Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
sinh mien thang cong thuy phung viet tien nguyen ngoc lang Thầy trai nhung huyen pham cuoc nguoi thanh rang nghia PHAT HUNG quan Ngày nghe
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Những lừa dối dân tộc của CSVN

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Tue Apr 29, 2014 10:41 am


Mười năm sau chiến tranh: Cả người chết cũng bị lừa


(phần 1)

Tiziano Terzani
Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel, số 18/1985


Lời người dịch: Tiziano Terzani (1938 – 2004) là một nhà báo, nhà văn người Ý. Ông đã tường thuật 30 năm trời từ châu Á cho tuần báo Der Spiegel, là một trong những phóng viên nổi tiếng ở Đông và Đông Nam Á. Tiziano Terzani là một người có cảm tình với Việt Cộng. Ông đã từng vào rừng sống chung với Việt cộng. Tháng 4 năm 1975, ông là một trong số ít nhà báo đã ở lại Sài Gòn, nhân chứng của thời điểm lịch sử đó. “Tôi đã rơi nước mắt”, Terzani nhớ lại. Bài báo này do ông viết nhân dịp kỷ niệm mười năm kết thúc cuộc Chiến tranh Việt Nam.


Tiziano Terzani (phải) đi cùng với xe tăng quân đội Bắc Việt trên đường Tự Do của Sài Gòn vào ngày 30 tháng Tư năm 1975. Hình: Tư liệu Terzani

Người dân trông mạnh khỏe và vui tươi, họ mặc quần áo chỉnh tề – nhưng chỉ trên các tấm áp phích. Dưới hàng trăm bức hình tưởng tượng khổng lồ nhiều màu đó của công nhân, quân nhân và trẻ em, những người kiên quyết hay mỉm cười nhìn lên bầu trời, là từng ấy con người thật, đói ăn, rách rưới, ốm yếu, dơ dáy nhìn xuống mặt đất. Họ tìm một mẩu thuốc lá thừa, một mảnh giấy hay một cái gì đó ăn được.

Sài Gòn kỷ niệm mười năm chiến thắng của tháng Tư 1975: công sở được quét vôi mới, người bất đồng chính kiến bị bắt giam, ăn mày trên các con đường chính của trung tâm bị đày vào một trại ở ngoại ô thành phố, để họ đừng làm dơ bẩn hình ảnh chiến đấu của Sài Gòn trước đây, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Nhưng không gì có thể che đậy được sự chán ngán trên các gương mặt của đại đa số 3,5 triệu dân cư của nó.

“Đó là chiến thắng của họ, không phải của chúng tôi”, một người Sài Gòn thì thào nói với con người xa lạ. “Đối với chúng tôi thì lễ kỷ niệm này chỉ có nghĩa là bắt bớ và cúp điện. Họ cần điện để chiếu sáng chân dung của bác Hồ.”

“Họ” và “chúng tôi” – mười năm sau cuộc chiến, sự chia rẽ giữa người chiến thắng và người thua trận cũng vẫn còn không thể vượt qua được.


Chân dung các anh hùng của Chủ nghĩa Xã hội trong buổi kỷ niệm mười năm ngày chiến thắng. Hình: Philip Jones Griffiths

Trước đây mười năm, khi những chiếc xe tăng đầy bụi bặm với lá cờ Việt Cộng chạy ngang qua tòa Đại sứ quán Mỹ tiến tới dinh thự của tổng tống Thiệu bại trận, khi những người lính du kích đầu tiên, gầy gò, rụt rè, trẻ tuổi, kéo xuống đường Tự Do, con số ít ỏi của những người ngoại quốc có mặt trong lúc đó đã khóc vì mừng rỡ: một cuộc chiến tranh tàn bạo đã chấm dứt, Việt Nam dường như đã giành lại được độc lập, một dân tộc tái thống nhất bây giờ sẽ có hòa bình và công lý – thời đó chúng tôi tin là như vậy.

Hòa bình đã không trở lại với Đông Dương. Hàng trăm người Việt trẻ tuổi đã hy sinh trên các chiến trường Campuchia. Không có công lý, nếu như công lý khác với việc lật đổ một xã hội và thay thế một chế độ độc tài bằng một chế độ độc tài khác. Người Sài Gòn, rõ ràng là như vậy, ngày nay sống tồi tệ hơn, phải chịu đựng tình trạng thiếu năng lực và tham nhũng nhiều hơn, sợ cảnh sát nhiều hơn là trước kia.

“Cách mạng đã không thực hiện bất cứ lời hứa nào của họ”, một người bạn nói. “Ngay cả người chết cũng bị lừa.” Trên nghĩa trang cũ ở Biên Hòa, nơi nhiều người lính Việt Nam hy sinh trong cuộc chiến chống cộng sản được chôn cất ở đó, phần lớn các ngôi mộ đã bị xe ủi đất san phẳng – mặc dù chế độ mới đã tạo một nghĩa trang riêng cho những người anh hùng đã hy sinh cho cuộc cách mạng.

Đối với người sống, lời hứa hòa giải dân tộc còn được thực hiện ít hơn như thế nữa.

Trong tháng Năm 1975, một sĩ quan từ quân đội của Thiệu được lệnh đi “học tập cải tạo”. Ông mang theo mùng, bàn chải đánh răng và gạo cho 30 ngày đi trình diện; và ông cũng như tôi tin rằng sau 30 ngày ông thật sự sẽ trở về.

“Nào phải 30 ngày! Thành 3289 ngày”, bây giờ ông nói; ông còn có may mắn. Nhiều người lính, sĩ quan và nhân viên trước kia của chính quyền bại trận đã chết trong các trại cải tạo. Nhiều người vẫn còn ở trong những trại trong rừng đó, những trại mà các quan chức cộng sản ngày nay trong những khoảnh khắc bất cẩn đã gọi chúng là “trại tập trung”.


Một lớp học tập cải tạo tại Tây Ninh, 1976. Hình: Marc Riboud

Còn bao nhiêu người Việt Nam bị giam cầm ở đó? Chính phủ đưa ra con số 7000. Có người ước đoán tới 100.000. Trong năm 1975, chế độ mới hứa hẹn cho mỗi một người Việt Nam một nhiệm vụ trong cuộc tái xây dựng đất nước đã bị tàn phá này. Ngày nay, hàng ngàn người trở về từ những trại cải tạo đó đều không có một cơ hội nào.

Cái tội lỗi thuộc về một “chế độ bù nhìn” là không thể rửa sạch được. Còn ngược lại, nó giống như một căn bệnh được di truyền từ cha sang con: không có công việc làm cho những “tên bù nhìn”, không có chỗ cho con của họ trong các trường trung học hay đại học.

Trong khi nhân viên cộng sản, toàn bộ đều từ miền Bắc, dọn vào ở trong các khu biệt thự và nhà riêng của giới thượng lưu Sài Gòn cũ thì xã hội Việt Nam bị quẳng ra đường phố và lang thang vất vưởng khốn khổ ở đó như một bộ tộc đi lạc, bị nguyền rủa phải tuyệt chủng.

Sau chiến thắng của họ ở Campuchia, tên cộng sản thời đồ đá Pol Pot và Khmer Đỏ đã phân người dân của họ ra thành hai loại: những người dân đã sống dưới sự thống trị của cộng sản trước 1975, vì vậy mà có thể tin tưởng được; và những người kia, những người đã không được hưởng lợi thế này, tức là phải chiến đấu chống lại hay còn phải tiệt trừ hoàn toàn nữa. “Những gì diễn ra ở đây trong Việt Nam cũng giống như Pol Pot quay chậm”, một người bạn ở Sài Gòn nói.

“Chúng tôi đã chết rồi, nhưng chúng tôi vẫn còn có thể bước đi. Tôi có cảm giác mình giống như một bóng ma từ một thời gian khác”, một phi công trước đây của không quân nói, người có hơn tám năm trại cải tạo ở phía sau mình và bây giờ có nhà của mình ở trên một băng ghế do Lions Clubs tặng ở dưới tượng đài kỷ niệm Trần Hưng Đạo.


Nghĩa trang máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhứt, một trong những phi trường bận rộn nhất của thế giới trước kia. Hình: Philip Jones Griffiths

Sài Gòn vui sống ngày xưa đầy những bóng ma từ quá khứ như thế. Có thể nhìn thấy họ ở khắp nơi: tóc dài, quần áo dơ bẩn, nhiều người có vết thương hay ung nhọt không được băng bó, có người đi tha thẩn lạc lỏng, những người khác làm các công việc khốn cùng: thiếu niên đi lang thang qua thành phố với một cái kẹp và bao tải, để nhặt giấy vụn và bao nilon. Người trung niên với vẻ mặt trí thức dùng ống tiêm bơm mực mới vào những cây bút bi cũ. Những ngưởi khác ngồi cạnh một cái nón lính đổ đầy nước và vá xe đạp.

Ở Sài Gòn có 40.000 xe xích lô. Phần lớn người lái là lính và sĩ quan cũ. Họ ngủ trên những chiếc chiếu ở trước tòa nhà quốc hội cũ và ở cạnh những đài tưởng niệm của thành phố. Họ chui vào trong công sự có từ thời chiến tranh để tránh mưa. Họ thường xuất thân từ những gia đình xưa, khá giả, ở Sài Gòn và bây giờ thì thất nghiệp và vô gia cư, trở về từ “vùng kinh tế mới”, nơi mà họ bị ép buộc phải đi tới đó.

Năm 1976, người ta có thể tới thăm một vùng kinh tế mới lớn ở phía bắc của thủ đô, nơi hàng ngàn gia đình Sài Gòn cần phải biến miền đất hoang vu thành đồng ruộng dưới ngọn cờ đỏ đang bay phấp phới. Không có nước lẫn cây cỏ. Sau mười năm cố gắng, cuộc thử nghiệm đó được tuyên bố là vô vọng, người dân chạy trốn trở về thành phố. Từ đó, không còn ai nói về vùng kinh tế mới nữa. Chế độ của miền Bắc không thành công trong việc lấy được thiện cảm của người dân miền Nam. Vì thế mà mười năm sau ngày giải phóng, hai Việt Nam vẫn còn sống thù địch và nghi ngờ bên cạnh nhau.

Mười năm này cũng không mang lại sự hòa thuận cho những gia đình bị cuộc nội chiến chia cắt, tái đoàn tụ qua giải phóng. “Người anh em cộng sản của tôi đã tố cáo tôi là tư sản để cướp tài sản của tôi”, một người quen thuật lại, người trước kia đã từng sở hữu một quán ăn. “Khi tôi trở về sau ba năm ở trong tù, tường nhà tôi đầy lỗ vì hắn nghĩ rằng chúng tôi giàu lắm và đã cất dấu vàng, thứ mà hắn muốn tìm cho ra.”


Sài Gòn, Việt Nam 1985: chờ mở cửa. Hình: Philip Jones Griffiths

Ở Sài Gòn, bất cứ chức vụ quan trọng nào trong hành chánh đều nằm trong tay của người Việt từ miền Bắc – bắt đầu từ người cảnh sát đứng ở ngã tư và nhân viên bưu điện, người giám sát việc bán tem thư. Đứng trước chính sách nhân sự này, người ta tự hỏi liệu chế độ cộng sản của miền Bắc có thật sự muốn hòa giải dân tộc hay không, điều mà họ đã hứa hẹn trước đây mười năm, hay là, thật lâu trước khi chiếm Sài Gòn, họ đã quyết định đánh giá toàn bộ người dân miền Nam là không thể tin tưởng được.

Người ta cũng tự hỏi, liệu Hà Nội có ý thật sự nghiêm chỉnh với việc “cải tạo” hay không, hay đó là một mưu kế để đánh đổ bộ máy quân sự và dân sự của chế độ trước đây chỉ với một cú đánh. Cuối cùng, người ta tự hỏi, rằng kế hoạch của những vùng kinh tế mới có thật sự xuất phát từ ý định tạo công việc làm mới cho dân cư thất nghiệp của thành phố hay không; hay đó là một biện pháp rẻ tiền thì nhiều hơn, để xua đuổi hàng ngàn gia đình Sài Gòn ra khỏi nhà ở của họ và trao chúng về cho các gia đình từ miền Bắc.

Thật sự là vào năm 1975, ở Nam Việt Nam có hàng ngàn kỹ sư, người tốt nghiệp đại học và người đã qua đào tạo sẵn sàng làm việc cho chế độ mới, rằng chế độ mới này đã khước từ sự cộng tác của họ: một sự lãng phí lòng nhiệt tình, khả năng và nhân tài hết sức to lớn.

Năm 1975, ở Sài Gòn có trên 2000 bác sĩ. 800 người đã ra đi với người Mỹ, phân nửa số người lúc đầu còn ở lại đã rời bỏ đất nước trong vòng mười năm vừa qua.

“Tôi không sợ nghèo khổ”, một người nói, người đã chịu đựng được và không than phiền về việc từ năm 1975 không ai trong gia đình ông đã có thể mua được một cái áo mới. “Nhưng thật khó mà chịu đựng được cái cảm giác mình là người thừa.” Ngày nay, ông kiếm tiền bằng cách dạy tiếng Anh cho người Việt đang chuẩn bị chạy trốn.

Trên một triệu người Việt đã rời bỏ đất nước của họ từ 1975, nhiều người đã liều tính mạng của họ trên biển như là “boat people”. Cả cho tới ngày nay, hàng tháng trung bình có khoảng 2000 người Việt cố gắng bỏ trốn.

(Còn tiếp)

Tiziano Terzani

Phan Ba dịch từ Der Spiegel số 18/1985: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13514174.html
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Wed Apr 30, 2014 2:07 pm


Mười năm sau chiến tranh: Cả người chết cũng bị lừa

(phần 2 - hết)


Mười năm sau chiến thắng của người cộng sản và thống nhất về mặt hình thức của Việt Nam, thất vọng nhiều nhất chính là các trí thức của miền Nam, những người đã chiến đấu chống chế độ của Thiệu trong Mặt trận Giải phóng hay có thiện cảm với họ và vì vậy mà bị truy nã.

“Tất cả những gì mà Mặt trận Giải phóng đã hứa hẹn thì đều bị Hà Nội hủy bỏ, kể cả chính Mặt trận Giải phóng”, một thành viên trước kia của Việt Cộng than thở.

“Người cộng sản từ miền Bắc chỉ tin vào chính họ. Trong mắt họ, cả chúng tôi cũng là ‘bù nhìn’”, một nhà cách mạng nổi tiếng từ miền Nam nói, người đã chiến đấu cho Việt Cộng 29 năm trời.


Sài Gòn, tháng Tư 1985, lễ kỷ niệm kết thúc chiến tranh. Hình: Philip Jones Griffiths

Ngày nay, không ai trong số những người đã xuất hiện như là lãnh tụ của Việt Cộng trong cuộc chiến là còn có ảnh hưởng nữa. Bà Nguyễn Thị Bình, nữ bộ trưởng Bộ Ngoại giao duyên dáng của Việt Cộng, tuy là nữ bộ trưởng Bộ Giáo dục ở Hà Nội, nhưng được cho là “nữ bộ trưởng trình diễn cho người nước ngoài”. Người ta cho rằng các quyết định là do hai người phó của bà đưa ra, những người thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng.

Ngay đến Trần Văn Trà, tướng Việt Cộng, người đã giải phóng Sài Gòn và cầm quyền vài năm, đã bị khóa miệng khi dám tranh cãi về phiên bản giải phóng của Hà Nội trong một quyển sách. Quyển sách đó đã bị cấm. Ngày nay, bốn nơi triển lãm chào mừng lần chiến thắng năm 1975 với hình ảnh, tài liệu và vật kỷ niệm, những thứ mà các phái đoàn nước ngoài kính nể nhìn ngắm, cả một phái đoàn từ Cộng hòa Liên bang Đức nữa, mang huy hiệu với hàng chữ “Việt Nam là công việc của chúng tôi” ở trên ngực. Các vật triển lãm chỉ có nhiệm vụ chứng minh cho một điều: vai trò của Hà Nội thời đó và sự lãnh đạo của Đảng ngày nay.

Người ta ít nói về cuộc chiến tranh nhân dân khó khăn mà Việt Cộng đã tiến hành ở miền Nam. Ngày nay, hình ảnh tượng trưng cho lần giải phóng Sài Gòn là hình ảnh của chiếc xe tăng Bắc Việt đã đè bẹp chiếc cổng sắt dinh của Thiệu, thay cho hình ảnh của du kích quân nông dân Việt Cộng, người lập những chiếc bẫy bằng tre và tiến hành một cuộc chiến tranh quy mô nhỏ nhiều tổn thất ở hậu phương.

“Đó chính là lỗi của chúng tôi. Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi đã chiến đấu cho nền độc lập và thống nhất đất nước, nhưng thực tế là Hà Nội đã đấu tranh để nền độc tài cộng sản chiến thắng”, bây giờ một linh mục Công giáo nói, người đã hoạt động tích cực trong giới đối lập chống Thiệu.

Năm 1975, chế độ ra vẻ sẵn sàng khoan dung cho tất cả các tôn giáo trong tương lai. Dường như họ đặc biệt nghiêng về phía những người Công giáo đã chiến đấu cho cuộc cách mạng. Không lâu sau khi giải phóng Sài Gòn, tờ nhật báo Công giáo “Tin Sáng” cũng đã được phát hành, còn được chính quyền giới thiệu nữa. Thiệu đã thất bại trong việc cho giết chết người chủ và phát hành tờ báo, Ngô Công Đức, rồi sau đó đã cấm tờ báo này.

Trước đây hai năm, tờ báo bị ngưng hoạt động. “Tờ báo đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của nó”, thủ tướng Phạm Văn Đồng bình luận ở Hà Nội.

Ngô Công Đức, một nhà trí thức lỗi lạc, đã trở về từ chốn lưu vong để phục vụ cho chế độ mới và giúp tái xây dựng, bây giờ vẽ tranh sơn mài để xuất khẩu. Cũng như tất cả mọi người Việt, ông cần một giấy phép đặc biệt nếu như muốn tiếp một người nước ngoài.

Dần dần, nhưng có hệ thống, người cộng sản đã gây khó khăn cho việc thực hành tín ngưỡng. Những người Công giáo chống đối cũng như các lãnh tụ của Hòa Hảo và Cao Đài đều bị bắt giam và khóa miệng, chùa Ấn Quang nổi tiếng, trung tâm đối lập của Phật giáo chống Thiệu, bị giám sát nghiêm ngặt, người lãnh đạo về mặt tinh thần của nó, nhà sư Thích Trí Quang, bị quản thúc tại gia.

Bộ máy Đảng và hành chánh của Bắc Việt Nam đã đứng vững ở miền Nam mà không gây ra nhiều chống đối. Trong những năm đầu tiên còn có những tổ kháng chiến vũ trang chống lại những người chủ mới. Một đài phát thanh bí mật còn giữ được hy vọng của một bước ngoặc trong một khoảng thời gian. Tất cả những điều đó đã qua rồi. Chế độ mới không còn gặp chống đối chủ động nữa. Con người đã chấp nhận sự việc, rằng họ phải đối phó với hệ thống này.


Sài Gòn1985 – Ngã tư Nguyễn Huệ-Ngô Đức Kế. Hình: Philip Jones Griffiths

Một cảnh sát trên một trăm gia đình và một mạng lưới chỉ điểm khó nhận biết giữ người dân trong vòng kiểm soát, những người trước sau gì thì cũng phải cần giấy phép để đi lại hay qua đêm ở nhà bạn bè. “Công an” (an ninh công cộng) là tổ chức đáng sợ nhất đối với tất cả các người Việt.

“May là có thể mua được họ”, một người buôn bán nói mỉa mai về các cảnh sát. Tất cả đều có giá của nó, từ thị thực xuất cảnh cho tới việc phân cho một chỗ làm.

Với một vài tờ tiền, người ta có thể tránh được nhiều hình phạt: một người đi xe đạp bị chận lại vì không chú ý tới đèn đỏ nhét 20 đồng vào tay người cảnh sát. “Không, không”, người này  nói, “tôi phải nhìn thẳng vào mắt Bác Hồ.” Người đi xe đạp hiểu và thay vì tờ 20 đồng, mà trên đó chỉ nhìn thấy ảnh chụp nghiêng của Hồ Chí Minh, đã đưa ra tờ 50 đồng, cái thể hiện hết gương mặt của ông ấy. Người cảnh sát cầm lấy.

Tham nhũng là lệ thường, không phải là trường hợp ngoại lệ. “Lênin nói rằng chủ nghĩa xã hội là quyền lực Xô viết cộng với điện khí hóa”, một người bạn nói đùa. “Trong chế độ này thì nó là quyền lực công an cộng chợ đen.”

Điều thường được chấp nhận, là mỗi người đều cố gắng để sống qua ngày, trong khả năng của người đó. Vì thế mà thầy giáo bán bánh cho học trò, lính lấy trộm xăng từ xe quân đội, nhân viên hải quan tận tâm ở phi trường tịch thu tất cả các băng video của người nhập cảnh: với lý do phải kiểm tra nội dung, thật ra là để tổ chức những buổi trình chiếu tư ở gần khách sạn Tong Binh. Giá vào cửa: 50 đồng một người.


Sài Gòn 1985 – Nghĩa trang máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Hình: Philip Jones Griffiths

Cán bộ Đảng đã du nhập thông tục của miền Bắc vào Nam, nuôi heo trong nhà ở của họ và cho chúng ăn bằng thức ăn gia súc của nhà nước.

Thành phố Sài Gòn thanh lịch của ngày xưa gặp heo như thế đó. Ở khắp những nơi có cán bộ sống, người ta nghe được tiếng heo kêu và đánh hơi, ngay cả tướng cao cấp của quân đội cũng chú ý tới việc có một con heo trong phòng khách của họ, khi họ mời khách đến nhà ăn tiệc: con vật phục vụ như là một lời giải thích cho mức sống cao đó, cái mức sống mà ngoài ra thì chỉ có thể xuất phát từ buôn bán ngoại tệ hay buôn thuốc phiện ở Lào và Campuchia.

“Năm 1975, tôi cho rằng chế độ mới hoặc là hồng hoặc là đỏ”, một luật sư trước đây nói, người lúc đó đã từ chối không rời bỏ đất nước. “Tôi không bao giờ nghĩ rằng nó có thể là xám. Chế độ này đã lấy đi tất cả mọi niềm vui thích trong trái tim của chúng tôi. Đó là bi kịch của chúng tôi.”

Danh tiếng của ưu thế về đạo đức, cái mà người cộng sản đã hưởng được ngay sau khi giải phóng, đã lu mờ khi người dân nhận ra được rằng “hành vi của họ được quyết định bởi lợi ích cá nhân, đạo đức của họ là đạo đức giả, và họ không bao giờ làm điều họ nói”, theo một nữ sinh viên, người 18 tuổi vào ngày giải phóng.

Trong khi các cô gái bán dâm của Sài Gòn cũ vẫn còn bị cải tạo trong một trại thì Thành phố Hồ Chí Minh hiện giờ đã có gái bán dâm riêng mà vài người trong số đó còn tới từ Hà Nội nữa. Con số của họ tất nhiên là thích hợp với số khách đã giảm xuống, và hệ thống giá cả hoạt động khác với trước đây. Thay vì phải trả tiền cho người gác cổng thì bây giờ phải trả tiền cho các cảnh sát an ninh của khách sạn, “giá cả tăng với tầng lầu mà người ta muốn làm tình ở trên đó”, một người khách thường xuyên của Sài Gòn nói.

Không thể không nhìn thấy sự khác biệt giữa những lời tuyên bố công khai của chế độ và hiện thực. Hệ thống chăm sóc sức khỏe tự nó là không mất tiền cho tất cả, nhưng thuốc chữa bệnh thì không có trong bệnh viện. “Ai muốn được mổ thì tốt nhất là nên mua trước thuốc gây mê và chỉ khâu trên thị trường chợ đen”, một bác sĩ nói.

Trong kinh tế, người cộng sản đã phạm lỗi lầm lớn nhất của họ. Đầu tiên, họ đóng cửa tất cả các cửa hàng tư nhân và truy lùng các thương gia của khu phố người Hoa Chợ Lớn như là những kẻ đầu cơ. Nhưng rồi khi họ nhận ra là đất nước đã gần sụp đổ thì họ lại giảm áp lực và còn yêu cầu người Hoa lại hoạt động tích cực trở lại nữa.

“Xổ số, xổ số là hy vọng cuối cùng của chúng tôi”, một người bán thuốc lá nói. Thay vì một lần trong một tuần, như vào thời của Thiệu, ngày nay Sài Gòn có ba cuộc xổ số một ngày. Hàng đoàn người trẻ tuổi đi bộ qua thành phố vào lúc sáng sớm với hàng cọc vé xổ số, mười đồng một tờ, giá độc đắc 100.000 đồng. Rồi cả thành phố bất động vào buổi chiều lúc năm giờ, khi các con số trúng được viết bằng phấn trắng trên các tấm bảng ở chợ và đường phố.

Người Việt Nam có thu nhập trên đầu người là 102 đô la Mỹ một năm. Nghèo khổ và không hài lòng (“Ngay cả Bộ Chính trị cũng không hài lòng”, một quan chức Đảng nói đùa), cung cấp thiếu thốn triền miên và chiến tranh đã trở thành một phần của cuộc sống hàng ngày của người dân.

“Chúng tôi đã giành lại được nền độc lập của chúng tôi, chúng tôi đã thống nhất đất nước của chúng tôi, và bây giờ thì giống dân Việt cũng khai phá đất mới ở phương tây”, một giáo sư từ Sài Gòn nói, người mang ấn tượng về các thành công quân sự của người cộng sản.

Viện cớ muốn bảo vệ Lào, người Việt đóng 40.000 quân ở đó; viện cớ giải phóng Campuchia ra khỏi chế độ độc tài của Pol Pot, họ có một đạo quân chiếm đóng gồm 180.000 người lính ở đó.


Việt Nam 1985: Trại học tập cải tạo Z30D ở tỉnh Thuận Hải. Hình: Philip Jones Griffiths

Nhờ vào sức chịu đựng riêng mà Việt Nam đã có được những thành công ở vẻ ngoài của nó, nhưng cũng nhờ vào một khả năng dùng thủ đoạn đáng ngạc nhiên: dưới áp lực của siêu cường Hoa Kỳ, khi Trung Quốc ngừng giúp đỡ, Việt Nam đã ngã vào vòng tay của Moscow. Ngày nay, khi người Trung Quốc và người Nga lại tiến gần tới nhau, người Việt cố gắng tranh thủ sự giúp đỡ của Mỹ.

Trong lúc đó, họ khéo léo lợi dụng cảm giác có lỗi với Việt Nam của Mỹ – và tự thể hiện mình rất hào phóng. Nhân dịp kỷ niệm mười năm, trên 150 nhà báo Mỹ được mời vào trong nước cho một chuyến tham quan được điều khiển tốt và được giám sát kỹ lưỡng.

Đài truyền hình Mỹ NBC dự định truyền trực tiếp hàng ngày từ Sài Gòn trong tuần lễ kỷ niệm, qua một vệ tinh mà trạm mặt đất của nó được chở bằng máy bay tới. Đài cạnh tranh ABC cố gắng không thua kém với một vệ tinh do Xô viết sản xuất, nhưng vẫn còn chưa hoạt động được, Hoa Sen 2. “Người Nga phải làm sao cho nó phát tín hiệu”, người Việt nói, “vấn đề là uy tín của phe xã hội chủ nghĩa.”

Người Việt đã đòi những khoảng tiền đáng ngạc nhiên từ người Mỹ cho những phóng sự về buổi lễ tung hô nỗi nhục nhã của nước Mỹ: 100 dollar Mỹ mỗi ngày cho một phiên dịch viên, một cuộc phỏng vấn với một giàm đốc nhà máy có giá 200, với phó của ông ấy là 100.

“Các anh đã quay máy bay ném bom MiG và xe tăng trong lúc chiến đấu, và các anh cũng biết giá xăng kia mà”, sếp báo chí của chính phủ Hà Nội nói với một thông tín viên truyền hình Mỹ trước một hóa đơn trên 6000 dollar mà người này nhận được.

Khi Washington không bước đến đứng cạnh họ với trợ giúp kinh tế trong khuôn khổ rộng lớn, thì người Sài Gòn ở miền Nam, tự nó thật ra là giàu có, sẽ còn phải sống khổ cực một thời gian lâu dài nữa. “Thịnh vượng?” một nhân viên nhà nước cao cấp của Việt Nam nói. “Các thế hệ con cháu chúng tôi sẽ có nó.”

Những đứa con này được giáo dục nghiêm khắc, đồng nhất và theo đúng đường lối. Tất cả sách giáo khoa được in trước 1975 đều bị cấm. Chỉ có 71 người đọc là được phép vào thư viện cũ của Pháp mà giám đốc của nó là sếp an ninh Von Vung Tao trước đây.

Những đứa con này diễu hành, các em tập bắn súng, các em chuẩn bị để bảo vệ tổ quốc của các em. Các em lớn lên mà không khao khát một thế giới khác, không có khả năng so sánh, hãnh diện là thuộc một dòng giống đã chiến thắng ba quốc gia lớn – người Trung Quốc, người Pháp và người Mỹ.

Chẳng bao lâu nữa giới trẻ lớn lên như thế từ miền Nam, những người bây giờ gia nhập quân đội để được người Bắc huấn luyện, sẽ cứng rắn và dẽo dai như những người đồng lứa tuổi với họ từ Hà Nội. Một vài thập niên nữa, và Việt Nam thật sự là sẽ thống nhất – bởi một giống người duy nhất.

Cho tới chừng đó, cả một thế hệ của những bóng ma sẽ biến mất, những bóng ma mà giờ đây đang sống trên khắp miền Nam và không nhìn thấy điều gì tốt đẹp trong chế độ mới.

“Có thật sự là không có gì tốt đẹp không? Một người bạn lâu năm trả lời cho câu hỏi này: “Có, có chứ, người cộng sản đã làm cho tôi sáng mắt ra. Trước 1975 tôi cần dùng một cái kính mắt, bây giờ thì tôi vẫn nhìn thấy mà không cần có nó.”

Tiziano Terzani

Phan Ba dịch từ Der Spiegel số 18/1985: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13514174.html



.
Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Sat May 03, 2014 12:26 pm


16 ĐIỀU GIAN TRÁ VĨ ĐẠI ĐẲNG CẤP HCM SIÊU LỪA


... đã gây ra bao khổ đau cực kỳ khốc liệt cho toàn Dân và đang quật mạnh lên mọi giá trị cao quí của Dân tộc Việt


Lm Nguyễn Văn Lý



Sau khi tôi phổ biến bài “12 LỜI NÓI DỐI VĨ ĐẠI CẤP NHÀ NƯỚC” ngày 25-7-2010, cố ý gọn 4 trang A4, cỡ 13 font Unicode Times New Roman, một số độc giả đề nghị bổ sung thêm một số điều gian dối cũng đẳng cấp siêu lừa của CSVN và nên để mở bài viết, mời tất cả những ai có điều gì thì bổ sung thêm các điều gian trá tầm mức vĩ đại này, đừng vội chấm hết bài. Vì thế, hôm nay tôi mạn phép bổ sung thêm 4 điều, 12 trang A4, hi vọng Dân nghèo vẫn nhân bản được dễ dàng. Kính mời Quí Vị rộng đường bổ sung.

Các Đức Giám mục Công giáo hoàn cầu 5 năm 1 lần về Rôma để viếng mộ 2 Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Ngoài buổi gặp chung của Hội đồng GM hoặc từng nhóm GM với Đức Giáo hoàng, mỗi GM còn gặp riêng ĐGH để trình bày về Giáo phận mỗi GM coi sóc, mỗi Vị 15-30 phút. Cuộc thăm gặp này gọi là Ad Limina, có nghĩa là “đến ngưỡng cửa”.

Trong lần Ad Limina của Hội đồng Giám mục VN năm 1980, Đức cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền hỏi Đức cố Giáo hoàng Gioan-Phaolô II : “Đức Thánh Cha nghĩ gì về Cộng sản?”. Đức Gioan-Phaolô II trả lời ngay không do dự, rất ngắn gọn, súc tích và chính xác, nguyên văn bằng tiếng Pháp: “Mensonge ! Et rien que mensonge!” (Dối trá! Và chỉ là dối trá!).

Trước 1954, lúc mới 5-6 tuổi, tôi đã thuộc lòng bài thơ về Cộng sản dối trá:

Dối thiên dối địa dối vô cùng,
Dối giấy dối tờ dối tứ tung,
Dối từ đất Âu sang đất Á,
Dối từ xuân hạ đến thu đông,

Dối gạt Dân mê không hóa có,
Dối phỉnh Dân mù có hóa không,
Dối mãi dối hoài không hết dối,
Dối thiên dối địa dối vô cùng.

Tôi đã nhiều lần lặp đi lặp lại trước công luận quốc tế : “Việt Nam hiện nay là một trường dạy nói dối tinh vi và khổng lồ. Từ một phụ huynh tìm trường cho một em học sinh mẫu giáo và chính em mẫu giáo ấy đến ông Chủ tịch Nước, kể cả các Chức sắc các Tôn giáo, đều buộc phải biết nói dối để xuôi thuận công việc. Một Việt kiều văn minh ở Na-Uy, Thụy Sĩ, Nhật Bản,... đặt chân xuống Tân Sơn Nhất, Nội Bài,... là phải biết nói dối để dễ trót lọt hải quan sân bay ngay!”

Cha đẻ của các bệnh thành tích, bệnh học giả, thi giả, bằng giả, báo cáo giả, thuốc giả, thực phẩm giả,...hiện nay tại VN là ai ? Dối trá “made in VN” bắt nguồn từ đâu ? Chắc chắn chính xác là từ ông HCM : đại gian ác, siêu cao thủ, lừa gạt được gần cả thế giới.

Những điều gian trá của CSQT và CSVN nhiều vô kể không thể ghi ra hết được. Để bổ sung phần nào các điều gian dối của CS mà nhiều người đã nêu lên trong nhiều sách báo mấy chục năm qua, tôi xin lược kê thêm 16 bằng chứng tiêu biểu mang tính khái quát cao, bộc lộ đúng bản chất khách quan của phong trào CS quốc tế, CSVN và của ông HCM, hoàn toàn không hề do định kiến của một số người nào đó cố tình bóp méo xuyên tạc, để lấy cớ mà tẩy chay CNCS và CNXH tại VN và trên toàn thế giới :

1. Cuối năm 1945, để lừa mị công luận, HCM tuyên bố giải thể đảng CS Đông Dương, nhưng thực ra là chỉ rút lui vào bí mật. Năm 1951 đổi tên là đảng Lao Động VN. Sau 1975 đổi thành đảng CSVN. Thực tế cả 3 đảng chỉ là một (vô ra chỉ một con ma ấy!!!).

2. Trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 và Hiến pháp 1946, HCM và CSVN khôn khéo cố tình không nhắc đến một lần nào CNXH, CNCS. Nhưng sau đó lại áp đặt : Độc lập Dân tộc phải gắn liền với CNXH, rồi độc đoán cột buộc mọi Dân Việt : yêu Nước là yêu CNXH !?!

3. Sau Hiệp định Genève 20-7-1954, tất cả các Cán bộ CS ở miền Nam nào muốn tập kết ra Bắc đều được tự do đi và chính Pháp cung cấp đủ tàu thủy chở đi. Trái lại rất nhiều Đồng bào ở miền Bắc muốn di cư vào Nam thì bị đủ mọi hăm dọa, thủ đoạn ngăn chặn, kể cả bắn chìm ghe, thuyền, bè của Dân và nhấn chìm Dân chết đuối. Nếu được tự do di cư, không chỉ có hơn một triệu Đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, mà con số phải cao hơn nhiều lần.

4. Năm 1955, HCM ký Sắc lệnh Tự do Tôn giáo. Kết quả là tất cả các Tiểu và Đại chủng viện là những trường đào tạo LM ở miền Bắc đều bị đóng cửa, tất cả các Nữ Tu sĩ đều bị ép buộc phải về nhà lấy chồng (vì là bọn trốn đẻ), chỉ một số ít kiên trì bám trụ, khôn ngoan trốn tránh (tu chui) mới tồn tại cho đến 1975. Rất nhiều Linh mục, Nam Tu sĩ, Giáo dân nòng cốt bị nhốt vào các trại cải tạo, một số đã chết trong tù. Sau 1973 CSVN mới cho mở lại 2 Đại chủng viện Hà Nội và Vinh với giới hạn tuyển sinh rất ngặt nghèo. Hiện nay, trong cả Nước, tất cả các Tiểu chủng viện (cấp phổ thông và đại học) đều đang bị CSVN tịch thu, có khi bằng bạo lực với quân đội, súng ống (như Tiểu chủng viện Hoan Thiện, 11 Đống Đa, Huế, 13-19.12.1979). 26 Giáo phận cả Nước hiện nay đều không Giáo phận nào có Tiểu chủng viện hết mà lẽ ra mỗi Giáo phận đều cần một Tiểu chủng viện để đào tạo các thanh thiếu niên tu học chuẩn bị vào Đại chủng viện. CSVN chỉ cho mở lại 6 Đại chủng viện: Hà Nội, Vinh, Huế, Nha Trang, Sài Gòn, Vĩnh Long. (ĐCV Sài Gòn có một cơ sở phụ tại Xuân Lộc). Các ứng sinh linh mục bị buộc phải học nhồi sọ chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng HCM. Không còn một tờ báo, nhà xuất bản, nhà in,... nào của Tôn giáo nào.

5. Từ 1960 đến 1975, Bộ đội miền Bắc tràn vào xâm lược miền Nam với đường HCM trên Trường Sơn, trên Biển Đông, với hệ thống xăng dầu rõ ràng, với hàng ngàn chiến xa đủ loại, với hàng núi vũ khí kinh người, thế mà CSVN vẫn rêu rao trước công luận quốc tế là “Đồng bào miền Nam tự nổi dậy” với lá cờ xảo trá 3 màu xanh, đỏ, vàng. Nay thì lại trơ trẽn tự hào là quân ta có “đường Trường Sơn huyền thoại” !!!

6. Hiệp định “Ngừng chiến và tái lập hòa bình tại VN” tại Paris năm 1973 qui định: Quân đội các bên tham chiến đều ngưng chiến, và phải rút khỏi lãnh thổ VNCH, để Dân miền Nam tự quyết định tương lai của mình trong hòa bình. Quân đội Hoa Kỳ “ngây thơ” (?) rút. Quân Bắc Việt chẳng những không rút mà còn phát huy bản chất và thói quen cực kỳ xấu xa là âm mưu gian trá chuẩn bị đánh lớn. Kết quả là trong những năm 1973-1975 chiến tranh liên miên ở miền Nam và ngày càng ác liệt, mãi cho đến ngày đứt phim gãy súng 30-4-1975. Hoa Kỳ ăn no bánh lừa. Hơn 2,5 triệu người Dân miền Nam thì quá sợ hãi tìm mọi cách trốn khỏi “thiên đàng CS”, đành bỏ mạng nửa triệu trên đường liều chết vượt rừng hoặc lao ra biển, tạo nên thuật ngữ tiếng Anh mới : boat peoples (thuyền nhân) made from VN “không nơi nào có được”. Nếu cột điện đường chạy được, chúng cũng vượt biên luôn. Hàng triệu quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa phải tù đày 2-13 năm (đợt thả cuối cùng đầu năm 1988). Có người tù đi tù lại lần 2, 3, 4 trong 35 năm “thống nhất” mà đã “chung thân” đến 33-34 năm rồi !!!




7. Từ 1975 -2010, các cấp chóp bu và phát ngôn nhân của Bộ ngoại giao của Nhà cầm quyền CSVN đi đâu cũng luôn rêu rao không biết ngượng: “Ở VN, không hề có tù nhân tôn giáo, tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị.” Thực tế là chỉ nguyên hiện nay đang có hơn 200 tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo của các Giáo hội Tin Lành, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Công giáo. Tôi luôn hỏi lại các Công an bắt và giam tôi : “Thế tôi là loại tù gì ?” các CA ấy luôn im lặng, không thể trả lời được. Trong trại giam, bất cứ lúc nào báo chí đưa tin câu rêu rao nêu trên, tôi đều có tuyệt thực phản đối, để được “bị lập biên bản” hầu có giấy bút ghi lý do tuyệt thực đằng sau trang giấy biên bản để bênh vực các Tôn giáo, Nhân quyền, Tự do, Dân chủ, Công lý, Sự thật. Dịp Tết Kỷ Sửu 2009, sau khi nghe Ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nước, rêu rao như vậy tại Hoa Kỳ, tôi tuyệt thực không ăn 3 ngày tết và hát nghêu ngao cho các bạn tù ở các khu kỷ luật và khu biệt giam khác nghe bài “Pháo Tết” cải biên : “Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi ! Nhưng rất buồn vì Cộng sản nói dối. Xuân ơi, Xuân ơi, Xuân đến rồi ! Nhưng rất buồn vì Cộng sản không thật.”

8. Hiến pháp CHXHCNVN năm 1992 đã bổ sung năm 2001, điều 59, b: “Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.” Mời chính ông HCM đốt đuốc tìm cho ra dù chỉ một trường mầm non, mẫu giáo, tiểu học bất kỳ (của Nhà nước) ở khắp Việt Nam hiện nay mà học sinh “không phải trả học phí”, thì tôi chết liền. Trái lại, tất cả các phụ huynh của những học sinh nhà nghèo các cấp này đều phải lo toát mồ hôi đầu năm học và các kỳ học giữa năm : nào là học phí, nào là các khoản đóng góp đủ kiểu, đủ loại. Nếu không có các Nhà Chùa, Nhà Xứ, Tổ chức, Nhà hảo tâm,... tìm cấp học bổng cho các em, thì hầu như tất cả học sinh con nhà nghèo đều phải chịu thất học, bỏ học và mù chữ hàng loạt. Còn các học sinh cấp cao hơn, sinh viên thì khỏi phải bàn. Học phí là một gánh quá nặng là chuyện đương nhiên...




9. Hiến pháp CHXHCNVN năm 1992 đã bổ sung năm 2001, điều 52: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” Chỉ có người điên, dại, khờ mới tin vào điều này ở VN. Hãy nhìn vào 2 vụ việc gần đây nhất (giữa năm 2010 này) : Ông Nguyễn Trường Tô, Phó Bí thư tỉnh ủy Hà Giang, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang đã công khai mua dâm, cưỡng dâm vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật, trong khi các cô gái nạn nhân lại đang rên siết trong nhà tù. Và Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Tập đoàn Vinashin) đã làm vỡ nợ lên đến 4 tỷ USD (80 ngàn tỷ VNĐ), sau khi công luận bức xúc quá, ngày 4-8-2010 vừa qua, CA đã bắt và khởi tố kiểu “tế thần”. Để xem, mức án, nếu có cũng nhẹ hều, và nếu có hơi nặng tí chút vì “yêu cầu chính trị”, thì cũng luôn được tha trước thời hạn cách rất “ngoạn mục”, như hàng trăm vụ chìm xuồng “made by CSVN” tương tự rồi. Vào tù rồi, CB CSVN vẫn luôn được ưu tiên 01 !!!

10. Các cấp quyền lực CSVN hiện nay đều đại ý luôn miệng rêu rao: “Nhà Nước bồi hoàn thỏa đáng cho Dân khi có kế hoạch “giải phóng mặt bằng” vì các công trình phúc lợi chung, để người Dân đến định cư ở nơi mới phải có cuộc sống tốt hơn hoặc ít ra là bằng ở nơi cũ. Việc này luôn phải được người Dân cùng tự nguyện đồng thuận hợp tình, hợp lý.” Hàng vạn vụ “giải phóng mặt bằng” trong cả Nước đã và đang gây ra bao bất công uất ức cho Dân nghèo từ hơn 35 năm nay. Hãy nhìn vào 2 vụ việc gần đây nhất : Ngày 25-5-2010, Công an nổ súng bắn chết em Lê Xuân Dũng, 12 tuổi và anh Lê Hữu Nam, 40 tuổi tại xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa chỉ vì họ không chấp nhận mức bồi hoàn sản nghiệp đất đai của họ một cách quá bất công. Và ngày 03-7-2010, Công an đã đánh chết giáo dân Tôma Nguyễn Thành Năm, 43 tuổi sau khi đã tra tấn hành hạ anh cùng hàng mấy chục giáo dân khác nhiều ngày trước, từ ngày CA cướp quan tài và đánh đập rất dã man nhiều giáo hữu, trong đám tang của Cụ bà Maria Đặng Thị Tân hôm 04-5-2010 ở giáo xứ Cồn Dầu, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng, chỉ vì họ không thể chấp nhận mức đền bù nơi ở của họ quá rẻ mạt, khi Nhà cầm quyền CS Đà Nẵng muốn cưỡng chiếm quê hương họ để làm khu du lịch sinh thái, sinh gian, sinh dơ và sinh tội !?!

11. Giáo sư Phan Huy Lê, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trả lời báo Người Việt là “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám hoàn toàn không có thật”, ông nói: “Tôi còn món nợ với anh Trần Huy Liệu mà đến nay chưa trả được. Đó là lúc anh Liệu làm Bộ trưởng Bộ tuyên truyền, đã bịa ra nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu nhi tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè…Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê Văn Tám, anh Liệu có nói với tôi rằng :“Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại dùm tôi, lở khi đó tôi không còn nữa”. (Người Việt, 21-3-2005). Giảng viên Đại học Khoa học Huế Hà Văn Thịnh cũng như rất nhiều chuyên gia khoa học đều cho rằng : Lê Văn Tám chắc chắn chỉ là nhân vật bịa đặt. Lý do đơn giản là không thể có chuyện một thiếu nhi tự châm lửa cả người rồi chạy xa hàng mấy chục mét được, vì “em đuốc lửa” ấy chạy chưa được 5 mét là phải gục xuống liền. (Tham chiếu “CSVN lấy gian dối làm phương châm hành xử” của Đại Nghĩa ngày 6-7-2010). Chuyện lừa bịp quá trắng trợn này đã bị phơi bày cả chục năm rồi, thế mà hiện nay các sách giáo khoa học sinh cấp I, II vẫn lì lợm nêu gương Anh hùng Thiếu niên Lê Văn Tám, Sài Gòn vẫn ngang bướng trêu ngươi với công viên Lê Văn Tám, nhiều nơi có trường học Lê Văn Tám, tôn vinh người Anh hùng Thiếu niên bịa bịp, để lớp lớp triệu triệu thiếu nhi-thiếu niên ngây thơ trong trắng Việt Nam noi gương sống theo !?!

12. Từ hơn 35 năm nay, CSVN phát động chương trình “Bảo vệ bà mẹ và trẻ em” (?) đại ý như sau: Vì hạnh phúc và chất lượng cuộc sống tương lai của các em bé đã sinh ra, phải trục giết bớt các em chưa sinh ra từ 1,2 tháng tuổi cho đến 6,7 thậm chí 8 tháng tuổi, mỗi năm ở VN khoảng 2 triệu em; hoặc đặt vòng tránh thai, hoặc hút điều hòa kinh nguyệt (thực chất là phá thai non) đều là các hành vi đạo đức !!! Lập luận theo kiểu của chủ nghĩa Mao trong cuộc đại cách mạng văn hóa (1970-1977) : “Để làm cho hơn 1 tỷ Dân TQ hạnh phúc mà phải giết 30 triệu Dân TQ, đó là hành vi đạo đức !!!”. (Tôi ở tù với một số gián điệp người Tàu, có thời đã là đệ tử trung kiên của Mao, tại K1 Thanh Cẩm, Cẩm Thủy, Thanh Hóa và K1 Nam Hà, Ba Sao, Kim Bảng, Hà Nam những năm 1984-1992, họ đều lập luận như thế).

Dù lấp liếm bao biện gì gì, thì việc trục giết, nạo giết các thai nhi là tội “mẹ giết con cách rất dã man, chủ mưu và đồng phạm”. Ai có lương tri đều phải hiểu chính xác như thế và chỉ được hiểu đúng như thế : “Trục giết vô số nhi thai – Ngút trời tội ác họa tai lâu dài!!!” (Thơ đấu tranh cho Tự do Tôn giáo của tác giả).

“Đặt vòng tránh thai, điều hòa kinh nguyệt là gì”? Chính xác là: Bình thường, với phụ nữ khỏe mạnh, mỗi buồng trứng bên phải và bên trái thay phiên nhau, mỗi tháng một lần, từ buồng trứng của phụ nữ, trứng tốt khỏe mạnh rụng xuống 01 trứng, nằm ở đầu vòi trứng đợi tinh trùng nam 48 giờ. Sau 48 giờ, nó bắt đầu thối rữa và chuyển dần xuống tử cung. 12 ngày sau, cơ thể chủ nhân tống trứng thối ra ngoài với chút máu, gọi là kinh nguyệt. Từ khi trứng rụng đến đầu kỳ kinh, mọi phụ nữ toàn cầu đều có nửa chu kỳ này là 14 ngày. Nhưng từ đầu kỳ kinh đến khi trứng rụng lại của nửa chu kỳ sau thì mỗi phụ nữ không đều nhau : 14, 16, 18, 20, 30, 40,... ngày. Khi trứng đã thụ tinh (em bé rất bé mới chỉ là phôi) sẽ tự di chuyển dần từ cửa buồng trứng, men theo vòi trứng, xuống bám vào thành tử cung để làm tổ. Nếu đặt vào tử cung 1 vòng plastic hình lò-xo ziczac dẹt, khi người phụ nữ di chuyển, xê dịch, thì vòng plastic này sẽ đánh tơi em bé rất bé này, dù chỉ mới 1-2 tháng tuổi. Cơ thể người mẹ sẽ tống xuất em bé đã chết này ra với một ít máu “gần giống như kinh nguyệt”. Do đó, thực chất, phụ nữ nào đặt dụng cụ bị gọi cách gian trá là “vòng tránh thai” này, nếu có sinh hoạt với người nam, mỗi tháng đều có phá thai non một lần mà không biết. (Rất hiếm khi phôi ép vòng qua một bên, nên dù đặt vòng, phụ nữ nào đó vẫn mang thai bình thường).

Nhà cầm quyền CS lừa gạt Dân nghèo dụng cụ phá thai non, phá phôi này là “vòng tránh thai”, trong khi hầu hết các bác sĩ, trí thức đều biết rõ, nhưng rất ít người can đảm và chân tình tận tụy giải thích cho Dân. Tội phá thai non này ai chịu???

Cũng tương tự, khi phụ nữ thấy mất kinh, đến phòng “Bảo vệ bà mẹ trẻ em” xin “điều hòa kinh nguyệt”, thực chất là vô tình hoặc cố ý nhờ cán bộ sát thủ y tế “hút thai non” ra. Tội này ai gánh ???

Thay vì dối gạt Dân nghèo như trên, lẽ ra Chính quyền chân chính cần đầu tư tăng thêm cán bộ y tế am tường sinh học, biết giải thích và chỉ dẫn cho Dân các phương pháp sinh con theo ý muốn hợp đạo đức, như phương pháp Billings,... Ngân khoản ít hơn mà hiệu quả vừa đạo đức, vừa văn minh, vừa ổn định, vừa vững bền.

13. Quá nhiều điều ông HCM tự gian trá hoặc thuộc hạ gian trá về ông ấy mà nhiều sách báo đã chứng minh rồi, sau khi lược qua vài điểm mốc, ở đây tôi chỉ chủ yếu đề cập đến 2 áng văn đặc biệt liên quan đến học sinh-sinh viên và UNESCO có tôn vinh HCM thật không?

- Ngày sinh (19-5-1946 là ngày Hà Nội treo cờ giăng hoa đón Đô đốc Pháp D’Argenlieu, HCM ngụy nhận cho oai);

- Chiếm đoạt biệt danh/bút hiệu của các Nhân sĩ đã nổi tiếng và có hàng trăm tên giả: (Nguyễn Ái Quấc/Quốc là bút hiệu của cả nhóm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Hoàng Quang Giụ, Hoàng Quang Bích, Văn Thu, Nguyễn Như Phong, Nguyễn Văn Tự mà HCM chôm tất cả công trình sách báo của nhóm này thành của Nguyễn Tất Thành (tức HCM); HCM là hiệu của Cụ Hồ Học Lãm, người thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội năm 1935. Sau khi Cụ Hồ Học Lãm qua đời (1938 ?), Nguyễn Ái Quốc (tức Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu, Sáu Sán, Ông Ké) đoạt luôn Hội này năm 1941 và chiếm đoạt trọn đời biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm, sát nhập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội và VN Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội của Trương Bội Công-Nguyễn Hải Thần thành Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi là Việt Minh, vì lúc đó, biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm giới chính khách Trung Hoa và Đồng Minh Âu Mỹ chống Nhật đã biết nhiều);

- Đóng vai sĩ quan T.Lan tự viết “Vừa đi đường vừa kể chuyện” để tự đề cao mình quá lố;

*** Đóng vai nhà báo Trần Zân Tiên (nguyên bản là Zân) tự viết tiểu sử “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” tự ca tụng mình như một Vị Thánh, một siêu nhân;

Tập thơ chữ Hán “Ngục Trung Nhật Ký” (Nhật ký trong tù) thực sự do ai viết?

- Ngày chết (lúc đầu CSVN công bố 3-9-1969, về sau giấu không nổi nữa đành thú nhận là HCM đã “đi gặp Các-Mác Lênin” đúng ngày “Quốc Khánh” 2-9-1969);

- “Di chúc”: Một người phải chịu trách nhiệm chính về thảm nạn đấu tố hết sức tàn bạo và giết bỏ quá dã man kinh hoàng hàng trăm ngàn người Dân vô tội trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất theo bài bản của Mao Trạch Đông những năm 1953-1957 tại miền Bắc Việt Nam, bỏ tù và đày đọa đến kiệt sức chết bằng cưỡng bức lao động hàng vạn nhà trí thức và người Dân bất đồng chính kiến những năm 1945-1969-1975, giết luôn cả người tình-đồng chí của mình, mà đến gần chết vẫn cả gan tiếp tục dối gạt mọi người qua Di chúc : “Suốt đời tôi không ân hận gì hết”, trong khi Đức Khổng Tử dạy rằng : “Người quân tử mỗi ngày sám hối bảy lần”.

UNESCO của LHQ có tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại không?

Nhằm cứu thoát hàng chục triệu học sinh-sinh viên hàng năm vẫn bị buộc học và bị thi đi thi lại đến toát mồ hôi mà lòng trĩu nặng như bị đá đè về thân thế và sự nghiệp của HCM (khá nhiều em thi lại lần 2, 3 vẫn không thể đủ điểm về các môn học gian quái), để khỏi quá dài dòng, điều gian trá thứ 13 của bài này chỉ đề cập 2 “đại tác phẩm” của “Siêu lừa” và vấn đề UNESCO thôi :

13. a) “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Zân Tiên.

Ngay từ đầu, 1948, ban biên tập của NXB Sự Thật đã ngờ rằng chính HCM tự ca tụng mình qua văn phong đậm nét tự thuật. Họ kín đáo so mẫu chữ máy đánh chữ trên bản thảo thấy giống hệt mẫu chữ máy hiệu Hermes của HCM, nhưng không ai dám nói, cứ tạm coi Trần Zân Tiên như một nhà báo cực kỳ bí ẩn xuất quỉ nhập thần nào đó, không ai biết được tung tích. Không thể che giấu mãi được, cuối cùng gần đây các cơ quan chính thức của CSVN đều phải thừa nhận Trần Zân Tiên chính là HCM, vô liêm sỉ đầy mình khi cả gan tự phong là “nhà văn hóa lỗi lạc”, “lãnh tụ vĩ đại”, được “toàn dân gọi là Cha Già Dân tộc kính yêu / Bác vĩ đại”.

Năm 1985, giáo sư Hà Minh Ðức đã xuất bản cuốn “Những Tác phẩm Văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, trong đó có đoạn : ‘‘Ðáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào và bạn bè trên thế giới. Hồ Chủ tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch.’’ (Hà Minh Ðức, sđd, tr 132, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1985).

Thật tội nghiệp là “nhà báo Trần Zân Tiên” không tài nào moi được thông tin gì từ HCM cả : “Nguyên nhân rất đơn giản : Chủ tịch HCM không muốn nhắc đến thân thế của mình”. Trần Zân Tiên đặt lên miệng HCM : “Hiện nay có nhiều việc cần thiết hơn… Còn tiểu sử của tôi, thong thả sẽ nói đến…”. HCM tự viết về HCM : ‘‘Bác Hồ của chúng ta vô cùng khiêm tốn; Bác không muốn kể cho ai nghe về hoạt động của mình; rồi Bác Hồ được nhân dân ta coi là cha già của dân tộc; Bác còn vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Ðạo vì đã đưa dân tộc ta vào kỷ nguyên xã hội chủ nghĩa…’’! Năm 1948 ‘‘vị cha già của dân tộc’’ ấy 58 tuổi !!! Chỉ cần đọc thêm một câu sau đây thôi là hiểu được bản chất thật của HCM. Trần Zân Tiên-HCM tự viết: “Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của Người được ?” (trang 7, 8 hoặc 9 tùy lần xuất bản).

Có những người dùng quyền lực / tiền bạc để bắt người khác ca ngợi mình. Có thể có người mặt dày ẩn danh tự viết tiểu sử mình, nhưng tự tán dương bốc thơm mình cách cực kỳ “khiêm tốn nhường ấy” thì may ra trên đời mới chỉ có một “kết tinh bốn ngàn năm văn hóa của Việt Nam” trâng tráo vô liêm sỉ hết cỡ đến thế mà thôi. HCM đã vi phạm tận gốc những giá trị văn hóa mà tổ tiên ta vẫn hằng nâng niu, trân trọng, giữ gìn từ bao đời nay. HCM đã dùng sự gian trá điêu ngoa tự hủy hoại những giá trị văn hóa thiêng liêng của Dân tộc và Nhân loại.

Điều này không phải là một sự phỉ báng cực kỳ vĩ đại đối với Dân tộc VN và lương tri nhân loại là gì ? Các nhà giáo và trí thức VN thẳng thắn trả lời cho bao thế hệ học sinh Việt Nam đi !!!

13. b) “Ngục Trung Nhật Ký” (Nhật ký trong tù – từ đây gọi là NKTT) được sáng tác bởi ai?

* Về ngoại vi: Theo các tài liệu chính thức của CSVN xuất bản : Từ thôn Ba Mông, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, HCM muốn đi Trùng Khánh để gặp một lãnh tụ CSTQ là Chu Ân Lai, nhưng bị bắt sáng sớm ngày 29-8-1932 tại thôn Túc Vinh, Tĩnh Tây, Quảng Tây cùng với Dương Đào dẫn đường, trên người có nhiều loại tiền, nhiều giấy giới thiệu khác nhau do nhóm HCM tự khắc dấu, tự làm từ Lạng Sơn, VN với các tên cũng khác nhau (Nguyễn Ái Quốc, HCM, Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu) và một số giấy do Trung Quốc cấp từ trước. Trong đó có 2 giấy giới thiệu của Phân hội VN của Quốc tế phản xâm lược (chống Nhật), và của VN Độc Lập Đồng Minh Hội. Do đó, HCM bị nghi là Hán gian, phải ở tù từ 29-8-1942 đến 10-9-1943, trong 18 nhà tù của quan quân Tưởng Giới Thạch ở vùng Tĩnh Tây, Liễu Châu, Thiên Bảo, Bình Mã, Long Tuyền, Điền Đông, Quả Đức, Long An, Đồng Chính, Ung Ninh, Nam Ninh, Quế Lâm,… tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian ở tù 12 tháng 12 ngày ấy, HCM viết NKTT bằng chữ Hán trên hàng trăm tờ giấy rời (nguyên bản). Sau đó, HCM được CSVN phối hợp với CSTQ tìm mọi cách cứu ra tù, nhưng vẫn bị đưa về quản chế hơn 1 năm tại Cục Chính trị Chiến khu 4 của Chính phủ Tưởng Giới Thạch đến 20-9-1944. Thời gian này, HCM ghi chép lại (bản biên tập lại - nguyên bản đã bị HCM hủy bỏ) 133 bài thơ ấy + 1 bài (b.) cuối làm thêm khi vừa ra tù (Tân xuất ngục học đăng sơn, vừa ra tù học leo núi), tất cả 134 bài thơ ngắn, trên 1 sổ nhỏ (9,5cm x 12,5 cm) dày 82 tờ (164 trang) bằng giấy bản tốt hơn, cũng toàn bằng chữ Hán chuẩn, đóng thành 1 tập, ngoài bìa có vẽ hình đôi tay bị xích, ghi thời biểu 29-8-1932 đến 10-9-1933 (lệch trước thời gian bị tù thật đúng 10 năm). Bản dịch phổ biến nhất (134 b.) là của 2 ông Nam Trân-Văn Trực, do Viện Văn Học chịu trách nhiệm xuất bản lần đầu năm 1960, dựa trên bản biên tập lại này. Có lần xuất bản chỉ 111-113 b. Tài liệu khác lại ghi rằng ngay từ đầu HCM đã viết NKTT trên một cuốn sổ nhỏ, và những tháng tù cuối cùng kỳ này HCM bị giam ở nhà tù của Cục Chính trị Chiến khu 4 của Chính phủ Tưởng Giới Thạch. Tại đây HCM tiếp tục viết xong NKTT cho đến ngày ra khỏi tù 10-9-1943. Có tài liệu ghi thời gian ở tù thật sự lần này là gần 14 tháng (28.8.1942-10.1943).

HCM về lại VN cuối tháng 9-1944, mang theo tập thơ, giữa đường từ Pác Bó đi Tân Trào, lưu lại lán tranh của ông Hoàng Đức Triều ở Lam Sơn, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng từ 29-4 đến 9-5-1945. Lần kia HCM tiện tay giắt tập thơ vào mái lán tranh của ông Triều và bỏ quên nó ở đó. Sau khi HCM đi khỏi vài ngày, ông Triều phát hiện tập thơ, cậu Hoàng Triều Ân là con trai út của ông Triều bảo bố cất đi. Gần 5 năm sau, đầu năm 1950, ông Triều trao tập thơ cho cậu Triều Ân dặn là phải gửi cho HCM. Hoàng Triều Ân trao tập thơ cho Bí thư tỉnh ủy Cao Bằng là Dương Công Hoạt. Ông Hoạt giữ nó thêm 5 năm, đến năm 1955, tập thơ được gửi đến Phủ Chủ tịch theo đường công văn : “Gửi văn phòng Chính phủ để trình lên Bác Hồ”. (Tài liệu khác : Khoảng cuối năm 1954, 1 người Nùng về Phủ Chủ tịch tận tay trao lại tập thơ mà HCM đã bỏ quên ở nhà ông ấy). HCM tiếp nhận tập thơ quí của mình, mừng rỡ, cảm ơn, rồi không màng chi đến nó, trao cho phòng lưu trữ của Trung ương đảng Lao Động VN hơn 4 năm nữa (nó bị quên tất cả gần 14 năm).

Đầu năm 1959, ông Phạm Văn Bình (Văn Trực), trưởng ban giáo vụ trường đảng Nguyễn Ái Quốc, tình cờ phát hiện “đại tác phẩm” này, mượn ông Hùng, người quản thủ phòng lưu trữ, đưa về nhà, nhờ ông Văn Phụng dịch chữ Hán, rồi ông Văn Trực (PVBình) dịch thành thơ quốc ngữ. Sau đó, ông Bình trao tập thơ gồm 133-134 b. cho 2 ông Trường Chinh, Tố Hữu. Ông Tố Hữu giao cho 2 ông Đặng Thai Mai và Hoài Thanh thuộc Viện Văn Học trách nhiệm xuất bản. 2 ông Mai-Thanh lại giao cho ông Nam Trân cùng ông Văn Trực xem lại bản dịch để tháng 5-1960 xuất bản vừa là lần đầu, vừa đại trà 47 vạn bản (NXB Phổ Thông 45 vạn bản, NXB Văn Hóa 2 vạn bản) kịp mừng HCM 70 tuổi và phổ cập cho toàn dân học tập (sau gần 16 năm 4 tháng kể từ khi nó ra đời). Về sau có thêm các bản dịch khác, nhưng bản phổ biến nhất vẫn là bản dịch của 2 ông Nam Trân-Văn Trực do Viện Văn Học chịu trách nhiệm này. Đến lúc đó, xem ra HCM vẫn thờ ơ lãnh đạm với việc dịch, xuất bản tập thơ “rất lừng danh” của mình. Khi cận vệ đọc cho nghe, HCM chỉ hững hờ nói : “Thơ các chú dịch hay hơn thơ của bác”. Những cận thần đều cho là vì HCM rất mực khiêm tốn, đã siêu thoát khỏi vòng danh lợi thường tình. (Thực ra HCM có tự dịch b.134 với bút danh T.Lan như một dịch giả ẩn danh nào đó).

* Về nội dung: Trong cả tập thơ 133 b. chỉ có 2 câu duy nhất đề cập đến VN khi tác giả tự khẳng định mình là người Việt ở phần mở đầu đoạn II (b.5) của b. Thế Lộ Nan (Đường đời gian nan – b.4-5-6) : Dư nguyên Đại biểu Việt Nam dân, Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân. (Ta vốn là Đại biểu của Dân Việt Nam , Định đến Trung Hoa gặp nhân vật quan trọng), có lẽ HCM khi chép lại (10.9.1943-20.9.1944) đã làm thêm. Còn b.134 “Tân xuất ngục học đăng sơn” (vừa ra tù học leo núi) có câu cuối : Dao vọng Nam thiên, ức cố nhân (Trông lại trời Nam , nhớ bạn xưa) được hiểu về Việt Nam , không có trong tập thơ chính, được HCM làm sau khi đã ra khỏi tù.

Ngoài 3 câu thơ trên, tuyệt nhiên tác giả không hề gợn nhớ đến một danh lam thắng cảnh đặc sắc nào của Việt Nam, không hề hồi tưởng lại một phong tục tập quán nào của người Việt, không hề đề cao một nét đặc trưng hay một đức tính cao đẹp nào của con người thuần Việt, không hề đề cập đến tính chân chất của dân quê hoặc miền quê Việt Nam. Tất cả các Danh nhân và Anh hùng Dân tộc lừng danh như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Lê Quí Đôn, Chu Văn An, Mạc Đỉnh Chi…, các địa danh nổi tiếng của VN như Ba Đình, Bạch Đằng, Chi Lăng, Đông Đô, Đống Đa, Hạ Long, Hoàng Liên Sơn, Sa Pa, Thăng Long, Yên Tử…các biến cố sôi động tại VN, kể cả các đồng chí CSVN của HCM… đều hoàn toàn vắng bóng trong NKTT. Tất cả đều chỉ nói về đất nước Trung Quốc, người Hán và quan quân Tưởng Giới Thạch… kể cả tâm sự của tác giả cũng đa phần là của một người Hán, nhiều bài lại là tâm sự của một người Hán tầm thường nữa.

*Thử phân tích đôi điều: - Tôi đã ở tù 5 lần (1968 tại quận 8, Sài Gòn; 1977 tại Thừa Phủ, Huế; 1983-1992 tại Thừa Phủ, Huế + Thanh Cẩm, Thanh Hóa + Nam Hà, Hà Nam; 2001-2005 tại Thừa Phủ, Huế + Nam Hà, Hà Nam; 2007-2010 tại Thừa Phủ, Huế + Nam Hà, Hà Nam). Cũng như hầu hết các tù nhân khác mới bị bắt + tạm giam, như CSVN vẫn rêu rao, thời nay “văn minh – nhân đạo” hơn thời Tưởng Giới Thạch rất nhiều, thế mà một mảnh giấy, một cây bút bi cũng rất khó có, rất hiếm khi Cán bộ lờ đi hoặc cho dùng. Chỉ khi nào đã xử xong, ở trại giam, tùy loại tù nhân có thể được giữ giấy bút và cũng chỉ tùy từng giai đoạn. Làm sao trong tù thời ấy HCM mới bị bắt và đang bị tạm giam mà có sẵn giấy, bút lông, mực xạ dễ dàng đến thế ? HCM xuất nhập trại 18 lần, chuyển trại 17 lần, mỗi lần phải đi bộ hàng mấy chục cây số, làm sao che mắt nổi quan quân Tưởng Giới Thạch với hàng trăm mảnh giấy ghi thơ trực tiếp phê phán chế độ lao tù “rất khắc nghiệt” của họ Tưởng ? Thần thông biến hóa hơn lão Tôn Ngộ Không chăng !?! Bị tù gần 2 năm ở Hồng Kông (6.1931-1.1933) lâu hơn, điều kiện tốt hơn, thuận lợi hơn, văn minh hơn rất nhiều, nhưng tại sao HCM không làm một bài thơ nào?

- HCM bị bắt vì bị nghi là Hán gian. Vậy sự thường, cách tốt nhất để chứng minh mình không phải là Hán gian, là bằng mọi cách HCM phải luôn khẳng định mình là người Việt (như 2 câu mở đầu đoạn II (b.5) của bài Thế Lộ Nan : “Ta vốn là Đại biểu của Dân Việt Nam, Định đến Trung Hoa gặp nhân vật quan trọng”, mà nhiều người cho rằng khi chép lại ở Cục Chính trị Chiến khu 4, HCM đã thêm đoạn II - 4 câu này - vào sau), phải làm thơ bằng tiếng Việt, sao lại bằng chữ Hán ? Là nói nhiều về Việt Nam, sao lại chỉ nói về Trung Quốc, người Hán ? Là luôn tự hào mình là người Việt Nam, sao lại tự hào mình là một “lương Hán (hán)”, sao chỉ đến khi ra tù mới nhớ đến trời Nam ? Lạ lùng nhất là tại sao HCM lại phải tự hạ đến mức là “nô thần, nghiệt tử” của lãnh tụ Tưởng Giới Thạch (Độc Tưởng công huấn từ b.120) ???

- Thường tình hợp lẽ tự nhiên nhất, khi bị bắt, với các loại tiền, nhiều giấy tờ, tên tuổi trên người, HCM trước tiên đã phải bị nghi là một người Việt rất nguy hiểm, đang có âm mưu chính trị gì đó khi xâm nhập vào Trung Quốc, chứ không thể bị nghi là Hán gian được. Phải chăng việc bị nghi là Hán gian là do chính HCM tự hô lên cốt để dễ ăn khớp với ý thơ của Ngục Trung Nhật Ký của một người Hán nào đó quả thật đang bị chê trách là đồ Hán gian, như tác giả tâm sự ở đoạn III bài Thế Lộ Nan (b.9) : Trung thành, ngã bản vô tâm cứu, Khước bị hiềm nghi tố Hán gian (Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng, Lại bị tình nghi là Hán gian). HCM chỉ có thể bị nghi là Việt Cộng, Việt gian, chứ không thể bị nghi là Hán gian được !!!

- Các bài “Nan hữu Mạc mỗ” (Bạn tù họ Mạc-b.26), “ Nan hữu nguyên Chủ nhiệm L.” (Bạn tù L. nguyên là Chủ nhiệm-b.27), “Long An Lưu Sở trưởng” (Sở trưởng Long An họ Lưu-b.40), “Quách tiên sinh” (Tiên sinh họ Quách-b.91), “Mạc Ban trưởng” (Ban trưởng họ Mạc-b.92), “Mông ưu đãi” (Được ưu đãi-b.110), “Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên (Khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng-b.114), “Lương Hoa Thịnh tướng quân thăng nhậm Phó Tư lệnh” (Tướng Lương Hoa Thịnh thăng chức Phó Tư lệnh-b.121),“Tặng tiểu hầu Hải” (Tặng chú hầu Hải- b.122), “Trần Khoa viên lai thám” (Khoa viên họ Trần tới thăm-b.126), “Tức cảnh” (b.132) chỉ toàn ca tụng hoặc đề cập đến người Tàu/Hán: Trương Phi, Quan Vũ, chúc mừng, khen tặng, đón tiếp, mô tả các Tướng lãnh, Đại nhân họ Mạc, Chủ nhiệm L., họ Lưu, họ Quách, họ Lương, họ Ngũ, họ Hoàng, họ Trần, họ Tưởng, chú giúp việc người Tàu…

- Bài “Dạ Bán” (Nửa đêm-b.99) mở đầu : Thụy thì đô tượng thuần lương Hán, Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân (Ngủ thì ai cũng là người Hán tốt, Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền). Hán đây cũng có thể hiểu là người đàn ông : hán tử, hảo hán. Ngủ thì ai cũng là chàng hảo hán tốt. Nam Trân dịch gượng : Ngủ thì ai cũng như lương thiện. Hoàng Quảng Uyên dịch diễn nghĩa o ép : Lúc ngủ, mọi người đều có vẻ thuần hậu. Đâu là sự thật ?

- Bài “Song Thập Nhật Giải Vãng Thiên Bảo” (Tết Song Thập Bị Giải Đi Thiên Bảo-b.28) mở đầu : Gia gia kết thái dữ trương đăng, Quốc Khánh hoan thanh cử quốc đằng. (Nhà nhà hoa Tết với đèn giăng, Quốc Khánh reo vui cả nước mừng). Vì sao HCM lại nặng lòng với Quốc Khánh Song Thập của Trung Hoa Dân Quốc, để mừng Cách Mạng Tân Hợi 10-10-1911 ở Vũ Xương, Trung Quốc đến thế ?

- Bài “Hầu Chủ Nhiệm Ân Tặng Nhất Bộ Thư” (Chủ nhiệm họ Hầu tặng một cuốn sách-b.127) : “Khoảnh thừa Chủ nhiệm tống thư lai, Độc bãi tinh thần giác đốn khai, Lãnh tụ vĩ ngôn như tại nhĩ, Thiên biên oanh động nhất thanh lôi” (Sách Ngài Chủ nhiệm mới đưa sang, Đọc đoạn, tinh thần chợt mở mang, Còn vẳng bên tai lời lãnh tụ, Chân trời một tiếng sấm rền vang). Hầu Chủ nhiệm tức Hầu Chí Minh, Chủ nhiệm chính trị chiến khu 4, người đã trực tiếp thả Hồ Chí Minh theo lệnh của Tưởng Giới Thạch. Cụ Hồ Học Lãm thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội năm 1935. Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc (cũng là Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu, Sáu Sán, Ông Ké) đoạt luôn Hội này và đoạt luôn biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm, sát nhập VN Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội của Trương Bội Công – Nguyễn Hải Thần thành Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi là Việt Minh, do HCM làm lãnh tụ. HCM còn lắng nghe “…vẳng bên tai lời lãnh tụ” Trung Hoa nào nữa ? Như vậy vị lãnh tụ nào đó và tác giả đều là 2 người Tàu, không thể là 2 người Việt được !

- Một số bài đề cập đến các việc rất lặt vặt, lời văn quá thô thiển như : Chúc than (Hàng cháo-b.38), Quả Đức ngục (Nhà lao Quả Đức b.39), Bào Hương cẩu nhục (Thịt chó ở Bào Hương-b.82), Nhân đỗ ngã (Nhân lúc bụng đói-b.125),… chỉ là văn chương của tù thường phạm, sao có thể xứng đáng là tâm tư của một lãnh tụ đang nóng lòng cứu nước thương dân ?

* Độc đáo nhất là bài “Độc Tưởng công huấn từ” (Đọc lời giáo huấn của Ông Tưởng”-b.120) : Trong phòng giam, nhân đọc Lời Giáo Huấn của Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch, tác giả là thuộc hạ, con cái càng tăng thêm quyết tâm kiên trì chiến đấu : “Bách chiến bất hồi, hương tiền tiến, Cô thần nghiệt tử, nghĩa đương nhiên; Quyết tâm, khổ cán dữ ngạnh cán, Tự hữu thành công đích nhất thiên” (Gian khó không lùi vẫn tiến lên, Thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu, đương nhiên phải giữ nghĩa; Quyết tâm cố gắng cương nghị, Nhất định có lúc phải thành công) (Cô thần nghiệt tử, ai cũng phải hiểu là : Thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu. Thế mà Đỗ Văn Hỷ cả gan dịch điêu : Thù nhà nợ nước. Hoàng Quảng Uyên lại dịch càn: Phận tôi con bơ vơ nhà tan nước mất để bao thế hệ triệu, triệu sinh viên-học sinh học và thi !!!). HCM đang bị quan quân Tưởng Giới Thạch bắt oan, dù giả bộ làm diễn viên đóng kịch tôn thờ Tưởng Giới Thạch y như thật đến đâu nữa, cũng không thể nào lại vô liêm sỉ đến mức hạ mình bộc lộ tâm can, tự coi là thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu của Tưởng Giới Thạch, nguyện quyết tâm kiên trì chiến đấu cho đến thành công. Trong khi ở nhiều bài thơ khác thì lên án chê trách nhà tù họ Tưởng hà khắc đủ điều. Vậy tác giả thật sự là ai ??? Bộ Chính Trị ĐCSVN và hàng ngàn giáo sư-tiến sĩ-sử gia giả và thật của Bắc Bộ Phủ giải thích sao cho lọt tai đây???

- Khi đã thong thả để chép lại thành 1 tập thơ khổ nhỏ, còn phải đánh lạc hướng bằng cách ghi lệch thời gian ở tù đúng 10 năm trên bìa trước làm gì ? Hoặc là các cận thần cố tình ghi lại thời gian tù dài hơn 12 tháng này (29-8-1932 đến 10-9-1933) cho khớp ngày, tháng trên bìa tập thơ, chỉ cố tình cho lệch đúng 10 năm ? Tại sao lúc đầu, các tài liệu ghi thời gian tù lệch bìa cũng 10 năm nhưng dài gần 14 tháng (28.8.1942-10.1943) ? Nếu nói tập thơ được làm trong khi bị tù gần 2 năm ở Hồng Kông (6.1931-1.1933) thì gần khớp với thời gian ghi trên bìa (29-8-1932 đến 10-9-1933) hơn, nhưng về nội dung thì không có gì ăn khớp cả. Tắc tị. Bó tay.

- Một người rất trâng tráo tự viết tiểu sử mình đến độ vô liêm sỉ, ham mê danh vọng đến nỗi tự tán dương mình như một Vị Thánh “khiêm tốn nhường ấy”, tự phong là “nhà văn hóa lỗi lạc”, “lãnh tụ vĩ đại”, được “toàn dân gọi là Cha Già Dân tộc kính yêu” như HCM-Trần Zân Tiên, đã vì chiến tranh mà quên “đại tác phẩm” của mình ở lán tranh Lam Sơn 11 năm, có thể tạm chấp nhận được. Nhưng vì sao, một người hay làm thơ, yêu thơ đến thế, khi đã vững trên ngai tại Hà Nội rồi, mà còn cố tình bỏ quên “tập thơ kiệt xuất” con đẻ cực kỳ trân quí của mình trong kho đến những 5 năm nữa ? Đến khi nó, sau gần 17 năm, đã được long trọng xuất bản đến thế, để mừng chính sinh nhật thượng thọ 70 của mình, HCM vẫn xem ra thờ ơ lãnh đạm với nó. Có cơ sở nào để cho rằng chỉ vì HCM rất mực khiêm tốn, đã siêu thoát khỏi vòng danh lợi thường tình như những cận thần xun xoe ? Phải chăng HCM không mấy vui vẻ tự hào về “đạo văn kiệt tác” (kiệt tác văn ăn cắp) này ? Nhất là sau khi nghe cận thần xầm xì về Trần Zân Tiên, HCM đâm ra rất e ngại với “đại tác phẩm” hầu hết không phải của mình ? Nhỡ có ai đó tỉnh táo bén nhạy soi mói mà phát hiện ra điều gian ngụy gì thì đại khốn nạn thay !!!

Ngay sau ngày gãy súng 30-4-1975 ít lâu, khi một học giả miền Bắc thuyết trình về NKTT tại Sài Gòn, Giáo sư Lê Hữu Mục đã đứng lên giữa hội trường chất vấn và khẳng định rằng NKTT không phải của HCM. Và Gs Mục đã viết một sách chứng minh như thế. Hiện nay, nhiều “học giả” và nhiều “học thật” cũng cho là như vậy. Phim “Sự thật về HCM” cũng khẳng định NKTT không thể là của HCM.

*** Chỉ sơ lược qua như trên, phải chăng đây là cách giải thích gần sự thật trần trụi nhất mà chúng ta có thể nhận ra: Gần trọn tập thơ Ngục Trung Nhật Ký (NKTT) là do một người Hán nào đó làm, HCM đã chép lại và có thể chỉ làm thêm một số bài như đoạn II - 4 câu của bài Thế Lộ Nan (9), bài “Các báo hoan nghênh Uy-Ki đại hội” (35), bài Việt hữu tao động (79), bài “Anh phỏng Hoa đoàn”(Đoàn Đại biểu Anh thăm Trung Hoa – bài 80), bài Ký Ni-lỗ (Gửi Nê-ru – 87-88), bài Dương Đào bệnh trọng (116) nếu bạn đồng hành của HCM đúng là có một ông Dương Đào... Còn bài Tân xuất ngục học đăng sơn (134) chính HCM nói HCM đã làm sau khi đã ra khỏi tù, không có trong tập thơ chính.

Các giáo sư, giáo viên không nên cứ cúi đầu dạy và bắt triệu triệu học sinh-sinh viên ép lương tâm nhai đi nhai lại một tác phẩm chứa đựng quá nhiều gian trá, mâu thuẫn, uẩn khúc, mà không hề phân tích tự hỏi ngộ nhỡ đa phần nó chỉ là đạo văn (thơ ăn cắp) của một tù nhân người Hán nào đó thì sao ? Trước đây một số giáo sư, giáo viên, người dân chỉ vì dám nói lên vài sự thật nho nhỏ về HCM mà đã bị đi cải tạo mút mùa. Nhưng nay tình hình đã khác, các học trò ruột trường phái HCM sắp hết hơi rồi, không thể tiếp tục gian trá mãi được!

Các nhà nghiên cứu, các nhà giáo và trí thức VN hãy tỉnh táo, can đảm, mạnh dạn, trung thực, thẳng thắn thừa nhận hoặc phanh phui sự dối gạt kéo dài quá lâu trên tâm hồn và lương tri bao thế hệ học sinh Việt Nam . Đó chính là sự giải phóng đích thật mà toàn Dân - nhất là giới trẻ - đang rất bức thiết cần đến !

13. c) UNESCO mù hay sao mà tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại?

Sự thật như sau: Năm 1987, CSVN có đệ trình một đơn xin UNESCO (Tổ chức Văn hóa Giáo dục của LHQ) đến năm 1990 tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của HCM. Tại Paris, khóa họp 24 từ ngày 20-10 đến 20-11-1987, Tiểu ban Văn hóa đã ghi vào nghị trình Đại hội đồng UNESCO năm 1987 danh sách sẽ được tuyên dương năm 1990 gồm 7 người : Phya Anuman Rajadhon (Thái Lan), Thomas Munzer (Đông Đức), Anton Semionovitch Makarenko (Liên Sô), Jawaharlal Nehru (Ấn Độ), HCM (Việt Nam) và Sinan (Thổ Nhĩ Kỳ). Lời tuyên dương HCM dùng trọn bản văn do phái đoàn CSVN soạn cũng như lời tuyên dương các nhân vật khác do phái đoàn quốc gia liên hệ đề nghị, được Đại hội đồng thông qua không thảo luận. Trong khóa họp 24 năm 1987 này, với sự ủng hộ của Tông Thư ký M’Bow, người châu Phi, UNESCO đã ra một Nghị quyết chấp thuận, lời lẽ theo đơn xin của CSVN: “The year 1990 will mark the centenary of the birth of President Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture”. (Năm 1990 sẽ kỷ niệm 100 năm sinh nhật Chủ tịch HCM, anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa lớn).

Nhưng rồi bộ mặt thực của chế độ CS và các siêu lãnh tụ CS Staline, Mao Trạch Đông, Ceaucescu, HCM, Kim Nhật Thành… dần lộ rõ, làm rơi mặt nạ các thần tượng được tô phết mấy chục năm qua. Có quá nhiều chống đối rằng HCM và CSVN vi phạm nhân phẩm nhân quyền, hủy diệt văn hóa, mâu thuẫn với mục tiêu của Liên Hiệp Quốc và UNESCO.

Tân Tổng Thư Ký Frederico Meillor, Tây Ban Nha, cho rằng không cần một Nghị quyết khác để hủy bỏ Nghị quyết năm 1987 ghi nhận đề nghị của VN về việc kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông HCM vào năm 1990, nhưng UNESCO sẽ không tổ chức kỷ niệm và không can dự bất cứ hành động nào để vinh danh HCM tại trụ sở Paris. UNESCO không dự trù ngân khoản cho việc đó. Việt Nam muốn kỷ niệm sinh nhật 100 năm của HCM là tùy ý riêng, không liên quan UNESCO.

Ngày 19.5.1990, UNESCO không tổ chức gì liên quan đến HCM, đồng thời cấm CSVN lấy danh nghĩa UNESCO để tổ chức (hội trường, thiếp mời). CSVN đã tự tổ chức. Ngày 19.5.1990 Sứ quán CSVN chỉ mướn được một phòng sinh hoạt nhỏ của LHQ với khoảng 60-70 khách, hầu hết là Việt kiều CS, vài đảng viên CS Pháp, bạn bè Cuba, Trung Cộng, Bắc Triều Tiên, Kămpuchia, Lào. Vào đúng giờ khắc buổi kỷ niệm của sứ quán CSVN, hơn 100 Việt Kiều đã biểu tình phản kháng ở công trường Fontenoy gần trụ sở UNESCO, đả đảo sự vinh danh HCM, người có tội trước lịch sử nhân loại, đã tàn hại đất nước và dân tộc Việt Nam và 2 nước Kămpuchia, Lào.

Những điều này đã có nhiều tài liệu chứng minh đủ rõ rồi. Nghĩa là có nộp đơn xin thi hoa hậu, ban tổ chức chấp thuận đơn xin, nhưng hoàn toàn bị đánh trượt. Chỉ có thế và chỉ có thế. UNESCO thấy không cần phải lên tiếng xác minh lại. (Xin đọc thêm : “Lật tẩy việc mạo danh UNESCO lừa gạt công luận & 84 triệu Dân VN” do tác giả sưu tập năm 2006).

14. Từ gần 65 năm nay, CSVN luôn phỉnh gạt là VN có Tự do Bầu cử, Ứng cử.

Thực chất là do ĐCSVN tự biên, tự diễn, độc diễn toàn trị. Các Đại biểu ứng cử cũng tự biết mình chỉ là con cờ trong tay Đảng sai khiến, làm bung xung cho trò dân chủ giả hiệu. Còn các Đại biểu đắc cử cũng biết mình chẳng phải là Đại biểu cao cả của Nhân dân gì cả. Đích thật là bù nhìn, hầu như chỉ biết đưa tay biểu quyết nhất trí theo ý của Bộ Chính trị của Trung Ương Đảng. Đây không phải là điều gian trá vĩ đại đẳng cấp HCM siêu lừa ngay giữa cộng đồng quốc tế thì là gì ? Mời Bộ Chính trị giải thích sao cho lọt tai toàn Dân đang dần dần thức tỉnh đây.

15. Nhân dân làm chủ?

“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” thật không? Ai cũng thấy hoàn toàn chỉ là láo lường. Chính xác là : Đảng lãnh đạo Nhà nước, quản lý Nhân dân, làm chủ. Hoặc chính xác hơn nữa là : Đảng CSTQ lãnh đạo, Đảng CSVN quản lý, Nhân dân TQ làm chủ lãnh thổ và nền kinh tế của VN. HCM nói : “Dân chủ là làm cho Dân mở miệng” và “Cán bộ là đầy tớ của Nhân dân”. Nhưng Dân mở miệng là bị bịt miệng ngay, là bị nhốt vào tù tấp bá lị. Đầy tớ mà muốn hăm dọa, đàn áp, bắt bớ, đánh đập, bắn giết… các Ông Chủ sao, lúc nào và bao nhiêu cũng được. Dân chủ kiểu XHCN made in VN là như thế ! HCM cũng nói : “Dân chủ là một báu vật, để sơ hở sẽ dễ mất, phải để vào hòm khóa lại. Chuyên chính vô sản chính là cái ổ khóa để bảo vệ Dân chủ cho khỏi mất” !!! (x. Vũ Đình Hòe, Pháp quyền HCM, 2 tập, tập 1. Sách bị nhốt, chưa ghi số trang, NXB và năm XB được. Mong thứ lỗi).

16. Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam hay của Trung Quốc?

Trước khi về tiếp quản Hà Nội, sáng 19-9-1954 tại cửa Đền Giếng, khu di tích Đền Hùng, núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trước cán bộ Đại đoàn Quân tiên phong, HCM đã nói : “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”(?) HCM muốn liệt mình vào hàng khai quốc ngang hàng các vua Hùng.

Nhưng chỉ 4 năm sau, để Trung Cộng viện trợ vũ khí và lương thực hầu xâm lược miền Nam, CS Bắc Việt đã thỏa thuận ngầm với Trung Cộng. Ngày 4-9-1958, Trung Cộng tuyên bố 2 quần đảo Hoàng Sa (hơn 20 đảo) và Trường Sa (hơn 100 đảo) là của TQ (trong khi Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý canh giữ). Chỉ 10 ngày sau, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Cộng, theo lệnh của HCM, đã ký công hàm xin tôn trọng bản Tuyên bố “ăn cướp” của Trung Cộng và cúi đầu vâng phục. Năm 1974, Trung Cộng xua hải quân đánh chiếm Hoàng Sa, ngoài khơi Đà Nẵng, lính VNCH phải tử trận hơn 150 chiến sĩ. Bắc Việt lúc đó im re, lại còn mê muội vừa nhẫn tâm gọi những người anh em ruột thịt của mình đã liều chết đổ xương máu bảo vệ giang sơn của Tổ Tiên để lại là “Ngụy quân, Ngụy quyền”, vừa hèn hạ gọi quân xâm lược Trung Cộng là “các đồng chí vĩ đại Trung Quốc kính yêu” (Đó là đạo lý của CSVN). Năm 1982, Trung Cộng lại xua quân đánh chiếm thêm hơn 10 đảo thuộc quần đảo Trường Sa ngoài khơi Vũng Tàu của VN.

Hiện nay, trong khi hầu như toàn Dân, nhất là giới trẻ VN, tìm mọi cách để giành lại Hoàng Sa-Trường Sa, thì NCQ CSVN lại theo đuổi một thủ đoạn vòng vo phức tạp : 1) Vừa lật lọng phủ nhận công hàm bán nước ngày 14-9-1958 của CS Bắc Việt rằng : Lúc đó chủ quyền 2 quần đảo này đang thuộc về Chính quyền VNCH Sài Gòn trước công pháp quốc tế, nên công hàm 14-9-1958 của CS Bắc Việt vô giá trị; 2) Vừa tổ chức hội thảo rùm beng về chủ quyền của VN trên 2 quần đảo này để che mắt Dân chúng VN; 3) Vừa úp mở trong hồ sơ chính thức nộp cho LHQ về lãnh hải VN; 4) Vừa không thật lòng quyết tâm bênh vực bảo vệ tàu thuyền và ngư dân VN qua lại vùng biển quanh Hoàng Sa-Trường Sa; 5) Vừa nhượng thêm đất liền qua việc giao đất rừng miễn phí 50 năm cho Trung Cộng lên đến 300 ngàn hécta và tạo điều kiện cho Tàu Cộng có mặt lâu dài ở VN; 6) Vừa thẳng tay đàn áp Dân chúng biểu tình bày tỏ lòng yêu Nước chính đáng của mình về chủ quyền lãnh thổ do Tổ Tiên để lại, đến nỗi Dân và thanh niên VN chỉ dám lén lút ghi tên lãnh thổ của mình bằng các từ viết tắt HS-TS-VN, để khi bị đàn áp quá chịu không thấu thì phải nói dối méo miệng là Học Sinh-Trong Sạch-VN theo gương siêu gian trá của HCM !!!

Nếu CSVN đã trao Hoàng Sa-Trường Sa cho TQ rồi, thì phải công bố thật rõ cho người Dân biết, để Dân VN đừng liều mạng đến mưu sinh quanh 2 quần đảo này nữa, vì không được lực lượng nào bảo vệ hữu hiệu cả.

Còn nếu CSVN thật tâm cương quyết và kiên trì thu hồi lại trọn vẹn 2 quần đảo này thì lẽ ra phải tự hào hãnh diện và vui mừng khuyến khích, tại sao lại bôi mặt và nhẫn tâm đàn áp, bắt giam những người Dân xả thân liều chết biểu tình đòi lại 2 quần đảo đã mất gần hết này?

Nại lý do đây là vấn đề ngoại giao nhạy cảm để 2 đảng CS dễ bề thậm thụt với nhau về một vấn đề cực kỳ hệ trọng đối với SỰ TOÀN VẸN LÃNH THỔ và AN NINH TỔ QUỐC như thế, có thể tiếp tục lừa bịp toàn Dân đang thức tỉnh không ???

Thay lời kết

Những ai tự coi hoặc được gọi là Trí thức, Sĩ phu,... đã biết rõ 16 điều gian trá vĩ đại siêu lừa trên, mà vẫn hoặc im lặng đồng lõa tiếp tay, hoặc đã hèn nhát ngậm tăm hàng mấy chục năm nay : Lẽ nào lại cam tâm đồng lõa với tội ác ngút trời trục giết vô số thai nhi sao ? Hay đồng lõa với tội ác giết người cướp đất sao ? Lẽ nào biết được mỗi năm hàng chục triệu học sinh-sinh viên phải cúi đầu ép lòng học những điều dối trá, mà có thể coi như không có gì đụng đến mình sao ? Lẽ nào lại cam phận tiếp tục sống ô nhục vậy mãi được sao ? Lẽ nào yên lương tâm mà đọc sách thánh hiền sao ? Lẽ nào cứ tiếp tục hăng hái đi bầu cách miễn cưỡng giả tạo như vậy mãi, lại còn thúc giục người thân, thuộc nhân tham gia trò hề dân chủ giả hiệu ấy mà không tự thẹn sao ???

Những ai chưa biết, hoặc chưa nhận ra hết 16 điều gian trá vĩ đại đẳng cấp HCM siêu lừa nêu trên, thì nay kính mời lắng nghe, thấu hiểu và tiếp tục nghiên cứu sâu rộng hơn, nhất là tìm cách tự giải thoát, để có khả năng giúp càng nhiều người Dân càng tốt, càng sớm càng mừng :

Từ bớt sợ hãi đến hết sợ hãi. Từ bớt nói dối đến hết nói dối.

Tương lai Tổ quốc-Dân tộc chúng ta trước tiên và cơ bản cốt tại 2 điều này, làm nền tảng cho tất cả các điều hệ trọng bức thiết khác tiếp theo.

Xin chân thành cảm ơn nhiều, nhiều lắm và rất nhiều.

Lm TNLT Nguyễn Văn Lý
Huế, 14-8-2010


Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Tue May 13, 2014 9:27 am


Những sự thật không thể chối bỏ (phần 11) - Lừa dối dân tộc!




Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Chủ nghĩa cộng sản là một thứ chủ nghĩa tai hại đối với dân tộc Việt Nam kể từ khi nó mới được du nhập bởi ông Hồ Chí Minh. Hậu quả đến bây giờ dân tộc ta đang gánh chịu với nhiều tang thương, mất mát. Trước đây đảng cộng sản vẫn tuyên truyền ông Hồ Chí Minh là một người yêu nước, dùng chủ nghĩa cộng sản để giành độc lập cho dân tộc. Nhưng sự thật không phải vậy. Có những bằng chứng xác thực về việc ông Hồ đã lừa đảo cả dân tộc bằng nhiều thủ đoạn núp bóng tinh vi.

Hoạt động cho dân tộc hay chỉ vì lợi ích bản thân mình?

Ông Hồ Chí Minh trong cuốn sách của mình “Vừa đi đường vừa kể chuyện” với bút danh Trần Dân Tiên đã tự coi mình là “Vị cha già dân tộc” để ca ngợi mình đã có lòng yêu nước từ bé, đi học theo chủ nghĩa cộng sản để giải phóng quê hương. Nhưng có thật vậy không? Không phải vậy.! ông Hồ đơn thuần hoạt động để nuôi sống chính bản thân mình và phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản. Sau đây là phần chứng minh của tôi về việc ông Hồ chỉ đơn thuần hoạt động cho quốc tế cộng sản nhằm nuôi sống chính bản thân mình.

Thứ nhất, chúng ta hãy ngược trở lại thời điểm vào năm 1927 để thấy rõ hơn bộ mặt thật của ông Hồ trong vấn đề ông ta hoạt động cho dân tộc hay ông ta hoạt động cho Quốc tế cộng sản và cho cuộc sống bản thân ông ta.

Trong cuốn: “Văn Kiện Đảng Toàn Tập” của nhà xuất bản Sự thật (Đảng cộng sản Việt Nam) - tập 1 có đoạn trích như sau:

“Tháng 11, 1927, bác Hồ được Quốc Tế Cộng Sản phái đi Pháp công tác. Bác Hồ rời Moscow đi qua Đức, rồi bí mật đi vào Pháp. Tại Pháp Bác tìm hiểu những cơ sở của đảng cộng sản Pháp tại Đông Nam Á nhằm phối hợp cho chuyến công tác của ông tại Xiêm do Quốc tế cộng sản giao phó...”

... “Sau 1 tháng rưỡi hoạt động bí mật tại Paris theo chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản, Bác trở về Berlin. Ở đây, Quốc tế cộng sản lại chỉ thị cho Bác đi Bruxelles, thủ đô nước Bỉ dự hội nghị Quốc Tế Liên Đoàn Chống Đế Quốc. Chuyến đi này do Sa-tô-pa-đi-a-I-a, một đảng viên cộng sản Ấn Độ tổ chức. Đến hội nghị, Bác gặp lại những người đã từng làm việc với Bác vào những năm 1923-1924. Hội nghị chấp dứt, Bác trở về Đức, chờ chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản cho chuyến đi về Đông Nam Châu Á. Ở đó, Bác làm phóng viên cho tờ báo Đức Die Welt (Thế Giới)…”

Đến đây có một câu chuyện cần suy xét. Trong lúc làm việc với tư cách là phóng viên, ông Hồ viết thư lên đoàn Chủ Tịch Quốc Tế Nông Dân xin tiền. Nội dung bức thư được viết với lý do là đi về công tác tại vùng Đông Nam Á, nhưng chúng ta nên lưu ý là lúc này Quốc Tế Cộng Sản chưa có quyết định dứt khoát đưa ông Hồ về Xiêm (Thái) hoạt động thì tại sao ông ta phải xin tiền với lý do đi công tác?. Nội dung bức thư viết vào ngày 16-12-1927 như sau:

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân


Các đồng chí thân mến,

Trong 2 hoặc 3 tuần lễ tôi sẽ trở về Đông Nam Á. Chuyến đi của tôi tốn chừng 500 đôla Mỹ. Vì tôi không có tiền, nên tôi mong các đồng chí giúp tôi. Xin vui lòng trả lời tôi ở địa chỉ như sau: Ông Lai, ở nhà ông écxten, 21 phố Halesơ, Béclin. Trong thư trả lời này, hãy viết đơn giản "có" hoặc "không". Nếu là có, hãy gửi tiền đến Ủy ban Trung ương của Đảng Đức, cho "Liwang". Có hay không có tiền, tôi yêu cầu các đồng chí gửi cho tôi một chương trình tổ chức thực hành để tôi có thể làm việc một cách có ích. Trong khi chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng có được tức thời, xin các đồng chí thân mến nhận lời chào cách mạng của tôi.

Béclin, ngày 16-12-1927

N. ÁI QUỐC

Bức thư được trích dẫn từ cuốn Hồ Chí Minh toàn tập - tập 2, trang 223-224.
Links: http://d.violet.vn/uploads/resources/557/1033743/preview.swf
(đây là links của thành đoàn thanh niên cộng sản Tỉnh thừa thiên Huế).

Trong lá thư nói trên ông Hồ xin 500 Usd. Chúng ta cũng nên biết ở thời điểm 1927, trong khi lương của giáo sư đại học tại Mỹ lúc có chỉ có 40 Usd/một tháng. Nghĩa là ông Hồ xin hơn gấp 10 lần số lương của một giáo sư đại học để đi công tác. Nhưng thật sự lúc đó Quốc Tế Cộng Sản chưa có chỉ thị chính thức để đưa ông Hồ về lại vùng Đông Nam Á. Vậy ông ta xin tiền làm gì? Và tại sao lại bịa ra lý do đi công tác? Đây cũng là một điểm cho thấy tính gian xảo của ông Hồ. Cũng đồng thời cho thấy ông ta không vì dân tộc, đơn thuần chỉ vì miếng ăn, quyền lực phục vụ cho đảng cộng sản mà thôi.

Về con người, chuyện ăn uống, tiêu pha là chuyện bình thường, ai cũng có nhu cầu đó. Nhưng khi không đi công tác mà phải khai khống lên để xin tiền từ tổ chức thì con người đó có xứng đáng với những lời tuyên truyền “Cần, kiệm, liêm, chính” của đảng cộng sản vẫn rêu rao về con người ông Hồ hay không? Bằng chứng của việc ông Hồ không đi công tác mà vẫn xin tiền là việc ông ta phải viết thư xin việc vào tháng 04/1928 sau một thời gian quốc tế cộng sản không
Gửi một đồng chí trong Quốc tế Cộng sản
dùng ông ta. Bức thư gửi quốc tế cộng sản có trong cuốn Hồ Chí Minh toàn tập - tập 2 như sau:

Đồng chí thân mến,

Tôi gửi cho đồng chí một bản sao bức thư tôi gửi cho Ban phương Đông để đồng chí được biết. Đồng thời tôi rất cảm ơn về việc đồng chí quan tâm đến vấn đề của tôi và nhanh chóng trả lời tôi. Đồng chí có thể hình dung nổi tôi đang sống trong một tình trạng tinh thần và vật chất như thế nào không: biết là có nhiều công việc nhưng không thể làm gì được, ăn không ngồi rồi, không có tiền, sống ngày nào hay ngày ấy mà không được phép hoạt động, v.v...

Ngay cả khi những sự vận động của đồng chí không có kết quả, đồng chí cũng viết cho tôi một chữ gửi Ủy ban Trung ương Quoc Te Nong Dan để tôi liệu quyết định. Hôm nay là ngày 12-4, tôi hy vọng nhận được tin tức của đồng chí vào ngày 24 tới. Tôi tin cậy ở đồng chí và gửi đến đồng chí lời chào cộng sản anh em.

NGUYỄN ÁI QUỐC 12-4-1928

Bức thư đã minh chứng cho việc trong thời gian từ 12/1927 đến tháng 04/1928 ông Hồ không hề được giao việc gì, ông ta không đi công tác mà dám xin tiền để đi công tác là lừa dối ngay cả đồng chí của mình.

Thứ hai, ông Hồ đã công khai nói về việc mình hoạt động là hoạt động cho quốc tế thứ 3 chứ không phải cho dân tộc.

Đây là bức thư của HCM gởi cho Quốc Tế Cộng Sản yêu cầu lương công tác 100 Usd/ tháng ở thời điểm 1924. Bức thư được trích trong Hồ Chí Minh toàn tập- tập 2 (xem thêm ở links trên).

Thư gửi Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản


Từ lúc tôi tới Mátxcơva đã có quyết định rằng sau 3 tháng lưu lại ở đây, tôi sẽ đi Trung Quốc. Bây giờ đã là tháng thứ chín tôi lưu lại và tháng thứ sáu tôi chờ đợi, vậy mà việc lên đường của tôi chưa được quyết định. Vậy chuyến đi sẽ là một chuyến đi để khảo sát và nghiên cứu.

Thiết lập những quan hệ giữa Đông Dương và Quốc tế Cộng sản.

B- Thông báo cho Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của thuộc địa này.
C- Tiếp xúc với các tổ chức đang tồn tại ở đó, và
D- Tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền.

Tôi hành động thế nào để hoàn thành nhiệm vụ này? Số tiền cần thiết cho sự ăn ở của tôi sẽ là bao nhiêu? - Hẳn là tôi sẽ phải đổi chỗ luôn, duy trì những mối liên hệ với các giới khác nhau, trả tiền thư tín, mua những ấn phẩm nói về Đông Dương, tiền ăn và tiền trọ, v.v., v.v.. Tôi tính rằng, sau khi tham khảo ý kiến các đồng chí người Trung Quốc phải có một ngân sách xấp xỉ 100 đôla Mỹ mỗi tháng, không kể hành trình Nga - Trung Quốc (vì tôi không biết giá vé).

Ngày 11-4-1924.

Qua bức thư nói nói trên chúng ta thấy gì? Đó là ông ta không được giao nhiệm vụ để làm việc. Điều này cho thấy ông Hồ không tài giỏi như cách ca ngợi của Đảng cộng sản Việt Nam mà thực chất vấn đề ông ta đã bị Quốc tế thứ 3 bỏ rơi do kém năng lực, phải viết đơn thư xin việc đến 2 lần. Ngoài ra qua các bức thư còn nói lên một sự thật hoàn toàn rằng ông ta làm những công việc hoạt động cho Quốc tế thứ 3 đơn thuần là làm đã lĩnh lương như bao người. Việc lĩnh lương khi làm công cũng không có gì là đáng nói, đó là chuyện bình thường. Nhưng điều không bình thường là sau này ông Hồ đã tự ca ngợi mình bằng một luận điệu “yêu nước, thương dân” khi đi hoạt động cách mạng trong cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện” của chính ông ta.

Thứ ba, trong quá trình công tác của mình, ông Hồ cũng chứng tỏ việc mình làm cho quốc tế thứ 3 đơn thuần chỉ là công việc làm bình thường của một cá nhân làm công ăn lương đúng nghĩa. Điều này trái hẳn với sự “thần thánh” đi tìm đường giải phóng cho dân tộc của ông ta mà chính ông ta và đảng cộng sản ra sức tô vẽ. Đây là một minh chứng cho điều ấy. Đây là bức thư trích trong Hồ Chí Minh Toàn Tập - tập 2 (xem thêm ở links trên)

Gửi đồng chí Pêtorốp, Chủ tịch Ban Phương Đông

Tôi đã nhận được bức tối hậu thư của Sở quản lý nhà giục phải trả 40 rúp 35 côpếch về chỗ ở của tôi, không có thì tôi sẽ bị đưa ra tòa. Trong những tháng, tháng mười hai, tháng giêng và tháng hai tôi thuê phòng số 176, ở đây bao giờ cũng có 4 và 5 người thuê. Ban ngày thì tiếng ồn liên tục ngăn trở tôi làm việc. Ban đêm tôi bị rệp ăn thịt, không cho tôi nghỉ ngơi. Từ tháng ba, tôi nhận một phòng nhỏ, rất nhỏ. Sở quản lý nhà buộc tôi gánh 13 rúp 74 cho tháng ba, và 11 rúp 61 cho những tháng sau.

So sánh không gian hẹp và trang bị nội thất quá đơn sơ với các phòng khác rộng hơn nhiều, tiện nghi hơn, có nhiều đèn, điện thoại, tủ, ghế bành dài, phòng tắm, v.v. và tiền thuê thỏa đáng thì giá mà người ta muốn buộc cho tôi là hoàn toàn đáng công phẫn. Vì vậy tôi xin đồng chí vui lòng làm một cuộc điều tra. Và sau cuộc điều tra đó, với mọi quyết định của mọi tòa án, tôi tuân theo tinh thần của đồng chí về công bằng và bình đẳng.

3-1924

Có thể thấy trong quá trình đi làm cách mạng và “tìm đường cứu nước” của mình ông Hồ luôn luôn được Quốc Tế Cộng Sản cung cấp nơi ăn chốn ở. Khi được cấp nhà nhỏ quá thì ông Hồ than và không đồng ý, kều nài phải xét lại và cho một chỗ ở thoải mái hơn. Nếu một người vì lý tưởng như ông Hồ và đảng ca ngợi sao phải kêu than những chuyện rất nhỏ nhặt đó? Những chuyện đó với một thanh niên bình thương có gì là quá phức tạp đâu? Tại sao cứ phải viết thư kêu xin? Điều này chứng tỏ ông Hồ thật ra không có lý tưởng yêu nước mà đơn thuần ông ta cũng như nhiều người bình thường khác - đi làm công ăn lương - khổ không chịu được thì xin. Một sự việc cũng nhỏ nhưng chứng tỏ cuộc sống riêng tư của ông Hồ được đặt trên cả lý tưởng của dân tộc. Vậy có coi ông Hồ đi hoạt động lúc này là do lý tưởng, do yêu nước không?

Kết hợp với việc bất cứ vấn đề gì ông Hồ lại phải viết thư cho ban Phương Đông của Quốc Tế Cộng Sản cho thấy một điều: ông Hồ chỉ là nhân viên của Quốc Tế Cộng Sản.

Thứ 4, trong cuốn sách nghiên cứu khá sâu sắc về quốc tế cộng sản “Chủ thuyết của chúng ta” của học giả  A.Schenalder - một đảng viên đảng cộng sản CHDC Đức - được ấn hành tại Đông Đức năm 1981, trên trang 93 có nói đến nhân vật Hồ Chí Minh được tạm dịch như sau:

“Người cộng sản chân chính không đánh giá quá cao về tấm lòng nhiệt thành và lý tưởng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh). Nhiều vị lãnh tụ như Stalin nhận thấy ở ông ta một sự tư lợi cá nhân mà một người có tinh thần dân tộc ít có.”

Đoạn trích cho thấy ngay cả người cộng sản trong thâm tâm họ cũng nghĩ rằng ông Hồ không phải hoàn toàn hoạt động vì vấn đề dân tộc mình, ông ta nặng về “sự tư lợi” cho bản thân thì đúng hơn. Điều này cho thấy ông Hồ không hề hoạt động đơn thuần cho lý tưởng dân tộc mà chỉ vì lợi ích cá nhân.

Thứ 5, hơi ngược lại một chút, bạn đọc vui lòng đọc lại Phần 1 của “Những sự thật không thể chối bỏ”. Trong phần này tôi đã chứng minh thật ra ông Hồ ra đi khỏi Việt Nam từ bến nhà Rồng không phải là để tìm đường cứu nước. Đơn thuần đó là đi kiếm ăn do gia đình thất thế bằng minh chứng là việc 2 lần viết thư làm tay sai cho Pháp. Như vậy thực chất từ đầu quá trình cho đến lúc đi làm tay sai cho quốc tế cộng sản thì ông Hồ cũng chỉ vì mục tiêu cuộc sống riêng của mình là chính. Còn việc thần thánh hóa như cách ông ta nói về sự ra đi tìm đường cứu nước của mình chỉ là sự dối trá.

Kết luận: Ông Hồ làm tay sai cho chủ nghĩa cộng sản chỉ đơn thuần là muốn kiếm sống cho bản thân và can tâm làm tay sai cho chủ nghĩa cộng sản quốc tế nhằm nhuộm đỏ quê hương Việt Nam.

Lừa dối dân tộc: Chủ nghĩa cộng sản núp bóng chủ nghĩa dân tộc.

Chủ nghĩa dân tộc là một chủ nghĩa tôn vinh giá trị của dân tộc lên hàng đầu. Dù bất cứ đảng phái nào cũng phải đặt quyền lợi của dân tộc lên trên hết. Chủ nghĩa dân tộc chính là biểu hiện cho sự yêu nước và đồng hành cùng dân tộc. Đó là một chủ nghĩa nhân bản và là nền tảng cho độc lập, tự do của một dân tộc. Tuy nhiên để du nhập chủ nghĩa cộng sản, nắm giữ quyền lực thì ông Hồ đã mượn chủ nghĩa dân tộc như một bức bình phong để thực hiện mưu đồ đó.

1. Coi thường các vị anh hùng dân tộc và phỉ báng tôn giáo:

Một người theo chủ nghĩa dân tộc không thể coi thường những vị anh hùng của chính dân tộc mình và phỉ báng tôn giáo. Những hành động này của ông Hồ nói lên thực chất ông ta không yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc mà chỉ yêu nước xã hội chủ nghĩa cho riêng ông ta và các đảng viên của ông ta.

Thứ nhất, ông Hồ hết sức coi thường các vị Thánh nhân đã anh hùng giải phóng dân tộc và tự phụ mình đứng ngang hàng với họ. Khoảng trước năm 1950, trong buổi viếng thăm đền Kiếp Bạc thờ Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, ông Hồ có làm một bài thơ Đường nhan đề “Viếng Đền Kiếp Bạc”. Bài thơ như sau:

Vốn tay hào kiệt, vốn anh hùng
Tôi Bác cùng chung nợ kiếm cung
Bác thắng quân Nguyên thanh kiếm bạc
Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng
Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dắt năm châu đến đại đồng
Bác có linh thiêng cười một tiếng
Mừng tôi cách mạng sắp thành công
(trích Nguyệt San Bất Khuất, số 2 tháng 4 năm 1990, trang 47).

Để nói về sự bất kính này của ông Hồ giành cho vị anh hùng dân tộc hơn ông ta đến hàng trăm tuổi đời mà ông ta dám xưng “Tôi-Bác” cho thấy sự ngạo ngược của ông ta. Dùng chủ ngữ ở đây như thể ông ta coi mình đứng ngang hàng với Đức Thánh Trần. Xét về cả công lao lẫn tuổi đời, ông Hồ không thể dùng chủ ngữ Tôi-Bác ở đây. Đó là một sự hỗn xược với tiền nhân có công với Tổ quốc. Một người hỗn xược với thánh nhân dân tộc như vậy liệu có yêu Tổ quốc, có tôn sùng chủ nghĩa dân tộc không? Chắc chắn là không. Vậy sự thật ra ông Hồ không yêu nước, yêu dân tộc mà chính là ông yêu chủ nghĩa cộng sản của ông ta với mục tiêu "Tôi dắt năm châu đến đại đồng". Và hẳn chúng ta cũng không quên khi chết ông Hồ cũng chỉ muốn gặp “Các Mác-Lê Nin” chứ đâu có muốn gặp những tiền nhân anh hùng của dân tộc.

Thứ hai, ngoài việc hỗn xược với tiền nhân ông Hồ còn “Cộng sản hóa” cả tôn giáo. Đó là một điều cấm kỵ và hết sức ngược đời. Nhân kỷ niệm 118 năm ngày của ông Hồ (năm 2008), Nhà xuất bản Thanh Niên cho xuất bản cuốn sách "Hồ Chí Minh- Cứu Tinh Dân Tộc Việt". Cuốn sách trong trang 253-254 trích cuộc nói chuyện của ông Hồ với giáo dân ở Vạn Phúc - Hà Đông có câu nói của ông ta với bà con giáo dân: “Nếu chúa còn sống đến bây giờ thì chúa cũng làm cộng sản”.



(links giới thiệu sách: http://tiki.vn/ho-chi-minh-cuu-tinh-dan-toc-viet.html)





Qua câu phát biểu của ông Hồ chúng ta thấy được gì? Đó là ông ta đánh đồng một cách thô thiển tôn giáo với cộng sản. Đạo Thiên Chúa luôn dạy con chiên ngoan đạo, không giết người, sống có trách nhiệm với gia đình (không ly hôn), có trách nhiệm với bản thân mình (không tự tử)… nhưng chủ nghĩa cộng sản thì sao? Đó là đấu tranh giai cấp tàn bạo, phải giết người… Vậy thì làm sao Chúa có thể làm cộng sản được? Ông Hồ thật sự coi thường và phỉ báng tôn giáo. Ông ta dám đem một đảng phái chính trị có tư tưởng khát máu để so sánh với cả một tôn giáo có truyền thống dạy con người phải biết yêu thương, vị tha? Đó là một sự phỉ báng tôn giáo.

Thứ ba, ngay kể cả với Phật Giáo chính thống (không phải Phật giáo quốc doanh như hiện nay) thì Đảng cộng sản mà đứng đầu là ông Hồ cũng phỉ báng và coi thường. Trong sách của Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Nhân Văn, khoa Tâm Lý Học, trang 46 đoạn nói về Đức, lời Hồ Chí Minh như sau: “Có đức mà không có tài như ông Bụt (Phật), thì không có hại gì cho xã hội, nhưng cũng chẳng có ích lợi gì cho xã hội”. Một sự coi thường Phật giáo đến tệ hại. Ông Hồ Chí Minh dám coi thường cả Chúa rồi đến bây giờ là Phật thì thật là không thể có tình dân tộc ở trong tư tưởng của ông ta.

Thứ tư, trong phạm vi tâm linh và tôn giáo, luật pháp vẫn dành tự do cho những người không tin tưởng Thánh Thần cùng Đức Phật và Đức Chúa. Đó là Tự Do Tín Ngưỡng và những người không tin như vậy có thể vỗ ngực tự xưng rằng mình là vô thần. Trong những nước tự do dân chủ, những người công dân dù là hữu thần hay vô thần vẫn sống hòa hợp bên nhau. Nhưng người cộng sản vô thần thì không được như vậy. Người cộng sản đứng ở lập trường vô thần của mình, nhìn những người hữu thần như kẻ thù cần phải tiêu diệt.

Ngay trong cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu đã nói đến ở phần 5 và 6 của “Những sự thật không thể chối bỏ” thì việc phá bỏ đình chùa, nhà thờ… đã chứng tỏ sự tàn ác của ông Hồ với cả Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo. Khẩu hiệu sau đây của cuộc CCRĐ tàn ác đó đã nói lên sự bất kính của ông Hồ với Tôn giáo: “Tiêu Diệt Năm Thành Phần Của Xã Hội: Trí Phú Địa Hào Và Tôn Giáo Lưu Manh”.

2. Những dẫn chứng khác cho thấy trong Hồ Chí Minh chỉ có chủ nghĩa cộng sản:


Vào thời điểm ông Hồ đem vào Việt Nam, cả quốc tế và nhân dân Việt Nam cũng không hề biết Chủ nghĩa cộng sản là gì, hoặc những người đã biết về nó đều chối bỏ vì đã biết thực chất của nó. Với mục đích cộng sản hóa Việt Nam, ông Hồ đã bày ra chiêu thức núp bóng chủ nghĩa dân tộc yêu nước. Chính vì vậy nhân dân ta đã bị lừa bịp thông qua các cuộc chiến tranh chống Pháp (không cần thiết) và chống Mỹ (phi nghĩa) để làm tăng quyền lực đỏ cho đảng cộng sản và ông Hồ Chí Minh. Đó là lừa dối dân tộc.

Thứ nhất, khi phát hiện ra ông Hồ chính là tay sai của chủ nghĩa cộng sản nên nước Mỹ dân chủ khi nhận được thư xin giúp đỡ của ông Hồ đã im lặng. Nước Mỹ hiểu rõ dã tâm của ông Hồ và đảng cộng sản núp dưới chiêu bài dân tộc nên sau đại chiến thế giới lần 2, Nhật đầu hàng khi nhận 2 bom nguyên tử của Mỹ, ông Hồ lợi dụng thời cơ cướp chính quyền Trần Trọng Kim. Để hợp thức hóa, ông ta gửi điện thư cho TT Mỹ mong được hỗ trợ vì lúc này Mỹ là mạnh nhất. Do đã biết ông Hồ theo cộng sản quốc tế từ 1920, TT Mỹ không trả lời! Sau đây là bức thư ông Hồ gửi cho TT Mỹ 28/2/46



Điều này cho thấy ông Hồ đích thị là một người cộng sản làm tay sai cho quốc tế thứ 3 mà người Mỹ đã biết trước.

Thứ hai, trong phần 10 tôi đã chứng minh việc ông Hồ là đảng viên đảng cộng sản Trung quốc không chỉ 1 mà những 2 lần. Một người yêu nước mình không thể làm điều đó. Nhưng ngoài ra, ông Hồ còn chứng tỏ đảng cộng sản của Việt Nam chỉ là một bộ phận của đảng cộng sản quốc tế và ông ta rất hãnh diện về điều đó. Trong bộ sách Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 4 có một đoạn viết lời giảng dạy của Hồ Chí Minh về Quốc Tế Cộng Sản như sau: “Đệ Tam Quốc Tế là một đảng Cộng sản thế giới, các đảng ở các nước như là chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc gì chưa có lệnh và kế hoạch của Đệ Tam Quốc Tế, thì các đảng không được làm”.

(Links: http://d.violet.vn/uploads/resources/557/1033738/preview.swf)

Điều này cho thấy bản chất tay sai của ông Hồ cho đảng cộng sản quốc tế. Vậy thì lợi ích dân tộc nằm ở đâu? Thực vậy! không thể có lợi ích dân tộc ở đây mà chỉ một màu đỏ máu của chủ nghĩa cộng sản.

Thứ ba, Sau đây là câu chuyện Chỉ Là Cái Nắp Hộp Thuốc Lá, câu chuyện do tác giả Nguyễn Minh Cần kể lại (trang 62, trong quyển Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Những Biến Động Trong Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế). Lúc đó là thời điểm 1950, ông Nguyễn Minh Cần giữ chức Ủy Viên Thường Vụ Tỉnh Ủy Thừa Thiên được Trung Ương Đảng Cộng Sản (lúc bấy giờ là Đảng Cộng Sản Đông Dương) triệu tập ra Việt Bắc dự hội nghị cán bộ để chuẩn bị cho Đại Hội 2 vào năm sau. Lúc đó có nhu cầu cần phải đổi tên Đảng Cộng Sản Đông Dương thành Đảng Lao Động Việt Nam để che giấu bộ mặt cộng sản hầu có thể lôi kéo nhiều tầng lớp dân chúng. Sau khi giải thích cho các đảng viên hiểu rõ ích lợi cần phải đổi tên đảng, Hồ Chí Minh giơ cao nắp hộp thuốc lá thơm “Craven A” về phía có nhãn hiệu và nói: “Đây là Đảng Cộng Sản”, xong ông xoay nắp hộp về phía không có nhãn hiệu và nói: “Còn đây là Đảng Lao Động.” Ông lại lớn tiếng hỏi: “Thế thì các cô các chú thấy có khác gì nhau không?” Cả hội trường đồng thanh đáp vang: “Dạ không ạ!” Ông mới nghiêm nghị:

“Các cô các chú nên biết rằng việc đổi tên đảng ta, Bác đã xin ý kiến các đồng chí Stalin và Mao Trạch Đông rồi, các đồng chí ấy đã đồng ý. Các cô các chú nên biết rằng ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào sai được.”


Nghe Bác nói như vậy, cả hội trường vỗ tay rầm rầm nhất trí với Bác. Lần đó là hội nghị chuẩn bị cho Đại Hội 2 năm 1950, Hồ Chí Minh đã tuyên bố như vậy. Sang năm 1951, vào đúng Đại Hội 2 của Đảng, Hồ Chí Minh cũng lặp lại nguyên văn:

“Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào sai được.”


Ở đây có thể thấy hai điều, điều thứ nhất đó là ông Hồ nói đến việc xin ý kiến Stalin và Mao trong việc thay tên đảng. Tại sao phải thay tên đảng và thay tên đảng làm sao phải hỏi ý kiến Stalin và Mao? Đó là minh chứng cho việc chủ nghĩa cộng sản phải núp bóng chủ nghĩa dân tộc và nhân dân (đảng Lao động) và ông Hồ làm tay sai cho Stalin, Mao. Ngoài ra điều thứ hai cũng nói đến bản chất tin tuyệt đối vào đảng cộng sản và lãnh tụ của nó của ông Hồ “Stalin và Mao không thể sai”.

Thứ tư, cũng qua cuốn “Vừa đi đường vừa kể chuyện” của Trần Dân Tiên, chúng ta mới biết tính gian xảo và ngụy biện của ông Hồ. Mở sách Trần Dân Tiên, đọc kỹ hai trang liền nhau, trang 76 và trang 77, để thấy sự vô lý mà ông Hồ đã tự vạch ra cho bạn đọc thấy.

Đây trang 76: “Trong thời kỳ đầu, phong trào lan rộng và ăn sâu… Trong những tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, nhân dân Việt Nam đã lật đổ chế độ cai trị của Pháp và phong kiến và lập chính quyền xô viết. Họ tuyên bố độc lập và thi hành tự do dân chủ. Những ủy ban xã, ủy ban huyện được dựng nên.”

Ở trang 76 đó, Hồ Chí Minh khoe là đã lập được những Làng Đỏ theo kiểu Xô Viết của Liên Xô, nhưng tiếp sang trang 77 của Trần Dân Tiên, ông Hồ lại... không chịu nhận mình là cộng sản:

“Bọn đế quốc bịa đặt rằng những người cách mạng đó là tay sai của Đệ Tam Quốc Tế, của Liên Xô… Đế Quốc Anh cho rằng ông Nguyễn là tay sai của Liên Xô… Pháp-Nhật tuyên truyền ầm ĩ Việt Minh là cộng sản, nhận chỉ thị, tiền bạc của Mạc Tư Khoa… ”

Thật là một hành động tiêu biểu cho con người của ông Hồ nói riêng và các thế hệ cộng sản nói chung cho cả đến ngày nay “Vừa ăn cắp, vừa la làng”. Một mặt thừa nhận mình lập những Làng đỏ theo kiểu Liên Xô nhưng mặt khác chối ngay không phải là… Cộng sản. Điều này cho thấy bản chất gian xảo của ông Hồ cũng như minh chứng cho việc ông ta chỉ là một con bài của cộng sản quốc tế chứ không phải hoạt động cho chủ nghĩa dân tộc như ông ta chống chế.

Thư năm, nói riêng về Hồ Chí Minh, lúc còn mang tên Nguyễn Ái Quốc, vào tháng 6 năm 1923, đã được bầu vào Ban Chỉ Đạo gồm 11 người của Quốc Tế Nông Dân tức là Krestintern, một bộ phận ngoại vi của Đệ Tam Quốc Tế Komintern. Đến khi mang tên Hồ Chí Minh thì được Lãnh Tụ Liên Xô Khrushchev trong quyển hồi ký của ông tán tụng như sau:

“Hồ Chí Minh là tông đồ nhiệt thành của tôn giáo Cộng Sản, là vị thánh của chủ nghĩa Cộng Sản, người nhiệt thành xả thân vì đại nghĩa… Các bạn phải tôn kính người này, hãy quỳ gối trước ông ấy để tỏ lòng biết ơn về những đóng góp vô vị lợi của ông ấy cho chính nghĩa Cộng Sản, đã dành cho nó tất cả sức lực và khả năng của mình.”

Ở lời phát biểu của ông Khrushchev cho thấy ông Hồ chính là một con chiên cộng sản nhưng không phải con chiên của Dân tộc.

Thứ sáu, có lẽ không cần nhắc lại dài dòng về một cộng sản gộc như ông Nguyễn Lương Bằng. Ông cũng là một trong những tay chân của ông Hồ. Chúng ta thấy gì trong cuốn hồi ký “Mãi mãi đi theo con đường của người - Hồi ký về Bác Hồ” của ông Nguyễn Lương Bằng. Cuốn sách đó được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản tại Hà Nội năm 2006 và nó nói lên nhiều điều về ông Hồ và mánh lới của ông ta.

Trong thời gian Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, mở lớp huấn luyện cho các cán bộ cộng sản trong tổ chức Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, ông Hồ đã hướng dẫn cán bộ ông ta lợi dụng chủ nghĩa dân tộc như một thứ bình phong để đưa chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam. Nguyễn Lương Bằng đã viết tại trang 10 của cuốn sách:

"Phải khéo léo dẫn đến sự kiện nhân dân Viện Nam đang bị áp bức bóc lột. Đối với chủ điểm này nếu đối phương đồng tình thì dẫn đến kích động. Khi người ta vào tròng rồi thì mới đưa ra chủ nghĩa cộng sản".

Bạn đọc có thể thấy ông Hồ đã hướng dẫn cán bộ dùng phương pháp lừa mị dân tộc ta đang bị áp bức của Pháp đến sự kích động dẫn đến cho nhân dân ta “vào tròng”. Cái tròng đó chính là thứ chủ nghĩa cộng sản tàn ác.Vẫn biết làm chính trị có những yếu tố lắt léo, nhưng chủ trương lừa đảo dân tộc của chính mình đang trong cảnh tang thương thì thật vô nhân đạo.

Tiếp đó, Nguyễn Lương Bằng còn kể thêm việc ông Hồ đã dạy ông ta trong lúc tuyên truyền: "Không nên nói vô sản một cách cứng nhắc. Trước mắt chúng ta là phải đánh đổ thực dân Pháp. Cho nên phải khơi dậy lòng yêu nước của mọi người, như thế mới đi vào lòng mọi người" (Trích trang 17 của cuốn sách).

Trên mặt trận truyền thông, ông Hồ đã yêu cầu phải viết theo luận điệu kêu gọi lòng yêu nước trước. Nguyễn Lương Bằng kể lại: "... Sau đó chúng tôi chỉnh đốn lại bài vở trên tờ báo Kèn Gọi Lính. Từ đấy những số báo, những truyền đơn của chúng tôi có tác dụng trông thấy. Y sĩ Thuyết, sang học thuốc ở Thượng Hải nói trước ngại đọc, vì chỉ thấy nói toàn về cộng sản, bây giờ đã bắt đầu thích đọc, vì thấy các số báo nói về lòng yêu nước." (Trích trang 18 của cuốn sách).

Rõ ràng ông Hồ chỉ muốn các cán bộ của ông dùng lòng yêu nước và chủ nghĩa dân tộc để đánh lừa nhân dân Việt Nam. Ông ta không dám tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản vì sợ sự thật về nó bị các đảng theo chủ nghĩa quốc gia vạch trần. Đồng thời dùng nó như một thứ vũ khí lừa đảo, lôi kéo quần chúng về phía mình.

Thứ bảy, sau khi đã thành lập Mặt Trận Việt Minh kêu gọi toàn dân chống Pháp, ông Hồ cũng dấu giếm nguồn gốc cộng sản của mình. Việt Minh được khoác cho chiếc áo giải phóng dân tộc chứ không phải chiếc áo cách mạng vô sản. Chúng ta thấy rằng thời đó thanh niên gia nhập Việt Minh để đánh Pháp, chết cho sự tự do và độc lập của Việt Nam chứ không chết cho chủ nghĩa cộng sản. Thanh niên, thiếu nữ Việt Nam đi theo tiếng gọi kháng chiến đánh Pháp, chứ không đi theo tiếng gọi của cuộc cách mạng vô sản. Và có một câu hỏi được đặt ra hết sức nghiêm túc: Nếu quả thật là đảng cộng sản lúc đó được nhiều người theo, thì lý do gì ông Hồ phải tuyên bố giải tán đảng cộng sản Việt Nam (dù chỉ trên lý thuyết) vào năm 1945?

Đây là đoạn trích trên wiki của đảng cộng sản có ghi: “Ngày 11 tháng 11 năm 1945 Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán để giấu sự liên hệ cộng sản với nhà nước mới thành lập, lấy tên gọi mới là Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, mọi hoạt động công khai của đảng từ đây đều thông qua Mặt trận Việt Minh. Song trên thực tế, đảng vẫn hoạt động và chỉ đạo công cuộc kháng chiến.”
(http://vi.wikipedia.org/wiki/Đảng_Cộng_sản_Việt_Nam)

Thứ tám, trong cuốn “Đường kach mệnh”, là một cuốn tài liệu Hồ Chí Minh dùng để huấn luyện cán bộ đã viết rất rõ là cách mạng tất yếu phải chịu sự chỉ huy của chủ nghĩa Mác Lênin. Cuộc vận động cách mạng trong nước phải được kết hợp chặt chẽ với vô sản quốc tế. Ông Hồ đã chỉ đạo Lâm Đức Thu bán đứng cụ Phan (chứng minh ở phần Coolđể lấy tiền và nhằm thanh toán những ai yêu nước nhưng không tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Đây chỉ là một ví dụ trong số rất nhiều người đã bị ông Hồ thanh toán không thương tiếc nhằm nắm quyền lực trong tay và củng cố cho đế chế cộng sản của ông ta.

Thứ chín, chúng ta hãy nghe Ngọc Châu - tác giả cuốn sách “Theo Bác Đi Chiến Dịch” do nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân phát hành trang 13 đến 23 có đoạn viết:

"Tôi vào giải phóng quân giữa lúc phong trào cách mạng đang lên cao... Đây là lần đầu tiên tôi được học về tôn chỉ mục đích chương trình, điều lệ của Mặt Trận Việt Minh một cách kỹ càng. Vì vậy khi học tôi rất cảm động, nhưng khi học đến đoạn nói trong Mặt Trận Việt Minh có cả đảng cộng sản tham gia thì tôi giật mình! Thật tôi không thể ngờ được là sao Mặt Trận Việt Minh lại có cả Đảng cộng sản tham gia! Vừa hay ông cụ bảo phát biểu những điều chưa hiểu, tôi giơ tay ngay. Được ông cụ chỉ định tôi mạnh dạn nói:

- Thưa cụ, tại sao trong Mặt Trận của ta lại có đảng cộng sản?

Lời tôi vừa dứt thì trong lớp đã có nhiều tiếng xì xào. Trước phản ứng đó tôi lo sợ.... Ông cụ ra hiệu cho mọi người giữ trật tự rồi hỏi lại:

- Đồng chí hiểu về đảng cộng sản như thế nào?
- Thưa cụ, cháu chưa hiểu, nhưng nghe nói đảng cộng sản không tốt!

Ông cụ lúc ấy mới chỉ một học viên khác và bảo trả lời câu hỏi ban đầu của tôi:

- Đế quốc Pháp, phát xít Nhật ghét cộng sản cũng như ghét Việt Minh ta do đó, nó dùng mọi điều xấu xa để gán cho cộng sản và Việt Minh ta. Những người cộng sản là những người đánh Pháp, đuổi Nhật kiên quyết nhất trong Mặt Trận Việt Minh.!

....

Trong một buổi chiều, chúng tôi nhận được tin đồng chí Đường đã hy sinh trong trận diệt Phỉ. Gần tối, đồng chí Trần Định đến thăm, nói với tôi:

- Ông cụ bảo mình tới kể cho đồng chí nghe về gương chiến đấu của đồng chí Đường đấy.

Đồng chí Trần Định kể xong, dặn tôi:

- Ông cụ dặn là phải neo gương theo đồng chí Đường. Đồng chí Đường là một người cộng sản tốt đấy!"

Qua đoạn kể của tác giả Ngọc Châu, chúng ta thấy rằng thời đó thanh niên gia nhập Việt Minh để đánh Pháp, chết cho sự tự do và độc lập của Việt Nam mà tiêu biểu là những người như ông Châu. Họ đâu có biết họ đã mắc mưu lừa của cộng sản đồng hóa chủ nghĩa dân tộc yêu nước với chủ nghĩa cộng sản.

Thứ 10, Trong cuốn hồi ký của Trường Chinh – Trường Chinh - Một Nhân Cách Lớn, Một Nhà Lãnh Đạo Kiệt Xuất Của Cách Mạng Việt Nam - Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia - trang 172 có viết:

"Bác Hồ chủ trì hội nghị Trung Ương Lần Thứ 8 tại Khuỗi Nậm. Bác không tự giới thiệu mình là Nguyễn Ái Quốc, mà chỉ nói là đại diện Quốc Tế Cộng Sản. Bác Hồ nói đây chưa phải là đại hội đảng nhưng vẫn cứ bầu ra Ban Chấp Hành Trung Ương và Tổng Bí Thư. Chúng tôi đề nghị Bác Hồ đảm nhận chức vụ Tổng Bí Thư. Song, Bác nói: Tôi đang làm một số việc của Quốc Tế Cộng Sản, do đó chưa thể giữ chức Tổng Bí Thư Đảng ta được."

Việc từ chối đó cũng cho thấy rất rõ dã tâm của HCM là để đàn em của ông ta chết thay cho ông ta, còn ông ta thì tìm lý do để không ở lại VN - một nơi quá nhiều nguy hiểm. Qua việc từ chối đó nó cũng cho thấy một HCM chẳng tha thiết gì đến tiền đồ của dân tộc, mà chỉ tận tụy phục vụ cho quyền lợi của Quốc tế cộng sản.

Kết luận: Ông Hồ là một người không kính trọng các vị anh hùng dân tộc, phỉ báng tôn giáo cả Thiên Chúa giáo và Phật Giáo. Đồng thời ông ta luôn núp bóng các tổ chức dân tộc để thực hiện mưu mô làm tay sai cho quốc tế cộng sản nhuôm đỏ Việt Nam.

Nhận Xét chung:

Ông Hồ Chí Minh tự cho mình là người yêu nước nhưng thực sự ông ta ra đi khỏi Việt Nam không phải để tìm đường cứu nước mà chỉ đơn thuần đi kiếm việc nuôi sống bản thân mình. Ông ta làm việc cho quốc tế cộng sản chỉ có 2 mục đích đó là kiếm tiền nuôi bản thân và âm mưu nhuộm đỏ Việt Nam, làm tay sai cho chủ nghĩa cộng sản.

Bản thân ông ta rất bất kính với dân tộc, với tôn giáo nên trong con người ông ta không thể tồn tại tình yêu dân tộc và chủ nghĩa dân tộc. Chính vì vậy ông Hồ phải thay tên đảng, lừa dối nhân dân để mượn danh đấu tranh “giải phóng dân tộc” nhằm thực hiện mục đích riêng ông ta (quyền lực) và mục đích chung của quốc tế cộng sản.

Đây là một minh chứng cho thấy tội ác: Lừa dối dân tộc của ông Hồ!


Hoàn thiện và chỉnh sửa: 16/07/2012
Đặng Chí Hùng
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
phantran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Wed May 14, 2014 10:47 pm


Quân đội nhân dân Việt Nam: Đội lính đánh thuê bán Nước - hại Dân




Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh (Danlambao) - Quân đội của mọi quốc gia được thành lập để bảo vệ tổ quốc và nhân dân riêng quân đội nhân dân (QĐNN) Việt Nam cộng sản được thành lập như là một đội lính đánh thuê cho giặc Tàu Khựa và bán nước hại dân:

1.- Giặc Tàu Khựa đem giàn khoan dầu và 80 tàu vào trong lãnh hải để cướp tài nguyên của nước Việt Nam thì tất cả các tướng lãnh của QĐNN đều im thin thít. Tại sao? vì thấy bọn Tàu Khựa là sợ run cầm cập nói không ra tiếng hay vì cần ngậm miệng ăn tiền.



2.- Giặc Tàu Khựa phá thuyền đánh cá và bắt đánh giết ngư dân ngoài khơi biển của Việt Nam hàng ngày thì hải quân của QĐNN đều trốn biệt tăm nếu có mở miệng thì gọi là tàu Lạ. Tại Sao? Bọn Tàu Khựa là ông nội, ông cố của QĐNN hay sao mà sợ húy không dám chỉ đích danh! Quân đội bảo vệ nhân dân cái kiểu gì lạ vậy?



3.- Tên tướng QĐNN Lê Khả Phiêu giấu dân như mèo giấu cứt để ký giấy bán cho cho giặc Tàu Khựa trên 1000 cây số vuông đất biên giới phía bắc, ải Nam Quan, thác Bản Dốc và hơn 20.000 cây số vuông vùng biển vịnh Bắc Bộ thì mọi thằng tướng khác của QĐNN đều đồng ý và không một lời phản đối. Từ cổ tới kim từ đông sang tây có chiến thuật nào trong quân đội “cắt đất dâng cho giặc” gọi là bảo vệ tổ quốc không mấy cha? xin mấy cha hãy mua sách đọc về Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Ngụy văn Thà mà mở miệng nói vài lời dù vài lời trăn trối không đáng chi cũng đủ cho lòng con cháu mình ấm lại không nghĩ mình cùng duột với lũ bán nước, đừng tự sướng tự xưng mình là anh hùng vì qua lịch sử không có anh hùng nào dâng đất của nước mình cho giặc cả.



4.- Tên cộng sản Lê Duẩn tự thú “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc” như thế có phải là đánh thuê không mấy mấy tướng QĐNN? đánh cho quân lực VNCH hao mòn trong năm 1972 để mở đường cho giặc Tàu Khựa đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 đánh như thế có phải là hợp đồng cùng giặc Tàu Khựa đánh mở đường cho giặc Tàu Khựa chiếm nước Việt Nam không mấy trự? Một đội quân hợp lực cùng quân của giặc đánh vào nước mình để giúp cho giặc chiếm đất của nước mình thì gọi là rước voi về dày mả tổ có đúng không hả? Những tên lính đánh thuê trong QĐNN có biết cái tội mình gây ra cho dân tộc Việt Nam không hả?

4.- Tên cộng sản Phạm văn Đồng ký giấy bán biển, tên cộng sản Nguyễn Văn Linh đem toàn bộ sậu lũ bán nước rầm rộ đi sang Thành Đô cúi đầu xin làm nô lệ bí mật thỏa thuận dâng cả giang sơn mà tổ tiên dày công gầy dựng cho giặc Tàu Khựa. Những tên mang lon tướng trong QĐNN lẽ nào không thấy được giặc Tàu Khựa đang gặm nhấm nước Việt Nam, đang Hán hóa dân Việt. Mọi chính sách đường lối của đảng CSVN đều được hoạch định từ bên Tàu. Đừng nghe những lời của những tên cộng sản bán nước mà hí hố nằm mơ là sẽ được mang lon tướng đời đời hay chuyển qua làm tướng Tàu khi Tàu khựa xâm chiếm hoàn toàn Việt Nam. Chúng sẽ thí chốt và thay ngựa như chúng đã từng làm với Mặt Trận Giải Phóng MNVN năm 1968 và sau 1975. Giặc Tàu Khựa chiếm xong nước Việt Nam thì chúng cũng cho đảng CSVN đi chổ khác chơi để thay toàn “nị ngộ” đô hộ mà thôi. Giặc Tàu Khựa thua và sụp thì chắc chết với dân là cuộc đời của những tên lính đánh thuê hại dân bán nước.



5.- Vì một lẽ riêng mà Trung Úy Nguyễn Kim Anh không đến được Little Saigon ở California để dự buổi tiệc hội ngộ cũng các bạn cùng khóa 6/68 trường bộ binh Thủ Đức vào ngày 25 tháng 5 này. Hắn rất buồn đã bỏ mất một cơ hội nâng ly khập khểnh mời nhau trong nước mắt của tình huynh đệ chi binh, hắn chỉ xin nhờ không gian ảo gởi đến bạn đồng môn lời chào thân thương và “báo cáo” cùng quí chiến hữu khắp năm châu những lời đau thương mà bọn cộng sản đã gán lên đầu chúng ta trong các trại tù như “lính đánh thuê”, “lính ngụy”, “đồ bán nước”, “ba đời làm tay sai” là những lời mà cả dân tộc Việt Nam đang gọi bọn cộng sản và bọn tướng tá trong QĐNN ngày nay. Cuộc chiến chống giặc cọng xâm lăng của chúng ta chưa tàn, ông cha ta hàng hàng lớp lớp đã nằm xuống, chúng ta ngày nay đang bị phiêu bạt khắp năm châu nhưng cuộc chiến ấy vẫn đang còn tiếp diễn tại quê hương. Khi bọn giặc Tàu Khựa càng tham lam càng hung hăng thì ngày về quê hương của chúng ta càng gần vì dân tộc Việt Nam vốn có tình yêu nước nồng nàn dù đứng ở vị trí nào họ cũng tìm cách cứu nước, họ đang làm việc, họ sẽ làm việc để dành lui quê hương khi họ hiểu được những âm mưu thâm độc và dã tâm của lũ giặc Tàu Khựa.

6.- Vì người viết là một quân nhân của quân lực Việt Nam Cọng Hòa nên bài viết sẽ bị nhiều người phê phán thiếu khách quan nên tác giả xin đính kèm bức ảnh đại tướng Phùng Quang Thanh của QĐNN đang ngồi chầu tên đại sứ Tàu Khựa do Đại Tá QĐNN Bùi Tín gởi đến và bài viết Đại Tướng Đi Chầu trong Dân Làm Báo để bạn đọc nhận định. Điều đáng chú ý là nên nhìn kỷ vào 2 bàn tay của đại tướng PQT trong bức hình sẽ thấy được hắn đang run. Không run sao được khi bản án “kẻ nào đem 1 tấc đất của tổ tiên để lại dâng cho giặc là bị tru di tam tộc” của vua Lê Thánh Tôn đang bị toàn dân treo trên đầu lũ lính đánh thuê hại dân bán nước.

Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh
danlambaovn.blogspot.com

Đại tướng (Quân đội nhân dân Việt Nam) đi chầu?




Nhà báo Bùi Tín gửi Danlambao bức ảnh trên từ Sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội. Bức ảnh đi kèm với dòng tin: Đại sứ Khổng Huyễn Hựu gặp đại tướng Phùng Quang Thanh và trung tướng Ngô Xuân Lịch - chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội ND, bàn về thực hiện thỏa thuận Trung - Việt sau khi TBT Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh, để thực hiện nội dung: coi trọng đại cục hữu nghị, tăng cường quan hệ chiến lược mọi mặt ...

Chuyện ông Đại tướng và ông chủ nhiệm Tổng Cục vào gặp quan thái thú mà các báo lề đảng lại im re là một chuyện lạ không kém gì... tàu lạ biển đông (lạ mà không lạ!) Thái độ im re dễ làm quần chúng nhân dân có ấn tượng là âm thầm lén lút. Âm thầm lén lút dễ làm cho người ta nghĩ đây là công tác khấu đầu, dân đen gọi là đi chầu.

Kèm theo tấm ảnh, nhà báo Bùi Tín có lời nhận xét ngắn gọn (xin phép bác Bùi Tín được chia sẻ cùng bạn đọc thôn Danlambao):

Sao mà triệu tập dễ dàng các lãnh đạo VN thế. Cứ Thái thú gọi là đến. Tướng Lịch vừa gặp Khổng Hựu tháng trước rồi.

Coi trọng Đại cục, còn bỏ qua tiểu cục, như đảo Hoàng Sa, Truờng Sa, chuyện Ngư dân bị đuổi bắt, chuyện lao động TQ không giấy tờ, chuyện bô xit... à tiểu cực, chuyện nhỏ, nên quên đi!

Có vẻ Thái thú và thiên triều lo về thái độ Quân đội VN ? qua Tunisia, Ê-gypt, quân đội không tham gia đàn áp ... Họ muốn nắm thật chặt Quân đội?



Hãy ngắm nhìn ăn mặc, tư thế, thần sắc của tướng Thanh: mặc đồng phục với Thái thú họ Khổng? cùng màu cùng cravat thắt cổ - cũng như Nguyễn Tấn Dũng mặc complet cravat y chang Đới Bỉnh Quốc!

Việc gì phải chắp tay cung kính như xin vâng lệnh thế, mà có vẻ thẫn thờ như kẻ bị khiển trách...

Ảnh này nên giữ trong Bảo tàng QĐ.

Trong bức hình ông đại tướng ngồi với quan thái thú, còn... thiếu thiếu một cách... lạ lạ một cái gì? Đố các bạn trong thôn.

Dân Làm Báo
danlambaovn.blogspot.com


Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Mon May 19, 2014 1:05 am


TẠI SAO CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN LẠI LÀ MỘT GUỒNG MÁY LỪA ĐẢO, GIẾT NGƯỜI LỚN NHẤT TRONG LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

                                                            


Về chế độ cộng sản và những hậu quả của nó, đã nhiều người có ý kiến:

Cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan:
“Lịch sử nhân loại đã có nhiều trang sử đau thương và đẫm máu. Nhưng chưa có trang sử nào đau thương và đẫm máu bằng trang sử cộng sản.”

Đương kim Thủ tướng Đức, bà Angela Markel, người đã từng sống dưới chế độ cộng sản Đông Đức, nhân dịp lễ Kỷ niệm ngày 20 năm bức tường Bá linh sụp đổ; ông Medeved, đương kim Tổng thống Nga, người cũng đã sinh ra, sống và được giáo dục bởi chế độ cộng sản, nhân dịp lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng Đệ Nhị Thế chiến, cả hai đều tuyên bố đại ý rằng chế độ cộng sản là một guồng máy tạo ra sự dối trá, lừa đảo, bịp bợm và giết người, không những giết chính dân tộc nó, mà còn giết những dân tộc khác.

Ở Việt Nam, ông Phạm quế Dương, cựu đại tá cs, cựu Tổng biên tập tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Quân đội Nhân dân: “Cộng sản là kẻ vừa bất tài, bất lực, lại bất nhân.”

Ông Lê xuân Tá, cựu cán bộ cao cấp cs, cựu Phó Chủ Nhiệm Ủy ban Khoa học, Kỹ thuật Trung ương đảng cs: “Sự ngu dốt và sự thấp hèn tự nó không đáng trách và làm nên tội ác. Nhưng sự ngu dốt và thấp hèn mà được trao quyền lực và được cấy vào vi trùng ghen tỵ, thì nó trở nên quỉ nhập tràng. Và con quỉ này nó ý thức rất mau lẹ rằng cái đe dọa quyền và lợi của nó, chính là sự hiểu biết, trí tuệ, văn hóa và văn minh; nên nó đã đánh những thứ này một cách tàn bạo, dã man, không thương tiếc. Vụ Nhân văn Giai phẩm ở VN là vậy. Cách mạng Hồng vệ binh ở bên Tàu là thế. Nhưng chính vì nó là ngu dốt và thấp hèn, nên những thứ này đã trở thành sơ gan, sỏi thận, trong lục phủ ngũ tạng của chế độ cộng sản, làm cho chế độ này không ai đánh mà tự chết.”




Và gần đây, một nhà tư tưởng, lịch sử gia có nói: “Chế độ cộng sản là một sự lừa đảo lớn nhất trong lịch sử nhân loại.”

Tại sao như vậy? Nguyên do tại đâu?

Thật vậy, chế độ cộng sản là một bộ máy sản xuất những dối trá lừa bip.

Theo ông Gorbatchev, cựu Tổng Bí Thư đảng cs Liên sô:
“Tôi đã bỏ hơn cả nửa đời người để tranh đấu và phục vụ cho lý tưởng cộng sản. Nhưng ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng cộng sản chỉ biết nói dối và tuyên truyền.”

Không những là một bộ máy nói dối và tuyên truyền, cộng sản còn là một bộ máy giết người.

Theo những tác giả của quyển Sách Đen về chủ nghĩa cộng sản (Le Livre noir du Communisme), các ông Courtois, Margolin v.v.., thì nạn nhân của những chế độ cộng sản được chia ra như sau: Liên sô: 20 triệu; Trung cộng: 65 triệu; Việt Nam: 1 triệu; Nam Mỹ: 1,5 triệu; Bắc Hàn : 2 triệu; Căm bốt : 2 triệu; Đông Âu : 1 triệu; Phi châu: 1,7 triệu; A phú hãn: 1,5 triệu.

Thật ra con số này là còn ít, theo 2 sử gia chuyên môn về Trung cộng, Jung Tchang và John Halliday, tác giả nhiều quyển sách về cộng sản Tàu, trong đó có quyển Mao, thì nạn nhân của Mao phải trên 70 triệu người. Riêng Việt Nam, con số 1 triệu quá ít, phải kể lên gấp 2 lần, chưa kể đến nạn nhân chiến tranh do chính cộng sản là kẻ chủ mưu, gây chiến, nhưng lại đóng vai trò là nạn nhân, để lừa dân Việt và thế giới.




Tuy nhiên từ từ thế giới cũng sẽ rõ, sự thật vẫn là sự thật và sẽ được phơi bày ra ánh sáng mặt trời. Chính vì vậy mà Ủy Ban Sưu tầm về tội ác cộng sản trong Hội Đồng các nước Âu châu, đã đưa ra Nghị quyết 1481, kết án chế độ cộng sản là giết người, diệt chủng.

Nguyên do từ tư tưởng không tưởng của Karl Marx:

Ngày hôm nay, sau gần 2/3 thế kỷ áp dụng tại Liên sô, hơn nửa thế kỷ áp dụng tại những nước khác, người ta mới thấy tư tưởng của Marx là hoàn toàn không tưởng; mặc dầu Marx đã giành gần 1/3 quyển sách Tuyên Ngôn Thư Đảng Cộng Sản (Ở đây tôi dựa trên bản tiếng Pháp), để chỉ trích những nhà xã hội trước Marx hay đồng thời với ông như Robert Owen, Charles Fourer, Proudhon v.v.., nào là chủ nghĩa xã hội phản động (socialisme réactionnaire), xã hội chủ nghĩa phong kiến (socialism feudal), nào là xã hội chủ nghĩa tiểu tư sản (socialisme petit-bourgeois).

Thật vậy, chỉ cần quan niệm làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu hay quan niệm bãi bỏ quyền tư hữu, chúng ta cũng đã thấy không tưởng, hão huyền rồi. Bãi bỏ quyền tư hữu là bãi bỏ một nguyên động lực thúc đẩy con người làm việc làm cho xã hội cộng sản bị ngừng trệ kinh tế, lâm vào cảnh: cha chung không ai khóc, nhà chung không người chăm sóc, ruộng chung không ai cày. Không những thế K. Marx đã sai lầm khi nghĩ rằng quyền tư hữu có thể bãi bỏ; nhưng thực tế quyền tư hữu chỉ có thể chuyển nhượng. Như sự việc, tôi có một căn nhà, một chiếc xe, do mồ hôi nước mắt tôi tạo ra. Nay cộng sản cướp được chính quyền, lấy cái nhà, cái xe của tôi, bảo rằng chúng thuộc về nhân dân, thuộc về nhà nước, nhưng trên thực tế chúng đã chuyển nhượng cho một cán bộ cộng sản nào đó ở nhà tôi, dùng chiếc xe của tôi.

Marx không tưởng nghĩ rằng sau khi cướp được chính quyền, xã hội cộng sản trở nên công bằng, nhưng trên thực tế, xã hội cộng sản trở nên vô cùng bất công, vì sự chuyển nhượng quyền tư hữu: quyền tư hữu đang ở trong tay đại đa số dân, nay chuyển sang tay một thiểu số cán bộ cộng sản, đi đến tình trạng đại đa số thì trắng tay, trong khi thiểu số cán bộ thì trở nên giàu có. Có tất ngay cả mạng sống của người dân.

Marx không tưởng cho rằng quyền kinh tế quyết định. Nhưng ở trong những nước cộng sản, chính quyền chính trị quyết định. Có quyền chính trị là có quyền kinh tế và có tất cả những quyền khác.

Marx không tưởng cho rằng, sau khi cướp được chính quyền, bãi bỏ quyền tư hữu, thì nhà nước cộng sản tự biến mất, chữ mà Marx dùng là “ tự tắt “ (s’éteint). Nhưng thực tế nhà nước cộng sản càng ngày càng lớn mạnh, càng đàn áp, như lịch sử đã chứng minh.

Marx nghĩ rằng lý thuyết của mình là khoa học; nhưng lý thuyết của Marx không có một tý gì là khoa học. Marx nghĩ rằng mình đi từ những dữ kiện cụ thể; nhưng Marx đã đi từ những lời tiên tri, vô cùng trừu tượng và ảo tưởng. Marx, mặc dầu chỉ trích tôn giáo, nhưng Marx đã bị ảnh hưởng sâu đậm bởi tư tưởng Do Thái giáo, đạo của gia đình ông, và ông bà, cha mẹ ông đã nhiều đời làm mục sư Do thái giáo ở vùng Trèves, Đức, gần biên giới Pháp. Theo tư tưởng Do Thái giáo, thì con người xưa kia đang sống sung sướng trên địa đàng; nhưng rồi con người ăn vào trái cấm, nên bị đọa đày xuống trần gian, phải chịu cực khổ. Cực khổ đến tột cùng thì sẽ có một Đấng Cứu Thế, xuống cứu con người, đưa trở về đời sống địa đàng. Nay Marx lấy tư tưởng này và hiện đại hóa. Thay vì là địa đàng thì là xã hội nguyên thủy cộng sản. Thay vì là trái cấm thì là quyền tư hữu. Thay vì là Đấng cứu thế, thì là giai cấp vô sản (le proletariat). Thay vì địa đàng mới, thì là xã hội cộng sản mới (1).

Nguyên do từ chế độ độc đảng và Nhà nước độc tài do Lénine lập ra, và đuợc sao y bản chính tại những nước cs khác:

Thật vậy, bà Rosa Luxembourg, bạn và người cùng tranh đấu với Lénine ở trong Đệ Nhị Quốc tế Cộng sản, dù bị ở trong tù, nhưng bà theo dõi rất sát tình hình bên ngoài, nhất là hành động của Lénine, từ khi ông này cướp được chính quyền, bà đã viết thư cho ông ta vào năm 1919, trưóc khi bà chết:

“Cái độc đảng và Nhà nước độc tài mà anh lập ra, anh bảo rằng nó phục vụ nhân dân và thợ thuyền. Nhưng trên thực tế, nó chẳng phục vụ một ai cả; vì nó đã đi trái lại những nguyên tắc chính của chủ nghĩa xã hội; đó là tôn trọng tự do và dân chủ.”

Thật vậy, trong lịch sử nhân loại chưa có một chế độ nào mà độc tài, tàn ác như chế độ cộng sản. Chế độ quân chủ phong kiến xưa kia cũng chỉ độc tài, tàn ác ở trung ương, quanh vua, quanh triều đình. Nay với chế độ cộng sản, với đảng trị, độc tài, tai ách xuống tận thôn xóm. Ngày xưa quyền sinh sát là chỉ ở trong tay vua hay một vài ông quan đại thần, được đặc quyền của vua. Nay với chế độ cộng sản, thì quyền sinh sát ở ngay trong tay một cán bộ cộng sản ở cấp xã, cấp huyện. Ngày xưa, tham nhũng, hối lộ phần nhiều ở trung ương, triều đình, ngày nay với chế độ cộng sản, tham nhũng hối lộ xuống tận xóm làng.

Chính vì vậy, mà nhà thơ Vũ hoàng Chương đã phải than lên:

         “ Từ độ người về, hỡi loài man dại!
           Dẫu vô tri, sỏi đá cũng buồn đau.
           Tiếng thở dài vang tận đáy sông sâu.
           Màu đỏ oan cừu hành hung phố chợ.”

Từ lý thuyết không tưởng của Marx, một số người làm chính trị, cách mạng nhà nghề, đã lợi dụng thời cơ, cướp chính quyền, lập nên chế độ độc đảng và nhà nước độc tài, áp dụng lý thuyết không tưởng đó, bị lâm vào hoàn cảnh “Đẽo chân để đi vừa giày“, gặp sự chống đối của dân, bắt buộc phải đàn áp, ai chống đối thì bị đi “cải tạo“, đi tù, bị giết, đồng thời dùng thông tin, tuyên truyền lừa dối, bịp bợm, đưa ra những thống kê giả, những kết quả ảo, thiên đàng mù, chương trình kế hoặch ma, nào là ngũ niên, nào là thập niên, tiến mạnh, tiến nhanh lên xã hội chủ nghĩa; nhưng đều dựa trên những con số phóng đại; nên chế độ cộng sản đã trở thành một sự lừa dối, đàn áp, giết người lớn nhất trong lịch sử nhân loại.

Chế độ cộng sản quả là một trang sử đẫm máu và đau thương nhất, quả là một sự lừa đảo, giết người lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Những dân tộc Nga, Đông Âu đã can đảm đứng lên lật qua trang sử đẫm máu và đau thương đó. Dân tộc Việt Nam và những dân tộc còn phải chịu dưới sự cai trị độc tài cộng sản, nhất là giới sĩ phu, trí thức, quân cán chính bị lầm đường theo cộng sản, hãy can đảm đứng lên, nhìn rõ sự thật,  đấu tranh, hướng dẫn và tổ chức dân, vì để làm cách mạng thì cần đến dân, nhưng để cách mạng thành công, thì phải cần đến sĩ phu, trí thức, để lật qua trang sử cộng sản, để viết lên trang sử tự do, dân chủ và phồn thịnh.

Paris ngày 03/01/2011
Chu chi Nam

(1) Xin xem them những bài viết về cộng sản, trên http://perso.orange.fr/chuchinam./
Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Thu May 22, 2014 10:07 am


TQ lại nhắc Công hàm Phạm Văn Đồng


BBC Tiếng Việt



Trung Quốc nói không có tranh chấp với Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa

Một nhà ngoại giao và một học giả Trung Quốc nói Công hàm 1958 là bằng chứng Việt Nam công nhận Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc.

Công hàm 1958 gây tranh cãi của Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại được Trung Quốc đề cập trong bối cảnh Việt Nam và Trung Quốc đối đầu vì vụ giàn khoan HD-981.


Căng thẳng Việt – Trung đã gia tăng, với việc nổ ra các cuộc bạo động ở Việt Nam, sau khi Việt Nam lên án Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại khu vực biển Hoàng Sa.



Hôm 20/5, đại biện lâm thời Sứ quán Trung Quốc ở Indonesia có bài đăng trên báo Indonesia Jakarta Post để biện hộ cho Trung Quốc.

Ông Lưu Hồng Dương nói quần đảo Tây Sa (tên Trung Quốc dùng để chỉ Hoàng Sa) là “lãnh thổ vốn vẫn thuộc về Trung Quốc”.

“Vị trí của các đảo đã được cộng đồng quốc tế, kể cả Việt Nam, công khai thừa nhận trong nhiều thập niên từ Thế chiến Hai.

“Trong tuyên bố ngày 14/9/1958 thay mặt chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Việt Nam khi đó, Phạm Văn Đồng, công khai thừa nhận quần đảo Tây Sa và các đảo khác ở Nam Hải là lãnh thổ Trung Quốc.”

Ông Lưu Hồng Dương cáo buộc “việc chính phủ Việt Nam gần đây thay đổi và từ chối công nhận Tây Sa là của Trung Quốc thật vô cùng gây sốc”.

“Việt Nam rõ ràng vi phạm nguyên tắc ‘estoppel’ [không được nói ngược],” ông Lưu cáo buộc.

Bày tỏ lập trường chính thức của Trung Quốc, ông Lưu nói tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ tồn tại ở quanh quần đảo Trường Sa.

Ông Lưu cáo buộc Việt Nam có “tiêu chuẩn kép” khi đã “đánh dấu 57 lô dầu khí ở trong vùng biển tranh chấp”.

Nói về cuộc đối đầu quanh giàn khoan HD-981, ông Lưu nói Việt Nam “phải bỏ mọi ảo tưởng và tiến hành hai biện pháp quyết định”.

“Một, ngay lập tức dừng mọi hoạt động nguy hiểm chống lại giàn khoan Trung Quốc và rút toàn bộ tàu khỏi vùng biển thuộc Trung Quốc.

“Hai, thực thi lời hứa dừng mọi bạo lực trong nước để bảo vệ công dân và tài sản công ty Trung Quốc ở Việt Nam.”

Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa lên tiếng về bài báo của ông Lưu Hồng Dương.

Trong một diễn biến liên quan, Tiến sĩ Ngô Sĩ Tồn, Giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc, có bài trả lời phỏng vấn hãng tin Đức Deutsche Welle (DW), được đăng trên mạng hôm 20/5.

Ông này cũng nhắc lại về Công hàm Phạm Văn Đồng.

“Năm 1958, Thủ tướng Việt Nam khi đó là Phạm Văn Đồng đã công nhận chủ quyền Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa trong công hàm gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai.

“Hà Nội chỉ thay đổi lập trường sau khi đất nước thống nhất năm 1975,” tiến sĩ Ngô nói.

“Nhưng theo nguyên tắc estoppel, Trung Quốc không tin rằng Việt Nam có thể thay đổi lập trường về vấn đề chủ quyền.”

Công hàm Phạm Văn Đồng vẫn gây tranh cãi sau 50 năm



Công hàm tranh cãi

Công hàm ngoại giao do Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Phạm Văn Đồng ký năm 1958 để phúc đáp tuyên bố của CHND Trung Hoa hôm 04/9 năm 1958 về hải phận 12 hải lý của nước này.

Viết trên BBC, Tiến sĩ Trần Công Trục, cựu Trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, cho rằng công hàm “không liên quan gì đến 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, càng không có nghĩa là Việt Nam thừa nhận 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc”.

“Bởi thời điểm này 2 quần đảo đang do chính thể Việt Nam Cộng hòa, đại diện cho nhà nước Việt Nam quản lý, thực thi chủ quyền,” ông Trục giải thích.

Tuy vậy, tranh luận trên BBC, ông Lý Thái Hùng, một lãnh đạo của đảng Việt Tân ở Hoa Kỳ, lại nói công hàm “vẫn đã thừa nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông bao gồm luôn quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, và cho Trung Quốc lý cớ để cột công hàm này vào nền tảng biện minh cho chủ trương xâm lược của họ hiện nay”.

Nói như một nhà nghiên cứu khác, Dương Danh Huy, công hàm có gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho Việt Nam liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa hay không là một vấn đề “còn tranh cãi”.
Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Thu Jun 12, 2014 9:23 pm


Bộ ngoại giao TQ công bố 5 bằng chứng bán nước của ĐCSVN




CTV Danlambao - Hôm 8/6/2014, trang web của Bộ ngoại giao Trung Quốc đã cho đăng một bản tuyên bố mang tên "Giàn khoan 981 hoạt động: Sự khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc". Trong đó, phía Trung Quốc đã chính thức cho công bố 5 bằng chứng bán nước không thể chối cãi của chế độ cộng sản Việt Nam dưới quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Những bằng chứng động trời này một lần nữa khẳng định: đảng cộng sản Việt Nam chính là một tập đoàn Việt gian phản quốc. Thậm chí, đến cả những ai còn mù quáng nhất cũng không thể phủ nhận hành vi bán nước ô nhục của đảng cộng sản Việt Nam.

Bản tuyên bố được viết bằng tiếng Anh trên trang web Bộ ngoại giao Trung Quốc, sau đó lập tức được Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc-CRI chuyển sang tiếng Việt.

Trong phần IV của bản tuyên bố, phía Trung Quốc đưa ra các bằng chứng cho thấy chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do đảng cộng sản cầm đầu đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) thuộc chủ quyền Trung Quốc.

"Trước năm 1974, các khóa Chính phủ Việt Nam không hề đưa ra bất cứ nghị dị đối với chủ quyền quần đảo Tây Sa của Trung Quốc, bất cứ trong tuyên bố, công hàm của Chính phủ Việt Nam hay là trên báo chí, tạp chí, bản đồ và sách giáo khoa của Việt Nam đều chính thức công nhận quần đảo Tây Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc", bản tuyên bố ngày 8/6/2014 của Bộ ngoại giao Trung Quốc viết.

Dưới đây là trích đoạn phần nói về 5 bằng chứng bán nước của đảng cộng sản Việt Nam do Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố:

Bằng chứng số 1:


Ngày 16/5/1956, trong buổi tiếp Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý Chí Dân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ung Văn Khiêm trịnh trọng bày tỏ: "Căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc". Vụ trưởng Vụ châu Á Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Lộc còn giới thiệu cụ thể hơn những tư liệu của phía Việt Nam và chỉ rõ: "Xét từ lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống".

Bằng chứng số 2:






Ngày 4/9/1958, Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố, tuyên bố chiều rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý, dứt khoát nêu rõ: "Quy định này áp dụng cho tất cả mọi lãnh thổ của nước Cộng hoa Nhân dân Trung Hoa, trong đó bao gồm quần đảo Tây Sa". Ngày 6/9, trên trang nhất của "Báo Nhân Dân"-cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam đã đăng toàn văn bản tuyên bố lãnh hải của Chính phủ Trung Quốc. Ngày 14/9, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi Công hàm cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai, trịnh trọng bày tỏ: "Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận và tán thành tuyên bố về quyết định lãnh hải công bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa", "Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định này".

Bằng chứng số 3:

Ngày 9/5/1965, Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố về việc Chính phủ Mỹ lập "khu tác chiến" của quân Mỹ tại Việt Nam, chỉ rõ: "Việc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoà là khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ", đây là đe dọa trực tiếp "đối với an ninh của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng giềng".

Bằng chứng số 4:





Tập "Bản đồ Thế giới" do Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng Việt Nam in ấn xuất bản tháng 5/1972 đã ghi chú quần đảo Tây Sa bằng tên gọi Trung Quốc.

Bằng chứng số 5:







Trong sách giáo khoa "Địa lý" lớp 9 Trung học phổ thông do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản, có bài giới thiệu "Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" viết: "Từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, các đảo Bành Hồ, quần đảo Châu Sơn..., các đảo này có hình vòng cung, tạo thành bức 'Trường Thành' bảo vệ Trung Quốc đại lục".

*
Cũng trong bản tuyên bố ngày 8/6, phía Trung Quốc cũng nêu cáo buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam "đã nuốt lời cam kết của mình" khi tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cho đến thời điểm này, nhà cầm quyền CSVN chưa hề đưa ra bất cứ tuyên bố chính thức nào trước việc Trung Quốc cho công bố 5 bằng chứng bán nước như trên.

Một sự im lặng nhục nhã đối với tập đoàn Việt gian bán nước.

CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com


Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Wed Jun 18, 2014 9:08 am


Chủ Nghĩa Cộng sản và cái công hàm Phạm Văn Đồng ký tên!




Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam (Danlambao) - Cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản là hướng tới một thế giới cộng sản không có quốc gia, vô tổ quốc, không có lằn ranh biên giới quốc gia.

Thời kỳ cực thịnh của chủ nghĩa cộng sản là vào những thập niên hậu bán thế kỷ 20. Những nước theo chủ nghĩa cộng sản đã kết hợp nhau từng bước xóa bỏ đường biên giới của nước mình, trước mắt là hình thức liên bang như nước Mỹ, tiếp theo sau là một thế giới của những người cộng sản (vô sản) không còn phân biệt quốc gia hay dân tộc, một thế giới “quốc tế vô sản”.

Tại Âu Châu, đầu tiên là Nga và các nước nhỏ thuộc khu vực Trung Á hợp nhất lập thành một Liên bang Sô Viết như Uzbekistan, Kazakhstan, Kirghizia, Turkmenia, Tajikistan. Tiếp theo là một số nước trong vùng Đông Âu sát Nga như Ukraine, Belarus, Latvia, Litva, Estonia, Azerbaijan, Armenia gia nhập vào Liên bang Xô Viết. Các nước Đông Âu khác như Ba Lan (Poland), Đức (Đông Đức),Tiệp Khắc (Czechoclovakia), Hungari (Hung Gia Lợi), Bulgaria (Bảo Gia Lợi), Romania (Lổ Ma Ni), Nam Tư (Yugoslavia) tuy chưa nằm trong Liên bang Xô Viết nhưng cơ chế chính trị của những nước này đều nằm trong quỹ đạo chủ nghĩa cộng sản quốc tế do Nga lãnh đạo qua hình thức khối Warszawa. Sở dĩ những nước Đông Âu chưa chính thức xóa bỏ đường biên giới quốc gia để trở thành là thành viên của khối cộng sản Sô Viết là vì lý do khối cộng sản Xô Viết dùng những nước này làm trái độn giữa khối cộng sản Xô Viết và khối các nước tư bản Tây Âu, trong thời kỳ còn chiến tranh lạnh giữa hai chủ nghĩa cộng sản và tư bản.



Liên bang cộng sản Sô Viết và những nước cộng sản Đông Âu trong thời kỳ cực thịnh

Tại Á châu, khu vực Đông Á và Nam Thái Bình Dương, tuy chưa chính thức công khai có một tổ chức liên bang theo mô hình Liên bang Xô Viết nhưng đã có mối liên hệ hửu cơ đặc biệt giữa các đảng cộng sản trong vùng này mà đứng đầu là đảng cộng sản Tàu. Mao Trạch Đông sau đó đã tách khỏi sự lãnh đạo của Nga tạo ra một liên bang không chính danh (de facto) theo Chủ nghĩa cộng sản Quốc tế (Quốc tế vô sản) dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Tàu. Khối này gồm Tàu, các nước vùng nội Mông, Mông Cổ (?), Tân Cương (Uyghur/Duy Ngô Nhĩ), Bắc Triều Tiên, Lào, Campuchia, và đặc biệt Việt Nam một nước đồng chí anh em ruột thịt môi hở răng lạnh với Tàu. (Ngoài ra có đảng cộng sản Nam Dương cũng là đảng cộng sản lớn mạnh sau đảng cộng sản Tàu và đảng cộng sản Việt Nam, trước khi bị tiêu diệt hoàn toàn sau cuộc cách mạng vô sản do đảng này lãnh đạo nhưng bị quân đội Nam Dương đánh bại vào năm 1965).


Những nước cộng sản khu vực Châu Á     


Những nước cộng sản trên toàn thế giới trước đây

Ngay trong những thập niên 20, 30 của thế kỷ 20, Hồ Chí Minh là một đảng viên nồng cốt của Quốc tế Cộng Sản do Nga lãnh đạo theo chủ nghĩa quốc tế vô sản “đệ tam”. Hồ Chí Minh là một đồng chí trung thành với chủ nghĩa Quốc Tế Vô Sản đệ tam do Lenin lãnh đạo, đó là thế giới cộng sản không còn lằng ranh quốc gia dân tộc, các nước cộng sản trên thế giới hợp nhất làm một. Hồ Chí Minh đã dốc toàn tâm toàn lực phục vụ cho Cộng sản quốc tế III, và thừa lệnh của Cộng sản Quốc Tế chịu trách nhiệm gầy dựng đảng cộng sản và lãnh đạo các cuộc cách mạng vô sản (cướp chánh quyền vào tay đảng cộng sản) tại các nước trong khu vực Đông Á, trước mắt là các nước trong vùng Đông Nam Á: Việt, Cam Bốt, Lào; sau đó lan xuống các nước Nam Á, theo hình thức Domino.

Hồ Chí Minh đã tẩy não những đệ tử đảng viên nòng cốt thuộc thế hệ đảng viên cộng sản đầu tiên theo đường lối của Cộng Sản Quốc Tế đệ tam mà ông được đảng cộng sản Nga đào tạo. Trong số này có Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng... Những học trò của Hồ Chí Minh đã trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Họ không còn quan tâm đến truyền thống chống giặc xâm lược Tàu phương Bắc của dân Việt mà chỉ biết phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản phi tổ quốc phi nhân bản. Tuy nhiên ngoài mặt thì họ luôn nêu ra chiêu bài yêu nước, đánh đuổi thực dân đế quốc giải phóng dân tộc để lừa dối toàn dân Việt Nam nhằm thực hiện chủ nghĩa cộng sản với ảo tưởng một thế giới thiên đường cộng sản đại đồng, không còn đường biên giới phân biệt quốc gia. Cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975 là bước đầu mà đảng cộng sản Việt Nam thực hiện cho ý đồ nhuộm đỏ toàn thế giới của cộng sản quốc tế do Nga, Tàu lãnh đạo. Chính một học trò của Hồ Chí Minh là tổng bí thư Lê Duẩn của đảng cộng sản Việt Nam đã công khai tuyên bố mục đích của cuộc chiến tranh tại miền Nam Việt Nam là: “Ta -cộng sản Việt Nam- đánh tại miền Nam là đánh cho Nga cho Tàu- cộng sản quốc tế”.




Như vậy trên thực tế là suốt thời gian từ thập niên 1930 Hồ Chí Minh nhận chỉ thị của Cộng sản quốc tế trở về Động Dương và Việt Nam xây dựng các đảng cộng sản và phát động chiến tranh đến nay, đảng cộng sản tại Việt Nam là một bộ phận tuyệt đối trung thành trước sau như một với chủ nghĩa cộng sản quốc tế đệ tam. Đối với các đảng viên đảng cộng sản xuyên suốt qua ba thế hệ, Việt Nam chỉ là bộ phận của quốc tế cộng sản do các đồng chí đàn anh Tàu, Nga lãnh đạo. Quan điểm Tổ quốc Việt Nam đã không còn trong tư tưởng của những người cộng sản Việt Nam và được thay bằng chủ nghĩa tam vô trong đó “vô tổ quốc” là một. Phần đất có tên trên bản đồ hiện nay gọi là Việt Nam đối với người cộng sản chỉ là tiền đồn bảo vệ thế giới cộng sản, là mũi tên xung kích nhuộm đỏ toàn khu vực Á Châu. Đảng cộng sản Việt Nam đã không ngần ngại hy sinh hằng triệu người dân Việt mà họ tuyên truyền là nghĩa vụ quốc tế để phục vụ cho lý tưởng cộng sản vô biên giới mà họ đã được Hồ Chí Minh tuyên truyền nhồi sọ.

Chính Hồ Chí Minh đã luôn luôn dạy cho những học trò của ông về mối tình thân thiết giữa đảng cộng sản Việt Nam và nước Tàu rằng:

“Bên đây biên giới là nhà, bên kia Trung Quốc mới là quê hương”

Sau khi Tàu cộng đánh chiếm Quần đảo Hoàng Sa của miền Nam Việt Nam vào năm 1974, chính những đảng viên cao cấp của đảng cộng sản Việt Nam đã rất hãnh diện và huênh hoang nói “Các đồng chí anh em ruột thịt Trung Quốc đã giúp ta đánh chiếm Hoàng Sa. Các đồng chí Trung Quốc đang giữ giùm cho ta, sau này người đồng chí cộng sản anh em Trung Quốc sẽ trao lại cho đảng ta”.

Hồ Chí Minh đã tuyên truyền nhồi sọ những người học trò đảng viên đảng cộng sản Việt Nam về tư tưởng vô sản quốc tế, về một thế giới đại đồng không còn đường biên giới, xem Việt Nam chỉ là “căn nhà” và Tàu mới chính là quê hương của họ. Do đó khi Hồ Chí Minh và lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam viết một văn thư với chữ ký của Phạm Văn Đồng vào năm 1958 thì đó là một việc làm tất yếu của những người trong óc không còn có nước Việt Nam mà chỉ biết quê hương của họ là Tàu, chỉ biết có chế độ cộng sản quốc tế vô tổ quốc, và chỉ biết còn đảng cộng sản độc quyền chuyên chính là còn mình.

Đảng cộng sản Tàu và đảng cộng sản Việt Nam thực chất luôn luôn là một, nên việc chúng ta tranh cãi về tính cách chính danh hay pháp lý về mặt nhà nước đại diện một quốc gia của lá thư tuyên bố của đảng cộng sản Việt Nam thông qua Phạm Văn Đồng về tuyên bố của Tàu đối với vùng lãnh hải và biển đảo tại Biển Đông vào năm 1958, thời kỳ cộng sản quốc tế đệ tam đang ở đỉnh cao, để phản bác và mong bọn xâm lược Tàu cộng suy nghĩ lại và hoàn trả quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam là một việc làm dã tràng xe cát trong khi bọn cộng sản Tàu đã chiếm đóng trước sự im hơi lặng tiếng của đảng cộng sản Việt Nam. Bọn Tàu cộng không dừng ở Hoàng Sa, chúng đã thu tóm Gạc Ma và một số bải đá tại Trường Sa vào năm 1988. Nay bọn Tàu cộng đang tiếp tục xâm chiếm đất nước Việt Nam qua hành động ngang nhiên mang giàn khoan dầu khổng lồ HD981vào xâm chiếm vùng lãnh hải của Việt Nam trong khi đó thì đảng cộng sản Việt Nam lại nói chuyện hoà bình hợp tác với đảng cộng sản Tàu trong tình cảm anh em một nhà, tình đồng chí vô sản thế giới đại đồng. Trước vấn đề nghiêm trọng về tình trạng biển đảo bị Tàu xâm lược nhận chìm tàu tuần tra và tàu thuyền của ngư dân Việt Nam đang xảy ra ngoài biển Đông càng lúc càng hung bạo, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng của đảng cộng sản Việt Nam, đại tướng Phùng Quang Thanh, trước hội nghi Changri-La Singapore lại vô tư nói rằng đó chỉ là chuyện bất đồng nội bộ trong gia đình (cộng sản anh em)!

Chỉ khi nào một thể chế mới không còn là chế độ độc tài cộng sản thay thế đảng cộng sản hiện nay tại Việt Nam thì chúng ta mới có cơ may đánh đuổi bọn xâm lược Tàu ra khỏi bờ cỏi, ra khỏi Hoàng Sa và Trường Sa.

Công việc cấp bách của toàn dân Việt Nam không phải tìm cách hóa giải hay bao che cho hành động của Hồ Chí Minh, qua Phạm Văn Đồng, của đảng cộng sản Việt Nam, mà là sớm tìm ra phương cách để nhanh chóng thay đổi thể chế độc tài cộng sản vô tổ quốc bằng một thể chế tự do dân chủ của dân, do dân, vì dân, một chính quyền đặt sự toàn vẹn lãnh thổ lên hàng đầu. Khi đó thì cái gọi là công hàm của đảng cộng sản Việt Nam viết cho đảng cộng sản đàn anh Tàu cộng sẽ chỉ là một tờ giấy lộn giữa hai đảng một bên trao và một bên cướp, không có chút giá trị nào. Khi đó cả nước sẽ đoàn kết đồng lòng chống lại giặc Tàu cộng, giành lại bờ cõi đã bị đảng Việt cộng trao cho giặc Tàu cộng.

Ngày 18/06/2014
Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam
danlambaovn.blogspot.com


Về Đầu Trang Go down
nguyenvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Sat Jul 26, 2014 4:15 pm


Vài điển hình dối trá của cộng sản




Le Nguyen (Danlambao) - Cộng sản có nhiều tật xấu, ác - trong đó có tật nói dối lem lẻm, dối không biết ngượng mồm là “đỉnh cao trí tuệ” của cộng sản Việt Nam. Dối trá của cộng sản có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan và dối trá là dối trá không một ai bận tâm đến chủ quan hay khách quan vì dối trá là mặt tiêu cực chỉ gây hại cho cuộc sống con người. Đặc điểm của dối trá cộng sản là dù bị lật tẩy vẫn cố cãi chày cãi cối, cãi lấy được... cãi trơ trẽn đến độ người hiểu biết trung bình vô tình nghe thấy cũng cảm thấy xấu hổ, nhưng với những tên cán bộ, quan chức Việt cộng đa phần nếu không nói là hầu hết không còn biết nhục nhã, xấu hổ khi nói láo bị lật mặt, chúng vẫn cứ lỳ, cứ trơ mặt ra không biết mắc cỡ là gì?

Cố tật nói láo với bản chất độc ác của cộng sản có hằng hà sa số như bát quái trận đồ, khó có bút mực nào tả siết, vì cộng sản cứ truyền đời dối trá từ thế hệ cộng sản này sang đến thế hệ cộng sản khác nên không thể ngăn chận hay loại trừ. Do đó những bài viết, những tài liệu ghi lại dối trá của cộng sản chưa thống kê đầy đủ, chưa khô mực thì dối trá cộng sản tràn tới từ trong hiện thực đời sống hợp cùng với rừng tin tức, sách vở định hướng dư luận theo chỉ đạo của tuyên giáo trung ương đảng cộng sản, muôn hình vạn trạng không sao kể siết.

Đặc biệt dối trá của cộng sản từ cộng sản lãnh đạo đến cộng sản thừa hành thường có cùng một bài bản khi bị vạch mặt dối trá, là cãi trước cái đã...kế đến là chối tội, cuối cùng là khi dối trá bị bắt gặp quả tang với bằng chứng hiển nhiên không thể phủ nhận thì chúng chuyển qua đổ thừa cho đủ thứ nguyên nhân trên trời dưới biển... Cho dù lời lẽ đổ thừa không đủ cơ sở lý luận hợp lý hay lý luận rất trẻ con nhưng chúng cũng không ngần ngại “cãi - chối tội - đổ thừa” cho hành vi dối trá của chúng.

Không ai lạ với bản chất dối trá mang dấu ấn thuộc bản quyền, độc quyền cộng sản và dối trá cộng sản khó có “đối thủ” cạnh tranh nói láo với những tên cộng sản Việt Nam. Nếu có ai đó vui miệng khen tài nói láo của cộng sản thì chúng lại nhảy dựng lên bảo là xuyên tạc, nói xấu, chống phá...với hàng hàng lớp lớp ngôn ngữ cộng sản xung phong ra trận tràn ngập cứ điểm “tự do ngôn luận” được bảo đảm trong hàng rào xã hội chủ nghĩa. Từ gốc độ đó chỉ ra dối trá cộng sản là “vô địch” dối trá, “thiên tài” dối trá mang tính đặc thù gắn nhãn mác cộng sản Việt Nam.

Thực tế chỉ ra kho tàng dối trá cộng sản do tuyên giáo cộng sản biên soạn, tàng trữ ngày càng đầy thêm và nó được cán bộ tuyên giáo cấy vào đầu các con cộng sản nên một sớm, một chiều rất khó để tẩy xóa, gột rửa. Do đó dối trá cộng sản thuộc về quá khứ xa lẫn quá khứ gần, cho dù ai đó có thiện chí, kiên nhẫn cách mấy cũng khó mở mắt cho những kẻ mù đảng tin tưởng vào những điều dối trá giàu tính hư cấu, tưởng tượng của những cuốn tiểu thuyết lãng mạn cách mạng, những bộ phim truyện thần thoại đậm chất đảng tính này.

Nền tảng lý luận của bộ phim thần thoại “bác”, của bộ tiểu thuyết “đảng” đã biến những tên cán cộng trở thành những tên nói dối lem lẻm, dối không biết ngượng mồm. Thậm chí chúng tưởng những điều dối trá của bác đảng là thật và sẵn sàng phùng mang, trợn mắt chửi bới, gán ghép “thế lực thù địch, phản động, nói xấu, chống phá...” cho bất cứ ai vạch trần sự dối trá của bác đảng, của nhà nước cộng sản Việt Nam.

Những tên cộng sản dối lem lẻm, dối không biết ngượng mồm từ vô danh đến hữu danh, từ tên cán bộ cắc ké đến tên cán bộ lãnh đạo trung, cao cấp của đảng cộng sản không người dân nào là không biết và nếu không trưng dẫn bằng chứng hiển nhiên không thể chối cãi cũng khó cãi lại chúng.



Điển hình của một số vụ việc “ cãi - chối tội - đổ thừa” của một số lãnh đạo cộng sản dối trá bị lật mặt nạ trong thời đại tin học có những vụ điển hình như sau:

“Điển hình dối trá “một”
là clip thu hình đảng viên Nguyễn Chí Đức bị “đồng chí” đại úy công an Phạm Hải Minh đạp vào mặt trong cuộc xuống đường biểu tình chống quân xâm lược Tàu Cộng trước mắt hàng trăm cặp mắt người dân ở thủ đô Hà Nội. Thế mà ông trung tướng Nguyễn Đức Nhanh Giám đốc Công an Hà Nội - trả lời báo chí dù thừa nhận sựthật không thể chối cãi về hình ảnh cảnh sát khiêng, đạp vào mặt một người đàn ông biểu tình tự phát lên xe bus là phản cảm.

Thế nhưng ông Nhanh không quên cố tật dối trá đã nói thêm rằng: “...clip phát tán từ nguồn ở nước ngoài nên hiện chưa xác định được người đưa hình ảnh lên mạng. Chúng tôi cũng không thể xác định được clip có bị cắt ghép chỉnh sửa gì hay không?...”

Điển hình dối trá “hai”
là clip thu hình hai phóng viên đài VOV bị đánh đập thô bạo trước mắt hàng ngàn người dân trong vụ cưỡng chế, thu hồi đất ở Văn Giang. Vậy mà ông Nguyễn Khắc Hào phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên thản nhiên báo cáo “láo” với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong Hội nghị trực tuyến là lực lượng cưỡng chế đã thực hiện tốt các phương án đề ra, đảm bảo an toàn không ai bị thương. Ông Hào còn mạnh miệng khẳng định video clip ghi lại hình ảnh nhiều người bị công an sắc phục và nhân viên thường phục đánh hội đồng là dàn dựng giả mạo để vu khống bôi nhọ chính quyền.

Điển hình dối trá “ba”
là clip Ngư dân bị côn an, dân phòng cướp tôm mang về... uống rượu đã khiến dư luận bày tỏ phản ứng gay gắt trước hành vi cướp cạn giữa ban ngày của lực lượng công an, dân phòng đối với ngư dân Thanh Hóa. Thế mà ông chánh Văn phòng Công an tỉnh Thanh Hóa, đại tá Trần Văn Thực trong cuộc trả lời báo đài nhà nước đã bạo mồm, bạo miệng tuyên bố nội dung đoạn clip là những hình ảnh ghép, không có thật nhưng ông ta không thể chỉ ra được chỗ nào là ghép.”

Ba dối trá trơ trẻn phát ói điển hình của quan chức lãnh đạo cộng sản vừa nêu chỉ là chuyện nhỏ so với những dối trá kinh hoành khác của dối trá cộng sản. Chẳng hạn như việc công an đánh chết người dân trong đồn khi tạm giam, tạm giữ đều được báo cáo “láo” là do tự tử và nhìn thương tích trên thân thể dẫn đến cái chết của bị hại, đến đứa con nít cũng có thể biết được chết là do tra tấn, nhục hình nhưng những kẻ gây tội ác giết người không có ai chịu trách nhiệm, không ai bị làm sao cả.

Thậm chí những kẻ gây tội giết người bị thân nhân người bị hại có đủ đầu mối, bằng chứng để những kẻ gây ra tội phải trả giá cho tội ác của chúng gây ra. Thế nhưng những cá nhân, cơ quan điều tra có trách nhiệm truy tố nghi phạm ra tòa để trả lời những việc của chúng làm, lại đưa ra kết luận dối trá lộ liễu là không đủ yếu tố buộc tội như trường hợp của Nguyễn Công Nhật bị đánh chết ở trại tạm giam tỉnh Bình Dương, vợ bị đòi tiền hối lộ, bị gạ tình có thu âm vẫn không đủ yếu tố buộc tội?

Đáng kinh tởm nhất cho những dối trá đặc biệt nghiêm trọng này là không có những kẻ trực tiếp lẫn gián tiếp gây tội ác giết người bị trả giá, bị trừng trị thích đáng. Những kẻ giết người dã man, lem lẻm chối tội loại này đa số đều nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật vì theo cơ quan “điều tra” là không đủ yếu tố buộc tội để truy tố ra tòa. Hài hước hơn là nếu như đủ bằng chứng phạm tội không thể chối cãi thì những tên côn an phạm tội được bao che, đưa vào khung hình phạt nhẹ nhất có thể, mang nặng tính hài hước hơn là “xử đúng người đúng tội...vi phạm tới đâu xử tới đó...không bao che...” như các quan chức cộng sản quen mồm nói láo, không người dân nào là không biết! Cụ thể là trường hợp tòa xử án tốp sĩ quan công an tra tấn tàn độc làm chết nạn nhân Ngô Thanh Kiều ở tỉnh Phú Yên.



Ngoài ra “dối trá cộng sản” còn biến tướng để trở nên quái đản, kinh dị hơn hẳn những bộ phim do con người giàu óc tưởng tượng làm ra. Cụ thể như quan niệm đạo đức được cộng sản nâng lên tầm “đạo đức cách mạng” không giống như nền tảng đạo đức truyền thống của loài người hiểu và khinh qua. Đạo đức cách mạng cộng sản đồng nghĩa với giết người cướp của, giết càng nhiều người, càng độc ác càng dễ trở thành vĩ nhân, dễ được tôn lên thành thánh để được cường quyền dựng tượng, lập đền cưỡng ép người dân bái lạy thờ phượng. Trong thời đại tin học ngày nay, rất íy người không biết đạo đức cộng sản, thánh cộng sản tên nào tay cũng nhuộm đầy máu đồng bào đồng loại và những ông thánh cộng sản, mỗi ông ít nhất cũng từ vài trăm ngàn, vài triệu cho đến vài chục triệu mạng người như Lenin, Stalin, Mao, Kim, Hồ...là những ông thánh được dựng tượng thờ phượng mang tính đặc thù cộng sản như vừa bàn đến!

Thực ra cộng sản cũng không dám lộ liễu đi quá xa quan niệm truyền thống chung về đạo đức, về thánh nhân được đúc tượng, tạc tượng, dựng tượng cho loài người thờ phượng noi gương, làm hình mẫu sống cho hậu thế học tập, làm theo. Điểm khác biệt về đạo đúc, về thánh nhân là cộng sản với công cụ tuyên truyền dối trá, công cụ bạo lực khủng bố của nòng súng, nhà tù kể cả ám sát thủ tiêu, giết người bịt miệng, biến đen thành trắng, sửa đổi sự thật lịch sử, thêu dệt hào quang lãnh tụ, tẩy xóa tội ác của các tên bạo chúa, độc ác gian manh cộng sản để biến thành thánh cộng sản với công đức cao dầy, tài năng xuất chúng, xuất quỷ nhật thần có một không hai trong tiến trình hình thành, tổ chức và phát triển xã hội loài người.

Những chiêu trò dối trá, dối lem lẻm, dối không biết run sợ, dối không biết ngượng mồm, biến không thành có, biến cái vô đạo đức thành đạo đức, biến ác quỷ thành thánh nhân của cộng sản đã bị lật tẩy trong thời đại tin học nhưng dối trá cộng sản vẫn chưa được ngăn chận và đẩy lùi.

Ngay cả những người sống trong lòng cộng sản, sống trong chiếc nôi cộng sản, lớn lên trưởng thành, thành danh và nắm giữ những chức vụ, quyền lực quan trọng trong hệ thống tổ chức cộng sản, có đủ kinh nghiệm lẫn trung thực để nói về bản chất dối trá cộng sản, thừa nhận dối trá cộng sản như ông nguyên tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô, Gorbachev kết luận “...Tội đã hiến dâng nữa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn nói rằng đảng cộng sản chỉ có tuyên truyền và dối trá...” hay nhà văn Nguyễn Khải, đaị tá quân đội nhân dân kết luận cộng sản chi tiết hơn “...Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra…”

Qua trích dẫn lời nói cũng như trưng dẫn vài ba sự việc cụ thể liên quan đến dối trá của các lãnh đạo trung, cao cấp cộng sản còn sống hoặc đã chết, cựu lãnh đạo lẫn đương quyền lãnh đạo, đủ chứng thực bản chất dối trá cộng sản mang tính “di truyền” là có thật, không thể biện hộ hay chối cãi. Tất cả trích dẫn lẫn dẫn chứng đều lấy từ nguồn của các quan chức cộng sản mà không sử dụng nguồn của các cá nhân “phản động”, tổ chức “thù địch” để đảng, nhà nước cộng sản có cơ sở đổ thừa là bịa đặt, xuyên tạc, nói xấu, chống phá…

Từ nền tảng dối trá cùng với nhiều tật xấu khác, đảng cộng sản Việt Nam cướp chính quyền, giành độc quyền lãnh đạo nhà nước – xã hội đã gây ra tai họa làm băng hoại xã hội, đạo đức suy đồi, đất nước tan hoang và với nền tảng xấu ác, độc quyền lãnh đạo, đảng cộng sản đã dìm dân nước xuống đáy đói nghèo, lạc hậu, chậm tiến không lối thoát. Do đó để đất nước cất cánh bay lên ngang tầm các nước trong khu vực, bắt kịp các nước văn minh tiên tiến hòa nhập vào giòng sống nhân loại, không còn cách nào khác là phải xóa bỏ độc tài toàn trị, loại bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam bởi vì như cựu tổng thống Nga Boris Yeltsin, nguyên lãnh đạo cao cấp cộng sản Nga tuyên bố “…Cộng sản chỉ có thay thế chứ không thể cải sửa được…” và cộng sản cai trị đất nước trên nền tảng dối trá, với những quan chức dối trá độc quyền quyền lực nhà nước thì không thể thực hiện được mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh!

Le Nguyen
danlambaovn.blogspot.com


Về Đầu Trang Go down
vanle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Tue Jul 29, 2014 7:26 am


Lỗi của ai!!!???





Biếm họa PHO (Danlambao)
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Fri Oct 17, 2014 4:20 pm


Sự Thật cuối cùng đến quá trễ!


Phan Nhật Nam


Từ trái qua: Ông Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Hoàng Quốc Việt trong căn cứ kháng chiến Việt Bắc năm 1948.
AFP photo

Nỗ lực của hệ thống cộng sản phương Đông là tạo nên một tính chất tôn giáo, và nguồn cảm hứng của một tôn giáo.

Albert Einstein

Đời sống không Tình Thương giống như cây không nở hoa, đơm trái.

Khalil Gibran

Tôi biết nó!
Thằng nói câu nói đó!
Tôi biết nó!
Đồng bào miền Bắc biết nó!

Nguyễn Chí Thiện, 1968

Không có gì quý hơn Độc Lập–Tự Do.

Hồ Chí Minh

Xã hội chủ nghĩa dẫu chưa hoàn chỉnh nhưng tốt đẹp gấp vạn lần chế độ tư bản!

Trường Chinh, dịp “Thống nhất nước nhà về mặt nhà nước”, 1976.

Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô. Đánh cho Trung Quốc.

Lê Duẩn

Đường vinh quang xây xác quân thù! Thề phanh thây uống máu quân thù!

Tiến Quân Ca của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa/Cộng Hòa XHCN Việt Nam
Văn Cao, Trưởng Ban Ám Sát Thành Phố Hải Phòng, 1945

Người cộng sản phải luôn sẵn sàng trong mọi thời thế để đấu tranh cho Sự Thật, bởi Sự Thật chính là Quyền Lợi của Nhân Dân.

Mao Trạch Đông “Về Chính Phủ Liên Hiệp” (Ngày 24 tháng 4, 1945)


Dẫn Nhập:
Vào một ngày dịp Tết năm 1950 qua 1951, trong chiến khu tả ngạn sông Hương, đứa nhỏ hỏi một cán bộ cộng sản loại cao cấp tên Nhân (chắc chỉ là bí danh; có cây súng cá nhân nhỏ): Tại sao súng chú to vậy? Chú Nhân đáp: Súng to dùng để bắn Tây. Vài ngày sau người trong khu khám phá xác bà mẹ chị Trang (người giúp việc cho gia đình đứa nhỏ) chết ngã sấp nơi bờ sông, chỗ đứa bé và chú Nhân có đối thoại kể trên. Vừa thấy xác mẹ chị Trang, đứa nhỏ nhớ ngay đến hai hình ảnh: Đêm đêm bà đút nước cháo cho du kích. Và ánh mắt tìm kiếm, dò xét của chú Nhân khi loay hoay nơi bờ sông. Nay, sáu mươi năm hơn, trí nhớ của đứa trẻ chưa lên mười năm ấy vẫn còn nguyên độ với câu tự xác định từ tấm bé: Chú Nhân bắn mẹ chị Trang chứ không ai hết. Chú Nhân ÁC quá!

Kể thêm câu chuyện, qua năm 1954 sau khi đã vào Đà Nẵng, đến khu bệnh viện Đường Lê Lợi (sau 1954 sửa chữa thành Trường Nam Tiểu Học; sau 1975, nhà nước cộng sản đổi thành Trường Trung Học Cơ Sở Phan Châu Trinh thay thế Trường Phan Châu Trinh cũ (đối diện với trường Nam Tiểu Học) xem cuộc triển lãm tranh ảnh của Chiến Dịch Tố Cộng. Nhìn thấy bức ảnh ông Hồ ngồi giữa một đám thiếu nữ với lời ghi chú “Bác Hồ dâm bôn”. Dẫu chưa hiểu đủ nghĩa chữ “dâm bôn” nhưng gã thiếu niên tin rằng “Bác Hồ (quả thật) dâm bôn”  vì nhìn ra nét mặt hả hê thống khoái của ông Hồ được nhiều thiếu nữ vây quanh. Qua thập niên 60, lớn lên đi lính dịp hành quân, bản thân tìm thấy trong mật khu cộng sản những hình ảnh ông Hồ ôm hôn trẻ con (phần đông là trẻ gái) từ trong Nam ra Bắc...

Từ những sự kiện nầy, ý “dâm bôn” đối với Hồ Chí Minh từ nhỏ được khẳng định/rõ hơn là ấu dâm - Hiện thực nên thành chữ nghĩa trong Phan Nhật Nam, Chương “Cái Chết Của Một Lãnh Tụ - Dọc Đường Số I, NXB Đại Ngã Sàigòn, 1970. Và sau nầy, khi đọc đến vụ việc Hồ Chí Minh thuận để bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn hiếp xong giết hại cô Nông Thị Xuân, người đã thai sinh Nguyễn Tất Trung sau thời gian dài ăn ở với ông Hồ dưới danh nghĩa “con nuôi của bác”. Với vụ việc nầy cảm nhận từ những năm 50, 60 xa xôi kia càng trở nên hiện thực qua kết luận: Hồ Chí Minh là biểu hiện thuần thành của Tính Dâm/Sự Ác. Nói rõ hơn: Nơi nhân sự có tên Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Ái Quốc, Linov, Lão Vương, Hồ Quang.. mà cuối cùng là Hồ Chí Minh thì Lực Dâm đã được chuyển hóa nên thành Mưu Thuật/Trí Hiểm/Bản Lãnh một cách toàn diện và triệt để của Sự Ác.

Ý niệm ÁC từ 1950, 1960... về người và chế độ cộng sản điển hình với HCM dần được xác chứng bởi mắt thấy/tai nghe/thính giác ghi nhận/xúc giác chạm đủ với tận mười đầu ngón tay tại những hiện trường còn mùi bom đạn/âm âm sự chết/đầm đìa sự tàn nhẫn do người cộng sản gây nên khắp từng thước đất miền Nam. Sự Chết với tác nhân cộng sản bày ra đủ từ vùng Châu Thổ sông Cửu Long qua chiến khu D, vùng rừng miền Đông Nam Bộ; ở Cao Nguyên Trung Phần đầu nguồn sông Ia Drang. Và cụ thể với mỗi con đường, mỗi căn nhà ở Huế sau Mậu Thân (2/1968). Điển hình hơn hết trên 9 cây số đường từ Hải Lăng đến Cầu Câu Nhi Phường, ngày theo Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tái chiếm Quảng Trị 25 tháng 6, 1972. Và cuối cùng, nói sao cho đủ, viết sao cho hết với mỗi bước chân dẫm lên xác người di tản từ Pleiku về Tuy Hòa, bắt đầu Ngày 16 Tháng 3, 1975 đề kết thúc đúng giờ Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng với thây một con trẻ nát nhầy trước Trại Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù Đường Lê Văn Duyệt, đối diện Nghĩa Trang Đô Thành. Tiếp theo với mười-bốn năm nơi những nhà tù Bắc/Nam sau 1975 thì xác chứng kể trên đã nên thành một xác quyết không thể nào phủ nhận được - Cộng Sản/Sự Ác là Một.

Đèn Cù của Trần Đĩnh đến năm 2014 mới được in ra. Quá trễ. Nhưng muộn còn hơn không bởi còn nhiều người, rất nhiều người vẫn tin rằng: Người cộng sản dẫu sao cũng là người việt nam (không thể có can đảm viết hoa vì không đủ nhẫn tâm đối với 90 Triệu Người Việt Nam hiện tại đang ở trong nước). Bài viết sẽ được chứng minh từ, với chữ của Trần Đĩnh chứ không phải của ai khác – Đảng viên đảng cộng sản việt nam, từ 1948, bắt đầu 1951 viết báo “Sự Thật”. Cái gọi là “Sự Thật” đến bây giờ mới được soi tỏ bởi ánh sáng một cây Đèn Cù – Một loại đèn với hình ảnh, ánh sáng không thật.

Một- Đảng không thật/Đảng không mạnh


Đảng không  thật. Vì ngay từ lúc chưa chính thức thành hình, năm 1925, Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh sau nầy) thử “Việt Nam Hóa” tổ chức thanh niên cộng sản do ông thành lập qua danh xưng Việt Nam Thanh Niên Kách Mệnh Ðồng Chí Hội. Mưu định “Việt Nam Hóa” bị khám phá, ông Côn bị thất sủng do nghi ngờ có tinh thần “hữu khuynh quốc gia” đối với Ban Phương Ðông của Quốc Tế Cộng Sản. Năm 1930, ông lại  thêm một lần bị chỉ trích và phê  phán vì đã tự động thống nhất ba chi phái cộng sản (Đông Dương Cộng Sản Đảng; Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn; An Nam Cộng Sản Đảng) dưới danh xưng Việt Nam Cộng Sản Ðảng! Quốc Tế Cộng Sản cực lực lên án sự thống nhất với danh xưng nầy vì cho đây là biểu hiện của sự phân liệt, đặt mục tiêu quốc gia lên mục tiêu quốc tế. Cuối cùng, tổ chức cộng sản (gọi là Việt Nam) đầu tiên phải lấy lại tên cũ: Đông Dương Cộng Sản Đảng! Quyết định do Đại Hội Trung Ương Đảng Lần Thứ Nhất họp tại Hồng Kông (Tháng 10, 1930) căn cứ trên  nghị quyết của Quốc Tế Cộng Sản. Như thế Đảng cộng sản (gọi là) Việt Nam sống đúng được 8 tháng từ tháng 2 đến tháng 10 năm 1930.

Nhưng dẫu đã ngoan ngoãn tuân hành Quốc Tế Cộng Sản.. Tháng 12, 1945, Đảng Cộng Sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán với tờ báo đầu tiên của nó, Cờ Giải Phóng. Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác (không cõng kèm theo chủ nghĩa Lê-nin) bèn ra đời cùng báo Sự Thật (Lại thêm một lần của nhiều vay mượn, vì “Pravda -Sự Thật" là cơ quan ngôn luận của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga và Đảng Cộng sản Liên Xô từ 1912 đến 1991. Sau nầy, Sự  Thật/VN được thay thế bởi Nhân Dân, số báo đầu tiên ra ngày 11 Tháng 3 năm 1951 tại chiến khu Việt Bắc. Báo Sự Thật/Nhân Dân/CSVN giữ vai trò tương tự như báo của Liên Xô cho đến hôm nay, Thế Kỷ 21, với tổng số phát hành 180.000 tờ/ngày. Hầu hết người Việt, kể cả đảng viên, các cơ quan nhà nước thường dùng gói đồ, việc vệ sinh.. Pnn) Đây là một vận động trái khoáy, ngược chiều cực kỳ hiếm mà lúc ấy (1945-Pnn) tôi chưa biết: Vừa giành được chính quyền để nổi lên thì đảng đảng lập tức “thoái trào”, rút vào bí mật, giấu tiếng, ẩn danh như chưa từng có bao giờ.. (ĐC, trg 19)

Giải tán đảng, đổi tên báo không phải là việc làm tùy tiện, nhất thời của HCM, ủy ban trung ương đảng.. Trần Đĩnh giải thích: “..Cụ Hồ mượn tên Trần Lục (HCM luôn có thói tiếm danh/dấu tung tích (như đã một lần với danh xưng Nguyễn Ái Quốc của nhóm Ngũ Long – Năm Người An Nam Yêu Nước ở Paris, 1919) của Cụ Sáu, Phêrô Trần Lục (1825-1899), giáo sĩ nổi tiếng vùng Bùi Chu, Phát Diệm) chỉ viết đến kháng chiến thắng lợi và đất nước hạnh phúc chung chung. Ai rồ mà nói lại chủ nghĩa xã hội, cải cách ruộng đất,thủ tiêu giai cấp? Để cho dân bỏ vào tề (Tề/Thành/T: Vùng quốc gia –Pnn). Về danh nghĩa đảng đã giải tán hoạt động trong bóng tối che chắn của chính quyền (Chính phủ liên hiệp/Chính phủ kháng chiến, thành hình tại Hà Nội, 2/9/45 -Pnn) do đảng nắm chặt (ĐC- Trg 28)

Cần nhắc lại, năm 1942, Hồ Chí Minh (đang mang tên Nguyễn Ái Quốc bị Quốc Dân Đảng Trung Hoa cầm tù) và tổ chức cộng sản (Việt Nam) cũng đã một lần buộc phải cởi lốt, mặc áo khác, trốn sau lưng một danh xưng khác.. “Theo lệnh trung ương (đảng), Hoàng Quốc Việt đến bảo Kỳ Vân (Một đảng viên trung ương cự phách, sau nầy phải tự vẫn vì tội “chống đảng”, cả gia đình phải chịu liên hệ. Sẽ nói lại nhân vật kiệt liệt nầy ở chương sau-Pnn) sang Hoa Nam tham dự đại hội Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội do Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch triệu tập cuối năm 1942. Họ (Quốc Dân Đảng Trung Hoa-Pnn) muốn thống nhất các tổ chức chính trị Việt Nam ở Hoa Nam để đánh Nhật ở trong nước.. Cũng nhờ Hồ Học Lãm (Phe cách mạng quốc gia-Pnn) nói với Trương Phát Khuê (Một thủ lãnh Quốc Dân Đảng Trung Hoa-Pnn) nên cụ (NAQ/HCM-Pnn) được ra khỏi tù cùng với Nguyễn Hải Thần (Phe cách mạng quốc gia-Pnn) về nước lãnh đạo Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Gọi tắt Việt Minh) - ĐC; Trg 39).

Tóm lại, tất cả nguyên nhân quyết định tiên khởi để có “Cách mạng mùa Thu/Cướp chính quyền/Tuyên ngôn độc lập đọc tại Ba Đình ngày 2/9/45” là từ đây: Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh được ra khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch do sự bảo chứng của Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần, những lãnh tụ cách mạng quốc gia đối với Quốc Dân Đảng Trung Hoa.

Đảng không mạnh. Tháng 10, 1949 nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Hơn hai tháng sau cụ Hồ (đã là chủ tịch nước VNDCCH từ 2/9/1945-Pnn) bí mật len qua vùng địch ở Phục Hòa, Cao Bằng đi Trung quốc.

... Đâu biết đại thí sinh sắp dự cuộc khẩu thí mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế giới.
... Ông cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai.
... Ông cụ kiểm thảo xong, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét, góp ý kiến.
...

-Sao lại kiểm thảo?
-Là một chi bộ của quốc tế. Phải xin quốc tế cho nhận xét chứ!…

Nhưng hệ lụy đã nằm sâu bến trong vô thức đảng viên cộng sản Việt Nam: Vị trí đàn em, bên dưới, yên phận, biết ơn.

... Xuân Trường (Ủy viên trung ương đảng, thập niên 60, 70-Pnn) bác nhà mình chủ động khẳng định với Bác Mao quan hệ môi răng giữa Việt Nam và Trung Quốc.

... Bác tự động nhận mình chỉ nêu được có tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao Chủ Tịch. Được lãnh tụ ráo riết giáo dục (?-Pnn) điều lệ thêm câu: Lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam…

... Từ 1951, tuần nào báo Nhân Dân cũng có vài mẫu của CB (tức cụ Hồ) phổ biến mọi mặt của Trung Quốc. Dần dà đảng viên cộng sản Việt Nam lại tìm ra chỗ để tự hào được làm em của hai nước vĩ đại: Liên Xô anh cả và Trung Quốc anh hai.

(ĐC, từ trg 47-51)

Từ 1951 đã là vậy huống gì đến năm 1954 với yểm trợ của Trung cộng từ bát ăn cơm, bánh lương khô, đến khẩu pháo kéo vào trận địa. Nên dẫu đã chiến thắng trong những ngày đầu Tháng 5, 1954. Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đã buộc phải đến Liễu Châu theo lệnh từ Bắc Kinh trong lúc thế nước đang hồi quyết định để tiến hành tám lần họp trong ba ngày (3-5 Tháng 7, 1954). Cuộc họp đưa ra quyết định trọng đại tại Hội Nghị Đình Chiến Đông Dương đang họp tại Genève (7/1954) đối với số phận tương lai của Việt Nam dưới chủ trì của Chu Ân Lai nhận lệnh trực tiếp từ Mao Trạch Đông.

40 năm sau, 1990 tại Thành Đô, Trung Hoa khi hệ thống đảng cộng sản thế giới đang trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Với tập đoàn lãnh đạo gồm những nhân vật thứ  yếu như Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười..Và dẫu có sự tham dự của cố vấn Phạm Văn Đồng, thuộc thế hệ lãnh đạo cộng sản thứ nhất cùng đến Thành Đô. Nhưng cố vấn Đồng cũng chỉ có mặt đề xác chứng thêm một lần thuận nhượng Hoàng-Trường Sa qua công hàm ấn ký ngày 14 tháng 9, 1959 về quy định của Châu Ân Lai. Vậy hỏi thử tập đoàn cầm đầu đảng cộng sản nơi Hà Nội hôm nay có thể xoay trở  được gì qua sự kiện giàn khoan HD981?

Trong suốt quá trình gần một thế kỷ (1930-2014), Đảng cộng sản Việt Nam không hề thật/Đảng không hề mạnh/Đảng chỉ là vệ tinh của Quốc Tế Cộng sản, nói rõ hơn thống thuộc với Đảng cộng sản Trung Hoa. Và tất cả tai họa cuối cùng chung nhất của toàn Dân Tộc Việt Nam rộng ra với dân chúng ba nước Đông Dương (tất nhiên bao gồm cả người/tổ chức đảng cộng Đông Dương/Đảng cộng sản VN) không phải là vấn đề: “Mao nhều”- Chữ của Trần Đĩnh để chỉ nhóm ”thuần Mao” nơi tòa soạn báo Nhân Dân, nhà xuất bản Sự Thật, Bộ chính trị ở Hà Nội..  Hay là nhóm gọi là “Xét Lại” tức là thành phần “Mao (không) nhều” mà là “Khruschev gộc” tức là nhóm theo Liên Xô/Thuần Nga..v..v.

Những vấn đề như trên là “VẤN ĐỀ GIẢ”. Vấn đề chính là “Hồ hàm” tức là “Thuần Hồ/Từ Hồ/Của Hồ/Với Hồ” – Đầu mối toàn bộ tai họa của Phận Mệnh Việt Nam/Đông Dương. Tập thể “Hồ hàm”” không chỉ giới hạn nơi Hà Nội mà có mặt của Mặt trận giải phóng Miền Nam; Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào; đảng Nhân Dân Cách Mạng Khmer – Những sản phẩm thuần thành từ Đảng cộng sản Đông Dương/VN – Tức là của “Hồ hàm” chứ không thể của ai khác. Đây là nội dung của những phần kế tiếp mà bản thân phải nói cho đến tận cùng khi Viết với Tính Thật của hôm nay 2/9/2014 thay thế Lịch Sử bị đánh tráo từ  2/9/1945 khi đọc Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Bởi, chỉ mấy chục trang sách từ 19 đến 51 thôi mà Trần Đĩnh phải đợi hết một đời người mới viết được viết nên!

Hai- Thuần Hồ/Của Hồ/Với Hồ

Quả thật Đảng cộng sản Việt Nam không phải hên may mà đoạt thắng suốt lịch sử dài từ 1945, 1954, 1968, 1972, 1975... nhưng bởi đã tập họp đủ các điều kiện thuận tiện, vận động thời cơ đúng lúc, lợi dụng được tình thế.. do những sơ hở, nhầm lẫn của lịch sử luôn lập lại. Những nhầm lẫn khách quan và chủ quan của thế trận quốc tế, nơi khu vực Đông Nam Á đưa tới để thực hiện “Cách mạng Tháng 8 năm 1945”; những lổ hổng (có dự tính của các bên đàm phán) của Hiệp Ước Đình Chiến Đông Dương 1954; những mù mờ (rất nhiều tính toán của các bên giữ phần quyết định) khi ký kết Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam 1973.. Những nhầm lẫn, dự mưu, tính toán từ nhiều thế hệ lãnh đạo mang đủ quốc tịch Mỹ, Hoa, Nga, Anh, Pháp..Những nhân sự khôn ngoan, trí hiểm nói lên lời và thực hiện đủ sách lược: “Trong chính trị không có kẻ thù vĩnh viễn chỉ có lợi ích (quốc gia của mỗi bên) là không thay đổi.. “ Đây là những người không hề kể đến mối đau VN, vì “Việt Nam Cộng Hòa” hay “Việt Nam Cộng Sản” không là mối quan tâm của họ như trong lần Cố vấn an ninh quốc gia Kissinger bàn tính với Thủ tướng Châu Ân Lai ở năm 1972 về cục diện Đông Nam Á, thế trận toàn cầu. Và cuối cùng, nhân vật tên gọi Nguyển Tất Thành, Nguyễn Sinh Côn, Linov, Thầu Chín, Lão Vương, Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh và những kẻ phụ tá, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ… cùng một tập thể gồm những cá nhân thuộc tổ chức đảng cộng sản – Tập thể tuy gọi là người Việt nầy nhưng suy nghĩ, hành động theo chỉ đạo của tổ chức cộng sản quốc tế, cụ thể những nghị quyết xuất phát từ Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh.

Kể từ Hội Nghị Thành Đô 1990 Bắc Kinh chiếm giữ độc quyền chỉ đạo Hà Nội, sau khi đảng và nhà nước cộng sản Liên Xô tan rã, 1991. Đồng thời trong quá trình tuân phục tổ chức quốc tế cộng sản, giới cầm quyền đảng, nhà nước cộng sản VN luôn áp dụng một phương cách, phương tiện, điều kiện,hoàn cảnh riêng để thực hiện cho bằng được mục tiêu:  “Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình. Đấu tranh này là trận cuối cùng. Kết đoàn lại để ngày mai.. Sẽ là xã hội tương lai..” như bài hát Quốc Tế Ca kêu gọi thúc dục. Chỉ khác, nội dung bài hát được sáng tác năm 1870 từ lời thơ viết bởi trái tim cao thượng của Eugène Pottier (1816–1887), sau được Pierre Degeyter (1848–1932) phổ thành khúc ca hùng tráng thì quyền lợi hôm nay không vào tay của giai cấp công nhân-nông dân như lời tuyên truyền khuyến dụ của Karl Marx, Lenin, Stalin, Fidel Castro, Kim Nhật Thành, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh  khi khởi nghiệp bạo loạn, cướp chính quyền. Trái lại, hai giai cấp tiền phong nầy trở thành thành phần cùng khổ, đọa đày nhất với thực tế suốt một thế kỷ vừa qua và hiện nay. Công nhân, nhất là nông dân chiếm số lượng lớn trong tổng số 100 triệu người bị giết bởi những chế độ cộng sản Đông- Tây. Và giai cấp gọi là “vô sản chuyên chính cầm quyền” trở thành một loại “tư bản đỏ/thái tử đảng” – Hội đủ toàn phần những tính chất “tàn bạo/bóc lột/phản động/lạc hậu/độc đoán/tham lam/ích kỷ..” của tất cả những chế độ, cá nhân độc tài cầm quyền mà lịch sử nhân loại hẳng chứng kiến. Tập đoàn những cá nhân - gia tộc-phườnghội-bè đảng hiện đang ở Bắc Kinh, Hà Nội, Bình Nhưỡng, La Havana. Putin, kẻ cầm quyền hiện tại nơi nước Nga cũng là một sản phẩm của thứ loại cầm quyền nầy chứ không thể ai khác. Chúng ta hãy xem người cộng sản VN đoạt quyền/thu lợi/chiếm giữ vị thế như thế nào.

Cần nhắc lại sự kiện, được sự đồng ý của Quốc Tế Cộng Sản, Tháng 12, 1945, Hồ Chí Minh giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương, tức tiền thân của đảng cộng sản VN. Đồng thời tuyên bố kết thúc tờ báo đầu tiên của đảng, báo Cờ Giải Phóng. Tiếp theo, đảng (đã rút vào bí mật) cho ra báo Sự Thật, tiếp là Nhân Dân để thay thế. Đây là tờ báo mà Trần Đĩnh hãnh diện kể lại là một trong ba người biên tập đầu tiên, lúc mới qua tuổi 20 (TĐ sinh năm 1930). Mối hãnh diện mà nay viết lại sau hơn nửa thế kỷ vẫn còn nguyên cảm xúc “..Cái gì còn lại của bài học Tổng bí thư (Trường Chinh) trực tiếp buổi ngu ngơ nhập môn… Tinh thần được nhìn, phê phán, xây dựng y như Tổng bí thư “ (ĐC, trg 23). Báo Sự Thật hay báo Nhân Dân thay thế sau nầy giữ vai trò quan trọng tương tự như các báo chính thức của đảng cộng sản Liên Xô, Trung Cộng cho đến hôm nay, Thế Kỷ 21.

Báo Nhân Dân với ba thành viên cốt cán đầu tiên gồm Trường Chinh, Hoàng Tùng, Trần Đĩnh còn có một cây bút ần danh khác.. “Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi (TĐ), CB (bí danh của Bác Hồ) gởi đến bài “Địa chủ ác ghê” có  nội dung: Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địac chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoa –thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát-Hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã kể các tội cụ thể và con số cụ thể (ĐC, trg 85). Trần Đĩnh đã kể lại chính xác hành vi, bút phê, chữ ký của HCM khi quyết định giết bà Nguyễn Thị Năm (Cát-Hanh-Long), là người chủ gia đình đã đón bản thân HCM và đám cán bộ trung ương Việt Minh cộng sản về trú ngụ tại nhà bà ở Hà Nội trong những ngày tháng 8, tháng 9, 1945 trước khi Hồ khai sinh nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2 Tháng 9, 1945.

Bà Nguyễn Thị Năm không phải “được chết oan” một cách yên lành nhưng với cảnh kinh hoàng. “Khi du kích đến đưa bà đi, bà ta đã cảm thấy như có sự gì nên cứ van lạy “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt đạn tiểu liên nổ sát lưng. Mua áo áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta lên miệng cổ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “chết rồi còn ngoan cố này.” Nghe xương kêu răng rắc. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối vậy.” (ĐC, trg 86). Bà Nguyễn Thị Năm không bị thanh toán một mình, con bà “Chính Ủy Công, Trung đoàn pháo 105 ly đang học ở Côn Minh, Trung Quốc (Bài báo trên của CB (bác Hồ) có nhắc đến trường hợp Chính Ủy Công) bị điệu về cùng mẹ chịu đấu tố, nhưng “nghe nói” không được chứng kiến vụ chôn cất mẹ (Theo cách man rợ kể trên –pnn)” (ĐC trg 86). Sợ rằng viết như thế chưa trình bày đủ khả năng/quyền giết người của HCM, Trần Đĩnh viết rõ hơn... ”Sở dĩ báo chí không dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm cách Hà Nội vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường chinh thì đeo kính râm suốt”. (ĐC, trg 84)

Giết bà Nguyễn Thị Năm, (Ân nhân lớn của đảng nhà nước cộng sản khi đang trong hoạt động bí mật) không phải chỉ do hành vi đơn lẻ của một đội cải cách ruộng đất, nhưng là một sách lược chung được chỉ đạo nhất quán từ quyền giết người của HCM. “Tôi (TĐ) đọc lại danh sách những người bị tuyên án tử hình do các đoàn ủy thí điểm giảm tô trong Thanh-Nghệ gửi lên Cụ Hồ đề duyệt ân xá. Mỗi bản gồm tên bảy tám con người khốn khổ” (ĐC, trg 90). Nhưng HCM thật ra cũng chỉ là kẻ thi hành vì: “Hoàng Tùng (Biên tập/Tổng biên tập Nhân Dân (1951-1982); Ủy viên BCH/TUĐ (1976-82) -pnn) hồi ký: “... Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải cải cách ruộng đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa Bác mới quyết định phải thực hiện… Họ muốn qua cải cách ruộng đất để “chỉnh đốn” lại Đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành cải cách ruộng đất đến lúc dừng là 3 năm” (Trích đăng từ hối ký Hoàng Tùng “Vài chuyện về Bác Hồ với Trung quốc –Pnn). “Trung quốc đã rắp tâm đưa đảng cộng sản VN vào qũy đạo của Trung quốc như bóng với hình” (ĐC, trg 95).

Cuối cùng, sợ rằng viết rõ như trên sẽ làm sứt mẻ đến “uy tín, đạo đức của bác Hồ”, Trần Đĩnh biện hộ mập mờ quanh quẩn: “Trong hồi ký nói về mười nỗi buồn của Bác Hồ, viết bác không tán thành đấu Nguyễn Thị Năm” (ĐC, 85).

Đến đây chúng ta có thể kết luận không sợ sai lầm: Chính Hồ Chí Minh chứ không ai khác là tác nhân xây dựng/lãnh đạo/điều hành toàn diện các kế hoạch của đảng cộng sản VN từ ngày thành hình 1930 qua các giai đoạn cao trào cũng như thoái trào của tổ chức chính trị bạo lực nầy. Tiến trình nầy hiện thực cụ thể trong chiến dịch cải cách ruộng đất khởi động từ 1953 đến năm 1956 như trên đã đề cập với những nhân sự điển hình: “Phá đảng lừng danh quân Đặng Thí. Giết người khét tiếng gã Chu Biên” (ĐC, trg 111). Những tên sát nhân thành danh nầy không hề bị trừng phạt, trái lại được tưởng thưởng do công lao xây dựng chế độ với thành tích: “Chu Văn Biên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ-Tĩnh, bắt ghế ngồi trên thềm cao chỉ tay vào mặt mẹ đẻ chấp tay đứng dưới sân gằn giọng... Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi. Chu Biên được đề bạt thứ trưởng nông nghiệp do “nhiệt tình cách mạng”. (ĐC trg 111) Và Đặng Thí được đề cử vào BCH/TUĐ khóa 1967-1982 cùng với Hoàng Tùng, đồng nghiệp, đồng chí thân thiết của Trần Đĩnh trong ban biên tập báo Nhân Dân từ 1951.

Thế nên những giọt nước mắt của HCM trong lần khóc lóc nhận lỗi trước dân chúng miền Bắc vào ngày 18 tháng 8 năm 1956 không đủ đề xóa mờ tội ác đối với những người chỉ sở hữu 0,65 hécta đất!  Hitler, Himmler thậm chí đến Rudolf Höss, chỉ huy trưởng trại hành quyết Auschwitz không hề bóp cò súng hay bấm nút lò hơi ngạt để giết một ai, nhưng đích thực là những thủ phạm tội ác diệt chủng 6 triệu người Do Thái. Cũng thế, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn... tất cả tập đoàn bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam là thủ phạm lần tàn sát tập thể dân chúng Việt Nam một cách có hệ thống kể từ ngày đảng cộng sản thành lập. Qúa trình tàn sát được thực hiện qua những cao điểm: Cải cách ruộng đất 1953-1956 ở Miền Bắc; Mậu Thân Huế, 1968; Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị 1972. Và mỗi thước đất, mỗi làng xóm, thị trấn, thành phố của miền Nam dài theo chiến dịch Hồ Chí Minh khởi đi từ 10 tháng 3, 1975 với cuộc tấn công Ban Mê Thuộc. “Tội Ác-Đảng Cộng sản” không ngừng lại tại Ngày 30 Tháng Tư, 1975 với 600.000 người Việt chết trên đường vượt biên, vượt biển bởi kế hoạch “công an tổ chức vượt biên/cộng an bán bãi vượt biên/công an tàn sát vượt biên”. Tội ác diệt chủng nầy được thực hiện bởi một “sợi chỉ hồng xuyên suốt”: Hồ Chí Minh.

Và tội ác có hệ thống/được chỉ đạo kể trên được lập lại với hình thức và đối tượng thụ nạn khác trong đợt “Cải Cách Công Thương Nghiệp miền Bắc” tại hai năm 1958-1960. Đây cũng là tiền đề “Chiến dịch cướp giật cấp nhà nước” đối với miền Nam sau khi đợt tiến công quân sự/Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc tại Ngày 30 Tháng 4, 1975. Và hiện tại là bước cuối cùng – Chiếm đoạt Quyền Sống của 90 triệu người dân Việt - Toàn khối dân chúng bị xóa bỏ quyền sở hữu đất đai trên khu đất, nhà ở  từ trăm năm trước do tổ tiên để lại. Tất cả tội ác hôm nay chỉ là hệ quả tất yếu sau lần đoạt chiếm Miền Nam với cuộc xâm lăng ngụy danh chiến tranh giải phóng (1960-1975). Cuộc chiến mà Trần Đĩnh đã tích cực hãnh diện dự phần nay cố tâm làm nhẹ tội đối với Hồ Chí Minh, Trường Chinh - Những người Trần Đĩnh vẫn còn “nặng tình” khi viết Đèn Cù gần 40 năm sau lần đoạt chiếm miền Nam cho dẫu có lúc ông nói thật: “Bởi vì gần suốt cuộc đời viết, lách tôi đã tự nguyện làm thủ phạm tàn phá trước hết vào chính ngay mình”.

Trần Đĩnh nói thật nhưng chưa đủ. Phải nói như Nguyễn Chí Thiện: “Tôi biết nó! Thằng nói câu nói đó! Tôi biết nó! Đồng bào miền Bắc biết nó! “Lời buộc tội phải tuyên cáo cùng thế giới, với dân tộc cụ thể sau Mậu Thân, 1968 khi Hồ Chí Minh ban lệnh tiến công giết dân miền Nam: “Xuân Nầy hơn hẳn mấy Xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà. Nam Bắc thi đua diệt giặc Mỹ. Tiến lên toàn thắng ắt về ta!” Trần Đĩnh không nói lên lời “PHẢI NÓI” nầy, ông khôn khéo chạy tội cho Hồ: “Luận điểm của Lê Duẩn... Cho là cụ Hồ đứt gánh giữa đưởng! Ở Đại Hội 3 (9/1960- Pnn) để những người gắn bó với Nam Bộ, Trung Bộ như Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng..v.v  vào Bộ Chính Trị đông là Cụ (luôn được TĐ viết hoa – Pnn) muốn bày tỏ ý gửi gắm công cuộc giải phóng miền Nam cho họ… Phải nhận là từ tuyên bố Hồ-Notvotny (?) đến việc không biểu quyết ở Hội Nghị 9 (Hội nghị trung ương đảng 9 quyết định đánh miền Nam bằng vũ lực, 1960 – Pnn), Ông Cụ nhất quán về quan điểm (Quan điểm “Chung Sống Hòa Bình của Khruschev/Không gây chiến tranh miền Nam (?!) – pnn) (ĐC, Trg 253)

Bắt đầu viết năm từ 1990 để năm 2014 có được những giòng chữ “khôn ngoan/sáng suốt/thành thực” như trên kể ra quá muộn và quá nhẹ đối với “Tội Diệt Chủng/Hồ Chí Minh – Tội ác thấm máu chính ông già vợ của Trần Đĩnh và bao nhiêu nước mắt, mạng sống từ thân tộc, đồng bào của ông – Nhà văn Trần Đĩnh.

Ba – Mao “nhều”/Mao “ít”


Sau thời gian viết loạt bài Một và Hai về cuốn Đèn Cù. Người viết phải tạm ngừng vì lần ra đi của Người Bạn Nguyễn Xuân Hoàng - Nhân dáng điển hình Kẻ Sĩ Miền Nam trước, sau 1975 ở trong nước, nơi hải ngoại. Người Bạn không lớn vì văn nghiệp-Văn nghiệp là gì khi con người đối diện cánh cửa tử/sinh với cơn đau cào xé từng tế bào nhỏ bị nhiễm độc?! Người Bạn cũng không lớn do quá trình đã đào tạo những thế hệ môn sinh, cao đồ lẫy lừng danh tính. Không, Bạn Chúng Ta – Nguyễn Xuân Hoàng là điển hình mẫu mực của Những Thế Hệ/Một Thế Hệ/Kẻ Sĩ Miền Nam. Thế hệ với những con người bình thường dạy học/viết văn/làm báo với một tấm lòng chân thực trong giai đoạn 1954-1975 ở trong nước, và sau ra hải ngoại khi đã gánh chịu đủ tháng năm dài tù ngục không án lệnh/không tội danh từ chế độ gọi là xã hội chủ nghĩa. Một chế độ mà hiện nay được cuốn Đèn Cù của Trần Đỉnh đốt lên một phần ánh sáng chiếu rọi. Nhưng thật ra chỉ là ánh sáng nhập nhằng lẫn quẩn của một cây đèn cù xoay quanh một trục Sự Thật Giả. Cũng vô tình, lần ra đi của Nhà Giáo/Nhà Văn/Nhà Báo Nguyễn Xuân Hoàng làm rõ ràng, chính xác thêm khi so sánh Thật/Giả - Nam/Bắc. Chúng tôi tiếp tục chứng minh.

Với lối hành văn của một người viết báo, viết sách chuyên nghiệp từ 1951, Trần Đĩnh dựng nên thế giới bát nháo xoay vòng như cây Đèn Cù của xã hội tệ hại, ác độc từ miền Bắc nói chung, của tập đoàn cầm quyền, giới viết văn làm báo Hà Nội trước 1975, của cả nước sau 1975. Đấy là lối hành văn tuyên truyền chính trị dùng để viết báo Nhân Dân cơ quan ngôn luận trung ương đảng cộng sản; lối viết sách hô hào chiến đấu gọi là chống thực dân Pháp trước 1954 (cuốn Bất Khuất/Trần Đỉnh (?)); những chữ nghĩa gọi là chống đế quốc Mỹ trước 1975; chống  Ngụy Quân-Ngụy Quyền kể cả sau ngày 30 tháng 4, 1975. Loại sách, báo có lời văn và nội dung sau nầy được những “liệt sĩ” Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc... lấy làm khuôn mẫu viết nên những lời khí thế: “Thằng Mỹ như thế nào? Tôi muốn đâm lưỡi dao vào trái tim đen đúa của nó. Nguyễn Văn Thạc. Mãi Mãi Tuổi Hai Mươi. NXB Thanh Niên, VN, 2005”.

Tuy nhiên khác hơn đám văn công máu me được khai sinh từ Hội Nhà Văn Hà Nội/Hội Nhà Văn Việt Nam sau 1975, Trần Đĩnh cao hơn vì ông được dẫn dắt vào nghề viết bởi Tổng Bí Thư Trường Chinh, Đặng Xuân Khu, tay lý luận hàng đầu của đảng cộng sản Việt Nam. Tổng bí thư  TC “giáo dục” anh thanh niên 21 tuổi Trần Đĩnh: “Làm báo phải phát hiện vấn đề. Đề xuất ý kiến. Trường Chinh cầm bút giập đi chữ “nhật” thừa (Của bài xã luận có tiêu đề “Nhân ngày sinh nhật của Hồ Chủ Tịch” -Pnn ) rồi kéo từ đó ra ngoài lề bằng một đường thẳng mà anh cho tận cùng bằng một ốc sên, nói... Chữ tắt nầy là chữ “d” của deleitur, tiếng La-tinh có nghĩa là xóa…  Còn gì của bài học Tổng bí thư trực tiếp dạy tôi buổi ngu ngơ nhập môn? Tinh thần không sùng bái, tinh thần được nhìn, phê phán xây dựng y như Tổng bí thư. ĐC, Trg 23)

Trời đất! Cho phép chúng tôi được kể ra một so sánh.. Bài học nhập môn của Tổng bí thư Trường Chinh dạy nhà văn/nhà báo trụ cột Trần Đĩnh là việc làm hằng ngày của thợ sắp chữ (thường lả trẻ vị thành niên) và giới thầy cò của các báo và nhà sách ở Sài gòn, nơi Miền Nam trước 1975. Hoạt động nầy được xem như một nghề thủ công/sửa bản vỗ cho nhà in trước khi đem đi đăng báo, in thành sách. Đám trẻ thợ sắp chữ và giới thầy cò Sàigòn không hề cần đến một ông thầy gọi là tổng bí thư đảng cộng sản.

Trở lại với Trần Đĩnh, từ buổi đầu “ngu ngơ” (chữ của TĐ), ông tiến nhanh trên nghiệp vụ, trở nên là người thân cận (thân cận nhất) của tập thể nhân sự cầm đầu đảng cộng sản. Ông nghe tận tai lời của Trường Chinh (Nhân vật “ấn tượng” của TĐ suốt một đời dài cho dến hôm nay) nói về sinh hoạt tính dục của bản thân “... thì cũng dặn sách vở giáo điều thế thôi, chứ tôi ấy, mai bà Minh đây (chỉ bà vợ) đẻ,  tối nay tôi vẫn jusqu’au bout - đến cùng..” (ĐC, trg 26). Ông được chứng kiến và nghe kể trực tiếp từ người trong cuộc: “ Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: À cái P.M. (Phương Mai) tự nhiên mang ba lô chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm..” (ĐC trg 30) . Trần Đĩnh còn đem chuyện riêng tư ăn nằm với phụ nữ của Hồ Chí Minh ra kể lại công khai để bảo đảm tính cách thân thích/chính xác đối với lãnh tụ “... Ông Bác chỉ tìm nạ dòng. “Sao lại thế”. Thấy Bác dại chúng tôi kêu lên. Thì được giải thích. “Thế là Bác khôn. Nạ dòng thì đỡ rầy rà hậu sự” (ĐC Trg32) .

Những chuyện “ bí mật/phòng the” của Hồ Chí Minh, Trường Chinh dẫu đã được Trần Đĩnh trình bày dưới những góc cạnh “thật thà” như trên vẫn chưa đủ để dựng nên cảnh tượng trân tráo của “đèn cù cộng sản Hà Nội”. Trần Đĩnh gắn thêm những con rối khác: Trước tiên là Tố Hữu, đệ nhất văn công của chế độ. Đây là nhân sự  nhờ đã viết những vần thơ rừng rực “thi khí” (Mượn chữ “văn khí” từ Ngô Nhân Dụng/Báo Người Việt khi tán tụng Trần Đĩnh) nên đã lên chức phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (phó  thủ tướng)  đảm trách nông nghiệp khiến dẫn đến tình cảnh cả nước gần chết đói sau 1975 khi đã tịch thu hết lúa gạo miền Nam trả nợ cho Tàu. Tố Hữu bị mất uy tín vì vai trò "nhà (làm) thơ (lại) đi làm kinh tế (trật)" qua những vụ khủng hoảng tiền tệ (1985), cải cách nông nghiệp (1981) nên bị miễn nhiệm mọi chức vụ, chỉ còn làm một chức nghiên cứu hình thức hờ. Tuy nhiên “thi khí” của Tố Hữu vẫn luôn luôn “cực kỳ” với những chữ/nghĩa mà Trần Đĩnh trong nhiều trang sách không dấu sự ghen ghét/ganh tỵ nên liệt Tố Hữu vào loại “Mao nhều” nặng nề nhất (sẽ nói rõ thêm về “Mao nhều” ở đoạn sau).

Năm 1953, Tố Hữu khi chưa là “Mao nhều” đã có màn kêu khóc: “Ông Stalin ơi! Ông Stalin ơi! Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một. Thương ông thương mười! “ để ngợi ca tên sát nhân thấm máu 20 triệu dân Nga và các sắc dân thuộc Liên Bang Sô Viết chết. Tố Hữu không khóc một mình, y có “đồng chí/bác vĩ đại” đồng tế: “..Một tối kẻng thình lình gọi toàn thể lên hội trường.. Thì Tố Hữu ủ rũ đi vào theo sau là cụ Hồ. tôi bỏ chỗ leo ngồi đàng sau lưng ông Cụ.. Tố Hữu bước lên sân khấu, cầm đè lên hai tay bưng một vật gì ấp vào ngực.. Tố Hữu mới từ từ quay lại nước mắt chan hòa trên mặt từ lúc nào. Trên phông màn đò hiện nên chân dung đại nguyên soái Stalin.. Tôi thấy bàng hoàng hơn là đau buồn.. Tôi vẫn bị khó chịu vì cái cảnh “đánh đố loài người” của Tố Hũu. Ông ấy hình như tranh hơn thiên hạ (cụ thể là hơn “tôi” đang ngồi sau lưng Cụ! TĐ) cả ở chỗ được biết sớm hơn hung tin, do đó được ưu tiên đau xót trước (Tội nặng hơn nữa là trước cả ”tôi” đang ngồi sau lưng Cụ! TĐ). Trước mặt tôi. Cụ Hồ nức nở. Không ngừng đưa khăn tay màu trắng lên lau nước mắt. Và nước mắt thì cứ chảy trên hai má Cụ đỏ bóng, vì khóc, vì xúc động. (ĐC, trg 73-74).

Mấy năm sau, “thi khí” của Tố Hữu (khi đã bắt đầu thành Mao “nhều”) vượt biên giới Xô Viết, chuyển qua Trung cộng với: “Mao Trạch Đông! Mao Trạch Đông! Tôi đã thấy: Dáng người cao lồng lộng. Đẹp như một ngọn cờ hồng. Trên mặt người. Mặt đất mênh mông.” Hoặc: “Bác Mao tuy ở rất xa. Bác Hổ ta đó ấy là Bác Mao”. Hay: “Bên đây biên giới là nhà. Bên kia biên giới cũng là quê hương”(ĐC, trg 233). Thơ như thế quả thật rất xứng đáng với thành tích giết 50 triệu người Hoa (Có thể cao hơn nữa, tài liệu của nhà nghiên cứu Trung Hoa, Stuart Schram nêu ra con số 70 triệu –Pnn). Tệ hại hơn, Tố Hữu được Trần Đĩnh mô tả dưới dạng tướng, tầm tầm, vụn vặt ”..Tố Hữu một trưa dậy ra suối giặt quần đùi .. Ca cẩm với Kim Lân.. Xuân Diệu nó mó máy mà tuột bu nó mất xích, mệt quá! Mà hai hôm nay lại ăn toàn cơm với măng (ĐC, Trg 32). Hoặc cảnh ăn thịt chó của những tay đầu sõ, lẽ tất nhiên có mặt Trần Đĩnh vì bữa thịt chó là do tiền ăn mừng thành tích viết xong tiểu sử Hồ Chí Minh mà Trần Đĩnh được đến 400 đồng trong tổng số 900 đồng nhuận bút (Vàng 16 Đồng/Một chỉ) “..Mừng tiểu sử chính thức của Hồ Chủ tịch ra đời, Tố Hữu khao một bữa thịt chó thịnh soạn tại nhà.. Tố Hữu còn mời Nguyễn Chí Thanh (Thao) và Hoàng Tùng (Tổng biên tập lâu nhất của báo Nhân Dân  (1954-1982); Tùng cũng là một “Mao nhều” được TĐĩnh “luộc” rất kỹ. Dẫu Tùng là đồng nghiệp/đồng sự  với Đĩnh từ 1951-Pnn). (ĐC, trg172). Bữa tiệc thịt chó được mô tả sống động qua những trao đổi thủ thỉ ân tình “..Thao Thao (NcThanh) đưa Lành (Tố Hữu) chai dấm.. Lành, Lành đưa Thao chai vang.. (ĐC, trg 173). Cũng bởi Thanh là đối thủ của Giáp (gốc cộng sản Bắc Kỳ, có học đại học, cánh của TĐĩnh -Pnn) nên bị Đĩnh khinh thường xếp vào loại “Mao nhều” với những đặc chất: “.. Thao (NCThanh) đã luận thuyết hào hứng về thiên tài bếp núp dân tộc- đã thịt chó thì nhất định phải thằng bún đi với thằng mắm tôm.. Về chính trị, Thanh nghe Bắc Kinh nồng nhiệt hơn Giáp. Và ít ra lý lịch (của Thanh)  không dính đến đại học.“ (ĐC, trg 173) . Nhưng Nguyễn Chí Thanh (ông tướng nông dân/chỉ thiếu chữ “vô học”- Cách TĐ gọi NcThanh - Pnn) ngoài khả năng uống sâm banh Moet & Chandon, ăn thịt chó, Thanh còn có những khả năng đa dạng khác.. Với những chức vụ quan trọng như Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội miền Bắc (1950); Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam (1965-1967) (bị thanh toán, không rõ nguyên nhân và thủ phạm, ngày 6 tháng 7, 1967 tại Hà Nội)..  Viên tướng gốc nông dân nầy phát động chiến dịch : “..Đánh phá ác liệt tiểu thuyết “Phá Vây” của Phù Thăng vì có câu: “Hòa bình là nguyện ước của vạn vạn con người” rồi tiểu thuyết “Vào Đời” của nhà văn quân đội Hà Minh Tuân..” (ĐC, trg 234-235). Không chỉ chỉ đạo sâu sắc trong mặt trận văn hóa/tư tưởng, nhân vật được mệnh danh “con người của những đột phá”, mang quân hàm đại tướng, Nguyễn Chí Thanh còn nâng cao khả năng lãnh đạo/nhận thức lên một tầm vóc mới: “Năm 1963, Nguyễn Chí Thanh có bài đăng trang nhất của báo Nhân Dân (Nhắc lại, Thanh là “ông tướng nông dân” theo cách đánh giá của TĐ, nói trắng ra là đồ “vô học”- Pnn) kêu gọi tiết kiệm lương thực.. Biện pháp duy nhất là bóp miệng lại. Thanh nay liệt bún vào bảng xa xỉ phẩm. Viết hẳn: Tại sao phải ăn bún!! (ĐC, trg 235). Cũng nên nhắc lại: Khi ăn thịt chó nhà Tố Hũu, chính Thanh đã một lần hùng hồn ca ngợi: “.. Thao (NCThanh) đã luận thuyết hào hứng về thiên tài bếp núp dân tộc - đã thịt chó thì nhất định phải thằng bún đi với thằng mắm tôm..“ (ĐC, trg 173). Tóm lại theo quan điểm chính trị sáng tạo của viên đại tướng quân đội nhân dân thì “thằng bún” đã tiếp tay cho Mỹ-Ngụy, là thủ phạm phá hoại nền kinh tế xã hộ chủ nghĩa! Tại sao Tướng Thanh mắc phải quan điểm tả khuynh sai trái như vậy? Trần Đĩnh gom chung vào một bọc – Bọn “Mao nhều” – Thủ phạm chính của bi kịch Việt Nam!

Sự sáng suốt của Trần Đĩnh sau nầy được Như Phong  “Là cựu Văn Hóa Cứu Quốc nhưng nay cũng đang ở danh sách, những người mê Mao, sùng bái Mao, Mao  “nhều”..  Cuối những năm 70, chính anh đã bảo tôi: Mầy nhìn rõ lão Mao rất đúng và rất sớm (ĐC, trg 235).

Đến đây, chúng ta có thể kết luận về “Phát hiện Mao nhều/Trụ cột của Đèn Cù ” của Trần Đĩnh và những tác động hậu quả, hệ quả của nó tại ngày trước và hôm nay.

Kết Luận: Đèn Cù - Bi kịch của một cọng lông trong bãi máu!

Sau ba bài viết căn cứ từ chữ nghĩa của Trần Đĩnh (Của chính Trần Đĩnh viết về mình và về người)... Người viết có thể khẳng định với lương tâm/lương tri/lương năng  của một người đã đi trọn con đường khổ nạn/Cùng về một phía những người khổ nạn - Từ khi khởi đầu câu chuyện/Cũng là thời điểm (Thập niên 50) Trần Đĩnh bắt đầu viết báo Nhân Dân do dẫn dắt của Tổng Bí thư Trường Chinh. Người viết xác định thêm một lần: Viết từ phía của Nạn Nhân Cộng Sản. Và Trần  Đĩnh (Cho đến năm 2014 nầy/Năm phát hành cuốn sách) vẫn luôn luôn là một Người Cộng Sản/Người Cộng Sản Phản Tỉnh (nếu muốn nói rõ hơn) – Tức là nhân tố của tập thể/tổ chức chính trị bạo lực gọi là Đảng Cộng Sản Việt Nam – Tác nhân chính đã gây nên tai họa vô tận/không cùng/không thể chấm dứt/không cách giài quyết của toàn bộ Việt Nam (Không phân biệt Cộng Hòa/Cộng Sản; Bắc/Nam; Trước/Sau 1945; 1954; 1968; 1975 ). Người viết minh chứng điều xác quyết nầy.

 
Từ tiền đề kể trên, những phát hiện gọi là “Mao Nhều/Mao nhuần/Mao thuần..” của Trần Đĩnh trải dài trong nhiều trang sách đối với Tố Hữu, hoặc đám ủy viên trung ương giữ chức tổng biên tập Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận trung ương đảng cộng sản từ 1951 như Trần Quang Huy ; Vũ Tuân; Hoàng Tùng; Hồng Hà; Hà Đăng; Hữu Thọ; Hồng Vinh; Đinh Thế Huynh cho đến tên tuổi mới nổi từ 2011 là Thuận Hữu, một nhà thơ không ai đọc, một tác giả không ai biết..vv. Những công thần/thợ viết báo (đảng) nên danh phận nầy góp một mẫu số chung về tính chất “Mao nhều” chất nặng.

“Mao nhều” của Trần Đĩnh cũng không loại bỏ Nguyễn Chí Thanh, viên đại tướng có khả năng uống champagne và ăn thịt chó; viên đại tướng gốc nông dân có khả năng đặt vấn đề “lớn”: Tại sao phải ăn bún! Và tướng Thanh dẫu có “Mao nhều /hay/Mao ít” cuối cùng phải tắc tử vì:  “... Nguyễn Chí Thanh đại diện cho phái tả” chết trước Tết Mậu Thân nửa năm là giọt nước làm tràn li. Thanh chết mồng 6 thì 28 tháng 7, 1967 bắt bốn xét lại đầu tiên trong đó có Hoàng Minh Chính, Hoàng thế dũng, Trần Châu (anh của Đĩnh), Phạm Viết. (ĐC, trg 320)

Nguyễn Chí Thanh/Phái Tả/”Mao nhều” bị thanh toán tháng 7/67 thì Võ Giáp/Phái Hữu/”Mao (không) nhều/Cánh “xét lại” của Đĩnh “..Tháng 9 Giáp thình lình đi Bastislava dưỡng bệnh – Cuộc xa xứ nầy là đền bù vào sự vắng mặt mãi mãi của Nguyễn chí Thanh – Lê Đức Thọ vào quân ủy trung ương, thế lực Thọ hùng mạnh lên nhiều (ĐC, trg320)

Như thế là thế nào? Mao “nhều”/Mao ít/Mao (không) nhều/Xét lại.. cuối  cùng tất cả đều bị tắc tử, ngồi tù, đi chữa bệnh. Không loại trừ “ông bác” bị tống qua Tàu ngay trong dịp Tết Mậu Thân. Chúng ta hãy xem lại tình cảnh: “... Sau hội nghị trung ương 14, chiều 20 tháng 1, 1968 Lê Đức Thọ có đến Bắc Kinh để “báo cáo bác Hồ”. Sáng 25 tháng 1, 1968 trong khi “Cha già dân tộc” và “Anh cả của quân đội” vẫn đang “an trí” ở Bắc Kinh thì những binh đoàn chủ lực miền Bắc bí mật áp sát các độ thị miền Nam. (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc/II/Quyền Bính. OSIN Book, USA. 2012, Trg 158).


“Cha già dân tộc/HCM”, “Anh cả quân đội/VG” (Chữ của Huy Đức -Pnn) làm những gì, ở đâu khi cả miền Nam đang dầm trong biển máu lửa Mậu Thân 1968. Hãy nghe Huy Đức kể lại để thấy ra điều “thành thật/khôn ngoan/mục đích/yêu cầu của Trần Đĩnh khi viết Đèn Cù. “Cái đêm mà cả miền Nam chìm trong khói lửa của Tổng tiến công ấy, Hồ Chí Minh đang ở Bắc Kinh “trong căn phòng vắng” chỉ có ông và thư ký Vũ Kỳ, Bác mĩm cười nghe một em bé hát “Bé né bồng bông..” và lời chúc Tết của chính mình (?!): Xuân nầy hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà/Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên toàn thắng ắt về ta” (Huy Đức Ibid; trg 158). Về phần tướng Võ Giáp (tên thật) thì tình cảnh cũng không khá hơn. “Máy bay Trung Quốc đưa tướng Giáp về Hà Nội ngay trong ngày 29 Tết. Hôm sau ông mới được tướng Vũ Lăng, Cục Trưởng Cục Tác Chiến báo cáo “kế hoạch Tổng Công Kích, Tồng Khởi Nghĩa”. Vũ Lăng nói: Anh Văn Tiến Dũng (Tổng Tham Mưu Trưởng/Gốc thợ may – Pnn) bây giờ thì có thể báo cáo với anh Văn (Giáp). Tướng giáp cố giữ vẻ mặt bình thản để che dấu niềm cay đắng. Ông, vị tổng tư lệnh đã không được biết một kế hoạch lớn như vậy cho đến trước khi nổ súng một ngày (Huy Đức Ibid; trg 159)

Từ những chi tiết “cần thiết/quan trọng” như trên buộc chúng ta phải thấy những chữ nghĩa đầy “văn khí-Lời tán/ Ngô Nhân Dụng/NV” từ Trần Đĩnh chỉ cốt viết nên những trò đấu đá ấm ớ, vớ vẫn giữa hai phe “Mao nhều/Mao (không) nhều”: “..Từ đấy Mao“nhều”thường từng đám túm tụm chưởi Khrouschev (Bí thư thứ Nhất/Thủ tướng Liên xô chủ trương “Chung sống Hòa Bình với Mỹ, 1960 -Pnn) rồi hễ thấy chúng tôi (Mao (không) nhều -Pnn) thì lại cố tình liếc liếc và ré lên cười. Gần tháng sau Hoàng Tùng (Tổng Biên Tập báo Nhân Dân 1954-1982 -Pnn) thăm Trung quốc mang theo Hồng Hà, Phan Quang (Sao lại không mang Trần Đĩnh, học tại Bắc Kinh 5 năm? -Pnn). Trở về viết “Vĩ đại Trung Quốc dài hết trang báo (ĐC, trg 249-250); hoặc diễn tả chi tiết sờ mó tục tỉu giữa Trưởng Ban Tuyên Truyền/TU Lê Quang Đạo với chính Trần Đĩnh (ĐC, trg 22); giữa Tố Hữu/Xuân Diệu ((ĐC, Trg 32); hay cách ăn nằm với vợ của Trường Chinh (ĐC, trg 26); thói ham gái, sở thích đàn bà của HCM (ĐC Trg 30, 32); hoặc cách ăn nói xỏ xiên, đểu cáng (tương tự như những nhân vật trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng) từ những tay thủ lĩnh văn nghệ miền Bắc như Tô Hoài, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng”. Nguyên Hồng đọc được hai câu thì Nguyễn Tuân giật giật tay tôi (TĐ) – Nghe thơ tình lũy (Lui/Nó/Tiếng Pháp- Pnn) làm gì? Lũy tay chìa tiền. Tay tụt yếm. (ĐC, trg 446); hay “bí mật cuộc tình của các quan văn nghệ Hà Nội ” “... Một sáng vào Việt-Xô khám bệnh, tôi (TĐ) gặp Tô Hoài nằm chữa thần kinh tim. Anh cho hay một tên tuổi văn nghệ vừa bị cô nhân tình nộp Tố Hữu bức thư cha nầy gửi cho cô. Vừa lúc ấy Chế Lan Viên đi vào. Anh bảo tôi: Nầy Trần đĩnh mình bị cái nầy lạ lắm. Ngọt với mặn bây giờ đếch phân biệt được. Tô Hoài tưng tửng: Ăn phải một thìa cứt mà không phân biệt thì phải chữa thật! (ĐC, trg 455)

Chúng ta có thể đóng lại những “chữ nghĩa/văn khí” của Đèn Cù diễn tả về những vụ việc/ngôn ngữ/con người tầm phào bát nháo nơi Hà Nội trước 1975 như vừa kể ra tại đây để nêu lên kết luận: Đây là Vấn Đề Giả mà Trần Đĩnh mất đến 24 năm để viết nên – Bi Kịch Việt Nam Không Phải Là Vậy.

Đây, Bi Kịch Việt Nam với một trong những thủ phạm cần phải gọi đích danh: Tổng Bí Tư Lê Duẩn với cái đầu được tán tụng là có đến “200 bougies/hai trăm bóng đèn/đơn vị khởi động diện của một động cơ”. Nhân sự nầy với cái đầu cực kỳ ghê gớm kia có khả năng. ”Ông không bận tâm tới ý người khác. Chúng tôi là những mặt người giống như các vách hang đá cho ông thử nghiệm độ vang của lời ông. Lê Duẩn cáu tức thì. Hai con mắt càng xáp lại gần nhau. tiếng nói càng ríu lại .. Marx..Marx..Ở đây có ý gì? (ĐC, trg 186). Quả thật cái đầu tổng bí thư “200 bougie” của Duẩn không hiểu Marx là cái gì hết nên mới xẩy ra hoạt cảnh hài hước. “Duẩn nói hết (về Marx), Bình (NĐBình thư ký của Duẩn) lên tiếng: Tổng bí thư đã nói xong, xin giáo sư góp ý kiến. Ngơ ngác một lúc, Thảo (Trần Đức Thảo, giáo sư tiến sĩ đại học Sorbone Pháp, năm 1951 xin “cụ Hồ về nước phục vụ kháng chiến”. Sau 1956 do dính líu với vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, tuy không bị tù nhưng được giao công tác cho ra nông trường  chăn bò –Pnn). Thảo nói: Tôi không hiểu gì cả! Thảo vừa dứt lời, thoắt một cái rất nhanh, Duẩn đã nhào đến đằng sau lưng anh, quàng hai tay vào ngực anh rồi liên tiếp xốc lên, dội xuống anh mấy bận. Bị Duẩn dộng mình xuống đất nhưng Thảo vẫn không chừa thói của kẻ ỉ mình có học/đại trí thức. Thảo phân giải cùng Đĩnh: “Ở ta chỉ có Trường Chinh hiểu được chủ nghĩa Marx chứ Duẩn thì không. Thảo lắc đầu quần quậy (ĐC, trg  436). Điều nầy được Đĩnh hoàn toàn đồng ý, vì đối với Đĩnh Trường Chinh luôn là: “Anh (TCh) là cây bút lão luyện, dạy tôi từ chữ “ngày sinh nhật..” (ĐC, trg 221) – Nhắc lại bài học ngày nhập môn năm 1951 với Trường Chinh, chứng tỏ Đĩnh là người biết “ăn trái nhớ kẻ trồng cây”. Nhưng biết ơn là một chuyện, Đĩnh hình như không nhớ cách hiểu “Marx nhều/Mao nhều” của Trường Chinh: “Chế độ xã hội chủ nghĩa dẫu chưa hoàn chỉnh nhưng tốt đẹp gấp vạn lần chế độ tư bản“ - Tuyên bố với tư cách gọi là chủ tịch quốc hội Việt Nam (Tức là của toàn thể dân chúng người Việt theo quy định của quốc hội kháng chiến 1946 –Một quốc hội mà kẻ ứng cử/người đi bầu hoàn toàn không hề biết nhau –Pnn) nhân dịp “Thống Nhất Nước Nhà Về Mặt Nhà Nước” khi ông chủ tịch đến Sài Gòn năm 1976.

Chúng ta tiếp xem xét “cái đầu 200 bougies” của tổng bí thư Duẩn đã làm gì với thảm kịch Việt Nam.  Với cái đầu “cực kỳ” nầy, Duẩn chỉ đạo: “Kìa, không có thì in ra! In ra! Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới sợ lạm phát chứ ta, chuyên thì sao lại là lạm phát mà sợ (ĐC, trg 187) Và chuyên chính vô sản là gì? Duẩn ngắn gọn vô cùng: “Người ta lầm Marx đã đề ra đấu tranh giai cấp. Không, nhiều người đã nói đã nói cái nầy trước Marx rồi. Vậy phát kiến vĩ đại của Marx là gì? Rồi Duẩn cười cười đưa cạnh bàn tay lên ngang cổ nói: Là như Jacobin thời Đại Cách Mạng Pháp – Giết! Thủ tiêu! Bạo lực! (ĐC 187) Với cách hiểu Marx “chính xác” như thế nầy mà giáo sư tiến sĩ Thảo bảo Duẩn không hiểu Marx thì quả tình đáng để bị Duẩn dộng người lên xuống là phải. Có điều trong suốt cuốn sách, Đĩnh vẫn không dám gọi Duẩn là “Mao nhều” dẫu Duẩn đã chết từ 1986.

Nhưng Duẩn không nói suông. Con người nầy với Đảng cộng sản đã lập nên thành tích qua báo cáo chính trị của Đại Hội 4, 1977: Đã đập tan của cuộc phản công lớn nhất của tên đầu sỏ chỉ vào các lực lượng cách mạng (Tức chủ yếu Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô), đã đẩy lùi trận địa đế quốc, mở rộng trận địa xã hội chủ nghĩa. Về miền Bắc, ông (Duẩn) nói: Thành tựu to lớn nhất là đã thủ tiêu chế độ người bóc lột người (..) Các giai cấp bóc lột đã bị xóa bỏ. Người với người sống có tình nghĩa, đoàn kết, thương yêu nhau cùng với “chuyên chính vô sản được củng cố. Hệ tư tưởng và nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được đặt trên nền móng vững chắc. (ĐC, 462)

Tóm lại “Thành tích” kể trên không chỉ là :“Bác Hồ vô vàn kính yêu” luôn sống mãi trong “Sự Nghiệp Chúng Ta” - Khẩu hiệu chiến lược luôn đi kèm theo “Chân lý: “Không có gì quý hơn Độc Lập-Tự Do”. Thành tích nầy là tổng hợp của: Cách mạng Tháng 8, 1945 - Tuyên ngôn độc lập Ngày 2 Tháng 9/1945-Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946-Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 -Cải tạo Công Thương Nghiệp miền Bắc (1956-1958) -Đại Hội 3/Nghị Quyết 9 TUĐ/Đồng khởi miền Nam/1960- Tổng Công Kích Mậu Thân 1968- Chiến Dịch Nguyễn Huệ 1972- Chiến Dịch Hồ Chí Minh 1975. Đoạn đường dài đẫm máu toàn Dân Tộc Việt  nầy không loại trừ một ai được tổ chức/chỉ đạo/điều hành bởi: Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Linov, Vương Đông Hải, Hồ Quang, Hồ Chí Minh... được thi hành, thực hiện với Trường Chinh, Võ (Nguyên) Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn Linh... Danh sách sẽ rất dài nếu muốn kể đủ. Tất nhiên bao gồm “Mao nhều”/Xét lại/Báo Nhân Dân/Báo Sự Thật/Hội Nhà Văn vv”.. Những quân cờ tay em chạy quanh cái Đèn Cù nơi Hà Nội gần nửa thế kỷ nay mới được Trần Đĩnh thắp lên quá đỗi muộn màng.

Phan Nhật Nam
(Tháng 8-9/2014)


Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Wed Nov 12, 2014 3:30 pm


Đã sáng mắt chưa? - Lê Diễn Đức


Ở Việt-Nam


1. Họ là những bà mẹ quê chất phác.
Nghe lời ngon ngọt của CS, ấp ủ, che đỡ du kích trong nhà, những tưởng khi VC chiếm miền Nam thì họ được ưu đãi lắm! Ai ngờ! họ chỉ được cấp mấy giấy ban khen là mẹ chiến sĩ, mẹ liệt sĩ, huy chương bằng đồng để treo trong nhà cho nó oai, chứ đem ra chợ bán không ai mua. Hổm rồi, họ bị xử ức: đất đai của tổ tiên họ bị cán bộ công an lấy đem bán cho ngoại quốc làm sân golf, họ mang cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ, huy chương, bằng khen đi biểu tình khiếu nại.
Kết quả? Họ bị hốt và vất lên xe cây như con heo, chung với cờ quạt, huy chương, biểu ngữ. Giờ họ đã sáng mắt nhưng đã muộn.
Có bà dân oan tức quá còn tụt quần ra trước văn phòng xã ấp cho công an xem nữa.

2. Họ là giới trí thức sống tại miền Nam Việt-Nam.
Họ nghe lời dụ dỗ của bọn CS, họ đọc toàn sách Karl Marx, Engels, Jean Paul Sartre họ mơ tưởng thấy tương lai sán lạng, bầu trời nở hoa, một thế giới đại đồng, không giầu không nghèo, ai cũng như ai, gọi nhau tất cả bằng “đồng chí”.
Vi thế là họ xuống đường biểu tình, phá rối trị an của VNCH, làm mồi cho tụi VC xâm nhập thành thị phá hoại. Sau ngày 30-4-75, họ ra ứng cử vào QH bù nhìn. Kết quả rớt đài. Họ thấy tất cả mọi sự đều tệ hại hơn ngày xưa nhiều, họ la ó, phản đối. Kết quả họ bị quản chế, họ bị công an thuê xã hội đen đánh đập, gây ra tai nạn. Thế là họ mở mắt trong nhà thương. Rồi họ sáng mắt không kịp nữa khi đã vào nhà xác.

3. Họ là những đại diện được dân cử miền Nam.
Trước đây họ bị dụ khị với củ cà rốt đỏ tươi là sẽ ở lại làm việc cho thành phần thứ ba, với hoang tưởng là CS Miền Bắc giải thể VNCH và trao cho nhóm thành phần thứ ba thành lập chính phủ miền Nam, chia ghế chung với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Họ ra sức sử dụng cái tự do dân chủ miền Nam đánh phá VNCH đủ mọi mặt. Khi VNCH bị bạn đồng minh bỏ rơi thì ai ngờ họ bị cho ra rià, chỉ còn ngồi chia với nhau cái “ghế đá công viên”.

4. Họ là thành phần du kích miền Nam, tập kết ra Bắc.
Họ đã sống dở chết dở trên dẫy Trường Sơn, trên đường mòn HCM. Họ tin là mai này miền Bắc đánh thắng miền Nam thì họ trở về vinh quang, CS Miền Bắc sẽ để cho họ thống lãnh miền Nam, ít nhất cũng làm quan to. Hỡi ôi! Họ được gì? Tất cả những chức vụ ngon lành đều do cán ngố miến Bắc nắm hết. Họ bị bỏ rơi, uất ức quá họ xin phục viên. Bây giờ họ chỉ còn biết mở mắt và chửi thề từ sáng đến tối mà thôi.

5. Họ là thành phần giầu sang phú quý miền Nam.
Nghe lời hứa ngọt như mía lùi, vào bưng thành lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Họ được rủ sang Paris ngồi vào bàn tròn bàn vuông, dự hội nghị thanh toán miền Nam do Kissinger và Lê Đức Thọ bầy mưu đạo diễn năm 1973. Sau 30-4-75 họ được gì? Ôi chao, Cái MTGPMN sống chưa bao lâu đã bị CS Miền Bắc bóp cổ chết ngắc ngày 2-7-1976. Bấy giờ họ mới sáng mắt ra thì đã trễ, chỉ còn biết than thân trách phận là mình quá ngu.

Tại Hải Ngoại:


Họ là những Việt Kiều đã liều chết vượt biên.
Từ ngày Mỹ nối lại bang giao với Việt-Nam và bỏ cấm vận Việt-Nam, họ đã nghe lời dụ dỗ đường mật của CSVG, về lại Việt-Nam làm ăn:

1. Một ông vua chả giò, đem về hàng triệu đôla đầu tư, rồi bị kết án về tội hối lộ (Khổ quá VK nào muốn làm ăn tại VN cho an toàn mà không phải hối lộ cơ chứ, kể cả người dân trong nước cũng phải hối lộ chứ), chỉ vì cán bộ gộc tranh nhau ăn. Kết quả ông vua chả giò bị 11 tháng tù, may mắn quen lớn, quen đến tận ông “Tưởng Thú Khải” nên mới “tái vượt biên bằng đường hàng không” ra khỏi nước. Ông mướn luật sư đoàn ngoại quốc kiện VNCS lấy lại tiền. Ông hú vía và sáng mắt và sẽ chẳng bao giờ về Việt-Nam nữa.

2. Một ông bác sĩ tim, bỏ ra cả bạc triệu mua máy móc rất “hiện đại” về Sàigon mở phòng mạch mổ tim mong làm ăn, nhưng rồi bị VC đội cho cái mũ “gián điệp CIA” không đưa ra toà nhưng chỉ xin ông để lại phòng mạch và tất cả dụng cụ, ra khỏi VN trong vòng 6 tiếng đồng hồ. Thế là mất cả chì lẫn chài. Về lại Hoa Kỳ ông tức lắm lập đảng chống, ông định làm cả cái kiềng 3 chân mời ông VC ngồi một chân để hoà hợp hòa giải.

3. Một ông giáo sĩ chuyên về truyền thông, đi về VN hơn 10 lần rồi như đi chợ và có cả mấy căn hộ cho thuê. Một ngày đẹp trời xin Visa về VN nữa để thâu tiền, nhưng đến phi trường Tân Sơn Nhất thì hải quan TSN hổng cho ổng vào vì lý do gì đó, đúng ra chỉ vì chúng muốn xiết mấy căn hộ của ông thôi. VK hồi đó chưa được phép mua nhà ở VN, mà tại sao ông lại có mấy căn hộ cho thuê “thế nà nàm sao?”, chắc chúng “điều cha” là ông nhờ người khác đứng tên. Ông tẽn tò trở về Mỹ, nuốt hận, nhưng vẫn cái trò nửa nạc nửa mỡ, vẫn nâng đỡ cho đám quốc doanh trong nước, đăng cả bài chống cờ vàng 3 sọc đỏ của HY đỏ Phạm Minh Mẫn mới đây.

4. Trần Trường thu băng lậu , khoái “bác hồ” hết cỡ thợ mộc, nên treo cờ máu và ảnh tên hồ già trong tiệm, bị người Việt hải ngoại giàn chào cả 2 tháng. Ở VN hồi đó ông được CSVG nâng cấp lên thành “anh hùng”. Rồi ông tưởng bở bán nhà bán cửa, thu xếp tiền bạc gia đình vợ con về VN làm ăn. Ông bỏ ra mấy chục ngàn đô (gần 1 tỷ bạc hồ) mua ao thả cá, nuôi tôm kiếm sống. Thu hoạch đang ngon lành, ai ngờ ông bà “anh hùng” bị gọi lên làm việc về tội “quên đóng thuế” cho nhà nước. Bà vợ ông ức quá “anh hùng” mà chả được cư xử như anh hùng tí nào cả, lại còn bắt đóng thuế, nên tự tử may mà không chết. Mất cả chì lẫn chài, gia đình lại cuốn gói về lại đế quốc Mỹ chả biết ẩn dật tại tiểu bang nào. Bà con ai biết mách giùm nhé.

5. Một ông giáo sư dậy điện toán, mua lại một số máy computer rẻ tiền đem về Sàigòn mở trường. Ông đoán đúng mạch dân VN. Thời kỳ tin học, ai mà chẳng muốn học “vi tính – com piu tơ”, cơ sở phất lên như diều gặp gió. Ông làm thêm chi nhánh ở Cần Thơ, ngon trớn ông tiến nhanh tiến mạnh ra Đà Nẵng. Nhưng ông quên một điều là VN có “rừng nào cọp nấy”. Cọp miền Nam khác cọp miền Trung, miền Bắc. Ông quên không xin phép đúng nơi đúng chốn hay vì thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu?) hơi yếu, nên ông bị mời lên Công An làm việc vì có thơ tố cáo ông làm gián điệp cho đảng phái hải ngoại chống phá nhà nước. Họ mời ông và gia đình ra khỏi nước trong vòng 24 tiếng, để lại 2, 3 trường học cho nhà nước quản lý. Ông biết bị ăn cướp nhưng chỉ nhỏ lệ mà ra đi, về hải ngoại ông vẫn im thin thít sợ nói ra bị đồng bào chửi.

6. Chàng là một Việt Kiều bình thường, nhưng có tật “nổ” khi về VN. Chàng đã về nước cả chục lần đâu có làm sao, về lại Hoa Kỳ lần nào cũng khen lấy khen để là “Sàigòn bây giờ đổi mới lắm, làng nướng, quán ăn, bia ôm, càfê cũng ôm luôn, hớt tóc muốn ôm cũng được” . Vì vậy người Việt hải ngại đặt tên mới cho hòn ngọc viễn đông ngày trước, bây giờ là “thành phố ôm”.

Chàng chỉ là một chuyên viên làm nail, mùa đông ế khách nên về VN du hí. Nhưng VK về nước mà lại khoe là làm nail thì hơi bị quê, nên bèn nổ lớn và tự giới thiệu là kỹ sư “hoá học”. Ngày ngày chàng đụng tới hóa chất (acetone .v.v) hơi nhiều, phải đeo khẩu trang như các nhà bác học trong phòng thí nghiệm thật. Lần này về VN thì sáng ngày hôm sau, có một Công an đến vấn an và gãi đầu gãi tai xin ông Kỹ sư giúp đỡ chút xíu vì nhà đang gặp khó khăn. Chàng kỹ sư mở bóp lấy ra tờ 20 đôla trao cho viên công an. Viên công an tỏ ý hơi thất vọng rồi ra về.

Sau chuyến đi chơi Đalạt 3 ngày về thì chàng kỹ sư nhận được một công văn của Công An số 4 Phan đăng Lưu yêu cầu lên làm việc để làm sáng tỏ một vài vấn đề. Ông “kỹ sư” hoang mang nhưng cũng đến trình diện. Viên Đại Uý Công An mời ngồi và nói là ông ta mới nhận được một lá thư từ trong phương xóm nơi chàng tạm cư ngụ, tố cáo ông VK là một nhân viên của một đảng phản động tại hải ngoại lần này có nhiệm vụ về điều nghiên để phá hoại. Anh kỹ sư VK tái mét mặt, hết hồn bèn khai thật là ở bên Mỹ chỉ làm nail chứ đâu có phải kỹ sư gì đâu, về nước để du lịch chứ không có tham gia một đảng phái chính trị nào cả.

Viên Đại Uý cười khẩy và nói là ty công an thành phố phải điều tra ra sự thật vì vậy theo luật thì phải giữ anh kỹ sư ở lại bóp vài ba ngày để tiến hành cuộc thẩm vấn. Sau cùng ông Đại úy nhắc khéo là đã liên lạc với hải quan TSN rồi và được biết là anh kỹ sư có khai đem về 5 ngàn đôla kỳ này. Chàng “kỹ sư” được dẫn vào nhà giam ngủ 1 đêm.

Sáng hôm sau tại địa chỉ mà chàng tạm trú, một người ăn mặc complet bảnh bao, tay sách cạc táp đen, đến gõ cửa và tự nhận là luật sư. Ông luật sư vào đề ngay là ông ta “nghe nói” có một VK bị bắt vào ty Công An PĐL. Nếu muốn nhờ ông ta biện hộ hay giải quyết thì đây là giá cả:
- Muốn khỏi phải ra toà và được thả ngay thì giá là 3 ngàn đô, vì ông ta phải chi tiền chạy chọt.
– Còn muốn ra toà thì ông ta nhận biện hộ với giá $1,500 USD, ông luật sư thòng một câu là không biết ngày nào ra toà, có thể từ 3, 4 tháng đến 1 năm tuỳ theo. Bị cáo không được rời khỏi VN. Ông ta nói xong để lại danh thiếp với số điện thoại.

Ngày hôm sau ông bạn chạy đến ty CA thành phố xin thăm gặp ông “kỹ sư” nạn nhân, và trình bầy 2 giải pháp của ông Luật sư. Anh “kỹ sư” hốt hoảng nói anh bạn gọi điện thoại và điều đình với ông luật sư chấp thuận giải pháp 1 là trả 3 ngàn đô “cúng cô hồn” để được trả tự do ngay, chứ theo giải pháp thứ 2 rẻ hơn nhưng làm sao mà ở VN lâu như vậy được, còn phải về Mỹ dũa móng chứ .

Chiều hôm sau, chàng “kỹ sư” được trả về nhà, túi bị nhẹ đi mất 24 triệu bạc hồ, một số tiền khá lớn. Hai ngày sau chàng “kỹ sư”, ra hãng máy bay xin đổi vé về lại Mỹ càng sớm càng tốt và hứa là sẽ không bao giờ về thăm chùm khế ngọt nữa.

Đảng viên sáng mắt

Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp vô sản âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.

XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ đồ đểu! vết nhơ muôn đời của nhân loại.

Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ:

“Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa!
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!”

...

Giám đốc công ty đường thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm là Trương Như Tảng. Me xừ này phải chờ đến lúc CS thu hết miền Nam mới biết “đường” nào là đường trắng, đường nào là đường thẻ, may phước gài kịp “số de,” chứ chậm chân một chút nữa có thể bị tai nạn lưu thông chết hết cả nhà (như trường hợp kịch tác gia Lưu Quang Vũ và gia đình). Đề nghị “trí thức” phe ta nên đọc cuốn “memoir” (mémoire) của cái gọi là “tảng đường mía chết hụt này” để cho sáng mắt sáng lòng.

Thôi, phải cất công nói chi cho xa xôi, tấm gương sát bên mình là thầy (?)Châu Tâm Luân [2], bà (?)Ngô Bá Thành [3], ông Chu Phạm Ngọc Sơn, Trần Ngọc Liễng… bằng cấp treo đầy cả tường, nhìn phát chóng mặt… các tên cố đạo Nguyễn Ngọc Lan,Chân Tín không lo phận sự rao giảng phúc âm của Chúa mà cứ lo nói xa nói gần để ru ngủ người mọi người dân miền Nam bỏ súng hướng về xã hội “thiên đường.” Nhưng ngay chính cá nhân của mình lại phải đợi được đối diện thật sự với “thiên đường”(?) mới “thức tỉnh”(!)

Phụ Chú:

[1] Nguyễn Văn Trấn là Bảy Trấn (không phải ông Nguyễn Văn Trấn hậu sinh nào đó mới “về thăm Việt Nam sau 32 năm” đâu!) Đây là Trấn “Camel” (dân cậu miệt vườn, chỉ hút thuốc lá hiệu Camel) người chợ Đệm Long An, loại trí thức địa chủ, một đại thụ của Cộng Sản thời thập niên 30… Đại thụ nầy là tác gỉa cuốn sách “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội;”(để chửi xéo đảng CSVN). Hắn cùng cỡ tuổi với các tên trùm CS như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm… đã bỏ lúa ruộng không ai thâu, nhà lầu không ai ở để đi theo Cộng Sản. Nguyễn Văn Trấn đã từng là chính ủy Khu 9 (miền Tây Nam bộ), chủ nhiệm báo “Le Peuple” đấu tranh công khai với thực dân thời Cộng Sản miền Nam. Tập kết ra bắc (cùng lúc với Tô Ký, Đồng Văn Cống, Huỳnh Văn Nghệ…) Sau này Lê Duẩn không cho Nguyễn Văn Trấn được đến một cục xương còn dính chút thịt để gặm cho đỡ tủi! Về Nam sau năm 75, chả có chức vụ gì dù đã có 62 tuổi đảng (tính đến năm 1997), ôm nỗi uất ức cho tới ngày chết.

[2] Châu Tâm Luân người Việt gốc “xì dầu củ cải muối” được đi du học Hoa Kỳ bằng học bổng quốc gia của VNCH, tốt nghiệp tiến sĩ Kinh Tế (Đại Học Illinois năm 1966), về Việt Nam cuối thập niên 60, dậy môn “Kinh Tế Nông Thôn” và “Quản Trị Nông Trại” tại Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (TTQGNN) Sài Gòn (và cũng dậy môn Kinh Tế tại Đại Học Vạn Hạnh). Ông Luân đã có lần giữ chức vụ “giám đốc” TTQGNN (gồm cả 3 trường Cao Đẳng Canh Nông, Cao Đẳng Thủy Lâm và Cao Đẳng Thú Y Sài Gòn) một thời gian ngắn (vào giai đọan mà các chính trị gia mới trổ mã dậy thì Hùynh Tấn Mẫm và Lê Văn Nuôi sách động sinh viên, học sinh Sài gòn “xuống đường” biểu tình chống Mỹ và chống chính phủ VNCH mạnh mẽ nhất).

Trong các lớp Kinh Tế mà ông Luân dậy, ông công khai giảng cho sinh viên là “xã hội chủ nghĩa là con đường duy nhất (sic) để đưa Việt Nam đến vinh quang (Giỏi nhỉ! Tiến sĩ củ cải này chép y chang lại lời của việt gian HCM)” mà không hề bị công an cảnh sát của chính phủ VNCH hỏi thăm(?) – Có lẽ ông ta “too visible!” vì thường xuyên được truyền thông của Mỹ đến trường phóng vấn (đài CBS, NBC, ABC…) Vào những ngày cuối cùng của VNCH, xì thẩu Châu Tâm Luân đứng cùng danh sách với các nhân vật của “thành phần (lòng thòng ở chính giữa!) gọi là thứ 3,” rất ồn ào hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc… Sau 30 tháng 4 năm 1975, con vẹt ngây thơ này không được CS dùng đến 1 ngày để quét lá đa (không phải đi “cải tạo” vì đã tốt nghiệp tiến sĩ tại Hoa kỳ là may lắm rồi). Sau đó Châu Tâm Luân vượt biên định cư ở ngọai quốc (Thụy sĩ?) Chứ Mỹ chắc chắn là họ không chấp nhận con két “thổ tả” này!)

[3] Bà (?)Ngô Bá Thành tên thật là Phạm Thị Thanh Vân (Ngô bá Thành là tên chồng của bà). Ông Ngô Bá Thành cũng là công chức của VNCH, dậy học trường Cao Đẳng Canh Nông Sài Gòn. Kể ra chính phủ VNCH dân chủ và dễ dãi thiệt, vẫn trả lương tháng đầy đủ, vẫn cho ông Ngô Bá Thành dậy học như chẳng hề có chuyện gì xẩy ra… Bà Thành tốt nghiệp tiến sĩ Luật tại Pháp và sau đó có học và làm việc trong một thời gian ngắn tại Đại Học Columbia (New York) Hoa Kỳ. Ở Sài Gòn, bà Ngô bá láp này tự phong cho mình là “chủ tịt” của “Phong trào phụ nữ đòi quyền sướng;” biểu tình, tuyệt thực chống chính phủ VNCH (và sự hiện diện của đồng minh ở Việt Nam) rất kịch liệt. Sau 30 tháng 4 năm 1975 được CS cho làm đại biểu Quốc Hội CS trong 3 khóa (6,7 và 8 ). Đến khóa 9 thì bị gạt ra. Bà chỉ tuyên bố sự tức giận của mình (bà cho là mình bị gian lận bầu cử? Xin nhờ bà một tí: Chế độ CS làm quái gì có bầu cử một cách dân chủ?) qua sự phỏng vấn của đài BBC chứ chả bao giờ dám biểu tình hay tuyệt thực gì cả? (nên biết, CS chỉ chờ bà này tuyệt thực là tụi nó “cúp” nước luôn thì có mà uống nước tè!)

Cháu ngoan sáng mắt

Khi mới ở tuổi lên mười, tôi đã đạt danh hiệu “Cháu ngoan bác hồ”. Năm 1967 tôi được Hồ Chí Minh trao phần thưởng cho kết quả học tập xuất sắc với tất cả 14 môn học đạt điểm cao nhất. Đó là một cuốn sổ tay kích thước khoảng 20 x 15cm, giấy trắng tinh, bìa cứng láng bóng, màu xanh dương, có in hình Hồ Chí Minh chụp thẳng và dòng chữ phía dưới “Giải thưởng của Hồ Chủ Tịch”. Với tôi, gia đình, trường học và chính quyền địa phương, giải thưởng này là một vinh dự, vì không phải tỉnh, thành phố nào cũng có thưởng, và nếu có thì chỉ có một hoặc hai người. Buổi trao giải thưởng được tổ chức hào hứng trên sân kho của hợp tác xã, dưới ánh trăng (vì lúc bấy giờ máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc dữ dội, học sinh đi sơ tán ở thôn quê, ban đêm không dám nổi lửa, thắp đèn). Bà con làng xóm tụ hội rất đông. Ba tôi cảm động đến phát khóc. Tôi nâng niu cuốn sổ tay đến mức không dám xài, lâu lâu lấy ra ngắm nghía ! Tuy nhiên cũng chưa tức cười thảm hại bằng thằng bạn.

Năm 1968, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn thăm trường, tặng cho mỗi đứa được cử đi gặp một cục kẹo Hải Châu (thứ cao cấp, hiếm hoi, xa xỉ với lũ học sinh nghèo trong những ngày chiến tranh). Thằng bạn thèm rỏ dãi nhưng trân trọng quá, không dám ăn, để dành làm kỷ niệm. Trời nóng, chỉ vài hôm, cục kẹo chảy nhão nhoẹt dính bê bết với giấy bọc, phải vứt đi. Hắn đi Đông Đức, về nước giảng dạy ở Bách khoa Hà Nội, cho đến giờ. Tôi tin chắc hắn không quên chuyện này!

Tôi sang Ba Lan năm 1969. Cả đoàn du học sinh chúng tôi phải vào nằm viện để bác sĩ khám, tẩy giun sán trước khi được sống chung với người ta tại Trung tâm học tiếng Ba Lan dành cho người nước ngoài. Trong bệnh viện, được báo tin Hồ Chí Minh từ trần, chúng tôi khóc thảm thiết! Mấy cô y tá Ba Lan ngơ ngác, lúng túng chẳng biết chuyện gì xảy ra!

Chúng tôi đã yêu Đảng, yêu bác Hồ đến thế! Đã một thời ngây thơ, ngây ngô như thế!

Đến năm 1994, Kim Nhật Thành chết, xem TV thấy dân Bắc Triều Tiên đứng đông nghẹt hai bên đường ôm nhau gào khóc. Lúc này thì tôi đã bật cười! Cười cả chính mình! Tôi cũng đã y chang vậy ngày nào, bị ngu hoá, bị lừa gạt mà không biết…

Lê Diễn Đức

Về Đầu Trang Go down
nguyenle
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Mon Jan 12, 2015 10:21 am


Phim tài liệu: Thảm Họa Đỏ - Bộ mặt thật đảng CSVN




Thảm họa đỏ: Sự trần trụi về đảng cộng sản Việt Nam!

Lực lượng Dân Tộc cứu nguy Tổ Quốc vừa công bố buổi lễ ra mắt DVD Thảm Họa Đỏ qua đó lịch sử đảng csvn được tái hiện lại chân thật với những cột mốc từ trong quá khứ cho đến ngày hôm nay.

Bộ phim Thảm Họa Đỏ đã cho thấy đảng csvn là một đảng phái không có chính danh khi cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, giành lấy quyền lãnh đạo Quốc gia bằng vũ lực không thông qua cuộc trưng cầu dân ý-bầu cử tự do sau đó dẫn đưa Dân Tộc đến cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn được khởi động vào những năm của thập niên 50 và chấm dứt vào ngày 30/4/1975 áp đặt một chủ thuyết ngoại lai có tên gọi là Mác-Lê Nin trên đầu Dân Tộc,thảm họa đó được gọi là Thảm Họa Đỏ!

Những nhân vật được mời phát biểu trong phim đa phần đều là những người Việt Nam nhưng đa số đều sinh lầm thế kỷ khi chào đời tại miền Bắc xhcn,có người là đảng viên kỳ cựu,cũng có người đã từng tham gia vào bộ máy tà quyền mang tên đảng csvn nhưng tựu trung họ đều từ bỏ đảng vì quá chán ngán với cái chế độ ma mị mang tên cộng sản mà mình đã từng phục vụ.

Những phát biểu của họ đã chứng minh cho toàn dân thấy được tính độc tài sắt máu của của cs khi cố tình duy trì chế độ và những dẫn chứng trong phim cũng cho thấy chính đảng csvn là một bọn tội đồ Dân Tộc khi chúng toa rập cùng kẻ thù phương Bắc để âm mưu nhuộm đỏ nước Việt Nam !

Tuy nhiên bộ phim Thảm Họa Đỏ vẫn còn bỏ sót nhiều tội ác của đảng cs đã gây ra cho quê hương,ngoài việc cướp chính quyền,tên tội đồ Dân Tộc HCM và băng đảng đã nghe theo lời của bọn cs quốc tế gây nên chiến dịch cải cách ruộng đất,thảm sát Mậu Thân tại Huế 1968,truy bức giết hại quân-dân-cán-chính của nước VNCH bộ phim đã để sót những di hại sau năm 1975...

Sau khi cưỡng chiếm miền Nam thành công với sự giúp đở tận tình của tên đàn anh TC, đảng csvn với các tên lãnh đạo thời kỳ đó là Lê Duẩn-Phạm văn Đồng-Trường Chinh-Đổ Mười-Lê đức Anh-Trần văn Trà-Võ văn Kiệt đã tàn phá không thương tiếc những gì thuộc về tinh hoa Dân Tộc, từ chiến dịch tiêu hủy văn hóa phẩm đồi trụy, phản động đốt và thiêu hủy hết nền văn học nghệ thuật miền Nam Việt Nam nhằm tạo ra một tầng lớp ngu dân ngày nay chúng còn tiến hành chiến dịch đánh Tư sản mại bản-một bản sao của chương trình cải cách ruộng đất năm xưa-nhưng thực tế là cướp sạch công sức của nhiều gia đình phải vất vả dành dụm nhiều thế hệ-chiến dịch đổi tiền với số lượng khống chế đã cào bằng miền Nam Việt Nam và làm cho nhiều người nghèo đi cho bằng dân miền Bắc và làm cho nước Việt Nam tụt hậu so với các quốc gia lân bang hàng trăm năm phát triển.

Chiến dịch Kinh Tế Mới cũng là một tội ác của csvn,thực chất là cướp nhà,cướp đất của người dân miền Nam Việt Nam trong đó không ít gia đình quân-dân-cán-chính phải bỏ mạng nơi rừng thiêng nước độc thay vào đó là một thành phố với những cư dân mới mà dù cố che dấu thế nào cũng lòi cái ngớ ngẩn ra ngoài.

Đảng csvn không những chỉ là thủ phạm gây nên nhiều cái chết của quân-dân-cán-chính nước VNCH,một lực lượng tinh hoa của Dân tộc rất cần thiết để xây dựng lại đất nước sau chiến tranh mà với chính sách hèn hạ đốn mạt của mình chúng đã đày đọa các con người đó trong các địa ngục trần gian mang tên trại cải tạo và nhiều người đã đi mãi không về ....

Chưa hết,với tham vọng nhuộm đỏ toàn cõi Đông Dương, đảng csvn đã xua quân qua nước láng giềng CPC, giải phóng và chiếm đóng tại đó hơn 10 năm trời với mỹ từ Nghĩa vụ quốc tế gây nên cái chết phi lý của hàng trăm ngàn thanh niên đất Việt bị cưỡng bức tham gia vào lực lượng bộ đội, TNXP trong khi cuộc chiến đó không mang danh nghĩa bảo vệ Tổ Quốc, đảng csvn đã bất chấp các công ước của LHQ dẫn tới nước Việt Nam bị bao vây cấm vận tụt hậu và bây giờ đã trở nên hụt hơi khi không theo kịp các cường quốc lân bang.

Sự kiện giàn khoan HD 981 và thái độ hèn hạ cũng như công hàm bán nước 1958 Phạm văn đồng và phần phát biểu của tên cộng sản Hoàng Tùng trong phim đã là câu trả lời rõ ràng về thái độ bạc nhược của đảng csvn hôm nay,chúng đã cam tâm làm thân khuyển mã nhằm đổi lấy sự vinh thân phì gia,trong đầu óc của các đảng viên đảng cs từ xưa cho đến nay chỉ còn biết đến cá nhân mà làm ngơ các mệnh đề Dân Tộc.



Tội ác của đảng csvn không chỉ bao nhiêu đó,theo lời linh mục Nguyễn Hữu Lễ tội ác lớn nhất của đảng csvn là đã làm mất tính lương thiện trong mỗi con người,điều đó cũng đồng nghĩa với việc đảng csvn đã xóa sổ nền tảng Chân-Thiện-Mỹ,một nền móng vững chắc khi xây dựng Quốc gia mà các quốc gia văn minh đều quan tâm và chú trọng thay vào đó là một triết lý sống theo bản năng,thụ hưởng những vật chất tầm thường...

Bỏ qua những lỗi do edit phim,bộ phim Thảm Họa Đỏ là một sự thật trần trụi của đảng csvn,một tập họp các tên lưu manh,điếm đàng,tham quyền cố vị luôn muốn duy trì chế độ độc tài gia đình trị bất chấp rằng Dân Tộc sẽ bị dẫn đưa và lệ thuộc vào tay tên láng giềng 4 Tốt,đây là một bộ phim đáng để người dân Việt Nam có tấm lòng yêu Tổ Quốc tìm hiểu và tự tìm cho mình câu trả lời.

Cuối cùng lời phát biểu của BS.Chu Văn Cương đã nói hết những gì cần phải có cho nước Việt Nam hôm nay tuy nhiên người viết cũng xin phép được bổ sung cho tất cả mọi con dân nước Việt,dù là đảng viên hay hạng thứ dân:

- Cuộc chiến mà nước VNDCCH miền Bắc xâm lăng miền NamVN,giết chết một Quốc gia Cộng Hòa non trẻ đa đảng phái là một sai lầm nghiêm trọng trong lịch sử Việt Nam.
Nếu lịch sử không ghi nhận điều đó, nước Việt Nam hôm nay đã có thể ngẩng cao đầu với các quốc gia khác,sẽ không có cảnh con tố cha,vợ tố chồng,phẩm giá con người Việt Nam sẽ không bị rẽ rúng,sẽ không có những thảm cảnh dân oan,bắt bớ tù đày những tiếng nói đấu tranh như nhà cầm quyền csvn áp dụng hôm nay.

Vì thế cuộc chiến được gọi là Giải phóng miền Nam Việt Nam,thống nhất đất nước,xây dựng xhcn chỉ là một vở kịch tồi của những tên hoang tưởng,hãy mạnh dạn công khai từ bỏ đảng tịch trở về với triết lý cội nguồn của Dân Tộc,với tình quê hương,nghĩa đồng bào,lật đổ chế độ phi nghĩa csvn,để lá cờ vàng đại nghĩa của Dân Tộc phất phới trên Quê Hương Việt Nam.

Khi đó những giá trị hoang đường mà cs đã đầu độc Dân Tộc 70 năm năm nay sẽ không còn đất sống!

Cũng xin cám ơn Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc đã có những hành động cụ thể nhằm đem lại những sự thật lịch sử khách quan cho Dân Tộc Việt Nam,ngặn chặn và làm thất bại mọi âm mưu,ý đồ đen tối của đảng cs cùng đội ngũ tuyên giáo.

Thảm Họa Đỏ với những sự thật không thể chối bỏ là một cú đấm thẳng vào mặt cái được gọi là lịch sử của đảng csvn!

https://www.youtube.com/watch?v=0RnPJ2keKBc

Nguồn:

http://www.thamhoadomovie.blogspot.com/2015/01/tham-hoa-o-su-that-tran-trui-ve-ang.html#more


Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Thu Apr 23, 2015 9:30 pm


Thắng cuộc & thua bạc





S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) - Người dân Việt Nam không ai thắng ai sau cuộc chiến vừa qua. Tất cả chúng ta đều thua, thua đau, sau một canh bạc bịp bởi những kẻ gian manh. Phải nhận diện rõ được kẻ thù như thế để đánh thẳng vào mặt chúng nó, và đừng... đánh lẫn nhau!

Với ý thức phản tỉnh chúng ta có thể nói cho nhau hôm nay về ý nghĩa đích thực của ngày 30 tháng 4 là đây là một ngày toàn thắng trong tiến trình cướp chính quyền của ĐCSVN và là một ngày đại bại của toàn dân tộc Việt. - Đỗ Kim Thêm

Tác phẩm Biển San Hô của nhà văn Trần Vũ vừa được khởi đăng trên Tuần báo Trẻ, số ra ngày 12 tháng 3 năm 2015 - phát hành từ Dallas, Texas - với lời dẫn nhập của chính tác giả:

Cuối thập niên 70 cùng với những ghe vượt biển mong manh còn xuất hiện những thuyền nhiều tầng được Công an Biên phòng hộ tống ra tận cửa biển, do chính nhà nước đứng ra tổ chức dưới tên gọi Vượt biên Bán Chánh thức. Với chính sách bài Hoa, chính quyền muốn triệt tiêu “đội ngũ Hán gian” nhưng trong thực tế là những gia đình Hoa kiều đã sinh sống nhiều thế hệ trong Chợ Lớn và có cả những thanh niên Việt mua khai sinh Tàu để ra đi. Giá trung bình là 12 lượng vàng cho người lớn và 7 lượng vàng cho trẻ em, cùng hai trăm đồng “cụ Hồ” cho thị thực khai sinh ma. Đóng cho chủ tàu và công an thị xã điểm xuất phát. Chuyến tàu MT-603 khởi đi từ Mỹ Tho đêm 29 rạng 30 tháng 5-1979 chứa 405 thuyền nhân đã đâm vào bãi ngầm Trường Sa bốn ngày sau đó. Ngày 21 tháng 6-1979 khi được Hải quân Phi Luật Tân cứu đưa vào hải đảo Liminangcong, điểm danh còn đúng 285 người. Tôi ở trong số những thiếu niên đi chuyến tàu này, ghi lại dưới dạng tiểu thuyết.

Không ai biết chính xác có bao nhiêu “con thuyền nhiều tầng” đã được công an “hộ tống” ra cửa biển, bao nhiêu người đã vùi thây dưới biển sâu, và bao nhiêu lạng vàng đã nộp cho nhà đương cuộc Hà Nội trong chiến dịch bán bãi thu vàng. Đến nay chỉ có con số về lượng vàng thất thu (vì cán bộ thu nhưng không trình) tại vài địa phương:

Hậu Giang, 4.866 lượng; Minh Hải, 48.195 lượng; Bến Tre, 3.789 lượng; Cửu Long, 27.000 lượng; Nghĩa Bình, 27.000 lượng; Phú Khánh, 10.987 lượng; Thuận Hải, 1.220 lượng; An Giang, 1.445 lượng”. (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).



Bán bãi lấy vàng không phải là mẻ thu đầu tiên của bên thắng cuộc. Trước đó đã có nhiều “chiến dịch” tương tự, xin được ghi lại (tóm lược) theo theo thứ tự thời gian:

“Chưa đầy ba năm sau khi chủ nghĩa xã hội được áp dụng ở miền Nam, các nhà doanh nghiệp, với tên gọi mới là “tư sản”, đã phải trải qua hai lần bị “đánh”.

“Chiến dịch X-2”

Vào lúc 7 giờ 30 phút sáng ngày 10-9-1975, Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn họp báo, đưa ra “Bản Tuyên bố của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”, ra lệnh “bắt giữ một số tư sản mại bản có chứng cứ đầu cơ tích trữ, phá rối thị trường...

Về lý luận, “tư sản mại bản” được chính quyền cách mạng coi là “địch” nên phương thức mà Chiến dịch X-2 tiến hành được xác định rõ là “đánh”...

Tối 10-9-1975, “tin chiến thắng” liên tục được báo về “Đại bản doanh” của Trung ương Cục đóng tại Dinh Độc Lập. Con số bị bắt cho đến khi ấy vẫn tăng lên. Các đoàn đưa ra những con số chi tiết: hàng chục triệu tiền mặt, hàng chục ký vàng, cả “kho” kim cương, hàng vạn mét vải và cả một cơ sở chăn nuôi gồm “7.000 con gà, thu hoạch 4.000 trứng mỗi ngày”120 ở Thủ Đức...

Sau “Chiến dịch X-2”, Thành ủy nhận định: “Bọn tư sản mại bản bị cô lập rất cao, chúng đã mất hết chỗ dựa về mặt quân sự và chính trị. Lực lượng kinh tế của chúng đã bị sứt mẻ và đang bị tan vỡ dưới sự tiến công của ta”122. Nhằm “giáng tiếp những đòn mới vào giai cấp tư sản”, ngày 22 và 23-9-75, đồng tiền cũ của chế độ Sài Gòn đã được thay thế bởi đồng tiền mới.



Đổi tiền cũng được coi là “chiến dịch” với mật danh “X-3”...

Năm 1976, tình hình tiếp tục khó khăn. Một đợt “đánh tư sản” lại được tiến hành, lần này tập trung hơn vào giới tư sản người Hoa.

- Những gì mà Cách mạng lấy được của “nhà giàu” trên toàn miền Nam được liệt kê: “Về tiền mặt ta thu được 918,4 triệu đồng tiền miền Nam; 134.578 Mỹ Kim [trong đó có 55.370 USD gửi ở ngân hàng]; 61.121 đồng tiền miền Bắc; 1.200 đồng phrăng (tiền Pháp)…; vàng: 7.691 lượng; hạt xoàn: 4.040 hột; kim cương: 40 hột; cẩm thạch: 97 hột; nữ trang: 167 thứ; đồng hồ các loại: 701 cái. Trong các kho tàng ta thu được: 60 nghìn tấn phân; 8.000 tấn hóa chất; 3 triệu mét vải; 229 tấn nhôm; 2.500 tấn sắt vụn; 1.295 cặp vỏ ruột xe; 27.460 bao xi măng; 644 ô tô; 2 cao ốc; 96.604 chai rượu; 13.500 ký trà; 1000 máy cole; 20 tấn bánh qui; 24 tấn bơ; 2.000 kiếng đeo mắt; 457 căn nhà phố; 4 trại gà khoảng 30.000 con và một trại gà giá 800 triệu; 4.150 con heo; 10 con bò, 1.475.000 USD thiết bị tiêu dùng; 19 công ty; 6 kho; 65 xí nghiệp sản xuất; 4 rạp hát; 1 đồn điền cà phê, nho, táo rộng 170 hecta ở Đà Lạt” (Sđd, trang 71 - 80).

- "Tại Sài Gòn, 28.787 hộ tư sản bị cải tạo, phần lớn bị “đánh” ngay trong bốn ngày đầu với 6.129 hộ “tư sản thương nghiệp”, 13.923 hộ “trung thương”. Những tháng sau đó có thêm 835 “con phe”, 3.300 “tiểu thương ba ngành hàng”, 4.600 “tiểu thương và trung thương chợ trời” bị truy quét tiếp. Theo ông Huỳnh Bửu Sơn, người trông coi kho vàng của Ngân hàng, trong đợt đánh tư sản này, Cách mạng thu thêm khoảng hơn năm tấn vàng, chưa kể hạt xoàn và các loại đá quý. Có những gia đình tư sản giấu vàng không kỹ, lực lượng cải tạo tìm được, khui ra, vàng chất đầy trên chiếu.”(Sđd, trang 71 - 90).

Cũng theo ông Huỳnh Bửu Sơn:

“Ngay trong ngày 1-5-1975, Cách mạng đã biết trong kho có số vàng này, nhưng phải khi ông đi học tập về thì mới chính thức bàn giao. Ông Huỳnh Bửu Sơn là một trong hai người nắm giữ chìa khóa kho vàng và trực tiếp giao vàng cho hai người, một người bộ đội tên là Duyệt, một người về sau làm giám đốc ngân hàng Cần Thơ. Kho dự trữ chứa 15,7 tấn vàng, gồm: vàng thoi FRD của Mỹ, vàng thoi Montagu của Nam Phi và vàng thoi Kim Thành, có nguồn gốc là vàng lậu do hải quan bắt tịch thu về đưa cho hãng Kim Thành đúc lại. Ngoài ra còn có các đồng tiền vàng của Mỹ, Double Eagle, mệnh giá 20 USD nhưng được làm từ một lượng vàng trị giá 420 USD; đồng Pesos của Mexico; đồng vàng Napoleon… ” (Sđd, trang 31).



Đó là chưa kể đến hàng chục ngàn cơ sở thương mại bị tịch thu hay công hữu hóa, và không biết bao nhiêu hãng xưởng, nhà cửa mà dân miền Nam đã ký giấy “hiến” cho “cách mạng” với hy vọng (mỏng manh) của đi thay người.

Kẻ bên thua cuộc thì trắng tay là chuyện tất nhiên nhưng người bên thắng cuộc – tuyệt đại đa số – cũng chả “chiếm hữu” được gì ráo. Dân quê ở hậu phương không với tay được đến chiến lợi phẩm, đã đành, các chiến sĩ ngay tại trận tiền cũng không “vơ vét” được của cải chi đáng giá – ngoài mấy cái khung xe đạp vác vai, hay vài “con búp bế nhựa, biết nhắm mắt khi năm ngửa và có thể khóc oe oe, buộc trên ba lô của… anh bộ đội phục viên may mắn” – vẫn theo lời Huy Đức.

Bỏ cái ba lô, cái khung xe đạp, và con búp bê có thể khóc oe oe ra, những chiến sĩ giải phóng quân hoàn toàn trần trụi: không học vấn, không nghề nghiệp, không không một đồng xu dính túi, và – tất nhiên – không một tấc đất cắm dùi!

“Họ ngơ ngác tìm kế sinh nhai,” Vi Đức Hồi kể lại:

“Tôi đã được chứng kiến cảnh hẫng hụt của nhiều người khi họ tâm sự, cảnh ngơ ngác tìm kế sinh nhai, đã không ít người đòi đảng, chính quyền cơ sở phải chia ruộng đất cho họ, và tất nhiên đảng, chính quyền không thể moi đâu ra ruộng đất để cho họ cày, cực chẳng đã, nhiều người đã trực tiếp đòi ruộng cha ông mà ngày trước họ đã góp vào hợp tác xã, không ít người đã tự ý đi cày ruộng cha ông của mình, thế là hình ảnh người chiến sỹ năm xưa cả nước trân trọng, mến mộ:

‘hoan hô anh giải phóng quân
kính chào anh con người đẹp nhất
lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất
sống hiên ngang bất khuất trên đời’

Nay họ đã trở thành đối tượng của đảng, chính quyền địa phương, họ được quy là công thần, gây rối, chống lại đường lối của đảng, nhà nước, kết cục có người bị đuổi ra khỏi đảng, có người bị bị bắt lên xã, lên huyện tạm giam để xử lý vì đã ngang nhiên lấn chiếm đất đai của nhà nước đã giao cho người khác.”

Đó là hoàn cảnh “hụt hẫng” của những binh sĩ hay sĩ quan phục viên lành lặn, và may mắn. Nói chi đến đám thương binh (“nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng”) hay những gia đình liệt sĩ.

Năm 1983 ông Nguyễn Vĩnh Rượu nhận được 90 đồng tiền chính sách, hỗ trợ vì gia đình có ba thân nhân là liệt sĩ. Số tiền này, vào thời điểm đó, mua được “gần” ba bao 555 hay Craven A. Tính cho gọn theo “chính sách” thì mỗi liệt sĩ tương đương với một bao thuốc lá.

Ông Rượu gửi hết 90 đồng vào qũy tiết kiệm, loại không kỳ hạn và có lời. Ba mươi hai năm sau, vào ngày 31 tháng 3 năm 2015, gia đình ông Rượu mang sổ tiết kiệm đến Ngân hàng VietinBank và nhận lại được hơn 20.000 đồng. Tính luôn “cả lãi lẫn gốc không đủ một cuốc xe ôm,” như nguyên văn lời của ký giả Tấn Tài trong bài báo (“Gửi Tiết Kiệm Một Chỉ Vàng Nhận Lại Một Ổ Bánh Mì Thịt”) trên báo Một Thế Giới, số ra ngày 2 tháng 4 năm 2015.

Bởi vậy không có gì ngạc nhiên là bốn mươi năm sau, sau khi cuộc chiến đã tàn, người ta vẫn còn tiếng kêu cứu thống thiết của những gia đình thương binh hay liệt sĩ ở khắp mọi nơi. Hãy xem hoàn cảnh của bà Hà Thị Thuỷ:

“74 tuổi, trú tại thôn Cái Tắt, xã An Đồng (An Dương, thành phố Hải Phòng)… Thời kỳ chiến tranh, bà là thanh niên xung phong. Bà gặp và kết hôn cùng ông Nguyễn Văn Viền là bộ đội. Ông Viền hy sinh năm 1968, khi con gái vừa mới sinh.

Bản thân bà là người ngoại tỉnh, gia cảnh lại neo đơn không có anh em ruột thịt, bà phải gửi con nhỏ về quê Nam Định cho mẹ già chăm sóc. Bà lăn lộn kiếm tiền gửi về cho mẹ nuôi con gái...

Trước hoàn cảnh khó khăn trên của gia đình thân nhân liệt sĩ, rất mong các cá nhân, nhà hảo tâm quan tâm giúp đỡ gia đình bà Thủy. Mọi sự giúp đỡ xin gửi về bà Hà Thị Thủy hoặc bà Vũ Thị Hải – Trưởng văn phòng đại diện Báo Nông Thôn Ngày Nay tại Hải Phòng – số 31 Điện Biên Phủ, quận Hồng Bàng, ĐT: 0903212789; hoặc Báo Nông Thôn Ngày Nay – 13 Thụy Khuê, Hà Nội, tài khoản 1506311002117, chi nhánh Ngân hàng NNPTNT Tây Hồ, Hà Nội.”

Chúng ta có bổn phận phải giúp đỡ lẫn nhau khi tha nhân lâm vào cảnh khó khăn. Tôi hy vọng sẽ không ai trù trừ, do dự hay quay lưng với gia đình bà Hà Thị Thủy chỉ vì họ là những người thuộc... bên thắng cuộc.

Người dân Việt Nam không ai thắng ai sau cuộc chiến vừa qua. Tất cả chúng ta đều thua, thua đau, sau một canh bạc bịp bởi những kẻ gian manh. Phải nhận diện rõ được kẻ thù như thế để đánh thẳng vào mặt chúng nó, và đừng... đánh lẫn nhau!

Tưởng Năng Tiến
danlambaovn.blogspot.com


Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Thu May 07, 2015 1:14 pm


Điếm chính trị





... Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng.
Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn…
(Nguyễn Duy)

David Thiên Ngọc (Danlambao) - Trên hí trường chính trị VN thời đồ đểu (CSVN) gần thế kỷ qua nó muôn màu muôn vẻ nhưng riêng sắc tươi hồng, xanh xanh hy vọng thì vắng bóng không biết tự bao giờ. Chỉ hiện hữu một màu hắc ín, tang tóc thê lương... phập phù như khói như sương nơi nghĩa trang chiều tà, chạng vạng...

Ẩn tàng trong bóng đêm mờ tỏ đó đầy ắp các loài ma... từ ma cô, ma cạo, ma đạo, ma nớp, ma trơi, ma tà, ma giáo… chúng giao du với bao loại điếm thượng vàng hạ cám, từ điếm cấp cao rồi điếm làng nhàng xuống điếm cấp thấp, điếm vỉa hè, điếm hang động, chợ búa, nghĩa trang… lại thêm có loài điếm ẩn núp nơi hậu trường rồi dày mặt múa may “lộ hàng” trên sân khấu chính trị nữa. Những nơi từ nghĩa trang, bãi bờ đêm tối đến sân khấu hậu trường… đều là sào huyệt là chốn dung thân là lãnh địa, là đất riêng cho chúng dụng võ, múa gậy vườn hoang.

Kể từ ngày bác đảng ồ ạt cuốn vào Nam mang theo cái văn hóa quái thai và rừng rú khiến bề mặt xã hội bị biến dạng một cách không ngờ… mà đặt biệt là sinh ra nhiều loại điếm. Tôi nói không sai, trong dân gian có câu ca trước và sau ngày bác đảng “nhập nha” rằng:

“Cần Thơ có bến Ninh Kiều.
Nữ sinh tha thướt sáng chiều sang sông…”

Thế nhưng kể từ bác đảng vào đây thì đâu rồi cái tha thướt, mỹ miều của những nữ sinh, những cô gái Tây Đô với nét diễm kiều hiền thục có từ thời tổ tiên ta mang gươm mở cõi đất Phương Nam mà thay vào đó là:

“Cần Thơ có bến Ninh Kiều.
Dưới chân tượng bác đĩ nhiều hơn dân…”




Bởi chưng vô vàn loại điếm nên trong trang viết này tôi xin bật đèn xua đi đêm tối để mọi người thấy rõ ở một góc khuất mà nơi đó chỉ toàn những bản mặt của một loài điếm là “Điếm chính trị”.

Điếm chính trị cũng như nhà thơ Nguyễn Duy đã nói thì nó cũng có điếm cấp thấp và điếm cấp cao.

Xin lỗi quý vị! thật tình mà nói thì tính tôi hay hướng thượng nên trong giao du cũng thường ưu tiên chọn tầng lớp trên. Nhất là hàng “đỉnh cao trí tệ”… nên tôi không giấu gì hễ tôi thấy ai sang thì bắt quàng làm họ. Do đó khi nói về loài điếm nếu vì hoàn cảnh đặc thù nào đó phải tiếp cận thì tôi cũng chuộng điếm cấp cao để giao du và với dụng ý là ở bọn này tôi có thể khai thác được nhiều điều “thâm cung bí sử”.

Trong đời thường, quan hệ xã hội nếu anh/chị nuốt lời, dối gian, lừa gạt thì thiên hạ gọi anh/chị là “đồ điếm” mà nếu bất kể thị phi, bất kỳ thân sơ… bạn bè, bà con ruột thịt mà anh/chị cũng trơ mặt chẳng buông tha… cả trong nghĩa phu thê mà chồng sớm mận tối đào, vợ thì “sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh” thì người ta không biết phải dùng từ gì để ám chỉ cho đúng bản chất mà chỉ gán hai từ là “điếm thối” và dân gian thường nói rằng “làm đĩ chín nơi phải chừa một cửa để lấy chồng!” nhưng đối với loài điếm thối thì chúng chẳng chừa cửa nào cả mà chúng “chơi tuốt tuồn tuột”.

Trên sân khấu chính trị cũng thế. Cụ thể nơi vũ đài chính trị VN thời đồ đểu vào ngày 15.10.2012 khi bế mạc “hội tề bán nước T.Ư 6” từ hang động Ba Đình túa ra với nhiều bản mặt “mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười” với “Lú Đại Nhân” vì quá lú nên không giấu được bản mặt đám ma, chứng tỏ mới vừa khóc mếu đôi mắt còn đỏ hoe, nước đá… lưng tròng, mép còn nhiểu nhảo, mũi dãi lòng thòng… Tư sâu thì quờ quạng thần sắc nhợt nhạt, phần xác còn đó mà phần hồn bay đâu như “mất sổ gạo, tuột sổ hưu…”. Riêng chỉ có 3 Ếch thì tuy mình mẩy mướt mồ hôi sau khi quần thảo, nhờ “ơn trên” thoát chết… nhưng trên môi với nụ cười nửa miệng, mắt nheo lại thành hình lá răm, mắt lươn liếc xéo ra chiều đắc thắng mặc dù vừa thoát qua cửa tử. Với bản mặt này thì người tầm thường không một chút kinh nghiệm hiểu biết về “tướng hình” cũng vẫn nhận ra đây là tên điếm ngoại hạng. Dân gian nói hạng người này là “Trai thì trộm cướp gái buôn chồng người”.



Để chứng minh cụ thể và thuyết phục về hành động điếm thối của 3 Ếch là sau khi thoát chết ở cửa ngục thứ 6 nói trên hắn ta mạnh miệng tuyên bố, hứa hẹn trước bá tánh rằng “Hắn nguyện nỗ lực đem hết sức mình để phục vụ cho nhân dân, cho Tổ Quốc…” ngay sau đó đối với nhân dân là hắn ta ra lệnh cho thanh gươm lá chắn, còn đảng còn mình thẳng tay đàn áp, bắt bớ, đánh đập, tống tù bao thanh niên yêu nước xuống đường chống Tàu cộng xâm lăng, giam cầm bao nhà dân chủ, bất đồng chính kiến, nhà báo, tu sĩ, SVHS… phản kháng lại hành động bán nước của tập đoàn CS Ba Đình. Đối với Tổ Quốc thì hắn tiếp tay cho giặc xâm chiếm cõi bờ, làm ngơ cho đội quân thứ 5 của đại Hán tràn ngập từ rừng núi xuống ruộng đồng ra miền duyên hải… để chuẩn bị cho màn cuối của chiếu chỉ Thành Đô nhằm xóa bỏ biên cương, sáp nhập Việt Trung về một mối.

Với bản thân một chữ lận lưng không có, mới hơn 11 tuổi đã trốn vào rừng theo thảo khấu lục lâm thì ăn học được mấy ngày, đọc và viết được mấy chữ?. Tấm bé không ai răn dạy, mẹ cha là ai? cả vùng Năm Căn-Bảy Núi chưa ai hề biết! Xuất thân ra từ “Thủy Liêm Động” mãi tận cùng của “Nam Thiệm Bộ Châu” được “Quỷ Cốc” tiên sinh truyền cho nghề cầm ống chích để nuôi thân. Thế mà mấy năm trước đứng trước hàng ngũ các Giáo Sư, Tiến Sĩ cùng hàng ngàn SV của trường Đại Học QG Sài Gòn kêu gọi công chức…phải có lòng “tự trọng”? tỉ như tướng cướp đi rao giảng đạo đức, khuyên răn mọi người chớ có lòng tham lấy của người làm của mình. Tú bà, đĩ già đi khuyên nữ nhi phải biết quý trọng và gìn giữ cái ngàn vàng??? Thế thì không gọi hắn ta là “điếm thối” thì gọi bằng gì cho đúng nghĩa?

Cùng đồng môn với 3 Ếch là Tư sâu cũng điếm đàng không kém cạnh. Những năm vừa qua khi giặc Tàu ngang ngược xâm chiếm cõi bờ, biển đảo… uy hiếp ngư dân, đánh đập bắt bớ, tịch thu tàu thuyền tài sản… khiến vợ con ngư phủ phải bán khố đợ bành qua Tàu chuộc chồng con về. Thế mà Tư sâu với cương vị đứng đầu nhà nước CSVN không một động thái can thiệp, binh vực cho dân mình mà hắn xuống tận nơi hải đảo Tiền Tiêu Lý Sơn xúi ngư dân tiếp tục bám biển, làm cột mốc di động để làm bia cho Hán cộng tập trận đánh chiếm Biển Đông, còn bọn chúng thì bám bờ hưởng lạc. Hắn phát biểu trước nhân dân thành Hồ, hô hào bà con cùng nhau tố cáo tham nhũng, bắt ếch trừ sâu, giữ gìn biên cương biển đảo…. Nghe theo lời xúi dục của hắn nữ SV Nguyễn phương Uyên ở tuổi đôi mươi với lòng nhiệt huyết, yêu nước nồng nàn đứng lên cùng tuổi trẻ yêu nước chống ngoại xâm, diệt nội thù thì ngay lập tức bọn sai nha còn đảng còn tiền kẻ tay súng người tay còng xông vào nhà trọ bắt cóc Phương Uyên lôi đi giữa thanh thiên bạch nhật trước mặt bạn bè và bà con hàng xóm như chỗ không người. Thử hỏi những hành động như vậy thì gọi bọn này là gì ngoài hai từ “điếm thối”? Những việc bọn nhà sản lừa gạt nhân dân trong nước thì tôi tạm gọi là “điếm nội địa”

Ra chính trường quốc Tế! Trên toàn thế giới này ai, dân tộc nào cũng đều biết người Việt hải ngoại liều chết bỏ nước ra đi sau ngày Quốc hận tháng tư đen năm 1975 là tránh “họa cộng sản”. Đau đáu trong lòng với hai tiếng “Thuyền Nhân”. Thế mà năm 2013 Tư sâu qua chầu Nhà Trắng hắn không ngượng mồm phát biểu với TT Hoa Kỳ B. Obama rằng hắn thay mặt chính phủ VN cảm ơn chính phủ Hoa Kỳ về sự chăm sóc hết sức chu đáo bà con người việt (tị nạn cộng sản) mấy chục năm qua sinh sống và làm việc và bây giờ là người Mỹ gốc Việt trên đất nước HK! với câu nói này mà tư sâu không xấu hổ thì rõ ràng là tên “điếm thối quốc tế” không sai. Chính cộng đồng người Việt hải ngoại thường xuyên gởi về VN mỗi năm gần 20 tỉ Dollars là chiếc phao cứu sinh giúp cho CSVN kéo dài tuổi thọ mà chúng đang chết lâm sàng trên bờ vực cáo chung. Tuy thế! trong thâm tâm chúng vẫn xem người Việt hải ngoại là thế lực thù địch còn trên bờ môi thì gọi “khúc ruột ngàn dặm” không thể tách rời. Điếm thối không ngoa chút nào!

Nói thêm về 3 Ếch trên mặt trận ngoại giao trên trường Quốc Tế thì hắn phun ra những sáo ngữ mà không hề biết ngượng mồm từ “lòng tin chiến lược”, “thành tâm chính trị” “…ai đó áp đặt cường quyền với những đòi hỏi phi lý…” đến “hòa bình hữu nghị viễn vông”… sau khi tuột xuống diễn đàn thì hoàn toàn quên hết (vì chỉ biết đọc lại những lời của kẻ khác viết) và làm ngược lại. Như sau khi tuyên bố cứng rắn về tình hình Biển Đông với những lời “hòa bình hữu nghị viễn vông” ở Manila thì ngay sau đó quay về Hà Nội ngoan ngoãn ngã vào mình ôm hôn thắm thiết Dương Khiết Trì qua thu hồi “đứa con hoang quay về với mẹ”! trong ý nghĩa “lãng tử hồi đầu” rồi đưa ra sáng kiến ươn hèn với giặc là “vừa họp tác vừa đấu tranh” và mới đây là phủ phục trước Du Chính Thanh qua ban lời chỉ dụ. Phải nói rằng trong 4 tên đầu sỏ động Ba Đình, Nguyễn Tấn Dũng là tên điếm thối, xảo ngôn nhất kể cả từ trước giờ trong cái guồng máy CSVN vô thần, vô đạo.

Tôi chỉ trích dẫn tiêu biểu một vài trường họp để chứng minh bọn nhà sản là bọn điếm chính trị quốc nội lẫn quốc tế. Theo nhà thơ Nguyễn Duy thì chỉ có hai loại điếm là điếm cấp thấp và điếm cấp cao. Tuy nhiên trong tiềm thức riêng tôi thì họ nhà sản dòng Giăn Mắc Ê rô ta phải công nhận là “siêu điếm” vì khi trăng tỏ thì chúng là điếm cấp cao, gặp lúc mưa gió lao xao chúng lại là điếm cấp thấp. Thật thế! Trong mấy chục năm qua cơ đồ nhà Ếch được dựng lên từ cửa miệng tức “bán miệng nuôi trôn”. Còn chuẩn bị cho buổi hoàng hôn phải bán trôn nuôi miệng thì tôi nghĩ mãi không ra…chợt đêm qua trong giấc nửa mơ nửa tỉnh giống như thi sĩ Trương Kế đời Đường bên Tàu khi sáng tác bài thơ tứ tuyệt “Phong kiều dạ bạc” lúc trên thuyền neo ở dòng sông ngoại thành Cô Tô chỉ làm được 2 câu là bí vận. Cuối cùng nghe tiếng chuông chùa Hàn San vọng về từ thu không đã giúp cho thi sĩ hoàn tất bài thơ bất hủ. Thì đêm qua tôi lại mơ thấy “Phượng yêu” của Nguyễn Bá Chổi

Chợt bừng tỉnh dậy và viết tiếp như sau:

Để xây dựng một tòa “hậu cứ” lâu dài cùng một hàng “kim tĩnh” (huyệt mộ) tráng lệ nguy nga, vĩnh hằng cho hậu sự…của họ nhà Ếch thì điếm cấp cao đã nghĩ ra chước “con sáo sang sông” đưa mông về “bên ấy” bắc cầu cho cả họ vượt trùng dương…nơi mà mọi kẻ thù bất khả xâm phạm. Như vậy có phải nhà Ếch tồn tại nhờ “trôn” của con sáo “Phượng yêu” trong các bài của tác giả Nguyễn Bá Chổi?. Lúc này “Phượng yêu” đã là điếm cấp thấp “bán trôn nuôi miệng” cho cả ba họ nhà mình!

Siêu điếm-lúc cấp thấp, khi cấp cao là như vậy. Xin quý độc giả cùng nhà thơ Nguyễn Duy cho một lời chỉ giáo! Đa tạ.

7/05/2015
David Thiên Ngọc
danlambaovn.blogspot.com

Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Tue Nov 17, 2015 4:00 pm



Sự dối trá và lòng yêu nước

Vũ Bất Khuất (Danlambao) - Giờ đây (2015) một đất nước tan hoang, một nền kinh tế lụn bại, một xã hội hoàn toàn băng hoại về văn hóa và đạo đức, luật pháp thì lôm côm… Tất cả mọi thước đo đều tính bằng tiền, từ nhân cách con người đến vị trí trong xã hội, trong đảng hay chính quyền, cả những mảnh giấy gọi là bằng cấp, huân huy chương, bằng liệt sĩ… Cuối cùng là nguy cơ mất nước đang vào tới hàng ba. Cái hệ thống truyền thông cũng như những cái mồm thối tha của các lãnh đạo chóp bu vẫn cứ tiếp tục ồn ào dối trá. Mục đích của sự dối trá toàn diện này đã đưa ĐCS lên đỉnh quyền lực và sự giàu có, nó vẫn còn phải tiếp tục để bảo vệ những gì đã đạt được và chính trong nội bộ của họ hình thành một sự phân hóa rõ rệt, không phải mới bắt đầu từ bây giờ mà là xuất hiện từ khi CNCS xuất hiện ở VN. Bởi vì cái khái niệm đồng chí cũng chỉ là đồ giả, là dối trá.

*

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan nói thẳng về tình trạng vô cảm với dân, về hàng loạt tiêu cực xảy ra trong xã hội khiến bà rất đau lòng.

Bà PCT nước nhận ra điều đó và bà đã đau lòng. Nhưng nếu như mà người dân nhận ra sự vô cảm, sự tàn bạo của các viên chức nhà nước dành cho họ chắc họ sẽ đau lòng gấp bội, như trường hợp của chị Nguyễn thị Việt, mẹ tử tù oan Lê văn Mạnh, như chị Đỗ thị Mai, mẹ em Đỗ Đăng Dư hay là thân nhân của 226 nạn nhân chết không rõ ràng trong các trại tạm giam của những đồn Công An hoặc những người bị cưỡng chế đất đai khắp nước đang nằm vật vạ ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng (Hà Nội) trong sự bức ép canh chừng vô cảm của Công An, dân phòng và bọn côn đồ. Nỗi đau của thân nhân và đồng đội của 60.000 dân quân đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh 1979, 64 chiến sĩ HQ ở Trường Sa bị chìm trong quên lãng giữa những nghĩa trang “Đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung Quốc” nghi ngút khói hương. Nỗi đau phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình biến họ thành con người vong gia thất thổ như Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày Nguyễn văn Hải, Tạ Phong Tần và có thể là Trần Huỳnh Duy Thức, Bùi thị Minh Hằng… bởi sự vô cảm của những người ký và thực hiện tống xuất. Đó là những nỗi đau lồ lộ ra hàng ngày trên khắp cả nước.

Trong cuộc sống hàng ngày trên mọi nẻo đường đất nước luôn luôn xuất hiện những trường hợp vô cảm giữa người với người. Thầy thuốc vô cảm với bệnh nhân, Thầy cô giáo vô cảm với những khó khăn của học sinh. Cán bộ thuế vô cảm với nhưng khó khăn của doanh nghiệp. Cán bộ thanh tra giao thông vô cảm với các chị hàng rong. Người đi đường vô cảm với những người bị tai nạn giao thông hay gặp bất trắc giữa đường. Người có tiền vô cảm với những người hành khất, khách lỡ đường, người bán vé số…, thậm chí còn lắm kẻ đã vô cảm trước sư già nua, đau yếu của cha mẹ mình.

Tại sao con người được tạo hóa ban tặng và sở hữu mọi cung bậc tình cảm lại trở nên khô cứng đến như vậy? Chính vì lòng tham lam đã biến con người trở nên ích kỷ. Và khi cả một cộng đồng như thế thì lại hình thành một nền văn hóa mới. Văn hóa dối trá.

Lịch sử dân tộc Việt Nam luôn luôn song hành với lịch sử đạo Bụt từ thế kỷ thứ II TCN cho đến năm 1945 (khi dân tộc bị áp đặt một học thuyết ngoại lai. CNCS). Hơn 2000 năm, dân tộc VN chưa bao giờ có một khái niệm vị kỷ, tham lam, dù đất nước đã trải qua bao đợt hưng vong, luôn luôn chung lưng sát cánh, nhường cơm sẻ áo trong cảnh thanh bình thịnh trị hay những lúc khó khăn. Chuyến hành phương Nam vĩ đại (1558-1777) phải đối diện với những khắc nghiệt của thiên nhiên trên vùng đất mới cũng như tiếp xúc với những nền văn hóa, những dân tộc xa lạ. Nhưng với lòng bao dung và tính trung thực dân tộc VN đã tạo dựng một giang sơn hoành tráng và tươi đẹp. Truyền thống tốt đẹp ấy được gìn giữ một cách trọn vẹn nhờ vào lòng trung thực.

Dù đã đọc Tư Bản luận, Mác-Lenin toàn tập và hàng ngàn bài viết về CNCS. Tôi vẫn không hiểu một tí gì về chủ nghĩa này, nhưng chứng kiến những gì xảy ra trong xã hội mà Chủ nghĩa CS xây dựng, dù ở đâu trên thế giới, nó đều là một chuỗi dài của sự dối trá.

Ngay trên đất nước mình, Việt Nam, hiện tượng cướp chính quyền ngày 2.9.1945 quả là một sự sỉ nhục đáng xấu hổ và tiếp theo là cuộc chiến tranh Việt Pháp, chấm dứt bằng chiến thắng Điện Biên Phủ tạo thành một nhát dao cắt lìa đất nước, rồi tạo nên cuộc nội chiến 21 năm để kết thúc vào ngày 30.4.1975, với câu nói nổi tiếng của Lê Duẩn “Chúng ta đánh chiếm miền Nam (VNCH) là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Cộng, cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm sau lưng của chúng ta.”

Thực ra từ ngày thành lập 3.2.1930. Đảng CS đã mang vào VN khái niệm dối trá. Trong suốt quá trình 85 năm hoạt động của mình chưa bao giờ CSVN nói thật bất cứ một điều gì. Từ nhân thân và hành vi của các lãnh đạo Đảng hay các tổ chức khác chính kiến cũng như những câu chuyện nhỏ nhặt có liên quan đến hoạt động chính trị. Thực chất của cái gọi là Cách Mạng Tháng Tám, Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp Định Genève 1954, Cải Cách Ruộng Đất, Giải Phóng Miền Nam. Tất cả được khoác lên hai từ Yêu Nước lấp loáng những màu sơn dối trá. Đã thế, cái khái niệm dối trá ấy lây lan hơn cả bệnh dịch bởi hệ thống truyền thông dối trá và cái nền giáo dục XHCN cũng dối trá và thối nát không kém, đã tạo nên những thứ dị thường như “cha già dân tộc HCM, Trần Dân Tiên, Lê văn Tám, Võ thị Sáu, Bế văn Đàn, Nguyễn văn Bé, Phan thị Ràng, Hồ Xuân Mãn, “HCM doanh nhân văn hóa thế giới”…

Giờ đây (2015) một đất nước tan hoang, một nền kinh tế lụn bại, một xã hội hoàn toàn băng hoại về văn hóa và đạo đức, luật pháp thì lôm côm… Tất cả mọi thước đo đều tính bằng tiền, từ nhân cách con người đến vị trí trong xã hội, trong đảng hay chính quyền, cả những mảnh giấy gọi là bằng cấp, huân huy chương, bằng liệt sĩ… Cuối cùng là nguy cơ mất nước đang vào tới hàng ba. Cái hệ thống truyền thông cũng như những cái mồm thối tha của các lãnh đạo chóp bu vẫn cứ tiếp tục ồn ào dối trá. Mục đích của sự dối trá toàn diện này đã đưa ĐCS lên đỉnh quyền lực và sự giàu có, nó vẫn còn phải tiếp tục để bảo vệ những gì đã đạt được và chính trong nội bộ của họ hình thành một sự phân hóa rõ rệt, không phải mới bắt đầu từ bây giờ mà là xuất hiện từ khi CNCS xuất hiện ở VN. Bởi vì cái khái niệm đồng chí cũng chỉ là đồ giả, là dối trá.

Ăn mày giả, hài cốt giả, tu sĩ giả, bằng cấp giả, chứng từ giả, thương binh giả, hóa đơn giả, sử gia giả, học giả, làm giả, hàng hóa giả… và tự tử giả trong các đồn công an. Cái gì người ta cũng làm giả được để gạt nhau. Rồi khi đối diện với sự thật thì người ta trở nên vô cảm. Vô cảm không phải vì cảm xúc bị triệt tiêu, mà phải vô cảm để đề phòng, để yên thân và sau đó đó là quay cuồng vào vòng xoay của dối trá. Cũng lác đó đây có những con người không chấp nhận điều này và họ đã phải trả giá đắt cho những hành vi của mình bằng chính cuộc sống của họ, đôi khi bằng cả sinh mạng.

Bà Phó CTN đã nhận ra điều này và bà làm được gì? Hay cũng chỉ là vô cảm như bộ sậu của bà. Chắc chắn là vô cảm, bởi vì cái hệ thống dối trá vĩ đại mà bà tham dự vào nó tiêu diệt hẳn mọi cảm xúc của bà. Nên những phát biểu của bà dù nghe khá êm tai, nhưng cũng chỉ là để nghe chơi. Nó là đồ giả, đồ dối trá không thể tin được.

Tàu Khựa đang ồn ào ngoài ngõ, xì xồ trong nhà. Người Mỹ đang hiện diện ở biển Đông. Nợ nước ngoài vượt ngưỡng, ngân sách cạn kiệt, nhập siêu khủng, nhà nước đang bán phế liệu các DNNN, VTV, Vinamilk, công trái phiếu. Nhưng tăng trưởng giả, GDP giả thì vẫn cứ ồn ào.

Cuối cùng, lòng yêu nước đã xói mòn vì bị trấn áp hay bị bẻ cong theo quyền lợi. Nhưng chủ yếu là vì bị lừa gạt 30 năm (1945-1975). Hơn 5.000.000 người VN đã chết để phục vụ cho cái lý tưởng “sọt rác Mác Lê Mao” được cái gọi là “ban tưởng văn hóa trung ương” biến tấu thành “chủ nghĩa yêu nước XHCN”

Trong lúc lòng dân đang sục sôi vì hiểm họa mất nước thì Cộng Sản tại Việt Nam vẫn bám chặt lấy quyền lực bằng hệ thống Công An và Quân đội dày đặc để hù dọa và trấn áp nhân dân cùng với sự dối trá khủng khiếp.

Ông chúa đảng và bộ sậu thì cương quyết liếm đít Tàu, ông Thủ tướng thì tự hào với nền kinh tế “nợ như chúa chổm” chỉ biết ăn thôi chẳng biết làm. Ông CTQH thì ồn ào chém gió giữa bầy đàn đang nằm ngủ gật hay ngáp ngắn, ngáp dài, ông Chủ Tịch Nước thì nói hay như sáo thổi kêu gọi “ngư dân kiên trì bám biển đến banh chành chài lưới, tan nát tàu ghe, thậm chí còn bỏ mạng và lực lượng Cảnh Sát biển thì cương quyết bám bờ làm hải trình khống để rút tiền”. Cái bộ tứ hèn mạt này đang trông ngóng thằng Chệt Tập Cận Bình sang thăm và ban khẩu dụ. Các cán bộ thấp hơn một tí thì tha hồ phát ngôn bậy bạ. Lòng yêu nước của nhân dân lại được kêu gọi để giữ vững hòa bình, ổn định, tăng cường hợp tác với Trung Cộng. Để “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước”.

Có ai hiểu câu nói này diễn tả cái gì không. Chỉ là những từ ngữ được sơn phết đến độ một ông Bộ Trưởng như ông Bùi Quang Vinh còn không hiểu cái “thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” lá cái con kẹc gì?

Hiện tại, vận nước càng ngày càng xấu đi. Họa mất nước đang treo lơ lửng trước mắt, 90 triệu dân đang sôi sục, nhưng liệu bầy đàn CS tại VN có dám kêu gọi lòng yêu nước một lần nữa không? Có dám ban hành lệnh Tổng Động Viên không khi Tàu khựa xua quân vào biên giới?

Chắc chắn là không. Vì tình hình hiện nay thì người dân đã ói tới mật xanh những lời dối trá rồi. Dù có ngu xuẩn đến đâu bọn chóp bu của hai bầy đàn CS tại VN, Trung Hoa thừa biết điều đó, và để đảm bảo cho vị trí quyền lực của mình. Chúng lại tiếp tục sự dối trá, dù nền kinh tế đang bên bờ vực sụp đổ nhưng Tập Cận Bình cũng nhìn ra 1 tỷ Nhân Dân Tệ cho bọn chóp bu ở VN. Bọn bán nước ở VN bắt đầu một kế sách hủy hoại văn hóa truyền thống dân tộc bằng các biện pháp sau; Một là đầy mạnh việc hoạt động của Viện Khổng Tử và đặt hình tượng của thằng Chệt già hơn 2.000 tuổi này vào bất cứ nơi nào có thể đặt được, hai là đưa tiếng Hán vào chương trình giáo dục; ba là loại khỏi chương trình môn Lịch Sử.

Cuối cùng là chúng không ngưng nghỉ việc tiếp tay Tàu Khựa hủy hoại nền kinh tế nước nhà bằng cách nhập siêu, nhập thoải mái các loại hàng hóa độc hại vào để đầu độc dân tộc mình.

Cuối cùng, điều gì sẽ xảy ra. Lịch sử đã chứng minh và sẽ lại chứng minh. KHÔNG CÓ LÒNG YÊU NƯỚC NÀO MÀ KHÔNG CÓ DỊP ĐỂ THỂ HIỆN. Không có đoàn quân xâm lược nào mà không mang trong hành trang của chúng hạt giống sự thất bại. Không có có kẻ bán nước nước nào có thể yên ấm được một nấm mồ.

17/11/2015
Vũ Bất Khuất
danlambaovn.blogspot.com

Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Sun Nov 22, 2015 11:20 am


 
Công thức giữ đảng

Phạm Đình Trọng

"... Công thức giữ đảng của đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng là: Còng Công An + Súng Quân Đội + Mật vụ Tàu Cộng + Dòng Máu Đảng Cha Truyền Con Nối. Cả bốn thành tố này đều bất chính và vô cùng nguy hại cho Dân cho nước. Một chính đảng phải nhờ những điều bất chính để tồn tại là đã tự đào thải, tự kết thúc sứ mạng lịch sử trong bi hài, tự kết thúc số phận trong tội lỗi với dân tộc, với lịch sử..."

*

1. Niềm tin bạo lực

Tiến sĩ chuyên ngành bảo vệ đảng Nguyễn Phú Trọng nhậm chức Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam ở thời điểm tròn 20 năm hệ thống cộng sản quốc tế sụp đổ, cũng là 20 năm sau cuộc cúi mặt, lén lút đi đêm của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đến Thành Độ, phủ thủ tỉnh Tứ Xuyên, Tàu Cộng.

Hệ thống cộng sản quốc tế một thời hùng mạnh, làm giông bão sấm sét dìm một phần hành tinh, một phần loài người vào biển máu, biển lửa cách mạng, dìm hơn tỉ người vào bóng đêm nô lệ cộng sản nay bỗng chốc chỉ trong khoảnh khắc sụp đổ tan tành là nỗi lo canh cánh của vị Tổng bí thư thừa giáo điều mà quá thiếu hụt thực tế cuộc sống của dân, của nước nên xơ cứng, vôi hóa động mạch cảm xúc!

Lo từ khi chưa chính thức ngồi vào ghế Tổng bí thư.

Ở các nước dân chủ đích thực là các nước tư bản phát triển, dù bầu cử trong đảng chính trị hay trong dân, chỉ đến khi việc kiểm phiếu minh bạch xong xuôi mới biết chủ của những chiếc ghế quyền lực. Nhưng ở các nước cộng sản, mỗi dịp đại hội đảng cộng sản là một dịp phân chia trong bóng tối những chiếc ghế quyền lực đảng và sự phân chia trong bóng tối đó phải ngã ngũ rồi mới diễn ra công khai đại hội đảng và đại hội đảng chỉ để làm thủ tục bỏ phiếu hợp thức hóa sự phân chia đã được định đoạt từ trong bóng tối trước đó. Cũng như cuộc bỏ phiếu ở Quốc hội sau đại hội đảng chỉ để làm thủ tục hợp thức hóa sự phân chia những chiếc ghế quyền lực nhà nước đã được định đoạt từ trước đại hội đảng. Vì thế, đại hội đảng diễn ra sau cuộc chia ghế trong bóng tối là đại hội của chiếc ghế quyền lực lớn nhất vừa được xác định trong bóng tối: Tổng bí thư của đại hội đó.

Đại hội 11 là đại hội của tiến sĩ bảo vệ đảng Nguyễn Phú Trọng. Với nỗi lo mất đảng, toan tính đầu tiên của đảng trưởng giáo điều xa dân là bạo lực hóa, công cụ hóa ban chấp hành trung ương đảng. Tin vào sức mạnh bạo lực như giáo sĩ tin vào kinh thánh, cánh cửa ban chấp hành trung ương được ông chủ nhà Đỏ Ba Đình khóa 11 mở rộng cho cánh tướng lĩnh quân đội và công an ùa vào. Trong 175 ủy viên chính thức ban chấp hành trung ương kì đại hội 11 có tới 20 tướng quân đội, 10 tướng công an, tổng cộng là 30 trên 175, gần 20 phần trăm ban chấp hành trung ương là người nắm công cụ bạo lực.

Suốt ba mươi năm chiến tranh thù trong giặc ngoài, số ủy viên trung ương đảng mặc áo công cụ, quân đội và công an, các khóa thời đó chỉ trên dưới mười người, chưa đến mười phần trăm. Thời yên hàn mà bạo lực hóa cơ quan quyền lực của đảng chính là niềm tin bạo lực của vị đảng trưởng có bằng tiến sĩ bảo vệ đảng.

Cùng với bạo lực hóa, công cụ hóa ban chấp hành trung ương, nhiều chính sách ưu đãi, vỗ về, nuông chiều bạo lực, dồn ngân sách nghèo của đất nước chăm bẵm, phát triển con người công cụ, con người bạo lực cũng được thực thi. Lạm phát tràn lan tướng công an, tướng quân đội. Thời chiến tranh, quân đội Nhân Dân Việt Nam với quân số trên triệu tay súng và phải mở các mặt trận trên khắp ba nước Đông Dương mà chỉ có trên dưới 50 tướng. Cuộc sống hòa bình, quân số giảm lớn, không gian thu hẹp, quân đội Việt Nam chỉ có mặt trên lãnh thổ Việt Nam mà quân đội có tới 489 tướng! Nhiều đặc quyền, đặc lợi được dành cho công an, quân đội, nhất là công an được chăm bẵm, ưu ái từ người lính công an đến gia đình, con cái họ. Những doanh nghiệp công an, quân đội trở thành những siêu thế lực trong đời sống kinh tế đất nước. Doanh nghiệp quân đội tự tiện cắt gần hai trăm ha đất sân bay Tân Sơn Nhất làm sân golf giữa thành phố, đẩy sân bay vào thế kẹt cứng không thể mở mang, hiện đại hóa, phải bật đi nơi khác!

Đảng chính trị, dù là đảng cầm quyền cũng chỉ là một tổ chức xã hội nhất thời và luôn biến động. Tổ chức đảng có lúc thịnh, lúc suy, lúc tồn tại, lúc tiêu vong. Đường lối, chính cương của đảng có lúc đúng, lúc sai. Với đảng cộng sản thì sai nhiều hơn đúng. Con người của đảng có lúc anh hùng xuất chúng, có lúc là tội đồ, phản bội như ủy viên Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam Hoàng Văn Hoan.

Chỉ có Tổ Quốc, Nhân Dân là vĩnh hằng, bất biến, là một giá trị vĩnh cửu, cao cả, thiêng liêng của một đất nước và của từng người dân. Nhưng những người cộng sản đã thần thánh hóa, tuyệt đối hóa đảng của họ, đưa đảng của họ, một tổ chức chính trị nhất thời, sai nhiều hơn đúng, tội nhiều hơn công lên trên những giá trị cao cả, thiêng liêng, bất biến là Tổ Quốc, là Nhân Dân. Họ đã biến quân đội, sức mạnh bảo vệ đất nước thành sức mạnh bảo vệ đảng, biến pháp luật và công an, công cụ bảo đảm sự lành mạnh của xã hội thành công cụ bảo vệ đảng.

2. Súng quân đội

Ông đảng trưởng đương nhiệm Nguyễn Phú Trọng và ông đảng trưởng tiền nhiệm Nông Đức Mạnh là hai ông đầu đảng đã rước Tàu Cộng vào nước ta ồ ạt nhất, sâu rộng nhất. Tàu Cộng làm chủ những dải rừng đầu nguồn chiến lược rộng lớn ở biên cương. Tàu Cộng rầm rập kéo đến mảnh đất bô xít Tây Nguyên. Tàu Cộng lặng lẽ nhưng cấp tập đổ bộ vào những vùng đất đắc địa về kinh tế, hiểm yếu về quân sự dọc bờ biển nước ta. Đất nhượng địa cho Tàu Cộng với thời gian dài trên nửa thế kỉ loang lổ như da báo, như mụn ghẻ trải rộng trên khắp bề mặt đất nước Việt Nam từ Móng Cái đến Hà Tiên. Hàng hóa độc hại của Tàu Cộng đổ vào nước ta như nước lũ, bóp nghẹt ngay tức thì nền kinh tế Việt Nam và âm thầm mang cái chết chậm đến cho giống nòi Việt Nam. Tàu chiến Tàu Cộng nghênh ngang trên biển Việt Nam, mặc sức bắn giết, cướp phá dân chài Việt Nam. Tàu Cộng làm chủ nhượng địa Vũng Áng, Hà Tĩnh, xây dựng cảng biển Vũng Áng thành một đầu cầu mà đầu cầu bên kia là quân cảng Du Lâm trên đảo Hải Nam, căn cứ hạm đội Nam Hải của Tàu Cộng được trang bị tàu ngầm hạt nhân. Vũng Áng đã Tàu hóa nối liền với quân cảng Du Lâm của Tàu Cộng thì cánh cửa thép vịnh Bắc Bộ bị đóng sập lại, Đất Việt Nam bị cắt đôi. Biển Việt Nam bị phong tỏa.

Đất nước Việt Nam bị đe dọa nguy khốn như vậy, mạng sống của người dân Việt Nam mong manh như vậy trước họa xâm lăng Tàu Cộng nhưng hai ông đầu đảng Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng lại chỉ chăm chăm lo chuyển nòng súng quân đội hướng vào người Dân Việt Nam và hai ông đã thực hiện nhiều việc làm biến chất quân đội, tha hóa quân đội, làm phân tán, mờ nhạt chức năng bảo vệ Tổ Quốc của quân đội, đặt lên vai quân đội thêm chức năng nội trị nặng nề để cùng công an bảo vệ đảng.

Năm 2003, thời đảng trưởng Nông Đức Mạnh, theo chủ trương của đảng, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg về “Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới”. Từ đây, quân đội chính thức phải gánh thêm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự xã hội cùng bộ máy công an khổng lồ.

Cũng dưới thời đảng trưởng Nông Đức Mạnh, tháng 10. 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại kí Nghị định 77, đưa quân đội tham gia sâu rộng, toàn diện vào việc bảo vệ trật tự xã hội từ cấp cao nhất đến cấp nhỏ nhất. Với Nghị định 77 quân đội đã có mặt cùng công an trong nhiều cuộc cưỡng chế đất đai mà thực chất là những cuộc ăn cướp mảnh đất người dân đang sinh sống hợp pháp của đám quan tham nhân danh chính quyền. Quân đội là lực lượng bạo lực quyết định trong việc dập tắt cuộc biến động đòi tự do dân chủ của người H’Mong ở Mường Nhé tỉnh Điện Biên tháng 5. 2011.

Người cầm quyền tỉnh táo đáng ra phải nhận ra ở tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn vang lên trong sương mù sớm mùa đông giáp tết năm 2012 lời cảnh báo nghiêm khắc về một qui luật tự nhiên và cũng là qui luật xã hội: “tức nước vỡ bờ”. Một chính quyền dù có sức mạnh bạo lực tàn bạo đến đâu nhưng đối kháng với Dân cũng không thể tồn tại. Nhưng với niềm tin đến mê muội vào bạo lực, coi bạo lực như bảo bối để tồn tại, sau tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn, đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng liền triệu tập hội nghị trung ương 8 để một lần nữa ra thêm một nghị quyết huy động sức mạnh bảo vệ Tổ Quốc của quân đội vào cái gọi là bảo vệ chế độ CNXH, bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Nghị quyết chi li đến mức bất cứ điều gì ảnh hưởng đến sự tồn tại của đảng, của chế độ, quân đội đều được quyền hành động trấn áp.

Người dân Việt Nam đã bị thể chế công an trị với đội quân công an dày đặc giám sát từng lời nói, từng bước đi, từng trang viết. Nay sự giám sát đó lại có thêm cả sức mạnh của nòng súng quân đội. Nghị quyết của hội nghị trung ương 8 thời đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng, hay có thể nói cụ thể, chính xác là chính đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng đã chỉnh nòng súng của quân đội hướng vào Nhân Dân, coi Nhân Dân, những người đóng thuế xây dựng quân đội, nuôi quân đội, trang bị súng lớn súng nhỏ cho quân đội là đối tượng tác chiến của quân đội. Điều này giải thích vì sao ban Chấp hành trung ương đảng, bộ tham mưu của đảng, đầu não của đảng, trí tuệ của đảng thời đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng lại có nhiều tướng võ biền đến thế.

Đương nhiên, sức mạnh bảo vệ Tổ Quốc của quân đội vừa bị hút vào hoạt động thị trường, trở thành siêu thế lực trong đời sống kinh tế đất nước, vừa được huy động ráo riết vào việc bảo vệ đảng thì nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc chỉ còn là thứ yếu.

3. Còng công an

Sức mạnh quân đội đã bị chuyển hướng từ bảo vệ đất nước sang bảo vệ đảng. Công an còn bị đảng hóa triệt để hơn, bị tha hóa, biến dạng lớn hơn. Tha hóa biến dạng từ tâm hồn, nhận thức. Con người công an bị nhào năn để không còn con người nhân văn, chỉ còn con người công cụ. Công an được giáo dục để chỉ biết có đảng và chỉ thuộc lòng lí luận bạo lực đấu tranh giai cấp, bạo lực chuyên chính vô sản của đảng. Không biết đến Nhân Dân. Nhân Dân chỉ là nguồn lực vô tận để khai thác, sử dụng, chỉ là quần chúng phải giáo dục, phải chuyên chính. Tổ Quốc lớn lao thiêng liêng cũng là của đảng, cũng dưới giá trị tuyệt đối của đảng. Cái phông chữ ngạo nghễ phô trương đến kệch cỡm choáng hết mặt trước cơ quan bộ Công an ngay giữa thủ đô ngàn năm văn hiến: “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình” đã bộc lộ đầy đủ tâm hồn và nhận thức của những con người được Nhân Dân trao trách nhiệm bảo vệ luật pháp, bảo vệ cuộc sống bình yên của Dân đã bị đảng hóa chỉ còn là công cụ của đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn hùng hồn là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đảng của Dân thì phải theo ý nguyện của Dân. Ý nguyện của Dân chính là ý nguyện của cuộc sống, của đất nước. Nhân Dân là Tổ Quốc, là thời đại. Đảng chính trị dù có tư tưởng tiên tiến đến đâu cũng phải học Dân, theo Dân. Không thể bắt Dân theo ý nguyện của đảng. Học thuyết Mác Lê nin và lí tưởng Xã hội chủ nghĩa là ý nguyện của đảng chứ không phải ý nguyện của Dân. Coi Dân chỉ là quần chúng, những người Cộng sản tự đặt mình cao hơn Dân, tự cho mình quyền giáo dục quần chúng, giáo dục Nhân Dân. Người Dân khảng khái bộc lộ ý nguyện của Dân, ý nguyện không chấp nhận học thuyết Mác Lê nin mất tính người, không chấp nhận Chủ nghĩa Xã hội đầy tội ác thì Dân liền bị đẩy sang“thế lực thù địch”. Còng sắt nhỏ liền bập vào tay người Dân khác biệt ý nguyện với đảng và cái còng khổng lồ tạo ra bởi những con người công cụ đã còng cả không gian sống của người Dân không có cùng ý nguyện với đảng.

Pháp luật Việt Nam những ngày này đang được thực thi bởi những con người công cụ không biết đến những giá trị nhân văn, không biết đến pháp luật. Những con người công cụ coi người Dân không có cùng ý nguyện với đảng cộng sản đều là thù địch, là tội phạm. Những phiên tòa xử theo những điều luật vi Hiến 79; 88; 258 liên tiếp mở ra trên khắp đất nước buộc tội, bỏ tù những người Dân Việt Nam trung thực, lương thiện không có cùng ý nguyện với đảng cộng sản. Những nhà tù với những cai ngục chỉ biết còn đảng còn mình đang giam cầm, hủy hoại những tâm hồn và khí phách Việt Nam không có cùng ý nguyện lầm lạc, tội lỗi của đảng cộng sản.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của lòng yêu nước thương nòi. Trước sức mạnh khổng lồ của Đại Hán xâm lược, dân tộc Việt Nam bé nhỏ tồn tại đến hôm nay nhờ yêu thương đùm bọc dân tộc. Còng công an không phải chỉ còng thân xác những người Dân Việt Nam không có cùng ý nguyện với đảng Cộng sản. Còng công an đã còng cả lòng yêu thương đùm bọc dân tộc, còng cả dân tộc Việt Nam giàu lòng yêu nước thương nòi không chấp nhận bạo lực đấu tranh giai cấp, bạo lực chuyên chính vô sản đã gây quá nhiều tội ác với dân tộc Việt Nam. Còng công an đã còng cả ánh sáng tự do dân chủ, dìm đất nước Việt Nam văn hiến trong bóng đêm nô lệ cộng sản.

4. Mật vụ tàu cộng

Không phải chỉ giữ đảng bằng súng quân đội, còng công an Việt Nam. Tiến trình đi tới của loài người không thể đảo ngược là loại bỏ học thuyết bạo lực Mác Lê nin vào sọt rác lịch sử, giải phóng con người khỏi bạo lực nô dịch cộng sản. Chống lại tiến trình đó để giữ đảng, giữ bạo lực cộng sản nô dịch chín mươi triệu người Dân Việt Nam, đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng đã rước cả công an, mật vụ Tàu Cộng về “để tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong việc giữ gìn ổn định trong nước của mình”, thực chất là dùng sức mạnh bạo lực của nhà nước cảnh sát Tàu Cộng đàn áp người Dân Việt Nam không có cùng ý nguyện với đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngồi vào chiếc ghế quyền lực cao nhất của đảng Cộng sản Việt Nan, đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng liền sang kinh đô Đại Hán kí với người đứng đầu đảng Cộng sản Tàu Cộng Hồ Cẩm Đào bản Tuyên bố chung tám điểm ngày 15. 10. 2011, gồm những việc cụ thể đưa Việt Nam phụ thuộc sâu vào Tàu Cộng.

Điểm thứ tư của Tuyên bố chung có sáu việc thì việc thứ năm là: “Đi sâu hơn nữa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực thi hành pháp luật và an ninh;... Tăng cường giao lưu và hợp tác giữa các cơ quan như tòa án, viện kiểm sát, công an, hành chính tư pháp;... tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong việc giữ gìn ổn định trong nước của mình.” Ngôn ngữ ngoại giao và công khai thì phải tỏ ra bình đẳng “phối hợp và ủng hộ lẫn nhau” nhưng thực tế trong quan hệ giữa Tàu Cộng với Việt Cộng, giữa nước lớn ban phát và nước nhỏ nhận ban phát thì “đi sâu hợp tác, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan công an, tòa án hai nước” chỉ là hợp thức hóa việc mở đường cho công an, tòa án Tàu Cộng nhảy vào các vụ việc nội trị của Việt Nam mà thôi.

Người Dân Việt Nam có tiếng nói khác biệt với đảng Cộng sản Việt Nam đã bị bộ máy công cụ nhà nước Việt Nam, công an, tòa án, nhà tù trừng trị thẳng tay. Nhưng tiếng nói khác biệt đó lại nhằm lên án Tàu Cộng cướp đất đai biển đảo Việt Nam, nô dịch người Dân Việt Nam thì sự trừng trị càng thảm khốc, man rợ.

Trừng trị tiếng nói đòi tự do dân chủ của Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, nhà nước cộng sản Việt Nam phải ngụy tạo cho người khai sinh ra câu lạc bộ Nhà báo Tự do tội trốn thuế vài trăm triệu đồng mà giáng mức án ba mươi tháng tù giam. Mãn hạn tù với nhà nước cộng sản Việt Nam, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn không được trả tự do vì ông còn “tội” lớn hơn với nhà nước cộng sản đàn anh Tàu Cộng.

Đúng ngày Tàu Cộng đánh cướp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 34 năm trước, ngày 19. 1. 2008, đúng thời điểm Tàu Cộng đang rong ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh đi khắp thế giới và ngọn đuốc đó sắp qua Sài Gòn, Điếu Cày cùng những người bạn mặc đồ đen để tang Hoàng Sa, đứng cao trên thềm Nhà Hát Lớn Sài Gòn ngực áo mang biểu tượng những vòng tròn Olympic Pekin 2008 chỉ là hình những chiếc còng sắt, tay giương cao bảng chữ “Hoàng Sa, Trường Sa Của Việt Nam” bằng chữ Việt, chữ Anh, chữ Tàu. Ngày 29. 4. 2008, ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh đến Sài Gòn, trước đó 9 ngày, ngày 20. 4. 2008, Điếu Cày bị bắt.

Sau phiên tòa về tội trốn thuế với bản án ba mươi tháng tù do nhà nước cộng sản Việt Nam, trừng trị tiếng nói đòi tự do dân chủ, ngày 24. 9. 2012, Điếu Cày lại phải đối mặt với phiên tòa thứ hai với bản án man rợ mười hai năm tù, năm năm quản chế sau tù. Phiên tòa do những quan tòa Việt Nam xử Điếu Cày tội tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam nhưng những người nhạy cảm chính trị đều hiểu rằng bản án man rợ mười hai năm tù giáng xuống người đàn ông sáu mươi tuổi Điếu Cày Nguyễn Văn Hải ngày 24. 9. 2012 mang dấu ấn đậm nét của Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng - Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011 và bản án có sẵn trong túi ông quan tòa người Việt Nam ngồi xử Điếu Cày đã được định đoạt từ ngoài biên giới phía Bắc.

Những ông quan tòa ngồi xử Điếu Cày không theo tinh thần nhân đạo của luật pháp Việt Nam mà theo tinh thần Bắc thuộc tàn ác của Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng - Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011. Lịch sử Việt Nam sẽ xóa án cho Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và tôn vinh ông. Lịch sử Việt Nam sẽ nghiêm khắc phán xét, tuyên án các ông quan tòa tạo ra bản án man rợ cho Điếu Cày tội phản dân tộc, sẽ sòng phẳng phán xét và tuyên án cả bản Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào tội dìm giống nòi Việt Nam vào vòng Bắc thuộc, tội đánh đổi sự tồn tại của dân tộc Việt Nam cho sự tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam.

Có Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng - Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011 rước công an Tàu Cộng vào Việt Nam dưới chiêu bài tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau giữa công an hai nước Tàu Cộng và Việt Cộng, dìm Việt Nam chìm sâu vào vòng Bắc thuộc, mới có sự việc ngày 14.3.2014 công an chìm, công an nổi chỉ huy phá buổi lễ người Dân thủ đô Hà Nội tưởng niệm những người lính Việt Nam bỏ mình trong cuộc chiến đấu chống Tàu Cộng đánh cướp bãi đá Garma trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988. Phá buổi lễ người Dân thủ đô dâng hương lên hương hồn liệt sĩ Trường Sa bằng khúc nhạc Tàu tấu lên phá tan không khí trang nghiêm thành kính, bằng những kẻ người Việt mang dòng máu họ Mao, họ Tập ôm nhau nhảy múa trong khúc nhạc Tàu chiếm không gian của người Dân dâng hương lên hương hồn liệt sĩ chống Tàu Cộng xâm lược.

Có Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng - Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011 mới có dòng máu đỏ chảy tràn trên mặt cựu chiến binh Trần Bang sau cú võ Tàu của những kẻ chống phá cuộc biểu tình của người Dân Sài Gòn phản đối tên trùm xâm lược Tập Cận Bình đến Việt Nam ngày 5.11.2015.

Kẻ tung cú võ Tàu đấm thẳng vào mặt người cựu chiến binh tuổi sáu mươi mặc áo NoU thét lên tiếng thét của những trái tim Việt Nam yêu nước “Đả đảo Tập Cận Bình”, kẻ đó hẳn thừa biết cựu chiến binh Trần Bang đã tham gia đánh Tàu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ở biên giới phía Bắc năm 1979, đã có mặt ở hàng đầu trong mọi cuộc biểu tình lên án Tàu Cộng cướp biển đảo Việt Nam những năm tháng này.

Cú võ Tàu đấm vào mặt cựu chiến binh Trần Bang cũng như lưỡi gươm Nguyên Mông chém rụng đầu Trần Bình Trong khi Trần Bình Trọng khảng khái thét vào mặt giặc Nguyên Mông “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc” Kẻ tung cú võ Tàu đấm thẳng vào mặt cựu chiến binh Trần Bang không phải chỉ nhằm hạ gục một Trần Bang cụ thể mà nhằm hạ gục ý chí giữ nước chống Đại Hán xâm lược của người Dân Việt Nam yêu nước.

Kẻ tung cú võ Tàu đánh vào lòng yêu nước của người Dân Việt Nam đã được rước vào Việt Nam bởi Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011.

5. Dòng máu đảng cha truyền con nối

Khi dư luận xã hội ồn ào vụ việc con ông đảng trưởng một tỉnh nghèo miền Trung, cậu ấm ba mươi tuổi chỉ có thú ham chơi chim kiểng, không có đủ chuẩn mực của chiếc ghế quyền lực bỗng sỗ sàng nhảy tót lên ghế giám đốc một sở đầy thế lực; Khi ông Thứ trưởng bộ Nội vụ từ kinh kì tức tốc vào cuộc kiểm tra việc cậu ấm ham chơi nhảy lên ghế quyền lực rồi mau mắn tuyên bố ráo hoảnh rằng việc đề bạt cậu ấm là đúng qui trình thì người Dân đều phải sững sờ nhận ra rằng tàn tích cha truyền con nối của thời phong kiến hủ bại đã là chủ trương ngầm của nhà nước cộng sản Việt Nam thời đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng rồi!

Nhưng thời phong kiến, cha truyền con nối chỉ diễn ra ở ngôi vua. Còn chiếc ghế quyền lực từ trung ương đến địa phương đều phải qua học hành thi tuyển nghiêm túc, công khai, minh bạch ở tầm quốc gia. Thi cử nghiêm túc nên chủ khảo Cao Bá Quát mới bị tống ngục với thang tội danh phải tử hình khi ngầm nâng đỡ một sĩ tử giỏi, có bài thi xuất sắc nhưng do sơ suất có vài chữ phạm húy. Dù là quan lại địa phương cũng phải qua thi tuyển quốc gia rồi triều đình bổ nhiệm chứ địa phương không thể tư biên tự diễn được. Từ đó, hiền tài trong Dân được phát hiện qua thi tuyển minh bạch đàng hoàng và được phân bổ, sử dụng cho cả nước. Dù là quan lại địa phương cũng là bộ máy hành chính của đất nước, cũng phải là bộ mặt nhân văn của chính quyền, cũng phải là bộ mặt văn hóa của đất nước.

Với nhà nước cộng sản Việt Nam, đến những chiếc ghế quyền lực của đảng trung ương còn được định đoạt trong bóng tối rồi mới đưa ra đại hội đảng bỏ phiếu để hợp thức hóa, để đúng qui trình thì những trò bỏ phiếu tín nhiệm ở địa phương càng chỉ là thủ tục hành chính đơn giản cho có đủ hình thức, cho đúng qui trình mà thôi. Vì thế tất cả các cuộc bầu bán, các vụ việc đề bạt đều đúng qui trình! Con ông ủy viên Bộ Chính trị này làm bí thư tỉnh X đúng qui trình. Con ông ủy viên Bộ Chính trị kia là bí thư tỉnh Y đúng qui trình. Con ông Bí thư tỉnh làm chủ tịch quận đúng qui trình. Con ông ủy viên trung ương đảng làm phó giám đốc công an tỉnh đúng qui trình... Con cái của đảng ào ào ra nắm giữ những chiếc ghế quyền lực đều đúng qui trình cả. Chỉ có Dân có ý kiến nhận xét, phản bác, đòi hỏi này nọ là sai, là thế lực thù địch!

Mỗi mùa đại hội đảng là một lần người dân bị tước quyền công dân. Bỏ phiếu bầu người lãnh đạo đất nước là quyền công dân quan trong nhất, tối cao nhất, là cách duy nhất người Dân sử dụng quyền lực của mình. Mỗi mùa đại hội đảng, những vị trí lãnh đạo đất nước từ trung ương đến địa phương lại được đảng mang ra chia chác trong nội của đảng. Người Dân mất quyền bầu chọn người thay mặt mình quản lí đất nước, điều hành xã hội.

Mùa đại hội đảng năm nay, người Dân lại được chứng kiến những người cộng sản đang hối hả học bài học giữ ngôi của các vương triều phong kiến. Cha truyền con nối của vương triều là để giữ ngôi vua. Cha truyền con nối chiếc ghế quyền lực của những người cộng sản hôm nay là để gữi đảng. Con thay cha giữ những chiếc ghế quyền lực đảng trao không phải chỉ để giữ lợi ích, bổng lộc do chiếc ghế mang lại cho bản thân, cho gia đình mà còn để quyết giữ đảng. Vì nhờ có đảng mà cha con, ông cháu nhà ta và các thế hệ chắt, chút, chít về sau mới có chiếc ghế cai trị Dân đầy quyền lực và dày bổng lộc đó. Vì thế cha truyền con nối để gữi đảng đến cùng.

Tóm lại, công thức giữ đảng của đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng là: Còng Công An + Súng Quân Đội + Mật vụ Tàu Cộng + Dòng Máu Đảng Cha Truyền Con Nối. Cả bốn thành tố này đều bất chính và vô cùng nguy hại cho Dân cho nước.

Một chính đảng phải nhờ những điều bất chính để tồn tại là đã tự đào thải, tự kết thúc sứ mạng lịch sử trong bi hài, tự kết thúc số phận trong tội lỗi với dân tộc, với lịch sử.

22/11/2015
Phạm Đình Trọng
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 214
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Tue Mar 01, 2016 5:12 pm



Chống Mỹ cứu nước nào?


Trần Gia Phụng (Danlambao) - Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam dọc theo sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, ở vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ở Bắc Việt Nam (BVN), do đảng Lao Động (LĐ) cai trị. Đảng LĐ là hậu thân của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD). Trong khi đó, Quốc Gia Việt Nam (QGVN) ở Nam Việt Nam (NVN), do cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng. Năm sau, thủ tướng Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, lật đổ quốc trưởng Bảo Đại và thành lập Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955 do ông Diệm làm tổng thống.

Đất nước chia hai, nhưng đảng LĐ ở BVN không dừng lại ở đó. Tại Đại hội III đảng LĐ từ 5 đến 10-9-1960, đảng LĐ quyết định động binh tấn công VNCH, mà CS gọi là “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Ngoài ra, đảng LĐ còn đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” nhằm khích động lòng yêu nước của dân chúng Việt Nam và để được các nước cộng sản (CS) giúp đỡ. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà ít người chú ý là Hồ Chí Minh (HCM) và đảng LĐ tức đảng CSĐD chống Mỹ cứu nước là để cứu nước Việt Nam hay là cứu nước nào khác?

1. Hồ Chí Minh tuyên bố chống Mỹ


Vào cuối thế chiến thứ hai, HCM và đảng CSĐD hợp tác với tổ chức OSS của Hoa Kỳ. Tổ chức OSS là Office of Strategic Services (Sở tình báo chiến lược), tiền thân của C.I.A. (Central Intelligence Agency). Giữa tháng 4-1945, HCM cùng hai nhân viên vô tuyến của O.S.S. từ Côn Minh (Kunming, Trung Hoa) về Cao Bằng. Từ đó, O.S.S. giúp VM huấn luyện quân sự, sử dụng võ khí, truyền tin... (Chính Đạo, Hồ Chí Minh, con người & huyền thoại, tập 2: 1925-1945, Houston: Nxb. Văn Hóa, tt. 358-359.)

Khi HCM và đảng CS cướp được chính quyền và lập chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ngày 2-9-1945, thiếu tá OSS là Archimèdes Patti giúp HCM viết bản tuyên ngôn độc lập.(Archimedes L. A. Patti, Why Viet Nam?, California: University of California Press, Berkely, 1980, tr. 223.) Tuy nhiên, sau đó OSS rời Việt Nam do Hoa Kỳ chủ trương không can thiệp vào Đông Dương để cho Pháp tự do hành động. (A. Patti, sđd. tr. 379.) Từ đó giữa cộng sản Việt Nam (CSVN) và Mỹ không còn hợp tác, nhưng cũng không đối đầu trực tiếp với nhau.

Sau thế chiến (1939-1945), chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản (do Mỹ đứng đầu) và CS (do Liên Xô lãnh đạo) bắt đầu năm 1946. Năm 1950, Mỹ thừa nhận chính phủ QGVN và viện trợ giúp Pháp chống CS ở Việt Nam, nhưng Mỹ không gởi quân đánh nhau với quân CSVN. Khi hội nghị Genève sắp kết thúc và các bên sửa soạn ký kết hiệp định chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam ngày 20-7-1954, thì lần đầu tiên, HCM lớn tiếng tuyên bố mục tiêu chiến đấu mới của CSVN trong giai đoạn sắp đến là chống “đế quốc” Mỹ.

Báo cáo tại hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương đảng LĐ khóa II ngày 15-7-1954, HCM nói: “Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt Nam, Lào. Mũi nhọn của ta cũng như mũi nhọn của thế giới đều chĩa vào Mỹ. Chính sách của Mỹ là mở rộng và quốc tế hóa chiến tranh Đông Dương. Chính sách của ta là tranh thủ hòa bình để chống lại chính sách chiến tranh của Mỹ…” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7:1953-1955, xuất bản lần thứ hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tt. 313-315.)

Một điều khá lạ lùng là từ khi OSS về nước, bang giao với Mỹ bị gián đoạn, HCM hầu như chưa lần nào công kích Mỹ nặng nề. Lúc nầy Mỹ chưa viện trợ trực tiếp cho chính phủ QGVN, kẻ thù của CS mà chỉ giúp đỡ gián tiếp qua tay người Pháp. Nói cách khác, cho đến 1954, giữa VM và Mỹ chưa đối đầu trực tiếp, chưa hận thù sâu sắc, ngoài những kỷ niệm thời 1945. Thế mà đột nhiên sau hội nghị Liễu Châu, HCM xem Mỹ là “kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt Nam, Lào.” Để tìm hiểu vấn đề tại sao HCM lại tuyên bố chống Mỹ sau vụ Liễu Châu, xin trở lại với hoàn cảnh chính trị phức tạp trước khi hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954.

Hội nghị Genève bắt đầu từ ngày 8-5-1954 đến ngày 21-7-1954, chia thành hai giai đoạn: 1) Từ 8-5 đến 20-6-1954. 2) Từ 10-7 đến 21-7-1954. Giữa hai giai đoạn là 20 ngày tạm nghỉ để các phái đoàn về nước tham khảo và nghỉ ngơi.

Trong thời gian hội nghị tạm nghỉ, xảy ra ba sự kiện quan trọng ở ba nơi khác nhau trên thế giới: Mendès-France lên làm thủ tướng Pháp ngày 17-6-1954. Ngô Đình Diệm nhận chức thủ tướng QGVN ngày 7-7-1954 (ngày Song thất). Châu Ân Lai (CÂL) và HCM bí mật gặp nhau tại Liễu Châu (Liuzhou), tỉnh Quảng Tây (Kwangsi), Trung Hoa, từ 3 đến 5-7-1954, bàn về giải pháp kết thúc chiến tranh. Lúc đó, không ai biết về hội nghị nầy.

Cũng tại hội nghị Liễu Châu chắc chắn hai bên, CÂL và HCM, duyệt xét lại toàn bộ tình hình thế giới và tình hình Đông Á sau chiến tranh Triều Tiên, mà Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) đang đối đầu với Mỹ.

2. Tình hình Đông Á trước hội nghị Liễu Châu


Tại Trung Hoa, đảng Cộng Sản (CS) do Mao Trạch Đông (MTĐ) lãnh đạo, chiếm được lục địa, và tuyên bố thành lập CHNDTH tức Trung Cộng (TC) ngày 1-10-1949. Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng di tản ra Đài Loan (Taiwan), tiếp tục chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (THDQ). Tuy rất nhỏ so với TC, nhưng nhờ Mỹ hậu thuẫn, THDQ vẫn giữ ghế đại diện Trung Hoa tại Liên Hiệp Quốc (LHQ), và giữ luôn ghế hội viên thường trực, có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an LHQ.

Năm sau, chiến tranh bùng nổ ngày 25-6-1950 giữa Bắc Triều Tiên (BTT) và Nam Triều Tiên (NTT). Quân cộng sản BTT bất ngờ tiến đánh NTT, vượt qua vĩ tuyến 38, đường phân chia BTT và NTT từ 1945, chiếm thủ đô Hán Thành (Seoul). Theo đề nghị của Hoa Kỳ, ngày 27-6-1950 LHQ yêu cầu các nước giúp NTT.

Ngày 12-9-1950, đại tướng Hoa Kỳ là Douglas Mac Arthur cầm đầu quân đội LHQ, bất thần đổ bộ vào hải cảng Inchon, tây bắc NTT, giáp với BTT. Quân LHQ đẩy lui quân BTT, tái chiếm Hán Thành ngày 19-9, tiếp tục truy đuổi bắc quân CS, vượt vĩ tuyến 38, chiếm thủ đô BTT là Bình Nhưỡng (Pyongyang), tiến đến sông Áp Lục (Yalu River), ở vùng biên giới Mãn Châu, thuộc TC.

Ngày 26-11-1950, 250,000 quân TC vượt biên giới, giúp BTT, đẩy lui quân LHQ xuống phía nam, tái chiếm Hán Thành. Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman gởi tướng Matthew Ridgway thay tướng Mac Arthur. Quân LHQ đẩy lui bắc quân khỏi vĩ tuyến 38 vào tháng 1-1951. Cuộc thương thuyết giữa hai bên bắt đầu từ tháng 7-1951, và hai bên ký kết hiệp ước Bàn Môn Điếm (Panmunjom) ngày 27-7-1953, lấy vĩ tuyến 38 chia hai Triều Tiên. Bên nào ở yên bên đó, không xâm phạm lẫn nhau.

Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ năm 1950, thì Hoa Kỳ phái Đệ thất hạm đội đến bảo vệ Đài Loan và eo biển Đài Loan. Sự hiện diện của hạm đội Hoa Kỳ ở eo biển Đài Loan làm cho TC quan ngại. Trong eo biển Đài Loan, hai quần đảo Kim Môn-Mã Tổ (Kinmen-Mazu), nằm cách hải cảng Hạ Môn (Xiamen), tỉnh Phúc Kiến (Fujian) của lục địa TC khoảng 15 Km, trong khi cách bờ biển hải đảo Đài Loan khoảng 270 Km, nhưng hai quần đảo nầy lại thuộc quyền của THDQ (Đài Loan).

Sau hiệp ước Bàn Môn Điếm, chấm dứt chiến tranh Triều Tiên, NTT tức Cộng Hòa Triều Tiên ký với Hoa Kỳ tại thủ đô Washington DC ngày 1-10-1953 Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương (Mutual Defence Treaty) có hiệu lực từ ngày 17-11-1954.

Bên cạnh NTT là Nhật Bản (NB). Tại hội nghị hòa bình San Francisco (Hoa Kỳ) từ 4 đến 8-9-1951, NB tuyên bố từ bỏ mọi quyền hành trên các hải đảo mà NB đã chiếm trong thế chiến thứ hai (1939-1945). Cùng ngày 8-9-1951, NB và Hoa Kỳ ký Hiệp ước an ninh hỗ tương (Mutual Security Treaty) cho phép quân đội Hoa Kỳ đóng quân trên đất NB.

Ngày 8-3-1954, hai nước Hoa Kỳ và NB ký kết thêm Thỏa ước Phòng thủ chung (Mutual Defence Assistance Agreement), có hiệu lực từ 1-5-1954, cho phép quân đội Hoa Kỳ trú đóng trên đất NB vì mục đích hòa bình và an ninh trong khi khuyến khích NB tăng cường quốc phòng.

Các hiệp ước Hoa Kỳ ký với NTT và với NB đều nhắm mục đích giúp bảo vệ an ninh của hai nước nầy, chống lại sự đe dọa từ bên ngoài, thực sự là chống lại sự đe dọa của TC. Hơn nữa, Hoa Kỳ gởi Hạm đội số 7 đến eo biển Đài Loan, chính là để bảo vệ Đài Loan và vùng biển nầy.

Những hoạt động trên đây của Hoa Kỳ làm cho TC bận tâm lo lắng vì cảm thấy bị bao vây từ nhiều phía: Ở phía tây, TC giáp với Liên Xô. Từ khi Stalin qua đời ngày 5-3-1953, cuộc bang giao giữa TC với Liên Xô càng ngày càng xấu. Ở tây nam, TC bị Ấn Độ chận đứng. Ở phía đông là Thái Bình Dương, TC lại bị các nước NTT, NB, THDQ bao vây. Các nước nầy được Mỹ bảo vệ. Trên Thái Bình Dương thì Đệ thất hạm đội Mỹ chập chờn canh chừng. Vì vậy, TC rất căm thù Hoa Kỳ.

Tại Hoa Kỳ, lúc đó phong trào chống cộng rất mạnh. Vào đầu năm 1950, thượng nghị sĩ tiểu bang Wisconsin là Joseph Raymond McCarthy đưa ra chủ trương “tố cộng” mạnh mẽ khắp nước Mỹ. Tinh thần chống cộng của người Mỹ lúc đó mạnh đến nỗi đáng chú ý là khi khai mạc hội nghị Genève về Việt Nam vào ngày 8-5-1954, trưởng phái đoàn Hoa Kỳ là ngoại trưởng John Foster Dulles không bắt tay trưởng phái đoàn TC là thủ tướng kiêm ngoại trưởng CÂL. (Henry Kissinger, White House Years, Toronto: Little, Brown and Company, 1979, tr. 1054.) Có lẽ CÂL khó quên kỷ niệm không vui nầy.

Tại hội nghị Liễu Châu từ 3 đến 5-7-1954, chắc chắn CÂL đã trình bày toàn cảnh tình hình Đông Á trên đây với HCM. Vừa thù nước, vừa giận riêng, phải chăng CÂL đã chỉ thị cho HCM, nên khi về nước, HCM chĩa mũi dùi ngay vào Hoa Kỳ tại Hội nghị lần thứ 6 Ban CHTƯĐ/LĐ khóa II ngày 15-7-1954.

Ở đây, xin ghi nhận thêm giao tình giữa HCM và các lãnh tụ TC:

Thứ nhứt, khi Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS) gởi điệp viên Lý Thụy (HCM) đến Quảng Châu (Trung Hoa) hoạt động năm 1924, thì Lý Thụy mở những khóa huấn luyện cán bộ và mời các lãnh tụ CSTH đến giảng dạy như Lưu Thiếu Kỳ, CÂL, Lý Phúc Xuân, Bành Bài…(Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tr. 10.).

Thứ hai, sau khi bị giữ lại ở Liên Xô từ 1934 đến 1938 để điều tra, Nguyễn Ái Quốc (HCM) được QTCS gởi qua Trung Hoa vào 1938, đến căn cứ phía bắc TC là Diên An, học tập và hoạt động tình báo. Lúc đó, Quốc với tên mới là Hồ Quang, mang quân hàm thiếu tá trong quân đoàn Bát lộ quân của TC, để dễ di chuyển và hoạt động. (Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh, the Missing Years, Diên Vỹ và Hoài An dịch, Diễn đàn www.x-cafevn.org tt. 190-191.)

Sau đó, Hồ Quang đến Quế Lâm (Quảng Tây) hoạt động. Khoảng đầu thu 1940, Hồ Quang (HCM) cử người đến Diên An, ký mật ước với TC, theo đó đại diện đảng TC tại cục Tình báo Á châu của ĐTQTCS, phụ trách lãnh đạo công tác của CSVN. Cộng Sản Việt Nam sẽ cử cán bộ đến Diên An thụ huấn, và CSTH sẽ trợ cấp cho CSVN 50,000 quan Pháp mỗi tháng để trang trải chi phí sinh hoạt tại Trung Hoa. (Tưởng Vĩnh Kính, Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụy trang giả, Nxb. Truyện Ký Văn Học, Đài Bắc, 1972, bản dịch của Thượng Huyền, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, Nxb. Văn Nghệ, California, 1999, tt. 167-168.)

Thứ ba, trong chiến tranh với Pháp từ năm 1946, CSVN thua chạy dài. Sau khi CHNDTH được thành lập năm 1949, HCM qua Bắc Kinh, rồi qua Moscow cầu viện năm 1950. Mao Trạch Đông cũng có mặt tại Moscow. Stalin uỷ nhiệm cho MTĐ giúp cho CSVN.

Cùng đi trên chuyến xe lửa từ Moscow đưa MTĐ về Bắc Kinh, HCM đến xin MTĐ giúp đỡ. (Trương Quảng Hoa, “Quyết sách trọng đại Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, trong sách Hồi ký của những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác giả, Bắc Kinh: Nxb. Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, do Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch, Montreal: Tạp chí Truyền Thông, số 32 & 33, 2009, tr. 47.) Từ đó, TC viện trợ tối đa cho CSVN. Nhờ thế, CSVN phản công và thành công năm 1954.

Chỉ cần nhắc lại những chuyện trên đây đủ thấy rõ HCM và đảng CSVN quá nặng nợ với TC. Khi TC viện trợ rộng rãi cho CSVN, HCM và CSVN chẳng có gì để trả nợ, nên chỉ còn cách là phải đáp lại những đòi hỏi, yêu sách hay mệnh lệnh của TC để trả ơn.

3. Chiêu bài “chống mỹ cứu nước”


Sau hội nghị Liễu Châu, trong báo cáo của HCM tại hội nghị Ban CHTƯĐ/LĐ ngày 15-7-1954, HCM chỉ nhắc sơ là có gặp và trao đổi với thủ tướng CÂL. Về sau, khi ấn hành lại bản báo cáo nầy trong Hồ Chí Minh toàn tập tập 7, Nxb Chính Trị Quốc Gia chỉ chú thích sơ lược cuộc gặp gỡ ở cuối trang 315.

Về phía CÂL, TC cũng không loan báo tin tức hội nghị nầy, mãi cho đến năm 2005, Trung Cộng đảng sử xuất bản xã phát hành sách Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève], chuyện Liễu Châu mới được tiết lộ công khai. Tại Liễu Châu, CÂL khuyên HCM nên chấp nhận giải pháp chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17 để Pháp ra đi và Mỹ không can thiệp. Ngược lại HCM bàn với CÂL là sẽ chôn giấu võ khí, cài cán bộ, đảng viên ở lại NVN, trường kỳ mai phục để đợi thời cơ tái tục chiến tranh.

Vì BVN trường kỳ mai phục, chuẩn bị sẵn sàng hành động ở NVN, nên ngay từ năm 1955, BVN đề nghị với NVN họp hội nghị để tổ chức tổng tuyển cử, thống nhứt đất nước, mà BVN cho rằng do hiệp định Genève quy định, nhưng bị NVN từ chối, vì NVN cho rằng QGVN đã không ký vào hiệp định Genève. Bắc Việt Nam còn đề nghị nhiều lần sau đó, cũng đều bị NVN từ chối.

Thật ra, hiệp định Genève không liên hệ đến việc tổng tuyển cử, không có điều khoản nào đề cập đến việc tổng tuyển cử, mà chỉ là hiệp định đình chỉ chiến sự, chấm dứt chiến tranh. Sau khi hiệp định Genève được ký kết vào tối 20-7-1954, các phái đoàn họp tiếp vào ngày 21-7-1954, đưa ra bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương".

Bản tuyên bố (déclaration) gồm 13 điều; trong đó quan trọng nhứt là điều 7, ghi rằng: "Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó." (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53.) (Vào google đọc bản chữ Pháp: Déclaration finale de la conférence de Genève en 1954.)

Khi được hỏi ý kiến, các phái đoàn tham dự đều trả lời miệng, chứ không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố nầy. Bản tuyên bố không có chữ ký không phải là một hiệp ước, không có tính cách cưỡng hành, mà chỉ có tính cách khuyến cáo hay đề nghị mà thôi. Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và cũng không ký vào bản "Tuyên bố cuối cùng…" ngày 21-7-1954. Phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ chỉ đưa ra tuyên bố riêng để minh định lập trường của chính phủ mình.

Nói cách khác, cả hai bên Bắc và Nam Việt Nam đều không bị bắt buộc phải thi hành lời khuyến cáo hay đề nghị trong bản tuyên bố không chữ ký. Vì vậy, VNCH có quyền từ chối đề nghị tổng tuyển cử mà không thể kết luận rằng VNCH không thi hành hay vi phạm hiệp định Genève 20-7-1954.

Khi NVN từ chối đề nghị tổng tuyển cử do BVN đưa ra, thì BVN hô hoán lên rằng NVN vi phạm hiệp định Genève, trong khi đó BVN đã vi phạm trước, vì BVN đã chôn giấu võ khí, cài cán bộ ở lại NVN từ 1954. Bắc Việt Nam tổ chức Đại hội đảng LĐ lần thứ III tại Hà Nội từ 5 đến 10-9-1960, đưa ra hai mục tiêu là “xây dựng BVN tiến lên xã hội chủ nghĩa và giải phóng NVN bằng võ lực”.

Khai mạc Đại hội III đảng LĐ tại Hà Nội ngày 5-9-1960, HCM nhấn mạnh: "Ngày nào chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ-Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ yên. Bởi vậy không thể nào tách rời cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình, thống nhất nước nhà với cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ.”( Hồ Chí Minh toàn tập tập 10 1960-1962, Hà Nội: Nxb Chính Trị Quốc Gia, xuất bản lần thứ hai, 2000, tr. 200.)

Trong phần kết luận bài phát biểu nầy, HCM tiếp: "Hiện nay, đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống Mỹ…” (Hố Chí Minh, sđd. tr.319.)

Đáng chú ý, suốt bản báo cáo, HCM luôn nhấn mạnh đến chuyện chống Mỹ, và kết luận “mọi việc của ta đều nhằm chống Mỹ”.

Kết luận

Vào cuối thế chiến thứ hai, HCM và đảng CSVN hợp tác với OSS là một tổ chức tình báo Mỹ, nhờ OSS huấn luyện và trang bị những phương tiện thông tin cần thiết. Sau đó, tuy chưa có gì va chạm, nhưng vì Mỹ không muốn làm mất lòng Pháp ở Đông Dương, nên Mỹ rút các toán OSS ra khỏi Việt Nam. Trong cuộc chiến 1946-1954, HCM hầu như không đả động gì đến việc chống Mỹ.

Bất ngờ, sau hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây) với CÂL vào đầu tháng 7-1954, HCM đưa ra chủ trương chống Mỹ mạnh mẽ. Nói trắng ra, phải chăng chính HCM vâng lệnh CÂL tại hội nghị nầy, nên khi về nước, HCM triệu tập liền hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương đảng LĐ khóa II ngày 15-7-1954, để phổ biến ngay chủ trương chống “đế quốc” Mỹ?

Sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954, đảng LĐ phải tốn một thời gian ổn định BVN, quốc doanh toàn bộ công thương nghiệp thành phố, cải cách ruộng đất để làm chủ nông thôn, triệt tiêu tất cả những phản kháng của giới trí thức và văn nghệ sĩ. Sau những chiến dịch nầy, đảng LĐ tức đảng CSĐD nắm vững BVN trong khuôn khổ độc tài toàn trị CS, liền nghĩ đến chuyện NVN.

Đảng LĐ tổ chức Đại hội III từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960 để phát động chiến tranh tấn công NVN, đưa ra hai chiêu bài chiến lược song song là “giải phóng miền Nam” và “chống Mỹ cứu nước”.

Thực ra, ngay từ 1954, trước khi ký kết hiệp định Genève, tại Liễu Châu, CSVN đã cho thấy tham vọng tấn công NVN nhằm thống trị toàn bộ đất nước chứ không phải “giải phóng miền Nam”.

Còn HCM chủ trương "mọi việc của ta đều nhằm chống Mỹ” là HCM làm theo lời MTĐ đã từng nói là nếu CSVN “giải tỏa được mối đe dọa của bọn xâm lược, đó là Việt Nam giúp Trung Quốc.” (La Quý Ba trích dẫn, “Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản”, trong Hồi ký của những người trong cuộc, sđd. tr. 27).

Như thế, CVSN chống Mỹ không phải để cứu nước Việt, mà để cứu Tàu, theo yêu cầu của Tàu, vì lợi ích của Tàu. Chính vì vậy mà Lê Duẩn, bí thư thứ nhứt đảng LĐ từ năm 1960, đã nhận: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc.” Lời của Lê Duẩn là niềm hãnh diện của CSVN, được viết thành biểu ngữ khá lớn treo ngay trước nhà thờ Lê Duẩn ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

Niềm hãnh diện nầy cho thấy sự nghiệp “giải phóng miền Nam”, “chống Mỹ cứu nước” của HCM và CSVN nằm trong kế hoạch “tự Hán hóa” (autochinization / autochinalization) của CSVN, nghĩa là không phải Tàu khựa áp đặt nền đô hộ tại Việt Nam, mà CSVN tự nguyện Hán hóa Việt Nam dưới sự đô hộ của Tàu khựa.

Cộng sản Việt Nam phản quốc đến thế là cùng. Tồi tệ nhứt trong lịch sử nước nhà! (Trích Lịch sử sẽ phán xét, xuất bản tháng 6-2016.)

(Toronto, 28-2-2016)

Trần Gia Phụng
danlambaovn.blogspot.com

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 231
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Wed Apr 13, 2016 2:10 pm


 
41 năm rồi bên thắng cuộc vẫn sợ hình ảnh VNCH


Lê Hải Lăng (Danlambao) - Nhân vụ Nguyễn Viết Dũng mặc áo quân đội VNCH ra khỏi nhà tù sau 1 năm, cũng như 3 người phụ nữ dân oan cầm cờ chế độ cũ biểu tình đang ngồi bóc lịch 10 năm. Sự kiện cho thấy bộ mặt thật của đảng CS không còn bưng bít được với lớp trẻ sinh sau 75, và những người đã được sống dưới chính thế tự do dân chủ miền Nam. Đảng CSVN nên biết rằng VNCH, đại diện là mấy triệu người Việt tỵ nạn CS ở nước ngoài, không trở về tranh ghế, lý do đơn giản là thoát được gông cùm CS, con cái họ đã thành tài. Họ có khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, Chuẩn tướng Lương Xuân Việt, đại tá Lê Bá Hùng... Họ đã có bao nhiêu khuôn mặt trẻ tham gia chính trị nơi đất nước cưu mang họ. Gia đình họ no ấm hạnh phúc. Thế thì rõ ràng đảng không sợ họ về nước lấy chén cơm cuả đảng, Vậy tại sao 41 năm rồi bên thắng cuộc vẫn lo sợ hình ảnh VNCH.

Đảng CSVN vốn dĩ giỏi gây chiến tranh để chém giết cho thế lực Nga, Tàu lợi dụng. Nơi nào có hoang tàn đổ nát sinh ra mầm mống CS nẩy nở phát sinh. Đảng gây quá nhiều tội ác mà khó có thể che đậy mãi dưới ánh mặt trời. Tất cả lần lượt đem ra phơi bày từ Hồ Chí Minh giết người vợ không bao giờ cưới Nông Thị Xuân, bịt râu đi xem đấu tố người có công nuôi đảng là bà Cát Hạnh Long Nguyễn Thị Năm, tới những bộ mặt cuả tập đoàn Ba Đình nối gót đi đêm bán nước tày trời qua các hiệp định, khế ước với kẻ thù truyền kiếp cuả dân tộc là Trung cộng.

Đảng CSVN dùng súng đạn Nga, Tàu đánh chiếm miền Nam, gây bao nhiêu tang tóc, không những tại miền Nam, mà còn làm đau khổ cho bao nhiêu gia đình miền Bắc cha mẹ mất con vợ mất chồng. Đảng CSVN lấy tuyên truyền lừa bịp dối trá làm lợi khí để đẩy đưa hàng triệu thanh niên nam nữ từ Bắc vô Nam tự chui đầu vào cuộc binh biến biển lửa anh em tương tàn. Đảng CS đã gây chiến tranh phá hoại đồng bào ruột thịt từ thôn quê tới thành thị bên kia bờ phía nam sông Bến Hải bằng khủng bố, đặt mìn xe đò, gài chất nổ nhà hàng, sân vận động thể thao, nơi hội họp chợ búa đông người, pháo kích bừa bãi vào khu đông dân cư trong thành phố, rót đại bác chụp xuống trên đầu trẻ thơ ngây nơi trường học...

Đảng CSVN đem chủ nghĩa lai căng cộng sản áp đặt lên đầu người dân miền Bắc, rồi đem nhuộm đỏ cả miền Nam đã và đang tự do dân chủ có đầy đủ áo ấm cơm no mà các nước trong vùng ca ngợi Sài Gòn là Hòn ngọc Viễn đông.

Khi phát động chiến tranh xâm chiếm miền Nam. Đảng CS đã tuyên truyền “Mỹ Ngụy kềm kẹp” trong khi đó lại leo thang chiến tranh. Thủy quân lục chiến Mỹ thực sự chỉ đổ bộ lên Chu Lai vào tháng 5, 1965. Theo cuốn sách: A history in documents ký giả chiến trường VN là Gloria Emerson cuả The New York Times đã trưng ra một số tài liệu lịch sử. Trong lá thư Trung ương đảng gởi chỉ thị cho tổ chức CS hoạt động miền Nam vào ngày 28 tháng 3 năm 1960, trong đó đề cập tới chuyện giải tán bộ máy chính quyền địa phương, hướng dẫn dân chúng xé thẻ thông hành, đẩy mạnh một số hành động gây rối khiêu khích như chiếm trụ sở, đốt phá công sở làng mạc, chặt cây, đào phá đường sá, lập chướng ngại vật vân vân… Nói chung là hủy hoại liên hệ pháp lý cuả nhân dân với chính phủ địch. Có những vùng ra lệnh ngăn cấm tàu bè và xe cộ đi qua, không cho nhà máy sản xuất lúa gạo bè lũ tư bản điều hành, bắt buộc dân tự xay ra gạo (A history in documents trang 203). CS Bắc Việt dựng nên Mặt trận giải phóng miền Nam tháng 12 năm 1960. Tuyên bố cuả MTGPMN có đoạn: Lật đổ chế độ thuộc địa cuả đế quốc Mỹ và chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm... Chấm dứt độc quyền kinh tế cuả Mỹ và tay sai. (Trang 206)

Dẫn chứng trên cho thấy quân Mỹ chưa tới tham chiến, CS đã thực hiện mưu đồ phá hoại kinh tế song song với vũ lực để đánh chiếm miền Nam. CS dùng xảo ngữ “ Mỹ Ngụy” để đánh lừa hàng triệu tuổi trẻ miền Bắc hy sinh cho cuộc chiến do Nga và đặc biệt là Tàu đứng sau chủ động dùng người Việt giết người Việt để trục lợi về lâu về dài trong âm mưu mở rộng bờ cõi Đại Hán.

CS vô thôn xóm hẻo lánh khủng bố chém giết, nhất là các vùng nông thôn xôi đậu, ngày có lính quốc gia đêm CS. Từ cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, rồi mùa hè 72 tới 4/1975 cho thấy CS tới đâu là dân bỏ chạy trối chết tới đó. Điển hình là dân chết dưới tầm đạn bắn trực tiếp cuả bộ đội Pháo Bông lau trên đoạn đường mà báo chí đặt tên Đại lộ kinh hoàng (Quảng Trị 1972), hàng ngàn dân An Lộc bồng bế gồng gánh nhau chết thảm thương dưới mưa pháo CS (1972), bao nhiêu người dân miền Trung chết dọc đường, chết trước khi xuống tàu ra khơi như Huế, Đà Nẵng, dân chết oan ức chết nghiệt ngã dưới lằn đạn CS khi bỏ nhà cửa để di tản theo sau lưng đoàn quân triệt thoái trên liên tỉnh lộ 7(1975) (theo nhiều nguồn tin ước tính có 300 ngàn dân chỉ có 60 ngàn sống sót về tới Tuy Hòa?)

Đảng CSVN thật quả thâm độc, đại lừa dối khi tuyên truyền dân miền Nam bị “bóc lột” không có cơm ăn áo mặc. Thật là trớ trêu và tội nghiệp thay sau 30 tháng Tư nhiều người miền Bắc đi Nam thăm thân nhân, họ đem chén làm bằng miểng đạn bom và cả đũa tre làm quà tặng. Khi đến nơi họ chưng hửng là nhà nước miền Bắc đã lừa dối khi họ đứng trước một cảnh tượng mà họ mơ ước cả đời chưa thấy sự sinh hoạt phồn hoa đô hội cuả miền Nam. Có ai đứng giữa đường phố Sài Gòn mới cười muốn đái trong quần khi thấy bộ đội lượm xe Honda dân chúng bỏ chạy, leo lên nổ máy không biết sang số, buột miệng chửi thề xe sao đứng hoài không chạy.

Khi chưa chiếm miền Nam, cộng sản Ba Đình trắng trợn nói láo không biết xấu hổ là miền Nam bị “kềm kẹp”, không có tự do tôn giáo, không có tự do báo chí, không cải thiện chế độ lao tù... Sự thật là tại miền Nam dân chúng có nhiều quyền: Tự do báo chí, truyền thông, báo chí tư nhân, tự do tôn giáo tín ngưỡng, ngôn luận, nhân quyền, tự do lập hội, lập đảng, biểu tình... được chính phủ VNCH bảo đảm, tôn trọng.

Đảng CSVN có cái gỉỏi là khi Vẹm Vô Vơ Vét Về đóng vai ăn cướp hơn cả tướng cướp. Gán cho thương gia cái tội tay sai, rồi đuổi ra khỏi nhà để phong tỏa kiểm kê, tịch thâu toàn bộ tài sản. Chụp cho chủ tiệm sách cái mũ chứa chấp văn hóa đồi trụy, tống khứ người ra khỏi nhà xong sai lực lượng băng đỏ đem sách đi đốt. Tròng lên đầu kẻ bán băng nhạc cái tội xướng ca phim ảnh phản động rồi bắt tiêu hủy.

41 năm sau, có cái lạ đời là đảng bắt bỏ tù những người như Nguyễn Viết Dũng, Ngô Thị Minh Ước, Nguyễn Thị Trí, Nguyễn Thị Bé Hai. Nhưng đảng không bắt bỏ tù hàng trăm ca sĩ đêm ngày trình diễn hát nhạc vàng VNCH trên sân khấu 3 miền Bắc, Trung, Nam. Đảng đánh sập cái mà đảng gọi “cặn bã xã hội” tư bản miền Nam rồi mấy chục năm sau đói quá sai lầm quá, đảng lại bắt chước chập chểnh bước theo con đường “cặn bã” đó. Đảng chê Mỹ đủ điều xấu nhưng lại gởi con cháu qua du học, có người mua nhà cửa ở lại không về.

Hàng giờ hàng ngày đảng há miệng ngậm đô la từ tay người tỵ nạn VNCH gởi về mà không biết nhục, khi chính đảng cũng là thủ phạm ăn tiền nước ngoài. Thế mà đảng chụp mũ những người dân oan bị đảng dồn tới đường cùng là nhận tiền “phản động” nước ngoài. Đảng quá đê hèn đến độ phá rối giải tán triệt tiêu đường sống cuả những thương phế binh VNCH cụt tay gãy chân khi họ hội họp nhận quà hải ngoại gởi về. Đảng xách bị đi khắp các nước tư bản “giãy chết” xin ăn thì được, còn dân thì đảng buộc tội nhận tiền “phản động” “thù địch”. Đảng tự chửi vào mặt đảng khi hàng năm đảng nhận 10 tỉ đô la gởi về.

Người dân sống dưới mái nhà XHCNVN họ đói rách xấu xa đã đành còn cái đảng đầy một bầy quan tham trán cao mặt láng sao lại xấu xa đến nỗi bắt tù 3 người đàn bà già nua yếu đuối chỉ vì họ lấy biểu tượng tự do dân chủ nhân quyền nhân bản qua 20 năm sống dưới chính thể tam quyền phân lập VNCH.

Đảng ôm chân Mỹ để kiếm tiền. Thế vì cớ gì lại một tay ngửa ra nhận đô la VNCH hải ngoại, tay kia bắt bỏ tù những người phất lá cờ cũ hợp hiến hợp pháp cuả họ bị đảng xâm chiếm cướp đi. Trên tờ đơn nhà nước CHXHCNVN có câu: Độc lập-Tự do-Hạnh phúc. Thế nào là độc lập khi để mất Hoàng Sa, Trường Sa trong tay Trung cộng. Thử hỏi có tự do không khi đảng dùng công an côn đồ dí súng vào miệng dân bắt phải câm, phải điếc. Làm sao có hạnh phúc khi đảng ôm hết tài nguyên quốc gia làm cuả riêng đảng, mặc cho dân lầm than khốn khổ.

Đảng tối ngày chạy Đông chạy Tây hòa hợp hòa giải với “đế quốc” để liếm láp. Dân mới hoà hợp hoà giãi bằng mặc cái áo, cầm lá cờ bị chụp đầu đưa vào nhà đá. Thế mới biết đảng hô hào hoà hợp hoà giải để rút tiền “khúc ruột ngàn dặm” mà thôi.

41 năm rồi, bên thắng cuộc vẫn sợ VNCH. Đảng độc tài lo sợ biểu tượng VNCH là phải lắm rồi. Sợ dân cả nước đồng lòng đứng dậy đòi hỏi thực thi tự do dân chủ nhân quyền như VNCH đã có 20 năm mà 70 năm ròng rã đảng cai trị chỉ cho ăn bánh vẽ trên đầu môi chót lưỡi. Hồ sen Nghệ An có thể cạn, Đồng bằng sông Cửu long có thể khô, Cả Lú có thể ngồi trên ngọn hải đăng Trường Sa vẫy tay phất cờ cho giặc vô ra, đưa dân tộc tới thảm họa diệt vong. Chân lý độc đảng độc tài từ Hồ, Đồng tới Lú không bao giờ thay đổi.

Bao giờ khỉ lại về rừng
Quê hương pháo nổ reo mừng hoan ca
Hoa tự do khắp mọi nhà
Cây dân chủ nở hài hoà ấm no
Bà con ơi gắng chung lo
Góp tay chơi một ván cờ nước non
Chịu nô vong? Hay sống còn?

13.04.2016

Lê Hải Lăng
danlambaovn.blogspot.com



KIẾP LƯU VONG

Tác giả và giọng đọc : Dũng Phi Hổ (Hoàng tử thuốc lào)

Em hỏi tôi: Sao thoát kiếp lưu vong?
Tôi cười buồn, tôi đâu hơn gì thế
Đôi mắt nàng buồn ướt hai dòng lệ
"đến bao giờ dân tộc được tự do"?
Đến bao giờ dân tộc được tự do?
Khi cộng sản vẫn còn cai trị?
Tiếng gọi công dân rơi vào cơn mộng mị
của vòng quay cơm-áo-gạo-tiền
Em nhìn tôi xem: khác gì kẻ điên?
Sống kiếp lưu vong ngay trên đất mẹ
Dòng đời vẫn trôi: Tôi cúi đầu bàng bẽ
Dân khí cạn rồi?
Còn nhớ chăng tiếng trống Mê Linh?
Và xương máu tiền nhân khai hoang mở nước?
Lẽ nào ta mãi sống đời bạc nhược?
Để cộng nô kia mãi mãi đọa đày?
Đến bao giờ Hoàng Kỳ tung bay?
Thoát kiếp lưu vong, tự do mang về tới?
Câu hỏi này sao tôi đáp nổi?
Đồng bào ơi: Cùng đáp thay tôi.


.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 214
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Wed May 25, 2016 3:26 pm



CSVN thiếu văn hóa khi TT Obama thăm Việt Nam


Nguyễn Lộc Yên (Danlambao) - Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama viếng thăm Việt Nam từ ngày 23 đến 25 tháng 5 năm 2016, trong thời gian này, giới chóp bu nhà cầm quyền CSVN đã tiếp đón thiếu lịch sự gây cho một số nhà trí thức và đồng bào Việt Nam vừa thẹn thùng vừa sững sờ!

Như vậy, “Văn hóa truyền thống của người Việt” là gì? Dân tôi mạo muội xin phép được định nghĩa khái quát để tiện theo dõi bài viết: “Văn hóa truyền thống của người Việt là nếp sống của những giá trị về vật chất và tinh thần do người Việt đã sáng tạo, tích lũy trong sinh hoạt thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với tự nhiên và xã hội trải qua quá trình lịch sử”.

Chuyến đi của TT Obama mong củng cố chính sách xoay trục sang châu Á; muốn thắt chặt mối quan hệ về an ninh với đối tác Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, nên ngày đầu đến Việt Nam, tức ngày 23-5-2016, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam. Việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam, dân tôi hoan hô nhưng rất lo ngại là sau khi CSVN mua được vũ khí sát thương có đem loại vũ khí này trình cho quan thầy Trung cộng để copy không? Việt Nam đang khó khăn về kinh tế, liệu rằng mua vũ khí tối tân thì người dân phải gánh thêm bao nhiêu tiền nợ do nhà nước gán cho?! Cũng xin thử hỏi là khi Việt Nam có vũ khí sát thương, có dám chống lại Trung cộng để giữ vẹn toàn lãnh thổ không? Hiện tại Bộ đội Việt Nam cả về lực và tinh thần chống ngoại xâm đã bị chóp bu CSVN cố hủy diệt, như Đại hèn tướng CSVN là Lê Đức Anh khi làm Bộ trưởng Quốc phòng, vào ngày 14-3-1988, đã ra lệnh: “Không được nổ súng trong trường hợp Trung Quốc đánh chiếm Gạc Ma hay bất kỳ một đảo nào ở Trường Sa”?!.

Chưa nói đến sự thật hiện nay ngài Thái thú Nguyễn Phú Trọng cùng 19 Ủy viên Bộ Chính trị Cộng sản đã/đang cài đặt (chứ không phải nhân dân bầu) các hình nộm với các chức danh: Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, mà các hình nộm này đã diễn tuồng trông tệ hại khi gặp TT Obama: Trần Đại Quang đón tiếp một vị nguyên thủ quốc gia mà vẻ mặt hầm hầm, còn bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã được Dân Làm Báo ghi: “Hình ảnh bà ủy viên bộ chính trị đảng cộng sản, kiêm chủ tịch đảng hội, cộc cằn thô lỗ, vốc từng nắm cá quăng xối xả xuống ao như quăng cám vào chuồng lợn... xấu hổ cho đất nước Việt Nam có một mụ cộng sản vô văn hóa, cục mịch như thế lại ngồi ngất ngưởng trên đầu và đại diện cho 90 triệu dân Việt trong cái gọi là Quốc Hội Việt Nam (1)”. Trong khi đấy, một người không phải hình nộm lại rất thâm hiểm, đấy là Hoàng Trung Hải là một gián điệp của Tàu, trong bài: “Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải-gián điệp Tàu”, chính ông Phạm Hiện là “lão thành cách mạng 91 tuổi, 67 tuổi Đảng” đã thảng thốt: “Điều phản nghịch này có thể xuất phát từ hai lý do. Lý do thứ nhất xuất phát từ điều bí ẩn liên quan đến sự điều hành ngầm của Trung Quốc. Hai là, do HTH đã rất “tài” trong việc nịnh bợ mua chuộc cán bộ lãnh đạo, đút lót, chạy quyền, chạy chức (2)”. Thế mà, ngài Thái thú Trọng còn cài đặt gián điệp Hải kể từ ngày 5-2-2016, giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội, Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Thủ đô là nơi đầu não của nhà cầm quyền Việt Nam?! Dù vậy, TT Obama vẫn giữ được bình thản và vui vẻ với mọi người.

Điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do nhà sư Lưu Đạo Nguyên, người Quảng Đông xây năm 1892, thuộc quận 1, Sài Gòn. Từ năm 1982, Hòa thượng Thích Vĩnh Khương (thuộc Giáo hội quốc doanh) đến tiếp quản điện thờ. Đến năm 1984, điện Ngọc Hoàng đổi tên là "Phước Hải Tự". Chiều ngày 24-5-2016, Tổng thống Obama đến thăm chùa quốc doanh này. Tại sao không đưa T T Obama đến Chùa Liên Trì nơi Hòa thượng Thích Không Tánh làm viện chủ hay đến Thanh Minh Thiền Viện nơi Đức Tăng Thống đang bị quản thúc? Sự trớ trêu này, Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen đã viết: “Đọc xong, chúng tôi thấy rằng chùa Ngọc Hoàng, mặc dầu mang tên “chùa” nhưng không phải là ngôi chùa vì nơi đây thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế và thờ các thần linh quen thuộc trong tín ngưỡng của người Tầu như: thần Thiên Lôi, thần giữ cửa, thần Thổ Địa, thần Táo Quân, thần Hà Bá, thần Lã Tổ, Thái Tuế, thần Lỗ Ban và Kim Hoa thánh mẫu. Chúng tôi cũng không hiểu vì sao mà chính phủ và Giáo hội Phật Giáo Việt Nam (thuộc Giáo hội quốc doanh) lại giới thiệu ngôi chùa Tầu này với tổng thống Obama để ông "bày tỏ thành kính và ngưỡng mộ truyền thống văn hóa Việt Nam, Mỉa mai thay!” Còn Việt Báo Online đặt câu hỏi: “Chùa Ngọc Hoàng có thờ Mã Viện, đúng hay không? Nếu đúng như thế, có ẩn ý nào của TT Obama khi thăm chùa này?!(3)” Tưởng cũng cần nói qua về Mã Viện (14 TCN-49 SCN), năm Quý Mão (43) Mã Viện đem quân Đông Hán xâm lăng nước ta, Hai Bà Trưng đem quân chống trả bị bại đã gieo mình tuẫn tiết tại sông Hát Giang. Cột đồng Mã Viện là một cây cột bằng đồng lớn do Mã Viện cho dựng sau khi chiếm được Giao Chỉ vào năm 43. Trên trụ đó có khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” nghĩa là: Cột đồng gãy, Giao Chỉ mất.

Trở lại điện thờ Ngọc Hoàng, dân tôi không trách TT Obama thăm Diện thờ quốc danh này, mà trách ai đã lắt léo chọn Điện thờ Ngọc Hoàng gọi là ngôi chùa biểu tượng cho văn hóa truyền thống Việt Nam. Than ôi, TT Obama bị những tên Thái thú của Tàu gạt gẫm để ngưỡng mộ nơi thờ phượng của kẻ thù dân tộc Việt Nam mà Tổng thống Hoa Kỳ đã vất vả từ nửa vòng trái đất đi chiêm ngưỡng không đúng chỗ?!.

Ngoài ra, Tập Cận Bình là Tổng bí thư, Chủ tịch Trung cộng thăm Việt Nam từ ngày 5 đến 6-11-2015, được Thái thú Nguyễn Phú Trọng và nhà cầm quyền Việt Nam tiếp đón trọng thể: Bắn 21 phát đại bác (4), họ Tập còn dùng Quốc hội Việt Nam để “Thúc giục đứa con hoang đàng trở về nhà (5)”. Ngược lại, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama bắt đầu thăm Việt Nam ngày 23-5-2016, là một nguyên thủ của một quốc gia hay quốc trưởng của một nước lại không bắn 21 phát đại bác. Điều này rõ ràng Đảng CSVN và nhà cầm quyền Việt Nam là chư hầu của Bắc Kinh, là kẻ thiếu văn hóa, dù là chư hầu hay thiếu văn hóa cũng đã/đang làm cho quốc nhục và nhân dân Việt Nam bị tủi nhục, chứ không phải chỉ nhục nhã riêng Đảng CSVN mà thôi?!

Nhìn chung, suốt thời gian Tổng thống Obama thăm Việt Nam từ ngày 23 đến 25 tháng 5 năm 2016, TT Obama, đã bị một vài việc đáng buồn ngoài ý muốn của ông, như: sự tiếp đón thiếu văn hóa của nhà cầm quyền CSVN, họ đưa ông đến chiêm ngưỡng Điện thờ Ngọc Hoàng là không đúng chỗ... Tổng thống Obama đã đặt quá nặng về vấn đề đối tác chiến lược trong khu vực Đông Nam Á nên có ít nhiều không chú ý lắm về nhân quyền là điều đáng tiếc! Dù vậy, ông cũng đưa được làn gió dân chủ đến nhân dân Việt Nam do ông bình dị và hài hòa nên được đồng bào Việt Nam nồng nhiệt tiếp đón, chính ông đã thổ lộ: “Trong chuyến thăm này, sự thân thiện của các bạn đã chạm tới trái tim của chúng tôi. Nhiều người vẫy tay chào tôi bên đường, làm tôi cảm thấy được tình hữu nghị giữa hai dân tộc”.

Từ đấy, mong ông không buồn mà cảm thấy vui vì nhân dân Việt Nam là yếu tố chính của quốc gia Việt Nam, tiền nhân của chúng tôi là nhà văn hóa Nguyễn Trãi đã tâm niệm rằng: “Đẩy thuyền đi là dân mà lật thuyền cũng là dân”. Vì vậy, ông là Tổng thống Hoa Kỳ đã được đồng bào chúng tôi ngưỡng mộ rất nồng nhiệt hơn một trăm lần so với Chủ tịch Trung cộng là Tập Cận Bình đã đến Việt Nam vào cuối năm ngoái.

Ngày 25-5-2016

Nguyễn Lộc Yên
danlambaovn.blogspot.com
_____________________________________

Chú thích: các link dưới đây tác giả đã tham chiếu, nếu độc giả muốn xem mời click vào link.

(1) http://danlambaovn.blogspot.com/2016/05/man-trinh-dien-cho-ca-nhu-o-cam-vao.html
(2) http://quanlambao.blogspot.com/2012/08/to-cao-pho-thu-tuong-hoang-trung-hai.html
(3) https://vietbao.com/p123a253312/co-phai-chua-ngoc-hoang-tho-ma-vien-
(4) http://video.vnexpress.net/xa-hoi/viet-nam-ban-21-phat-dai-bac-don-chu-tich-trung-quoc-3307626.html
(5) http://danlambaovn.blogspot.com/2014/10/cong-san-viet-nam-lam-ua-con-hoang-giac.html

* Chùa Ngọc Hoàng thờ Tướng Tàu Mã Viện?


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 214
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Fri Jun 10, 2016 2:25 pm




Những kẻ đốt đền


Đồng Phụng Việt
9-6-2016
https://dongphungviet.wordpress.com/2016/06/09/nhung-ke-dot-den/

Những ý kiến phản đối việc Bob Kerrey – một cựu sĩ quan biệt kích của hải quân Hoa Kỳ được chọn làm Chủ tịch Hội đồng Tín thác của Đại học Fulbright Vietnam (FUV), khiến mình muốn mửa…

***

Phía phản đối Bob Kerrey cho rằng ông ta bất xứng vì đã tham gia vào một cuộc thảm sát thường dân tại Bến Tre. Rằng họ có thể tha thứ nhưng không thể quên. Họ đòi hỏi phải trung thực và sòng phẳng.

Cuộc chiến từ 1954 đến 1975 tại Việt Nam có bao nhiêu vụ thảm sát?

Đã đòi trung thực và sòng phẳng đối với trường hợp Bob Kerrey thì tại sao không đòi ứng xử trung thực và sòng phẳng với hàng ngàn cuộc thảm sát khác do chính thể mà họ thuộc về đã gây ra từ Bắc vào Nam trong cuộc chiến tranh đó: Thảm sát khi cải cách ruộng đất, thảm sát ở Quỳnh Lưu (Nghệ An), thảm sát hồi Tết Mậu Thân 1968 ở Huế, thảm sát qua pháo kích vào các khu dân cư, thảm sát từ các vụ đặt thuốc nổ và liệng lựu đạn vào đám đông,… Những nhân chứng và nạn nhân của các vụ thảm sát này vẫn còn rất nhiều, chính thể mà họ thuộc về đã xin lỗi và điều tra chưa?

Chẳng lẽ “trung thực và sòng phẳng” cũng có “tiêu chuẩn kép” và những kẻ từng lãnh đạo chính thể mà họ thuộc về thì được miễn trừ trách nhiệm thảm sát thường dân?

Mình rất tâm đắc với nhận định của một số bạn về bà Tôn Nữ Thị Ninh – một nhân vật nặng ký trong nhóm phản đối. Khi đề cao trung thực và sòng phẳng, bà Ninh – một người con của Huế, thiếu hàng ngàn nạn nhân bị thảm sát hồi Tết Mậu Thân 1968 và thân nhân của họ một món nợ miệng về máu dân lành.

***

Đặt vấn đề như thế không có nghĩa là tán thành thảm sát. Song muốn bàn về vai trò và trách nhiệm của Bob Kerrey trong vụ thảm sát ở Bến Tre thì phải hiểu biết.

Đây là ý kiến của một người hiểu biết – một người trong cuộc đã từng săn đuổi những người như Bob Kerrey và bị những người như Bob Kerrey săn đuổi lại: Chúng tôi, những người từng là lính Việt Cộng thời thảm khốc ấy, khi chúng tôi vẫn từng “nấp” trong nhân dân vô tội, để họ có thể cùng chết với chúng tôi? Kể cả, ngày ấy, như chính tôi từng được trải nghiệm, có bao bà mẹ, và cả các em bé nữa, sẵn sàng chết để che cho chúng tôi? Hóa ra tự chúng tôi cũng còn một câu hỏi… (Nguyên Ngọc – Về trường hợp Bob Kerrey) (1)

Nếu chưa biết một cách tường tận thì nên tìm hiểu, ngẫm nghĩ cho kỹ rồi hãy mở miệng. Đừng hàm hồ và cũng đừng nhân danh.

***

FUV là hậu thân của FETP (Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright). FETP hoạt động bằng tiền của Quỹ Fulbright, Quỹ này phối hợp giữa “John F. Kennedy School of Government”, thuộc Đại học Harvard với Đại học Kinh tế TP.HCM để đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành ứng dụng lý thuyết kinh tế vào việc soạn thảo chính sách công (Applied Economics for Public Policy). Đây là một trong những chuyên ngành mới của Đại học Harvard. Riêng học phí phải trả nếu muốn theo học chuyên ngành này đã là cả trăm ngàn USD. (2)

Trong hơn một thập niên, FETP đã đào tạo cho Việt Nam vài trăm thạc sĩ như vậy. Việt Nam chẳng mất xu nào, người học thì được cấp học bổng, được lo chỗ ăn ở để toàn tâm, toàn ý hoàn thành chương trình học.

Tiếc là vài trăm người đó chỉ có Giấy chứng nhận đã hoàn tất chương trình đào tạo cao học (Certificate of Post Graduate Study) chứ không nhận được văn bằng Thạc sĩ của Đại học Harvard. Lý do là vì Bộ Giáo dục – Đào tạo Việt Nam nhân danh “liên kết”, đòi FETP phải đưa “Chủ nghĩa Cộng sản Khoa học” và “Kinh tế chính trị” vào chương trình đào tạo nhưng Đại học Harvard dứt khoát không chịu!

Bất đồng vừa kể dẫn tới chuyện không có văn bằng, thiệt cho cả người học lẫn Việt Nam. Sự xuất hiện của FUV với hai chữ “tự chủ” là có lý do chứ không phải tự nhiên mọc lên như mụn!

Khi đến Mỹ định cư, một người quen của mình đã gửi Giấy chứng nhận hoàn tất chương trình đào tạo cao học về Applied Economics for Public Policy của FETP cho một cơ quan thẩm định giáo dục ở Mỹ để lượng giá. Cơ quan này đã liên lạc với Đại học Harvard và đại học này xác nhận Certificate of Post Graduate Study mà FETP đã cấp, tương đương văn bằng Thạc sĩ mà Đại học Harvard cấp. Kể như thế để khẳng định giá trị của FETP.

FETP, giờ chính thức là FUV sẽ giúp Việt Nam tiết kiệm bao nhiêu từ ngân sách và tài sản xã hội trong việc tạo ra một nguồn nhân lực cần cho phát triển? Khó lượng định hết nhưng chắc chắn là rất lớn. Lớn lắm!

***

Có một sự lầm lẫn về vai trò của Bob Kerrey với FUV. Sự lầm lẫn này đã được một blogger tên là Hiệu Minh giải thích. (3)

Nói một cách vắn tắt thì Bob Kerrey chỉ là người điều hành chuyện xin tiền cho FUV hoạt động đúng với tôn chỉ của nó là vô vụ lợi.

Những kẻ phản đối thừa nhận Việt Nam cần FUV, hoan nghênh FUV. Còn FUV thì cần Bob Kerrey để đúng là FUV.

Trong trường hợp này, thừa nhận, hoan nghênh và phản đối là “tự mình đ… mẹ chính mình”. Nó lố bịch chẳng khác gì một kẻ cần giúp đỡ, trâng tráo “thừa nhận”, “hoan nghênh” việc giúp đỡ nhưng đòi phải chọn người đứng ra giúp đỡ phải làm cho mình cảm thấy được!

Xin lỗi vì đã viết như vậy nhưng mình ngẫm nghĩ mãi mà không tìm ra cách diễn đạt nào cho những kẻ phản đối dễ lĩnh hội hơn!

***

Không thấy những kẻ phản đối, phản đối việc thắt chặt quan hệ với Mỹ dù Mỹ là “kẻ thù, gây nhiều tội ác với dân chúng Việt Nam”. Tại sao thì có lẽ không cần phải bàn.

Không phản đối Mỹ chỉ phản đối Bob Kerrey có mâu thuẫn không? Đọc các ý kiến phản đối, quan sát các cá nhân phản đối, ngẫm chúng cho kỹ, có lẽ sẽ nhận ra một yếu tố, hành động “phản đối” dường như chỉ nhằm để “đăng ký lập trường”, “đánh bóng” mình.

Trong số những người phản đối sớm nhất, mạnh mẽ nhất có Nguyễn Đức Hiển – Tổng Thư ký Tòa soạn báo Pháp Luật TP.HCM. Hiển khoe ý kiến của Hiển được New York Times trích dẫn (4)

New York Times thì sao?  New York Times cũng chỉ như các cơ quan truyền thông khác: Cần những ý kiến khác nhau khi tường trình một sự kiện. Chọn dẫn ý kiến của ai đó trong câu chuyện Bob Kerrey thì cũng giống như khi thực hiện đề tài vẫn đái ở chỗ cấm đái, Pháp Luật TP.HCM chọn ai đó giải thích tại sao họ đái ngoài đường. Thế thôi!

Sự đắc ý này nơi Tổng Thư ký Tòa soạn một tờ báo vừa đáng tội nghiệp cho cả tờ báo, vừa chỉ ra một điểm quan trọng: Tâm thế của y.

Nếu thấy mình võ đoán, bạn cứ thử đọc trang facebook của y xem sao.

Chú thích
(1) Về trường hợp Bob Kerrey
(2) Academic Year 2016-2017 Tuition and Fees
(3) Tại sao lại là Bob Kerrey
(4) Bob Kerrey’s War Record Fuels Debate in Vietnam on His Role at New University


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Những lừa dối dân tộc của CSVN    Today at 9:08 am

Về Đầu Trang Go down
 
Những lừa dối dân tộc của CSVN
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Nhận Định, Phản Biện-
Chuyển đến