Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
Thuong
Latest topics
January 2018
MonTueWedThuFriSatSun
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031    
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Nợ công - Bùi Bích Hà

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Posts : 135
Join date : 20/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Nợ công - Bùi Bích Hà   Tue Aug 15, 2017 2:28 am



Tính Sổ

Bùi Bích Hà






Người chủ tiệm tính sổ mỗi buổi tối. Người nội trợ tính sổ mỗi cuối tháng. Người tình hay vợ chồng tính sổ khi chia tay. Công ty thương mại ngoài tính sổ với cổ đông, còn một tính sổ khó thực hiện nhất với lương tâm và công lý về doanh nghiệp thiếu minh bạch. Ðó là vài hình thức tính sổ phù hợp với những ai trong các hoàn cảnh đặc biệt nhưng hành vi tính sổ lúc chung cuộc đời người thì không có ngoại lệ trừ phi người ra đi quá bất ngờ nên chưa kịp chuẩn bị.
Vì vậy, ở tuổi nào thì nên nghĩ tới việc tính sổ đời mình? Hình như cho tới nay, chưa có một tài liệu thống kê nào đưa ra con số cụ thể cho thấy mẫu mực của việc này nếu không là những kinh nghiệm lẻ tẻ nghe được qua câu chuyện truyền miệng lúc trà dư tửu hậu giữa bạn bè.

Bản thân kẻ viết bài này tuy có dặn dò con cháu về cách xử sự khi cuộc hành trình trên mặt đất của mẹ chúng chấm dứt ở sân ga cuối nhưng vẫn chưa một lần nào nghĩ tới tính sổ đời mình, có lẽ vì mơ hồ biết rằng nếu có “lời” thì đã xài lai rai dọc đường rồi mà nợ thì nghe chừng khẳm, rất ngại ngùng phải đối diện.

Lý do khiến tôi mấy hôm nay băn khoăn việc này là vì buổi tối ngày Thứ Hai đầu tuần qua, tôi nhận được email của D. Uyển, vừa trách móc vừa nhắn một tin buồn: “Mi đi mô mà tau điện thoại không trả lời. con khỉ? Thiềm mất rồi.”
Bạn tôi chỉ nhắn đúng 3 chữ, chị biết 3 chữ là quá đủ để tôi rụng rời tứ chi, hồn vía lên mây. Ðịnh thần một lúc, tôi bấm điện thoại gọi Uyển: “Có biết vì sao Th. mất không?” Bên kia đầu dây, tiếng U. rời rạc, như thể cổ họng chị khô rang, cố lắm mới ráp được một câu: “Nghe nói Th. bị cái bướu trên đầu.” Tôi tưởng mình sụm xuống, tan chảy như cây nến nhỏ ai ném vào lửa, thoáng nhanh qua đầu mấy câu thơ khóc vợ của Hữu Loan được Phạm Duy phổ nhạc: “Em ơi, giây phút cuối không được nghe nhau nói, không được trông nhau một lần…”


Ngày xa xưa khi tâm hồn còn như quả bong bóng màu mới bơm căng hơi, như đóa hồng mới nở, như mây sớm trên đỉnh trời, đọc tới câu này, nghe hát mấy câu này, tôi xót xa hình dung nỗi đau của người trong cuộc mà thương cảm ngập lòng. Bây giờ khi chính mình là người trong cuộc, mới thực sự thấm ngấm nỗi bi ai. Tôi thấy tôi ăn ở tệ với bạn quá. Từ khi bạn dọn nhà, tôi không có điện thoại mới của bạn rồi vin vào đấy, tự nhủ: “Không tin tức là không sao!” Tôi để thời gian trôi qua hàng năm, hàng năm, hàng năm. Tự dối lòng hay lười biếng tưới nước một loài hoa mong manh.
Không tin tức là không sao. Ðâu có không sao! Bạn tôi bệnh, đau đớn rồi mất. Tôi không hay biết nên không một lời hỏi thăm, không một lần gặp mặt và cầm tay. Tôi đã dùng thời gian ấy vào việc gì? Ðã dành sự quan tâm ấy vào việc gì? Tôi đã để bạn tôi buồn lòng nghĩ rằng tôi không còn nhớ con dốc Phủ Cam chạy qua cửa nhà chị. Không còn nhớ tô bún bò An Cựu hai đứa đã ngồi ăn dưới dàn thiên lý ở sân trước nhà chị.

Không còn nhớ những lá thư hàng tuần chị ân cần nhờ tôi đem bỏ giùm chị ở bưu điện trung ương trên đường tôi về học, gửi cho một người ở đồi Tăng Nhơn Phú. Không còn nhớ đôi mắt bồ câu thật đẹp với riềm mi mát rượi của chị chớp chớp khi chị cười rúc rích sau tay áo, khoe khẽ với tôi chiều hôm qua chị được tiếp anh lần đầu tại phòng khách nhà chị và dưới mắt bố mẹ. Không, tôi không quên gì cả, càng không quên những ngày sau cùng anh chị và tôi hẹn gặp nhau giữa đường để cùng bay lên Michigan thăm gia đình Cỏ May. Tôi tới trễ. Từ xa, đã nhận ra vẻ bồn chồn, lo âu của chị bên anh và khi tôi đi rảo bước như chạy tới gần, cảm động thấy khuôn mặt phút trước bồn chồn lo âu ấy sáng lên vì vui mừng. Buổi tối ở nhà Cỏ May, ba đứa chụm lại trong phòng khách xem video ca nhạc Thúy Nga, vừa xem vừa chuyện trò râm ran. Vui thế nào mặc dầu, chị vẫn để mắt cái đồng hồ rồi rụt rè nói: “Tụi bay coi tiếp đi nghe, tau vô, sợ anh Th. không quen một mình.” Có hôm sau khi cả nhà đi bộ hóng gió về, ba đứa rúc vào phòng ngủ, nằm ngang trên chiếc giường rộng bằng gỗ quý, nhắc kỷ niệm thời đi học. Chỉ một chốc lại nghe cái điệp khúc quen thuộc của chị: “Tau vô nghe, sợ anh Th. không quen một mình.”


Vì địa dư rộng lớn của nước Mỹ, vì hoàn cảnh sinh tồn mỗi đứa khác nhau, dường như trong thâm tâm cả ba, chúng tôi đành chấp nhận vui với những gì đến trong tầm tay và cất kỹ những gì đã qua vào kỷ niệm. Lần tạm biệt sau cùng, chúng tôi tha thiết hẹn gặp lại nhau nhưng lời hẹn ấy như nước chảy qua cầu. Anh D. chồng Cỏ May bất ngờ qua đời. Thiềm bất ngờ qua đời. Không ai biết lúc nào gió vô tình hay hữu ý khép lại những chương sách đời dở dang. Liệu có bao giờ cơn gió ấy sẽ đưa tôi về với ngôi nhà ở con đường mùa Thu thành Troy để tôi còn được ôm bạn trong tay và khóc những người đã mất ? Ðể tôi lại được ngồi vào bàn, vào ghế như tất cả chúng ta từng ngồi với nhau trong căn bếp nhỏ, rất thật nhưng cũng rất hoang đường?


Kiểm điểm hay tính sổ? Ðể thấy ra chúng tôi nợ nần nhau nhiều quá. Chúng tôi nợ nhau những lời hẹn ước. Nợ nhau những chuyến đi. Nợ nhau những khao khát đợi chờ. Nợ nhau những ngày vui, những nỗi lòng trao đổi. Nợ nhau những mong ngóng không thành. Nợ nhau một lá thư lần lữa, một cú điện thoại cho những điều khó bày tỏ. Ôi, những món nợ chồng chất tháng năm không bao giờ thanh thỏa được nếu không bắt đầu.

Kinh nghiệm mất bạn vào một lúc không ai có thể ngờ khiến chúng tôi hốt hoảng đi tìm nhau trong khoảng không gian năm bảy dặm đường. Hai năm trước (nhanh như một cái chớp mắt) chị tươi mươi đi dự những buổi họp mặt ái hữu. Chị chỉ có vài sở thích: đi chùa, gặp gỡ bạn bè và đeo kim cương. Chị ít nói nên hay cười, tính nết hiền hậu. Bẵng một thời gian vắng bóng chị, hỏi thăm nhân dịp tang lễ Thiềm, được biết chị không đi đâu vì hai chân đau. Ðến nhà thăm, biết ra trí nhớ chị bị sa sút. Chị ngồi trên ghế, walker bên cạnh, khay thuốc trên bàn, đôi mắt trống vắng. Ðừng làm khó chị mà hãy xưng tên rồi hỏi chị có nhớ không thì chị sẽ gật đầu. Chuyện trò một lúc, chị cất tiếng, thong thả, nhỏ nhẹ: “Nãy giờ nghe các bạn nói nhưng không nhớ các bạn nói chi hết.” Vậy là chị biết bệnh của mình nhưng chị không tỏ vẻ buồn giận mà nét mặt yên ả. Lúc bạn bè từ giã, chị theo ra cửa. Chúng tôi vẫy tay, chị cũng giơ tay vẫy trả và vẫy mãi.

Anh là bạn đồng nghiệp với tôi ở trung học NT/Saigon. Thời đó, anh là giáo sư dạy toán trẻ nhất và được học trò các trường công tư quý mến. Ngoài chuyên môn, anh hoạt bát, khẩu khiếu lưu loát và có óc hài hước. Trong đám đông, anh nổi trội, thu hút.
Di tản qua Mỹ biến cố 30 Tháng Tư 1975, anh không đi dạy nữa mà làm việc hành chánh. Chị đẹp, tươi tắn và trẻ hơn anh nhiều. Chị đặc biệt có giọng nói pha chút nũng nịu rất dễ gây thiện cảm. Chị cũng thích thể thao nên đi gym mỗi ngày. Một buổi chiều như mọi buổi chiều khác, chị đang tập bỗng bị một cơn nhức đầu rồi chị êm ái ra đi vì một mạch máu có chỗ bị mỏng (aneurism.) Mất chị hoàn toàn bất ngờ như thế nhưng anh vẫn gượng cười, nói đùa với bạn bè: “Bây giờ tôi không phải giấu thuốc lá nữa!” Tuy vậy, từ đấy sức khỏe của anh hao hụt dần rồi tới một lúc anh đi lại phải dùng walker. Những năm sau này, anh không đến với cuộc họp mặt ái hữu thường niên của trường NT nữa vì không tiện di chuyển. Ngày xưa, thầy đến với lớp, vỡ đất, gieo hạt. Giờ đây, các học trò cũ đem lớp đến với thầy, hoa trái tốt tươi. Thời gian đã làm việc thật sự có ý nghĩa cho cả thầy lẫn trò. Họ đã thay nhau giữ quả bóng kiến thức và tình người ở vị trí đẹp nhất của nó trên sân chơi của nhà trường và cuộc đời.

Cuộc họp mặt lần đầu, lần thứ hai với anh, cách nhau khoảng một năm, chỉ quy tụ trên dưới chừng mười người vừa thầy, cô vừa trò, xúm xít quanh cái bàn ăn rộng lỉnh kỉnh thức ăn mỗi người góp một món. Vậy nhưng tiếng nói, tiếng cười vẫn rộn rã bay lên và buổi trưa qua rất nhanh trong ngôi nhà ban ngày thường vắng vẻ vì người lớn đi làm, trẻ con đi học. Năm nay, đáp lời kêu gọi của nhóm tổ chức, con số 10 nhân lên gấp ba, gồm thêm nhiều thầy cô giáo cũ có lẽ cũng băn khoăn “tính sổ” như tôi.

Chỉ vài ngày nữa là đến hẹn. Tôi hình dung ra khu vườn nhà anh mùa Hè lung linh nắng, khói lò nướng như mây xuống lưng chừng không gian, giăng mắc trong những khóm lá xanh và 30 người từ một quá khứ đã ít nhiều tàn phai có dịp quay lại đốt trầm hương cũ, nhớ một thời đã qua và sẽ là như thế mãi mãi trong tâm tưởng của nhau. Anh sẽ vui lắm, sẽ không cay đắng và chua chát dẫu sau cùng, chỉ còn anh đối bóng mình trong hoàng hôn tịch mịch giữa khu vườn này mà anh sẽ lây niềm tự hào với câu nói của tướng MacArthur: “Các cựu chiến binh không bao giờ chết, họ chỉ tan hàng thôi!” Trên mặt trận văn hóa, lực lượng giáo chức là những chiến binh phục vụ đất nước và dân tộc bằng những cống hiến bền bỉ của họ. Mở mang bờ cõi hay mở mang trí tuệ, người chiến sĩ ở cả hai phòng tuyến để lại dấu ấn của họ dài hơn một chu kỳ sinh diệt của nhân gian và sẽ không đi vào quên lãng.

Chao ôi, “tính sổ” cũng cần nhiều thời gian mà bây giờ tôi mới chỉ bắt đầu, đành cố gắng thôi!

Bùi Bích Hà
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://thntsaigon.forumsreality.com
PVChuong
Admin


Posts : 376
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Tue Aug 22, 2017 9:10 pm



Tuổi Già

- Bùi Bích Hà




Photo: Peter Levitan

Các cụ bà, tuổi trên dưới 80, thể lực tương đối tốt. Nghĩa là không có bệnh gì ngoài bệnh… già. Nghĩa là cơ thể nhức mỏi ở nhiều chỗ, thường xuyên bị vọp bẻ, ở chân, ngón chân; ở bàn tay, ngón tay, mà các cụ mô tả là có lúc đau thót ruột, vã mồ hôi. Tuy nhiên, các cụ tặc lưỡi, cười gượng: “Ôi, vậy nhưng cũng chẳng sao, chỉ muốn hỏi cô câu này: chúng tôi buồn, rất buồn, tuy biết buồn sẽ hại đến sức khỏe. Khó ngủ, không muốn ăn và ăn thì khó tiêu, lại phải uống thuốc hay uống Seven Up hay Perrier. Cô làm việc xã hội, gặp gỡ nhiều người, xin nhờ cô hỏi giùm các cụ nào may mắn có cuộc sống tuổi già an vui, xin mách bảo giùm, chúng tôi cám ơn lắm.”

Nghe các cụ hỏi, tôi giật mình, sửng sốt, sực nhớ chính tôi chừng một năm đổ lại đây, bận bịu là thế nhưng cũng có lúc cảm thấy thật buồn. Hỏi lại các cụ: “Các cụ có đi chùa hay nhà thờ? Có đi tập dưỡng sinh, tài chi, tập khiêu vũ thể dục? Có làm vườn, trồng hoa, trồng quả, trồng rau thơm để nhà sẵn, đỡ phải mua? Có họp mặt bạn bè, hát hò, chuyện vãn, ăn quà, đánh bài? Có đi sòng bài kéo máy, xem chương trình, ăn buffet? Có coi phim tập Nam Hàn hay Ðài Loan? Có đi mua sắm thử quần áo cho vui mắt? Có đến các trung tâm cao niên để giải trí, đến viện dưỡng lão để thăm nom người đi trước và ngắm nghía cho mình, phòng khi? Có đi xoa bóp, làm skin care để thư giãn thân tâm? Có sử dụng máy điện toán, iPod, iPad để đọc tin, đọc điện thư, nghe nhạc, chơi games? Có đi du lịch một, hai, ba ngày, đường bộ hay đường thủy, để thưởng ngoạn phong cảnh trời xa, xứ lạ và cũng để biết nhớ nhung căn nhà của mình hơn?” Nghe hỏi, các cụ lắc đầu, cười hiền hòa: “Không thử hết thì cũng gần hết món cô hỏi rồi, phát chán mà buồn vẫn không nguôi. Chỉ còn uống rượu nữa thôi nhưng chúng tôi ai uống được thì cũng không uống đến say, chỉ cạn ngày một ly vang nhỏ vào bữa ăn chiều cho dễ ngủ tuy hiếm có đêm thẳng giấc tới sáng lắm. Nó nhức chỗ này, mỏi chỗ kia, thỉnh thoảng chuột rút chân tay cong queo, đau quắn ruột mà cắn răng chịu chứ kêu ai và ai làm gì được?”

Tôi rụt rè hỏi thêm: “Thế các cụ ông thì sao ạ?” Các cụ bà đưa mắt nhìn nhau rồi cùng mỉm cười: “Ấy, quả là hoàn cảnh có khác nhau nên tuy không cố ý, chúng tôi hầu như thuộc hai nhóm riêng biệt, chỉ gặp gỡ trong các dịp quan hôn tang tế hay hội hè cộng đồng chứ không sinh hoạt thân cận để biết mà trả lời cô. Có lẽ các cụ nào Trời cho còn đủ đôi, có khi lời qua tiếng lại cũng đỡ cô đơn.”

Chao ôi, tôi đoán các cụ có đọc thơ tình của thi sĩ Xuân Diệu thời lãng mạn: “Ðược giận hờn sung sướng biết bao nhiêu!” Thi sĩ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” nên nói thế, giận hờn triền miên, cũng hại sức khỏe không kém buồn một mình!

Qua giao tế cũng như tin tức trên mạng, tôi được biết tuổi già của các cụ ông trong thời đại tin học dễ chịu hơn hẳn các cụ bà. Phần đông các cụ ông còn lái được xe ở tuổi trên dưới 80 nên vẫn giữ được thói quen cà phê cà pháo, rong chơi bạn bè, uống bia, bàn luận thời sự quanh bàn mạt chược hay cỗ bài xì phé. Cụ nào thể lực tốt còn đi gym tập thể dục, tắm hơi. Có cụ đánh quần vợt hay đánh golf. Nhiều cụ tham gia việc xã hội, đoàn thể hay cộng đồng, họp hành, viết lách, tranh cãi liên miên. Về nhà, các cụ có ngay cái computer làm bạn, kết nối năm châu bốn biển, giúp các cụ có thêm nhiều mối giao tiếp mới và nhiều chương trình hành động mới. Các cụ nào nhất định gác kiếm nghỉ hưu, lánh mình khỏi chốn đua chen danh lợi nhưng chưa cảm thấy mỏi mệt thì ghi danh học vẽ, học hát, học chụp hình, học điêu khắc, học bất cứ môn nào theo sở thích và năng khiếu trời cho mà thời trai trẻ chưa có cơ hội thực hành. Ði học mà không bị áp lực mưu sinh thì nhà trường là nơi lui tới lý tưởng vì nó giúp mở mang kiến thức và… chậm lão hóa. Tin tức đó đây cho biết không ít trường hợp ông nội hay ông ngoại áo mão tốt nghiệp đại học cùng với các cháu.

Nói tóm lại, do tính năng động và vai trò quyết định của nam giới, các cụ ông có nhiều phương cách để thoát ra khỏi sự bế tắc trong cuộc sống hơn các cụ bà, giản dị nhất là lấp đầy được những khoảng trống thời gian của tuổi già.

Nhớ lại hai thập niên trước, thời tôi còn đi làm ở hãng B, mấy cô em trẻ biết các con tôi đã trưởng thành và tôi sống một mình thì hay tò mò hỏi: “Chị ơi, có bao giờ chị cảm thấy cô đơn vào buổi tối không chị?” Tôi thành thực trả lời: “Các cô tin hay không nhưng sự thật chị không có cả thì giờ để biết mình vui buồn thế nào? Ngưng tay là để đi ngủ vì hôm sau phải dậy sớm đi làm.”

Cho tới bây giờ, tuy tôi đã có đôi lúc rảnh rỗi và nhớ lại bạn cũ, chuyện cũ nhưng chỉ để cười một mình, cảm động vì sự quan tâm của bằng hữu, đồng nghiệp song cũng muốn họ biết tôi không hề thấy mình cô đơn vì tôi luôn có một ký ức sống động với đông đảo những người tôi từng quen biết. Tôi luôn có một ai đó để nghĩ về, một quãng đời nào đó để sống lại, ngay cả một tôi thời bé dại với những trò chơi trẻ con ngờ nghệch đến tội nghiệp.

Tuy nhiên, như viết ở phần trên, chừng một năm đổ lại đây, thỉnh thoảng có những giây phút tôi buồn. Ðối với tôi, nỗi buồn rất lạ, vì tôi cảm nhận nó lần đầu và bất ngờ. Tôi chợt nhớ ra và làm một con tính nhẩm: so sánh với tuổi thọ của cha mẹ, nếu được may mắn như hai cụ, tôi cũng chỉ còn 10 năm nữa để sống. Mười năm của tuổi trẻ như bình minh ở phương Ðông. Mười năm của tuổi già như nước chảy trong chiếc bình cạn úp ngược, là một chớp mắt bằng với thời gian tôi nghỉ hưu cho tới nay. Nghĩa là rồi cũng như cha mẹ, một cách nào đó, tôi sẽ phải lìa bỏ con cháu, bạn bè, thân hữu, độc giả, thính giả, ngôi nhà có chậu mai vàng, những gốc hồng rực rỡ cười chào tôi ngoài cửa sổ mỗi sớm mai, những con đường thân quen từng ngã ba, ngã tư, những công việc đang làm dở dang.v.v…

Thế nhưng, tuyệt nhiên nỗi buồn không phải vì những gì tôi đã biết nằm trong thân phận mình. Có lẽ đó là nỗi buồn trước giờ chia tay của mọi cuộc hành trình, và, như lời một bản nhạc, “người đi có bao giờ vui?” Càng thấm thía hơn trước chuyến đi dài nhất, không hẹn quay về…

Nên, nhớ lại mà thương cha, thương mẹ vì 50 năm trước, 30 năm trước, tôi nào hiểu tâm tình của cha mẹ như giờ đây tôi hiểu chính mình, rất muộn màng. Những buổi chiều mùa Hè nắng nhạt, bố tôi chống gậy ra cổng, đứng nhìn mọi người qua lại. Những đêm mùa Ðông khuya muộn, bố ngồi ở cầu thang nhìn tôi học bài, làm bài, hỏi tôi trước khi quay lưng: “Con không cần gì thầy chứ? Thầy đi ngủ nhé?” Ở Mỹ, mẹ tôi ngồi bên cửa sổ hằng chiều, đợi tôi và các con tôi từ sở làm, từ trường học về, “đôi mắt lặng buồn, nhìn thôi mà chẳng nói.” Tuổi 50, tôi vẫn chưa hiểu gì, vẫn chưa biết thế nào là biệt ly, từng ngày, từng giờ. Trong lặng thầm. Không một tiếng động khẽ. Trên đôi môi khô héo. Trong đôi mắt nhập nhòa giấu lệ.

Nên, bây giờ tôi hiểu nỗi buồn của các cụ. Không tiếc đời mình mà tiếc những chia tay.

Các cụ hỏi “Làm gì cho bớt buồn?” Tôi xin chuyển câu hỏi đến các bạn trẻ may mắn còn cha mẹ. Tôi biết cuộc sống cam go, bận rộn ở nơi này như cơn lốc cuốn các bạn vào bụi mù như đã cuốn tôi một thời nào. Ðừng giận. Cho phép tôi nhắc. Một vòng ôm. Một ánh mắt. Một lời hỏi han. Cái khăn quàng. Ðôi vớ. Chiếc bánh. Bông hoa hái từ vườn nhà. Bất cứ cái gì trong tầm mắt, tầm tay bạn. Từ tấm lòng quan hoài của bạn. Là câu trả lời làm nên phép lạ trong tuổi già (không dài) của cha mẹ mà tôi thật tiếc không bao giờ còn cơ hội.

Tin tức từ trang mạng newamericamedia.org cho biết, theo các chuyên gia về bệnh tâm thần làm việc sát với giới cao niên và cả trung niên thuộc cộng đồng người Việt chúng ta, vấn đề trầm cảm có khuynh hướng gia tăng trong số các cụ hiện sống tại Little Saigon, Orange County, tuy con số bệnh nhân vượt qua trở ngại tâm lý, chịu khai báo để nhận được sự chữa trị, chưa phản ảnh hoàn toàn thực tế. Một cuộc thăm dò cá nhân không chính thức đưa ra nhận định có tới 90% quý cụ cao niên (không rõ con số nam nữ) sử dụng Internet hàng ngày để đọc tin, trao đổi chuyện trò với thân nhân và bằng hữu, vừa giúp họ cảm thấy bớt lẻ loi, trống vắng, dễ đưa tới suy sụp tinh thần, vừa cải thiện trí nhớ của các cụ một cách đáng kể. Một cụ ông được trích dẫn lời phát biểu như sau: “Tôi gõ (bàn phím) để tự mình trau giồi thêm kiến thức, để tự học hỏi, để tự mình giải khuây, để khỏi nghĩ quẩn, để khỏi bị trầm cảm, để khỏi bị bệnh Alzheimer’s, để thoát ly và cũng để giảm bớt ưu phiền trong cuộc sống, v.v…”

Riêng với các cụ bà, ngoài sử dụng Internet để giữ liên lạc với con cháu/thân nhân/bạn hữu xa gần và để giải trí, còn nhiều thú vui giản dị khác, rất dễ thực hiện miễn các cụ giữ được cái tâm an tịnh để có thể mở lòng ra “vui từ mỗi lẻ loi…” Ðời sống luôn dài hơn kiếp nhân sinh ngắn ngủi nên đời sống không thiếu những chân trời mới để khám phá và khám phá khua thức nơi chúng ta niềm vui: một khoảnh đất nhỏ ở vườn sau, thậm chí vài cái hộp gỗ để sát tường mảnh sân ngăn với hàng xóm phía trước cũng cho chúng ta những bông hoa mới hay những liếp rau mới. Báo nào bây giờ cũng có công thức nấu nướng những món ngon, dễ làm, quý cụ còn trí nhớ minh mẫn, không bị con cháu giới nghiêm, có thể bày ra làm để con cháu (và cả vài ba người bạn thân) có cớ gần gũi, vui đùa bên nhau. Nhìn kỹ, đâu đó trong nhà vẫn luôn có thể thêm bớt một cái gì đem lại vẻ mỹ quan: chậu lan đang nở, bức tranh màu sắc tươi, cái khăn lau tay máng ở cửa bếp lò có hình con gà thật đẹp vì đang là năm Ðinh Dậu, v.v… tha hồ đề tài cho bà cháu cùng nhau ngắm nghía, chuyện trò… Ngay cả một cái hẹn (ngoài hẹn với bác sĩ) để la cà với bạn bè cũng làm cho các cụ hào hứng mong đợi, trái tim có chút rộn ràng,…

Ngụm nước khi khát, ngụm rượu khi buồn, một chút tưởng tượng thần tiên làm nên những phút giây đáng giá, chẳng nên lắm sao?
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 350
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Sat Aug 26, 2017 8:55 am



** Chiều tà - Enrico Toselli - Mai Hương
https://www.youtube.com/watch?v=wYEHY2Zs94U


** Giòng Sông Xanh (Le Beau Danube Bleu) – Thái Thanh
https://www.youtube.com/watch?v=wYEHY2Zs94U



Thiền với Âm Nhạc

Bùi Bích Hà


Câu nói nghe được trong một tiệm ăn trên đường Bolsa: “Sống ở Bolsa mà không biết thiền thì chỉ có chết.” Thời gian này, khắp mọi nơi, mọi lúc, dường như mọi người nhắc đến chữ “thiền” hơi nhiều. Chỗ này mở lớp, chỗ kia hội luận, bạn bè trao đổi sách báo, rỉ tai, bàn tán, mách nước, chia sẻ kinh nghiệm. Mọi người ra công tầm sư học đạo. Ông đi thiền. Bà đi thiền. Anh đi thiền. Chị đi thiền. Đệ tử môn Thiền bảo nhau tập ngồi kiết già. Ai ngồi chưa quen, chưa được, thì ngồi bán già. Tập bắt quyết. Tập nhắm mắt tập trung vào một điểm, ví dụ ở giữa hai đầu lông mày. Tập kiểm soát hơi thở vào, hơi thở ra. Bằng cách này, cố xua đuổi mọi ý nghĩ lộn xộn trong đầu về cuộc sống xô bồ bên ngoài nhằm tạo khoảng trống cho cái tâm cần an tịnh. Cho dù có xua đuổi được hết, chắc vẫn còn lại cái ý “muốn thiền?” Hễ đã “muốn” là có lo âu: lo không thành công, lo thất bại, lo tẩu hỏa nhập ma.

Quay cuồng với vận tốc thời gian dường như tỷ lệ nghịch với ước muốn thành tựu bên trong bản thân, mọi người cảm thấy áp lực của những điều bất như ý dày xéo tâm can, thúc bách, trói buộc, khiến cho ngộp thở nên phải tìm chỗ thoáng khí, mong xả bỏ bớt và người ta tìm đến thiền, cõi không giữa chợ đời nhộn nhịp.

Vậy, căn bản của thiền là để xua đuổi tạp niệm, xả bỏ những cái phiền trược nó quấy nhiễu thân tâm con người cần sự an lạc đặng tồn tại. Cái cây động gốc thì lá rụng, cành héo dần, thân chết từ từ. Thế nhưng, khuynh hướng chung của con người là “lấy vào” (càng nhiều càng tốt) thay vì bỏ ra (càng ít càng tốt). Bao lâu mâu thuẫn này chưa giải quyết được trong tỉnh thức, làm sao giải quyết bằng thiền, được cầu viện như một giấc ngủ ngắn?

Không sợ hãi, không tham lam, không ham muốn quá độ, không sân si, bình thản trước những cái đến và đi trong đời (như cơn gió thoảng), cảm nhận được hạnh phúc trong từng nhịp tim khỏe mạnh (là phước báu lớn nhất của đời người), cảm nhận được tình thương bao la của đất trời ban tặng cho thế gian (với bao điều kỳ ảo), cảm nhận được sự cần thiết có nhau trong nhân loại (để vun xới sức mạnh chung)… Đó thực sự là chìa khóa mở cửa vào cõi thiền trong từng giây phút tồn sinh của kiếp người.

Thiền chính là trạng thái tự do tuyệt đối của tâm linh, không bị khống chế bởi thất tình lục dục. Như vậy, thiền thể hiện trong mỗi sát na vươn lên trong đời thường, giản dị như hơi thở, không cần phải tìm đến chỗ thanh tịnh, không quá hình thức đến phải ngồi kiết già hay bán già và bậc thầy cao minh hướng dẫn không ai khác hơn là ý thức tu tâm dưỡng tánh trong tự thân mỗi người, nhằm giải thoát mình khỏi sự kiềm tỏa của dục vọng vốn tiềm ẩn bên trong như một thứ ký sinh.

Đi qua phố phường đông đúc lao xao, tâm thiền định nhẹ nhàng, trong sáng, không động, không bị cuốn hút, tất thị hiện khả năng chuyển hóa trong tự thân. Cho nên tập thiền, trước hết là tập buông bỏ cái ngã.

Nói tới hai chữ “buông bỏ,” chúng ta cũng thường nghe nhiều người nhắc nhở như một thứ kinh nhật tụng, thậm chí như mật chú có khả năng đem lại an vui tức thì. Tuy nhiên, câu hỏi là bao nhiêu người thực hiện được ý niệm tưởng như gắn bó thiết thân với người nói ấy hay cũng chỉ như làn hương thoảng, cơn gió bay, nghe qua rồi bỏ trong khi nhiều cái cần bỏ khác sao khó bỏ quá mà cứ muốn ôm khư khư? Thời đi học, thầy cô giáo dạy làm đủ mấy phép tính căn bản: cộng, trừ , nhân, chia, thứ tự trước sau đọc lên nghe êm tai nhưng còn bé quá, đâu có thắc mắc gì? Lớn lên, có lúc nghĩ ngợi tẩn mẩn, tự hỏi sao tính cộng đi trước nhỉ? Đi trước hay đi sau chẳng sao, miễn là cộng xong thì phải trừ. Cổ nhân đã dạy: lộc bất khả hưởng tận, có lợi lạc nên biết cho bớt đi. Thứ nhất, để hưởng niềm vui trong mắt người khác và có chút phước đức bỏ quỹ tiết kiệm. Thứ hai, để tránh sự không vui theo sau do luật bù trừ. Hưởng lộc lớn quá theo cấp số nhân thì cũng nên chia theo cấp số nhân. Có tiếc xót thì hãy nhủ lòng: còn hơn nếu bị lấy đi… một cách không mấy êm dịu. Các ngài Warren Buffet, Bill Gates là những bằng chứng hùng hồn, tầm cỡ hiếm hoi song còn vô số những người biết cho ở tầm cỡ nhân gian làng nhàng xung quanh chúng ta, chum vại nhỏ thôi nhưng đầy vơi êm ả.

Hóa ra bốn bài tính vỡ lòng sơ sài ấy chi phối cả cuộc đời con người, nào phải chỉ loanh quanh mấy cái hóa đơn?

Bỏ của đã khó thế, bỏ cái “ngã” hay chính mình còn khó tới đâu! Bỏ của, cùng lắm chỉ bâng khuâng tiếc. Bỏ chính mình, còn gì? Mất hết, sao được! Đâu có mất hết, chỉ như người nặng cân, cần bỏ mỡ thừa cho nhẹ bớt để khỏe và đẹp hơn thôi mà! Nghĩ được thế, biết được thế, tin được thế thì sẽ không tiếc nữa, cũng không sợ hãi mà tâm thế bỗng lâng lâng, tựa như con thuyền đi trên sông lớn, chở vừa, không chở khẳm phòng khi giông gió. Tạo hóa sinh ra con người, ngoài lương thực, còn cho con người có khả năng thích nghi để tự tồn, mỗi ngày mỗi khôn ngoan, tinh tế hơn, chỉ phải cái tội con người chủ quan, tự hào mình cao cơ hơn đấng sinh ra mình, có thể luồn lách đi con đường khác và vẫn an toàn về tới đích. Máy định vị (GPS) thời buổi văn minh có khi nói lèm bèm, hướng dẫn sai lạc nhưng GPS của ông Tạo tuyệt đối hoàn hảo. Khiêm nhường, chịu khó lắng lòng và lắng nghe, sẽ thấy toàn giai điệu.

Người Mỹ thường nói: “Hãy xâu chân vào chiếc giầy của người khác,” ngụ ý đặt mình vào chỗ của người khác, mà suy nghĩ, mà cảm thông và phát biểu. Trịnh Công Sơn viết những ca từ đáng suy gẫm: “Đừng tuyệt vọng, em ơi, đừng tuyệt vọng. Tôi là em mà em cũng là tôi.” Bi kịch của con người ở sự hoang tưởng mình không giống ai mà luôn hay hơn, khá hơn. Chung cuộc, chỉ có một sự thật đúng nhất: “Lại thấy trong ta hiện bóng con người.” Hình như lấy “ta” làm chuẩn khiến câu viết dễ nghe hơn! Nhiều “ta” gộp lại, nhiều cái “ngã” nhỏ (tiểu ngã) hòa tan làm thành cái NGÃ lớn (đại ngã). Khi lớn tới vô biên (vô ngã), những biên giới chật chội giam hãm con người trong cọ sát, ganh ghét, thù hận, khổ đau, không còn nữa, kể cả ý niệm về sự sống/sự chết, về lúc bắt đầu và lúc kết thúc. Mơ ước này từng được nhạc sĩ Phạm Duy chia sẻ trong Tâm Ca số 3: “Ngồi gần, ngồi gần nhau đây đó chung quanh địa cầu. Ngồi gần, ngồi gần nhau trong kiếp xưa, trong đời sau. Ngồi gần ngồi thật lâu, cho đến khi hai ngọn đầu thành một người trong nhau nguyện cầu…” Như thế, thử đoán xem bao lâu nhân loại mới có thể tan vào nhau sau vô lượng kiếp đã biết ngồi gần? Vậy nên chúng sinh vẫn cứ khổ đau triền miên.

Những suy gẫm trừu tượng nêu trên tưởng như xa vời, vô nghĩa. Cuộc đời, ngẫm cho cùng, há chẳng phải là sự vô nghĩa lớn nhất hay sao? Triết lý hiện sinh cổ võ hạnh- phúc-trong-từng-phút-giây-hiện-tại bùng nổ thập niên 1960 ở Âu châu bị văn hóa truyền thống chê là phóng túng, mãi sau này mới được tán thưởng khi nhịp sống văn minh ngày càng gia tốc, biến động ngày càng khó lường, kiếp người trở nên quá đỗi mong manh.

Cuối cùng, người Mỹ có bài hát It’s now or never. Thi sĩ Ngô Tịnh Yên có bài thơ được nhạc sĩ Trần Duy Đức phổ nhạc và rất nhiều người yêu thích Có yêu tôi thì xin hãy yêu ngay bây giờ, đừng đợi ngày mai. Tín đồ Phật giáo biết quý trọng mỗi sát na trong hiện tại vì trước hay sau đều là huyễn mộng. Cho nên, ngoài phương pháp Thiền để tạm xa lánh cõi trần gian phiền trược, liệu có nên theo đuổi một phương pháp thiền khác khuyến khích con người hồn nhiên tận hưởng mỗi phút giây hiện tại bằng sự chắt lọc tinh hoa của từng phút giây ấy? Cho dẫu thể xác gông cùm, hồn phách vẫn ngao du sơn thủy, được không? Cho dẫu chúng ta bề ngoài có khác nhau điểm này/điểm nọ, tựu trung, chúng ta vẫn cần những cái khác ấy được bổ sung vì trong sâu xa, ai cũng thiếu cái người kia thừa và ngược lại.

Sau một ngày làm việc mệt nhọc, những trao đổi khó khăn, buồn nản, những giấy tờ vô cảm, những con người là hiện thân của phiền lụy, đẩy cánh cửa kính nặng bước ra bãi đậu xe, cả khuôn mặt mát rượi trong làn gió chiều lướt qua khoảng sân mênh mông, cả tâm hồn như bụi hoa hổ ngươi phơi phới bung mở, lòng thầm kêu Chao ôi là sung sướng! Ngồi vào xe, máy nổ ngoan hiền, CD nhả ra tiếng hát không chuyên nghiệp lắm của người bạn tự thu giọng hát mình để vui chơi và tặng bạn bè. Chị biết tôi thích bản Come back to Sorrento, lời Việt của Phạm Duy, nên thu nguyên một đĩa cho tôi. Có tấm lòng đầy cảm xúc, có nỗ lực trau chuốt từng âm thanh lụa là, cao thấp thả buông, gởi ra trong tiếng hát còn tươi mát riêng mình của chị gọi lòng tôi muốn chạy theo, cùng tan vào cuộc chơi trên những dây tơ vàng thánh thót nắng mưa xuân.

… Đâu tiếng đàn ngoài hiên mưa? Và đâu bướm tơ, vui cùng mùa? Một mùa Xuân mới, mắt êm nắng hào hoa. Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan. Về đây lắng trầm khúc nhạc truy hoan. Về đây nhé! Cắm xong chiếc thuyền hồn, Ôi thoáng nghe dây lòng tiếc đờn...

Dường như là một trở về với ngôn ngữ buồn vui hoang mang của người nghệ sĩ viết lời nhưng trong thần trí tôi, mỗi bước chân trở về mái nhà xưa dù nay không còn nữa, vẫn mãi là mỗi bước hân hoan.

… Mái tóc nhà lưu luyến vạt trăng xanh. Nếu mưa về yêu lấy hạt long lanh. Chờ mong nắng cho tươi đời xuân xanh. Người xa vắng biết đâu nấm nhà buồn. Đốt ánh đèn in bóng vào rêu xanh. Sẽ thấy cười tan vỡ hồn đêm thanh…

Đêm xanh biếc đàn đi trong không gian im ắng, tắm gội tâm hồn tôi trong niềm hạnh phúc không tên tuổi, không nguyên do, tràn ngập, đầy ắp, như không khí tôi đang thở từ cuộc sống tự nó trong trẻo, hồn nhiên và tự nó đầy thiền vị.

Bùi Bích Hà


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 307
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Wed Sep 20, 2017 1:48 pm





Âm Nhạc Và Trái Tim

Bùi Bích Hà


Vừa rời khỏi dòng người xếp hàng rồng rắn trước các cửa sổ phục vụ khách hàng, bận rộn vào giờ tan sở chiều thứ sáu trong ngân hàng Wells Fargo, đầu óc còn váng vất hình ảnh những bàn tay lăm lăm cầm tấm chi phiếu trả lương cho cả tuần làm việc (không bao giờ kịp ấm túi,) những khuôn mặt âm u, những đôi mắt bồn chồn nhìn vơ vẩn ra xung quanh chờ đến lượt, tôi ngồi vào ghế lái chiếc xe hơi nhỏ mới khởi động, ngạc nhiên một cách dễ chịu khi nghe tiếng hát Ý lan chợt cất lên từ đài phát thanh: “… Người dẫu xa, tình thiết tha, hoa ơi có biết lòng ta nhớ người?” Bài hát nghe lần thứ hai, vẫn chưa biết tên tác giả, đánh thức trí nhớ tôi chập chờn ngủ quên hơn mười năm qua, cho tôi thấy lại giữa những giòng xe xuôi ngược trên con đường Harbor đông đúc chiều cuối tuần, khung cảnh khi tôi nghe đúng câu này lần đầu. Thời gian ấy, tôi mới dọn vào căn chung cư trên đường Garden Grove. Đêm hôm đó, tình cờ thấy mình đứng trước cửa sổ phòng ngủ không kéo rèm, ngước nhìn lên bầu trời trên cao trắng đục màu sữa loãng, chơi vơi một vầng trăng tròn lạnh băng màu nguyệt bạch, lòng bỗng dưng nghe ra chừng như thiếu vắng một người.



Nhạc  sĩ Trần Duy Đức (Hình Hoàng Khai Nhan)

Đêm sâu hút vì không gian tuyệt đối thinh lặng. Những tán lá phong đứng yên không động cựa và ánh trăng mênh mang, lạnh lẽo, như một nỗi buồn hóa đá… Hoa ơi, có biết lòng ta nhớ người? Hóa ra, âm nhạc là tiếng nói của thân phận. Khi phóng chiếu về tương lai, nó vẽ ra những giấc mơ thần tiên. Khi la đà quay về vùng trời quá khứ, nó là một thứ hồi quang làm sống lại một kỷ niệm, một quãng đời nào đó gắn bó với người nghe. Cho nên, âm nhạc là một hạnh phúc ngọt ngào, một khổ đau êm ái được hát lên và không thể thiếu trong đời sống nhân gian. Tuổi nào cũng yêu mê và đón đợi âm nhạc. Của một bắt đầu long lanh huyền thoại. Của một kết thúc dù buồn vui cũng đẹp như cổ tích. Âm nhạc sống giữa loài người và sống lâu hơn đời người. Nhiều thế hệ nhạc sĩ sáng tác làm nên tuổi xuân bất tận của âm nhạc. Nhiều thế hệ người hát nối tiếp nhau thắp ngọn lửa không bao giờ tàn của âm nhạc. Hí viện không bao giờ ngưng bán ra những lượt vé và “những con ma trong nhà hát” không bao giờ thôi ám ảnh người nghe.

Vợ chồng nhạc sĩ Trần Duy Đức - Nguyệt Hạnh


Tuần lễ trước đến chơi với con cháu, cô con gái hào hứng hỏi mẹ: “Mẹ đã nghe Tùng Dương hát bao giờ chưa?” Lục lọi thật nhanh trong trí nhớ, không thấy tí tăm hơi nào về hai chữ Tùng Dương, con người hay chỉ nghệ danh. Lắc đầu. Cô càng hào hứng: “Mẹ chờ chút, con cho mẹ xem.” Lúc sau này, tôi hơi lấn cấn về hai chữ “nghe” và “xem” khi ai đó nói với tôi về âm nhạc. Loay hoay mãi mới nghiệm ra câu trả lời cho mình. Người ta thường nói “Đi xem đại nhạc hội” và “Đi nghe nhạc thính phòng.” Rất rõ ràng. Đi “xem” phải mở to hai mắt nhìn tả hữu, thưởng thức ngoại hình, trang phục, các động tác của người trình diễn kể cả người phụ diễn và cảnh trí sân khấu. Đi “nghe” hát thì nghe là chính. Mỗi thính giả là một ốc đảo, có khi mắt nhắm lại để tâm hồn nương theo tiếng hát, tìm về một không gian, một cuộc tình, bốn mùa xuân hạ thu đông, một ngày nắng, một chiều mưa, một bến tàu, một sân ga, một gặp gỡ, một chia tay, ôi thôi, biết bao cảnh ngộ trong đời mà người nhạc sĩ sáng tác đã sống qua, đã sống giùm để thể hiện giùm, để người ca sĩ hát lên những riêng tư mà cũng rất chung ấy, những khoảnh khắc thời gian mong manh mà cũng thiên thu ấy, để cái sân khấu nhỏ của mỗi thính chúng buông màn đã lâu, sống lại trên cái sân khấu lớn ấm áp đèn màu và giai điệu… Nhạc sĩ và ca sĩ được nhân quần ưu ái vì sự hy sinh chấp nhận mình bị tan biến trong cảm xúc tuôn trào của người nghe. Họ không là ai cả nếu không là những nốt nhạc, là tiếng hát đem theo nó những ve vuốt, những thổn thức, những nhớ thương tràn trề như cơn giông mùa hạ tắm gội ký ức; như cơn mưa mùa thu nhỏ giọt hàng hiên xoáy vào kỷ niệm; như cơn lũ cuốn trôi mọi ưu phiền sau một thời kinh Bát Nhã hay một buổi dọn mình xưng tội và được giải tội trước tòa.



Nguyệt Hạnh và Nhạc sĩ Trần Duy Đức (trái)

Một hôm, chuông điện thoại reo. Đầu giây bên kia là tiếng nói của Nguyệt Hạnh kèm với tiếng cười nhẹ: “Chị H. ơi, chị tệ thì thôi, làm sao mà chị không nhớ tác giả của bản nhạc “Hoa ơi có biết lòng ta nhớ người?” Tôi thấy ngực nhói khẽ, thảng thốt: “Vậy là anh Đức ư?” Nguyệt cười thành tiếng, có chút mãn nguyện: “Anh Đức phổ thơ Nguyễn Dũng Tiến đó chị!”

Tôi biết nhạc sĩ Trần Duy Đức, chồng Nguyệt Hạnh và Nguyệt Hạnh ngoài 20 năm, cũng từ một buổi nhạc thính phòng ấm cúng chia sẻ với bằng hữu những bản nhạc sáng tác hoặc phổ thơ nổi tiếng một thời của anh: Khúc Mưa Sầu, Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi, Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời, Em Hiểu Vì Đâu Chim Gọi Nhau, Nếu Có Yêu Tôi và nhiều nhiều nữa. Tất nhiên có cả Hoa Ơi Có Biết Lòng Ta Nhớ Người…

Tuy không thực sự có nhiều dịp gặp gỡ nhau nhưng vài lần gặp hiếm hoi để lại trong tôi ấn tượng khó quên. Anh tiếp đón bạn bè khiêm cung, giản dị nhưng trau chuốt từng lời nói, cử chỉ, của một người cầu toàn, có lẽ cùng một cung cách thận trọng như khi anh chọn một bài thơ để hát lên với những âm giai lộng lẫy nhất. Anh không có một gia tài sáng tác đồ sộ nhưng những gì anh có thể hiện trọn vẹn tình yêu cái đẹp không chỉ của người nhạc sĩ, người nghệ sĩ vui chơi giữa cuộc đời mà của một điêu khắc gia say mê khắc chạm cảm hứng của mình lên đá quý.

Trong căn nhà nhỏ có khung cửa sổ đong đưa những nhánh hoa leo, bên người bạn đời cùng sống giấc mơ âm nhạc không biết đến phai tàn, ngày tháng về chiều của lứa đôi dệt bằng cảm xúc chứa chan trong thinh lặng. Của những thanh âm, những tiếng hát vẫn mãi vút cao, vẫn mãi chìm sâu, lồng lộng bay lên, ngậm ngùi lan tỏa, đâu đó, là màu nắng lạ, cơn mưa lạ, vầng trăng lạ, trong một không gian như có giây tơ, bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu, êm êm chiều ngẩn ngơ chiều, mênh mông, không còn một thứ gì hiện hữu ngoài âm nhạc ru lòng tan chảy…

Giữa cuộc sống nhọc nhằn, cảm ơn Thượng đế đã ban cho loài người tiếng nói, cho hàng cây tiếng chim hót, cho vũ trụ tiếng suối reo, tiếng gió vi vu, tiếng mưa thì thầm, tiếng biển vỡ trên ghềnh đá…để trái tim người nhạc sĩ rung động viết thành giai điệu ngợi ca cuộc sống. Thời gian bào mòn mọi thứ ngoại trừ tiếng nói đẹp nhất của trái tim nhân loại ở tuổi hai mươi được hát lên, được đóng khung trên năm giòng kẻ You told me you love me, when we were young one day…

Riêng tôi, ở tuổi không còn nhớ gì nhiều, vẫn còn một thanh âm ở lại bền chặt trong ký ức, được nghe lại, rất xa xăm, mỗi đêm trước giờ đi ngủ: tiếng con chim từ quy gọi bạn đến khàn hơi từ bên này rừng chiều Bạch Mã bay về bên kia rừng và chỉ gặp lại chính nó lúc hừng đông, cho một ngày chờ đợi khác.

Bùi Bích Hà

Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời
Nhạc: Trần Duy Đức
Thơ: Du Tử Lê


Chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn
Nói gì kiếp khác, với đời sau...


NẾU CÓ YÊU TÔI
Nhạc: Trần Duy Đức
Thơ: Ngô Tịnh Yên

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 376
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Tue Sep 26, 2017 11:40 am



Quê hương

Bùi Bích Hà


Có nhiều định nghĩa hàn lâm về hai chữ quê hương. Và mỗi người, khi nhớ về quê hương, cũng có nhiều định nghĩa riêng tùy thuộc thời khắc và tâm cảnh khi họ nhớ về quê hương. Có người như cô bạn trẻ tới từ miền Bắc Việt Nam sau 1975 mà tình cờ tôi gặp ở đây, đang quay quắt hội nhập, được hỏi có nhớ nhà, nhớ quê không? Cô cười, lắc đầu: “Em đang ở đâu thì đấy là nhà và quê hương.” Tâm lý này dễ hiểu vì cô lớn lên ở một đất nước mịt mờ khói lửa can qua, trong một xã hội không khơi gợi cho cô tình gia đình và tình quê hương. Trưởng thành ở Sài Gòn sau tháng 4, 1975, trải qua những ngày cơ cực cùng với Sài Gòn bỗng nhiên nghèo đi, cô tốt nghiệp đại học Phú Thọ. Nhan sắc, tự tin, cô để cơn gió thời đổi mới cuốn mình đi, làm giàu dễ dàng và nhanh chóng bằng con đường kinh doanh địa ốc. Cô cười nói: “Em chỉ nhớ những buổi đi ăn với bạn bè ở các nhà hàng sang trọng; đi tắm hơi và đấm bóp ở những salon đẳng cấp, được phục vụ tận tình, được nghe những lời xưng tụng êm tai...”

Tới Mỹ theo con đường vòng: Một đứa con được bố bảo lãnh rồi đứa con ấy bảo lãnh mẹ, cô mang theo mình lòng tự tin có sẵn, tài sản và sự tháo vát, nỗ lực thích nghi với hoàn cảnh mới, học thành công một chuyên môn ngắn hạn để có lợi tức học tiếp vài chuyên môn khác. Thay vì tình tự quê hương, cô được dạy bài học sinh tồn rất thực tế, rất phù hợp với một Mỹ quốc thực dụng. Tôi biết những người như cô, định hình được mục tiêu của mình, tập trung vào mục tiêu ấy, chắc chắn sẽ thành công cách này hay cách khác ở xứ sở này, sẽ thực hiện được Giấc Mơ Mỹ Quốc theo lối nói thông dụng của nhiều người khi tới đây.

Còn tôi, ngơ ngẩn như mán về xuôi, bước ra khỏi khoang chiếc máy bay 2 động cơ hạ cánh lúc nửa đêm ở phi trường Ontario đèn đuốc sáng choang, bốn mẹ con bà cháu dắt díu nhau như đi trong một cơn mơ, hành lý mang theo là những câu thơ tuyệt tác của những nhà thơ lớn thời đi học, những “Ngẩng đầu ngóng mãi chưa thôi nhớ, hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya...” và những “Sóng gợn trường giang buồn điệp điệp, con thuyền xuôi mái nước song song, thuyền về nước lại sầu trăm ngả, củi một cành khô lạc mấy giòng...” Những ngày đầu, chúng tôi tạm cư ở một thành phố miền núi, đất đá khô cằn, cỏ cây xám xịt. Một cơn mưa bất ngờ, một vầng trăng lẻ loi, một sớm mai nghe tiếng chim hót, một mùi dạ hương đâu đó trên lối đi, mỗi mỗi như dao ngọt cứa lên thần kinh cảm xúc của tôi, làm tim đập thất nhịp vì nhớ ra thân phận lạc loài của kẻ thiếu quê hương. Đúng là những bâng khuâng chẳng được tích sự gì ở nơi phồn hoa đô hội cổ võ sự tranh sống kịch liệt này. Chẳng thế mà khoảng cách giữa tôi và nước Mỹ ngày càng xa qua ba thập niên, từ điểm gặp gỡ đầu tiên sải về hai hướng. Nước Mỹ ngày càng văn minh, tiến bộ, đi hia bảy dặm. Bước chân tôi ngày càng già nua, chậm chạp, không theo kịp. Hệt như thơ Lưu Trọng Lư: “Nhìn nhau mà lệ ứa, một ngày một cách xa.”

Thời tiết miền Nam Cali năm nay rất lạ. Giữa tháng 5 rồi mà buổi sáng trời mù, gió hiu hắt lạnh. Buổi trưa ngày nắng ngày không, chút hoang mang làm rung nhẹ những đỉnh cây đứng yên hai bên vệ đường. Radio làn sóng tiếng Việt đang phát Thuyền Viễn Xứ, Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của tác giả Huyền Chi. Được hỏi một lúc nào đó năm 2011, Phạm Duy cho biết bà Huyền Chi còn tại thế, có liên lạc với ông. Bây giờ không biết bà còn hay đã mất, đang ở đâu và có giật mình thấy ra lời thơ rất thiêng của bà vô tình báo trước một thời đất nước điêu linh, dân tình tản lạc hay không?

“... Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi. Đời nhịp sầu lỡ bước, bước hoang mang rồi. Quay lại hướng làng, Đà Giang lệ ướt nồng, mẹ già ngồi im bóng, mái tuyết sương mong con bạc lòng. Trời cao chìm rơi xuống đời, biết là bao sầu trên xứ người...” Phải công nhận ngòi bút của nhạc sĩ họ Phạm có khi xuất thần, chữ nghĩa được ông phù phép một vẻ đẹp man dại và đau thương đến độ, “mái tuyết sương mong con BẠC LÒNG...” Những đứa con ra đi là biền biệt, không quay đầu nhìn lại mẹ già ngồi như tượng, mỏi mắt chờ trông. Năm tháng làm phai màu tóc mẹ, phai cả lời hẹn ước của con. Trong bài Trở Về Mái Nhà Xưa, ông viết: “Người xa vắng biết đâu NẤM nhà buồn.” Ngôi nhà không còn tình yêu khác gì nấm mộ vùi chôn người ở lại?


Chúng ta đang sống ở thời đại mà lưu lượng thông tin nhiều như không khí, đã thu hẹp thế giới vào cái màn hình điện thoại thông minh chì lớn bằng bàn tay, khiến người đi xa không còn tâm trạng “biết đâu” nữa. Quê hương gấm hoa một thời trẻ con thả diều đuổi bướm trên những đồng cỏ xanh tươi, ăn quả non cũng thấy ngon, uống nước lã không đau bụng, nay thì tất cả mọi thứ cần cho đời sống đều chan chứa độc tố bởi vì quan chức nhũng lạm câu kết với bọn gian thương, cho chúng buôn bán, sử dụng hóa chất bừa bãi, mặc chúng tung hoành thủ lợi trên xác thú vật và cả xác người sống bị tước hết quyền phản kháng. Còn đâu rừng vàng, biển bạc, những đồng bằng màu mỡ, phì nhiêu giúp cho dân giàu, nước mạnh? Đến con cá cũng không toàn mạng trong giang sơn vốn tự do vẫy vùng của nó nay bị xâm hại. Đến đất vô tri cũng nứt nẻ, vỡ ra từng mảnh, bị bức tử vì Cửu Long Cạn Giòng.

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ dưới hầm tai vạ.” Đâu chỉ có bọn thái thú Bắc phương mới nở xuống tay đầy đọa con dân nhà Nam, bọn quan chức vong thân ngồi trên những chiếc ngai nạm vàng ở Bắc bộ phủ đã đốt hết sử sách tiền nhân để lại, cai trị dân bằng tâm hồn thái thú, vô cảm trước dân tình oán than ngút trời.

Tổng thống Hoa Kỳ thứ 44 sắp viếng thăm Việt Nam trước khi mãn nhiệm. Ông sẽ được các chủ nhân ông của quốc gia đối tác đầy tiềm năng này tiếp đón với đầy đủ nghi lễ ngoại giao dành cho hàng quốc khách. Ông sẽ không phải ái ngại khi được mời dự quốc yến với thức ăn hảo hạng, cam đoan tinh khiết và ngon miệng. Băn khoăn của riêng tôi là không biết thông minh và nhân bản như ông, khôi nguyên giải Nobel hòa bình, với tầm nhìn độ lượng của một chính khách cao cấp thường quan tâm và bênh vực người nghèo, với khối lượng tin tức ban báo chí Tòa Bạch Ốc trình lên ông hàng ngày, liệu ông có hình dung ra được mâm cơm của tuyệt đại đa số đồng hương chúng tôi dưới mái nhà của họ bên ấy không? Có ai nói cho ông biết món thịt kho trên mâm cơm ấy có thể được nấu bằng thịt đã thối rữa mà người hàng thịt làm tươi lại bằng hóa chất và bán ra cho dân lành hay không? Có ai nói cho ông biết đĩa rau quả trên mâm cơm ấy được nông trại tưới tẩm bằng thứ phân bón làm cho thân, lá, củ tốt tươi hơn nhưng khó khai thật nó thuộc loại gì? Có ai nói cho ông biết những hạt gạo nuôi sống những gia đình “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” nay được pha chế bằng nhựa dẻo? Và nếu biết, ông sẽ nói gì với vị nguyên thủ của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “đầy tiềm năng” như biểu hiện bên ngoài của nó?

Có thể tổng thống cũng sẽ được mời thăm viếng một trung tâm du lịch tuyệt đẹp và sang trọng của Việt Nam từng được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Vâng, tổ quốc do tiền nhân chúng tôi tạo dựng cho con cháu mỹ miều như thế, nên thơ như thế, kỳ ảo như thế. Từ hơn 40 năm nay, nó đã được chuyển nhượng từ toàn thể dân tộc chúng tôi sang tay một thiểu số kẻ xấu (theo cách gọi của Thượng Nghị Sĩ John McCain) với rất nhiều máu xương của cả hai miền Nam Bắc Việt Nam và trở thành tài sản riêng của những người này. Quá trình chuyển nhượng bất đắc dĩ ấy có bàn tay quyền lực của Hoa Kỳ thúc đẩy và góp phần.

Người dân Việt Nam đọc sử thế giới, ước mong Việt Nam có được vận hội như Nhật Bản sau Thế Chiến II, đón nhận một tướng đầy nghĩa khí và tâm huyết như Douglas Mac Arthur, với lý tưởng và công tâm muốn biến miền đất từng chìm đắm can qua trở nên giầu có, văn hóa phát triển, trình độ dân chúng nâng cao thành một nước lý tưởng như Mỹ. Trong thời chiến tranh, giới lãnh đạo Nhật Bản đã có những sai lầm, nhưng rồi đây, khi Nhật Bản trở thành một nước dân chủ, một nước công nghiệp giầu mạnh, thì cũng như nước Mỹ, Nhật Bản cũng sẽ có nền văn hóa dân chủ, tự do, coi trọng sự lựa chọn của cá nhân. Hơn thế nữa, Nhật Bản nên là như vậy. (Tiến Sĩ Edwin O. Reischauer)

Nước Mỹ đã thay đổi nhiều điều trên nước Nhật nhân danh sự bình đẳng và tiến bộ của nhân loại, nay giúp thay đổi một thể chế cản trở, thậm chí hủy diệt, những giá trị vừa nêu là việc không nên chối từ.

Một danh ngôn được ghi nhớ của Tướng Douglas Mac Arthur : “The old soldiers fade away,” nhưng tư tưởng của ông soi đường cho dân Nhật còn mãi duy trì.

Với những người Việt Nam ly hương đang định cư ở Mỹ, lứa tuổi thất thập cổ lai hy, viễn ảnh một ngày được trở lại quê hương rất mờ nhạt. Dẫu sao, còn hơi thở là còn nuôi hy vọng và còn cầu nguyện, xin cho quê nhà sớm thấy lại ánh dương quang, trẻ thơ có bầu sữa ngọt, cha mẹ già có hạt cơm thơm và 90 triệu dân được thở không khí trong lành, can đảm cất lên tiếng kêu đòi khi có sự bất công để cô giáo Trần Thị Lam không còn rơi lệ trên những dòng thơ châu ngọc.

Ôi, mong ước tràn ngập lòng những sáng, những chiều nhớ thương khôn nguôi!

Bùi Bích Hà

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 307
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Sun Oct 01, 2017 9:16 am



Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Bùi Bích Hà


“Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,” câu thơ đầu trong bài “Thăng Long Thành Hoài Cổ” của Bà Huyện Thanh Quan đã khắc ghi đậm nét trong trí nhớ tôi từ những năm ngồi ghế trung học Ðệ Nhất cấp, giờ cổ văn với cô Hòe lớp Ðệ Ngũ trường Ðồng Khánh.

Ðối với tôi ngày ấy, câu thơ không chỉ thuần là câu thơ nổi tiếng của một bài thơ nổi tiếng trong văn học sử nước nhà, được một bậc nữ lưu thi tài lỗi lạc ngẫu hứng viết xuống khi về qua cố đô một buổi chiều phai nắng, nhìn cảnh vật tiêu điều qua bao lớp sóng phế hưng: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”

Mà hơn thế, câu thơ còn diễn đạt nỗi ngậm ngùi trước những cảnh đời đổi thay hệt như những màn kịch trên sân khấu, khiến tôi không khỏi ngạc nhiên và thầm cảm phục nhân sinh quan đầy đạo vị của nhà thơ ngày ấy.

Sau này khôn lớn, bản thân chứng kiến thế sự thăng trầm, tôi vẫn đọc thơ bà để suy ngẫm. Bị bứng khỏi đất lề quê thói như một cái cây trốc gốc trôi theo cơn lũ thời cuộc ra đại dương, nhiều khi tôi chạnh lòng nhớ về hoàng thành cổ kính ở Huế, nơi bắt đầu và chấm dứt triều đại nhà Nguyễn qua 13 đời vua và 143 năm trị vì trên ngai vàng.

Bến Thương Bạc, lầu Ngọ Môn, điện Thái Hòa, cung An Ðịnh, phủ Bà Chúa Nhất, cửa Ðông Ba, cửa Thượng Tứ, hồ Tịnh Tâm, đức Từ Cung, Hoàng Ðế Bảo Ðại, Hoàng Hậu Nam Phương, Hoàng Thái Tử Bảo Long. Những phương danh quen thuộc, những địa danh ghi dấu một giai đoạn lịch sử với nhiều biến thiên làm nên một Việt Nam minh châu trời Ðông rạng ngời gần hai thế kỷ, nay đâu rồi những người muôn năm ấy? Nay đâu rồi những áo mão, cân đai, lọng vàng, xa mã, một thời lung linh sắc màu và hạnh phúc, một thời vinh quang và một thời tủi nhục?

Tất cả xóa đi, chỉ còn trơ lại cái bàn cờ cũ kỹ xếp vào trầm hương cổ tích. Chỉ còn linh hiển một vầng trăng xanh biếc không nơi nào tôi đi qua trên mặt đất này có một màu trăng “gọi hồn Thục Ðế” huyền ảo như thế.

Vở kịch đã hạ màn. Nhân vật đã ra khỏi sân khấu. Ðể lại một hậu trường ngổn ngang hoài niệm, hoen ố và buồn bã. Ðể lại những khán giả hậu sinh như tôi lạc loài phương trời, đem theo mình nỗi u hoài khiến nhìn đâu cũng tưởng chừng chan chứa biệt ly.

Hôm Chủ Nhật, 14 Tháng Năm, 2017, dưới bầu trời Paris trong xanh và nắng vàng trải lụa khắp nơi, lễ nhậm chức của Tổng Thống Emmanuel Macron diễn ra trang trọng tại điện Elysée với tất cả vẻ đẹp của một nước Pháp cổ kính.

Ông rời nhà riêng để tới nơi hành lễ trên chiếc công xa bóng loáng, được đoàn mô tô của cảnh sát hộ tống rầm rộ, chạy theo đội hình trên đại lộ Champs Elysée sạch như vừa được giội nước, qua những vòm cây xanh mướt bên lề đường trang hoàng nhiều cờ tam tài tung bay trong gió.

Dân chúng vui vẻ tụ tập phía sau cái rào gỗ thấp để vẫy chào tổng thống mới của họ. Trên các bao lơn những ngôi nhà gần khu vực hành lễ, nhiều gia đình tề tựu, người lớn tay cầm biểu ngữ viết lời chúc mừng.

Thảm đỏ trải từ chỗ xe dừng bánh tới tận thềm điện Elysée. Tân tổng thống đắc cử đi những bước dài, chững chạc, tự tin, gót giầy chạm đất trước, mũi giầy nhấc cao, đều đặn, là cách đi của người muốn làm việc khó và làm thành công, bền lòng, tự chủ, kỷ luật, chăm chỉ.

Tổng thống mãn nhiệm Francois Hollande đứng chờ người kế vị trên thềm cao, nét mặt căng thẳng, đôi lông mày khẽ cau không biết vì nắng chói hay vì những giây phút đợi chờ bao giờ cũng dài quá. Họ bắt tay nhau, mở ra cánh cửa phân định vị thế của mỗi bên. Họ cùng đi một chặng đường thật ngắn để tới nơi bàn giao chính quyền rồi cánh cửa đóng lại sau lưng một người.

Chiếc công xa đổi vị trí. Mũi xe bây giờ hướng ra cổng. Hai tổng thống một cũ, một mới từ biệt nhau ở cuối cái thảm đỏ, một chút buồn vội vàng trong mắt người rời đi, một chút bâng khuâng trong mắt người quay lại cái chỗ họ vừa bắt tay chào nhau và tân tổng thống thấy mình đang ở ngày thứ nhất trong vị thế của người ông vừa từ giã.

Trong đại sảnh điện Elysée, đông đảo khách mời tham dự lễ nhậm chức của tân tổng thống kiên nhẫn đứng hàng giờ đồng hồ chờ ông xuất hiện sau nghi thức bàn giao.

Nước Pháp từng trải qua chiến tranh, từng bị đoàn quân chiến thắng chiếm đóng nhưng may mắn làm sao, các đền đài, cung điện ở Paris vẫn giữ nguyên kiến trúc lộng lẫy mang dấu ấn của nền văn minh cổ đại La Hy. Trần nhà cao, chạm trổ tinh vi. Những hình tượng điêu khắc tuyệt kỹ. Những chùm đèn trần pha lê lấp lánh sáng.

Khung cảnh tráng lệ của triều đình Pháp hiện diện nhiều thế kỷ hôm nay mở màn phiên bản mới với dàn diễn viên mới, vở kịch đã diễn ra nhiều lần ở đây. Những toán quân lính trực thuộc phủ tổng thống bồng súng gắn lưỡi lê sáng bóng dàn chào trong quân phục thời Nã Phá Luân, giầy ống cao, quần chẽn, nón chóp với chùm lông ngất ngưởng, nón sắt kiểu La Mã hoặc mũ nồi kiểu thuộc địa, ngù vai, dây biểu chương, trông rất đẹp mắt trong ngày hội lớn.

Quả nhiên, khung cảnh lễ nhậm chức của tổng thống thứ tám trẻ tuổi nhất trong lịch sử nước Pháp có đủ tình tiết và các yếu tố thẩm mỹ của một vở kịch lớn. Tôi bâng khuâng tự hỏi liệu cái sân khấu ở điện Elysée sáng nay có liên quan nhân quả gì tới cái sân khấu nhỏ ở ngôi trường trung học tỉnh Amiens, nơi cậu học trò 15 tuổi Emmanuel Macron được cô giáo môn kịch nghệ cố vấn trong một vai diễn khiến cậu khám phá cùng một lúc vừa tư chất bản thân vừa tài năng của cô giáo ra đời trước cậu 24 năm? Emmanuel gọi mối tình của ông và cô giáo là sự bí ẩn lạ thường, có nghĩa là chỉ một mình ông biết nguyên do để tự giải thích với mình.

Ở khắp nơi, người ta thấy không ít những cuộc hôn nhân so le tuổi nhưng chúng có những động lực bắt nguồn từ vài nguyên nhân đời thường: nhan sắc, dục tình, lợi lộc, danh vọng, tiếng sét, sự thách đố… Hầu như không một đôi lứa nào trong cảnh ngộ bất thường ấy gắn kết vào nhau bền chặt và đạt tới một sự nghiệp chung lẫy lừng như tân Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron và Ðệ Nhất Phu Nhân Brigitte Trogneux.

Hình như tạo hóa trớ trêu tạo ra người này cho người kia nhưng bắt họ, những con người ngoại khổ, phải trả một cái giá không dễ dàng. Cả hai có 15 năm để tự vấn về tình yêu của họ, trong sự sáng suốt tuyệt đối.

Trả lời phỏng vấn của báo chí, ông Macron nói: “Chúng tôi quyết định không có con vì sự chênh lệch tuổi tác, tôi còn quá trẻ…” Về phần bà Trogneux, bà ý thức rõ sự già nua của mình trên hai cánh tay để trần, trên khuôn mặt đầy dấu vết thời gian, không cần đi mỹ viện, không cần bất cứ hình thái che đậy nào. Bà nói với ông: “Nếu ông định ra ứng cử tổng thống thì đừng chần chờ nữa, 10 năm tới ông sẽ có vấn đề với khuôn mặt của tôi đấy!”

Rõ ràng ông Macron không nhìn vợ bằng con mắt của những người đứng ngoài sự bí ẩn của họ. Trong mắt ông, bà là hiện thân hoàn hảo những gì ông muốn có, cần có trong cuộc đời. Không già. Không trẻ. Không xấu. Không đẹp. Là giấc mơ kỳ lạ nhất, khó nhất, trở thành hiện thực. Cả hai không chỉ kề cận, cũng không chỉ là hai nửa ghép lại.

Họ thẩm nhập vào nhau liền lặn, toàn vẹn, tuyệt đối, không có chỗ cho bất cứ thứ gì ở giữa. Với họ, trở thành vợ chồng là trong ý nghĩa ấy. Người đàn bà có thể kháng cự với cám dỗ hay đe dọa nhưng rất khó từ chối định mệnh lạ thường khi nó gõ cửa.

Xử sự trước đám đông của tổng thống và vợ ông biểu tỏ sức mạnh phi thường của niềm tin, của tình yêu có lựa chọn, cam kết và trách nhiệm, một thứ hạnh phúc tín thác trong bình an giúp họ vượt qua mọi dị nghị, đàm tiếu vốn thường xảy ra với mọi đôi lứa không chỉ vì một lý do chênh lệch tuổi tác.

Các thủ tục và nghi lễ chuyển giao quyền hành tại điện Elysée giữa cựu và tân tổng thống chấm dứt khi bầu trời bên ngoài thả xuống Paris những hạt bụi nước của cơn mưa nhẹ cuối Xuân. Theo phong thủy, là dấu hiệu phát triển phồn thịnh cho sự nghiệp chính trị của tổng thống với các tiêu chí ông theo đuổi: phục hồi tư thế của một nước Pháp vững mạnh trong khối Liên Âu, an ninh và đoàn kết tiến bước trong thời đại toàn cầu!

Khách dự lễ lác đác ra về dưới những cái ô xinh xắn và cơn mưa “làm phép” nhanh chóng tạnh, trả lại nắng vàng trên đại lộ Champs Elysée, Khải Hoàn Môn uy nghi, ngọn lửa thiêng trên nấm mộ người chiến sĩ vô danh tổng thống vừa thắp lên, vòng hoa vinh danh tổng thống để lại với lòng biết ơn và cuộc diễn binh theo truyền thống có những con tuấn mã gõ móng xuống mặt đường, là hình ảnh của hàng hàng lớp lớp tuổi trẻ sẵn sàng bước ra khi tổ quốc kêu gọi.

Xin chúc lành đến tổng thống, gia đình và sự nghiệp của ông. Ở bước ngoặt lịch sử này, rồi ra tổng thống sẽ phải một mình một ngựa xuất hiện ở nhiều nơi, bắt đầu với chuyến công du Ðức quốc nhưng chúng tôi biết, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, người đàn bà của ông vẫn hiện diện trong tim ông, nồng ấm và chói lòa như đã thế suốt những năm tháng qua.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 307
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Sat Oct 07, 2017 12:10 am



Bùi Bích Hà: Phịa

Thoạt tiên, một người bạn trong nhóm gởi ra cái email nội dung như sau: “Tối hôm nay tôi đang nằm đọc sách, chợt nghĩ lơ mơ một điều, muốn đem hỏi các bạn. Câu hỏi thế này: Trong ngôi nhà mình ở, cái vật gì biểu tượng cho trống vắng và cô đơn nhất? Hoan nghênh bạn nào trả lời đúng.”

Trưởng tràng của cả nhóm lên tiếng trước: “Trống vắng hay cô đơn thuộc lãnh vực tình cảm riêng tư, mỗi người mỗi khác, làm gì có câu trả lời nào là đúng nhất?”

Người thứ hai không phản bác câu hỏi mà trả lời: Bản thân.

Người thứ ba không trả lời câu hỏi, cũng không phản bác nhưng sửa lưng câu trả lời của người thứ hai: “Sai rồi, “cái vật gì” sao lại là con người?”

Người thứ tư kể ra một lô những vật dụng mà theo anh, có khả năng đáp ứng câu hỏi, nếu không hoàn toàn đúng thì cũng ở cự ly gần nhất với đúng: Cái gương. Cái lược. Con dao. Cái trần nhà. Cái ảnh thờ. Cái giường. Kèm theo cũng một lô những lời dẫn giải lý do vì sao anh chọn từng ấy món?


Người thứ ba, sau khi phê bình câu trả lời của người thứ hai, đến lượt mình điểm: Cái cửa sổ. Theo chị, cái cửa sổ không có căn tính mà chỉ hiện hữu cho mọi thứ khác.

Người thứ năm vào cuộc chậm nhất và giữa chừng, không nắm tình hình từ đầu nên gõ xuống bàn phím hai chữ Cái Giường, hoàn toàn không biết giải đáp của mình trùng lắp với một món người thứ tư trong nhóm đã chọn ra.

Đến đây, lây sự hào hứng của cả nhóm, người thứ nhất lại nhẩy vào, đưa ra một món rất ngoạn mục và bất ngờ: cái restroom, nôm na trong tiếng Việt gọi là cái cầu tiêu.

Luôn nhậy bén với thực tế thời đại số, trong 15 giây thôi, người thứ ba trả lời vị trưởng tràng nhanh như chớp: Sai rồi, bây giờ ai vào restroom cũng mang theo iPhone hết!

Qua một buổi tối nhặng cả lên với nhau, ngày hôm sau, tác giả câu đố được yêu cầu bạch hóa câu trả lời đúng nhất.

Chị từ tốn dẫn giải: “Đó là cái trần nhà. Luôn luôn bị bỏ quên. Luôn luôn trống trơn, trơ trọi. Nếu có gắn đèn thì cũng là để soi sáng những vật bên dưới nó chứ không phải chính nó. Mỗi căn phòng có 6 mặt phẳng. Bốn mặt tường đều có trang hoàng tranh ảnh, kỷ vật. Sàn nhà được trải thảm, bày chậu hoa. Chỉ có trần nhà ít ai ngó ngàng tới trừ phi nó dột mà sửa xong chỗ dột, lại rơi ngay vào quên lãng.”

Cả nhóm nhao lên vì không đồng ý.

Người thứ hai “pháo” trước: “Trần nhà phòng con gái tôi là toàn bộ thái dương hệ trong vũ trụ. Trần nhà phòng ăn của tôi lúc nào cũng Giáng Sinh trắng tinh, vui tươi, rộn rã.”

Người thứ tư thở hắt một hơi dài thất vọng: “Mèng ơi, một người nằm tênh hênh trên giường, không nhìn cái trần nhà thì nhìn cái gì? Có lẽ người đang hạnh phúc cùng mình nên chợt thấy cái trần nhà lạnh băng, im như thóc, bèn động từ tâm mà đoái thương, nghĩ nó cô đơn, trống vắng! Thế mà làm cả đám suy nghĩ nát cả óc, chán mớ đời!”

Đành là có thế nhưng hình như chính anh cũng từng trải qua kinh nghiệm “nằm tênh hênh trên giường, không nhìn trần nhà thì nhìn cái gì?” Cũng cùng tâm trạng y như tác giả câu đố, nghĩ nó cô đơn, trống vắng, nên anh đoán trúng phóc ý của tác giả mặc dù hơi tham, còn cố liệt kê thêm vài món nữa.

Anh trưởng tràng thấm nhuần triết lý trong Kiều của cụ Nguyễn Du, cười mỉm và phán: “Thấy chưa? Toàn là suy nghĩ chủ quan, kiểu ‘người buồn cảnh có vui đâu bao giờ,’ cứ áp đặt tâm sự của mình lên ngoại cảnh rồi đem ra đố, làm sao có lời giải đúng được vì chẳng phải chính chánh chủ khảo đã sai ngay từ đầu rồi ư?” Hà… hà…

Biết anh trưởng tràng phê phán rất đúng trong “cuộc đố vui không tìm ra lời giải” này nhưng nếu không đố mà chỉ chia sẻ thì chia sẻ của mỗi người, dù không đạt được sự đồng cảm, có đáng được cả nhóm tiếp nhận không?

Chia sẻ của tác giả câu đố cho tôi hình dung ra bạn, một buổi tối yên ả, thư thái ngả lưng xuống giường đọc cuốn sách. Tôi thậm chí có thể đoán ra nhan đề cuốn sách trên tay bạn tôi, viết về những người Việt Nam vượt biển tìm tự do nhưng không may mắn đến được bến bờ mong đợi. Là đề tài chúng tôi đang trao đổi mấy hôm nay khi cuối Tháng Tư tới gần. Tôi cũng hình dung ra căn phòng bạn tôi đang ở trong, có khung cửa sổ rộng trông ra ngã ba cái hồ bát ngát như cửa một con sông lớn; những buổi tối bạn tôi vừa râm ran chuyện trò vừa xoa dầu ở hai bàn chân sau một ngày đứng nhiều và đi lại nhiều, mùi khuynh diệp thoảng bay làm ấm cả không gian xung quanh. Tôi đã đến đây không ít lần và thường thức giấc giữa đêm, nhìn ra mặt hồ nhòa trong sương khuya, thương nhớ con sông của tuổi thơ tôi tận quê nhà xa tít tắp, xót đau một mái ấm giờ đây cũng mất tăm trong mịt mờ ký ức. Bạn tôi đang buồn hay đang vui mà bỗng dưng gán cho cái trần nhà sự cô đơn và trống vắng?

Trở lại chuyện câu đố, người thứ hai sau anh trưởng tràng, đoán nhanh và chắc nịch, là “con người.” Trong nhóm chúng tôi, có vẻ cô có cuộc sống nội tâm nhiệm nhặt và sâu sắc nhất. Cô hay đi bộ một mình trong núi và không lái xe xa lộ. Tôi đoán cô thường có những khoảng thời gian và không gian tịch lặng để lắng đọng tâm tư, để khơi trong gạn đục những tầng cảm xúc bên trong mình tựa như người đãi vàng dưới suối, không chấp nhận để lẫn một hạt sỏi nào. Trong giao tế, cô ròn rã, nồng ấm nhưng không hiểu vì sao, tôi cứ có cảm giác cô giấu đâu đó một chỗ đau, một vết thương nhỏ. Có lẽ tại đôi mắt cô đầy nghi ngại và buồn như đêm. Thế nhưng, chẳng lẽ cô là (sinh) vật cô đơn và trống vắng nhất dưới mái nhà của mình?

Cô em khác, người thứ ba, đoán là cái cửa sổ. Trong nhóm, cô ba thông minh và có tưởng tượng phong phú nhất. Quả thật, đóng hay mở, cửa sổ bao giờ cũng trống vắng và chỉ hiện diện cho mọi thứ khác như cô mô tả. Tuy vậy, tôi không hình dung ra được nó cô đơn. Nó luôn luôn bận rộn, đầy ắp một cái gì: cây cối, hoa lá, nắng gió, những mái nhà nâu, những con chim se sẻ, hồ nước, giòng sông, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, bóng người hàng xóm, v.v… Liệu cô đơn có phải là tình trạng đứng yên một chỗ nhìn mọi vật di chuyển, thay đổi qua mình, xung quanh mình, trôi tuột đi, như nắng mưa, như gió mây thoảng bay, không một thứ gì bám víu và ở lại với nó? Hay nó cô đơn vì nó suốt đời hiện diện bên cạnh cái cửa sổ thứ hai trong cùng một gian phòng, gần nhất cũng cách nhau một sải tay? Nhìn nhau mà chẳng nói, có nói cũng khôn cùng! Tội nghiệp ghê!

Thế còn người thứ tư chọn cái giường, anh ấy nói gì? “Một vật tiêu biểu cho sự cô đơn, có lẽ cái giường nói lên được nhiều nhất, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Cái giường giữ nhiều kỷ niệm của một người đã không còn nữa hay hai người mỗi người là một ốc đảo không tình yêu. Chưa kể một ngày nào đó, ai trong chúng ta cũng sẽ phải đối diện những giấc ngủ chỉ có 1 mình khi mà người vợ hay chồng như chim vỗ cánh bay đi… Nó cô đơn lắm, hãi hùng lắm.”

Đến đây thì tôi phục lăn anh trưởng tràng. Bởi vì tuy tôi cũng chọn cái giường như anh bạn số 4 trong nhóm nhưng do chủ quan, chúng tôi có những liên tưởng khác nhau. Đối với tôi, ngoài bếp, phòng ngủ trong nhà là nơi hội tụ nhiều sinh khí nhất. Những lúc đi xa, nhớ nhà, tôi nhớ nhất phòng ngủ và cái giường, địa đàng nghỉ ngơi của tôi mỗi tối và bình minh mới của tôi hôm sau khi mở mắt ra. Qua một ngày dài làm việc, thời khắc hạnh phúc nhất của tôi là được ngả lưng xuống giường, nơi chốn thân cận với tôi như một người bạn chí tình từ khi tôi lọt lòng mẹ cho tới giờ khắc chia tay cuộc đời ở sân ga cuối, qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mẹ tôi đã ngồi, đã nằm ở đây, đã ẵm ru tôi những sáng tinh mơ, những đêm khuya muộn, một đèn, một bóng; đã gói chặt tôi trong tã lót, chèn chăn gối xung quanh và giao phó tôi từng chập cho giường để gồng gánh công việc trong một ngôi nhà đông người, luôn luôn bắt đầu từ gà gáy cho đến quá nửa đêm. Hết thời nuôi con của mẹ, đến thời nuôi con của tôi. Dù nửa thế kỷ đã trôi qua với vô vàn biến động, mùi thơm da thịt trẻ sơ sinh, mùi sữa hoi hoi từ bầu vú mẹ, hình hài bé nhỏ, mỏng manh như búp hoa non yếu vừa bung nở của từng đứa con vẫn rỡ ràng trong trí nhớ tôi như mới vừa đâu đây. Cái giường câm nín chuyên chở nhiều cảnh đời trong nhẫn nhịn, không đòi hỏi gì cho nó, kể cả chăn gối đẹp mắt, thơm tho, cũng chỉ để làm vui lòng chủ nhân của nó thôi. Nó cho tôi cả bầu trời hạnh phúc nhưng tôi chưa bao giờ chuyện trò với giường để biết nó buồn vui và cô quạnh ra sao? Nói như anh trưởng tràng của nhóm chúng tôi, con người toàn “phịa ra trăm điều” theo tâm cảm của mình từng lúc. Tôi nhớ câu thơ thời đi học, của  Lamartine: “Objets inanimés, avez-vous donc une âme qui s’attache à notre âme et la force d’aimer?” Tạm dịch là: Hỡi các vật dụng vô tri, các ngươi có một linh hồn gắn bó với linh hồn ta và thúc dục nó yêu thương không? Hình như có ai đó đã nói rằng “Trong mỗi người Việt Nam, có một thi sĩ” (kẻ viết bài này xin thêm: dù không biết làm thơ) Hình như chỉ cần một trái tim tràn ngập tình yêu, cho ta nghe được, thấy được, cảm được cả những điều kỳ diệu trong thế giới vô ngôn của muôn loài trong vũ trụ. Có “phịa” không khi tiếng chim hót chiều trong các lùm cây, lúc ríu rít du dương, lúc chí chóe cãi nhau, nghe mà thương? Có “phịa” không khi tiếng sóng biển lúc êm đềm vỗ lên ghềnh đá, lúc đớn đau gầm thét vì đáy đại dương không yên? Có “phịa” không khi ở nơi này, mỗi buổi tối người lưu dân trở về nhà, nhìn ngọn đèn trên cửa kiên trì cháy lên như con mắt buồn bã canh thức niềm hy vọng thấy lại quê hương trong lòng họ? Có “phịa” không khi tôi muốn thêm vào phần giải đáp câu đố của bạn tôi, khoảng sân lờ mờ sáng dưới ánh đèn hiu hắt ấy, cả hai cô đơn và hoang vắng tận cùng?

Anh trưởng tràng ơi, nếu “phịa” cho đời đẹp hơn, vui thêm, thì có nên không?
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 307
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Sat Oct 14, 2017 2:30 pm




Bao lâu rồi, ta không nhìn nhau?

Buổi chiều cuối năm miền Đông Bắc trời ẩm sẫm. Gió luồn qua cổ áo, lọt xuống ngực, chảy một giòng cảm giác lạnh khô bên trong lớp áo ấm. Chị cẩn thận lái xe qua những con đường lờ mờ tối, lao xao nghĩ tới nồi súp chị đã nấu sẵn cho bữa ăn thanh đạm thường lệ của hai vợ chồng đang chờ trên bếp. Chị đậu xe vào gara, bên cạnh xe của anh rồi bước lên nhà. Căn nhà yên tĩnh như mọi khi. Ngọn đèn trên chiếc bàn nhỏ chị đã để bật sáng tự động cạnh cái sofa, êm đềm tỏa một vòng tròn màu vàng trên vai ghế. Bỗng nhiên chị cảm giác hơi lạ. Có vẻ như căn nhà yên lặng hơn mọi khi và lạnh hơn mọi khi, làm chị rùng mình toàn thân tuy tai chị vẫn nghe mơ hồ tiếng máy sưởi ở dưới tầng hầm. Không thấy anh trong phòng ngủ, chị để nguyên quần áo đi làm, ra đầu cầu thang gọi vọng xuống bàn làm việc của anh dưới basement. Không nghe anh trả lời. Không cả một tiếng động nhỏ. Thanh âm tiếng gọi của chị dội vào khoảng không trống trải, vang lên một cách khó chịu. Không gọi thêm lần thứ hai, chị chạy như bay xuống hết mấy bực thang trải thảm và khuỵu xuống trên nền nhà, chỉ cách anh vài sải tay. Anh nằm đấy, bất động. Không biết từ bao giờ.

Anh về hưu ở tuổi 67. Chị về hưu theo anh (“để anh có bạn” như chị vẫn cười nói với bạn bè.) Chị mê phim Hàn quốc. Anh nể chị, để chị gối đầu lên chân anh, cùng xem. Anh cầm thêm cuốn sách hay tờ báo, thỉnh thoảng đọc riêng. Bài nào hay tin nào khiến anh theo dõi hơi lâu, chị lại rời mắt khỏi màn hình, mè nheo: “Có gì hay không anh, nói cho em nghe với!” Có hôm anh hào hứng bàn bạc, giải thích. Có hôm anh ừ hữ. Những buổi tối ngày thường họ vẫn trải qua bên nhau như thế. Cho tới tối hôm đó, đã hơi khuya, anh nói với chị: “Đi nghỉ đi em, anh hơi mệt.” Anh nhẹ nhàng nâng đầu chị đặt lên chiếc gối rồi đứng dậy. Phim đang tới hồi gay cấn, chị tiếc rẻ bảo anh: “Anh lên trước đi, chút xíu em lên liền.” Chị nói với theo khi anh đã tới chân cầu thang: “Nhớ uống thuốc nghe anh, em thay chai nước mới ở đầu giường cho anh rồi đó!” Không biết “chút xíu” của chị là bao lâu nhưng khi cuốn phim chấm dứt, chị bước vào phòng ngủ trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn trên chiếc bàn đêm phía chị nằm thì anh đã ngủ say. Chị rón rén kéo phần chăn của chị lên ngực và nhìn anh nhắm mắt ngủ yên trước khi tắt đèn. Những hôm vào giường cùng lúc, bao giờ anh cũng quấn lấy chị, kissed goodnight lên trán vợ rồi để chị gối đầu lên cánh tay anh mà ngủ. Phần chị, sợ nặng, làm đau tay anh nên cố nương nhẹ, lựa thế nằm sao cho cánh tay anh luồn qua gáy chị một lúc rồi chị lăn ra cho dễ ngủ.

Tối hôm đó, lặng lẽ một lúc để ôn lại cảnh quân vương tỏ tình thật lãng mạn và say đắm với cô nữ ngự y trong cuốn phim làm chị say mê, chị khẽ trở mình nằm sát vào anh. Chị hơi ngạc nhiên sao bữa nay anh ngủ say quá vậy? Mọi lần, dù chị cử động rón rén thế nào anh cũng tỉnh ngay và khi cảm nhận chị kề cận bên mình, anh quay mặt vào chị, ầm ừ xoa một bàn tay lên lưng chị rồi ngủ tiếp. Đêm tĩnh mịch một cách khác thường. Từ thật sâu trong cái tĩnh mịch ấy, cảm giác lo sợ bỗng nhiên cồn lên, cuồn cuộn như sóng dâng khi chị nhận ra không nghe tiếng anh thở. Chị ngồi bật dậy, hai tay ôm ngực, định thần một giây rồi mở đèn đầu giường. Chị lay nhẹ anh nhưng anh như một phiến đá ấm. Chị ú ớ. Chị hốt hoảng. Chị run lẩy bẩy bấm số gọi mấy đứa con. Gọi 911. Rồi chị ngây ra, bưng mặt khóc.

Cả tháng nay anh chị có vấn đề nan giải. Sắp nghỉ hưu, anh muốn dời về Cali để được hưởng những ngày nắng ấm và gió biển. Chị thương gia đình cậu con trai duy nhất của hai anh chị đang hành nghề bác sĩ ở đây. Chúng nó có con nhỏ, cần chị phụ một tay. Chị nấu nướng cho cả hai nhà, hàng ngày chạy đi chạy lại lo mọi việc cho cả hai nơi. Nên chị dùng dằng. Nên chị muốn anh chậm thực hiện kế hoạch thêm vài năm cho mấy đứa cháu nội vào hết trường tiểu học để cha mẹ chúng nó bớt vất vả. Anh giải thích, biện bạch, cắt nghĩa, vẫn không thuyết phục được chị. Cuối cùng, anh đề nghị để anh về Cali trước, ở tạm với gia đình cô em gái, tìm mua nhà và sắp đặt sẵn nơi ăn, chốn ở, chừng nào chị muốn về thì về sau. Chị bất bình, trách anh ích kỷ, chỉ nghĩ phần mình, không đoái hoài vợ con cháu chắt. Lấy cớ anh đọc sách khuya, để đèn làm chị khó ngủ, chị ôm gối qua ngủ ở guest room. Anh không nói gì nữa và buồn ra mặt. Những bữa cơm tẻ nhạt trôi qua trong không khí gượng gạo, khó thở.

Bản năng làm mẹ, quẩn quanh với bổn phận hàng ngày thấm đẫm tình thương yêu dành cho con cháu, chị vui, không có thời giờ nghĩ đến nhu cầu của người bạn đời hiện diện bên chị đã thành thói quen bất biến, gắn liền với cuộc sống của chị chặt chẽ đến nỗi chị không còn nhận ra chỗ nối để phải bận tâm hay lưu ý. Còn anh, nói như người Mỹ, anh “hang on,” với hy vọng như tia nắng chiều cứ mỏng manh dần rồi đứt. Một buổi sáng, anh ra xa lộ, không biết vì sao mà anh chui cái xe đang tăng tốc của mình vào phía sau chiếc xe vận tải nằm ụ bên lề phất phơ mấy cái cờ đuôi nheo màu đỏ báo động tai họa. Chị đón nhận tin dữ như ngày tận thế, ngơ ngác thấy mình lẻ loi đứng lại giữa hoang tàn đổ nát, không biết phải làm gì?

Nhiều cuộc chia ly không hẹn hò. Nhiều cái chết như cơn mơ không chờ đợi. Để lại nuối tiếc, bàng hoàng, ân hận. Tôi chợt nghĩ đến “Chúc thư của tình yêu.” Viết mỗi ngày. Thi hành mỗi ngày. Gia hạn mỗi ngày. Sao không để lại cho nhau tất cả những gì mình có và biết là sẽ không thể mang theo khi ra khỏi đời sống này? Giữa bộn bề những món nợ thế gian ngày ngày chạy vạy, đêm đêm nằm gác tay lên trán tìm phương cách hoàn trả, món nợ tình yêu dễ thanh thỏa nhất thì con người quỵt nợ hơi nhiều. Ai cũng muốn thấy số tồn căn là Zero trên báo cáo nợ ngân hàng nhưng có lẽ không mấy ai nhớ ra còn một bản báo cáo không bao giờ được viết xuống từ trái tim, cái ngân hàng có vốn liếng vô tận. Chẳng biết triết gia hay nhà thần học vĩ đại nào đã cấy vào đầu óc chúng ta quan điểm trở thành lời sấm truyền và được rao giảng rộng rãi trong dân gian: Đời là bể khổ. Cứ tạm tin như cụ Nguyễn Công Trứ từng ngâm ngợi: “Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe, trần có vui đã chẳng cười khì.” Nhưng kinh nghiệm sống của con người là mặt đối chọi tích cực, không phải vô sở cứ: Bệnh quỷ có thuốc tiên! Chỉ hiềm thuốc tiên vì quý nên hiếm, tìm nó không dễ mà cần có “huệ nhãn,” ngụ ý con mắt được thiêng liêng soi sáng.

Tôi lang thang trên mạng, gặp bài hát Hãy Yêu Nhau Đi của Trịnh Công Sơn, có mấy câu từng được nhiều triệu thính giả Internet lắng nghe, “Hãy yêu nhau đi bên đời nguy khốn, hãy yêu nhau đi cho gạch đá có tin vui…” Quả nhiên, tình yêu là thần dược đem theo nó phép lạ vào chỗ khốn cùng, ban cả linh hồn cho gạch đá vô tri. Khi giới trẻ Tây phương chán ghét chiến tranh, họ hô hào Make Love, not War, có lẽ thế giới nên hiểu ngoài cái mặt phẳng dưới lưng ra, con người còn có khả năng yêu nhau bằng ngôn ngữ, bằng tiếng cười, bằng mắt nhìn “Hãy nhìn vào mặt người lần cuối trong đời…” Nhất là bằng mắt nhìn vì con người thường “thấy” nhau chứ không “nhìn” nhau. Đừng chờ như Trịnh Công Sơn cố vớt vát niềm tin trong phút giây vĩnh biệt mà khi còn có thể, hãy “nhìn” nhau như đây là lần cuối. Sẽ không phải hối tiếc hay ăn năn muộn màng. Sẽ giầu có, hạnh phúc đến chói chang, chất ngất. Sẽ cảm nhận dưỡng khí căng đầy buồng phổi, sinh lực lan tới từng ngón tay chân. Sẽ muốn ân cần ban phát, chia sẻ, vì vơi đi sẽ đầy lại.

Anh mải mê xông pha trận mạc, chắc không còn nhớ có lần cô em gái nhỏ nói và hỏi khẽ anh: “Anh có ánh mắt nhìn rất đẹp, làm tan chảy cả sắt thép. Đã bao lâu rồi anh không “nhìn” nữa?” Hoa hồng vẫn nở ngoài sân, những chậu phong lan vẫn thoảng hương trong gió và ngày cứ ngắn lại dần…

Vừa rồi, nói chuyện với nhà thơ Tây Bắc về đề tài thỉnh thoảng “nhìn” nhau, cái nhìn “chậm, lâu, quan tâm, trao gởi, bày tỏ, xin lỗi,” chị cười ầm, bảo tôi: “Sao dạo này cải lương thế?” Tôi biện bạch: “Bạn bè bỗng dưng đi nhiều quá!” Và cố cãi nên bất giác viện cả ông bà ra để tự bênh vực, nhắc chị câu: “Phu phụ tương kính như tân.” Triết lý khôn ngoan và khiêm nhượng của người xưa không được hậu thế coi trọng có lẽ vì nay mọi người sống cho mình và vì mình nhiều quá. Thay vì nghiêm túc lắng nghe, thẩm thấu, đa số chúng ta đều coi thường và bác bỏ lời căn dặn ân cần này, cho là khách sáo, thậm chí, xin lỗi quý anh chị nghệ sĩ cổ nhạc, bỗ bã cho là cải lương. Ngẫm cho kỹ, cốt lõi của sự từ khước là chúng ta không coi trọng nhau và từ đó, ngỡ như không cần nhau tuy ai cũng kêu gào hạnh phúc.

Trong cuộc hành trình vòng quanh thế giới để phỏng vấn những đôi vợ chồng thành công trong hôn nhân nhằm thu thập tài liệu cho cuốn sách bà muốn viết với nhan đề The Happy Wives Club, tác giả Fawn Weaver ghi nhận nhiều lần tầm mức quan trọng của NGHI THỨC trong cuộc sống chung. Trở lại nhà, bà nói với chồng: “Giữa chúng ta không có một nghi thức nào cả trong khi nó chính là bí nhiệm của hôn nhân hạnh phúc.” Quý độc giả chịu khó vào internet, tìm đọc bài viết “Những Lứa Đôi Hạnh Phúc Làm Gì Trước Bữa Ăn Sáng” để thử làm một trắc nghiệm giản dị với mình. Nếu vị nào ngẩn ra một giây, tôi hy vọng quý vị sẽ cảm thấy thú vị sau đó. Nếu có ai cười, cho là tôi lẩm cẩm, tôi sẽ vui lòng đợi tới ngày “ai” này bằng tuổi nhạc sĩ Anh Bằng khi ông hạ bút viết “Anh còn nợ em nụ hôn vội vàng…”

Quả nhiên, hạnh phúc rất cần nghi thức để thể hiện, không phải do ở sự rườm rà, khách sáo mà chính bởi lòng trân quý hạnh phúc ấy đã cho ta nhiệt tình luôn cố gắng vượt qua mình và giữ gìn nó. Công phu lắm, tựa như mỗi ngày chúng ta cẩn trọng gói những món quà thật đẹp để trao cho mọi người khi gặp gỡ. Tuy nhiên, phần thưởng nhận lại thật không nhỏ. Có bao nhiêu cha mẹ và con cái, vợ và chồng, bạn bè của nhau có lúc tự hỏi “Bao lâu rồi chúng ta chỉ thấy nhau chứ không nhìn nhau?”

Bùi Bích Hà

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 376
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Sun Oct 22, 2017 9:22 pm



Sách có linh hồn không?

Bùi Bích Hà


Sinh trưởng ở thành phố Huế cổ kính, những thập niên đầu và giữa thế kỷ 20, chúng tôi chịu một nền giáo dục hết sức nghiêm khắc của gia đình. Cha mẹ và cả các anh chị, kiểm soát con em rất chặt chẽ về cả hai phương diện hành vi và tư tưởng. Người lớn rất sợ chúng tôi tiêm nhiễm những điều chất chứa trong nội dung các cuốn sách, nặng nhất là sách truyện hay tiểu thuyết. Bàn học của chúng tôi không có sách nào khác ngoài tập vở liên quan đến chương trình học ở nhà trường, Vài bạn may mắn được gia đình chăm sóc kỹ thì có mấy cuốn sách hồng mỏng tang nêu cao gương đạo đức cho tuổi thiếu niên.

Phần tôi, người vô tình gợi ý cho tôi tò mò muốn đọc sách từ tuổi lên bảy là chị cả của tôi. Bố mẹ tôi vì công việc, thường vắng nhà. Khác với tôi bị một chị và một anh trên mình canh gác và trừng phạt thay bố mẹ, chị không bị ai giám sát cả nên chị tự do đọc bất cứ sách gì chị muốn. Tôi còn nhớ như in cảnh những buổi trưa mùa Hè gió hây hây mát, chị ngồi dựa lưng trên cái ghế xích đu đặt ở mé hiên thấp thoáng nắng từ cái dàn thiên lý lá xanh như ngọc, quyển sách úp hờ hững trên ngực, hai mắt chị lim dim, khuôn mặt chị đằm đằm nét dịu dàng thỏa thuê của một bông hoa hé cánh. Chị ngưng đọc từng lúc như thế khiến tôi thầm đoán chắc chị đang ôn lại những gì chị vừa thấy mô tả qua mấy trang sách chị cầm trên tay. Điều này kích thích trí tưởng tượng non nớt của tôi, khiến tôi liều giấu một cuốn của chị trên cái hộp nước trong bồn cầu để tôi có chỗ đọc nó. Dần dần, bằng cách này, tôi đọc được nhiều sách lắm, của Dương thị Hạnh, Hoàng Ngọc Phách, Lê văn Trương, Phạm Cao Củng, v.v.. nhiều nhất là của Tự Lực Văn Đoàn. Có những cuốn đối thoại giữa các nhân vật rất hay và tôi bắt chước họ bằng cách một mình lần lượt đóng mấy vai, một mình đối đáp qua lại, làm đủ cử chỉ như sách mô tả đằng sau cánh cửa phòng vệ sinh tôi đã chốt kỹ. Sau này lớn lên, ăn nói trôi chảy, khẩu khiếu của tôi chắc từ đây mà ra.

Năm tháng trôi qua, như các bạn bè cùng trang lứa, thời mới lớn, tôi cũng có nhiều anh ngấm nghé. Có một anh du học bên Pháp về, cứ mỗi lần đến thăm tôi, anh đều cho sách, những cuốn anh chọn mua ở nhà sách Albert Portail (sau này là Xuân Thu) trên đường Catinat, Saigon. Nhờ anh, tôi đọc hết những cuốn của Francoise Sagan và rải rác trong chương trình học bên Văn khoa, vài cuốn của Jean Paul Sartre, Albert Camus, Somerset Maugham, Andre Gide (tôi bỏ nửa chừng) Alain Robbe-Grillet (tôi không mấy thích). Riêng trong số sách anh cho, có một cuốn không thuộc loại văn học nên tôi đặc biệt lưu ý, cuốn Sur Les Hauts Plateaux du Vietnam, viết về đời sống của các bộ lạc thiểu số vùng cao.

Thấy anh qua lại đã lâu mà tôi thì lửng lơ, mẹ tôi khuyến khích: “Này con, mẹ thấy cậu Thụy được đấy. Trai gái quen nhau mà cậu ấy chỉ cho con sách. Người quý sách tính tình nho nhã, thanh lịch và sâu sắc con ạ!”

Tôi ngạc nhiên nghe nhận xét của mẹ trong cách đánh giá một con người. Nhất là bà xuất thân từ một làng quê nghèo Bắc Ninh, bản thân mù chữ, trưởng thành với công việc đồng áng lam lũ cho đến khi bước vào ngôi nhà bề thế của bố tôi để sinh con cho ông. Mãi sau này, nghĩ lại, tôi mới nghiệm ra niềm an ủi nuôi sống mẹ tôi qua suốt cuộc đời nhọc nhằn, cơ cực của bà là mấy cuốn Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc mà tôi thực sự không biết nhờ đâu bà thuộc lòng không sót một câu!

Đến đời tôi, đứa con không ai chờ đợi trong gia đình vì trên tôi đã có một chị xinh đẹp và một anh khôi ngô, tuấn tú. Từ khi lọt lòng, tôi hẩm hút trong tay người đàn bà sinh ra tôi mà tôi chỉ được gọi là chị, loanh quanh với “người chị” từ tinh mơ đến quá nửa đêm, ngày nào như ngày nấy, phải làm trăm công ngàn việc, nhiều lắm chỉ cho tôi thỉnh thoảng ngửi hơi áo đầy mùi mắm muối của chị, không có thì giờ bế ẵm, chuyện trò với tôi, bỏ mặc tôi trong cái xe đẩy bằng mây, lọc cọc bốn cái bánh gỗ trong gian bếp ám khói là nơi chị phải đánh vật suốt ngày với mấy ông đầu râu để lo cơm nước cho mấy chục nhân khẩu. Biết đi rồi, tôi vẫn một mình lủi thủi chơi với mấy con côn trùng vô hại, với cái chày giã cua quấn cái tã cũ giả bộ làm búp bê, với cái bánh xe lăn vòng quanh cái sân gạch và tôi luôn miệng mời chào, “Chị ơi, chị đi xe của em lên chợ Đông Ba không?” Lớn hơn tí nữa, tôi lăn lóc từ sáng đến chiều tối với con cái những người thợ thuyền và công nhân trong nhà, chơi đủ thứ trò chơi lảm nhảm của đám con nít không có ai giáo dục như tôi. Phước đức tổ tiên để lại, nhờ chị cả, tôi bước vào thế giới sách và học được bao nhiêu điều kỳ diệu qua ngôn ngữ và cách ứng xử của các nhân vật tác giả vẽ ra trong những cuốn sách ấy. Cũng cắp sách đi học như nhiều trẻ con khác nhưng vì có tình yêu chữ nghĩa, tôi với biển học như cá gặp nước, cha mẹ không cần roi vọt đe nẹt, thúc bách. Hơn ai hết, tôi sớm biết sách là chìa khóa mở cửa một thế giới huy hoàng, của ánh sáng, của tâm hồn, của trí tuệ, của trái tim và của trí khôn nhân loại.

Mấy tháng nay, tôi có chị bạn đang loay hoay tìm hiểu, thu góp mọi tài tiệu liên quan đến những vụ đốt sách xảy ra ở Sài Gòn những ngày đầu tiên sau biến cố 30 Tháng Tư 1975, khi cả miền Nam bị Cộng Sản Bắc Việt trắng trợn vi phạm Hiệp Định Paris, lợi dụng thời cơ đến trong tầm tay và xua quân nuốt trọn phần lãnh thổ VNCH phía Nam vĩ tuyến 17.  Chị nói với tôi: “Tội đốt sách cũng ngang với tội diệt chủng. Lịch sử kết tội những lò hơi ngạt của Hitler, sao không ai kết tội kẻ đốt sách?” Bạn tôi không quá lời nếu chúng ta hình dung được mỗi con chữ, mỗi cuốn sách cũng có linh hồn.

Trận đốt sách đầu tiên tôi chứng kiến diễn ra tại lề đường trước mặt rạp chiếu bóng Cao Đồng Hưng, gần chợ Bà Chiểu, Gia Định. Tôi không biết có bao nhiêu cuốn sách và những loại nào được gom thành đống có ngọn, cao chừng hơn một thước, đáy tòe ra chừng thước rưỡi. Nam nữ đoàn viên đội băng đỏ xúm quanh, hăng hái diễn thuyết về nền văn hóa Mỹ Ngụy đồi trụy cần phải được đốt sạch. Họ kêu gọi dân chúng tự giác đem nộp sách cho ủy ban quân quản xử lý hay là chờ nhà cửa bị lục soát, sách bị tịch thâu và người mang tội với giải phóng và nhân dân? Hiệu triệu xong, họ cùng nhau hò hét inh ỏi rồi châm lửa vào nấm mộ sách. Ngọn lửa nhanh chóng bốc lên ngùn ngụt, khói bay khét lẹt. Tôi hơi lạ, nghĩ sao sách mới in ra thơm mùi giấy, mùi mực là thế mà khi bị đốt, sách không thơm nữa? Mỗi tờ, mỗi trang là thịt da của sách chăng?

Sau màn đốt sách này, tôi chờ đợi phải chứng kiến thêm nhiều lần nữa nhưng không! Có ai đó thông suốt về kinh tế tầm nhỏ, đã mách nước chính quyền giải phóng đừng dại dột đem sách ra đốt vì tiền đấy! Đem bán ve chai hay giấy lộn sẽ thu được khối tiền. Thế là lề đường đầy người trải những tấm bạt bày bán sách cân theo kí lô và bạn hàng chạp phô các chợ xé sách xoàn xoạt để lấy giấy gói các vật phẩm bán lẻ cho người mua. Đó là cách làm kinh tế cấp kỳ của những người chủ mới của miền Nam Việt Nam sau “chiến thắng vĩ đại đưa họ lên đỉnh cao trí tuệ của loài người.”

Không đốt sách nhưng sách vẫn là một hiểm họa đáng sợ cho những kẻ không có khả năng đọc sách, hiểu sách để làm chủ sách. Sách vẫn muôn đời là ngọn đuốc soi đường, là vũ khí tranh đấu hiệu quả trên mặt trận xây dựng Tự Do/Dân Chủ/Nhân Quyền và Hạnh Phúc cho con người chống lại bóng tối của ngu muội và của sự ác. Không triệt được sách, không bỏ tù được sách thì triệt người viết sách, bỏ tù tác giả. Sau cuộc chiến đốt sách sớm tàn lụi là cuộc chiến truy đuổi và bách hại các văn nghệ sĩ, nhà báo, học giả, trí thức kẹt lại trong nước.

Viết đến đây, tôi sực nhớ mẹ tôi xuất thân mù chữ. Rõ ràng bà không có khả năng đọc, hiểu và làm chủ sách nhưng sao mẹ tôi không hằn thù, không sợ hãi sách mà trái lại, bà quý sách và ca tụng những người quý sách? Sự khác biệt giữa mẹ tôi và các đội viên mang băng đỏ ở tay áo ngày 30 Tháng Tư 1975, cả những kẻ ra lệnh cho họ đốt sách, là gì? Phải chăng là trái tim của yêu thương con người, của thiện ý muốn thấy cuộc đời này tươi đẹp hơn, tiến bộ hơn, sáng sủa hơn? Phải chăng là niềm tin vào khối óc con người cần được nuôi dưỡng và phát triển thay vì triệt hạ nó?

Thi sĩ Phùng Quán hạ bút viết những câu thơ để đời: “Có những phút ngã lòng, tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.” Mẹ tôi là nhân chứng cho thơ của ông khi bà sống được như một người tử tế và đi trọn cuộc hành trình khốn khó của bà trên mặt đất này cũng chỉ nhờ những câu thơ trong Kiều, Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc, để bà vịn đứng lên và không qụy ngã. Chữ nghĩa là tường thành, là đá tảng, là gậy thép, là sức mạnh sinh tồn vượt qua mọi thử thách và đe dọa. Sợ là phải.

Mới đây, nhân chuyện con nhện giăng tơ ở vườn sau nhà tôi, chúng tôi nhớ lại bài thơ cổ đăng trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, người Việt Nam nào ra đời trong thế kỷ 20 đều thuộc: “Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ/ Buồn trông con nhện giăng tơ/ Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?”… Điều bất ngờ vô cùng lý thú là một anh trong nhóm chúng tôi đang có nguyên vẹn cuốn sách này trong tay, khiến tôi ngẩn ngơ rồi kinh ngạc, tự hỏi làm sao mà một cuốn sách mỏng có thể trôi nổi gần một thế kỷ, qua biết bao tai ương, sóng gió để vẫn đường hoàng tồn tại trong tủ sách của một người suốt đời yêu sách như thế? Tôi nhất định tin rằng không chỉ xương da mà sách còn có linh hồn và linh hồn ấy bất tử, sá gì ý đồ diệt sách của một chính thể vô đạo mà sự hiện diện tính bằng cái ngắn ngủi của một kiếp người?

Bùi Bích Hà



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 307
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Sat Nov 04, 2017 12:12 am



Dấu chân để lại

Bùi Bích Hà

Nhà thơ Phùng Quán hạ bút viết mấy câu: “Có những lúc ngã lòng, tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.” Thi sĩ yêu thơ, thơ là tình yêu của thi sĩ. Vịn câu thơ là vịn vào tình yêu. Sách vở, thi phú, kinh nghiệm truyền khẩu kể lại quá nhiều những cơ hội hồi sinh do (sức mạnh) tình yêu. Tình yêu vượt qua nỗi chết. Kỳ diệu như thế, quyền lực như thế, sao vẫn có người xua đuổi tình yêu? Nhổ vào mặt nó. Vùi dập nó. Ném nó vào thùng rác. Xong lại cầy cục, mò mẫm đi tìm. Tìm được tình yêu mới, ba bẩy hai mươi mốt ngày, như người uống xong nước trà đầu tiên đem bã trà đi đổ, rồi mọi việc lại tái diễn theo chu kỳ cố hữu. Cũ/mới, mới/cũ. Kịch bản y hệt nhau. Lần sau kém nồng nhiệt hơn lần trước, chóng phai tàn hơn lần trước vì đã lẩn quẩn chút hồ nghi.

May mắn thay, cuộc sống muôn màu. Cũng có những lứa đôi yêu nhau toàn vẹn. Hai người là những sợi tơ quấn quyện dệt vào vuông lụa đẹp như mây, ấp ủ, dịu dàng, êm ả, “tay anh em hãy tựa đầu, em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây.”

Cuộc hôn nhân của cụ ông Patrick Roach và cụ bà Rose Scott đã vượt qua lễ kim hôn 13 năm. Họ cưới nhau trong một ngày đẹp trời cuối tháng 6 năm 1952, khi Nữ Hoàng Elizabeth Ðệ Nhị của Anh Quốc vừa mới lên ngôi và nước Mỹ đang dưới thời Tổng Thống Harry Truman. Con đường hạnh phúc của đôi uyên ương có vẻ lên thác xuống ghềnh, đi tìm rơm rạ xây tổ từ Bắc Mỹ qua Ireland rồi bay tuốt tới Nam Phi. Họ dọn nhà nhiều lần và nơi này tới nơi kia xa quá, chắc là tay xách nách mang nên một lúc nào đó, cuốn album bìa bọc da giữ trọn bộ hình cưới của họ bị thất lạc trước khi họ định cư tại Staffordshire.

Trong suốt thời gian họ nuôi dạy hai đứa con khôn lớn, trưởng thành, lấy vợ lấy chồng và sanh cho họ 4 đứa cháu, cuốn album quý giá của hai ông bà, không biết vì duyên cớ nào, lại tìm tới nằm nghỉ ngơi trong cái thùng chứa đồ phế thải của một công ty luyện thép trong vùng Birmingham để rồi cuối cùng, lọt vào tay bà Tina Bradley, 56 tuổi, nhân viên tiếp thị. Khi bắt đầu việc dò tìm chủ nhân của cuốn album, bà Bradley nói với tờ báo địa phương Birmingham Mail như sau: “Tôi nghĩ là bố tôi đã lượm được cuốn album trong cái thùng chứa xà bần và có lẽ ông nghĩ chủ nhân của nó chắc phải khổ tâm lắm vì đã đánh mất nó nên ông đem nó về nhà với ý định sẽ hoàn trả cho khổ chủ một dịp nào đó, cũng y như mong muốn của tôi giờ này đây.”

Bà Bradley tìm thấy cuốn album khi dọn dẹp các di vật của thân phụ, một cựu chiến binh Thế Chiến II, sau khi cụ qua đời ở tuổi 83 và cho biết bà cần trao nó lại cho người sở hữu nó để vinh danh cụ, một người sinh tiền luôn luôn làm điều phải.

Ngày 28 Tháng Sáu năm 2011 vừa tròn 61 năm ngày cưới của ông bà Roaches, tờ Mail khởi sự đăng tải vài tấm hình chụp hôn lễ của họ kèm với lời rao tìm tung tích hai ông bà. Một tháng sau, nhờ cô con gái của một trong mấy cô phù dâu ngày vui năm xưa nhận ra, cuốn album được trao trả tận tay chủ nhân của nó.

Với lòng biết ơn và tâm trạng buồn vui lẫn lộn, đôi uyên ương đầu bạc vẫn hạnh phúc bên nhau trong tuổi già lần dở từng tấm ảnh cũ, kiểm điểm người còn kẻ mất, thấy nước mắt dâng lên mi. Cụ ông Patrick ở tuổi 84, nói với BBC News: “Chúng tôi không còn chữ nào đủ để cảm ơn vị ân nhân đã tìm được kỷ vật quý giá này cho chúng tôi.” Cụ bà Rose Scott phụ họa thêm với chồng: “Thật hết sức cảm động trước công khó bà ấy đã bỏ ra để đi tìm chúng tôi.”

Nhờ vào sự phát triển của Internet và truyền thông, người ta ghi nhận nhiều bức hình kỷ niệm bị thất lạc vì nhiều lý do, đã được thu hồi. Trong trận bão Sandy năm 2012, một phụ nữ ở Connecticut bắt gặp cuốn album cưới năm 1962 tấp vào gần nhà. Sau đó, được biết nó thuộc về cụ bà Betty Elio, 82 tuổi, tài sản bị lũ cuốn trôi sạch sành sanh, thế nhưng “của tin còn một chút này.” May mắn châu đã về Hiệp Phố nhờ một người bà con của cụ nhận ra cuốn album khi tờ báo địa phương đưa hình ảnh lên mạng. Trong cuộc phỏng vấn với cơ quan truyền thông này, cụ Elio vừa ngắm nghía những tấm ảnh ghi lại ngày vui trọng đại của đời mình vừa nói: “Như thể tôi đang đi ngược lại thời quá khứ vậy.”

Ông bà mình ngày xưa đã nói (và hẳn là đã thực chứng): “Tâm động quỷ thần tri,” đồ vật thất lạc mà duyên may vẫn còn thì cố nhân sẽ có ngày tìm lại được nhưng ngoài duyên may, liệu tâm thành tưởng nhớ, mong cầu của đi không đi mất có khiến cho cái ngỡ mất sẽ quay về không? Tôi đặt câu hỏi này vì mới đọc cuốn The Secret của bà Rhonda Byrne nói về định luật hấp dẫn trong vũ trụ. Giả dụ cuốn album cưới trong hai trường hợp trên thuộc về hai cuộc nhân duyên tan vỡ, không còn ai mong đợi, chúng nó đâu có địa chỉ nào để tìm về?

Sống ở Mỹ gần 30 năm, có nhiều dịp đi nhiều tiểu bang vì nhiều lý do. San Jose chỉ cách quận Cam một giờ bay hay nửa ngày lái xe thì với tôi vẫn rất xa lạ. Một lần đi gần tới, rẽ về Sacramento trong ngày cưới của cậu em họ. Vài lần đi qua để chạy thẳng lên San Francisco thăm con gái đang học ở đấy rồi chạy tuốt lên Reno ngắm hồ nước ven đường và thưởng thức bình minh ửng hồng trên những đỉnh cây nhìn xuống thung lũng. Vẫn chưa lần nào đặt chân xuống San Jose. Nay nhân dịp cần đi thăm một người bạn thân lâm trọng bệnh, thay vì đáp máy bay, TD từ San Diego đề nghị hai chị em lái xe tàn tàn lên Bắc Cali, vừa đi vừa ngắm những khu vườn cây trải mình hai bên xa lộ 5 rồi lượt về ngắm biển dài theo xa lộ 101. Lâu lắm tôi mới có lại cái thú vào những quán ăn giữa chuyến đi, cảm giác sự tạm bợ vừa lôi thôi vừa đượm chút buồn vui của gặp gỡ và chia tay không hẹn hò. Chị TD cười cười: “Ðúng là cơm hàng cháo chợ nhé!”

Ðến Milpitas gần 6 giờ chiều. Nắng cuối ngày vàng nhạt trên dãy hành lang khách sạn lác đác người vào ra. Mấy bụi chuối dại. Vài khóm hoa không tên nở đó đây. Tôi chắc cảnh trí này bình thường như mọi ngày thôi nhưng có lẽ nỗi buồn trong lòng tôi lúc này đã khiến nó trông ủ ê tội nghiệp.

Sáng hôm sau, TD thức dậy sớm. Chắc chị đi một vòng thể dục như thường lệ. Trở về phòng, chị khoe: “Tìm được đường đi tới Vườn Tre rồi, chỉ chừng 20 dặm về phía Nam, tiện lắm!” Không nghe chị nhắc nhở gì về bữa điểm tâm Continental do nhà hàng hứa khoản đãi khách mướn phòng. Hỏi. Chị lắc đầu: “Mình ăn nửa cái bagel rồi! Có mỗi một cô vừa làm nhiệm vụ tiếp tân, vừa lo ăn sáng, chẳng ra làm sao cả! Thảo nào trông con bé không thân thiện chút nào ngay từ đầu.” Hóa ra chân lý “Hiểu để Thương” do thầy Nhất Hạnh rao giảng muôn đời đúng (tuy để “hiểu” được, lắm khi phải bửa cái đầu ra!)

Buổi sáng mùa Hè ở một thành phố lạ, tự nhiên có nét quyến rũ riêng. Của cảnh quan mới thấy lần đầu. Của hứa hẹn những điều chưa biết. TD và tôi đồng ý sẽ ăn sáng ở nơi nào muốn dừng chân trên đường đến làng Saratoga, nơi có Vườn Tre cả hai đang muốn tới thăm. Khởi đi từ năm 1915 với một đôi vợ chồng cư dân San Francisco có tấm lòng nhân ái, ông Oliver và bà Isabel Stine, khi họ chọn mua khu đất 18 acres này để làm nơi lui tới di dưỡng tinh thần cho gia đình, các nhân sĩ trên thế giới và bằng hữu yêu chuộng nghệ thuật. Bà Stine thân hành đáp tàu thủy qua Nhật, lưu lại đây gần trọn năm 1916 để đi chiêm ngắm các khu vườn Nhật, đặc biệt trong vùng Fuji-Hakone National Park. Trở về Mỹ, bà cho mời các kiến trúc sư người Nhật chuyên vẽ kiểu nhà và chuyên vẽ kiểu vườn để khởi công xây cất khu lâm viên này theo lối đồng quê Nhật, được bà đặt tên là Hakone.

Gần một thế kỷ trôi qua với rất nhiều thăng trầm và thử thách, quyền sở hữu cũng qua tay nhiều người mãi cho tới năm 2000, chi phí bảo trì khu vườn trở thành gánh nặng quá lớn khiến cho sự sống còn của nó bị đe dọa nghiêm trọng. May mắn thay, Quỹ tài trợ của ông bà David & Lucile Packard đã rót vốn ban đầu giúp thành lập ngân sách bảo trì riêng cho khu vườn. Với chế độ tự quản như hiện nay, hy vọng trong tương lai, Hakone sẽ mãi còn là thắng cảnh rất nên ghé lại dành cho khách du lịch và vãng lai đến từ khắp nơi trên địa cầu.

Ngoài các kiến trúc khác trong khu lâm viên, vườn tre được thêm vào trong một dịp đại trùng tu năm 1987, dưới sự giám sát của ông Kiyoshi Yasui, thế hệ thứ 14 của một giòng họ chuyên về kiến trúc của hoàng gia Nhật.

Bỏ đồng token vào cái khe của chiếc hộp sắt ở cổng và lách mình vào trong, dù trời đang nắng chang chang giữa trưa hè, sự yên tĩnh mênh mông xung quanh lập tức cho tôi cảm giác thư thái cũng mênh mông không kém. Cũng bầu trời chung, cao thăm thẳm ấy nhưng sao như gần gũi, thân thiện và hiền hòa hơn. Cũng con đường đất cát như mọi nơi nhưng sao mỗi bước đi như có tiếng thì thầm êm đềm ngân dội. Tôi đoán là do những cái cổng gỗ kiểu Nhật mang đầy thiền vị. Tôi cũng nghiệm ra có lẽ vì dân Nhật chịu nhiều thảm nạn từ miền đất và thổ ngơi họ sinh sống, thiên nhiên và con người có những lúc hung hãn đến điều nên, như phượng hoàng thoát thai từ lửa đỏ qua hai trái bom nguyên tử rót xuống Hiroshima và Nagazaki, kết thúc Ðệ Nhị Thế Chiến, người Nhật tái sinh một kiếp mới và có một nền văn hóa khác. Hơn ai hết, họ thực chứng nguyên tắc sống lấy nhu trị cương vì cứng chọi với cứng là gẫy. Phải như xe hơi cần lắp hệ thống ống nhún để đi qua con đường mấp mô hầm hố. Phải như dòng nước mềm chảy qua ghềnh thác để tung tăng reo vui. Phải như những hạt mưa để làm nguội mặt đất cho cỏ cây nhú mầm và xanh lộc. Phải buông lơi cảm xúc, thư giãn hình hài để nương theo cơn đau và làm chủ hơi thở. Lịch sử của dân tộc đã tôi luyện cho người Nhật bản năng hay kỹ năng sinh tồn tuyệt diệu.

Ðộng mà tĩnh. Tĩnh mà động. Tôi đứng trong khu vườn Hakone, cảm nhận cả tâm hồn và châu thân bung nở, từng tế bào thấm đượm rào rạt, no nê, khí uyên nguyên trong trời đất, ngỡ mình như quả bong bóng sắp bay lên tầng không. Lầu Vọng nguyệt bốn bề trống trải nhưng tôi biết trăng sẽ rất đẹp, rất huy hoàng trên cái hành lang gỗ nhìn xuống hồ nước này. Những dây hoa wisteria chờ đến mùa nhắc tôi vạt áo lụa mát rất Huế ơi của Trần Thị Lai Hồng. Bước vào khu vườn tre xanh nghít, thẳng tắp, yên lặng tuyệt đối, thỉnh thoảng lắm mới nghe một tiếng chim trong trẻo như ngọc rơi, tôi hỏi TD đang thoăn thoắt tả xung hữu đột với máy ảnh trên tay: “Sao tre ở đây không kẽo kẹt như ở vườn nhà mình ngày xưa nhỉ?” Chị trả lời không cần một giây nghĩ ngợi: “Nhìn đi. Những thân tre thanh mảnh, thẳng tắp như thế kia, làm sao cọ vào nhau thành tiếng được? Vườn Nhật mà kẽo kẹt suốt ngày thì sốt ruột quá!”

Quả nhiên, tôi xem lại lịch sử khu vườn, thấy mãi tới năm 1987, bậc thầy của ngành kiến trúc thuộc Hoàng Gia Nhật là ông Kiyoshi Yasui, mới thêm công trình kén chọn này vào. Thời đó, tôi đã định cư ở Mỹ được hơn một năm rồi, đang cặm cụi làm thợ trong một xí nghiệp sản xuất y cụ ở Irvine. Trẻ con lớn lên trong gia đình, trong lớp học, trong xã hội. Vườn tre xanh biếc, cao vút, lớn lên giữa thiên nhiên. Tôi chợt nghĩ mình có già đi cũng đành!

Tôi đã đi thăm vườn Nhật ở thành phố Bellevue, WA và nhiều vườn Nhật lớn nhỏ đó đây, có khi ở tư gia bạn hữu. Những không gian ấy có khác nhau về kích cỡ nhưng các họa tiết tạo nên khung cảnh đều theo một công thức chung, mang đến cho người chiêm ngắm sự tĩnh lặng. Riêng ở Hakone, diện tích quá lớn để được gọi là vườn. Cũng thú vị khi được biết Hakone từng được sử dụng để thực hiện phần lớn ngoại cảnh cho cuốn phim Memoirs of a Geisha đoạt tới 3 giải Academy Awards.

Ngoài khu Vườn Tre, làng Saratoga còn có suối ôn tuyền và khu phố xá thương mại ở đầu con dốc thật xinh xắn và thơ mộng. Trên đường ra, TD hỏi bâng quơ: “Bao giờ người Việt Nam mình để lại đất nước này những dấu chân như vậy?” Khi không có câu trả lời, tôi hay đổ thừa cho duyên số. Mãi về sau, tôi mới nhớ ra tin tức về một triệu phú Việt Nam, ông Phạm Ðình Nguyên 39 tuổi, cách nay vài năm, đã mua thành phố Buford của tiểu bang Wyoming với giá $900,000 Mỹ kim và giữ luôn chức thị trưởng từ người chủ cũ. Tuy nhiên, đến từ một xứ sở nghèo khó vì chiến tranh và giờ đây hãnh tiến chen chân vào thương trường quốc tế để làm giàu, nghe nói ông ta dự tính biến Buford thành trung tâm phân phối cà phê Việt Nam.

Sắp sang Tháng Bảy âm lịch rồi! Ở đây không có mưa ngâu nhưng chiều tối ở quận Cam thời tiết giữa mùa Hè mà sao dịu dàng đến lạ. Có người bạn gởi cho tôi mấy tấm ảnh chụp trời mưa ở Huế, làm tôi buồn muốn khóc, thương nhớ biết bao những mùa mưa thời thơ ấu ở nơi xa xôi ấy, với cha, với mẹ, với anh, với chị, với mộng mơ ngập lòng. “Gió bao lần từng trận nhớ thương đi, mà kỷ niệm ơi, còn gọi ta chi?” (Xuân Diệu)
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 307
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Sun Nov 26, 2017 9:40 pm



Kinh nghiệm

Bùi Bích Hà


Sống đến một tuổi nào đó, người ta có khá đủ từng trải để hiểu rằng cái giá của kinh nghiệm thường rất đắt, ở cả hai mặt thời gian và tổn thất.

Có một lý thuyết được các bậc tiền bối (gồm cả cha mẹ) tin tưởng và ra sức cổ võ, truyền bá, là con người có thể ứng dụng kinh nghiệm của kẻ khác để tránh những va vấp tương tự. Trong một giới hạn liên quan đến những vật thể cố định, những nguyên tắc bất di dịch (ví dụ: kinh nghiệm mở cái nắp hộp không phải dùng sức nhiều, nấu món ăn với thịt dùng nước lạnh, với cá dùng nước sôi…) lý thuyết này không sai.

Tuy nhiên, với con người hay những hoàn cảnh không thập phần giống nhau ở chiều sâu, có vẻ những kinh nghiệm cứng nhắc không phát huy được tác dụng và con người phải tự mình trải qua các bài học đắt giá để có kinh nghiệm riêng.

Xin đan cử một ví dụ đời thường khá phổ thông khác để minh chứng: kinh nghiệm “quất ngựa truy phong” trong tình trường, cách nay vài thập niên và bây giờ, trước đây ở quê nhà và lúc này ở Mỹ, nếu các bạn gái học được kinh nghiệm của cha mẹ hay của nhau, có lẽ không có người thứ hai rơi vào tình huống “thua thì thua quyết níu lấy con…”

Ai cũng nghĩ mình khôn ngoan hơn, may mắn hay phúc đức hơn, có lý lẽ riêng để đi con đường của mình. Cho nên, thông thường, chúng ta rút kinh nghiệm qua những bài học thực tế chua cay, những biến cố bi thảm hơn là từ người xung quanh hay từ những bài học từ chương dưới mái trường và mái gia đình.

Chẳng thế mà kinh nghiệm với cậu Adam Lanza, 20 tuổi, con của một gia đình ly dị, sống giam mình suốt bao nhiêu năm trong căn phòng riêng không chỉ đóng kín cửa mà còn trùm kín cả mọi cửa với các túi nylon màu đen loại dùng để chứa rác nhưng bà mẹ sống cạnh con vẫn không hay biết, không quan tâm, không mảy may băn khoăn về những biểu lộ bất thường ấy.

Cho tới một ngày cậu chĩa súng vào mẹ, chĩa súng vào 20 bé thơ và sáu cô giáo/nhân viên văn phòng trường tiểu học Sandy Hook, thành phố Newtown, tiểu bang Connecticut, sáng ngày 14 Tháng Mười Hai, 2012, lấy đi sinh mạng của các nạn nhân vô tội chỉ để hả lòng hận thù và căm phẫn số mệnh, sự thờ ơ của mọi người.

Trong một vụ thảm sát đau lòng khác xảy ra tại trường Virginia Tech năm năm trước đó, ngày 16 Tháng Tư, 2007, 33 ngưởi tử nạn, cậu sinh viên Nam Hàn 23 tuổi, Cho Seung-Hui đã viết trong lá thư giãi bày nguyên nhân việc làm của cậu như sau: “Các người đã có tỷ tỷ cơ hội để ngăn cái ngày hôm nay đừng tới nhưng các người lại quyết định dồn tôi vào chân tường và chỉ cho tôi một lựa chọn này…”

Kết quả điều tra thân thế thủ phạm cho thấy Cho Seung-Hui là con một gia đình Nam Hàn di dân, bố mẹ làm nghề giặt ủi lam lũ, tất cả tâm trí, thời giờ dồn hết vào việc nuôi con ăn học, không bao giờ ngờ cảnh khổ của gia đình giữa một xã hội phồn vinh khiến cậu buồn tủi, khi tìm cách đến gần một bạn học, chưa kịp cả tỏ tình đã bị cô công khai từ chối mà cậu nghĩ là do mình nghèo thì cậu đâm ra hận thù xã hội và ghét bỏ chính mình vô dụng.

Lựa chọn của cậu trong cùng khốn và tuyệt vọng là tàn sát cả hai để tự giải thoát. Vậy, kinh nghiệm chữa lành những thương tích nội tâm của một người là gì? Sách vở, tin tức, tài liệu từ những công trình nghiên cứu của nhân loại đầy rẫy, sao chúng ta cứ thất bại hoài? Thất bại tệ hại nhất vừa lập lại ở Las Vegas, Nevada, hồi đầu Tháng Mười, 2017, với hung thủ Stephen Paddock trong một đại nhạc hội quy tụ trên 20,000 khán giả.

May thay, chúng ta có ngoại lệ. Có những người tâm phước đức, trí nhờ đó mà minh mẫn, hốt nhiên bắt được kinh nghiệm như người trúng số. Đạo Phật gọi trường hợp này là “Ngộ.” Đạo Công Giáo gọi là “Mặc Khải.” Một tia sáng xẹt qua đầu, soi rọi những vùng thâm u nhất, nói là bỗng nhiên nhưng không bỗng nhiên.

Cơn giông, sấm chớp đều có chuẩn bị. Hạt giống tốt nẩy mầm đều có chọn lựa và công trình gieo trồng. Lắng lòng. Quan tâm chính mình và người xung quanh là chuẩn bị từ trong vô thức. Tín đồ sau khi vào chùa lễ Phật, vào nhà thờ quỳ gối đọc kinh, ra về thấy lòng trí ung dung, thanh thản, sáng suốt, phấn chấn, nghĩ là Phật ban phước, Chúa, Mẹ ban ơn, thực tế chứng nghiệm được là do những giây phút lắng lòng, tập trung vào ý lành, xua bỏ tạp niệm trước bàn thờ, tạo điều kiện cho năng lượng tốt phát sinh.

Tuần lễ này, tôi nhận được lá thư tuyệt đẹp của một đồng hương vừa “Ngộ” ra một điều tựa như nguyên lý của hạnh phúc gia đình, viết như sau:

“Tôi vừa có một khám phá mới khá thú vị, nghĩ là nên chia sẻ với chị.

Hôm qua, tôi đi tìm mua một món quà mừng sinh nhật chị bạn đồng nghiệp dạy cùng trường với tôi thời còn ở Sài Gòn trước 1975. Trước khi lái xe ra mall, tôi cũng đã nghĩ qua về món quà định tặng, đã search trên mạng để tìm vài gợi ý thích hợp nhưng khi tới mall rồi, vào các cửa tiệm bách hóa, thực sự cầm mấy món quà lên tay, ngắm nghía, cân nhắc, tôi thấy thật khó quyết định món nào vì không biết lựa chọn của tôi, tuy đầy thành ý nhưng chắc gì bà bạn đồng nghiệp của tôi sẽ đồng thuận với lựa chọn ấy và cũng yêu thích món quà thay vì vứt nó vào một góc tủ?

Trước khi làm việc này, tôi có bàn qua với nhà tôi, hỏi ý kiến cô ấy nhưng nhà tôi biết trước rồi vợ chồng cũng lại sẽ cãi nhau như mỗi khi vợ hay chồng muốn bàn với nhau bất cứ chuyện lớn/chuyện nhỏ nào nên câu trả lời của cô là: “Anh muốn làm sao thì làm, không cần hỏi em vì anh hiểu chị ấy hơn em. Em làm sao biết chị ấy muốn quà gì?” Nhà tôi thường than thở với bạn bè là chúng tôi số khắc khẩu nên tốt nhất hãy bớt nói, bớt trao đổi để bớt cãi nhau ầm ỹ cửa nhà.

Thật ra, cuộc sống của vợ chồng tôi mấy chục năm qua tương đối ổn thỏa, không có sứt mẻ nào quan trọng vì chúng tôi đều giữ lễ với nhau theo phong cách cả hai đều là nhà giáo. Tuy qua Mỹ không còn đi dạy học nữa nhưng vẫn phải dạy con nên vẫn phải làm gương. Lúc nào giận tôi chuyện gì quá lắm, nhà tôi than với cô em gái tôi: “Nói cô đừng buồn, chị cứ phải nhịn anh như nhai cơm sống! Khổ lắm! Chán lắm cô ạ!”

Phần tôi thì vui là vui gượng thôi vì cứ nghĩ đến vợ là ngại ngùng phải thấy bộ mặt cam chịu ngấm ngầm của cô ấy. Rõ ràng dù tình yêu lâu rồi không còn nữa nhưng trong đáy lòng cả hai, vợ chồng vẫn thương nhau bởi nếu không thương thì đâu còn muốn ở bên nhau nữa mà đường ai nấy đi tìm hoa thơm cỏ lạ chứ líu ríu với nhau làm chi?

Tuy nhiên, hòa bình cỡ nào, giữ lễ cỡ nào mà biết cái người sống bên cạnh mình chán mình, chịu đựng mình thì có khác gì chiến sĩ “nằm gai nếm mật,” ngày đêm chỉ có mỗi một việc là tiếp tục thắng địch và phất ngọn cờ đầu ngay trong nhà mình?

Nhưng mà may cho tôi chị ạ, chậm còn hơn không, nhờ có hảo ý đi tìm mua món quà sinh nhật mừng thọ bạn mà hôm qua tôi chợt khám phá ra điều này, nôn nóng chia sẻ với chị, để chị sẽ chia sẻ lại với những cặp vợ chồng trong hoàn cảnh tôi, quanh năm mùa đông và mắt em ướt, chị nhé!

Là thế này: Tôi nghiệm ra, đi mua món quà tặng bạn mà tôi lưỡng lự, đắn đo mãi không dám quyết, sợ bạn không vừa lòng thì phí tiền mà mình lại quê nữa. Ấy vậy nhưng mỗi khi tôi muốn nói gì hay làm gì đối với vợ là tôi cứ nói, cứ làm thẳng tuột, giữ ý mình mà tôi cho là đúng nhất, best choice rồi!

Khi nhà tôi tỏ vẻ không vui, không thích, tôi hay cáu, tự nghĩ mình đã để bao tâm huyết vào mỗi suy nghĩ, mỗi cử chỉ như những món quà yêu thương của tôi tặng cô ấy với cả tấm lòng mà sao cô ấy không biết nhận, ngu quá! Thế là cãi nhau. Được cái nhà tôi tốt nết, bao giờ cũng để tôi là kẻ chiến thắng và đây là món quà cô ấy tặng đúng ý tôi tuy phần cô luôn phải trả cái giá đắt nhất, hiếm có tri kỷ nào làm được.

Món quà ấy chính là cái gift card tôi mua tặng chị bạn sáng hôm qua để chị ấy có cái vui tùy thích và tôi thì làm xong bổn phận. Thật ra, làm xong bổn phận cũng có sự bằng lòng hay vui thỏa nhưng hình như không bằng được sự sướng khoái khi cái mầm sân si trong tự ngã được thỏa mãn. Hóa ra khi lắng nghe người khác thì mình cũng tự hiểu mình. Không lắng nghe là vì sợ hiểu ra cái mình không hoàn hảo mà có khuyết điểm cần sửa.

Trong mọi cái cần sửa, sửa mình là khó nhất chị ạ, tam đoạn luận, phải không? Trong mọi cái nhường nhịn, cái “tôi” khó nhường nhịn nhất tại vì bị sân si nó khống chế. Tôi nhớ có lần nói chuyện với vợ chồng một người bạn thân khác, cũng hay cãi nhau nẩy lửa vì mâu thuẫn, nhiều lúc tưởng là bỏ nhau, tôi hỏi chị ấy: “Sao tôi thấy anh nói nghe phải mà chị cứ cố tình làm ngược ý anh?” Chị trả lời tôi không chút do dự: “Ông ấy càng nói tôi càng làm trái lại! Đừng hòng chỉ huy hay dạy đời tôi!” Tôi thành thực không nghĩ chị ấy nói thật lòng mình vì mắt chị đỏ hoe. Bây giờ thì tôi biết cũng là do sân si mà ra cả.

Lấy kinh nghiệm đi mua quà cho bạn hôm qua, tôi chợt nhận ra tôi chưa bao giờ “đãi” vợ tôi như đãi bạn, có lẽ chỉ ngoại trừ mỗi cái lúc đang tán tỉnh nhau, được cái Tình nó phù trợ làm điều tốt. Quan tâm đến người kia một chút để hiểu buồn vui của họ, cả những cái trái khoáy mà nếu bình tĩnh nghe nhau và tìm cách giải quyết vì lợi lạc chung, cùng nhau kê cái giường cho bằng, tôi nghĩ cuộc sống sẽ đẹp hơn, tươi tắn hơn, có hòa điệu hơn, chẳng hơn “tự sướng” à? Mỗi khi sắp sửa nộ khí xung thiên cãi nhau, hãy chậm vài chục giây khoan nổ để nghĩ xem mình sắp nói cái gì, tôi chắc những lời nói sau đó sẽ có ý nghĩa và hiệu quả nhiều hơn ngôn từ cãi nhau.

“Khám phá” của tôi chẳng có gì ghê gớm hay to tát cả nhưng với tôi là cuộc cách mạng đổi đời cần nhất cho tôi. Chia sẻ với chị, có thể chị sẽ cười tôi trẻ con nhưng sự thật tôi là người đàn ông vừa trưởng thành, có lẽ cũng không khác mấy với những gì chị nghĩ khi bỏ thời giờ đọc thư này. Cảm ơn chị nhé!



Và dưới đây là phần phúc đáp của tôi:

Rất cảm kích được ông chia sẻ một kinh nghiệm sống quý giá (tuy không có gì to tát như ông viết.) Trong thiển ý tôi, cuộc cách mạng thành công nhất trên đời này là cuộc cách mạng bản thân, từ đó, sẽ nảy sinh nhiều cuộc cách mạng xã hội có ý nghĩa, làm cho mặt đất này đẹp hơn và cuộc sống của mọi người hạnh phúc hơn.
Cảm ơn ông và mừng ông đã tìm ra con đường an lạc.

(Bùi Bích Hà)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 350
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Fri Dec 01, 2017 9:20 am



Tìm nhau

Bùi Bích Hà

Anh chị làm chủ một ngôi nhà đẹp, tiện nghi, trị giá bạc triệu ở thành phố Irvine. Thời gian làm việc kiếm tiền của anh chị từ trong nước ra ngoài nước cho phép anh chị có những năm vàng ở tuổi hưu trí.

Thời giờ rảnh của anh chị, họ đi du lịch. Đường hàng không. Đường thủy. Đường bộ. Không đi du lịch thì họ họp nhau đánh mạt chược hay ăn nhậu, hát karaoke. Anh thỉnh thoảng cầm vợt ra sân tennis. Chị thỉnh thoảng đi gym. Anh sở hữu hai xe hơi loại đắt tiền, chị lái xe SUV hiệu Lexus mới toanh. Các con anh chị đều thành đạt, có địa vị xã hội cao lại ở cùng thành phố với anh chị. Phải nói đây là sự may mắn hiếm hoi, không nhiều người có được hoàn cảnh của anh chị.

Nói tóm lại, cuộc sống của anh chị ở nước Mỹ đẹp như mơ. Trời đang xanh. Biển đang êm. Nắng gió đang dịu dàng và mượt mà thì bão tố đến bất ngờ. Anh ho thúng thắng vài tiếng rồi vài cơn. Trong một cơn chưa thấy dấu hiệu bất thường nào ngoài cảm giác ngưa ngứa ở cổ và lúc bỏ tấm khăn giấy che miệng ra, anh thấy có chút hoen đỏ. Đi gặp bác sĩ gia đình, ông nghe tim, nghe phổi, đoán là anh bị dị ứng phấn hoa, ho mạnh quá có thể làm cuống họng bị trầy sướt. Chuyện thế cũng bình thường thôi, anh lại tung tăng hát hò với bạn bè. Vài tuần, một tháng qua rất nhanh, anh ho ngày càng nhiều. Anh sụt cân trông thấy tuy thể lực dường như chưa có triệu chứng bất tường nào báo động. Đến lúc anh ho ra máu thì không còn chần chờ được nữa, phải đi gặp bác sĩ chuyên môn. Kết quả thử nghiệm sinh thiết cho tin xấu: anh bị ung thư phổi thời kỳ cuối.

Tuy vậy, tinh thần anh vẫn rất cao. Điện thoại cho cô em họ ở tiểu bang xa, anh còn chế nhạc và hát ư ử: “Anh không chết đâu em, anh chỉ vừa mới bệnh sơ sơ…” Cả nhà cũng lây thái độ lạc quan của anh và bình tĩnh hỗ trợ anh trong việc chữa trị kéo dài và khá căng thẳng. Anh cầm cự được một năm thì sức khỏe suy sụp dần rồi anh chấp nhận bỏ cuộc.

Tang lễ xong, còn chị một mình trong ngôi nhà vốn đã rộng, nay vắng anh, càng rộng hơn. Con cháu chạy qua chạy lại với chị một thời gian nhưng không kham được mãi vì họ đều có thời khóa biểu riêng phải chu toàn. Chị tậu cái bàn mạt chược mới để ngay giữa phòng ăn và mời bạn bè đến xoa nhưng rồi chị thấy giải pháp này không ổn thỏa như chị thoạt nghĩ vì bóng dáng anh cứ thấp thoáng đây đó với chốc chốc tiếng anh gọi chị nói một điều gì. Buồn quá, chị gọi thợ đến tân trang phòng ốc, thay mới bàn ghế và sắp đặt lại vị trí của chúng. Chị càng không yên khi vài người bạn thân của chị dọn ra ngoại ô thành phố, về một vùng biển. Họ rủ rê chị: “Đi theo tụi tao cho vui chứ mày ở đây một mình, buồn chết đi được!” Chị vẫn có những người bạn chí thiết từ thời trung học. Bây giờ cùng già với nhau nhưng họ vẫn mày tao chí chạt như thuở nào, khiến chị cảm thấy rất ấm lòng. Có người còn đủ đôi, có người lẻ bóng như chị. Bất luận cuộc đời riêng may rủi thế nào, họ đến và ở lại bên nhau bằng tình bạn khăng khít không rời.

Chị hình dung ra nay mai những người bạn ấy không còn quanh quẩn bên chị mà sẽ xa thêm một chặng đường vài chục dặm, chị thấm thía nỗi biệt ly. Ngủ một giấc chập chờn qua đêm chờ sáng, chị thức dậy điện thoại ngay cho người chuyên viên địa ốc vừa giúp mấy bà bạn chị mua nhà, nhờ họ kiếm cho chị một căn trong cùng khu. Chị rủ con gái đi ăn trưa vào giờ lunch của cô để loan báo breaking news.

“Mẹ muốn nói với con mẹ đã quyết định dọn nhà về S. Beach.”
Hơi bất ngờ, con gái chị mở to hai mắt, nhướng cao đôi lông mày thay cho câu hỏi chắc cô chưa tìm ra chữ.

Chị nói tiếp và nói thật mau để con gái biết chị không định hỏi ý kiến cô và chị cũng không đùa:
“Các bạn mẹ đã về đấy trước mẹ và đời sống dễ chịu lắm. Gió biển rất tốt cho sức khỏe của mẹ, an ninh và tiện nghi đầy đủ. Điều tốt nhất với mẹ là mẹ có bạn ở quãng đời không thể thiếu họ và các con thì sẽ ít phải bận tâm về mẹ hơn.”

Tất nhiên bữa ăn trưa của hai mẹ con ở cái tiệm họ yêu thích nhất là Paneira Bread, không vui như mọi khi nhưng chị cũng cảm thấy nhẹ nhõm vì đã nói được với con gái điều khó nói mặc dầu từ đáy lòng, có lẽ cả hai đều ngầm thấy đây là một sắp đặt hợp lý.

Việc mua nhà tiến hành nhanh chóng. Trước khi dọn vào, chị cho thợ tân trang gần như toàn diện nơi ở mới. Chị chọn cách trang trí nội thất đơn giản mà thanh lịch với rất ít đồ đạc nhưng thuộc loại tuyển chọn. Toàn bộ ngôi nhà toát lên sức mạnh của sự ngăn nắp và cái trong sáng của một bắt đầu mới.

Tôi bước chân vào nhà chị, chưa biết ất giáp gì, chỉ thấy vui và mừng cho chị. Chị hơi lên cân, khuôn mặt đầy đặn, làn da hồng hào, trông khỏe hơn hẳn dạo năm ngoái tôi gặp chị trong chuyến đi giải khuây vùng Tây Bắc.

Tuy nhiên, cô em họ của chị cùng đi với tôi đến thăm chị có vẻ tần ngần, ấp úng mãi mới hỏi chị: “Chị đâu có cần phải về sống ở đây và trong căn nhà như thế này?”
Chị khẽ chau mày như bị chạm vào chỗ đau. Chị trả lời với một chút chua chát: “Tôi phải về đây và sống trong căn nhà như thế này để tôi có bạn. Anh đi rồi, tôi như chim lẻ đôi, như cây gãy cành. Cô có chồng bên cạnh, làm sao nghĩ giùm tôi được?”

Chúng tôi đang ngồi xung quanh cái bàn ăn kê gần bếp, uống nước và ăn bánh ngọt chị mời. Ngôi nhà có nhiều cửa sổ mở ra nhiều bãi cỏ và nhiều con đường. Qua lá màn mỏng phơ phất gió, tôi thoáng thấy một phụ nữ đội cái nón cói rộng vành đi nép sát tường nhà chị, đoán là chị có bạn tới chơi. Quả nhiên, bạn chị tới rủ chị đi nhà thờ chỉ cách chỗ họ ở chừng nửa mile. Mỗi tuần họ hẹn nhau mạt chược ba lần, mỗi ngày hẹn nhau đi bộ sáng chiều chuyện vãn hai lần và đi nhà thờ một lần. Khi nào cao hứng, họ lấy shuttle của khu cư xá đi ra mấy cái chợ lân cận mua thức ăn và đồ dùng vặt vãnh. Hôm nào muốn nghe tiếng sóng và để chân trần đi trên cát ẩm, họ ra biển. Bãi S. Beach nhỏ, kín đáo, yên ả. Những người ra đây hứng gió muối, thả diều, lội nước, tắm hay trượt sóng phần đông là cư dân trong vùng, họ vui vẻ, hiếu khách và lễ độ.

Tôi nghĩ chị phải sáng suốt và may mắn lắm mới chọn nơi này để sống quãng đời còn lại với nhiều ý vị. Ở đây, chị được hưởng thêm cái thú “đi xóm” ngày xưa ở quê nhà, ai có bát canh hay trách cá là ơi ới gọi nhau. Định cư ở Mỹ mấy thập niên, nhiều người gồm cả tôi, không còn cơ hội để thưởng thức thói quen “đi xóm” nữa. Đã lâu rồi, ngày H. chưa mất vì ung thư, có vài buổi tối khá muộn, cô thình lình bấm chuông nhà tôi, đem cho tôi rổ đậu phụng luộc nóng hôi hổi và cô thì sôi nổi bảo tôi: “Em luộc đậu, thấy ngon quá, chạy tới chia cho chị một mớ.” Mắt cô ướt dưới ánh đèn. Tóc cô ướt xõa trên vai, thơm mùi shampoo. “Chạy tới” với cô là phải lái xe chừng 3 dặm. Tôi ôm vai cô, nghẹn ngào: “Em không phải cực thân như vậy, thời giờ không có, ở nhà với con em ạ!” Và cô ù té chạy, lại 3 dặm trở về trên chiếc xe hơi có khi nằm ăn vạ giữa đường. Hơn tình hàng xóm… xa, cô cho tôi tình bạn thật hiếm hoi!

Ở tuổi chị và tôi, chúng tôi ngày càng thấm ngấm tình bạn. Trịnh Công Sơn viết ca từ “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau,” chúng tôi không biết sỏi đá cần nhau thế nào nhưng có lẽ đời sống con người thiếu tình bạn giống như mùa đông không có lửa củi, tối tăm, lạnh lẽo.

Từ biệt chị ra về, tôi mang theo hình ảnh chị một mình trong căn nhà mới, tươi tắn, mạnh mẽ, với một diện tích vừa đủ cho chị và bằng hữu của chị, buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều và cả buổi tối, líu lo tiếng nói, tiếng cười. Hình ảnh ấy nhắc tôi sực nhớ bài hát Papa nổi tiếng của Paul Anka, có một câu tôi giữ mãi trong tâm tưởng mình khi người cha góa bụa đã già, thương yêu nói với con mình: “Con hãy đi, sống tự lập. Con có nhiều việc phải làm, nhiều nơi chốn phải đi qua. Đừng bận tâm về cha, I’m OK, alone.”

I’m OK, alone. Đối với riêng tôi, đây là hy sinh cuối cùng và lớn nhất cha mẹ có thể tặng cho con cái mình. Đến một lúc nào đó, vai diễn phải bước ra khỏi sân khấu và thành công của họ là để lại sự tưởng nhớ lâu dài cho khán giả. Tất nhiên không phải ai cũng có khả năng/điều kiện thu xếp và đối phó với hoàn cảnh như nhân vật Papa hay như chị nhưng nếu làm được, cũng nên lắm!

Phải chăng câu nói của ai đó nghe rất quả quyết, “Don’t worry, I’m OK, alone,” có thể thuyết phục con cái nhưng không thuyết phục được những người bạn chí tình và họ vẫn đi tìm nhau.


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 307
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Sat Dec 09, 2017 12:08 am

.

Anh em như tay chân

Bùi Bích Hà

Hai anh em tôi sinh ra cùng một mẹ cha nhưng chúng tôi chỉ biết điều này khi anh tôi 17 tuổi và tôi 14. Hoàn cảnh éo le ấy là do bố tôi hiếm muộn, ngoài 50 vẫn chưa có mụn con nào.

Hai mẹ già tôi là vợ cả, vợ hai của bố tôi, giòng giõi trâm anh thế phiệt nhưng không biết tại sao không sinh được con cho nhà họ Bùi. Khi bà hai chính thức bước chân vào nhà bố tôi, bà nhất mà sau này chúng tôi gọi là Me già, cư xử rất phong cách và chững chạc, phù hợp với tư thế bề trên của mình. Bà dọn ra một cơ ngơi riêng và ngày càng ít can thiệp vào công việc của bố tôi. Tôi nghe nói rằng thời gian đầu, bố tôi dùng bữa trưa ở nhà me già và bữa tối ở ngôi nhà ông sống với me trẻ. Tuy vậy, khi sự nghiệp của bố tôi phát triển lớn với nhiều cơ sở từ Bắc vào Trung, bố tôi thường phải di chuyển, không còn giờ giấc cố định nên khi ông về nhà thì đây là ngôi nhà ông sống với bà hai.

Thời khoảng một phần tư đầu thế kỷ 20, không biết do đâu mà bà hai của bố tôi nảy ra ý định lập công bằng cách đi tìm người thay bà sinh con cho bố tôi. Ban đầu, bà nhòm ngó các cô mặt hoa da phấn ở thành thị. Tôi đoán các cô nhận vai trò này vì bố tôi vừa đẹp trai, tướng mạo uy nghi, quắc thước, lại tài năng, danh vọng, sản nghiệp đầy đù. Thế nhưng có lẽ số phận chọn mẹ tôi gánh vác sự bất công tủi cực này nên không ai sanh nở gì cả cho tới một ngày, bà hai của bố tôi nhân chuyến về Bắc Ninh thăm họ hàng và thu mua gạo, tình cờ nhìn thấy mẹ tôi đang xắn quần cấy mạ dưới ruộng, dáng vóc thôn nữ tươi mươi, khỏe mạnh, đúng tiêu chuẩn “tốt nái” bà săn tìm nên bà vào làng, tìm gặp, thương lượng với ông bà ngoại của tôi rồi đem mẹ tôi “về dinh.”

Định mệnh làm phép lạ nên mẹ tôi sớm cấn thai. Bố tôi có “tin mừng” nhưng mẹ tôi lãnh họa trước vì bà hai không vội tin ngay. Suốt ba tháng trời ròng rã, mẹ tôi vừa bỡ ngỡ chuyện thai nghén lần đầu, vừa phải làm lụng công việc nằm trong phận sự không khác gì tôi tớ trong nhà, vừa phải trả lời sự chất vấn cay nghiệt của bà hai hỏi xem mẹ tôi có lỡ dại với thầy thông/thầy ký nào dưới quyền bố tôi không? Câu hỏi lập đi lập lại của bà với hàm ý đe dọa là tại sao những cô ngàn lần đẹp hơn, thanh lịch hơn mẹ tôi đã không thể nào sinh nở mà mẹ tôi lại sớm mang thai với bố tôi? Câu trả lời của mẹ tôi cũng lập đi lập lại trước sau không sai một chữ là: “Thưa bà, con không biết ai ngoài ông cụ.”

Mẹ tôi trở dạ sinh chị Túy Sơn đúng ngày tháng bố tôi ghi trong sổ nhật ký. Thời đó chưa có thử nghiệm DNA để truy tầm phụ hệ, chỉ thấy chị giống bố như hai giọt nước và mẹ tôi được minh oan.

Sau lần đầu nhiều nghi nan và tủi cực ấy, mẹ tôi liên tiếp bỏ một anh, sẩy một lần trước khi sinh và nuôi được anh thứ tư. Là đứa con trai nối dõi tông đường hiếm muộn, lọt lòng mẹ, anh tôi lập tức được bà hai của bố tôi bế tắp lên nhà trên, khai sinh là con của bố tôi và bà, được bà thành kính sửa soạn lễ vật và thân chinh ẵm ra đền đức Thánh Trần, đội sớ bán khoán anh, nhận pháp danh cho anh là Minh Châu.

Tôi lót tót ra đời sau anh ba năm, lại là gái nên xem ra thừa, không ai đòi quyền sở hữu cả và mẹ tôi được… tự do nuôi tôi. Sau này tôi nghe mẹ kể mùa Đông ở Huế mưa dầm, mẹ không có đủ tã lót cho tôi nên chỗ ướt mẹ nằm, chỗ khô phần tôi, cứ thế thay qua đổi lại cả đêm. Do vậy, tuy anh em tôi cùng giòng giống cha, cùng bọc trứng mẹ sinh ra nhưng chúng tôi được nuôi dạy tinh thần và thể lý bằng hai nền giáo dục và hai chế độ dinh dưỡng khác nhau. Dưới mắt anh, tôi là con của cô S, người hàng ngày nấu cơm, dọn cơm cho anh ăn, giặt quần áo, bỏ màn buổi tối cho anh đi ngủ, vắt màn và làm giường buổi sáng khi anh thức dậy, v.v… Anh hay cậy quyền, bắt nạt tôi nên tôi rất sợ anh. Không chỉ một mình tôi sợ, né tránh anh tối đa mà đám con nít bạn học cùng lớp với tôi thỉnh thoảng đến chơi vì vườn nhà tôi nhiều cây ăn quả lắm, thoáng thấy anh là chúng dạt ra ngay.

Hoàn cảnh anh em tôi nhì nhằng như vậy cho tới một hôm, anh tôi không bằng lòng với những món ăn “cô S” dọn ra mâm và bưng lên bàn cho anh ăn trưa nên anh vung tay hất cả mâm cơm đổ xuống đất rồi chạy lên lầu mách bố tôi “cô S” ăn bớt tiền chợ, cho anh ăn đồ ăn dở. Có lẽ việc này là giọt nước cuối cùng làm tràn cái ly đã quá đầy nên ông quản gia lâu năm, rất mực trung thành của gia đình tôi không nhịn nữa, càng bất chấp bị bà hai của bố tôi đuổi nên ông tiết lộ bí mật với anh tôi: “Này cậu, ‘cô S’ là mẹ đẻ của cậu đấy, không phải bà L. đâu!” Tôi thấy anh tôi đứng ngây ra một lúc, không nói gì rồi lẳng lặng vào phòng riêng đóng cửa lại. Ít lâu sau, anh bỏ học và anh nói với bố tôi anh muốn tình nguyện vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Ở tuổi 17, bố tôi phải cùng ký đơn với anh để anh hội đủ điều kiện nhập ngũ. Tôi hơi ngạc nhiên thấy bố tôi không phản đối đề nghị vào quân trường của anh vì tôi biết bố tôi đặt nhiều kỳ vọng và đầu tư nhiều vào anh trên con đường học vấn. Có lẽ vì thành tích học của anh không xuất sắc nên bố tôi hoặc hoài nghi về đường lối giáo dục gia đình áp dụng cho anh, hoặc muốn thấy anh được thử thách cách khác xem năng khiếu của anh là gì nên bố tôi không ngăn cản mà ủng hộ quyết định thoát ly của anh.

Anh khăn gói rời nhà. Đối với bà hai của bố tôi, anh đã tự nhổ cái gai trong mắt bà vì anh lạnh nhạt và xa lánh bà kể từ khi anh biết mình bị người lớn lừa dối, không những cư xử sai trái với người mẹ đã rứt ruột sinh ra anh mà còn khiến anh vô tình ăn ở như một kẻ vô đạo. Đối với mẹ tôi, không còn được nhìn thấy anh hàng ngày, âm thầm chăm nom anh dù chỉ với tư cách người hầu hạ thân tín, tệ hơn nữa, anh còn dấn thân vào chỗ hiểm nguy khi không ai bắt buộc, mẹ tôi đau đớn tận cùng trong câm nín, như phiến đá chảy mồ hôi dưới trời băng giá. Đêm đêm, mẹ thắp nhang khấn khứa. Ngày ngày, thỉnh thoảng mẹ chết sững, quên quên nhớ nhớ giữa bộn bề công việc, sợ anh tôi ăn không đủ no, sợ anh bị hiếp đáp và cuộc sống nhà binh vô cùng khắc nghiệt.

Nếu tấm lòng thương con của mỗi bà mẹ sẽ động tới ý Trời thì mẹ tôi đã được ơn phước này. Anh tôi ra trường, về qua nhà trong quân phục oai vệ, lon chuẩn úy mới tinh trên cầu vai, cao lớn, khỏe mạnh. Anh đã có đủ thời gian để nhai, nuốt, bỏ qua chuyện cũ, bắt đầu cái mới dưới mái nhà cha mẹ. Anh nhìn mẹ với ánh mắt đằm thắm, thương yêu, thậm chí bảo bọc nhưng anh không biết xưng hô với mẹ thế nào? Anh hỏi tôi: “Cả em nữa, chúng ta không thể tiếp tục gọi bà L. bằng me và gọi mẹ mình bằng chị. Mình phải làm sao?” Ở tuổi 15, tôi không có nhiều kinh nghiệm ứng xử nhưng tôi nhớ người Bắc quê mùa hay gọi mẹ bằng “Đẻ,” nghe gần gũi và dễ thương nên tôi trả lời anh: “Hay mình gọi mẹ bằng “Đẻ” nhé?”

Do ảnh hưởng giao tế rộng rãi của bố tôi, anh tôi được liên tục theo học các khóa huấn luyện chuyên môn và anh chọn phục vụ trong các đơn vị Công Binh chiến đấu. Đóng quân ở đâu chừng vài tháng, nếu vào mùa Hè tôi được nghỉ học, anh đem mẹ và tôi theo. Tôi với mẹ được trải qua một mùa Hè tuyệt đẹp với nắng gió lồng lộng và trời nước mênh mông ở Hà Tiên.



Kỷ niệm một thời niên thiếu và tuổi trẻ xanh tươi, ròn rã, lung linh hạnh phúc, chan chứa ước mơ tưởng như mới đâu đây nhưng tôi bây giờ đang trên chuyến bay trở lại quận Cam sau cuộc thăm viếng anh tôi vỏn vẹn năm ngày. Bây giờ, anh là một ông già tuổi ngoài 80, gầy guộc, lưng khòm, râu tóc bạc, một mình lui cui trong ngôi nhà anh giữ sạch như ly như lau, như nỗi quạnh vắng của anh khi chiều xuống không một tiếng động khắp xung quanh. Máy đo áp huyết, hộp dụng cụ đo đường mỗi sớm mai để ngay ngắn ở đầu bàn. Chiếc xe lăn mới tinh ở cửa ra vào. Cái gậy chống đầu tòe hoa thị dựng bên chiếc ghế trong phòng ăn. Suốt ngày anh điện thoại cho sở xã hội để khiếu nại về thái độ kỳ thị của case manager, để cãi nhau về các chương trình trợ giúp y tế dành cho người cao niên không còn khả năng tự lo cho mình một số việc. Suốt ngày anh điện thoại cho các văn phòng bác sĩ để theo dõi hay cự nự về giấy tờ referral/approval chậm trễ, khiến anh cứ phải chờ đợi mà không thực hiện được các thủ tục y khoa chẩn bệnh cần thiết.

Anh có một vườn hoa hồng và rau xanh, một hồ cá Koi với suối nhân tạo ở sân sau, hai con chó Chihuahua làm bạn với anh đã hơn mười năm. Trời mưa, anh cười, mắt nheo lại vì vui, bảo tôi: “Vừa mát, khỏi tưới cây, lại có nước dự trữ (trong dãy thùng phuy xếp hàng dưới hiên) đỡ phải trả bill cô ạ!” Nhìn anh lúc này, tôi biết ý nghĩ riêng trong tôi khi bay sang thăm anh, muốn anh về Cali để anh em có điều kiện thăm nom, tiếp trợ nhau khi cần, sẽ không thể thành sự thực. Anh như cái cây đã bắt rễ sâu vào cảnh thổ nơi này, mỗi mỗi đều gắn bó xương thịt với anh, hà hơi nuôi dưỡng anh. Từ cái góc nhà nơi anh ngồi một mình mỗi buổi tối dưới ánh đèn, thong thả ăn những món ăn anh yêu thích, xem một cuốn phim có những vai diễn thông minh, tàn bạo, luôn xoay chuyển hay làm chủ tình hình; từ cái sofa êm ái đôi khi anh thức ngủ chập chờn theo cách một người già, giữa tiếng người cười nói ồn ào hay tiếng nhạc phát ra từ cái TV to đùng ở phòng khách ít khi tiếp đãi ai. Dẫu sao, tôi vẫn xót xa thương anh, thương cái hình ảnh anh lọm khọm kéo cái túi rác tôi buộc sẵn ra lề đường để sáng sớm hôm sau xe rác tới mang đi tuy nhìn vào mắt tôi, anh biết tôi thắc mắc điều gì nên anh bảo tôi: “Anh còn chưa có thời giờ đề nghị thành phố phải cấp thùng rác như bên Cali của cô để có an toàn vệ sinh hơn.”

Anh em ruột như tay chân, giữ một phần thịt da của mẹ cha và cả quãng đời chung nhiều kỷ niệm. Đau một người là đau cả hai, cả ba,… Mỗi chuyến đi thăm anh về, tôi buồn rất lâu, nhớ anh và khóc một mình. Con gái tôi nói với tôi: “Mẹ sai rồi. Mẹ đừng nghĩ thay bác. Mẹ tự làm khổ mình khi hình dung bác bằng cảm xúc của mẹ. Tất cả những gì mẹ nên làm, có thể làm là cầu nguyện bình an cho bác, nghe bác nói nếu bác có nói, ngoài ra, mẹ chớ bao giờ vạch ra cho mình phải thế nào thì mới đúng cho bác?” Cháu làm tôi nhớ lại lời Linh Mục U. đã phê bên lề một bài viết của tôi khi Cha dạy môn cổ văn Pháp ở Đại Học Huế: “Cô nên thận trọng, đừng để tưởng tượng đưa cô đi quá xa.”

Tôi cũng biết người ta thường khổ vì chính những điều mình nghĩ hơn là sự thật. Bây giờ, tôi chọn ly nước đầy một nửa thay vì vơi một nửa để nghĩ và nhớ về anh tôi trong sự hài lòng riêng của anh với những gì anh đang có, thêm được niềm vui cho anh thì tốt nhưng đừng muốn anh phải thay đổi.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 376
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Tue Dec 12, 2017 10:44 am



Tự do ơi tự do

Bùi Bích Hà


Tôi nhớ lại mọi việc trong quãng đời khá dài đã sống qua. Nếu có lúc nào ý niệm tự do thoáng qua trong cái đầu thơ dại của tôi thời bắt đầu có trí khôn, thì đó là vài buổi chiều hoặc tôi ham vui theo chân chúng bạn la cà đâu đó hoặc cô giáo bảo tôi ở lại phụ cô sắp xếp tập vở chút đỉnh rồi về cùng cô, tôi biết thế nào tan học về nhà trễ cũng bị mẹ tôi mắng mỏ rồi lãnh đòn của bà vì tội rong chơi luông tuồng để bà phải lo lắng.

Suốt con đường thăm thẳm xa, năm, sáu cây số từ trường tới nhà, những bước chân ngắn chủn của tôi nặng trĩu nỗi sợ hãi, khiến tôi sớm hiểu rằng vì tôi còn bé, phải chịu sự giám sát và kỷ luật của người lớn. Những lúc bị đòn vọt như thế, chưa biết tự do là gì nhưng tôi vừa khóc vừa tự hỏi bao giờ thì mẹ tôi chết để tôi muốn làm gì thì làm?

Lớn hơn một tí, tôi quen với bổn phận và sự vâng lời để được yên thân, nhất là không làm mẹ tôi buồn. Lớn hơn tí nữa, tấp tểnh làm thơ, viết văn, tôi biết phải giấu bố mẹ vì mẹ tôi chỉ cần tôi chăm chỉ lo học để không bị ở lại lớp và đối với bố tôi thì trẻ con không được viết lách lăng nhăng, đi thi thì phải đậu và đúng tháng, đúng năm phải ra trường, tôi không có chọn lựa nào khác.

Đến tuổi trưởng thành, tôi theo nghề dạy học. Chưa hết một năm làm cô giáo, gia đình gả chồng, tôi theo chồng vào Nam. Nhà tôi dặn tới trường, tôi không được nói chuyện với các nam đồng nghiệp vì các ông ấy không đáng tin. Hằng ngày ngoài giờ đi dạy, tôi đi đâu cũng phải nhớ về nhà trước khi mặt trời lặn. Trái lại, phụ nữ có giáo dục, chồng về nhà trễ, không bao giờ được hỏi lý do…

Tóm lại, từ bé đến lớn, ở đâu tôi cũng được dạy bổn phận và vâng lời. Tôi đã quen với cách sống tẻ nhạt ấy nhưng không có nhu cầu thay đổi.

Biến cố 30 Tháng Tư, 1975, xảy ra, cả Sài Gòn nhốn nháo chuyện di tản vì người ta bảo nhau không thể sống với Cộng Sản được. Không chỉ quân đội, công chức cao cấp, nhân viên sở Mỹ mà cả những ai từng di cư năm 1954 khi mất miền Bắc, vì có kinh nghiệm thực tế với Cộng Sản, cũng đều khăn gói tìm phương tiện ra đi. Lần đầu tiên tôi nghe nói nhiều đến hai chữ “tự do,” mơ hồ mường tượng được tự do là gì chính là ở thời điểm này.

Vì nhiều lý do, tôi kẹt lại Sài Gòn. Lúc mọi nhà trong khu cư xá Phú Nhuận trong đó có nhà tôi, đi chợ phải dùng bị cói để công an khu vực không nhìn thấy nội dung bên trong, miếng thịt, con gà hay bó rau, thì tôi bắt đầu hiểu ý nghĩa hai chữ tự do một cách cụ thể.

Tại lớp học tôi dạy, khi tôi gọi hai tổng thống của hai nền Cộng Hòa miền Nam Việt Nam bằng đại danh từ “ông,” tôi bị học sinh chi bộ đảng trong trường báo cáo với cán bộ chỉ đạo và bị mời lên “trao đổi.” Họ nói: “Chị là giáo viên đứng lớp, phải có lập trường chuyên chính, phải biết phân biệt rõ bạn và thù, không được gọi những kẻ có nợ máu với nhân dân là ông mà phải gọi chúng bằng thằng, chị thông suốt chưa?” Tôi trả lời ông ta rằng tôi được giáo dục không gọi bất cứ ai bằng thằng cả. Dưới chế độ cũ, chúng tôi vẫn gọi cụ Hồ…” Ông cán bộ ngắt lời tôi, hơi lên giọng: “Thôi, tôi không đôi co với chị. Đây là lệnh.”

Như vậy, hóa ra suốt quãng đời từ thơ ấu đến khôn lớn của tôi tuy tôi không có tự do nhưng tôi không hề biết là vì tôi như người soi gương ở phía sau cái mặt tráng thủy của tấm gương, không thực sự biết diện mạo của tôi và của tự do như thế nào?

Qua tới Mỹ, tôi dần dần có thêm nhiều chứng nghiệm về hai chữ tự do. Ở đất nước này, tự do cao nhất là tự do tư tưởng/tự do ngôn luận, không chỉ được ghi vào Hiến Pháp, còn được bảo vệ bởi tu chính án số 1 ứng dụng như một nét văn hóa sống động, tiêu biểu cho cả một dân tộc phú cường có trên ba trăm triệu dân đến từ tứ xứ và chọn nơi này là quê hương.

Tuy nhiên, như một bình hoa đẹp, nhiều màu sắc và hương thơm, tự do cũng có khuôn khổ và trật tự để mỗi người như một bông hoa, có thể cùng nhau đẹp và tỏa hương, không lấn át nhau, không loại bỏ nhau. Trong các gia đình, nhà trường, trẻ con có tự do đặt câu hỏi, thậm chí tranh luận với cha mẹ, thầy cô giáo nhưng với mục đích tìm hiểu, học hỏi, tìm đến chân lý chứ không cãi bướng, không hỗn, không phát ngôn bừa bãi. Cho đến khi rời nhà hay rời trường, các cô/cậu lúc còn sống trong những môi trường ấy, phải tuân thủ một số nguyên tắc để hòa nhập.

Đến bây giờ thì tôi nghiệm ra các bậc tiền bối ở quê nhà vốn bị các thế hệ sau ngờ vực về kiến thức thời đại, về ứng xử phù hợp với tiến hóa xã hội và văn minh thế giới, các cụ sáng suốt một cách đáng sợ.

Các cụ không đề cập đến tự do không phải là không biết đến tự do. Thú ngắm trăng ngâm ngợi mấy vần thơ, thú tiêu dao giữa đất trời cao rộng, thú trà rượu đối ẩm hay đối bóng một mình đều là những biểu lộ tự do.

Các cụ thừa biết tự do là vũ khí tối thượng quyền lực nhất cho phép con người đạt đến mọi ước vọng và nó như con dao hai lưỡi, cắt một quả cam ngọt hay cắt chính tay mình; như khẩu súng sát thương hằng loạt ngoài trận địa đối đầu với địch để bảo vệ bờ cõi nhưng nó cũng sát thương hàng loạt nhiều nạn nhân vô tội như trong vụ Stephen Paddock xảy ra ở Las Vegas, Nevada, đêm 1 Tháng Mười, vì nhu cầu riêng của một người rồi cũng chết dưới họng súng tự do nhả đạn của chính mình.

Giao vũ khí ấy vào tay những ai chưa được trang bị với tinh thần trách nhiệm, ý thức về bổn phận, trình độ văn hóa để biết tôn trọng người và bản thân cùng chia nhau không gian một sân chơi, là tạo nguy cơ bị tổn thương cho cả cộng đồng xung quanh họ và chính họ.

Con cái bỏ nhà đi bụi đời trước khi có khả năng tự lập là một thứ tự do chín ép, thui chột. Sỉ nhục, tấn công, chà đạp hay xâm phạm an ninh người khác là một thứ tự do hoang dại, tội lỗi. Quốc pháp có hay không, mạnh hay yếu, đều can thiệp chậm trễ và không có hiệu quả thật sự.

Xử sự như các “anh hùng bóng bầu dục,” từ chối chào quốc kỳ và hát quốc ca để gọi là phản đối một ai đó hay một điều gì là thứ tự do mông muội, thiển cận, lấy đi của chính mình cái vinh dự to lớn của những công dân có tổ quốc và lịch sử. Hối mại quyền hành nhất thời, dùng mưu chước quanh co để làm những việc phi pháp, ảnh hưởng tiêu cực tới đại cuộc hay đại chúng là thứ tự do bị lạm dụng, mù quáng và phản bội, sớm muộn cũng đi đền chỗ cùng đường.

Cho nên, tự do là báu vật linh thiêng, không thể làm ô uế. Tạo hóa ban tự do cho con người để làm đẹp con người và cuộc đời, không để bị vùi dập. Tổ tiên bao đời và bao nhiêu người còn tiếp tục đổi máu xương gìn giữ tự do cho nhau, để kiến tạo hạnh phúc, không thể không coi trọng. Tự do của người này cũng là tự do của người kia vì cùng chung một tiêu chí, thể hiện khác biệt nhưng không đối nghịch, càng không triệt hạ nhau.

Mùa lễ Tạ Ơn cho tới cuối năm, nhiều nhà nhận được những tập sách mẫu mời chào từ các công ty sản xuất hàng gia dụng. Giữa cả ngàn món hàng đầy tính sáng tạo hấp dẫn người mua, chứng tỏ các nhà buôn không thiếu sáng kiến để thu nhiều lợi nhuận và làm giàu, thế nhưng vẫn có một mặt hàng được in rành rành với lời rao: “Giấy vệ sinh nhà cầu in hình tờ bạc $100 với hình tổng thống Hoa Kỳ (Benjamin Franklin)! Khách đến chơi và gia đình nghĩ là quý vị giật nước cho trôi đi những tờ tiền mặt kiểu mới này trong phòng vệ sinh, có thể không dùng chúng để mua bán được nhưng chắc chắn quý vị sẽ được những tràng cười thoải mái! Mỗi cuộn có 200 tờ kép, giá…”

Tôi thực sự choáng váng trước món hàng không thể làm tôi cười ồ như quảng cáo rao bán nó đã tưởng tượng ra một cách bệnh hoạn trên giấy trắng mực đen. Có lẽ cũng có người đọc tôi đến đây sẽ nhún vai và phán rằng: “Có gì quan trọng đâu mà ầm ĩ? No bid deal! Là giấy vệ sinh làm vui mắt trong nhà cầu thôi mà!”

Tôi tự biết tôi lẩm cẩm, tụt hậu, nhưng quả thật tôi hy vọng có nhiều hơn những bàn tay không đem các cuốn giấy vệ sinh này về phòng tắm nhà họ. Công dụng của những cuộn giấy ấy rất khác với tranh biếm họa về các nhân vật thời sự, kể cả các nguyên thủ quốc gia, được truyền thông báo chí đưa ra nhằm biểu tỏ một cách nhìn, một quan điểm của họ nhắm tới điều tốt hơn những gì hiện có, đang xảy ra…

Tôi thực sự không biết cha mẹ tôi ngày xưa, nhất là mẹ tôi quê mùa, mù chữ, dạy tôi không được dùng giấy báo có chữ nho (là chữ của thánh hiền) vào công việc vệ sinh là đúng hay sai nhưng cha mẹ tôi khiến tôi cảm nhận được lòng biết ơn và sự kính trọng đối với những con chữ một thời là nguồn gốc của trí tuệ mà tôi được phần nào thụ hưởng.

Đối với riêng tôi, tự do của trí tuệ là thênh thang, vô hạn. Cao ngất. Sâu thẳm. Rộng đến vô biên. Bất chấp thời gian. Làm tan chảy cả sắt thép. Giải phóng toàn bộ con người khỏi thất tình, lục dục. Tự do của xác phàm trong đời thường thì có giới hạn vì có sự cọ xát. Tôi không sở hữu cả Địa Cầu này hay mặt đất nơi tôi đang sống mà tôi chia với những người đồng cư. Trịnh Công Sơn từng viết mấy ca từ đáng yêu: “…Con chim ở đậu cành tre, con cá ở đậu trong khe nước nguồn, như anh ở trọ tim em…”

Tôi biết ơn cha mẹ trước khi cho tôi tự do, đã cho tôi cắp sách tới trường để tôi biết suy luận, đã dạy tôi vâng lời và kỷ luật để tôi biết tôn trọng, giữ gìn tự do và được sống tự do. Nước Mỹ đang ở trong một giai đoạn mà truyền thống tự do đang bị thử thách một cách khắc nghiệt. Các thể chế độc tài hiện nắm quyền sinh sát một số quốc gia chậm phát triển, đã nhân cơ hội này, tìm một thực tế biện hộ cho họ bằng cách đặt câu hỏi: Tự do như nước Mỹ hiện nay thì có gì hay ho hơn chứ?

Đứng trước câu hỏi không bỗng dưng này, nỗi đau buốt tim gan của những người yêu nước Mỹ như phần đất đẹp nhất, văn minh nhất của thế giới, có một câu tự hỏi khác: Có lẽ nào người Mỹ thường nhân danh dân chủ/tự do đành xô đẩy nước Mỹ đến chỗ bị xếp hạng dưới cả những xứ sở độc tài kia?

(Bùi Bích Hà)
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 350
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Sat Dec 23, 2017 6:44 pm



Chữ tình

Bùi Bích Hà


Khắp nơi trên Địa Cầu loài người, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, bằng đủ mọi ngôn ngữ, người ta không ngớt ca tụng tình yêu dưới muôn vàn hình thức: thơ, nhạc, văn xuôi, tiểu thuyết, biên khảo, phim ảnh, tranh vẽ, điêu khắc…

Để mô tả tình yêu, người ta dùng những mỹ từ tinh tế và diễm lệ nhất. Tình yêu luôn là nguồn cảm hứng để hình thành những bức họa độc đáo, những bản nhạc với giai điệu sống mãi qua thời gian, những câu thơ nuột nà nhung gấm trở thành kinh nhật tụng cho nhiều thế hệ.

Nói tóm lại, tình yêu lung linh, rực rỡ, ban phát hạnh phúc và là mạch sống của loài người. Đôi khi tình yêu hiện ra đơn giản nhưng mang theo nó cảm xúc của một lần sẽ mãi mãi không thể nào quên: “Tình yêu như trái táo thơm…”

Tôi cũng tin như nhân loại quanh mình. Như lời của bài hát “Love Is a Many-Splendored Thing” của hai ông nhạc sĩ Sammy Fain và Paul Francis Webster: “Tình yêu là lẽ sống tự nhiên của chúng ta. Có một lần trên ngọn đồi cao đầy gió và trong sương mai, đôi người tình trao hôn khiến vũ trụ ngất ngây và ngừng chuyển động. Những ngón tay anh chạm vào trái tim thinh lặng của em và dạy nó cất lên tiếng hát. Anh ạ, tình yêu chân thật là một điều gì rực rỡ muôn màu…”

https://www.youtube.com/watch?v=aJ-vJI6jypM

"Love Is a Many-Splendored Thing" by Andy Williams

Chỉ có một chút bất tiện là thỉnh thoảng (hay rất nhiều khi) chúng ta chạm phải mặt trái của cái mề đay.

Tuy nhiên, đầu tuần này, một người bạn gởi cho tôi cái video clip ngắn, ghi lại sinh hoạt hằng ngày của một đôi vợ chồng già yếu ở đâu đó trên quê hương tôi. Cụ bà 89 tuổi, thời gian và cuộc sống cơ cực để lại trên khuôn mặt đôn hậu của cụ những nếp nhăn sâu như những luống cày. Cụ ông 99 tuổi, thính lực kém, có lẽ chỉ còn nghe được tiếng nói quen thuộc của cụ bà ở cái tần số duy nhất mà tai cụ tiếp nhận được. Cả hai cụ là sự thách đố kỳ lạ nhất mọi quy luật về dinh dưỡng và tuổi già không cần cao lương mỹ vị, không cần sở học chuyên môn, thuốc men và bàn tay người y sĩ.

Ba năm nay, để làm nhẹ đôi vai gánh nặng của mấy đứa con cũng khó nghèo như cha mẹ, hai cụ chuyển về sống trên cái xác ghe cũ bỏ hoang gần bờ một cái lạch cạn đầy rác. Chiếc ghe chỉ có cái khoang nhỏ đủ để máng cái võng vải cho cụ ông nằm, cụ bà chắc là trải chiếu để ngủ qua đêm ngay trên ván sàn. Cái ghe trống lốc với mấy khung cửa sổ đã mất hết cửa. Cụ bà phải nhặt nhạnh bất cứ cái gì có thể che bớt sương gió cho cả hai: mấy tấm mền rách, mấy tấm bạt ni lông, mấy cái hộp cạc tông còn tốt. Họ có một cái lò đất duy nhất chụm củi, để ở mé sau ghe, thổi nấu thức ăn đa phần là cháo trắng.

Ở cái tuổi bình thường trong hoàn cảnh cụ, chỉ sống thôi cũng đã là phép lạ, cụ bà Nguyễn Thị Dung vẫn nói năng rành mạch, thứ tự, lớp lang, không lẫn lộn, không quên quên, nhớ nhớ. Cụ ngồi bên bếp lửa, đun mấy thanh củi vào giữa lò cho lửa cháy đều mọi phía, kể chuyện: “Tụi tui dời về đây được ba năm rồi! Ở với con, nhà chật chội, chúng nó cũng nghèo khổ, mình cứ ngồi chờ con nó lo cho ăn, thấy nó quạu cọ mình cũng không chịu nổi. Thôi thì cứ ra đây, mai mốt già nữa đứa nào nó nuôi thì chết nó chôn. Hai ba đứa, chẳng biết đứa nào lãnh nợ…” Cụ nâng cái khăn vải lên thấm lệ ở đuôi mắt mà đôi môi gượng cười.

Có lẽ người quay video đem thịt gà quay xà lách tới cho hai cụ ăn trưa. Cụ bà xé thịt gà, gói gọn ghẽ vừa miếng ăn vào lá rau xà lách, âu yếm bón cho cụ ông ăn. Cụ hỏi cụ ông: “Ông ăn ngon không? Lâu lắm mới có được bữa ăn ngon!” Cụ ông móm mém gật đầu. Sau miếng thứ hai, cụ ông nói với cụ bà: “Bà ăn đi!” Nhưng cụ bà lắc đầu. Khi cụ ông ra dấu không muốn ăn nữa, cụ bà dỗ dành: “Không ăn thịt gà thì ăn cháo nha?” Có lẽ cho đủ bữa thường lệ của cụ ông.

Dọn dẹp xong, cụ bà lấy nón, đeo giỏ lên vai, ghé sát bên tai cụ ông và căn dặn: “Ông chờ tui đi bán vé số một chặp tui về.” Cụ nói nếu không dặn thì cụ ông khi không thấy vợ, sẽ bỏ chân xuống võng đi tìm. Xong xuôi, cụ bà bước xuống ghe, lội nước một khoảng ngắn mấp mô những miếng xi măng vỡ để vào bờ, bắt đầu một ngày rủi may trông cậy vào những khách hàng tốt bụng sẽ mua giùm cụ vài chục tờ giấy số cụ ráng bán mỗi ngày để có tiền mắm muối củi lửa nuôi nhau. Cụ đi lắc lư trên con đường vùn vụt xe gắn máy xuôi ngược, một tay xòe vé số chào mời. Cụ ghé quán ăn, tiệm nước, với niềm hy vọng những khách hàng cụ mời mọc cũng nuôi hy vọng giống cụ, cho một may mắn lớn hơn nên họ vui lòng mở ví.

Cụ cho biết cả năm nay cụ cảm thấy sức khỏe suy giảm, cái đầu bưng bưng (chẳng có ai đo áp huyết cho cụ) người mệt mỏi, đi một lúc thấy chóng mặt, phải ngồi xuống nghỉ, khi lại sức thì đi tiếp (chẳng có ai khám tim cho cụ). Cụ nói nhiều khi tưởng như không giở chân lên nổi nhưng cụ cứ phải ráng lê mình đi tới để lo cho cụ ông. Dù vậy, chắc qua năm không đi được nữa rồi. Ở tuổi cụ, chuyện gì xảy ra cũng không sao nhưng nếu cụ mất trước thì cụ ông sống với ai? Với tâm tư nặng trĩu ân tình ấy, cụ chỉ biết cặm cụi với bổn phận trước mắt, không nhìn xa hơn chặng đường đi/về quen thuộc hằng ngày, phó thác mọi sự cho Trời Đất. Nghe mà nao lòng!

Có lẽ không hào nhoáng và nên thơ bằng hình ảnh đôi tình nhân trẻ trung trao hôn trên đồi gió nhưng thực tế hơn và xúc động không kém là hình ảnh bà cụ gần 90 tuổi, quê mùa, mộc mạc, lo âu ghé vào tai người bạn đời gần 100 tuổi, hom hem, yếu ớt, dặn dò chờ tôi đi kiếm gạo, chút xíu tôi về.

Tôi không chắc thời còn trẻ, có khi nào hai cụ nói với nhau những lời tình tự không nhưng họ thật đã sống và cho nhau thương yêu, khăng khít, cho nhau gắn bó, nương tựa, trăm ngàn lần tha thiết hơn những lời tình tự để cơn gió thanh xuân cuốn đi.

Cuộc đời của hai cụ cùng đi bên nhau đến chỗ hẹn cuối như mọi người thấy, là bức tranh minh họa rõ nét nhất lời ca “Tình yêu là lẽ sống tự nhiên của chúng ta” trong bản nhạc “Love Is a Many-Splendored Thing,” xuất hiện lần đầu trong cuốn phim có cùng tên, đoạt giải Oscar, năm 1955.  Riêng bản nhạc cũng được bình chọn và trao giải bản nhạc hay nhất.

Tôi thật sự không biết bằng cách nào, nếu không là bởi chữ “Tình” trong tâm hai cụ, mà cả hai đã đi một hành trình bình an quá dài trong cuộc đời cơ cực của họ? Ăn uống kham khổ, làm việc lam lũ, trần thân với nắng mưa sương gió, không bệnh hoạn, không thuốc men, không người săn sóc, con cái có cũng như không, xem ra tuổi thọ an nhiên của họ là một nghịch lý hoàn toàn đi ngược lại các chuẩn mực y khoa hiện nay. Liệu các nhà bác học nghiên cứu về tuổi già có khám phá nào mới để giúp quý cụ cao niên trong mọi hoàn cảnh, sống trường thọ và… đẹp lão, như người Mỹ vẫn diễn tả bằng mấy chữ “age gracefully” hoặc thậm chí, ageless, không?

Tôi nghiệm ra hai cụ trong câu chuyện này không chỉ có chữ “Tình” trong tương quan vợ chồng hay đôi bạn mà các cụ còn có “Tình” với mọi người, với cả cuộc đời luôn có những sự bất ưng và bất như ý nữa. Họ không cưỡng cầu, không than thở, trách móc, buồn giận hay oán hận. Họ chấp nhận. Họ xót thương. Họ tha thứ. Họ yêu những gì họ có. Họ vun vén, làm cho những điều tệ hại nhất trở thành không đến nỗi nào.

Ôi, một chữ “Tình” mà bao la đến thế! Mà có sức mạnh chế ngự những điều ngoài tầm tay đến thế! Mà có vẻ đẹp làm rung động lòng người đến thế!

Chữ “Tình” không có tuổi, là bù trừ đẹp nhất tạo hóa ban tặng cho ai biết tìm kiếm.

(Bùi Bích Hà)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 307
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Fri Jan 05, 2018 5:20 pm





Chỉ số hạnh phúc

Bùi Bích Hà


Tôi làm việc với văn phòng du lịch ATNT của anh TNT nhiều năm, nghe anh tường thuật nhiều chuyến đi qua nhiều quốc gia có những địa danh thu hút du khách rất nổi tiếng. Với bản chất của một người có óc nhận xét tinh tế, anh không chỉ là một hướng dẫn viên du lịch nhiều kinh nghiệm mà hơn thế, còn là một nghệ sĩ say mê vẻ đẹp của cảnh vật trong thiên nhiên, một triết gia đứng trước những đổi thay của thời tiết, những khác biệt của con người ở các vùng đi qua nên nắm bắt rất nhanh mọi tình huống ở chiều sâu nghiêng về văn hóa của từng quốc gia. Câu chuyện anh kể có sự linh động của những thước phim vì nó phản chiếu con người, không chỉ là những bức tranh sao chép ngoại cảnh.

Có lần anh nói về Bhutan, gọi đây là đất nước mà người lãnh đạo tối cao đặt chỉ số hạnh phúc của người dân (Gross National Happiness) là mục tiêu cao hơn tổng sản lượng quốc gia. Anh cũng nói về cách hành trì tôn giáo ở nơi này nặng tính cách nhân sinh hơn là tuân thủ giới pháp v.v… Tuy nhiên, tôi vẫn chưa hình dung ra được thế nào là chỉ số hạnh phúc mà quốc vương Bhutan toàn tâm toàn ý hướng đường lối cai trị của Ngài vào đây nhằm tạo cho thần dân của Ngài một cuộc sống vui tươi và có ý nghĩa.

Cho tới tối hôm qua, tôi được chị bạn chuyển qua email bài đọc về bốn hoàng hậu xinh đẹp của xứ sở này thì tôi mới vỡ lẽ và bàng hoàng hiểu ra. Cùng với địa vị cao sang của các bà trong hoàng cung, họ là những phụ nữ có cá tính, biết tự phát triển năng khiếu, trau dồi bản thân và nhiệt tình đóng góp cho xã hội. Tôi thành thực không biết thổ ngơi của Bhutan ẩn mình dưới bóng dãy núi Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ hay môi trường thấm đẫm triết lý Phật Giáo của đất nước Bhutan (hay cả hai) đã là tác nhân tích cực tạo nên tâm thế người phụ nữ Bhutan nhẹ nhàng như mây trời, ngời ngợi như ánh dương?

Đức Vua thứ tư của Bhutan nối ngôi cha rất sớm, ở tuổi 17, sau khi phụ hoàng bất ngờ băng hà năm 1972. Hai mươi hai tuổi, trong cùng một năm 1979, theo phong tục đa thê của Bhutan, Đức Vua tuyển cung bốn chị em ruột trong một gia đình thế gia lệnh tộc nề nếp, cô nào cũng xinh đẹp, phong họ là hoàng hậu. Thứ tự giữa 4 chị em trong gia đình cũng là thứ tự trong hoàng cung: chị cả là hoàng hậu đệ nhất và cứ thế tính xuống đến cô út là hoàng hậu đệ tứ. Tuy xếp đặt vậy nhưng Đức Vua thương yêu, nể trọng và cư xử với các hoàng hậu cùng một cách như nhau, không có chút phân biệt nào. Song song với việc sinh cho Ngài 10 hoàng tử và công chúa, các hoàng hậu tuy không trực tiếp tham dự việc triều chính nhưng mỗi bà tùy khả năng riêng, hỗ trợ nhà vua trong các lãnh vực cần thiết của đất nước Bhutan. Sinh hoạt yên ấm, trên thuận dười hòa của hoàng gia khiến thần dân Bhutan rất ngưỡng mộ. Về mặt trị quốc, nhà vua tiến hành cải cách hệ thống giao thông để góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội, tăng cường dịch vụ y tế, tạo nguồn nước sạch và nâng cao chuẩn mực dinh dưỡng toàn dân. Họ cung kính nhà vua như Thánh sống. Những năm cuối triều đại, Ngài có khuynh hướng chuyển đổi chế độ từ quân chủ tuyệt đối sang quân chủ lập hiến với nghị hội do toàn dân bầu lên để chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo đất nước phòng khi người kế thừa không đủ tài năng đức độ để tận trung chăm lo cho dân, cho nước.

Năm 2006, sau 34 năm trị vì trên ngôi báu và sau khi đã tuyển chọn được thái tử nối nghiệp dựa trên tài năng, đức hạnh và lòng dũng cảm, là con trai của hoàng hậu đệ tam, nhà vua nhanh chóng thoái vị, giao việc trị quốc an dân cho con nay là vị vua thứ năm của Bhutan, cũng là vị vua tiên khởi của nền quân chủ lập hiến được hình thành qua cuộc bầu cử nghị viện lần đầu năm 2008. Từng được vua cha cho đi du học ở các quốc gia tây phương, tốt nghiệp Đại học Oxford, sau khi gặp gỡ và chọn được ý trung nhân vốn là cô bạn nhỏ từ tuổi niên thiếu ở quê nhà, cũng du học Anh Quốc cùng thời, tân vương Khesar Wangchuck nhân dịp đất nước đổi mới, đã quyết định chấm dứt chế độ đa thê, chỉ cưới và chỉ lập một ngôi hoàng hậu, viết xuống sử sách Bhutan câu chuyện tình đẹp hơn cổ tích và hoàn hảo hơn chuyện tình của cha mẹ.

Trở lại 4 hoàng hậu mẫu nghi thiên hạ của Bhutan, đệ nhất hoàng hậu Dorji sinh cùng năm 1955 với nhà vua, được toàn dân kính trọng và yêu mến vì tài năng và đức độ. Bà khởi xướng các chương trình cải thiện cuộc sống của người dân Bhutan tại các thôn làng xa xôi nhất bằng cách thiết lập quỹ Tarayana tặng nhà ở, cấp học bổng để đào tạo nhân sự, sản xuất và tiếp thị các nông phẩm giúp dân làng gia tăng thu nhập. Về mặt văn hóa, bà ủng hộ và tài trợ các hoạt động nhằm phát triển văn học. Bản thân là một nhà văn lỗi lạc, bà biên soạn nhiều sách về thi ca, lịch sử, văn học dân gian, hồi ký, cả sách luận bàn quốc sự. Không ngừng ở từng đó công việc, bà còn đề xuất các chương trình bảo vệ môi trường bao gồm các khu công viên quốc gia, các trường học; các chương trình dân sinh xóa đói giảm nghèo, nâng cao vị thế của nữ giới trong xã hội. Vẫn chưa hết, bà còn là sáng lập viên bảo trợ Viện Bảo Tàng Di Sản Dân Gian ở thủ đô Thimphu; là chủ tịch danh dự của một tổ chức lâu đời và uy tín liên quan tới thanh thiếu niên và vấn đề giới tính.

Từ gia đình đến hoàng cung, bà luôn là người chị cả tình nghĩa vẹn toàn với các em, làm gương cho các em trong cuộc sống chung/riêng sao cho ích nước lợi mình để cùng nhau thăng tiến.

Sinh năm 1957, kém chị cả 2 tuổi, hoàng hậu đệ nhị Tshering Pem tích cực tham gia sinh hoạt cộng đồng, hỗ trợ phát triển thanh thiếu niên. Bà sáng lập Bhutan Youth Development Foundation, qua tổ chức này, vừa giúp đỡ các em có hoàn cảnh khó khăn, vừa khơi gợi và truyền đạt cảm hứng sáng tạo cho giới trẻ với nhiều chương trình đem lại cơ hội trải nghiệm thực tế hữu ích, làm giàu vốn sống cho thế hệ công dân rường cột của Bhutan mai sau.

Sinh năm 1959, hoàng hậu đệ tam Tshering Yandon kém chị hai 2 tuổi, sau này là mẹ của quốc vương thứ năm nối ngôi phụ hoàng trị vì Bhutan. Quan tâm đặc biệt đến cuộc sống của phụ nữ và các bé gái, năm 2009, bà thành lập quỹ Bhutan Nun với mục đích hỗ trợ việc nâng cao nữ quyền thông qua giáo dục để xây dựng ý thức tự túc về kinh tế cho nữ giới. Song song với công việc này, bà còn là người bảo trợ Hội Bảo Vệ và Chăm Sóc Các Động Vật của hoàng gia.

Sinh năm 1963, hoàng hậu đệ tứ Sangay Choden ít tuổi nhất nhưng nổi tiếng hơn cả về sự cống hiến tận tụy cho công việc trong nội bộ hoàng gia lẫn ngoài xã hội. Bà tham gia tích cực vào các hoạt động bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống Bhutan. Năm 2011, bà thành lập bảo tàng dệt/may quốc gia nhằm quảng bá và gìn giữ các sản phẩm dệt/may nhiều màu sắc, được xem là một mảng rất sinh động của nền văn hóa đặc thù dân tộc. Với vẻ đẹp sắc sảo, vóc dáng thanh lịch, giỏi giang và năng động, bà nhiệm chức đại sứ thiện chí của Bhutan năm 1999 và tham gia Quỹ Dân Số Liên Hiệp Quốc. Sáng chói theo cách riêng trên trường ngoại giao quốc tế, bà hoạt động giúp Bhutan cởi mở hơn với cộng đồng thế giới ngày nay.

Chao ôi, trông người lại ngẫm đến ta! Cả 4 hoàng hậu Bhutan nổi trội những dấu ấn hiển thị trí tuệ và phong cách riêng của mỗi người, là hiện thân giấc mơ tuyệt vời nhất của nữ giới khắp nơi từ ngàn xưa tới ngàn sau, trong tình yêu, trong sự nghiệp, thăng tiến hài hòa và quân bình về mọi mặt, tưởng là chung song vẫn riêng và trong từng cái riêng vẫn có cái chung gom hết tinh hoa tạo nên một khối ngọc lưu ly tỏa rạng.

Nếu lấy việc nơi này xét việc nơi kia, hẳn là có nhiều bạn gái thời nay không đồng thuận với bốn hoàng hậu Bhutan về nếp sống đa thê trong hoàng cung nhưng đây là tập tục văn hóa của xứ sở Bhutan. So với tam cung lục viện của các vương triều Á Châu, xử sự của nhà vua và các hoàng hậu Bhutan nếu chưa văn minh thì cũng rất nhân bản và tiến bộ. Đứng trước một điều bất như ý, nâng vạt áo lau nước mắt ngày này qua tháng khác cho đến khi mù lòa hay biết tận dụng một vài yếu tố có thể chấp nhận để từ đó thay đổi chính mình, hoàn cảnh và cả tha nhân xung quanh? Con đường nào xứng đáng với đời người hơn? Làm vợ, làm mẹ theo thiên chức Tạo hóa ban tặng là hạnh phúc tự nhiên của người phụ nữ. Những lý luận, suy nghiệm hay đòi hỏi xung quanh việc thể hiện thiên chức ấy là sản phẩm của con người bị xã hội điều kiện hóa. Xã hội thay đổi tốt hơn, điều kiện sẽ thay đổi tốt hơn.

Người viết bài này thực sự không biết trường đại học Oxford… nước Anh hay chính Hoàng hậu đệ tam triều đại nhà vua thứ tư của Bhutan đã thực sự khai mở tình yêu chuyên chính và hằng cửu trong trái tim của con trai bà để khi lên ngôi, kết hôn với người phụ nữ mình chọn, tân vương đệ tứ dứt khoát bãi bỏ chế độ đa thê để tận hiến cho tình yêu?

Từ nay cho tới ngày đáp chuyến tàu không khứ hồi đi vào vũ trụ, tôi ao ước được có một lần đặt chân tới đất nước Bhutan huyền ảo, xanh bóng núi, xanh rừng nguyên sơ, đi trong không gian tinh khôi dưới trời hạo nhiên, đi trên những con đường tĩnh mịch không có cột đèn lưu thông, đi qua những ruộng đồng bậc thang thơm mùi lúa mới, màu mỡ, đẹp và sạch như tranh vẽ, đi để có duyên lành chiêm ngắm tu viện Taktshang cheo leo đầu núi và để biết thế nào là kiếp đời tu hành lánh xa phiền trược. Nhìn bản đồ, Bhutan bé nhỏ nằm nép giữa hai đại cường dân số đông hàng tỷ nhưng nhìn từ trái tim, Bhutan là viên ngọc quý dấu mình trong hang động ẩn mật, là quà tặng trời ban cho một dân tộc nuôi thiện tâm sống từng phút giây để xưng tụng yêu thương, hòa bình và niềm an lạc.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 376
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Sun Jan 14, 2018 12:55 am




Ðã Quên Hay Còn Nhớ?
Thứ Hai, 05 tháng Chín năm 2016
Bùi Bích Hà 
  
 

Soldierstone Memorial – Rio Grande National Forest

Cho đến nay, đã nhiều người từng biết, từng xem hình ảnh, thậm chí, từng đi qua thắng tích kỷ niệm các anh hùng tử sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến Đông Dương kể từ 1945, một công trình được xây dựng với nhiều tâm huyết, bằng xi măng, đá tảng, sừng sững trong không gian bát ngát của rặng núi Rocky, Colorado.

Không có nhiều người chứng kiến lúc nó bắt đầu, cách thức khiến nó nên hình nên vóc, lúc nó hoàn thành sau chặng đường 10 năm, từ cái buổi sáng một cựu trung tá hồi hưu quân lực Hoa Kỳ bước vào cửa tiệm đá của ông Mike Donelson ở Rocky Ford. Đối với dân thể thao thích đi bộ ven núi, khi bất ngờ chạm mắt vào khu tượng đài ở một nơi hẻo lánh, giữa bốn bề cỏ cây tịch mịch, trời đất hoang vu, đã giật mình kinh ngạc vì tầm vóc, kích cỡ của các khối đá hình thành nó, không một chỉ dấu nào về xuất xứ ngoài mấy cái địa danh xa tít mù tắp bên trời Á, những câu danh ngôn bằng nhiều ngôn ngữ (có cả bốn câu thơ trích từ Hoa Địa Ngục của Nguyễn Chí Thiện) chạm khắc bằng tay trên 36 phiến đá tảng màu xám nhạt, to hơn những mộ chí bình thường và đặt rải rác trong chu vi 30 bộ xung quanh tượng đài. Là một bí ẩn lạ thường.

Tháng 10 năm 2013, một video về tượng đài chiến sĩ trận vong này xuất hiện lần đầu trên YouTube, đã lôi cuốn 66,000 lượt người truy cập vào. Tra cứu tài liệu sở Kiểm Lâm Hoa Kỳ tại địa phương, không thấy bất cứ một thông tin hay chỉ dẫn nào. Vẫn chỉ có những người thích môn thể thao đi bộ xuyên rừng núi tình cờ bắt gặp rồi truyền miệng nhau con đường tới đây theo trí nhớ được trực giác hỗ trợ thay vì bản đồ. Với dân lướt mạng gà mờ, chậm lụt như kẻ viết bài này, phải chờ tới lúc được bạn gởi cho cái link vào Facebook của một đôi vợ chồng Mỹ trẻ mê hiking thì mới biết đến nơi chốn linh thiêng, chạm vào hồn sông núi Việt Nam kia!

Hôm trước, người chồng đi rừng cùng vài người bạn, ngẫu nhiên phát giác kiến trúc kỳ lạ này. Khi về lại nhà, anh kể cho vợ nghe. Người vợ hiếu kỳ, muốn được chồng đưa tới tận nơi để “thập mục sở thị.” Người chồng hơi ngần ngại, sợ không tìm ra con đường bọn anh đã đi không chủ ý nhưng chiều lòng vợ, anh chỉ giáo đầu là có thể khó khăn song anh sẽ cố nhớ. Vì lộ trình khá xa, vài chục dặm nên họ bảo nhau dùng xe gắn máy và họ nai nịt áo mũ an toàn rồi lên đường.

Qua mô tả của người vợ trên Facebook, con đường mòn trườn lên núi dốc cao, nhiều đoạn gập ghềnh, chật, mấp mô, khó di chuyển, chồng phải lái chiếc xe phân khối to hơn của anh lên trước, tìm chỗ đậu rồi trở xuống, chạy giùm xe của chị và chị lội bộ qua khúc đường này. Đã có lúc họ thất vọng, tưởng không tìm ra dấu lông ngỗng Mỵ Châu thì họ thấy thấp thoáng tượng đài qua rặng cây thưa, không thật sự vĩ đại, chỉ lạ mắt, đứng chơ vơ giữa cái tam giác bằng đá xếp chồng lên nhau, có thể hiểu là ẩn dụ tượng trưng ba nước Việt-Miên-Lào, làm thành bức tường thấp chừng qua khỏi đầu gối. Trên chóp tượng đài bằng phẳng, có một vật trang trí nhìn trong ảnh không rõ, có vẻ là mô hình khẩu bazooka thu nhỏ như đồ chơi. Ở một mặt bia, trên cùng, là hàng chữ  SOLDIERSTONE, hàng dưới là ba chữ “In Memory of” hàng dưới nữa là nhóm chữ dài hơn: LONG WARS LOST and the Soldiers of  dưới nữa là hai chữ VIETNAM tô đậm, nổi bật. Dưới nữa, là hai câu văn xuôi, đọc lên nghe như thơ: “Nếu khóc than mà có thể biến đổi được tiến trình sự việc/thì dòng lệ của tôi sẽ đổ xuống không ngừng cho đến ngàn thu.” Trên mặt phiến đá tiếp theo cùng chiều thẳng đứng, khắc câu: “Still in Death lies everyone And the Battle’lost.” Và phiến đá trước phiến đá cuối cùng để trống, có chữ SACRIFICE, cũng tô đậm.

Các từ chọn lựa và câu trích dẫn bằng tiếng Việt chứng tỏ tác giả công trình này rất tinh thông cả hai ngôn ngữ Anh/Việt. Chắc cũng không ai khác ngoài chính tác giả với phần chia sẻ tâm tư bày tỏ niềm hối tiếc khôn nguôi về diễn tiến xảy ra trong cuộc chiến Việt Nam mà tác giả từng hăng say trong nhiệm vụ huấn luyện binh sĩ, thúc đẩy họ cầm súng ra trận để sau cùng, thấy xót đau máu xương đổ xuống cho một lý tưởng hão huyền và một niềm tin khờ khạo. “Sự chết đã vùi chôn mọi sinh linh vào tịch mịch và cuộc chiến đã mất” để chỉ còn lại chữ hy sinh cao quý nhưng vô nghĩa mà nhiều thế hệ người dân nhược tiểu sau này nên lấy làm bài học của thời mạt sử.

Giờ đây, người ta đã tìm ra tung tích nhân vật bí mật quyết tâm bỏ công sức, bỏ tiền bạc, bỏ thời gian, thực sự từ năm 1990-1995 (không kể những năm tháng ưu tư về dự án) để xây lên đài tưởng niệm này, ở một địa thế tuyệt đẹp và hẻo lánh trên núi đồi Colorado, ngày đêm chỉ có mặt trời, mặt trăng, tinh tú, mây và gió phủ lên nó ánh sáng, bóng tối, mùi cây cỏ dại khắp xung quanh, xa lánh chốn bụi hồng.

Năm 1973, sau 11 năm quân vụ tại Việt Nam, Trung tá lục quân Hoa Kỳ Stuart Allen Beckley về hưu, một năm sau khi cuộc hòa đàm 4 bên nhóm họp tại Paris kết thúc nhằm khép lại cuộc chiến tranh Việt Nam để Mỹ rút chân ra một cách thanh lịch và trong danh dự. Những cái mặt nạ sân khấu nửa đêm về sáng phấn son nhếch nhác, nhìn gần ở góc độ của Trung tá Beckley, tất đoán thấy sự thật chung cuộc. Ông về Mỹ, mang theo nỗi ngậm ngùi tiếc thương các đồng ngũ của ông với nhiều quốc tịch, đã tình cờ gặp nhau, chia nhau một quãng đời với nhiều mơ ước đẹp cho một lý tưởng họ cùng theo đuổi, khác nhau ở chỗ các đồng ngũ ấy, nhất là các chiến hữu Việt Nam của ông, sau khi ông đi rồi, sân khấu chưa thực sự hạ màn, hý viện chưa thật sự tắt đèn, họ vẫn ung dung cống hiến đến giọt máu cuối cùng cho Tổ quốc oan khiên. Họ về đất, *“rải rác biên cương mồ viễn xứ,” và ông trở về quê hương với một cõi lòng đầy thương tích, sống những năm tháng còn lại của đời mình trong ray rứt, không thôi nghiền ngẫm ý nghĩ phải làm một cái gì để sự hy sinh kia được nhìn nhận.

Một trong trên 30 phiến đá tại Soldierstone trên có khắc bản dịch sang tiếng Anh bốn câu thơ trích trong Chinh Phụ Ngâm, nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn, được bà Đoàn Thị Điểm dịch sang thơ tiếng Việt. Bốn câu thơ trong ảnh tương đương với bốn câu dịch sang Việt ngữ: Hồn tử sĩ gió ù ù thổi, / Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi. / Chinh phu tử sĩ mấy người, / Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn. (Ảnh Grace Hood, Hidden Colorado, KUNC.org)

Ông sống ở Texas nhưng gia đình sở hữu đất đai ở Westcliffe, Colorado, nơi rặng núi Rockies là lời gọi chân mây đầy quyến rũ cho những ai từng nghe tên nó. Có lẽ cựu trung tá hồi hưu Stuart Allan Beckley không ngoại lệ khi đi tìm một nơi yên nghỉ thích hợp, xứng đáng với những người chiến sĩ vô danh đã hy sinh mà ông ngưỡng mộ và muốn lịch sử tôn vinh họ với tất cả sự công chính cần thiết.

Từng là chứng nhân/nạn nhân gián tiếp của biết bao hệ lụy trần gian xung quanh cuộc chiến, theo ông, đã thua đậm, điều quan trọng đầu tiên ông tâm niệm là phải tránh những tạp âm làm hoen ố một lần nữa linh hồn những anh hùng đã chết cho tình yêu nước, yêu con người và yêu tự do, đã thánh hóa vì sự cao cả ấy. Ông biết một kiến trúc có tính cách riêng tư, của duy nhất một người lính Mỹ vô danh muốn bày tỏ lòng tôn kính đối với những người chiến binh bị lãng quên mà lại muốn được xây lên ở đất công thì không dễ, phải trải qua nhiều thủ tục hành chánh nhiêu khê, phải chịu sự xăm xoi của nhiều cơ quan liên hệ không có mỹ cảm với dự án, ngay cả của nhiều cá nhân không chấp nhận cuộc chiến nên khi thỉnh cầu sự chấp thuận của sở Kiểm Lâm địa phương về địa điểm ông đã cất công tìm kiếm, đã chọn, ông yêu cầu (như một mật ước) không được công chúng hóa, không có điều trần ở quốc hội, không thông báo với truyền thông. Mong muốn tha thiết của ông là sẽ không có nhiều những bước chân hoặc lãnh đạm, hoặc thù nghịch, dày xéo nơi chốn thiêng liêng này mà chỉ có những tâm hồn đồng điệu, nhờ duyên lành đưa đẩy khiến tìm ra viên ngọc quý ông giấu giữa khu rừng rộng tới 1.8 triệu mẫu tây ở quê hương ông.

Như một thiên tình sử đẹp cho đến giòng chữ cuối cùng, đơn xin phép của cựu Trung tá Beckley thoạt đầu bị bác nhưng kết quả khám nghiệm y khoa cùng trong năm 1995 bất ngờ cho biết ông bị ung thư và bản án nghiệt ngã này đã làm mềm lòng ông Giám đốc sở kiểm lâm, khiến ông nhanh chóng bật đèn xanh cho dự án.

Tượng đài hoàn tất vào tháng 7 năm 2005, theo đúng ý nguyện của người chủ xướng. Ông Beckley khi đó đã quá yếu để có thể tới tận nơi nhìn ngắm tác phẩm của mình và chỉ 4 tháng sau, ngày 5 tháng 11, ông qua đời, lấy cái chết của chính ông thay cho cả nước Mỹ, đền tạ ân tình sâu nặng với những người đã khuất.

Một trong những trang thư trao đổi giữa cựu Trung tá Mỹ Stuart Allen Beckley và Mike Donelson, chủ nhân tiệm khắc đá ở Rocky Ford, Colorado. Ông Beckley chiến đấu ở Việt Nam từ 1962 tới 1973. Ông vẫn ước ao xây một tượng đài để tưởng niệm tất cả những người đã từng chiến đấu cho tự do không phân biệt chủng tộc. Nhưng ông qua đời vì bệnh ung thư trước khi Soldierstone, hoàn toàn do tiền túi của ông bỏ ra, hoàn tất vào năm 1995. Ông Beckley đã nhấn mạnh là ông không muốn tên ông ghi khắc ở đâu trên những phiến đá này. "[Tượng đài] này làm cho họ, không phải cho chúng ta," ông từng nói. (Ảnh Grace Hood, Hidden Colorado, KUNC.org)

Năm 2014, dù khó khăn cỡ nào, vẫn có vài du khách đầu tiên đã đến đây, có người kể lại, có người giữ im lặng vì tôn trọng tinh thần người dựng tượng đài nhưng tuyệt đối không một ai chỉ dẫn lộ trình đưa tới thắng tích này. Một hình ảnh bằng ngàn lời nói. Sau này, ông Donelson, chủ nhân tiệm đá ở Rocky Ford, người thợ và cũng là người nghệ sĩ đã giúp ông Beckley thực hiện ước mơ ấp ủ đằng đẵng qua hai thập niên, đã nói về ông Beckley đại ý: “Qua thư từ trao đổi trong nhiều năm trước khi khởi công tượng đài, tôi linh cảm ông ấy có nỗi băn khoăn mãi gậm nhấm tâm can ông như thể có điều gì đó trong cuộc chiến để giờ đây ăn năn.”

Theo kẻ viết bài này, ông không làm gì sai cả ngoại trừ sở hữu một trái tim trong trẻo. Nó khiến ông muốn nhận tội và tạ tội thay cho cả đất nước ông khi cần một lý do để đi ra khỏi cuộc chiến tranh đã hết ý nghĩa thì vội vã phủ nhận vinh quang máu xương của đồng minh, trút lên họ những cáo buộc thiếu công bằng để chính mình không phải trả lời câu hỏi trước giờ lương tâm phán xét.

Đáng yêu thay nước Mỹ vẫn là xứ sở của những giá trị nhân bản, của những công dân biết tôn trọng lịch sử, yêu vẻ đẹp và muốn công lý cho mọi người. Nói như Bill Gates, một đất nước hưng thịnh không chỉ căn cứ vào sản lượng quốc gia mà ở cung cách người dân hành xử trong cuộc sống.  Đôi vợ chồng trẻ trên Facebook đã vượt mọi khó khăn cùng nhau đến chiêm ngắm SoldierStone, kể lại chuyến đi của họ với lòng thành khẩn: “Tôi nhắm mắt lại, lắng nghe tiếng gió trong rặng cây. Tôi thở bầu không khí núi, lắng đọng hương rừng và trong giây phút ấy, tôi thề tôi đã nghe tiếng thì thầm Hãy Nhớ Chúng Tôi nhé! Tôi hứa là tôi sẽ nhớ.”

Vài bức ảnh cho thấy nhiều bạn trẻ đi xe gắn máy tới đây. Phải chăng gởi gấm tâm huyết của cố trung tá Stuart Allen Beckley đã tới với đúng đối tượng mà ông mong muốn, thế hệ sẽ theo đuổi một cuộc chiến khác, vì Tự Do đã đành mà trước hết, còn vì đồng loại nữa.

* Trích Tây Tiến, thơ Quang Dũng.
* Tượng đài là những phiến đá granite khắc chữ đơn sơ nhưng trang trọng chồng lên nhau, cao khoảng 10 feet (3m). - (Ảnh Grace Hood, Hidden Colorado, KUNC.org)




Mysterious Viet Nam War Memorial (MilitaryCom/Video)

http://brownshighway.blogspot.fr/2015/09/9-1-2015-soldier-stone-memorial.html
















http://brownshighway.blogspot.fr/2015/09/9-1-2015-soldier-stone-memorial.html

Bài viết bằng tiếng Anh & Video clip về tượng đài này ▼


http://www.military.com/video/operations-and-strategy/vietnam-war/vietnam-memorial-on-remote-trail/2805626482001

http://urlz.fr/42iH
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 307
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   Wed Jan 17, 2018 5:09 pm



Nợ công
Bùi Bích Hà
December 13, 2017


Tôi nhận được điện thư của người bạn quý, cảm nhận qua nét vui tươi trong những con chữ chị đánh xuống bàn phím, sự hứng khởi khi chuyển cho tôi nội dung của một bài viết kèm theo trích từ Facebook Giao Thanh Pham mà xem ra chị rất đắc ý. “Này, cho một đề tài để chia sẻ đây!”

Quả nhiên nhận xét của chị không sai. Đề tài của bài viết luận về công ơn cha mẹ, một vấn đề dù nói ra hay không, đã, đang và có lẽ còn làm bận lòng nhiều thế hệ con dân Việt Nam trong nước hay hải ngoại trong tiến trình hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ, phải ứng xử với những mâu thuẫn văn hóa khác biệt.

Đại ý bài viết nêu ra vài quan điểm chống lại món nợ công, giữa ông bà, cha mẹ và cháu con, chuyền vai từ thế hệ này sang thế hệ kia trong các gia đình như một hủ tục cần chấm dứt. Lý lẽ để biện minh cho lập luận này như sau:
- Những đứa trẻ vì thời cuộc, sống không có cha mẹ thân thuộc bảo bọc từ tuổi niên thiếu, khi lớn lên vẫn có sự nghiệp bề thế.
- Tác giả đã nghiên cứu “nhiều sách vở giáo khoa ở Mỹ, chẳng bao giờ tìm được những câu răn dạy về ‘Công Ơn Cha Mẹ’ hoặc việc phải đền đáp, trả nghĩa cho ‘Công Đức Sinh Thành,’ lại càng không thể tìm ra được những gì nói đến ‘Bổn Phận Phải Trả Hiếu’ của con cái sau này khi cha mẹ về già. Người Mỹ hay nói chung, người Tây phương không có cái ‘Đạo Lý Thánh Hiền’ nhập cảng từ Tàu ấy.”
– Con cái sinh ra là do ý định của cha mẹ hoặc trong vài phút nông nổi của người lớn, không có chúng dự phần. Có con vì “tai nạn.” Có con cho vui cửa vui nhà, cho ông bà bế ẵm, để cầm chân người phối ngẫu, để làm tròn vẹn cái hình ảnh mái ấm gia đình có tiếng khóc cười trẻ thơ… Tuyệt nhiên không bao giờ cha mẹ sinh con vì chúng nó muốn được góp mặt với đời…

Vẫn theo bài viết, vậy mà trong các sách giáo khoa, các nền giáo dục trong quá khứ ở mọi thời đại, người ta luôn kể về công ơn của cha mẹ, mang nặng đẻ đau, sớm hôm tảo tần, vất vả nuôi con cái, nêu những sự kiện đó ra như những món nợ vay trả, trả vay giữa cha mẹ và con cái, truyền tử lưu tôn từ đời này sang đời khác.

- Đối với cha mẹ Mỹ, nuôi dạy con cái là bổn phận, trách nhiệm phải chu toàn. Đối với cha mẹ Việt Nam, đó là ân đức do cha mẹ ban phát, con cái phải đáp đền; là món nợ công đã có từ khi chúng chưa mở mắt chào đời.
- Cha mẹ Mỹ coi việc con cái giúp đỡ trong tuổi già là quà tặng. Cha mẹ Việt Nam coi đó là nợ, bắt buộc phải hoàn trả.
- Cha mẹ Mỹ chuẩn bị hành trang cho con cái vào đời ở lứa tuổi 18-20 rồi đẩy chúng ra riêng, sống tự lập, cha mẹ được rảnh tay lo cho tương lai tuổi già của mình. Cha mẹ Việt Nam ấp ủ con cái, tuổi 30-35 vẫn còn rụt rè chưa dám đối mặt với xã hội. Đợi đến khi chúng vào đời rồi, cha mẹ đã lụm khụm, không còn thời gian để lo cho tương lai về già của bản thân nữa.

Bài viết kết luận: Thế là cái vòng lẩn quẩn của món nợ sinh thành ấy cứ được trao qua vai hết đời này sang đời khác, cứ tiếp tục làm khổ lẫn nhau khi nhu cầu đòi hỏi giữa đôi bên không được đáp ứng như mong đợi. Ở Mỹ, hai đứa trẻ sau khi ra đời chỉ phải lo lắng cho tương lai của gia đình chúng. Ở Việt Nam, hai đứa trẻ ấy còn phải cõng thêm tương lai của cha mẹ. Muốn chấm dứt cảnh này, cha mẹ Việt Nam cần thoát khỏi lối tư duy cổ hủ, không còn thích hợp như nói trên.

Phải công nhận các dữ kiện bài viết đưa ra đều chính xác, phản ảnh một thực tế khó chối cãi, dựa trên nền văn hóa “Trẻ cậy cha, già cậy con” lâu đời của người Việt Nam trước đây vài ba thập niên ở quê nhà.

Tôi chỉ băn khoăn không hiểu cách nhìn mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái như món nợ công theo quan điểm của tác giả bài viết. Trong thực tế và ngay cả trong môi trường ở hải ngoại ngày nay, liệu có bao nhiêu phần trăm được sự đồng thuận của cộng đồng người Việt ở cả hai phương vị cha mẹ và con cái?

Vắn tắt thôi, ai cũng biết con người sống ở đời kể từ lúc lọt lòng mẹ là bắt đầu ngay những món nợ chằng chịt với người xung quanh, với đồng loại, bởi vì giản dị là con người không thể sống một mình và hữu dụng một mình. Đó là món nợ lớn nhất, đã làm người thì không ai thoát được, thế hệ này sang thế hệ khác, trước khi trở thành “chủ nợ” hay đang là “chủ nợ,” ai cũng từng là con nợ và nợ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Có những đứa con cảm kích tấm lòng trời biển của cha mẹ, còn cười đùa bảo nhau: “Cha mẹ đi rồi vẫn chưa trả hết nợ con cái vì chúng con gặp khó khăn, còn thắp nhang xin cha mẹ phù hộ.”

Sách vở giáo khoa hay nhà trường Mỹ không dạy trẻ về công đức sinh thành của cha mẹ, bổn phận phải trả hiếu của con cái khi khôn lớn; người Mỹ hay nói chung, người Tây phương không có cái đạo lý thánh hiền nhập cảng từ Tàu. Bởi vì ở đất nước văn minh, mỗi cá nhân từ bé đã sinh ra trong tự do và được tôn trọng, giáo dục không tẩy não hay nhồi sọ trẻ mà hướng dẫn, đào tạo trẻ thành những con người có đầu óc, có trái tim, có nhận thức và suy xét riêng, có khả năng làm những chọn lựa phù hợp với phẩm cách của mình.

Ngay trong mỗi gia đình, cha mẹ không tự coi mình là chủ nợ đối với con cái nhưng làm gương cho con về tình thương yêu, lòng khoan dung, bác ái, tinh thần trách nhiệm, ý thức tương trợ; nuôi dưỡng, tưới tẩm trong con trái tim mẫn cảm, biết thưởng thức cái đẹp và sống đẹp. Một xã hội tiến bộ đề cao nhân phẩm khuyến khích con người phát huy các giá trị nội tại thay vì dùng thần thánh làm ông ngoáo ộp để dọa dẫm hay hứa hẹn vu vơ.

Cha mẹ Mỹ với kinh nghiệm bản thân, biết rõ hơn ai hết con cái là những nhánh sông, con sẽ có ngày đổ ra biển lớn, đầu tư vào con cái là đầu tư không hoàn vốn nhưng không vì thế mà buộc chặt túi tiền. Họ đầu tư khôn ngoan và có kế hoạch để xã hội phát triển mà không ai lỗ lã, rất khác với cha mẹ Việt Nam cả đời sống theo câu châm ngôn “nước mắt chảy xuôi,” có khi chảy đến cạn dòng và tiếp tục khóc bằng đôi mắt khô không lệ.

Cha mẹ không đòi nợ thì con cái không phải lo trả nợ nhưng khả năng của trái tim yêu thương thì vô hạn. Một đứa con bị người đời gọi là bất hiếu, vô đạo, không phải vì nó không có đồng lớn đồng bé cho cha mẹ, vì nó không nuôi nổi cha mẹ bằng sơn hào hải vị hay lụa là nhung gấm mà vì nó vô cảm trước tuổi già sức yếu, những vụng về yếu ớt, những khao khát một lời nói, một ánh mắt, một nụ cười, một chút ân cần để sưởi ấm buổi chiều mùa Đông sắp tắt của cha mẹ.

Cảm xúc từ trái tim không phải mua bằng tiền mà một đứa con nào đó vẫn không có được để làm quà cho cha mẹ thì thật tội nghiệp bởi vì nó khốn khổ hơn cả một người khốn khổ bình thường nhưng có một trái tim biết buồn vui và san sẻ. Tình cha mẹ nếu không cao cả, thâm sâu và diễm lệ hơn một món nợ thì đã không có những đứa con thất lạc gia đình, thậm chí bị bỏ rơi trong một hoàn cảnh nào đấy, cả cuộc đời còn lại miệt mài đi tìm những người sinh thành ra chúng để không bị dày vò bởi mặc cảm không có một gốc gác vào đời như mọi ai trên mặt đất này.

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi cha mẹ kể tháng kể ngày.” Cha mẹ sẽ không buồn vì con cái không thể trả nợ mà sẽ rất buồn vì cuộc sống bận rộn quay cuồng với cơm áo của một Hoa Kỳ thực dụng đã lấy đi năm ba phút thư giãn cần thiết cho tâm hồn con cái họ, để chúng không còn cái hạnh phúc thưởng thức hương thơm của hoa hồng mà thiên nhiên ban tặng hậu hĩ cho nhân loại và làm đẹp Địa Cầu.

Bùi Bích Hà

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Nợ công - Bùi Bích Hà   

Về Đầu Trang Go down
 
Nợ công - Bùi Bích Hà
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến