Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
Latest topics
September 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

  Âm Nhạc và Trái Tim - Bùi Bích Hà

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Posts : 135
Join date : 20/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Âm Nhạc và Trái Tim - Bùi Bích Hà   Tue Aug 15, 2017 2:28 am



Tính Sổ

Bùi Bích Hà






Người chủ tiệm tính sổ mỗi buổi tối. Người nội trợ tính sổ mỗi cuối tháng. Người tình hay vợ chồng tính sổ khi chia tay. Công ty thương mại ngoài tính sổ với cổ đông, còn một tính sổ khó thực hiện nhất với lương tâm và công lý về doanh nghiệp thiếu minh bạch. Ðó là vài hình thức tính sổ phù hợp với những ai trong các hoàn cảnh đặc biệt nhưng hành vi tính sổ lúc chung cuộc đời người thì không có ngoại lệ trừ phi người ra đi quá bất ngờ nên chưa kịp chuẩn bị.
Vì vậy, ở tuổi nào thì nên nghĩ tới việc tính sổ đời mình? Hình như cho tới nay, chưa có một tài liệu thống kê nào đưa ra con số cụ thể cho thấy mẫu mực của việc này nếu không là những kinh nghiệm lẻ tẻ nghe được qua câu chuyện truyền miệng lúc trà dư tửu hậu giữa bạn bè.

Bản thân kẻ viết bài này tuy có dặn dò con cháu về cách xử sự khi cuộc hành trình trên mặt đất của mẹ chúng chấm dứt ở sân ga cuối nhưng vẫn chưa một lần nào nghĩ tới tính sổ đời mình, có lẽ vì mơ hồ biết rằng nếu có “lời” thì đã xài lai rai dọc đường rồi mà nợ thì nghe chừng khẳm, rất ngại ngùng phải đối diện.

Lý do khiến tôi mấy hôm nay băn khoăn việc này là vì buổi tối ngày Thứ Hai đầu tuần qua, tôi nhận được email của D. Uyển, vừa trách móc vừa nhắn một tin buồn: “Mi đi mô mà tau điện thoại không trả lời. con khỉ? Thiềm mất rồi.”
Bạn tôi chỉ nhắn đúng 3 chữ, chị biết 3 chữ là quá đủ để tôi rụng rời tứ chi, hồn vía lên mây. Ðịnh thần một lúc, tôi bấm điện thoại gọi Uyển: “Có biết vì sao Th. mất không?” Bên kia đầu dây, tiếng U. rời rạc, như thể cổ họng chị khô rang, cố lắm mới ráp được một câu: “Nghe nói Th. bị cái bướu trên đầu.” Tôi tưởng mình sụm xuống, tan chảy như cây nến nhỏ ai ném vào lửa, thoáng nhanh qua đầu mấy câu thơ khóc vợ của Hữu Loan được Phạm Duy phổ nhạc: “Em ơi, giây phút cuối không được nghe nhau nói, không được trông nhau một lần…”


Ngày xa xưa khi tâm hồn còn như quả bong bóng màu mới bơm căng hơi, như đóa hồng mới nở, như mây sớm trên đỉnh trời, đọc tới câu này, nghe hát mấy câu này, tôi xót xa hình dung nỗi đau của người trong cuộc mà thương cảm ngập lòng. Bây giờ khi chính mình là người trong cuộc, mới thực sự thấm ngấm nỗi bi ai. Tôi thấy tôi ăn ở tệ với bạn quá. Từ khi bạn dọn nhà, tôi không có điện thoại mới của bạn rồi vin vào đấy, tự nhủ: “Không tin tức là không sao!” Tôi để thời gian trôi qua hàng năm, hàng năm, hàng năm. Tự dối lòng hay lười biếng tưới nước một loài hoa mong manh.
Không tin tức là không sao. Ðâu có không sao! Bạn tôi bệnh, đau đớn rồi mất. Tôi không hay biết nên không một lời hỏi thăm, không một lần gặp mặt và cầm tay. Tôi đã dùng thời gian ấy vào việc gì? Ðã dành sự quan tâm ấy vào việc gì? Tôi đã để bạn tôi buồn lòng nghĩ rằng tôi không còn nhớ con dốc Phủ Cam chạy qua cửa nhà chị. Không còn nhớ tô bún bò An Cựu hai đứa đã ngồi ăn dưới dàn thiên lý ở sân trước nhà chị.

Không còn nhớ những lá thư hàng tuần chị ân cần nhờ tôi đem bỏ giùm chị ở bưu điện trung ương trên đường tôi về học, gửi cho một người ở đồi Tăng Nhơn Phú. Không còn nhớ đôi mắt bồ câu thật đẹp với riềm mi mát rượi của chị chớp chớp khi chị cười rúc rích sau tay áo, khoe khẽ với tôi chiều hôm qua chị được tiếp anh lần đầu tại phòng khách nhà chị và dưới mắt bố mẹ. Không, tôi không quên gì cả, càng không quên những ngày sau cùng anh chị và tôi hẹn gặp nhau giữa đường để cùng bay lên Michigan thăm gia đình Cỏ May. Tôi tới trễ. Từ xa, đã nhận ra vẻ bồn chồn, lo âu của chị bên anh và khi tôi đi rảo bước như chạy tới gần, cảm động thấy khuôn mặt phút trước bồn chồn lo âu ấy sáng lên vì vui mừng. Buổi tối ở nhà Cỏ May, ba đứa chụm lại trong phòng khách xem video ca nhạc Thúy Nga, vừa xem vừa chuyện trò râm ran. Vui thế nào mặc dầu, chị vẫn để mắt cái đồng hồ rồi rụt rè nói: “Tụi bay coi tiếp đi nghe, tau vô, sợ anh Th. không quen một mình.” Có hôm sau khi cả nhà đi bộ hóng gió về, ba đứa rúc vào phòng ngủ, nằm ngang trên chiếc giường rộng bằng gỗ quý, nhắc kỷ niệm thời đi học. Chỉ một chốc lại nghe cái điệp khúc quen thuộc của chị: “Tau vô nghe, sợ anh Th. không quen một mình.”


Vì địa dư rộng lớn của nước Mỹ, vì hoàn cảnh sinh tồn mỗi đứa khác nhau, dường như trong thâm tâm cả ba, chúng tôi đành chấp nhận vui với những gì đến trong tầm tay và cất kỹ những gì đã qua vào kỷ niệm. Lần tạm biệt sau cùng, chúng tôi tha thiết hẹn gặp lại nhau nhưng lời hẹn ấy như nước chảy qua cầu. Anh D. chồng Cỏ May bất ngờ qua đời. Thiềm bất ngờ qua đời. Không ai biết lúc nào gió vô tình hay hữu ý khép lại những chương sách đời dở dang. Liệu có bao giờ cơn gió ấy sẽ đưa tôi về với ngôi nhà ở con đường mùa Thu thành Troy để tôi còn được ôm bạn trong tay và khóc những người đã mất ? Ðể tôi lại được ngồi vào bàn, vào ghế như tất cả chúng ta từng ngồi với nhau trong căn bếp nhỏ, rất thật nhưng cũng rất hoang đường?


Kiểm điểm hay tính sổ? Ðể thấy ra chúng tôi nợ nần nhau nhiều quá. Chúng tôi nợ nhau những lời hẹn ước. Nợ nhau những chuyến đi. Nợ nhau những khao khát đợi chờ. Nợ nhau những ngày vui, những nỗi lòng trao đổi. Nợ nhau những mong ngóng không thành. Nợ nhau một lá thư lần lữa, một cú điện thoại cho những điều khó bày tỏ. Ôi, những món nợ chồng chất tháng năm không bao giờ thanh thỏa được nếu không bắt đầu.

Kinh nghiệm mất bạn vào một lúc không ai có thể ngờ khiến chúng tôi hốt hoảng đi tìm nhau trong khoảng không gian năm bảy dặm đường. Hai năm trước (nhanh như một cái chớp mắt) chị tươi mươi đi dự những buổi họp mặt ái hữu. Chị chỉ có vài sở thích: đi chùa, gặp gỡ bạn bè và đeo kim cương. Chị ít nói nên hay cười, tính nết hiền hậu. Bẵng một thời gian vắng bóng chị, hỏi thăm nhân dịp tang lễ Thiềm, được biết chị không đi đâu vì hai chân đau. Ðến nhà thăm, biết ra trí nhớ chị bị sa sút. Chị ngồi trên ghế, walker bên cạnh, khay thuốc trên bàn, đôi mắt trống vắng. Ðừng làm khó chị mà hãy xưng tên rồi hỏi chị có nhớ không thì chị sẽ gật đầu. Chuyện trò một lúc, chị cất tiếng, thong thả, nhỏ nhẹ: “Nãy giờ nghe các bạn nói nhưng không nhớ các bạn nói chi hết.” Vậy là chị biết bệnh của mình nhưng chị không tỏ vẻ buồn giận mà nét mặt yên ả. Lúc bạn bè từ giã, chị theo ra cửa. Chúng tôi vẫy tay, chị cũng giơ tay vẫy trả và vẫy mãi.

Anh là bạn đồng nghiệp với tôi ở trung học NT/Saigon. Thời đó, anh là giáo sư dạy toán trẻ nhất và được học trò các trường công tư quý mến. Ngoài chuyên môn, anh hoạt bát, khẩu khiếu lưu loát và có óc hài hước. Trong đám đông, anh nổi trội, thu hút.
Di tản qua Mỹ biến cố 30 Tháng Tư 1975, anh không đi dạy nữa mà làm việc hành chánh. Chị đẹp, tươi tắn và trẻ hơn anh nhiều. Chị đặc biệt có giọng nói pha chút nũng nịu rất dễ gây thiện cảm. Chị cũng thích thể thao nên đi gym mỗi ngày. Một buổi chiều như mọi buổi chiều khác, chị đang tập bỗng bị một cơn nhức đầu rồi chị êm ái ra đi vì một mạch máu có chỗ bị mỏng (aneurism.) Mất chị hoàn toàn bất ngờ như thế nhưng anh vẫn gượng cười, nói đùa với bạn bè: “Bây giờ tôi không phải giấu thuốc lá nữa!” Tuy vậy, từ đấy sức khỏe của anh hao hụt dần rồi tới một lúc anh đi lại phải dùng walker. Những năm sau này, anh không đến với cuộc họp mặt ái hữu thường niên của trường NT nữa vì không tiện di chuyển. Ngày xưa, thầy đến với lớp, vỡ đất, gieo hạt. Giờ đây, các học trò cũ đem lớp đến với thầy, hoa trái tốt tươi. Thời gian đã làm việc thật sự có ý nghĩa cho cả thầy lẫn trò. Họ đã thay nhau giữ quả bóng kiến thức và tình người ở vị trí đẹp nhất của nó trên sân chơi của nhà trường và cuộc đời.

Cuộc họp mặt lần đầu, lần thứ hai với anh, cách nhau khoảng một năm, chỉ quy tụ trên dưới chừng mười người vừa thầy, cô vừa trò, xúm xít quanh cái bàn ăn rộng lỉnh kỉnh thức ăn mỗi người góp một món. Vậy nhưng tiếng nói, tiếng cười vẫn rộn rã bay lên và buổi trưa qua rất nhanh trong ngôi nhà ban ngày thường vắng vẻ vì người lớn đi làm, trẻ con đi học. Năm nay, đáp lời kêu gọi của nhóm tổ chức, con số 10 nhân lên gấp ba, gồm thêm nhiều thầy cô giáo cũ có lẽ cũng băn khoăn “tính sổ” như tôi.

Chỉ vài ngày nữa là đến hẹn. Tôi hình dung ra khu vườn nhà anh mùa Hè lung linh nắng, khói lò nướng như mây xuống lưng chừng không gian, giăng mắc trong những khóm lá xanh và 30 người từ một quá khứ đã ít nhiều tàn phai có dịp quay lại đốt trầm hương cũ, nhớ một thời đã qua và sẽ là như thế mãi mãi trong tâm tưởng của nhau. Anh sẽ vui lắm, sẽ không cay đắng và chua chát dẫu sau cùng, chỉ còn anh đối bóng mình trong hoàng hôn tịch mịch giữa khu vườn này mà anh sẽ lây niềm tự hào với câu nói của tướng MacArthur: “Các cựu chiến binh không bao giờ chết, họ chỉ tan hàng thôi!” Trên mặt trận văn hóa, lực lượng giáo chức là những chiến binh phục vụ đất nước và dân tộc bằng những cống hiến bền bỉ của họ. Mở mang bờ cõi hay mở mang trí tuệ, người chiến sĩ ở cả hai phòng tuyến để lại dấu ấn của họ dài hơn một chu kỳ sinh diệt của nhân gian và sẽ không đi vào quên lãng.

Chao ôi, “tính sổ” cũng cần nhiều thời gian mà bây giờ tôi mới chỉ bắt đầu, đành cố gắng thôi!

Bùi Bích Hà
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://thntsaigon.forumsreality.com
PVChuong
Admin


Posts : 332
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Âm Nhạc và Trái Tim - Bùi Bích Hà   Tue Aug 22, 2017 9:10 pm



Tuổi Già

- Bùi Bích Hà




Photo: Peter Levitan

Các cụ bà, tuổi trên dưới 80, thể lực tương đối tốt. Nghĩa là không có bệnh gì ngoài bệnh… già. Nghĩa là cơ thể nhức mỏi ở nhiều chỗ, thường xuyên bị vọp bẻ, ở chân, ngón chân; ở bàn tay, ngón tay, mà các cụ mô tả là có lúc đau thót ruột, vã mồ hôi. Tuy nhiên, các cụ tặc lưỡi, cười gượng: “Ôi, vậy nhưng cũng chẳng sao, chỉ muốn hỏi cô câu này: chúng tôi buồn, rất buồn, tuy biết buồn sẽ hại đến sức khỏe. Khó ngủ, không muốn ăn và ăn thì khó tiêu, lại phải uống thuốc hay uống Seven Up hay Perrier. Cô làm việc xã hội, gặp gỡ nhiều người, xin nhờ cô hỏi giùm các cụ nào may mắn có cuộc sống tuổi già an vui, xin mách bảo giùm, chúng tôi cám ơn lắm.”

Nghe các cụ hỏi, tôi giật mình, sửng sốt, sực nhớ chính tôi chừng một năm đổ lại đây, bận bịu là thế nhưng cũng có lúc cảm thấy thật buồn. Hỏi lại các cụ: “Các cụ có đi chùa hay nhà thờ? Có đi tập dưỡng sinh, tài chi, tập khiêu vũ thể dục? Có làm vườn, trồng hoa, trồng quả, trồng rau thơm để nhà sẵn, đỡ phải mua? Có họp mặt bạn bè, hát hò, chuyện vãn, ăn quà, đánh bài? Có đi sòng bài kéo máy, xem chương trình, ăn buffet? Có coi phim tập Nam Hàn hay Ðài Loan? Có đi mua sắm thử quần áo cho vui mắt? Có đến các trung tâm cao niên để giải trí, đến viện dưỡng lão để thăm nom người đi trước và ngắm nghía cho mình, phòng khi? Có đi xoa bóp, làm skin care để thư giãn thân tâm? Có sử dụng máy điện toán, iPod, iPad để đọc tin, đọc điện thư, nghe nhạc, chơi games? Có đi du lịch một, hai, ba ngày, đường bộ hay đường thủy, để thưởng ngoạn phong cảnh trời xa, xứ lạ và cũng để biết nhớ nhung căn nhà của mình hơn?” Nghe hỏi, các cụ lắc đầu, cười hiền hòa: “Không thử hết thì cũng gần hết món cô hỏi rồi, phát chán mà buồn vẫn không nguôi. Chỉ còn uống rượu nữa thôi nhưng chúng tôi ai uống được thì cũng không uống đến say, chỉ cạn ngày một ly vang nhỏ vào bữa ăn chiều cho dễ ngủ tuy hiếm có đêm thẳng giấc tới sáng lắm. Nó nhức chỗ này, mỏi chỗ kia, thỉnh thoảng chuột rút chân tay cong queo, đau quắn ruột mà cắn răng chịu chứ kêu ai và ai làm gì được?”

Tôi rụt rè hỏi thêm: “Thế các cụ ông thì sao ạ?” Các cụ bà đưa mắt nhìn nhau rồi cùng mỉm cười: “Ấy, quả là hoàn cảnh có khác nhau nên tuy không cố ý, chúng tôi hầu như thuộc hai nhóm riêng biệt, chỉ gặp gỡ trong các dịp quan hôn tang tế hay hội hè cộng đồng chứ không sinh hoạt thân cận để biết mà trả lời cô. Có lẽ các cụ nào Trời cho còn đủ đôi, có khi lời qua tiếng lại cũng đỡ cô đơn.”

Chao ôi, tôi đoán các cụ có đọc thơ tình của thi sĩ Xuân Diệu thời lãng mạn: “Ðược giận hờn sung sướng biết bao nhiêu!” Thi sĩ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” nên nói thế, giận hờn triền miên, cũng hại sức khỏe không kém buồn một mình!

Qua giao tế cũng như tin tức trên mạng, tôi được biết tuổi già của các cụ ông trong thời đại tin học dễ chịu hơn hẳn các cụ bà. Phần đông các cụ ông còn lái được xe ở tuổi trên dưới 80 nên vẫn giữ được thói quen cà phê cà pháo, rong chơi bạn bè, uống bia, bàn luận thời sự quanh bàn mạt chược hay cỗ bài xì phé. Cụ nào thể lực tốt còn đi gym tập thể dục, tắm hơi. Có cụ đánh quần vợt hay đánh golf. Nhiều cụ tham gia việc xã hội, đoàn thể hay cộng đồng, họp hành, viết lách, tranh cãi liên miên. Về nhà, các cụ có ngay cái computer làm bạn, kết nối năm châu bốn biển, giúp các cụ có thêm nhiều mối giao tiếp mới và nhiều chương trình hành động mới. Các cụ nào nhất định gác kiếm nghỉ hưu, lánh mình khỏi chốn đua chen danh lợi nhưng chưa cảm thấy mỏi mệt thì ghi danh học vẽ, học hát, học chụp hình, học điêu khắc, học bất cứ môn nào theo sở thích và năng khiếu trời cho mà thời trai trẻ chưa có cơ hội thực hành. Ði học mà không bị áp lực mưu sinh thì nhà trường là nơi lui tới lý tưởng vì nó giúp mở mang kiến thức và… chậm lão hóa. Tin tức đó đây cho biết không ít trường hợp ông nội hay ông ngoại áo mão tốt nghiệp đại học cùng với các cháu.

Nói tóm lại, do tính năng động và vai trò quyết định của nam giới, các cụ ông có nhiều phương cách để thoát ra khỏi sự bế tắc trong cuộc sống hơn các cụ bà, giản dị nhất là lấp đầy được những khoảng trống thời gian của tuổi già.

Nhớ lại hai thập niên trước, thời tôi còn đi làm ở hãng B, mấy cô em trẻ biết các con tôi đã trưởng thành và tôi sống một mình thì hay tò mò hỏi: “Chị ơi, có bao giờ chị cảm thấy cô đơn vào buổi tối không chị?” Tôi thành thực trả lời: “Các cô tin hay không nhưng sự thật chị không có cả thì giờ để biết mình vui buồn thế nào? Ngưng tay là để đi ngủ vì hôm sau phải dậy sớm đi làm.”

Cho tới bây giờ, tuy tôi đã có đôi lúc rảnh rỗi và nhớ lại bạn cũ, chuyện cũ nhưng chỉ để cười một mình, cảm động vì sự quan tâm của bằng hữu, đồng nghiệp song cũng muốn họ biết tôi không hề thấy mình cô đơn vì tôi luôn có một ký ức sống động với đông đảo những người tôi từng quen biết. Tôi luôn có một ai đó để nghĩ về, một quãng đời nào đó để sống lại, ngay cả một tôi thời bé dại với những trò chơi trẻ con ngờ nghệch đến tội nghiệp.

Tuy nhiên, như viết ở phần trên, chừng một năm đổ lại đây, thỉnh thoảng có những giây phút tôi buồn. Ðối với tôi, nỗi buồn rất lạ, vì tôi cảm nhận nó lần đầu và bất ngờ. Tôi chợt nhớ ra và làm một con tính nhẩm: so sánh với tuổi thọ của cha mẹ, nếu được may mắn như hai cụ, tôi cũng chỉ còn 10 năm nữa để sống. Mười năm của tuổi trẻ như bình minh ở phương Ðông. Mười năm của tuổi già như nước chảy trong chiếc bình cạn úp ngược, là một chớp mắt bằng với thời gian tôi nghỉ hưu cho tới nay. Nghĩa là rồi cũng như cha mẹ, một cách nào đó, tôi sẽ phải lìa bỏ con cháu, bạn bè, thân hữu, độc giả, thính giả, ngôi nhà có chậu mai vàng, những gốc hồng rực rỡ cười chào tôi ngoài cửa sổ mỗi sớm mai, những con đường thân quen từng ngã ba, ngã tư, những công việc đang làm dở dang.v.v…

Thế nhưng, tuyệt nhiên nỗi buồn không phải vì những gì tôi đã biết nằm trong thân phận mình. Có lẽ đó là nỗi buồn trước giờ chia tay của mọi cuộc hành trình, và, như lời một bản nhạc, “người đi có bao giờ vui?” Càng thấm thía hơn trước chuyến đi dài nhất, không hẹn quay về…

Nên, nhớ lại mà thương cha, thương mẹ vì 50 năm trước, 30 năm trước, tôi nào hiểu tâm tình của cha mẹ như giờ đây tôi hiểu chính mình, rất muộn màng. Những buổi chiều mùa Hè nắng nhạt, bố tôi chống gậy ra cổng, đứng nhìn mọi người qua lại. Những đêm mùa Ðông khuya muộn, bố ngồi ở cầu thang nhìn tôi học bài, làm bài, hỏi tôi trước khi quay lưng: “Con không cần gì thầy chứ? Thầy đi ngủ nhé?” Ở Mỹ, mẹ tôi ngồi bên cửa sổ hằng chiều, đợi tôi và các con tôi từ sở làm, từ trường học về, “đôi mắt lặng buồn, nhìn thôi mà chẳng nói.” Tuổi 50, tôi vẫn chưa hiểu gì, vẫn chưa biết thế nào là biệt ly, từng ngày, từng giờ. Trong lặng thầm. Không một tiếng động khẽ. Trên đôi môi khô héo. Trong đôi mắt nhập nhòa giấu lệ.

Nên, bây giờ tôi hiểu nỗi buồn của các cụ. Không tiếc đời mình mà tiếc những chia tay.

Các cụ hỏi “Làm gì cho bớt buồn?” Tôi xin chuyển câu hỏi đến các bạn trẻ may mắn còn cha mẹ. Tôi biết cuộc sống cam go, bận rộn ở nơi này như cơn lốc cuốn các bạn vào bụi mù như đã cuốn tôi một thời nào. Ðừng giận. Cho phép tôi nhắc. Một vòng ôm. Một ánh mắt. Một lời hỏi han. Cái khăn quàng. Ðôi vớ. Chiếc bánh. Bông hoa hái từ vườn nhà. Bất cứ cái gì trong tầm mắt, tầm tay bạn. Từ tấm lòng quan hoài của bạn. Là câu trả lời làm nên phép lạ trong tuổi già (không dài) của cha mẹ mà tôi thật tiếc không bao giờ còn cơ hội.

Tin tức từ trang mạng newamericamedia.org cho biết, theo các chuyên gia về bệnh tâm thần làm việc sát với giới cao niên và cả trung niên thuộc cộng đồng người Việt chúng ta, vấn đề trầm cảm có khuynh hướng gia tăng trong số các cụ hiện sống tại Little Saigon, Orange County, tuy con số bệnh nhân vượt qua trở ngại tâm lý, chịu khai báo để nhận được sự chữa trị, chưa phản ảnh hoàn toàn thực tế. Một cuộc thăm dò cá nhân không chính thức đưa ra nhận định có tới 90% quý cụ cao niên (không rõ con số nam nữ) sử dụng Internet hàng ngày để đọc tin, trao đổi chuyện trò với thân nhân và bằng hữu, vừa giúp họ cảm thấy bớt lẻ loi, trống vắng, dễ đưa tới suy sụp tinh thần, vừa cải thiện trí nhớ của các cụ một cách đáng kể. Một cụ ông được trích dẫn lời phát biểu như sau: “Tôi gõ (bàn phím) để tự mình trau giồi thêm kiến thức, để tự học hỏi, để tự mình giải khuây, để khỏi nghĩ quẩn, để khỏi bị trầm cảm, để khỏi bị bệnh Alzheimer’s, để thoát ly và cũng để giảm bớt ưu phiền trong cuộc sống, v.v…”

Riêng với các cụ bà, ngoài sử dụng Internet để giữ liên lạc với con cháu/thân nhân/bạn hữu xa gần và để giải trí, còn nhiều thú vui giản dị khác, rất dễ thực hiện miễn các cụ giữ được cái tâm an tịnh để có thể mở lòng ra “vui từ mỗi lẻ loi…” Ðời sống luôn dài hơn kiếp nhân sinh ngắn ngủi nên đời sống không thiếu những chân trời mới để khám phá và khám phá khua thức nơi chúng ta niềm vui: một khoảnh đất nhỏ ở vườn sau, thậm chí vài cái hộp gỗ để sát tường mảnh sân ngăn với hàng xóm phía trước cũng cho chúng ta những bông hoa mới hay những liếp rau mới. Báo nào bây giờ cũng có công thức nấu nướng những món ngon, dễ làm, quý cụ còn trí nhớ minh mẫn, không bị con cháu giới nghiêm, có thể bày ra làm để con cháu (và cả vài ba người bạn thân) có cớ gần gũi, vui đùa bên nhau. Nhìn kỹ, đâu đó trong nhà vẫn luôn có thể thêm bớt một cái gì đem lại vẻ mỹ quan: chậu lan đang nở, bức tranh màu sắc tươi, cái khăn lau tay máng ở cửa bếp lò có hình con gà thật đẹp vì đang là năm Ðinh Dậu, v.v… tha hồ đề tài cho bà cháu cùng nhau ngắm nghía, chuyện trò… Ngay cả một cái hẹn (ngoài hẹn với bác sĩ) để la cà với bạn bè cũng làm cho các cụ hào hứng mong đợi, trái tim có chút rộn ràng,…

Ngụm nước khi khát, ngụm rượu khi buồn, một chút tưởng tượng thần tiên làm nên những phút giây đáng giá, chẳng nên lắm sao?
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 317
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Âm Nhạc và Trái Tim - Bùi Bích Hà   Sat Aug 26, 2017 8:55 am



** Chiều tà - Enrico Toselli - Mai Hương
https://www.youtube.com/watch?v=wYEHY2Zs94U


** Giòng Sông Xanh (Le Beau Danube Bleu) – Thái Thanh
https://www.youtube.com/watch?v=wYEHY2Zs94U



Thiền với Âm Nhạc

Bùi Bích Hà


Câu nói nghe được trong một tiệm ăn trên đường Bolsa: “Sống ở Bolsa mà không biết thiền thì chỉ có chết.” Thời gian này, khắp mọi nơi, mọi lúc, dường như mọi người nhắc đến chữ “thiền” hơi nhiều. Chỗ này mở lớp, chỗ kia hội luận, bạn bè trao đổi sách báo, rỉ tai, bàn tán, mách nước, chia sẻ kinh nghiệm. Mọi người ra công tầm sư học đạo. Ông đi thiền. Bà đi thiền. Anh đi thiền. Chị đi thiền. Đệ tử môn Thiền bảo nhau tập ngồi kiết già. Ai ngồi chưa quen, chưa được, thì ngồi bán già. Tập bắt quyết. Tập nhắm mắt tập trung vào một điểm, ví dụ ở giữa hai đầu lông mày. Tập kiểm soát hơi thở vào, hơi thở ra. Bằng cách này, cố xua đuổi mọi ý nghĩ lộn xộn trong đầu về cuộc sống xô bồ bên ngoài nhằm tạo khoảng trống cho cái tâm cần an tịnh. Cho dù có xua đuổi được hết, chắc vẫn còn lại cái ý “muốn thiền?” Hễ đã “muốn” là có lo âu: lo không thành công, lo thất bại, lo tẩu hỏa nhập ma.

Quay cuồng với vận tốc thời gian dường như tỷ lệ nghịch với ước muốn thành tựu bên trong bản thân, mọi người cảm thấy áp lực của những điều bất như ý dày xéo tâm can, thúc bách, trói buộc, khiến cho ngộp thở nên phải tìm chỗ thoáng khí, mong xả bỏ bớt và người ta tìm đến thiền, cõi không giữa chợ đời nhộn nhịp.

Vậy, căn bản của thiền là để xua đuổi tạp niệm, xả bỏ những cái phiền trược nó quấy nhiễu thân tâm con người cần sự an lạc đặng tồn tại. Cái cây động gốc thì lá rụng, cành héo dần, thân chết từ từ. Thế nhưng, khuynh hướng chung của con người là “lấy vào” (càng nhiều càng tốt) thay vì bỏ ra (càng ít càng tốt). Bao lâu mâu thuẫn này chưa giải quyết được trong tỉnh thức, làm sao giải quyết bằng thiền, được cầu viện như một giấc ngủ ngắn?

Không sợ hãi, không tham lam, không ham muốn quá độ, không sân si, bình thản trước những cái đến và đi trong đời (như cơn gió thoảng), cảm nhận được hạnh phúc trong từng nhịp tim khỏe mạnh (là phước báu lớn nhất của đời người), cảm nhận được tình thương bao la của đất trời ban tặng cho thế gian (với bao điều kỳ ảo), cảm nhận được sự cần thiết có nhau trong nhân loại (để vun xới sức mạnh chung)… Đó thực sự là chìa khóa mở cửa vào cõi thiền trong từng giây phút tồn sinh của kiếp người.

Thiền chính là trạng thái tự do tuyệt đối của tâm linh, không bị khống chế bởi thất tình lục dục. Như vậy, thiền thể hiện trong mỗi sát na vươn lên trong đời thường, giản dị như hơi thở, không cần phải tìm đến chỗ thanh tịnh, không quá hình thức đến phải ngồi kiết già hay bán già và bậc thầy cao minh hướng dẫn không ai khác hơn là ý thức tu tâm dưỡng tánh trong tự thân mỗi người, nhằm giải thoát mình khỏi sự kiềm tỏa của dục vọng vốn tiềm ẩn bên trong như một thứ ký sinh.

Đi qua phố phường đông đúc lao xao, tâm thiền định nhẹ nhàng, trong sáng, không động, không bị cuốn hút, tất thị hiện khả năng chuyển hóa trong tự thân. Cho nên tập thiền, trước hết là tập buông bỏ cái ngã.

Nói tới hai chữ “buông bỏ,” chúng ta cũng thường nghe nhiều người nhắc nhở như một thứ kinh nhật tụng, thậm chí như mật chú có khả năng đem lại an vui tức thì. Tuy nhiên, câu hỏi là bao nhiêu người thực hiện được ý niệm tưởng như gắn bó thiết thân với người nói ấy hay cũng chỉ như làn hương thoảng, cơn gió bay, nghe qua rồi bỏ trong khi nhiều cái cần bỏ khác sao khó bỏ quá mà cứ muốn ôm khư khư? Thời đi học, thầy cô giáo dạy làm đủ mấy phép tính căn bản: cộng, trừ , nhân, chia, thứ tự trước sau đọc lên nghe êm tai nhưng còn bé quá, đâu có thắc mắc gì? Lớn lên, có lúc nghĩ ngợi tẩn mẩn, tự hỏi sao tính cộng đi trước nhỉ? Đi trước hay đi sau chẳng sao, miễn là cộng xong thì phải trừ. Cổ nhân đã dạy: lộc bất khả hưởng tận, có lợi lạc nên biết cho bớt đi. Thứ nhất, để hưởng niềm vui trong mắt người khác và có chút phước đức bỏ quỹ tiết kiệm. Thứ hai, để tránh sự không vui theo sau do luật bù trừ. Hưởng lộc lớn quá theo cấp số nhân thì cũng nên chia theo cấp số nhân. Có tiếc xót thì hãy nhủ lòng: còn hơn nếu bị lấy đi… một cách không mấy êm dịu. Các ngài Warren Buffet, Bill Gates là những bằng chứng hùng hồn, tầm cỡ hiếm hoi song còn vô số những người biết cho ở tầm cỡ nhân gian làng nhàng xung quanh chúng ta, chum vại nhỏ thôi nhưng đầy vơi êm ả.

Hóa ra bốn bài tính vỡ lòng sơ sài ấy chi phối cả cuộc đời con người, nào phải chỉ loanh quanh mấy cái hóa đơn?

Bỏ của đã khó thế, bỏ cái “ngã” hay chính mình còn khó tới đâu! Bỏ của, cùng lắm chỉ bâng khuâng tiếc. Bỏ chính mình, còn gì? Mất hết, sao được! Đâu có mất hết, chỉ như người nặng cân, cần bỏ mỡ thừa cho nhẹ bớt để khỏe và đẹp hơn thôi mà! Nghĩ được thế, biết được thế, tin được thế thì sẽ không tiếc nữa, cũng không sợ hãi mà tâm thế bỗng lâng lâng, tựa như con thuyền đi trên sông lớn, chở vừa, không chở khẳm phòng khi giông gió. Tạo hóa sinh ra con người, ngoài lương thực, còn cho con người có khả năng thích nghi để tự tồn, mỗi ngày mỗi khôn ngoan, tinh tế hơn, chỉ phải cái tội con người chủ quan, tự hào mình cao cơ hơn đấng sinh ra mình, có thể luồn lách đi con đường khác và vẫn an toàn về tới đích. Máy định vị (GPS) thời buổi văn minh có khi nói lèm bèm, hướng dẫn sai lạc nhưng GPS của ông Tạo tuyệt đối hoàn hảo. Khiêm nhường, chịu khó lắng lòng và lắng nghe, sẽ thấy toàn giai điệu.

Người Mỹ thường nói: “Hãy xâu chân vào chiếc giầy của người khác,” ngụ ý đặt mình vào chỗ của người khác, mà suy nghĩ, mà cảm thông và phát biểu. Trịnh Công Sơn viết những ca từ đáng suy gẫm: “Đừng tuyệt vọng, em ơi, đừng tuyệt vọng. Tôi là em mà em cũng là tôi.” Bi kịch của con người ở sự hoang tưởng mình không giống ai mà luôn hay hơn, khá hơn. Chung cuộc, chỉ có một sự thật đúng nhất: “Lại thấy trong ta hiện bóng con người.” Hình như lấy “ta” làm chuẩn khiến câu viết dễ nghe hơn! Nhiều “ta” gộp lại, nhiều cái “ngã” nhỏ (tiểu ngã) hòa tan làm thành cái NGÃ lớn (đại ngã). Khi lớn tới vô biên (vô ngã), những biên giới chật chội giam hãm con người trong cọ sát, ganh ghét, thù hận, khổ đau, không còn nữa, kể cả ý niệm về sự sống/sự chết, về lúc bắt đầu và lúc kết thúc. Mơ ước này từng được nhạc sĩ Phạm Duy chia sẻ trong Tâm Ca số 3: “Ngồi gần, ngồi gần nhau đây đó chung quanh địa cầu. Ngồi gần, ngồi gần nhau trong kiếp xưa, trong đời sau. Ngồi gần ngồi thật lâu, cho đến khi hai ngọn đầu thành một người trong nhau nguyện cầu…” Như thế, thử đoán xem bao lâu nhân loại mới có thể tan vào nhau sau vô lượng kiếp đã biết ngồi gần? Vậy nên chúng sinh vẫn cứ khổ đau triền miên.

Những suy gẫm trừu tượng nêu trên tưởng như xa vời, vô nghĩa. Cuộc đời, ngẫm cho cùng, há chẳng phải là sự vô nghĩa lớn nhất hay sao? Triết lý hiện sinh cổ võ hạnh- phúc-trong-từng-phút-giây-hiện-tại bùng nổ thập niên 1960 ở Âu châu bị văn hóa truyền thống chê là phóng túng, mãi sau này mới được tán thưởng khi nhịp sống văn minh ngày càng gia tốc, biến động ngày càng khó lường, kiếp người trở nên quá đỗi mong manh.

Cuối cùng, người Mỹ có bài hát It’s now or never. Thi sĩ Ngô Tịnh Yên có bài thơ được nhạc sĩ Trần Duy Đức phổ nhạc và rất nhiều người yêu thích Có yêu tôi thì xin hãy yêu ngay bây giờ, đừng đợi ngày mai. Tín đồ Phật giáo biết quý trọng mỗi sát na trong hiện tại vì trước hay sau đều là huyễn mộng. Cho nên, ngoài phương pháp Thiền để tạm xa lánh cõi trần gian phiền trược, liệu có nên theo đuổi một phương pháp thiền khác khuyến khích con người hồn nhiên tận hưởng mỗi phút giây hiện tại bằng sự chắt lọc tinh hoa của từng phút giây ấy? Cho dẫu thể xác gông cùm, hồn phách vẫn ngao du sơn thủy, được không? Cho dẫu chúng ta bề ngoài có khác nhau điểm này/điểm nọ, tựu trung, chúng ta vẫn cần những cái khác ấy được bổ sung vì trong sâu xa, ai cũng thiếu cái người kia thừa và ngược lại.

Sau một ngày làm việc mệt nhọc, những trao đổi khó khăn, buồn nản, những giấy tờ vô cảm, những con người là hiện thân của phiền lụy, đẩy cánh cửa kính nặng bước ra bãi đậu xe, cả khuôn mặt mát rượi trong làn gió chiều lướt qua khoảng sân mênh mông, cả tâm hồn như bụi hoa hổ ngươi phơi phới bung mở, lòng thầm kêu Chao ôi là sung sướng! Ngồi vào xe, máy nổ ngoan hiền, CD nhả ra tiếng hát không chuyên nghiệp lắm của người bạn tự thu giọng hát mình để vui chơi và tặng bạn bè. Chị biết tôi thích bản Come back to Sorrento, lời Việt của Phạm Duy, nên thu nguyên một đĩa cho tôi. Có tấm lòng đầy cảm xúc, có nỗ lực trau chuốt từng âm thanh lụa là, cao thấp thả buông, gởi ra trong tiếng hát còn tươi mát riêng mình của chị gọi lòng tôi muốn chạy theo, cùng tan vào cuộc chơi trên những dây tơ vàng thánh thót nắng mưa xuân.

… Đâu tiếng đàn ngoài hiên mưa? Và đâu bướm tơ, vui cùng mùa? Một mùa Xuân mới, mắt êm nắng hào hoa. Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan. Về đây lắng trầm khúc nhạc truy hoan. Về đây nhé! Cắm xong chiếc thuyền hồn, Ôi thoáng nghe dây lòng tiếc đờn...

Dường như là một trở về với ngôn ngữ buồn vui hoang mang của người nghệ sĩ viết lời nhưng trong thần trí tôi, mỗi bước chân trở về mái nhà xưa dù nay không còn nữa, vẫn mãi là mỗi bước hân hoan.

… Mái tóc nhà lưu luyến vạt trăng xanh. Nếu mưa về yêu lấy hạt long lanh. Chờ mong nắng cho tươi đời xuân xanh. Người xa vắng biết đâu nấm nhà buồn. Đốt ánh đèn in bóng vào rêu xanh. Sẽ thấy cười tan vỡ hồn đêm thanh…

Đêm xanh biếc đàn đi trong không gian im ắng, tắm gội tâm hồn tôi trong niềm hạnh phúc không tên tuổi, không nguyên do, tràn ngập, đầy ắp, như không khí tôi đang thở từ cuộc sống tự nó trong trẻo, hồn nhiên và tự nó đầy thiền vị.

Bùi Bích Hà


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 273
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Âm Nhạc và Trái Tim - Bùi Bích Hà   Wed Sep 20, 2017 1:48 pm





Âm Nhạc Và Trái Tim

Bùi Bích Hà


Vừa rời khỏi dòng người xếp hàng rồng rắn trước các cửa sổ phục vụ khách hàng, bận rộn vào giờ tan sở chiều thứ sáu trong ngân hàng Wells Fargo, đầu óc còn váng vất hình ảnh những bàn tay lăm lăm cầm tấm chi phiếu trả lương cho cả tuần làm việc (không bao giờ kịp ấm túi,) những khuôn mặt âm u, những đôi mắt bồn chồn nhìn vơ vẩn ra xung quanh chờ đến lượt, tôi ngồi vào ghế lái chiếc xe hơi nhỏ mới khởi động, ngạc nhiên một cách dễ chịu khi nghe tiếng hát Ý lan chợt cất lên từ đài phát thanh: “… Người dẫu xa, tình thiết tha, hoa ơi có biết lòng ta nhớ người?” Bài hát nghe lần thứ hai, vẫn chưa biết tên tác giả, đánh thức trí nhớ tôi chập chờn ngủ quên hơn mười năm qua, cho tôi thấy lại giữa những giòng xe xuôi ngược trên con đường Harbor đông đúc chiều cuối tuần, khung cảnh khi tôi nghe đúng câu này lần đầu. Thời gian ấy, tôi mới dọn vào căn chung cư trên đường Garden Grove. Đêm hôm đó, tình cờ thấy mình đứng trước cửa sổ phòng ngủ không kéo rèm, ngước nhìn lên bầu trời trên cao trắng đục màu sữa loãng, chơi vơi một vầng trăng tròn lạnh băng màu nguyệt bạch, lòng bỗng dưng nghe ra chừng như thiếu vắng một người.



Nhạc  sĩ Trần Duy Đức (Hình Hoàng Khai Nhan)

Đêm sâu hút vì không gian tuyệt đối thinh lặng. Những tán lá phong đứng yên không động cựa và ánh trăng mênh mang, lạnh lẽo, như một nỗi buồn hóa đá… Hoa ơi, có biết lòng ta nhớ người? Hóa ra, âm nhạc là tiếng nói của thân phận. Khi phóng chiếu về tương lai, nó vẽ ra những giấc mơ thần tiên. Khi la đà quay về vùng trời quá khứ, nó là một thứ hồi quang làm sống lại một kỷ niệm, một quãng đời nào đó gắn bó với người nghe. Cho nên, âm nhạc là một hạnh phúc ngọt ngào, một khổ đau êm ái được hát lên và không thể thiếu trong đời sống nhân gian. Tuổi nào cũng yêu mê và đón đợi âm nhạc. Của một bắt đầu long lanh huyền thoại. Của một kết thúc dù buồn vui cũng đẹp như cổ tích. Âm nhạc sống giữa loài người và sống lâu hơn đời người. Nhiều thế hệ nhạc sĩ sáng tác làm nên tuổi xuân bất tận của âm nhạc. Nhiều thế hệ người hát nối tiếp nhau thắp ngọn lửa không bao giờ tàn của âm nhạc. Hí viện không bao giờ ngưng bán ra những lượt vé và “những con ma trong nhà hát” không bao giờ thôi ám ảnh người nghe.

Vợ chồng nhạc sĩ Trần Duy Đức - Nguyệt Hạnh


Tuần lễ trước đến chơi với con cháu, cô con gái hào hứng hỏi mẹ: “Mẹ đã nghe Tùng Dương hát bao giờ chưa?” Lục lọi thật nhanh trong trí nhớ, không thấy tí tăm hơi nào về hai chữ Tùng Dương, con người hay chỉ nghệ danh. Lắc đầu. Cô càng hào hứng: “Mẹ chờ chút, con cho mẹ xem.” Lúc sau này, tôi hơi lấn cấn về hai chữ “nghe” và “xem” khi ai đó nói với tôi về âm nhạc. Loay hoay mãi mới nghiệm ra câu trả lời cho mình. Người ta thường nói “Đi xem đại nhạc hội” và “Đi nghe nhạc thính phòng.” Rất rõ ràng. Đi “xem” phải mở to hai mắt nhìn tả hữu, thưởng thức ngoại hình, trang phục, các động tác của người trình diễn kể cả người phụ diễn và cảnh trí sân khấu. Đi “nghe” hát thì nghe là chính. Mỗi thính giả là một ốc đảo, có khi mắt nhắm lại để tâm hồn nương theo tiếng hát, tìm về một không gian, một cuộc tình, bốn mùa xuân hạ thu đông, một ngày nắng, một chiều mưa, một bến tàu, một sân ga, một gặp gỡ, một chia tay, ôi thôi, biết bao cảnh ngộ trong đời mà người nhạc sĩ sáng tác đã sống qua, đã sống giùm để thể hiện giùm, để người ca sĩ hát lên những riêng tư mà cũng rất chung ấy, những khoảnh khắc thời gian mong manh mà cũng thiên thu ấy, để cái sân khấu nhỏ của mỗi thính chúng buông màn đã lâu, sống lại trên cái sân khấu lớn ấm áp đèn màu và giai điệu… Nhạc sĩ và ca sĩ được nhân quần ưu ái vì sự hy sinh chấp nhận mình bị tan biến trong cảm xúc tuôn trào của người nghe. Họ không là ai cả nếu không là những nốt nhạc, là tiếng hát đem theo nó những ve vuốt, những thổn thức, những nhớ thương tràn trề như cơn giông mùa hạ tắm gội ký ức; như cơn mưa mùa thu nhỏ giọt hàng hiên xoáy vào kỷ niệm; như cơn lũ cuốn trôi mọi ưu phiền sau một thời kinh Bát Nhã hay một buổi dọn mình xưng tội và được giải tội trước tòa.



Nguyệt Hạnh và Nhạc sĩ Trần Duy Đức (trái)

Một hôm, chuông điện thoại reo. Đầu giây bên kia là tiếng nói của Nguyệt Hạnh kèm với tiếng cười nhẹ: “Chị H. ơi, chị tệ thì thôi, làm sao mà chị không nhớ tác giả của bản nhạc “Hoa ơi có biết lòng ta nhớ người?” Tôi thấy ngực nhói khẽ, thảng thốt: “Vậy là anh Đức ư?” Nguyệt cười thành tiếng, có chút mãn nguyện: “Anh Đức phổ thơ Nguyễn Dũng Tiến đó chị!”

Tôi biết nhạc sĩ Trần Duy Đức, chồng Nguyệt Hạnh và Nguyệt Hạnh ngoài 20 năm, cũng từ một buổi nhạc thính phòng ấm cúng chia sẻ với bằng hữu những bản nhạc sáng tác hoặc phổ thơ nổi tiếng một thời của anh: Khúc Mưa Sầu, Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi, Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời, Em Hiểu Vì Đâu Chim Gọi Nhau, Nếu Có Yêu Tôi và nhiều nhiều nữa. Tất nhiên có cả Hoa Ơi Có Biết Lòng Ta Nhớ Người…

Tuy không thực sự có nhiều dịp gặp gỡ nhau nhưng vài lần gặp hiếm hoi để lại trong tôi ấn tượng khó quên. Anh tiếp đón bạn bè khiêm cung, giản dị nhưng trau chuốt từng lời nói, cử chỉ, của một người cầu toàn, có lẽ cùng một cung cách thận trọng như khi anh chọn một bài thơ để hát lên với những âm giai lộng lẫy nhất. Anh không có một gia tài sáng tác đồ sộ nhưng những gì anh có thể hiện trọn vẹn tình yêu cái đẹp không chỉ của người nhạc sĩ, người nghệ sĩ vui chơi giữa cuộc đời mà của một điêu khắc gia say mê khắc chạm cảm hứng của mình lên đá quý.

Trong căn nhà nhỏ có khung cửa sổ đong đưa những nhánh hoa leo, bên người bạn đời cùng sống giấc mơ âm nhạc không biết đến phai tàn, ngày tháng về chiều của lứa đôi dệt bằng cảm xúc chứa chan trong thinh lặng. Của những thanh âm, những tiếng hát vẫn mãi vút cao, vẫn mãi chìm sâu, lồng lộng bay lên, ngậm ngùi lan tỏa, đâu đó, là màu nắng lạ, cơn mưa lạ, vầng trăng lạ, trong một không gian như có giây tơ, bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu, êm êm chiều ngẩn ngơ chiều, mênh mông, không còn một thứ gì hiện hữu ngoài âm nhạc ru lòng tan chảy…

Giữa cuộc sống nhọc nhằn, cảm ơn Thượng đế đã ban cho loài người tiếng nói, cho hàng cây tiếng chim hót, cho vũ trụ tiếng suối reo, tiếng gió vi vu, tiếng mưa thì thầm, tiếng biển vỡ trên ghềnh đá…để trái tim người nhạc sĩ rung động viết thành giai điệu ngợi ca cuộc sống. Thời gian bào mòn mọi thứ ngoại trừ tiếng nói đẹp nhất của trái tim nhân loại ở tuổi hai mươi được hát lên, được đóng khung trên năm giòng kẻ You told me you love me, when we were young one day…

Riêng tôi, ở tuổi không còn nhớ gì nhiều, vẫn còn một thanh âm ở lại bền chặt trong ký ức, được nghe lại, rất xa xăm, mỗi đêm trước giờ đi ngủ: tiếng con chim từ quy gọi bạn đến khàn hơi từ bên này rừng chiều Bạch Mã bay về bên kia rừng và chỉ gặp lại chính nó lúc hừng đông, cho một ngày chờ đợi khác.

Bùi Bích Hà

Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời
Nhạc: Trần Duy Đức
Thơ: Du Tử Lê

https://www.youtube.com/watch?v=v_CQnRdxYtw

Chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn
Nói gì kiếp khác, với đời sau...


NẾU CÓ YÊU TÔI
Nhạc: Trần Duy Đức
Thơ: Ngô Tịnh Yên

https://www.youtube.com/watch?v=_DQbxDXkCuQ
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Âm Nhạc và Trái Tim - Bùi Bích Hà   

Về Đầu Trang Go down
 
Âm Nhạc và Trái Tim - Bùi Bích Hà
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến