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y

**Xin sao lại một phần của lá thư “Đích Thân Tường Vi” gởi, kể lại xuất xứ của biệt hiệu “Tường Vi” và trận chiến đầu đời của Anh. Như một bonus cho bài viết trên.

1/ Tên Tường Vi là do ông Trần Quốc Lịch, tiểu đoàn trưởng TĐ3ND đặt cho mình. Ông cũng đặt tên cho các ĐĐT (đích thân). Thường là lấy tên các ca sĩ : Đ. ÚY. Bùi Quyền là Tố Quyên, Đ. Úy Lê Minh Ngọc là Ngọc Nga, Tr. Úy Trạch là Trang Đài, Tr. Úy Tước là Kim Tước, Tr. Úy Lê Hồng là Hồng Vân, BS. Tường là Tường Vi vv… Mình có nói với ổng là Tường Vi là tên một bà kịch sĩ già, nhưng ổng nói có cô Tường Vi nào là ca sĩ trẻ ?? Mình cũng không ý kiến gì nhưng chết luôn cái tên Tường Vị. Thật ra trong SĐND còn một người nữa tên Tường Vi là ông Nguyễn Văn Tường, chỉ huy trưởng Pháo Binh (Đại Tá bây giờ) Vì thế nên có thêm cái nick nữa là Tường Vi “gà cồ” và Tường Vi “thuốc đỏ”. Lúc sau cuộc HQ vào trong nội có gặp vài ba cô gái Huế mang tên Tường Vi…

2/ Trận đánh đầu tiên của đời bác sĩ nhẩy dù của mình là cuộc Hành Quân “Lam Sơn 54″ cuối tháng 5/67. Tháng này nóng bức, gió lào rất khó thở. Mục tiêu cuộc HQ này này là tiễu trừ việt cộng ẩn náu trong vùng Phi Quân Sự (DMZ) phía nnam Sông Bến Hải. Từ sau năm 1954, VNCH tôn trong Hiệp Định Genève 1954 và không hề vi phạm vùng này ngoại trừ Mỹ đã thiết lập hàng rào điện tử gọi là hàng rào Mc Namara. Nhưng chỉ là trò đùa! Tin tức cho biết, vùng này hoàn toàn bị việt cộng chiếm làm căn cứ an toàn cho chúng. QLVNCH với sự chấp thuận của Mỹ đã lập kế hoạch Hành Quân quy mô vào vùng này với toàn bộ LĐ2ND, với Trung Tá Đào Văn Hùng, con hùm xám của ND làm LĐT chỉ huy, gồm các đơn vị tham chiến sau đây : TĐ3ND, TĐ5ND, TĐ9ND? TĐ2PB/ND. Một chi đoàn thiết vận xa. Một trung đoàn bộ binh của SĐ1BB.

TĐ3ND trước cuộc HQ đóng ở thôn Nhan Biều, cạnh thành phố Quảng Trị, bên kia cầu Ái Tử bắc qua sông Thạch Hãn.

Sáng sớm hôm vào vùng, Tiểu Đoàn do thiếu tá Trần Quốc Lịch làm TĐT chỉ huy đã được đoàn xe quân vận chở từ địa điểm đóng quân lên phía bắc. Qua đồi Đông Hà, tới đèo Ba Giốc tức còn cách quận Gio Linh (cầu Hiền Lương) chừng 2km và bắt đầu là limit của DMZ. Đoàn xe ngừng và TĐ3ND đi dọc theo quốc mộ 1 đến cách cầu chừng 1km thì giàn quân hướng về bên trái (phía tây) quốc lộ. Từ Quốc Lộ vào tới ven làng (cũng tên là An Hòa) là ruộng lúa và đường xe lửa cao khoảng hai thước. Từ quốc lộ vào ven làng khoảng 700m, hoàn toàn đồng trống không có chỗ ẩn nấp. Tôi nghĩ, đánh vào từ đây có thể là chết bộn.

Phi pháo bắt đầu tác xạ vào ven làng và dọc đường xe lửa. Trong lúc đó, tiếp nối TĐ3ND là TĐ9ND do Thiếu Tá Huệ làm TĐT tiến quan từ phía nam TĐ3ND dọc theo đường xe lửa và bám được ven làng. Tôi nghĩ ông Hùng đưa TĐ3ND giàn ở quốc lột làm như muốn băng đồng tiến vào mục tiêu để đánh lừa địch trong lúc TĐ9 đánh từ phía sau lên. Tin chiếm được ven làng vừa loan thì máy báo Thiếu Tá Huệ tử trận (bị bắn tỉa vào đầu). Di tản ông Huệ và TĐ9 án ngữ tại chỗ. TĐ3ND, được lệnh quay lên quốc lộ, đi ngược lại phía đềo Ba Giốc (làm như rút lui). Nhưng thực chất đã bay lên đường xe lửa, xung phong vào ven làng trám chỗ TĐ9ND rồi tiếp tục đánh lên phía Bắc. Địch chống trả dữ dội… Trận chiến kéo dài 5 ngày, năm đêm. cho tới lúc TĐ3 tiến lên đến bờ sông. 2km, đánh từng thước, từng căn nhà… Theo tù binh thì địch đã thay 3 tiểu đoàn quần thảo với TĐ3. Chúng qua sông ban đêm bằng nhiều giây cables căng dưới mặt nước.

Quả thật toàn thể vùng này coi như ở miền bắc. Nhà nào cũng có hình HCM và cờ miền Bắc. Học trò học chương trình miền Bắc, dân xài tiền miền Bắc… Nhà này sang nhà kia đi bằng giao thông hào, hai bên bờ hào hẹp, họ trồng khoai mì cắm chụng đầu nhau nên bay bên trên tưởng là đường mòn trên mặt đất

Tường Vi. Monday, Oct.14, 2013
.
Về Đầu Trang Go down
leminh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Wed Apr 09, 2014 9:15 am


Hồi Ký 30-4-75: THÁNG NGÀY TAO LOẠN


Vĩnh Chánh



Không một ai ở Miền Nam Việt Nam có thể quên được những cay đắng, uất hận nghẹn ngào, nhục lụy, chết chóc tang thương khi quân dân VNCH bị đồng minh bỏ rơi, đẩy vào cảnh sụp đổ.

Sau cuộc di tản chiến thuật Tây Nguyên trong tháng 3, 1975, thảm họa lan rộng khắp Miền Trung thuộc các quân khu 1, 2 rồi đến quân khu 3. Trong cương vị nhỏ nhoi của một quân y sĩ Nhảy Dù theo sát bên cạnh đơn vị Dù tác chiến, cá nhân tôi đã sống trọn vẹn với đồng đội cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Ngày 30 Tháng 4,1975.

Trong một ngày vào tháng Hai 1975 khi Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù (viết tắt TĐ1 ND) với Thiếu Tá Ngô Tùng Châu làm TĐ Trưởng đang dưỡng quân tại đèo Phước Tượng nằm trên Quốc Lộ 1 giữa Huế và Đà Nẳng, sau chiến trận ở Thường Đức/Đại Lộc, Y Sĩ Thiếu Tá Nhẩy Dù Trinh đích thân đưa BS Bùi Cao Đẳng, người bạn thân đồng môn đồng khóa của tôi, đến Bộ Chỉ Huy tiểu đoàn thay tôi làm Y Sĩ Trưởng TĐ 1 ND.

Ngay sau khi bàn giao, tôi được chở thẳng đến phi trường Đà Nẵng để trong cùng ngày, trước Tết 1975, vào Saigon lãnh một nhiệm vụ mới, Y Sĩ trưởng Tiểu Đoàn 15 ND. Các Tiểu Đoàn tân lập 12, 14, 15 ND cùng với Đại Đội 4 ND Trinh Sát và Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh ND là thành phần chủ lực cho Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Minh Ngọc, vừa được thành lập vào đầu năm 1975.

Trên chuyến bay về Saigon, lòng tôi có nhiều xúc động mâu thuẫn. Dù tôi chỉ phục vụ TĐ1 ND trong 6 tháng kể từ ngày trình diện làm Y Sĩ trưởng TĐ 1 vào cuối tháng 7, 1974, đúng vào lúc TĐ1 ND nhảy vào trận chiến ở Đại Lộc/Thường Đức, tôi đã có quá nhiều kỷ niệm với đơn vị tác chiến lừng danh hàng đầu của Sư Đoàn ND.

Trong ngày đầu tiên ở mặt trận, tôi được đích thân người con trai của Cô ruột tôi là Đại Úy Trần Văn Thể, đại đội trưởng xuất sắc của ĐĐ 11, chỉ bày những căn bản thực tế ở trận địa như định hướng của ta và địch, phân biệt pháo ta hay pháo địch, đào hố cá nhân nơi bất cứ dừng quân nào, đi trên dấu giày của người đi trước để tránh đạp phải mìn, luôn đội nón sắt và mang áo giáp, ngay cả khi sử dụng hố tiêu… Làm sao kể cho xiết những ngày dài lội bộ trong rừng sâu, trên những sườn đồi trơn trợt, lầm lũi quanh co theo chân các binh sĩ, chia nhau từng điếu thuốc, từng ngụm cà phê pha chung với đế, chuyền nhau từng ca cơm dưới những cơn mưa tưởng không bao giờ dứt.

Làm sao quên được những tiếng la hét, ra lệnh trong điện đài giữa cấp chỉ huy Tiểu Đoàn, Đại Đội và Trung Đội trong bước tiến xung phong đánh chiếm mục tiêu, giữ vững vị trí hay buộc rời bỏ vị trí dước áp lực của địch để rồi lại phản công, cận chiến và tái chiếm lại mục tiêu tại từng ngọn đồi, trước nhỏ nhưng về sau càng lớn càng cao. Tại từng ven rừng hay trong rừng rậm, tại từng con suối, bờ dốc. Trong đêm khuya, hay giữa trưa. Vào sáng sớm hay cuối ngày. Trong mưa, trong nắng hoặc trong sương mù. Vì làm gì có giới hạn thời gian trong trận chiến. Vì làm gì có thời tiết thuận lợi khi xung phong. Và làm gì có được sự công bằng khi địch nằm sẵn trong các công sự trên đồi chờ ta đánh vào. Nhưng ta phải đánh để dành lại từng tất đất, từng ngọn đồi, để đánh đuổi kẻ xâm lược và bảo vệ miền đất tự do.

Qua nhiều ngày với TĐ1 ND, tôi có dần kinh nghiệm để phân biệt được tiếng pháo của ta hay địch, khi nằm dưới hố cá nhân hoặc trong hầm với bộ chỉ huy, ngày ngày 3 cữ sáng trưa chiều, nhìn lên thấy từng làn chớp sáng của đạn địch chụp trên các ngọn cây lớn kèm theo tiếng nổ đinh tai với ngàn mảnh đạn và cành lá văng tứ phía. Đã bao lần tôi cảm thấy bất lực trước những vết thương quá nặng của thương binh đang chết dần khi chờ đợi tản thương, bèn đành đốt điếu thuốc lá đưa vào môi cho từng người để rồi đoán chừng cái chết đến khi khói điếu thuốc thôi bay. Và cũng bao lần tôi đã cúi đầu khóc thầm khi thấy những xác chết, cả quan lẫn quân, được gói chặt trong poncho nằm từng hàng dài hai bên bãi đáp chờ được bốc đi.

Nhớ và nhớ hình ảnh uy nghiêm đầy khí phách của các sĩ quan và bao khuôn mặt non trẻ nhưng dạn dày phong sương của các binh sĩ tuy đầy kinh nghiệm chiến trường, nhưng họ vẫn giữ một tâm hồn đơn sơ thật hồn nhiên mà tôi biết được qua những lần trò chuyện, những tâm sự trong đêm dài hay qua những dừng quân ngắn trong khi cùng nhau vui đùa. Với họ, tôi đã yêu những bản nhạc lính mà trước đây tôi từng chê là sến. Với họ, tôi đã tìm thấy tình đồng đội qua thử thách trong máu lửa. Với họ, bổn phận và trách nhiệm luôn được gắn liền với 4 chữ “Nhảy Dù Cố Gắng”. Và với họ, tôi quên hẳn cái chết đằng sau và nguy hiểm chờ đợi phía trước.

Sau chiến thắng ở Đồi 1062 tại Thường Đức, Thiếu tá Nguyễn Văn Phú, Tiểu Đoàn Phó của TĐ1 ND, được đề cử làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 15 ND tân lập và trước khi rời vùng, ThTá Phú đặc biệt xin cho tôi được đi theo với Tiểu Đoàn tân lập của ông. TTá Phú và tôi đã có những giao hữu tốt đẹp trong thời gian ông trực tiếp chỉ huy cánh phó với 2 ĐĐ đánh thẳng vào trận chiến. Tôi có gởi rượu và thuốc lá đến cho TTá Phú ở mặt trận, đúng lúc phe ta cần chút chất nóng để đánh đấm cũng như để ăn mừng chiến thắng. Thêm vào đó, tôi còn có cơ duyên giúp cho TTá Phú về thăm vợ ở Saigon đúng lúc, vì nhờ lần thăm này mà vợ ông mới có thai lần đầu kể từ khi lấy chồng vào cuối năm 1968.

Nếu được thuyên chuyển về Saigon, tôi chắc mọi quân nhân của binh chủng ND đều vui mừng vì không những đây là hậu cứ của Sư Đoàn ND, xa hẳn nguy hiểm của chiến trường, mà còn là thủ đô, là nơi phồn hoa đô hội với nhiều chốn ăn chơi. Riêng với tôi, không những tôi được về gần nhà mình ở trong Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa với Măng của tôi, mà đây còn là một cơ hội quý báu để tôi có dịp gặp lại người tôi yêu và theo đuổi qua suốt 9 năm, kể từ thời Dự Bị Y Khoa, sau nhiều năm cách trở. Cuộc thử thách riêng tư này coi vậy cũng không ít gay go, so với cuộc chiến tôi vừa trải qua ở mặt trận.

Tôi đến trình diện ThTá Phú tại bộ chỉ huy TĐ 15 ND ở Trại Cây Mai trong Chợ Lớn và bắt tay ngay vào nhiệm vụ của mình trong khi TĐ đang chỉnh đốn quân số, quân trang, huấn luyện… Tôi làm quen với các sĩ quan tác chiến của bộ chỉ huy TĐ như vị TĐ Phó, sĩ quan trưởng Ban 3 cùng các sĩ quan ĐĐ Trưởng, cũng như làm quen với các y tá thuộc cấp trong Trung Đội Quân Y của tôi và thiết lập danh sách tiếp liệu y dược.

Vì Lữ Đoàn 4 ND có nhiệm vụ bảo vệ Thủ Đô, nên vấn đề tiếp liệu quân trang, quân nhu cho TĐ tác chiến nói chung và tiếp liệu y dược của tôi nói riêng, có phần nào được ưu tiên. Trong trại quân, tôi đã có những buổi dạy về cấp cứu căn bản ở chiến trường như cầm máu, băng bó…, về y khoa phòng ngừa cho bệnh sốt rét, bệnh tiêu chảy, bệnh hoa liễu cho riêng các y tá của tôi và cho toàn thể binh sĩ của tiểu đoàn.

Tuy TĐ được lệnh cắm trại và ứng chiến 100%, TTá Phú thường làm ngơ cho tôi vài ba giờ những khi tôi ghé về nhà thăm Măng của tôi, cũng như thông cảm cho tôi khi tôi rời trại vào buổi chiều, nhảy lên xe ôm đến thẳng nhà người con gái tôi yêu, nhất là sau khi nghe tôi kể về cuộc tình 9 năm trời lận đận dang dở và ước muốn hàn gắn nối lại mối tình đầu đời của tôi. Người tôi yêu đang học năm cuối của khoa Chính Trị Kinh Doanh tại Viện Đại Học Đà Lạt.



Với các bạn cùng khóa 16 Trưng Tập Quân Y tình nguyện vào Nhảy Dù.
Hình We Were Once Soldiers QYND1974, từ trái qua phải: Các Y Sĩ Trung Uý Nguyễn Đức Vượng, Nguyễn Văn Thắng, Bùi Cao Đẳng, Vĩnh Chánh, Nguyễn Thành Liêm, Y Sĩ Thiếu Tá Trần Quý Nhiếp, TĐ Phó TĐ Quân Y Nhảy Dù, Lê Quang Tiến, Nguyễn Tấn Cương, Dược Sĩ Khánh.

Vào chiều Mồng Một Tết, hiên ngang trong bộ đồ hoa dù và chững chạc trong phong cách, hạnh phúc dồn dập đến với tôi khi tôi gặp lại nàng tại nhà, sau hơn 3 năm xa cách. Sau đó tôi tiếp tục ráo riết chinh phục nàng qua những lá thư đậm đà tình thương nhớ viết từ trại quân hay trong khi đi hành quân, hoặc qua những dịp thăm viếng nhà nàng, trổ tài miệng lưỡi chiếm được cảm tình của gia đình họ hàng. Mối tình của tôi từ từ chuyển hướng thuận lợi. Trong bối cảnh chao đảo của chiến sự, càng ngày chúng tôi càng cảm thấy gần gũi sâu đậm hơn.

Đó cũng là thời gian TĐ15 ND bắt đầu trực tiếp tham dự những cuộc hành quân ở vòng đai Biệt Khu Thủ Đô, truy lùng các toán du kích Việt Cộng nổi lên đây đó hậu thuẫn cho cuộc tiến công của quân CS. Bấy giờ toàn bộ Miền Trung đã mất vào tay Cộng Quân. Cùng chung một số phận với các đại đơn vị khác của những quân khu và của Lực Lượng Tổng Trừ Bị như các Lữ Đoàn của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Lữ Đoàn 3 ND, rồi LĐ 2 ND lần lượt chịu những thiệt hại lớn tại Khánh Dương, rồi Phan Rang. Những chiến thắng thường có của bao năm trước nay dần được thay thế bởi những tin thất trận, những rã ngủ không chờ đợi, những triệt thoái vô nguyên lý, những thành phố bỏ ngỏ, hay những trận đánh bất cân xứng, những vùng vẫy tuyệt vọng kéo theo bao hy sinh đau thương trong giờ thứ 25 bất chấp lệnh trên, những mất mát sinh mạng quá lớn của cả quân và dân.

Ở Saigon, tình hình chính trị lẫn quân sự càng lúc càng  đen tối dần. Saigon với giới nghiêm sau 12 giơ đêm. Saigon với hàng trăm ngàn quân dân cán chính từ bao tỉnh đàng ngoài, trắng tay chạy lấy mạng liên tục đổ về thành phố để lánh nạn, mang theo bao câu chuyện thương tâm trên các con đường di tản. Dòng đời chao đảo, đầy gian khó.  Người đời hoang mang vì mất lòng tin ở chính quyền. Có tin nhiều nhân vật tên tuổi bắt đầu rời nước trong khi một số khác bàn đến chuyện phải ra đi dù chưa biết đi đâu. Đâu đâu cũng lo tích trử thức ăn chuẩn bị cho một cuộc tử thủ với viễn ảnh thành phố sẽ tắm trong máu lửa. Ngoài đường người đông hẵn, ai nấy bước đi vội vả, ánh mắt âu buồn trầm tư. Trong nhà các gia đình ngồi triền miên trước đài truyền hình hay lắng nghe tin tức từ BBC và VOA, bàn chuyện to nhỏ.

Sau trận đánh vào đơn vị du kích lớn ở giữa Tây Ninh và Saigon, TĐ15 được lệnh về đóng quân tạm ở vùng Hóc Môn Bà Điểm. Khi TTá Phú và tôi đi tìm gặp nói chuyện với vị Giám Đốc của hãng dệt Công Thành để ngỏ lời cho TĐ15 ND đóng bộ chỉ huy tại hảng dệt, một ngạc nhiên đầy thú vị xẩy ra khi ông Giám Đốc buột miệng hỏi tôi “có phải đây là anh Chánh, con rể ông Thạch không?” Tôi ngất ngây trả lời “dạ đúng” cùng lúc nhận ra Chú Ngưng, chồng của Dì ruột nàng ở Thủ Đức mà tôi có dịp gặp trước đây.

Ngày hôm sau, trong sự bất ngờ vui sướng của tôi, Chú Ngưng chở nàng với người em gái đến thăm tôi ngay tại bộ chỉ huy TĐ. Khi ngồi ăn trưa với bữa cơm dã chiến, nàng có vẻ “thấm” cái đời sống phong trần lính chiến của tôi, và đã e thẹn cười khi TTá Phú nói chọc “Bác Sĩ nhỏ con, người yêu BS còn nhỏ con hơn, chắc hai người sẽ đẻ ra những thằn lằn con nhỏ chút xíu!”

Khoảng gần một tuần sau, trong đêm 23 tháng 4, TĐ15 ND được điều động đến bố trí ở cầu Bình Triệu, trên trục xa lộ Đại Hàn. Đó cũng là thời gian thị xã Xuân Lộc vừa mất. Một trận chiến kinh hồn đã diễn ra suốt 13 ngày đêm tại đây. Quân đoàn 4 của CS Bắc Việt gồm các sư đoàn 5, 6, 7 và 34 với hàng trăm chiến xa đại bác dồn toàn lực tấn công. Sư Đoàn 18 Bộ Binh của Tướng Lê Minh Đảo, với sự hỗ trợ của LĐ 1 ND, Liên Đoàn 82 Biệt Kích Dù và Không quân lần đầu sử dụng những quả bom lớn 5 tấn Daisy Cutter, đã chận đứng bước tiến của chúng, gây thiệt hại rất nặng nề cho quân địch (*). Dù trễ, trận đánh đã gây một tiếng vang lớn xa gần và khiến những chiến sĩ quanh tôi và chính tôi lên tinh thần và tìm lại được khí thế hào hùng.

Như những quân nhân bảo vệ Xuân Lộc bị dồn vào chân tường nên đã quyết tâm anh dũng chiến đấu, chúng tôi vẫn đang còn đây, cho đến giờ phút này, sẵn sàng chờ đến lượt mình vào trận cuối cùng. Và cứ thế, TĐ15 ND bám chốt với lệnh cố thủ bảo vệ cây cầu cho đến phút cuối, hay người lính cuối cùng.

Trong những ngày kế tiếp, từ sáng sớm cho đến chiều tối, tôi chứng kiến hàng trăm hàng ngàn xe đủ loại, từ xe đạp cho đến các xe Honda, Lambretta… xe quân đội lớn nhỏ, xe chở hàng cồng kềnh đầy người và đồ vật, lính tráng thuộc đủ binh chủng và thường dân, lũ lượt kéo nhau chạy trong hỗn độn từ hướng Biên Hòa về Saigon, ngang qua cầu Bình Triệu. Có lúc tôi tự hỏi làm sao biết được trong đám người chạy loạn này, ai là bọn VC cố ý len lỏi theo đám đông vào nội thành để hoạt động nội tuyến!?

TĐ15 ND bung quân làm nhiều nút chặn ở cả phía bên này và bên kia cây cầu. Tôi nhận thấy TĐ có bố trí 2 xe jeeps có mang đại bác 106 ly chống chiến xa và 2 xe jeeps khác với trang bị hỏa tiễn Tow. Đa số binh sĩ đều có mang trên lưng loại rocket M 72 chống tăng, trong vị trí sẵn sàng chống trả cản bước tiến của quân thù. Trong tư thế Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn, tôi cố chuẩn bị trong khả năng của mình để cấp cứu và tản thương theo hàng dọc.

Đêm 28 tháng 4, địch pháo kích dữ dội vào trại Hoàng Hoa Thám và căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Tiếng nổ và những cột lửa bùng cháy trong đêm làm tôi thao thức tới gần sáng. Lệnh trên vẫn muốn TĐ án binh bất động trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Bộ chỉ huy TĐ cấp tốc dời qua phía bên này cầu.

Sáng ngày 29, tôi nhìn thấy nhiều trực thăng của Mỹ bay trên trời, kể luôn cả cặp phi cơ phản lực bay vòng vòng như thể hộ tống. Xung quanh tôi ai cũng mường tượng có một chuyện gì đang xẩy ra ở Saigon, nhưng chẳng một ai biết đích thực. Không lẽ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ nhảy vào lại cuộc chiến? Nếu được như vậy, ít ra ta cũng còn cơ hội củng cố lại, tình hình rồi sẽ tốt đẹp hơn…Tôi ngây thơ mơ tưởng hay tự dối lòng?!

Gần trưa, tôi bước đến nhà thờ Đức Mẹ Fatima ở bên kia cầu Bình Triệu. Nhà thờ mở cửa nhưng không một bóng người. Một mình, tôi quỳ đọc kinh và kính cẩn cầu nguyện, xin Chúa ban ơn phước cho đơn vị Nhảy Dù của tôi, cho gia đình Măng tôi và gia đình nàng được bình an và nàng đừng rời nước để chúng tôi còn gặp lại nhau. Khi định rời nhà thờ, tôi bỗng nhìn thấychiếc máy điện thoại nằm trong góc và nẩy ra ý liên lạc với nàng dù biết nhà nàng không có điện thoại. May mắn thay, từ cuốn niên giám cũ bên cạnh điện thoại, tôi tìm ra số điện thoại của Cụ Mai Văn An, một Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện ở cùng cao ốc với nhà nàng. Sau khi Cụ An cho biết là gia đình nàng còn nguyên vẹn đây, tôi cám ơn Cụ và nhờ Cụ nhắn lại với ba của nàng là tôi, tự nhận là con rể, bình yên và đang đóng quân ở cầu Bình Triệu. Rời khuôn viên nhà thờ, lòng tôi cảm thấy thanh thản, phó mặc mọi sự trong tay Chúa an bài.

Đêm 29 Cộng Quân lại pháo kích dữ dội vào Tân Sơn Nhất và trại Hoàng Hoa Thám của Sư Đoàn Nhẩy Dù. Tín hiệu vô tuyến của Trung Tá Lê Minh Ngọc, Lữ Đoàn Trưởng LĐ 4 ND hoàn toàn im lặng. Sau đó liên lạc vô tuyến giữa TD15 ND với bộ Tư Lệnh SĐ ND cũng bị gián đoạn. Tuy nhiên 3 Tiểu Đoàn 12, 14 và 15 ND và Lữ Đoàn Phó vẫn còn giữ liên lạc với nhau.

Trong cùng đêm, TĐ15 ND có đụng nhẹ với các toán đặc công VC ở phía bên cầu. Lại một đêm chập chờn, không ngủ, bên cạnh những ly cà phê đậm đặc và thuốc lá đốt không ngừng! Mọi người ngồi bất động, tư lự xung quanh các máy vô tuyến kêu rè rè, thỉnh thoảng mới có một vài báo cáo từ các đại đội. Không một ai muốn lên tiếng. Người nào trong đầu cũng đầy những câu hỏi mà chẳng ai có thể trả lời.

Qua sáng ngày Thứ Tư, 30 tháng Tư, 1975, tại bộ chỉ huy TĐ15 ND, tôi đón nhận 4 người thương binh của TĐ. Trong số đó có một thương binh nặng cần phải tản thương gấp vì trúng đạn vào bụng. Sau khi tôi chuyền nước biển và viết tờ tản thương, Ban 3 TĐ cho biết không thể tản thương vì không liên lạc được với bất cứ đơn vị quân y nào như BV Đỗ Vinh, Tổng Y Viện Cọng Hòa. Tôi suy nghĩ đôi chút và trình bày với TTá Phú ý định tôi sẽ chuyễn thương binh này đến BV dân sự Nguyễn Văn Học.


Nàng đến thăm tôi ngay tại bộ chỉ huy Tiểu Đoàn.

Trong khi chúng tôi đứng cách xa người thương binh để bàn tính chuyện tản thương, anh ta bỗng kêu lên “Xin đừng chuyển tôi đi đâu cả. Để cho tôi chết ở đây…” và trong tích tắc, anh lấy ngay khẩu súng M16 nằm dọc cạnh anh trên chiếc băng ca, lên cò cái rẹt, quay mũi súng vào ngay dưới cằm. Nhiều tiếng la cản lên nhưng không kịp. Một tiếng nổ chát tai khiến mọi người bất động, rồi tất cả đổ xô chạy chạy lại vây quanh băng ca, nhưng chỉ còn kịp để thấy anh đang ngáp cá, người run nhẹ, vết thương mở rộng ở mặt và đầu, máu văng tung tóe. Tôi cầm chặt bàn tay anh, người y tá lấy tay vuốt mắt anh. Cơ thể anh từ từ dãn ra, đi vào cõi chết.

Những người có mặt giữ im lặng trong bầu không khí đau thương. Chỉ trong một khoảnh khắc, chúng tôi chứng kiến người lính trẻ đã làm một quyết định nhanh chóng và dứt khoát, cho thấy khí thế anh hùng bất khuất của một chiến sĩ. Một cái chết hiên ngang khi cuộc chiến đang dần tàn. Anh đạt ước nguyện chết trong danh dự với sự hiện diện của đồng đội chung quanh. Toàn thể bộ chỉ huy cùng đứng nghiêm, cố ngăn dòng lệ rơi, đồng đưa tay chào vĩnh biệt người lính.

Trong khi sự tự vận bất ngờ của người thương binh đang gây xốn xang đau lòng cho bộ chỉ huy tiểu đoàn, từ radio chúng tôi nghe bản tuyên bố đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh được lập lại nhiều lần. Sau một thời gian dài trên vô tuyến, TTá Phú quay về phía tôi và không một lời giải thích, bảo tôi đi theo với ông. Tôi ngồi sau lưng TTá Phú trên cùng một chiếc xe jeep, bên cạnh người lính truyền tin và 2 cận vệ. Người sĩ quan Ban 3 đi xe thứ hai với một toán lính khác. TĐ Phó ở lại bộ chỉ huy TĐ.

Tôi chẳng biết đoàn xe đang chạy về đâu, cho đến khi xe ngừng trong sân toà Tỉnh Trưởng Gia Định. Nhìn xung quanh, tôi thấy cả trăm người dân chạy hỗn độn trong sân, tranh dành vác những bao gạo từ trong toà tỉnh đi ra. TTá Phú đến bên tôi nói nhẹ “Bác sĩ đi đi!”, rồi ông quay lưng lại tiến vào phía bên trong tòa tỉnh với toán binh sĩ của ông. Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy TTá Phú tại Việt Nam. Và đó cũng là lần cuối tôi rời vĩnh viễn Tiểu đoàn 15 Nhẩy Dù. Tôi cúi đầu, trong nghẹn ngào. Sững sờ, trong đê hèn. Bàng hoàng, trong đau đớn. Muốn gào thét nhưng miệng khô đắng. Muốn khóc nhưng mắt khô vì tủi nhục. Còn cái chết?! Tôi chưa một lần nghỉ đến.

Đang đứng ngơ ngác không biết phải làm gì thì một người đàn ông bước ngang bên cạnh tôi nói liền “ông cổi bỏ súng xuống và thay đồ nhanh lên”. Như cái máy, tôi vội chạy đến gần gốc cây lớn, định cổi bỏ tất cả. Nhưng sực nhớ lại, tôi chẳng có bộ áo quần dân sự nào trong ba lô. Vừa lúc ấy, có một thanh niên chạy ngang tôi với bao gạo trên vai. Tôi chận anh ta lại và xin bộ áo quân đang mặc trên người, cùng lúc tôi lục ví đưa tờ 500 đồng cho anh. Không một chút do dự anh ta thả bao gạo xuống đất, rồi vừa nhìn tôi như thông cảm anh ta cởi áo quần đưa cho tôi, cho luôn cả đôi dép nhật nữa…

Tôi cởi áo giáp, giây ba chạc có súng, bi đông nước, nón sắt, rồi nhanh chóng cổi đôi giày lính và bộ quân phục, gom lại để vào dưới gốc cây. Rồi tôi mặc cái áo màu xanh da trời nhớp nhúa và xỏ cái quần đậm màu, đi nhanh ra phía đường lớn đón chiếc xe ôm, bảo chở về đường Cao Thắng ở Saigon. Nhà nàng.

Xe ôm chở tôi đi qua nhiều đoạn đường vắng, mọi nhà đóng cửa. Đây đó là những đống áo quần trận, nón sắt, áo giáp và súng đạn rải rác bên vệ đường. Có những đoạn đường người đi lại khá đông hay tụ tập hai bên đường, và có những chiếc xe chở đầy người với mặt mày sắt máu, hô to khẩu hiệu và phất cờ MTGPMN… Cũng những con đường ấy tôi thường chạy qua lại, mà sao bây giờ bỗng trở thành xa lạ, mờ ảo như trong một cõi âm. Những âm thanh la hét, còi xe, lùng bùng trong tai tôi. Mắt tôi thấy mọi hình ảnh bên ngoài, nhưng chẳng thấu hiểu; lòng tôi như tê dại, chẳng thể suy nghĩ gì. Nhớ đến người thương binh tự vận chết sáng hôm nay, tôi ngước nhìn lên trời. Một màu tang tóc đang chụp xuống thành phố thân yêu.

Xe vào đường Cao Thắng. Nàng là người đầu tiên từ trên balcon nhìn thấy tôi bước xuống xe ôm. Nàng và các em chạy nhanh xuống mở cổng đón tôi vào. Khi đến thang lầu, tôi phải vịn vào vai nàng để bước lên từng bước. Thể tôi rã rời và tinh thần khủng hoảng, tôi thật chẳng hiểu vì sao mình lại về được đến nhà an toàn.

Hầu như mọi người đều thông cảm và tôn trọng sự yên lặng của ba nàng và của tôi. Chiều đến, tôi đạp xe về nhà Măng tôi ở cư xá Sĩ Quan Chí Hòa cho bà cụ yên tâm, rồi tôi chở Măng tôi đến nhà nàng xin ba mẹ nàng cho phép tôi ở tạm nơi đây, vì cư xá Sỹ Quan Chí Hoà quá nguy hiểm.

Tối ngày 30 tháng 4, chúng tôi ngồi ở balcon nói chuyện với nhau thật khuya. Trước đây, trong một lá thư gởi cho nàng, tôi có viết “anh xin làm bóng mát trên con đường em đi”. Giờ đây, với sự đổi đời, tương lai tôi mù mịt, viễn ảnh những năm tháng sắp tới là chuổi ngày đen tối, đọa đày và tôi e ngại tôi chẳng còn khả năng làm bóng mát cho em. Nàng ngồi nghe tôi nói nhiều hơn trả lời. Vì có lẽ câu trả lời đã được quyết định tự lúc nào.

Em yêu dấu, tôi viết bài này mến tặng Em, người đã can cường cứu vớt đời tôi khi quyết định thành vợ thành chồng với tôi trong một đám cưới quá đơn giản tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng. Chỉ 3 ngày sau khi mất nước, lễ cưới được Cha  Laroche của Dồng Chúa Cứu Thế chủ hôn. Với chúng tôi, đây là “đám cươi chạy tang khi mất nước”, diễn ra trong đạm bạc, cô dâu không áo cưới. Hình ảnh kỷ niệm chỉ có hai tấm hình đen trắng. Sau đó với tôi là mấy năm đi tù cải tạo, rồi đi tù vượt biên, em đã cùng tôi vượt qua bao thử thách, cho  đến khi chúng ta đến bến bờ tự do.
Ba ngày sau 30 Tháng Tư 75: lễ cưới được Cha Laroche của Dồng Chúa Cứu Thế chủ hôn. Với chúng tôi, đây là “đám cươi chạy tang khi mất nước”, diễn ra trong đạm bạc, cô dâu không áo cưới.



Ba ngày sau 30 Tháng Tư 75: lễ cưới được Cha Laroche của Dồng Chúa Cứu Thế chủ hôn. Với chúng tôi, đây là “đám cươi chạy tang khi mất nước”, diễn ra trong đạm bạc, cô dâu không áo cưới.



Tôi cũng viết bài này để tưởng nhớ đến người bạn thân, BS Bùi Cao Đẳng, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 1 ND, bạn đồng môn đồng khóa và đồng binh chủng Quân Y ND với tôi, người được sinh ra vào ngày 30 tháng 4, năm 1946, cùng tan hàng rã ngũ như tôi vào ngày 30 tháng 4, năm 1975 và đã vĩnh viễn ra đi cũng vào ngày 30 tháng 4 năm 2012 tại MD, USA.

Thân tặng các chiến hữu của Tiểu Đoàn 1 ND và của Tiểu Đoàn 15 ND, đã chết trong bão tố khói lửa hay còn sống thầm lặng, hiện đang tự do ở hải ngoại hay ê chề ở trong nhà tù lớn tại Việt Nam, với những kỷ niệm chinh chiến không thể quên.

“Cho tôi xin lại ngọn đồi, ở nơi tôi dừng quân cũ
Cho tôi xin lại bờ rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau
Cho tôi xin một lần chào, chào bao nhiêu người đã khuất
Xin cho tôi được nằm gần, bên ngàn chiến hữu của tôi”

Viết trong tháng Tư, 2013, tại California.
Vĩnh Chánh
Nguôn:Việt Báo

(*)Tài liệu tham khảo cho bài viết:
1. Chiến Sử Sư Đoàn Nhảy Dù
2. Battle of Xuan Loc, by Phillip B. Davision
3. Fighting is an art, by George J. Weight
4. Fighting to the end, by Brigadier General Trần Q. Khôi
5. vietnamwar.net
6. sudoan18bobinh.com

.
Về Đầu Trang Go down
leminh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Sat Apr 19, 2014 10:10 am


Song Vũ và bút ký “Sau Cơn Binh Lửa”




Cuộc chiến đã chấm dứt gần bốn mươi năm. Thời gian đủ để chôn xóa tất cả mọi dấu tích bom đạn trên quê hương, nhưng vẫn chưa mờ nhạt trong ký ức và làm lành được vết thương trong lòng những ai từng tham dự hoặc chịu nhiều hệ lụy từ cuộc chiến ấy. Đặc biệt, những người lính miền Nam, một thời chiến đấu can trường, sẵn sàng hy sinh cho đất nước, để rồi bất ngờ phải nhận chịu thân phận kẻ bại trận trong đớn đau tức tưởi.

Từ nỗi oan khiên đó, trong suốt thời gian qua , đã có đông đảo những người lính trong mọi quân binh chủng viết về cuộc chiến, phân tích các nguyên nhân thắng bại hoặc kể lại những năm tháng hào hùng với biết bao chiến công hiển hách, ngỡ như không thể có ngày phải bàng hoàng buông súng. Đa số trong họ không phải là nhà văn, hoặc muốn trở thành nhà văn. Họ cầm bút chỉ để viết ra, giải tỏa những điều ẩn ức theo tháng năm đè nặng trong lòng. Viết để chia sẻ với những đồng đội cũ hầu cùng nhau tìm lại những kỷ niệm kiêu hùng của một thời trai trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Viết để phân tích tìm hiểu những nguyên nhân nào đã đưa cuộc chiến đến một kết thúc đau lòng. Và cũng để cho con cháu – thế hệ ít nhiều bị hệ lụy từ cuộc chiến ấy – hiểu được tinh thần và khả năng chiến đấu của cha ông, nhưng vì sao đã có một ngày 30 tháng 4 buồn thảm.

Trong số nhiều cây bút ấy, thỉnh thoảng chúng ta đọc được một số bài viết của tác giả Song Vũ. Một cái tên còn khá xa lạ, nhưng có lẽ ai cũng rất thích thú và nhận ra những giá trị đặc biệt ở các bài viết của ông. Không phải chỉ ở cách hành văn, mà còn ở sự trung thực, sống động cùng những nhận định sâu sắc, độc đáo mà chúng ta không tìm được ở nhiều tác giả khác. Một trong những nguyên nhân dẫn tới thành công: tác giả là người trong cuộc, luôn có mặt trong các trận chiến với những quyền hạn, trách nhiệm trực tiếp. Vì vậy, ngoài tính trung thực được xác tín, tâm hồn tác giả cũng chan hòa theo từng dòng chữ, từng sự kiện, đã tạo cái hồn cho các bài viết.

Song Vũ là bút hiệu của cựu Trung Tá Ngô Văn Xuân, tốt nghiệp Khóa 17 Võ Bị QGVN. Trong suốt 13 năm binh nghiệp, ông đều ở các đơn vị tác chiến, và liên tục trải qua hầu hết các chức vu chỉ huy từ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn đến trung đoàn, ngoại trừ những thời gian theo học các khóa tham mưu, dưỡng thương và gần một năm giữ chức vụ Trưởng Phòng 3 (Hành Quân) Sư Đoàn. Trước tháng 4/1975, ông là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44/ SĐ23BB, đơn vị ưu tú đã tạo nhiều chiến tích lẫy lừng, góp phần giữ vững được Kontum -Tây Nguyên trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Ngoài khả năng lãnh đạo chỉ huy, đảm lược, ông còn nổi tiếng là một vị chỉ huy trẻ đạo đức, thanh liêm, bình dị, luôn được tất cả mọi thuộc cấp thương yêu, kính phục. Ông sống chết cùng đơn vị cho tới giờ phút cuối cùng. Sau khi miền Nam thất thủ, bị giam cầm trong nhà tù CS trên 13 năm, ông sống còn qua nhiều cơn bệnh thập tử nhất sinh, nhờ vào tình thương yêu của bạn tù và ông tin có sự nhiệm mầu nào đó.

Qua tập bút ký dày 510 trang, người đọc sẽ nhìn thấy rõ hơn con người và cả tâm hồn, cũng như lòng trắc ẩn của tác giả.
Mở đầu cuốn sách, tác giả đã mượn lời của Erich Maria Remarque, lời tựa trong tác phẩm All Quiet On The Western Front ( Mặt Trận Miền Tây Yên Tĩnh) để nói lên suy nghĩ và mục đích khi khai sinh tác phẩm của minh:
“Cuốn sách này không phải là sự buộc tội, cũng không phải là sự thú tội, lại càng không phải là một cuộc phiêu lưu; bởi vì những ai đã từng đối mặt với cái chết thì chẳng ai phiêu lưu đi tìm nó cả. Cuốn sách chỉ đơn giản là nói về một thế hệ những con người, cho dù đã thoát ra khỏi lằn tên mũi đạn, cũng đã bị hủy diệt mất rồi.”

Và trong “Lời Thưa” thay cho lời tựa, tác giả cũng “thưa” thêm:

Tuổi đời chồng chất, sức khỏe và những hăng say của tuổi thanh xuân ngày càng nguội dần. Tôi thấy cuộc sống mình hụt hẫng hoang mang. Mỗi năm lại vắng thêm đồng đội và rồi một ngày nào đó, cũng sẽ tới lượt chính mình. Điều tự nhiên đó, thực chất chẳng phải là nỗi ưu tư bởi vì đó là quy luật. Nhưng điều làm tôi suy ngẫm là ý nghĩa về cuộc đời của chính mình, thế hệ của chúng tôi, qua những việc đã làm, những đau thương đã trải, thực sự là gì? Hoặc chẳng là gì hết ?
Những băn khoăn đó là cảm hứng cho tôi viết tiếp một số bút ký tiếp theo có mặt trong cuốn sách này. Dĩ nhiên đây vẫn chỉ là những cảm nhận của riêng tôi và việc viết ra là mong muốn chia sẻ biết đâu chẳng là một việc hữu ích cho những thế hệ tiếp nối?

Ngoài “Lời Thưa” và “Lời Cảm Tạ” ở các trang đầu và cuối sách, tập bút ký gồm 21 bài viết. Mỗi bài là những mảnh đời của tác giả ghép lại, lồng trong các đơn vị tác giả đã từng phục vụ, trong các trận chiến mà ông đã từng chỉ huy, tham dự. Tâm hồn của ông chan hòa trong tình đồng đội và số phận thăng trầm cùa quê hương đất nước. Ở đó, gần như trong bất cứ trang sách nào, người đọc cũng sẽ thấy phảng phát hình ảnh của những người lính chiến thực thụ, trách nhiệm hiểm nguy và số phận nghiệt ngã của họ cùng với tình huynh đệ mà họ đã dành cho nhau trong suốt cuộc chiến cũng như sau ngày buông súng.

Nếu là người đã từng phục vụ cùng đơn vị hoặc bị giam giữ cùng tù với tác giả, đọc những bài viết của ông, sẽ có cảm giác thời gian như đang quay ngược lại, để được nhìn thấy khuôn mặt, dáng dấp của hầu hết bạn bè, sẽ có cảm xúc từ hãnh diện đến đau đớn xót xa. Mỗi trang, mỗi chữ trong bài viết như thắm đẵm máu, nước mắt và cả nghĩa tình đồng đội, những người còn sống hay đã hy sinh.

Sau những kỷ niệm vui buồn của tác giả từ ngày bước chân vào “Con đường binh nghiệp” rồi ” Vào nơi gió cát” là các bài viết sống động về các trận chiến Kontum mùa hè 1972 và Mặt trận Cao Nguyên tháng 3/75. Ở đây độc giả sẽ đọc được nhiều điều mới lạ, hiểu thêm về nguyên nhân mất Ban Mê Thuột dẫn đến “triệt thoái Cao Nguyên” để cuối cùng mất cả miền Nam.

Song Vũ đã viết về cuộc chiến không chỉ bằng nhãn quan, tâm trạng mà còn bằng máu của một người lính chiến trường thực thụ trong hơn 13 năm binh nghiệp. Sau đó ông còn có 13 năm tù, một lượng thời gian tương đương binh nghiệp. Mười ba năm ấy, là thời gian tác giả có thể gặp gỡ hầu hết bạn bè cùng cấp, những tướng lãnh có trách nhiệm trong nhiều mặt trận cũng như ở các bộ tham mưu đầu não, giúp ông có thêm nhiều dữ kiện chính xác. Thời gian 13 năm ấy cũng đủ để ông suy ngẫm và cho chúng ta những nhận định có giá trị. Vì vậy những phân tích thắng bại, ngoài tính chuyên nghiệp còn bằng những trải nghiệm, hiểu biết thực tiễn và sâu sắc .

Điều đặc biệt là ông không hề qui trách nhiệm cho các lực lượng đồng minh hay một bàn tay ngoại nhân nào, mà trước hết là ở chính chúng ta.

Trong cuối bài dich thuật tiểu phẩm Raid at Entebbe (Cuộc đột kich tại Entebbe) của tác giả Ira Peek, tường thuật lại cuộc đột kích thần kỳ của Lực lượng Do Thái vào phi trường Entebbe /Uganda, vào tối ngày 3 rạng ngày 4/7/1976, giải cứu 103 con tin bị bọn khủng bố PFLP bắt cóc, Song Vũ đã viết :

Qua câu chuyện về chiến công kỳ diệu này, tôi nghĩ đã có thể nhìn thấy nguyên do đó. Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, phe thắng trận ít nhất cũng phải có được một yếu tố nổi bật: Một nhóm chỉ đạo chíến lược thật sự tài năng hơn kẻ thù. Từ yếu tố này sẽ mang đến những hệ quả tất nhiên – sự tổng hợp sức mạnh cần thiết để đưa cuộc chiến đấu tới thắng lợi sau cùng. Dân tộc Do Thái có yếu tố ấy còn chúng ta thì không.

Các tướng lãnh, sĩ quan Do Thái sống chết với lính, còn hơn thế nữa, các lãnh tụ chính trị của họ đồng kham cộng khổ với dân, sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng tư cho lợi ích chung của đất nước.

Tôi không chia sẻ quan điểm của một số người khác cho rằng, một ngày nào đó khi Do Thái không còn cần thiết cho lợi ích của Hoa Kỳ, họ sẽ bị bỏ rơi, nhưng tôi tin chắc rằng, chính phủ Hoa Kỳ không thể bắt một dân tộc đồng minh diệt vong khi dân tộc ấy có đủ tài trí và khả năng để tự sinh tồn.

Thực tâm tôi không muốn khơi dậy một vết thương chưa lành trong nỗi đau chung của những thế hệ trong trang lứa chúng tôi, một thế hệ đã lãnh đủ mọi tai ách, hy sinh mà không hoàn thành được sứ mạng bảo vệ đất nước, dân tộc mình. Nhưng nếu cứ mãi đổ vấy cho sự thất bại ấy là do sự tráo trở của đồng minh, tự coi mình là một thứ lính đánh thuê thì theo tôi, sự hy sinh của thế hệ chúng tôi trong cuộc chiến vừa qua là một điều rất đáng buồn!”


Tác giả Song Vũ (khi còn là SVSQ)

Là một sĩ quan tốt nghiệp từ quân trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, được đào tạo để “không cầu an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm” như lời dạy của vị Chỉ Huy Trưởng năm nào, tác giả Song Vũ đã làm hết khả năng và tâm huyết, kể cả việc sẵn sàng hy sinh tính mệnh, nhưng cuối cùng đã phải đớn đau xót xa trước số phận của mình và vận nước.

Người viết ngưỡng mộ tác giả và rất tâm đắc khi đọc qua tập bút ký Sau Cơn Binh Lữa, nhưng không có đủ khả năng trình bày hết các đặc điểm cùng những phân tích sâu sắc của tác giả và cả cảm xúc của chính mình. Cách tốt nhất, xin mời quí vị tìm đọc để có thể hiểu rõ giá trị của tác phẩm. Đây cũng là một cách chia sẻ và khích lệ dành cho tác giả.

Tháng ba 2014,
Phạm Tín An Ninh



RA MẮT BÚT KÝ “SAU CƠN BINH LỬA”
 
Bạn bè và đồng đội của tác giả Song Vũ sẽ tổ chức ra mắt tác phẩm Sau Cơn Binh Lửa vào ngày:
 
Thứ Bảy 19 tháng 4 năm 2014 (lúc 12 giờ trưa) tại Trụ Sở Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc Cali (địa chỉ; 111 E Gish Road, San Jose CA 96112).
 
Với các diễn giả:
 
Nhà văn Phan Nhật Nam, Nhà thơ Võ Ý, Nhà văn Đoàn Phương Hải
Điện thoại liên lạc BTC: Bs Phạm Đức Vượng: (408) 226-8844, Nguyễn Quang Trung: (408) 334-6931
 
Liên lạc tác giả:
Email: songvungo@gmail.com
Điện thoại: (408) 378-5458




.
Về Đầu Trang Go down
hoangan
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Sun Apr 20, 2014 1:00 pm


Đôi Dép Tháng Tư



 
Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) - Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, hắn “được Cách Mạng nhân đạo khoan hồng tập trung để bảo vệ tính mạng cho, vì nếu để ở ngoài sẽ bị nhân dân trả thù”.

Huyện Củng Sơn thuộc tỉnh Tuy Hòa là vùng hoạt động của “Cách Mạng” trước 75. Lúc mới “nhập môn” giữa vùng rừng núi này, mỗi lần đi ra ngoài “học tập lao động để sau này trở về không còn bóc lột như thời Mỹ Ngụy nữa, mà biết tự mình làm ra của cải vật chất hầu nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội”, hắn nơm nớp sợ đồng bào địa phương có tiếng là dân Cách Mạng, sẽ trả thù (thù gì thì hắn không biết), nếu họ bắt gặp và nhận ra hắn là “ngụy quân.”

Một hôm, trên đường đi “lao động là vinh quang” ngang qua khu chợ, có mấy người dân chạy theo đoàn tù binh. Hắn lo lo; đang lúc chuẩn bị tinh thần chịu trận “nhân dân trả thù” thì có người dí vào túi áo hắn gói thuốc lá Sông Cầu. Đó là một nhân dân hoàn toàn xa lạ. Hắn sửng sờ, chưa kịp nói lời cảm ơn thì người đàn bà ân nhân đã lách vội vào đám đông như tìm đường chạy trốn. Từ đó về sau, nhiều người trong đám tù và hắn lâu lâu lại được “nhân dân trả thù” như thế; khi cục đường mía, lúc miếng kẹo lạc.

Lại một hôm, đám tù được thả lỏng phân tán mạnh ai nấy tự đi tìm... cỏ tranh để cắt (về lợp nhà). Hắn được một phụ nữ quần áo vá đùm vá đụp mặt hốc hác, chạy đến trước mặt, mắt dáo dác ngó trước ngó sau một vòng rồi dí vào tay cho cái bánh ú làm bằng bột củ sắn mì với nhân hột mít. Chị ta nói,” Anh ăn cho đỡ đói. Bây giờ chúng tôi mới hiểu ra... và thương các anh quá”.

Không thấy “nhân dân trả thù” mà chỉ gặp nhân dân “thương các anh quá”, nhưng Cách Mạng vẫn nhất quyết tiếp tục “bảo vệ tính mạng cho Ngụy quân ngụy quyền, những kẻ có tội với nhân dân mà lấy hết trúc Trường Sơn làm bút, lấy sạch nước Biển Đồng làm mực cũng tả không xiết”. Tháng lại tháng. Năm qua năm. Đêm đêm nằm nêm cối đến ngộp thở trong những dãy nhà được bao bọc bởi nhiều lớp kẽm gai xen kẽ lớp xương rồng rồi lớp mìn bẩy, lớp hầm chông. Ngày ngày đi ra ngoài làm đủ thứ công việc của người tù khổ sai. Khi đi lẫn lúc về, đoàn tù binh phải dừng lại nơi cổng ra vào để lính gác đếm. Đi, đếm rất mau; về, vừa đếm vừa khám xét khắp người tù xem có lận theo trong túi áo thắt lưng con cóc con nhái, con rắn con rít, hay cọng rau nạm cỏ (như cỏ sam heo ăn được là tù ăn được)... gọi chung là những thứ “cải thiện linh tinh” bị cấm ngặt, nên trong khi chờ đợi, cứ phải ứa gan với cái bảng đỏ to tổ chảng trước mặt treo vắt ngang giữa hai cái lô cốt chằm chằm hai bên cửa ra vào, có hàng chữ màu vàng khè “KHÔNG CÓ GÌ QUÍ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO” phía trên hàng chữ “TRẠI CẢI TẠO A30” . Mỗi lần như thế, hắn lại hình dung ra cảnh tú bà cho treo trước cửa nhà chứa của mụ, cái băng trắng chữ đỏ “Chữ Trinh đáng giá ngàn vàng”. 




“Ngày như lá tháng như mây”, chỉ là với thế giới bên ngoài. Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Hắn thường bày tỏ rằng, nhờ Ơn Trên phù hộ hắn mới qua khỏi hơn 2500 cái "thiên thu tại ngoại”, để có ngày được “Cách mạng khoan hồng” cấp cho tờ “Giấy Ra trại”. Trên đường về với gia đình tận vùng Cao Nguyên, hắn phải ghé lại Nha Trang để chờ mua vé xe cho chặng đường cuối. Hắn đi lang thang để nhìn lại cảnh cũ người xưa nơi thành phố mà hắn đã qua nhiều thời kỳ gắn bó. Thuở nhỏ “du học”; lớn đi thi Tú Tài; mấy tháng học Không Trợ tại Trường Không Quân, và những lần “quá cảnh” trên đường đi đi về vê. Người thiếu nữ đầu tiên đi qua đời hắn cũng từ bãi thùy dương cát trắng này. Nha Trang đã là một phần đời hắn.

Hắn đi ngang quầy bán thuốc lá lẻ bên lề đường Nguyễn Hoàng. Bỗng dưng hắn nhớ và thèm một điếu thuốc CAPSTAN ngày nào. Sau khi tính nhẩm và chắc chắn số tiền Trại cải tạo cấp cho theo tiêu chuẩn nhà nước làm “của ăn đi đường” còn đủ để mua được hai điếu thuốc lá Song Long (hắn biết giá thuốc vì Trại thỉnh thoảng có mua giùm cho những ai có tiền cần mua), hắn mạnh bạo tiến đến phía quầy bán thuốc. Đã gần bảy năm, nay hắn mới được thấy lại nụ cười chào khách của những người bán thuốc lá bên đường mà trước kia hắn thường gặp. Hắn hân hoan như vừa tìm lại được một điều gì quý hóa đã mất từ lâu lắm. Nhưng bỗng dưng hắn chưng hửng khi thấy mặt cô gái bỗng nhiên tối sầm lại và tỏ vẻ dửng dưng với khách. Hắn ngạc nhiên trước thái độ thay đổi đột ngột của cô gái. Hắn kiểm điểm lại mình, và đinh ninh mình không hề có cử chỉ khiếm nhã nào hay nói năng gì khác ngoài lời hỏi mua thuốc lá. Hắn sực nhớ lúc nãy cô gái có liếc mắt xuống đôi chân hắn. Hắn chợt thoáng “lý đoán” ra nguyên nhân. Nhìn thẳng vào mặt cô bán thuốc, với vẻ nghiêm trang, hắn nói:

“Anh vừa từ trại Cải tạo ra, đang trên đường về, nên đành phải mang đôi dép này”.

Khi hắn vừa mới nói đến “Anh vừa từ trại cải tạo ra”, cặp mắt cô gái sáng lên và đôi má cô ửng hồng, nhếch lên để lộ ra cái núm đồng tiền. Hình như cô muốn nói điều gì mà không cất lên được. Cô luống cuống lấy trong hộc ra gói thuốc Hoa Mai còn nguyên rồi bằng hai tay đưa lên sát ngực hắn, với ánh mắt thương cảm trìu mến:

“Anh cầm lấy, em biếu anh. Rất tiếc bây giờ không còn thuốc trước 75”.

Hắn đã bỏ hút thuốc từ lâu, nhưng vẫn nhớ mãi gói thuốc của ba mươi năm về trước. Mỗi tháng Tư về, hắn lại càng thấy món nợ hắn mắc mỗi to hơn.

Không phải nợ gói thuốc lá cô gái biếu. Nhưng là nợ chính cuộc đời cô mà hắn đã không bảo vệ được. Để ít ra cô khỏi phải nhìn thấy những Đôi Dép Tháng Tư đưa dân Nam đến cảnh bần cùng khốn nạn.
 
Nguyễn Bá Chổi
danlambaovn.blogspot.com




.
Về Đầu Trang Go down
Thien Do
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Sat Apr 26, 2014 11:09 am


Kha Tư Giáo – Người chiến sĩ bất khuất của tự do

Trần Văn Giang


( HNPĐ ) Gần đây truyền thông và báo chí của người Việt hải ngọai đã tốn rất nhiều thời giờ, công sức, dài dòng về sự vô liêm sỉ, bất xứng, trở cờ của một số cỏ đuôi chó sống đời tị nạn ở hải ngọai




Lời mở đầu:
 ( HNPĐ ) Gần đây truyền thông và báo chí của người Việt hải ngọai đã tốn rất nhiều thời giờ, công sức, dài dòng về sự vô liêm sỉ, bất xứng, trở cờ của một số cỏ đuôi chó sống đời tị nạn ở hải ngọai.  Các ngọn cỏ đuôi chó này đang uốn éo theo ngọn gió phỉnh gạt mới của cộng sản: ồn ào hô hào “hòa hợp hòa giải” với cộng sản, “quên đi qúa khứ, hướng về tương lai… (sic)”  Trong số đó, buồn thay, có cả những người đã từng nắm vai trò lãnh đạo của miền Nam Việt Nam trước 30/4/1975.  Những tên tuổi này đã từng (bị cộng đồng lật tẩy) có thành tích lừa thầy, phản bạn và đâm sau lưng chiến sĩ, đồng đội.  Đã đến lúc chúng ta nên quên họ đi…  Hãy để mặc cho họ tha hồ múa may theo nhịp trống bịp bợm mà mafia CS đang đập, trước khi họ lại được chính bọn CS cho học một bài học lường gạt (cũ rích) của CS.  Các bài học lịch sử của sự “liên minh” với vẹm năm 1945, của sự ký hiệp ước với CS (Paris Accord – Hiệp định Ba-lê)  năm 1973 vẫn  còn rành rành, chắc chắn sẽ cơ hội tái diễn…
 
Thay vì cất công bận tâm đến họ, chúng ta hãy dành chút ít thời giờ quí báu để nhắc nhở, tưởng nhớ các chiến sĩ (hầu như vô danh) của tự do đã sống bất khuất, cuối cùng đã chọn cái chết (vinh) hơn sự sống nhục.  Các chiến sĩ VNCH bất khuất như Ngô Nghĩa (Pháo binh SĐ21BB), Nguyễn Hưng Quốc (KQ), Tiền Quốc Quyền (Trinh sát SĐ5BB), Trần Văn Hòa (Biệt Kích 81), Kha Tư Giáo (Cục Quân Nhu)…
 
Bài này viết về chiến sĩ Kha Tư Giáo theo lời thuật lại của một đồng môn với tôi.  Anh đã là bạn tù của Kha Tư Giáo kể từ ngày cùng đi trình diện (để đi gọi là “học tập cải tạo !”) tại trường đại học Kiến Trúc Sàigòn ngày 28 tháng 5 năm 1975 cho đến khi Kha Tư Giáo chết ở Long giao, Long Khánh và khoảng tháng 6 năm 1976.

TVG

*

Kha Tư Giáo tốt nghiệp trường Khóa I Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt; nhập ngũ (khóa 9/68 Thủ Đức); mãn khóa sĩ quan, về phục vụ cho cục Quân nhu (căn cứ tiếp liệu Đồng tâm – Mỹ tho) và sau đó biệt phái về làm cho Kỹ Thương ngân hàng ở Sài gòn.  Năm 1975, Kha Tư Giáo khoảng độ 30 tuổi mang cấp bậc cuối cùng, trước ngày tan hàng 30/4/1975, là Thiếu úy.
 
Kha Tư Giáo người cao ráo, trắng xanh theo kiểu nhân viên văn phòng và có dáng dấp thư sinh tương tự như hình ảnh “anh chàng văn sĩ” trong trại tập trung của Đức quốc xã mà chúng ta thấy trong phim “Giờ Thứ 25” của nhà văn người Romania -  C. Virgil Gheorghiu.  Kha Tư Giáo là một người trầm ngâm, ít nói.  Nhưng khi nói thì rất rành mạch, đúng sách vở.  Kha Tư Giáo cũng là một người bạn tốt, sòng phẳng và sẵn sàng giúp đỡ các bạn tù khác.
 
Theo lệnh của CS, Kha Tư Giáo đi trình diện tại trường Đại học Kiến Trúc Sài Gòn ngày 28 tháng 5 năm 1975.  Vào đêm 28 tháng 5 năm 1975, Kha Tư Giáo và các cựu sĩ quan VNCH khác đã trình diện tại truờng Đại học Kiến Trúc Sài gòn  trong hai ngày 27 và 28 tháng 5 năm 1975 được chuyển đến “Thành Ông Năm” ở Bùi Môn, Hóc Môn bằng xe Molotova.
 
Kha Tư Giáo bị giữ ở trại T2-L19 tại Bùi Môn từ ngày 28 tháng 5 năm 1975 cho đến cuối năm 1975.  Anh Giáo và các tù nhân sĩ quan VNCH được CS dùng tầu đổ bộ cũ của HQVN (HQ 403?) chở ra đảo Phú Quốc, Dương Đông.  Tất cả tù nhân đặt chân lên đảo Phú Quốc đúng vào chiều ngày 30 tết Bính Thìn 1976.
 
Thời bấy giờ, Kha Tư Giáo có một người chú ruột là Kha Tư Ân làm Thứ Trưởng Bộ Công Nghệ Nhẹ của chính quyền CS Hà Nội.  Người chú này đã có lần viết thư cho Kha Tư Giáo nhắn nhủ là:

“Cháu cứ nhận tội (làm tay sai Mỹ, chống lại CS) thì họ (cán bộ quản giáo - cai tù cải tạo) sẽ cho về.”

Người em ruột của Kha Tư Giáo là Kha Tư Huấn, mang cấp bậc Trung úy, đã nghe theo lời chú nhận tội (!) như vậy, chỉ bị tù một năm rồi được CS thả về.  Kha Tư Giáo cương quyết nhất định không bao giờ nhận bất cứ tội gì; mặc dù chính ngay các cán bộ quản giáo đã nhiều lần khuyên Kha Tư Giáo cứ “nhận tội” thì sẽ cho về.  Đã không nhận tội, Kha Tư Giáo còn nói với cán bộ quản giáo là:
 
“Tôi không có thân nhân nào làm việc với CS cả!”
Và tiếp theo là:
“Nếu thấy tôi có tội thì cứ đem ra bắn; còn thấy tôi không có tội thì phải thả tôi ra tự do!”
Sau đây là một số tranh luận với quản giáo của trại tù CS mà tôi xin ghi lại qua lời kể của ông Nguyễn Tất Đắc (cựu sĩ quan KQVN), một bạn tù khác của Kha Tư Giáo ở Thành Ông Năm:

(Trích)
… Anh Giáo người rất cao ráo khỏe mạnh, qua cặp kính trắng ra dáng là một nhà trí thức. Sở dĩ anh Giáo đã để lại nhiều ấn tượng với tôi vì sau khi làm những việc lao động như mọi người, anh thường mắc cái võng ở một xó; rồi qua cặp kính trắng, anh nằm đăm chiêu tư lự như không muốn nói chuyện với ai. Sau đó toàn trại đều biết đến anh vì anh dứt khoát không bao giờ nhận có tội với “cách mạng.”  Ít lâu sau, anh Giáo được chuyển sang đội của tôi; do đó tôi và các bạn khi họp trong đội thường xuyên được nghe anh Giáo đấu khẩu bốp chát với tên cán bộ phụ trách khiến trên thành ủy phải đưa cán bộ thứ dữ đối thoại tay đôi với anh Giáo. Mặc dù hai người nói chuyện ở ngay trong phòng, chúng tôi đều lảng ra chỗ khác nhưng liếc thấy anh Giáo mặt mũi đỏ gay và cả hai người một đôi khi rất lớn tiếng với nhau nên chúng tôi cũng đoán là tên cán bộ đó chẳng thể nào khuất phục anh Giáo phải nhận tội.
 
Đây là những lời đối thoại bốp chát trong những giờ học tập trong đội tôi giữa anh Giáo và các tên cán bộ CS khiến cho chúng phải cứng họng.
 
Một tên cán bộ đang thao thao đề cao những ưu việt của xã hội chủ nghĩa thì anh Giáo giơ tay xin phát biểu:
“Cán bộ đề cao xã hội chủ nghĩa.  Chúng tôi nghe thấy khó hiểu và cao xa quá… xong thực ra chúng tôi không cần biết mà cũng không cần hiểu làm gì.  Dân miền nam chúng tôi chỉ đơn giản hiểu cái chủ nghĩa nào mang lại cơm no áo ấm hạnh phúc cho người dân đó mới là chủ nghĩa ưu việt mà thôi.”
 
Một lần khi lên lớp trong đội của tôi tên cán bộ nói:
“Các anh ráng học tập tốt để về chứ nhà nước đâu có cơm gạo nhiều để nuôi các anh.”
Thấy anh Giáo giơ tay xin phát biểu.  Tên cán bộ phải miễn cưỡng để cho anh Giáo nói:
“Cách mạng bảo chúng tôi đi học 10 ngày mà cho đến nay đã mấy tháng rồi vẫn giữ chúng tôi lại chưa cho về; nay lại nói là không có cơm gạo để nuôi chúng tôi là làm sao?”
Tên cán bộ sửng cồ:
“Ai nói với các anh là chỉ đi học tập có 10 ngày?”
Anh Giáo nói:
“Một lời nói của cách mạng để 99% người dân hiểu lầm vậy thì đó là lỗi của người dân hay của cách mạng?”
Tên cán bộ bị cứng họng mặt mũi đỏ gay tức tối.
Và đó cũng là lý do trên thành ủy đã phải cử một tên cán bộ cao cấp xuống đấu lý với anh Giáo qua chuyện “có tội hay không có tội”

(ngưng trích)
 
Vì cãi không lại các lý luận của Kha Tư Giáo, cán bộ quản giáo phải mời Chính ủy của Trung đoàn xuống để “góp ý” và tranh luận với Kha Tư Giáo.  Đáng nhớ nhất trong tâm trí của các tù nhân sĩ quan VNCH tại trại Bùi Môn là sau vụ “góp ý” của Chính ủy trung đoàn với Kha Tư Giáo không đi đến đâu cả, một tên cán bộ quản giáo nói với Kha Tư Giáo:
 
“Bây giờ tôi nói chuyện với anh như hai người ngang hàng.  Anh định nghĩa cho tôi biết thế nào là tự do?”
 
Kha Tư Gíao trả lời ngay:
 
“Anh là kẻ chiến thắng, tôi là người thua trận, không bao giờ có thể có chuyện ‘nói ngang hang với nhau’ được.  Còn anh hỏi tôi ‘định nghĩa thế nào là tự do’ thì tôi không định nghĩa được vì nghĩa của chữ tự do quá rộng.  Nhưng mà khi tôi bị mất tự do là tôi biết liền.”
 
Tên quản giáo chỉ còn nước lắc đầu và bỏ đi.
 
Tại Phú quốc, Kha Tư Giáo bị giữ ở “nhà số 2” trong trại Cầu Sấu.  Trại này là trại cuối cùng từ Dương Đông đi vào.  Trong giai đọan này sức khỏe của các người tù nói chung xuống dốc rất mau vì vấn đề ăn uống rất thiếu thốn; và sự kiểm sóat, kiểm thảo chặt chẽ của CS.  Đây cũng là giai đoạn mà Kha Tư Giáo phản kháng CS mạnh mẽ nhất.  Kha Tư Giáo luôn luôn tuyên bố trong các buổi học tập, kiểm thảo là mình “chẳng có tội gì cả” và liên tục “đề nghị” là “nếu có tội thì cứ việc đem ra bắn ngay!”
 
Trong trại tù cải tạo, CS luôn hô hào, luôn tuyên truyền khẩu hiệu: “Lao động là vinh quang.”  Một hôm, Kha Tư Giáo bị đau răng, khai bịnh và xin nghỉ lao động nhưng cán bộ quản giáo không cho, vẫn bắt anh đi lấy củi như mọi người.  Trên đường về, anh chỉ vác một khúc củi to bằng chiếc đòn gánh.  Một tên bộ đội bắt anh phải đổi một khúc cây to hơn.  Kha Tư Giáo trả lời:
 
“Hôm nay tôi bịnh.  Xin nghỉ các anh không cho; nên tôi làm như các anh nói ‘làm theo khả năng và hưởng theo nhu cầu.’  Tôi vác khúc cây này là đúng sức của tôi rồi.”
 
Tên bộ đôi nhất định bắt Kha Tư Giáo phải vác nhiều hơn, thì anh cũng nhất định không chịu tuân lệnh.  Tên này bèn lên đạn súng AK, chĩa súng vào người anh hăm dọa sẽ bắn nếu anh không tuân lệnh.  Kha Tư Giáo bình tĩnh tháo kiếng cận ra và chỉ ngón tay vào mặt của mình rồi nói với tên bộ đội:
 
“Anh hãy bắn vào đây này!”
 
Tên bộ đội giận run người, chỉa súng lên trời bắn hết cả băng đạn AK mà không làm gì được anh.  Câu chuyện này được đã được dân chúng ở Cầu sấu kể, truyền lại cho các trại tù khác ở Dương Đông, Phú Quốc.
 
Kể từ hôm đó, bộ đội bắt đầu “chiếu cố” Kha Tư Giáo mạnh mẽ hơn.
 
Anh em trong trại tù đều biết rằng chẳng thà đi ra ngoài trại lao động còn hơn bị bắt ngồi ở trong tại học tập và viết tờ nhận tội.  Vì sự chống đối không ngừng của Kha Tư Giáo, cán bộ quản giáo trại bắt tất cả tù cải tạo mỗi tháng học tập một lần để “giúp đỡ” (lời của cán bộ quản gíao trại) Giáo ra nhận tội của mình.  Anh em tù ai cũng thấy ngại cho Kha Tư Giáo.  Có người nói:
 
“Thôi! Giáo nhận tội đại đi để được chóng thả về.”
 
Anh Giáo chỉ nhìn anh em tù mà không trả lời.

 
Lần “góp ý” cuối cùng tại Phú quốc vào khoảng giữa tháng 5/1976.  Sau một tuần lễ cả trại học tập “góp ý” để khuyên Kha Tư Giáo ra nhận tội của mình, cuối cùng mọi người đều thở phào nhẹ nhõm khi thấy anh giơ tay xin phát biểu. Sau khi đứng lên, sửa quần áo cho ngay ngắn, chỉnh lại cặp kính cận cho thẳng thắn, anh chậm rãi nói:
 
“Trước hết, xin cám ơn các bạn đã ‘góp ý’ cho tôi cả tuần nay; và bây giờ tôi nhận ra là tôi có một tội (nghe đến đây, tù nhân ai cũng thở phào; còn tên quản giáo thì miệng nở nụ cười chiến thắng).  Cái tội của tôi là ‘Tôi đã không thể nói cho các bạn hiểu là TÔI KHÔNG CÓ TỘI.’ ”
 
Đám tù nhân cười ồ lên.  Còn tên cán bộ quản giáo thì đã tắt ngay nụ cười.




Ngay sau đó, trong một cuộc kiểm sóat trại, tên trại trưởng đã nói điều gì đó xúc phạm đến anh, anh quay đi và nhổ nước bọt xuống đất.  Thế là anh bị đem đi biệt giam. Kha Tư Giáo bị nhốt theo kiểu chuồng cọp (ngồi không được mà đứng cũng không được, chỉ có một cách là nằm, nhiều lắm là co chân).  Anh bị nhốt ở một chuồng kẽm gai bên cạnh trại, trên bãi đất trống trải.  Phía trên chuồng có che mái sơ sài, bốn bên trống lốc.  Cát, gió và kiến lửa tha hồ ùa vào.  Khí hậu thì ngày nóng đêm lạnh.  Suốt cả đêm, anh chỉ liên tục gào thét lên một câu trong bài hát “Đêm nguyện cầu” của Lê Minh Bằng:
 
“Thượng đế hỡi có thấu cho Việt Nam này…
Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối!”
 
Kha Tư Giáo cứ la hét như thế cho đến khi khản hết tiếng tăm.  Anh cũng luôn miệng kêu khát “Nước! Nước!”  Nhưng cán bộ quản giáo chỉ cho nước khi cho anh ăn.  Anh lại phản đối tuyệt thực luôn.  Giai đoạn này các trại giam ở Phú Quốc có lệnh của CS phải di chuyển tù vào đất liền (vì CS đang có chiến tranh với Khmer đỏ).  Kha Tư Giáo đã kiệt sức.  Lúc chuyển trại, phải có bạn tù xốc nách dìu anh đi bộ suốt 7 cây số từ trại Cầu sấu ra bến cảng.  Trên tầu HQ 503 (?), mặc dầu đứng không vững, nhưng anh vẫn bị còng tay bằng còng số 8 vào thành tầu.  Còng sắt hoen rỉ đã cắt da thịt của anh sát đến tận xương trắng.  Hai chân anh bị cùm bằng 2 thanh gỗ có khóet lỗ hình bán nguyệt kẹp vào nhau.  Tầu HQ 503 (?) đã đưa tù nhân về lại bến Tân Cảng Sài gòn sau 2 ngày, và cuối cùng tất cả được đưa về Long Giao (Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh - hậu cứ và Trung tâm huấn luyện cũ của SĐ18BB).  Khi đến Long Giao thì Kha Tư Giáo chết vì hoàn toàn kiệt sức.  Cuối năm 1976, gia đình Kha Tư Giáo ở Sài gòn đã có lên thăm mộ của Kha Tư Giáo mà anh em bạn tù đã thu xếp chôn cất cho anh ở Long Giao.
 
Lời cuối


Anh Kha Tư Giáo,
Chúng tôi xin thay mặt cho những người còn sống sót hôm nay, thay mặt cho những người không có được cái khí phách oai hùng bất khuất của anh, xin thắp lên một nén hương cầu nguyện cho linh hồn anh được ngàn thu an nghỉ.  Cuộc đời vốn dĩ đã là bể khổ.  Nhưng không có bể khổ nào có thể so sánh với cái địa ngục trần gian mà CS đã và đang dùng để đày đọa anh và dân tộc Việt Nam.  Lich sử nhân lọai đã nhiều lần chứng minh là bạo lực không thể tồn tại mãi được.  Anh đã sống bất khuất, đã từng khóc và cười theo mệnh nước, thì chắc chắn anh chết cũng linh thiêng.  Xin vong linh anh hãy phù hộ cho dân tộc và nước Việt Nam sớm thóat cảnh lầm than vô tiền khóang hậu trong lịch sử 4000 năm của đất nước.
 
Sự bất khuất của Kha Tư Giáo đã thật sự phản ảnh tinh thần:
 
“Đừng sợ những gì cộng sản làm.
Hãy làm những gì cộng sản sợ.”
 
Cuối bài, như đã trình bày, những chi tiết ở đây được ghi lại theo trí nhớ của một người lính gìa, chắc chắn sẽ có sơ xuất.  Kính xin quí vị quan tâm sửa sai và bổ khuyết thêm vào bài này để giữ ngọn đuốc bất khuất Kha Tư Giáo tiếp tục cháy sáng, soi vào lương tâm của các ngọn cỏ đuôi chó.
 
Trần Văn Giang
( HNPD )
 


Phụ chú:
 
Sau đây, tôi xin giới thiệu một bài thơ do đọc giả Nguyên Phương Thúy đã gởi đến để đóng góp với bài này:
 
Người Tù Không có Tội!!!


Kha Tư Giáo, ngươi là người có tội,
Hãy nhận đi, rồi sẽ được về nhà,
Hãy nhận mình theo Mỹ hại quốc gia,
Hãy ăn năn, đảng sẽ mau ân xá.

Tôi, Trung úy, tuổi 30, vất vả,
Đem đời mình để bảo vệ quê hương,
Chặn xâm lăng từ cõi Bắc phương,
Nơi sa trường súng gươm không nhân nhượng.
Vận nước đổi, nuốt hờn thân bại tướng,
Làm tù nhân, nào dám tưởng mai sau,
Đảng khăng khăng: tội máu với đồng bào,
Tôi cương quyết: lương tâm nào có tội!
Đảng cứ buộc thì bắn cho đáng tội,
Còn nếu không thì phải thả tôi ra,
Đừng hỏi tôi ý nghĩa chữ Tự Do,
Bao la lắm, nhưng biết liền khi mất.
Những trù dập, biệt giam, học tập,
Đảng giúp tôi tìm tội của tôi,
Dù đời tôi khốn khổ, xác tả tơi,
Tôi có tội: nói không ra cái tội!
Cát, gió, kiến hành hạ, ôi nhức nhối,
Suốt cả đêm, chỉ gào thét, nguyện cầu,
Thượng Đế hỡi, ở đâu? ngài có thấu?
Con tim tôi chân chính chửa dối gian.
Còng sắt hoen đã cắt hết thịt da,
Trơ xương trắng, vẫn không làm nhụt chí,
Mắt rực sáng, lộ anh hùng hào khí,
Địa ngục này chỉ giữ được xác phàm.
Đất Long Giao u uất mộ sơ sài,
Nhưng khí phách oai hùng luôn bất khuất,
Hồn có thiêng, xin theo phù hộ nước,
Thoát lầm than và thoát nạn Cộng nô.

Kha tư Giáo, người tù không có tội,
Cũng có ngày người thong thả về nhà,
Đất Mẹ ôm, rũ sạch nợ quốc gia,
Trời bao la, gió gào vang “Không tội”…

Nguyễn P. Thúy
September 11, 2008
 
(Lấy ý từ bài viết “Kha Tư Giáo: Người chiến sĩ bất khuất của tự do” của Trần Văn Giang)
.
Về Đầu Trang Go down
vandinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Tue Apr 29, 2014 5:47 pm


KHÔNG BỎ ANH EM, KHÔNG BỎ BẠN BÈ


Bác Sỉ Nhảy Dù Vĩnh Chánh




Bất cứ một chiến tranh nào cũng có những hoạt động quân sự được che dấu bảo mật. Với những phi cơ màu đen không số không tên không cờ, Phi Đoàn 219 Thần Phong của Không Quân VNCH, trực thuộc Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu, có nhiệm vụ thả người ra phía Bắc vỹ tuyến, đưa đón và yểm trợ những toán tiền thám Lôi Hổ, Biệt Kích đi sâu vào lòng địch… Bài phóng tác dưới đây được dựa trên câu chuyện của Trần Khánh, một người con của  Huế và là một “Thượng Sĩ Già” của Biệt Đoàn 83 gồm những chiếc trực thăng H34 của phi đoàn 219, với nét mặt vẫn mang đầy vẻ khí khái hiên ngang của một chàng trai thời chiến của ngày nào dù tóc nay đã nhuộm màu thời gian. Ước mong bài viết diễn tả được phần nào công việc hiểm nghèo của các phi hành đoàn của Không Lực VNCH đã thi hành hàng ngày mà cá nhân tôi, một y sĩ QYND, đã chứng kiến qua những phi vụ đánh phá mục tiêu, yểm trợ, tiếp tế, tản thương… trong trận đánh năm 1974 ở Đồi 1062 tại vùng Thường Đức/Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.


   
Từ xa về thăm bạn bè trong vùng Nam Cali nhân Mùa Giáng Sinh năm 1981, Khánh cố tình quên cái đau răng đã hành hạ anh từ mấy ngày qua. Qua một đêm mất ngủ vì nhức răng quá độ dù tối hôm trước anh uống rượu khá nhiều với các bạn cùng phi đoàn, Khánh quyết định tìm đến văn phòng nha sĩ cầu cứu. Vì không quen biết ở vùng này, Khánh bước đại vào một văn phòng nha khoa nằm ở góc đường, gần căn nhà người bạn mà mình vừa tá túc. Trong khi đang đứng kể rõ bệnh tình với cô nhân viên để xin cho được gặp nha sĩ dù không có hẹn trước, Khánh thấy người nha sĩ bước vào phòng và ra dấu cho người nhân viên chấp nhận, có lẽ ông ta nghe được câu chuyện vì đứng sát cửa phòng chờ khách.
      
Nằm chờ trên ghế khám không mấy lâu, Khánh thấy người Nha sĩ vừa bước vào phòng vừa đọc hồ sơ cá nhân của Khánh. Qua vài câu thăm hỏi về bệnh tình, ông hỏi Khánh có ở trong quân đội trước khi mất nước. Khánh trả lời có và cho biết mình phục vụ trong Không Quân VN. Người Nha sĩ ngần ngừ một thoáng rồi nói nhỏ: “Tôi có người em trai cũng ở trong Không Quân, nhưng nó chết rồi.” Rồi như muốn trút đi một tâm sự buồn, ông vội nói tiếp: “Nó tên là Hòa, Nguyễn Đại Hòa (*), người rất hiền hòa như tên của nó vậy đó. Nó là trung úy phi công trực thăng đóng ở Đà Nẵng, và chết trong một phi vụ vào tháng 2 năm 1971.” Khánh thảng thốt bật thẳng dậy, hỏi ngay: “Có phải xác của Trung Úy Hòa được đưa về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương ở Huế bằng trực thăng không?” Người Nha sĩ bước lui mấy bước và trả lời không ngập ngừng “Đúng rồi. Sao anh biết?” Như một tia chớp, bao nhiêu hình ảnh trong phút chốc bỗng trở về trong đầu Khánh một cách mạch lạc dù câu chuyện đã xẩy ra cả mươi năm qua. “Thưa Nha sĩ, nếu đúng với tên người chết là Trung Úy Hoà, chính phi hành đoàn chúng tôi đưa xác anh ấy về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương!” Người Nha sĩ đứng yên lặng trong giây lát, như để tự trấn tĩnh lấy mình, rồi bỗng vái lạy Khánh, vừa nói nhanh: “Mấy lâu nay gia đình chúng tôi muốn biết về cái chết của nó vì nghe phong phanh phi đoàn nó nói là trực thăng của nó bị bắn rơi, chỉ riêng một mình nó chết thôi và phi hành đoàn 3 người còn lại đều bị bắt làm tù binh.” Trong cùng lúc đó, Khánh cũng bật dậy, nhảy vội ra khỏi chiếc ghế khám, chạy đến bên cạnh người Nha sĩ, làm hành động ngăn không cho ông ta vái nữa, và trong sự cảm thông, hai người xúc động ôm chặt lấy nhau trong im lặng. Rồi người Nha sĩ mời Khánh bước qua phòng làm việc. Bấy giờ Khánh mới lấy lại bình tĩnh và tuần tự kể từng chi tiết về chuyến rescue mission đặc biệt năm đó.


Trong Chiến Dịch Lam Sơn 719 đánh vào các căn cứ của CS Bắc Việt ở Hạ Lào vào tháng 2, 1971, Biệt Đoàn 83 của Khánh được biệt phái từ Phủ Bài ra Ái Tử. Sau khi thi hành thả những toán Lôi Hổ vào vùng đất địch, trực thăng H34 của Khánh đang trên đường trở về căn cứ Phủ Bài. Trước khi đến cây số 17 gần An Lỗ, liên lạc viễn tuyến trên tầng số phi cơ cho biết có một chiếc trực thăng UH1H của phi đoàn bạn từ Đà Nẵng bị bắn rớt ở phía Tây Động Ông Đô. Phi hành đoàn của Khánh lập tức chuyển hướng, quay về hướng Tây, lần theo toạ độ tìm đến nơi chiếc trực thăng bị rơi. Trời lúc đó đã về chiều dù chưa tới 5 giờ và càng vào trong núi càng nhiều sương mù. Từ trên cao, Khánh thấy xác chiếc trực thăng nằm nghiêng ở kế bên dòng suối nhỏ. Sau khi đảo quanh một vòng để quan sát tình hình chung quanh trực thăng bị rơi, chiếc H34 từ từ bay dừng một chỗ trên không và sử dụng hệ thống Hoist thả Khánh xuống ở cách xa trực thăng kia khoảng 80 thước. Khi đến được mặt đất và tháo gỡ dây Hoist ra khỏi người, Khánh mới biết cỏ tranh xanh cao hơn đầu người anh và triền đồi rất dốc, khiến anh đã bị lăn từ trên triền đồi xuống đến dưới lòng suối. Vừa ê ẩm trong người, vừa hồi hộp, Khánh chạy lần theo men bờ suối và đến cạnh chiếc trực thăng ngộ nạn. Khánh nhìn ở bên ngoài và chung quanh trực thăng, nhưng không thấy bóng dáng ai cả. Nhìn vào phòng lái, Khánh thấy thân thể một người nằm gục không nhúc nhích ở ghế phi công trưởng, đầu nghoẹo sang một bên và kính phía trước bị bắn lủng một lỗ to tướng.
     
Khánh lách người qua cửa hông bên trái, lần đến gần người nằm bất tỉnh ở ghế trước bên phải. Bấy giờ Khánh mới nghe hơi thở phì phò của người phi công bị thương cùng một lúc nhận thấy khuôn mặt anh bên phải là một khối bầy nhầy đầy cả máu. Sau khi Khánh cố gắng lôi được hai bàn chân của người bị thương còn bị kẹt ở pedales phía dưới thân máy bay, Khánh bắt đầu ôm lấy thân hình và từ từ kéo ra khỏi xác máy bay. Khánh nghe được một tiếng thở mạnh từ người phi công vừa trút hơi thở cuối cùng trong tay mình. Trong khi vác xác đồng đội trên vai chạy dần về nơi an toàn, máu người chết tiếp tục chảy xuống ướt cả áo bên trong của Khánh, cộng thêm với mồ hôi của mình khiến Khánh choáng váng và mệt đến lã cả người. Sau hai lần phải dừng lại nghỉ mệt, Khánh đã đến được điểm hẹn, bấm đèn pin lên hướng trực thăng của mình làm dấu thả dây Hoist xuống cho Khánh móc xác người chết lên trước, rồi đến mình lên sau.

    
Chiếc H34 bay quành một vòng nhỏ như để chào vĩnh biệt lần cuối người bạn mới hy sinh, rồi lấy hướng về phía Đông Nam. Ít phút sau, Khánh lấy lại bình tĩnh, nhìn đọc bảng tên HÒA trên áo bay của người phi công xấu số. Phi hành đoàn H34 báo cáo sự việc và nhận chỉ thị đưa xác Trung Uý Phi Công Hòa về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương. Khánh vẫn còn run sợ, thầm nghĩ anh có may mắn không bị VC phục kích và chiếc trực thăng H34 đang bay chờ anh trên trời cũng không bị nhắm bắn trong khi thi hành nhiệm vụ một cách đơn độc vào giờ chót trong một thời tiết rất xấu. Dù đau buồn vì 3 người phi hành đoàn còn lại đã bị bắt làm tù binh trước khi trực thăng của anh đến, và phi công trưởng tử thương, nhưng Khánh và phi hành đoàn H34 của anh có niềm hãnh diện riêng vì ước nguyện của các chiến hữu Không Quân đã thêm một lần được thực hiện qua châm ngôn “Không Bỏ Anh Em, Không Bỏ Bạn bè.”
      
Cả tuần sau, Khánh vẫn bồn chồn đứng ngồi không yên, người cứ mệt mỏi bần thần. Bộ đồ bay màu đen của anh vẫn còn thoảng mùi máu của đồng đội dù đã được giặt đi giặt lại khá nhiều lần. Cái chết của người Trung Úy Phi Công Hòa với gương mặt bị bắn nát một nửa bên của anh, cùng với hình ảnh của bao người lính Lôi Hổ, Biệt Kích mà Biệt Đoàn 83 của anh đã từng đưa đi, đón về phía sau lưng địch, có khi đầy đủ có khi thiếu một vài người, đã để lại những vết thương âm ỉ khó quên trong tâm hồn của con người vốn coi nhẹ tính mạng nơi anh.

Nghe xong câu chuyện và với nước mắt lưng tròng, người Nha sĩ lên tiếng: “Chắc vong linh em tôi xui khiến và dẫn đường cho anh đến văn phòng gặp tôi sáng nay. Câu chuyện anh kể hôm nay về cái chết của Hòa là một món quà vô giá trong mùa Giáng Sinh năm nay cho gia đình Cha Mẹ và anh em chúng tôi. Nguyện ước biết rõ về cái chết đau thương của Hòa trong vòng tay của một đồng đội sẽ mang đến một kết thúc nhẹ nhàng cho gia đình chúng tôi. Và thay mặt cho toàn gia đình, tôi xin được nói lời cảm tạ với ân nhân đã đem xác em tôi về…”

Trong mùa Giáng Sinh năm 1981, sau khi rời văn phòng nha sĩ, Khánh cảm thấy nhẹ hẳn, như vừa trút bỏ được một gánh nặng đã cất giữ trong tâm hồn từ lâu. Và lòng anh bỗng thư thả, vụt lên với trời cao trong xanh.

(*): họ và tên không hoàn toàn đúng sự thật

Vĩnh Chánh YKH-7
Viết cho Mùa Giáng Sinh năm 2012.

.
Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Tue May 06, 2014 5:15 pm


“Học Tập Cải Tạo” – Trình Diện Để Đi Tù Đầy




Mấy tuần lễ sau khi miền Nam thất thủ thì chiến dịch rỉ tai về học tập cải tạo bắt đầu được tung ra. Nhưng mãi đến đầu tháng sáu 1975 Uỷ Ban Quân Quản Thành Phố mới ra lệnh cho các quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa phải trình diện để đi “Học Tập Cải Tạo”. Uỷ Ban ra thông cáo vào các ngày 10-6, 11-6 và 20-6-75 trên đài phát thanh và báo chí, chỉ định rõ địa điểm và ngày giờ trình diện.

Hạ sĩ và nhân viên chính quyền từ chủ sự trở xuống học tập ba ngày tại phường. Các cấp thấp hơn như binh sĩ, cán bộ phường khóm được khoan hồng miễn trình diện. Cả mấy trăm ngàn người nô nức đi trình diện học tập vì họ nghĩ rằng học tập cho xong để hy vọng sớm trở về làm ăn. Họ đi học từ sáu giờ sáng đến tối.

Ðối với các phó quận trưởng, trưởng ty, cấp úy, thì mỗi người phải mang theo giấy bút, quần áo, mùng mền vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong mười ngày kể từ ngày trình diện.

Với các cấp chỉ huy từ giám đốc trở lên, sĩ quan từ cấp tá, các dân biểu nghị sĩ, các lãnh tụ đảng phái thì thông cáo ra lệnh mang theo giấy bút, vật dụng cá nhân, số tiền là 13,000 đồng đủ cho việc ăn uống trong 30 ngày kể từ ngày học tập đầu tiên. Thông cáo nói rõ: “các học viên phải mang theo một tháng tiền ăn và những đồ đạc cần thiết. Nhà hàng Ðồng Khánh sẽ phụ trách việc ăn uống…”

Nhiều người vì sức khỏe yếu được miễn trình diện. Nhưng vì quá tin vào thông cáo của chính quyền, học tập có một tháng, nên họ vẫn tình nguyện xin đi để tỏ thiện chí cũng như làm cho xong để còn về được an ổn kiếm kế sinh nhai.

Có người được nhân viên tiếp nhận cho về vì không hội đủ tiêu chuẩn như thông cáo nhưng vẫn nằn nì giải thích chức vụ để xin đi cho chắc bụng. Chẳng hạn, có vị khai chức vụ quốc vụ khanh chính phủ. Cán bộ không biết đó là chức gì mà coi danh sách không thấy có nên đuổi về. Vị chính khách này phải cố gắng giải thích chức vụ của mình ngang hàng tổng trưởng. Họ cũng không biết tổng trưởng là gì, đến khi nói là bộ trưởng thì họ mới cho nhập trại. Ai cũng nghĩ là trước sau rồi cũng phải học tập nên xin đi cho nó xong. Thực ra, thông cáo rất mập mờ. Lúc đầu ghi danh đi học tập cải tạo phải chuẩn bị thực phẩm hoặc đóng tiền ăn cho một tháng. Rồi pháp lệnh nói cải tạo viên phải học tập ba năm rồi đổi ra vô hạn định một cách âm thầm.

Kỷ Nguyên Tù Ðầy Cải Tạo bắt đầu. Sau khi đã bước vào trại tù cải tạo thì ngày ra dường như vô tận vì một số thiệt mạng, hầu hết tiếp tục tù đầy cho tới mươi mười lăm năm sau.

Theo bản tường tình của Aurora Foundation năm 1983 do bà Ginetta Sagan và ông Stephen Denney thực hiện thì có hơn một triệu người đã đi cải tạo mà rất ít được về sau thời hạn mười ngày hay một tháng. Trên toàn quốc lúc bấy giờ có trên 150 trại cải tạo. Có khoảng 500,000 người được trả tự do trong vòng ba tháng; 200,000 ở trại từ hai đến bốn năm; 240,000 ít nhất năm năm; nhiều chục ngàn người trên mười năm.

Trong một trại cải tạo, học viên thắc mắc về thời gian cải tao như sau:
“Thưa cán bộ, theo như chính sách 12 điểm của chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam thì sau ba năm chúng tôi được trả tự do để đoàn tụ với gia đình; bây giờ đã quá 3 năm sao chúng tôi còn phải ở trong trại?”

Cán bộ trả lời:

- Các anh thông minh, các anh phải hiểu rằng Chính Phủ Cộng Hòa miền Nam (của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) đâu có phải là Chính Phủ Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa; vả lại chính phủ Cộng Hòa Miền Nam không còn tồn tại thì những gì chính phủ ấy quy định cũng không còn tồn tại.

- Hơn nữa, các anh thông minh nhưng chưa hiểu thế nào là 3 năm. Các anh hiểu cứ mỗi năm là 365 ngày như bọn tư sản thì hỏng bét, do đó các anh khiếu nại là phải rồi. Nếu các anh phân tích một cách sâu sát thì các anh sẽ thấy rằng có 3 năm định tính và 3 năm định lượng. Một anh có thể có 3 năm định lượng, nghĩ a là đã cải tạo đúng ba năm không thiếu ngày nào, nhưng lại không có đủ 3 năm định tính vì tính chất cải tạo quá tồi, cải tạo không tốt, do đó mà chưa được về sum họp với gia đình.”
(Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

* Các dữ kiện trong bài viết này là những lời kể lại của nhiều tù nhân cải tạo sống sót.




Tổ Chức Trại Cải Tạo

Trại được chia ra làm nhiều khu. Mỗi khu có nhiều đại đội trại viên. Dưới là nhóm gọi là “B”. Mỗi B có 30 trại viên do một cán bộ hạ sĩ quan phụ trách. Trại viên còn được gọi là phạm nhân hoặc cải tạo viên. Họ phải học làm lòng tài liệu “38 điều Nội Quy” và “Bốn tiêu chuẩn cải tạo”.
Bốn tiêu chuẩn cải tạo là:

1-Thành khẩn khai báo
2- Lao động tự giác
3-Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy và các pháp lệnh nhà nước
4- Giúp bạn cải tạo cùng tiến bộ

Một cựu tù nhân cho hay: nhiều người không nhớ các tiêu chuẩn này, nên đã dùng bốn thú vật tiêu biểu cho từng tiêu chuẩn: ngu như bò, có gì khai hết; lao động như trâu; bảo sao làm vậy như con cừu và sủa như chó để báo cáo các hành động của bạn tù.

Có người đã ví việc thực hiện các tiêu chuẩn này chẳng khác gì sự xét mình, ăn năn tội lỗi, xưng tội và dốc lòng không sai phạm của một tôn giáo. Nội quy có các điều khoản về nguyên tắc chung, kỷ luật học tập, kỷ luật về lao động, kỷ luật về nếp sống hàng ngày, kỷ luật về viết thư và gặp gia đình, tổ chức phạm nhân, và khen thưởng-kỷ luật.

Ðiều nào cũng bắt đầu bằng các chữ quyết liệt như “Phải chấp hành…” hay “Tuyệt đối tuân theo…”

Chẳng hạn điều Một ghi rõ:

“Phải triệt để tuân theo đường lối, chính sách giam giữ cải tạo của Ðảng, pháp luật của nhà nước…”

Ðiều 2: “Phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, phải ra sức học tập cải tạo tư tưởng, thành khẩn nói hết lỗi lầm của mình.”

Ðiều 8: “Phải trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Ðể rèn luyện ý thức lao động, lấy lao động để cải tạo tư tưởng…”

Ðiều 12: “Không được dùng tiếng ngoại ngữ và không được nói tiếng lóng”
Ðiều 18: “Thường xuyên cạo râu, không được để râu” .

Ðiều 20: “Tránh có thái độ ngang bướng, khúm núm, nịnh hót. Khi có việc cần gặp cán bộ phải đứng xa 5-7 mét ở tư thế nghiêm. Xin báo cáo với Giám thị, cán bộ”.

Trại có rất nhiều khẩu hiệu về học tập chính trị như:

“Chính sách khoan hồng của Ðảng trước sau như một.”

“Học tập cải tạo là con đường duy nhất để trở thành người công dân lương thiện.”

“Học tập nghiêm túc, đi sát đi sâu, đào sâu, suy nghĩ, thảo luận đúng ý…”

Khai Lý Lịch

Cải tạo viên nào cũng phải khai lý lịch. Ðây là một việc làm rất nhức đầu vì họ phải khai đi khai lại cả chục lần. Khai xong mang nộp, rồi bị cán bộ hạch hỏi đủ điều. Việc khai lý lịch thường là do đoàn công tác liên bộ Quốc Phòng và Công An phối hợp thực hiện. Mẫu khai có ba mục chính với nhiều tiểu mục và tiết mục. Rầm rộ phát động chiến dịch khai báo, cho ăn đồ tươi.
1-Lý lịch cuộc đời cá nhân: bản thân người khai, gia cảnh và lý lịch thân nhân, từ ông cố tổ bốn đời. Từng địa chỉ đã sống trong suốt đời. Một địa chỉ có thể là 1 tuần ở quốc nội hoặc bốn mươi tám giờ ở quốc ngoại.
Về lý lịch thân nhân, phải khai đầy đủ chi tiết về bản thân kèm thêm đánh giá từng người về quá trình chính trị, xã hội, giai cấp.

2-Quá trình hoạt động: Trong suốt đời, với 3 giai đoạn: từ 1945 trở về trước; từ 1945 đến 1954 và từ 1954 đến 1975. Phải khai cho đầy đủ các chi tiết về ngày tháng, sinh hoạt, chức vụ, ở đâu với ai, diễn tiến công việc, kết quả công việc, ảnh hưởng của công việc vào xã hội. Khai các cá nhân, đoàn thể chống cộng ở miền Nam: tên tuổi, tổ chức nào, hoạt động ở đâu, cách tổ chức chống cộng… Kê khai bạn bè thâm giao và bạn bè thường, rồi các sinh hoạt của họ ở đâu bây giờ. Kê khai mọi cấp chỉ huy, đồng sự với các chi tiết như của mình… Hiện giờ họ ở đâu, quan điểm chính trị của họ. Khai rõ về các vấn đề tổ chức, kỹ thuật chiến thuật của miền Nam.

3-Kê khai tài sản: Của nổi của chìm, trong nước, ngoài nước, mình đứng tên hay nhờ người đứng tên, vợ con đứng tên; hiện có, đã sang nhượng, cúng dâng cho các tổ chức. Tiền từ đâu có.

Phạm nhân được dành cho một tuần để khai; ban đêm cho phép đốt đèn cầy để khai. Khai xong ký cam đoan là đúng sự thực rồi nộp cho cán bộ. Phạm nhân phải thức thâu đêm để khai; nhiều khi đi cầu, đi ăn cũng tập trung suy nghĩ coi đã làm gì, ở đâu, ngày nào…

Sau khi nộp thì mấy ngày sau lại phải khai lại vì: thiếu thành khẩn, thiếu tự giác, không khai hết sự thật, ngoan cố, giấu diếm bao che các tổ chức chính trị và cá nhân phản động.

Rằng nhân dân đã biết rõ về mình rồi, đã có hết tất cả hồ sơ tại công tư sở, đừng hòng giấu diếm. Có phạm nhân còn bị gọi lên để hạch hỏi chi tiết, hù doạ là vợ khai khác mà mình khai khác hoặc để đối chiếu lời khai của thân nhân với lời mình khai. Rồi bản khai được cất đi và phạm nhân phải khai lại từ đầu…Việc khai báo kéo dài cả mấy tháng. Một chiến dịch cổ võ cho việc khai báo cuộc đời được diễn ra. Học viên còn được cho ăn uống linh đình và được miễn lao động trước ngày khai báo bắt đầu.

Cải tạo tư tưởng - Học tập chính trị

Mục đích của cải tạo là “để thay đổi con người từ chế độ lỗi thời vào kỷ nguyên mới của những công dân tốt, với các giáo điều tốt lành của chủ nghĩa Anh Hùng Cách Mạng”.

Theo các cựu tù nhân kể lại, bài học nhồi sọ nhắm vào việc:

“Ðả phá chủ nghĩa đế quốc Mỹ, kẻ thù của nhân dân Việt Nam và thế giới. Sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Mỹ; Ðế quốc Mỹ là con đỉa hai vòi: một vòi hút máu mủ nhân dân trong nước, còn vòi kia vươn sang các nước khác để hút máu mủ nhân dân các nước này bằng cách bán súng đạn, tạo ra các cuộc chiến tranh diệt chủng. Tội ác của ngụy quyền ngụy quân miền Nam, bán nước, tay sai. Chính sách khoan hồng của Ðảng, nghĩa vụ của người có tội, lao động là vinh quang. Những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam.”

Các buổi học tập chính trị gồm có:

a. Nhận đề cương nội dung bài.
b. Tìm hiểu nội dung.
c. Nghe giáo viên giảng bài.
d. Suy nghĩ về nội dung và lời giảng của giáo viên.
e. Không bàn thảo với ai. Viết một bài nhận định để trình bày với tổ.
g. Phát biểu trước tổ học tập.
h. Hội thảo cấp B cao hơn với ba tổ.
i. Hội thảo toàn trại.
k. Rồi viết bài tổng kết học tập dài cả chục trang.
i. Tổng kết và giải đáp thắc mắc.

Kỹ thuật nhồi sọ áp dụng nguyên tắc nước chảy đá mòn, nói nhiều nói mãi một đề tài, nhắc đi nhắc lại một luận điệu, biến con người thành cái máy… Sau cả nhiều tháng học tập chính trị, hầu hết đều bị chê là: “chưa được rèn luyện, cải thiện bằng các tư tưởng cao siêu của Chủ Nghĩa Xã Hội, vẫn còn ngoan cố, không chịu tiếp thu bài học, không chịu gột rửa toàn diện tư tưởng xấu của bản thân, nên cần được cải tạo bằng lao động”.

Lao động

Lao động là thước đo mức độ giác ngộ của tù nhân.
Cuốc đất: 150m2/ngày/người
Trồng mì: 5000m2 /ngày/4 người
Khai quang: 300m2/ngày/người
Lấy cây đường kính 30cm, dài 4 thước, hai người một cây, mang về trại cách xa 3 cây số; đường kính 10 phân, dài 4 thước hai người năm cây một ngày.
Tranh lợp nhà: 10 bó theo tiêu chuẩn của trại. (Theo Trại Tù Cải Tạo-Phạm Quang Giai).

Ăn uống

Sau đây là kinh nghiệm người cựu tù:

“Cộng Sản không cần đánh đập, không cần kết án, mà họ đã dùng cái máy chém vô hình và im lặng: ÐÓI. Họ lôi cái máy này đến mọi nơi, mọi chốn có tù nhân chính trị miền Nam để trả thù, trả hận mà vẫn không mang tiến là ác độc, là giết người.” (Phạm Quang Giai: Trại cải Tạo)
“Cái lon nhôm sữa bột guigoz, được gọi vắn tắt là cái Gô, là bạn đồng hành thân thiết của tù. Người tù nào cũng kè kè bên mình một cái vừa đựng nước uống ra bãi, vừa dùng để nấu canh tại bãi lao động. Những loại rau cỏ dại ăn được tìm thấy ngay tại hiện trường, lén nhổ bỏ vào Gô rồi nhờ nhà bếp nấu. Nấu chín xong để bụi cát lắng xuống phần dưới, ăn phần rau cũng đỡ cái bao tử rỗng một lúc. Hôm nào bắt được con cóc, con nhái thì “canh có người lái”, tù gọi là Protein; con gì cũng qui vào chất thịt, chất protein bổ dưỡng. Tù có câu: “con gì nhúc nhích là ăn được, rau gì không chết thì ăn”… (Nguyễn Chí Thiệp: Trại Tù Kiêm Giang)

“Tiêu chuẩn kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, mỗi ngày hai bữa hai chén nhỏ xíu. Ðến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm. Khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng để thân xác chịu đựng con người được sống, nhai thật kỹ để chất thải ra thật ít, 5,7 ngày mới đại tiện một lần, vì đại tiểu tiện đều vào cái thùng đại liên để ngay bên cạnh bục nằm, đến lúc đầy tràn trật tự mới đổ đi, nên suốt ngày đêm phải nằm bên cạnh cái của nợ khai thúi đó.” (Nguyễn chí ThiệpTrại Tù Kiêm Giang)

Vệ Sinh Trại

Tù nhân kể lại là trại chật trội ngào ngạt hơi người, mùi hôi của mọi người, mọi bệnh riêng của mỗi người, cả tháng không tắm. Cả ngàn người có một giếng nước, kéo một lúc đã cạn nước. Ðể lâu không dùng nên chuột bọ chết thối đầy đáy giếng. Ăn uống vào là bị kiết lỵ. Ði cầu vào các dẫy hố đào trên mặt đất.

Bệnh Tật


“Mặt đứa nào đứa nấy trông như những quả dưa bở chín rục, chân tay bụ bẫm cứ như những cái xác chết trôi ba ngày, đang xếp hàng dài trước bếp xin chút nước vo gạo về uống với hy vọng mong manh tí chất cám có thể cứu nổi căn bệnh phù thũng trầm kha…” (Hà Thúc Sinh: Ðại Học Máu)

Kiểm tra tư trang

“Ông cán bộ tới chỗ tôi và bắt đầu lục soát.

- Cho tôi xem cuộn giấy. Giấy này là giấy gì đây?
- Thưa cán bộ đây là giấy vệ sinh.
- Giấy vệ sinh là giấy gì?
- Thưa cán bộ là giấy đi cầu.

Ông cầm cuộn giấy, xem rất kỹ, chê bai đủ điều rồi nói tiếp:

- Ðây chính là tài liệu mật mã bọn Mỹ ngụy để lại cho các anh xử dụng để quấy phá cách mạng, nhưng làm sao qua mắt cách mạng được. Tôi ra lệnh tịch thu toàn bộ những cuộn giấy này của anh và của các anh khác.” (Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

Thăm viếng và thư từ của gia đình

Theo điều 29, “hai tháng phạm nhân được gặp người nhà một lần. Phạm nhân có trách nhiệm hướng dẫn người nhà chuẩn bị giấy tờ cần thiết khi đến thăm mình.”

Ðiều 27: “Phạm nhân mỗi tháng được viết một lá thư cho gia đình; thư phải đưa lên cán bộ duyệt trước khi gửi; không được dùng tiếng ngoại quốc, tiếng lóng.”

Tết 1977 là lần đầu tiên phạm nhân được viết thư cho thân nhân ở trong Nam. Thư gửi qua Trung Ðoàn 52-A, Chí Hòa Sài Gòn. Họ không được phép tiết lộ nơi đang học tập. Quà do thân nhân gửi không được quá 5 kí. Trà, cà phê, rượu, muối bị cấm tuyệt. (Trần Vĩ)

Kết luận

Chế độ tù cải tạo dưới chế độ Cộng Sản vào những thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước đã đưa đến sự tàn phá tâm thần và thể xác cho nhiều quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Ðây là một thảm họa mà đến nay thế giới loài người văn minh cũng như con cháu chúng ta vẫn chưa biết được tường tận.

Các vị cựu nhân cải tạo sống sót hình thức tù đầy này cũng nên ghi lại những bài học đắt giá, những hy sinh của chính mình, của các bạn tù đã nằm xuống. Và các bà vợ tù nhân cải tạo cũng có nhiều cay đắng cuộc đời. Một thân phải tần tảo chăm sóc bầy con giữa những kỳ thị của chế độ mới, rồi lại còn trèo đèo lặn suối đi thăm nuôi chồng bị đầy ải nơi rừng thiêng nước độc. Ghi lại để các thế hệ con cháu, trong ngoài nước, hiểu nỗi lòng của mình. Cũng như để tránh tái diễn, nhất là đối với những người cùng chung dòng giống. Chứ không phải để nuôi mãi lòng thù hận nhau.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển:  http://www.machsong.org.]


Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Fri May 09, 2014 9:44 pm


Nữ Quân Nhân Quân Lực VNCH : Hoa Lạc Giữa Rừng Gươm




Quân lực Việt Nam Cộng Hòa với cao điểm một triệu một trăm ngàn quân, ngành Nữ Quân Nhân cũng đã lớn mạnh chung của quân đội, với một quân số dù khiêm tốn so với nam quân nhân, theo ước đoán của người viết cũng xấp xỉ một sư đoàn, trên dưới mười ngàn người. Đây quả thật, người nữ quân nhân trong các đơn vị là những hoa lạc giữa rừng gươm. Từ vùng hỏa tuyến, miền cao nguyên, duyên hải đến vùng đồng bằng miệt cuối mũi Cà Mau. Đâu đâu cũng có sự hiện diện của các nữ chiến binh trong bộ quân phục tác chiến ở tiền phương hay bộ đồng phục màu xanh tại các đơn vị tham mưu, cơ sở trong mọi quân binh chủng và ngành chuyên môn của QLVNCH.

Trong buổi ban đầu, người Nữ Quân Nhân QLVNCH được gọi là Nữ Trợ Tá hay Nữ Phụ Tá khi Quân Đội Quốc Gia Việt Nam còn nằm trong khuôn khổ của Liên Hiệp Pháp. Người Nữ Phụ Tá của quân đội Pháp cũng hiện diện trong các đoàn quân viễn chinh của quân đội Pháp tại Đông Dương từ năm 1954 trở về trước. Được trao trả chủ quyền lớn dần, chính quyền quốc gia lớn mạnh, quân đội quốc gia trưởng thành cũng là lúc ngành Nữ Phụ Tá chính thức được thành lập từ năm 1952 mà nhiều người gọi là P.A.F, chữ viết tắt của tiếng Pháp (Personnel Auxiliaire Féminin).



Mới đầu, Nữ Quân Nhân thường phục vụ trong ngành quân y và xã hội, và sau nầy quân đội hùng mạnh về mọi mặt, người Nữ Quân Nhân cũng có mặt hầu hết trong các ngành, quân binh chủng của QLVNCH.

Trước 30/4/1975, công việc chính của Đoàn Nữ Quân Nhân là phục vụ tại các đơn vị tham mưu không tác chiến như : thư ký, đả tự, chuyên viên. Trong các ngành chuyên môn như quân y, xã hội, truyền tin, thông dịch… người Nữ Quân Nhân đóng một vai trò quan trọng trong guồng máy chung của quân đội. Muốn trở thành Nữ Quân Nhân QLVNCH, những thiếu nữ đến tuổi trưởng thành có trình độ học vấn tùy theo cấp bậc như binh sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan, tình nguyện đầu quân. Sau khi được khám nghiệm có đầy đủ sức khỏe, người thiếu nữ ấy được đưa về huấn luyện căn bản quân sự như nam giới.



Nhưng không chú trọng về tác chiến, mà chú trọng về huấn nhục, rèn luyện thân thể, quân phong quân kỷ để trở thành một Nữ Quân Nhân khỏe mạnh phục vụ đắc lực tại các đơn vị. Trường Nữ Quân Nhân, trên đường Nguyễn Văn Thoại, giữa Trường Đua Phú Thọ và Chợ Tân Bình. Trường Nữ Quân Nhân do Trung Tá Hồ Thị Vẽ (hiện nay ở Oklahoma) làm chỉ huy trưởng từ khi mới thành lập giữa thập niên 60 đến ngày quân đội tan tác. Một Nữ Quân Nhân xuất thân từ trường Nữ Quân Nhân chưa có đủ chuyên môn để phục vụ các đơn vị, nên thường phải trải qua một thời gian huấn luyện nữa, như ngành quân y, học tiếp ở trường Quân Y để trở thành một y tá lành nghề.

Trong các trường chuyên môn, người Nữ Quân Nhân phải học chung với các nam quân nhân. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ có một quân trường chuyên đào tạo những Nữ Quân Nhân xã hội từ hạ sĩ quan đến sĩ quan. Đó là trường Xã Hội Quân Đội thuộc Cục Xã Hội (Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị), tọa lạc trong Trại Lê Văn Duyệt, nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô nằm trên đường Lê Văn Duyệt. Ngoài ra, trường Xã Hội Quân Đội còn đào tạo huấn luyện những cô giáo nhà trẻ mẫu giáo để phục vụ tại trung tâm, trường học ở khu gia binh do quân đội xây cất.



Vị chỉ huy trưởng trường Xã Hội Quân Đội những năm sau cùng là cựu Thiếu Tá Trần Thị Bích Nga, hiện định cư tại Sacramento, California.

Ngành Nữ Quân Nhân được gọi là Đoàn Nữ Quân Nhân QLVNCH trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân đầu tiên là nữ Đại Tá Trần Cẩm Hương, ái nữ của kỹ sư Trần Văn Mẹo – Tổng Trưởng Công Chánh thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Mỗi quân khu và quân binh chủng có phân đoàn Nữ Quân Nhân, Phân Đoàn Trưởng thường có cấp bậc là Thiếu Tá hoặc Đại úy thâm niên. Trong QLVNCH mới có một nữ Đại Tá, đó là Đại Tá Trần Cẩm Hương, bà xuất thân từ ngành Nữ Trợ Tá Xã Hội, tốt nghiệp Cán Sự Xã Hội trường Thévénet.

Ngành xã hội quân đội do phu nhân Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh – Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam lúc bấy giờ (khoảng năm 1952) – đề nghị thành lập. Nữ Đại Tá Trần Cẩm Hương giải ngũ vì đáo hạn tuổi vào đầu năm 1975 và do lệnh Bộ Tổng Tham Mưu bổ nhiệm, người kế vị Trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân là Trung Tá Lưu Thị Huỳnh Mai (hiện nay ở Orange County).

Về cấp bậc Trung Tá, thâm niên quân vụ và cấp bậc có : Trung Tá Nguyễn Thị Hằng (đang ở Việt Nam), bà Hằng đang bị bệnh mất trí nhớ, từ Hòa Lan bà ở với con, nay bà về Việt Nam chờ ngày ra đi để trọn tình với quê hương. Trung Tá Hồ Thị Vẽ (Oklahoma), kế đến là Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn (Nam Cali), Trung Tá Lưu Thị Huỳnh Mai (Orange County). Thiếu Tá có khoảng trên dưới mười vị.

Trần Văn
Nguồn: http://ong­vove.word­press.com


Câu chuyện của Trung tá Hạnh Nhơn, cựu nữ quân nhân VNCH


Trung tá Hạnh Nhơn khi còn tại ngũ.

RFA - 2005-04-25
Trà Mi, phóng viên đài RFA

Cuộc chiến Việt Nam đi qua đã để lại những mất mát, đau thương cho hàng triệu phụ nữ Việt. Sự hy sinh của phụ nữ trong thời chiến không chỉ là những người chồng, những đứa con cho chiến tranh, mà nhiều người đã hy sinh tuổi thanh xuân và có khi là cả cuộc đời của mình nữa.

Trong chương trình hôm nay, Trà Mi xin mạn phép giới thiệu đến quý vị một cựu nữ quân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hoà, Trung Tá Trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân Không Quân : Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, người đã tham gia và phục vụ quân đội trong suốt 25 năm.

Trung Tá Trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân Không Quân

Cô Hạnh Nhơn bước chân vào binh nghiệp năm 1950, khi còn là một cô gái 23 tuổi, đầy sức sống và nhiệt huyết. Trong 7 năm đầu, cô làm việc cho Sở Hành Chánh Tài Chánh, đảm nhiệm việc kế toán lương hướng.

Sau đó, cô chuyển về công tác tại Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, làm sĩ quan tiếp liệu, lo về y cụ, doanh trại cho quân y trong suốt 7 năm.

Đến năm 1964, người con gái dịu dàng của miền Trung vào Sài Gòn, để giữ chức vụ Trưởng phòng Hành Chánh Trung Tâm Huấn Luyện Nữ Quân Nhân. Sau một năm, cô về Văn Phòng Đoàn Nữ Quân Nhân tại Bộ Tổng Tham Mưu làm trưởng phòng nghiên cứu trong 4 năm, rồi được điều về Bộ Tư Lệnh Không Quân, với vị trí Trung Tá Trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân Không Quân.

Cô phụ trách công tác quản lý nữ quân nhân không quân của 4 vùng chiến thuật, coi về kỷ luật, tác phong, tuyển mộ, huấn luyện, thanh tra cho đến ngày miền Nam sụp đổ. Và cuộc đời ngừơi nữ quân nhân tận tuỵ cũng sang trang từ đây.

Lối rẽ cuộc đời đầy nước mắt


Với bề dày hoạt động và những chức vụ quan trọng trong quân lực Việt Nam Cộng Hoà, ngày quân đội miền Bắc phất cờ reo mừng chiến thắng cũng là lúc Trung Tá Hạnh Nhơn cùng những chiến hữu của cô bị bắt vào các trại cải tạo tập trung, kết thúc quãng đời binh nghiệp, dở dang những lý tưởng, những hoài bão của riêng mình, và bỏ lại sau lưng một gia đình cùng đàn con thơ dại.

Bốn năm trong tù cải tạo đối với người nữ quân nhân bình dị, dễ mến này, là một thời gian đằng đẵng, một lối rẽ cuộc đời đầy nước mắt. Cô đã được chuyển qua rất nhiều trại giam và đã nếm trải bao nhiêu gian khổ, nhọc nhằn của 1 nữ tù nhân chính trị.

Sau ngày ra tù, cuộc đời cô tiếp nối bằng những chuỗi ngày khó khăn, vất vả với hai bàn tay trắng trong cái nhìn khắt khe của 1 xã hội mới đối với những lớp người được coi là chế độ cũ như cô.

Làm việc thiện nguyện


Cho đến thập niên 90, cô Hạnh Nhơn được một người con trai sang Mỹ trước 75 bão lãnh. Là một người từng nếm trải và thấu hiểu những kinh nghiệm đau thương của chiến tranh, nên ngay khi đặt chân tới Mỹ, cô đã tham gia đóng góp vào các hoạt động giúp đỡ anh em cựu tù nhân chính trị trong bước đầu định cư trên xứ ngừơi.

4 năm đầu ở Mỹ, cô là Phó chủ tịch Hội tương trợ Cựu tù nhân Chính trị, tổ chức bảo trợ, giúp đỡ những cựu chiến binh không có thân nhân tại Mỹ sang đây định cư. Hơn 10 năm nay, cô đảm nhiệm vai trò Tổng thư ký của Hội Cứu trợ Thương phế binh và Quả phụ tử sĩ.

Giờ đây, người cựu nữ quân nhân ngày nào tuy đã gần tuổi 80, nhưng ngày ngày vẫn âm thầm, cần mẫn với công việc quyên góp thiện nguyện, gửi về nước giúp đỡ thương binh, những đồng đội trong quân lực Việt Nam Cộng Hoà cùng gia đình của họ.

Trò chuyện với cô Hạnh Nhơn


Bây giờ, mời quý vị cùng Trà Mi gặp gỡ nữ cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, Trung Tá Hạnh Nhơn.

Trà Mi : Kính chào cô Hạnh Nhơn, nghe qua cô có tới 25 năm phục vụ quân đội là Trà Mi đã hết sức ngạc nhiên rồi, nhưng có một điều mà Trà Mi rất thắc mắc không biết vì sao cô quyết định gia nhập quân ngũ từ hồi còn là một cô gái rất trẻ ở tuổi đôi mươi ?

Xin theo dõi toàn bộ cuộc phỏng vấn trong phần âm thanh bên trên. [xin chú ý : cuộc phỏng vấn này không còn trên trang web của RFA]

Trang Phụ nữ xin chia tay với quý vị tại đây. Những chuyên đề về nữ giới đã được thực hiện trong thời gian qua được lưu giữ tại trang web của Đài ACTD ở địa chỉ www.rfa.org, để quý vị có thể nghe và xem lại. Hẹn gặp lại quý vị trong một chuyên đề mới trên làn sóng này, vào tuần sau. Trà Mi kính chào.


Về Đầu Trang Go down
vandinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Tue Jun 03, 2014 11:03 am



Tâm sự cùng Ngọc Ðan Thanh: Nói về người lính VNCH

“Trước năm 75, khán giả mà tôi tiếp xúc là khán giả của đài truyền hình, vì thời gian đó tôi xuất hiện khá nhiều trên các đài truyền hình... Còn khán giả ở đây tại hải ngoại, rất dễ thương, họ dễ tính, sẵn sàng tha thứ, châm chế cho những khiếm khuyết của người nghệ sĩ đứng trên sân khấu... Vì họ biết là tất cả chúng ta ở đây đều mang chung một mẫu số là hai chữ 'tị nạn,'” nghệ sĩ, MC Ngọc Ðan Thanh nói về nhận xét của cô đối với khán giả trước 75 và hiện nay.



Nghệ sĩ Ngọc Ðan Thanh

Nghệ sĩ Ngọc Ðan Thanh tên thật Lê Thị Huệ, sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, kể lại về thời còn trẻ, chị nói: “Năm 1968, ngay sau trận Mậu Thân là tôi gia nhập Biệt Ðộng Quân, lúc đó ở nhà ai cũng cản, vì muốn tôi lo học hành, chuyên môn, chứ đâu ai muốn tôi đi lính... Có điều chữ đi lính của tôi khác người ta một chút là không phải cầm súng ra chiến trường bắn như các anh lính mà tôi là chiến tranh chính trị, theo ban văn nghệ đi phục vụ cho tất cả các chiến trường.”

Ca sĩ Ngọc Ðan Thanh cho biết lúc đó có rất nhiều ca nghệ sĩ khác gia nhập Biệt Ðộng Quân cùng với Ngọc Ðan Thanh như Jo Marcel, Jimmy Tòng...

Sau 3 năm phục vụ trong Binh Chủng Biệt Ðộng Quân, tức khoảng năm 1971, nghệ sĩ Ngọc Ðan Thanh chuyển sang tiểu đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị.

“Trong thời gian tôi 'làm' trong tiểu đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị, tôi vẫn đi hát ở ngoài đời, vẫn đóng phim, tham gia đài truyền hình,” Ngọc Ðan Thanh nói.

Nói về mảng phim ảnh, chị cho biết có một số phim chị góp mặt như Xóm Tôi, Long Hổ Sát Ðấu, Báu Kiếm Rửa Hận Thù...

“13 tuổi tôi bắt đầu theo thầy Năm Ðờn học vọng cổ, sau đó được bác Hai Thành Công trong đài quân đội dẫn dắt vào đài truyền hình và phát thanh,” nghệ sĩ Ngọc Ðan Thanh kể tiếp quãng thời gian đầu tiếp cận tân nhạc.

“Một thời gian sau tôi và Bạch Lê theo thầy nhạc sĩ Anh Bằng, được hai ba tháng gì đó,” câu chuyện tiếp tục chuyển qua giai đoạn chị được nghệ sĩ Kiều Phượng Loan đưa vào cộng tác đóng kịch cho Ban Văn Nghệ Biệt Ðộng Quân và truyền hình.

“Kể từ sau thời đó tên tuổi tôi bắt đầu được nhiều người biết đến qua các vai đóng trong kịch, đồng thời tôi cũng tham gia đi hát tân nhạc với ban Bảo Thu, nhưng tôi chuyên về kịch và phim nhiều hơn, tôi còn nhớ mình tham gia các ban kịch như của chị Thẩm Thúy Hằng, ban cải lương của nghệ sĩ Thanh Nga, ban cải lương Phụng Hảo, ban kịch Vũ Ðức Duy, chú Phúc Lai, ông Lê Tuấn, cô Bích Thuận... Nói chung là các ban kịch chống cộng nhiều,” nghệ sĩ Ngọc Ðan Thanh kể tiếp.

Ngừng một chút nghệ sĩ Ngọc Ðan Thanh nhắc về vai diễn mới nhất đang lôi cuốn chị với sức cuốn hút mà chị sẽ đóng trong kịch “100 Ngày Yêu” của đoàn kịch Quang Minh-Hồng Ðào sẽ diễn tại Rose Center vào ngày 31 tháng 5, 2014.

“Vai diễn nào được Ngọc Ðan Thanh xem là ấn tượng nhất?”

“Nếu hỏi về các vai kịch tôi đã đóng trước 1975 thì nhiều quá, mình không thể nhớ nổi, chỉ có điều cho đến bây giờ thỉnh thoảng gặp khán giả, họ nhắc lại vai này, vai kia, nhưng nói cho cùng chưa bao giờ có một vai trò nào tôi cảm thấy hài lòng. Có lẽ vì tôi quá cẩn thận để đáp lại sự ưu ái của khán giả dành cho Ngọc Ðan Thanh, bởi vậy cứ sau mỗi buổi diễn khi về ngồi xem lại tôi cứ đặt câu hỏi 'tại sao mình không diễn thế này, hay thế kia?' Tôi vẫn cứ thấy thiếu sót trong những vai trò của mình.”

“Sau 1975, nghệ sĩ Kim Cương mời tôi tham gia đoàn kịch của chị, tôi đóng các vai trong những tuồng như Lá Sầu Riêng, Dưới Hai Màu Áo...”

Nhắc đến cải lương, nghệ sĩ Ngọc Ðan Thanh tâm sự chương trình “Tiếng Tơ Ðồng” của chị và nghệ sĩ Chí Tâm trên đài SBTN đã nhận được rất nhiều sự cổ vũ từ những khán giả yêu cổ nhạc.

“Cơ hội nào để chị bước sang lãnh vực MC?”

“Trước khi làm MC tôi giữ vai trò đọc tin cho đài SET, SBTN, tuy nhiên trong thời gian đó có trung tâm cũng đã từng có nhã ý mời tôi làm MC, nhưng vì lâu quá không xuất hiện, không còn tự tin nên không nhận lời.”

Ngừng một chút, chị nói tiếp: “Nhớ Việt Dzũng hồi đó, cứ thúc tôi nhận lời đi. Có gì Việt Dzũng sẽ lo. Vậy đó mà một thời gian sau, lâu lắm tôi mới chịu làm. Ðó là sau cuốn DVD 'Lá Thư Từ Chiến Trường,' tôi nhận vai đọc những lá thư thật của các khán giả khắp nơi còn giữ lại kỷ niệm của cha, chồng, con của họ đã từng đi lính VNCH gửi về từ các chiến trường xa.”

Nghệ sĩ Ngọc Ðan Thanh kể chị thật sự xúc động khi cầm trên tay những lá thư đã ngả màu vàng úa và chị đã đọc với tất cả tâm tư, tình cảm của mình đặt vào trong đó.

Thế rồi sau khi DVD “Lá Thư Từ Chiến Trường” được trình làng, trung tâm Asia nhận được nhiều email cũng như lời yêu cầu Ngọc Ðan Thanh xuất hiện trong vai trò MC trong chương trình nhạc hội thu hình của trung tâm Asia.

“Cũng từ đó tôi biết mình có được sự ủng hộ từ trong gia đình cũng như bạn bè thân xung quanh, khuyến khích và cả số đông khán giả nữa. Cuối cùng có một ngày tôi nhận lời đứng chung với Việt Dzũng, Nam Lộc, Thùy Dương để cùng điều khiển chương trình cho trung tâm Asia,” nghệ sĩ Ngọc Ðan Thanh hồi tưởng lại thuở ban đầu khi mới nhận lời làm MC.

“Hình như chị mới cho trình làng CD 'Lối Xưa' phải không?”

“CD 'Lối Xưa' là tác phẩm đầu tiên tôi thực hiện kể từ ngày bước chân vào trung tâm Asia, CD này gồm những ca khúc nhạc xưa, những bài hát được rất nhiều người yêu cầu và cũng là cuốn CD thay cho niềm tâm sự của Ngọc Ðan Thanh khi người nghệ sĩ có lúc cũng phải dừng chân lại, đây là món quà đúng nghĩa là để tri ân khán thính giả sau 25 vui buồn và đón nhận thương yêu của khán thính giả thay cho lời nói tri ân...” nghệ sĩ Ngọc Ðan Thanh giới thiệu sơ qua vỏn vẹn như thế về CD mới nhất của chị.

“Ðối với chị hình ảnh người lính như thế nào?”

“Ðó là những người đã hy sinh đời sống, thân thể của họ cho cuộc chiến, để bảo vệ sự tự do, hạnh phúc của tất cả chúng ta. Họ là những người lính kiêu hùng tuyệt vời.”

“Sau chừng ấy năm sinh hoạt nghệ thuật, điều hạnh phúc nhất của chị là gì?”

“Ðời sống và con đường sinh hoạt nghệ thuật của tôi quả là một chuỗi những sự may mắn, may mắn vì dù đi đến đâu, sống ở đâu, hay sinh hoạt văn nghệ bất cứ ở nơi nào tôi cũng đều nhận được sự thương mến và giúp đỡ tận tình của khán thính giả, các anh chị em nghệ sĩ, giới truyền thông của cộng đồng người Việt mình, đó là điều tôi hạnh phúc nhất,” MC, nghệ sĩ Ngọc Ðan Thanh chia sẻ.

(ÐT)

Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Tue Jul 29, 2014 8:03 am


Lá Thư Ngỏ của CH Phan Nhật Nam


 
Kính gởi các Chiến Hữu QLVNCH,
 
Như tôi đã trình bày nhiều lần từ tháng 5 là: Nhà Xuất Bản Sống và đích thân PNNam đang tiến hành gom góp những bài viết từ các chiến hữu của những đơn vị đã có mặt trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
 
Vì đây không phải chỉ là những trận đánh mà  là điển hình toàn diện của Chiến Tranh Việt Nam quyết định vận mạng  miền Nam từ 1972, sau 1975 cho đến hiện tại.

Xin quý Chiến hữu giúp một tay để tường trình được đầy đủ cho mai hậu. Chúng ta không còn thì giờ và cơ hội nào khác.

Kính cám ơn.

PNNam (714) 200-4188



Về Đầu Trang Go down
toandoan
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Tue Aug 05, 2014 12:01 am


Mời quý vị xem Gulag Việt Nam








Về Đầu Trang Go down
vandinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Sun Aug 10, 2014 1:54 pm



TA TRỞ LẠI
Nhạc VÕ TÁ HÂN
Thơ NGUYÊN HUY
Ca sĩ KHẮC DŨNG
Về Đầu Trang Go down
vandinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Mon Nov 17, 2014 3:30 pm


Bài hát "Tình thiên thu" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh





Cao-Đắc Tuấn (Danlambao) - Tóm lược: Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết bài hát "Tình thiên thu" vào năm 1974 về chuyện tình thương tâm giữa một người con gái có mơ ước bình thường và một chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Bài hát được thể hiện dưới dạng ballad, và có lối diễn tả kể chuyện và dùng vần điệu theo thi ca truyền thống. Với bố cục chặt chẽ và cách gieo vần tài tình, tác giả giàn dựng một câu chuyện gây cảm xúc mạnh trên khán giả.

*

Bài hát "Tình thiên thu" do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết vào năm 1974 (Xem Nhạc Việt trước 75), về chuyện tình buồn giữa một thiếu nữ và một chiến sĩ Biệt Động Quân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Nhan đề đầy đủ của bài hát là "Tình Thiên Thu của Nguyễn Thị Mộng Thường." Cho gọn, tôi sẽ chỉ dùng "Tình Thiên Thu."



Sau đây là vắn tắt tiểu sử tác giả.

Trần Thiện Thanh sinh ngày 12 tháng 6 năm 1942 tại Phan Thiết, Ông là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất trong miền Nam Việt Nam trước 1975. Ông còn là ca sĩ với tên Nhật Trường và được xem là một trong bốn giọng nam nổi tiếng nhất của nhạc vàng ("tứ trụ nhạc vàng"). Ba người còn lại là: Hùng Cường, Duy Khánh, và Chế Linh (Wikipedia 2014a). Ông phục vụ tại Cục Tâm lý chiến Bộ Tổng tham mưu QLVNCH cho đến cuối tháng tư năm 1975. Ông cũng làm việc tại Ðài Phát thanh và Truyền hình Quân Ðội, từng là Trưởng ban văn nghệ của đài và sau năm 1968 còn phụ trách thêm chương trình phóng sự chiến trường.

Đầu thập niên 1970, ông thực hiện một số nhạc cảnh cùng với ca sĩ Thanh Lan, sau này chuyển thành phim kịch như "Trên Đỉnh Mùa Đông" và "Mộng Thường" ("Người Chết Trở Về") trên đài truyền hình. Năm 1993, ông di cư sang Hoa Kỳ và tiếp tục các hoạt động sáng tác và trình diễn âm nhạc. Ông mất ngày 13 tháng 5 năm 2005 tại Westminster, Quận Orange, California.

Trần Thiện Thanh viết hàng trăm tác phẩm, phần lớn có chủ đề về tình yêu và lính. Nhạc lính của ông "không có thù hận, gay gắt, kích động hoặc u uất, bi thảm mà thường là trong sáng vui tươi làm thi vị hóa và lãng mạn hóa đời lính gian khổ" (Wikipedia 2014a).

Nguyên văn lời bài hát như sau (Nhạc Việt trước 75).

Vẫn biết trên cõi đời
thường yêu thường mơ lứa đôi
Nếu biết sống giữa trời
tình yêu là con nước trôi

Trôi lang thang qua từng miền
Lúc êm ái xuôi đồng bằng.
Cũng có lúc thác cùng ghềnh
chia đường con nước êm

Mời bạn nghe chuyện thê lương
Khóc cho người lỡ yêu đương
Trời già nhưng còn ghen tuông
Cách chia người trót thương

Em xinh em tên Mộng Thường
mẹ gọi em bé xinh
Em tên em tên Mộng Thường
cha gọi em bé ngoan

Đến lúc biết mơ mộng
như những cô gái xuân nồng
Nàng yêu anh quân nhân Biệt Động
trong một ngày cuối đông

Chuyện tình trong thời giao tranh
vẫn như làn khói mong manh
Chàng về đơn vị xa xăm
nàng nghe nặng nhớ mong

Yêu nhau lúc triền miên khói lửa
Chuyện vui buồn ai biết ra sao
Nhìn quanh mình sao lắm thương đau

Khi không thấy người yêu trở lại
Tình yêu tìm không thấy ban mai
Người không tìm ra dấu tương lai

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ phương xa
Một xuân buồn có gió đông qua

Xin cho yêu trong Mộng Thường
nhưng mộng thường cũng tan
Xin cho đi chung một đường
sao định mệnh chắn ngang

Xin ghi tên chung thiệp hồng
Phút giây bỗng nghe ngỡ ngàng
Cô dâu chưa về nhà chồng
Ôi lạnh lùng nghĩa trang

Chàng thề không còn yêu ai
dẫu cho ngày tháng phôi phai
Nhiều lần chàng mộng liêu trai
Nàng hẹn chàng kiếp mai.

...

http://danlambaovn.blogspot.com/2014/11/tinh-thien-thu.html#more
.
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Mon Jan 05, 2015 10:40 am


Trần Hoài Thư – người lính & nỗi buồn chiến tranh
- nhân đọc lại “Truyện từ Bách khoa”


Đỗ Xuân Tê




Chẳng phải bây giờ tôi mới đọc truyện của Trần Hoài Thư qua mấy tác phẩm anh góp nhặt và in lại từ Văn và Bách khoa. Mà do nhu cầu công tác tôi được kể là ‘chuyên viên đọc’ khi phụ trách về điểm báo và chủ biên tin tức chiến sự cho một cơ quan tư tưởng đầu não của quân đội vào thời cao điểm của cuộc chiến, thì một nhà văn trẻ đầy triển vọng kiêm phóng viên chiến trường chịu lặn lội vùng đồng bằng sông Cửu có bút danh Trần Hoài Thư không thể ra ngoài ‘tầm ngắm’ của chúng tôi.

Tình cờ khi viết bài cảm nghĩ về Những tháng năm cuồng nộ của Khuất Đẩu (đăng trên Da Màu), tôi ước mong tác phẩm được xuất bản ở hải ngoại để quần chúng cùng thưởng thức, thì không ngờ trong một lời bình của độc giả, nhà văn Trần Hoài Thư cho biết Thư Quán Bản Thảo đã làm việc này. Tôi mau mắn gửi mua và được anh tặng thêm cho hai cuốn trong đó có Truyện từ Bách Khoa anh vừa xuất bản (2011). Tôi cứ băn khoăn vì được tặng chứ không mất tiền, dù anh nói chưa quen nhưng có đọc một số bài của tôi.

Đọc xong cứ để đó, thỉnh thoảng tôi lại xem. Định viết cảm nghĩ nhưng thấy nhiều cây bút uy tín trong đó có cả bạn anh đã viết nhiều về anh và khi nhìn lại khối lượng đồ sồ về những tác phẩm anh viết và xuất bản sau thời Bách Khoa cùng công việc anh miệt mài cho sinh hoạt văn học nghệ thuật tại hải ngoại mấy thập niên gần đây mới thấy công trình này đã ‘phủ bóng’ lên những tác phẩm đầu tay của người viết văn kiêm người lính trận năm xưa.

Suy nghĩ như vậy có vẻ lô-gích, nhưng hình như không phải cách nhìn của Trần Hoài Thư, thực sự anh vẫn trân trọng những tác phẩm đầu đời, được viết bằng tâm tư giằng xé và trải nghiệm sinh tử của người lính trẻ, được chắt lọc và hình thành từ những chất liệu sống pha đầy máu, mồ hôi và nứơc mắt của nhiều số phận trong một thời đất nước điêu linh, được lưu lại bằng những trang giấy học trò nhòe nhoẹt nhàu nát ghi vội trên đường hành quân mà nhiều khi bản thảo chưa đến tay chủ biên thì người viết đã được tản thương về một trạm quân y hay một nhà quàn dã chiến một nơi heo hút (trích ý viết trong Lời mở của sách).



Những vốn quí này không thể mua mà có, không thể có rồi dễ quên, không thể quên rồi chối bỏ, mà đã trở thành tư liệu vật thể trong văn học khi những người lính vừa chiến đấu vừa cầm bút để thuật lại những gì họ thấy, họ cảm nhận như những nhân chứng sống để rồi viết lại, chia sẻ với người cùng thời và các thế hệ sau.

Dù cho lịch sử có sang trang, quân đội có tan hàng, lòng người có ly tán, nhưng mãi mãi các tác phẩm văn học trong thời chiến vẫn là những đóng góp và ảnh hưởng nhất định cho ‘hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975’ vốn bị nhà cầm quyền trong nước tìm mọi cách cấm đoán và triệt tiêu từ sau biến cố 30-4 nhưng may mắn thay những người sống sót sau cuộc chiến ở hải ngoại mới đây đã tập hợp, nhìn lại và đánh giá đúng mức qua một cuộc hội thảo văn học vừa qui mô vừa tầm vóc do hai tờ nhật báo lớn của quận Cam và hai diễn đàn văn học mạng uy tín phối hợp tổ chức.

Cũng phải kể những tờ như Bách Khoa, như tờ Văn của một thời Sài gòn vang bóng đã có công tạo sân chơi cho các cây viết triển vọng và các chủ biên giàu lương tâm nghề nghiệp (như Lê Ngộ Châu) đã khích lệ văn nghệ sĩ hãy sống và viết như họ đang sống. Nhiều bài viết nhiều câu chuyện đã thực, sống động đến nỗi lưỡi hái kiểm duyệt của cơ quan thông tin miền Nam phải cắt xén để khỏi dao động tinh thần chiến đấu của binh sĩ.

Môt số truyện ngắn của THT cũng nằm trong trường hợp này, tôi hiểu và không lấy làm lạ ngay trong truyện ngắn đầu tay của anh đăng trên BK ‘đã bị kiểm duyệt bỏ trắng nhiều đoạn’ ngoài ý muốn của tác giả và chủ biên tòa soạn. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, các nhà văn nhà báo họ có một giác quan thứ sáu rất bén nhạy, họ biết chỗ nào sẽ bị cắt và họ vẫn né tránh được lưỡi hái làm hại chữ nghĩa để rồi cuối cùng những gì họ muốn gởi gấm vẫn đến tay bạn đọc.



Quay lại chủ điểm của bài viết, mấy tháng gần đây người ta hay viết và nhắc nhiều đến Trần Hoài Thư, một cây bút được nhiều cảm tình của những người lính cựu, một nhà văn được vị nể của những bạn văn và độc giả yêu văn chương. Tôi phục chị Hải Hà đã mở miệng được anh để có một cuộc trò chuyện khá thú vị. Qua đó tôi mới hiểu về anh nhiều hơn, mới biết một con người vốn chiến đấu can trường chưa đầy ba tháng thương tích hai lần trong đơn vị thám kích của một sư đoàn bộ binh đóng dọc phía đông Trường Sơn lại là người sĩ quan tự đào ngũ để vào quân lao tỏ thái độ phản kháng những phi lý của cuộc chiến tranh mà trước đó dù bị đẩy đưa vào chỗ chết anh vẫn chiến đấu hết mình trong tác phong và trách nhiệm của người lính.

Cũng may là tôi chưa viết về anh vào thời điểm khi đọc xong cuốn sách, chứ chỉ dựa vào văn phong, vào nội dung của từng cốt chuyện, vào nhân vật không gian và thời điểm, vào những gì tác giả muốn gởi gấm, qua cách nhìn bình thường của người điểm sách thì quả là hời hợt khi chưa nắm bắt được tâm tư tác giả, quá trình bản thân, hoàn cảnh sống, môi trường được đào luyện, động cơ sáng tác, những quan hệ bạn bè, những mối tình lớn nhỏ, những vùng đất đi qua, những dấn thân, hy sinh, những thử thách, thành công và thất bại của cuộc đời, nói chung là những chi tiết mà bạn bè bạn văn của anh tình cờ hé lộ qua chân dung đích thực của một nhà văn. Chẳng vậy mà khi muốn phê bình hoặc quảng bá cho một cuốn sách mới ra mắt người ta có thói quen tìm và trò chuyện với tác giả, nhưng chẳng phải dễ khi tiếp cận được những tác giả vừa có tài vừa quá khiêm tốn.

Tôi chưa có dịp gặp anh, nhưng cứ nhìn hình ảnh từ thời áo lính thư sinh qua tấm bìa của sách so với hình hài mai một qua những ký họa lúc về chiều, rồi liên hệ với thực tế cuộc đời, Trần Hoài Thư quả là một con người ‘thép’. Có ai trong chúng ta từ thơ ấu đến tuổi lập thân do tình cờ của số phận đã trải qua trại mồ côi, rồi nhà trường, quân trường, chiến trường, quân lao trước chiến tranh, rồi trại tù cộng sản, nhà tù lớn, trại tỵ nạn trên Biển Đông sau chiến tranh, rồi làm lại từ đầu nơi xứ người cũng bắt đầu từ nhà trường trở thành kỹ sư thảo chương, miệt mài lao động suốt 25 năm cho một công ty hàng đầu của Mỹ. Vừa lao động trí óc vừa lao động chân tay, vừa sáng tác vừa in ấn, vừa biên tập vừa phát hành, bảy mươi vẫn chưa nghỉ, vẫn chẳng hưu và lo cho bản thân, dù thân xác đã ghim đạn của VC và những chứng bệnh kinh niên không hẹn mà gặp lúc tuổi về già.



Tôi cũng có thời mặc áo lính và trải qua 12 năm trong trại tù cộng sản nhưng vẫn ‘chóng mặt’ khi đọc những trải nghiệm của anh, một người lẽ ra phải được thư nhàn thanh thản như cái tên Trần Quí Sách cha mẹ đặt cho rồi Trần Hoài Thư do tự chọn vì yêu và trăn trở với chữ nghĩa.

Tôi đoán là anh cũng muốn yên thân khi chọn cho mình nghiệp nhà giáo (giáo sư toán của một trường trung học đất Tam kỳ, quê của các bạn văn Trần Yên Hòa, Nguyễn Lương Vỵ). Nhưng họ đưa anh vào lính, mà lẽ ra độ mắt cận thị của anh theo luật thì được miễn hoặc hoãn. Anh bị thương hai lần không chết, anh đã sống và tồn tại theo cách riêng của anh.

Đọc những bút ký chiến trường của anh trong Bách Khoa bỗng dưng tôi thấy thương hại anh khi cứ phải mầy mò tìm kính lau kính vì chiếc poncho không đủ kín để che những giọt mưa của của một thời tiết sáng nắng chiều mưa đêm về lội ruộng khi anh đi theo những cánh quân của các đơn vị vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Có lúc người cầm máy cho anh khi chỉ huy chết trên tay anh, toán quân tản lạc vì bị phục kích, anh vẫn mang vết thương rỉ máu băng rừng về được nơi tải thương và các câu chuyện nằm trong quân y viện trở thành những trải nghiệm sống mà ít nhà văn viết được khi chính tác giả là thương binh và đối mặt với những cái phi lý khi các đồng đội của anh phải mất đi một phần thân thể, phế tật hay chuyển xuống nhà xác trước dòng nước mắt tiếc thương của những người vợ trẻ và ánh mắt thơ ngây vô tội của các trẻ thơ. Nỗi buồn chiến tranh làm anh trăn trở từ đây.


Càng thấy những bất công phi lý của chiến tranh anh quay sang tỏ thái độ phản kháng, dù tiêu cực và hệ lụy cho bản thân. Anh muốn làm Hà Thúc Nhân, người bác sĩ quân y chống tham nhũng cùng vào quân lao với anh. Nhân chết, Thư sống. Còn may cho anh lẽ ra từ quân lao phải ra đơn vị tác chiến dưới dạng ‘lao công chiến trường’ nhưng nhờ sự duyệt lại hồ sơ của con ngựa chứng và biết khiếu viết lách của anh, cơ quan tôi đã ‘bốc’ anh về Vùng 4 chiến thuật để làm…‘phóng viên chiến trường’ hết lội suối giờ lội sình để tường thuật và gởi các bản tin sốt dẻo cho các cơ quan báo chí quân đội cấp quân đoàn và trung ương.

Có điều thú vị khi đọc mấy chuyện của anh từ cuốn sách này, ta thấy lẽ ra trong tư cách phóng viên và nhu cầu công tác anh phải tường thuật các cuộc hành quân theo tiến trình (xin phép dùng tiếng Anh) Who, What (and) Where, nhưng vì là nhà văn anh lại đặt nặng theo cảm tính và luôn đào sâu khía cạnh How (and) Why. Anh ghét các con số báo cáo tổn thất địch ta, số vũ khí tịch thu vô tri vô giác, những buổi thuyết trình hành quân buồn tẻ mà lại hay ‘chạy đầu, đi đầu để săn nhặt những hình ảnh sống động’ và quan sát những tình huống bên lề, từ trên trực thăng nhìn xuống, có khi là em bé đang thả diều trong cảnh yên bình của một đồng cỏ xanh chỉ ít giờ sau chỉ còn con diều và cuộn chỉ,

Ngày hôm nay, tôi lại bay qua cánh đồng cỏ cũ. Trời vào hè, nắng vàng rực rỡ, chói lòa cả những áng mây xa. Con tàu như quen thuộc hạ xuống 100 bộ. Tôi không còn thấy em bé thả diều nữa. Chỉ còn cánh đồng cỏ màu vàng sậm mênh mông bát ngát. Tôi nghe một nỗi buồn đến đắng cay đầu lưỡi. Một nỗi buồn tê tái như khi nhớ lại chiếc cặp với trái soài non, những chiếc nắp ken, và con diều, cuộn chỉ vấy máu trên sân trường…(trích bút ký chiến trường Cánh Diều trên đồng cỏ tháng 3/74).

Còn rất nhiều chuyện hay và cảm động, có dịp bạn đọc xin tìm sách của anh để đọc lại như một hoài niệm, để cùng suy nghĩ về trải nghiệm của một nhà văn kiêm phóng viên, do tình cờ của lịch sử và đưa đẩy của số phận trở thành cây viết tài tử trong chiến tranh rồi thành cây bút chuyên nghiệp tài hoa sau chiến tranh.

Tiện đây người viết cũng xin tỏ lòng khâm phục người lính Trần Hoài Thư, chúc anh chân cứng đá mềm lo cho văn học, quên đi nỗi buồn chiến tranh một thời trăn trở. Cũng không quên gởi lời thăm hỏi đến chị Yến hiền thê của anh, một cái bóng phụ nữ nếu không có chị chắc khó đoán cuộc đời ‘con ngựa chứng’ sẽ trôi về đâu. (THT tuổi Ngọ)

Đỗ Xuân Tê
Cali, tháng 12-2014


Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Wed Apr 01, 2015 1:08 pm



Trong Lửa Đỏ, Giữa Sự Chết, Trên Quê Hương!

Phan Nhật Nam - 10/3/2015

Một - Cách đây 50 năm, tại Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp, Gia Định những buổi chiều mưa dầm Tháng 6 miền Nam, anh xoay xở quay quắt giữa những thây chết của những người lính thuộc đơn vị đầu đời, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù, Tiểu Đoàn 52 Biệt Động, Tiểu Đoàn 2/7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh.. Những người chết của chiến trận Đồng Xoài, Bình Dương nổ ra từ những ngày đầu Tháng 6.
Đối với một gã lính vừa qua tuổi 20 năm ấy, sự mất mát của hàng trăm chiến hữu chỉ được đưa về sau nhiều ngày kể từ khi tử trận quả là một sự đau thương quá lớn.. Thân thể người chết căng cứng, xanh đen, tím thẩm, dòi bọ lúc nhúc bò theo những vết thương sũng máu. Khoảng đất nghĩa trang đặc sánh bởi máu, thịt, con người chảy vữa, sênh sếch.. Trong đó có máu, thịt của bạn anh, Thiếu Úy Trần Trí Dũng, gã học sinh đã cho bạn cùng lớp và toàn Trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng niềm hãnh diện.. Vô địch bóng bàn học sinh, thủ quân đội bóng rỗ, cũng là trung phong hàng đầu của hội tuyển bóng tròn trường trung học đá hay nhất miền Trung. Nhưng giờ đây, tất cả dạng hình tươi trẻ sống động của Dũng với lúm đồng tiền trên má không còn nữa.. Kéo fermeture bao đựng xác – Bạn anh, người bạn ấu thơ của Đà Nẵng hơn mươi năm trước bấy giờ chỉ là một thây xác sùi sụp nước nhờn tím thẩm hôi hám. Có chăng được phần an ùi. xác Dũng còn nguyên dạng hình chưa bị vữa nát. Buổi đá banh năm xưa ở Sân Vận Động Chi Lăng làm sao tưởng ra tình cảnh nầy Dũng ơi?!
Xóm nhà dân trước nghĩa trang phải di tản vì mùi hôi thối bốc kín đặc khoảng không. Tiếng kêu khóc của thân nhân tử sĩ âm âm oán thán, xót xa, xé cắt.. Có bà cụ vật vã thều thào bên chiếc poncho gói xác người vừa lật mặt.. Nam ơi! Nam ơi! Sao cháu bỏ bà.. Anh ngồi xuống bên cạnh bà cụ.. Bà ơi, con cũng tên Nam, cha mẹ con không còn, con gọi bà bằng bà thay anh Nam. Trở về hậu cứ đơn vị nơi phi trường Biên Hòa, sân cờ tiểu đoàn trắng màu khăn tang, con trẻ chạy thất thanh quanh những người mẹ đang nằm lăn trước bậc thang các văn phòng đại đội.. Thiếu úy ơi! Thiếu úy ơi! Hóa ra anh là sĩ quan còn sót lại của một tiểu đoàn nhảy dù mà từ tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, 4 đại đội trưởng đồng tử nạn.. Không biết Đại Úy Phát, đại đội trưởng Đại Đội 74 và đám quân binh thất lạc nay đang ở đâu. Thế nên, những tưởng Tháng 6 năm 1965 đã quá sức chịu đựng của con người - Cho dẫu là người lính có khẩu hiệu Nhẩy Dù Cố Gắng!

Hai - Từ trên trực thăng ở Quảng Trị đổ về Huế trong ngày Mồng Bốn Tết Âm Lịch anh đã thấy ra một Thành Phố Huế chết lặng. Người Huế chết khi ẩn núp sau những gốc cây bị pháo, hỏa tiễn cộng sản bắn lật ngược, cạnh hàng hàng rào chè cháy xém; trên lề đường với mỗi viên gạch đồng bị vỡ vụn, nơi sân nhà trước chiếc bàn thờ xiêu đổ.. Người chết đang qùy lạy ông bà, với áo mới thấm máu, xé rách, con trẻ còn cầm trong tay bao đỏ tiền lì xì đầu năm...
Tuy nhiên cảnh chết của Huế không chỉ xẩy ra trong khu Thành Nội, trên đường Mai Thúc Loan, Đinh Bộ Lĩnh, khu sân bay Tây Lộc, ở những cửa thành Thượng Tứ, Đông Ba.. Chết ở Huế trùm khắp, mọi chốn, tại mỗi phân đất tại vùng Bãi Dâu, bên cạnh Sông Hương, nơi sân Trường Gia Hội, Chùa Áo Vàng...
Và sau ngày quân cộng hòa chiếm lại Kỳ Đài, đám cán binh cộng sản gồm du kích, nội thành, và bộ đội miền Bắc bị đánh bật ra khỏi khu cố thủ Gia Hội, trên đường rút lui mang theo những tù nhân vốn chỉ là con trẻ vị thành niên, người già, phụ nữ.. Nhưng đối tượng làm con tin cho lần tháo chạy.
Thế nên cuối cùng, thì cảnh chết, sự chết đã hiện thực, vượt khỏi sự tưởng tượng của bất cứ ai còn có Nhân Tính – Bởi người Huế đã tiếp bị thảm sát do những kẻ cùng chung khu phố, chung xóm nhà cư ngụ. Không sót một người. Không trật một người. Người Huế bị giết do một Sự Ác được ngụy danh là “giải phóng”, để thỏa mãn mặc cảm vô dụng, hèn kém của những kẻ gọi là “trí thức cách mạng”, điễn hình đặc chất Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Pham, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh, Tôn Thất Dương Kỵ..
Người Huế chết chật hết những bụi lùm ở Khe Đá Mài vùng núi Ngũ Tây; sùm sụp bước chân của đoàn người tìm kiếm trong những ngày hè cùng năm năm 1968.
Hơi thây chết bốc lên theo nắng đầu hè miền Trung ong óng như hờn oan. Nhưng hởi ôi! Chết ở Huế cũng chưa đủ cho cuộc đau thương của người Việt. Người Việt miền Trung chiếm đầu bảng đầu oán hận. Không phải đợi dài lâu.



Ba - Anh đang ở trên cây số 9 từ Quảng Trị kể đến, vùng thôn Mai Đẳng, xã Hải Lăng..Không thể dùng một chữ, một tĩnh từ, không thể nói, khóc, la, trước cảnh tượng trước mặt, chỉ có thể im lặng, chỉ có thể nghiến răng, bặm môi, dù răng vỡ, môi chảy máu tươi, tay luống cuống, mắt mờ nhạt, mũi phập phồng. Không có thể biết gì về thân thể đang mở ra trước sự tàn khốc trước mặt. Trời ơi ! Hình như có tiếng kêu mơ hồ dội ngược ở trong lồng ngực, trong cổ họng, nơi óc não, hay chỉ là ảo giác của con người mất hết khả năng kiểm soát.Kiểm soát làm sao được nhịp đập của quả tim, không ai ngăn cản cơn chớp liên hồi của đôi mắt, tay nổi da gà, những sợi gân ở thái dương phồng lên đập xuống – Máu chảy ngúc ngắc trăn trở lăn lóc khô khan khó nhọc trong những gân căng đến độ chót ... Cũng không phải như thế - Anh không biết, hoàn toàn không biết được gì của xác thân. Anh không còn là người đang sống, vì sống là sống cùng với người sống, chia xẻ vui buồn, đau đớn lo âu với người sống. Chung quanh anh trước mặt chỉ còn một hiện tượng, một không khí - Chết.
Phải, chỉ có Sự Chết bao trùm vây cứng. Chỉ có nỗi chết đang tầng tầng phủ chặt kín không gian. Cho dù rằng, Tháng 4, 5, 1972 ở An Lộc với những ngôi mộ vô danh, mộ tập thể, những cái chết câm lặng đến độ chót của đau đớn kinh hoàng, người cha trầm tĩnh đi tìm từng cái chân, cánh tay của năm đứa con vừa bị tan thây vì quả đạn đại pháo, nhưng lại còn được một nấc chót - Bên cạnh người chết vẫn còn người đang sống - Ở An Lộc, anh thấy được loại người cuối đáy đau thương đó. An Lộc lại quá nhỏ, chỉ hơn một cây số vuông, cái chết cô đặc lại, ngập cứng vào người nhanh và gọn như nhát dao ngọt. Cái đau đến chớp mắt, người chưa kịp chuẩn bị thì đã ngập hẳn vào trong!

Nhưng ở đây, thôn Giáp Hậu, Mai Đẳng, Hải Lâm của Quảng Trị thì khác hơn An Lộc một bậc, hơn trên một tầng, tầng cao ngất chót vót, dài hơn An Lộc một chặng, dài hun hút mênh mông.sự chết trên 9 cây số đường này là 9 cây số trời chết, đất chết, chết trên mỗi hạt cát, chết trên đầu ngọn lá, chết vương vãi từng mảnh thịt, chết từng cụm xương sống, đốt xương sườn, chết lăn lóc đầu lâu, chết rã rời từng bàn tay cong cong đen đúa ...
Anh đi theo chiếc xe công binh ủi một đường dài, những xác chết, không, phải nói những bó xương bị dồn cùng áo quần, vật dụng, chạm vào nhau nghe lóc cóc, xào xạc, “đống rác” người ùn ùn chuyển dịch, một chất nhờn đen đen ươn ướt lấp lánh trên mặt nhựa - nhựa thịt người !!
Trời nắng, đồng trắng, con đường im lìm, động cơ chiếc xe ủi đất - phải gọi xe ủi người mới đúng - vang đều đều, hơi nắng bốc lên từng đường trên mặt nhựa, hơi nặng mùi ... Vạn vật chết trong lòng ánh sáng. Ánh sáng có mùi của Sự Chết.
Nếu cảnh chết tập thể của người Do Thái ở các trại tập trung gây nên niềm bàng hoàng xúc động, vì thế giới chứng kiến, thấy ra được những “xác người,” chồng chồng lớp lớp. Chín cây số đường chết của Quảng Trị không còn được quyền dùng danh từ “xác chết” nữa, vì đây chết tan nát, chết tung tóe, chết vỡ bùng ... Chết trân tất cả mọi cái chết. Không còn được “người chết” trên đoạn đường kinh khiếp đến tột độ của chốn quê hương thê thảm đọa đày.
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang chính tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người.
Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh ? Có cảm giác lạ : Anh vừa phạm tội. Tội được sống.



Bốn - Nhưng cuối cùng..Hóa ra, Khổ Đau/Sự Chết nơi chiến trận Đồng Xoài 1965 chỉ là khúc dạo đầu phần bi thảm với những người lính tử trận. Cuộc tàn sát Mậu Thân, 1968 cũng trong giới hạn của ngàn người dân Thành Phố Huế bị đập đầu, chôn sống.
Và cho dẫu ngọn lửa Mùa Hè 1972 gớm ghê khốc liệt bao nhiêu cũng chỉ bùng cháy, tiêu hủy các thị xã An Lộc, Kontum, Quảng Trị.. Hóa ra Địa Ngục Miền Nam không chỉ chứng ấy. Hóa ra khổ đau Miền Nam không chỉ với vài ngàn, vài chục ngàn người chết, những thị xã bị tiêu hủy..
Tai ương Việt Nam/Thảm Họa Miền Nam thăm thẳm vô bờ với mùa xuân uất hận không thể nào quên dẫu hôm nay 40 năm sau 1975. Chúng ta hãy nhìn lại đoạn đường máu thẩm của một Dân tộc đọa đày trên quê nhà điêu linh..

Đầu xuân năm 1975, vào buổi Tháng Ba, thêm một lần người Miền Nam tự hỏi: Cộng sản sắp đánh ở đâu? Khi nào sẽ đổ ra thêm một trận máu xương với lực lượng cộng sản miền Bắc nhất quyết thực hiện bước cuối cùng cái gọi là sự nghiệp “giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”. Sự nghiệp cách mạng mà 40 năm sau 1975 bày ra tình cảnh nguy nan vô hạn với hiễm họa mất nước về người Hoa, và xã hội Việt Nam chìm ngập xuống vực thẳm băng hoại, suy vong.

Vào Tháng Ba năm 1975, lãnh thổ miền Nam đã bị mất một phần thuộc phía bắc sông Thạch Hãn, Quảng Trị của quân Khu I; ở Quân Khu II mất phần đất nằm về mặt bắc và tây của vùng Trường Sơn; Và quanh Sài Gòn một vùng rộng lớn của miền Đông Nam Bộ từ thượng lưu sông Đồng Nai qua Phước Long, Bình Long, Tây Ninh về Long An, Hậu Nghĩa, xuống Kiến Tường, Định Tường thuộc châu thổ sông Cửu Long.
Trong tình hình chung như vừa kể, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư lệnh Quân Đoàn II đóng ở Pleiku lúc ấy không thể quyết đoán cụ thể về kế hoạch quân cộng sản sẽ đánh ở đâu trong vùng Quân Khu II. Trong khi ấy, cộng sản Hà Nội lập kế hoạch, bắt đầu với chiến dịch Tây Nguyên từ 4 tháng 3 đến 3 tháng 4 năm 1975 mang mật danh là Chiến Dịch 275.
Cuộc tấn công xử dụng các đơn vị cấp sư đoàn bộ binh Bắc Việt có chiến xa, đại bác nặng yểm trợ khởi cuộc nổ súng từ ngày ngày 10 Tháng 3 năm 1975 với mục tiêu là Ban Mê Thuột, thành phố cực Nam của vùng cao nguyên. Bộ chính trị, quân ủy trung ương tại Hà Nội đã điều động thực hiện cuộc tấn công miền Nam với hai lợi điểm mà thật sự là hai ưu thế quyết định. Đấy là sự bất ngờ về tình báo thêm được bảo đảm bằng cái ô chính trị tuyệt đối an toàn tức là biết chắc Mỹ sẽ không bao giờ can thiệp lại vào Việt Nam. Cụ thể Hạm Đội Mỹ quay mặt trước lần hải quân Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, tháng 1, năm 1974.

Trong cuộc họp mật của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng vào tháng 1 năm 1975 trước khi phát lệnh tấn công miền Nam theo kế hoạch Chiến Dịch 275, ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa -một bên ký kết Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam- đã hân hoan tuyên bố: “Cho kẹo Mỹ cũng không dám trở lại Việt Nam!"

Ngày 10 Tháng 3 năm 1975, quân đoàn Tây Nguyên dưới quyền tổng chỉ huy của Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đến từ Hà Nội đồng loạt tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột với những sư đoàn 324, 324B, 320, 308, 316 và cả sư 341 tổng trừ bị của quân đội miền Bắc.
Nhưng khi quân dân Ban Mê Thuột đang trên bờ vực sống-chết thì báo chí thế giới, báo cộng sản ở Hà Nội, báo phản chiến ở Sàigòn đều đồng thanh phát biểu: "Cách mạng giải phóng miền Nam là do mâu thuẫn giữa giai cấp cách mạng và giai cấp phản cách mạng; giữa nhân dân tiến bộ và thành phần ngụy quân, ngụy quyền phản động; giữa lực lượng vũ trang cách mạng và tập đoàn quân phiệt, phát xít công cụ của chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ..."



Với sư đoàn F10 làm mũi nhọn được hai sư đoàn 320, 316 tăng cường, và sư 341 làm tổng trừ bị, lực lượng cộng sản có khoảng 25,000 người được pháo binh, chiến xa nặng yểm trợ phối hợp. Đối lại tại thị xã Ban Mê Thuột phía VNCH chỉ có khoản 1.200 lính chiến đấu trong tổng số lính hậu cứ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, lực lượng Địa phương quân Tiểu Khu Đắc-lắc, và Liên đoàn 22 Biệt động quân. Thế nên từ hai giờ sáng ngày 10 tháng Ba, giờ mở lệnh tấn công mà tướng Dũng ước tính chiến trận Ban Mê Thuộc sẽ chấm dứt sau một tuần nhưng chỉ đến 5 giờ 30 chiều cùng ngày, thị xã Ban Mê Thuộc hầu như thuộc về phần kiểm soát của quân Bắc Việt cho dù Biệt Động Quân và bộ binh vẫn tiếp tục chiến đấu. Dũng cứ tưởng như là giấc mơ. Và Dũng đã đi từ giấc mơ sang một vùng ảo giác vào những ngày sau khi được báo cáo: Quân đoàn II tháo chạy!

Cuộc di tản dọc Tỉnh Lộ 7 theo lộ trình Pleiku-Phú Bổn xuống Tuy Hòa quá lớn với mối đau thương dài đặt trên hai trăm cây số đường núi với hai trăm ngàn dân thường đi từ hai thành phố Kontum, Pleiku. Phải, chỉ là dân thường những người nghèo không đủ tiền mua vé máy bay vào những tuần, tháng trước.

Trời cao nguyên buổi tàn xuân gây gây rét vào sáng, càng về trưa nắng cao và nóng khô khan, đường bụi mù tung đỏ bám vào thành xe, nòng pháo, khí cụ, tóc và da mặt ngưi, vạn tròng mắt đỏ rực. Những tròng mắt mệt mỏi lo âu, tuyệt vọng. Phía sau lưng, thị xã Pleiku bốc lửa ngọn, khói đen đặc ngật ngật bay lên cao hơn đỉnh núi Hàm Rồng. Lửa lóng lánh ánh sáng kinh dị trong đôi ngươi những người lính Liên Đoàn 7 Biệt động quân, thành phần hậu vệ đoàn di tản. Trời cao nguyên với thị trấn Pleiku thường chĩu lặng sương mù nay oằn thân vật vã trong màu lửa địa ngục. Lửa từ khối đống kim loại vũ khí, từ những kho quân nhu, quân cụ soi loang loáng chập chờn những đường dốc hun hút lẫn khuất dưới tàng thông. Tất cả đồng nhóm lên màu đỏ chói. Màu đỏ của máu lửa soi chập chờn đoàn người di tản thê thiết. Đoàn di tản qua được một ngày bình an. Bình an sống sót qua đói, khát, nhục nhằn và lo âu. Lính gục trên mũi súng, đàn bà, con trẻ nằm rũ lên hành lý, thành xe, đất cát. Được sống, được ngủ là hạnh phúc quá lớn hở trời? Còn biết kêu vào đâu? Với ai? Nhưng nỗi bình an này không kéo dài được, bởi người cộng sản chỉ trong ngày 16 tháng Ba đã tìm ra đáp số cho câu hỏi: Quân đoàn II đang tính gì sau chấn thương ngày 10 tháng Ba tại điểm bất ngờ Ban Mê Thuộc?
Qua máy dò tìm làn sóng điện, Bộ Tư Lệnh Mặt trận B3 cộng sản khám phá những phi cơ C47, C130 xuất phát từ phi trường Cù Hanh (Pleiku) đi Nha Trang không có lượt bay về. Sự kiện nầy đã trút mối âu lo của Tướng Dũng về việc lực lượng VNCH có thể điều quân tái chiếm Ban Mê Thuộc. Thế nên Dũng ra lệnh cho Sư Đoàn 320 băng rừng truy kích đoàn di tản và Sư Đoàn 968 từ Lào về trên đường bôn tập về hướng Pleiku cũng được lệnh đâm ngang từ ngã ba Thanh An chuyển hướng hành quân dài theo Tỉnh Lộ 7 xuống đồng bằng vùng duyên hải miền Trung.

Ngày 16 tháng Ba, Một Chúa Nhật điêu linh tan nát dọc con đường đỏ sẫm đất núi và máu rây. Đoàn di tản bị chận ở phía đông Củng Sơn, bị cắt rời ở quận Phú Túc, bị đuổi dập từ tây quận lỵ Phú Bổn. Xe tăng cán ngang lên GMC, xe GMC hất xe đò chở thường dân xuống vực thẳm, cũng hất luôn những xe jeep nhỏ, cán qua những chiếc xe Dodge 4 của địa phương quân chở những người già và trẻ em tan tác. Chiếc vespa của một gia đình chạy lông lốc, xiêu vẹo trên sườn đồi, đứa con, người vợ rơi tơi tả, người chồng, người cha rơi cuối cùng với chiếc xe vỡ toang trên mỏm đá. Và súng nổ... 105, 155 pháo binh, hỏa tiễn TOW, XM72 của phía cộng hòa; 130 ly, 122 ly, B40, B41 của phía cộng sản tất cả cùng hòa vào nhau thành một luồng hỗn âm tan tác làm rung rinh sắc núi mờ nhòa ánh nắng. Mặt trời bị chìm khuất trong khói xám. Có xác bà già ngồi dựa bờ đất bên lề đường, người khô quắt không vết thương. Dấu hiệu sự chết chỉ được nhận biết nơi ổ mắt, mũi, miệng... Đám kiến rừng bò lúc nhúc quay quắt đánh hơi. Ba đứa trẻ mắt lạc thần ngồi nhìn đoạn đường hỗn loạn không cảm giác. Bé trai nhỏ nhất gục đầu trên gối chị ngủ lay lắt.

Bao trùm tiếng la khóc khản đặc của người có âm thanh của đạn súng sơn pháo nổ thật gần. Sư đoàn 320 Điện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản. Lính còn rõ phản ứng trú ẩn, chống cự, người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người tung lên theo đất bay bay.Cái chết không đơn giản, mau chóng bởi súng đạn. Chết còn bị nhận chìm từ từ trong lòng chiến xa khi chiếc xe tăng chúc đầu xuống đầu cầu nổi bắc qua sông Ba. Chiếc cầu bắc vội mỏng manh không th nào chứa nỗi sức nặng vạn con người, vạn chiếc xe.. Chiếc tăng M48 như khối đá ấn mạnh xuống lòng chén nứt vỡ. Trong lòng xe có tiếng người hét nghẹn, trên pháo tháp có đám người ngoi ngóp, người đạp lên đầu, lưng, vai người để được thở được sống thêm vài giây ngắn. Chiếc xe chìm xuống im lặng, kéo theo, mang theo, đè xuống rất nhiều thây xác. Xích sắt điên cuồng đào xoáy giòng sông máu sẫm làm quẫy lên, tung tóe những tay chân người kẹp dính đâu dưới lưng xe.

Cuối cùng đoàn di tản cũng về đến Tuy Hòa vào ngày 25 tháng Ba do Tiểu Đoàn 58 Biệt Động dẫn đầu. Hai-trăm ngàn dân theo lính chạy loạn từ Kontum, Pleiku nay còn khoảng sáu chục ngàn người. 200,000 trừ đi 60,000 vậy đã chết bao nhiêu? Không ai có thể tính chính xác được số thường dân thiệt mạng. Người chỉ biết và đau với trường hợp của từng người thân, của mỗi gia đình, của chính thịt da mình. Trên chiếc trực thăng từ phi trường Đông Tác (Tuy Hòa) về Nha Trang, viên thiếu tá ngồi ôm đứa con nhỏ, gục đầu nín thinh khi đứa bé chợt nhớ và hỏi nhỏ... Bà nội đâu hở Ba? Trong đêm khuya nơi trại tạm cư ở đèo Rù Rì, nghe những lời than vãn rời rạc lẫn tiếng khóc nấc nghẹn ghìm ghìm. Trên bãi biển Nha Trang từng khối người ngồi chập choạng dưới trăng khuya. Trăng vàng chạch, đỏ nhừ nhừ như máu bầm. Trong lòng người di tản từ cao nguyên đồng bằng trong tháng Ba năm 1975 hầu như ai cũng đọng khối máu uất nghẹn đau thương. Khối máu oan hờn của một dân tộc điêu linh chỉ khác người dân miền Trung chịu sớm nhất. Đau nhất.



Mùa Chúa chịu nạn giải cứu thế gian diễn ra cùng lần bức tử miền Trung. Khởi đầu buổi Đồng Tế tàn cuộc miền Nam. Bắt đầu từ Ngày 10 Tháng Ba ở Ban Mê Thuộc, dọc Tỉnh Lộ 7 B, con lộ máu dẫn về miền duyên hải. Hóa ra không cần đủ hết tháng Ba, để tiếp theo tháng Tư thấm máu toàn miền Nam sụp vỡ. Thế nên, người hôm nay phải viết lại, phải nói lên – Vì nếu không sẽ có tội – Tội với những người đã chết mà lượng người chết trên Tỉnh Lộ 7 B là oan khiên đồng hiến tế khởi đầu lần tận diệt Quê Hương. Của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.

Bốn Mươi Năm Trận Ban Mê Thuột
Lần Khởi Cuộc Mất Quê Hương
(10 Tháng 3, 1975-2015)

http://pham-v-thanh.blogspot.com/2014/04/trong-lua-o-giua-su-chet-tren-que-huong.html
Về Đầu Trang Go down
minhle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Sat Jun 13, 2015 11:00 am


Phan Nhật Nam, kẻ phục hồi danh dự người chết


Du Tử Lê
 
Những năm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, khi các mặt trận ở miền Nam Việt Nam đi tới cực độ tổn thất xương, máu, khi mỗi tấc đất miền Nam là một giải khăn tang, như ý thơ của Lâm Hảo Dũng, thì, sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam cũng bước tới cực điểm phồn thịnh. Nếu lãnh vực âm nhạc, mang lại cho miền Nam một số gương mặt mới, như Trịnh Công Sơn, Phạm Thế Mỹ, Trầm Tử Thiêng, Trần Thiện Thanh, Song Ngọc,... thì, lãnh vực văn chương cũng mang lại cho miền Nam một số cây bút thuộc thế hệ sau điểm mốc di cư 1954, như Thế Uyên, Nguyên Vũ, Cung Tích Biền, Phan Nhật Nam, Nguyễn Bắc Sơn, vân vân.


Nhà văn Phan Nhật Nam

Tùy từng góc nhìn với những cảm nhận riêng tư, mỗi tác giả hiện ra, như một nạn nhân, đồng thời, chứng nhân của cuộc chiến.

Tuy nhiên, trong số những nhà văn phản ánh thời điêu linh đổ nát tận cùng này, Phan Nhật Nam là chiếc bóng tách biệt với số đông vì ông chọn con đường bút ký chiến tranh. Ngay tự tác phẩm đầu tay “Dấu Binh Lửa” in năm 1969, Phan Nhật Nam đã mang lại cho thể văn ký sự một kích thước khác, một linh hồn khác.

Ðó là kích thước của những sự kiện được ghi nhận từ tâm cảnh và tâm cảm. Ðó là sự lên tiếng một cách dõng dạc, đâu đó cho vong linh những người lính miền Nam đã chết cho tổ quốc, cho lý tưởng tự do của họ.

Với những tác phẩm kế tiếp, như “Dọc Ðường Số Một,” rồi “Ải Trần Gian” in năm 1970; “Dựa Lưng Nỗi Chết” in năm 1971, “Mùa Hè Ðỏ Lửa” in năm 1972, “Tù Binh và Hòa Bình” in năm 1974... Phan Nhật Nam, bằng trang giấy, ngòi bút và tình yêu ngùn ngụt lửa ngọn dành cho quân đội, đồng đội của mình, ông đã không ngưng nghỉ trong những trường khúc ngậm ngùi làm thắt xót ruột gan người đọc, kêu đòi thế giới trả lại danh dự, nhìn nhận chỗ đứng của những người lính miền Nam Việt Nam, trong cuộc chiến tự vệ và bảo vệ tự do của nửa phần tổ quốc Việt.

Mỗi dòng chữ ông viết xuống, mỗi thước đường quê hương ông đã đi qua, mỗi người lính ông đã gặp gỡ, đã vĩnh biệt, đều được ông ghi, nhớ với tất cả rực rỡ của lòng biết ơn chân thành, tinh thần cảm phục nghiêm cẩn - Như thể ông được sinh ra để nhắc nhở mọi người, dù ở đâu, bên này hay bên kia chiến tuyến, cách gì thì, tổ quốc Việt Nam cũng đã có những người con như vậy.

Với tài năng và trái tim nhạy cảm của mình, họ Phan đã nâng cấp thể văn bút ký, vốn từ vị trí khiêm tốn trong bậc thang giá trị văn học, trở thành một thể văn có giá trị ngang tầm với tiểu thuyết, truyện ngắn, chí ít cũng trên phương diện hơi thở của chủ, nghĩa, dữ kiện. Những mảnh đời nóng bỏng thịt, xương chiến địa, những hoạt cảnh chiến tranh đẫm, dầm tình yêu tổ quốc của những người lính miền Nam Việt Nam, nơi những ngòi bút tường thuật tầm tầm, chỉ có thể mang lại cho nó tính chất phóng sự thời cuộc. Hời hợt.

Nhưng, qua ngòi bút Phan Nhật Nam, không chỉ máu, xương người lính, không chỉ cảnh tượng chiến trường mà ngay tới những ngọn cỏ, những cục đất, những viên đá, những lũy trẻ, ngọn cau... cũng có được cho nó một sự sống, một linh hồn, một khát khao sinh tồn tới ngậm ngùi, tội nghiệp,...

Theo tiểu sử do chính ông phổ biến thì, Phan Nhật Nam Sinh năm 1943 tại Thừa Thiên, chánh quán làng Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Là cựu học sinh trường Phan Chu Trinh, Ðà Nẵng, ông tốt nghiệp khóa 18 Võ Bị Ðà Lạt, cựu sĩ quan binh chủng Nhảy Dù, 14 năm lính, 14 năm tù cải tạo, trải qua 14 hầm cấm cố tử hình nơi các trại tù từ Nam ra Bắc, năm 1989 ông mới được tạm tha.

Nếu trước biến cố tháng 4, 1975, văn chương Phan Nhật Nam là ngọn lửa ngùn ngụt của tình yêu đồng đội, tình yêu đất nước, thì, những năm tháng trong tù, theo lời kể của nhiều bạn tù thì, họ Phan lại là một trong những ngọn lửa nêu cao danh dự, tinh thần bất khuất của người lính và, cũng là kẻ sĩ miền Nam.

Cuối năm 1993, rời khỏi đất nước trong chương trình H.O., Phan Nhật Nam lại tiếp tục cống hiến cho cuộc đời, cho Việt Nam những tác phẩm như “Những Chuyện Cần Kể Lại,” viết về khổ nạn Việt Nam không dấu hiệu chấm dứt, kể từ tháng 3, 1975, “Ðường Trường Xa Xăm” “Tâm Bút Của Người Luôn Trên Ðường Ði” - Cả hai cùng được in trong năm 1985. Rồi tới thi phẩm “Ðêm Tận Thất Thanh” in năm 1997” - Là những bài thơ họ Phan viết giữa vũng tối với đêm không cùng của hơn hai mươi năm (1975-1993) nơi các trại tù Long Giao, Long Khánh, Hoàng Liên Sơn, Thanh Hóa; và “Mùa Ðông Giữ Lửa” bút ký sau ba năm ở quê người...

Dù ở điểm đứng văn chương nào, bút ký hay tiểu luận; thi ca hay tâm bút, người đọc vẫn thấy tính-chất-người-lính trong chữ nghĩa của ông. Hoặc như ông luôn tự nhận ông là “người lính viết văn.”

Với tôi, đó là một Phan Nhật Nam bất biến. Một Phan Nhật Nam nghẹn ngào trên mọi cảnh thổ, mọi đèo, dốc ngặt nghèo của dân tộc và, đất nước.

Dù đứng ở điểm đứng văn chương nào, giữa quê cha, trong lao tù, hay phơi phới tự do, quê người, người đọc vẫn thấy được một Phan Nhật Nam nhất quán với ngọn cờ phục hồi danh dự người lính miền Nam. Khản giọng khẩn thiết kêu, đòi mọi người phải mãi nhớ, phải biết ghi ơn những người đã nằm xuống cho những giá trị nhân bản muôn đời; dù cho hôm qua, họ là những kẻ thua trận. Ngay cả khi những kẻ thất trận kia, những kẻ nằm xuống nọ, đã không có được một nấm mồ, một bia mộ.

Tùy từng cảm nhận, tùy từng vị trí, tùy từng tâm cảnh mỗi cá nhân, trong hạn hẹp, phù du một kiếp, người ta có thể đồng ý, hoặc không đồng ý với Phan Nhật Nam. Nhưng bằng vào đòi hỏi công bình, khách quan tối thiểu, khó ai có thể phủ nhận tài năng, nhân cách Phan Nhật Nam. Như thể, người ta không thể phủ nhận cuộc chiến miền Nam, hai mươi năm. Bởi vì, đứng trên mọi chủ nghĩa, mọi lý thuyết, mọi chế độ, trước nhất, Phan Nhật Nam là một người Việt Nam. Kế đến, ông là một người lính. Một người lính, dù thất trận, dù đã phải buông súng, đã tù đày, nhưng chẳng vì thế mà ông quên ông là một người lính, một người lính của miền Nam Việt Nam.

Ðúng hơn, ông là người lính tiền phong của tổ quốc Việt. Cũng như trong văn chương, vì tấm lòng yêu quân ngũ, yêu đồng đội, thiêng liêng như mối tình đầu, nên đôi khi có những sự kiện, những nhân vật trong ký sự của ông được tiểu thuyết hóa phần nào... Nhưng, với tôi, ông vẫn là chiếc bóng lớn của thể văn bút ký chiến trường, 20 năm miền Nam, điêu linh.

Nhờ ông, mà thể văn này được nâng cấp. Ông cho nó một kích thước, một linh hồn khác.

(Tháng Hai 2003)

Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Thu Jun 18, 2015 10:32 pm


Những người chiến sĩ đáng hãnh diện


Ngô Nhân Dụng -
Thứ Tư, ngày 17 tháng 6 năm 2015


Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng
(Hình: Uyên Nguyên)

Sau khi chiến tranh đã chấm dứt 25 năm, một người lính còn tiếp tục “chiến đấu” là Thiếu Tá Vương Mộng Long, cựu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân. Ông kể chuyện cuộc đấu trí giữa ông và một giáo sư dậy sử người Mỹ, trong năm 2000, ông theo học một lớp “Sử Chiến tranh Việt Nam.” Vương Mộng Long đã cho nhà giáo này thấy rằng những gì ông ta biết về cuộc chiến Việt Nam chỉ dựa trên sách vở, hoàn toàn sai sự thật. Đặc biệt là những nhận định sai lầm về quân đội Việt Nam Cộng Hòa, mà người sinh viên lớn tuổi đã từng cầm súng chiến đấu trong đó. Cuối cùng, vị giáo sư được thuyết phục, bắt tay Vương Mộng Long, công nhận: “Chiến sĩ, ông vừa lập một chiến công!”

Những nhận định sai lầm trong sách vở tại Mỹ về quân đội Việt Nam Cộng Hòa có nguồn gốc sâu xa hơn các lớp học sử trong nhà trường. Căn nguyên là chính sách sai lầm của chính phủ Mỹ ngay từ đầu, khi họ muốn áp dụng bài học cuộc chiến Cao Ly khi tới Việt Nam. Từ năm 1964, quân đội Bắc Việt đổ vào miền Nam ngày càng nhiều không khác gì quân Bắc Hàn xâm lăng Nam Hàn năm 1950. Chính phủ Mỹ phải quyết định tham chiến, và họ nghĩ quân đội Mỹ sẽ đóng vai chính trên chiến trường, không khác gì hơn mười năm trước, trên bán đảo Cao Ly. Với quan niệm đó, họ không chủ trương giúp quân đội Việt Nam Cộng Hòa gia tăng quân số, vũ khí, hỏa lực và kỹ thuật để tự đóng vai chủ động trong tự bảo vệ lãnh thổ. Có thể họ đã thấy chiến tranh Cao Ly, dù có một triệu quân Trung Cộng tham dự, cũng chỉ kéo dài có ba, bốn năm; một thời gian ngắn không đủ để chuẩn bị cho một đạo quân miền Nam hùng mạnh hơn.

Khi chính phủ Mỹ quan niệm nước Mỹ đóng vai chính trong cuộc chiến đang diễn ra, thì giới truyền thông Mỹ và dân chúng Mỹ cũng nghĩ như vậy. Nguồn tin chính của các ký giả Mỹ là các đơn vị quân đội Mỹ, và họ chỉ đi săn tin về đạo quân nước họ, cung cấp cho các độc giả và khán giả ti vi người Mỹ. Cho nên họ nhìn lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hòa với con mắt thiên lệch. Năm 1970, Nixon bắt tay với Trung Cộng để chia rẽ khối cộng sản, thì họ quyết định rút quân, để mặc cho Nga và Tàu tranh giành ảnh hưởng trên nước Việt Nam.

Khi muốn rút quân, các viên chức chính phủ và quốc hội Mỹ tìm cách trút hết trách nhiệm thất bại cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Giới truyền thông Mỹ đồng tình với lối giải thích đó. Và các “học giả” nghiên cứu chiến tranh Việt Nam cũng không nhìn thấy xa hơn. Họ vẫn coi cuộc chiến tranh Việt Nam như một cuộc chiến “của nước Mỹ.” Họ không thể hiểu nổi tại sao người dân miền Nam Việt Nam lại nhìn cách khác.



Thiếu Tá Vương Mộng Long đã dùng sách vở và cuộc đời của chính ông, để cho giáo sư dậy sử thấy một cách nhìn khác. Sau nửa khóa học, ông đã yêu cầu được nói chuyện tay đôi. Với những bằng chứng, tài liệu, các kinh nghiệm chiến đấu và 13 năm bị giam cầm trong các trại tù “cải tạo,” ông đã chinh phục được vị thầy giáo tại Shoreline Community College WA. Thiếu Tá Vương Mộng Long thành công. Ông thầy dạy Sử thành thật nói: “Tôi tin lời ông, vì chẳng có lý do gì để ông nói dối. Có điều là, từ đó tới nay, hơn hai mươi năm dài, kể từ ngày những gia đình người Việt Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa Kỳ, chưa ai nói cho tôi nghe những điều này. ... Tôi đã hiểu, và tôi phải cám ơn ông. Ông quả là một chiến binh thực thụ.” Trong buổi lễ lãnh bằng Cử nhân (BA) của Thiếu Tá Vương Mộng Long tại Đại học Washington, Giáo sư Dan nói: “Long, I’m proud of you” (Long, tôi hãnh diện về ông), và “My soldier, I’m loving you!” (Chiến sĩ của tôi, tôi yêu mến ông). Nhân Ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa quý vị độc giả có thể tìm trên mạng để đọc đầy đủ cả câu chuyện dài này do chính người trong cuộc kể, một chiến sĩ vẫn tiếp tục chiến đấu.

Trong các hồi ký khác, ông Vương Mộng Long kể chuyện lần ông vượt “ngục cải tạo” lần thứ hai, vào năm 1978, bị bắt lại sau sáu mươi bốn ngày trốn. Trong khi “nằm chờ giờ ra pháp trường,” ông suy nghĩ: “Thôi thế cũng là xong! Cứ coi như một lần ra trận…” Sau khi ông ra khỏi tù, có lần ông Vương Mộng Long trở về một chiến địa cũ, nơi nhiều đồng đội Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân dự trận đánh đẫm máu bi hùng cuối cùng. Hôm đó đúng ngày Ba Mươi tháng Tư, ông thấy, có lẽ dân chúng trong vùng này còn nhớ tới các chiến sĩ hy sinh cho nên đã cắm những bó nhang, hương khói tưởng nhớ ngay bên đường.



Hình ảnh trên gợi nhớ lại cảnh những toán quân nhân đi tù cải tạo. Khi đoàn xe chuyển trại dừng lại bên đường, dân chúng nhận ra đã tự động đem đủ các thức ăn tới vội vàng tiếp tế cho họ. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa có thể hãnh diện vì đã được người dân ghi ơn và tưởng nhớ mãi trong lòng.

Mà không riêng gì người dân miền Nam Việt Nam. Anh Nguyễn Viết Dũng sinh ở Nghệ An ngày 19 tháng 6 năm 1986, trùng với “Ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.” Anh đã dám treo cờ vàng ba sọc đỏ tại nhà, hát Quốc ca và mặc quân phục Việt Nam Cộng Hòa. Anh đã bị bắt giam cùng bốn người bạn khi đi biểu tình vào tháng Tư vừa qua ở Hà Nội, cả nhóm đều đeo huy hiệu đại bàng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Nhiều người Mỹ vẫn nói về cuộc chiến tranh Việt Nam như là cuộc chiến của quân đội Mỹ. Giờ đây người Việt ở miền Bắc cũng thấy nhận ra đó là một cuộc nội chiến giữa hai chế độ, hai lối sống, giữa miền Nam tự do và miền Bắc cộng sản. Dân Việt đã bị Đảng Cộng sản đưa ra làm vật hy sinh phục vụ một cuộc tranh hùng quốc tế vì họ tưởng rằng khối cộng sản sẽ đè bẹp thế giới tư bản.

Người dân miền Nam đã thấy rõ điều đó khi họ hát khắp nơi: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày!” Cho nên, ngay trong thời chiến một người lính miền Nam như thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn vẫn nói với “địch quân” rằng: “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước – Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi! Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi – Suy nghĩ làm gì lao tâm tổn trí!”

Một chiến binh thi sĩ khác, mới in tập thơ viết về chiến tranh sau khi cuộc chiến đã chấm dứt 40 năm, là Nguyễn Lê Minh, một y sĩ phục vụ trong lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Giá trị nhân bản, văn minh của một quân đội được thể hiện trong những điều các chiến sĩ nghĩ trong đầu trong khi ra chiến trận. Tập thơ của Nguyễn Lê Minh biểu lộ bằng một bút pháp giản dị, trong sáng những điều diễn ra trước mắt và trong lòng anh, khi anh Vào Cơn Bão Lửa, với “Những chiến địa còn tươi xương máu thịt.” Làm bác sĩ, anh đã đau lòng vì, “Đôi tay ta run rẩy biết bao lần – “Vuốt cặp mắt đứng tròng bao lính trẻ.”

Nguyễn Lê Minh bắt đầu muốn làm thơ trong một ngày anh đi trong thành phố Quảng Trị hoang tàn, bên dòng sông Thạch Hãn. Anh chợt nghe thấy tiếng trẻ cười, giọng cười hồn nhiên trong vắt. Anh tìm thấy hai em bé đang đùa giỡn dưới sông, tiếng cười của các em bé 8, 9 tuổi “như tia nắng làm sáng khung trời chiều thu mây xám.” Nguyễn Lê Minh nhớ lại thời thơ ấu của mình, “thằng bé gầy còm sinh giữa mùa Hè năm Ất Dậu” rồi được di chuyển “trong thúng mẹ lủng lẳng tản cư.” Anh tự hỏi: “Có thể nào những đứa con chưa ra đời của tôi … 25 năm nữa lại khoác áo lính? 25 năm sau chúng có cầm khẩu súng của phe này chĩa vào những đứa bé đang đùa giỡn vô tư bên kia sông hay không?” Những ý tưởng dằn vặt đó khiến Nguyễn Lê Minh phải viết một bài thơ cho những em bé cùng thế hệ với các đứa con chưa sinh ra của mình. Một chiến sĩ trở thành một thi sĩ. Bài thơ đầu đời viết bên bờ sông Thạch Hãn đó không được in trong tập thơ Đường Ta Đi mới xuất bản của Nguyễn Lê Minh. Bài thơ này anh cất trong chiếc ba lô bị bỏ lại trên bãi biển Mỹ Khê vào cuối tháng Ba năm 1975, để tác giả bơi được ra tới tàu Hải Quân, thoát nạn. Còn tập thơ để ở nhà, đã được mẹ anh cất giấu, kín đáo qua tay nhiều người, gần đây mới được chuyển cho tác giả.

Giữa cảnh gạch ngói sập đổ ngổn ngang ở Quảng Trị, nhìn sang phía địch quân là “cánh đồng hoang ngút ngàn cỏ khô không một bóng người,” một người lính Việt Nam Cộng Hòa lại nghĩ đến và lo lắng cho số phận những đứa trẻ Việt thuộc thế hệ sau ở cả hai bên. Tâm trạng đó cho thấy tinh thần nhân bản của người lính được đào luyện thế nào. Cả xã hội miền Nam sống với nền văn minh tinh thần đó, trong truyền thống ngàn năm của dân tộc. Cho nên, Nguyễn Lê Minh biểu lộ tình yêu nước thương nòi của người chiến sĩ ngay trong lúc đang sống giữa cơn bão lửa nội chiến.

Nguyễn Lê Minh đi cùng đoàn Thủy Quân Lục Chiến tiến về phía Bắc trong khi những đoàn dân cư chạy loạn đi ngược chiều về phía Nam. “Mùa Hè Bão Lửa - Bắc Cộng vượt biên – Đường ta đi đất rung chuyển cuồng điên – Cuộc thảm sát xe tăng, đại pháo. Đường ta đi bày nhày xương, thịt máu –  Suốt một vùng Bến Hải, Gio Linh …” “Đường tiến quân nhìn dân cư chạy ngược – Tất cả kinh hoàng dưới lằn đạn Nga Hoa – Từng thây người bật ngửa rên la – Máu đỏ chan hòa vào cát nóng …”

Nguyễn Lê Minh đã bật tiếng gọi tên tổ quốc, như người con kêu mẹ: “Đường ta đi của những ngày Hè bão lửa …Việt Nam ơi, Việt Nam! ...” Bây giờ đã 40 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, lịch sử có thể ghi nhận tâm trạng một chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa trên Đại Lộ Kinh Hoàng. Anh chứng kiến trong đoàn dân chạy ngược chiều đoàn lính có người cha đang chở con trên xe máy thì bị đạn cộng quân bắn trúng, ngã xuống chết. Rồi cảnh một người mẹ ôm đứa bé sơ sinh lội qua sông, tới bờ mới thấy con đã chết vì ngộp nước. Người mẹ muốn ngồi lại khóc con, ông chồng vội kéo đi ngay. Nguyễn Lê Minh đã thấy gì, nghĩ gì, anh đã ghi lại và kể tâm sự thật của anh lúc đó:

“Mồ hôi nước mắt mẹ cha
“Quyện cùng bụi cát thối tha xác người
“Máu trong ta, máu trong người
“Máu nào không thắm những lời mẹ ru?
“Máu nào là máu hận thù?
“Máu nào là máu rạng cờ hùng anh?
“Máu nào là máu hôi tanh?
“Máu nào không phải em, anh, họ hàng?

Một quân đội có thể hãnh diện về những chiến sĩ bền bỉ như Vương Mộng Long, mang tâm sự của Nguyễn Lê Minh, và như hàng trăm ngàn đồng đội khác. Họ chiến đấu mà không khát máu, không ai hô hào “giết, giết nữa bàn tay không biết mỏi.” Họ đứng thẳng hai chân làm những con người, không bao giờ biến thành những cái máy sát nhân. Họ viết những trang sử không bao giờ quên được. Chúng ta hãnh diện về những chiến sĩ như vậy. Các em bé ra đời sau năm 1975, như Nguyễn Viết Dũng và các bạn, cũng có thể hãnh diện về họ.




Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Sun Jun 21, 2015 10:52 pm


Sau hơn 40 năm... Người vẫn còn đây




Huỳnh Anh Tú (Danlambao) - "...Cuộc chiến đã lùi xa hơn 40 năm nhưng vết thương tật cùng sự mất mát thiệt thòi của các chú vẫn còn đeo bám các chú mãi đến bây giờ. Thật là trớ trêu, ngày xưa trong chiến tranh họ không quản ngại hy sinh sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ quê hương và một phần thân thể của mình. Ngày nay cũng chính trên mảnh đất quê hương này, họ lại phải lang thang khắp nẻo đường góc phố để mưu sinh; người bán vé số, kẻ làm nghề bơm vá ruột xe, người lượm rác còn có những người phải xin ăn..."

*

20/06/2015 - Sớm hơn những lần trước, lúc 5 giờ 30 chúng tôi- những Thiện Nguyện Viên (TNV), đã tới văn phòng Công Lý & Hòa Bình (vp CL & HB) thuộc Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT). Thật “bất ngờ” nơi đây các chú Thương Phế Binh (TPB) đã đến trước tự bao giờ.



Gặp chúng tôi trên môi các chú tất cả đều nở nụ cười, hớn hở người vẫy tay, người đứng dậy lần lượt bắt tay chúng tôi, không khí bắt đầu trở nên nhôn nhịp hơn - Một buổi sáng tràn ngập tình yêu thương.

Đợt khám chữa bệnh này tuy qui mô nhỏ hơn nhiều so với những lần trước, nhưng hình ảnh và giá trị của nó vẫn nguyên vẹn. Chị Tân, một TNV nói:

“Vì hoàn cảnh diễn ra ngoài ý muốn nên các quí cha ở DCCT không thể tổ chức buổi khám chữa bệnh với qui mô lớn, nhưng bản chất tự nguyện cũng như tinh thần trách nhiệm của anh chị em TNV luôn đặt trên hàng đầu. Chúng tôi nhận thức được rằng dù có tổ chức lớn hay nhỏ không quan trọng, điều quan trọng nhất ở đây là, việc làm chúng ta đang thực hiện vẫn mang đậm giá trị nhân văn và tình yêu thương.”



Anh Hà Cao Trực cũng là một TNV nhận được thông tin chương trình khám chữa bệnh được tái khởi động, anh nói trước ngày đó anh phải trằn trọc suốt đêm cứ mong mau trời sáng để cùng mọi người đi lên nhà Thờ. Anh tâm sự:

“Tôi cứ nghĩ rằng việc khám chữa bệnh cho các bác các chú TPB trên nhà thờ DCCT, chắc mình không còn có cơ hội để phục vụ nữa rồi.”

Như mọi lần, sau khi sắp xếp chỗ ngồi cho các chú, tôi thường trộm nhìn lén lên những phần thân thể của các chú bị mất để làm động lực sống cho chính mình, nhưng lần này không biết vì sao tim tôi đau nhói, lặng thinh một hồi tôi thầm câu cầu nguyện:

"Lạy Chúa thương xót chúng con, xin Ngài ban cho chúng con và các quí cha DCCT nhiều ân sủng, ban cho chúng con được nhiều cơ hội hơn để được quan tâm và chia sẻ với những Con Người đã không tiếc xương máu mình để bảo vệ quê hương."



Vâng cuộc chiến đã lùi xa hơn 40 năm nhưng vết thương tật cùng sự mất mát thiệt thòi của các chú vẫn còn đeo bám các chú mãi đến bây giờ.

Thật là trớ trêu, ngày xưa trong chiến tranh họ không quản ngại hy sinh sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ quê hương và một phần thân thể của mình. Ngày nay cũng chính trên mảnh đất quê hương này, họ lại phải lang thang khắp nẻo đường góc phố để mưu sinh; người bán vé số, kẻ làm nghề bơm vá ruột xe, người lượm rác còn có những người phải xin ăn...



Được ngồi trò chuyện cùng các chú, tôi mới cảm nhận hết bản chất yêu đời và lạc quan của các chú, của những người lính VNCH. Nguyễn Hữu năm nay đã 65 tuổi, trước năm 1975, chú đi lính thuộc đại đội 2/729, binh chủng Địa Phương Quân, quân lực VNCH. Vào 21/07/1974 trong trận đánh tại Trà Ôn, quận Đống Đa, chú đã gởi lại chiến trường đôi chân của mình.

Vậy mà có lần tiếp xúc nói chuyện cùng chú, tôi chưa hề nghe đến câu than oán gì trong cuộc sống.

“Từ trước đến nay tôi vẫn bán vé số để tự nuôi sống bản thân”, chú Hữu cười dõng dạc nói, “số tôi trời thương lắm, ngày nào vé số cũng hết sớm chưa có lần nào “ứ hàng” hết”.

Điều mà tôi học ở chú lúc đang nói chuyện là, chú bao giờ cũng biểu lộ thái độ lạc quan yêu đời, đôi mắt sáng luôn gợi đến sự thiện cảm.

Tôi thật vô duyên khi lỡ lời hỏi chú: “chắc là chú phải đi đứng khó khăn lắm hả chú.”

Không những không tỏ ý khó chịu khi nghe câu hỏi thừa của tôi mà còn cười vui vẻ và nói: “dĩ nhiên rồi cháu ơi, nhưng cũng còn đỡ hơn rất nhiều người” song chú đưa tay chỉ về hướng một người đối diện, “đó cháu thấy không, ông tên Nghiệp mặc áo xanh bên bển đó, một mắt thì không thấy gì và mắt còn lại bị mờ hết 50%, vậy mà ổng vẫn sống vui vẻ từ ngày này đến ngày khác huống hồ chi chú... khà khà.”



Chú Phan Đại Nghiệp sinh năm 1954 tiểu đoàn 2, trung đoàn 54, sư đoàn 1 bộ binh, mắt phải của chú bị tổn thương rất nặng và mắt trái đã lìa xa chú vĩnh viễn sau trận đánh tại Phú Lộc – Thừa Thiên Huế.

Ít nhiều vết thương cũng ảnh hưởng đến não trạng của chú. Không ai đoán được tâm trạng của chú Nghiệp buồn hay vui qua gương mặt lúc nào cũng lộ nét ưu tư thoáng buồn ăn nói rất chậm rãi.

Bằng nụ cười trắc ẩn chú nói với tôi: “Thế hệ của các chú đã đi qua rồi… đất nước này chỉ trông vào thế hệ các cháu, các cháu hãy mạnh mẽ lên đường hoàng chính chính hãy bảo vệ lấy non sông, đừng để người ngoài ăn hiếp”

Vâng, con xin hứa các chú các bác cứ an tâm, không phải riêng con mà là cả dân tộc Việt Nam này chắc chắn sẽ mạnh mẽ hơn, quyết không để bọn ngoại bang nào ăn hiếp.

21/06/2015
Huỳnh Anh Tú
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Wed Dec 02, 2015 8:28 am


 
Sự ra đi của hai vị Tướng Tư Lệnh

Phạm Tín An Ninh

Ngày đầu tháng 3/2015, trong không khí ảm đạm của cơn mưa xuân, đông đảo những người lính già, đủ mọi quân binh chủng, có mặt tại nhà quàn nghĩa trang Peek Family trong thành phố Westminster (California), để chào tiễn biệt vị niên trưởng- vị chỉ huy trưởng – vị Tư Lệnh – ngày trước. Nổi lên giữa màu đen tang lễ, là những bộ quân phục trắng với bê rê đỏ của Thiếu Sinh Quân, worsted màu vàng trang trọng của những SVSQ Trường VBQGVN và những Kỵ Binh Thiết Giáp với mũ nồi đen.
Bên quan tài, cũng có lá cờ Tướng với một sao trắng trên nền đỏ, đứng hai bên không phải là những sĩ quan đồng cấp mà hầu hết là những niên đệ, đàn em, uy nghiêm trong thế thao diễn nghỉ. Một buổi lễ phủ kỳ khá trang trọng, dù không đủ lễ nghi quân cách, không có ban quân nhạc với tiếng kèn khai quân hiệu thuở nào, nhưng đủ để thể hiện được lòng kính trọng đối với một vị tướng đã có nhiều công trạng với đất nước.
Tang lễ của cựu Tướng Lý Tòng Bá, người đã chọn binh nghiệp từ thời niên thiếu ở trường Thiếu Sinh Quân, tốt nghiệp thủ khoa từ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, sau này trở thành Chỉ HuyTrưởng Thiết Giáp Binh và cuối cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn Bộ Binh, mà có thời được nhiều người biết đến với danh hiệu “Người hùng Kontum” khi ông là Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB, đánh thắng các sư đoàn nổi tiếng của Cộng quân, giữ vững thành phố Kontum, địa đầu Tây Nguyên trong suốt “Mùa Hè Đỏ Lửa”1972.
Đến trước linh cửu ông, đứng nghiêm đưa tay lên chào ông lần cuối hôm nay, ngoài danh nghĩa là một người lính, tôi còn là một thuộc cấp của ông tại Sư Đoàn này. Đã có mặt tại chiến trường Kontum trong suốt trận chiến, và thường có cơ hội gặp ông. Cả những lúc bị ông la rầy hay được ông khen thưởng.
Cũng như tôi, có lẽ những người lính có mặt trong tang lễ hôm nay, chào kính và tiễn biệt ông, trong cái tình “huynh đệ”, với lòng kính trọng dành cho một người anh, một ông thầy khả kính hơn là một thuộc cấp đối với một ông tướng. Bởi cái khoảng cách “quân giai” ấy trên thực tế đã không còn tồn tại. Có thể có một số không mấy đồng tình với ông về đôi điều ông làm, ông tuyên bố, hay đứng chung với nhân vật này nhân vật khác trong vài tổ chức sau ngày ông sang Mỹ, hay một vài tấm ảnh do Cộng sản giàn dựng, nhằm tuyên truyền bôi nhọ ông, nhưng chắc chắn tất cả đều kính trọng ông từng là một tướng lãnh VNCH, đã ghi nhiều chiến công trong cuộc chiến chống Cộng sản bảo vệ miền Nam Việt Nam. Nhiều người còn dành cho ông sự thương cảm, bởi ông là vị tướng không bỏ rơi thuộc cấp, chiến đấu tới giờ phút cuối cùng, bị địch quân bắt sống ngay trước giờ thứ 25 của cuộc chiến, bị tù đày nghiệt ngã đến 13 năm, và nằm xuống khi không còn chút uy quyền hay ân sủng nào của quân đội hay quốc gia.
Trong cái không khí trang trọng thấm đẫm tình huynh đệ ấy, tự dưng tôi thấy lòng xúc động lẫn chút ngậm ngùi, khi liên tưởng tới sự ra đi và tang lễ của một vị Tướng Tư Lệnh khác, có nhiều điều giống ông, chỉ khác là vị tướng kia đã chết tại chiến trường khi miền Nam còn có quân lực và chính quyền. Và tang lễ của ông tất nhiên được tổ chức rất uy nghi trang trọng, với đầy đủ lễ nghi dành cho một tướng lãnh. Điều đặc biệt hơn, phu nhân của ông, nguyên là một nữ sĩ quan trong binh chủng Nhảy Dù, đã chết cùng ông, nên tang lễ đã được cử hành chung.
Trong hơn mười năm cuối cùng của miền Nam, cũng là thời gian tôi phục vụ tại Sư Đoàn 23BB, có hai vị Tư Lệnh nổi danh, đã tạo nên hai chiến thắng lẫy lừng: Tết Mậu Thân 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Đó là Tướng Trương Quang Ân và Tướng Lý Tòng Bá. Hai vị có nhiều điểm giống nhau trong lúc khởi đầu, nhưng kết thúc khác nhau ở cuối cuộc đời binh nghiệp.
Cả hai đều xuất thân từ nhữngThiếu Sinh Quân ưu tú và sau đó là Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Một trùng hợp đặc biệt lý thú khác, cả hai vị đều tốt nghiệp thủ khoa. Tướng Trương Quang Ân tốt nghiệp thủ khoa Khóa 7 (Ngô Quyền) và Tướng Lý Tòng Bá thủ khoa Khóa 6 (Đinh Bộ Lĩnh).
Tướng Trương Quang Ân chọn binh chủng Nhảy Dù, ông đã đạt nhiều thành tích nổi bật trong học tập, chỉ huy và chiến trận. Ngoài vị trí thủ khoa từ trường VBLQĐL, ông còn đậu thủ khoa tất cả các khóa tham mưu mà ông theo học, trong nước cũng như quốc tế, (đặc biệt đầu năm 1965, thủ khoa Khóa Chỉ Huy &Tham Mưu Cao Cấp tại trường Fort Leavenworth, Kansas – Hoa Kỳ, mà khóa sinh hầu hết là sĩ quan từ các quốc gia đồng minh, có cả Mỹ). Ông đã tạo nhiều chiến công hiển hách từ khi còn nắm giữ các chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng (TĐCool, Chiến Đoàn Trưởng (CĐ2) Nhảy Dù. Với những thành tích ấy, ông đã vượt qua người niên trưởng Thủ Khoa Khóa 6 cũng rất tài ba, nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB vào ngày 24/11/1966 và được thăng cấp đặc cách Chuẩn Tướng vào ngày 19/6/1968, trước niên trưởng Lý Tòng Bá của mình đúng bốn năm.
Trong trận Mậu Thân, vào khoảng 1 giờ 30 sáng ngày mồng một Tết, Cộng quân bất ngờ tấn công vào thành phố Ban Mê Thuột (nơi đặt bản doanh BTL/SĐ23BB), với toàn bộ Trung Đoàn 33 được tăng cường 2 Tiểu Đoàn 301 và 401 cơ động tỉnh cùng 4 đại đội địa phương. Địch quân đã xâm nhập vào một số khu vực hành chánh và trại gia binh. Tư lệnh Sư Đoàn Trương Quang Ân điều động hai Tiểu Đoàn 1, 2 và Đại Đội Trinh Sát của Trung Đoàn 45 đang hành quân bên ngoài, bất thần đánh từ sau lưng địch và làm vòng đai bao vây. Ông cũng trực tiếp điều động hai chi đoàn của Thiết Đoàn 8 Kỵ Binh phản công từ bên trong, tạo địch quân trong thế gọng kềm. Lực lượng địch bị chia cắt và tiêu diệt gần như toàn bộ. Xe của ông bị bắn cháy phía sau, nhưng ông rất bình tĩnh và can đảm, nhảy xuống xe thoát nạn, tiếp tục điều quân và tạo nên chiến thắng vẻ vang. Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa, Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích của địch bị đánh tan tác, để lại 924 xác trên trận địa và 143 bị bắt sống.
Cũng trong thời điểm ấy, tại Bình Thuận, một tỉnh cũng nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Khu 23 Chiến Thuật mà ông kiêm nhiệm Tư lệnh, Trung Đoàn 44 BB đang hành quân tại khu Vĩnh Hảo, Tuy Phong, cách thị xã Phan Thiết hơn 100 cây số, nhận lệnh trực tiếp từ Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II, di chuyển khẩn cấp vào giải vây thành phố Phan Thiết, bị Cộng quân tấn công và đã xâm nhập một số cơ sở. Trung Đoàn 44 và Chi Đoàn 4/8 TK tăng phái đã chiến đấu rất dũng cảm trong một vị thế cam go, bất lợi, cuối cùng đã đánh bật các đơn vị Cộng quân ra khỏi thành phố. Sau đó Tiểu Đoàn 3/44 và Chi Đoàn 4/8 TK được một đại đội bộ binh tùng thiết, chia làm 2 cánh truy kích và tiêu diệt một số lớn địch quân trên đường rút lui, tháo chạy. Giao các vùng tái chiểm lại cho TK Bình Thuận, BCH/Trung Đoàn 44 di chuyển về Trinh Tường, ngoại ô thành phố, chuẩn bị trở về vùng hành quân cũ.
Nhưng ba tuần sau, Cộng quân lại điều động một số lực lượng khác từ các tỉnh Bình Tuy, Ninh Thuận, tấn công đợt thứ nhì vào thành phố Phan Thiết. Lần này, chúng tung các toán đặc công tinh nhuệ đánh thẳng vào tòa tỉnh và chiếm lao xá bằng mọi giá, nhằm giải thoát những tù binh CS bị giam giữ, mặc dù trước đó Tiểu Khu Bình Thuận đã nhanh chóng chuyển số tù binh nguy hiểm đến một địa điểm an toàn khác.
Trong tình hình nguy ngập, vị Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng, Trung Tá Nguyễn Khắc Tuân, vì một lý do nào đó bay lên BTL Quân Đoàn (Pleiku) chưa về kịp. Chỉ có Thiếu Tá Trần Văn Chà, Tiểu Khu Phó (nguyên là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3/45) có mặt tại Tiểu Khu. Tướng Trương Quang Ân (khi ấy còn Đại Tá) vừa tạm xong trận chiến Ban Mê Thuột, liền bay xuống Phan Thiết. Khi biết vị Tỉnh Trưởng /Tiểu Khu Trưởng không có mặt, ông tuyên bố tạm thời kiêm nhiệm chức vụ Tiểu Khu Trưởng Bình Thuận kể từ giờ phút ấy, và tức khắc trực tiếp chỉ huy cuộc phản công. Đích thân ông đã ban kế hoạch, điều quân, và hướng dẫn một đại đội của Tiều Đoàn 3/44, chia từng toán nhỏ, trang bị nhiều lựu đạn tấn công và hơi cay, đánh từ nhiều hướng vào khu vực lao xá (nằm không xa tòa tinh) do sơ hở của một đơn vị bố phòng thuộc TK/ Bình Thuận, bị Cộng quân xâm nhập, thả một số tù binh.
Một trận chiến thật cam go, nhưng dưới sự điều động trực tiếp của ông, chỉ hơn 2 tiếng đồng hồ sau, quân ta đã đánh bật Cộng quân ra ngoài và tiêu diệt toàn bộ các toán đặc công cố thủ trong bờ thành lao xá. Cùng lúc ấy, Tiểu Đoàn 3/44 của Thiếu Tá Mai Lang Luông cũng đánh đuổi địch quân ra khỏi khu vực trường Thánh Tâm, lực lượng Cảnh sát phòng thủ mặt hướng Đông, dưới sự chỉ huy của Thiếu Tá Hồ Đức Nhị, một vị trưởng ty gan dạ và mưu lược, cũng đánh bật lực lượng địch cuối cùng ra khỏi vòng đai thành phố. Tiểu Đoàn 4/44 của Thiếu Tá Vũ Công Khanh truy kích tiêu diệt những tên địch cuối cùng trên đường tháo chạy. Ngay sau khi trận chiến vừa kết thúc, Tư Lệnh Trương Quang Ân, đã quyết định thăng cấp tại mặt trận và gắn lon trung tá cho Thiếu Tá Võ Khâm, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44BB, một người cùng khóa 7 Võ Bị với ông.
Với tài năng lãnh đạo, chỉ huy và tạo nên các chiến thắng lẫy lừng, ông được thăng cấp đặc cách lên Chuẩn tướng vào ngày Quân Lực 19.6.68.



Ngày 8.9.1968, ông cùng phu nhân bay lên Quảng Đức để thăm viếng và ủy lạo binh sĩ. Lúc 10 giờ 30 sáng, sau khi rời khỏi tiền đồn Đức Lập, chiếc trực thăng H-34 chở vợ chồng ông và tùy tùng bị rớt. Ông bà đã hy sinh cùng với Đại tá Cố Vấn Trưởng, hai phi công và các sĩ quan Việt- Mỹ tháp tùng.
Ông nổi tiêng là một vị tướng nghiêm khắc, nhưng rất cương trực, thanh liêm. Khi ông và phu nhân hy sinh, ngôi nhà nhỏ của ông bà trong cư xá Lê Đại Hành, chỉ vừa đủ chỗ cho 2 chiếc quan tài, và theo báo chí, trong sổ tiết kiệm vỏn vẹn có 50.000 đồng.
Sáng ngày 10/9/1968, tang lễ của ông và phu nhân được cử hành vô cùng trọng thể, với sự hiện diện đông đủ của các cấp lãnh đạo chính quyền và quân đội: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ, Thủ Tướng Trần Văn Hương, Đại Tướng Cao Văn Viên, Đại Tướng Creigton W. Abrams, Tổng Tư Lênh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, các vị Chủ Tịch Thượng và Hạ Viện, cùng rất nhiều tổng, bộ trưởng và tướng lãnh. Ông được truy thăng Thiếu Tướng và truy tặng Đệ Tam Đẳng BQHC kèm anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Phu nhân ông cũng được truy tặng Đệ Ngũ Đẳng BQHC. Luân phiên túc trực hai bên quan tài của ông là các vị thiếu tướng, chuẩn tướng và đại tá, hai bên quan tài của bà là những sĩ quan nữ quân nhân. Đám tang được dẫn đầu bởi hai toán dàn chào danh dự của binh chủng Nhảy Dù, đứng trên xe trong tư thế bắt súng chào, đông đảo đại diện các quân binh chủng và nhiều tướng lãnh tháp tùng. Dù phải di chuyển dưới cơn mưa tầm tã, đám tang vẫn giữ sự uy nghiêm và đúng lễ nghi quân cách. Ông bà được an táng tại Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi, Sài gòn (khi ấy chưa có Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa).

Cuối tháng 1 năm 1972, Đại Tá Lý Tòng Bá về nắm chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB, thay thế Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh. Tướng Cảnh là người ở Sư Đoàn khá lâu và đóng góp nhiều chiến công cho đại đơn vị này. Từ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 45, và sau đó là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn, ông đã được đề bạt vào chức vụ Tư Lệnh thay thế Tướng Trương Quang Ân tử nạn.
Khi Đại Tá Lý Tòng Bá về Sư Đoàn, nhiều nguồn dư luận đã làm một số sĩ quan mất thiện cảm nơi ông. Nhiều người nghĩ rằng ông là “người”của John Paul Vann, một người dân sự (trung tá đã giải ngũ) nhưng lại làm Cố Vấn Trưởng cho Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn II/QK2. Ông ta có tài, gan dạ, liều lĩnh, nhưng bản tánh nóng nảy bốc đồng và khá kênh kiệu, nhiều người không thích. Báo chí gọi ông là “phù thủy mắt xanh”, và cho biết là ông đã đề nghị (sau đó là áp lực) Trung Tướng Ngô Dzu,Tư lệnh Quân Đoàn, phải thay thế hai vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Đồng thời đề bạt Đại Tá Lê Minh Đảo thay thế Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh trong chức vụ TL/SĐ23BB và Đại Tá Lý Tòng Bá thay thế Thiếu Tướng Lê Ngọc Triển, trong chức vụ TL/SĐ22BB. Riêng Đại Tá Lý Tòng Bá còn được báo chí cho biết là em bà con với người vợ Việt Nam của John Paul Vann. Điều này đã xôn xao trên báo chí và gây khó khăn không ít cho Tướng Ngô Dzu. Cuối cùng, với sự đồng tình của TT Nguyễn Văn Thiệu và Đại Tướng Cao Văn Viên, Tướng Ngô Dzu đã chấp nhận thay thế hai vị Tư Lệnh Sư Đoàn, nhưng chỉ có Đại Tá Lý Tòng Bá nhận Sư Đoàn 23BB. Riêng Sư Đoàn 22BB, Đại Tá Lê Đức Đạt, Tư lệnh Phó lên thay tướng Triển. Đại Tá Đạt là niên trưởng (Khóa 5 – Hoàng Diệu) của Tướng Bá từ trường Võ Bị và cùng Khóa Cao Cấp Thiết Giáp tại trường Saumur, Pháp năm 1955). Tướng Bá cũng đã từng làm việc dưới quyền (cấp phó) của Đại Tá Lê Đức Đạt khi hai ông còn ở Trung Đoàn 2 TG và TTHL Cơ Giới Bảo An/ Vũng Tàu. Vì lý do tế nhị này, nên ông cũng không muốn nhận Sư Đoàn 22BB, khi Đại Tá Đạt đang là Tư Lệnh Phó.
Vào khoảng 2 giờ sáng ngày 24/4/72, chỉ gần hai tháng sau ngày nhận chức Tư Lệnh, Đại Tá Đạt hy sinh tại chiến trường Tân Cảnh, khi BTL/SĐ22BB bị đại quân CS tràn ngập bằng chiến xa T-54 và đặc công sau những trận địa pháo nặng nề và sử dụng hỏa tiễn Sagger AT-3 để làm tê liệt các chiến xa và sức chiến đấu của lực lượng trú phòng. Dư luận trong đơn vị cũng như báo chí cho rằng Đại Tá Đạt bị John Paul Vann ganh ghét và không yểm trợ B-52 cho Sư Đoàn 22BB, khi luôn tìm cách bác bỏ tin tức có sự xuất hiện chiến xa địch do BTL/SĐ22BB báo cáo lên Quân Đoàn, nên đã mang đến sự thất bại nặng nề cùng cái chết oan khuất của vị tư lệnh.
Khi thấy tình hình vô vọng, Đại Tá Kaplan, Cố vấn trưởng Sư Đoàn, đã liên lạc khẩn cấp yêu cầu Cố vấn trưởng Quân Đoàn bay lên cứu ông và toán cố vấn. Khoảng 4 giờ sáng, ông John Paul Vann đích thân lái trực thăng trinh sát OH-58 Kiowa đáp xuống một bãi đáp rất nhỏ bên cạnh bãi mìn để bốc Đại tá Kaplan và các quân nhân trong toán Cố Vấn Mỹ.Trước khi trực thăng đáp xuống, Đại Tá Kaplan đã đến báo cho Đại Tá Lê Đức Đạt và yêu cầu ông cùng lên trực thăng ứng cứu của ông John Paul Vann nhưng Đại Tá Đạt đã từ chối. Vị Tư lệnh SĐ 22 BB đã biết rõ tình hình rất bi đát, nhưng ông vẫn không yêu cầu Trung Tướng Ngô Dzu cho trực thăng bay lên cứu. Ông ra lệnh cho tất cả các quân nhân còn lại trong căn cứ tìm cách thoát ra ngoài trước khi trời sáng. Khi bắt tay vĩnh biệt Đại Tá Tôn Thất Hùng và các sĩ quan, ông nói với mọi người: “Là Tư lệnh, tôi phải ở lại với Tân Cảnh” (theo lời kể của Đại Tá Hùng sau khi sống sót trở về, nhờ những người Thượng cứu giúp). Người ta đã hỏi nhau, nếu Đại Tá Lý Tòng Bá nhận chức vụ Tư Lệnh SĐ 22BB, liệu cục diện có đổi thay? Sư Đoàn 22 có phải thảm bại để Đại Tá Lê Đức Đạt đã hy sinh oan uổng?
Sau khi SĐ22BB bị thảm bại ở Tân Cảnh, Sư Đoàn 23 BB của Đại Tá Lý Tòng Bá nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên Kontum để kịp thời ngăn chặn một lực lượng địch hùng hậu (cấp quân đoàn) của Mặt Trận B3 do Tướng CS Hoàng Minh Thảo chỉ huy, tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum và làm chủ Tây Nguyên. Lúc này việc di chuyển trên Quốc Lộ 14 từ Pleiku lên Kontum đã rất khó khăn vì Cộng quân đã dùng một tiểu đoàn đặt những cái chốt rất kiên cố trên đỉnh núi Chu Pao với rất nhiều ổ súng đại liên, đại bác 75 ly, hỏa tiển chống chiến xa và phòng không. Đại Tá Bá đến Kontum với Trung Đoàn 45, Trung Đoàn 53, và một chi đoàn chiến xa M-41 thuộc Thiết Đoàn 8/KB. Khi đoàn quân của Trung Đoàn 45 bị nghẻn lại ở Chu Pao, bị thiệt hại mà không thể nào tiến lên được. Với sở trường và kinh nghiệm của một sĩ quan Thiết Giáp kỳ cựu, Đại Tá Bá đã sử dụng Chi Đoàn 1/8 Chiến Xa M-41, được một đại đội của Tiểu Đoàn 4/45 tùng thiết, theo vết xe be leo lên đỉnh núi để bất thần tiêu diệt đè bẹp các chốt kháng cự của Cộng quân, ngay sau khi hai chiếc trực thăng võ trang của Phi Đoàn Thần Tượng 215, chỉ huy bởi Trung Úy Vĩnh Hiếu, rất thông minh và gan dạ, bay sát mục tiêu, sử dụng hỏa tiễn đầu nổ đinh (fletchettes), tác xạ chính xác vào các chốt kiên cố trong các hầm núi đá, hổ trợ hữu hiệu cho quân bạn. Một trận chiến khó tưởng tượng nhưng đã thành công với sự chỉ huy tài ba và gan dạ của anh Chi Đoàn Trưởng trẻ tuổi, Đại Úy Lê Quang Vinh.
Đến Kontum, việc đầu tiên là ông yêu cầu được hoàn trả các đơn vị tăng phái gồm Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù, Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân và một số đơn vị còn lại của Sư Đoàn 22BB, để được lấy lại Trung Đoàn 44 BB, đang hành quân ở An Khê, do Quân Đoàn sử dụng làm lực lượng trừ bị và bảo vệ BTL/Quân Đoàn. Theo ông, Trung Đoàn 44 là đơn vị thiện chiến nhất của Sư Đoàn, và với những đơn vị cơ hữu sẽ dễ dàng cho ông hơn về mặt chỉ huy. Hơn nữa các đơn vị tăng phái, dù thuộc các binh chủng thiện chiến, nhưng đã quá mệt mỏi và tinh thần giao động sau sự kiện Tân Cảnh và Căn cứ Charlie. Ngay từ quyết định đầu tiên này đã là một quyết định rất sáng suốt của vị Tư Lệnh Chiến Trường. Vì chỉ sau 24 tiếng đồng hồ được không vận xuống Kontum để trám vào tuyến phòng thủ Tây Bắc, cách thị xã Kontum 4 cây số, thay thế cho Liên Đoàn 6 BĐQ và một đơn vị của SĐ22BB, lúc gần 5 giờ sáng ngày 15.5.72,Trung Đoàn 44 BB đã mở đầu bằng một chiến thắng thật lẫy lừng, đánh bại lực lượng của Sư Đoàn 320 CS cùng một tiểu đoàn xe tăng T-54, từ Tân Cảnh tràn xuống tấn công trực diện vào tuyến phòng thủ của Trung Đoàn. Năm xe tăng bị bắn cháy, hai chiếc bị bắt sống với tên đại đội trưởng. Địch tháo chạy ngược về hướng Bắc, bị các oanh tạc cơ thuộc Phi Đoàn 530-Thái Dương (Pleiku) và sau đó là B-52 dội bom tiêu diệt. Sau trận này, địch quân bị loại khỏi vòng chiến hai Trung Đoàn 48 và 64 thuộc Sư Đoàn 320 và 15 chiến xa T-54 của Trung Đoàn 2 TG.
Ngay sáng hôm đó, khi khói lửa chưa tan, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa mới nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn II thay Tướng Ngô Dzu, bay lên Kontum và cùng Đại Tá Lý Tòng Bá, dùng chiến xa M-113 di chuyển đến tận trận địa, mừng chiến thắng, khen ngợi Trung Đoàn 44BB và gắn lon đại tá cho Trung Tá Trần Quang Tiến, Trung Đoàn Trưởng.
Đúng một tuần lễ, sau chiến thắng đầu tiên, vào ngày 21/5/72, toàn bộ Trung Đoàn 44 được điều về “dưỡng quân” trong vòng đai thành phố, cũng là tuyến phòng thủ cho BTL/Sư Đoàn. BCH/Trung Đoàn đóng trong thành Dakpha, nằm ngay phía sau và chỉ cách Bệnh Viện 2 Dã Chiến một lớp hàng rào phòng thủ, (phi trường Kontum nằm hướng nam khoảng 600 mét), được bảo vệ bởi Đại Đội 44 Trinh Sát, cũng là lực lượng trừ bị. Tiểu Đoàn 3 và 4/44 phòng thủ vòng đai phía Đông, bên cánh phải BCH/Trung Đoàn. Riêng hai Tiều Đoàn 1 và 2/44 do Thiếu Tá Ngô Văn Xuân, Trung Đoàn Phó chỉ huy, phòng thủ vòng đai phía Nam, bên kia bờ sông Dakbla. Nhưng chỉ hai ngày sau, theo yêu cầu của John Paul Vann, Cố Vấn QĐ, Đại Tá Bá ra lệnh cho Thiếu Tá Xuân cùng hai Tiểu Đoàn 1 và 2/44, tổ chức thành một chiến đoàn đặc nhiệm, trang bị súng cá nhân và lựu đạn, tham dự một cuộc hành quân hậu địch, mà chính cá nhân ông cũng thấy quá mạo hiểm. Sau khi B-52 đánh 2 box vào khuya hôm ấy, Chiến Đoàn Đặc Nhiệm được trực thăng vận đổ xuống phía Bắc, sau lưng phòng tuyến địch từ 10-15km. để bất ngờ mở một cuộc càn quét địch từ Bắc xuống Nam, lấy QL-14 làm chuẩn hướng về Kontum.
Nhờ kế hoạch đánh lừa địch cùng với kinh nghiệm tuyệt vời của các phi công thuộc Phi Đoàn Lạc Long 229, cuộc đổ quân an toàn và hoàn tất lúc 9 giờ sáng. Nhưng ngay sau khi rời bãi đáp, lực lượng ta liên tiếp đụng độ các toán hậu cần, thông tin liên lạc của địch. Bọn chúng đang gánh cơm đi tiếp tế và giăng giây điện thoại. Đến khoảng 12 giờ trưa, khi còn cách thị xã Kontum khoảng 10 cây số, sau khi nhìn thấy khói lửa ngộp trời ở hướng thành phố cùng tiếng pháo nổ dồn dập không dứt, Thiếu Tá Xuân nhận lệnh của Đại Tá Bá, bằng mọi cách, ngay cả việc phải đạp trên đầu địch, để đưa lực lượng trở về BTL gấp.
Những trận đánh tốc chiến xảy ra, phải đạp qua phòng tuyến hung hiểm của địch nằm đối diện với Trung Đoàn 45. Cuối cùng như một phép màu, Chiến Đoàn đã có mặt tại Kontum sau 4 tiếng đồng hồ, chỉ có một thiếu úy và 13 binh sĩ hy sinh, 5 thương binh đã mang về được. Đại Tá Bá ra đón đơn vị tại tuyến phòng thủ với nỗi vui mừng và xúc động. Tiểu Đoàn 1/44 được giữ lại phòng thủ BTL/SĐ, Tiểu Đoàn 2/44 về lại tuyến phòng thủ bên kia bờ sông, khu vực Phương Hòa. Thiếu Tá Xuân trở về BCH Trung Đoàn. Ngày hôm ấy, Cộng quân đã pháo kích liên tục vào thành phố hơn hai ngàn quả đạn pháo đủ loại. Căn cứ BTL/SĐ bị hư hại nặng nề, nhưng rất may, chỉ có một hạ sĩ quan chết và vài binh sĩ bị thương.
Sáng ngày 23.5, Tướng Hoàng Minh Thảo tung hai Sư Đoàn 2 và 10 cùng một đại đội chiến xa gồm T-54 và T-59 tấn công vào phòng tuyến phía Đông thị xã. Lần này Hoàng Minh Thảo áp dụng chiến thuật “nở hoa” với kinh nghiệm từ trận đánh Tân Cảnh, mà chúng vừa thu được kết quả ngoài sự mong đợi. Không đụng vào các tuyến đầu mà tìm cách thâm nhập đánh sâu vào vào đầu não của ta, Bộ Tư lệnh Sư Đoàn. Chúng chọn một tiểu đoàn của Sư Đoàn 2 Sao vàng được tăng cường một Đại Đội Chiến Xa gồm các xe tăng T-54 và T-59, làm nỗ lực chính xâm nhập vào Bệnh Viện 2 Dã Chiến (đã di tản thương binh), nằm phía trước cách thành Dakpha chỉ một hàng rào phòng thủ, nơi đặt BCH Trung Đoàn 44. Thành Dakpha nguyên là bản doanh của BTL/Biệt Khu 24 nên chúng tưởng lầm Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB đang đóng ở đây. Một lần nữa Trung Đoàn 44BB chứng tỏ sự dũng cảm và thiện chiến của mình. Khi đợt tiền pháo vừa dứt, ba chiếc xe tăng T-54 đầu tiên ủi vào lớp hàng rào phòng thủ để tấn công vào BCH Trung Đoàn, chỉ cách hàng rào chừng 50 mét, Đại Đội 44Trinh Sát của Trung úy Đoàn Quang Mạnh (Đại Đội Phó tạm thay thế Đại Úy Phan Công Minh vừa bị thương còn nằm trong quân y viện) dùng M-72 chống tăng và XM-202 lân tinh chống biển người đồng loạt trực xạ vào toán xe tăng và bộ binh địch. Địch hốt hoảng bỏ chạy, hai chiếc tăng bị bắn cháy, trong đó có xe chỉ huy của tên đại đội trưởng. Lục trong xác chết của tên này (Đại úy Vinh), trước ngực có đeo một chiếc túi bằng da đựng bản đồ, một quyển sổ nhật ký và một lá cờ đỏ sao vàng có thêu bốn chữ “Đơn Vị Anh Hùng”. Sau đó, Phòng 2 Sư Đoàn xác nhận chính tên này đã chỉ huy đại đội chiến xa đánh chiếm căn cứ Tân Cảnh của Sư Đoàn 22BB mới đây. Đại Đội 44 Trinh Sát chia từng toán nhỏ, tìm cách vượt qua hàng rào phòng thủ, men theo các vách nhà bệnh viện để tiệu diệt các xe tăng địch còn lại và hướng dẫn phi cơ oanh tạc. Tất cả tăng và bộ binh địch đều bị tiêu diệt.
Đại Tá Lý Tòng Bá có mặt tại BCH/ Trung Đoàn khi chiến trận còn đang tiếp diễn khốc liệt. Ông đựợc Đại Tá Tiến, Trung Đoàn trưởng trao cho tập sổ tay và lá cờ của tên Đại Đội trưởng xe tăng CS. Ông đến bắt tay khen thưởng, ôm Trung Úy Mạnh và một số chiến sĩ Trinh Sát, rút tiền trong túi ra tặng những chiến sĩ vừa bắn hạ xe tăng địch. Thái độ của ông đã làm nức lòng thuộc cấp.
Một đơn vị khác của địch xâm nhập vào trại Ngọc Hồi, khu gia binh và hậu cứ của Thiết Giáp, đánh vào sườn phải BCH /Trung Đoàn, bị Tiểu Đoàn 3/44 của Đại Úy Hồ Đắc Tùng đánh bật ra ngoài, sau đó hướng dẫn phi pháo tiêu diệt. Pháo Đội Pháo Binh 155ly trú đóng phía sau BCH/Trung Đoàn đã phải hạ tất cả nòng súng trực xạ liên tục, tiêu diệt địch quân từng đợt dàn hàng ngang tấn công trước mặt. Một đại đội địch chiếm được kho quân tiếp vụ và dành nhau ăn những hộp trái cây ngọt. Do đang đói nên hầu hết bị say, bị lính quân y thuộc Đại Đội Quân Y của Y sĩ Đại úy Nguyễn Văn Oánh bắt sống, một số đông đưa tay đầu hàng, xin được hồi chánh.
Một lực lượng địch hùng hậu khác đánh vào thành phố và chiếm được Tòa Giám Mục Kontum. Tiểu Đoàn 4/44 của Đại Úy Võ Anh Tài và sau đó Tiểu Đoàn 2/44 của Đại Úy Nguyễn Xuân Phán, được đích thân Đại Tá Lý Tòng Bá chỉ định tăng cường bao vây, giải tỏa khu vực, không xử dụng phi pháo, bằng mọi cách phải chiếm lại khu nhà thờ và Tòa Giám Mục trong tình trạng không bị hư hại. Trận chiến khá cam go này kéo dài gần hai ngày, cuối cùng Tiểu Đoàn 2 và 4/44 đã tiêu diệt những tên địch cuối cùng và chiếm lại Tòa Giám Mục.
Ngày 30.5.72, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến Kontum mừng chiến thắng. Khi trực thăng của ông vừa đáp xuống BTL trong căn cứ B-12, Cộng quân đã “dàn chào” bằng mấy loạt pháo kích. Ông tươi cười bình tĩnh, từ chối khi Đại Tá Bùi Hữu Khiêm TMT/ SĐ đưa cho ông chiếc áo giáp. Tổng thống đã tuyên dương công trạng Sư Đoàn 23 BB, gắn sao Chuẩn tướng thăng cấp đặc cách tại măt trận cho Tư Lệnh Lý Tòng Bá, gắn cấp bậc thiếu tá cho 4 tiểu đoàn trưởng của Trung Đoàn 44BB và Chi Đoàn Trưởng Chiến Xa 1/8 KB. Đây chỉ là tượng trưng, sau đó còn nhiều quân nhân có công khác được thăng cấp đặc cách, trong đó có Thiếu Tá Ngô Văn Xuân, Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 44BB, là người chỉ huy trực tiếp hai cuộc phản công và cuộc đánh hậu địch rất ngoạn mục. Trong cuộc tổng kết thành tích Mùa Hè 1972, Sư Đoàn 23 BB được Bộ TTM xếp hạng nhất (trước Sư Đoàn 1 BB: hạng 2, và Sư Đoàn Nhảy Dù: hạng 3) với phần thưởng 8.600.000- đồng. Thành tích tạo chiến thắng lớn, nhưng thiệt hại nhẹ nhất về cả nhân mạng lẫn phần đất bảo vệ.



Chiến thắng vẻ vang này tất nhiên thuộc công trạng tất cả chiến binh các cấp của Sư Đoàn 23BB, đặc biệt là Trung Đoàn 44BB, Chi Đoàn 1/8 Thiết Kỵ, và các đơn vị Không Quân yểm trợ (gồm các Phi đoàn trực thăng Lạc Long 229, Sơn Dương 235. Thần Tượng 215, Phi Đoàn khu trục Thái Dương 530 và các Phi đoàn quan sát Sao Mai 114, Bắc Đẩu 118). Tuy nhiên B-52 của Hoa Kỳ đã góp phần không nhỏ trong trong việc tiêu diệt phần lớn lực lượng địch tham chiến hoặc đang ẩn nấp làm trừ bị. Nói một cách công bình hơn, một Sư Đoàn 23 BB (không đủ Thiết Đoàn Kỵ Binh và các Tiểu Đoàn Pháo Binh cơ hữu) không thể đánh thắng và làm tê liệt 3 Sư Đoàn của Cộng quân, (được tăng cường 1 trung đoàn đặc công, 2 trung đoàn pháo, 1 trung đoàn xe tăng và 6 tiểu đoàn phòng không), nếu không có các đơn vị Không Quân VNCH và đặc biệt B-52 của Hoa Kỳ.
Với công trạng này, vị Tư Lệnh Sư Đoàn 23BB kiêm Tư Lệnh Mặt Trận Kontum, Lý Tòng Bá, rất xứng đáng để được vinh danh, được báo chí và dân chúng gọi là “Người Hùng Kontum”
Một nhân vật rất quan trọng khác có tính cách quyết định chiến thắng Kontum, phải kể ông John Paul Vann, Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn II. Ông luôn có mặt bên cạnh TL Lý Tòng Bá, đặc biệt vào những thời điểm cam go nguy hiểm nhất. Ông thường xuyên bay từ Pleiku lên ngủ đêm ở BTL/SĐ. Ngoài việc gây tin tưởng cho Tướng Bá cũng như quân sĩ, ông còn bàn thảo tỷ mỷ các kế hoạch phòng thủ, phản công và đặc biệt đáp ứng những yêu cầu của Tướng Bá, dành quyền ưu tiên sử dụng tối đa B-52 cho mặt trận Kontum.
Mặc dù Tướng Lý Tòng Bá luôn minh định ông không phải là người “nhà”của John Paul Vann. Giữa ông và ông Vann chỉ quen biết và tôn trọng nhau từ khi ông Vann là Trung Tá Cố Vấn cho Sư Đoàn 7BB, thời Tướng Huỳnh Văn Cao là Tư Lệnh, và khi ấy ông Bá là Đại Đội trưởng ĐĐ7 Cơ Giới M113. sau đó là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 2 Thiết Giáp thống thuộc Sư Đoàn này, (mặc dù trước đó ông Bá rất bất bình John Paul Vann về việc nhận xét và tuyên bố sai lạc trên báo chí Mỹ về Trận Ấp Bắc, mà ĐĐ 7-M113 của ông đã rất anh dũng chiến đấu, đạt nhiều thắng lợi thay vì thất bại như ông Vann và vài ký giả người Mỹ khác đã rêu rao tạo cho CS có cớ để tuyên truyền. Sau này John Paul Vann đã nhận ra sai lầm và nhiều lần xin lỗi ông Bá).
Tuy nhiên, qua nhiều sự kiện, người ta thấy ông Vann đã đối xử rất đặc biệt với Tướng Lý Tòng Bá. Khi nhận chức vụ Tư lệnh Sư Đoàn 23 BB, ông Bá không thích người Cố Vấn Mỹ, Đại Tá Robert Kellar. Vann liền thay thế Đại tá Kellar bằng Đại Tá John Truby, nhưng Đại Tá Lý Tòng Bá muốn người làm Cố Vấn cho mình phải là Đại Tá R.M.Rhotenberry, người đã từng làm cố vấn bên cạnh ông vào những năm 65-66, khi ông làm Tỉnh trưởng/Tiểu Khu trưởng Bình Dương, mà ông rất tâm đắc. Đại Tá Rhotenberry mãn nhiệm kỳ phục vụ tại Việt Nam và về Mỹ đã lâu, vậy mà John Paul Vann tìm mọi cách đưa ông trở lại Việt Nam để làm Cố Vấn cho Đại Tá Lý Tòng Bá. Ông nhận lệnh lên đường khần cấp và đến Kontum chỉ 5 ngày trước cuộc tổng tấn công của quân Cộng Sản.
Cũng vì giữ lời hẹn ở lại đêm tại Kontum với Tướng Bá, vào buổi chiều sắp tối ngày 9.6.72, từ BTL/QĐ II (thành Pleime-Pleiku) ông Vann tự lái trực thăng bay lên Kontum, nhưng khi còn cách Kontum 10 phút bay, gần khu vực Chu Pao, máy báy bị (bắn?) rớt. Ông đã chết với 2 quân nhân tùy tùng.
Ông là vị dân sự duy nhất được cử làm Cố Vấn Quân Đoàn. Người Mỹ gọi ông là ông tướng dân sự (civil general), những sĩ quan Mỹ dưới quyền ông và một số sĩ quan Việt Nam vẫn gọi ông là “Sir General!”
Sư Đoàn 23 BB có hai vị tư lệnh nổi danh vì đã tạo những chiến thằng vẻ vang nhất. Tuy nhiên với tình hình chiến tranh ngày một leo thang (sau khi Cộng Sản lợi dụng việc Mỹ rút quân về nước và cắt giảm tối đa mọi viện trợ quân sự cho VNCH, đã ngày đêm xua đại quân và chiến xa các loại vào chiến trường miền Nam), chiến thắng Kontum của Tướng Lý Tòng Bá, có tính lớn lao, nổi tiếng hơn là những chiến thắng trước đó của Sư Đoàn thời Tướng Trương Quang Ân làm tư lệnh.
Tướng Trương Quang Ân đã hy sinh tại chiến trường vào tháng 8/1968. Cuộc đời và cái chết của ông đã tạo nhiều huyền thoại, được mọi người hết lòng ngưỡng mộ. Đám tang của ông được cử hành vô cùng trọng thể. Có thể nói là một trong số đám tang trọng thể nhất trong hàng tướng lãnh tử trận.
Tướng Lý Tòng Bá thì không bị chết, nhưng bị bắt tại chiến trường, ngay trước giờ thứ 25 của cuộc chiến, khi ông đang làm Tư Lệnh Sư Đoàn 25 BB. Điều đáng buồn hơn là ông bị bắt bởi một đám du kích. Tướng Bá không rời đơn vị, không bỏ rơi đồng đội, chiến đấu tới giờ phút cuối cùng khi nhiều thượng cấp của ông đã đào tẩu. Ông bị tù đày, sĩ nhục, khốn khổ hơn 13 năm và sau đó sang Mỹ theo diện HO, để bắt đầu cuộc sống tha phương lưu lạc, với bao điều nhiễu nhương cay đắng.
Không có đủ từ ngữ tốt đẹp để nói lên lòng kính trọng và ngưỡng mộ đối với những vị tướng lãnh và những người lính đã tự sát trước giờ nước mất nhà tan. Không có gì cao cả hơn khi lấy cái chết để chứng minh trung liệt với tiền nhân và tổ quốc. Nhưng có những trường hợp mà sự sống sót cũng là một can đảm không kém, cũng đáng được kính phục. Cái sống của những vị anh hùng chưa kịp chết hoặc không thể chết bởi còn ràng buộc bao trách nhiệm thiêng liêng khác, để rồi bị giết như Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Đại Tá Đặng Phương Thành, Trung Tá Võ Vàng…, hoặc bị tù đày, khốn khổ và cả việc nhục mạ phỉ báng, không chỉ của địch mà của cả một số cá biệt, những đồng đội, những người cùng chiến tuyến, chỉ vì đôi điều bất như ý, bởi một con người thì không phải là thánh nhân để được sự vẹn toàn.

Xin cám ơn những cựu Thiếu Sinh Quân, những cựu SVSQ Võ Bị, những chiến hữu Thiết Giáp cùng tất cả mọi người đã đứng ra tổ chức và tham dự phủ kỳ, tang lễ cho Tướng Lý Tòng Bá. Với những lễ nghi tượng trưng, nhưng là niềm vinh dự cuối cùng, rất xứng đáng, dành cho cá nhân ông và cho cả gia đình.

Xin đứng nghiêm chào vĩnh biệt. Xin Tướng Tư Lệnh của chúng tôi yên nghỉ. Những trách móc giận hờn của Tướng Quân đối với một vài cấp lãnh đạo, chỉ huy “bất tài, thối nát”, những ngày tháng nhục nhằn dâu biển, cùng dư âm của bom đạn chiến trường sẽ vĩnh viễn không còn theo Tướng quân về cõi vô cùng .

Phạm Tín An Ninh


Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 273
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Fri Jan 01, 2016 8:10 pm


Thương phế binh VNCH khi cuộc chiến tàn


Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-12-31


Tri ân Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn từ ngày 28 tháng 12 năm 2015 đến ngày 6 tháng 01 năm 2016.
Photo by Huỳnh Công Thuận

Cuộc chiến Việt Nam, chấm dứt ngày 30 tháng Tư 1975, để lại 20.000 thương binh Việt Nam Cộng Hòa với mức độ thương tật nặng nhẹ khác nhau, trong đó số bị tàn phế, cụt tay, cụt chân, bị mù mắt, bị mất sức lao động là từ 3.000 đến 5.000 người.


Những mảnh đời rách nát

Năm 1999, tại Pháp, tuyển tập góp nhặt những bài viết ngắn do các thương phế binh trong nước gởi ra, được  nhà báo Nguyển Văn Huy và bác sĩ Phan Minh Hiển biên soạn lại dưới tựa đề Những Mảnh Đời Rách Nát, là tiếng chuông vang đầu tiên về cuộc đời khốn khổ của thương binh miền Nam ngay sau 30 tháng Tư 75. Dần dà, khi cuộc sống ổn định, những cựu quân nhân và những người dân Việt thoát ra bến bờ tự do bắt đầu nghĩ đến việc giúp đỡ thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa còn ở lại trong nước.

Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa rất cần được giúp đỡ vì họ là những người bị bạc đãi, bị phân biệt đối xử và không được hưởng một chế độ phúc lợi nào, là khẳng định của hòa thượng Thích Không Tánh, chùa Liên Trì:

“Phải nói thẳng thương phế binh rất khổ, đã có người phải lê lết đi ban vé số, đi xin ăn... khổ lắm. Thương phế binh ở Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng và mấy vùng sâu rất khổ bởi vì sau 75 thì phần đông người ta phải ẩn lánh ở vùng xa để sống, rất tội nghiệp. Nhà nước không có sự nhân đạo đối với anh em.”

    Phải nói thẳng thương phế binh rất khổ, đã có người phải lê lết đi ban vé số, đi xin ăn... khổ lắm. Thương phế binh ở Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng và mấy vùng sâu rất khổ bởi vì sau 75 thì phần đông người ta phải ẩn lánh ở vùng xa để sống, rất tội nghiệp.
    -HT Thích Không Tánh

Khi mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi đưa ra phóng sự này, thì cũng là lúc chương trình Tri Ân Người Thương Binh Việt Nam Cộng Hòa tại Dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn bước sang ngày thứ tư:

“Tôi là Lê Hoàng Ngọc Sinh, bị cụt chân phải lên tới đùi. Anh em tụi tôi giờ đây có làm gì được, vợ phải đi bán phụ, hai vợ chồng già mà thôi.

Tôi là Phan Thế Hùng, bị thương vô đùi phải, ở trên Bến Cát, Bình Dương lận, đang ngồi ở Dòng Chúa Cứu Thế. Thương phế binh qui tụ về nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế này đông lắm. Không thể nào diễn tả hết cảm xúc của tụi tôi được, hoàn cảnh ở Việt Nam tất nhiên rất khó khăn, từ 75 đến giờ hiện tại tôi vẫn đi làm mướn và đang ở nhà thuê nữa . Con nó làm chỉ đủăn ăn làm sao nó giúp cho mình được. Khi được một khoản tiền dù không nhiều nhưng cũng đỡ đần được 10 ngày hoặc nửa tháng thì rất là quí tấm lòng, tấm chân tình hải ngoại gởi về để giúp đỡ cho anh em thương phế binh. Chúng tôi chân thành cám ơn.

Tôi là Nguyễn Văn Vinh, bị cụt chân phải và vết thương bên cẳng trái nữa, giờ đang ở Dòng Chúa Cứu Thế, nói chuyện với anh em bạn già cũng là linh ngày xưa đây. Ngồi để 2 giờ là lãnh quà, lần trước thì Dòng Chúa Cứu Thế đã giúp đỗ cho một cái xe lắc để đi bán vé số, nay được Dòng Chúa Cứu Thế báo tin c1o quà vậy thì cũng rất mừng, phấn khởi lắm, cũng có được xoay sở qua ngày.”

Đây là dịp tri ân bắt đầu từ ngày 28 tháng Mười Hai, đến ngày 6 tháng Giêng 2016, mỗi ngày tặng quà ủy lạo cho hai trăm hoặc hơn hai trăm thương phế binh khắp nơi đổ về. Linh mục Đinh Hữu Thoại, một trong những người tích cực tổ chức ngày Trai Ân Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa tại Dòng Chúa Cứu Thế:

“Cái này là tất cả sự đóng góp của những người hảo tâm, Công Giáo cũng như không Công Giáo, trong cũng như ngoài nước. Thậm chí một người nước ngoài, có vợ là Việt Nam, biết chương trình này và chính ông về Việt Nam giúp, Chúng tôi chỉ có điều kiện tổ chức chứ không có tiền.”


Tri ân Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn từ ngày 28 tháng 12 năm 2015 đến ngày 6 tháng 01 năm 2016. Photo by Huỳnh Công Thuận.

Tưởng cần nhắc trước khi chương trình Tri Ân Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức tại Dòng Chúa Cứu Thế từ 2013, thì mấy năm trước đã có những cuộc ủy lạo tại chùa Liên Trì. Lời hòa thượng Thích Không Tánh:

“Ngay từ những năm xưa, trước khi mời anh em về chùa Liên Trì để phát quà thì tôi có ra ngoài Quảng Trị, vùng xa xôi mà tôi đi cứu trợ bão lụt đó. Ra ngoài đó nhiều anh em thương phế binh họ khổ quá họ cũng đến xin cứu trợ. Bấy giờ tôi đặc biệt dành riêng một số để cứu trợ anh em ở Quảng trị với Thừa Thiên.

Sau đó, khi có một số ân nhân giúp đỡ thì tôi dùng cái quĩ cho bão lụt là tôi giúp hết cho thương phế binh. Tiếp đến, nhờ một số mạnh thường quân khác thì tôi mời về chùa Liên Trì, lúc đó giúp khoảng chừng hai ba trăm anh em ở vùng Sài Gòn. Sau đó cũng giúp cho anh em một số các vùng phụ cận như Đồng Nai, Bình Dương và một số tỉnh miền Tây nữa. Sau thì số anh em thương phế binh họ đông quá, cũng nhờ bác sĩ Phan Minh Hiển bên Pháp yểm trợ về thì chúng tôi cố gắng làm nhưng gặp rất nhiều khó khăn.”

Tiếp lời hòa thượng Thích Không Tánh, linh mục Đinh Hữu Thoại:

“Do những khó khăn, nhất là công an họ ngăn cản không cho thương phế binh vô chùa. Lúc tổ chức thì họ xen vào giữa họ quậy phá cho nên năm 2013 thầy Thích Không Tánh mới nhờ Dòng Chúa Cứu Thế cho mượn cơ sở để tổ chức. Thành ra lần đầu tiên Dòng Chúa Cứu Thế biết đến thương phế binh là do tổ chức giùm cho thầy Không Tánh và từ đó chúng tôi mới bắt đầu làm riêng.”


3.000 thương phế binh cần giúp đỡ

Từ hơn 230 thương phế binh ghi danh tham dự lúc đầu, con số tăng dần lên thành 3.000 tính đến lúc này. Đó là lý do khiến kỳ tri ân này Dòng Chúa Cứu Thế không thể tổ chức trong một ngày với từng ấy người mà phải chia ra thành 10 ngày, mỗi ngày 2 đợt, mỗi đợt 100 người buổi sáng và 100 người buổi chiều.

Được ủy lạo và nhận quà là đa số thương binh với mức độ tàn phế cấp ba, coi như mất tay mất chân, mất sức lao động,, di chuyển khó khăn, có người bị mù, có thương binh thậm chí cần người khác theo giúp. Từ nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, nơi đang diễn ra những buổi tặng quà cho thương phế binh ăn Tết năm nay, ông Huỳnh Công Thuận, nói rằng giúp đỡ thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa là một trách nhiệm:

    Có rất nhiều trở ngại khó khăn từ nhiều phía, nhất là phía chính quyền, ngày giờ đến thì công an không cho đi, bắt làm cam kết này nọ, trong khi anh em mình đã bốn mươi mấy năm rồi, tàn tật, đui, què mù... còn gì đâu mà làm khó dễ!
    -Huỳnh Công Thuận

“Tôi, cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tình nguyện viên của chương trình Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa là chương trình đã thực hiện từ năm 2013 tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.

Đợt này gần tới 3.000 người, trung bình một ngày 250 người, dự kiến 6 tây sẽ chấm dứt. Quà đã lo đầy đủ cho 3.000 người rồi. ngoài tiền tri ân cuối năm riêng mỗi người là một triệu đồng, chúng tôi lo cả chi phí đi đường luôn, chẳng hạn gần thì khoảng 200.000 hay 300.000, xa nhất như Quảng Trị, Đà Nẵng thì phải là 800.000 tiền xe, bảo đảm là 3.000 thương phế binh phải có đầy đủ. Anh em không đến đây vẫn có phần quà gởi tới nơi, anh em bị công an làm khó dễ chận đi không được hoặc binh hoạn đau yếu đi không được ở đây vẫn lo chu toàn cái chuyện đó.

Có rất nhiều trở ngại khó khăn từ nhiều phía, nhất là phía chính quyền, ngày giờ đến thì công an không cho đi, bắt làm cam kết này nọ, trong khi anh em mình đã bốn mươi mấy năm rồi, tàn tật, đui, què mù... còn gì đâu mà làm khó dễ! Chương trình của Dòng Chúa Cứu Thế chỉ dành cho thương phế binh loại năng, chứ còn loại nhẹ như loại một loại hai thì không thể lo nỗi hết.”

Khó khăn từ nhiều phía cũng là lý do mà Dòng Chúa Cứu Thế phải chia ra thành 10 ngày để tổ chức buổi tri ân năm nay thay vì một ngày như trước:

“Nói về thương phế binh người ta đã cụt chân cụt tay mà vẫn bắt đi học tập, đi lao động rồi phải đi kinh tế mới. Một mình đã không sống được mà cả con cái cũng không đi làm việc được. Nhà nước cộng sản không công nhận những người có lý lịch dính tới Việt Nam Cộng Hòa.

Tháng Bảy năm 2013 danh sách đầu tiên là không tới 200 người. Lúc mình thông báo thì số người nghe và tới trong ngày đó là 250. Tới ngày 28 thang Tư năm 2014 thì con số vượt lên gần 600 người, đó là lần thứ hai.”

Sang đến năm 2014 Dòng Chúa Cứu Thế xúc tiến nhiều chương trình cứu trợ khác ngoài sự trợ giúp vật chất cho thương binh:

“Chẳng hạn tổ chức khám bịnh cho anh em, danh sách mỗi đợt từ 150 đến 200 người. Nếu anh em có bịnh ở đây tiếp tục đồng hành, nghĩa là trợ giúp tới lành luôn. Từ bịnh mắt tới cấp kiến, bịnh tin bịnh phổi, đo huyết áp do bác sĩ chỉ định, liên tục khám một lần 150 tới 200 người.”


Tri ân Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn từ ngày 28 tháng 12 năm 2015 đến ngày 6 tháng 01 năm 2016. Photo by Huỳnh Công Thuận.

Sau 6 đợt khám sức khỏe, đến lần thứ 7 hồi tháng Bảy 2015 với danh sách 152 người, phải hoãn lại vì một lý do ngoài ý muốn. Để có thể tiếp tục chăm sóc sức khỏe cho các thương phế binh, các linh mục thuộc Phòng Công Lý Hòa Bình trong Dòng Chúa Cứu Thế như linh mục Thoại, linh mục Thanh cũng như các tình nguyện viên như ông Huỳnh Công Thuận phải thay đổi lịch trình làm việc:

“Thay vì một lần 150 người như vậy thì phòng Công Lý và Hòa Bình lo việc thương phế binh tổ chức một tuần khoảng 20, 30 người, cuối cùng một tuần 50 người. Cứ liên tục mỗi tuần thành ra con số anh em được khám bịnh cũng vượt trên 2.000 người rồi.”

Đó là chưa nói đến những chương trình trợ giúp khác của Dòng Chúa Cứu Thế như xe lăn, xe lắc, nạng hay gậy cho người bị thương tật. Tất cả những chương trình này, ông Huỳnh Công Thuận cho biết tiếp, gần như được nhiều sự đồng tình ủng hộ của người bên Lương cũng như người bên Giáo ở trong và ở ngoài nước:

“Chưa nói là những anh em mà nhà cửa khó khăn, nghèo quá mà không có điều kiện sinh sống, thì chúng tôi cho người đến xem xét và cất nhà, sửa nhà cho anh em nữa, là mấy chục căn nhà rồi. Tôi chỉ cùng anh em ở đây duyệt hồ sơ xem anh em đúng thật là thương phế binh hay không.”

Linh mục Phạm Trung Thành, nguyên giám tĩnh Tỉnh Giòng Dòng Chúa Cứu Thế, người hết lòng ủng hộ chương trình tri ân thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa từ những ngày đầu. Họ xứng đáng được tuyên dương, linh mục Phạm Trung Thành bày tỏ, vì đã hy sinh tuổi thanh xuân cũng như một phần thân thể của mình cho đất nước:

“Rất vui mừng vì có dịp để bày tỏ nhận thức của mình về anh em thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, nhận thức tôn trọng, nhận thức yêu thương, nhận thức muốn nâng đỡ.

Tri ân ảnh em thương phế binh, phục hồi quyền làm người và nhân phẩm của anh em mà trong nhiều năm qua cách này cách khác đã không được tôn trọng, đã không được đối xử đúng mức của nó. Tôi hiện diện và đóng góp với anh em linh mục nhóm Công Lý Hòa Bình để nâng đỡ và chia sẻ với anh em thương phế binh.”

Được hỏi về sự kiện một nhóm dân biểu Hoa Kỳ hôm 17 tháng Mười Hai gởi thư kêu gọi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ xem xét việc có thể dùng các luật lệ hiện hành để tái định cư các Cựu quân nhân thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa còn sót lại tại Việt Nam, nói rằng đây là những chiến sĩ can trường đã sát cánh chiến đấu cùng quân nhân Mỹ nhưng đáng tiếc bị lãng quên trong bóng tối khi chương trình HO được khai triển, linh mục Phạm Trung Thành trả lời rằng ông thật sự vui mừng vì sau rốt người thương binh Việt Nam Cộng Hòa được chính giới Hoa Kỳ nghĩ đến, mặt khác ông muốn trình bày ý kiến riêng trong tư cách một người gần gũi và hiểu biết tình cảnh anh em thương phế binh sau 40 năm chống chõi với đời sống nhọc nhằn:

“Có lẽ họ cũng không muốn đi nữa, tưởng tượng bây giờ họ 60, 70 tuổi rồi, mù què rồi, thân thể cũng tàn tạ đi rồi, làm sao mà hội nhập được, họ không thể hội nhập được nữa. Bây giờ có cho đi tôi nghĩ không mấy người đi. Chúng tôi có gặp nhau nói chuyện, họ bảo ‘chúng tôi sang đó làm gì bây giờ, thêm gánh nặng cho chính phủ và thêm gánh nặng cho con cháu, họ hàng, bà con bên đó’.

Nhưng mà ước vọng của họ vẫn là những đứa con đứa cháu của họ được chiếu cố, để được thụ hưởng một nền giáo dục tự do, dân chủ. Họ rất là mong điều đó. Tôi nhắc lại là tôi cảm kích trước sự lên tiếng và những nỗ lực của các vị dân biểu quan tâm chiếu cố đến những người một thời trai trẻ đã hy sinh, đã hiến dâng tuổi trẻ thân xác của mình cho đất nước.”

Được biết thư ngỏ gởi cho ngoại trưởng John Kerry có nêu rõ ý kiến của dân biểu Edward Royce, chủ tịch Ủy ban Ngoại giao Hạ Viện Mỹ, dân biểu Alan Lowenthal, dân biểu Chris Smith, dân biểu Zoe Lofgren, dân biểu Gerald Connolly, rằng thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa hiện đang sống cảnh nghèo nàn với nhiều vấn đề sức khỏe trong lúc phải đối diện với những sự phân biệt đối xử vì quá khứ phục vụ của họ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi tạm khép lại đây. Với những ngày tri ân và tặng quà cuối năm tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, cầu chúc quí thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa một năm mới 2016 ấm áp tình người.

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 251
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Wed Feb 17, 2016 3:01 pm



LẠC CHỖ

Trần Mộng Tú

Buổi chiều một ngày cuối năm trong nghĩa trang, hai người lính một già, một trẻ, ngồi bên cạnh một nấm mộ hoang phế, đã mất mộ chí. Họ ngồi như đang chờ đợi một ai đó tới. Gió thỉnh thoảng thổi qua, những ngọn cỏ vàng úa khẽ lao xao, mái tóc bạc của người lính già vài sợi quá dài cũng bay ngơ ngác. Ông cất tiếng chuyện trò với anh lính trẻ:

Này cậu, sao mặt mũi buồn so vậy. Tết nhất tới nơi rồi, không nhiều thì ít thế nào chúng mình cũng được ngửi mùi hương mùi hoa.

Biết rồi

Biết sao còn buồn

Bác có lòng tốt bác kéo tôi vào, nhưng tôi thấy những đồng đội của bác họ không có thiện cảm với tôi, vẫn nhìn tôi bằng cặp mắt ghẻ lạnh, nếu không nói là ghét bỏ.

Ừ, cậu cũng phải thông cảm cho họ chứ. Các cậu thuộc bên thắng trận, kéo vào dẫm nát cả thành phố của chúng tôi. Người tù đầy rừng sâu nước độc, kẻ đi vùng kinh tế. Rồi kẻ chết trong thành phố, kẻ chết ngoài biển khơi. Người của cậu đập phá, tước đoạt không bỏ sót một thứ gì, ngay cả bức tượng vô tri bằng đá ở nghĩa trang này cũng bị đập tan. Làm sao mà họ có cảm tình được với cậu.

Tôi biết chứ, tôi đâu có muốn vào đây. Cái hôm xác lính Cộng Hòa của các bác được hốt vào một đống, đem tới đây lấp vội lấp vàng, tôi tình cờ lạc đạn chết cạnh đó và xác bị bỏ rơi, nên cũng được hốt luôn một thể và nằm chung một huyệt. Tôi có được tự chọn đâu.

Nhưng bây giờ mọi người ở đây ai cũng biết lý lịch của cậu rồi, làm sao trách chúng tôi được.

Tôi biết, nhưng nếu ai cũng từ tâm như bác thì tôi đâu có cô đơn, chui rúc bao nhiêu năm nay một xó, chẳng dám làm bạn với ai.

Tôi sinh ra ở miền Bắc,
lớn lên bị gọi vào bộ đội
tôi đi dọc Trường Sơn năm mười sáu tuổi
tôi chưa hề có người yêu nên chết vẫn cô đơn
tôi có ba người anh đều chết trận
ở tuổi mười tám, hai mươi
cứ cách đôi năm mẹ tôi lại dán tờ Tổ Quốc Ghi Công trên vách

Tháng Tư năm 1975
mẹ ra đầu ngõ chờ tin thằng con út
về trong chiến thắng
tai mẹ điếc rồi không nghe thấy tiếng hò reo
mắt mẹ lòa rồi không thấy màu cờ đỏ
mẹ đi ra
rồi mẹ đi vào
tay mẹ vịn hoài lên cánh cửa

không có ai gõ cửa
không có ai báo tin
dù tin con mất tích
dù tin con hy sinh

Tờ “Tổ Quốc Ghi Công” thứ tư
cho đến khi nhắm mắt
mẹ chưa hề nhận
người ta mải chia nhau chiến thắng
ngoài người mẹ
khôngai nhớ đến những người lính trẻ chết mất thây

không ai đi tìm tôi
không ai biết thân xác tôi lại nằm ở nơi đây

thân xác tôi
một xác lính mồ côi
hãy thương tôi đi

Ở phía nào tôi cũng chỉ là người lính
hãy thương tôi và cho tôi nằm cạnh
hãy ôm tôi như các anh đã ôm chính nước Việt mình.

Thôi, tôi hiểu rồi.

Cậu biết đấy, thấy cậu còn trẻ quá tôi cũng thương, mới qua tuổi mười tám, phải không? Các bạn tôi tuy nhìn cậu không mấy cảm tình nhưng cũng không ai nỡ đuổi cậu ra khỏi đây, vẫn cho cậu đi theo khi có hoa có hương. Khi chúng tôi được cúng vái chúng tôi cũng vẫn nhớ chia cho cậu chút đỉnh, đúng không? Cậu nhìn chung quanh nghĩa trang này đi.

Mười sáu ngàn ngôi mộ
theo thời gian bị bỏ phế, không người viếng thăm.
hoang tàn đổ nát
bốn mươi năm dâu bể, kẻ khócngười cười
những ngôi mộ trong nghĩa trang này cũng thăng trầm theo vận nước.
ai cũng phải lo cho người sống trước
mộ bia như bìa sách rách tan
những hàng chữ mất tên mất ngày mất tháng
có những ngôi mộ lún sâu rồi mất hẳn
cỏ dại mọc như chăn đắp
“trăm năm nào có gì đâu
chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì”

như én không để lại vết cánh trên bầu trời
vợ con thất lạc
trôi giạt về chốn chẳng định nơi
mong chi về cố quận

Bác vẫn sướng hơn tôi, trách làm gì. Dẫu sao các bác bây giờ cũng thỉnh thoảng có người ghé thăm vào những ngày cuối năm, cũng có hương, có hoa, có xôi, có dăm ba điếu thuốc. Có những bác còn may mắn, được vợ con, cháu nội, cháu ngoại tìm về. Kẻ lo tu chỉnh mộ phần, kẻ lo cải táng mang đi. Tôi đã mồ côi còn lạc chỗ. Sống đã khổ, chết tủi thân chẳng ai an ủi hồn vô xứ.

Mà này bác, nếu được trở lại làm người bác còn muốn làm người Việt Nam nữa không? Sao tôi sợ thế, sợ lại phải đi vào chiến tranh từ năm mười sáu, sợ có bao nhiêu anh em cùng theo nhau tử trận, sợ mẹ mình lại suốt đời sống với mấy mảnh giấy “Tổ Quốc Ghi Công” và sợ nhất phải làm một cái hồn lính mồ côi.

Tôi à, tôi vẫn muốn làm người Việt Nam, vẫn yêu mảnh đất này, khi chết vẫn muốn được antáng trong nghĩa trang quân đội của chúng tôi. Tôi biết cậu tủi thân vì lạc chỗ. Nhưng phần đất nào cũng là đất Việt, dù Bắc hay Nam. Khi cậu lạc vào nghĩa trang này, dù những người của Việt Nam Cộng Hòa chẳng thích, chẳng tiếp đón nồng hậu. Nhưng có ai xúm lại đánh đập cậu đâu, có ai ném đá vào cậu khi cậu khi cậu đi qua chỗ họ không? Cậu chết trẻ chắc hồn thiêng lắm. Cậu đã biết những người “Lính ngụy” chúng tôi ngoài kia phải chịu những hình phạt gì. Nhưng thôi, bốn mươi năm rồi, lúc này không phải là lúc còn kể tội nhau.

Kìa, họ đang tới rủ mình đi ăn Tất Niên. Mấy hôm nay hương hoa, bánh trái nhiều lắm. Mấy cháu nội, cháu ngoại của chúng tôi ở nước ngoài về còn mang theo cả thuốc lá.

Họ đến khá đông, khoác vai nhau vừa đi vừa hát, anh lính Bắc Việt cũng được nhập bọn. Không ai nhìn anh với ánh mắt lạnh lùng nữa. Họ cùng hát những bài ca của mọi binh chủng Việt Nam Cộng Hòa, anh lính lạc chỗ chỉ biết im lặng lắng tai nghe.

Một bài hát mới được cất lên, với những lời ca tụng quê hương gấm vóc, ca tụng tiền nhân, ca tụng tình thương đồng loại, ca tụng hòa bình, tự do, công bình, bác ái…. Một bài hát không có sinh Bắc tử Nam, không có hận thù đằng đằng. Họ vừa hát với môi cười nhưng mắt đẫm lệ.

Anh lính lạc chỗ thấy mình không còn xa lạ nữa, không còn là anh lính Bắc Việt mồ côi trong nghĩa trang quân đội miền Nam. Anh ý thức được mình chỉ là một người lính trong muôn vàn người lính của cả hai miền cùng chết cho cuộc chiến Huynh Đệ Tương Tàn.

Buổi chiều xuống thật thấp, một năm cũ sắp hết. Anh lính lạc chỗ giơ cánh tay lên gạt ngang những giọt lệ đang lã chã rơi, nhưng trên môi anh nở khẽ một nụ cười.

Tôi đặt niềm tin từ trái tim nhỏ bé của tôi
vào tình thương yêu của loài người
tình thương yêu đó có thật
thật như mặt trăng
thật như mặt trời
thật như những bông lúa trên cánh đồng
thật như chạm tay vào núi
thật như chạm tay vào biển
tình thương biến chó sói thành cừu
tình thương nở hoa trên những bụi gai
tình thương chữa lành những xỉ nhục vô hình

tình thương âm thầm như những hạt cải
đang vươn mầm chờ một bình minh.


Cuối năm 2015
http://tranmongtu.blogspot.com/p/blog-page_4004.html
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 251
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   Wed Feb 24, 2016 10:54 pm



Người Lính Vẫn Sống Sau Trận Lửa

Phan Nhật Nam

Kết thúc với Tháng Tư

Sự Chết hiện thực sắc nét, có hình khối, với âm động, mùi vị riêng biệt của Saigon. Với Saigon. Cảnh Chết bắt đầu trùm chiếc cánh tối tăm hung hiểm lúc 6 giờ 15 chiều ngày 28 tháng 4, khi chuỗi bom dưới cánh những chiếc A37... do viên phi công phản trắc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn rơi nhanh xuống phi đạo Tân Sơn Nhất. Ðạn phòng không bắn lên, phi cơ F5 đuổi theo muộn màng, vô vọng. Cửa ngỏ tháo chạy của Saigon đóng sập lại. Cuối cùng, Tân Sơn Nhất thật sự vùng vẫy, hấp hối, chìm dần trong lửa hỏa ngục khi dàn đại pháo, hỏa tiễn Việt gian CS từ Ðồng Dù, Củ Chi, ranh giới Hậu Nghĩa, Gia Ðịnh bắt đầu đỗ xuống không ngắt nhịp.Từng trái đạn 130 ly, từng hỏa tiễn 122 ly chính xác bay đến các mục tiêu đã được phái đoàn CS trong Ban Liên Hợp Quân Sự điều nghiên kỹ từ 28 tháng 1, 1973. Tân Sơn Nhất vật vã, co quắp, rã chết, sụp vỡ, hấp hối trong khói đen, lửa ngọn. Cuộc hành hình kéo dài từ 4 giờ sáng ngày 29 tiếp tục đến rạng đông. Ở căn cứ DAO (Văn phòng Tùy Viên Quân Lực Mỹ), ba ngàn người tỵ nạn chờ đợi di tản bằng C130, hoặc C141 qua Guam đưa mắt nhìn lên trời, giữa vũng lửa, đếm rõ từng viên đạn pháo rơi xuống.

Ðống hành lý khổng lồ gồm quý kim, vàng, kim cương, giấy bạc “Năm Trăm Trần Hưng Ðạo” của Ngân Hàng Quốc Gia VN; giấy bạc Ðô-la của ngân khố Mỹ. tất cả cùng trộn lẫn với thịt da, thân thể người thành một thứ pháo bông tan tác bay tung tóe dưới ánh lửa bập bùng loang lổ của kho xăng, đài kiểm báo, trại gia binh, nơi để máy bay, hiện thực đầy đủ cảnh địa ngục vô vàn nơi trần thế - giữa Tân Sơn Nhất - Cửa ngỏ thoát hiểm của Saigon hoàn tất đóng chặt.

Những viên tướng đã ra đi, những sĩ quan cấp tá cũng rời bỏ nhiệm sở, đơn vị, nhưng, Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Thành còn lại. Thành (có biệt hiệu “Thành Mọi” bởi nước da ngâm đen quá độ) ra chỗ đậu tàu, anh nỗ máy chiếc C119 Hỏa Long, đơn độc bay lên trời xanh bảo vệ, cứu viện Tân Sơn Nhất. Từ trên cao, thấy rõ những vị trí pháo của binh đội CS. Thành nghiêng cánh, chúc mũi chiếc Hỏa Long căm phẫn trút xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả hỏa lực cơ hữu của hai khẩu đại bác 20 ly gắn dưới cánh. Hóa ra cả một quốc gia chỉ còn được lần cứu viện bi hùng tuyệt vọng nầy. Phải chỉ một mình anh - Trung úy Nguyễn Văn Thành, “Thành Mọi - Thành Thiếu Sinh Quân”. Thành hạ thấp hơn để đường đạn thêm phần chính xác. Thân tàu rung mạnh.

Lửa! Lửa! Lửa cháy ngang cánh trái con tàu, ngay bình xăng, sát cạnh ghế ngồi. Thành giật mạnh chốt thoát hiểm để bung thân ra khỏi con tàu. Tất cả kẹt cứng. Anh dùng tay đẩy cửa buồng lái phóng mình ra, chiếc dù bung mạnh. Các múi, giây dù vướng vít rối rắm. Thành bị giữ chặt bởi chiếc dù và khung cửa. Lửa bừng bừng! Lửa ào ạt. Người phi công chìm trong lửa, gục chết giữa không gian.

Tiếng đập đục rầm rập từ những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt lay động, phá bung, những tấm kiếng tủ lớn bị đập vỡ, đồ đạt kéo lê hỗn độn, vội vàng trên mặt đường. Người mỗi lúc mỗi đông. Người dồn dập ùn ùn, la ó, chưởi thề, giành giựt. Ðám đông chạy về phía Building Brink, khu Ðồn Ðất, nhà thương Grall, nơi có cơ sở Mỹ kiều, những văn phòng mà chủ nhân đã bỏ đi. Bất chợt, tất cả lắng lại để nghe rất rõ. Có người tự tử. Có người mới bắn chết. Ai? Lính, không biết, chỉ thấy mặc đồ lính mình. Ở đâu? Ở ngoài, chỗ tượng Thủy quân lục chiến.

Lời trao đổi đứt khúc, vội vã, mất hút giữa những tiếng thở dồn dập, bước chân cuống cuồng nôn nóng của đám đông đang hăm hở tiến tới những kho hàng, cơ sở đầy ắp vật dụng quí giá, thức ăn đắt tiền. Anh cũng nhập vào đám đông xô đẩy đó trong giờ phút vỡ toang mối nối thời - không với những động tác, việc làm bất định, bất ngờ, vô nghĩa, vô ích. Anh kiểm soát lại số phim đang còn trong máy, trong túi, đi băng qua lối ngang trong thương xá, ra ngõ quán Thanh Vị, quẹo phải, men theo hàng hiên tiệm kem Ðô Chính. Súng nổ. Súng Aka và những bóng người chạy lúp xúp vào cổng Tòa Ðô Chính. Anh tiếp tục làm “nhiệm vụ”, đưa máy hình lên. Ðộng tác quen thuộc, thuần thục từ bao năm, anh và các bạn, những phóng viên chiến trường của báo chí miền Nam hằng thực hiện nơi những chốn sự chết, lửa đạn vây bủa. Ðồng một lúc anh chợt nhói đau - Ðây là lần cuối cùng. Ðây là giờ cuối cùng. Hình như một nhân vật trong Doctor Zhivago cũng đã kêu lên như thế. Anh chỉ nhớ loáng thoáng bởi đang có cảm giác người cạn ly rượu hành quyết trước khi bị bịt mắt, dẫn đi bắn. Anh chạy theo đám lính CS với hai thanh niên cầm cờ đỏ. Thật ra chỉ là một mẫu vải màu đỏ. Loại hàng may áo dài.

Thoáng rất ngắn, anh ngừng lại, liếc về phía khối tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, nơi có Người Lính vừa chết. Anh cúi gập người, nôn khan. Buổi Sáng 30 tháng Tư, 1975. Chen giữa âm sắc xích xe tăng đổ nhào cửa Dinh Ðộc Lập có tiếng nổ khô nhỏ của viên đạn ghim vào, nằm sâu trong đầu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn Long.

Anh lên yên, nhấn mạnh bàn đạp, động tác bàn chân quay vòng không chủ đích. Xe đi dọc đường Lê Văn Duyệt, qua Chợ Ðũi, nơi các bạn anh hôm qua (nay đã trở thành xưa cũ) hằng vui vầy, sống động. Ðịnh rẽ vào Yên Ðỗ về Phú Nhuận, nhưng không hiểu từ đâu thúc giục, anh đạp dài theo Lê Văn Duyệt giữa dòng âm động dồn dập như Saigon đang hồi tẩm liệm với nhịp chày vồ dộng mạnh xuống trăm, ngàn quan tài của những người vừa chết.

Giã từ Trần Công Hạnh, Tiểu Ðoàn 2 trước trại Nguyễn Trung Hiếu với cảm giác đây là lần cuối với bạn, kèm mặc cảm có lỗi khi hỏi Hạnh có ý định buông súng bỏ đi hay không. Hạnh trả lời mệt nhọc nhưng kiên chắc: Anh hỏi tôi còn có thể đi đâu khi nguyên cả tiểu đoàn theo lệnh tôi đang tiếp tục chiến đấu! Anh vào cư xá Chí Hòa, chứng kiến lúc Chuẩn Tướng Hậu vất tung tấm bản đồ phòng thủ căn cứ với lời gầm phẫn uất: Ðồ chó đẻ!! khi nghe lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh.

Viên thiếu úy quen mặt nói với anh lời quyết liệt: “Em không đầu hàng, em với trung đội sẽ ra bến tàu, tiếp tục chiến đấu.” Thái, Thiếu úy Huỳnh Văn Thái tập họp trung đội, hô nghiêm, xếp hàng, ra lệnh di chuyển. Trung đội lính ra khỏi cư xá theo lối cổng Ðường Tô Hiến Thành, rẽ vào Nguyễn Tri Phương, đi về phía chợ Cá Trần Quốc Toản, hướng bến tàu. Nhưng những Người Lính Nhẩy Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái không ra đến bến Bạch Ðằng, tới đến bùng binh Ngã Sáu Chợ Lớn, họ xếp thành vòng tròn, đưa súng lên trời đồng hô lớn. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Con chết đây cha ơi! Và những trái lựu đạn tiếp nhau bừng bực nỗ sau lời hô vĩnh quyết cùng đất nước Miền Nam.

Sau nầy, anh biết thêm, trên đường anh đi qua trưa 30 tháng Tư, 1975 - Ðường Bắc Hải, ngõ nhỏ băng ra Chợ Ông Tạ, trong một căn nhà đã diễn nên hoạt cảnh uy nghi bi tráng của cả một gia đình quyết tử cùng vận nước. Thiếu Tá Ðặng Sĩ Vĩnh (em của Bà Hà Thượng Nhân, Trung Tá Phạm Xuân Ninh, niên trưởng của giới báo chí quân đội Miền Nam) Khóa 1 Nam Ðịnh là sĩ quan của ngành tình báo đặc biệt, biệt phái ngoại ngạch qua ngành viễn thông, phụ trách đường dây quốc ngoại. Người con trai lớn của gia đình, Trung Úy Ðặng Trần Vinh sĩ quan Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu. Hai người cùng trao đổi đối thoại sau khi có lệnh đầu hàng: “Tùy con, riêng bố đã quyết như đã nói với con từ trước” Trung Úy Vinh trả lời: ”Nếu bố đã quyết như thế, con và các cháu cũng đồng lòng.”

Toàn gia đình uống chậm những liều thuốc độc cực mạnh đã chuẩn bị từ trước. Trung Úy Ðặng Trần Vinh kết thúc bi kịch với viên đạn bắn tung phần sọ não sau khi đứng chào tấm Ðại Kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ với lời hô khiến sông núi cũng quặn thắt thương đau. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm!

Tiếp theo Tháng Sáu,

Khi những giọt mưa đầu mùa Hè rơi xuống, từ trong thăm thẳm, xa xôi, tận cùng trí nhớ - qua âm mưa ray rứt của tháng Sáu - cũng dần thành hình lại Nỗi Ðau luôn hiện mới. Nầy đây, lần tháng Sáu 1965, ngày vỡ trận Ðồng Xoài, bắt đầu từ những ngày sau 10, 11, nơi Nghĩa Trang Quân Ðội Gò Vấp, với hằng trăm, lên đến số ngàn xác chết của Tiểu Ðoàn 2/7 Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, Tiểu Ðoàn 52 Biệt Ðộng, và đơn vị thân thiết đầu đời, Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù, mà người chết không thể kiểm kê chính xác, chỉ biết lấy tổng số cơ hữu của đơn vị xong trừ cho đám người hiện có mặt.

Người sống sót ngồi nhìn nhau ngơ ngác, vô hồn ở sân cờ tiểu đoàn, đang là bãi hỗn mang chen chúc, gào kêu với những người vợ lính quấn dối vành khăn trắng xổ tung tưởi do những con nhỏ bấu víu khóc ngất.

Ba, ba... ba đâu má ơi!! Anh lúc ấy chỉ là cậu thiếu úy tuổi vừa qua hai-mươi tuổi, nhìn trân vào mỗi người vợ, con của binh sĩ tử trận (chung trung đội, đại đội anh) với cảm giác có tội - Tội sống sót khi người khác phải chết - Những người (chết) vô cùng cần thiết cho những đơn vị gia đình gồm người đàn bà tơi tả, hốt hoảng và những đứa trẻ quá nhỏ chưa có đủ ý niệm về cái chết của người cha.

Rồi, 22 tháng 6, 1975 để chính bản thân anh có cảm giác như chết đi từng phần trong cơ thể, khi quấy xong bình sữa cho con, mang vội chiếc túi nhỏ với cảm giác tuyệt vọng: Lần đi nầy cùng đành như cơn tử biệt, bởi thấy rõ chiếc bẫy sự chết đang dần chụp xuống, chắc chắn siết cứng lại. Hh nói tiếng nhỏ thảm thiết: “Khổ quá, chắc em sống không nổi..” khi đưa anh đến nơi trình diện đi tù, Trường Lê Văn Duyệt, Gia Ðịnh. Cả hai không thể ngờ ra kết thúc oan nghiệt với mười-bốn năm sau.

Tiếp năm 1976, đúng Ngày Quân Lực, 19 tháng 6, bước xống tàu Sông Hương ở Tân Cảng, góc cầu xa lộ Saigon- Biên Hòa, nhìn ra xa, thành phố xao xác ánh điện vàng đục, dòng nước sông cuồn cuộn lẫn màn đêm.

Giữa cảnh sống thú vật, tệ hơn con thú với thế ngồi im không cử động, tiểu, đại tiện trên cùng một chỗ trong suốt hành trình hai ngày đêm đi ra “Miền Bắc xã hội chủ nghĩa”, so với cái chết nơi dòng nước trong xanh của biển trời phương Nam, chắc chắn ngàn con người dưới những căn hầm tàu địa ngục nầy sẽ quyết định dễ dàng nếu như họ có quyền chọn lựa. Năm 1989, anh trở về với cảm giác đau xót nguyên vẹn của lần bị lăng nhục lâu dài mười-bốn năm trước.

Bước chân vào căn phòng nhà cũ với tủ sách trống vốc, lăn lóc nhàu nát cuốn tập con anh tập viết những dòng chữ đầu đời. Con mình bây giờ ở đâu?

Nhưng anh và những người bạn lính không thể để cuốn trôi, đánh sập bởi thống nhục thất trận, lưu đày biệt xứ trên quê hương - Người Lính không hề thất vọng cho dẫu đã toàn phần thất bại. Ðể tồn tại, tự cứu, anh phải tích chứa, lưu giữ trí nhớ, dậy nên từ tận sâu mỗi tế bào thần kinh nỗi xúc động vô vàn mãnh liệt của những tháng ngày lịch sử chuyển mình, núi rừng, đất trời miền Nam đồng vang dội chiến công: Ngày Quân Nam quyết liệt xốc tới nơi những chiến trường Quảng Trị, Bồng Sơn, Kontum, An Lộc... hiện thực một lần nghĩa vụ linh thiêng muôn thuở của Người Lính - Bảo Quốc An Dân - Sứ Mệnh không hề nói thành lời nhưng được hiện thực với chính máu xương của những con người vô danh cao thượng mà Ðằng Phương, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy năm xưa đã viết nên những dòng máu lệ ngợi ca hùng tráng,

Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước...

Phải, những Người Lính Vô Danh ấy vẫn tồn tại với mười, hai mươi, ba mươi năm dưới bom đạn cực độ, nơi những trại tù như “Cổng Trời Quyết Tiến”, Hà Giang, Sơn La, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Thanh Phong, Thanh Cẩm, Lam Sơn hậu thân hệ thống trại giam Lý Bá Sơ. Những địa danh trại tù có số lượng mộ chí gấp đôi, gấp ba lần tổng số tù hiện diện, và người sống sót cũng chỉ là những xác thân khô kiệt di động chờ ngày chôn xuống huyệt. Những người lính anh gặp khắp nơi trong cuộc lữ hành với hết tuổi trẻ qua ba-mươi năm chiến tranh và tù ngục kia đã sống sót qua dài trận bão lửa thống khổ, nhục nhằn, nguy biến mà chắc rằng không một ai của bất cứ quân đội nào, thuộc bất kỳ một sắc dân nào trên thế giới có thể bền bỉ chịu đựng với mức độ kiên cường kỳ diệu đến ngần ấy. Kỳ tích thầm lặng đơn lẻ với phận của “mỗi con người - mỗi người lính” nầy hẳn chỉ được thực hiện, thúc giục nuôi dưỡng bởi “một động lực vô vàn cao thượng”. Anh có bổn phận trình bày đầy đủ, và chính xác về hành vi xã kỷ, quên mình nầy.

Nội dung vĩ đại kết nên từ hành vi xã kỷ của mỗi người lính nêu trên được thực hiện qua cảnh tượng của một ngày Hè hùng tráng: Ngày 25 tháng 6, 1972, chiến dịch tái chiếm Quảng Trị khai diễn với các đơn vị, Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, lực lượng địa phương của Tiểu Khu Quảng Trị, phối hợp với các chi đoàn chiến xa, thiết quân vận của Quân Ðoàn I, được yểm trợ bởi các đơn vị pháo cơ hữu, và của vùng chiến thuật. Ðoàn quân quyết tử phục hận đồng vượt tuyến xuất phát Sông Mỹ Chánh tiến theo trục chính Bắc với mục tiêu cuối cùng - Cổ Thành Ðinh Công Tráng hay Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Trị - mà quân Nam phải tạm lìa bỏ từ 29 tháng Tư do những ước tính sai lầm của những cấp chỉ huy, từ viên tổng thống tại Dinh Ðộc Lập, đến hàng tướng lãnh chiến trường. Sự sai lầm tai họa của những kẻ lãnh đạo, chỉ huy nay được chuộc lại bằng giá máu của vạn người lính xé thân nơi trận địa.

Từ Ngã Ba Long Hưng, cửa ngỏ phía Nam Quảng Trị, điểm tiến quân cao nhất của Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù trong ngày 7 tháng 7, 1972, đến cổ thành đoạn đường dài khoảng một cây số, và bề ngang từ nhà ga phía cực tây đến làng công giáo Tri Bưu phía đông, khoảng cách cũng có bề rộng tương đương.

Trên khoảng đất rộng hơn cây số vuông kia, mười-lăm ngàn người lính của những đơn vị kể trên đã thay phiên nhau bò, trườn, ẩn núp, gọi pháo, đánh bom, ném lựu đạn, đánh cận chiến ngày lẫn đêm suốt đoạn thời gian liên tục 67 ngày, để đến ngày 14 Tháng 9, 1972 những người lính Tiểu Ðoàn 1, 2, 3.. 6, 8 TQLC đồng lần siết chặt mục tiêu, dựng ngọn Cờ Vàng bay lộng trên gạch đá điêu tàn, giữa tiếng đạn, khói thuốc súng của trận chiến đang hồi kết thúc..

Cờ lên!
Cờ lên!
Giữa vũng lửa
Quân, dân bật khóc nước mắt ứa
Một lần cờ bay trên thành xưa
Bao phần máu xương muôn lính đổ!
(PNN-Cờ ta bay Vàng Nắng Mới Quê Hương Với Tình Thương)

Người lính vẫn sống.

Tham dự cùng cuộc trường chinh nhọc nhằn với người lính từ bước khởi cuộc có một nhân dáng nhỏ bé, yếu đuối, âm thầm chịu đựng với nỗi chết canh cánh không rời - Người Vợ Lính. Ðây là một đối tượng bị ngộ nhận, mô tả sai lạc một cách dung tục (và đáng phải phê phán) qua tất cả những chữ nghĩa, văn hóa phẩm (của Miền Nam trước 1975, mà hiện nay ở hải ngoại thì lại hứng chịu cách đối xử lạnh nhạt, coi thường).

Những người đàn bà nầy, từ lúc tuổi vừa qua hai mươi, đã gánh chịu những giờ phút nguy nan khắc khoải mà không phương cách chống đỡ, làm nhẹ bớt đi. Họ thức dậy rất sớm vào buổi sớm mai khi đơn vị di chuyển hành quân để sửa soạn cho người chồng bữa điểm tâm kham khổ với ý nghĩ không thể được nghĩ hết, không dám nói ra lời: Biết đâu đây là lần chót!!

Họ bế đứa con còn quá nhỏ không khả năng hiểu ra lần tạm biệt hay chia ly đành đoạn với người chạ Hai mẹ con thu người lại dưới ánh đèn đoàn xe GMC chở quân rời hậu cứ. Và người đàn bà vợ người lính, thật sự chỉ là cô thiếu nữ đang ở tuổi thanh xuân kia trở về khu trại gia binh để chờ đợi (một lần rất khả thể) vào một buổi nào đó viên sĩ quan chỉ huy hậu cứ sẽ đến gõ cửa nhà với câu nói khó khăn, ngắn lạnh: Chị chuẩn bị ngày mai theo xe hậu cứ lên nghĩa trang nhận anh!!

Và nếu biến cố bi thảm nầy không xẩy ra (như một phép mầu ân sủng), người đàn bà dần qua hết tuổi trẻ để cùng chia sẻ với chồng một ngọn nguồn đau thương, cảnh sống nhục nhằn thống khổ - Lần Miền Nam bị bức tử cùng đành, sáng sớm ngày 30 tháng Tư, năm 1975. Vợ và những đứa con người lính bị đuổi ngay ra khỏi những căn nhàtrong trại gia binh, và bị xếp hạng nên thành là “đối tượng thứ 14 trong 15 giai cấp xã hội” - Loại sau cùng thứ 15 nầy là thành phần tù hình sự can án cướp của, giết người với trường hợp gia trọng - Cách định giá đối tượng xã hội-chính trị của chế độ CS ở VN.

Ở Miền Nam.

Con đường từ ga Thanh Hóa vào các trại tù Lam Sơn, Thanh Phong, Thanh Cẩm dài khoảng năm chục cây số đường chim bay; đây là đường thượng sơn nối vùng núi non thượng lưu sông Ðà, dẫn lên mạn Lai Châu, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Ðiện Biên Phủ hành lang thông qua vùng Trung và Bắc Lào. Ðường hiểm trở chạy quanh co giữa những rặng núi đá vôi dựng trường thành, làm thành một trở ngại thiên nhiên vô cùng lợi hại mà ngựa Mông Cổ Thế Kỷ 13 dẫu giẫm nát toàn cõi lục địa Á, Âu vẫn không thể nào xâm nhập được.

Thế Kỷ 15, đạo binh xâm lược Nhà Minh đang ở đỉnh cao cường thịnh cũng không thể bén mảng vào đến những căn cứ địa Lam Sơn, Chí Linh của nghĩa quân Lê Lợi. Xe thiết giáp bọc sắt của Quân Ðoàn Viễn Chinh Pháp trong chín năm 1945-1954 cũng đành thúc thủ dưới đồng bằng.

Cuối cùng, biệt kích Mỹ với vũ khí tối hảo, yểm trợ tuyệt đối cũng không có cơ may đổ bộ, tấn công. Và bản thân những lính bộ đội CS, trong những ngày kháng chiến vệ quốc chưa lộ mặt, dẫu đang là tuổi trẻ cũng vẫn phải ngã gục trên đoạn đường gai góc.

Anh bạn dãi dầu không bước nổi
Gục bên mũi súng bỏ quên đời!!
(Tây Tiến, Quang Dũng)

Nhưng, Người Ðàn Bà - Người Vợ Lính, Người Mẹ Miền Nam, đã cùng đi, đến đủ với chồng, với con hằng mười năm, hai mươi năm xuyên suốt khổ nạn quê hương. Họ ra đi lúc trăng non nơi Miền Nam, xuyên qua sỉ nhục, chưởi gào do đám dân miền Bắc được “học tập căm thù bọn ngụy quân, ngụy quyền và gia đình bóc lột ăn bám của chúng”, kể cả phải hứng chịu hành hung, cướp giật trên những chuyến tàu lửa đen đủi, ám khói xuyên ”miền Bắc tiên tiến xã hội chủ nghĩa”. Và cuối cùng, họ đến trại lúc trăng nhạt màu héo úa, đầu tơi tả tóc lấm bụi, chân khô nẻ gót cắt, với gói quà cứu đói dành dụm từ Miền Nam để nói cùng chồng, cùng con trong năm mười phút thăm nuôi, lời trung hậu đơn giản: “Anh yên tâm, ở nhà có em lo. Con cố gắng học tập. Mẹ còn sống ngày nào, Mẹ không bao giờ bỏ con.”Chỉ với những hành vi, tiếng lời nhỏ bé thăm thẳm thương yêu vừa kể ra trên - Người Lính đã kiên cường xốc tới trong lửa đạn, và tồn tại sau chiến tranh, trong ngục tù, bởi họ đã vô vàn nhận lãnh: Vô Lượng Tấm Lòng Người Vợ - Người Mẹ Miền Nam.

Thủy chung, anh chỉ có một tấm lòng để nói cùng Người. Với Người Lính, như đã một lần, về một nội dung, trong suốt một đời. Ba-mươi năm bùng vỡ trận Ban Mê Thuột.

Denver, 10 tháng Ba, 1975 -2005
Thiếu Úy Phan Nhật Nam
Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù - KBC 4919.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến   

Về Đầu Trang Go down
 
Người lính VNCH trong lửa đạn và sau trận chiến
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Xã Hội, Đời Sống-
Chuyển đến