Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
nguoi mien PHAT nghe viet quan ngoc nguyen HUNG Ngày thuy pham tien huyen rang thanh phung lang trai cong cuoc thang sinh nghia Thầy nhung
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Lịch sử không có chữ “nếu”

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Lịch sử không có chữ “nếu”   Sat May 24, 2014 9:25 am


Đừng gọi Việt Nam Cộng Hòa là Ngụy nữa nhé !


NGUYỄN TƯỜNG THỤY




Từ khi quan hệ Việt Trung trở nên căng thẳng chưa từng thấy kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1994, Trung Cộng luôn viện dẫn Công hàm của ông Phạm Văn Đồng để nhận quàng rằng, hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Không có một bằng chứng lịch sử nào, Trung Cộng coi Công hàm Phạm Văn Đồng là bảo bối duy nhất để khẳng định chủ quyền của TQ đối với HS và TS.

Có vẻ như nhận thấy khó mà cố vớt vát được tình hữu nghị với phương châm 16 chữ vàng, tình thần 4 tốt cho dù nhẫn nhịn đến mấy, các quan chức cao cấp và báo chí VN rầm rộ phản công lại. Một trong lý lẽ thuyết phục nhất là: Trong thời điểm 1958, hai quần đảo HS, TS thuộc quyền quản lý của Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa. VNDCCH không quản lý nên không có quyền xác nhận hai quần đảo đó là của TQ.

Báo An ninh thủ đô viết:

"Theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế".

Còn báo điện tử của Chính phủ dẫn lại bài báo "Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam" đăng trên báo Đại Đoàn kết vào tháng 7/2011 có đoạn:

"Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974".

Nhiều báo khác cũng đưa ra lập luận tương tự.

Ông Trần Công Trục nguyên trưởng ban Biên giới của Chính phủ trong chương trình thời sự 19 giờ ngày 22/5/2014 của đài VTV1 giải thích:

“Các bạn hãy nhớ rằng tuyên bố của chúng ta vào thời kỳ 1958 nghĩa là cái lúc mà hai miền Bắc, Nam được hiệp định Genève ký kết năm 1954 phân chia quyền quản lý cho 2 nhà nước với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế là Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam Cộng Hòa. Quần đảo Hoàng Sa của chúng ta nằm dưới vĩ tuyến 17 thuộc quyền quản lý của VNCH với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế theo hiệp định Genève, Và vì vậy, mọi tuyên bố, mọi hành vi của VNCH có giá trị pháp lý thay mặt Nhà nước VN quản lý vùng đất ấy còn VNDCCH chúng ta không trực tiếp quản lý. Vì vậy cho dù tuyên bố đó như thế nào thì giá trị pháp lý trong quan hệ quốc tế không có. Cho nên TQ họ muốn dùng tất cả mọi lý lẽ để nói rằng chúng ta thừa nhận thì đấy hoàn toàn là sự bịa đặt”.

Mời xem lại tại đây: (từ phút thứ 6)



https://www.youtube.com/watch?v=lLzwPf-42Pk

Như vậy, Chính thể Miền Nam Việt Nam từ 1954 (đến 1975) giờ đây đã được Chính phủ nhìn nhận là một Nhà nước có chủ quyền, là một chủ thể trong quan hệ quốc tế.

Hoan hô Chính phủ trước tình thế chủ quyền của Đất nước bị đe dọa đã thừa nhận danh chính cho Việt Nam Cộng Hòa theo đúng bản chất vốn có, thừa nhận VNDCCH không có quyền đối với hai quần đảo HS, TS trong thời kỳ 1954 - 1975 và điều đó cũng có nghĩa rằng thừa nhận sự ngang bằng của hai Nhà nước trong quan hệ quốc tế.

Vì vậy, đừng gọi Chính thể Việt Nam Cộng Hòa, sĩ quan, binh sĩ, công chức VNCH là ngụy nữa nhé.

24/5/2014


Xem: "Tài liệu quân dân VNCH phản đối TC xâm lược Hoàng Sa năm 1974"

http://thntsaigon.forumsreality.com/t1219-tai-lieu-quan-dan-vnch-cuong-quyet-chong-tc-xam-luoc-hoang-sa-nam-1974



Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Sat May 24, 2014 8:25 pm


Đảng CSVN vô địch thế giới về gian dối, lừa gạt...


















Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Sun May 25, 2014 11:05 am


Công nhận tính phi pháp của công hàm 1958 rồi sao nữa?



  
Nguyên Anh  - Chương trình thời sự hôm nay nổi bật với việc tuyên bố cứng rắn của thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng và sau đó là cuộc họp báo của các giới được gọi là trí thức VN trong đó việc phản ứng với công hàm 1958 của cố thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng, xác nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm dưới vĩ tuyến 17 thuộc quyền quản lý hành chánh của chính phủ VNCH. Đây là lần đầu tiên những người CS đã dám nhìn nhận vào sự thật lướt qua nổi sợ xét lại và bệnh sùng bái lãnh tụ, một điều rất tốt trong thời điểm hiện nay.

Theo những gì mà nhà cầm quyền CSVN tuyên bố trên truyền hình trước mặt 90 triệu người dân ngoài tái tuyên bố chính thể VNCH là một chính phủ hợp pháp của miền Nam VN thì điều đó cũng có nghĩa là công hàm 1958 của PVĐ là vô giá trị về mặt pháp lý cũng như trên trường quốc tế!

Nhưng nếu chỉ tuyên bố như vậy thì cái gì sẽ tiếp diễn với giấc mộng bành trướng của TC?

Chủ nghĩa bá quyền của TC không thể nào dập tắt, người dân VN đừng quên là sau khi dạy cho VN bài học thứ nhất tại hội nghị Thành Đô, năm 1990 TBT Nguyễn văn Linh đã đi đêm và ký giấy nhượng vùng đất địa đầu của Tổ quốc cho giặc với việc xóa bỏ Ải Nam Quan, một phần thác Bản Giốc, di dời lùi vào nội địa hàng chục cây số dẫn đến nước VN mất hàng chục nghìn cây số vuông. 




Thế nhưng dã tâm chiếm đoạt nước Việt vẫn bừng cháy trong tim bọn chúng. Vì sao?! Cũng cần nhắc lại Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đã phải chịu nhiều năm tù ở vì đã dám bạch hóa việc bán nước của giới chóp bu CSVN.

Câu trả lời là vì giới lãnh đạo đảng CSVN quá hèn hạ và khiếp nhược điều đó cũng trông thấy trong diễn văn mới đây của Nguyễn Tấn Dũng: VN sẽ không dùng biện pháp vũ lực ngoại trừ bị ép buộc!

Nếu chọn giải pháp phủ nhận công hàm 1958 của PVĐ là vô giá trị đảng CSVN sẽ phải đối mặt với một vấn đề lớn hơn đó là con số quân viện cho VN trong những năm tháng chiến tranh mà tờ Hoàn Cầu thời báo hôm nay công bố đã là 870 tỷ đô la (chưa kiểm chứng). Điều đó có thể dễ dàng đánh đổi bằng đảng CSVN phải dâng hết đất nước hay một nữa miền Bắc cho giặc mà không thể nào chối cãi khi những hồ sơ, công văn, khế ước, hiệp định bọn giặc đang nắm trong tay, tất nhiên bọn chúng nói có cơ sở chứ không phải hàm hồ!

Như một ván cờ đô mi nô bị triệt buộc!

Đứng trước vấn nạn này đảng sẽ hành động như thế nào, đặt đảng lên trên Dân Tộc như từng đã làm mấy chục năm nay hay sẽ chọn Dân tộc là tối ưu?

Người dân cũng trông thấy thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sau khi đi Phi luật Tân hội đàm cùng Tổng thống bên ấy đã có những phát ngôn cứng rắn trái với thái độ trước đây của ông nhưng liệu TC có sợ VN với một thủ tướng cứng rắn hay không?

Chắc chắn là không! 


Vì bọn chúng biết tỏng con nài tẩy VN có những gì khi tham gia chiến tranh, hơn nữa quan trọng nhất là nước VN không còn kinh phí để theo đuổi một cuộc chiến dài hơi.

Đứng trước hiểm họa xăm lăng nước VN phải làm gì?

Đảng CSVN phải nhận thức được những sai lầm trong quá khứ khi khởi động một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn dưới mỹ danh: đánh Mỹ cứu nước mà phần thiệt hại ngày nay của VN quá nặng nề và tự giải thể trao trả lại chính quyền về tay nhân dân.

Nhiều ý kiến cho rằng cần phải liên minh với Hoa kỳ mới có thể bảo vệ được quốc gia Dân tộc, điều đó hoàn toàn đúng đắn nhưng đó mới chỉ là ước muốn của VN mà phía Mỹ chưa hề có động thái nào.

Đảng CSVN nên hiểu rằng nước Mỹ là một quốc gia pháp luật nghiêm minh mà cho dù Tổng Thống của họ có mong muốn cũng không thể nào giúp VN được khi hai viện lập pháp là Thượng và Hạ nghị viện Hoa Kỳ phủ quyết, cứ nhìn vào chuyến công du năm ngoái của Nguyễn Tấn Dũng trong đó VN mong muốn mua các khí tài kỹ thuật nhằm thay thế khối quân cụ của VNCH bỏ lại đã bị Mỹ từ chối mà làm bài học:

Nước Mỹ không bao giờ là đồng minh, có liên minh với một quốc gia CS, nếu muốn điều đó VN phải thay đổi thể chế từ một chế độ độc tài toàn trị trở thành một quốc gia Dân chủ đa nguyên với việc tôn trọng các giá trị con người của người dân của mình.

Như vậy bước đi cần có hiện nay gọi theo cách gọi CS là tự chuyển hóa.

Nếu đảng không dám công khai từ bỏ chủ nghĩa của mình thì các đảng viên hãy tự chuyển hóa, tự xin ra khỏi đảng, tự bỏ đảng cho đến khi đảng không còn tín đồ.




Toàn dân hãy nhìn thấy cái chủ nghĩa Mác Lê là một thứ chủ nghĩa chỉ dùng để mị dân trong thế kỷ 20, họ dùng nó để lợi dụng người dân nổi dậy chiếm đoạt quyền điều hành quốc gia dẫn đưa dân tộc tới đói nghèo lạc hậu mà các quốc gia khác đi trước VN nhiều năm đã trông thấy và mạnh dạn từ bỏ, từ Đông Đức cho đến Ba Lan, Tiệp Khắc hay chính tại cái quê hương của Lê Nin là nước Nga cũng không ngoại lệ.

Định hướng XHCN là gì khi chủ nghĩa CS không cho phép quyền tư hữu của người dân, chỉ nội hai chữ CS cũng nói lên cộng tất cả tài sản về một mối và chia đều cho người dân nhưng trong thực tế đó là điều không tưởng!

Nước VN với những bất cập không thể nào giải quyết cần phải thay đổi, chúng ta phải là một quốc gia đa đảng phái và đi theo con đường kinh tế tư bản chủ nghĩa mới có thể làm cho dân giàu nước mạnh, chúng ta không thể lấy một lý thuyết đã lỗi thời làm kim chỉ nam cho ngày hôm nay.

Đảng hãy tự biết vị trí của mình ngày trong hiện tại, xin lỗi Dân tộc, tự giải tán và trao trả lại cho những người Cộng Hòa, chính họ mới có thể dẫn đưa Dân tộc thoát khỏi hiểm họa xâm lăng này vì họ có chính danh để phủ quyết những đòi hỏi vô lý của TC.

Với số lượng hơn 4 triệu người gốc Việt sống khắp nơi trên thế giới trong đó đa số là quân, dân, cán, chính của hai nền Cộng Hòa, những con người đó xem trọng Tổ quốc-Danh dự-Trách nhiệm và dù có gần đất xa trời các lão tướng, các binh sĩ của một chế độ Tự do Dân chủ vẫn còn tình yêu nước nồng nàn trong tim, họ sẽ về để cùng khối Dân Tộc 90 triệu người chọn giải pháp đánh đuổi bọn xâm lăng khỏi bờ cõi, sẽ về để xây dựng lại một đất nước hoang tàn thành một quốc gia dân chủ và giàu mạnh.

Chính thể Việt Nam Cộng Hòa mới là chính thể có đủ tư cách liên minh với Hoa Kỳ trong quá khứ cũng như trong bối cảnh dầu sôi lửa bỏng hôm nay.

Chỉ với một điều kiện tiên quyết: đảng phải ra đi vĩnh viễn khỏi VN!

Không có giải pháp hòa hợp, hòa giải nào cả!

Đó là điều bắt buộc phải đến nếu muốn chống TC.

Nguyên Anh
Ngày 24 tháng 05 năm 2014
Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Mon May 26, 2014 10:52 am


Quân Dân VNCH - Họ là “ngụy”, ta là gì?





“Tôi đọc thấy trong ánh mắt của bà
niềm tin chồng mình
đã chết như một người anh hùng.”
(“Hai bà quả phụ Hoàng Sa”, Huy Đức)

Sao gọi họ là “ngụy”, những người lính đã đổ máu vì Hoàng Sa, vùi xác thân dưới lòng biển cả?



Sao gọi họ là “ngụy”, những người lính quyết không cho kẻ thù đụng đến Hoàng Sa, phần máu thịt thiêng liêng của tổ quốc?

Sao gọi họ là “ngụy”, những người lính như “Ngụy” Văn Thà, “thà” chết quyết không rời tàu, không bỏ Hoàng Sa?

Sao gọi họ là “ngụy”, những người lính như Nguyễn Thành Trí, quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, quyết không để mất Hoàng Sa?



Họ là “ngụy”, thế ta là gì?

Ta là gì mà khúm núm, mà cúi gập mình trước quan thầy phương Bắc.

Ta là gì mà ca tụng, mà tôn thờ kẻ chiếm đất cướp biển, kẻ giết hại đồng bào ta.





Ta là gì mà trấn áp thẳng tay kẻ nào dám xúc phạm đến thiên triều.

Ta là gì mà trừng trị đích đáng kẻ nào dám lớn tiếng nói rằng “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”.

Ta là gì mà dân khinh ghét, dân nguyền rủa, dân tặng cho 6 chữ vàng “Hèn với giặc, ác với dân”.



Nếu là ngụy mà chẳng hiếp đáp dân lành, chẳng khiếp nhược trước giặc thù hung bạo thì tôi cũng một lòng một ý xin theo ngụy.

Nếu là ngụy mà chẳng thần phục nước lớn bá quyền, chẳng cắt đất dâng biển để triều cống quan thầy thì tôi cũng một lòng một ý xin theo ngụy.




Nếu là ngụy mà quyết bảo vệ chủ quyền, bảo vệ từng tấc đất của cha ông ta thì tôi cũng một lòng một ý xin theo ngụy.

Nếu là ngụy mà chọn cái chết theo tàu trong trận chiến không cân sức chống giặc ngoại xâm thì tôi cũng một lòng một ý xin theo ngụy.

Trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào người ta gọi những người lính như thế là những anh hùng.

Hoàng Sa gắn liền với tên tuổi những người lính anh hùng mà ta gọi là “ngụy”.



Hoàng Sa, Trường Sa trở thành tên gọi tinh thần bất khuất của người Việt yêu nước.

Hoàng Sa, Trường Sa trở thành tên gọi nỗi hèn, mối nhục muôn đời của ta.

Họ là “ngụy”, thế ta là gì?

Ta gọi họ là “ngụy”, dân gọi ta là gì?

Người Lính Cũ
19/1/2014
(40 năm trận hải chiến Hoàng Sa)


Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Fri Jun 06, 2014 10:08 am


Việt Nam Cộng Hòa, lối thoát của Hoàng Sa và dân tộc




Trần Trung Đạo (Danlambao) - Sau 40 năm nếu tính từ thời gian hải quân Trung Cộng tấn chiếm Hoàng Sa và 56 năm kể từ khi Phạm Văn Đồng gởi công hàm cho Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, lần đầu tiên lãnh đạo CSVN chính thức phủ nhận công hàm. Bao nhiêu lần lập đi lập lại câu thần chú “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý vững chắc về chủ quyền đối với Hoàng Sa” nhưng giới lãnh đạo CSVN không hề nhắc đến công hàm, tưởng chừng như văn bản đó không phải là của họ. Thứ Sáu 23-5-2014, ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Biên Giới Quốc Gia, trong cuộc họp báo với mục đích “làm rõ công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng” đã đưa ra các lý luận để phản bác các quan điểm của Trung Cộng.

Điều kiện quốc tế dẫn tới công hàm Phạm Văn Đồng

Trước 1958, Trung Cộng không có một quan điểm rõ ràng nào về lãnh hải. Nhà văn Trung Quốc Wei Wen-han nghiên cứu về lãnh hải nhắc lại cho đến tháng Sáu 1957 Trung Cộng vẫn chưa có một xác định nào về hải phận và thềm lục địa thuộc về Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Tháng 12 năm 1957, Nam Dương tuyên bố mở rộng lãnh hải từ 3 hải lý theo truyền thống mà hầu hết các quốc gia áp dụng sang 12 hải lý và được tính từ điểm ngoài cùng của các đảo thuộc lãnh thổ Nam Dương. Vì Nam Dương là quốc gia quần đảo, nếu tính như vậy, một vùng biển rộng lớn của vùng Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều thuộc quyền kiểm soát của Nam Dương. Anh, Hòa Lan và nhiều quốc gia khác cùng lên tiếng phản đối. Trung Cộng chụp lấy thời cơ binh vực Nam Dương và ngày 4 tháng 9 năm 1958 công bố riêng một Bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc (Declaration on China's Territorial Sea) với các điểm chính như mọi người đều biết: “Bề rộng của lãnh hải Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa sẽ là 12 hải lý” và “áp dụng tương tự đối với Đài Loan và các đảo chung quanh, Quần đảo Bành Hồ (Penghu), Quần đảo Trung Sa (Tungsha), Quần đảo Tây Sa (Hsisha), Quần đảo Chungsha, Quần đảo Nansha (Nam Sa), và các đảo khác thuộc Trung Quốc”.

Công tâm mà nói, bản tuyên bố của Trung Cộng trong thời điểm đó nhắm vào Mỹ đang bảo vệ các tàu hàng Đài Loan trong các vùng đảo Kim Môn, Mã Tổ, Bành Hồ hơn là các nước Đông Nam Á. Người soạn thảo bản tuyên bố của Trung Cộng áp dụng phương pháp tính lãnh hải của Nam Dương và có tầm nhìn Đại Hán nên đã đưa các đảo Tây Sa (Hsisha) tức Hoàng Sa và Nam Sa (Nansha) tức Trường Sa trong vùng biển Đông vào. Chính phủ Mỹ tức khắc bác bỏ bản tuyên bố của Trung Cộng và các chiến hạm Mỹ vẫn tiếp tục bảo vệ an ninh cho các tàu hàng Đài Loan trong vùng 3 hải lý của đảo Kim Môn, Bành Hồ chung quanh Đài Loan. Trung Cộng không dám bắn. Bộ quốc phòng Mỹ đã lên kế hoạch tấn công Trung Cộng bằng bom nguyên tử. Để giữ thể diện, Bành Đức Hoài tuyên bố ngưng bắn vào Kim Môn nếu tàu chiến Mỹ ngưng bảo vệ tàu hàng Đài Loan. Mỹ chẳng những không đáp lại đòi hỏi của Trung Cộng mà còn gởi Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles thăm Đài Loan để bàn kế hoạch phòng thủ Đài Loan lâu dài.

Hai lý do Trần Duy Hải dùng để bác bỏ công hàm Phạm Văn Đồng

Thứ nhất. Công hàm Phạm Văn Đồng “hoàn toàn không đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Lý luận này không thuyết phục được ai. Không cần phải đứng về phía Trung Cộng mà chỉ một người có chút hiểu biết và dù đứng về phía Việt Nam cũng phản bác lại dễ dàng. Đưa ra lý do không đề cập đến Hoàng Sa, Trường Sa là một cách tự kết án mình. Bản tuyên bố của phía Trung Cộng ghi rõ Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Cộng và Việt Nam đáp lại bằng cách “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố”. CSVN có nhiều cách để lấy lòng đàn anh Trung Cộng mà vẫn giữ được chủ quyền đất nước. Chẳng hạn, Phạm Văn Đồng chỉ nhấn mạnh đến sự ủng hộ của đảng và nhà nước CSVN đối với các chính sách của Trung Cộng trong xung đột Đài Loan mà không nhắc nhở gì đến Hoàng Sa, Trường Sa và coi như không biết đến “Bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc”. May ra còn có thể cãi cọ được. Tiếc thay, lãnh đạo đảng sợ viết như vậy chưa vừa lòng đàn anh và chưa tỏ bày hết lòng dạ trung kiên, kết cỏ ngậm vành của mình.

Không giống thái độ của các nước Mỹ, Anh, Hòa Lan, CSVN tự nguyện đưa cổ vào tròng. Không có một văn bản nào cho thấy Trung Cộng áp lực Việt Nam phải đồng ý với bản tuyên bố lãnh hải của Trung Cộng. Không có tài liệu nào cho thấy Trung Cộng đe dọa nếu CSVN không ủng hộ sẽ đưa quân sang “dạy cho một bài học” hay cắt đứt viện trợ. Thời điểm năm 1958 vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa chưa phải là mối bận tâm hàng đầu của Trung Cộng, tuy nhiên những người soạn thảo bản công bố chủ quyền biển của Trung Cộng đã biết phòng xa. CSVN thì không. Nếu sự kiện được trình lên toàn án quốc tế, không một quan tòa nào sơ đẳng đến mức đánh giá hai văn bản một cách độc lập với nhau.

Phân tích để thấy, lãnh đạo CSVN trong lúc phủ nhận giá trị của công hàm Phạm Văn Đồng trước dư luận quốc tế, cũng đồng thời thừa nhận trước nhân dân Việt Nam công hàm Phạm Văn Đồng là công hàm bán nước.

Lý do thứ hai cũng do Trần Duy Hải đưa ra “Hoàng Sa và Trường Sa cũng phù hợp với thực tế lúc đó hai quần đảo này nằm dưới vĩ tuyến 17 thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa”.

Trong hai lý do, chỉ có lý do Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là có sức thuyết phục về mặt pháp lý cũng như gây được cảm tình của thế giới tự do. Tuyên cáo của chính phủ VNCH công bố ngày 14 tháng Hai năm 1974 xác định chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như Bạch thư của Bộ Ngoại Giao VNCH đầu năm 1975 đanh thép bác bỏ giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng. Phạm Văn Đồng không thể công nhận những gì không thuộc lãnh thổ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. VNCH là một quốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về VNCH đã được quốc tế công nhận. Tuy nhiên, lý luận VNCH có gây được cảm tình nhân loại và có thể dùng để tranh luận trong bàn hội nghị cũng chưa thắng được bởi vì VNCH không còn là một thực thể chính trị.




Phản bác của nhà nghiên cứu Trung Quốc

Ngô Viễn Phú, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Pháp luật Việt Nam và từng du học tại Việt Nam đã bác bỏ các luận điểm của CSVN. Ngô Viễn Phú cho rằng “Ở thời điểm đó, trên trường quốc tế, một số quốc gia có quan hệ tốt với miền Bắc, trong đó có Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam; và phía Trung Quốc, vào ngày 18 tháng 1 năm 1950, thể theo đề nghị của chính quyền miền Bắc, đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với miền Bắc, hai bên cùng cử đại sứ (tới Hà Nội và Bắc Kinh).”

Đàn anh Cộng Sản Trung Quốc công nhận đàn em CSVN là chuyện đương nhiên và thể theo lời yêu cầu của CSVN chứ không phải của VNCH. Quan hệ ngoại giao giữa hai nước thay đổi theo từng thời kỳ. Singapore là một nước nhỏ nhưng mãi đến 1990 mới công nhận Trung Cộng. Liên Xô là một nước lớn nhưng Mỹ bắt chờ 16 năm sau cách mạng CS Nga mới công nhận Liên Xô. Thời điểm 1933 Nhật bắt đầu bành trướng ở phương Đông nên Mỹ cần làm dịu căng thẳng ở phương Tây, nếu không Tổng thống Franklin Roosevelt còn cô lập Liên Xô thêm nhiều năm nữa.

Việc “Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam” cũng chỉ giá trị giữa miền Bắc CS và Trung Cộng không ảnh hưởng gì với quốc tế và không liên hệ gì đến nước thứ ba, trong trường hợp này là VNCH. Trung Cộng có quyền công nhận miền Bắc Cộng Sản và không công nhận VNCH về mặt ngoại giao nhưng vẫn phải thừa nhận VNCH là một quốc gia độc lập được quốc tế và các quốc gia tham dự hội nghị Geneva, trong đó có Trung Cộng tham dự và ký kết.

Trong khi phản bác Ngô Viễn Phú lại cũng dựa trên lý luận CSVN đã xâm lược VNCH và không có quyền “thừa kế” lãnh thổ của nước bị chiếm: “Nếu theo quan điểm đã nhắc đến ở trên của các học giả Việt Nam thì, miền Bắc là “bên thứ ba ở ngoài không liên quan”, như vậy, sẽ có nghĩa là thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền miền Nam, và thế thì, những cái gọi là “bù nhìn” hay “chính quyền ngụy” chỉ là cách gọi càn, và việc “giải phóng miền Nam” của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền “kế thừa” lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.”

Về mặt công pháp quốc tế cũng như cả lãnh đạo CSVN lẫn phe phản bác lý luận của CSVN đều công nhận rằng chủ nhân thật sự của Hoàng Sa vẫn là VNCH. Do đó, điều kiện tiên quyết, chọn lựa duy nhất và con đường thích hợp nhất không chỉ để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Công mà mở đường cho tự do, dân chủ và thịnh vượng là tập trung vào công cuộc phục hưng VNCH.





Lối thoát VNCH

Đọc tới đây, một số độc giả có thể sẽ dừng lại vì cho người viết không tưởng, hư cấu hay chủ trương đi lại một vết xe đổ. Không. Phục hưng VNCH không phải là đi lùi vào quá khứ mà hướng tới tương lai, không phải lập lại mà thăng tiến cao hơn. VNCH không phải là vết nhăn trên trán của thế hệ cha chú đã qua mà là hành trang và ước vọng của tuổi trẻ ngày nay. Chủ nghĩa CS mới thật sự là lạc hậu và việc cáo chung của chủ nghĩa này chỉ là vấn đề thời gian. Thác nước Niagara không thể nào chảy ngược. Không phải người viết, phần đông độc giả mà ngay cả các lãnh đạo CSVN cũng không thể chối cãi sự thật đó. Chủ nghĩa CS còn kéo dài ở Á Châu cho đến hôm nay là nhờ họ biết núp bóng sau tấm bình phong chống thực dân đế quốc. Tấm bình phong do họ dựng lên đang rã mục. Năm 1954 tại miền Bắc, nhiều người thật sự tin rằng đảng CS và dân tộc Việt Nam là một, như nước với sữa, như máu với thịt, hay như Hồ Chí Minh nói “đảng là con nòi của dân tộc”. Năm 1975, khi đối diện với miền Nam từ lối sống đến phương tiện hoàn toàn khác với những gì bộ máy tuyên truyền CS đã thêu dệt nhiều người bắt đầu nhận ra đảng đã lợi dụng máu xương của những người ngã xuống vì khát vọng hòa bình, vì mơ ước đoàn viên, vì cơm no áo ấm chỉ để CS hóa toàn đất nước. Và hôm nay, 2014, đông đảo nhân dân Việt Nam đã hiểu rõ cơ chế độc tài là trở lực duy nhất trên con đường dẫn đến một Việt Nam tự do, dân chủ, văn minh. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ toàn diện và triệt để tại Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian.

Và khi đó, thể chế nào khác sẽ thay thế chế độ CS nếu không phải là thể chế cộng hòa? Thực tế chính trị rất hiển nhiên đó đang là một khải hoàn ca tại hầu hết các quốc gia cựu Cộng Sản như Cộng hòa Czech, Cộng hòa Hungary, Cộng hòa Ba Lan, Cộng hòa Lithuania, Cộng hòa Estonia, Cộng hòa Mông Cổ v.v... Tiến trình dân chủ hóa diễn ra nhanh hay chậm tùy theo điều kiện của mỗi nước nhưng là hướng phát triển của văn minh nhân loại trong thời đại này.

Giá trị của VNCH

Trong suốt 60 năm từ 1954, bộ máy tuyên truyền của đảng đã không ngừng vẽ trong nhận thức của bao nhiêu thế hệ Việt Nam một VNCH chẳng khác gì một con ma, ghê sợ, hung dữ và tội lỗi nhất trong thế gian này. Suốt 60 năm qua, VNCH là hiện thân của thứ tội ác. Trong nhận thức không chỉ tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975 mà ngay cả các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhà văn, nhà thơ đều được dạy để biết VNCH có ba đặc điểm lớn là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”.

Trong tiểu luận “Khám nghiệm một hồn ma” trên Talawas 8 năm trước người viết đã có dịp phân tích thể chế cộng hòa tại miền Nam. Xin trích một phần bài viết đó ở đây để chia sẻ với các độc giả chưa đọc.

Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Chẳng những có mà còn vô cùng trầm trọng.

Miền Nam có đàn áp biểu tình, đối lập không? Có, không chỉ đàn áp một lần mà nhiều lần, không chỉ một năm mà nhiều năm.





Miền Nam trước 1975 có sống bám vào viện trợ Mỹ không? Có, không chỉ 300 triệu dollars “viện trợ đặc biệt” như nhiều người hay nhắc mà nhiều tỉ đô la.

Vâng, tất cả điều đó đều có. Chế độ cộng hòa tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hòa hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi. Miền Nam có tất cả sắc thái của một xã hội dân chủ đang từng bước đi lên. Dân chủ không phải là lô độc đắc giúp một người trở nên giàu sang trong một sớm một chiều mà là quá trình tích lũy vốn liếng từ những chắt chiu của mẹ, tần tảo của cha, thăng trầm và thử thách của cả dân tộc.

Ngay cả những quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ, Nam Hàn cũng phải bước qua con đường đầy máu nhuộm để có được nền dân chủ như hôm nay. VNCH cũng vậy. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính. Như một viên ngọc nằm trong lòng lớp rong rêu của vỏ con trai, trên tất cả, giá trị đích thực của VNCH không nằm trong tham nhũng, trấn áp và đồng đô la Mỹ mà nằm trong Hiến pháp VNCH đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ do dân và vì dân.

Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”

Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hòa, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, được phân quyền rõ rệt: ”Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”.

Phục hưng VNCH không có nghĩa là phục hưng chính quyền miền Nam. Chính thể không đồng nghĩa với một chính quyền và do đó không sống hay chết theo một chính quyền. Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc. Sau 39 năm, VNCH như một mạch nước chảy ngầm trong rặng núi, đau đớn, vất vả, khó khăn nhưng không bao giờ ngừng chảy. Nếu ai cho tôi khoác lác hãy gác qua bên mặc cảm Bắc Nam, định kiến xã hội, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hòa trên trang đầu của Hiến pháp VNCH mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung thôi, tôi tin người đọc dù Nam hay Bắc, dù trong hay ngoài nước, sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến. Công nhận các giá trị được đề ra trong hiến pháp VNCH không có nghĩa là đầu hàng, chiêu hồi. Không. Không ai có quyền chiêu hồi ai hay kêu gọi ai đầu hàng. Đây là cuộc chiến mới, cuộc chiến giữa dân tộc và phản dân tộc, giữa cộng hòa và cộng sản, giữa tự do và độc tài, giữa nhân bản và toàn trị. Mỗi người Việt sẽ chọn một chỗ đứng cho chính mình phù hợp với quyền lợi bản thân, gia đình, con cháu và sự sống còn của dân tộc.

Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống do Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và rất nhiều nhà cách mạng miền Nam khác gieo xuống hàng thế kỷ trước đã mọc và lớn lên trong mưa bão. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi 1954 mà đã có từ hàng trăm năm trước.

Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hòa sau này. Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng máu, mồ hôi, nước mắt của nhiều người. Đó không phải là tài sản của riêng miền Nam mà của tất cả những người Việt cùng ôm ấp một ước mơ dân chủ. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, tháo gỡ lớp màn “căm thù Mỹ Ngụy” ra khỏi nhận thức, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Không cần phải tìm giải pháp từ Miến Điện, Nam Phi, Ai Cập, Libya hay tìm chân lý ở Anh, ở Mỹ mà ngay ở đây, giữa lòng đất nước Việt Nam.

Phục hưng VNCH không có nghĩa là phủ nhận công lao của những người đã hy sinh trong chiến tranh chống thực dân Pháp. Như kẻ viết bài này đã nhấn mạnh nhiều lần, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Đó là cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất anh hùng của một dân tộc bị nô lệ đã đứng lên chống lại một thực dân tàn bạo. Việc tham gia vào đảng phái, kể cả việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn. Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập nhưng đối với đảng CS chiếc phao lại chính là dân tộc.

Nhiều người yêu nước chọn tham gia vào đảng CS nhưng bản thân đảng CS như một tổ chức chính trị dựa trên ý thức hệ CS chưa bao giờ là một đảng yêu nước. Những nông dân hiền hòa chất phác, những công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay. Dù sao, người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên. Lịch sử sẽ đánh giá, tổ quốc sẽ ghi công họ một cách công bằng.

Phục hưng VNCH không có nghĩa là tái thực thi hiệp định Paris. Dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất và tất cả các hòa ước Patenôtre, hiệp định Geneva hay hiệp định Paris đều là những chiếc còng của thực dân và đế quốc áp đặt lên đầu lên cổ dân tộc Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam yếu kém và phân hóa. Trước 1975, trong đáy lòng của bất cứ một người Việt yêu nước nào cũng mong một ngày dân tộc Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau sẽ được đoàn viên trong tự do, dân chủ và thịnh vượng. Tuy nhiên, ngoài trừ lãnh đạo CSVN chủ trương CS hóa toàn cõi Việt Nam bằng súng đạn của Nga, Tàu, không ai muốn đoàn viên phải trả bằng giá của nhiều triệu sinh mạng người dân vô tội, đốt cháy một phần đất nước, để lại một gia tài nghèo nàn lạc hậu cho con cháu. Hôm nay, dù không tự mình chọn lựa, dân tộc Việt Nam cũng đã là một và không có một thế lực nào làm Việt Nam phân ly lần nữa.

Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, có khi cuồn cuộn lúc âm thầm, có chỗ sâu chỗ cạn nhưng chưa bao giờ ngưng chảy. Đó là sự thật. Khoảng thời gian từ khi Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán, đánh bại Hai Bà Trưng (năm 43) đến khi Lý Nam Đế đánh bại quân Lương Vũ Đế và dựng nước Vạn Xuân (năm 543) là tròn 500 năm. Biết bao nhiêu lớp người đã sinh ra và chết đi trong suốt 5 thế kỷ sống trong bóng tối nô lệ nhưng sức sống Việt Nam vẫn tồn tại và lớn lên. Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới trong đó người dân gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào thân thương và trìu mến. Đối mặt với một kẻ thù đông hơn nhiều và mạnh hơn nhiều, chưa bao giờ sức mạnh tổng hợp của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt ở hải ngoại cần thiết như hôm nay. Đảng CS có 3 triệu đảng viên nhưng đa số trong số 3 triệu người này trong thực tế cũng chỉ là nạn nhân của một tập đoàn lãnh đạo đảng tham quyền và bán nước. Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc phát triển trên cơ chế dân chủ tự do mới mong thắng được Trung Cộng và mọi kẻ thù có âm mưu xâm lược Việt Nam. Tổ tiên Việt Nam đã làm được rồi các thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm được.

Người viết biết rằng, đối với một số người Việt đã bị bộ máy tuyên truyền đầu độc quá lâu và các bạn trẻ bị nhào nặn hoàn toàn trong hệ thống giáo dục một chiều CS, để có một nhận thức đúng về lịch sử là một quá trình đấu tranh tư tưởng khó khăn.

Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn thẳng vào thực tế đất nước sau 39 năm vẫn là một nước lạc hậu về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và đời sống. Việt Nam còn thua xa những nước ở châu Phi như Ghana, Sierra Leone, Namibia vì những quốc gia đó còn nghèo nhưng hãnh diện vì chính phủ họ do nhân dân họ bầu lên. Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn vào cách giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng của lãnh đạo CSVN. Ngoài những lời phản đối đọc như kinh nhật tụng họ không có và cũng không thể có một chọn lựa dứt khoát nào chỉ vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người lãnh đạo được đặt lên trên quyền lợi lâu dài của đất nước. Như người viết đã trình bày trong bài trước, rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Thảm trạng xã hội Việt Nam hôm nay, những lạc hậu kinh tế hôm nay, những yếu kém về quốc phòng hôm nay, những cô đơn trong bang giao quốc tế hôm nay là những câu trả lời cho những ai còn do dự, còn một chút tin tưởng nào đó ở lãnh đạo đảng CSVN.

Sau hải chiến Hoàng Sa đầy hy sinh xương máu, VNCH lần nữa lại được lịch sử giao trọng trách đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa trong tay Trung Cộng. Cuộc tranh đấu mới sẽ khó khăn nhưng là con đường đúng nhất của dân tộc trong cùng hướng phát triển của nhân loại. Giống như hầu hết các nước cựu CS ở Đông Âu và khối Liên Xô, thể chế Cộng Hòa là chọn lựa đương nhiên và dứt khoát. Các quốc gia sẽ bình đẳng trước công pháp quốc tế. Những khẩu hiệu tuyên truyền rất sến như “16 chữ vàng”, “hữu nghị Việt Trung” sẽ bị chôn sâu theo xác của ý thức hệ CS. Dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua những khó khăn để phát triển thành một quốc gia hiện đại về cả kinh tế lẫn quốc phòng. Các nhà lãnh đạo VNCH trong cuộc đấu tranh mới trên mặt trận ngoại giao sẽ hành xử xứng đáng với tư cách của một cấp lãnh đạo chính danh, thay mặt cho một nước VNCH thống nhất, dân chủ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của đại đa số con người yêu chuộng tự do, hòa bình trên thế giới. Giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một cuộc tranh đấu gian nan, gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng chính nghĩa và chân lý cuối cùng sẽ thắng.

Trần Trung Đạo
danlambaovn.blogspot.com

Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Tue Jun 10, 2014 10:00 am

Đa số dân Việt đã nhận rõ sự thực: đảng CSVN chính là Hán ngụy!

Thoát Ngụy: Đảng cộng sản Việt Nam




Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) - Một số học giả vừa tổ chức hội thảo lấy tên "Thoát Trung" vào hôm 5/6/2014 tại Hà Nội, với nhiều người đến dự.

Dù các vị học giả nói rõ "Thoát Trung" không phải là "Bài Trung" với "ba tiên đề và bảy trụ cột" [1], nhưng nhiều người vẫn băn khoăn. "Thoát Trung" rồi đi đâu? Có lâm vào một chế độ nào na ná "độc tài" như tại Liên Bang Nga? Hoặc "Thoát Trung" rồi có rơi vào bất ổn như Thái Lan hiện nay, hay như những quốc gia khác, dù sau khi lật đổ chế độ độc tài nhưng dường như đang chìm trong chiến sự?

Nhìn từ Nhật Bản

Nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến xã hội Nhật Bản cận đại [2] - Fukuzawa Yukichi (1835 - 1901) đã đưa ra học thuyết "Thoát Á Luận" [3] để đặt nền móng cho một quốc gia phú cường và văn minh.

Tuy nhiên, một thời gian khá dài sau khi ông Fukuzawa Yukichi tạ thế, những tư tưởng của ông, có vẻ vẫn chưa được "xứ sở hoa anh đào" quan tâm cho lắm, mãi cho đến Thế Chiến 2, với thất bại thảm hại và kinh hoàng nhất vào lúc bấy giờ, dường như nó mới làm người Nhật Bản giật mình tỉnh giấc?

Thua cuộc thê thảm đó, xem ra giúp cho dân Phù Tang có cơ hội nhìn lại tư tưởng của tiền nhân mình? Không những thế, họ can đảm nhìn thẳng vào thất bại ê chề và quyết tâm đứng dậy từ đống đổ nát tan hoang. Đó chính là hành động anh hùng giản dị nhất mà lại thuyết phục nhất. Không chỉ vậy, người dân "xứ sở Mặt Trời mọc" còn đủ dũng khí chấp nhận tư cách "kẻ thua cuộc" với bản Hiến pháp được soạn thảo, khi quốc gia họ được điều hành bởi lực lượng chiếm đóng Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Dân tộc tự hào là con cháu của "Nữ Thần Mặt Trời" không hề mặc cảm tự ti hay hổ thẹn với bản Hiến Pháp không do đại diện của người dân tự soạn. Đó là một triết lý "luận anh hùng" thật thú vị mà chúng ta lại nhìn thấy.

Trong bản Hiến pháp từ 1947, cho đến nay chưa hề chính thức sửa đổi, điều 9 nói [4]:

1. Nhân dân Nhật Bản thành thật mong muốn một nền hoà bình quốc tế dựa trên chính nghĩa và trật tự, cam kết vĩnh viễn không phát động chiến tranh như là một phương tiện giải quyết xung đột quốc tế bao gồm chiến tranh xâm phạm chủ quyền dân tộc và các hành vi vũ lực hoặc các hành vi đe doạ bằng vũ lực.

2. Để thực hiện mục đích ghi ở trên, lục quân, hải quân và không quân cũng như các tiềm lực chiến tranh khác sẽ không được duy trì. Quyền tham chiến của đất nước sẽ không được công nhận.

Từ đó, quốc gia đầy tham vọng ngày xưa đã hoàn toàn từ bỏ những khát khao phi nghĩa. Cũng từ dạo ấy, chính người Nhật Bản đã làm cho "viên kim cương" ngày càng lấp lánh sắc màu kỳ diệu mang tên: Thành Thật.

Hơn thế, thực tế đã chứng minh gần 70 năm qua, một Nhật Bản đầy lòng nhân ái, văn minh và phú cường.

Gần 70 năm qua, một thời gian đủ dài để toàn thế giới nhìn về người Nhật với sự tôn trọng và kính nể trong tư cách một quốc gia - nói được và làm đúng với "trái tim pha lê" thật trong suốt và "khối óc kim cương" đầy trí tuệ.

Nhật Bản ngày nay giàu có và hùng mạnh. Thế giới vẫn còn quá nhiều hiểm họa khôn lường và dã tâm thôn tính từ những quốc gia vẫn ấp ôm mộng bá chủ, dù là phương Đông hay phương Tây.

Đứng trước nguy cơ mới và ngày càng rõ mồn một, Hạ viện Nhật Bản cho phép sửa đổi "Hiến pháp hòa bình". Từ lâu, ông Shinzo Abe - đương kim Thủ Tướng Nhật Bản - đã ủng hộ việc sửa đổi bản Hiến pháp, bởi vì nó không còn phù hợp với thực tế hiện nay [5].

Con cháu "Nữ Thần Mặt Trời" thật hào sảng và minh bạch, dứt khoát lại nhạy bén với thời cuộc trong triết lý "cuộc sống là vận động".

Thoát Ngụy

Đề cập đến chữ "Ngụy", người ta biết nhiều từ liên quan, như: "ngụy biện", "ngụy tạo", "ngụy quân tử", "ngụy danh", "ngụy trang" v.v... cũng như chế độ VNCH đã từng bị người cộng sản Việt Nam gọi là "ngụy quân", "ngụy quyền". Nhờ thời đại hiện nay, nhiều người dân Việt Nam, đặc biệt người dân miền Bắc (vốn dĩ sinh trưởng trong một xã hội bưng bít gần 70 năm qua) đã hiểu rõ hơn như blogger Nguyễn Tường Thụy đã kêu gọi: "Đừng gọi Việt Nam Cộng Hòa là ngụy nữa nhé" [6].

Có vẻ "Thoát Á Luận" của Fukuzawa Yukichi đã tạo cảm hứng cho các học giả Việt Nam tạo ra khái niệm "Thoát Trung"?

So sánh và liên hệ hai khái niệm này, cho thấy có một số khập khiểng.

Khi Fukuzawa Yukichi đặt ra việc cần phải thoát khỏi những tư tưởng lạc hậu cách đây hơn trăm năm, ông mong mỏi người Nhật Bản hãy loại trừ những gì lạc hậu, như: tư tưởng, văn hóa, giáo dục, giao thương, đạo đức v.v... của Châu Á


[*]. Fukuzawa Yukichi đặt nền móng cho một xã hội phát triển văn minh, hài hòa dựa trên những đặc điểm tốt có chọn lọc từ tư tưởng và văn hóa - xã hội phương Tây lúc bấy giờ. Trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi, người ta không tìm thấy rõ nét yếu tố "thể chế chính trị" mang tính chi phối lớn. Đặc biệt khái niệm "độc tài toàn trị" lúc bấy giờ chưa có.

Do đó, khi đặt vấn đề "Thoát Trung" như vừa qua, với ý nghĩa thoát khỏi sự xâm lăng và lệ thuộc từ chế độ độc tài toàn trị Bắc Kinh thì khái niệm "Thoát Trung", có vẻ trở nên một cách "chơi chữ", mang "chất Trạng Quỳnh", hơn là nhằm mục đích nói lên thực chất một quốc gia độc lập, tự cường như các học giả mong muốn mà nhiều người gần như chỉ thấy phần "lý thuyết" hơn là ý nghĩa "thực tiễn" có thể áp dụng khả thi từ "ba tiên đề và bảy trụ cột".

Vả lại, chúng ta thử nghĩ, một khi người dân Trung Hoa tự kiến tạo một chế độ tự do - dân chủ cho quê hương của họ như các nước văn minh, phải chăng lúc đó khái niệm "Thoát Trung" sẽ trở nên vô nghĩa, lỗi thời và hơi... kỳ cục đối với một dân tộc láng giềng?

Hơn nữa, như nhiều độc giả thắc mắc "Thoát Trung" rồi đi đâu? Phải chăng nó nói lên tính bị động và yếm thế khi đề cập chữ "thoát"? Tại sao lại phải "thoát"? Tại sao không là "Trung Thoát" hay "Cộng Thoát"? Có vẻ, tư tưởng như thế không giúp ích cho lắm trong tình hình hiện nay. Mặt khác, người Việt Nam cũng có thể tiếp tục đặt câu hỏi: phải chăng một lúc nào đấy, dân Lạc Hồng lại tiếp tục đưa ra những "khái niệm": "Thoát Nga", "Thoát Mỹ", "Thoát Nhật"? Và lại tiếp tục nghe những lời "đính chính" hoặc "làm rõ" như trong phụ lục sách giáo khoa sửa lỗi từ "cậu đánh máy" nào đó?

Những người khác lại cho rằng [7]: "Không thể "Thoát Trung" mà không "Thoát Cộng", hoặc các ý kiến tương tự như thế, so ra cũng không khác mấy về mặt ý nghĩa chủ bại và tự gò ép dân tộc Việt Nam cần phải "thoát", thay vì buộc chế độ độc tài toàn trị - dù Bắc Kinh hay Hà Nội - (tốt nhất) chủ động "đào thoát" hay buộc "chế độ đó" (bị động) phải "thoát khỏi" tư tưởng ức hiếp "những người yếu hơn", dù chính nghĩa vẫn thuộc về họ? Có vẻ thế chủ động như vậy mới giúp phong trào dân chủ gắn liền bảo vệ Tổ quốc cần hơn vào lúc này?

Những hành vi đàn áp dã man và có hệ thống, cũng như cướp đất, bỏ mặc công nhân bị bóc lột, sự lạm quyền của cơ quan công quyền ngày càng tệ hại và trắng trợn, càng làm cho chữ "cộng sản" ngày càng trở nên bị tha hóa hơn nhiều lần, nó dần nghiêng về "độc tài toàn trị". Từ đó, nó làm cho quyền năng "lợi ích nhóm" càng "thoát thai" và vươn mình lớn mạnh như bầy sâu hấp thụ chất kích thích tăng trưởng kinh hoàng, góp trong đó không hề thiếu những "gói viện trợ", những "túi cho vay" từ các tập đoàn và tổ chức tài chính quốc tế tựa như một sự cố ý nuôi nấng và vỗ béo cho "bầy siêu sâu" tha hồ đục khoét?

Sự thật về công hàm Phạm Văn Đồng được bày ra chính thức và công khai, không còn lập lờ như cách đây vài năm, nhất định nó giúp người Việt Nam không còn bàng hoàng và choáng váng, một khi sự thật về "hội nghị Thành Đô" và những khuất tất nghiêm trọng khác được trưng ra. Như thế, ít nhất người dân không bị một hội chứng "nhồi máu cơ tim" vào lúc nào đó, bởi đã chờ đón một cách có căn cứ khi biết về công hàm 1958. Sự Thật tiếp tục lại "ngồi ngay" trong tim để bảo đảm sức khỏe. Có đủ sức khỏe mới có thể nói đến những việc khác.

Một độc giả trên RFA nhận xét về bài "Bí mật không thể bị mất" [8]:

Hồ Ái Quốc - Nơi gửi Quảng Ngãi

Ông Nguyễn Ngọc Già có lẽ là người Trung Quốc! Bài viết của ông dù đúng sự thật thì toàn dân VN cũng không hoan nghênh ông trong lúc này! Ông cần suy nghĩ cẩn trọng hơn!

Không thể giữ nước bằng tục ngữ "tốt khoe xấu che". Đó là chân lý. Cũng như cho đến nay, nói về "đường lưỡi bò", phía Trung Quốc vẫn không thể giải thích sao cho thuyết phục cả thế giới, như wikipedia cho biết [9]: "Từ khi Trung Hoa Dân Quốc công bố ranh giới chín đoạn vào năm 1947 cho tới nay, Trung Hoa Dân Quốc và Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa cũng chưa bao giờ chính thức nói ý nghĩa của ranh giới đó là gì..."

Đến đây, chúng ta lại thấy vai trò của Sự Thật quan trọng như thế nào.

Kết

Hòa bình và nhân ái nhất định được nuôi dưỡng từ Sự Thật. Quốc gia hùng cường Nhật Bản đã chứng minh điều đó từ lâu. Sự Thật luôn thuyết phục và chiến thắng tất cả những gì không thuộc Chính Nghĩa.

Chữ "ngụy" là một từ Hán - Việt, nó phản ánh những cái gì giả trá nhưng mang dáng vẻ của Sự Thật.

Để thoát khỏi tình trạng Việt Nam lệ thuộc nhiều mặt đối với chế độ toàn trị tại Trung Quốc cũng như hiện trạng bi đát và bế tắc của Việt Nam hiện nay, thay vì "Thoát Trung", có lẽ người Việt Nam cần phải gọi đích danh: THOÁT NGỤY. Khởi đầu của quá trình "Thoát Ngụy", nhất định phải do giới cầm quyền Việt Nam hiện nay, bởi họ phải chịu "trách nhiệm toàn diện" dựa trên sự "lãnh đạo toàn diện" của ĐCSVN, suốt 70 năm qua.

Bên cạnh "Sự Thật", "Công Bằng" phải lên tiếng, dù muộn.


Nguyễn Ngọc Già
danlambaovn.blogspot.com

__________________________________________

Chú thích:

[1] http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/how-escape-fr-influence-of-cn-tt-06072014100217.html
[2] http://vi.wikipedia.org/wiki/Fukuzawa_Yukichi

[3] http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-01-14-thoat-a-luan

[4] http://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n

[5] http://vietbao.vn/The-gioi/Nhat-Ban-Ha-vien-cho-phep-sua-doi-Hien-phap-hoa-binh/70083012/159/

[6] http://ntuongthuy.blogspot.com/2014/05/ung-goi-viet-nam-cong-hoa-la-nguy-nua.html

[*]Tất nhiên Trung Hoa - xứ xở được xem là "cái nôi" ảnh hưởng lớn đến hầu hết các quốc gia Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cổ, Việt Nam v.v...) với Khổng giáo (Khổng Tử), Đạo giáo (Lão Tử), Phật giáo Đại Thừa, Mạnh Tử, Trang Tử v.v...

[7] http://anhbasam.wordpress.com/2014/06/09/2320-khong-the-thoat-trung-ma-khong-thoat-cong/

[8] http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/thoisu-052714-nngia-05272014132705.html

[9] http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_ch%C3%ADn_%C4%91o%E1%BA%A1n

[*]
Về Đầu Trang Go down
vnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Wed Jun 11, 2014 3:56 pm


Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa




Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) - Một số người trong nước cũng như người Việt hải ngoại cho rằng không nên vực dậy "xác chết" có tên Việt Nam Cộng Hòa.

Tuy nhiên, lịch sử là nguồn cội của bất kỳ dân tộc nào. Lịch sử là khoa học và tính Người được thể hiện cao nhất từ đó. Bất kỳ một giai tầng nào hay một bậc vua chúa hoặc một nhà độc tài nào đi nữa, cũng không thể nào trốn được lịch sử. Lịch sử là Con Người.

Lịch sử dù đau thương như VNCH đã để mất Hoàng Sa, hay đáng tủi hổ như công hàm 1958 của VNDCCH và hội nghị Thành Đô của CHXHCNVN cùng nhiều biến cố sự kiện quan trọng khác không thể không nhắc lại.

Nhắc lại để hiểu rõ hơn và để cho thế hệ con cháu hôm nay, ngày mai nghiền ngẫm, dọn mình cho một thời đại mới - đang bắt đầu ló dạng. Tôi không biết mình có mơ mộng hão huyền trong tình thế của nước CHXHCNVN hôm nay không, nhưng trong tâm hồn tôi, từ lâu, tôi muốn nói: Cám ơn Việt Nam Cộng Hòa - Nhà Nước mà ở đó, làm cho tôi "Trích Lục Bộ Khai Sanh"

[*] Sài Gòn - nơi tôi được sinh ra, lớn lên, chứng kiến một góc nhỏ nhoi những trầm luân của số phận dân tộc Việt Nam.

Dù VNCH tồn tại ngắn ngủi, nhưng tôi không sao quên được cuộc sống chan hòa nhân ái của tuổi hoa niên, dù ngay trong những ngày chiến tranh lửa khói.

Hôm nay, bỗng nhiên trong tôi bật ra lời thành tâm này. Tôi viết với nỗi xúc động rưng rưng trên khóe mắt, khi xem lại hình ảnh những tử sĩ đã ngã xuống tại Hoàng Sa - Trường Sa ngày xưa.

Thay mặt gia đình


Như đã viết rải rác trong nhiều bài trước đây, tôi sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, trong một gia đình trung lưu với việc làm ăn phát đạt, dần dẫn đến giàu có hơn.

Thật ra, sau này tôi mới biết ba tôi là "Việt Cộng nằm vùng", do đó có thể nói, gia đình tôi là gia đình "ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản". Cách đây vài chục năm, khi nghe câu này, tôi khá giận dữ và cảm thấy bị sỉ nhục. Cảm giác đó dễ hiểu bởi sự thật chưa được phơi bày như sau này.

Tuy nhiên, cũng nhờ đó mà tôi tự tìm tòi. Tôi nghĩ, không có cách gì thuyết phục nhất cho mỗi người, nếu như tự thân mình không chủ động tìm hiểu và can đảm nhìn thẳng vào Sự Thật. Nhìn một cách thẳng thắn, không hề né tránh là điều chưa bao giờ dễ dàng, cho bất kỳ ai, cho bất kỳ điều gì, không riêng lãnh vực chính trị.

Ít nhất, cho đến nay, tôi có thể nói, tôi đã nhìn thẳng vào Sự Thật mà tôi biết, tôi tin một cách có căn cứ.

Từ cảm giác giận dữ, dần dần tôi chuyển qua cảm giác nhục nhã. Nhục nhã vì sự vong ân bội nghĩa của gia đình mình đối với Quốc Gia mà từ đó gia đình tôi làm ăn khá giả một cách chân chính, còn bản thân tôi lớn lên từ đó.

Tôi không có ý định chạy tội cho ba tôi hay những người thân khác. Suy cho cùng, gia đình tôi vừa là đồng phạm, vừa là nạn nhân của cộng sản. Đó là sự thật. Ba tôi chưa bao giờ giết bất kỳ một ai.

Ba tôi đã chết dưới tay người cộng sản. Tôi có căm thù không? Có. Có muốn báo thù không? Đã từng. Điều mỉa mai, ba tôi chết không phải vì người cộng sản trả oán hay trù dập mà cái chết của ba tôi đến từ sự "ân sủng" dành cho ông - một người chưa bao giờ cầm một đồng tiền bất chính nào, cũng như chưa bao giờ nhận bất kỳ sự "ban ơn" nào từ người cộng sản. Một cái chết khá đặc biệt trong muôn vàn cái chết, do người cộng sản gây ra. Có thể đó là một niềm an ủi cho tôi. Cũng có thể đó là một ơn huệ của Ơn Trên, đã sắp đặt cho ba tôi một cái chết không hề nhơ nhuốc mà nhuốm màu thê lương trong một con người thơ ngây và chơn chất. Nhưng đó là câu chuyện quá vãng của gần 20 năm về trước, không phải những gì tôi muốn viết hôm nay.

Tôi có ba người chú ruột đều được "phong liệt sĩ". Cả ba người đều chết thời Pháp. Bà nội tôi được "tặng" "bà mẹ Việt Nam anh hùng". Tôi có hai người cậu ruột, trốn ngoại tôi để đi tập kết năm 1954. Hai người cậu ruột khác lại làm trong chế độ VNCH. Hai người cậu này đều có chức phận vào thời bấy giờ. Tôi có một người chị ruột làm trong nhà thương và "thân cộng" lúc đó. Một người anh ruột là sĩ quan thuộc quân lực VNCH (nhưng thật ra là VC nằm vùng), một người anh ruột khác là hạ sĩ quan cũng thuộc quân lực VNCH (thuần túy là lính, không quan tâm và tham gia vào chính trị, cũng như không phải VC nằm vùng). Tôi có vài người anh, chị ruột nữa, họ là dạng "cách mạng 30/4". Một số bà con thân thuộc nội ngoại khác, người thì ở trong "khu", người lại chống Cộng triệt để. Vài người khác, người thì là quân nhân, người nữa lại là công chức của VNCH v.v...

Hồi trước 1975, đa số gia đình đều đông con. Ít thì ba, bốn; nhiều thì chín, mười. Có gia đình lên đến mười hai - mười bốn người con, đều bình thường trong nếp sống lúc bấy giờ. Một đời sống sung túc, hầu hết gia đình khá giả, đều giống nhau suy nghĩ: nhiều con là phúc lộc Trời cho. Chế độ VNCH cũng không có việc "sinh đẻ có kế hoạch". Mắn đẻ lại là điều tốt mà phụ nữ thời xưa luôn tự hào. Cuộc sống dung dị như thế. Không chỉ riêng những gia đình giàu có mà có thể nói hầu hết đều tương tự như vậy.

Dông dài như thế, để nói rằng giòng tộc nội ngoại của tôi khá phức tạp. Giá như...

Vâng, chính cái "giá như" nó đã làm hầu hết giòng tộc, anh chị em đại gia đình tôi "tan đàn xẻ nghé" từ dạo ấy. Dạo mà "rầm rập bước chân ta đi rung chuyển đường phố Sài Gòn" với ngày 30/4/1975 (!)

Một giòng tộc như thế mà nói đến "đoàn kết" (như CSVN đang kêu gọi) thì quả là... hài kịch.

Ba tôi và anh chị tôi đã từng đi tù dưới chế độ VNCH. Ba tôi ra tù sớm, chị tôi thì được tha bổng sau vài tuần tạm giam, vì không đủ chứng cớ kết tội. Riêng anh tôi nhận án "20 năm khổ sai" và bị đày đi Côn Đảo cho đến (tất nhiên) 1975.

Điều tôi cám ơn Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa thật giản dị:

- Ngày ba tôi ra tù, ông vẫn mạnh khỏe. Về đến nhà chỉ một tuần sau là ông có thể bắt tay trở lại công việc làm ăn.

- Suốt thời gian ba và anh chị tôi bị điều tra cho đến lúc kết án chính thức, gia đình tôi (những người không liên quan) không hề bị săn đuổi, bắt bớ vô pháp, hành hung, xách nhiễu v.v... Má tôi đã gánh vác mọi việc làm ăn vào lúc đó. Chúng tôi vẫn đi học bình thường và sống trong môi trường không hề bị kỳ thị của bất kỳ thầy cô hay bạn bè nào. Hàng xóm láng giềng cũng không vì thế mà ghẻ lạnh, hắt hủi hay tiếp tay như kiểu bây giờ mà người ta gọi là "đấu tố thời đại mới".

- Anh tôi - người ở tù Côn Đảo, ngày trở về đất liền vẫn mạnh khỏe, dù ốm o đen đúa, nhưng không hề mang thương tật gì cả.[**]

Cá nhân tôi


Tôi cám ơn Việt Nam Cộng Hòa, không chỉ vì tôi được sống trong một xã hội - có thể chưa phải là tốt đẹp nhất - nhưng tốt đẹp hơn chế độ cộng sản 39 năm qua, mà tôi còn biết ơn vì tôi đã hấp thụ được nền giáo dục, có thể nói, cho đến nay 39 năm, dù VNCH không còn, dù CHXHCNVN cố gắng "cải cách" giáo dục nhiều lần rất tốn kém nhưng không hề mang lại chút tiến bộ nào khả dĩ. Và nói cho công bằng, giáo dục hiện nay tính về chất lượng, vẫn không thể nào đạt được như trước 1975 của miền Nam.

Nền giáo dục trước 1975 mà tôi hấp thụ, dù ngắn ngủi, nó thật sự là nền giáo dục nhân bản và khai phóng. Trung thực và hiền lương. Ganh đua nhưng không đố kỵ. Biết phẫn nộ nhưng không tàn ác. Đặc biệt nền giáo dục đó giúp cho hầu hết học trò luôn biết dừng lại đúng lúc trước cái sai với nỗi xấu hổ và tính liêm sỉ - tựa như "hàng rào nhân cách" được kiểm soát kịp thời.

Chính xác hơn, tôi cám ơn Thầy - Cô của tôi, có lẽ bây giờ hầu hết đã qua đời, nếu còn sống chắc cũng đã nghễnh ngãng hay quá già yếu.

Tôi biết ơn các Giáo sư [***]. Tôi muốn nói rõ: Tôi không hề có danh vị, bằng cấp gì cả.

Tôi biết ơn Thầy - Cô của tôi, vì nhiều độc giả thương mến (có lẽ qua những bài viết), họ ngỡ tôi là: giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, nhà văn, nhà giáo v.v... nhưng tôi thưa thật, tôi chỉ là một người "tay ngang" trong viết lách. Qua từng bài viết, tôi rút ra kinh nghiệm. Đặc biệt, tôi luôn cố gắng viết cẩn trọng và khách quan nhất để thuyết phục độc giả. Tính cách này, tôi đã học từ Thầy - Cô tôi, ngày xưa. Dù môn Văn Chương ngày ấy, tôi luôn nhận điểm thấp tệ.

Tôi biết ơn Thầy - Cô của tôi cũng vì, sau 1975, cả nước rơi vào đói kém, làm cho "tính người" trong xã hội cũng mai một dần và tôi không là ngoại lệ. Thảm trạng xã hội lúc đó biến tôi trở nên chai lỳ, mất cảm xúc và lạnh lùng. Đặc biệt "chữ nghĩa" hầu như trôi sạch hết cùng những "tem phiếu", "xếp sổ mua gạo", chầu chực "mua nhu yếu phẩm" v.v... ngày xưa.

Về sau này, khi cuộc sống đỡ hơn, tôi có thời gian hơn cùng với thời cuộc đảo điên, dần dần, tôi cảm nhận tôi "trầm mình" trong nỗi đau của bản thân, gia đình, từ đó tôi mới thấu hiểu những điều ngày xưa tôi học và tôi giật mình vì sự lãng quên đáng trách đó.

Tôi tìm lại được "tính Người" mà bấy lâu nay tôi đánh mất.

Một lần nữa, tôi cám ơn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa và các Thầy - Cô của ngày xưa.

Nguyễn Ngọc Già
danlambaovn.blogspot.com
______________________________________

Chú thích:

[*]Vì những năm loạn lạc, đặc biệt tết Mậu Thân, nhiều nơi cháy nhà và thất lạc giấy tờ. Sau khi tạm bình yên, má tôi đã ra Tòa Hành Chánh Quận 3 thời bấy giờ để làm "Trích Lục Bộ Khai Sanh" cho tôi.

[**] Tôi nhớ khoảng đến cả tháng sau (tức đâu khoảng cuối tháng 5/1975) anh tôi mới về tới SG, nhưng chưa được về nhà ngay mà ở đâu đó (lâu quá rồi tôi không còn nhớ địa điểm, hình như lúc đó ở tại một trường học nào đó thì phải?) đợi thẩm vấn điều tra từ "chính quyền cách mạng lâm thời" lúc bấy giờ, đâu hết cả hai tuần nữa mới được về nhà. Tôi nhớ lúc đó, tôi hỏi anh tôi rất ngây ngô: Ủa! Sao hơn cả tháng trời anh mới về nhà? Anh tôi cười và im lặng không nói. Mãi về sau, tôi mới lò mò tìm hiểu, thì ra, dù là "phe mình", nhưng bản chất người cộng sản là "bản chất Tào Tháo". Họ có tin ai bao giờ đâu! Họ giữ lại tất cả tù chính trị để điều tra xem thử có phải là gián điệp (các loại) được cài lại hay không (để tính chuyện lâu dài).

[***] Trước 1975, từ đệ thất (nghĩa là lớp 6 bây giờ), Thầy - Cô được gọi là Giáo Sư - một cách gọi trân trọng, không phải học hàm như bây giờ nhiều người biết.

Mời đọc thêm: http://www.diendantheky.net/2010/07/oc-sach-hai-muoi-nam-mien-nam-1955-1975.html

[*]
Về Đầu Trang Go down
vnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Sat Jun 14, 2014 6:56 pm


Người Buôn Gió: "Cộng Hòa giữ nước tốt hơn Cộng Sản"



Phóng viên Hà Giang của Người Việt TV phỏng vấn Blogger Người Buôn Gió (Bùi Thanh Hiếu) nhân dịp anh đến California.


Về Đầu Trang Go down
vnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Mon Jun 16, 2014 3:22 pm


Người giữ nước VNCH bị kẻ bán nước VC goi là ngụy!!


Người giữ nước - kẻ bán nước




Bạn đọc Danlambao - Ảnh trái là sắc lệnh 174-NV do cố Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, ông Ngô Đình Diệm ký ngày 13/7/1961 nêu rõ: "đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy danh hiệu là xã Định Hải trực thuộc quận Hòa Vang".

Ảnh bên phải là bức công hàm của cố thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958, ghi: "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc" và "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc".

Không cần phải phân tích dông dài, chỉ cần đọc và so sánh 2 văn bản trên, một người dân lao động ít học như tôi cũng đủ thấy rõ ai là kẻ bán nước, ai là người giữ nước.

Một chế độ yêu nước và giữ nước như Việt Nam Cộng Hòa dứt khoát không thể là 'ngụy', tôi gọi đó là Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Một chế độ bán nước như Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa dứt khoát là ngụy, tôi gọi đó là bọn ngụy quyền cộng sản Ba Đình hay tập đoàn tà quyền Việt gian bán nước.


Bạn đọc Danlambao
danlambaovn.blogspot.com















Về Đầu Trang Go down
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Wed Oct 01, 2014 4:12 pm

Trong khi VNCH quyết chiến giữ Hòang sa thì "lãnh đạo cấp cao" VC tiếp tay TC đánh chiếm Gạc Ma!!! Mad

Thủ phạm tiếp tay TQ đánh chiếm Gạc Ma là ‘lãnh đạo cấp cao’


 
Video: Tướng Lương chua chát tiết lộ thủ phạm tiếp tay Trung Quốc đánh chiếm Gạc Ma, sát hại 64 chiến sỹ hải quân Việt Nam năm 1988

CTV Danlambao - Thiếu tướng quân đội Lê Mã Lương gián tiếp tiết lộ thủ phạm tiếp tay cho Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma của Việt Nam chính là ‘đồng chí lãnh đạo cấp cao’.

Theo tướng Lương, trước khi xảy ra trận Hải chiến Trường Sa năm 1988, quân đội Việt Nam đã phải phải nhận lệnh ‘không được nổ súng’ trong trường hợp Trung Quốc đánh chiếm Gạc Ma hay bất kỳ một đảo nào ở Trường Sa.

Hậu quả là ngày 14/3/1988, hải quân Trung Quốc dễ dàng đánh chiếm đảo Gạc Ma và ra tay thảm sát 64 người lính hải quân Việt Nam chỉ sau một trận chiến ngắn.

Hiện nay, Trung Quốc đang ráo riết xây sân bay quân sự trên đảo Gạc Ma, biến nơi này thành một tiền đồn uy hiếp toàn bộ khu vực miền Nam của Việt Nam.

Ai ra lệnh không được nổ súng?



Đại tướng Lê Đức Anh

Mặc dù tướng Lương không nêu tên đích danh, nhưng ai cũng hiểu ‘đồng chí lãnh đạo cấp cao’ là để ám chỉ ông Lê Đức Anh, khi ấy đang giữ chức bộ trưởng bộ quốc phòng.

Đại tướng Lê Đức Anh là người duy nhất trong bộ chính trị CS vào năm 1988 có đủ quyền lực để ra lệnh cho quân đội Việt Nam không được nổ súng.

Theo tướng Lương, trong một cuộc họp của bộ chính trị diễn ra sau đó, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã đập bàn chất vấn: Ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?

Theo các tài liệu đã được tiết lộ một phần, sau trận Hải chiến Trường Sa năm 1988, đại tướng Lê Đức Anh đã ‘đi đêm’ với Trung Quốc, dẫn tới kết quả là Hội Nghị Thành Đô diễn ra vào năm 1990.

Phía Trung Cộng áp lực CSVN phải loại bỏ bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch vì quan điểm chống Trung Quốc của ông này.

Bộ chính trị CSVN đã chấp nhận các yêu cầu của Trung Cộng ‘để bình thường hóa quan hệ’. Vài tháng sau, ông Nguyễn Cơ Thạch bị gạt bỏ mọi quyền lực. Còn đại tướng Lê Đức Anh chỉ 2 năm sau lên làm chủ tịch nước.

Hiện nay, dù đã về hưu nhưng đại tướng Lê Đức Anh vẫn là một thế lực đáng sợ trong giới chóp bu Ba Đình. Nhân vật này là người đỡ đầu quyền lực cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, còn con trai ông Anh là Lê Mạnh Hà đang giữ chức phó chủ tịch ủy ban nhân dân TP.HCM.

Nỗi đau người lính


Tướng Lê Mã Lương

Thiếu tướng Lê Mã Lương là cựu giám đốc bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Từng tham chiến trong cuộc chiến tranh Việt Nam, chiến tranh biên giới Việt - Trung.

Ông được phong làm anh hùng lực lượng vũ trang ở tuổi 21. Theo sách vở cộng sản, tướng Lương là người nổi tiếng với câu nói: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”.

Phát biểu của tướng Lê Mã Lương được đưa ra hôm 14/6/2014 tại hội thảo Minh Triết Biển Đông. Video phần phát biểu đã được báo Pháp Luật Việt Nam ghi lại.

Trong video, có thể thấy vị tướng này tỏ ra rất xúc động khi nói về trận Hải chiến Trường năm 1988. Có những đoạn, dường như ông phải cố gắng kiềm chế để tránh nói ra hết những hiểu biết của mình.

Về câu hỏi vì sao Trung Quốc chỉ tập trung đánh chiếm Gạc Ma, tướng Lương thuật lại lời đô đốc Giáp Văn Cương - người đứng đầu hải quân Việt Nam năm 1988 nói:

“Nó chỉ có thể lấy được Gạc Ma. Còn những đảo khác, nếu lấy thì vấn đề không phải như thế... không còn là câu chuyện của 64 chiến sỹ hy sinh và 3 tàu của chúng ta chìm dưới biển như thế”.

Tướng Lương giải thích tiếp:

“Bởi vì câu chuyện như thế này, có đồng chí lãnh đạo cấp cao đã lệnh là bộ đội ta không được nổ súng nếu như [Trung Quốc] đánh chiếm đảo Gạc Ma hay bất kỳ một đảo nào ở Trường Sa.

Không được nổ súng!

Và sau này có một câu chuyện và tài liệu đã rõ rồi. Cho nên trong một cuộc họp của bộ chính trị, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đã đập bàn và nói: Ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?

Chính vì thế khi Trung Quốc tấn công vào đảo Gạc Ma, nó chỉ có hơn 40 lính với mấy cái xuồng bằng hợp kim nhôm đổ bộ vào. Trong khi bộ đội ta, trong đấy có một người sau này được truy tặng anh hùng là thiếu úy Trần Văn Phương chỉ có mỗi tay không và giữ chặt lá cờ trên đảo Gạc Ma. Không có súng.

Và rồi lính Trung Quốc bắn, nó đâm. Nó đâm hạ sỹ Nguyễn Văn Lanh nhiều nhát trọng thương. Anh em cứ quần lộn với lính Trung Quốc như vậy...

Nó vừa chiếm được đảo Gạc Ma sau đó nó chuyển hướng, nó bắn tàu 505, 604, 605.”



Tàu HQ-604 của hải quân Việt Nam hứng chịu đạn pháo dữ dội của lính Trung Cộng và chìm dần xuống biển.

Theo tướng Lương, lệnh không được nổ súng cộng với sự chênh lệch lực lượng và khí giới đã khiến cho Trung Quốc dễ dàng đánh chiếm đảo Gạc Ma, 64 người lính hải quân Việt Nam hy sinh trên biển. Vị tướng này chua xót nói:

“Đứng về góc độ người lính, đây là nỗi đau không chỉ của người lính hải quân mà cả người lính quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong lịch sử hải quân Việt Nam, chưa có trận nào mà chỉ có mấy phút thôi mà hải quân ta chết đến hơn nửa đại đội. Lịch sử của các đơn vị chiến đấu bộ binh cũng thế, làm gì có mấy phút mà ‘đi’ như thế... trong đánh nhau, ta cũng trong thế chủ động thì không có chuyện đó.

Đó là nỗi đau, mà nỗi đau này nó âm ỷ và sẽ đi cùng người lính cho đến khi kết thúc sứ mệnh trên mảnh đất này.”

Trong phát biểu của tướng Lương, có một phần mà đoạn video đã không ghi lại.

Đó là câu chuyện dưới thời TBT Nông Đức Mạnh, một quan chức ngoại giao đã đề nghị nhà nước nên yêu cầu Trung Quốc để phía Việt Nam được đến Gạc Ma trục vớt 3 chiếc tàu bị bắn chìm cùng 61 thi thể các chiến sỹ hy sinh trên biển.

TBT Nông Đức Mạnh nghe xong liền nói: “Có nên làm việc đó không? Cứ để họ nằm đó cũng đã làm sao"

CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Sun Mar 15, 2015 9:10 pm



Hy sinh anh dũng hay cái chết bi thảm của những con tốt bị đem ra thí mạng?




Vũ Đông Hà (Danlambao) - Những người lính Việt Nam chưa từng có cơ hội được hy sinh lẫm liệt và anh hùng tại đảo Gạc Ma. Họ đã bị hãm hại bởi chính tên chỉ huy cao nhất của họ, bởi chính sách hèn với giặc, ác với dân, sẵn sàng thí quân của toàn bộ lãnh đạo đảng CSVN. Họ đã chết trong bi thảm, uất ức. Họ đã chết như những con chốt, những món hàng đổi chát, những phương tiện chính trị biết nói, biết đi, biết thở và... biết chết như hàng trăm ngàn thanh niên thiếu nữ trước họ và sau họ phải chết. Họ chết vì bị dán nhãn đặt tên "Quân Đội Nhân Dân Việt Nam", là một công cụ của đảng cai trị và chưa bao giờ thực sự được chiến đấu cho khát vọng và ý nguyện của nhân dân Việt Nam...



64 người lính Việt Nam đã chết ở Gạc Ma dưới những lằn đạn của Tàu Cộng. Bộ trưởng quốc phòng Lê Đức Anh của đảng cộng sản ra lệnh họ không được nổ súng bắn trả. 64 người lính này đã bị tước đoạt quyền chiến đấu, bị cướp mất cơ hội đứng lên và hy sinh anh dũng để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Họ đã chết bi thảm như là những con tốt lót đường cho con đường hoạn lộ và tham vọng quyền lực cá nhân của toàn bộ lãnh đạo đảng CSVN.

Nhưng không phải chỉ có 64 thanh niên Việt Nam là những con tốt thí. Chẳng phải chỉ một mình Lê Đức Anh là thủ phạm của những cái chết bi thảm. Không phải chỉ Gạc Ma mà đã từng dọc Trường Sơn, khắp núi rừng Việt Bắc, xuyên suốt qua gần thế kỷ, cả triệu người dân Việt Nam đã phải chết tức tưởi, đã bị bọc xác bằng bao bố mang nhãn hiệu anh hùng, bị đóng nắp quan tài bằng những cây đinh mang tên cách mạng giải phóng, bị khắc lên bia mộ 2 chữ liệt sĩ đứng trước tên. Tất cả chỉ là những thi thể làm nên con đường mang tên Xác Chết dài hơn nữa thế kỷ cây số để cho những tên cộng sản từ đầu đời đến cuối đời dẫm lên và tiến bước thực hiện mộng bá vương cùng sự nghiệp làm nô lệ cho chủ nghĩa lẫn những thế lực cộng sản quốc tế.

Nhân danh giải phóng miền Nam, thực hiện nghĩa vụ đánh Mỹ là đánh cho Tàu cho Nga, đảng cộng sản đã đẩy hàng trăm ngàn thanh niên, thiếu nữ miền Bắc từ nghèo khó, khổ cực, tang thương vào chỗ chết ở miền Nam trù phú, trên đà phát triển và xây dựng tự do. Họ chết nhưng mắt mở trừng trong tiếc nuối là chưa giải phóng được đồng bào miền Nam thân thương đang đói, đang khát, đang bị sống đời của súc vật dưới sự tàn bạo của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai nguỵ quyền!

Để bám vào Nga và bỏ Tàu, đảng CSVN đã tiến hành cuộc chiến xâm lược Campuchia. Hàng hàng lớp lớp thanh niên Việt Nam, bây giờ cả miền Nam lẫn miền Bắc, đã vui chôn thân xác nơi chốn rừng sâu nước độc vì sự nghiệp thống trị Đông Dương của đảng sau khi đất nước đã hoà bình, thống nhất.



Những cái chết của họ là những cái chết bi thảm vì những tham vọng và ý đồ chính trị phục vụ cho một đảng cai trị.


Phải chọn Xô Viết là đồng minh duy nhất để moi tiền viện trợ, đảng CSVN đã phản bội tên đồng chí bên kia bên giới là nhà và đã nhận lãnh một bài học từ "người anh em" Đặng Tiểu Bình, từ cha con của "di sản hữu nghị đời đời quý báu phải để lại cho thế hệ Việt Nam mai sau". Một lần nữa hàng ngàn thanh niên thiếu nữ Việt Nam đã vĩnh biệt cha mẹ già, anh em, bạn bè, người yêu và cuộc sống đang nở rộ ở tuổi thanh xuân để chôn thây trên núi rừng Việt Bắc.

Những cái chết của họ là những cái chết bi thảm vì những đấu đá phe phái trong bàn cờ cộng sản thế giới mà đảng csvn là một con cờ.



Để quay đầu lại với thiên triều Bắc Kinh, để tiếp tục kiếm tiền và giữ quyền sau khi túi hầu bao Liên Xô bị bốc khói, Lê Đức Anh và bè lũ tay sai cúi đầu, cong lưng ký mật ước Thành Đô và mở ra thời kỳ Bắc thuộc mới. Hôm nào Lê Đức Anh ra lệnh cho 64 người lính Việt Nam buông súng và trở thành những tấm bia người để bảo vệ tinh thần Thành Đô; ngày nay Phùng Quang Thanh lo lắng nhân dân Việt Nam có khuynh hướng chống Tàu và lên tiếng cảnh báo để bảo vệ và tiếp tục con đường Thành Đô bán nước. Cả 2 tên Bộ trưởng quốc phòng này là hình ảnh rõ ràng nhất của một chế độ phản quốc, sẵn sàng gửi hàng trăm ngàn công dân VN ra làm bia thịt cho bạn của chúng nhưng là kẻ thù của dân tộc. Và sau lưng 2 tên này là toàn bộ lãnh đạo đảng CSVN - từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng với công hàm bán nước cho đến tập đoàn lãnh đạo hôm nay. Từ đầu đời cho đến cuối đời không sót một vương triều cộng sản nào.

Dưới sự "lãnh đạo" của tập đoàn bán nước và những tên chỉ huy quân đội tối cao mang thẻ đảng này, người lính Việt Nam chỉ có một cơ hội duy nhất: lãnh đạn.

Những người lính Việt Nam chưa từng có cơ hội được hy sinh lẫm liệt và anh hùng tại đảo Gạc Ma. Họ đã bị hãm hại bởi chính tên chỉ huy cao nhất của họ, bởi chính sách hèn với giặc, ác với dân, sẵn sàng thí quân của toàn bộ lãnh đạo đảng CSVN. Họ đã chết trong bi thảm, uất ức. Họ đã chết như những con chốt, những món hàng đổi chát, những phương tiện chính trị biết nói, biết đi, biết thở và... biết chết như hàng trăm ngàn thanh niên thiếu nữ trước họ và sau họ phải chết. Họ chết vì bị dán nhãn đặt tên "Quân Đội Nhân Dân Việt Nam", là một công cụ của đảng cai trị và chưa bao giờ thực sự được chiến đấu cho khát vọng và ý nguyện của nhân dân Việt Nam.

Vũ Đông Hà
danlambaovn.blogspot.com



Về Đầu Trang Go down
vietngo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Wed Apr 29, 2015 10:22 am


Ngụy quân, ngụy quyền, tay sai, bán nước: là kẻ nào?




Nhóm Nhà Giáo Miền Nam (Danlambao) - Vào những ngày cuối tháng tư năm nay, khác hơn những năm cũ, vì nhà nước CS chủ trương mừng “40 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước” với những chương trình khoa trương tự ca ngợi “chiến thắng” trong việc cướp được miền Nam và thu về rất nhiều “chiến lợi phẩm”, nhất là nhờ đó họ được “đổi đời”, từ “vô sản chuyên chính” khố rách áo ôm lên thành những “tư bản đỏ” sở hữu hàng tỷ đô la!

Để đối lại thì người dân VN trong và ngoài nước cũng tổ chức kỷ niệm 40 năm ngày Quốc Hận mất nước trọn vẹn vào tay CS, với những bài viết và những hình ảnh thật bi hùng, kèm theo còn có sự đóng góp bài viết lẫn phim ảnh của ngước ngoài về những ngày miền Nam bị rơi vào tay CS, chấm dứt một chế độ Cộng Hòa đầy nhân bản và văn minh, để đi vào cuộc sống tù đầy bất hạnh cho cả nước! Chúng tôi đã không thể cầm nổi nước mắt khi nhìn những video, những hình ảnh về “những ngày cuối cùng của VNCH” trên internet! Nhiều nơi quân đội vẫn chiến đấu, dù đã có lệnh đầu hàng giặc từ tên “tổng thống 3 ngày” Dương Văn Minh! Nhiều hình ảnh cho thấy chỉ còn vài người lính VNCH với súng trên tay, dù đã tan ngũ, vẫn đứng lại trên đường để bảo vệ an ninh trật tự cho đồng bào di tản chạy CS, hay người lính còn trơ tụi một mình trên đường mà vẫn chạy lại băng bó vết thương cho một em bé bị trúng đạn pháo của CS, mà không sợ nguy hiểm cho chính thân mình khi giặc vào! Điều gì làm nên những sự việc anh hùng và hy sinh cao cả ấy, nếu không phải là tinh thần trách nhiệm, vì nước quên thân, vì dân phục vụ?! Chúng tôi phải bật khóc và kêu lên: “Ôi Thượng Đế! Sao để cho chúng con phải mất nước thế này? Sao những chiến sĩ oại hùng lại phải thua lũ giặc tàn bạo? Sao những con người tử tế lại phải bị thua kẻ tham tàn bất nhân? Sao kẻ lành lại bị thua kẻ dữ, sự văn minh lại thua sự lạc hậu? Sao những người con trung kiên của Tổ Quốc lại phải buông súng đầu hàng quân bán nước hại dân? Sao chính nghĩa lại thua phi nghĩa bạo tàn?!



Chúng tôi cũng đọc nhiều bài nói về các vị tướng lãnh VNCH sau khi nghe lệnh đầu hàng của tên tướng phản chủ phản quốc DVM, đã giải tán binh sĩ dưới quyền mình để họ trở về với gia đình lo số phận riêng, rồi vào phòng riêng dùng súng tự sát đền nợ nước, vì không giữ vững được non sông, như tướng Lê Văn Hưng, hay một vị sĩ quan cao cấp của VNCH mặc nguyên bộ quân phục đến trước đài chiến sĩ tự bắn vào đầu, và nằm ngay giữa trung tâm thành phố Sài Gòn, thà chết vinh hơn sống nhục! Và còn rất nhiều vị tướng tá, binh sĩ VNCH đã tuẫn tiết khi quân Cộng tràn vào!

Chúng ta cũng từng biết Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm, vì từ chối cho quân đội Mỹ vào VN trực tiếp tham chiến chống Cộng, mà bị giết bởi cả đồng minh liên kết với giặc! Chúng tôi cũng đọc được tài liệu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của nền đệ nhị Cộng Hòa đã bác bỏ đề nghị của Mỹ, không ký hiệp định Ba Lê giảng hòa với VC, dù bị tổng thống Nixon của Mỹ hăm dọa nếu không ký sẽ chết như TT của nền đệ nhất Cộng Hòa Ngô Đình Diệm. TT Nguyễn Văn Thiệu đã khảng khái trả lời người Mỹ: “ thà chết ngay còn hơn chết dần, khi thỏa hiệp với CS”!

Ấy thế mà quân CS cướp nước, bán nước lại cứ ra rả chửi họ là “ngụy quân, ngụy quyền, tay sai đế quốc Mỹ, bán nước”!

Về phía quân đội VNCH, ai trong chúng ta cũng biết năm 1974, khi Mỹ bỏ rơi đồng minh VNCH, Tàu Cộng đã đem quân đánh chiếm đảo Hoàng Sa của miền Nam, lúc đó dù tàu chiến, vũ khí của ta so với Tàu cộng rất thua kém, nhưng tinh thần anh dũng bảo vệ non sông của chiến sĩ ta thì vô cùng cao vợi, đã không ngần ngại khai pháo trước, đánh đắm chiến hạm lớn của Tàu, và sau đó 74 chiến sĩ anh hùng của ta đã hy sinh đền nợ nước trong cuộc xâm lăng đầu tiên ấy của bọn CS Tàu!



Hãy đem những hình ảnh ấy so với bọn CS bây giờ: cả một chính quyền từ chóp bu cho đến tép riu, sợ Tàu còn hơn sợ cọp, trước dân thì như quỷ dữ, nhưng trước thằng chệt lớn bé chúng cũng khúm núm sợ sệt hơn cả sợ ông tổ. Cả bọn lãnh đạo riu ríu khăn gói lũ lượt qua Tàu triều bái và nhận lệnh. Chúng đạp lên đầu, chúng coi như chó, nhưng có tên VC nào dám cãi, dám phản kháng không? Chúng bảo dâng đất thì dâng đất, chúng bảo dâng biển đảo thì dâng biển đảo. Chúng ra lệnh về cấm dân biểu tình chống Tàu thì về hùng hục đánh dân, bắt dân, hành hạ dân không hề nương tay. Những tên chóp bu như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng… còn rước giặc vào nhà, giao những điểm trọng yếu như cảng Vũng Áng, Đèo Hải Vân, vùng Tây Nguyên, Đà Nẵng, Bình Dương… cho giặc lập căn cứ quân sự, núp dưới hình thức khai thác, kinh doanh... Tên tướng VC Phùng quang lợn còn e sợ dân “chống TQ”! Trước việc giặc Tàu xâm phạm hải phận VN, tên lợn lòi này còn nói chỉ là “xung đột giữa anh em trong nhà”! Và cả bọn chóp bu lo bảo vệ những đống phân, những chùm thuốc nổ, những chùm bom “4 tốt mười sáu chữ vàng” mà quan thày Tàu giao cho chúng về ủ sẵn trong lòng dân để chờ ngày nổ banh thây cái dân tộc VN này ra, mà chúng cũng cúc cung bái lạy và răm rắp thi hành. Sau khi giàn khoan HD 981 của quân Tàu cướp nước xông vào hải phận VN, quân đội cũng như chính quyền CS câm như hến, bất động, và để cho ngư dân bị bọn phỉ Tàu cộng bắt bớ sát hại, mà bọn chết tiệt này chỉ ba hoa vớ vẩn phản đối miệng, đến nỗi người ngư dân phải nhờ quân đội Hoa Kỳ trợ giúp để bám biển mà sống, mà bảo vệ chủ quyền đất nước! Người Việt trong và ngoài nước lên tiếng phản đối xâm lăng Tàu cộng, và yêu cầu kiện kẻ cướp nước ra tòa án quốc tế như Philippines đã làm, thì chúng lờ đi. Đất nước nay chỗ này mọc lên làng Tàu, mai chỗ kia xuất hiện tỉnh Tàu, mà CS cứ im lặng cỏng rắn cắn gà nhà, phải chăng chúng đang thực hiện mật ước Thành Đô mà tên tổng bí thư CS gian hùng Nguyễn Văn Linh, cùng tên hoạn lợn Đỗ Mười, lê Đức Anh mặt hà mã… đã ký xin sáp nhập VN làm quận huyện của Tàu, sau khi CS Liên Xô và Đông Âu ngả rạp hàng loạt, bọn VC này đã vội bám đít Tàu để tồn tại mà cướp bóc dân, mà phân thây xẻ xác đất nước VN chúng ta?



AI? AI THỰC SỰ LÀ NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN? AI LÀ KẺ TAY SAI ĐẾ QUỐC NGA TÀU? AI LÀ KẺ BÁN NƯỚC HẠI DÂN? NGOÀI CS CÒN AI KHÁC NỮA!


Trong khi miền Nam lo bảo vệ nền độc lập của Tổ Quốc đến cùng, trong khi các vị lãnh đạo của miền Nam khảng khái khước từ sự đổ quân ngoại quốc vào đất nước, cương quyết thà chết ngay hơn là phải chết dần bằng cách nghe theo Mỹ mà ký thỏa ước với quân gian VC, trong khi các chiến sĩ VNCH đã sẵn sàng hy sinh xương máu bảo vệ Tổ Quốc, thì quân Cộng lại dâng đất, dâng biển cho giặc, tự nguyện làm tay sai cho giặc để hại dân bán nước, rành rành như ban ngày, mà chúng con trắng trợn trân tráo gắp lửa bỏ tay người! Chủ thuyết TAM VÔ CỦA CS: VÔ GIA ĐÌNH, VÔ TỔ QUỐC, VÔ TÔN GIÁO, là BẢN CHẤT, LÀ ĐƯỜNG LỐI, LÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA CS rồi, thì làm sao mà chúng yêu nước thương nòi? Việc chúng nói bảo vệ tổ quốc, lo cho dân chỉ là nói gian, nói lừa, là mị dân để chúng tồn tại mà đè đầu bóc lột người dân mà thôi! Không ai đổ tội cho chúng đâu, mà tự hành động của chúng đã xác nhận như vậy.

“ĐỪNG NGHE CS NÓI, MÀ HÃY NHÌN NHỮNG GÌ CS LÀM”
, bà con nghe rõ lời TT Thiệu đã nói.

Nhưng tất cả những điều nêu trên đều không đáng là gì so với những tin động trời được tung ra sát dịp 30 tháng tư năm 2015, khiến toàn dân ngã bật ngửa, và đảng CS thì phá sản, đó là những tin 16 tấn vàng của VNCH mà chúng rêu rao là TT Thiệu mang ra nước ngoài, cộng với gần 30 tấn vàng mà VC đã vơ vét của dân miền Nam sau 1975, chưa kể các tiền bạc tài sản khác, chúng đã đem dâng cho Liên Xô, báo Tuổi Trẻ của CS đã đăng tin mới đây. Và khủng khiếp nhất là tin Hồ Chí Minh cha già của VC, chính là tên Tàu Hồ Quang, hay Hồ Tập Chương, là tên trung tá tình báo của Hoa Nam, được Mao Trạch Đông gài vào VN để thôn tính nước ta! Sau khi báo chí Tàu tung tin, nay tài liệu lưu trữ của CSVN cũng đã xác nhận điều ấy. Sự hệ trọng này chắc chắn bọn chóp bu CSVN đã biết rất rõ, nhưng chúng cố tình lừa dối dân ta hàng bao chục năm nay, để đưa dân tộc ta vào cũi sắt của Tàu Cộng! Thế có nghĩa là CSVN là kẻ xâm lăng, và là tay sai của Tàu Cộng, và 80 năm nay, đảng này đã cướp nước, đã đô hộ dân ta, còn hà khắc và khốn nạn hơn cả thực dân Pháp! Chính HCM khi vừa đặt chân vào VN đã kêu gọi đảng CS mau đưa nước ta sáp nhập vào Tàu, còn tên Trường Chinh thì kêu gọi dân theo Tàu, chống y học và tư tưởng Tây phương. Cũng chính tên Hồ tặc này đã ra lệnh cho tên thủ thướng CS Phạm Văn Đồng ký xác nhận các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ VNCH là của Tàu năm 1958. Bọn bán nước này còn giải thích với đồng đảng là “thà để cho Trung quốc anh em còn hơn để cho bọn ngụy”! Không còn gì để nói, để biện bạch nữa nhé, hỡi quân cướp nước CS, quân nô lệ tay sai của giặc Tàu, quân phản quốc, quân rước voi về dày mả tổ, quân phá hoại tiền đồ của cha ông!

Có nói bao nhiêu cũng không hết tội ác giết dân bán nước, lừa đảo, hung tàn, khát máu của CS! Chỉ còn một trách nhiệm chung của người dân Việt, là MAU ĐÀO THẢI CS RA KHỎI ĐẤT NƯỚC, ĐỂ DÀNH LẠI ĐỘC LẬP, TỰ DO, NHÂN QUYỀN CHO DÂN TỘC VIỆT, VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC THÂN YÊU CHO TA VÀ CON CHÁU TA MUÔN THẾ HỆ SAU! Đó là nghĩa vụ, là trọng trách của mỗi người dân Việt trong cũng như ngoài nước, phải mau mau thực hiện cho tròn nhiệm vụ tối hệ trọng này, để không mắc lỗi với Tiền Nhân đã xây dựng và bảo vệ giang sơn này bằng bao nhiêu xương máu, và để lại cho chúng ta! Ngày 30 tháng tư năm 2015 này đã là 40 năm của nỗi đau, nỗi tủi nhục, là sự chia ly tan tác của người dân miền Nam tự do! Không còn thể để lâu hơn nữa, hãy gọi các người con VN từ muôn phương trở về mái ấm Tiên Rồng, cùng xây dựng lại tiền đồ Tổ Quốc, sau khi chúng ta đã nỗ lực xóa bỏ cái nhà tù CS trên quê hương đã kéo dài hơn 2/3 thế kỷ!

Nhóm Nhà Giáo Miền Nam
danlambaovn.blogspot.com
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 215
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Mon Jan 18, 2016 7:14 pm



42 năm - Xin lỗi và Ghi ơn

Paulus Lê Sơn (Danlambao) - Ngày này cách đây 42 năm đã xảy ra một trận chiến đẹp nhất trong những trận chiến từ sau 45 đến 75. Trận chiến đúng nghĩa của những anh hùng dân tộc đánh đuổi và bảo vệ biên cương, biển đảo của Tổ quốc. Ngày 19.01.1974, 74 sĩ tử đã hiên ngang, oanh liệt mà chiến đấu với quân thù Trung Quốc, và chính ngày hôm ấy các anh đã phơi mình nơi xa trận để non nước vẹn toàn.

Chúng tôi là những người trai trẻ của thế hệ sau các anh. Một lời xin lỗi tới vong linh các anh và gia đình các anh tự đáy lòng vì một nỗi; chúng tôi đã không biết gì về sự hy sinh lớn lao của các anh dành cho dân tộc và tổ quốc Việt Nam.

Chúng tôi không muốn đưa ra lý do để biện minh cho sự ‘’không biết’’ này về các anh. Nhưng phải nói, phải nói cho cụ thể. Thế hệ 8X như chúng tôi đây, học dưới mái trường XHCN. Họ nhồi nhét cho chúng tôi về những "trận chiến oanh liệt, hào hùng và vẻ vang của người cộng sản Bắc Việt chiến thắng ‘ngụy quân, ngụy quyền’". Họ nói về VNCH như là một sản phẩm của Hoa Kỳ, rất man rợ và tàn ác đối với nhân dân và dân tộc?.

Trong lịch sử chế độ XHCN đã ghim vào đầu chúng tôi được biết đến các anh như là bán nước, phản động, theo Mỹ. Họ ca ngợi Trung Quốc, Liên Xô, những người anh em XHCN đã trợ giúp cho họ đầy đủ quân lực nhu yếu phẩm trong cuộc chiến Bắc-Nam.

Họ đã nhồi sọ chúng tôi về tư tưởng Mác-Lê, đạo đức Hồ Chí Minh trong suốt phân nửa thời gian chúng tôi cắp sách tới trường từ mẫu giáo cho tới đại học. Thử hỏi, chúng tôi sẽ biết gì về các anh, về VNCH là một chính thể, một quốc gia và thế giới bên ngoài?

Họ không hề nói gì đến các cuộc chiến chống quân Trung Quốc mà điển hình như trận hải chiến năm 1974 các anh đã tưới máu cho đất Mẹ thêm nồng nàn tình yêu. Chúng tôi không biết về các anh đơn giản vì các anh là sĩ quan trong quân lực VNCH, và vì Trung Quốc là đồng chí tốt với thể chế cộng sản.

Anh linh các anh khôn thiêng chắc hiểu thấy chúng tôi tội nghiệp lắm? Chúng tôi giống như những sinh vật sống trong khung cửi của chủ nhân mà không biết gì về bên ngoài.

May mắn thay, nhờ Internet, nhờ Facebook, mạng xã hội. Chúng tôi biết có 74 anh hùng của dân tộc đã chết cho tổ quốc.

Trong suốt hơn 40 năm qua, các anh không được cái xã hội này, đất nước này dưới sự cai trị của cộng sản quan tâm. Một phần lỗi lớn do chính chúng tôi. Vì chúng tôi đang làm chủ đất nước này nhưng lại quá hèn nhát, quá sợ hãi, quá nhu nhược không dám lên tiếng để tri ân và ghi ơn các anh cùng thân nhân các anh.

Giờ đây, hiện tại những ngày tháng này, chúng tôi nhận thấy các anh trong dòng máu người Việt yêu nước, nhưng than ôi! để tỏ bày lòng thành kính, lời xin lỗi muộn màng cùng sự ghi ơn vội vã của những con người có thiện chí từ Bắc vào Nam mà họ đã chịu biết bao nguy hiểm.



Một đoàn người từ Sài Gòn còn sống về biển với một đoàn người đã chết nhưng đã bị chặn, bị cấm. Lẵng hoa gởi nơi xa các anh đang nằm đó nhưng lại bị nhà Quan phá nát. Nhà Quan nói với đoàn người còn sống đến tưởng niệm các anh hùng dân tộc bằng một câu ráo hoảnh, quyền lực mà thất đức với người chết cũng như kẻ còn sống. “Đây là chỉ thị của cấp trên xuống cho chúng tôi cấm các anh không được lên đây”. Vũng Tàu, hoa nát hương tàn, xót xa và tủi nhục cho kẻ còn sống cũng như người đã chết.

Không vì thế mà chúng tôi chùn bước, dù giặc thù mưu mô chước quỉ, chúng tôi vẫn tiến lên và ghi ơn các anh hùng nghĩa sĩ, chúng tôi trọn một lòng cho đất nước dân tộc như khi xưa các anh đã từng sống và từng chết cho quê hương.

Hồn thiêng sông núi tựa như nén hương lòng, nén hương lòng của tình yêu đất nước được khơi gợi từ cái chết anh dũng của các anh đã, đang âm ỉ và bùng cháy trong mỗi người thanh niên Việt Nam. Và họ đang biến nó thành hành động. Chống Trung Quốc diễn ra khắp nơi, từ Bắc chí Nam từ đông sang tây, từ già đến trẻ, nam thanh nữ tú. Hy vọng những điều chúng tôi đang làm là để ghi ơn sự hy sinh của các anh.

Trước vong linh của các anh, chúng tôi, những người dân Việt Nam nguyện từ bỏ cả tính mạng như các anh để gìn giữ từng tấc đất mà mà cha ông để lại nếu quân thù hoặc tay sai của quân thù muốn xâm phạm.

Một phút Tưởng niệm 74 anh hùng Tử sĩ Hoàng Sa 19.01.1974 để xin lỗi và ghi ơn, để lịch sử đất nước tạc trong tâm khảm những người dân Việt đã ngã xuống vì chủ quyền biển đảo, để chạm đến tình cảm thiêng liêng nhất của người Việt Nam.

19.01.2016

Paulus Lê Sơn
danlambaovn.blogspot.com

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 231
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Fri Jan 22, 2016 3:38 pm



Xin cứ gọi anh bằng Ngụy

Trước khi “lý giải” tại sao mình “Xin cứ gọi anh bằng Ngụy”, thiết tưởng cũng cần “giải lý” ra đây động cơ nào khiến mình từng một thời đòi “xử lý” bọn lưu manh chuyên trò đánh lận con đen, vừa ngu dốt vì thiếu giáo dục tử tế, vừa hỗn láo do thói kiêu căng tự cao tự đại:

Chữ “Ngụy” có nguồn gốc Hán tự (偽) là một tính từ, có nghĩa đại khái là: giả, ảo, không thật, đồ dõm, không chính danh, bất hợp pháp...

Mình đang đường đường chính chính là một người lính trong Quân đội của Nước Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia có chủ quyền; các nhà lãnh đạo được người dân tự do lựa chọn qua phổ thông đầu phiếu, công khai, chứ không do một nhóm người đóng cửa ủm nhủm tranh giành nhau cái cột của “Tứ trụ” đang cố trụ bám lấy quyền lực cho băng đảng.

Mình cầm súng chống lại quân CS từ Miền Bắc vào xâm lăng nhưng quân này không dám nhận việc chúng làm, miệng luôn chối bai bải, bảo Mặt trận Giải phóng Miền Nam chúng dựng lên là do người Miền Nam nổi dậy chống Mỹ Diệm, chống Mỹ Thiệu, rồi đến chống Thiệu Kỳ, nhưng khi cuộc chiến kết thúc thì cờ Mặt trận bị “cuốn gói” cút mất tức thì và những người lâu nay được gọi là lãnh đạo mặt trận phải “đi chỗ khác chơi”.

Chiếm xong Miền Nam, tên đầu sỏ “Bên thắng cuộc” lại còn ngang nhiên đạp lên bàn thờ tổ tiên khi tuyên bố ”Ta đánh Miền Nam là đánh cho ông Liên Xô và ông Trung Quốc”. Chúng la oai oái rằng “Mỹ xâm lược”, nhưng chính chúng xâm lược Việt Nam Cộng hoà trước (manh nha từ 1954, chính thức 1960) rồi quân Mỹ mới đến sau (1964) với mục đích giúp đồng minh tự vệ.

Chỉ cần lấy vài chuyện như thế mà suy thì, ai là Ngụy ai là Ngay đã rõ như ban ngày. Ấy thế mà kẻ gian còn dám gọi người Ngay bằng “Ngụy”, có khác chi thằng ăn cướp, sau khi “đại thắng mùa xuân” toàn bộ tài sản của chủ nhà, nó còn chỉ vào mặt nạn nhân mà chửi mày là đồ kẻ cướp.

Chuyện kẻ gian thì nhiều vô kể nhưng cũng chẳng cần phải kê ra đây nữa, vì bọn chuyên gắp lửa bỏ tay người nay đã, nếu không tự làm bỏng tay mình trước, thì cũng bị người hất vào mặt cháy tèm lem cả bọn từ khuya rồi.

Mồm chửi Ngụy như điên, nhưng gặp thứ chi của Ngụy cũng vồ, kể cả vợ người ta cũng không chừa. “Nhà Ngụy ta ở, vợ Ngụy ta lấy, con Ngụy ta sai” là “nhật lệnh”” của Tướng CS Nguyễn Hộ đọc trước ba quân, ngay sau ngày chiếm được hoàn toàn Miền Nam, trong tiệc ăn mừng “Đại thắng Mùa Xuân” tổ chức tại Sài Gòn.

Một tên tướng cướp cũng không dám nói với đồng bọn những lời như thế. Huống chi...

Hèn chi Cắt Mạng đổi tên Sài Gòn ra Thành phố Hồ Chí Minh quang vinh. “Cũng đúng thôi”, vì Quang vinh của CSVN là thế đấy.




Thế mà nay mình lại thích được gọi là Ngụy, vì Ngụy Sài Gòn mà “Ngon” hơn Chính Hà Nội. Ngụy không Ngon mà mới vào đến “Sài Gòn Giải phóng”, chiến sĩ gái Bộ đội Cu Hồ Dương Thu Hương đã gục mặt nức nở bên vệ đường Lê Lợi bên mấy cuốn sách “văn hóa đồi trụy” và thốt lên lời đại khái “Văn Minh đã bị man rợ đánh thắng” (Xem “Chính Hà Nội” Dương Thu Hương trả lời phỏng vấn “Ngụy Sài Gòn” Đinh Quang Anh Thái).

Ngụy có Ngon, Nhạc Vàng (của Ngụy) mới đá tan hoang Nhạc Đỏ, như chẳng những tất thảy “Cháu ngoan bác Hồ” đang sinh hoạt trong Đoàn Thanh niên CS Hồ Chí Minh, mà bác nằm trong lăng cũng đã tỏ tường. Nghe nhạc Ngụy chưa đã, Cắt Mạng còn phải được thấy dân Ngụy hát mới hả dạ nên đã dùng đến 36 kiểu Nờ Cu tức NQ 9 Nút chiêu dụ; cũng dứt được đôi “ba con nhạn là đà”, hoặc gặp “Bà về bà đứng giữa Hà Nội bà hát nhạc Ngụy cho bỏ ghét”. Không gì “Ngon” bằng đứng đó mà hát nhạc Ngụy cho Cắt Mạng há mồm nuốt từng lời... Ngụy.

Những món Ngon của Ngụy mà Cắt Mạng thèm nhỏ giải thì nhiều, kể ra chỉ “xấu chàng hổ ai”, hổ cả mình: Ngụy ngon lành như vậy mà mình không giữ được, để Cắt Mạng vào làm họ mất công nhổ rồi nay lại liếm đồ Ngụy.

Nhưng hôm nay là Ngày 19/1/ 2016, bàn về Ngụy mà không nhớ đến anh Ngụy... Văn Thà cùng 73 chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng hoà đã anh dũng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc trong trận hải chiến chống lại quân Tàu đông gấp bội xâm lăng Hoàng Sa, cách đây đúng 42 năm về trước.

Trong khi đó, Cắt Mạng luôn luôn tự khoe và tự “phê” rằng, “quân ta vô địch anh hùng không ai bằng, đã đánh thắng hai đế quốc sừng sỏ nhất thế giới” để bảo vệ tổ quốc, nhưng khi quân Tàu kéo đến chiếm đảo Gạc Ma của ta vào ngày 14/3/1988 thì bộ đội hải quân ta bị cấm nổ súng chống lại; người ra lệnh cấm ấy là Bộ trưởng Quốc Phòng, Đại tướng Lê Đức Anh (*). Tuân lệnh cấp trên, quân ta dàn hàng ngang đứng đó làm mục tiêu cho giặc Tàu. Kết quả là 64 chiến sĩ hải quân Bộ đội Cụ Hồ “anh dũng hy sinh” đứng chịu trận để “chết đứng như Tù Hải”.

Quảng cáo thật ngon lành nhưng “hàng” mang nhãn hiệu Cắt Mạng khui ra toàn đồ “dõm”, trái với hàng made in Việt Nam Cộng Hòa bị Cắt Mạng bêu riếu gièm pha là hàng giả (“Ngụy”), nhưng khui ra, Cắt Mạng hú hồn hít hà hít ha trước hơn ai.

Con cháu quan lớn Cắt Mạng bây giờ đổ xô nhau du học Mỹ, đang “chạy đầy đường” để may ra kiếm được con cháu Ngụy mà gửi tấm thân trên đất Đế quốc đầu sõ. Cho “bỏ công” ông cha chúng đi làm Cách mạng Vô sản.

“Ngụy” mà “Ngon” như vậy đó; mình rất tự hào là “Ngụy” đây. Thế nên sau khi “thành khẩn khai báo” sơ qua tình hình giữa Cắt Mạng và Ngụy, mình tha thiết xin-cho, được:

Cứ gọi mình bằng “Ngụy”, còn hơn là gọi bằng tên cái thứ hàng mã kia nay đang phơi ra như một “đống” gi đó... “phải mưa”.

20.01.2016
Nguyễn Bá Chổi
danlambaovn.blogspot.com
_________________________________
Ghi chú:
(*) https://www.facebook.com/quoc.to.96/posts/10201608885823910



Tàu chiến Trung Quốc trực xạ bắn vào tàu vận tải công binh của Việt Nam khiến 64 chiến sĩ Hải quân VN đã hy sinh cùng với lệnh không được nổ súng...
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên Online
NTcalman



Posts : 231
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Sun Oct 30, 2016 10:27 pm




Khát vọng tự do, dân chủ, nhân quyền qua lá cờ vàng ba sọc đỏ

Lê Dủ Chân (Danlambao) - Trong thời gian gần đây, càng ngày có càng nhiều bạn trẻ ở trong nước công khai biểu lộ tâm tư, tình cảm quý trọng của mình đối với lá cờ vàng ba sọc đỏ, cờ của Quốc Gia Việt Nam từ năm 1948 đến năm 1955 và của Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1955 đến năm 1975.

Những bạn trẻ này là những người sinh sau đẻ muộn, họ là những người sinh ra và lớn lên tại miền Bắc Việt Nam, trưởng thành dưới sự tuyên truyền giáo dục của đảng cộng sản và nhà nước CHXHCNVN, họ không chứng kiến cuộc chiến tranh chống Pháp, không can dự vào 20 năm nội chiến Bắc Nam, khi họ trưởng thành thì các chính thể dưới lá cờ này đã không còn tồn tại.

Một câu hỏi cấp thiết đặt ra cho những người lãnh đạo quốc gia hôm nay và trong tương lai là: Tại sao tuổi trẻ Việt Nam hôm nay lại quý trọng và tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ biểu tượng cho chính thể mà trước đây và ngay cả hôm nay vẫn còn bị đảng cộng sản và nhà nước của nó xem là kẻ thù đối với chế độ hiện hành?

Cá nhân tôi thật vô cùng cảm động và kính phục khi tình cờ xem được hai video clips của các em Nguyễn Viết Dũng và các bạn, Hồng Thái Hoàng và các bạn trình bày những ưu tư và khác vọng của mình qua việc tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ. Cảm động và kính phục không phải vì các em đó "đứng về phe mình" mà vì tấm lòng của các em đó đối với tương lai của đất nước, của dân tộc, vì nhận thức cũng như sự dấn thân của các em đó trong trong hoàn cảnh, đều kiện hiện nay của xã hội các em đang sống.

Những người cộng sản Việt Nam, điển hình là đảng cộng sản và nhà nước của nó đã hoàn toàn sai lầm khi quy chụp các bạn trẻ ở trong nước và người Việt ở nước ngoài tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ là có mục đích dựng lại chính quyền cũ của VNCH đã giải thể cách đây hơn 40 năm!

Họ không biết hoặc cố tình không biết rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ không là biểu tượng cho chính quyền của vua Bảo Đại - Thủ Tướng Trần Trọng Kim, của Tổng Thống Ngô Đình Diệm hay của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mà lá cờ này biểu tượng cho một THỂ CHẾ do 17 triệu dân miền Nam Việt Nam đã lựa chọn qua trưng cầu dân ý, đó là thể chế của TỰ DO - DÂN CHỦ - NHÂN QUYỀN mang tên là Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hoà... Chính quyền do người dân lập ra dù do bất cứ ai lãnh đạo cũng chỉ là công cụ phục vụ dưới lá cờ biểu tượng cho thể chế mà họ đã lựa chọn.

Lá cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng của miền Bắc Việt Nam có một điểm chung là biểu tượng cho thể chế, cho chế độ. Ngoài điểm chung đó hai lá cờ này có những điểm khác biệt nếu không muốn nói là đối nghịch nhau, đơn cử như sau:

- Lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ do dân chọn lựa thông qua một một chính phủ do dân bầu ra hay ít nhất cũng phải qua một cuộc trưng cầu dân ý của toàn dân.

Lá cờ đỏ sao vàng là lá cờ do đảng cộng sản tự lựa chọn không thông qua ý kiến của nhân dân.

- Lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho một thể chế dân chủ lấy tự do, nhân quyền, bản sắc dân tộc làm nền tảng để lãnh đạo, quản lý đất nước, đặt quyền lợi của tổ quốc, của dân tộc trên hết và trước hết.

Lá cờ đỏ sao vàng biểu tượng cho một thể chế độc tài, độc đảng lấy tư tưởng ngoại lai Mác - Lenin làm nền tảng trị nước và đặt quyền lợi của đảng của giai cấp lên trên quyền lợi của tổ quốc và dân tộc.

- Lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho một thể chế đa nguyên chính trị, tự do tư tưởng. Dưới thể chế này mọi tầng lớp công dân không phân biệt chính kiến, tư tưởng, tín ngưỡng nếu có tài năng và đức độ đều có cơ hội tham gia vào chính quyền để lãnh đạo đất nước và quản lý xã hội.

Lá cờ đỏ sao vàng biểu tượng cho một chế độ độc tôn chính trị và độc quyền tư tưởng. Dưới chế độ này chỉ có những người tin theo tư tưởng Mác-Lenin, đảng viên đảng cộng sản mới được tham gia vào công việc lãnh đạo đất nước và quản lý xã hội.

- Lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho một thể chế trong đó nhân dân nắm quyền lực lựa chọn, thành lập hoặc thay đổi nhà cầm quyền theo ý nguyện của mình.

Lá cờ đỏ sao vàng biểu tượng cho một chế độ trong đó đảng cộng sản nắm toàn quyền thành lập hoặc thay đổi nhà nước theo nhu cầu của đảng không cần phải qua ý kiến người dân.

Nói như vậy để khẳng định và xác minh với đảng cộng sản và nhà nước của nó rằng: Người Việt Nam trong nước và ngoài nước, dù ở bất cứ lứa tuổi nào, thuộc bất cứ thành phần nào trong xã hội tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ là họ muốn nói lên khát vọng tự do, dân chủ, nhân quyền của cá nhân họ đối với tổ quốc và dân tộc Việt Nam.

Thay vì kết tội và có thái độ thù địch với những người Việt Nam vinh danh cờ vàng ba sọc đỏ như các bạn trẻ trong nước và người Việt ở nước ngoài, đảng cộng sản Việt Nam phải cúi đầu thú nhận tội lỗi của mình là đã tước đi khát vọng tự do, dân chủ, nhân quyền của họ nói riêng và của 90 triệu người dân Việt Nam nói chung trong suốt 70 độc quyền cai trị đất nước.

Đàn áp những người Việt Nam tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ là đàn áp khát vọng tự do, dân chủ và nhân quyền, là chống lại văn minh, tiến bộ và lương tâm của nhân loại.

Đàn áp những người Việt Nam tôn vinh cờ vàng ba sọc đỏ là con đường đưa đảng cộng sản Việt Nam đến chỗ diệt vong.

30/10/2016

Lê Dủ Chân
danlambaovn.blogspot.com



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên Online
NTcalman



Posts : 231
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Tue Nov 01, 2016 7:56 am



Lịch sử không có chữ “nếu”

Thứ Hai, 10/31/2016
Song Chi.

Ngày 2.11 sắp tới là ngày giỗ lần thứ 53 của Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông, Cố vấn Ngô Đình Nhu. Trên facebook mấy hôm nay có nhiều người viết status, viết bài, đăng hình đi viếng mộ hai người, có cả hình Đức cha Miace Hoàng Đức Oanh, Nguyên Giám mục giáo phận Kontum và đoàn đồng tế dâng lễ giỗ cho cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào ngày 31.10.2016.

Đáng nói là trong những người đi viếng có nhiều người trẻ, sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, bao nhiêu năm bị tuyên truyền nhồi sọ những điều tối tệ về ông Diệm và chế độ VNCH, nhưng nhờ có internet, nhờ tiếp xúc với những nguồn thông tin bên ngoài, họ đã dần dần nhận ra sự thật.

Năm tháng lùi xa, lịch sử dù bị bưng bít, bóp méo bởi những người “thắng cuộc” nhưng cuối cùng sự thật vẫn được sáng tỏ.

Sự thật đã cho thấy rằng, nếu so sánh giữa hai con người, Tổng thống Ngô Đình Diệm và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì Tổng thống Ngô Đình Diệm mới chính là một con người thật sự yêu nước, có tinh thần quốc gia, tinh thần dân tộc, có khát vọng xây dựng một nước VN độc lập, giàu mạnh, tự cường về nhiều mặt đối với ngoại bang. Tổng thống Ngô Đình Diệm mới chính là con người có đời sống cực kỳ thanh bạch, không có một chút tai tiếng nào trong đời tư.

Trong khi đó, ông Hồ Chí Minh, người trước khi là lãnh tụ của đảng cộng sản VN đã từng làm việc cho đảng cộng sản Nga, đảng cộng sản Trung Quốc, mới chính là tội đồ của dân tộc khi đem học thuyết ngoại lai Mác Lênin, đem mô hình xây dựng đất nước của Nga Sô, của Tàu về áp dụng rập khuôn bất chấp có phù hợp hay không. Chính ông Hồ Chí Minh mới là người có tư tưởng phụ thuộc nặng nề vào Nga, Tàu, mê tín những lãnh tụ của Nga, Tàu như Stalin, Mao Trạch Đông…Chính ông Hồ Chí Minh là người quyết tâm nhuộm đỏ miền Nam, biến VN thành tiền đồn đánh Mỹ của phe XHCN, bất chấp cái giá máu xương mà dân tộc phải trả.

Bên cạnh đó, càng ngày người ta càng khám phá ra những mảng tối trong con người, cuộc đời của ông Hồ, chuyện vợ con trai gái, cả bí ẩn chưa được bạch hóa rằng ông Hồ có phải là Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc hay đó là hai con người khác nhau, ông Hồ có phải là người Tàu v.v…Về nhân vật Hồ Chí Minh, rõ ràng là còn rất nhiều bí mật sẽ phải được công khai một ngày nào đó.

Và nếu so sánh những điều Tổng thống Ngô Đình Diệm đã làm được cho miền Nam trong thời gian tại vị, đã đặt những nền móng ban đầu để xây dựng một chế độ VNCH tự do, ấm no, nhân bản trong hoàn cảnh rất nhiều khó khăn lúc ấy với chế độ XHCN ở miền Bắc và ngay cả với các nước láng giềng trong khu vực thì càng thấy tầm nhìn, năng lực của Tổng thống và bào đệ của ông.

Người ta hay nói chế độ Ngô Đình Diệm là độc tài, gia đình trị nhưng khi dân trí chưa cao và đất nước lại còn phải đối phó với họa cộng sản thì rất khó để mà dân chủ một trăm phần trăm. Cứ nhìn các nước Đài Loan, Singapore vào những năm tháng đó và cả nhiều năm sau, những người lãnh đạo của họ có độc tài hay không. Quan trọng là người lãnh đạo có tài, có tầm, là người yêu nước thương dân, biết chọn con đường đúng cho đất nước, có khát vọng đưa đất nước trở thành giàu mạnh, phú cường, nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Những điều đó có lẽ đúng với Tổng thống Ngô Đình Diệm hơn là ông Hồ Chí Minh hay các lãnh đạo kế tiếp của đảng cộng sản, những con người luôn luôn đặt quyền lợi của đảng lên trên lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Tổng thống Diệm cũng là người có hoài bão đi tìm một học thuyết, chủ thuyết phù hợp với dân tộc.

“Và Sử gia Henry Fairbanks đã tóm tắt sự thật lịch sử này bằng lời lẽ khách quan, trong một bài báo tưạ đề “The Enigma of Ngô Đình Diệm”, được đăng trong tờ Commonweal, như sau:

“Ông Diệm tìm kiếm và khôi phục laị những giá-trị cổ-truyền làm nền tảng cho giaỉ-pháp canh tân xứ sở trong khi đó những người khác laị đi tìm những học thuyết ngoaị lai. . . .Dù sao đi nữa, Ông ta vẫn là một người có cái nhìn sâu sắc về tương lai. Cả thế giới này đều yêu mến các chiến-sĩ dũng cảm và ai ai cũng phải nể trọng những kẻ đeo đuổi một lý-tưởng cao cả nào đó. Ông Diệm ao ước thực hiện một nhà-nước được xây dựng trên những giá-trị cổ-truyền tốt đẹp nhất của Á-châu và Tây-phương, những đặc điểm đúng đắn và khả thi nhất để phục vụ quyền-lơị chung và tôn trọng nhân-phẩm. Ông Diệm cho rằng Xã-Hội Chủ-nghiã và Tư-bản Chủ-nghiã đều là những học-thuyết cực-đoan cần có một hình-thức trung-gian, một lực lượng đứng giữa, nhằm tổng hợp được những giá-trị ưu-tú nhất của cả hai để phục vụ cho lơị ích chung: công bằng đối với người này là tự-do của kẻ khác, cũng như loaị bỏ độc tài toàn chế và tinh thần vô trách nhiệm của Chủ-nghiã cá-nhân.” (21-9-1962, tr.516) (“Chủ-Nghiã NHÂN-VỊ: Con Đường Mới, Con Đường của Tiến Bộ?”,Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Tấn)

Đó chính là chủ thuyết Nhân-Vị, coi trọng con người.

Vẫn biết rằng lịch sử không có chữ “nếu”. Nhưng rõ ràng nếu Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu không bị đảo chính và bắn chết năm 1963, lịch sử miền Nam và kể cả lịch sử VN có lẽ đã khác.

Những điều Tổng thống Ngô Đình Diệm nói cách đây bao nhiêu năm như những lời tiên tri:

“Nếu bọn Việt Cộng thắng, thì quốc-gia Việt-Nam cũng sẽ bị tiêu-diệt và sẽ biến thành một tỉnh nhỏ của Trung-hoa Cộng-sản. Hơn nữa toàn-dân sẽ phải sống mãi mãi dưới ách độc tài của một bọn vong bản vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo."

Ngô Đình Diệm (Khánh Thành Đập Đồng Cam, Tuy-Hòa 17-9-1955).



Rõ ràng sau 50 năm, hai trong số những hậu quả lớn nhất mà đất nước này, dân tộc này đã và đang phải chịu dưới sự cầm quyền duy nhất của đảng cộng sản, đó là VN đang phải đối mặt với nguy cơ bị lệ thuộc vĩnh viễn bởi Trung Cộng, và một xã hội bị suy đồi, tàn phá về mặt đạo đức. Nhân cách con người bị méo mó.

Những sự tụt hậu về kinh tế, kể cả văn hóa, giáo dục rồi cũng sẽ xây dựng lại được nhưng con người bị hỏng về mặt tư duy, đạo đức, thì sẽ mất thời gian hơn rất nhiều.

Xã hội VN bây giờ con người đối với nhau quá ác. Không có ngày nào mở tờ báo ra, bật TV lên mà chúng ta không đọc, nghe thấy những tin tức về cái ác hoành hành. Trong những vụ án xảy ra hàng ngày, trừ những vụ có động cơ, mục đích từ đầu là cướp, hiếp, thù oán cá nhân (những vụ này cũng ngày càng táo tợn, dã man) thì đáng sợ hơn là những vụ đánh, giết nhau chỉ vì những chuyện hết sức ngẫu nhiên, nhỏ nhặt; kẻ thủ ác trước đó là những con người hoàn toàn bình thưởng, chưa có tiền án tiền sự, có thể là bất cứ ai, thuộc bất cứ thành phần nào trong xã hội. Học sinh ngay từ nhỏ đã đánh nhau, làm nhục nhau, lột quần áo, bắt liếm chân…như kẻ thù. Dân đánh nhau, giết nhau. Quan bắn dân. Quan bắn quan. Giết người lạ đã đành, cha mẹ chị em con cái chồng vợ đâm chém nhau, tạt axit, đốt xăng, giết nhau…đầy rẫy.

Nguyên nhân thì các nhà báo, nhà giáo, các nhà xã hội học cũng đã chỉ ra nhiều. Nhưng rõ ràng những hành động độc ác bộc phát ấy là hệ quả của những bức bối dồn nén bên trong. Bức bối vì đủ thứ bất công, trái tai gai mắt, quá nhiều những sức ép trong đời sống hàng ngày. Sâu xa hơn, đó là hệ quả của một xã hội và một nền giáo dục không coi trọng con người.

Nhìn vào đâu cũng thấy cái ác. Dân ít học ác với nhau đã đành. Người có học, có vị trí xã hội, cái ác lắm khi có tác hại lớn hơn. Ví như người làm báo, làm truyền thông không có lương tâm có thể bằng những bài báo, chiến dịch quảng cáo không trung thực hại nhiều người. Những người buôn bán, sản xuất hàng hóa không có lương tâm thì cho đủ thứ chất độc hóa chất vào thực phẩm, thản nhiên làm hại đồng bào. Các công ty, nhà thầu không có lương tâm, làm ăn gian dối, gây ra bao nhiêu tai nạn lao động.

Chức càng cao mà tâm không có thì tác hại càng lớn. Trong vụ bão lũ ở miền Trung vừa qua, những nhà máy điện thản nhiên xả lũ làm chết hàng chục con người và đẩy hàng trăm, hàng ngàn người khác vào cảnh mất mát tài sản, trắng tay. Một chữ ký của những kẻ có quyền chức cho phép khai thác bauxite ở Tây Nguyên, cho phép vận hành nhà máy thép Formosa dẫn đến những thảm họa môi trường gây thiệt hại nặng nề hàng chục năm cho đất nước, cho dân tộc. Nhưng sự vô lương tâm, cái ác chưa dừng lại ở đấy. Họ tiếp tục bao che, bảo vệ cho thủ phạm, trù dập người dân đứng lên biểu tình đòi Formosa bồi thường, họ tiếp tục đặt bút ký cho phép những dự án phá hoại môi trường khác, nào nhà máy thép ở Cà Ná Bình Thuận, nhà máy kẽm ở Lăng Cô Huế…

Họ thản nhiên bán rẻ đất nước này, tương lai của dân tộc này chỉ vì quyền và tiền. Vơ vét trong cơn cuồng loạn của những kẻ biết rằng con tàu VN đang đắm và cần phải hốt cho nhanh để rồi tìm bãi đáp ở một nơi an toàn, sung sướng khác.

Cái ác, vô lương tâm, cái tâm lý ở trọ trên đất nước mình ấy thật là phổ biến.

Cùng với một phần lãnh thổ lãnh hải vĩnh viễn mất vào tay Trung Cộng, sự phụ thuộc ngày càng nặng nề vào Bắc Kinh thì sự méo mó, biến dạng của nhân cách con người là những hậu quả cay đắng nhất mà dân tộc VN đang phải gánh chịu, trả giá. Những điều ấy hơn 50, 60 năm trước hai anh em ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu đã sớm nhìn ra trong khi Hồ Chí Minh, thậm chí cho tới những người lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay cũng chưa nhận ra.

songchi's blog



TT Ngô Đình Diệm (Phải) và Ngô Đình Nhu - Ảnh: TL
 
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên Online
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử không có chữ “nếu”   Today at 7:16 pm

Về Đầu Trang Go down
 
Lịch sử không có chữ “nếu”
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Nhận Định, Phản Biện-
Chuyển đến