Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
Latest topics
November 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

  Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Posts : 135
Join date : 20/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà   Tue Aug 15, 2017 2:28 am



Tính Sổ

Bùi Bích Hà






Người chủ tiệm tính sổ mỗi buổi tối. Người nội trợ tính sổ mỗi cuối tháng. Người tình hay vợ chồng tính sổ khi chia tay. Công ty thương mại ngoài tính sổ với cổ đông, còn một tính sổ khó thực hiện nhất với lương tâm và công lý về doanh nghiệp thiếu minh bạch. Ðó là vài hình thức tính sổ phù hợp với những ai trong các hoàn cảnh đặc biệt nhưng hành vi tính sổ lúc chung cuộc đời người thì không có ngoại lệ trừ phi người ra đi quá bất ngờ nên chưa kịp chuẩn bị.
Vì vậy, ở tuổi nào thì nên nghĩ tới việc tính sổ đời mình? Hình như cho tới nay, chưa có một tài liệu thống kê nào đưa ra con số cụ thể cho thấy mẫu mực của việc này nếu không là những kinh nghiệm lẻ tẻ nghe được qua câu chuyện truyền miệng lúc trà dư tửu hậu giữa bạn bè.

Bản thân kẻ viết bài này tuy có dặn dò con cháu về cách xử sự khi cuộc hành trình trên mặt đất của mẹ chúng chấm dứt ở sân ga cuối nhưng vẫn chưa một lần nào nghĩ tới tính sổ đời mình, có lẽ vì mơ hồ biết rằng nếu có “lời” thì đã xài lai rai dọc đường rồi mà nợ thì nghe chừng khẳm, rất ngại ngùng phải đối diện.

Lý do khiến tôi mấy hôm nay băn khoăn việc này là vì buổi tối ngày Thứ Hai đầu tuần qua, tôi nhận được email của D. Uyển, vừa trách móc vừa nhắn một tin buồn: “Mi đi mô mà tau điện thoại không trả lời. con khỉ? Thiềm mất rồi.”
Bạn tôi chỉ nhắn đúng 3 chữ, chị biết 3 chữ là quá đủ để tôi rụng rời tứ chi, hồn vía lên mây. Ðịnh thần một lúc, tôi bấm điện thoại gọi Uyển: “Có biết vì sao Th. mất không?” Bên kia đầu dây, tiếng U. rời rạc, như thể cổ họng chị khô rang, cố lắm mới ráp được một câu: “Nghe nói Th. bị cái bướu trên đầu.” Tôi tưởng mình sụm xuống, tan chảy như cây nến nhỏ ai ném vào lửa, thoáng nhanh qua đầu mấy câu thơ khóc vợ của Hữu Loan được Phạm Duy phổ nhạc: “Em ơi, giây phút cuối không được nghe nhau nói, không được trông nhau một lần…”


Ngày xa xưa khi tâm hồn còn như quả bong bóng màu mới bơm căng hơi, như đóa hồng mới nở, như mây sớm trên đỉnh trời, đọc tới câu này, nghe hát mấy câu này, tôi xót xa hình dung nỗi đau của người trong cuộc mà thương cảm ngập lòng. Bây giờ khi chính mình là người trong cuộc, mới thực sự thấm ngấm nỗi bi ai. Tôi thấy tôi ăn ở tệ với bạn quá. Từ khi bạn dọn nhà, tôi không có điện thoại mới của bạn rồi vin vào đấy, tự nhủ: “Không tin tức là không sao!” Tôi để thời gian trôi qua hàng năm, hàng năm, hàng năm. Tự dối lòng hay lười biếng tưới nước một loài hoa mong manh.
Không tin tức là không sao. Ðâu có không sao! Bạn tôi bệnh, đau đớn rồi mất. Tôi không hay biết nên không một lời hỏi thăm, không một lần gặp mặt và cầm tay. Tôi đã dùng thời gian ấy vào việc gì? Ðã dành sự quan tâm ấy vào việc gì? Tôi đã để bạn tôi buồn lòng nghĩ rằng tôi không còn nhớ con dốc Phủ Cam chạy qua cửa nhà chị. Không còn nhớ tô bún bò An Cựu hai đứa đã ngồi ăn dưới dàn thiên lý ở sân trước nhà chị.

Không còn nhớ những lá thư hàng tuần chị ân cần nhờ tôi đem bỏ giùm chị ở bưu điện trung ương trên đường tôi về học, gửi cho một người ở đồi Tăng Nhơn Phú. Không còn nhớ đôi mắt bồ câu thật đẹp với riềm mi mát rượi của chị chớp chớp khi chị cười rúc rích sau tay áo, khoe khẽ với tôi chiều hôm qua chị được tiếp anh lần đầu tại phòng khách nhà chị và dưới mắt bố mẹ. Không, tôi không quên gì cả, càng không quên những ngày sau cùng anh chị và tôi hẹn gặp nhau giữa đường để cùng bay lên Michigan thăm gia đình Cỏ May. Tôi tới trễ. Từ xa, đã nhận ra vẻ bồn chồn, lo âu của chị bên anh và khi tôi đi rảo bước như chạy tới gần, cảm động thấy khuôn mặt phút trước bồn chồn lo âu ấy sáng lên vì vui mừng. Buổi tối ở nhà Cỏ May, ba đứa chụm lại trong phòng khách xem video ca nhạc Thúy Nga, vừa xem vừa chuyện trò râm ran. Vui thế nào mặc dầu, chị vẫn để mắt cái đồng hồ rồi rụt rè nói: “Tụi bay coi tiếp đi nghe, tau vô, sợ anh Th. không quen một mình.” Có hôm sau khi cả nhà đi bộ hóng gió về, ba đứa rúc vào phòng ngủ, nằm ngang trên chiếc giường rộng bằng gỗ quý, nhắc kỷ niệm thời đi học. Chỉ một chốc lại nghe cái điệp khúc quen thuộc của chị: “Tau vô nghe, sợ anh Th. không quen một mình.”


Vì địa dư rộng lớn của nước Mỹ, vì hoàn cảnh sinh tồn mỗi đứa khác nhau, dường như trong thâm tâm cả ba, chúng tôi đành chấp nhận vui với những gì đến trong tầm tay và cất kỹ những gì đã qua vào kỷ niệm. Lần tạm biệt sau cùng, chúng tôi tha thiết hẹn gặp lại nhau nhưng lời hẹn ấy như nước chảy qua cầu. Anh D. chồng Cỏ May bất ngờ qua đời. Thiềm bất ngờ qua đời. Không ai biết lúc nào gió vô tình hay hữu ý khép lại những chương sách đời dở dang. Liệu có bao giờ cơn gió ấy sẽ đưa tôi về với ngôi nhà ở con đường mùa Thu thành Troy để tôi còn được ôm bạn trong tay và khóc những người đã mất ? Ðể tôi lại được ngồi vào bàn, vào ghế như tất cả chúng ta từng ngồi với nhau trong căn bếp nhỏ, rất thật nhưng cũng rất hoang đường?


Kiểm điểm hay tính sổ? Ðể thấy ra chúng tôi nợ nần nhau nhiều quá. Chúng tôi nợ nhau những lời hẹn ước. Nợ nhau những chuyến đi. Nợ nhau những khao khát đợi chờ. Nợ nhau những ngày vui, những nỗi lòng trao đổi. Nợ nhau những mong ngóng không thành. Nợ nhau một lá thư lần lữa, một cú điện thoại cho những điều khó bày tỏ. Ôi, những món nợ chồng chất tháng năm không bao giờ thanh thỏa được nếu không bắt đầu.

Kinh nghiệm mất bạn vào một lúc không ai có thể ngờ khiến chúng tôi hốt hoảng đi tìm nhau trong khoảng không gian năm bảy dặm đường. Hai năm trước (nhanh như một cái chớp mắt) chị tươi mươi đi dự những buổi họp mặt ái hữu. Chị chỉ có vài sở thích: đi chùa, gặp gỡ bạn bè và đeo kim cương. Chị ít nói nên hay cười, tính nết hiền hậu. Bẵng một thời gian vắng bóng chị, hỏi thăm nhân dịp tang lễ Thiềm, được biết chị không đi đâu vì hai chân đau. Ðến nhà thăm, biết ra trí nhớ chị bị sa sút. Chị ngồi trên ghế, walker bên cạnh, khay thuốc trên bàn, đôi mắt trống vắng. Ðừng làm khó chị mà hãy xưng tên rồi hỏi chị có nhớ không thì chị sẽ gật đầu. Chuyện trò một lúc, chị cất tiếng, thong thả, nhỏ nhẹ: “Nãy giờ nghe các bạn nói nhưng không nhớ các bạn nói chi hết.” Vậy là chị biết bệnh của mình nhưng chị không tỏ vẻ buồn giận mà nét mặt yên ả. Lúc bạn bè từ giã, chị theo ra cửa. Chúng tôi vẫy tay, chị cũng giơ tay vẫy trả và vẫy mãi.

Anh là bạn đồng nghiệp với tôi ở trung học NT/Saigon. Thời đó, anh là giáo sư dạy toán trẻ nhất và được học trò các trường công tư quý mến. Ngoài chuyên môn, anh hoạt bát, khẩu khiếu lưu loát và có óc hài hước. Trong đám đông, anh nổi trội, thu hút.
Di tản qua Mỹ biến cố 30 Tháng Tư 1975, anh không đi dạy nữa mà làm việc hành chánh. Chị đẹp, tươi tắn và trẻ hơn anh nhiều. Chị đặc biệt có giọng nói pha chút nũng nịu rất dễ gây thiện cảm. Chị cũng thích thể thao nên đi gym mỗi ngày. Một buổi chiều như mọi buổi chiều khác, chị đang tập bỗng bị một cơn nhức đầu rồi chị êm ái ra đi vì một mạch máu có chỗ bị mỏng (aneurism.) Mất chị hoàn toàn bất ngờ như thế nhưng anh vẫn gượng cười, nói đùa với bạn bè: “Bây giờ tôi không phải giấu thuốc lá nữa!” Tuy vậy, từ đấy sức khỏe của anh hao hụt dần rồi tới một lúc anh đi lại phải dùng walker. Những năm sau này, anh không đến với cuộc họp mặt ái hữu thường niên của trường NT nữa vì không tiện di chuyển. Ngày xưa, thầy đến với lớp, vỡ đất, gieo hạt. Giờ đây, các học trò cũ đem lớp đến với thầy, hoa trái tốt tươi. Thời gian đã làm việc thật sự có ý nghĩa cho cả thầy lẫn trò. Họ đã thay nhau giữ quả bóng kiến thức và tình người ở vị trí đẹp nhất của nó trên sân chơi của nhà trường và cuộc đời.

Cuộc họp mặt lần đầu, lần thứ hai với anh, cách nhau khoảng một năm, chỉ quy tụ trên dưới chừng mười người vừa thầy, cô vừa trò, xúm xít quanh cái bàn ăn rộng lỉnh kỉnh thức ăn mỗi người góp một món. Vậy nhưng tiếng nói, tiếng cười vẫn rộn rã bay lên và buổi trưa qua rất nhanh trong ngôi nhà ban ngày thường vắng vẻ vì người lớn đi làm, trẻ con đi học. Năm nay, đáp lời kêu gọi của nhóm tổ chức, con số 10 nhân lên gấp ba, gồm thêm nhiều thầy cô giáo cũ có lẽ cũng băn khoăn “tính sổ” như tôi.

Chỉ vài ngày nữa là đến hẹn. Tôi hình dung ra khu vườn nhà anh mùa Hè lung linh nắng, khói lò nướng như mây xuống lưng chừng không gian, giăng mắc trong những khóm lá xanh và 30 người từ một quá khứ đã ít nhiều tàn phai có dịp quay lại đốt trầm hương cũ, nhớ một thời đã qua và sẽ là như thế mãi mãi trong tâm tưởng của nhau. Anh sẽ vui lắm, sẽ không cay đắng và chua chát dẫu sau cùng, chỉ còn anh đối bóng mình trong hoàng hôn tịch mịch giữa khu vườn này mà anh sẽ lây niềm tự hào với câu nói của tướng MacArthur: “Các cựu chiến binh không bao giờ chết, họ chỉ tan hàng thôi!” Trên mặt trận văn hóa, lực lượng giáo chức là những chiến binh phục vụ đất nước và dân tộc bằng những cống hiến bền bỉ của họ. Mở mang bờ cõi hay mở mang trí tuệ, người chiến sĩ ở cả hai phòng tuyến để lại dấu ấn của họ dài hơn một chu kỳ sinh diệt của nhân gian và sẽ không đi vào quên lãng.

Chao ôi, “tính sổ” cũng cần nhiều thời gian mà bây giờ tôi mới chỉ bắt đầu, đành cố gắng thôi!

Bùi Bích Hà
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://thntsaigon.forumsreality.com
PVChuong
Admin


Posts : 358
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà   Tue Aug 22, 2017 9:10 pm



Tuổi Già

- Bùi Bích Hà




Photo: Peter Levitan

Các cụ bà, tuổi trên dưới 80, thể lực tương đối tốt. Nghĩa là không có bệnh gì ngoài bệnh… già. Nghĩa là cơ thể nhức mỏi ở nhiều chỗ, thường xuyên bị vọp bẻ, ở chân, ngón chân; ở bàn tay, ngón tay, mà các cụ mô tả là có lúc đau thót ruột, vã mồ hôi. Tuy nhiên, các cụ tặc lưỡi, cười gượng: “Ôi, vậy nhưng cũng chẳng sao, chỉ muốn hỏi cô câu này: chúng tôi buồn, rất buồn, tuy biết buồn sẽ hại đến sức khỏe. Khó ngủ, không muốn ăn và ăn thì khó tiêu, lại phải uống thuốc hay uống Seven Up hay Perrier. Cô làm việc xã hội, gặp gỡ nhiều người, xin nhờ cô hỏi giùm các cụ nào may mắn có cuộc sống tuổi già an vui, xin mách bảo giùm, chúng tôi cám ơn lắm.”

Nghe các cụ hỏi, tôi giật mình, sửng sốt, sực nhớ chính tôi chừng một năm đổ lại đây, bận bịu là thế nhưng cũng có lúc cảm thấy thật buồn. Hỏi lại các cụ: “Các cụ có đi chùa hay nhà thờ? Có đi tập dưỡng sinh, tài chi, tập khiêu vũ thể dục? Có làm vườn, trồng hoa, trồng quả, trồng rau thơm để nhà sẵn, đỡ phải mua? Có họp mặt bạn bè, hát hò, chuyện vãn, ăn quà, đánh bài? Có đi sòng bài kéo máy, xem chương trình, ăn buffet? Có coi phim tập Nam Hàn hay Ðài Loan? Có đi mua sắm thử quần áo cho vui mắt? Có đến các trung tâm cao niên để giải trí, đến viện dưỡng lão để thăm nom người đi trước và ngắm nghía cho mình, phòng khi? Có đi xoa bóp, làm skin care để thư giãn thân tâm? Có sử dụng máy điện toán, iPod, iPad để đọc tin, đọc điện thư, nghe nhạc, chơi games? Có đi du lịch một, hai, ba ngày, đường bộ hay đường thủy, để thưởng ngoạn phong cảnh trời xa, xứ lạ và cũng để biết nhớ nhung căn nhà của mình hơn?” Nghe hỏi, các cụ lắc đầu, cười hiền hòa: “Không thử hết thì cũng gần hết món cô hỏi rồi, phát chán mà buồn vẫn không nguôi. Chỉ còn uống rượu nữa thôi nhưng chúng tôi ai uống được thì cũng không uống đến say, chỉ cạn ngày một ly vang nhỏ vào bữa ăn chiều cho dễ ngủ tuy hiếm có đêm thẳng giấc tới sáng lắm. Nó nhức chỗ này, mỏi chỗ kia, thỉnh thoảng chuột rút chân tay cong queo, đau quắn ruột mà cắn răng chịu chứ kêu ai và ai làm gì được?”

Tôi rụt rè hỏi thêm: “Thế các cụ ông thì sao ạ?” Các cụ bà đưa mắt nhìn nhau rồi cùng mỉm cười: “Ấy, quả là hoàn cảnh có khác nhau nên tuy không cố ý, chúng tôi hầu như thuộc hai nhóm riêng biệt, chỉ gặp gỡ trong các dịp quan hôn tang tế hay hội hè cộng đồng chứ không sinh hoạt thân cận để biết mà trả lời cô. Có lẽ các cụ nào Trời cho còn đủ đôi, có khi lời qua tiếng lại cũng đỡ cô đơn.”

Chao ôi, tôi đoán các cụ có đọc thơ tình của thi sĩ Xuân Diệu thời lãng mạn: “Ðược giận hờn sung sướng biết bao nhiêu!” Thi sĩ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” nên nói thế, giận hờn triền miên, cũng hại sức khỏe không kém buồn một mình!

Qua giao tế cũng như tin tức trên mạng, tôi được biết tuổi già của các cụ ông trong thời đại tin học dễ chịu hơn hẳn các cụ bà. Phần đông các cụ ông còn lái được xe ở tuổi trên dưới 80 nên vẫn giữ được thói quen cà phê cà pháo, rong chơi bạn bè, uống bia, bàn luận thời sự quanh bàn mạt chược hay cỗ bài xì phé. Cụ nào thể lực tốt còn đi gym tập thể dục, tắm hơi. Có cụ đánh quần vợt hay đánh golf. Nhiều cụ tham gia việc xã hội, đoàn thể hay cộng đồng, họp hành, viết lách, tranh cãi liên miên. Về nhà, các cụ có ngay cái computer làm bạn, kết nối năm châu bốn biển, giúp các cụ có thêm nhiều mối giao tiếp mới và nhiều chương trình hành động mới. Các cụ nào nhất định gác kiếm nghỉ hưu, lánh mình khỏi chốn đua chen danh lợi nhưng chưa cảm thấy mỏi mệt thì ghi danh học vẽ, học hát, học chụp hình, học điêu khắc, học bất cứ môn nào theo sở thích và năng khiếu trời cho mà thời trai trẻ chưa có cơ hội thực hành. Ði học mà không bị áp lực mưu sinh thì nhà trường là nơi lui tới lý tưởng vì nó giúp mở mang kiến thức và… chậm lão hóa. Tin tức đó đây cho biết không ít trường hợp ông nội hay ông ngoại áo mão tốt nghiệp đại học cùng với các cháu.

Nói tóm lại, do tính năng động và vai trò quyết định của nam giới, các cụ ông có nhiều phương cách để thoát ra khỏi sự bế tắc trong cuộc sống hơn các cụ bà, giản dị nhất là lấp đầy được những khoảng trống thời gian của tuổi già.

Nhớ lại hai thập niên trước, thời tôi còn đi làm ở hãng B, mấy cô em trẻ biết các con tôi đã trưởng thành và tôi sống một mình thì hay tò mò hỏi: “Chị ơi, có bao giờ chị cảm thấy cô đơn vào buổi tối không chị?” Tôi thành thực trả lời: “Các cô tin hay không nhưng sự thật chị không có cả thì giờ để biết mình vui buồn thế nào? Ngưng tay là để đi ngủ vì hôm sau phải dậy sớm đi làm.”

Cho tới bây giờ, tuy tôi đã có đôi lúc rảnh rỗi và nhớ lại bạn cũ, chuyện cũ nhưng chỉ để cười một mình, cảm động vì sự quan tâm của bằng hữu, đồng nghiệp song cũng muốn họ biết tôi không hề thấy mình cô đơn vì tôi luôn có một ký ức sống động với đông đảo những người tôi từng quen biết. Tôi luôn có một ai đó để nghĩ về, một quãng đời nào đó để sống lại, ngay cả một tôi thời bé dại với những trò chơi trẻ con ngờ nghệch đến tội nghiệp.

Tuy nhiên, như viết ở phần trên, chừng một năm đổ lại đây, thỉnh thoảng có những giây phút tôi buồn. Ðối với tôi, nỗi buồn rất lạ, vì tôi cảm nhận nó lần đầu và bất ngờ. Tôi chợt nhớ ra và làm một con tính nhẩm: so sánh với tuổi thọ của cha mẹ, nếu được may mắn như hai cụ, tôi cũng chỉ còn 10 năm nữa để sống. Mười năm của tuổi trẻ như bình minh ở phương Ðông. Mười năm của tuổi già như nước chảy trong chiếc bình cạn úp ngược, là một chớp mắt bằng với thời gian tôi nghỉ hưu cho tới nay. Nghĩa là rồi cũng như cha mẹ, một cách nào đó, tôi sẽ phải lìa bỏ con cháu, bạn bè, thân hữu, độc giả, thính giả, ngôi nhà có chậu mai vàng, những gốc hồng rực rỡ cười chào tôi ngoài cửa sổ mỗi sớm mai, những con đường thân quen từng ngã ba, ngã tư, những công việc đang làm dở dang.v.v…

Thế nhưng, tuyệt nhiên nỗi buồn không phải vì những gì tôi đã biết nằm trong thân phận mình. Có lẽ đó là nỗi buồn trước giờ chia tay của mọi cuộc hành trình, và, như lời một bản nhạc, “người đi có bao giờ vui?” Càng thấm thía hơn trước chuyến đi dài nhất, không hẹn quay về…

Nên, nhớ lại mà thương cha, thương mẹ vì 50 năm trước, 30 năm trước, tôi nào hiểu tâm tình của cha mẹ như giờ đây tôi hiểu chính mình, rất muộn màng. Những buổi chiều mùa Hè nắng nhạt, bố tôi chống gậy ra cổng, đứng nhìn mọi người qua lại. Những đêm mùa Ðông khuya muộn, bố ngồi ở cầu thang nhìn tôi học bài, làm bài, hỏi tôi trước khi quay lưng: “Con không cần gì thầy chứ? Thầy đi ngủ nhé?” Ở Mỹ, mẹ tôi ngồi bên cửa sổ hằng chiều, đợi tôi và các con tôi từ sở làm, từ trường học về, “đôi mắt lặng buồn, nhìn thôi mà chẳng nói.” Tuổi 50, tôi vẫn chưa hiểu gì, vẫn chưa biết thế nào là biệt ly, từng ngày, từng giờ. Trong lặng thầm. Không một tiếng động khẽ. Trên đôi môi khô héo. Trong đôi mắt nhập nhòa giấu lệ.

Nên, bây giờ tôi hiểu nỗi buồn của các cụ. Không tiếc đời mình mà tiếc những chia tay.

Các cụ hỏi “Làm gì cho bớt buồn?” Tôi xin chuyển câu hỏi đến các bạn trẻ may mắn còn cha mẹ. Tôi biết cuộc sống cam go, bận rộn ở nơi này như cơn lốc cuốn các bạn vào bụi mù như đã cuốn tôi một thời nào. Ðừng giận. Cho phép tôi nhắc. Một vòng ôm. Một ánh mắt. Một lời hỏi han. Cái khăn quàng. Ðôi vớ. Chiếc bánh. Bông hoa hái từ vườn nhà. Bất cứ cái gì trong tầm mắt, tầm tay bạn. Từ tấm lòng quan hoài của bạn. Là câu trả lời làm nên phép lạ trong tuổi già (không dài) của cha mẹ mà tôi thật tiếc không bao giờ còn cơ hội.

Tin tức từ trang mạng newamericamedia.org cho biết, theo các chuyên gia về bệnh tâm thần làm việc sát với giới cao niên và cả trung niên thuộc cộng đồng người Việt chúng ta, vấn đề trầm cảm có khuynh hướng gia tăng trong số các cụ hiện sống tại Little Saigon, Orange County, tuy con số bệnh nhân vượt qua trở ngại tâm lý, chịu khai báo để nhận được sự chữa trị, chưa phản ảnh hoàn toàn thực tế. Một cuộc thăm dò cá nhân không chính thức đưa ra nhận định có tới 90% quý cụ cao niên (không rõ con số nam nữ) sử dụng Internet hàng ngày để đọc tin, trao đổi chuyện trò với thân nhân và bằng hữu, vừa giúp họ cảm thấy bớt lẻ loi, trống vắng, dễ đưa tới suy sụp tinh thần, vừa cải thiện trí nhớ của các cụ một cách đáng kể. Một cụ ông được trích dẫn lời phát biểu như sau: “Tôi gõ (bàn phím) để tự mình trau giồi thêm kiến thức, để tự học hỏi, để tự mình giải khuây, để khỏi nghĩ quẩn, để khỏi bị trầm cảm, để khỏi bị bệnh Alzheimer’s, để thoát ly và cũng để giảm bớt ưu phiền trong cuộc sống, v.v…”

Riêng với các cụ bà, ngoài sử dụng Internet để giữ liên lạc với con cháu/thân nhân/bạn hữu xa gần và để giải trí, còn nhiều thú vui giản dị khác, rất dễ thực hiện miễn các cụ giữ được cái tâm an tịnh để có thể mở lòng ra “vui từ mỗi lẻ loi…” Ðời sống luôn dài hơn kiếp nhân sinh ngắn ngủi nên đời sống không thiếu những chân trời mới để khám phá và khám phá khua thức nơi chúng ta niềm vui: một khoảnh đất nhỏ ở vườn sau, thậm chí vài cái hộp gỗ để sát tường mảnh sân ngăn với hàng xóm phía trước cũng cho chúng ta những bông hoa mới hay những liếp rau mới. Báo nào bây giờ cũng có công thức nấu nướng những món ngon, dễ làm, quý cụ còn trí nhớ minh mẫn, không bị con cháu giới nghiêm, có thể bày ra làm để con cháu (và cả vài ba người bạn thân) có cớ gần gũi, vui đùa bên nhau. Nhìn kỹ, đâu đó trong nhà vẫn luôn có thể thêm bớt một cái gì đem lại vẻ mỹ quan: chậu lan đang nở, bức tranh màu sắc tươi, cái khăn lau tay máng ở cửa bếp lò có hình con gà thật đẹp vì đang là năm Ðinh Dậu, v.v… tha hồ đề tài cho bà cháu cùng nhau ngắm nghía, chuyện trò… Ngay cả một cái hẹn (ngoài hẹn với bác sĩ) để la cà với bạn bè cũng làm cho các cụ hào hứng mong đợi, trái tim có chút rộn ràng,…

Ngụm nước khi khát, ngụm rượu khi buồn, một chút tưởng tượng thần tiên làm nên những phút giây đáng giá, chẳng nên lắm sao?
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 336
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà   Sat Aug 26, 2017 8:55 am



** Chiều tà - Enrico Toselli - Mai Hương
https://www.youtube.com/watch?v=wYEHY2Zs94U


** Giòng Sông Xanh (Le Beau Danube Bleu) – Thái Thanh
https://www.youtube.com/watch?v=wYEHY2Zs94U



Thiền với Âm Nhạc

Bùi Bích Hà


Câu nói nghe được trong một tiệm ăn trên đường Bolsa: “Sống ở Bolsa mà không biết thiền thì chỉ có chết.” Thời gian này, khắp mọi nơi, mọi lúc, dường như mọi người nhắc đến chữ “thiền” hơi nhiều. Chỗ này mở lớp, chỗ kia hội luận, bạn bè trao đổi sách báo, rỉ tai, bàn tán, mách nước, chia sẻ kinh nghiệm. Mọi người ra công tầm sư học đạo. Ông đi thiền. Bà đi thiền. Anh đi thiền. Chị đi thiền. Đệ tử môn Thiền bảo nhau tập ngồi kiết già. Ai ngồi chưa quen, chưa được, thì ngồi bán già. Tập bắt quyết. Tập nhắm mắt tập trung vào một điểm, ví dụ ở giữa hai đầu lông mày. Tập kiểm soát hơi thở vào, hơi thở ra. Bằng cách này, cố xua đuổi mọi ý nghĩ lộn xộn trong đầu về cuộc sống xô bồ bên ngoài nhằm tạo khoảng trống cho cái tâm cần an tịnh. Cho dù có xua đuổi được hết, chắc vẫn còn lại cái ý “muốn thiền?” Hễ đã “muốn” là có lo âu: lo không thành công, lo thất bại, lo tẩu hỏa nhập ma.

Quay cuồng với vận tốc thời gian dường như tỷ lệ nghịch với ước muốn thành tựu bên trong bản thân, mọi người cảm thấy áp lực của những điều bất như ý dày xéo tâm can, thúc bách, trói buộc, khiến cho ngộp thở nên phải tìm chỗ thoáng khí, mong xả bỏ bớt và người ta tìm đến thiền, cõi không giữa chợ đời nhộn nhịp.

Vậy, căn bản của thiền là để xua đuổi tạp niệm, xả bỏ những cái phiền trược nó quấy nhiễu thân tâm con người cần sự an lạc đặng tồn tại. Cái cây động gốc thì lá rụng, cành héo dần, thân chết từ từ. Thế nhưng, khuynh hướng chung của con người là “lấy vào” (càng nhiều càng tốt) thay vì bỏ ra (càng ít càng tốt). Bao lâu mâu thuẫn này chưa giải quyết được trong tỉnh thức, làm sao giải quyết bằng thiền, được cầu viện như một giấc ngủ ngắn?

Không sợ hãi, không tham lam, không ham muốn quá độ, không sân si, bình thản trước những cái đến và đi trong đời (như cơn gió thoảng), cảm nhận được hạnh phúc trong từng nhịp tim khỏe mạnh (là phước báu lớn nhất của đời người), cảm nhận được tình thương bao la của đất trời ban tặng cho thế gian (với bao điều kỳ ảo), cảm nhận được sự cần thiết có nhau trong nhân loại (để vun xới sức mạnh chung)… Đó thực sự là chìa khóa mở cửa vào cõi thiền trong từng giây phút tồn sinh của kiếp người.

Thiền chính là trạng thái tự do tuyệt đối của tâm linh, không bị khống chế bởi thất tình lục dục. Như vậy, thiền thể hiện trong mỗi sát na vươn lên trong đời thường, giản dị như hơi thở, không cần phải tìm đến chỗ thanh tịnh, không quá hình thức đến phải ngồi kiết già hay bán già và bậc thầy cao minh hướng dẫn không ai khác hơn là ý thức tu tâm dưỡng tánh trong tự thân mỗi người, nhằm giải thoát mình khỏi sự kiềm tỏa của dục vọng vốn tiềm ẩn bên trong như một thứ ký sinh.

Đi qua phố phường đông đúc lao xao, tâm thiền định nhẹ nhàng, trong sáng, không động, không bị cuốn hút, tất thị hiện khả năng chuyển hóa trong tự thân. Cho nên tập thiền, trước hết là tập buông bỏ cái ngã.

Nói tới hai chữ “buông bỏ,” chúng ta cũng thường nghe nhiều người nhắc nhở như một thứ kinh nhật tụng, thậm chí như mật chú có khả năng đem lại an vui tức thì. Tuy nhiên, câu hỏi là bao nhiêu người thực hiện được ý niệm tưởng như gắn bó thiết thân với người nói ấy hay cũng chỉ như làn hương thoảng, cơn gió bay, nghe qua rồi bỏ trong khi nhiều cái cần bỏ khác sao khó bỏ quá mà cứ muốn ôm khư khư? Thời đi học, thầy cô giáo dạy làm đủ mấy phép tính căn bản: cộng, trừ , nhân, chia, thứ tự trước sau đọc lên nghe êm tai nhưng còn bé quá, đâu có thắc mắc gì? Lớn lên, có lúc nghĩ ngợi tẩn mẩn, tự hỏi sao tính cộng đi trước nhỉ? Đi trước hay đi sau chẳng sao, miễn là cộng xong thì phải trừ. Cổ nhân đã dạy: lộc bất khả hưởng tận, có lợi lạc nên biết cho bớt đi. Thứ nhất, để hưởng niềm vui trong mắt người khác và có chút phước đức bỏ quỹ tiết kiệm. Thứ hai, để tránh sự không vui theo sau do luật bù trừ. Hưởng lộc lớn quá theo cấp số nhân thì cũng nên chia theo cấp số nhân. Có tiếc xót thì hãy nhủ lòng: còn hơn nếu bị lấy đi… một cách không mấy êm dịu. Các ngài Warren Buffet, Bill Gates là những bằng chứng hùng hồn, tầm cỡ hiếm hoi song còn vô số những người biết cho ở tầm cỡ nhân gian làng nhàng xung quanh chúng ta, chum vại nhỏ thôi nhưng đầy vơi êm ả.

Hóa ra bốn bài tính vỡ lòng sơ sài ấy chi phối cả cuộc đời con người, nào phải chỉ loanh quanh mấy cái hóa đơn?

Bỏ của đã khó thế, bỏ cái “ngã” hay chính mình còn khó tới đâu! Bỏ của, cùng lắm chỉ bâng khuâng tiếc. Bỏ chính mình, còn gì? Mất hết, sao được! Đâu có mất hết, chỉ như người nặng cân, cần bỏ mỡ thừa cho nhẹ bớt để khỏe và đẹp hơn thôi mà! Nghĩ được thế, biết được thế, tin được thế thì sẽ không tiếc nữa, cũng không sợ hãi mà tâm thế bỗng lâng lâng, tựa như con thuyền đi trên sông lớn, chở vừa, không chở khẳm phòng khi giông gió. Tạo hóa sinh ra con người, ngoài lương thực, còn cho con người có khả năng thích nghi để tự tồn, mỗi ngày mỗi khôn ngoan, tinh tế hơn, chỉ phải cái tội con người chủ quan, tự hào mình cao cơ hơn đấng sinh ra mình, có thể luồn lách đi con đường khác và vẫn an toàn về tới đích. Máy định vị (GPS) thời buổi văn minh có khi nói lèm bèm, hướng dẫn sai lạc nhưng GPS của ông Tạo tuyệt đối hoàn hảo. Khiêm nhường, chịu khó lắng lòng và lắng nghe, sẽ thấy toàn giai điệu.

Người Mỹ thường nói: “Hãy xâu chân vào chiếc giầy của người khác,” ngụ ý đặt mình vào chỗ của người khác, mà suy nghĩ, mà cảm thông và phát biểu. Trịnh Công Sơn viết những ca từ đáng suy gẫm: “Đừng tuyệt vọng, em ơi, đừng tuyệt vọng. Tôi là em mà em cũng là tôi.” Bi kịch của con người ở sự hoang tưởng mình không giống ai mà luôn hay hơn, khá hơn. Chung cuộc, chỉ có một sự thật đúng nhất: “Lại thấy trong ta hiện bóng con người.” Hình như lấy “ta” làm chuẩn khiến câu viết dễ nghe hơn! Nhiều “ta” gộp lại, nhiều cái “ngã” nhỏ (tiểu ngã) hòa tan làm thành cái NGÃ lớn (đại ngã). Khi lớn tới vô biên (vô ngã), những biên giới chật chội giam hãm con người trong cọ sát, ganh ghét, thù hận, khổ đau, không còn nữa, kể cả ý niệm về sự sống/sự chết, về lúc bắt đầu và lúc kết thúc. Mơ ước này từng được nhạc sĩ Phạm Duy chia sẻ trong Tâm Ca số 3: “Ngồi gần, ngồi gần nhau đây đó chung quanh địa cầu. Ngồi gần, ngồi gần nhau trong kiếp xưa, trong đời sau. Ngồi gần ngồi thật lâu, cho đến khi hai ngọn đầu thành một người trong nhau nguyện cầu…” Như thế, thử đoán xem bao lâu nhân loại mới có thể tan vào nhau sau vô lượng kiếp đã biết ngồi gần? Vậy nên chúng sinh vẫn cứ khổ đau triền miên.

Những suy gẫm trừu tượng nêu trên tưởng như xa vời, vô nghĩa. Cuộc đời, ngẫm cho cùng, há chẳng phải là sự vô nghĩa lớn nhất hay sao? Triết lý hiện sinh cổ võ hạnh- phúc-trong-từng-phút-giây-hiện-tại bùng nổ thập niên 1960 ở Âu châu bị văn hóa truyền thống chê là phóng túng, mãi sau này mới được tán thưởng khi nhịp sống văn minh ngày càng gia tốc, biến động ngày càng khó lường, kiếp người trở nên quá đỗi mong manh.

Cuối cùng, người Mỹ có bài hát It’s now or never. Thi sĩ Ngô Tịnh Yên có bài thơ được nhạc sĩ Trần Duy Đức phổ nhạc và rất nhiều người yêu thích Có yêu tôi thì xin hãy yêu ngay bây giờ, đừng đợi ngày mai. Tín đồ Phật giáo biết quý trọng mỗi sát na trong hiện tại vì trước hay sau đều là huyễn mộng. Cho nên, ngoài phương pháp Thiền để tạm xa lánh cõi trần gian phiền trược, liệu có nên theo đuổi một phương pháp thiền khác khuyến khích con người hồn nhiên tận hưởng mỗi phút giây hiện tại bằng sự chắt lọc tinh hoa của từng phút giây ấy? Cho dẫu thể xác gông cùm, hồn phách vẫn ngao du sơn thủy, được không? Cho dẫu chúng ta bề ngoài có khác nhau điểm này/điểm nọ, tựu trung, chúng ta vẫn cần những cái khác ấy được bổ sung vì trong sâu xa, ai cũng thiếu cái người kia thừa và ngược lại.

Sau một ngày làm việc mệt nhọc, những trao đổi khó khăn, buồn nản, những giấy tờ vô cảm, những con người là hiện thân của phiền lụy, đẩy cánh cửa kính nặng bước ra bãi đậu xe, cả khuôn mặt mát rượi trong làn gió chiều lướt qua khoảng sân mênh mông, cả tâm hồn như bụi hoa hổ ngươi phơi phới bung mở, lòng thầm kêu Chao ôi là sung sướng! Ngồi vào xe, máy nổ ngoan hiền, CD nhả ra tiếng hát không chuyên nghiệp lắm của người bạn tự thu giọng hát mình để vui chơi và tặng bạn bè. Chị biết tôi thích bản Come back to Sorrento, lời Việt của Phạm Duy, nên thu nguyên một đĩa cho tôi. Có tấm lòng đầy cảm xúc, có nỗ lực trau chuốt từng âm thanh lụa là, cao thấp thả buông, gởi ra trong tiếng hát còn tươi mát riêng mình của chị gọi lòng tôi muốn chạy theo, cùng tan vào cuộc chơi trên những dây tơ vàng thánh thót nắng mưa xuân.

… Đâu tiếng đàn ngoài hiên mưa? Và đâu bướm tơ, vui cùng mùa? Một mùa Xuân mới, mắt êm nắng hào hoa. Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan. Về đây lắng trầm khúc nhạc truy hoan. Về đây nhé! Cắm xong chiếc thuyền hồn, Ôi thoáng nghe dây lòng tiếc đờn...

Dường như là một trở về với ngôn ngữ buồn vui hoang mang của người nghệ sĩ viết lời nhưng trong thần trí tôi, mỗi bước chân trở về mái nhà xưa dù nay không còn nữa, vẫn mãi là mỗi bước hân hoan.

… Mái tóc nhà lưu luyến vạt trăng xanh. Nếu mưa về yêu lấy hạt long lanh. Chờ mong nắng cho tươi đời xuân xanh. Người xa vắng biết đâu nấm nhà buồn. Đốt ánh đèn in bóng vào rêu xanh. Sẽ thấy cười tan vỡ hồn đêm thanh…

Đêm xanh biếc đàn đi trong không gian im ắng, tắm gội tâm hồn tôi trong niềm hạnh phúc không tên tuổi, không nguyên do, tràn ngập, đầy ắp, như không khí tôi đang thở từ cuộc sống tự nó trong trẻo, hồn nhiên và tự nó đầy thiền vị.

Bùi Bích Hà


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 290
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà   Wed Sep 20, 2017 1:48 pm





Âm Nhạc Và Trái Tim

Bùi Bích Hà


Vừa rời khỏi dòng người xếp hàng rồng rắn trước các cửa sổ phục vụ khách hàng, bận rộn vào giờ tan sở chiều thứ sáu trong ngân hàng Wells Fargo, đầu óc còn váng vất hình ảnh những bàn tay lăm lăm cầm tấm chi phiếu trả lương cho cả tuần làm việc (không bao giờ kịp ấm túi,) những khuôn mặt âm u, những đôi mắt bồn chồn nhìn vơ vẩn ra xung quanh chờ đến lượt, tôi ngồi vào ghế lái chiếc xe hơi nhỏ mới khởi động, ngạc nhiên một cách dễ chịu khi nghe tiếng hát Ý lan chợt cất lên từ đài phát thanh: “… Người dẫu xa, tình thiết tha, hoa ơi có biết lòng ta nhớ người?” Bài hát nghe lần thứ hai, vẫn chưa biết tên tác giả, đánh thức trí nhớ tôi chập chờn ngủ quên hơn mười năm qua, cho tôi thấy lại giữa những giòng xe xuôi ngược trên con đường Harbor đông đúc chiều cuối tuần, khung cảnh khi tôi nghe đúng câu này lần đầu. Thời gian ấy, tôi mới dọn vào căn chung cư trên đường Garden Grove. Đêm hôm đó, tình cờ thấy mình đứng trước cửa sổ phòng ngủ không kéo rèm, ngước nhìn lên bầu trời trên cao trắng đục màu sữa loãng, chơi vơi một vầng trăng tròn lạnh băng màu nguyệt bạch, lòng bỗng dưng nghe ra chừng như thiếu vắng một người.



Nhạc  sĩ Trần Duy Đức (Hình Hoàng Khai Nhan)

Đêm sâu hút vì không gian tuyệt đối thinh lặng. Những tán lá phong đứng yên không động cựa và ánh trăng mênh mang, lạnh lẽo, như một nỗi buồn hóa đá… Hoa ơi, có biết lòng ta nhớ người? Hóa ra, âm nhạc là tiếng nói của thân phận. Khi phóng chiếu về tương lai, nó vẽ ra những giấc mơ thần tiên. Khi la đà quay về vùng trời quá khứ, nó là một thứ hồi quang làm sống lại một kỷ niệm, một quãng đời nào đó gắn bó với người nghe. Cho nên, âm nhạc là một hạnh phúc ngọt ngào, một khổ đau êm ái được hát lên và không thể thiếu trong đời sống nhân gian. Tuổi nào cũng yêu mê và đón đợi âm nhạc. Của một bắt đầu long lanh huyền thoại. Của một kết thúc dù buồn vui cũng đẹp như cổ tích. Âm nhạc sống giữa loài người và sống lâu hơn đời người. Nhiều thế hệ nhạc sĩ sáng tác làm nên tuổi xuân bất tận của âm nhạc. Nhiều thế hệ người hát nối tiếp nhau thắp ngọn lửa không bao giờ tàn của âm nhạc. Hí viện không bao giờ ngưng bán ra những lượt vé và “những con ma trong nhà hát” không bao giờ thôi ám ảnh người nghe.

Vợ chồng nhạc sĩ Trần Duy Đức - Nguyệt Hạnh


Tuần lễ trước đến chơi với con cháu, cô con gái hào hứng hỏi mẹ: “Mẹ đã nghe Tùng Dương hát bao giờ chưa?” Lục lọi thật nhanh trong trí nhớ, không thấy tí tăm hơi nào về hai chữ Tùng Dương, con người hay chỉ nghệ danh. Lắc đầu. Cô càng hào hứng: “Mẹ chờ chút, con cho mẹ xem.” Lúc sau này, tôi hơi lấn cấn về hai chữ “nghe” và “xem” khi ai đó nói với tôi về âm nhạc. Loay hoay mãi mới nghiệm ra câu trả lời cho mình. Người ta thường nói “Đi xem đại nhạc hội” và “Đi nghe nhạc thính phòng.” Rất rõ ràng. Đi “xem” phải mở to hai mắt nhìn tả hữu, thưởng thức ngoại hình, trang phục, các động tác của người trình diễn kể cả người phụ diễn và cảnh trí sân khấu. Đi “nghe” hát thì nghe là chính. Mỗi thính giả là một ốc đảo, có khi mắt nhắm lại để tâm hồn nương theo tiếng hát, tìm về một không gian, một cuộc tình, bốn mùa xuân hạ thu đông, một ngày nắng, một chiều mưa, một bến tàu, một sân ga, một gặp gỡ, một chia tay, ôi thôi, biết bao cảnh ngộ trong đời mà người nhạc sĩ sáng tác đã sống qua, đã sống giùm để thể hiện giùm, để người ca sĩ hát lên những riêng tư mà cũng rất chung ấy, những khoảnh khắc thời gian mong manh mà cũng thiên thu ấy, để cái sân khấu nhỏ của mỗi thính chúng buông màn đã lâu, sống lại trên cái sân khấu lớn ấm áp đèn màu và giai điệu… Nhạc sĩ và ca sĩ được nhân quần ưu ái vì sự hy sinh chấp nhận mình bị tan biến trong cảm xúc tuôn trào của người nghe. Họ không là ai cả nếu không là những nốt nhạc, là tiếng hát đem theo nó những ve vuốt, những thổn thức, những nhớ thương tràn trề như cơn giông mùa hạ tắm gội ký ức; như cơn mưa mùa thu nhỏ giọt hàng hiên xoáy vào kỷ niệm; như cơn lũ cuốn trôi mọi ưu phiền sau một thời kinh Bát Nhã hay một buổi dọn mình xưng tội và được giải tội trước tòa.



Nguyệt Hạnh và Nhạc sĩ Trần Duy Đức (trái)

Một hôm, chuông điện thoại reo. Đầu giây bên kia là tiếng nói của Nguyệt Hạnh kèm với tiếng cười nhẹ: “Chị H. ơi, chị tệ thì thôi, làm sao mà chị không nhớ tác giả của bản nhạc “Hoa ơi có biết lòng ta nhớ người?” Tôi thấy ngực nhói khẽ, thảng thốt: “Vậy là anh Đức ư?” Nguyệt cười thành tiếng, có chút mãn nguyện: “Anh Đức phổ thơ Nguyễn Dũng Tiến đó chị!”

Tôi biết nhạc sĩ Trần Duy Đức, chồng Nguyệt Hạnh và Nguyệt Hạnh ngoài 20 năm, cũng từ một buổi nhạc thính phòng ấm cúng chia sẻ với bằng hữu những bản nhạc sáng tác hoặc phổ thơ nổi tiếng một thời của anh: Khúc Mưa Sầu, Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi, Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời, Em Hiểu Vì Đâu Chim Gọi Nhau, Nếu Có Yêu Tôi và nhiều nhiều nữa. Tất nhiên có cả Hoa Ơi Có Biết Lòng Ta Nhớ Người…

Tuy không thực sự có nhiều dịp gặp gỡ nhau nhưng vài lần gặp hiếm hoi để lại trong tôi ấn tượng khó quên. Anh tiếp đón bạn bè khiêm cung, giản dị nhưng trau chuốt từng lời nói, cử chỉ, của một người cầu toàn, có lẽ cùng một cung cách thận trọng như khi anh chọn một bài thơ để hát lên với những âm giai lộng lẫy nhất. Anh không có một gia tài sáng tác đồ sộ nhưng những gì anh có thể hiện trọn vẹn tình yêu cái đẹp không chỉ của người nhạc sĩ, người nghệ sĩ vui chơi giữa cuộc đời mà của một điêu khắc gia say mê khắc chạm cảm hứng của mình lên đá quý.

Trong căn nhà nhỏ có khung cửa sổ đong đưa những nhánh hoa leo, bên người bạn đời cùng sống giấc mơ âm nhạc không biết đến phai tàn, ngày tháng về chiều của lứa đôi dệt bằng cảm xúc chứa chan trong thinh lặng. Của những thanh âm, những tiếng hát vẫn mãi vút cao, vẫn mãi chìm sâu, lồng lộng bay lên, ngậm ngùi lan tỏa, đâu đó, là màu nắng lạ, cơn mưa lạ, vầng trăng lạ, trong một không gian như có giây tơ, bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu, êm êm chiều ngẩn ngơ chiều, mênh mông, không còn một thứ gì hiện hữu ngoài âm nhạc ru lòng tan chảy…

Giữa cuộc sống nhọc nhằn, cảm ơn Thượng đế đã ban cho loài người tiếng nói, cho hàng cây tiếng chim hót, cho vũ trụ tiếng suối reo, tiếng gió vi vu, tiếng mưa thì thầm, tiếng biển vỡ trên ghềnh đá…để trái tim người nhạc sĩ rung động viết thành giai điệu ngợi ca cuộc sống. Thời gian bào mòn mọi thứ ngoại trừ tiếng nói đẹp nhất của trái tim nhân loại ở tuổi hai mươi được hát lên, được đóng khung trên năm giòng kẻ You told me you love me, when we were young one day…

Riêng tôi, ở tuổi không còn nhớ gì nhiều, vẫn còn một thanh âm ở lại bền chặt trong ký ức, được nghe lại, rất xa xăm, mỗi đêm trước giờ đi ngủ: tiếng con chim từ quy gọi bạn đến khàn hơi từ bên này rừng chiều Bạch Mã bay về bên kia rừng và chỉ gặp lại chính nó lúc hừng đông, cho một ngày chờ đợi khác.

Bùi Bích Hà

Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời
Nhạc: Trần Duy Đức
Thơ: Du Tử Lê


Chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn
Nói gì kiếp khác, với đời sau...


NẾU CÓ YÊU TÔI
Nhạc: Trần Duy Đức
Thơ: Ngô Tịnh Yên

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 358
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà   Tue Sep 26, 2017 11:40 am



Quê hương

Bùi Bích Hà


Có nhiều định nghĩa hàn lâm về hai chữ quê hương. Và mỗi người, khi nhớ về quê hương, cũng có nhiều định nghĩa riêng tùy thuộc thời khắc và tâm cảnh khi họ nhớ về quê hương. Có người như cô bạn trẻ tới từ miền Bắc Việt Nam sau 1975 mà tình cờ tôi gặp ở đây, đang quay quắt hội nhập, được hỏi có nhớ nhà, nhớ quê không? Cô cười, lắc đầu: “Em đang ở đâu thì đấy là nhà và quê hương.” Tâm lý này dễ hiểu vì cô lớn lên ở một đất nước mịt mờ khói lửa can qua, trong một xã hội không khơi gợi cho cô tình gia đình và tình quê hương. Trưởng thành ở Sài Gòn sau tháng 4, 1975, trải qua những ngày cơ cực cùng với Sài Gòn bỗng nhiên nghèo đi, cô tốt nghiệp đại học Phú Thọ. Nhan sắc, tự tin, cô để cơn gió thời đổi mới cuốn mình đi, làm giàu dễ dàng và nhanh chóng bằng con đường kinh doanh địa ốc. Cô cười nói: “Em chỉ nhớ những buổi đi ăn với bạn bè ở các nhà hàng sang trọng; đi tắm hơi và đấm bóp ở những salon đẳng cấp, được phục vụ tận tình, được nghe những lời xưng tụng êm tai...”

Tới Mỹ theo con đường vòng: Một đứa con được bố bảo lãnh rồi đứa con ấy bảo lãnh mẹ, cô mang theo mình lòng tự tin có sẵn, tài sản và sự tháo vát, nỗ lực thích nghi với hoàn cảnh mới, học thành công một chuyên môn ngắn hạn để có lợi tức học tiếp vài chuyên môn khác. Thay vì tình tự quê hương, cô được dạy bài học sinh tồn rất thực tế, rất phù hợp với một Mỹ quốc thực dụng. Tôi biết những người như cô, định hình được mục tiêu của mình, tập trung vào mục tiêu ấy, chắc chắn sẽ thành công cách này hay cách khác ở xứ sở này, sẽ thực hiện được Giấc Mơ Mỹ Quốc theo lối nói thông dụng của nhiều người khi tới đây.

Còn tôi, ngơ ngẩn như mán về xuôi, bước ra khỏi khoang chiếc máy bay 2 động cơ hạ cánh lúc nửa đêm ở phi trường Ontario đèn đuốc sáng choang, bốn mẹ con bà cháu dắt díu nhau như đi trong một cơn mơ, hành lý mang theo là những câu thơ tuyệt tác của những nhà thơ lớn thời đi học, những “Ngẩng đầu ngóng mãi chưa thôi nhớ, hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya...” và những “Sóng gợn trường giang buồn điệp điệp, con thuyền xuôi mái nước song song, thuyền về nước lại sầu trăm ngả, củi một cành khô lạc mấy giòng...” Những ngày đầu, chúng tôi tạm cư ở một thành phố miền núi, đất đá khô cằn, cỏ cây xám xịt. Một cơn mưa bất ngờ, một vầng trăng lẻ loi, một sớm mai nghe tiếng chim hót, một mùi dạ hương đâu đó trên lối đi, mỗi mỗi như dao ngọt cứa lên thần kinh cảm xúc của tôi, làm tim đập thất nhịp vì nhớ ra thân phận lạc loài của kẻ thiếu quê hương. Đúng là những bâng khuâng chẳng được tích sự gì ở nơi phồn hoa đô hội cổ võ sự tranh sống kịch liệt này. Chẳng thế mà khoảng cách giữa tôi và nước Mỹ ngày càng xa qua ba thập niên, từ điểm gặp gỡ đầu tiên sải về hai hướng. Nước Mỹ ngày càng văn minh, tiến bộ, đi hia bảy dặm. Bước chân tôi ngày càng già nua, chậm chạp, không theo kịp. Hệt như thơ Lưu Trọng Lư: “Nhìn nhau mà lệ ứa, một ngày một cách xa.”

Thời tiết miền Nam Cali năm nay rất lạ. Giữa tháng 5 rồi mà buổi sáng trời mù, gió hiu hắt lạnh. Buổi trưa ngày nắng ngày không, chút hoang mang làm rung nhẹ những đỉnh cây đứng yên hai bên vệ đường. Radio làn sóng tiếng Việt đang phát Thuyền Viễn Xứ, Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của tác giả Huyền Chi. Được hỏi một lúc nào đó năm 2011, Phạm Duy cho biết bà Huyền Chi còn tại thế, có liên lạc với ông. Bây giờ không biết bà còn hay đã mất, đang ở đâu và có giật mình thấy ra lời thơ rất thiêng của bà vô tình báo trước một thời đất nước điêu linh, dân tình tản lạc hay không?

“... Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi. Đời nhịp sầu lỡ bước, bước hoang mang rồi. Quay lại hướng làng, Đà Giang lệ ướt nồng, mẹ già ngồi im bóng, mái tuyết sương mong con bạc lòng. Trời cao chìm rơi xuống đời, biết là bao sầu trên xứ người...” Phải công nhận ngòi bút của nhạc sĩ họ Phạm có khi xuất thần, chữ nghĩa được ông phù phép một vẻ đẹp man dại và đau thương đến độ, “mái tuyết sương mong con BẠC LÒNG...” Những đứa con ra đi là biền biệt, không quay đầu nhìn lại mẹ già ngồi như tượng, mỏi mắt chờ trông. Năm tháng làm phai màu tóc mẹ, phai cả lời hẹn ước của con. Trong bài Trở Về Mái Nhà Xưa, ông viết: “Người xa vắng biết đâu NẤM nhà buồn.” Ngôi nhà không còn tình yêu khác gì nấm mộ vùi chôn người ở lại?


Chúng ta đang sống ở thời đại mà lưu lượng thông tin nhiều như không khí, đã thu hẹp thế giới vào cái màn hình điện thoại thông minh chì lớn bằng bàn tay, khiến người đi xa không còn tâm trạng “biết đâu” nữa. Quê hương gấm hoa một thời trẻ con thả diều đuổi bướm trên những đồng cỏ xanh tươi, ăn quả non cũng thấy ngon, uống nước lã không đau bụng, nay thì tất cả mọi thứ cần cho đời sống đều chan chứa độc tố bởi vì quan chức nhũng lạm câu kết với bọn gian thương, cho chúng buôn bán, sử dụng hóa chất bừa bãi, mặc chúng tung hoành thủ lợi trên xác thú vật và cả xác người sống bị tước hết quyền phản kháng. Còn đâu rừng vàng, biển bạc, những đồng bằng màu mỡ, phì nhiêu giúp cho dân giàu, nước mạnh? Đến con cá cũng không toàn mạng trong giang sơn vốn tự do vẫy vùng của nó nay bị xâm hại. Đến đất vô tri cũng nứt nẻ, vỡ ra từng mảnh, bị bức tử vì Cửu Long Cạn Giòng.

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ dưới hầm tai vạ.” Đâu chỉ có bọn thái thú Bắc phương mới nở xuống tay đầy đọa con dân nhà Nam, bọn quan chức vong thân ngồi trên những chiếc ngai nạm vàng ở Bắc bộ phủ đã đốt hết sử sách tiền nhân để lại, cai trị dân bằng tâm hồn thái thú, vô cảm trước dân tình oán than ngút trời.

Tổng thống Hoa Kỳ thứ 44 sắp viếng thăm Việt Nam trước khi mãn nhiệm. Ông sẽ được các chủ nhân ông của quốc gia đối tác đầy tiềm năng này tiếp đón với đầy đủ nghi lễ ngoại giao dành cho hàng quốc khách. Ông sẽ không phải ái ngại khi được mời dự quốc yến với thức ăn hảo hạng, cam đoan tinh khiết và ngon miệng. Băn khoăn của riêng tôi là không biết thông minh và nhân bản như ông, khôi nguyên giải Nobel hòa bình, với tầm nhìn độ lượng của một chính khách cao cấp thường quan tâm và bênh vực người nghèo, với khối lượng tin tức ban báo chí Tòa Bạch Ốc trình lên ông hàng ngày, liệu ông có hình dung ra được mâm cơm của tuyệt đại đa số đồng hương chúng tôi dưới mái nhà của họ bên ấy không? Có ai nói cho ông biết món thịt kho trên mâm cơm ấy có thể được nấu bằng thịt đã thối rữa mà người hàng thịt làm tươi lại bằng hóa chất và bán ra cho dân lành hay không? Có ai nói cho ông biết đĩa rau quả trên mâm cơm ấy được nông trại tưới tẩm bằng thứ phân bón làm cho thân, lá, củ tốt tươi hơn nhưng khó khai thật nó thuộc loại gì? Có ai nói cho ông biết những hạt gạo nuôi sống những gia đình “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” nay được pha chế bằng nhựa dẻo? Và nếu biết, ông sẽ nói gì với vị nguyên thủ của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “đầy tiềm năng” như biểu hiện bên ngoài của nó?

Có thể tổng thống cũng sẽ được mời thăm viếng một trung tâm du lịch tuyệt đẹp và sang trọng của Việt Nam từng được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Vâng, tổ quốc do tiền nhân chúng tôi tạo dựng cho con cháu mỹ miều như thế, nên thơ như thế, kỳ ảo như thế. Từ hơn 40 năm nay, nó đã được chuyển nhượng từ toàn thể dân tộc chúng tôi sang tay một thiểu số kẻ xấu (theo cách gọi của Thượng Nghị Sĩ John McCain) với rất nhiều máu xương của cả hai miền Nam Bắc Việt Nam và trở thành tài sản riêng của những người này. Quá trình chuyển nhượng bất đắc dĩ ấy có bàn tay quyền lực của Hoa Kỳ thúc đẩy và góp phần.

Người dân Việt Nam đọc sử thế giới, ước mong Việt Nam có được vận hội như Nhật Bản sau Thế Chiến II, đón nhận một tướng đầy nghĩa khí và tâm huyết như Douglas Mac Arthur, với lý tưởng và công tâm muốn biến miền đất từng chìm đắm can qua trở nên giầu có, văn hóa phát triển, trình độ dân chúng nâng cao thành một nước lý tưởng như Mỹ. Trong thời chiến tranh, giới lãnh đạo Nhật Bản đã có những sai lầm, nhưng rồi đây, khi Nhật Bản trở thành một nước dân chủ, một nước công nghiệp giầu mạnh, thì cũng như nước Mỹ, Nhật Bản cũng sẽ có nền văn hóa dân chủ, tự do, coi trọng sự lựa chọn của cá nhân. Hơn thế nữa, Nhật Bản nên là như vậy. (Tiến Sĩ Edwin O. Reischauer)

Nước Mỹ đã thay đổi nhiều điều trên nước Nhật nhân danh sự bình đẳng và tiến bộ của nhân loại, nay giúp thay đổi một thể chế cản trở, thậm chí hủy diệt, những giá trị vừa nêu là việc không nên chối từ.

Một danh ngôn được ghi nhớ của Tướng Douglas Mac Arthur : “The old soldiers fade away,” nhưng tư tưởng của ông soi đường cho dân Nhật còn mãi duy trì.

Với những người Việt Nam ly hương đang định cư ở Mỹ, lứa tuổi thất thập cổ lai hy, viễn ảnh một ngày được trở lại quê hương rất mờ nhạt. Dẫu sao, còn hơi thở là còn nuôi hy vọng và còn cầu nguyện, xin cho quê nhà sớm thấy lại ánh dương quang, trẻ thơ có bầu sữa ngọt, cha mẹ già có hạt cơm thơm và 90 triệu dân được thở không khí trong lành, can đảm cất lên tiếng kêu đòi khi có sự bất công để cô giáo Trần Thị Lam không còn rơi lệ trên những dòng thơ châu ngọc.

Ôi, mong ước tràn ngập lòng những sáng, những chiều nhớ thương khôn nguôi!

Bùi Bích Hà

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 290
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà   Sun Oct 01, 2017 9:16 am



Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Bùi Bích Hà


“Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,” câu thơ đầu trong bài “Thăng Long Thành Hoài Cổ” của Bà Huyện Thanh Quan đã khắc ghi đậm nét trong trí nhớ tôi từ những năm ngồi ghế trung học Ðệ Nhất cấp, giờ cổ văn với cô Hòe lớp Ðệ Ngũ trường Ðồng Khánh.

Ðối với tôi ngày ấy, câu thơ không chỉ thuần là câu thơ nổi tiếng của một bài thơ nổi tiếng trong văn học sử nước nhà, được một bậc nữ lưu thi tài lỗi lạc ngẫu hứng viết xuống khi về qua cố đô một buổi chiều phai nắng, nhìn cảnh vật tiêu điều qua bao lớp sóng phế hưng: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”

Mà hơn thế, câu thơ còn diễn đạt nỗi ngậm ngùi trước những cảnh đời đổi thay hệt như những màn kịch trên sân khấu, khiến tôi không khỏi ngạc nhiên và thầm cảm phục nhân sinh quan đầy đạo vị của nhà thơ ngày ấy.

Sau này khôn lớn, bản thân chứng kiến thế sự thăng trầm, tôi vẫn đọc thơ bà để suy ngẫm. Bị bứng khỏi đất lề quê thói như một cái cây trốc gốc trôi theo cơn lũ thời cuộc ra đại dương, nhiều khi tôi chạnh lòng nhớ về hoàng thành cổ kính ở Huế, nơi bắt đầu và chấm dứt triều đại nhà Nguyễn qua 13 đời vua và 143 năm trị vì trên ngai vàng.

Bến Thương Bạc, lầu Ngọ Môn, điện Thái Hòa, cung An Ðịnh, phủ Bà Chúa Nhất, cửa Ðông Ba, cửa Thượng Tứ, hồ Tịnh Tâm, đức Từ Cung, Hoàng Ðế Bảo Ðại, Hoàng Hậu Nam Phương, Hoàng Thái Tử Bảo Long. Những phương danh quen thuộc, những địa danh ghi dấu một giai đoạn lịch sử với nhiều biến thiên làm nên một Việt Nam minh châu trời Ðông rạng ngời gần hai thế kỷ, nay đâu rồi những người muôn năm ấy? Nay đâu rồi những áo mão, cân đai, lọng vàng, xa mã, một thời lung linh sắc màu và hạnh phúc, một thời vinh quang và một thời tủi nhục?

Tất cả xóa đi, chỉ còn trơ lại cái bàn cờ cũ kỹ xếp vào trầm hương cổ tích. Chỉ còn linh hiển một vầng trăng xanh biếc không nơi nào tôi đi qua trên mặt đất này có một màu trăng “gọi hồn Thục Ðế” huyền ảo như thế.

Vở kịch đã hạ màn. Nhân vật đã ra khỏi sân khấu. Ðể lại một hậu trường ngổn ngang hoài niệm, hoen ố và buồn bã. Ðể lại những khán giả hậu sinh như tôi lạc loài phương trời, đem theo mình nỗi u hoài khiến nhìn đâu cũng tưởng chừng chan chứa biệt ly.

Hôm Chủ Nhật, 14 Tháng Năm, 2017, dưới bầu trời Paris trong xanh và nắng vàng trải lụa khắp nơi, lễ nhậm chức của Tổng Thống Emmanuel Macron diễn ra trang trọng tại điện Elysée với tất cả vẻ đẹp của một nước Pháp cổ kính.

Ông rời nhà riêng để tới nơi hành lễ trên chiếc công xa bóng loáng, được đoàn mô tô của cảnh sát hộ tống rầm rộ, chạy theo đội hình trên đại lộ Champs Elysée sạch như vừa được giội nước, qua những vòm cây xanh mướt bên lề đường trang hoàng nhiều cờ tam tài tung bay trong gió.

Dân chúng vui vẻ tụ tập phía sau cái rào gỗ thấp để vẫy chào tổng thống mới của họ. Trên các bao lơn những ngôi nhà gần khu vực hành lễ, nhiều gia đình tề tựu, người lớn tay cầm biểu ngữ viết lời chúc mừng.

Thảm đỏ trải từ chỗ xe dừng bánh tới tận thềm điện Elysée. Tân tổng thống đắc cử đi những bước dài, chững chạc, tự tin, gót giầy chạm đất trước, mũi giầy nhấc cao, đều đặn, là cách đi của người muốn làm việc khó và làm thành công, bền lòng, tự chủ, kỷ luật, chăm chỉ.

Tổng thống mãn nhiệm Francois Hollande đứng chờ người kế vị trên thềm cao, nét mặt căng thẳng, đôi lông mày khẽ cau không biết vì nắng chói hay vì những giây phút đợi chờ bao giờ cũng dài quá. Họ bắt tay nhau, mở ra cánh cửa phân định vị thế của mỗi bên. Họ cùng đi một chặng đường thật ngắn để tới nơi bàn giao chính quyền rồi cánh cửa đóng lại sau lưng một người.

Chiếc công xa đổi vị trí. Mũi xe bây giờ hướng ra cổng. Hai tổng thống một cũ, một mới từ biệt nhau ở cuối cái thảm đỏ, một chút buồn vội vàng trong mắt người rời đi, một chút bâng khuâng trong mắt người quay lại cái chỗ họ vừa bắt tay chào nhau và tân tổng thống thấy mình đang ở ngày thứ nhất trong vị thế của người ông vừa từ giã.

Trong đại sảnh điện Elysée, đông đảo khách mời tham dự lễ nhậm chức của tân tổng thống kiên nhẫn đứng hàng giờ đồng hồ chờ ông xuất hiện sau nghi thức bàn giao.

Nước Pháp từng trải qua chiến tranh, từng bị đoàn quân chiến thắng chiếm đóng nhưng may mắn làm sao, các đền đài, cung điện ở Paris vẫn giữ nguyên kiến trúc lộng lẫy mang dấu ấn của nền văn minh cổ đại La Hy. Trần nhà cao, chạm trổ tinh vi. Những hình tượng điêu khắc tuyệt kỹ. Những chùm đèn trần pha lê lấp lánh sáng.

Khung cảnh tráng lệ của triều đình Pháp hiện diện nhiều thế kỷ hôm nay mở màn phiên bản mới với dàn diễn viên mới, vở kịch đã diễn ra nhiều lần ở đây. Những toán quân lính trực thuộc phủ tổng thống bồng súng gắn lưỡi lê sáng bóng dàn chào trong quân phục thời Nã Phá Luân, giầy ống cao, quần chẽn, nón chóp với chùm lông ngất ngưởng, nón sắt kiểu La Mã hoặc mũ nồi kiểu thuộc địa, ngù vai, dây biểu chương, trông rất đẹp mắt trong ngày hội lớn.

Quả nhiên, khung cảnh lễ nhậm chức của tổng thống thứ tám trẻ tuổi nhất trong lịch sử nước Pháp có đủ tình tiết và các yếu tố thẩm mỹ của một vở kịch lớn. Tôi bâng khuâng tự hỏi liệu cái sân khấu ở điện Elysée sáng nay có liên quan nhân quả gì tới cái sân khấu nhỏ ở ngôi trường trung học tỉnh Amiens, nơi cậu học trò 15 tuổi Emmanuel Macron được cô giáo môn kịch nghệ cố vấn trong một vai diễn khiến cậu khám phá cùng một lúc vừa tư chất bản thân vừa tài năng của cô giáo ra đời trước cậu 24 năm? Emmanuel gọi mối tình của ông và cô giáo là sự bí ẩn lạ thường, có nghĩa là chỉ một mình ông biết nguyên do để tự giải thích với mình.

Ở khắp nơi, người ta thấy không ít những cuộc hôn nhân so le tuổi nhưng chúng có những động lực bắt nguồn từ vài nguyên nhân đời thường: nhan sắc, dục tình, lợi lộc, danh vọng, tiếng sét, sự thách đố… Hầu như không một đôi lứa nào trong cảnh ngộ bất thường ấy gắn kết vào nhau bền chặt và đạt tới một sự nghiệp chung lẫy lừng như tân Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron và Ðệ Nhất Phu Nhân Brigitte Trogneux.

Hình như tạo hóa trớ trêu tạo ra người này cho người kia nhưng bắt họ, những con người ngoại khổ, phải trả một cái giá không dễ dàng. Cả hai có 15 năm để tự vấn về tình yêu của họ, trong sự sáng suốt tuyệt đối.

Trả lời phỏng vấn của báo chí, ông Macron nói: “Chúng tôi quyết định không có con vì sự chênh lệch tuổi tác, tôi còn quá trẻ…” Về phần bà Trogneux, bà ý thức rõ sự già nua của mình trên hai cánh tay để trần, trên khuôn mặt đầy dấu vết thời gian, không cần đi mỹ viện, không cần bất cứ hình thái che đậy nào. Bà nói với ông: “Nếu ông định ra ứng cử tổng thống thì đừng chần chờ nữa, 10 năm tới ông sẽ có vấn đề với khuôn mặt của tôi đấy!”

Rõ ràng ông Macron không nhìn vợ bằng con mắt của những người đứng ngoài sự bí ẩn của họ. Trong mắt ông, bà là hiện thân hoàn hảo những gì ông muốn có, cần có trong cuộc đời. Không già. Không trẻ. Không xấu. Không đẹp. Là giấc mơ kỳ lạ nhất, khó nhất, trở thành hiện thực. Cả hai không chỉ kề cận, cũng không chỉ là hai nửa ghép lại.

Họ thẩm nhập vào nhau liền lặn, toàn vẹn, tuyệt đối, không có chỗ cho bất cứ thứ gì ở giữa. Với họ, trở thành vợ chồng là trong ý nghĩa ấy. Người đàn bà có thể kháng cự với cám dỗ hay đe dọa nhưng rất khó từ chối định mệnh lạ thường khi nó gõ cửa.

Xử sự trước đám đông của tổng thống và vợ ông biểu tỏ sức mạnh phi thường của niềm tin, của tình yêu có lựa chọn, cam kết và trách nhiệm, một thứ hạnh phúc tín thác trong bình an giúp họ vượt qua mọi dị nghị, đàm tiếu vốn thường xảy ra với mọi đôi lứa không chỉ vì một lý do chênh lệch tuổi tác.

Các thủ tục và nghi lễ chuyển giao quyền hành tại điện Elysée giữa cựu và tân tổng thống chấm dứt khi bầu trời bên ngoài thả xuống Paris những hạt bụi nước của cơn mưa nhẹ cuối Xuân. Theo phong thủy, là dấu hiệu phát triển phồn thịnh cho sự nghiệp chính trị của tổng thống với các tiêu chí ông theo đuổi: phục hồi tư thế của một nước Pháp vững mạnh trong khối Liên Âu, an ninh và đoàn kết tiến bước trong thời đại toàn cầu!

Khách dự lễ lác đác ra về dưới những cái ô xinh xắn và cơn mưa “làm phép” nhanh chóng tạnh, trả lại nắng vàng trên đại lộ Champs Elysée, Khải Hoàn Môn uy nghi, ngọn lửa thiêng trên nấm mộ người chiến sĩ vô danh tổng thống vừa thắp lên, vòng hoa vinh danh tổng thống để lại với lòng biết ơn và cuộc diễn binh theo truyền thống có những con tuấn mã gõ móng xuống mặt đường, là hình ảnh của hàng hàng lớp lớp tuổi trẻ sẵn sàng bước ra khi tổ quốc kêu gọi.

Xin chúc lành đến tổng thống, gia đình và sự nghiệp của ông. Ở bước ngoặt lịch sử này, rồi ra tổng thống sẽ phải một mình một ngựa xuất hiện ở nhiều nơi, bắt đầu với chuyến công du Ðức quốc nhưng chúng tôi biết, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, người đàn bà của ông vẫn hiện diện trong tim ông, nồng ấm và chói lòa như đã thế suốt những năm tháng qua.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 290
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà   Sat Oct 07, 2017 12:10 am



Bùi Bích Hà: Phịa

Thoạt tiên, một người bạn trong nhóm gởi ra cái email nội dung như sau: “Tối hôm nay tôi đang nằm đọc sách, chợt nghĩ lơ mơ một điều, muốn đem hỏi các bạn. Câu hỏi thế này: Trong ngôi nhà mình ở, cái vật gì biểu tượng cho trống vắng và cô đơn nhất? Hoan nghênh bạn nào trả lời đúng.”

Trưởng tràng của cả nhóm lên tiếng trước: “Trống vắng hay cô đơn thuộc lãnh vực tình cảm riêng tư, mỗi người mỗi khác, làm gì có câu trả lời nào là đúng nhất?”

Người thứ hai không phản bác câu hỏi mà trả lời: Bản thân.

Người thứ ba không trả lời câu hỏi, cũng không phản bác nhưng sửa lưng câu trả lời của người thứ hai: “Sai rồi, “cái vật gì” sao lại là con người?”

Người thứ tư kể ra một lô những vật dụng mà theo anh, có khả năng đáp ứng câu hỏi, nếu không hoàn toàn đúng thì cũng ở cự ly gần nhất với đúng: Cái gương. Cái lược. Con dao. Cái trần nhà. Cái ảnh thờ. Cái giường. Kèm theo cũng một lô những lời dẫn giải lý do vì sao anh chọn từng ấy món?


Người thứ ba, sau khi phê bình câu trả lời của người thứ hai, đến lượt mình điểm: Cái cửa sổ. Theo chị, cái cửa sổ không có căn tính mà chỉ hiện hữu cho mọi thứ khác.

Người thứ năm vào cuộc chậm nhất và giữa chừng, không nắm tình hình từ đầu nên gõ xuống bàn phím hai chữ Cái Giường, hoàn toàn không biết giải đáp của mình trùng lắp với một món người thứ tư trong nhóm đã chọn ra.

Đến đây, lây sự hào hứng của cả nhóm, người thứ nhất lại nhẩy vào, đưa ra một món rất ngoạn mục và bất ngờ: cái restroom, nôm na trong tiếng Việt gọi là cái cầu tiêu.

Luôn nhậy bén với thực tế thời đại số, trong 15 giây thôi, người thứ ba trả lời vị trưởng tràng nhanh như chớp: Sai rồi, bây giờ ai vào restroom cũng mang theo iPhone hết!

Qua một buổi tối nhặng cả lên với nhau, ngày hôm sau, tác giả câu đố được yêu cầu bạch hóa câu trả lời đúng nhất.

Chị từ tốn dẫn giải: “Đó là cái trần nhà. Luôn luôn bị bỏ quên. Luôn luôn trống trơn, trơ trọi. Nếu có gắn đèn thì cũng là để soi sáng những vật bên dưới nó chứ không phải chính nó. Mỗi căn phòng có 6 mặt phẳng. Bốn mặt tường đều có trang hoàng tranh ảnh, kỷ vật. Sàn nhà được trải thảm, bày chậu hoa. Chỉ có trần nhà ít ai ngó ngàng tới trừ phi nó dột mà sửa xong chỗ dột, lại rơi ngay vào quên lãng.”

Cả nhóm nhao lên vì không đồng ý.

Người thứ hai “pháo” trước: “Trần nhà phòng con gái tôi là toàn bộ thái dương hệ trong vũ trụ. Trần nhà phòng ăn của tôi lúc nào cũng Giáng Sinh trắng tinh, vui tươi, rộn rã.”

Người thứ tư thở hắt một hơi dài thất vọng: “Mèng ơi, một người nằm tênh hênh trên giường, không nhìn cái trần nhà thì nhìn cái gì? Có lẽ người đang hạnh phúc cùng mình nên chợt thấy cái trần nhà lạnh băng, im như thóc, bèn động từ tâm mà đoái thương, nghĩ nó cô đơn, trống vắng! Thế mà làm cả đám suy nghĩ nát cả óc, chán mớ đời!”

Đành là có thế nhưng hình như chính anh cũng từng trải qua kinh nghiệm “nằm tênh hênh trên giường, không nhìn trần nhà thì nhìn cái gì?” Cũng cùng tâm trạng y như tác giả câu đố, nghĩ nó cô đơn, trống vắng, nên anh đoán trúng phóc ý của tác giả mặc dù hơi tham, còn cố liệt kê thêm vài món nữa.

Anh trưởng tràng thấm nhuần triết lý trong Kiều của cụ Nguyễn Du, cười mỉm và phán: “Thấy chưa? Toàn là suy nghĩ chủ quan, kiểu ‘người buồn cảnh có vui đâu bao giờ,’ cứ áp đặt tâm sự của mình lên ngoại cảnh rồi đem ra đố, làm sao có lời giải đúng được vì chẳng phải chính chánh chủ khảo đã sai ngay từ đầu rồi ư?” Hà… hà…

Biết anh trưởng tràng phê phán rất đúng trong “cuộc đố vui không tìm ra lời giải” này nhưng nếu không đố mà chỉ chia sẻ thì chia sẻ của mỗi người, dù không đạt được sự đồng cảm, có đáng được cả nhóm tiếp nhận không?

Chia sẻ của tác giả câu đố cho tôi hình dung ra bạn, một buổi tối yên ả, thư thái ngả lưng xuống giường đọc cuốn sách. Tôi thậm chí có thể đoán ra nhan đề cuốn sách trên tay bạn tôi, viết về những người Việt Nam vượt biển tìm tự do nhưng không may mắn đến được bến bờ mong đợi. Là đề tài chúng tôi đang trao đổi mấy hôm nay khi cuối Tháng Tư tới gần. Tôi cũng hình dung ra căn phòng bạn tôi đang ở trong, có khung cửa sổ rộng trông ra ngã ba cái hồ bát ngát như cửa một con sông lớn; những buổi tối bạn tôi vừa râm ran chuyện trò vừa xoa dầu ở hai bàn chân sau một ngày đứng nhiều và đi lại nhiều, mùi khuynh diệp thoảng bay làm ấm cả không gian xung quanh. Tôi đã đến đây không ít lần và thường thức giấc giữa đêm, nhìn ra mặt hồ nhòa trong sương khuya, thương nhớ con sông của tuổi thơ tôi tận quê nhà xa tít tắp, xót đau một mái ấm giờ đây cũng mất tăm trong mịt mờ ký ức. Bạn tôi đang buồn hay đang vui mà bỗng dưng gán cho cái trần nhà sự cô đơn và trống vắng?

Trở lại chuyện câu đố, người thứ hai sau anh trưởng tràng, đoán nhanh và chắc nịch, là “con người.” Trong nhóm chúng tôi, có vẻ cô có cuộc sống nội tâm nhiệm nhặt và sâu sắc nhất. Cô hay đi bộ một mình trong núi và không lái xe xa lộ. Tôi đoán cô thường có những khoảng thời gian và không gian tịch lặng để lắng đọng tâm tư, để khơi trong gạn đục những tầng cảm xúc bên trong mình tựa như người đãi vàng dưới suối, không chấp nhận để lẫn một hạt sỏi nào. Trong giao tế, cô ròn rã, nồng ấm nhưng không hiểu vì sao, tôi cứ có cảm giác cô giấu đâu đó một chỗ đau, một vết thương nhỏ. Có lẽ tại đôi mắt cô đầy nghi ngại và buồn như đêm. Thế nhưng, chẳng lẽ cô là (sinh) vật cô đơn và trống vắng nhất dưới mái nhà của mình?

Cô em khác, người thứ ba, đoán là cái cửa sổ. Trong nhóm, cô ba thông minh và có tưởng tượng phong phú nhất. Quả thật, đóng hay mở, cửa sổ bao giờ cũng trống vắng và chỉ hiện diện cho mọi thứ khác như cô mô tả. Tuy vậy, tôi không hình dung ra được nó cô đơn. Nó luôn luôn bận rộn, đầy ắp một cái gì: cây cối, hoa lá, nắng gió, những mái nhà nâu, những con chim se sẻ, hồ nước, giòng sông, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, bóng người hàng xóm, v.v… Liệu cô đơn có phải là tình trạng đứng yên một chỗ nhìn mọi vật di chuyển, thay đổi qua mình, xung quanh mình, trôi tuột đi, như nắng mưa, như gió mây thoảng bay, không một thứ gì bám víu và ở lại với nó? Hay nó cô đơn vì nó suốt đời hiện diện bên cạnh cái cửa sổ thứ hai trong cùng một gian phòng, gần nhất cũng cách nhau một sải tay? Nhìn nhau mà chẳng nói, có nói cũng khôn cùng! Tội nghiệp ghê!

Thế còn người thứ tư chọn cái giường, anh ấy nói gì? “Một vật tiêu biểu cho sự cô đơn, có lẽ cái giường nói lên được nhiều nhất, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Cái giường giữ nhiều kỷ niệm của một người đã không còn nữa hay hai người mỗi người là một ốc đảo không tình yêu. Chưa kể một ngày nào đó, ai trong chúng ta cũng sẽ phải đối diện những giấc ngủ chỉ có 1 mình khi mà người vợ hay chồng như chim vỗ cánh bay đi… Nó cô đơn lắm, hãi hùng lắm.”

Đến đây thì tôi phục lăn anh trưởng tràng. Bởi vì tuy tôi cũng chọn cái giường như anh bạn số 4 trong nhóm nhưng do chủ quan, chúng tôi có những liên tưởng khác nhau. Đối với tôi, ngoài bếp, phòng ngủ trong nhà là nơi hội tụ nhiều sinh khí nhất. Những lúc đi xa, nhớ nhà, tôi nhớ nhất phòng ngủ và cái giường, địa đàng nghỉ ngơi của tôi mỗi tối và bình minh mới của tôi hôm sau khi mở mắt ra. Qua một ngày dài làm việc, thời khắc hạnh phúc nhất của tôi là được ngả lưng xuống giường, nơi chốn thân cận với tôi như một người bạn chí tình từ khi tôi lọt lòng mẹ cho tới giờ khắc chia tay cuộc đời ở sân ga cuối, qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mẹ tôi đã ngồi, đã nằm ở đây, đã ẵm ru tôi những sáng tinh mơ, những đêm khuya muộn, một đèn, một bóng; đã gói chặt tôi trong tã lót, chèn chăn gối xung quanh và giao phó tôi từng chập cho giường để gồng gánh công việc trong một ngôi nhà đông người, luôn luôn bắt đầu từ gà gáy cho đến quá nửa đêm. Hết thời nuôi con của mẹ, đến thời nuôi con của tôi. Dù nửa thế kỷ đã trôi qua với vô vàn biến động, mùi thơm da thịt trẻ sơ sinh, mùi sữa hoi hoi từ bầu vú mẹ, hình hài bé nhỏ, mỏng manh như búp hoa non yếu vừa bung nở của từng đứa con vẫn rỡ ràng trong trí nhớ tôi như mới vừa đâu đây. Cái giường câm nín chuyên chở nhiều cảnh đời trong nhẫn nhịn, không đòi hỏi gì cho nó, kể cả chăn gối đẹp mắt, thơm tho, cũng chỉ để làm vui lòng chủ nhân của nó thôi. Nó cho tôi cả bầu trời hạnh phúc nhưng tôi chưa bao giờ chuyện trò với giường để biết nó buồn vui và cô quạnh ra sao? Nói như anh trưởng tràng của nhóm chúng tôi, con người toàn “phịa ra trăm điều” theo tâm cảm của mình từng lúc. Tôi nhớ câu thơ thời đi học, của  Lamartine: “Objets inanimés, avez-vous donc une âme qui s’attache à notre âme et la force d’aimer?” Tạm dịch là: Hỡi các vật dụng vô tri, các ngươi có một linh hồn gắn bó với linh hồn ta và thúc dục nó yêu thương không? Hình như có ai đó đã nói rằng “Trong mỗi người Việt Nam, có một thi sĩ” (kẻ viết bài này xin thêm: dù không biết làm thơ) Hình như chỉ cần một trái tim tràn ngập tình yêu, cho ta nghe được, thấy được, cảm được cả những điều kỳ diệu trong thế giới vô ngôn của muôn loài trong vũ trụ. Có “phịa” không khi tiếng chim hót chiều trong các lùm cây, lúc ríu rít du dương, lúc chí chóe cãi nhau, nghe mà thương? Có “phịa” không khi tiếng sóng biển lúc êm đềm vỗ lên ghềnh đá, lúc đớn đau gầm thét vì đáy đại dương không yên? Có “phịa” không khi ở nơi này, mỗi buổi tối người lưu dân trở về nhà, nhìn ngọn đèn trên cửa kiên trì cháy lên như con mắt buồn bã canh thức niềm hy vọng thấy lại quê hương trong lòng họ? Có “phịa” không khi tôi muốn thêm vào phần giải đáp câu đố của bạn tôi, khoảng sân lờ mờ sáng dưới ánh đèn hiu hắt ấy, cả hai cô đơn và hoang vắng tận cùng?

Anh trưởng tràng ơi, nếu “phịa” cho đời đẹp hơn, vui thêm, thì có nên không?
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 290
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà   Sat Oct 14, 2017 2:30 pm




Bao lâu rồi, ta không nhìn nhau?

Buổi chiều cuối năm miền Đông Bắc trời ẩm sẫm. Gió luồn qua cổ áo, lọt xuống ngực, chảy một giòng cảm giác lạnh khô bên trong lớp áo ấm. Chị cẩn thận lái xe qua những con đường lờ mờ tối, lao xao nghĩ tới nồi súp chị đã nấu sẵn cho bữa ăn thanh đạm thường lệ của hai vợ chồng đang chờ trên bếp. Chị đậu xe vào gara, bên cạnh xe của anh rồi bước lên nhà. Căn nhà yên tĩnh như mọi khi. Ngọn đèn trên chiếc bàn nhỏ chị đã để bật sáng tự động cạnh cái sofa, êm đềm tỏa một vòng tròn màu vàng trên vai ghế. Bỗng nhiên chị cảm giác hơi lạ. Có vẻ như căn nhà yên lặng hơn mọi khi và lạnh hơn mọi khi, làm chị rùng mình toàn thân tuy tai chị vẫn nghe mơ hồ tiếng máy sưởi ở dưới tầng hầm. Không thấy anh trong phòng ngủ, chị để nguyên quần áo đi làm, ra đầu cầu thang gọi vọng xuống bàn làm việc của anh dưới basement. Không nghe anh trả lời. Không cả một tiếng động nhỏ. Thanh âm tiếng gọi của chị dội vào khoảng không trống trải, vang lên một cách khó chịu. Không gọi thêm lần thứ hai, chị chạy như bay xuống hết mấy bực thang trải thảm và khuỵu xuống trên nền nhà, chỉ cách anh vài sải tay. Anh nằm đấy, bất động. Không biết từ bao giờ.

Anh về hưu ở tuổi 67. Chị về hưu theo anh (“để anh có bạn” như chị vẫn cười nói với bạn bè.) Chị mê phim Hàn quốc. Anh nể chị, để chị gối đầu lên chân anh, cùng xem. Anh cầm thêm cuốn sách hay tờ báo, thỉnh thoảng đọc riêng. Bài nào hay tin nào khiến anh theo dõi hơi lâu, chị lại rời mắt khỏi màn hình, mè nheo: “Có gì hay không anh, nói cho em nghe với!” Có hôm anh hào hứng bàn bạc, giải thích. Có hôm anh ừ hữ. Những buổi tối ngày thường họ vẫn trải qua bên nhau như thế. Cho tới tối hôm đó, đã hơi khuya, anh nói với chị: “Đi nghỉ đi em, anh hơi mệt.” Anh nhẹ nhàng nâng đầu chị đặt lên chiếc gối rồi đứng dậy. Phim đang tới hồi gay cấn, chị tiếc rẻ bảo anh: “Anh lên trước đi, chút xíu em lên liền.” Chị nói với theo khi anh đã tới chân cầu thang: “Nhớ uống thuốc nghe anh, em thay chai nước mới ở đầu giường cho anh rồi đó!” Không biết “chút xíu” của chị là bao lâu nhưng khi cuốn phim chấm dứt, chị bước vào phòng ngủ trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn trên chiếc bàn đêm phía chị nằm thì anh đã ngủ say. Chị rón rén kéo phần chăn của chị lên ngực và nhìn anh nhắm mắt ngủ yên trước khi tắt đèn. Những hôm vào giường cùng lúc, bao giờ anh cũng quấn lấy chị, kissed goodnight lên trán vợ rồi để chị gối đầu lên cánh tay anh mà ngủ. Phần chị, sợ nặng, làm đau tay anh nên cố nương nhẹ, lựa thế nằm sao cho cánh tay anh luồn qua gáy chị một lúc rồi chị lăn ra cho dễ ngủ.

Tối hôm đó, lặng lẽ một lúc để ôn lại cảnh quân vương tỏ tình thật lãng mạn và say đắm với cô nữ ngự y trong cuốn phim làm chị say mê, chị khẽ trở mình nằm sát vào anh. Chị hơi ngạc nhiên sao bữa nay anh ngủ say quá vậy? Mọi lần, dù chị cử động rón rén thế nào anh cũng tỉnh ngay và khi cảm nhận chị kề cận bên mình, anh quay mặt vào chị, ầm ừ xoa một bàn tay lên lưng chị rồi ngủ tiếp. Đêm tĩnh mịch một cách khác thường. Từ thật sâu trong cái tĩnh mịch ấy, cảm giác lo sợ bỗng nhiên cồn lên, cuồn cuộn như sóng dâng khi chị nhận ra không nghe tiếng anh thở. Chị ngồi bật dậy, hai tay ôm ngực, định thần một giây rồi mở đèn đầu giường. Chị lay nhẹ anh nhưng anh như một phiến đá ấm. Chị ú ớ. Chị hốt hoảng. Chị run lẩy bẩy bấm số gọi mấy đứa con. Gọi 911. Rồi chị ngây ra, bưng mặt khóc.

Cả tháng nay anh chị có vấn đề nan giải. Sắp nghỉ hưu, anh muốn dời về Cali để được hưởng những ngày nắng ấm và gió biển. Chị thương gia đình cậu con trai duy nhất của hai anh chị đang hành nghề bác sĩ ở đây. Chúng nó có con nhỏ, cần chị phụ một tay. Chị nấu nướng cho cả hai nhà, hàng ngày chạy đi chạy lại lo mọi việc cho cả hai nơi. Nên chị dùng dằng. Nên chị muốn anh chậm thực hiện kế hoạch thêm vài năm cho mấy đứa cháu nội vào hết trường tiểu học để cha mẹ chúng nó bớt vất vả. Anh giải thích, biện bạch, cắt nghĩa, vẫn không thuyết phục được chị. Cuối cùng, anh đề nghị để anh về Cali trước, ở tạm với gia đình cô em gái, tìm mua nhà và sắp đặt sẵn nơi ăn, chốn ở, chừng nào chị muốn về thì về sau. Chị bất bình, trách anh ích kỷ, chỉ nghĩ phần mình, không đoái hoài vợ con cháu chắt. Lấy cớ anh đọc sách khuya, để đèn làm chị khó ngủ, chị ôm gối qua ngủ ở guest room. Anh không nói gì nữa và buồn ra mặt. Những bữa cơm tẻ nhạt trôi qua trong không khí gượng gạo, khó thở.

Bản năng làm mẹ, quẩn quanh với bổn phận hàng ngày thấm đẫm tình thương yêu dành cho con cháu, chị vui, không có thời giờ nghĩ đến nhu cầu của người bạn đời hiện diện bên chị đã thành thói quen bất biến, gắn liền với cuộc sống của chị chặt chẽ đến nỗi chị không còn nhận ra chỗ nối để phải bận tâm hay lưu ý. Còn anh, nói như người Mỹ, anh “hang on,” với hy vọng như tia nắng chiều cứ mỏng manh dần rồi đứt. Một buổi sáng, anh ra xa lộ, không biết vì sao mà anh chui cái xe đang tăng tốc của mình vào phía sau chiếc xe vận tải nằm ụ bên lề phất phơ mấy cái cờ đuôi nheo màu đỏ báo động tai họa. Chị đón nhận tin dữ như ngày tận thế, ngơ ngác thấy mình lẻ loi đứng lại giữa hoang tàn đổ nát, không biết phải làm gì?

Nhiều cuộc chia ly không hẹn hò. Nhiều cái chết như cơn mơ không chờ đợi. Để lại nuối tiếc, bàng hoàng, ân hận. Tôi chợt nghĩ đến “Chúc thư của tình yêu.” Viết mỗi ngày. Thi hành mỗi ngày. Gia hạn mỗi ngày. Sao không để lại cho nhau tất cả những gì mình có và biết là sẽ không thể mang theo khi ra khỏi đời sống này? Giữa bộn bề những món nợ thế gian ngày ngày chạy vạy, đêm đêm nằm gác tay lên trán tìm phương cách hoàn trả, món nợ tình yêu dễ thanh thỏa nhất thì con người quỵt nợ hơi nhiều. Ai cũng muốn thấy số tồn căn là Zero trên báo cáo nợ ngân hàng nhưng có lẽ không mấy ai nhớ ra còn một bản báo cáo không bao giờ được viết xuống từ trái tim, cái ngân hàng có vốn liếng vô tận. Chẳng biết triết gia hay nhà thần học vĩ đại nào đã cấy vào đầu óc chúng ta quan điểm trở thành lời sấm truyền và được rao giảng rộng rãi trong dân gian: Đời là bể khổ. Cứ tạm tin như cụ Nguyễn Công Trứ từng ngâm ngợi: “Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe, trần có vui đã chẳng cười khì.” Nhưng kinh nghiệm sống của con người là mặt đối chọi tích cực, không phải vô sở cứ: Bệnh quỷ có thuốc tiên! Chỉ hiềm thuốc tiên vì quý nên hiếm, tìm nó không dễ mà cần có “huệ nhãn,” ngụ ý con mắt được thiêng liêng soi sáng.

Tôi lang thang trên mạng, gặp bài hát Hãy Yêu Nhau Đi của Trịnh Công Sơn, có mấy câu từng được nhiều triệu thính giả Internet lắng nghe, “Hãy yêu nhau đi bên đời nguy khốn, hãy yêu nhau đi cho gạch đá có tin vui…” Quả nhiên, tình yêu là thần dược đem theo nó phép lạ vào chỗ khốn cùng, ban cả linh hồn cho gạch đá vô tri. Khi giới trẻ Tây phương chán ghét chiến tranh, họ hô hào Make Love, not War, có lẽ thế giới nên hiểu ngoài cái mặt phẳng dưới lưng ra, con người còn có khả năng yêu nhau bằng ngôn ngữ, bằng tiếng cười, bằng mắt nhìn “Hãy nhìn vào mặt người lần cuối trong đời…” Nhất là bằng mắt nhìn vì con người thường “thấy” nhau chứ không “nhìn” nhau. Đừng chờ như Trịnh Công Sơn cố vớt vát niềm tin trong phút giây vĩnh biệt mà khi còn có thể, hãy “nhìn” nhau như đây là lần cuối. Sẽ không phải hối tiếc hay ăn năn muộn màng. Sẽ giầu có, hạnh phúc đến chói chang, chất ngất. Sẽ cảm nhận dưỡng khí căng đầy buồng phổi, sinh lực lan tới từng ngón tay chân. Sẽ muốn ân cần ban phát, chia sẻ, vì vơi đi sẽ đầy lại.

Anh mải mê xông pha trận mạc, chắc không còn nhớ có lần cô em gái nhỏ nói và hỏi khẽ anh: “Anh có ánh mắt nhìn rất đẹp, làm tan chảy cả sắt thép. Đã bao lâu rồi anh không “nhìn” nữa?” Hoa hồng vẫn nở ngoài sân, những chậu phong lan vẫn thoảng hương trong gió và ngày cứ ngắn lại dần…

Vừa rồi, nói chuyện với nhà thơ Tây Bắc về đề tài thỉnh thoảng “nhìn” nhau, cái nhìn “chậm, lâu, quan tâm, trao gởi, bày tỏ, xin lỗi,” chị cười ầm, bảo tôi: “Sao dạo này cải lương thế?” Tôi biện bạch: “Bạn bè bỗng dưng đi nhiều quá!” Và cố cãi nên bất giác viện cả ông bà ra để tự bênh vực, nhắc chị câu: “Phu phụ tương kính như tân.” Triết lý khôn ngoan và khiêm nhượng của người xưa không được hậu thế coi trọng có lẽ vì nay mọi người sống cho mình và vì mình nhiều quá. Thay vì nghiêm túc lắng nghe, thẩm thấu, đa số chúng ta đều coi thường và bác bỏ lời căn dặn ân cần này, cho là khách sáo, thậm chí, xin lỗi quý anh chị nghệ sĩ cổ nhạc, bỗ bã cho là cải lương. Ngẫm cho kỹ, cốt lõi của sự từ khước là chúng ta không coi trọng nhau và từ đó, ngỡ như không cần nhau tuy ai cũng kêu gào hạnh phúc.

Trong cuộc hành trình vòng quanh thế giới để phỏng vấn những đôi vợ chồng thành công trong hôn nhân nhằm thu thập tài liệu cho cuốn sách bà muốn viết với nhan đề The Happy Wives Club, tác giả Fawn Weaver ghi nhận nhiều lần tầm mức quan trọng của NGHI THỨC trong cuộc sống chung. Trở lại nhà, bà nói với chồng: “Giữa chúng ta không có một nghi thức nào cả trong khi nó chính là bí nhiệm của hôn nhân hạnh phúc.” Quý độc giả chịu khó vào internet, tìm đọc bài viết “Những Lứa Đôi Hạnh Phúc Làm Gì Trước Bữa Ăn Sáng” để thử làm một trắc nghiệm giản dị với mình. Nếu vị nào ngẩn ra một giây, tôi hy vọng quý vị sẽ cảm thấy thú vị sau đó. Nếu có ai cười, cho là tôi lẩm cẩm, tôi sẽ vui lòng đợi tới ngày “ai” này bằng tuổi nhạc sĩ Anh Bằng khi ông hạ bút viết “Anh còn nợ em nụ hôn vội vàng…”

Quả nhiên, hạnh phúc rất cần nghi thức để thể hiện, không phải do ở sự rườm rà, khách sáo mà chính bởi lòng trân quý hạnh phúc ấy đã cho ta nhiệt tình luôn cố gắng vượt qua mình và giữ gìn nó. Công phu lắm, tựa như mỗi ngày chúng ta cẩn trọng gói những món quà thật đẹp để trao cho mọi người khi gặp gỡ. Tuy nhiên, phần thưởng nhận lại thật không nhỏ. Có bao nhiêu cha mẹ và con cái, vợ và chồng, bạn bè của nhau có lúc tự hỏi “Bao lâu rồi chúng ta chỉ thấy nhau chứ không nhìn nhau?”

Bùi Bích Hà

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 358
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà   Sun Oct 22, 2017 9:22 pm



Sách có linh hồn không?

Bùi Bích Hà


Sinh trưởng ở thành phố Huế cổ kính, những thập niên đầu và giữa thế kỷ 20, chúng tôi chịu một nền giáo dục hết sức nghiêm khắc của gia đình. Cha mẹ và cả các anh chị, kiểm soát con em rất chặt chẽ về cả hai phương diện hành vi và tư tưởng. Người lớn rất sợ chúng tôi tiêm nhiễm những điều chất chứa trong nội dung các cuốn sách, nặng nhất là sách truyện hay tiểu thuyết. Bàn học của chúng tôi không có sách nào khác ngoài tập vở liên quan đến chương trình học ở nhà trường, Vài bạn may mắn được gia đình chăm sóc kỹ thì có mấy cuốn sách hồng mỏng tang nêu cao gương đạo đức cho tuổi thiếu niên.

Phần tôi, người vô tình gợi ý cho tôi tò mò muốn đọc sách từ tuổi lên bảy là chị cả của tôi. Bố mẹ tôi vì công việc, thường vắng nhà. Khác với tôi bị một chị và một anh trên mình canh gác và trừng phạt thay bố mẹ, chị không bị ai giám sát cả nên chị tự do đọc bất cứ sách gì chị muốn. Tôi còn nhớ như in cảnh những buổi trưa mùa Hè gió hây hây mát, chị ngồi dựa lưng trên cái ghế xích đu đặt ở mé hiên thấp thoáng nắng từ cái dàn thiên lý lá xanh như ngọc, quyển sách úp hờ hững trên ngực, hai mắt chị lim dim, khuôn mặt chị đằm đằm nét dịu dàng thỏa thuê của một bông hoa hé cánh. Chị ngưng đọc từng lúc như thế khiến tôi thầm đoán chắc chị đang ôn lại những gì chị vừa thấy mô tả qua mấy trang sách chị cầm trên tay. Điều này kích thích trí tưởng tượng non nớt của tôi, khiến tôi liều giấu một cuốn của chị trên cái hộp nước trong bồn cầu để tôi có chỗ đọc nó. Dần dần, bằng cách này, tôi đọc được nhiều sách lắm, của Dương thị Hạnh, Hoàng Ngọc Phách, Lê văn Trương, Phạm Cao Củng, v.v.. nhiều nhất là của Tự Lực Văn Đoàn. Có những cuốn đối thoại giữa các nhân vật rất hay và tôi bắt chước họ bằng cách một mình lần lượt đóng mấy vai, một mình đối đáp qua lại, làm đủ cử chỉ như sách mô tả đằng sau cánh cửa phòng vệ sinh tôi đã chốt kỹ. Sau này lớn lên, ăn nói trôi chảy, khẩu khiếu của tôi chắc từ đây mà ra.

Năm tháng trôi qua, như các bạn bè cùng trang lứa, thời mới lớn, tôi cũng có nhiều anh ngấm nghé. Có một anh du học bên Pháp về, cứ mỗi lần đến thăm tôi, anh đều cho sách, những cuốn anh chọn mua ở nhà sách Albert Portail (sau này là Xuân Thu) trên đường Catinat, Saigon. Nhờ anh, tôi đọc hết những cuốn của Francoise Sagan và rải rác trong chương trình học bên Văn khoa, vài cuốn của Jean Paul Sartre, Albert Camus, Somerset Maugham, Andre Gide (tôi bỏ nửa chừng) Alain Robbe-Grillet (tôi không mấy thích). Riêng trong số sách anh cho, có một cuốn không thuộc loại văn học nên tôi đặc biệt lưu ý, cuốn Sur Les Hauts Plateaux du Vietnam, viết về đời sống của các bộ lạc thiểu số vùng cao.

Thấy anh qua lại đã lâu mà tôi thì lửng lơ, mẹ tôi khuyến khích: “Này con, mẹ thấy cậu Thụy được đấy. Trai gái quen nhau mà cậu ấy chỉ cho con sách. Người quý sách tính tình nho nhã, thanh lịch và sâu sắc con ạ!”

Tôi ngạc nhiên nghe nhận xét của mẹ trong cách đánh giá một con người. Nhất là bà xuất thân từ một làng quê nghèo Bắc Ninh, bản thân mù chữ, trưởng thành với công việc đồng áng lam lũ cho đến khi bước vào ngôi nhà bề thế của bố tôi để sinh con cho ông. Mãi sau này, nghĩ lại, tôi mới nghiệm ra niềm an ủi nuôi sống mẹ tôi qua suốt cuộc đời nhọc nhằn, cơ cực của bà là mấy cuốn Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc mà tôi thực sự không biết nhờ đâu bà thuộc lòng không sót một câu!

Đến đời tôi, đứa con không ai chờ đợi trong gia đình vì trên tôi đã có một chị xinh đẹp và một anh khôi ngô, tuấn tú. Từ khi lọt lòng, tôi hẩm hút trong tay người đàn bà sinh ra tôi mà tôi chỉ được gọi là chị, loanh quanh với “người chị” từ tinh mơ đến quá nửa đêm, ngày nào như ngày nấy, phải làm trăm công ngàn việc, nhiều lắm chỉ cho tôi thỉnh thoảng ngửi hơi áo đầy mùi mắm muối của chị, không có thì giờ bế ẵm, chuyện trò với tôi, bỏ mặc tôi trong cái xe đẩy bằng mây, lọc cọc bốn cái bánh gỗ trong gian bếp ám khói là nơi chị phải đánh vật suốt ngày với mấy ông đầu râu để lo cơm nước cho mấy chục nhân khẩu. Biết đi rồi, tôi vẫn một mình lủi thủi chơi với mấy con côn trùng vô hại, với cái chày giã cua quấn cái tã cũ giả bộ làm búp bê, với cái bánh xe lăn vòng quanh cái sân gạch và tôi luôn miệng mời chào, “Chị ơi, chị đi xe của em lên chợ Đông Ba không?” Lớn hơn tí nữa, tôi lăn lóc từ sáng đến chiều tối với con cái những người thợ thuyền và công nhân trong nhà, chơi đủ thứ trò chơi lảm nhảm của đám con nít không có ai giáo dục như tôi. Phước đức tổ tiên để lại, nhờ chị cả, tôi bước vào thế giới sách và học được bao nhiêu điều kỳ diệu qua ngôn ngữ và cách ứng xử của các nhân vật tác giả vẽ ra trong những cuốn sách ấy. Cũng cắp sách đi học như nhiều trẻ con khác nhưng vì có tình yêu chữ nghĩa, tôi với biển học như cá gặp nước, cha mẹ không cần roi vọt đe nẹt, thúc bách. Hơn ai hết, tôi sớm biết sách là chìa khóa mở cửa một thế giới huy hoàng, của ánh sáng, của tâm hồn, của trí tuệ, của trái tim và của trí khôn nhân loại.

Mấy tháng nay, tôi có chị bạn đang loay hoay tìm hiểu, thu góp mọi tài tiệu liên quan đến những vụ đốt sách xảy ra ở Sài Gòn những ngày đầu tiên sau biến cố 30 Tháng Tư 1975, khi cả miền Nam bị Cộng Sản Bắc Việt trắng trợn vi phạm Hiệp Định Paris, lợi dụng thời cơ đến trong tầm tay và xua quân nuốt trọn phần lãnh thổ VNCH phía Nam vĩ tuyến 17.  Chị nói với tôi: “Tội đốt sách cũng ngang với tội diệt chủng. Lịch sử kết tội những lò hơi ngạt của Hitler, sao không ai kết tội kẻ đốt sách?” Bạn tôi không quá lời nếu chúng ta hình dung được mỗi con chữ, mỗi cuốn sách cũng có linh hồn.

Trận đốt sách đầu tiên tôi chứng kiến diễn ra tại lề đường trước mặt rạp chiếu bóng Cao Đồng Hưng, gần chợ Bà Chiểu, Gia Định. Tôi không biết có bao nhiêu cuốn sách và những loại nào được gom thành đống có ngọn, cao chừng hơn một thước, đáy tòe ra chừng thước rưỡi. Nam nữ đoàn viên đội băng đỏ xúm quanh, hăng hái diễn thuyết về nền văn hóa Mỹ Ngụy đồi trụy cần phải được đốt sạch. Họ kêu gọi dân chúng tự giác đem nộp sách cho ủy ban quân quản xử lý hay là chờ nhà cửa bị lục soát, sách bị tịch thâu và người mang tội với giải phóng và nhân dân? Hiệu triệu xong, họ cùng nhau hò hét inh ỏi rồi châm lửa vào nấm mộ sách. Ngọn lửa nhanh chóng bốc lên ngùn ngụt, khói bay khét lẹt. Tôi hơi lạ, nghĩ sao sách mới in ra thơm mùi giấy, mùi mực là thế mà khi bị đốt, sách không thơm nữa? Mỗi tờ, mỗi trang là thịt da của sách chăng?

Sau màn đốt sách này, tôi chờ đợi phải chứng kiến thêm nhiều lần nữa nhưng không! Có ai đó thông suốt về kinh tế tầm nhỏ, đã mách nước chính quyền giải phóng đừng dại dột đem sách ra đốt vì tiền đấy! Đem bán ve chai hay giấy lộn sẽ thu được khối tiền. Thế là lề đường đầy người trải những tấm bạt bày bán sách cân theo kí lô và bạn hàng chạp phô các chợ xé sách xoàn xoạt để lấy giấy gói các vật phẩm bán lẻ cho người mua. Đó là cách làm kinh tế cấp kỳ của những người chủ mới của miền Nam Việt Nam sau “chiến thắng vĩ đại đưa họ lên đỉnh cao trí tuệ của loài người.”

Không đốt sách nhưng sách vẫn là một hiểm họa đáng sợ cho những kẻ không có khả năng đọc sách, hiểu sách để làm chủ sách. Sách vẫn muôn đời là ngọn đuốc soi đường, là vũ khí tranh đấu hiệu quả trên mặt trận xây dựng Tự Do/Dân Chủ/Nhân Quyền và Hạnh Phúc cho con người chống lại bóng tối của ngu muội và của sự ác. Không triệt được sách, không bỏ tù được sách thì triệt người viết sách, bỏ tù tác giả. Sau cuộc chiến đốt sách sớm tàn lụi là cuộc chiến truy đuổi và bách hại các văn nghệ sĩ, nhà báo, học giả, trí thức kẹt lại trong nước.

Viết đến đây, tôi sực nhớ mẹ tôi xuất thân mù chữ. Rõ ràng bà không có khả năng đọc, hiểu và làm chủ sách nhưng sao mẹ tôi không hằn thù, không sợ hãi sách mà trái lại, bà quý sách và ca tụng những người quý sách? Sự khác biệt giữa mẹ tôi và các đội viên mang băng đỏ ở tay áo ngày 30 Tháng Tư 1975, cả những kẻ ra lệnh cho họ đốt sách, là gì? Phải chăng là trái tim của yêu thương con người, của thiện ý muốn thấy cuộc đời này tươi đẹp hơn, tiến bộ hơn, sáng sủa hơn? Phải chăng là niềm tin vào khối óc con người cần được nuôi dưỡng và phát triển thay vì triệt hạ nó?

Thi sĩ Phùng Quán hạ bút viết những câu thơ để đời: “Có những phút ngã lòng, tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.” Mẹ tôi là nhân chứng cho thơ của ông khi bà sống được như một người tử tế và đi trọn cuộc hành trình khốn khó của bà trên mặt đất này cũng chỉ nhờ những câu thơ trong Kiều, Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc, để bà vịn đứng lên và không qụy ngã. Chữ nghĩa là tường thành, là đá tảng, là gậy thép, là sức mạnh sinh tồn vượt qua mọi thử thách và đe dọa. Sợ là phải.

Mới đây, nhân chuyện con nhện giăng tơ ở vườn sau nhà tôi, chúng tôi nhớ lại bài thơ cổ đăng trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, người Việt Nam nào ra đời trong thế kỷ 20 đều thuộc: “Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ/ Buồn trông con nhện giăng tơ/ Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?”… Điều bất ngờ vô cùng lý thú là một anh trong nhóm chúng tôi đang có nguyên vẹn cuốn sách này trong tay, khiến tôi ngẩn ngơ rồi kinh ngạc, tự hỏi làm sao mà một cuốn sách mỏng có thể trôi nổi gần một thế kỷ, qua biết bao tai ương, sóng gió để vẫn đường hoàng tồn tại trong tủ sách của một người suốt đời yêu sách như thế? Tôi nhất định tin rằng không chỉ xương da mà sách còn có linh hồn và linh hồn ấy bất tử, sá gì ý đồ diệt sách của một chính thể vô đạo mà sự hiện diện tính bằng cái ngắn ngủi của một kiếp người?

Bùi Bích Hà



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 290
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà   Sat Nov 04, 2017 12:12 am



Dấu chân để lại

Bùi Bích Hà

Nhà thơ Phùng Quán hạ bút viết mấy câu: “Có những lúc ngã lòng, tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.” Thi sĩ yêu thơ, thơ là tình yêu của thi sĩ. Vịn câu thơ là vịn vào tình yêu. Sách vở, thi phú, kinh nghiệm truyền khẩu kể lại quá nhiều những cơ hội hồi sinh do (sức mạnh) tình yêu. Tình yêu vượt qua nỗi chết. Kỳ diệu như thế, quyền lực như thế, sao vẫn có người xua đuổi tình yêu? Nhổ vào mặt nó. Vùi dập nó. Ném nó vào thùng rác. Xong lại cầy cục, mò mẫm đi tìm. Tìm được tình yêu mới, ba bẩy hai mươi mốt ngày, như người uống xong nước trà đầu tiên đem bã trà đi đổ, rồi mọi việc lại tái diễn theo chu kỳ cố hữu. Cũ/mới, mới/cũ. Kịch bản y hệt nhau. Lần sau kém nồng nhiệt hơn lần trước, chóng phai tàn hơn lần trước vì đã lẩn quẩn chút hồ nghi.

May mắn thay, cuộc sống muôn màu. Cũng có những lứa đôi yêu nhau toàn vẹn. Hai người là những sợi tơ quấn quyện dệt vào vuông lụa đẹp như mây, ấp ủ, dịu dàng, êm ả, “tay anh em hãy tựa đầu, em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây.”

Cuộc hôn nhân của cụ ông Patrick Roach và cụ bà Rose Scott đã vượt qua lễ kim hôn 13 năm. Họ cưới nhau trong một ngày đẹp trời cuối tháng 6 năm 1952, khi Nữ Hoàng Elizabeth Ðệ Nhị của Anh Quốc vừa mới lên ngôi và nước Mỹ đang dưới thời Tổng Thống Harry Truman. Con đường hạnh phúc của đôi uyên ương có vẻ lên thác xuống ghềnh, đi tìm rơm rạ xây tổ từ Bắc Mỹ qua Ireland rồi bay tuốt tới Nam Phi. Họ dọn nhà nhiều lần và nơi này tới nơi kia xa quá, chắc là tay xách nách mang nên một lúc nào đó, cuốn album bìa bọc da giữ trọn bộ hình cưới của họ bị thất lạc trước khi họ định cư tại Staffordshire.

Trong suốt thời gian họ nuôi dạy hai đứa con khôn lớn, trưởng thành, lấy vợ lấy chồng và sanh cho họ 4 đứa cháu, cuốn album quý giá của hai ông bà, không biết vì duyên cớ nào, lại tìm tới nằm nghỉ ngơi trong cái thùng chứa đồ phế thải của một công ty luyện thép trong vùng Birmingham để rồi cuối cùng, lọt vào tay bà Tina Bradley, 56 tuổi, nhân viên tiếp thị. Khi bắt đầu việc dò tìm chủ nhân của cuốn album, bà Bradley nói với tờ báo địa phương Birmingham Mail như sau: “Tôi nghĩ là bố tôi đã lượm được cuốn album trong cái thùng chứa xà bần và có lẽ ông nghĩ chủ nhân của nó chắc phải khổ tâm lắm vì đã đánh mất nó nên ông đem nó về nhà với ý định sẽ hoàn trả cho khổ chủ một dịp nào đó, cũng y như mong muốn của tôi giờ này đây.”

Bà Bradley tìm thấy cuốn album khi dọn dẹp các di vật của thân phụ, một cựu chiến binh Thế Chiến II, sau khi cụ qua đời ở tuổi 83 và cho biết bà cần trao nó lại cho người sở hữu nó để vinh danh cụ, một người sinh tiền luôn luôn làm điều phải.

Ngày 28 Tháng Sáu năm 2011 vừa tròn 61 năm ngày cưới của ông bà Roaches, tờ Mail khởi sự đăng tải vài tấm hình chụp hôn lễ của họ kèm với lời rao tìm tung tích hai ông bà. Một tháng sau, nhờ cô con gái của một trong mấy cô phù dâu ngày vui năm xưa nhận ra, cuốn album được trao trả tận tay chủ nhân của nó.

Với lòng biết ơn và tâm trạng buồn vui lẫn lộn, đôi uyên ương đầu bạc vẫn hạnh phúc bên nhau trong tuổi già lần dở từng tấm ảnh cũ, kiểm điểm người còn kẻ mất, thấy nước mắt dâng lên mi. Cụ ông Patrick ở tuổi 84, nói với BBC News: “Chúng tôi không còn chữ nào đủ để cảm ơn vị ân nhân đã tìm được kỷ vật quý giá này cho chúng tôi.” Cụ bà Rose Scott phụ họa thêm với chồng: “Thật hết sức cảm động trước công khó bà ấy đã bỏ ra để đi tìm chúng tôi.”

Nhờ vào sự phát triển của Internet và truyền thông, người ta ghi nhận nhiều bức hình kỷ niệm bị thất lạc vì nhiều lý do, đã được thu hồi. Trong trận bão Sandy năm 2012, một phụ nữ ở Connecticut bắt gặp cuốn album cưới năm 1962 tấp vào gần nhà. Sau đó, được biết nó thuộc về cụ bà Betty Elio, 82 tuổi, tài sản bị lũ cuốn trôi sạch sành sanh, thế nhưng “của tin còn một chút này.” May mắn châu đã về Hiệp Phố nhờ một người bà con của cụ nhận ra cuốn album khi tờ báo địa phương đưa hình ảnh lên mạng. Trong cuộc phỏng vấn với cơ quan truyền thông này, cụ Elio vừa ngắm nghía những tấm ảnh ghi lại ngày vui trọng đại của đời mình vừa nói: “Như thể tôi đang đi ngược lại thời quá khứ vậy.”

Ông bà mình ngày xưa đã nói (và hẳn là đã thực chứng): “Tâm động quỷ thần tri,” đồ vật thất lạc mà duyên may vẫn còn thì cố nhân sẽ có ngày tìm lại được nhưng ngoài duyên may, liệu tâm thành tưởng nhớ, mong cầu của đi không đi mất có khiến cho cái ngỡ mất sẽ quay về không? Tôi đặt câu hỏi này vì mới đọc cuốn The Secret của bà Rhonda Byrne nói về định luật hấp dẫn trong vũ trụ. Giả dụ cuốn album cưới trong hai trường hợp trên thuộc về hai cuộc nhân duyên tan vỡ, không còn ai mong đợi, chúng nó đâu có địa chỉ nào để tìm về?

Sống ở Mỹ gần 30 năm, có nhiều dịp đi nhiều tiểu bang vì nhiều lý do. San Jose chỉ cách quận Cam một giờ bay hay nửa ngày lái xe thì với tôi vẫn rất xa lạ. Một lần đi gần tới, rẽ về Sacramento trong ngày cưới của cậu em họ. Vài lần đi qua để chạy thẳng lên San Francisco thăm con gái đang học ở đấy rồi chạy tuốt lên Reno ngắm hồ nước ven đường và thưởng thức bình minh ửng hồng trên những đỉnh cây nhìn xuống thung lũng. Vẫn chưa lần nào đặt chân xuống San Jose. Nay nhân dịp cần đi thăm một người bạn thân lâm trọng bệnh, thay vì đáp máy bay, TD từ San Diego đề nghị hai chị em lái xe tàn tàn lên Bắc Cali, vừa đi vừa ngắm những khu vườn cây trải mình hai bên xa lộ 5 rồi lượt về ngắm biển dài theo xa lộ 101. Lâu lắm tôi mới có lại cái thú vào những quán ăn giữa chuyến đi, cảm giác sự tạm bợ vừa lôi thôi vừa đượm chút buồn vui của gặp gỡ và chia tay không hẹn hò. Chị TD cười cười: “Ðúng là cơm hàng cháo chợ nhé!”

Ðến Milpitas gần 6 giờ chiều. Nắng cuối ngày vàng nhạt trên dãy hành lang khách sạn lác đác người vào ra. Mấy bụi chuối dại. Vài khóm hoa không tên nở đó đây. Tôi chắc cảnh trí này bình thường như mọi ngày thôi nhưng có lẽ nỗi buồn trong lòng tôi lúc này đã khiến nó trông ủ ê tội nghiệp.

Sáng hôm sau, TD thức dậy sớm. Chắc chị đi một vòng thể dục như thường lệ. Trở về phòng, chị khoe: “Tìm được đường đi tới Vườn Tre rồi, chỉ chừng 20 dặm về phía Nam, tiện lắm!” Không nghe chị nhắc nhở gì về bữa điểm tâm Continental do nhà hàng hứa khoản đãi khách mướn phòng. Hỏi. Chị lắc đầu: “Mình ăn nửa cái bagel rồi! Có mỗi một cô vừa làm nhiệm vụ tiếp tân, vừa lo ăn sáng, chẳng ra làm sao cả! Thảo nào trông con bé không thân thiện chút nào ngay từ đầu.” Hóa ra chân lý “Hiểu để Thương” do thầy Nhất Hạnh rao giảng muôn đời đúng (tuy để “hiểu” được, lắm khi phải bửa cái đầu ra!)

Buổi sáng mùa Hè ở một thành phố lạ, tự nhiên có nét quyến rũ riêng. Của cảnh quan mới thấy lần đầu. Của hứa hẹn những điều chưa biết. TD và tôi đồng ý sẽ ăn sáng ở nơi nào muốn dừng chân trên đường đến làng Saratoga, nơi có Vườn Tre cả hai đang muốn tới thăm. Khởi đi từ năm 1915 với một đôi vợ chồng cư dân San Francisco có tấm lòng nhân ái, ông Oliver và bà Isabel Stine, khi họ chọn mua khu đất 18 acres này để làm nơi lui tới di dưỡng tinh thần cho gia đình, các nhân sĩ trên thế giới và bằng hữu yêu chuộng nghệ thuật. Bà Stine thân hành đáp tàu thủy qua Nhật, lưu lại đây gần trọn năm 1916 để đi chiêm ngắm các khu vườn Nhật, đặc biệt trong vùng Fuji-Hakone National Park. Trở về Mỹ, bà cho mời các kiến trúc sư người Nhật chuyên vẽ kiểu nhà và chuyên vẽ kiểu vườn để khởi công xây cất khu lâm viên này theo lối đồng quê Nhật, được bà đặt tên là Hakone.

Gần một thế kỷ trôi qua với rất nhiều thăng trầm và thử thách, quyền sở hữu cũng qua tay nhiều người mãi cho tới năm 2000, chi phí bảo trì khu vườn trở thành gánh nặng quá lớn khiến cho sự sống còn của nó bị đe dọa nghiêm trọng. May mắn thay, Quỹ tài trợ của ông bà David & Lucile Packard đã rót vốn ban đầu giúp thành lập ngân sách bảo trì riêng cho khu vườn. Với chế độ tự quản như hiện nay, hy vọng trong tương lai, Hakone sẽ mãi còn là thắng cảnh rất nên ghé lại dành cho khách du lịch và vãng lai đến từ khắp nơi trên địa cầu.

Ngoài các kiến trúc khác trong khu lâm viên, vườn tre được thêm vào trong một dịp đại trùng tu năm 1987, dưới sự giám sát của ông Kiyoshi Yasui, thế hệ thứ 14 của một giòng họ chuyên về kiến trúc của hoàng gia Nhật.

Bỏ đồng token vào cái khe của chiếc hộp sắt ở cổng và lách mình vào trong, dù trời đang nắng chang chang giữa trưa hè, sự yên tĩnh mênh mông xung quanh lập tức cho tôi cảm giác thư thái cũng mênh mông không kém. Cũng bầu trời chung, cao thăm thẳm ấy nhưng sao như gần gũi, thân thiện và hiền hòa hơn. Cũng con đường đất cát như mọi nơi nhưng sao mỗi bước đi như có tiếng thì thầm êm đềm ngân dội. Tôi đoán là do những cái cổng gỗ kiểu Nhật mang đầy thiền vị. Tôi cũng nghiệm ra có lẽ vì dân Nhật chịu nhiều thảm nạn từ miền đất và thổ ngơi họ sinh sống, thiên nhiên và con người có những lúc hung hãn đến điều nên, như phượng hoàng thoát thai từ lửa đỏ qua hai trái bom nguyên tử rót xuống Hiroshima và Nagazaki, kết thúc Ðệ Nhị Thế Chiến, người Nhật tái sinh một kiếp mới và có một nền văn hóa khác. Hơn ai hết, họ thực chứng nguyên tắc sống lấy nhu trị cương vì cứng chọi với cứng là gẫy. Phải như xe hơi cần lắp hệ thống ống nhún để đi qua con đường mấp mô hầm hố. Phải như dòng nước mềm chảy qua ghềnh thác để tung tăng reo vui. Phải như những hạt mưa để làm nguội mặt đất cho cỏ cây nhú mầm và xanh lộc. Phải buông lơi cảm xúc, thư giãn hình hài để nương theo cơn đau và làm chủ hơi thở. Lịch sử của dân tộc đã tôi luyện cho người Nhật bản năng hay kỹ năng sinh tồn tuyệt diệu.

Ðộng mà tĩnh. Tĩnh mà động. Tôi đứng trong khu vườn Hakone, cảm nhận cả tâm hồn và châu thân bung nở, từng tế bào thấm đượm rào rạt, no nê, khí uyên nguyên trong trời đất, ngỡ mình như quả bong bóng sắp bay lên tầng không. Lầu Vọng nguyệt bốn bề trống trải nhưng tôi biết trăng sẽ rất đẹp, rất huy hoàng trên cái hành lang gỗ nhìn xuống hồ nước này. Những dây hoa wisteria chờ đến mùa nhắc tôi vạt áo lụa mát rất Huế ơi của Trần Thị Lai Hồng. Bước vào khu vườn tre xanh nghít, thẳng tắp, yên lặng tuyệt đối, thỉnh thoảng lắm mới nghe một tiếng chim trong trẻo như ngọc rơi, tôi hỏi TD đang thoăn thoắt tả xung hữu đột với máy ảnh trên tay: “Sao tre ở đây không kẽo kẹt như ở vườn nhà mình ngày xưa nhỉ?” Chị trả lời không cần một giây nghĩ ngợi: “Nhìn đi. Những thân tre thanh mảnh, thẳng tắp như thế kia, làm sao cọ vào nhau thành tiếng được? Vườn Nhật mà kẽo kẹt suốt ngày thì sốt ruột quá!”

Quả nhiên, tôi xem lại lịch sử khu vườn, thấy mãi tới năm 1987, bậc thầy của ngành kiến trúc thuộc Hoàng Gia Nhật là ông Kiyoshi Yasui, mới thêm công trình kén chọn này vào. Thời đó, tôi đã định cư ở Mỹ được hơn một năm rồi, đang cặm cụi làm thợ trong một xí nghiệp sản xuất y cụ ở Irvine. Trẻ con lớn lên trong gia đình, trong lớp học, trong xã hội. Vườn tre xanh biếc, cao vút, lớn lên giữa thiên nhiên. Tôi chợt nghĩ mình có già đi cũng đành!

Tôi đã đi thăm vườn Nhật ở thành phố Bellevue, WA và nhiều vườn Nhật lớn nhỏ đó đây, có khi ở tư gia bạn hữu. Những không gian ấy có khác nhau về kích cỡ nhưng các họa tiết tạo nên khung cảnh đều theo một công thức chung, mang đến cho người chiêm ngắm sự tĩnh lặng. Riêng ở Hakone, diện tích quá lớn để được gọi là vườn. Cũng thú vị khi được biết Hakone từng được sử dụng để thực hiện phần lớn ngoại cảnh cho cuốn phim Memoirs of a Geisha đoạt tới 3 giải Academy Awards.

Ngoài khu Vườn Tre, làng Saratoga còn có suối ôn tuyền và khu phố xá thương mại ở đầu con dốc thật xinh xắn và thơ mộng. Trên đường ra, TD hỏi bâng quơ: “Bao giờ người Việt Nam mình để lại đất nước này những dấu chân như vậy?” Khi không có câu trả lời, tôi hay đổ thừa cho duyên số. Mãi về sau, tôi mới nhớ ra tin tức về một triệu phú Việt Nam, ông Phạm Ðình Nguyên 39 tuổi, cách nay vài năm, đã mua thành phố Buford của tiểu bang Wyoming với giá $900,000 Mỹ kim và giữ luôn chức thị trưởng từ người chủ cũ. Tuy nhiên, đến từ một xứ sở nghèo khó vì chiến tranh và giờ đây hãnh tiến chen chân vào thương trường quốc tế để làm giàu, nghe nói ông ta dự tính biến Buford thành trung tâm phân phối cà phê Việt Nam.

Sắp sang Tháng Bảy âm lịch rồi! Ở đây không có mưa ngâu nhưng chiều tối ở quận Cam thời tiết giữa mùa Hè mà sao dịu dàng đến lạ. Có người bạn gởi cho tôi mấy tấm ảnh chụp trời mưa ở Huế, làm tôi buồn muốn khóc, thương nhớ biết bao những mùa mưa thời thơ ấu ở nơi xa xôi ấy, với cha, với mẹ, với anh, với chị, với mộng mơ ngập lòng. “Gió bao lần từng trận nhớ thương đi, mà kỷ niệm ơi, còn gọi ta chi?” (Xuân Diệu)
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà   

Về Đầu Trang Go down
 
Dấu chân để lại - Bùi Bích Hà
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến