Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
nghia trai Thầy cong quan nguoi thuy Ngày ngoc nhung phung tien pham huyen sinh HUNG viet PHAT thanh nguyen rang nghe lang mien thang cuoc
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
nguyennhung



Posts : 25
Join date : 12/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Sat May 19, 2012 9:31 am


HẠT CÁT

Truyện Ngắn Nguyên Nhung


Xin mời click vào link dưới đây để nghe truyện ngắn HẠT CÁT của NN

do chính tác giả đọc:

http://soundcloud.com/nguyen-nhung-1/hat-cat

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Thu Dec 04, 2014 7:15 pm


Sứ Giả Của Tình Yêu


Truyện ngắn Nguyên Nhung


Khi đứa cháu ra đời thì sự căng thẳng giữa hai ông bà tạm thời lắng xuống, tự nhiên cả hai cùng có ý nghĩ phải giữ gìn vì đứa con dâu vừa ở cữ còn nằm trong nhà. Đã nhiều lần bà nổi cáu định hét lên với ông như mọi bận, nhưng rồi lại nén kịp khi nghe đứa cháu ọ ẹ trong phòng mẹ nó.

Dạo trước họ cãi nhau luôn,chả có chuyện gì quan trọng ở cái tuổi gần sáu mươi ấy nữa.Nhưng thật là kỳ cục, có những chuyện ngày còn trẻ họ dễ dàng tha thứ cho nhau, nay đến lúc tuổi già, ông nói một câu bà trả lời ngay một tiếng, thế là cái tức nó cứ ngùn ngụt dâng lên tận họng như ngọn núi phun lửa.

Nguyên nhân cũng dễ hiểu, chẳng là ông đã trải qua nhiều năm phải im lặng ở trong tù, lúc được về, vẫn cái thân “cá chậu chim lồng” nên đành nín thở qua sông” vậy. Bây giờ được dịp nói, ông nói cho hả những lúc phải "ngậm miệng cười ruồi" cho cái nhân tình thế thái đảo điên. Tuổi già thường quay trở về dĩ vãng, mỗi lúc nhàn rỗi nó lại hiện về mồn một như cuộn phim, bởi vậy trong ông lại sống dậy một người trẻ tuổi của mấy chục năm trước, ông muốn phục hồi quyền “công dân” cho mình, bằng cách lúc nào có dịp là lại bắt đầu câu chuyện bằng hai chữ “ngày xưa”. Ngày xưa thế này, ngày xưa thế nọ, lũ con ông chỉ cười rồi bỏ đi, có đứa nào muốn nghe mãi chuyện "ngày xưa" của ông. Chỉ có mỗi mình bà lúi xúi suốt ngày ở trong nhà, cái chuyện “ngày xưa” của ông thì bà còn lạ gì nữa. Thét rồi bà cũng nhớ, cái ngon lành của ông ngày xưa thì bà nhớ ít, còn những cái kỳ cục ngày xưa của ông thì bà nhớ nhiều, bởi vậy hễ ông mở miệng là bà chẹn họng, họ cãi nhau là vậy.

Thằng con trai đầu lòng lấy vợ muộn cho nên ông bà chậm có cháu, bởi vậy sự ra đời của đứa nhỏ là niềm vui cho cả gia đình. Lúc mới đẻ nó giống mẹ như khuôn, từ đôi mắt cho đến cái miệng, bà chỉ thấy có mỗi “cái ấy” của cháu là giống bố, vì nó là con trai. Bên này, trẻ con được bọc tã suốt ngày, chứ ngày xưa thằng bố nó cứ chổng lên trời mà phun nước, có khi vọt ngược bởi cú giơ chân, mặt mũi ướt tèm lem cả.

Ðược bốn, năm tháng thằng bé bụ bẫm hẳn ra, mớ tóc tơ loăn xoăn, mượt mà phủ lấy cái đầu to, cả nhà quả quyết thằng bé thông minh, như nhà bác học to đầu đã đem ánh sáng đến cho nhân loại. Càng lớn trông thằng bé lại càng dễ thương, đôi mắt to có vẻ mơ màng dưới hàng mi cong, chiếc môi cũng hơi cong tạo nên một vẻ nũng nịu rất dễ yêu, lúc này bà lại thấy cháu giống y bố nó hồi còn bé. Phân tách riêng từng phần, thằng bé có vẻ giống mẹ, nhưng cứ tổng hợp tất cả lại, thằng bé lại giống bố, bố nó lại giống ông nội nó.
Ái chà! Hễ nhắc đến ông nội thằng bé, bà không thể nào không nhớ lại hình ảnh ông những ngày còn trẻ, dạo ấy ông không lẩm cẩm và khó chịu như bây giờ. Của đáng tội, cũng chỉ lẩm cẩm và khó chịu mấy năm nay, chứ lúc còn trong tù, rồi cho đến lúc ra, tính ông vẫn xuề xòa, dễ thương sao cũng được, chứ không làm sao bà chịu nổi, để có ngày vợ chồng con cái có cơ hội dẫn nhau đi Mỹ.

Mỗi lần nhìn cháu, bà như nhìn thấy hình ảnh thằng bố nó lúc còn bé, cũng vầng trán vuông vắn, sáng rỡ, nụ cười trẻ thơ toác ra khoe mấy chiếc răng sữa, rồi cả mùi thơm trên đôi má phính, cái nào nó cũng làm bà xúc động hết. Thằng nhỏ thông minh thật, biết bà nội cưng nên cứ giẫy nẩy trong chiếc xe nôi, nó ngoác mồm la nhưng không chảy nước mắt. Bà sốt ruột bế cháu lên:

“Thằng bố mày, nặng gì mà nặng gớm, vẹo cả xương sườn bà đây.”

Nói thế thì nói, một tay bà nách cháu, một tay bà quậy xoong bột trên bếp. Thằng bé nín khóc, nó ngửi thấy mùi bột thơm và cả mùi nước mắm nữa. Món khoái khẩu đấy, không biết Tây Mỹ nêm nếm bằng gì, chứ hễ quậy bột cho cháu bà luôn nêm vào một tị nước mắm.

Thằng cháu ăn mãi đâm ghiền, hôm nào mẹ nó ở nhà cho ăn mấy hũ "baby food" bán ngoài chợ, nó vừa ăn vừa phun phèo phèo. Bà biết cháu bà mà, nó thèm ăn tỵ nước mắm thôi!

Hai vợ chồng bận đi làm cả, sợ phiền ông bà nên muốn đem thằng bé gửi “Day Care”, nhưng ông bà nhất định không chịu. Già rồi, ở nhà làm gì không giữ cháu, nhất là buổi sáng bố mẹ nó đi làm sớm quá, những ngày Ðông trời rét căm căm, nhìn thằng bé trong chiếc khăn to xù đi nhà trẻ mà cứ thương đứt ruột. Quan niệm “nước mắt chảy xuống” của cha mẹ Việt Nam đã không cho người già những giây phút nghỉ ngơi riêng tư, đám trẻ ngày nay mấy đứa đã hiểu cho sự hy sinh ấy, cứ cho là chuyện tự nhiên. Có “thức lâu mới biết đêm dài”, cha mẹ càng ngày càng già, thời gian đã cướp đi gần hết sinh lực để héo queo như một quả cam kiệt nước, còn lại cái vỏ không muốn rụng lúc nào chả được.

Từ dạo có cháu ông đã bớt nói nhiều, mấy lần định ca cẩm chuyện gì, thằng cháu lại tưởng ông nói chuyện với nó nên toét miệng cười, ông lo ầu ơ với cháu nên quên ngay những cái bực mình vẫn thường xảy ra trong nhà. Sự ra đời của đứa cháu như mở màn cho một thế hệ tiếp nối bằng tiếng khóc, tiếng cười của trẻ thơ, nó khiến lòng ông vui vẻ để bớt ngậm ngùi dĩ vãng. Ông như cây thông già, thỉnh thoảng có gió thổi qua lại reo lên với đất trời, để rồi lại làm cái bóng lặng lẽ che cho người lữ khách ven đường. Ðứa cháu ông như cái bóng của ông ngày nào, nó đã được sinh ra để thắt lại tình cảm có vẻ đã rời rã, cằn cỗi theo tuổi đời của ông bà nó, vun đắp tình yêu của bố mẹ nó thêm bền chặt, và là cái mầm non sẽ nẩy thành lá, thành hoa cho gia đình ông.

Lòng yêu cháu đã khiến ông phải hy sinh nhiều thứ, dù nhỏ nhặt nhưng khi phải từ bỏ một thói quen đã lâu, quả ông cũng phải tranh đấu với bản thân dữ dội lắm. Dạo trong tù, không có thuốc lá để hút, ông và các bạn đã phải thay thế bằng những “bi” thuốc lào hiếm như vàng. Mùa Ðông lạnh, nhớ vợ con không ngủ được, bên đống củi sưởi ấm của nhà tù miền Bắc, ông và bạn tù say lâng lâng hơi thuốc lào để quên đi phần nào nỗi đớn đau, nhục nhằn nơi sơn lâm, chướng khí, cái rét buốt của tâm hồn âm ỉ nhưng mãnh liệt, tàn khốc hơn cả cái rét buốt của mùa đông.

Nay nghe cả nhà nói xa, nói gần về mùi khói thuốc luẩn quẩn trong căn nhà hẹp, ảnh hưởng không tốt đến cơ thể đứa cháu yêu, cũng như chính cơ thể ông. Không ai bảo ông bỏ thuốc nhưng tự ông thấy mình phải bỏ, khi nhìn đứa cháu bụ bẫm, dễ yêu thế kia, mà lúc nào ông cũng muốn đặt lên đôi má phúng phính ấy những nụ hôn, đã phải thở hít mùi khói thuốc không lấy gì thơm tho , trong diện tích chật chội cuả căn chung cư, khiến ông phải suy nghĩ. Ông bỏ thuốc thật, cả nhà ai cũng ngạc nhiên, lúc đầu thật khó chịu, lạt mồm, lạt miệng, lơ ngơ, bần thần như người mất hồn.

Dân ghiền thuốc có câu:
      
“Nhớ ai như nhớ thuốc lào,      
Ðã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”.

Ông vứt điếu vào thùng rác, rồi có lúc tưởng phải đi mua ngay một chiếc khác, nhưng chỉ cần nhìn thằng cháu bi bô gọi ông, gọi bà, giụi mái tóc tơ vào ngực ông là ông có đủ can đảm bỏ tất cả, kể cả phù vân ảo ảnh cuộc đời , cũng vì sức khỏe của cháu. Ôi! Những “giọt nước mắt chảy xuống” có ông là người tiêu biểu, để sẽ thấy lòng yêu thương của ông bà, như giòng suối róc rách từ trên đỉnh núi chảy về dòng sông.

Những ngày cháu mọc răng, những lúc cháu ấm đầu khóc cả ngày, bố mẹ nó mệt ít mà ông bà mệt nhiều. Suốt ngày bà băn khoăn sờ đầu cháu, hôn lên vầng trán phẳng phiu của đứa bé để ước định nhiệt độ trong cơ thể nó. Thằng bé cự nự vì khó chịu trong người, có lúc bà ao ước được ốm thay cho cháu, để biết được nó đau ở chỗ nào và đau làm sao, vì thằng bé chưa biết nói. Nói thế thôi, chứ bà mà lăn ra ốm là nguy to, lấy ai cơm nước, lấy ai vỗ về thằng bé, công việc của bà tuy không làm ra tiền, nhưng linh tinh suốt ngày chưa chắc ai đã làm nổi.

Thời trẻ tuổi, cũng như bao nhiêu người đàn ông khác, thành công của họ được đánh giá bằng sự ngưỡng mộ của phụ nữ, cho nên ông cũng thích thú với những mối tình văn nghệ của mình, để bà cứ ấm ức mãi đến tận bây giờ. May cho ông, lúc tù tội bà không bỏ rơi, vẫn thăm nuôi đầy đủ, con cái ăn học đàng hoàng, chứ còn cái đám “mèo mả gà đồng” kia, nó biến ngay từ lúc ông rũ áo phong sương với mai vàng, mai bạc, để trở thành người không chỗ đứng trong xã hội. Bây giờ ông mới biết thương vợ, vì ngày còn trẻ, ông chưa thấy thích thú lắm để lúc nào cũng quấn quýt bên vợ con, ông mặc kệ bà với lũ con, như đấy là bổn phận của bà, cho nên ông không nhìn thấy cái vất vả của người phụ nữ trong trách nhiệm làm vợ và làm mẹ.

Từ lúc có cháu ông mới thấy thương bà hơn, mới thấy cần phải đỡ đần công việc nhà cho vợ. Dạo trước, cứ ăn xong là ông “khểnh” ra đọc báo, xem Tivi, uống trà để rồi lại bắt đầu e hèm câu chuyện “ngày xưa”. Nhiều lần cãi nhau cũng chỉ vì chuyện ấy, mặt sưng mày xỉa với nhau đôi ngày rồi thì vẫn cơm chung một niêu, ngủ chung một giường để tha hồ "đồng sàng mà dị mộng". Bây giờ thì ông đã hiểu tại sao bà hay chẹn họng ông, chống lại ông vì không thể nghe nổi một câu chuyện nói đi nói lại hằng trăm lần.

Hôm nay, có người mời ông đi ăn cưới, ông loay hoay tìm đôi giày mà không thấy đâu. Hôm nọ, thằng cháu mới lẫm chẫm biết đi cứ xỏ chân nghịch đôi giày vía của ông nội, bà sợ hỏng đã cất đi chỗ khác, rồi quên. Tìm không được, ông đâm bực mình:

“Lạ thật, nhà có đàn bà mà cái gì cũng mất.”

Bà đang ngồi trông cháu, nghe được đứng phắt dậy, lâu lắm rồi ông bà không cãi nhau:

“Ðàn bà, cái gì mà đàn bà, không có đàn bà đã chả được thế.”

Cuộc đấu khẩu sắp có phần dữ dội thì “huỵch” một phát, thằng nhỏ ngồi trên “sofa” ngã chúi đầu xuống đất, khóc ré lên. Cả ông lẫn bà cùng đổ xô đến, sót sa ôm lấy cháu, ông cũng quên mà bà cũng quên, không nghĩ đến chuyện cãi nhau.

Nguyên Nhung


Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Sat Dec 06, 2014 11:06 pm




Con Búp Bê Tật Nguyền
 
Khi gió mùa Đông Bắc phả hơi giá lạnh lùng vào mảnh vườn hiu hắt, đầu tháng Mười Hai của mỗi năm, là tôi lại chạnh nhớ đến những mùa Giáng Sinh ngày thơ ấu. Lạ một điều là trong đáy lòng tôi bỗng ấm lại, có phải chăng khi nhớ lại những kỷ niệm đẹp của thời thơ dại năm nào, khiến tôi quên mất là mình không còn trẻ nữa. Cảm giác mỗi mùa Giáng Sinh tuyệt vời đến nỗi, tôi tưởng như mỗi năm một lần, mình lại là đứa trẻ thơ mới lên tám tuổi, hình ảnh con búp bê tật nguyền lại chập chờn trở lại trong trí nhớ, y như năm nào tôi còn bế nó trên tay.

Chuyện quả thật không có gì đối với những con búp bê hằng hà sa số trong các tiệm buôn ở thành phố, món đồ chơi của hầu hết những đứa bé gái trạc tuổi tôi độ ấy, vậy mà chị em tôi thèm thuồng mơ ước mãi. Cho đến một chiều kia, mẹ tôi sau khi nấu xong mẻ cao hổ cốt, vừa khô mặt đã được cắt ra từng lạng vuông vức, gói trong giấy bóng kính là vội vã đi giao hàng cho các nhà quen ở xa. Chị em tôi thơ thẩn trước sân chờ mẹ, lòng nôn nao chờ đợi vì hôm đó là một chiều gần áp lễ Giáng Sinh. Tiếng chuông chiều ngân vang giục giã bóng chiều đổ xuống những mái tranh nghèo leo lét ánh đèn dầu, lúc ấy mẹ tôi mới tất tả trở về, tay xách cái giỏ mây đựng dăm thứ thức ăn mua vội ở chợ chiều phương xa.

Hai đứa trẻ con xán lại cái giỏ mây của mẹ đợi chờ. Bao giờ cũng thế, mỗi lần đi chợ xa về, mẹ tôi thường mua cho các con một ít kẹo lạc, giỏ trứng cá thu nướng để kho tương rất ngon, và đặc biệt là chị tôi dặn dò mẹ mua cho một ít kẹo bạc hà gói bóng kính để trang hoàng cây giáng sinh, thay cho những trái châu xanh đỏ. Cây giáng sinh của chúng tôi chỉ là một nhánh dương xỉ nhặt được ở khu nhà thờ, khi người ta đến đó trang hoàng cho hang đá, những cành nhỏ được chặt bớt đi, và đám trẻ con lại nhặt nhạnh đem về để làm cây Giáng Sinh.

Hôm ấy có lẽ là buổi chiều hạnh phúc nhất của chị em tôi, khi mẹ tôi lôi từ đáy giỏ mây ra một gói nhỏ được bọc cẩn thận bằng giấy báo, chúng tôi cùng hớn hở nhận món quà bất ngờ trong buổi chiều áp lễ Giáng Sinh. Đó là một con búp bê đã cũ, được thải ra từ đống đồ chơi ngồn ngộn của bé Lan, con gái cưng của cậu mợ tôi đang sống ở thành phố.

Trong niềm hân hoan vui sướng, khi đặt con búp bê đứng trên mặt bàn, tôi mới phát hiện ra đó là một con búp bê tật nguyền, một cái chân lỏng lẻo đung đưa không thể nào đứng được như con búp bê của con Nhuần , bạn tôi. Nó là đứa duy nhất có được một con búp bê trong đám bạn nghèo cùng lứa tuổi, vì thế nhà nó lúc nào cũng có mấy đứa trẻ con xúm xít mong đợi được bế con búp bê trên tay. Vì được làm chủ một món đồ chơi đắt giá như vậy, nên con Nhuần cũng chỉ cho đám bạn nhỏ chơi ké tùy theo sự vui, buồn của nó, tùy theo giá trị của những chiếc bánh hay cục kẹo, củ khoai mà bọn con nít như tôi đem đến tặng cho nó để lấy lòng.

Thấy mặt tôi tiu nghỉu buồn so vì con búp bê què chân, chị tôi an ủi:

“Cái chân nó què nhưng mặt nó xinh lắm em ạ, để chị rửa mặt cho nó nhé!”

Rồi chị mau mau đi lấy cái khăn ướt lau mặt cho con búp bê, trông làn da nó có vẻ sáng lên được một chút. Nghe chị nói tôi cũng thấy vui vui, nhoẻn miệng cười. Chị lại bảo:

“Thôi vậy là em không phải lên nhà con Nhuần nữa, dù sao nó cũng là của mình, nếu nó không què chân thì bé Lan đâu có thải ra cho chúng mình đâu.”

Thế là hai chị em quên cả ăn cơm, nghĩ đến cách chữa cái chân què cho con búp bê, bằng cách dùng một sợi dây thun cột cái chân què vào cái khớp của thân búp bê, bây giờ thì nó cũng tạm đứng được, nhưng dáng đứng lại cứng như que củi, vẫn xiêu vẹo trông rất tội nghiệp. Chị tôi nghiêng đầu nhìn con búp bê, rồi lại nói với tôi:

“Thế cũng đẹp chán rồi em ạ. Ngày mai mình sẽ đi xin vải vụn về may quần áo mới cho nó để mừng lễ.”

Ngày giáp lễ Giáng Sinh năm đó, chị em tôi suốt ngày bận rộn với con búp bê tật nguyền. Trước tiên tôi lân la sang nhà cô Xuân thợ may, xin được những mảnh vải vụn rất đẹp để may quần áo cho con búp bê, cái váy đầm cũ xì của nó lem luốc như váy của cô bé lọ lem. Khi được mặc bộ quần áo mới trông nó xinh hẳn ra, dù không đứng được ngay ngắn và chỉ nằm suốt ngày, nhưng nó có vẻ đẹp rất dễ thương, đôi mắt khép hờ với hàng mi cong, he hé mở như chưa ngủ say, và nhất là cái miệng thì hình như luôn mỉm cười kể cả trong giấc ngủ.

Ban đêm, hai chị em lại đem con búp bê tật nguyền lên giường để ngủ chung, tưởng tượng nó là một em bé vẫn thường được mẹ săn sóc suốt ngày ở những nhà có trẻ con. Khi thì giả bộ cho em ăn, lúc sờ đít để thay tã, con búp bê nằm giữa như một đứa em được che chở bởi hai bà chị rất chăm chỉ khi mẹ vắng nhà. Buổi tối khi mẹ tôi còn quanh quẩn dọn dẹp nhà cửa, tôi ôm con búp bê tật nguyền trên đôi tay măng non của mình, mơ mộng nghĩ đến một khung cảnh ấm cúng, thần tiên nào đó, chị tôi lấy sách ra đọc truyện cho em nghe:

“Ở một miền xa xôi nơi đồng quê nước Pháp, có một xứ đạo rất nghèo với một ông cha già và một con chó cũng già. Xứ đạo nghèo lắm nên cha xứ quanh năm cũng chỉ được ăn bánh mì đen quết bơ, với thứ “soup” nấu bằng bắp cải và hột đậu khô. Con chó cũng chỉ được ăn như thế, và nó suốt ngày luẩn quẩn đi theo gót chân ông cha xứ già như hình với bóng.

Mùa Đông năm ấy trời rất lạnh, ngôi giáo đường với cái gác chuông xập xệ chìm khuất trong màn sương đục như sữa, im vắng không đèn nến vì các nhà giáo dân nằm rải rác trong thung lũng xa xa, đời sống của họ cũng không khấm khá bao nhiêu nên tuy là buổi chiều áp lễ Giáng Sinh, nhà nhà cửa nẻo đóng kín với ánh đèn âm u. Những căn nhà gỗ mốc thếch chắc chỉ còn người già và trẻ con, lớp người trẻ trong làng lâu nay đã túa đi tìm việc trên những đô thị xa, nơi ấy có những ngôi nhà thờ đông người đèn nến sáng trưng như sao sa, họ vui chơi cả đêm với rượu ngon thịt béo, nhân dịp kỷ niệm ngày Chúa sinh ra đời.

Ông cha xứ già sống hiu quạnh với con chó già như một người bạn thân thiết nhất trong đời ông. Nhìn đất trời ảm đạm trong một chiều áp lễ Giáng Sinh, ông buột miệng than thở:

“Lạy Chúa! Người ta bỏ rơi Ngài và bỏ rơi con trong cái ngôi nhà thờ miền quê khốn khổ này, chỉ vì nơi đây không có đèn đuốc hoa đăng sáng trưng như những nơi khác. Người ta đi tìm Chúa trong cung điện nguy nga, vì nghĩ rằng chỉ có nơi đó mới là nơi Ngài ngự trị.”

Ông cha già thẫn thờ lẩm bẩm nói một mình, nhìn bóng tối âm u dần ập xuống ngôi nhà thờ quạnh vắng, lòng cha rưng rưng nhớ lại suốt quãng đời linh mục của mình. Đành rằng khi quyết định dâng hết cuộc đời cho lý tưởng để phục vụ Thiên Chúa, đem khả năng và yêu thương đến với tha nhân, nhưng đứng trước sự hững hờ của thế nhân, và sự đào thải của kiếp người, Cha vẫn cảm thấy nao nao buồn vì nỗi đơn côi của ông cha già bị bỏ rơi nơi xứ đạo nghèo. Nhưng đâu phải vì vậy mà đêm nay cha cũng bỏ buổi lễ đêm hằng năm để không đón mừng con Chúa đến với nhân loại, cho dù chỉ còn mình cha và con chó già nằm khoanh chân dưới gầm bàn trốn lạnh.

Ngoài trời gió rét căm căm, từ thung lũng gió luồn qua cây để hú lên những tiếng thở dài trong đêm tối với một bầu trời không trăng sao, nhìn ra xa xa là ánh lửa leo lét từ những chuồng nuôi gia súc, loài vật cũng không chịu nổi cái giá rét của đêm đông nếu không được sưởi ấm. Cuối cùng, vị linh mục già quyết định dù chỉ có một mình, cha vẫn phải dâng lễ để đón mừng Lễ Giáng Sinh như mọi năm.

Không còn ai kéo những hồi chuông báo giờ lễ đã đến, vì ông từ ngôi nhà thờ này cũng đã theo Chúa từ độ mới sang đông hồi tháng mười trong năm, cho nên tất cả việc lớn nhỏ trong ngôi nhà thờ làng cha đều kiêm nhiệm hết. Mặc thêm chiếc áo dạ cũ, cha run rẩy leo lên chiếc thang gỗ thấp của tháp chuông, con chó già cũng lẽo đẽo theo sau. Bằng tất cả sức lực còn lại trong tấm thân héo hắt của tuổi già, không hiểu có một sức mạnh thiêng liêng nào đến với ông, tiếng chuông cô đơn bắt đầu ngân lên giữa màn đêm thanh vắng.

Tiếng chuông đổ hồi rộn rã, dồn dập vang lên khắp thung lũng trong màn sương dầy đặc, như đánh thức trái tim những người giáo dân trong xứ nghèo khiến họ choàng tỉnh và lắng nghe. Rồi họ chợt nghĩ đến những mùa Lễ Thánh hằng năm, tiếng hát tiếng chuông hòa vào nhau để vang xa đến các thôn làng, những ngôi nhà thiếp ngủ trong đêm đông lạnh giá. Họ cũng chợt nhớ ra rằng có một ông cha già bị lãng quên trong cái nhà xứ ẩm ướt thiếu thốn trăm bề, không hiểu sao đêm nay phép lạ nào mà hồi chuông giáo đường lại nhịp nhàng ngân lên từng hồi rộn rã, tiếng chuông càng lúc càng dồn dập một âm điệu vui tươi như muốn đem một niềm hy vọng, xóa tan bóng tối âm u cho những cảnh nghèo vạc mặt.

Ôi! Dù có thế nào chăng nữa cũng không thể bỏ rơi Chúa hài nhi bé nhỏ trong ngôi nhà thờ cũ kỹ dột nát, không thể bỏ rơi ông linh mục già ốm đau với con chó già cũng tang thương như chủ nó. Thế rồi khi cửa nhà thờ mở hé, những ngọn nến trắng bập bùng trên cung Thánh, ông cha xứ già thấy lác đác có những bóng người chằng đụp khăn áo quỳ dưới những hàng ghế, và khi cha vừa cất giọng khàn khàn bài ca Vinh Danh thì ngôi nhà thờ miền quê đã vang lên tiếng hát rộn ràng, nhiều âm điệu pha trộn vào nhau để trở thành một bản hòa tấu không cần tiếng đàn phong cầm phụ họa.

Ông cha già dâng lễ trên bàn thờ nghẹn ngào với đôi mắt đẫm lệ, ngỡ như Chúa đã làm phép lạ để tăng sức cho cha giựt nổi những hồi chuông cô đơn trong đêm tối. Ôi những hồi chuông cô đơn đã biến thành những hồi chuông reo vui, đã đem lại bầu sinh khí và niềm hy vọng trong những mái nhà gỗ xiêu vẹo, nằm rải rác trong khu thung lũng buồn hiu, nơi con người phải chống trả với bao nhiêu khắc nghiệt của thiên nhiên và thời tiết để đời sống được tồn tại. Những giọt nước mắt cứ thi nhau rơi trên đôi má nhăn nheo của ông linh mục già tội nghiệp.”

Câu chuyện về tiếng chuông cô đơn của ông cha xứ già mà chị tôi đọc trong mùa Giáng Sinh năm ấy, vẫn không bao giờ phai nhòa trong ký ức của tôi. Đêm đó ngọn nến trắng hắt ánh sáng lung linh bập bùng lên nhánh dương xỉ, có treo những chiếc kẹo bạc hà đủ màu thay thế cho những trái châu xanh đỏ, chị tôi chăm chỉ đọc sách, còn tôi thì im lặng lắng nghe, trên tay nâng niu con búp bê tật nguyền với tất cả tấm lòng trìu mến của một đứa trẻ thơ. Những giọt lệ long lanh rớt xuống đôi má bầu bĩnh của tôi, rồi rơi xuống khuôn mặt xinh đẹp của con búp bê đang say sưa ngủ, nhưng đôi môi kia vẫn hé nở một nụ cười. Chắc nó không bao giờ biết buồn mặc dù bị một cái chân què quặt không đứng vững trên mặt bàn. Rất thơ ngây tôi hỏi chị:

“Như vậy đâu phải chỉ có nhà mình mới nghèo phải không chị?”

Chị tôi gật đầu, mới hơn mười tuổi nhưng vì nhà nghèo nên trông chị có vẻ khôn ngoan trước tuổi, và cũng vì nghèo nên chúng tôi biết an phận với hoàn cảnh trong niềm vui của một gia đình đơn sơ nhưng êm ả vì có mẹ tôi đảm đang lo toan tất cả. Tôi nghĩ đến con búp bê tật nguyền đang thiếp ngủ, nó ngoan lắm và ngủ suốt ngày trên tay tôi, chỉ tội nó không đứng được bình thường như những con búp bê khác. Tôi ao ước:

“Giá như Chúa thương mà làm phép lạ cho con búp bê của mình đừng què nữa chị nhỉ?”

Chị tôi ngồi im lặng, trầm ngâm nhìn ánh nến lung linh tỏa sáng khuôn mặt xinh đẹp của con búp bê tật nguyền. Nghĩ sao, chị bảo tôi:

“Chắc là mai sau Chúa sẽ làm phép lạ cho chị em mình nhiều con búp bê thật xinh đẹp. Phải vâng lời mẹ, chịu khó học, mai mốt chị lớn lên đi làm có tiền, sẽ mua cho em con búp bê thật đẹp nhé!”

* * *

Đúng như lòng mơ ước của chị em tôi trong đêm Giáng Sinh hồi tôi lên tám tuổi, mẹ tôi đã thoát ra được cảnh đời gian nan, vất vả ấy vì có những may mắn bất ngờ đưa đẩy đến. Ngày chiến tranh bò vào thôn xóm quê mùa đó, anh tôi đón cả nhà về một thành phố phồn thịnh ở miền Tây, chị em tôi lớn lên trong tuổi thanh xuân với không khí của bao nhiêu mùa Giáng Sinh an bình nơi phố thị. Khi dời nhà đi nơi khác, chúng tôi đã lớn rồi, con búp bê tật nguyền được cho lại một đứa em họ nhà nghèo còn ở lại nơi đó. Vẫn “cũ người mới ta”, con bé lên năm tuổi với đôi mắt trong veo đã sung sướng ôm chặt con búp bê tật nguyền trong tay, thay cho vòng tay bé nhỏ của tôi ngày nào.

Mỗi năm đến mùa Giáng Sinh, chị em tôi dẫn nhau đi mua quà Giáng Sinh ở các tiệm bách hóa, có bao nhiêu con búp bê đủ loại rất xinh đẹp đứng, ngồi trong tủ kính sáng choang ánh đèn, lại gợi nhớ trong lòng chị em tôi hình ảnh con búp bê tật nguyền thuở còn thơ. Năm đó, người lính từ đơn vị được về phép đúng vào chiều Giáng Sinh, đã vội vã chạy ra tiệm buôn mua làm quà cho người yêu con búp bê rất xinh, trong hình ảnh cô bé mười bảy tuổi với nét nhí nhảnh dễ yêu của tuổi trẻ đầy sức sống.

Rất ngộ nghĩnh là hơn bốn mươi năm sau, con búp bê xinh đẹp ấy cũng bị què chân, đứng nghiêng nghiêng bên cạnh tủ sách với cái chân khập khiễng. Hình như tiếng chuông ngân mỗi mùa Giáng Sinh không bao giờ thay đổi với thời gian...

Nguyên Nhung, mùa Giáng Sinh.


Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Mon Dec 08, 2014 10:36 am





Người Đưa Thư

Truyện Ngắn Nguyên Nhung

Cách đây đã mười mấy năm, khi mới từ Việt Nam sang đến cư ngụ trong khu chung cư có nhiều người Việt tôi đã thấy ông ta.
Đó là người đưa thư, có bộ râu hung hung xồm xoàm viền quanh miệng, khiến thoạt nhìn người ta thấy ông có nét một ông già Santa Claus mỗi mùa Giáng sinh.
Nụ cười hiền, đôi mắt xanh mông mênh màu biển, ông là người đều đặn mang niềm vui cho đám cư dân sống ở chung cư, đa số mới từ Việt Nam sang, thường ngóng những cánh thư ở quê nhà.
Ông ta trạc độ ngoài năm mươi, dáng dấp khỏe mạnh, khó đoán tuổi cho chính xác vì bộ râu xồm xoàm đó. Mỗi buổi chiều, khi chiếc xe của Bưu Điện chạy vào con dốc đầy ổ gà, nơi mấy thùng thư đã thấy có người đứng đợi. Đa số là người già, không biết làm gì cho hết ngày, đi lấy thư cũng là một cái thú.
Ông ta bỏ thư vào từng hộp thư của mỗi nhà trong xóm, xong lái xe đi, không quên giơ tay vẫy mấy đứa trẻ đang chơi đùa trên khoảng sân trống.

Mãi cho đến một hôm, trời mùa đông lại mưa tầm tã, tôi thấy người đưa thư ngừng xe trước cửa, rồi chạy ào vào hiên gõ cửa, đưa cho tôi một lá thư. Lá thư của người bạn gái từ Việt Nam gửi sang, đề trúng tên người gửi và địa chỉ "zip code", nhưng viết thiếu số nhà của căn chung cư, không hiểu sao ông ta lại biết là của tôi. Chính vì thế mà tôi biết ông đọc được tiếng Việt, lại còn quen cả tên của người nhận thư, rồi vì sợ thư không đến tay người nhận, thay vì trả lại cho Bưu Điện, ông mang thư đến thẳng nhà tôi.
Hôm ấy trời bão rớt, mưa suốt từ sáng đến chiều chưa ngớt, bầu trời xám xịt khiến mùa Đông càng có vẻ rét mướt. Tôi cảm động nhận lá thư từ tay ông, nhìn ông ướt át trong chiếc áo mưa màu vàng, những bụi mưa còn đọng trên mái tóc đã ngả bạc và bộ râu hung hung viền quanh miệng. Ông hỏi, bằng tiếng Việt:
"Xin lỗi, có phải tên cô không?"
Tôi ngạc nhiên, vì lần đầu nghe ông ta nói tiếng Việt, chực nhớ lại bà con trong khu chung cư, gặp nhau ngoài thùng thư vẫn hay nói chuyện này nọ về xứ Mỹ và người Mỹ, có lẽ ông đã nghe được cả. Tôi nhận đúng là tên mình, nhận thư, rất cảm kích vì tấm lòng của người đưa thư. Ái ngại khi thấy mưa vẫn như trút nước, rặng cây ven đường như mờ mịt dưới màn mưa trắng xóa. Tôi hỏi ông, bằng tiếng Anh:
"Ông có vội lắm không? Mời ông vào nhà chơi, mưa lớn quá."
Tôi mở to mắt nhìn ông thán phục:
"Ông nói tiếng Việt giỏi quá, ông học ở đâu vậy?"
Người đưa thư giơ tay vuốt những giọt mưa trên tóc, trên mặt, giọng thoáng một niềm vui, thật xa vời:
"Từ Việt Nam. Tôi đã từng ở Việt Nam, cách đây hơn hai mươi năm. Việt Nam luôn ở trong trái tim tôi."
Tôi mỉm cười, một câu xã giao mà người Mỹ nào cũng học qua, nhưng sao ở người đàn ông này, tôi không thấy sự giả dối. Một lần nữa, tôi mời ông vào nhà, không khách sáo, trước khi bước vào căn phòng ấm cúng, ông tháo đôi giày để ngoài cửa, giọng dí dỏm:
"Người Việt Nam thường cởi giày trước khi vào nhà, có phải vậy không?"
Tự nhiên tôi xúc động. Một người Mỹ hiểu cả thói quen của người Việt, thật là hiếm, như vậy ông ta chắc phải tha thiết với xứ sở của tôi nhiều lắm, tự nhiên tôi thấy có cảm tình với ông. Như hai người đồng hương đã lâu không gặp nhau, ông thổ lộ:
"Tôi nhớ Việt Nam nhiều lắm, nhớ "người" Việt Nam lắm..."
Rồi đưa mắt nhìn khắp căn phòng được bài trí theo kiểu Á Đông, ông dừng lại một bức tranh trên tường vào mùa Xuân, chụp con ngõ nhỏ với hai hàng mai nở vàng thật đẹp. Ông thảng thốt reo lên, giọng lơ lớ:
"Đấy có phải là hoa mai?"
Tôi gật đầu, cảm phục một người Mỹ biết nhiều về xứ người:
"Ồ! Ông cũng biết hoa mai? Nó là loại hoa biểu tượng cho mùa Xuân, chỉ nở vào mùa Xuân."
Ông gật đầu, đôi mắt xanh thoáng một nét bâng khuâng, nhìn theo những sợi mưa nghiêng nghiêng đan nhau trong khung trời mờ tối:
"Tôi biết, vì cô ấy tên Mai, Mai là tên người yêu của tôi, cô học trò bé nhỏ người Cần Thơ thuở ấy."
Hình như ông xúc động, yên lặng để dấu đi nỗi buồn. Tôi cũng ngạc nhiên không ít, khi khám phá ra mối tình của người đưa thư, một mối tình có lẽ rất đẹp từ mấy chục năm trước vẫn ấp ủ trong trái tim ông, từ những ngày trẻ tuổi.Buổi chiều mưa hôm đó, một chiều mưa trên xứ người, nghe câu chuyện tình của người đưa thư, tự nhiên tôi nghe trong lòng một nỗi buồn rất Việt Nam, cả cái không khí lãng đãng một chút ngậm ngùi như theo từng giọt mưa rớt xuống hàng hiên ẩm ướt. Người đưa thư bồi hồi kể tôi nghe chuyện tình của ông ta ba mươi năm trước.

David sinh trưởng ở Sacramento, thủ phủ của tiểu bang California. Vùng đất phì nhiêu màu mỡ có rất nhiều cánh đồng trồng rau và trái cây, đủ cung cấp cho hầu hết các tiểu bang của Hoa Kỳ. Sinh ra trong một gia đình đông anh em, cả nhà sống trong một trang trại trồng hoa quả vùng ngoại ô, David có bản chất một người đồng quê rất hiền lành và thật thà, yêu thiên nhiên.
Học hết Trung Học, David rời gia đình đến Nam Cali để tiếp tục việc học. Sau bốn năm Đại Học với ngành khoa học tự nhiên, vốn bản tính hiền lành, thích làm việc thiện, David tình nguyện sang Việt Nam làm công tác giáo dục và thiện nguyện. Do đấy, chàng có một thời gian dài đến gần bốn năm phục vụ trong các trung tâm Việt Mỹ, dạy tiếng Anh cho những người Việt trẻ tuổi.
Lúc ấy David còn trẻ lắm, mới hai mươi hai tuổi. Trước khi sang Việt Nam, chàng được theo học tiếng Việt sáu tháng, cho nên lúc đến Việt Nam, chàng đã bập bẹ nói được những câu xã giao thông thường với người bản xứ. Năm chàng tới Việt Nam, chiến tranh đang thời kỳ leo thang dữ dội, nhưng ở thành phố tương đối người dân vẫn sống trong yên bình, chưa nhìn thấy bao nhiêu sự đe dọa của chiến tranh. David chỉ ở Sài Gòn một thời gian ngắn, sau đó được đưa về Cần Thơ. Chính nơi này, thành phố thơ mộng ven bờ sông Hậu, đã khiến David lúc quay về Mỹ, mang theo một vết thương lòng.
David đã có dịp đi lại nhiều lần trên nẻo đường mang nhiều sắc thái miền Tây Nam Phần, đó là con đường quốc lộ 4. Những cánh đồng lúa bát ngát, những vườn cây xanh, những mái tranh nghèo khuất sau hàng dừa rủ bóng trên giòng sông đục ngầu phù sa, lắc lẻo nhịp cầu tre bắc ngang sông rạch.
Chàng thích nhất những chuyến phà qua sông Hậu Giang, nhất là khi chiều về, vài cọng hoa màu tím lênh đênh trên sóng nước. Phong cảnh Việt Nam thật lạ lẫm và mới mẻ, nhưng gần gụi biết bao, không hiểu sao khi nhìn thấy miền đồng bằng sông Cửu Long lần đầu tiên,
David đã cảm thấy yêu mến vùng đồng bằng, êm ả như vùng quê nơi chàng sinh trưởng, dù mỗi nơi đều có nét khác biệt nhau.
Vì là nhân viên dân sự, David may mắn chỉ ở thành phố, không đối diện với chiến tranh như những người lính Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam, và cũng không hề giao tiếp với giai cấp phụ nữ bám theo đoàn quân viễn chinh. Cho nên, những ngày dạy học tại Trung Tâm Việt Mỹ,
David thật là thơ ngây khi lần đầu tiên trong đời, chàng đã trao trái tim mình cho Mai, cô bé Việt Nam rất chăm chỉ, ngoan hiền trong lớp học căn bản của Trung Tâm này. 

Mai đẹp lắm, ít là dưới mắt của David, một vẻ đẹp Á Đông rất ưa nhìn. Mái tóc đen mượt, đôi mắt đen láy như hai hạt nhãn, nét ngây thơ dịu dàng của cô con gái Á Đông khiến con tim chàng trai Mỹ mới biết yêu lần đầu, đã thổn thức vì nhớ thương. Như câu ca dao Việt Nam," Yêu ai yêu cả đường đi lối về", David cũng yêu cái mênh mông của dòng sông Cửu Long, yêu hàng dừa lơi lả nơi bến sông, nhìn những đợt sóng nhấp nhô trong những buổi hoàng hôn,
David tưởng như nó chuyên chở bao nhiêu tình tự dân tộc, hiền hòa, vui tươi và đầy thiện cảm. Mỗi buổi sáng, David say sưa ngắm nhìn những tà áo trắng bay bay như những cánh bướm, trên chiếc xe đạp thong thả của đám nữ sinh mỗi buổi đến trường.
Cả thành phố dậy lên sức sống, người ta đi lại đông đảo, đàn bà xách giỏ đi chợ, vài chiếc xe chất đầy rau quả, những đứa trẻ con ngoan ngoãn đi học với nhau, chiến tranh hình như chưa hiện diện nơi đây. David có được những tháng ngày thật tuyệt vời với công việc của mình, một biệt thự xinh đẹp tọa lạc trên con đường trung tâm thành phố.
Năm ấy Mai độ mười bảy tuổi, tư chất thông minh cộng thêm nét ngây thơ của cô bé mới lớn, đã chinh phục trái tim ông thầy trẻ tuổi. Cách biểu lộ tình cảm của mỗi dân tộc có khác nhau,
David không hề dấu diếm tình yêu của mình với cô gái trẻ, trong khi Mai cố tình né tránh, dù nàng rất có cảm tình với ông thầy vừa đẹp trai, lại rất hiền hậu nữa. Sau nhiều lớp học ở Trung tâm Việt Mỹ, Mai là một học sinh xuất sắc được chọn là người phụ giáo cho những lớp học vỡ lòng, trong thời gian này hai người cùng làm việc chung, có thêm điều kiện vừa làm vừa học,David càng thấy gần gũi nàng hơn.
Với bản tính thẳng thắn của người Mỹ, David tỏ tình và đề cập với Mai về chuyện hôn nhân, chàng nghĩ nó rất đơn giản như bao cuộc hôn nhân trên xứ sở chàng.

Nhưng điều làm cho David đớn đau hơn cả, không ngờ Mai đã từ chối kết hôn với chàng, nguyên nhân chỉ giản dị là không cùng chủng tộc, cha mẹ nàng coi đấy là điều không thể chấp nhận, dù David là một chàng trai học thức. David không hiểu tại sao Mai không quyết định được chuyện hôn nhân của mình, dù rằng Mai cũng cảm thấy mình yêu thương chàng trai Mỹ tóc vàng, mắt xanh hiền lành ấy. David thắc mắc thì Mai chỉ im lặng thở dài, rồi cho chàng biết những gia đình Việt Nam bảo thủ nề nếp, không bao giờ chấp nhận chuyện con cái kết hôn với người ngoại quốc.
Sống ở Việt Nam khá lâu, ăn những món ăn Việt Nam, học được cách cư xử của người Việt, David hoàn toàn chấp nhận tất cả những đòi hỏi theo phong tục, tập quán người Việt nhưng vẫn bị từ chối.
Thật sự chàng không thể nào hiểu nổi dân tộc này, trong cái thân thiện bên ngoài hình như họ vẫn dấu kín những thành kiến bí ẩn, có lẽ đã ăn sâu vào gốc rễ trong tâm hồn họ.
Không lấy được Mai, nhiều khi thất vọng đến chán chường, David còn muốn tìm cái chết để quên đi hình bóng diễm kiều của cô gái Việt. Cuối cùng, bị khủng hoảng tinh thần, David không thể tiếp tục làm việc, với ý nghĩ một ngày nào đó Mai thuộc về người khác. David được hồi hương trước thời gian ấn định, lúc chia tay, lần cuối cùng gặp nhau, Mai đã khóc và nói với chàng :"Nếu không được kết hôn với anh, em sẽ không bao giờ lấy ai nữa."
Câu chuyện tình của người đưa thư tưởng đến đấy là hết, bất ngờ David hỏi tôi:
"Tại sao dân tộc cô lại có cái nhìn khe khắt như thế? Một tình yêu khác chủng tộc có phải là điều tội lỗi?"
Tôi bối rối nhìn ông, không làm sao cắt nghĩa cho ông hiểu. Đúng, tình yêu tự nó đâu có gì tội lỗi, nhưng dưới con mắt lệch lạc của những người có nhiều thành kiến, thì họ vẫn không chấp nhận. David lại nói tiếp:
"Hơn hai mươi năm tôi vẫn không quên điều đó, vẫn tìm tòi văn hóa Việt, và tôi hiểu tại sao họ không tiến hơn được, khi nhất định ôm khư khư cái cũ mà không chấp nhận cái mới, dù rằng cái mới sẽ đem đến cho họ nhiều cơ hội tốt đẹp hơn.”
Tôi thở dài nói với David:
"Tôi nghĩ không chỉ người Việt Nam chúng tôi mới có quan niệm thiển cận như thế, mà cả ngay những người Mỹ, cũng đâu có thích con cái họ lấy một người không cùng sắc tộc với mình. Chẳng qua, dân tộc Việt Nam lấy chữ hiếu làm đầu, cho nên ít khi con cái dám chống đối lại cha mẹ, và họ chấp nhận điều ấy như là một thứ định mệnh đã đặt để, ông thông cảm cho.
Nhưng thưa ông, đấy chỉ là những suy nghĩ của thời gian đó, bây giờ mọi điều đã thay đổi..."

Giọng David đều đều như tiếng mưa rơi ngoài hiên, ông nhìn những giọt mưa rớt ngoài hiên, như nhìn về quá khứ của mình năm xưa. Ông nói:
"Cô có biết tôi đã đau khổ biết bao nhiêu khi không lấy được Mai, tôi đâm ác cảm với tất cả người Việt vì lối suy nghĩ của họ.
Khi về nước, lâu lắm tôi vẫn không quên được người con gái ấy, rồi lại nhớ đến câu nói cuối cùng của Mai nói với tôi, tôi không nghĩ rằng Mai đã thực hiện được. Khi đất nước cô bị rơi vào tay Cộng Sản, tôi vẫn hy vọng là sẽ gặp Mai trong đám người Việt di tản sang Hoa Kỳ, nếu cô ấy chưa lấy ai, thì trên xứ sở này không ai cấm cản Mai kết hôn với tôi cả".
Tôi ngắt lời David:
"Ông có gặp lại cô ta không?"
David gật đầu, đôi mắt xanh chợt buồn, để rồi lại toát ra một tia nhìn ấm áp:
"Có, tôi đã gặp lại Mai, nhưng bấy giờ tôi là người dừng lại, vì Mai đã là một nữ tu đang săn sóc cho đám trẻ mồ côi đem từ Việt Nam sang. Lần này tôi thực sự cảm thấy mình không có quyền theo đuổi con người cao quý đó. Mai đã hy sinh tình yêu, tuổi xuân để phục vụ cho một nghĩa vụ cao cả hơn, đấy là tình nhân loại.
Tôi vẫn yêu Mai, nhưng không có quyền giữ lấy nàng làm của riêng, khi nhìn thấy bản chất cao đẹp trong tâm hồn nàng."
Giọng ông ta chợt bùi ngùi:
"Đồng thời tôi cũng hiểu được ý nghĩa lời nói của Mai, khi đã khóc và nói với tôi câu nói cuối cùng trước khi chia tay nhau. Nàng là người con gái Việt Nam thuần túy có những suy nghĩ theo tính cách của dân tộc nàng, nhưng trong tình yêu, tôi hiểu nàng cũng yêu tôi, thích hợp với đời sống và việc làm của tôi, nhưng vẫn không dám chống đối lại cha mẹ. Để rồi cuối cùng cô đã chọn con đường ấy, con đường phục vụ cho tha nhân."
Đôi mắt xanh buồn buồn của người đưa thư lại hướng về bức tranh có những cây mai vàng óng ả treo trên tường, thật dịu dàng ông nói tiếp:
"Từ đấy, tôi muốn mình cũng như Mai, làm một điều gì đem lại niềm vui cho mọi người, dù rất nhỏ nhoi.
Nếu không hỏi cô, có lẽ lá thư này sẽ bị trả lại cho người gửi, bạn cô mất đi một niềm hy vọng, và ngay cả cô cũng mất niềm vui được đọc một lá thư. Bao nhiêu năm rồi tôi có nhiều cơ hội để tìm một việc làm tốt hơn, nhưng tôi vẫn vui thích với nghề nghiệp hiện tại, khi nghĩ mình đã đem đến cho mọi người những gì họ chờ đợi, nhất là những lá thư Việt Nam.
Vì tôi hiểu rằng từ miền đất xa xăm nghèo khổ kia, họ đã phải tiết kiệm như thế nào mới có đủ tiền để gửi một lá thư cho người phương xa."
Tôi cảm động nghe ông ta nói, tự thấy xấu hổ với mình khi chính tôi có lúc đã rất hững hờ với những lá thư từ bên nhà gửi sang, cũng chỉ vì sợ phải giúp đỡ.

Ngược giòng thời gian, tôi như nhìn thấy mình trong quá khứ, trong lúc cùng cực vẫn trông chờ một niềm hy vọng, vậy tại sao tôi lại không có được tấm lòng như người đưa thư này.
Lúc ấy, nhìn đôi mắt xanh của ông ta, chòm râu hung hung viền quanh mặt, trông ông hiền hậu và dễ thương như ông già Noel đem niềm vui cho trẻ con mỗi mùa Giáng Sinh. Tôi nói với ông rất thành thật:
"Tôi cám ơn ông, một người Mỹ có một tấm lòng với quê hương tôi, dân tộc tôi, dù trước kia ông đã bị đau khổ vì sự suy nghĩ của họ."
Mưa đã ngớt, chưa tới sáu giờ mà trời mùa Đông đã tối xầm lại. David đứng dậy, ông còn phải trở về Bưu điện, đem theo những lá thư người trong chung cư nhờ ông gửi giùm.
Ông chào tôi rồi mang đôi giày vào chân, mỉm cười nhìn những bóng đèn màu chớp tắt trên cây Giáng Sinh ở góc phòng.
Tôi nhìn theo người đưa thư bước ra đường, lòng dâng lên một niềm ấm áp cho dù đang là mùa Đông ở xứ người. Câu chuyện của David đã làm tôi suy nghĩ.

Tình yêu muôn thuở vẫn chỉ là Tình yêu, nhưng vượt lên trên đó, nó có một sứ mệnh thật cao cả khi người ta nhìn ra cái đẹp của nó, và sống với cái đẹp của tình yêu.
Giờ này, ở một nơi nào đó trên đất Mỹ, Mai, cô gái Việt Nam năm xưa, có lẽ nay đã đứng tuổi, vẫn hăng say phục vụ tha nhân trong lãnh vực của cô.

Không biết cô có hiểu rằng, chính tình yêu của cô đã làm cho David, người đưa thư quen thuộc của khu chung cư này, cũng đang đi con đường của người ông yêu tha thiết năm xưa, cũng với mục đích đem niềm vui đến cho mọi người.

Giá tất cả thế nhân đều nghĩ đến nhau với một tấm lòng như thế, thì có lẽ chiến tranh đã chấm dứt từ lâu trên trái đất.

Nguyên Nhung
Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Wed Dec 10, 2014 8:40 am




NGƯỜI MỸ LẠC LOÀI

Truyện Nguyên Nhung
 
Tên hắn là Robert, một người Mỹ trăm phần trăm tóc vàng mắt xanh, sinh trưởng ở miền Trung Florida, nơi có những bãi biển đẹp tuyệt vời và khí hậu ấm áp quanh năm. Tuy vậy, vùng biển tuyệt đẹp này thỉnh thoảng có những trận cuồng phong thổi qua, đã tàn phá nhà cửa cùng hoa màu của những cư dân vùng ấy.

Người ta thân mật gọi Robert là Bob, y hệt cái vẻ loắt choắt của hắn. Dáng dấp hắn bé nhỏ nhưng rắn rỏi vì đã qua vài năm trong quân ngũ, xem ra hắn có vẻ già trước tuổi dù chưa tới ba mươi.

Thuở nhỏ, Bob đã có những ngày thơ êm ả. Nhà hắn có ba anh em, Bob, thằng Bill và con em út Nancy sống với cha mẹ trong một trang trại có những vườn cam vàng ối, ngọt lịm. Thế mà định mệnh như một bàn tay tai quái đã phủ chụp xuống đời Bob, năm Bob lên mười tuổi thì cha mẹ hắn qua đời sau một tai nạn xe hơi. Cái chết của cha mẹ còn hơn cả trận cuồng phong thổi vào mảnh vườn ấu thơ của anh em Bob, bỗng dưng một sáng một chiều đã tan đàn xẻ nghé. Thằng Bill được một cặp vợ chồng hiếm muộn xin về Boston, thuộc tiểu bang Massachusset, con em bé Nancy bụ bẫm, dễ thương đã được một người họ xa đón về Virginia. Riêng Bob, số phận hẩm hiu hơn, mãi mới có một bà cô họ dở người đón hắn xuôi về phương Nam, thành phố Houston, thuộc tiểu bang Texas.

Sở dĩ có sự kém may mắn này là vì thằng Bill và con Nancy giống mẹ, mặt mũi sáng sủa, dễ gây thiện cảm cho nên được chọn trước, còn lại Bob nhỏ con, mặt choắt như quả trám, đôi mắt xanh ánh lên tia nhìn nghịch ngợm cho nên người ta ngại ngần sợ rước của nợ vào thân. Về sau thì Bob cũng lờ mờ nhận ra rằng, hắn chỉ là thứ " chó kiểng " cho vui nhà vui cửa, rồi đến khi hắn càng lớn lên thì dưới mắt bà cô già Linda, hắn chỉ là thứ "chó ghẻ " cần phải tống đi cho đỡ chướng mắt.

Mỗi lần nhắc đến bà Linda béo mập, Bob lại có cái cảm giác ớn ợn như đã no mà còn phải ăn thêm một phần ăn những mỡ là mỡ. Hắn không biết phải mô tả thế nào về bà cô miền đồng cỏ Texas này. Mụ có cái giọng ồm ồm của người đàn ông "country" thô kệch, không hề biết đến thời trang là gì. Mới nhìn mụ , người ta cứ tưởng mụ đang sống ở thế kỷ thứ mười chín, với chiếc áo kín cổ kết đầy đăng ten và chiếc váy vải cứng sột soạt phủ quá gối, khi bước đi, cả thân hình với những khối thịt núng nính như muốn rung chuyển mặt đất. Đã vậy mụ lại còn khó tính, khó nết cho nên không một gã đàn ông nào dám mạo hiểm " sờ " vào đời mụ cả, chính vì thế mà mụ lại càng có vẻ ác cảm với những phụ nữ ít phốp pháp hơn mụ.

Mỗi buổi sáng chủ nhật, Bob ngoan ngoãn theo bà Linda đến nhà thờ. Mặc dù được giảng giải cặn kẽ thế nào đi nữa, Bob cũng không làm sao hiểu nổi những bài dụ ngôn tối nghĩa trong kinh thánh. Nhất là những bài nói về ngày tận thế, hắn chẳng bao giờ mong ngày ấy đến dù có được hứa hẹn đưa lên thiên đàng ngay lập tức, bởi  hắn nghĩ những cuộc rong chơi lêu lổng với bạn bè vẫn thú vị hơn nhiều. Bà Linda cho Bob theo học nhiều lớp Kinh Thánh, hy vọng Bob sẽ trở thành một mục sư, may ra tương lai của hắn mới sáng sủa lên được.

Bob đến trường cho có đến và ra trường chỉ là chuyện tất nhiên. Không có môn nào hấp dẫn hắn bằng môn quân sự, được đi, được chạy, được nhảy, được tập ắc ê để khỏi vùi đầu vào thứ sách vở rối beng trong lớp học. Sau đó Bob tình nguyện vào quân đội, qua những tháng ngày huấn nhục ở vùng San Diego, California, Bob được phân phối sang một đơn vị bộ binh trú đóng ở Korea. Tại đây, Bob đã có mối tình đầu khá thơ mộng với một cô bé Đại Hàn, mặt tròn, da trắng, mắt ti hí hay mặc những cái váy đen dài chấm đất. Mùa Đông ở Nam Hàn thật là khắc nghiệt, mặc dù thiếu rau cỏ, Bob cũng không thể nào quen nổi cái mùi nồng nặc tỏi ớt của những hũ kim chi được ủ dưới đất, dự trữ cho mùa đông, mỗi lần theo hướng gió Bob lại thấy buồn nôn khi ngửi phải cái mùi khủng khiếp ấy.

Cô bé Đại Hàn của hắn đã xơi ngon lành những tô mì bự bốc khói với hằng vốc ớt bằm đỏ ối, khiến Bob nhận ra rằng, trong vấn đề ẩm thực thì giữa nàng và hắn, không thể nào tìm được sự hoà hợp, như  " Đông là Đông mà Tây vẫn là Tây ". Nàng mũm mĩm dễ thương như con gấu nhồi bông, nhưng Bob cũng không dám nghĩ đến chuyện đem nàng về quê hương, để cùng nhau chia xẻ những bát ớt lớn trong suốt đời hắn được.

Bob hồi hương sau ba năm ở lính, rồi như là định mệnh, hắn lại chui về căn nhà cũ kỹ của bà cô già, để tiếp tục đưa bà đi lễ mỗi ngày chủ nhật. Bây giờ Bob đã có công ăn việc làm, hắn đang là y tá trong  một nhà thương quân đội,  bà Linda vẫn hy vọng hắn trở thành mục sư. Riêng Bob, từ ngày vào lính hắn đã học được vô khối tiếng chửi thề, một người như thế thì khó mà trở thành một nhà đạo đức ở một nơi tôn nghiêm, thánh thiện, cho dù tâm hắn rất tốt, đôi khi vô tư như một đứa trẻ nít. Bob lại không có cái diện mạo trịnh trọng của một nhà truyền giáo, cứ hình dung khi phải đóng khung trong bộ đồ lớn, với một cái cà vạt lủng lẳng như sợi giây thắt cổ, hắn lại nghẹt thở đến xuất mồ hôi hột.

Bà cô già càng ngày càng mập, tính nết càng khắc nghiệt và kỳ cục đến không chịu nổi, mỗi lần Bob dẫn một đứa bạn nào về nhà, mụ cứ theo tò tò bên cạnh, chiếu cặp mắt xanh biếc như mắt mèo, nhìn chầm chập vào người đối diện , như ngài cảnh sát bắt thóp thằng ăn trộm. Mấy thằng bạn hắn đều rút lui có trật tự, sau khi còn rủa thêm mấy câu rất là tục tĩu. Đã mấy lần bà Linda còn nói thẳng với Bob là mụ không muốn hắn dẫn về nhà những thằng " chó chết " ấy, và mụ rất phiền khi phải trả lời những cú phôn chẳng ăn nhập gì đến mụ cả.

Thật là một mụ già quá quắt, đến nước ấy thì Bob phải đi thôi, vì hắn tự do đã quen rồi, ráng về ở với bà cô chẳng phải vì tình nghĩa thắm thiết nào, mà chỉ vì sau khi tính toán những khoản chi tiêu mỗi tháng, hắn biết sẽ không kham nổi tiền nhà, tiền điện. Nhưng “con giun xéo lắm cũng quằn”, không có chỗ sống thoải mái như ý muốn đời cũng chẳng vui, nhờ vậy hắn mới quyết tâm đi tìm ra căn chung cư giá bèo một chút, bất ngờ lưu lạc vào khu  có nhiều người Á châu, mà bấy lâu hắn vẫn xem là loại dân tộc kém văn minh, đang sống nhờ sống đậu trên xứ sở hắn.

Khu chung cư bề ngoài nom nhếch nhác vậy mà bên trong trông rất gọn gàng, sạch sẽ, lại đầy đủ tiện nghi. Căn phòng Bob ở ngay đầu đường, nhìn ra con đường rợp bóng cây xanh. Mỗi buổi chiều khi hoàng hôn xuống, Bob vẫn có cái thú nhìn vạt nắng vàng thoi thóp trên những mái nhà mốc thếch, tháp chuông nhà thờ vươn lên trong rừng cây phiá bên kia công viên. Bob thường ngồi hút thuốc ở lan can, quan sát những nhà Việt Nam sống chung quanh, họ đã làm hắn đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, và hắn thực tình muốn kết thân với họ. Luôn luôn, hắn nhận được những nụ cười thân thiện và lời mời chào vui vẻ, khác hẳn vẻ khách sáo bên ngoài của người Mỹ , chủ nhân những căn nhà đóng kín cửa, hầu như không muốn mở cửa cho ai bước vào cái thế giới riêng tư của họ.

Mãi rồi Bob cũng quen dần với sự cởi mở của những người hàng xóm. Những người đàn bà mỗi buổi sáng liú lo chào hỏi nhau, họ nói nhiều, nhiều lắm, Bob không hiểu gì hết nhưng lờ mờ đoán rằng họ đang tâm sự với nhau về chuyện gia đình, đời sống, con cái chi chi đó. Những đứa trẻ con mới đầu nhìn Bob tò mò, e ngại, sau thấy hắn vui vẻ cũng chạy đến với Bob mỗi lần hắn thơ thẩn đứng chơi trước sân nhà. Lòng Bob lại nao nao nhớ đến mảnh đời ấu thơ xa tít tắp, đến thằng Bill, con Nancy, tiếng sóng biển rì rào và vườn cam óng vàng tiếng chim vui

Nhà hàng xóm của Bob là một cặp vợ chồng Việt Nam trung niên mới định cư ở Mỹ khoảng ba năm, họ có hai đứa con lớn và một đứa còn bé đang học trường Tiểu học, người chồng đi làm ở một nhà máy còn vợ ở nhà chăm sóc gia đình, đưa đón con đi học. Hai đứa con lớn làm thêm tí chút vào cuối tuần, vậy mà với đồng lương khiêm nhượng đó, họ sống có vẻ ung dung lắm, trong khi Bob chỉ có một mình mà lắm lúc hắn đã bấn rốn lên vì tiền.

Bob vẫn nhớ lần đầu được mời sang chơi nhà họ, mặc dù không sửa soạn trước vì Bob cũng chỉ là người khách bất đắc dĩ, người vợ đã vui vẻ đi làm ngay món chả giò ăn với bún và rau sống. Nhìn chai nước mắm nguyên chất để trên bàn, tự nhiên Bob liên tưởng đến những vại dưa kim chi ở Đại Hàn năm xưa. Hắn buột miệng:

" So hot, so hot...."

Người đàn bà thì lại nghĩ khác, bà tưởng hắn than nóng nên đã vội vã chạy lại mở chiếc quạt trần, rồi gật đầu mỉm cười với hắn. Đúng là "Ông nói gà, bà hiểu vịt", tự nhiên Bob thấy vui vui, hắn đã ngửi thấy mùi thơm của những chiếc chả giò cuộn tròn chiên trong chảo mỡ. Khi mâm cơm dọn lên, người đàn bà đã làm xong món nước chấm, ông chồng mời hắn cuộn thử cái chả giò trong lá xà lách xanh mướt, với một chút bún trắng ngần để ăn với thứ nước chấm ấy, Bob mới khám phá rằng, chưa bao giờ hắn được tận hưởng cái hương vị thơm ngon và tròn trịa đến vậy. Bằng một sự pha chế khéo léo tuyệt vời, người đàn bà giản dị kia không cần sách vở, đã hoà hợp được tất cả cái mặn, ngọt, chua, cay của gia vị, để làm nên một thứ nước chấm lạ lùng đến thế. Nó là cả một nghệ thuật, như người hoạ sĩ pha trộn những màu sắc, để vẽ lên bầu trời những áng mây dìu dịu của một mùa xuân biêng biếc.

Bob được một bữa ngon, nó còn ngon hơn nữa vì không khí đầm ấm cuả một gia đình hạnh phúc, cả gia đình họ quây quần quanh mâm cơm, cùng ăn, cùng nói, cùng cười, ấm áp biết bao nhiêu. Qua những tiếp xúc với họ lâu dài, Bob cứ ngạc nhiên rồi ngạc nhiên, trên xứ sở này xem ra họ là những người nghèo khổ, mà sao tấm lòng họ rộng rãi vô cùng.

Bob còn được nhiều lần chung vui với họ trong những dịp lễ lạc hay cúng giỗ tổ tiên. Người nội trợ đã công phu gỡ từng thớ thịt cua trắng ngần, nhồi chung với thịt băm, nấm, củ hành, bún tàu, tiêu tỏi để làm nên món chả cua ngon tuyệt vời. Món cá hấp hành xanh cuộn bánh tráng ăn mãi không no. Món thịt bò thái mỏng trải lên chiếc chảo nóng bốc khói ăn kèm với các thứ rau cỏ, ngào ngạt mùi hành tỏi phi thơm phức. Trong cái khéo léo hòa hợp các món ăn đi với nhau thật là vừa vặn, Bob đâu dám xem thường cái dân tộc nhỏ bé này nữa, chỉ trong món ăn mà họ đã đạt đến một nghệ thuật tầm cỡ như thế, thì hẳn là tâm hồn và nếp sống dân tộc của họ đã vô cùng phong phú và đa dạng, như thế đâu dám bảo họ có một nền văn hoá nông cạn và thô sơ.

Một lạ lùng nữa đối với Bob, khi người Mỹ chỉ tổ chức những ngày sinh nhật, thì người Việt lại hay tưởng niệm ngày người thân của họ nhắm mắt lìa đời. Họ gọi đó là đám giỗ. Trên bàn thờ khói hương nghi ngút, xếp đầy bánh trái và hoa thơm, kèm theo một mâm cơm nấu nướng công phu, họ nghiêm chỉnh cầm những nén nhang xì xụp lạy những tấm hình của ông bà, cha mẹ trên bàn thờ. Bob thắc mắc thì họ giải thích:

"Chúng tôi luôn luôn tin có Trời và ai cũng có một tôn giáo riêng cho mình, nhưng người sinh ra và nuôi dưỡng chúng tôi lại là ông bà cha mẹ. Bởi vậy người Việt chúng tôi có một đạo hợp lẽ nhất là đạo thờ cúng ông bà. Mỗi năm, chúng tôi có vài lần tưởng niệm, để con cháu chúng tôi không bao giờ quên nguồn gốc của chúng nó, và cũng để thương yêu, hoà hợp với nhau hơn."

Bob làm sao hiểu nổi sợi giây thiêng liêng về gia đình của người Việt Nam. Người ta không chỉ mỗi năm có một ngày cho cha cho mẹ, cho ông bà tổ tiên, mà hầu như lúc nào có dịp họ vẫn nhắc nhở cho con cái trong nhà nhớ đến những bậc tiền nhân, Bob có cảm tưởng linh hồn những người khuất bóng kia, vẫn còn ẩn hiện trong cuộc sống của con cháu họ mãi mãi. Bob liên tưởng đến ông nội hắn, ngày cha mẹ hắn chết thì ông vẫn sống hẩm hiu trong viện dưỡng lão, không biết ông còn hay mất? Ngay cả mồ mả cha mẹ hắn, chắc vẫn nằm hiu quạnh trong một nghĩa trang miền quê, có hằng đàn quạ khoang rền rĩ kêu những lời buồn thảm.

Từ ngạc nhiên đến tò mò, Bob lần ra thư viện tìm đọc những cuốn sách có liên quan đến dân tộc Việt Nam nằm xa tít bên kia bờ đại dương. Một giải đất cong cong hình chữ S đã trải qua hằng ngàn năm nô lệ giặc Tàu, hằng trăm đô hộ giặc Tây, và mấy chục năm tương tàn trong máu lửa chiến tranh vì không cùng lý tưởng. Bob đã hiểu vì sao, những người chiến binh Mỹ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam khi trở về quê hương, vẫn giữ mãi trong lòng họ hình ảnh dân tộc, đất nước của một quốc gia bé nhỏ, vùng đất hiền hoà những sông, những rạch, cây cỏ xanh tươi suốt bốn mùa, phố phường đông đúc, chợ búa tấp nập, nhất là những tà áo dài của Sài Gòn năm xưa. Tà áo Việt Nam trong một ngày nắng ấm, như gió, như mây, như những cánh bướm vờn bay trên đồng cỏ biếc, không hở hang mà rất là gợi cảm, không lả lơi mà thật là quyến rũ.

Buổi chiều. Đã bao nhiêu buổi chiều, Bob ngồi một mình trên hành lang để nghe lòng mình rộn ràng theo nhịp sống của những người xung quanh. Người hàng xóm đã đi làm về, dù mệt nhọc nhưng vẫn mỉm cười khi đứa con nhỏ hớn hở mừng cha với tiếng cười vui như chim hót. Người vợ đang lui cui sửa soạn bữa cơm chiều, hạnh phúc như toả ra chung quanh họ.

Bob cứ ngồi lặng yên để tận hưởng thứ hạnh phúc của mọi người, nó có một sức lan truyền mạnh mẽ làm trái tim cô đơn của hắn cũng rộn ràng theo. Bob thấy mình cần một lần trở về Florida, miền quê cũ có vùng biển xanh với mặt trời ấm áp, về khu vườn cam nơi hắn đã mở mắt chào đời. Hắn sẽ trở về chốn xưa, đặt những nhánh hồng lên phần mộ của cha mẹ, vì từ đây Bob không bao giờ là đứa con lạc loài, mà như một loài chim, đang bay về tổ ấm.

NGUYÊN NHUNG
Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Tue Dec 23, 2014 3:17 pm



Những Bông Hoa Cuối Mùa

Truyện Nguyên Nhung


Xếp lá thư của Chuyên vào túi áo, Ngọc mỉm cười xa vắng. Lá thư từ miền hỏa tuyến gửi về thành phố đến tay Ngọc vào những ngày đầu tháng mười hai, báo tin Chuyên sắp về  phép trong mùa Giáng Sinh khiến Ngọc nôn nao chờ đợi. Nhớ lại Noel năm ngoái Chuyên không về được vì phải ở lại đơn vị, chỉ có mình Ngọc đi lễ nửa đêm với cô em gái, nghe hồi chuông ngân lan lan trên nóc nhà thờ giăng giăng những ánh đèn chớp tắt, Ngọc lại nhớ Chuyên da diết...
       
Đứng dưới giàn mướp ở góc sân sau, những bóng nắng in xuống nhảy múa đậu trên chiếc áo trắng của Ngọc, tưởng như cũng biết cười với nỗi vui thầm kín của người con gái. Những bông hoa cuối mùa, dù đợt gió cuối năm hơi lành lạnh đã làm những chiếc lá trên giàn ngả  màu vàng úa, đang xào xạc theo từng cơn gió mùa thổi tới.
       
Bầu trời cao và trong, xanh biếc, nắng vẫn óng ả trên những cây cỏ trong vườn. Chuyên về. Ngọc nghe những tiếng reo vui ấy cứ ấm áp ngân mãi trong lòng, như tiếng chuông  đêm giáng sinh năm nào. Rồi Ngọc chợt buồn cười nhớ lại những kỷ niệm vui vui  lần đầu gặp Chuyên mùa Giáng Sinh hai năm về trước, để từ đấy hai đứa đi vào đời nhau như một giấc mơ huyền nhiệm.

Chuyên nhập ngũ khi tròn hai mươi tuổi, tâm hồn người thanh niên thời ly loạn đã sớm nhìn ra chiến tranh đang giăng bủa trên quê hương, với những trăn trở mơ ước đất nước được an bình, bạn bè chàng lớp lớp lên đường tòng quân nhập ngũ. Mới đó mà chín tháng quân trường trôi nhanh, đời chinh chiến đưa đẩy Chuyên làm người lính xa nhà, dù chưa có một mối tình nồng đậm ở hậu phương, nhưng vài khuôn mặt dễ thương tuổi học trò vẫn ẩn hiện trong tim người lính

Ra đơn vị một thời gian, nhiều lần hành quân thử lửa nơi chiến trường lửa khói, viên đạn địch ghim vào chân bên phải và phá vỡ xương đùi, chàng phải nằm bệnh viện dưỡng thương một thời gian. Vết thương sau khi lành lặn đã để lại cho người lính một kỷ niệm khó quên, thời gian ấy lại rơi đúng vào mùa Giáng Sinh nên Chuyên có được những ngày nghỉ hiếm hoi trong đời lính với mái ấm gia đình. Bây giờ chàng sĩ quan  mặt búng ra sữa ấy trông đã có vẻ lì lợm, chững chạc hơn so với ngày mới bước chân vào lính, không biết sao lại ngoan ngoãn theo bố mẹ đến nhà Ngọc dự bữa tiệc đêm Giáng Sinh năm ấy. Ngọc và lũ em không làm sao nín cười được, khi Chuyên mặt đỏ bừng vì ngượng, vâng lời cha mẹ khoe chiến thương cho mọi người xem. Mấy đứa con gái kéo nhau vào phòng trong rúc rích cười, con em út đã nghịch ngợm bảo Ngọc:
"May quá chị Ngọc nhỉ? Nếu anh Chuyên bị thương ở trên bụng thì em không biết..."
       
Ngọc vội vàng bịt miệng em kịp lúc, rồi mấy chị em lại rúc rích cười với nhau, tha hồ bàn tán về anh chàng sĩ quan trẻ ngượng nghịu ngoài phòng khách. Sau này, khi hai đứa yêu nhau, Ngọc có kể lại chuyện này cho Chuyên nghe, hai đứa cứ rũ ra cười, khi đang yêu họ ríu rít như đôi chim non, mỗi lần về phép là những ngày vui dài bất tận. Đó cũng là những kỷ niệm đẹp ghi đậm trong tâm khảm hai người, và mùa Giáng Sinh năm ấy bỗng  lại là mùa Giáng Sinh đẹp nhất trong đời Ngọc. Để rồi sau  mỗi lần về phép, Chuyên trở ra đơn vị, Ngọc lại hồi hộp chờ đợi và mong mỏi chàng trở về với một xác thân lành lặn.

Ngọc tuy không đẹp  nhưng rất có duyên, còn Chuyên thì khỏe mạnh, đầy nam tính. Chàng có cái lì lợm toát ra từ vẻ mặt, từ đôi mắt, bởi vậy lần đầu tiên gặp Chuyên, Ngọc đã thấy đôi mắt ấy hình như có lửa, đốt cháy trái tim Ngọc ngay khoảnh khắc đầu tiên. Người ta gọi đó là "tiếng sét ái tình", dù hai bên gia đình hình như đã có sự sắp xếp để hai đứa gặp nhau. Riêng Ngọc, nàng lại cho là có sự sắp xếp của định mệnh, để  hai người vĩnh viễn bước vào đời nhau đúng vào đêm Chúa sinh ra đời.
                                                    
***

Ngọc đang sửa soạn những món ăn cho đêm Noel thì Chuyên về. Suốt ngày hôm đó Ngọc nôn nao mong đợi, nào ai biết được những gì xảy ra cho người lính. Mãi tới khi thấy Chuyên đứng bên ngưỡng cửa, bộ đồ nhà binh còn bám bụi đường xa, nụ cười rạng rỡ của chàng  khi cô em út đã nhảy ra mừng trước chị, Ngọc mới yên chí là chàng về thật. Một kỳ nghỉ phép vào mùa Giáng Sinh thật hiếm hoi cho đời lính, những cuộc đụng độ bất ngờ trong giờ hưu chiến vẫn có thể giữ Chuyên ở lại đơn vị là chuyện thường. Đánh đổi những ngày phép hiếm hoi này không phải dễ cho một người lính ở đơn vị tác chiến như Chuyên, ròng rã nhiều tháng ngày Ngọc làm tượng đá chờ đợi, nàng mới cảm thông được nỗi buồn của những người vợ lính...

Việc đầu tiên trong kỳ nghỉ phép rất hiếm hoi này, Chuyên chạy vội đến một cửa hàng bách hóa để mua quà Giáng Sinh cho Ngọc. Đứng trước bao nhiêu món quà trưng bày trong tủ kính, cuối cùng chàng đã tìm được món quà cho người yêu, con búp bê thật xinh với dáng đứng và khuôn mặt của cô bé tuổi mười lăm, duyên dáng và ngây thơ như Ngọc. Ngoài ra Chuyên còn mua thêm vài món quà nữa, những món quà này Chuyên dấu kín trong một túi giấy, với một bí ẩn mà chắc rằng chỉ có chàng mới hiểu được ý nghĩa cao đẹp của nó. 

Sau khi tiếp mẹ nấu nướng những món ăn cho bữa tiệc đêm Giáng Sinh, Ngọc vội vã vào phòng riêng trang điểm chờ Chuyên tới đưa nàng đi chơi đêm Noel. Thành phố vẫn tưng bừng trong không khí rộn rã của đêm Noel, trong khi ấy chắc hẳn có những người lính ở miền xa đang căng mắt chờ đợi những bất an xảy đến cho họ. Đã có một " party " thật vui nhộn do cô bạn thân mời, Ngọc có thể xin phép mẹ để được đi chơi với Chuyên mà không bị nhắc nhở, dặn dò, lo lắng như những lần được bạn bè mời đi ăn sinh nhật trước kia. Hay là bây giờ Ngọc đã lớn, bố mẹ đã hoàn toàn tin tưởng nàng chọn lựa đúng người để gửi gấm yêu thương. Bố vẫn nói đùa với mọi người, có lũ con gái ở trong nhà như bom nổ chậm, lòng ngay ngáy không yên. Mỗi lần thấy con gái đi theo để thưa với bố điều gì, ông lại hồi hộp không biết có phải  tin  báo giờ bom sắp nổ. Bố vui tính hay đùa, chứ ba đứa con gái của ông là ba bông hoa tươi thắm, đã khiến ngôi nhà vang lên những tiếng cười trong trẻo, óng ánh như tia nắng đầu ngày trải trên giàn mướp hương hoa vàng ở mảnh vườn sau.

Khi Chuyên trở lại để xin phép mẹ đưa Ngọc đi chơi, chàng thật bảnh bao trong bộ quần  áo "civil" thẳng nếp, tóc tai chải gọn gàng, mày  râu nhẵn nhụi,  khác hẳn khuôn mặt phong trần, xạm nắng trong bộ quân phục chàng mặc lúc ban chiều. Trên tay chàng là gói quà nhỏ tặng Ngọc, ngoài ra còn  một gói to hơn, bọc kín mít trong một túi giấy, bỏ vào chiếc túi ny lông, hơi cồm cộm, Ngọc đoán là giầy dép hay quần áo.  Món quà ấy Chuyên nhờ Ngọc cầm hộ, khi hai người chở nhau trên chiếc xe Honda, Ngọc chỉ mơ hồ đoán đó là món quà Chuyên dành cho ai đó nhưng không tiện hỏi.
         
Cả tuần nay, Ngọc băn khoăn chọn chiếc áo dài có màu sắc thích hợp cho đêm Giáng Sinh. Dưới ánh đèn mờ thì màu đỏ huyết dụ sẽ làm khuôn mặt Ngọc nổi lên những đường nét quyến rũ, dù rằng Ngọc rất thích chiếc áo màu thiên thanh, đi trong nắng sẽ làm vẻ tươi thắm của khuôn mặt trở nên dịu dàng hơn, nhưng  dưới ánh đèn qua sự phản chiếu ánh sáng, nó sẽ bị lợt lạt  đi. Băn khoăn mãi, không biết sao Ngọc lại chọn màu áo trắng học trò, có thêu những chiếc hoa xinh màu xanh nhạt dưới hai tà áo. Ngọc thấy sự giản dị của màu áo lại khiến mình có nét ngây thơ của một cô em gái hậu phương, có lẽ vì Chuyên là một người lính? Ý nghĩ ấy khiến Ngọc mỉm cười hoài một mình, chỉ màu áo mà cũng làm những kẻ đang yêu nghĩ  ngợi mãi, có phải vì Ngọc vẫn nghĩ tới Chuyên với một tâm tình trong sáng của tuổi trẻ còn nguyên vẹn.

Trên đường phố đã nhộn nhịp người qua lại, xe cộ dập dìu như mắc cửi, nhưng sao  trong đôi mắt Chuyên, Ngọc thấy niềm vui như vẫn phảng phất một nỗi buồn. Ngọc không dám hỏi Chuyên về những điều thầm kín đó, và khi thấy Chuyên chở mình đi về hướng ngoại ô của thành phố, qua những con đường đầy ổ gà chỉ có ánh đèn đường vàng vọt, chen chúc những căn nhà ván lợp lá nghèo nàn khuất  dưới tàng cây tối thẫm, Ngọc lại bâng quơ nghĩ tới những chuyện không vui, mà vẫn không đủ can đảm hỏi Chuyên tại sao lại tới đó. Trong lòng Ngọc nhen nhúm chút buồn bã, vì Ngọc tưởng một đêm Noel trọn vẹn của hai đứa, phải là những tiếng cười rộn rã với bạn bè, màu rượu đỏ óng ánh trong chiếc ly thủy tinh, phải là những bước chân quấn quýt dìu nhau trong thế giới cuả âm nhạc, những bài ca Giáng Sinh vang vang trên đường phố. Và cuối cùng, trong không khí ấm áp của ngôi giáo đường rền rền tiếng chuông ngân, hai đứa sẽ thì thầm với nhau những lời ước nguyện đẹp đẽ.
          
Đêm Noel là đêm an bình mà ở một góc trời xa vẫn bừng lên ánh hỏa châu trên vùng trời đen thẫm, có điều gì khắc khoải trong tâm hồn Ngọc khi nghĩ  sau những ngày nghỉ phép thần tiên, Chuyên lại trở ra đơn vị. Lại những chiến trường xa gian khổ, lại những bất trắc rình rập quanh đời sống của chàng, Ngọc cố xua đuổi những nỗi buồn vô cớ để hưởng trọn tình yêu đêm giáng sinh với người yêu. Mãi tới khi chiếc xe Honda quẹo vào một con ngõ tráng xi măng ngoằn nghoèo, con hẻm sâu và tối, thỉnh thoảng có một nhà treo đèn ngôi sao trước cửa, như dấu hiệu của một mùa Giáng Sinh buồn bã nơi những gia đình nghèo khổ và cô đơn.

Nỗi thất vọng và buồn bã lại nhen nhúm trong lòng cô gái trẻ, Ngọc cứ bâng khuâng tự hỏi, Chuyên định làm gì mà hoang phí những giờ phút quý hiếm của lần về phép, với đêm Giáng Sinh tuyệt vời như  vậy? Ý tưởng ấy cứ miên man trong lòng Ngọc, cho đến khi Chuyên ngừng xe trước thềm một căn nhà đơn sơ, cửa vẫn mở để Ngọc nhìn thấy tất cả sự nghèo nàn của nó.
 
Duy nhất một ngọn đèn trần vàng úa tỏa xuống những đồ đạc rẻ tiền. Trên chiếc giường con kê ở góc nhà, hai đứa trẻ con đang nằm chơi với nhau, bi bô nói chuyện. Và ở chiếc võng phía bên kia, theo tiếng võng kẽo kẹt đưa có tiếng người mẹ ru con buồn não nuột. Chắc người mẹ còn trẻ, vì Ngọc nghe tiếng ru tuy rất buồn nhưng âm thanh còn trong trẻo, không khí phảng phất chút hiu quạnh với  bức ảnh của người đàn ông mặc quân phục còn khá trẻ, đặt trên bàn thờ  ở giữa nhà dưới ngọn đèn dầu leo lét.

Mãi tới khi Chuyên cất tiếng gọi, thiếu phụ ngồi nhỏm dậy quấn vội mái tóc mây, đứa bé bồng trên tay mở to đôi mắt trong veo nhìn hai người xa lạ chực khóc, và hai đứa bé đang chơi trên chiếc giường nhỏ chạy ùa tới nhìn khách chăm chăm. Ngọc đã gần đoán hiểu ra được sự thăm viếng đột ngột của Chuyên dành cho gia đình một người lính cùng đơn vị, khi anh ta đã nằm xuống mấy tháng trước đây trong một cuộc đụng độ giữa hai bên.

Người phụ nữ còn trẻ, chắc dưới tuổi ba mươi, ngạc nhiên vì sự thăm viếng khá bất ngờ của người sĩ quan chỉ huy cùng đơn vị với  chồng mình và cô bạn trẻ, trong chiếc áo dài trắng đơn sơ. Có lẽ hình ảnh ấy khiến chị nhớ đến hình ảnh một thời của mình, và cái chết quá mới mẻ của chồng khiến chị vừa cảm động, vừa tủi thân. Trong tiếng nói cuả chị, Ngọc nghe như có chút nghẹn ngào khiến nàng cảm động:

"Chào Trung Uý, chào cô... "
         
Rồi chị nín bặt như sợ nói thêm sẽ có thể bật lên khóc. Để tránh sự xúc động, Chuyên nắm tay hai đứa bé lôi vào lòng xoa đầu chúng một cách trìu mến, rồi chàng giơ tay bồng đứa bé độ bảy, tám tháng trên tay chị. Mấy đứa nhỏ quấn ngay lấy chàng, như đã lâu lắm rồi chúng chưa được nắm lấy bàn tay yêu thương của một người nào giống như cha chúng. Chuyên vội giới thiệu với Ngọc:

"Đây là chị Luân, trước kia anh Luân cùng đơn vị với anh. Còn đây là Ngọc, em gái hậu phương của tôi đấy."

Chàng cố pha trò cho không khí bớt phần buồn bã, vì nhìn những đứa bé còn nhỏ như vậy, Ngọc hiểu anh Luân chỉ ra đi ít lâu nay, và cái buồn hình như còn y nguyên trong lòng người vợ. Chị Luân định chạy đi tìm nước mời khách, nhưng Chuyên đã ngăn lại, rồi hướng về mấy đứa bé, đang nhìn chàng bằng những đôi mắt đen lay láy. Chuyên nói:

"Chú có quà cho các cháu đây. Nguyên năm tuổi, học mẫu giáo rồi phải không, chú cho con hộp viết chì màu để tô hình nhé. Bé Tiên thì lại làm cô tiên, cái áo đầm này đẹp chưa? Nào em bé ra đây, bé thế này thì chỉ có sờ tí mẹ thôi, chú cho bé con thỏ biết nhảy để ba anh em chơi chung với nhau nè!"
        
Hai đứa lớn mừng rỡ xà vào lòng Chuyên, bây giờ mới ríu rít kể chuyện. Những chuyện của trẻ con thật dễ thương, điều thương cảm hơn cả là chúng chưa hiểu gì về sự vắng mặt của người cha. Ngọc đã phải bậm môi để đừng chảy nước mắt khi nghe thằng Nguyên nhắc về cha nó, với nỗi mong đợi của đứa bé ao ước được gặp bố, sau nhiều tháng chưa thấy bố về phép như mọi khi. Nó thỏ thẻ hỏi Chuyên:
 
"Chừng nào bố con về hở chú?"
        
Chuyên vội quay đi để tránh cái nhìn tha thiết trong đôi mắt trẻ thơ của thằng bé:
"Bố  còn bận lắm chưa về được, nhưng bố nhắn chú về mua quà cho con và mấy em rồi. Con phải ngoan, nhớ trông em cho mẹ, kỳ tới chú về bố con sẽ gửi quà nhiều hơn."

Những câu nói dối để xoa dịu nỗi mong đợi nơi thằng bé năm tuổi, khiến người lớn nghe thắt cả lòng. Đằng sau những vinh quang của vòng hoa tươi thắm quàng lên cổ áo người lính trở về từ mặt trận, những khuôn mặt rắn rỏi và kiêu hùng  trong tiếng nhạc rộn ràng kia, có bao giờ lại thiếu những hồi kèn truy điệu thiết tha, ngân lên rồi đọng lại trong lòng người ở lại sự vắng mặt của người đã nằm xuống, không bao giờ trở về.
        
Chuyên trở lại câu chuyện với chị Luân, người góa phụ còn xuân sắc với ba đứa con thơ trên tay, Ngọc không hiểu chị có đủ nghị lực và can đảm để vượt qua cái chênh vênh của cuộc sống chật vật và cô đơn ấy được bao lâu. Cho dù thời gian qua đi, một mai đất nước có thanh bình, nhưng chiến tranh đã để lại những dấu tích bi thảm trên thân phận người vợ lính, những đứa bé không cha dẫy đầy trên mảnh đất quê hương. Nghĩ  tới đây, rồi nhìn thấy đôi mắt ướt của người góa phụ còn trẻ, Ngọc bỗng rùng mình, và mắt nàng cũng rưng rưng một màn lệ mỏng...
        
Tuy nhiên, mùa Giáng Sinh năm ấy lại là mùa Giáng Sinh ý nghĩa nhất trong đời Ngọc, nó đã trở thành một kỷ niệm đẹp của hai người, để Ngọc có dịp đánh giá tâm hồn Chuyên sâu sắc hơn. "Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè", có phải đấy là giá trị duy nhất mà một người Lính sau bao nhiêu lần thử thách với cái chết còn giữ được, ngay cả mạng sống của họ. Bây giờ Ngọc mới thực sự nhìn ra tâm hồn cuả người yêu, rồi nhận ra những cảnh đời cô đơn, cùng khổ đang nhan nhản xảy ra xung quanh nàng, tự nhiên Ngọc không còn thiết tha gì với những cảnh xa hoa, hào nhoáng  ở ngoài kia, nó như  những mảnh vải màu sắc rực rỡ, vá lên một chiếc áo rách tả tơi....

***

Năm nay, mùa Giáng Sinh lại tới, Chuyên và Ngọc đã về với nhau được hơn ba mươi năm, đôi bạn tình đã trải qua nhiều đau khổ với cảnh tan nát của nước non. Chuyên may mắn thoát chết trong những ngày chinh chiến gian khổ, nhưng sau đó chàng nếm thêm nhiều năm tù tội khi đất nước hòa bình. Hoàn cảnh lại xô đẩy Ngọc giống như chị Luân, vợ một người lính đã nằm xuống, nhưng có điều là nàng vẫn còn niềm hy vọng, vì cuối cùng Chuyên cũng trở về với Ngọc và các con. Chẳng hiểu sao định mệnh cứ  đưa đẩy đất nước vào những nghịch lý triền miên như vậy, và điều ấy khiến con người càng ngày càng xa cách nhau hơn.
          
Rồi dài theo những bước chân và sự xoay vần của lịch sử, hai vợ chồng và mấy đứa con lại trôi nổi nơi xứ lạ quê người. Trong mảnh sân vuông vức, Ngọc vẫn trồng một giàn mướp đằng sau vườn để nhớ tới mảnh vườn ở quê nhà năm xưa. Nhìn tia nắng ban mai chiếu ánh sáng qua giàn lá xanh như ngọc, Ngọc lại không quên được những kỷ niệm êm đềm của những mùa Giáng Sinh xưa. Những đợt gió cuối mùa ở quê người, là cái dữ dội của con dao cắt vào ruột kẻ tha hương, chứ không phải cái hiu hắt dịu êm của chút gió cuối năm ở quê nhà những mùa Noel  cũ.

Trời khi nóng khi lạnh, khiến giàn mướp đã xơ xác vẫn còn những chiếc lá thưa thớt xào xạc thoảng qua tai Ngọc, như  tiếng ngân của một cung đàn đềm êm trong quá khứ. Những bông hoa cuối mùa, dường như vẫn giữ lại trong lòng Ngọc biết bao kỷ niệm một thời tuổi trẻ dễ thương nhất của cuộc đời, mà những kỷ niệm ấy như những tiếng chuông mùa Giáng Sinh, vẫn ngân nga trong lòng nàng mỗi khi mùa Giáng Sinh trở lại.
         
Ở góc vườn bên kia, bóng Chuyên lom khom xới đất để sửa soạn trồng những cây hoa pensée mùa Đông. Một thời tuổi trẻ đã qua rồi, nhưng sao lòng Ngọc vẫn ấm áp khi nhớ lại đêm Giáng Sinh năm ấy, chính vì thế trong mắt nàng Chuyên vẫn là Chuyên của những năm tháng cũ. Nắng đã lên rực rỡ, chỉ còn Ngọc đứng dưới giàn mướp đã thưa thớt lá. Nhìn bóng nắng  nhảy múa trên  vai áo mình,  Ngọc tự nhiên nhớ lại mùa Giáng Sinh năm xưa, và mỉm cười vu vơ như thuở nàng còn là người yêu của lính.
   
NGUYÊN NHUNG
Mùa Giáng Sinh
.
Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Thu Jan 08, 2015 11:06 pm



Những Cây Thông Đà Lạt

Truyện Nguyên Nhung

Nếu không tình cờ nhận được cú phôn của người bạn cũ, tôi đã không biết là Huy giờ này cũng đang có mặt trên nước Mỹ. Ba mươi năm rồi còn gì, kể từ khi Huy rời trường mẹ Ðà Lạt, ngày ra trường anh được thuyên chuyển về một chiến trường miền Ðông, hai đứa xa nhau từ đấy. Những mối tình Ðà Lạt, như đã bị vùi chôn trong thung lũng mù sương, tự nhiên bỗng sống lại khiến lòng tôi xúc động đến ngậm ngùi. Hóa ra có những điều người ta tưởng có thể quên, mà nó vẫn còn đó, vẫn mập mờ ẩn hiện trong những cây thông, mà tôi gọi là Những Cây Thông Ðà Lạt.

     Ðiều ngỡ ngàng hơn cả khi nghe người bạn kể lại, tình cờ gặp Huy trong một buổi họp mặt ở Cali, Huy đi đứng không được bình thường, hóa ra anh bị cụt bên chân phải, đã được gắn một chiếc chân giả. Ðiều này khiến thắc mắc của tôi về lá thư của chàng gần ba mươi năm trong phút chốc đã được giải đáp, chưa chắc Huy đã phụ bạc tôi như lá thư chàng viết về Ðà Lạt sau ngày chàng ra đơn vị. Lá thư như một vết dao cứa nát trái tim người con gái miền cao nguyên, khi hai đứa đã có một cuộc tình thật nên thơ suốt bốn năm chàng còn là một sinh viên trường Võ Bị.

     Những lá thư nồng nàn bỗng nhiên bị cắt đứt một thời gian trong bao nhiêu hờn giận lo lắng, không hiểu Huy thời gian ấy ra sao khi những mặt trận càng ngày càng khốc liệt, từ chiến trường miền Trung tới chiến trường miền Nam. Khi ấy Huy là một đại đội trưởng, đơn vị chàng trú đóng ở vùng Long Khánh, nơi có những rừng cao su đất đỏ mà chàng bảo rằng ở đây chỉ một đoạn đường chàng có thể bay về Ðà Lạt, và cũng có thể về Sài Gòn để được gần gũi mẹ già.

     Trong tôi chập chùng bao kỷ niệm của Ðà Lạt năm xưa, bốn năm có chàng ở Ðà Lạt, một thời gian hoa mộng của những chiều thứ Bảy trên đồi thông, khu rừng Ái Ân bên bờ hồ Than Thở, đã ghi lại bao nhiêu đằm thắm cuả một mối tình, chỉ có những cây thông làm chứng cho những lời hẹn thề, gắn bó. Những sáng chủ nhật Ðà Lạt nắng ấm, quanh khu Hòa Bình, ven bờ Hồ Xuân Hương mặt nước lặng lờ, Ðồi Cù bãi cỏ xanh, Lâm Viên lộng gió, nơi nào cũng có tiếng thông reo, nơi nào cũng có nắng ấm và gió lạnh, nơi nào cũng có bước chân chàng và tôi ở đó.

     Vậy mà Huy đã có thể quên, khi rời xa Ðà Lạt chàng bỏ lại người yêu bé bỏng , có căn nhà gỗ xinh xinh nơi dốc hoa vàng, những cánh hoa mimosa li ti rơi kín mặt đường khuya như bài thơ chép vội vàng trong lớp học, một buổi sáng nhớ chàng đến quay quắt:

"Chỉ tại anh nên trời khuya trở gió,
Mimosa phủ kín mặt đường khuya,
Vương đầy tóc, em bắt đền anh đó,
Gỡ giùm đi, đứng cười mãi ô kìa!"
(Thơ Nhất Tuấn)

     Thuở học trò những bài thơ chép đầy trang vở, tình yêu không chỉ lúc một mình trong một nơi yên lặng, mà nó còn xôn xao len lén vào trong lớp học. Bởi vậy, khi lá thư cuối cùng của Huy gửi về Ðà Lạt, như một cắt đứt mà chàng cho rằng chẳng qua định mệnh đã oái oăm chia lìa, để hai đứa phải xa nhau. Huy đã quen một người con gái nơi chàng trú quân, và cũng vì những giây phút yếu lòng của tuổi thanh niên, Huy đành phải chấp nhận người đàn bà ấy làm vợ, khi cô ta đã mang trong mình giọt máu của chàng.

     Lá thư ấy đến Ðà Lạt một thời gian sau ba tháng chàng bặt tin, như một tiếng sét trong cơn mưa, hầu như đã tàn phá tất cả bao hình ảnh đẹp trong lòng tôi thuở ấy. Hình như những cây thông đều rũ xuống và không còn mang theo tia nắng ấm reo vui những ngày Ðà Lạt mộng mơ. Hình như cả Ðà Lạt đều hay tin tôi bị tình phụ. Hình như trong đám bạn bè đã có những nụ cười mỉa mai dấu kín trong ánh mắt. Hình như và hình như, những con đường, những bờ cỏ, những đồi thông năm xưa có dấu tích của hai đứa, bỗng một ngày trở thành những bóng đen đè nặng trong lòng người con gái ngây thơ là tôi ngày ấy.

     Nỗi đau như một cơn bão đã cuốn đi tất cả niềm vui tuổi trẻ, khiến trong mắt tôi ngày ấy, hình ảnh những chàng trai Võ Bị, không còn là thần tượng để ngưỡng mộ và say đắm. Tôi nguyền rủa chàng triền miên khi nghe tiếng thông reo và tiếng gió hú mỗi đêm Ðà Lạt mưa gió, gót giày tôi nghiến mạnh lên những bông mimosa vàng úa rớt đầy trên mặt đường khuya, như giày xéo lên những kỷ niệm của tôi và chàng, cho tan nát, cho mất hút đi theo lòng người bội bạc.

     Tự ái của một người con gái không cho phép tôi gậm nhấm hoài mối sầu vạn cổ, như câu chuyện một người con gái Ðà Lạt, cũng vì yêu mà hủy hoại mạng sống, để khi chết còn xin được chôn trên một ngọn đồi, quay đầu về hướng ngôi trường Võ Bị, nơi ngày xưa hai người đã quen nhau ở đó. Tôi yêu Huy thật nhiều nhưng không thể để con tim mềm yếu đến độ chết vì yêu. Tôi phải quên chàng như chàng đã quên tôi, tôi sẽ đi khỏi Ðà Lạt để tâm hồn khỏi gặm nhấm những nỗi sầu với tiếng thông reo trên ngọn đồi cỏ mượt, như tiếng gió lao xao lướt trên mặt hồ những sáng chủ nhật, như những cánh mimosa màu vàng rơi xuống phủ đầy mặt đường khuya.

     Ðịnh mệnh đưa đẩy gia đình tôi rời Ðà Lạt cùng lúc với nỗi đau của cô con gái bị phụ tình. Căn nhà ở dốc hoa vàng để lại cho người cô, tôi xa Ðà Lạt như để vùi quên một nấm mộ tối. Mãi đến sau này sau nhiều năm, khi sắp sửa đi xa hẳn quê hương, tôi bỗng dưng ao ước được trở về Ðà Lạt, thăm căn nhà xưa, và để lần cuối nhìn lại những kỷ niệm cũ từ nhiều năm về trước, thấp thoáng vẫn thấy hình bóng người xưa trên những con đường cũ, và những cây thông Ðà Lạt...

* * *

     Thế là tôi cũng trở về Ðà lạt một lần, trước khi đi xa, để thăm lại người cô ruột nay đã già yếu, vẫn sống trong căn nhà gỗ nơi dốc hoa vàng, gần trường Bùi thị Xuân ngày xưa.

     Chuyến xe về Ðà Lạt vượt đoạn đường đèo, chênh vênh vách núi có những đoạn đường quanh co của miền Ðông nhiều đồi núi và cây rừng. Khi chuyến xe chạy ngang những khu đồi thông nối tiếp nhau để đưa về Ðà Lạt năm xưa, tôi bỗng thấy lòng rưng rưng , và giây phút đó bao nhiêu kỷ niệm về Ðà Lạt lại hiện về trong lòng tôi. Những ngọn thông xanh Ðà Lạt đã đủ sức réo gọi bao hình ảnh năm cũ, khiến tôi không khỏi thở dài nghĩ về Huy. Bây giờ tôi không còn là người con gái xinh xinh má đỏ môi hồng của Ðà Lạt năm xưa, thay vào đó là nét chững chạc của người phụ nữ khép kín, nhưng vẫn còn chút duyên dáng của một thời xuân sắc.

     Ngày rời Ðà Lạt năm xưa tôi hai mươi tuổi, lần trở về tôi đã ở cái tuổi hai lần hai mươi, không còn trẻ để gậm nhấm những nỗi buồn, nhưng cũng không hẳn quên dễ dàng những kỷ niệm một thời quá đậm nét. Khi loanh quanh những con đường quen, nay đã ủ ê và tàn tạ với thời gian, và cũng vì đất nước đã trải qua bao cơn dâu bể, Ðà Lạt như một người đàn bà tàn phai nhan sắc, nét mơn mởn, vẻ xinh tươi đã không còn nguyên vẹn, tôi có cảm tưởng rằng nụ cười của Ðà Lạt không còn tươi thắm, chỉ gượng gạo như nét cười của người cô phụ.

     Ðêm hôm đó, trong căn nhà gỗ và chiếc lò sưởi vẫn lách tách bay những mảnh hoa than thật mỏng, tôi và cô tôi ngồi bên nhau ôn lại chuyện cũ. Hầu như chúng tôi nhắc lại hết những khuôn mặt cũ, và khi vô tình bà cô hỏi tới Huy, tôi không sao nén được tiếng thở dài. Từ ngày ấy khi rời xa Ðà Lạt, tôi về Sài Gòn tiếp tục đi học, rồi đi làm, sau đó lấy chồng. Chồng tôi là một nhà giáo, hiền hòa, trầm lặng. Sở dĩ tôi không muốn quen thêm một người lính nào nữa, là vì trong lòng tôi một hình ảnh Huy cũng đủ làm tôi nghĩ ngợi, khi cho rằng cuộc đời chiến chinh rày đây mai đó, giữa sự sống chết xảy ra hằng ngày, tôi khó có một đời sống bình an và hạnh phúc khi có một người chồng là quân nhân. Bài học đầu đời vẫn còn đó. Cứ xem như là Huy không muốn phản bội tôi, nhưng cuộc sống buồn chán ở những vùng đóng quân khiến chàng chỉ một chút mà đã sa chân vào con đường không lối thoát, để cũng vì thế mà bao nhiêu tình yêu và mộng đẹp trong đời tôi đã bay đi, như những áng mây hồng trên bầu trời lúc hoàng hôn, phút chốc đã biến mất vào đêm đen vô tận.

     Cô tôi ngồi trên chiếc ghế vải bọc nệm, lúc nào cô cũng đan áo. Không đan áo cho cô thì cũng đan cho cháu nội, cháu ngoại, và cả đan mướn cho những tiệm đan len trong thành phố, để bán cho khách nhàn du khi ghé thăm Ðà Lạt. Cô sống với người con gái chưa chồng, dù tuổi đã lỡ thời nhưng vẫn không dám lập gia đình vì đã nhìn thấy cuộc sống quá khó khăn, người lớn còn chật vật huống gì sinh sản thêm những đứa trẻ thơ thiếu ăn, thiếu mặc.

     Buổi chiều hôm ấy tôi một mình đi xuống dốc hoa vàng, ngắm nhìn lại những căn nhà năm xưa, hỏi thăm cô tôi về những người quen trong xóm. Ðời quả là dâu bể, chỉ hai mươi năm mà bể hóa dâu hay dâu hóa bể là chuyện thường, huống gì cả nước đã chìm vào cơn dâu bể. Tuy vậy, con đường có những cây mimosa hoa vàng hình như vẫn giữ được nét riêng của nó, như chút duyên thầm Ðà Lạt. Những căn nhà màu sơn có lợt lạt đi, những bụi cúc vàng vẫn rung rinh trên lối sỏi vào nhà, và bây giờ thì những ngọn thông đã vươn cao lên trên những nóc nhà, in vào mảnh trời chiều một nỗi buồn hiu hắt. Tôi cứ men theo bờ cỏ để đi lên đi xuống con đường này, như để ghi nhận vào lòng những hình ảnh đẹp của một thời đã qua, bởi vì tôi biết khó có thể trở lại Ðà Lạt một lần nữa, khi gia đình đi định cư ở nước ngoài.

     Tối hôm ấy, sau bữa cơm chiều với cái mát mẻ của rau xanh Ðà Lạt, hai cô cháu tôi ngồi bên lò sưởi, cô tôi vừa đan áo vừa rủ rỉ kể tôi nghe nhiều chuyện Ðà Lạt. Những chuyện xảy ra quanh đời sống của những người quen ở dốc hoa vàng, bây giờ thì tôi mới được biết thêm về câu chuyện của những cây thông Ðà Lạt. Nghe như chuyện hoang đường, nhưng đối với những người dân giàu tình cảm ở miền đất lạnh, Ðà Lạt vẫn là vùng đất sản sinh ra những mối tình lãng mạn và bi thương.

     Ðôi tay vẫn đan thoăn thoắt, cô tôi nhìn ra khung kính cửa sổ, đêm ấy lại là một đêm trăng thật sáng, tôi có thể nhìn thấy những bóng cây thông lay động bên ngoài khu vườn mờ mờ tối. Khó tìm đâu ra cái ấm cúng gia đình như không khí Ðà Lạt, mà cũng khó tìm đâu ra cái rét mướt của những nỗi sầu cô quạnh bằng Ðà Lạt. Bên tách trà nóng, cô tôi bỗng hỏi tôi:

     - "Cháu có nhớ căn nhà màu hồng ngày xưa ở cuối con dốc này không?"

     Tôi cố nhớ lại tất cả những căn nhà ngày xưa ở dốc hoa vàng, hình như căn nhà ấy là của một sĩ quan làm việc trong trường Chiến Tranh Chính Trị. Tôi trả lời sau một phút hồi tưởng:

     - "À, cháu nhớ rồi, căn nhà của ông M., có cô con gái xinh xinh học ở trường Bùi thị Xuân phải không cô?"

     Nói tới đây, tôi lại chạnh nhớ đến Huy, nhớ tới tôi những ngày tháng ấy. Tôi lắc đầu, không muốn bị ám ảnh vì những hình bóng cũ, nhưng đấy cũng chỉ là tự dối lòng mà thôi, vì ít nhiều gì khi trở về Ðà Lạt lần này, tôi vẫn có nghĩ tới chàng. Cô tôi lại tiếp tục câu chuyện:

     - "Ông M. mất rồi, chết trong trại Cải tạo ở miền Bắc. Căn nhà ấy được bán cho người khác, cả cô con gái cũng chết trong thời gian ấy, nhưng hình như linh hồn nó không siêu thoát được, cho nên những đêm trăng như thế này, ai đi đâu về khuya, vẫn thấy dưới gốc thông trước sân có hai cái bóng trắng đứng ôm nhau ở đó, nhưng hễ lại gần là biến mất."

     Không tin lắm chuyện ma quỷ, nhưng giữa một đêm Ðà Lạt trăng sáng như đêm ấy, tôi không khỏi rùng mình và cũng chợt nhìn ra khung cửa sổ. Óc tò mò khiến tôi phải tìm ra cái uẩn khúc của những hồn ma dưới gốc thông nơi con dốc hoa vàng, tôi hỏi cô tôi:

     - "Nhưng sao lại có những hai chiếc bóng dưới gốc cây thông hở cô?"

     Cô tôi bỏ thêm than vào lò sưởi, những chiếc hoa than lại bay lên kêu lách tách, khiến câu chuyện trong đêm vừa ly kỳ mà lại thêm điều gì u uẩn đến lạnh người. Cô tôi chậm rãi kể:

     - "Con bé ấy xinh đẹp, dễ thương mà chết sớm quá, đúng là hồng nhan bạc mệnh. Cháu có nhớ sau năm 75, các sĩ quan bị đưa đi tập trung cải tạo, cha của nó cũng bị đưa ra Bắc vì ông ta là một sĩ quan cấp tá. Gia đình lâm vào cảnh cùng cực, bà vợ hồi xưa sống dựa vào chồng cho nên khi ông ta đi tù thì đời sống gia đình thê thảm lắm. Họ phải mở một cái quán nước để mẹ con bấu víu vào đấy mà sống, mấy đứa con phải nghỉ học để giúp mẹ. Cái tội nhất là cô con gái mà cháu biết. Nó thật xinh đẹp nết na, ngày xưa cũng có quen với một anh chàng bên Võ Bị, hai đứa chúng nó hứa hẹn là khi ra trường sẽ làm đám cưới, nhưng..."

     Không biết tại sao tôi lại buột miệng cắt lời cô với một vẻ mỉa mai, khi nhớ tới chuyện của mình ngày xưa:

     - "Có phải khi anh ta ra đi là quên mất lời thề, và cô ta đã bị bỏ rơi."

     Hình như hiểu được lòng tôi, cô tôi chỉ mỉm cười

     - "Không phải thế đâu cháu, đâu phải trái đất này chỉ đầy những con người phản bội. Nếu thế thì làm gì có chuyện hai hồn ma hiện về dưới bóng cây thông mỗi đêm trăng sáng."

     Tôi cũng mỉm cười, trở lại với câu chuyện dang dở của hai cô cháu:

     - "Vâng, có lẽ cháu nhìn đời không được bình thường thôi cô ạ. Thế chuyện làm sao nữa hả cô?"

     Cô tôi nhắp một ngụm trà rồi hắng giọng kể tiếp:

     - "Những năm sau cuộc chiến, bao nhiêu chuyện xảy ra thật là bi thảm cho nhiều gia đình người dân miền Nam, cho nên, nhà con bé An, cũng là một trong những cảnh đáng thương mà cô nhìn thấy. Người yêu của nó sau khi ra trường, được đổi về một đơn vị ngoài Ban mê Thuộc, chính là điểm khởi đầu cho cuộc tiến công vào miền Nam, và anh ta không bao giờ trở về nữa cháu ạ. Nghe nói khi hay tin anh ta chết, con bé An có đi tìm đến gia đình anh ta, nhưng hầu như chẳng bao giờ còn có hy vọng tìm được xác người lính ấy nữa. Thật tội nghiệp! Từ đấy, con bé như người mất hồn, bố lại bị đi cải tạo, được vài năm thì chết trong tù, gia đình ấy tan tác từ đấy. Con bé cứ buồn rầu mãi, người xanh lướt như tàu lá, vì đời sống ăn uống thiếu thốn, dồn dập bao nhiêu chuyện buồn, cho nên vào một năm trời Ðà Lạt bỗng trở lạnh hơn mọi năm, tự nhiên nó lang thang đi ra ngoài lúc ban đêm, về nhà bị cảm lạnh, sưng phổi rồi chết."

     Cô tôi ngưng lại như để nén những xúc cảm đang dâng trong lòng cô. Tôi cũng im lặng mà nghe như trong bóng đêm đầy ắp một nỗi buồn. Tôi nhớ cô bé An, nhỏ hơn tôi vài tuổi, rất xinh xắn trong chiếc áo len màu xanh đồng phục của trường Bùi thị Xuân, mỗi buổi sáng vẫn hay đi ngang nhà tôi, khép nép chào bố mẹ tôi mỗi lần gặp. Bây giờ cô đã ra người thiên cổ, và gặp người yêu ở bên kia thế giới. Thế cũng là một điều vui, chẳng hơn tôi và Huy, vẫn còn ăn còn thở mà đời thì như đã nghìn trùng xa cách... Nhìn ánh trăng mờ ảo ngoài khu vườn đầy bóng cây lay động dưới gió đêm, nghe hàng thông phía sau nhà reo vi vu trong đêm tối, tôi vẫn trăn trở với hai chiếc bóng của đôi tình nhân trong ngôi nhà cuối dốc. Tôi hỏi:

     - "Bây giờ gia đình An còn ở đấy không hả cô?"

     Cô tôi khẽ thở dài, vẫn đưa những mũi kim nhanh thoăn thoắt dưới ánh đèn dìu dịu của căn phòng, và tiếng than hồng vẫn tí tách trong lò sưởi:

     - "Không, nhưng câu chuyện chưa chấm dứt ở đây, để cháu thấy là thế giới của linh hồn có những điều kỳ diệu mà mình không hiểu được. Cô nghe kể lại rằng, hồi hai đứa nó yêu nhau, có trồng một cây thông ngay lối vào nhà, và không biết họ đã hẹn thề với nhau như thế nào, nhưng cây thông ấy thì càng ngày càng cao lên theo tình yêu của họ. Nhưng từ lúc anh chàng Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị ấy ra trường, rồi hy sinh ngoài mặt trận, người ta chưa nhắc tới chuyện hồn ma nơi gốc thông ấy. Chỉ đến khi con bé An chết đi, người ta vô tình mới phát hiện được hai cái bóng đứng ôm nhau dưới gốc thông mỗi đêm trăng. Từ đằng xa, rõ ràng có hai cái bóng trắng quấn quýt dưới gốc thông, người trong xóm về khuya cứ tưởng là có người đang hẹn hò tâm sự dưới đêm khuya, nhưng đến khi lại gần thì không nhìn thấy gì nữa, hai cái bóng đã biến mất. Không phải một lần mà người ta đã tin, nhưng đã có nhiều người nhìn thấy rồi, cho nên dù không tin cũng phải tin, có người còn mua cả hoa thơm và nhang đèn để cầu cho đôi bạn ấy được siêu thoát."

     Nghe cô tôi kể tới đây, tự nhiên tôi cũng phải rùng mình, và càng cảm thương cho một mối tình chung thủy, đẹp tuyệt vời của đôi tình nhân, huống gì cô bé An lại là người hàng xóm của tôi ngày xưa. Cô tôi lại tiếp tục kể:

     - "Thật tội nghiệp cho những người tuổi trẻ yêu nhau thời chinh chiến. Linh hồn họ bị những lời thề ràng buộc mãi vào nơi chốn trên trần gian, cho nên vẫn tìm cách đến với nhau dù đã xa lìa cõi thế. Cuối cùng , sau cái chết của chồng và cô con gái, mẹ cô An đưa các con về Ðơn Dương làm rẫy, căn nhà được bán lại cho người khác..."

     Tôi tò mò ngắt lời cô:

     - "Thế linh hồn đôi tình nhân còn hiện về dưới gốc thông những đêm trăng nữa không cô?"

     Cô tôi gật đầu:

     - "Vẫn còn, hình như khi sống họ ở đâu, đến khi chết linh hồn chưa siêu thoát, họ cứ theo lối cũ mà về. Mãi tới khi làm lại con đường cho rộng hơn theo chỉ thị của nhà nước, phải chặt cây thông vì nó nằm gần vệ rào, từ đấy đôi tình nhân mới thôi trở về với nhau. Nhưng tội lắm cháu ạ, hôm đốn cây thông cô cũng ra xem, trời cứ âm u suốt ngày hôm ấy, lúc cây thông được đốn ngã xuống những giòng nhựa tươm đầy dưới gốc thông. Nó màu đỏ cháu ạ, đỏ xậm như máu, thay vì màu nâu nâu như thứ mủ thông cháu thường thấy, mủ cây thông này lại màu đỏ. Nhìn nó cô cứ tưởng như những giòng máu đỏ của chàng trai Võ Bị năm xưa đã nằm xuống khi tuổi còn thanh xuân, và cho một lời thề còn dở dang..."

     Nghe cô tôi kể tới đây, tôi rợn cả người, trong khi ấy bên ngoài khung cửa sổ, tôi nhác thấy những bóng thông oằn oại dưới ánh trăng. Ðêm Ðà Lạt rét mướt, ẩm ướt những sương khuya, tiếng thông reo như một bài tình ca bất tận, những chiếc hoa than vẫn lách tách trong lò sưởi, bỗng dưng tôi nghe như có những giọt nước mắt ngậm ngùi rơi âm thầm trong bóng tối của một đêm tôi trở về Ðà Lạt.

 * * *

     Bây giờ ở xứ người, tôi vẫn nhìn thấy những bóng cây thông Ðà Lạt năm xưa. Mỗi mùa Xuân sang, trời ấm áp, những chiếc hoa thông đầy phấn vàng, những bóng nắng lấp lánh trên ngọn thông, tôi vẫn nhớ về Ðà Lạt và câu chuyện tình của cô bé tên An với chàng trai Võ Bị.

     Cú điện thoại của người bạn cũ và câu chuyện gặp lại Huy với chiếc chân đi khập khiễng, làm lòng tôi mơ hồ nhớ lại chuyện mình năm xưa. Và tôi cũng chợt nhớ đến thời con gái còn ngây thơ, tham gia trong một tổ chức thiện nguyện của nhà thờ, tôi và cô bạn cũ thường hay dành những chiều thứ Bảy để đi thăm những người thương binh trong quân y viện. Lần ấy, chúng tôi đã bị từ chối bởi một người sĩ quan trẻ cụt cả hai chân, mặt xanh lướt, đắp một tấm chăn mỏng trong phòng dưỡng thương của bịnh viện. Anh nằm yên lặng, đôi mắt đăm đăm nhìn lên trần nhà, tấm chăn đắp cho thấy anh chỉ còn hơn nửa phần trên của cơ thể. Khi thấy chúng tôi ngỏ ý thăm anh, anh quay mặt vào vách tường và bảo người lính đóng cửa phòng lại. Tôi còn nhìn thấy trên khuôn mặt xanh lướt ấy, đôi mắt anh như chất chứa một đám mây đen tuyệt vọng.

     Bây giờ khi tôi chợt hiểu về lá thư tuyệt tình của Huy gần ba mươi năm trước, thời gian trôi đi khá lâu để tôi không còn cơ hội tìm gặp chàng, để cảm tạ ân tình cao đẹp của người trai Võ Bị năm xưa, khi anh cũng mang mặc cảm giống như người thương binh bị cụt chân nằm trong Quân Y viện, không muốn bắt người yêu hy sinh và chia xẻ gánh nặng với mình trong suốt nẻo đường trần. Anh đã chịu mọi thiệt thòi, mất mát nhất của người trai trong thời ly loạn, kể cả việc bị tôi nguyền rủa anh là kẻ bạc tình , và đã quên anh như quên một chiếc bóng bên đường.

     Không biết tôi có nên tìm lại anh để nói những lời giải bày cho một chuyện tình ngày trẻ tuổi. Có lẽ cũng không nên gặp lại khi cả hai đã có một cuộc đời riêng, như định mệnh đã xô đẩy hai đứa về hai phương trời khác biệt. Nhưng tôi biết rằng từ hôm nay, tôi vẫn yêu Ðà Lạt, vẫn giữ mãi trong lòng những ngọn thông xanh Ðà Lạt năm xưa, khi ngồi với Huy dưới một gốc thông trong khu rừng Ái Ân, bên bờ hồ Than Thở.

(Thân tặng các bạn của tôi, khóa 25 VBÐL.)

Nguyên Nhung
.
Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Wed Jan 14, 2015 6:52 pm



Cây Mai rừng của Người Lính Trận

Nguyên Nhung


Ông Thành xuất thân là một quân nhân, nhập ngũ từ năm mới hai mươi tuổi. Đất nước chiến tranh tuổi thanh niên đa số dấn thân vào con đường binh nghiệp, dù chẳng ham gì cảnh cốt nhục tương tàn, nhưng khổ thay cây muốn lặng mà gió chẳng chịu ngừng. Muốn hòa bình phải có chiến tranh, định mệnh đưa đẩy khiến toàn dân đều chịu chung số phận nghiệt ngã của một đất nước bị phân chia kéo dài 20 năm đằng đẵng. . .

Hơn mười năm lính, bao lần xông pha trận mạc, trôi nổi sống chết với đồng đội chiến hữu của mình trên khắp các chiến trường miền Đông, rồi lại chuyển qua miền Tây. Mỗi nơi mỗi vẻ, nhưng in đậm trong trí nhớ của ông Thành là chiến trường miền đông, vùng chiến địa đôi khi lại là một cánh rừng thưa mà mỗi độ Xuân về, mai rừng nở hoa bát ngát mênh mông một màu vàng rực rỡ. Ông Trời trớ trêu đem cái đẹp của rừng mai lúc sang Xuân, lồng vào nỗi buồn ray rứt của khói lửa binh đao, khiến lòng người lính trận thắt lại mênh mang khi ngắm hoa nở trên đầu súng.
 
Những năm xa gia đình, ăn Tết trên rừng với hoa mai vàng óng ả đã ghi đậm trong lòng ông Thành một bức tranh tuyệt vời trong đời quân ngũ. Tết trên rừng nơi vùng hành quân nào có gì , nếu không nhờ những cánh mai vàng hồn nhiên rung rinh hé nở trong nắng sớm, và chút se sắt của gió Xuân làm thổn thức con tim người lính trận. Xa vợ con, xa gia đình, xa phố thị bình yên, những buổi chiều nơi vùng trú quân năm nào im tiếng súng, thân phận người lính trận có gì vui khi được lai rai ly rượu đế, món thịt rừng và con khô nướng, để nhớ về không khí ấm cúng của gia đình, và những buổi chiều Xuân nhộn nhịp, an bình nơi thành phố. Ông Thành đã có nhiều năm ăn Tết ở đơn vị với chiến hữu, đã quen dần với những mùa Xuân xa nhà, cho đến năm ấy sau một lần hành quân đụng nặng cấp tiểu đoàn, ông bị thương nặng ngất đi vì mảnh đạn pháo dập đứt lìa một chân, và bao nhiêu mảnh nhỏ ghim vào thân thể.

Thế là giã từ vũ khí, giã từ nếp sống nhà binh rày đây mai đó, ông làm người phế binh an phận bên lề cuộc chiến, đời sống tương đối được ổn định nhờ người vợ hiền tần tảo buôn bán nuôi con. Lúc nghĩ đến chuyện mua một căn nhà để có một chỗ ở cố định, ông Thành chống nạng đi lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm, mãi mới ưng ý một dẻo đất gần bờ sông, uốn cong theo thế đất để đi vào một con rạch nhỏ. Ông tính toán thú điền viên cho mình ở cái tuổi chưa già nhưng xem như đã phế thải với cuộc đời, thôi thì một căn nhà tôn vách ván, sân trước sân sau cũng rộng rãi thoáng mát, nuôi con heo con gà quanh quẩn với vườn rau, bù vào đồng lương khiêm nhượng của một thương phế binh, cộng thêm bà vợ tần tảo chăm làm đời sống cũng không đến nỗi.

Tuy giã từ vũ khí, chấp nhận đời sống êm ả của một cảnh đời tàn phế vì chiến tranh, ông Thành thường nhiều lần trở lại trong mơ quãng đời của người lính trận, mỗi lần ngồi tần ngần nhìn dòng nước chảy ông miên man nhớ lại những khuôn mặt bạn bè, chiến hữu một thời của mình với nỗi nhớ nhung, thương yêu đằm thắm. Tuy đã xa rồi chiến trường xưa, bạn bè thời quân ngũ nhưng trong lòng ông vẫn vọng về những kỷ niệm in hằn trong trí nhớ, nhớ nôn nao chén rượu cay, con khô nướng, ly bia sủi bọt trong cái quán cóc ven đường có cô hàng xinh xinh ở vùng hậu cứ , tiếng cười ngất ngưởng của những Kinh Kha thời đại. Có đi vào chiến tranh, có chia xẻ tận tình với nhau những lần sống chết mới thấm thía được nỗi nhớ ấy như thế nào. Chẳng những thế còn in đậm trong ông nỗi nhớ cánh rừng mai vùng chiến địa năm xưa, khiến ông quyết định mua một dẻo đất vuông vức khá đẹp trong Xóm Hoa Mai để cất một căn nhà làm chỗ an cư lạc nghiệp.

Vậy là may lắm rồi, khi còn biết bao nhiêu người vợ lính ẵm con thơ chạy theo chồng từng bước trên các nẻo đường chinh chiến với đồng lương cố định ít ỏi, những năm ấy ông rong ruổi một mình như con chiến mã trên dải đường xa, để một mình bà vợ lo toan nuôi đám con ăn học . Chẳng biết cái tên Xóm Hoa Mai có tự bao giờ, nhưng đặc điểm của xóm là nhà nào cũng trồng một, hai cây hoa mai ở sân trước, bên hiên nhà lẫn trong bóng của cây mận, cây dừa. Vì thế khi xuân về từ đầu xóm đến cuối xóm, nhà nào cũng có hoa mai vàng rực rỡ trên cây và thảm hoa rụng đầy trên mặt đất. Ông Thành đi kiếm đất cất nhà vào mùa Xuân năm ấy bỗng như lạc vào rừng hoa mai ở chiến trường xưa thuở nào.

Người chủ đất biết được cái thích của ông Thành nên vì thế miếng đất khá cao giá hơn chỗ khác, ông cũng biết vậy nhưng nếu so với cái hạnh phúc của người tìm được điều mình thích thì giá ấy chưa phải là đắt.

Khi cất xong ngôi nhà đơn sơ với số tiền do bà vợ đảm đang dành dụm trong nhiều năm buôn tần bán tảo, cả nhà cảm thấy đã an cư lạc nghiệp. Trên mảnh đất ấy đã có sẵn vài cây dừa và hai cây mận, đủ làm bóng mát ban đầu cho căn nhà ven sông thêm thơ mộng, và ở vườn sau thả thêm một đàn gà, nuôi hai con heo, cộng thêm vài con vịt xiêm ồn ào đi đi lại lại rồi nhảy xuống mương lặn lội cũng vui vui. Việc đầu tiên là ông Thành đi lùng mua một gốc mai quý để trồng ở sân trước. Chưa tìm được thì một sáng kia, đang loay hoay với cái hàng rào bông bụt trước sân ông nghe có tiếng gọi quen quen:
- Ông thầy!

Ông ngửng lên nhìn nhưng đôi mắt vì chói ánh mặt trời nên nhìn chưa rõ, để rồi khi nhìn ra, ông suýt làm rơi cái nạng xuống đất, mừng rỡ nhận ra tiếng nói quen thuộc của người lính đàn em cùng đơn vị năm xưa. Đôi con mắt nhìn nhau rươm rướm lệ, nhìn người đàn em về phép với bộ chinh y còn bám bụi đường xa, khuôn mặt hằn lên những gian khổ chiến trường khiến ông chỉ muốn khóc. Ông hỏi, ngỡ ngàng biết bao khi thốt lên mấy tiếng thân thương của một người đàn anh cùng đơn vị thuở nào:
- Ôi! Chú mày! Sao biết anh ở đây mà tìm?

Người lính trẻ toác miệng cười vô tư:
- Em hỏi thăm thì biết. Sẵn dịp về phép, ghé thăm ông Thầy và mang về một món quà ở chiến trường  xưa. Ông thầy có nhớ khu rừng mai hồi xưa mình đụng lớn ở đó không? Vừa rồi đi qua đó, thấy có loài mai quý em vội bứng cây mai này để dành tặng ông Thầy làm kỷ niệm. Cây này khỏe, xem nhỏ vậy nhưng cũng già rồi, em chăm nó kỹ lưỡng đợi khi có phép mới mang về được đây. Ông thầy chịu khó chăm nó độ mùa Xuân năm sau là hy vọng có bông chưng Tết.

Ông Thành cảm động nói không nên lời, ôi tình huynh đệ chi binh tưởng chỉ có được thời gian còn tại ngũ, trong sách vở và mấy bản nhạc bốc thơm đời lính, hóa ra nó không phải là những lời hoa mỹ trên đầu môi chót lưỡi, uốn éo trên môi miệng nhũng cô ca sĩ. Chẳng có gì quý hơn khi mình tặng cho người khác món quà mà người ta đang mơ ước, mong đợi, cây mai rừng của người lính trẻ đối với ông Thành quý còn hơn vàng bạc. Lúc khề khà ly bia sủi bọt với người lính cũ, anh ta ngà ngà say chỉ vào dúm đất ôm lấy gốc mai xanh mướt, nói với ông Thành:
- Cái nhúm đất ở gốc mai này có khi cũng đã nhuộm máu binh lửa đó ông thầy à. Hổng biết sao chứ em mơ hồ là nó sẽ gắn liền với ông thầy hết cuộc đời trong cái mảnh sân và căn nhà này đó. Hễ ngày nào đó thấy mai nở, ông thầy sẽ nhớ đến em, cho dù em còn sống hay chết…

Ông Thành mắng yêu người lính trẻ mà đôi mắt ông sao ướt nhòa như trời mưa:
- Bậy nà! Khi nào về phép nhớ ghé thăm anh nghe …

Người lính trẻ giã từ ông thầy cũ của mình rồi trở ra đơn vị, để lại cây mai quý mọc lên từ cánh rừng khói lửa miền Đông. Cây mai cứ thế lớn nhanh như thổi, vì ông Thành chăm sóc nó còn hơn mẹ chăm con mọn. Không biết sao từ đấy, những lúc vui, buồn quanh quẩn bên cây mai với đôi nạng gỗ, ông Thành dường như thấy lòng mình ấm hẳn lại. Ông gửi lại chiến trường một phần thân thể của mình, có khi chính những dòng máu của ông và bao người lính đã loang chảy và thấm sâu xuống lòng đất ấy, để hội tụ vào những gốc mai trong cánh rừng thưa nở hoa vàng mỗi độ Xuân về, gom lại thành một thứ tình đồng đội khó nguôi ngoai.

Những sớm mai khi thức dậy, những buổi chiều gió hiu hiu từ bến sông phả vào khu vườn nhỏ tiếng lá reo, đã thấy bóng ông lom khom với đôi nạng gỗ bên cây mai, lắm khi cao hứng ông còn hát một mình:
- Người về, người về nay đã cụt chân Máu đào, máu đào đã thấm trên thây bao nhiêu quân thù …u ù, một ngày chinh chiến mùa thu…

Cây mai lớn nhanh theo cái tình đằm thắm thương yêu của người thương phế binh đã một thời xả thân trên chiến trường cũ.

Nó chẳng phụ công ông chăm sóc nên mùa Xuân năm sau cây đã đơm những bông hoa đầu tiên, tám cánh vàng tươi rung rung trong nắng sớm, khác nào nụ cười xinh xinh của các cô em gái hậu phương thuở ấy. Không có ngòi bút nào diễn tả hết được nỗi vui của người thương binh chống nạng đứng ngẩng nhìn những đóa mai vàng tám cánh rung rinh trong nắng sớm, nhìn nó ông Thành lại nghĩ đến hình ảnh người đàn em có cái miệng cười thật tươi khi đến thăm ông lần về phép năm trước.

Để rồi vô tình có ngày ông Thành bỗng phát hiện ra mọi buồn, vui trong đời ông hình như đã được cây mai báo trước mà sau khi chuyện xảy ra, ông mới thấy được sự kỳ lạ ấy. Hai năm sau, một đêm mùa hè ông Thành không ngủ được, trời đêm ấy có trăng nhưng lặng gió, ông quanh quẩn thả ra gốc mai rồi lại quay vào ngồi trước hiên nhà hút thuốc.

Đêm khuya rồi mà vẫn khó ngủ, ông vào nhà ghé mình lên chiếc phản gỗ nhưng vừa đặt mình xuống và lơ mơ đi vào giấc ngủ, ông nghe như từ cây mai có tiếng chuyển động của những bước chân, y hệt tiếng xê dịch của những gót giày nhà binh mỗi lần chuyển quân. Từ chỗ gốc mai tự nhiên gió nổi lên lồng lộng khiến cây lá rì rào, thì thào với nhau giữa canh trường. Không biết thức hay ngủ giữa cơn mộng mị, ông Thành nhác thấy người lính trẻ đàn em tặng mình cây mai năm nào đang đứng tựa cành mai, dưới ánh trăng mờ anh ta toác miệng cười với ông, nụ cười thân thương của người đàn em khiến ông mừng quá quơ đôi nạng định chạy ra ôm lấy người chiến hữu của mình. Ngay khi ấy ông chợt tỉnh, thì ra đấy chỉ là một giấc mộng. 

Ông Thành tỉnh hẳn rồi không ngủ lại được, hoặc có ngủ thì cũng chỉ chập chờn nửa tỉnh nửa mê chờ sáng. Linh tính cho ông biết có chuyện gì …xảy đến với thằng đàn em dễ thương của mình, như câu dặn dò của hắn trước khi chia tay, trong lúc ngà ngà men rượu:
- Một ngày nào đó mai nở, ông thầy sẽ nhớ đến em, dù em còn sống hay đã chết…

Từ hôm ấy sau giấc mộng kỳ lạ giữa đêm trăng, bóng hình người lính trẻ cứ mãi chập chờn trong tâm hồn người đàn anh khiến ông Thành khắc khoải một nỗi mong đợi khôn nguôi. Không chịu được nỗi buồn u uẩn đó, ông Thành viết thư thăm người bạn cũ cùng đơn vị năm xưa, hỏi thăm đàn em mới biết tin người lính trẻ tặng ông cây mai quý đã biền biệt ra đi đúng vào khoảng đêm trăng mùa hè hôm ấy.

Từ ngày ấy người trong nhà thấy khi trời nhập nhoạng chiều, gió se sắt thổi từ bờ sông phả vào sân trước là ông Thành lặng lẽ cặm ba cây nhang dưới chân cội mai, nơi cái nhúm đất con con mà người lính đã mang về từ chiến trường xưa dưới gốc cây, đôi mắt ông đau đáu một nỗi buồn dịu vợi...

Hôm đầu tiên nghe tin người đàn em đã tử trận, ông Thành ngơ ngẩn suốt buổi chiều cạnh gốc mai lá xanh mươn mướt, lúc nào ông cũng chỉ muốn khóc. Khi cặm những cây nhang xuống đất, ông bật lên khóc rưng rức, rồi vu vơ mắng yêu vào cái khoảng không trống trải của hư vô:
- Mồ tổ bây, còn trẻ vậy mà sao đi vội thế!

Mùa Xuân tiếp nối mùa Xuân, người thương binh giờ đây già đi với mái tóc muối tiêu và khi gió trở mùa, những vết thương cũ ê ẩm làm ông khó ngủ hơn. Vẫn chỉ có cây mai làm bạn để ông hát vu vơ bản nhạc cũ:

Người về, người về nay đã bị thương
Nhưng lòng vẫn nhớ, người ơi biên cương xa vời, ơ hờ
Người về nay đã bị thương…

Cây mai bây giờ đã thành cội, tính theo tuổi đời kể từ ngày người lính đem về tặng ông đến nay thì nó đã được sáu tuổi, mỗi độ Xuân về hương sắc càng rực rỡ theo tuổi dậy thì của cô con gái ông Thành đang bước vào tuổi mộng mơ.

Ông Thành có thêm niềm vui lúc Xuân sang, một lũ bạn học cùng lớp của con gái ríu rít chen nhau đứng chụp hình dưới gốc mai, cô nào cũng khoe nụ cười hàm tiếu. Chuyện ấy làm ông liên tưởng đến mỗi lần hành quân về thành phố, người hậu phương đến thăm lính trận từ chiến trường xa mới về choàng vòng hoa chiến thắng. Mấy thằng đàn em của ông khi xung trận lì lợm ghê, vậy mà khi đứng trước giai nhân, lúng túng vụng về chỉ biết nhe răng ra cười, đúng là ” chí lớn trong thiên hạ, không đựng đầy đôi mắt giai nhân”.

Mùa Xuân năm ấy ông Thành vẫn lắng nghe trong đêm tiếng đại bác ì ầm từ xa vọng về thành phố, ánh hỏa châu lơ lửng giữa đêm đen, chiếc máy bay trực thăng bắn ra những tia lửa đỏ rực ở vùng ngoại ô, và bản tin mỗi ngày đọc sao nghe nặng nề hơn trong lòng người lính cũ. Ông thầm nghĩ, mình an phận rồi dù có gửi lại chiến trường cái chân và những mảnh đạn ghim vào người vẫn còn ê ẩm lạ, nhưng sao chưa thấy năm nào mùa Xuân sắp đến mà trời đất lại buồn như năm nay. Trước Tết ông Thành đã chọn ngày lặt lá mai, pha mấy chậu nước ấm tưới vào gốc mai để thúc cho hoa nở đúng kỳ hạn. Chẳng bao giờ ông Thành cắt một cành mai để chưng trong nhà hay tặng cho bằng hữu anh em dù thân tình cách mấy.

Ông quan niệm phải giữ trọn vẹn tất cả những gì của cành mai, như lúc nào ông cũng trân trọng linh hồn của người đàn em, mà chẳng những thế cả cái nhúm đất con con mang theo gốc mai của người lính trẻ đã chết đem về, ông cũng muốn nó còn tồn tại mãi trong mảnh sân này, chỉ ở mảnh sân này mà thôi...

Cũng như mọi năm cây mai ra nụ rất nhiều, nụ lớn nụ bé chen nhau trên cành chỉ còn thưa thớt ít lá đẹp làm màu xanh cho cây, cả nhà ai cũng tấm tắc mong đợi khi chiều ba mươi Tết các nụ hoa đã mơn mởn lên chúm chím chờ hé nhụy. Hình như đối với ông Thành thì chỉ có cây mai này mới hoàn toàn đem mùa Xuân đến cho ông, với một nỗi niềm riêng gửi gấm vào đó mà không cần ai hiểu, chiều ba mươi Tết cây mai vẫn hứa hẹn một vẻ đẹp mãn khai cho ngày đầu Xuân đầy hy vọng.

Nhưng không thể ngờ, định mệnh như một bàn tay tai quái thổi cơn gió hung tàn vào cái đêm cuối cùng của một Năm, giờ giao thừa đã qua mà gió ở đâu ào ào thổi qua vườn làm ông Thành lo lắng thắc thỏm không yên. Chẳng lẽ không khí chiến tranh hiện diện trong nỗi thống khổ của dân tộc, đã hơn hai mươi năm lại gom thành cơn gió oan nghiệt thổi thốc vào cây mai báo hiệu một mùa Xuân Khổ chia xa , trong gia đình đang bình yên của ông. Cả nhà đã yên giấc khi nửa đêm về sáng, ông Thành lại trằn trọc hồi tưởng đến mùa Xuân trên cánh rừng miền Đông khi ông còn là lính trận, chợt tiếng xào xạc của cây mai sân trước bị gió xoáy vào trong đêm trừ tịch, nghe như âm vang của từng bước chuyển quân năm xưa làm ông rùng mình.

Chợt nhớ đến khuôn mặt của người đàn em hiện về trong giấc chiêm bao, cũng đêm đó gió ở đâu lồng lộng quay cuồng nơi gốc mai sân trước, ông Thành hình dung ra một sự đổ vỡ mà không định nghĩa được là cho mình hay cho ai. . .

Sáng hôm sau ông dậy sớm, vợ ông đã sửa soạn bữa cơm cúng đầu năm trên bàn thờ ông bà tổ tiên, khói hương nghi ngút và trầm trầm một sự tưởng nhớ rất thiêng liêng. Ông Thành đốt mấy nén nhang cắm trên bàn thờ ông bà, rồi đốt thêm ba nén nhang đem ra cây mai để gọi là mừng tuổi đất trời và để tưởng nhớ bạn bè, gọi thầm những hình xưa bóng cũ.

Từ trong nhà bà Thành nghe có tiếng rơi của chiếc nạng gỗ và tiếng kêu thảng thốt như tiếng khóc khô khốc của ông Thành vọng lên trong buổi sáng đầu Xuân còn mờ hơi sương:
- Trời ơi!

Bà Thành chạy ra sân rồi không tin vào mắt mình. Bao nhiêu nụ và hoa đều rụng xuống tả tơi như một tấm thảm trên mặt sân lát gạch đỏ, còn ông Thành thì ngã lăn ra dưới gốc cây lịm đi như một xác chết. Mùa Xuân ấy là mùa xuân năm một chín bảy lăm.

.
Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Wed Jan 28, 2015 9:47 pm


Mùa Xuân Và Cô Ngò Rí


Nguyên Nhung


Tháng Ba vào Xuân, cỏ dại tràn lan khắp vườn là lúc đám ngò rí cũng chen vào mọc lên từng mảng xanh rờn. Không biết sao lại gọi là ngò rí, chắc tại dựa theo hình dáng nhỏ bé và xinh xắn cuả cô, e thẹn nhô mình lên khoảng đất trống gần nhà bác bông giấy màu tím hồng như màu áo cô dâu ngày cưới, nay muà Đông khắc nghiệt đã qua đi, cô chờ mãi mà chưa thấy bác ấy trổ lá non như mọi năm. Cùng một vài loại cỏ dại mà cô không biết tên, qua mấy cơn mưa đầu xuân đám ngò rí lớn lên thật mau, chưa gì đã phủ kín những vạt đất trống khô queo trong những ngày cuối Đông đất trời ủ giột.

Muà đông vưà qua lạnh khủng khiếp, khó diễn tả nổi cái rét thấu xương thổi qua khu vườn làm cho cỏ cây đều run lên bần bật rồi chết cóng. Lúc ấy cô ngò rí còn nằm trong lòng đất, từ tháng Sáu  năm trước cô cứ nằm yên đấy chờ đợi, mẹ cô  trước khi được người ta nhổ lên theo đám rau  già, biết có một ngày sẽ không thể ở lại với lũ con nên đã dặn dò:
“Cuộc đời rồi cũng trôi qua như bóng mây, mẹ con mình sẽ có lúc phải chia tay. Mẹ có phải ra đi thì cũng đến lúc phải đi, không ai qua được cái vòng cuả sinh lão bệnh tử. Các con ngoan ngoãn ở lại đây chờ đến khi xuân sang, lại nẩy nở mà làm đẹp cuộc đời.”

Mẹ cô không bi quan trước sự ra đi, riêng lũ con ở lại ngậm nỗi sầu chia ly trong lòng đất ẩm. Lúc ấy cô cũng không khóc được, chỉ nhớ mãi mùi thơm cuả mẹ hiền, mỗi lần chủ nhà cần một nắm lá ngò cho bát miến, tô phở là đã có họ nhà ngò cung cấp ngay. Một câu chuyện dí dủm cuả người chủ nhà với khách phương xa khiến lòng cô ấm lại:
“Chị ơi! Ở đâu mà chị có cái giống ngò rí thơm nức mũi cuả quê mình vậy hả chị?”

Bà chủ nhà sung sướng khoe:
“Cũng có duyên lắm mới gặp lại mùi hương cây ngò rí quê mình đấy cô ạ. Đã lâu đến chơi nhà một người bạn, bắt gặp một mảnh vườn rau quê hương, thế có tuyệt không chứ! Quả thật chả thiếu thức gì, từ cây rau răm cho đến ngò gai, húng quế, những thứ ấy thì ngoài chợ không thiếu, nhưng mùi hương lại không nồng nàn như các thứ rau trồng tiả được trong vườn. Rồi tiện tay vo vo mấy cái lá nhỏ, mới phát hiện ra một mùi hương nồng nàn gần gũi quá, thì ra  mình đã vô tình ngắt mấy cái lá ngò rí. Khi về, chủ nhà tặng luôn cho một nắm hột, rồi từ nhà nọ sang nhà kia, giống ngò rí quê mình cứ lan tràn đem mùi hương đi khắp chốn.”

Khách tấm tắc khen:
“Sao lạ ghê chị ạ, cũng cùng một loại như vậy mà rau nhà trồng hương vị lại khác, còn ngoài chợ trông cũng mượt mà, sởn sơ, nhưng hít mãi chẳng thấy mùi vị, nhiều lúc ăn cho có chứ không cảm được mùi hương cuả nó.”

Sự ra đi cuả mẹ ngò thật áo não vào một chiều tháng Bảy, những cơn nắng hè đổ xuống làm khô những hột ngò tròn xoay bé xíu như những hạt tiêu một màu ngà  ảm đạm. Cứ tưởng cuộc đời đến thế là hết, mẹ đi mang theo cả một trời trống vắng khi con không còn nơi nương tựa, nhưng có biết đâu khi được vùi dập xuống nền đất ẩm, chồng chất lên dưới lớp bụi thời gian, bao nhiêu lớp lá khô trong vườn cuốn hết vào nơi ấy, để chờ đợi nắng ấm muà xuân năm sau. Năm nay khi mùa Xuân đến, cây ngò non chào đời nhưng vẫn nhớ mùi hương tự nhiên cuả mẹ, bóng bác bông giấy mát rười rượi, cô mai vàng xinh đẹp ngự trị góc bên kia, bác bụi tre cao ngất ngưởng vươn lên trời xanh lá reo xào xạc, và chao ơi, cái bóng cuả mẹ hiền thì ngò rí không thể nào quên đươc...

Ngò rí không sống lâu lên lão làng như các loại cây khác trong vườn, và cũng chỉ là lọai rau tầm thường dễ sống chứ không cần chăm sóc bao nhiêu, nhưng mùi hương cuả ngò rí thì khó tìm trong các lọai rau cỏ. Khi vưà mở mắt chào đời, mọc lên những lá mầm ẻo lả, hình như cô đã thấy thiêu thiếu một cái gì cuả muà xuân năm trước. Thôi rồi, cô chợt hiểu ra rằng cái bóng mát mà mẹ con cô hằng trú ẩn bao năm dài, ấy là bác bông giấy, sao năm nay xuân về bác vẫn trơ những cành khô gai góc, không còn một chút lá xanh nào nữa vì bao nhiêu sinh lực tiềm tàng từ rễ lên đến ngọn, hình như đã khô kiệt cả rồi.

Nhớ làm sao tiếng cười lao xao của bác khi nẩy lên những nụ hoa hồng thắm trên cành lá biếc mà ngậm ngùi khôn tả, ngò rí vẫn nhớ những chuyện mẹ kể về lòng nhân hậu cuả bác trong một buổi chiều mát mẻ, hoàng hôn đã nhuộm tím khu vườn nhỏ. Ngày xưa mẹ Ngò vẫn núp dưới tàn cây cuả bác những hôm trời trở gió, con nắng phả hơi nóng gay gắt xuống mảnh vườn sau, bác vẫn ung dung khoe màu tươi thắm, và không quên nghiêng cái bóng bao dung che chở lũ cây non xúm xít quanh mình. Xã hội cần phải có sự tương thân tương trợ là thế, những khi bác bông giấy được tưới tắm ướt đẫm thân thể, là lúc ấy những cây ngò non mọc xung quanh cũng được hưởng lây những dòng nước mát. Ấy thế mà bác chết, chết thật rồi, xuân sang nắng ấm đã lâu mà nguyên một bụi cây giơ lên những cành nhánh khẳng khiu. Không còn nỗi buồn nào hơn khi phát hiện có một ngày tự nhiên lại mất đi những hình bóng, những tình cảm ấm áp nồng nàn trong cuộc đời có bao nhiêu cơ duyên để gặp gỡ.

Khu vườn mới vào xuân vẫn trống vắng thế nào ấy, chỉ có hai cô đào rất sung sức đã xanh um lá biếc,  những cánh hoa hồng hồng như màu phấn trên đôi má thiếu nữ rồi cũng lần lượt bay lả tả xuống sân, vài hôm trên cành đã nhô lên những quả non bé xíu. Ngắm nghiá  sự sinh tồn cuả cây cỏ nào có khác chi con người, cây ngò non cứ tự hỏi tại sao cô đào lại sống mà bác bông giấy lại tiêu diêu miền cực lạc? Góc vườn bên kia hai cô mai và nguyệt quế cũng rủ nhau ra đi không hẹn ngày trở lại. Sự trống vắng ấy làm cho khu vườn càng thêm trống trải, vì thế tuy ngò rí mới chào đời, tự nhiên cũng thấu hiểu ra được sự mất còn cuả vạn vật.

Ngày nào nghe mẹ kể rằng, năm kia một cơn bão đã thổi qua đây, làm nghiêng cả bác thông và đánh gục mấy ngọn tre xanh, lúc ấy không nhờ bác bông giấy che chở  thì cả họ hàng nhà ngò đã không còn lại được bao nhiêu. Tìm hiểu nguyên nhân mới rõ, khi bác vừa tuổi dậy thì, chủ nhà đã cắt ngang thân bác từ dưới gốc, chính những cái cành mọc ra như giẽ quạt đã làm cho bác không bị ngả nghiêng khi trận cuồng phong thổi vào. Cành nọ đỡ lấy cành kia, bám chặt lấy nền đất để chống đỡ, khi cơn bão tan, người ta thấy bác tuy có tơi tả nhưng vẫn mỉm cười, chỉ vài hôm khi mưa đổ xuống là bác lại nở nụ cười như môi son. Sao bác chịu được gió mà lại không chịu được lạnh? Hoá ra thời tiết và phong thổ  ảnh hưởng lên con người thế nào thì loài thực vật cũng chịu chung số phận như thế, cái thân mỏng manh gai góc ấy chịu được với gió táp mưa sa, lại vẫn phải co lại vì đợt tuyết đổ xuống bất thuờng trong muà đông đến nỗi trút hơi thở cuối cùng.

Thế nhưng lòng ngò rí vẫn nao nao, dù năm ngoái cô chỉ là bông hoa màu  trắng, rồi kết thành cái hột nhỏ xíu, để năm nay mọc lên cây ngò non. Một lũ hoa be bé vây quanh mẹ ngò nghe kể chuyện, cơn gió chiều thổi từng làn gió mát mẻ vào khu vườn nhỏ, những câu hỏi ngây thơ cho bài học đầu đời sao dễ thương đến thế:
“Mẹ ơi, cô mai là ai mà đẹp thế hở mẹ?”

Đấy, cái cô mai với màu áo vàng rực rỡ kiêu sa là hình ảnh đẹp nhất cuả muà xuân mà mẹ ngò cứ suýt soa mãi. Nghe nói cô chỉ nở vào muà Xuân, nhưng xa quê khí hậu thất thường lắm khi cô hay trổ muộn và kéo dài kiếp hoa đến vài tháng, cho đến khi trên cành đầy những cánh  đỏ, đó là thời kỳ chuyển tiếp để hoa biến thành  hột cho chủ nhà ương cây mới. Nhưng nghe nói khó mà ương được cho cô nảy mầm, sự khác biệt về thổ nhưỡng và thời tiết khiến cô mai y hệt một tiểu thư nhà giàu, nắng không ưa mưa không chịu. Mẹ ngò lại tỉ tê kể chuyện cho các con nghe:
“Con không thấy là cô ấy đẹp và quý nhất trong mảnh vườn này hay sao? Đã quý mà còn hiếm, vì đây là hoa miền nhiệt đới, nay chịu lớn lên ở xứ lạnh, phải chăm chút  như con mọn và nâng niu như trứng mỏng, cô ấy mới trổ hoa. Dĩ nhiên người ta sang và đẹp thì bao giờ cũng được tâng tiu hơn những loại tầm thường, nhưng cứ nghĩ cho cùng thì mẹ con mình cũng thua ai đâu…”

Chút tự ty mặc cảm chỉ thoáng qua  trong lòng bà mẹ ngò nhà quê thế thôi, bởi vì nhác thấy lũ hoa ngò bình dị trong màu áo trắng, đang xụ mặt ra buồn vì chỗ đứng thấp kém cuả mình:
“Cô mai đẹp vậy nhưng không có mùi thơm, còn mẹ con nhà mình tuy tầm thường nhỏ bé  nhưng thơm tho đáo để.Mẹ chả thấy ai xắt lá mai hay lá tre để bỏ vào nồi canh cho dậy mùi được, thế nhưng chỉ một nhúm con con ngò rí thì bát miến gà, tô phở tái đã dậy  mùi thơm bát ngát. Bao nhiêu thứ cao lương mỹ vị bày trên mâm cao cỗ đầy, nhưng nếu thiếu mẹ con mình cũng không tạo nổi sự hấp dẫn cho cái bao tử thèm thuồng, mà nói đến cái ăn thì mẹ nghĩ, từ vua chí dân, từ giàu chí nghèo ai cũng phải ăn mới sống. Cao hay thấp không quan trọng các con ạ, giá trị là ở sự cống hiến cuả mình cho cuộc đời nó như thế nào thôi.”

Ngò Rí ngẩn ngơ vài giây  rồi cũng hiểu lời mẹ nói, cả bọn mỉm cười thú vị và không cảm thấy tự ty mặc cảm với cuộc đời phù du, dù chỉ là một trong những bông hoa nhỏ xúm xít nhau trên thân mẹ hiền, cô cũng cảm thấy sung sướng và hãnh diện. Ngước nhìn quanh khu vườn, bao nhiêu cây cỏ sống êm đềm với nhau theo năm tháng, lòng tị hiềm nhỏ nhen chỉ làm mất đi sự an hoà cuả khu vườn  mà chủ nhà đã tốn bao công sức tạo dựng. Một tối trăng lên trời cao gió lộng, bác tre già đã cao hứng kể cái chuyện ngày xưa khi bác mới về khu vườn này cho cả làng nghe:
“Ối chà! Cái lúc tôi mới đến khu vườn này giống như vùng kinh tế mới, trơ trụi đất cát nhìn thấy mà phát sầu. Sau bà chủ biết thứ đất này cần phải có thời gian mới có thể trồng cây,  trên mặt thì đất cát nhưng đào thêm tý nữa chỉ toàn đất sét,  rất thích hợp cho loài tre trúc phát triển. Thế là giống tre chúng tôi sống được, cứ tình bơ mà đâm rễ xuống, cái gì cũng vậy, hễ qua được giai đoạn đầu, khó khăn khổ cực bao nhiêu mà đã bám trụ được là sống. Cứ y như người tỵ nạn , à mà cái bà chủ này cũng là dân tỵ nạn…”

Lúc đó cô đào mới lên tiếng hỏi:
“Tỵ nạn là gì hở bác? Em sinh ra ở đây, chả thấy cây tỵ nạn bao giờ cả.”

Bác tre thở dài, càng tối gió càng vi vu nên lời bác nghe như tiếng than van:
“Cái đó  mình cũng không hiểu nhiều, nhưng chắc là để tránh cái gì khổ chịu không nổi, đi tìm nơi bình an hơn để sống đó mà. Vậy mà khi đi họ cũng ráng mang theo bao nhiêu hương vị quê nhà, mẹ con nhà ngò là một điển hình đấy. Nhìn quanh mà xem, bao nhiêu thứ khác tuy không nói ra nhưng cũng từ quê nhà bò hết cả sang đây, mùng tơi, rau ngót, rau má, rau mơ, họ hàng nhà mướp, bí , bầu cũng rủ nhau tỵ nạn một lượt, cả đến nhà cô chim én cũng rủ nhau thiên di hằng đàn…”

Cả bọn cùng “ồ” lên, lúc này mới để ý là từ hôm sang xuân, trời xanh thăm thẳm la đà những cánh én nghiêng nghiêng như những nốt nhạc. Cô hoa hồng đỏ gốc địa phương bĩu môi cười trong bóng tối, cô vẫn hay ghen với cô mai vì cho là người khác xứ, lại được tâng tiu ngang hàng với lũ én bay trên trời xanh. Nhưng bác tre đã lên tiếng:

“Chuyện nhà én thì dài lắm, nhưng không kể ra  thì chả ai biết là tại sao hễ có muà xuân thì phải có chim én lượn. Nghe nói ngày xưa họ ở xa lắm, cái xứ ấy lạ kỳ, mỗi muà lại giao cho một vị thần trông nom. Năm ấy khi lão muà Đông  xách cái nón rách ra đi, bàn giao thời tiết lại cho một lão muà Xuân khó tính , nhưng chưa  bao giờ lại có cái thứ người ngợm khó khăn như vậy. Lão ta cũng cho hoa, lá, bướm,ong dập dìu nhưng cấm tuyệt không cho loài chim được hót, hễ đưá nào dám hót là cắt cổ. Trời Xuân mà sắc đỏ au vì mặt lão lúc nào cũng như say rượu hay tức giận gì ai, cho nên mọi loài đón xuân về mà lòng nặng nề như đá tảng. Người ta gọi đấy là muà Xuân chết, cũng bướm cũng hoa mà Xuân lại nặng sầu. Thế là từ đấy trời vẫn chập chùng mây mà vắng dần những bóng chim, mới thấy là cái gì cũng vậy, hễ mất tự do là khổ…”

Bác tre già có tật nói dai  nên vì thế suốt đêm chỉ nghe bác xào xạc kể mãi chuyện cũ. Khu vườn rào rào lên thở dài vì gió thổi, hoá ra cây cỏ cũng có nhiều nỗi u uẩn mà ngò rí không làm sao hiểu hết được. Đấy là nói chuyện mùa xuân năm trước khi còn mẹ, bây giờ đám ngò non mới lớn lên, khu vườn đã hoang tàn trống trải sau cơn mưa tuyết bất chợt phủ xuống cỏ cây một màn trắng xoá, còn hằn  dấu  tàn phá trên từng lóng xương cây cỏ. Cô mai chết thật rồi, thân nứt ra từng đường rãnh nhỏ phơi ra thớ gỗ khô queo. Bác tre ngạo nghễ ngày nào vươn lên trời xanh, giờ chỉ còn những thân tre thẳng đuỗn bạc phếch với gió mưa. Rồi mùi thơm nồng nàn cuả cô nguyệt quế những đêm trăng thanh gió mát năm xưa phả khắp hiên nhà, cũng chỉ còn nằm trong tưởng nhớ.

Cái trận bão năm ngoái. Phải rồi, cái cơn cuồng phong ấy cũng đã đẩy bác xồi ngã sóng xoài ra đằng sân trước, ở đây không ai cao tuổi bằng bác, mà cũng không ai cành nhánh xum xuê như bác, dáng đứng vững chãi ấy cứ tưởng không thể nào nghiêng ngả cho được, thế mà bác cũng ngả nghiêng với cơn lốc nghe nói từ biển xa thổi vào với sức gió hằng trăm dặm. Cứ y như đang đứng bên lề đường ngắm cảnh trời trăng mây nước, bỗng dưng ùn ùn từ đâu một chiếc xe nhảy phóc lên ủi thẳng vào không né tránh được. Số mệnh đấy, có ai biết trước được để mà tránh. Cả làng cây cỏ ở sân sau nghe bác tre ngà thông tin thì giật bắn cả lên, lại xì xào từ nơi này đến nơi khác. Mẹ ngò lại nhắn nhủ lũ con:

“Tai bay vạ gió chả biết đâu mà lường, ngó lên mình chả bằng ai nhưng cứ cái xó vườn này ung dung mà sống là được rồi các con ạ. Sống cho trong sạch, sống cho tử tế, chia xẻ cho người những gì mình có thì mới gọi là sống có ý nghĩa.”

Mẹ ngò chỉ nói thế thôi, vì thật ra thì lũ con bé bỏng dại khờ chi chit  trên cây lúc nào cũng bám chặt lấy thân mẹ, cũng thật thà ngây thơ không hiểu hết nhưng gì mẹ nói. Tháng ba rồi bước sang tháng Tư, bác bông giấy vẫn khô queo không thấy mầm xanh, từ gốc bụi tre lại đâm lên một chồi non mới, cô ngò hồi hộp chờ đợi ngày “ tre già măng mọc”, và nếu mưa thuận gió hoà chỉ trong vòng một năm chú tre non này sẽ trổ mã , nhưng câu chuyện năm nào cuả  người xưa rồi sẽ chìm vào quên lãng.

Nhớ hôm nào nghe tiếng gầm rú cuả chiếc máy cắt cỏ tiến vào ầm ầm như sấm nổ, ngò non nằm nép trong góc vườn nhìn sang thì đã thấy thảm cỏ xanh và bao nhiêu hoa dại muà Xuân bị xén cụt đến tận gốc. Cô kêu lên thảng thốt, thôi rồi những chị hoa dại tim tím đang hé nở cũng chịu chung số phận với lũ cỏ dại ngô nghê ngốc nghếch, nhưng lại sinh sôi nảy nở nhanh thần sầu. Ngò rí lại nhớ đến những ngày còn mẹ, mỗi lần thấy ông cắt cỏ tiến vào vườn như sấm động là một lũ hoa ngò run rẩy trong lòng mẹ:
“ Mẹ ơi! Con sợ ông cắt cỏ ….”

Thấy lũ con lao nhao, mẹ ngò phải an ủi:
“Đừng sợ các con ơi, ông ấy phải làm nhiệm vụ cuả ông ấy để diệt lũ cỏ dại, nhưng cũng biết thứ nào phải chừa  ra vì mình là rau cuả bà chủ nhà trồng,chứ có phá phách hoang dại gì đâu.”

Ngò hoa rấm rứt khóc:
“ Nhưng còn nhà chị hoa tím, chị ấy có làm hại ai đâu…”

Mẹ ngò cũng rưng rưng nhìn những mảng hoa tím rạp xuống tả tơi bên loài cỏ dại, nhưng vẫn phải an ủi lũ con thơ đang sợ hãi:
“Không sao, tuy họ chịu  chung số phận với loài cỏ dại, nhưng chỉ vài hôm tụi con sẽ thấy bao nhiêu hoa mới lại trổ đầy trên thảm cỏ xanh, làm thành một bức tranh thật đẹp tô điểm cho vạn vật được tươi tắn. Công nhận  sức chịu đựng cuả loài cỏ ghê gớm thật, ví nó ngang với niềm tin cuả con người gắn bó sống chết  cho một cái gì họ đeo đuổi cũng không sai, rễ bám chặt lấy đất và âm thầm nằm đó chịu đựng, hễ trời rắc mưa xuống là chúng hí hửng trổi ngay dậy sởn sơ. Mấy cô hoa tím dại xinh xinh có làm hại gì ai mà cũng chịu chung số phận, như con người sau một trận thiên tai đã ra đi hằng loạt, trí tuệ như loài người mà cũng không làm sao cắt nghĩa nổi hai chữ số mệnh thì mẹ cũng chịu không giải thích được.”

May sao mẹ con ngò nép vào một nơi kín đáo, chỉ quanh quẩn với nhau một chỗ nên thoát chết bởi cái máy cắt cỏ hung bạo, âu là ơn trên che chở và nhờ phúc đức thơm tho cuả mẹ ngò mà lũ con tồn tại. Dù nay mẹ đã ra đi, ra đi mãi mãi và ngò rí cũng lớn dần lên để tiếp tục cuộc hành trình hoà nhịp với mọi loài, nhìn những đổi thay trong khu vườn nhỏ. Một vầng trăng tròn toả ánh sáng dịu dàng trên cảnh vật, một đêm mưa gió bão bùng làm rơi bao nhiêu chiếc lá vàng uá, tâm hồn ngây thơ bé bỏng cuả ngò rí một hôm nào thức dậy với bình minh và nhìn những hạt sương rơi trên cọng cỏ non, cái diện tích khu vườn trong tâm hồn ngây thơ ấy tưởng là bao la này thực ra cũng chỉ nằm gọn trong bàn tay cuả trời xanh thăm thẳm:

“Ngước hỏi cao xanh ta thấy được gì
Cũng chỉ vẫn một ngàn trùng vĩnh cửu”

Nguyên Nhung
.
Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Tue Feb 10, 2015 7:39 pm



MẸ QUẤT

Truyện Nguyên Nhung

Người ta đưa Quất về nhà vào khoảng giữa tháng chạp Âm lịch, lúc ấy trời sắp sang Xuân, chỉ thỉnh thoảng còn vài đợt gió lạnh từ miền Bắc thổi về. Y như một cô dâu mới về nhà chồng, khăn áo lượt là, Quất khoác một chiếc áo vàng màu hoàng hậu, khiến căn phòng khách sáng rực hẳn lên.

Bóng dáng xinh đẹp của Quất dường như đem cả mùa Xuân vào căn phòng ấm, ông chủ nhà là một tay sính văn chương, đã âu yếm tặng cho Quất cái mỹ danh là cô "Kim Quất ", như người ta vẫn gọi những người con gái đẹp là Kim Cương, Kim Hồng, Kim Hạnh v. v... Kim Quất vốn quê mùa, từ ngày sinh ra cho tới lúc lớn lên, trời cho có chút nhan sắc xinh đẹp tự nhiên, lại dễ sống cho nên mùa Xuân đến thì cô mượt mà lắm, nay lại được đem vào chỗ cao sang, nhà cao cửa rộng, Kim Quất bỗng thấy đời tưng bừng lắm, dù chưa biết cái khổ của cảnh "cá chậu chim lồng".

Chỉ vài hôm thôi, Kim Quất nghe đã nhàm tai những câu khen tặng, ông đi qua bà đi lại không ngớt tâng tiu cô Kim Quất trẻ tuổi. Người ta khen cây rồi lại khen người, khen ông chủ nhà khéo chọn được cây Kim Quất xum xuê, tươi tốt, đầy những quả vàng óng, báo hiệu một năm gia chủ sẽ thịnh vượng, sung mãn, làm gì được nấy. Quất chẳng hiểu gì về sự liên quan giữa mình và con người kia, vì chuyện Quất sinh hoa kết quả là chuyện tự nhiên của trời, đất nuôi Quất và trời ban mưa nắng cho Quất thì Quất lớn, chứ tại sao một người mang Quất về nhà vì thế có thể bỗng chốc thành công mọi mặt. Hóa ra người vẫn hay tin nhảm, cho nên mới sinh chuyện con yêu con ghét trong nhà, hễ đứa con nào ra đời mà cha mẹ làm ăn khấm khá thì ai cũng khen ngợi, còn đứa nào lúc sinh ra cha mẹ gặp vận rủi, lại được đổ thừa là cái nợ phải trả...

Ở trong nhà vài hôm, Quất mới thấy được sự gò bó của những thứ kềm kẹp như hơi thở, đồ đạc, tay chân con người không để Quất yên. Đầu tiên là cái máy sưởi, vì trời còn lạnh nên người ta phải dùng thứ máy nóng để làm căn nhà ấm áp, và vì thế mà Quất đâm nghẹt thở. Mới đầu Quất cứ thấy khô khô, lá tự nhiên không tươi tắn như ở ngoài trời, người Quất như khát nước kinh niên, trạng thái này Quất chưa bao giờ thấy. Bây giờ thì Quất ghét cay đắng phòng khách chật hẹp này, nó bóng lộn những thứ đồ đạc đắt tiền, nhưng chúng nó đâu biết thở như Quất. Họ có cho Quất uống nước đó chứ, nhưng khí trời thì họ không cho được, bởi vậy Quất đâm khó chịu như người quê mùa đến nhà kẻ giàu sang, ăn được bữa cơm cứ rón rén như xin của bố thí. Nếu là người thì thà Quất cứ ở cái chỗ quê mùa, nghèo hèn , nhà tranh vách đất để mà được tự do thở, tự do ăn, chứ ở đâu mà cứ nem nép khó chịu, dẫu có "cơm vàng canh bạc" Quất cũng chả ham.

Quất còn phải ở trong nhà cho đến hết tháng giêng, ngột ngạt vì cái máy sưởi và tiếng cười nói râm ran của khách tới thăm chúc Tết gia chủ. Nhờ thế Quất mới có dịp thấy rõ sự mệt mỏi của con người, khi bị đóng một màn kịch quá lâu đến nhàm chán. Cũng bấy nhiêu câu chúc được nói đi nói lại, nhất là trong ngày đầu Xuân thì họ cứ như một cái máy hát cũ, ca hoài một bản nhạc có bấy nhiêu lời đã đầy hai lỗ tai.

Trước tiên thì những thứ rượu, mứt, thịt thà đã làm người ta thấy đầy cả bụng, còn nói nhiều quá cũng làm người ta rát cả họng, thành thử xem vậy trong xôn xao đã có mùi nhàm chán. Ông bà chủ vừa ngả lưng thiu thiu, đã có một hồi chuông giựt ngược dậy. Cái mặt đang cau có vì mệt mỏi và mất ngủ, ông chủ nhà đã phải vội vàng khoác lấy bộ quần áo tề chỉnh ra đón khách, bà chủ nhà cũng mau mau lấy lại nụ cười cho "mặt hoa da phấn" đỡ ủ ê, rồi lại một điệp khúc cũ mèm được tái diễn, Quất thấy chẳng có gì là thi vị cả. Bây giờ thì ông chủ không còn ngồi ngắm nghía cô Kim Quất của ông như hôm mới đem về, ông buồn buồn đưa tay bứt một quả để nhấm nháp, và ông tỉnh hẳn người khi thấy nàng quất xinh đẹp vậy mà cũng chua ngoa đáo để.

*

Sang tiết tháng Hai trời mát mẻ dần lên, Quất cũng sắp sửa được ông chủ cho "hạ thổ" khi nhìn thấy nét ủ ê của nó. Lũ trẻ con tới nhà đã ngứa tay bứt những quả quất chín để chơi, vài chiếc lá đã héo nằm cong xuống khiến Quất đâu còn mượt mà như hôm nọ. Đàn bà con gái lấy chồng chỉ đẹp nhất hôm cưới, bây giờ thì Quất cũng quen mắt mọi người, không thấy ai nhìn Quất để trầm trồ nữa. Bà chủ đã hái những quả quất để chế biến thành thứ thuốc trị ho, cho nên cành lá lại càng thêm xơ xác.

Khi biết ông chủ quyết định đem Quất ra vườn, Quất mừng lắm, y như người quanh năm làm ăn nơi phồn hoa đô hội, bỗng được trở về quê cha đất tổ với gió đồng cỏ nội, khiến Quất xôn xao và tỉnh hẳn người khi được trở về với đất. Đất chính là quê hương của Quất, là mẹ, là cha, là mạch máu khi rễ lớn rễ nhỏ được chạy nhảy luồn lách vào đất, như đứa trẻ được nhảy nhót trên con đường làng ngoằn ngoèo mát rượi. Thứ đất trong chiếc chậu chật hẹp kia chỉ là đất tạm, dù rằng người ta đã đem Quất đứng vào cái chậu sứ thật đẹp, bên ngoài vẽ phụng vẽ rồng. Bao nhiêu năm tháng Quất co mình lại trong chiếc chậu chật hẹp đó, với một dúm đất cỏn con. Quất hiểu lắm thứ tự do khoảng khoát của đất, khi đất bị nhốt vào chậu, đất cũng buồn bã như cây, đất và cây gậm nhấm nỗi buồn trong chiếc chậu hẹp, vì thế mà đất cằn cỗi, vì thế mà cây xác xơ.
 
Quất thấy ông chủ ngắm nghía tìm cho Quất một chỗ đứng trong khu vườn rộng mà lòng lại nôn nao. Góc vườn kia đã có một chị bưởi, một anh cam, và thêm một cây hoa đào nữa. Những người hàng xóm này chắc ngày xưa lúc mới về cũng ngơ ngác như Quất, nay thấy họ đã có một chỗ đứng vững chãi lắm. Cuối cùng sau khi ngắm nghía mãi, Quất được ông chủ đặt gần kề cây hoa đào, vì vào mùa Xuân, từ góc vườn này gia chủ có thể nhìn thấy những cánh hoa đào, hồng hồng xinh xinh như môi thiếu nữ, và cũng có thể nhìn thấy Quất mặc áo vàng để khoe sắc với chúa Xuân.

Bây giờ là lúc Quất phải hội nhập vào thế giới của cây cỏ, phải làm quen với đất vì đất vốn hiền lành không nói năng, nhưng muốn được nó chấp nhận cũng đâu phải một ngày là nên chuyện. Ra đến ngoài vườn, Quất thở phào, vốn quê mùa giản dị, Quất bám ngay vào đất, như kẻ tha hương ngộ cố trị Còn nỗi mừng nào đang lúc khát lại được bát nước uống, hay đang cần tâm sự bỗng vớ được người tri kỷ. Quất cần đất như con người cần hơi thở, nhất là giữa tiết Xuân mát mẻ, tâm hồn Quất phơi phới để chẳng mấy chốc lại nẩy lộc đơm hoa.
 
Bắt đầu từ đây Quất thực sự hưởng không khí tự do sau bao nhiêu ngày tù túng ở trong nhà. Khoảng vườn rộng được chia ranh giới hẳn hoi, bọn hoa cảnh được chủ nhân trồng ở trước sân, từ trong nhà bước ra đã thấy bao nhiêu là hoa hồng, cẩm chướng, cúc tím, cúc vàng. Lũ cây ăn trái như Quất được chủ nhân chia riêng một khoảng đất trống ven bờ rào, bởi vì trong tương lai với đà phát triển , những vùng ven thường là nơi cung cấp lương thực và là nguồn sống cho cả nước. Chả thế cứ nhìn những đồ án của con người đã thấy ngay sự phân chia này. Nhà máy, cơ sở sản xuất bao giờ cũng phải nằm những nơi xa xôi hẻo lánh, còn cơ quan chính phủ thì chễm chệ trong những khu phố xá sầm uất.

Tuy thế, cảnh quê mùa này vẫn thích hợp với tâm hồn Quất, vốn vẫn không bao giờ muốn chen vai thích cánh với bọn hoa hoét lòe loẹt ở khoảng sân tù túng kiạ Thỉnh thoảng gia chủ lại mời khách khứa tới chơi nhà, lũ hoa cảnh được chăm chút cẩn thận để trang trí và để khách ngắm nghía thưởng ngoạn, được vài hôm đã rã rượi , rơi rụng cả xuống sân, chẳng còn ai ngó ngàng gì nữa. Thương thay cho những bóng sắc hào nhoáng bên ngoài, đầu hôm sớm mai đã ủ ê, tàn tạ.

Quất và lũ bạn bè nhà quê cứ ăn chắc mặc bền, lộc non đâm ra rồi cũng thành lá, hoa nở rồi thành quả, cứ thế mà lớn lên xôi xổi như con nhà nghèo, cơm dưa cà quanh năm mà vẫn khỏe mạnh.

Thích nhất là những đêm trăng, vì đấy là ngày hội của đám cỏ cây trong vườn. Nhìn trăng khuyết Quất cứ mơ trăng tròn, vì dưới ánh trăng mập mờ huyền ảo, Quất thấy tất cả những lá hoa, cây cỏ đã trở nên huyễn mộng, những chiếc bóng lá rung rinh dưới ánh trăng bàng bạc, chỗ nào cũng xinh đẹp tình tứ, cây nào trông cũng đáng yêu. Trăng đã sáng mà trời lại gió, gió đẩy đưa cho lá đong đưa, lúc ấy cả khu vườn cùng khiêu vũ dưới ánh trăng, chắc gì trần gian đã có những buổi dạ vũ đêm trăng tuyệt vời như vậy. Quất ngẫm nghĩ đến bọn người hay nhảy nhót, xập xình với nhau trong những căn phòng mờ mờ tối, ngột ngạt mùi nước hoa và khói thuốc, người này thở ra người kia hít vào, Quất lại càng thương hại. Trong những chỗ chật chội ấy, những thân người quay cuồng, quấn quýt lấy nhau, sao bằng được nơi gió mát trăng thanh này, cành lá cứ xôn xao thì thào to nhỏ, trong đêm khuya hoa cỏ toát mùi hương thanh khiết, ngọt ngào. Không có gì hơn là hãy để tâm hồn hòa nhập với thiên nhiên, và không có gì hơn những mùi hương giản dị của cây cỏ phảng phất trong không gian.

*

Thời gian này là thời gian để Quất làm quen với mưa nắng cuộc đời, và cũng vì sự hòa hợp âm dương của trời đất, Quất cứ lớn lên như thổi. Quất có già dặn hơn, cành lá đã um tùm hơn vì Quất đã thích nghi được với khí hậu bất thường của trời đất. Đấy là một kinh nghiệm sống quý giá mà Quất rất hãnh diện, biết khả năng của mình tới đâu và biết sức sống của cây cỏ cũng như con người đến mức nào. Đúng là "trời sinh voi, sinh cỏ", Quất dư sức chịu được cái nóng của mùa hè, cái lạnh của mùa Đông, và điều mà Quất thích nhất là thỉnh thoảng lại được tắm gội dưới trời mưa. Lúc ấy mẹ con Quất tha hồ mà ngả nghiêng, đùa giỡn dưới gió và mưa, hai lão ấy đã có từ đời trời sinh ra đất, già lão mà còn chơi lắm trò mạnh bạo, có khi cứ vùi dập lũ cây cỏ dưới những đợt gió và nước ào ạt. Quất nhìn các chị em xung quanh, thì tâm trạng ai cũng thích trời mưa, như trẻ con thích tắm mưa, thích đuổi nhau trong những con hẻm ngập nước để nước văng lên tung tóe. Quất vui tính, hồn nhiên như con trẻ, có lẽ nhờ sống giữa thiên nhiên, Quất thấy tâm hồn mình khoảng khoát, bao dung. Nếu sống trong căn nhà đóng kín cửa kia, có lẽ Quất cũng sẽ nảy sinh tính ích kỷ, đóng kín đời mình trong bốn bức tường không bạn bè với ai, có ngày cũng chết trong sầu muộn.

Thấm thoát mà Quất đã sống trong khu vườn này được mấy năm, cứ sinh hoa kết quả, lũ con này ra đời rồi đi, lũ con khác lại được sinh ra và nuôi dưỡng. Quất không nề hà gì việc sinh nở, vì trời sinh Quất thế. Nó có thể ra hoa quanh năm, trái đang đầy cành mà hoa đã trắng xóa. Bây giờ thì những người hàng xóm đã gọi Quất là Mẹ Quất, dù vậy Quất chỉ hơi già thôi, chứ nét xuân sắc của Kim Quất năm xưa vẫn còn phảng phất trong chùm hoa trắng, vẫn nồng nàn trong buổi sáng còn ướt sương, khiến có người đi qua vẫn phải có lúc tưởng nhớ một mùi hương...

Chị Bưởi, anh Cam, chị Quýt trong khu này ai cũng bảo Mẹ Quất sung sức, nhà cửa lúc nào cũng ríu rít trẻ con. Cứ ngắm nhìn sức cưu mang của Mẹ Quất mới thấy ông trời cũng khá hào sảng khi cho Mẹ Quất một sức khỏe bền bỉ, dẻo dai. Nếu ví mỗi đứa con là một tác phẩm của một nhà văn, thì ôi thôi mẹ Quất đã sáng tác lu bù trận. Có đứa cũng lớn lên thành người, có đứa cũng chết non chết yểu khi mới đơm hoa kết trái, có đứa nửa chừng đã từ giã mẹ đi vào lòng đất lạnh. Bỏ đi những đứa con non yểu, thiếu tháng, đa số con của mẹ Quất đều nên người, chẳng gì cũng được chế biến với mật ong, thành món thuốc để con người thấm giọng khi ho hen, cảm mạo. Nó cũng là món trái cây để giải khát những ngày hè nóng nực, vị Quất thơm, uống tới đâu thấm tới đó, chứ nó không chua lè như chanh, mà cũng không đắng như bưởi, lại không nóng như Quýt. Nghĩa là ở Quất người ta vẫn thích thú chút chua chua dôn dốt của từng múi Quất, mà cũng có thể nhấm nhẳn chút vỏ hơi the the, ngòn ngọt, Quất bé nhỏ hiền lành nhưng hương vị lại đậm đà khó quên là thế.

Qua những tháng năm dày dạn nắng mưa, gió bụi, thời tiết đối với Quất như là những đắng, cay, ngọt, bùi trong cái "nhân tình thế thái" của con người, hay những vinh nhục, thăng trầm mà hầu như con người nào cũng có lúc trải quạ Nếu không trải qua sự thử thách đau khổ đó, Quất nghi ngờ rằng những con người đó không đào đâu ra được chiều sâu của tâm hồn. Chuyện sinh ra, lớn lên rồi chết, đã là điều tự nhiên mà bất cứ một vật gì hiện hữu trên cõi đời này đều phải trải qua, nhưng nếu không có những thử thách và đau khổ để tôi luyện, đời xem ra cũng vô nghĩa. Quất nghiệm ra rằng cứ mỗi một đổi thay xảy ra trong đời Quất, đều là một bài học để Quất ghi nhận.

Đã có lúc Quất cảm thấy chút ganh tỵ của chị Bưởi, khi chị tuy to quả nhưng lại đắng lòng, người ta vồ vập lấy chị nhưng rồi lại không thiết tha, vì lẽ chị đã the lại còn đắng. Gặp những khi bưởi còn non, mà lắm kẻ ngứa ngáy chân tay đã bứt khỏi thân cây mẹ, đắng nghét như bồ hòn, con người bạc bẽo làm sao, sau khi không dùng được chị, người ta lại tống vào thùng rác, làm bạn với những thứ dơ bẩn khác.

Cô Quất ngày xưa nay đã già, không còn mượt mà mãi với thời gian, cành nhánh đã xù xì những mảng da cóc khô queo, nhưng sức chịu đựng và việc sinh sản thì dễ ai bằng mẹ Quất. Có lắm lúc kiệt sức, mẹ Quất không đủ sữa nuôi con, vì thế mà những chiếc lá cứ nhỏ dần đi, và có những nụ hoa ra trái mùa, có kết quả cũng chỉ bé tẻo teo, rồi lần lượt rụng cả.

Đó là những mùa Đông rét ghê gớm, cây nào cũng được gia chủ phủ trên mình những chiếc khăn lông cũ, hay những tấm ni lông để làm chăn đắp đỡ qua những tối trời Đông. Nhắc tới đây mẹ Quất không khỏi rùng mình, khi nhớ lại một đêm trăng mùa Đông, sao cũng là trăng mà trăng mùa Đông lại lạnh lẽo, nghiệt ngã như một mụ phù thủy. Cả khu vườn và những thứ cây lá cóng lại, gió thổi phần phật những tấm ni lông như những mảnh khăn tang phấp phới trên những mái đầu, mẹ con Quất co lại với nhau nghe tiếng gió rền rĩ ngoài không gian , chịu đựng suốt những đêm trường băng giá.

Cũng may là sáng hôm sau trời lặng gió, mặt trời lại hí hửng trải xuống trần gian những tia nắng ấm áp. Khi được chui ra khỏi tấm chăn bẩn, Quất đã nhìn thấy nỗi đau khổ và ủ ê của những chị em, bạn hữu quanh mình. Có trải qua những lúc ấy Quất mới thấm thía rằng đứng trước những nghịch cảnh, thiên tai, va chạm với nỗi đau và sự sống chết để tồn tại, quả thật định mệnh hai chữ mà con người cần phải viết hoa mà ghi nhớ. Thế nhưng, qua những cơn sóng gió ấy, Quất lại hồn nhiên an ủi mình: "Sau cơn mưa trời lại sáng", chứ đâu dám trách trời sao có lúc cũng nóng lạnh, vui buồn để làm khổ con người và cây cỏ.

Mẹ Quất được trời sinh bản tính dễ vui dễ buồn, đã quen với sự khắc nghiệt của trời đất, nên vì thế mà chịu đựng được tất cả những đổi thay, ít khi nào gậm nhấm một nỗi buồn giận ai lâu trong bụng. Vì thế mà "sau cơn mưa trời lại sáng thật". Đó là món quà quý trời phú cho mẹ Quất , để mẹ Quất cùng lũ con yêu đời trở lại, để vẫn làm hết nhiệm vụ của một kiếp cây mà ông trời đã giao cho từ khi có mặt trên trái đất.

Hiểu được điều đó mẹ Quất không cảm thấy mình thừa thãi và buồn bã, khi so sánh mình với những bạn bè may mắn, xinh đẹp, ngon ngọt hơn. Con đường dẫn tới "sinh, lão, bệnh, tử" chẳng chừa một ai, từ công hầu cho đến giai nhân ai cũng phải chết, tài giỏi, giàu có tới đâu cũng có lúc bỏ lại tất cả, xuôi hai tay mà đị Lắm khi nghĩ tới phận mình một lúc nào không còn hiện hữu trong cuộc đời, chẳng còn ai nhớ đến mình nữa, lòng mẹ Quất cũng se se buồn, nhưng cứ nhìn quanh thì đâu có gì tồn tại mãi. Những mảng cỏ xanh hôm nào nay đã vàng úa xác xơ, những lá liễu gặp tiết đông về cũng rũ xuống những sợi vàng lê thê trên mặt cỏ, những bông hoa hồng, hoa cẩm chướng xinh đẹp là thế mà chỉ vài hôm đã tàn tạ, héo úa. Lá chưa vàng đã rụng, hoa chưa thắm đã tàn, bao nhiêu điều bày trải trước mắt mẹ Quất há chưa phải là một bài học để ghi nhận sao?
Bởi thế khi mùa Xuân trở lại thì mẹ Quất vẫn hớn hở cười với gió Xuân, vẫn khoe những chiếc lá non dưới nắng Xuân dịu dàng, vẫn cố đơm những chiếc hoa xinh để khu vườn vẫn thơm ngát mùi cây cỏ. Mẹ Quất tuổi cao nhưng không già, già hay trẻ là ở mình, dẫu có trăm tuổi mà tâm hồn vẫn hồn nhiên, vui vẻ thì đời vẫn trẻ.

Sau mùa Đông buốt giá như mùa Đông năm nay, chỉ có bụi chuối ở góc vườn là chết hẳn, vì nó không sống lại khi mùa Xuân tới. Những tàu lá chuối khô phơ phất bay trong gió, như những cánh tay dài ngoẵng đang vẫy vẫy giã từ đám bạn bè cây cỏ còn lại trong vườn. Cái vẫy tay như một nhắn gửi, cuộc đời vốn đã vô thường thì sống hay chết cát bụi vẫn chỉ là cát bụi.

Nguyên Nhung
Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Mon Feb 16, 2015 11:17 am



Thất Thời, Thất Nghiệp


Truyện Nguyên Nhung
 

Ông bị thất nghiệp rồi, điều linh cảm mơ hồ đã thành sự thật khi buổi sáng mới lò mò vào hãng. Còn sớm chán, ông vào Internet đọc Email mỗi ngày như thói quen, đang ngấu nghiến đọc vội để chuẩn bị đến giờ làm thì một đồng nghiệp đi ngang vỗ mạnh lên vai:
“Thôi cha nội, hôm nay tha hồ về nhà mà lướt Net. Hay gì chưa? Có tên ông trong danh sách được “ngồi chơi xơi nước” đấy.”

Chẳng biết hắn nói chơi hay thiệt, tin này làm ông giật bắn cả người. Thế mà là chuyện thật, năm ngoái người ta đã xôn xao bàn tán, nhưng tính chủ quan là chuyện ấy chỉ xảy ra cho người khác, nên ông vẫn “bình chân như vại” vì nghĩ mình làm việc lâu năm, tay nghề giỏi bậc thầy, hãng chỉ cho nghỉ việc những “cụ” vượt qua tuổi hưu mà chưa chịu nghĩ là mình mất sức lao động, hay bọn tay mơ mới chập chững vào nghề.

Thế là thất nghiệp thật, ở nhà chơi không cứ buồn rũ cả chân tay. Ông có định thất nghiệp đâu, nhưng việc ấy tự nhiên nó tới thì cứ tới. Y như cái ngày khốn nạn năm bảy mươi lăm, ông cũng chưa bao giờ nghĩ tới chuyện bị giải ngũ ngang xương, thế mà bước qua tháng Năm năm ấy thì đương nhiên cũng bị giải ngũ.

Thằng bạn ông tinh thần chiến đấu kém, chỉ mong hòa bình để ở nhà "đuổi gà" cho vợ. Năm ấy thấy tình hình căng thẳng, nó đi tìm lão thầy bói để đoán hộ đường công danh sự nghiệp. Lão thầy bói ấy tài lắm, không mù nhưng vẫn đeo đôi kính đen. Lão bảo bạn ông xòe bàn tay, rồi lấy một tờ giấy ghi mấy con số, xem đi xem lại, thầy phán một câu xanh rờn:
“Chỉ nội năm nay, cậu đương nhiên giải ngũ."

Ông bạn vàng hí hởn về rỉ tai mọi người, thế là lũ lượt một bọn rủ nhau đi cúng tiền cho thầy bói ăn, anh nào anh nấy ra về cũng vui như Tết. Hòa bình là cái chắc, quân đội chỉ cần cho nhu cầu chiến tranh, một mai hòa bình, giã từ vũ khí về quê lập vườn, ngồi vui hưởng cảnh thái bình thịnh trị.

Lão thầy bói nói thánh thật, hay là cả bọn bạn bè ông đều ngây thơ tin rằng đã tới lúc "bất chiến tự nhiên thành". Đúng là một lũ ngây thơ, thầy bói là một tay phản chiến hạng nặng làm nản lòng chiến sĩ, sau này khi đi tù, ông đã nghiệm ra điều ấy đúng mười năm ăn bo bo và khoai lang, khoai mì mòn cả răng.

Đấy là chuyện ngày xưa, còn chuyện thất nghiệp của ông bây giờ là do tụi khủng bố gây ra, rồi chiến tranh chống khủng bố lan rộng, tiền tỉ đóng thuế của dân chúng đổ theo bom, đạn.  Đổ một lúc hai cái nhà to nổi tiếng thế giới, sau đó thì kéo theo hằng loạt những công ty và hãng xưởng đua nhau giảm bớt công nhân, ông ở tuổi tròm trèm sáu mươi kéo lết theo đà kinh tế để đến hôm nay mới đến lượt về nhà nằm khểnh xem TiVi. Giưã nơi đông người hay với bọn đàn em một thuở, ông luôn cho mình thuộc hàng tiền bối kinh nghiệm đầy mình, xứng đáng lên hàng “Cụ”, khi mất việc rồi tự nhiên ông lại nghĩ “sáu mươi đâu đã gọi là già, vẫn còn làm việc được, dù tóc có thưa thớt và răng cái còn cái mất, so với các lão tướng bên nhà ông vẫn còn phong độ”. Thằng con lớn an ủi bố:
"Từ ngày qua đây đến giờ, bố cày miết. Thôi được dịp nghỉ ngơi, ở nhà trông hộ con mấy đứa cháu., Với lại những người có tuổi cũng nên nghỉ sớm để nhường chỗ cho đám trẻ, học mờ mắt  mà khi ra trường tìm mãi không ra việc. Như tuổi con chẳng hạn, mất việc lúc này là kẹt thiệt, trông mong vô mấy đứa nhỏ chưa biết tương lai thế nào, chỉ thấy bây giờ lo tướt khói.”
Vợ ông nghe cha con nói chuyện cũng ngưá miệng góp vô:
“ Thôi thì “liệu cơm gắp mắm” chứ có gì mà lo, có nỗi khổ nào bằng năm 75 cha ở tù, con một lũ lau nhau , trong túi không có đồng xu mà rồi ai cũng sống nhăn đến bây giờ, sóng đánh đến đâu thì thuyền neo đến đó con ạ.”

Nó nói cũng phải, hai mươi năm ông đi cày đóng thuế hộc xì dầu cho mấy người ăn trợ cấp hưởng, như thế là bất hợp lý. Nhưng có ở nhà chơi với cháu mấy hôm liên tiếp ông mới thấy còn mệt bằng năm lần đi làm, vì chúng nó một lũ lâu nhâu bằng nhau, chưa đứa nào khôn hẳn, hét rát cả họng vẫn không ăn thua. Ông phục bà lắm, thế mới biết cái chịu đựng của đàn bà Việt Nam. Ông bảo bà:
“Thôi, mai tôi phải đi tìm việc, chứ mang tiếng ở nhà mà chả nghỉ ngơi được bao nhiêu. Chán lắm!"
Bà băn khoăn hỏi ông đầy vẻ giễu cợt:
“Ai mướn ông bây giờ? Xem ở Bưu Điện có cần người dán tem thư thì ra đấy mà xin việc."
Ông nhếch mép cười nhạt:
“Bưu điện bây giờ cũng chỉ thở thoi thóp, cả bà cũng khinh thường thằng già này. Để rồi bà xem, việc nhiều tiền thì hiếm chứ mấy cái lặt vặt thiếu gì."
Bà khuyên ông:
“Ngồi chơi mát ăn bát vàng không muốn, lại cứ thích cực thân. Hay là làm hãng lau nước đá vậy?"

Biết bà hay trêu ghẹo ông chồng già, vì từ xưa tới nay hai vợ chồng vốn khắc khẩu. Tự họ trêu ghẹo nhau để sinh tội, chứ có ai bắt họ cãi nhau đâu. Mà thế thật, số ông hình như phải đi ra khỏi nhà mới khá. Thời chinh chiến, nếu ông cứ ở nhà “ăn quẩn cối xay" thì làm gì quân đội có những người hùng. Ông đánh giặc cừ thật, bị giải ngũ ngang xương là tại cái "vận nước" nó tới hồi mạt vận, chứ cứ thử hai thằng đánh ngang sức nhau, ông đâu có chịu thua.

Ngày xưa lúc còn trong quân ngũ, ông đi biền biệt để vợ ở nhà với lũ con. Cứ mỗi chuyến về phép là vợ ông lại mang bầu, rồi tự động đẻ đái lo liệu một mình, ông đâu có biết thế nào là cảnh "vượt cạn” của phụ nữ. Sau ngày đương nhiên giải ngũ ấy, ông cũng đương nhiên đi ở tù, bạn bè ông có một số thoát được ra nước ngoài năm bảy mươi lăm, chắc là đương nhiên có số xuất ngoại. Lần đi tù này ông xa nhà đúng mười niên, khi về thằng con út " mót " được kỳ phép cuối cùng trong đời lính đã lên mười tuổi, đứa con gái lớn đã biết ra chợ giúp mẹ buôn chui bán nhủi.”Thế chiến quốc, thế xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế", ông cố nghĩ vậy để đừng bỏ nhà lên rừng ở với khỉ.

Không chỉ vì sợ lũ cháu nghịch như giặc mà ông quyết đi tìm việc, ngay cả chuyện ở nhà với vợ một ngày trọn vẹn cũng làm ông nản chí anh hùng. Bà nói lắm lắm, miệng quang quác suốt ngày như một mụ gà mái lắm điều. Ông nghĩ vậy chứ không dám nói ra miệng, cũng chỉ vì một lần "trà dư tửu hậu" của lũ đàn ông, điều ví von ấy đã khiến ông bị bà sỉ vả là một lão gà trống vô tích sự. Khiếp quá cho cái miệng đàn bà, nhưng cũng chả sai tý nào, ông cũng thấy lão gà trống quả vô tâm lắm, cứ "xong việc“ là lão ta nhảy tót lên nóc chuồng để Te Te gáy, mặc kệ lũ gà mái với mấy con gà con. "Nói có sách, mách có chứng", chưa bao giờ ông thấy gà trống dẫn gà con đi kiếm ăn, nhưng lão cũng rất hào hoa khi tìm được một con giun, con dế, sẽ không ngại gì gọi lũ mái tơ đến để "share" với nhau chút của ngon.
 
* * *
Thế là ông long lên đi tìm việc, dù mới chỉ ăn tiền thất nghiệp được ba tháng. Ba tháng ở nhà đi ra đi vào ông thở dài sườn sượt, nhớ lạ lùng tiếng chạy rì rì khi đứng máy, thèm ngửi mùi dầu nhớt và tiếng cười nói xôn xao của những người bạn đồng nghiệp. Cả một bọn lớn tuổi được cho nghỉ trước, sau đến mấy tay trẻ hơn. Lúc đầu ai cũng có vẻ lạc quan, công việc xuống chỉ độ ít lâu, chừng giải quyết xong thì kinh tế lại phục hồi, lúc ấy tha hồ mà làm "over-time".

Nhưng mãi cũng chả thấy khả quan hơn, kinh tế cứ tiếp tục xuống, y như chiếc quan tài được hạ xuống lòng đất là nằm đấy chứ làm gì người chết có khả năng ngồi dậy được. Bây giờ ông không hy vọng gì kiếm được chỗ nào khá hơn chỗ cũ, dù những việc vớ vẩn có đấy nhưng nặng nhọc quá không hợp khả năng, bây giờ ông lại thương cho người chủ hãng với lối làm việc dễ dãi đối với công nhân, thế mà nhiều người vẫn dài họng ra chê bai, bây giờ mất việc mới thấy tiếc hùi hụi.

Hôm đầu tiên, ông vui vẻ mặc quần áo đi từ sáng sớm, mãi đến trưa mới về ăn cơm. Thấy ông mặt mũi bơ phờ, bà hỏi:
“Sao, có chỗ nào nó nhận chưa?"
Ông chán nản lắc đầu:
“Có một chỗ, mới vào "apply" là nó gọi phỏng vấn ngay, nhưng nó bảo sẽ gọi tới báo sau."
Bà nhếch mép cười mai mỉa:
" Mỹ mà, chết đến đít nó vẫn lịch sự, chúng tôi sẽ thông báo tới ông có nghĩa là thôi ông về mà ngủ đi cho được việc."
Ông tiếp tục câu chuyện:
"Còn một chỗ nữa lương bổng khá, không nặng nhọc nhưng trèo cao quá không kham nổi."
Bà lại cười trêu ông:
"Việc gì thế? Chắc lại lau cửa kính cho mấy cái cao ốc phải không?"
Ông tủm tỉm cười:
"Bà này nói như Thánh. Hồi ấy nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy, thế mà bây giờ già, cứ trèo cao là run, lại còn chóng mặt nữa . . . " .
Bà quay đi nói nhỏ nhỏ một mình:
"Đã bảo hết thời rồi mà. . . "
Rồi bà nói to lên cho ông nghe:
"Ừ, biết lượng sức mình thế là tốt, không như nhiều người leo hết thang rồi mà cứ muốn leo nữa, thế là lộn đầu xuống đất."
Ngày hôm sau ông lại dậy từ sáng sớm, uống xong ly cà phê nóng ông mặc quần áo tề chỉnh đi kiếm việc làm. Bà nhìn ông ra xe mà lắc đầu ngao ngán, đúng là ông lão chân hay đi phải ở nhà sinh cuồng cẳng. Đến trưa thì ông về ăn cơm, mặt buồn thiu buồn thỉu. Bà hỏi:
"Sao? Có gì lạ không?"
Ông cười, nhưng cái miệng như mếu xệch đi, trông khổ thân lắm. Mặt ông lại nhăn nhăn khiến bà hốt hoảng:
"Sao thế?"
"Cái chân."
"Cái chân làm sao?"
Ông cúi xuống bóp bóp cái chân đau:
"Cái chân nó đau. Hôm nay thì họ cần một chân "clean-up", nhưng mà cái chân nó lại đau, chán thật."
Bà dọn cơm cho ông ăn, lấy thuốc cho ông uống, nói nho nhỏ một mình:
"Đã bảo hết thời rồi mà."
Đang ăn cơm, ông lại há miệng ra nhăn nhó. Bà lại hỏi:
"Sao thế?
Ông ngừng nhai, uống một ngụm nước nóng:
"Cái răng."
"Cái răng làm sao?"
"Cái răng tự nhiên nó muốn tuột ra, bởi vậy hễ ăn gì cứng nó lại cộm lên, đau muốn chết."
Bà nhìn ông tội nghiệp:
"Vậy mà cứ long lên sòng sọc để tìm việc làm, ở nhà dẫn cháu đi công viên không thích hơn à?"
Ông gắt:
"Khốn nỗi, chân cẳng thế này không chạy theo chúng nó được."
Bà cười:
"Thế mà họ cứ bảo đàn bà chúng tôi vô tích sự. Chỉ chạy theo mấy đứa nhỏ quanh quanh trong nhà, cũng bằng mấy lần "ếch xơ sai" ngoài đường."

Biết bà lại sắp kể công và gây sự, vì đó là cái "khắc khẩu" thường xảy ra khi vợ chồng ngồi nói chuyện với nhau, chỉ câu trước câu sau là thế nào cũng có chuyện. Ăn xong, ông bỏ ra ngoài sân, xem mấy chậu kim quất quả đã hườm hườm chin. Mùa đông năm nay lạnh hơn những năm trước, nên hoa đào hoa mai chẳng thấy trổ hoa, hay là cây cỏ cũng có linh tính mà không chịu toét miệng cười như mỗi năm trời sang Xuân, vì thế mà tuy nhà nào cũng ăn Tết, nhưng không khí dường như vẫn buồn buồn thế nào ấy.Con ông nói đúng, năm nay ông đã ngoài sáu bó, cũng nên nhường chỗ cho đám trẻ còn đang lao đao tìm việc mãi không ra. Sáu mươi với mấy ông "ăn trên ngồi trước" thì chưa già, còn về được Việt Nam kiếm bồ nhí, nhưng ông mất mẹ nó mười niên trong tù, sức khỏe suy kiệt cho nên trông vẫn già hơn tuổi. Dạo này cái chân lại trở chứng, lắm hôm đau không nhấc lên đưọc, ông ngẫm nghĩ bản thân mình cũng suy thoái, trách chi thế giới càng đông người, quả đất càng lúc càng già cũng sinh lắm chuyện, chỗ này động đất, chỗ kia lụt lội, nơi nào cũng lãnh đủ.

Buổi trưa, ông khập khiễng đi ra đường chờ xe "school-bus" , đón hai đứa cháu học Mẫu giáo có nửa ngày sắp về, thay cho bà đang dọn dẹp trong bếp. Một chốc, ba ông cháu đã kéo nhau về, hai đứa nhỏ vừa đi vừa chạy, vừa nắm tay ông mà kéo, mặc cho ông vừa đi vừa nhăn. Bà đã làm xong việc nhà bếp, chạy ra mắng cháu:
"Khéo ngã ông nội bây giờ."
Dắt cháu vào nhà, bà không quên ngoái ra nói với ông:
"Trên hội già họ đang cần một chân xoa mạt chưọc đấy, ông có muốn thì lên đấy mà xin việc."

Nguyên Nhung


Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Fri May 01, 2015 12:40 pm




Những Người Không Đất Đứng

 
Tôi gặp chị vào những ngày sau tháng tư năm bảy mươi lăm, khi hai người đàn ông của chị và tôi cùng vắng mặt trong gia đình. Tôi trở về nhà với mẹ trong một xóm nhỏ ở thành phố Cần Thơ, còn chị cũng dắt con về nhà người anh tá túc, vì cha mẹ chị không còn. Hoàn cảnh hai đứa thật giống nhau, hai người phụ nữ chân yếu tay mềm, mỗi nhà hai đứa con dại còn bế trên tay. Hỏi ra thì trước kia tôi và chị cùng học một trường, cũng mái trường Nữ Trung Học và cũng những thầy cô năm cũ. Tôi đi dạy một ít lâu, lấy chồng rồi bận rộn con cái, yên phận làm mẹ. Chị lý tưởng hơn, sau khi đậu Tú Tài, thích là hoa lạc giữa rừng gươm nên chị theo học khóa nữ trợ tá xã hội, tham gia công tác giúp đời. Chị có học qua một khóa trợ y, nhờ vậy sau này khi lâm vào bước đường cùng, chị đem chút tài mọn ra chữa bệnh cho dân nghèo ở vùng sâu, vô tình được phong làm cô bác sĩ  dù không đỗ đạt được mảnh bằng y khoa nào hết.
 
Dạo ấy hai đứa đều dưới tuổi ba mươi, vì chưa lăn lộn với đời nên vẫn   có nét ngây thơ của những người  đàn bà trẻ con. Chúng tôi sống bám vào hai mảnh ny lông trên vỉa hè thành phố. Hai người cùng hoàn cảnh nên dễ thân nhau, cả hai đứa cùng có lúm đồng tiền trên má. Chị thật thà bảo tôi:
“Người ta bảo những ai có lúm đồng tiền thì lúc nào cũng dư dả, sao hai đứa mình đói rách quá.”

Tôi ngắm chị. Một khuôn mặt hơi vuông nhưng rất ưa nhìn. Hai mắt sâu và sáng, vầng trán thông minh, mỗi khi cười hai lúm đồng tiền lõm xuống, trông chị rất có duyên. Ngày còn trẻ, chắc chắn có nhiều anh chết vì nụ cười của chị. Bởi vậy khi gặp chị, anh mau mau đón chị về, rồi không cho đi làm nữa, vì giữa chốn ba quân, chị như một bông hoa đẹp mà ai cũng muốn hái.           
 
Tôi không đẹp như chị, chỉ dễ coi, cũng hai lúm đồng tiền trên má. Hai đứa có những bốn cái đồng tiền mà lúc nào cũng túng bấn, phải chia nhau từng đồng tiền vốn, xẻ cho nhau đồng tiền lời để mua thức ăn cho con. Có sống trong cảnh đời ấy mới thấy được lòng dạ con người tốt xấu ra sao. Hoàn cảnh bên ngoài thì đổi thay như chong chóng, anh em trong gia đình ai cũng lo thủ phận mình, hai điều ấy đã giúp những con người như tôi với chị xích lại gần nhau hơn.  Những lúc hai đứa đi kiếm ăn, dồn cả bốn đứa trẻ lại nhờ mẹ tôi trông giúp. Hai đứa lớn đến trường, hai đứa nhỏ nhờ bà cụ già chăm bẵm, mỗi chiều về ngoài quà cho con, chị vẫn không quên mua mớ trầu, mấy quả cau tươi cho mẹ tôi. Có khi cả hai gia đình cùng ăn chung bữa cơm tối, những lúc ấy cả hai đứa cùng cảm thấy sự chia xẻ cái khổ, cái nghèo cho nhau thật là đáng quý. Dưới ngọn đèn điện đỏ quạch, chỉ có đàn bà và trẻ con, không ai nói ra nhưng tôi vẫn nhận thấy nỗi cô đơn và băn khoăn của những cuộc đời không lối thoát.         
Không còn gì để bấu víu và tin tưởng, khi tương lai là một chuỗi mịt mù, tăm tối. Đêm nào mẹ con tôi cũng cầu nguyện, ngọn đèn dầu leo lét trên bàn thờ, đêm đêm chúng tôi chờ phép lạ, như chờ đợi từ ngày mùng một Tết dài mãi cho đến chiều ba mươi cuối năm, vẫn không có gì hơn. Chị đi chùa, hôm nào có tiền mang theo bó nhang, nải chuối. Không chỉ có Phật mà hễ nơi nào có thánh thần là chị đến, với một niềm hy vọng là anh ấy được mau trở về với chị. Dưới ngọn nến sáng bập bùng dưới chân Đức Mẹ, tôi nhìn nét mặt nghiêng của chị, mờ ảo và đẹp lạ lùng. Chị như một thánh nữ, đôi mắt ứa ra hai giọt lệ long lanh. Chân thành lắm, chỉ là những lời van xin, khấn khứa cầu sự an bình cho kẻ chân mây. Tuy vậy, có những khi thất vọng quá, hai đứa vẫn rủ nhau đi coi bói, bỏ mấy đồng bạc để nghe một niềm hy vọng. Thầy bói không thấy ai giàu, giữa ban ngày ngó lên nóc nhà lổ chổ như sao sa, chả thầy nào nói được tương lai của chúng tôi hết. Chị chìa bàn tay còn xinh đẹp cho lão thầy bói nắn đi nắn lại, lật tới lật lui, đo đạc dài ngắn rồi nói nhăng nói cuội. Lúc ấy nét mặt chị thật thành khẩn, để rồi trên đường về chị buồn bã bảo tôi:
“Bồ hên quá, có quý nhân phù trợ, ông ấy lại có đường về, còn mình sao mờ mịt quá.”        
Tôi bật cười bảo chị:
 “Chuyện, hơi sức đâu mà tin, cứ đợi đến con trăng này xem đương sự có về không đã, biết thế nào là hên với xui.”.

Có đến chục con trăng  qua đi mà bóng người vẫn biền biệt bóng chim tăm cá. Mỗi lần nói chuyện coi bói hai đứa lại cười, nhớ lại lúc còn đi học, mới biết yêu, vẫn nhờ  người ta đoán hộ tình duyên, gia đạo. Lũ nhỏ lớn dần lên, đời chị và tôi vẫn chỉ là những con bài bích, những người chồng thời buổi đó vẫn chưa nhận được con cơ báo hiệu ngày trở lại.   
       
Một hôm, chị nhận được thư anh, chiếc phong bì được xếp bằng giấy học trò như đồ chơi thủ công lại viết bằng mực tím, bút lá tre. Chị mừng mừng tủi tủi nhìn con dấu nhà Bưu điện, lá thư vượt đèo, vượt suối đi cả hai tháng trời mới đến tay vợ, và chỉ là những con số không thấy nói nơi người gửi. Đọc thư anh, tả chút thay đổi thời tiết, chị biết anh ở xa lắm. Quê chị miền Tây Nam Phần, ven bờ Cửu Long, từ nhỏ đến lớn chị chỉ đi tới Sài Gòn là hết đất. Thư anh viết có một khuôn mẫu sẵn, không thấy nói gì đến nhớ thương, chị đọc thư khóc mùi mẫn, trách anh vô tình. Ngây thơ như một đứa trẻ, chị bảo tôi:
- “Anh dặn mình mạnh dạn đưa các con đi xây dựng vùng kinh tế mới, chỉ có con đường ấy mới mở ngỏ cho anh có cơ hội làm lại cuộc đời. Hãy tin những gì anh nói, ngày về không còn xa”.
       
Tôi gạt đi, vì trước mắt tôi nhan nhản những gia đình sống lang thang trên hè phố, hoặc trở về làm một cái chái che nắng mưa trên chính nền đất của mình ngày xưa. Tôi khuyên chị:
“Đàn bà chân yếu tay mềm, trường học điện nước lại không có, ai bảo đảm an ninh cho mình giữa nơi đồng không mông quạnh. Họ nói thì mặc họ, tin làm sao được.” 
   
Chị ngây thơ không hiểu những gì anh viết, giá chị hiểu ngược lại thì đâu có chuyện quyết định mẹ con dẫn nhau đi vùng kinh tế mới. Mẹ tôi ái ngại cho chị, có khuyên bảo nhưng chị quả quyết là sẽ tìm thấy tương lai. Tôi phục chị can đảm, vì tôi vẫn ở lại thành phố, bám trụ tấm ny lông trên vỉa hè. Tôi không quen nhìn những con đỉa no máu bám vào chân mình, và cũng không biết làm ruộng.Chị đi rồi, chỉ còn mình tôi lại nhập vào giòng người xoay quanh cái bẫy chuột lớn, lẩn thật nhanh vào những con ngõ thông thương khu chợ mỗi khi bị rượt đuổi. Chúng tôi không phải tội phạm mà lúc nào cũng mang mặc cảm của kẻ bị săn đuổi, không sống bám ai mà vẫn bị liệt vào thành phần cặn bã.

Có những lần tôi lan man nhớ đến người bạn hiền của mình, hình dung ra căn nhà trống trải của mẹ con chị giữa đồng không mông quạnh, đôi tay học trò ấy làm sao vật lộn nổi với những thửa ruộng đầy cỏ lác và đỉa vắt. Sức chịu đựng của chị có ngày cũng hết, tôi nghe tin chị tự tử và được cứu thoát. Ít lâu sau, chị về lại thành phố với nét mặt xanh xao, tiều tụy, đầu cạo trọc như một ni sư. Nguyên nhân làm chị tự tử cũng chỉ vì không chịu nổi cảnh sống quá cùng cực và cô đơn, vì những lời tán tỉnh lẫn hăm dọa của bọn địa phương. Ra đi thì dễ, nhưng về lại không đơn giản. Không nhà, không hộ khẩu, anh em nhìn chị hờ hững , vì không ai muốn đa mang vào mình những gánh nặng. Hai đứa tôi trở lại khu chợ nhỏ, trở lại với tấm ny lông trên vỉa hè, mỗi lần hàng phượng vĩ ven sông rưng rưng những cánh hoa màu đỏ rực rỡ, tôi thấy chị buồn buồn. Cả hai đứa có một lúc nào đó trong đời, vẫn bâng khuâng nhớ lại mình ngày xưa, tà áo trắng, mái tóc dài xõa trên lưng, nụ cười má lúm đồng tiền dễ thương làm say lòng người bạn trai cùng lớp.

Một thời gian sau, chị lại đưa con về quê chồng, vì người anh chồng đi tập kết về chia điền sản của cha mẹ để lại. Chồng chị được một phần, dĩ nhiên không nhiều lắm nhưng có còn hơn không. Căn nhà của ông bà nội lũ nhỏ dành cho ông anh cả, chị cất tạm một cái chái bên cạnh ngôi nhà từ đường của cha mẹ chồng để lại. Những ngày đầu ở quê chồng, gần gũi với gia đình ông “anh chồng Cách mạng”, chị phục lăn ông về những bài học và cách sống của một xã hội tốt đẹp mai sau, khi con người không bóc lột người, mọi sự trên đời sẽ là của chung. Nhưng sau chị mới thấy triết thuyết đi một đàng lòng người lại đi một nẻo. Lúc ngỏ lời nhờ ông anh cứu giúp thằng em trong tù, ông cho chị nhiều bài học mà chính chị không ngờ chồng chị lại nhiều tội đến thế. Chị thấy mình luẩn quẩn, cứ đi từ bế tắc này sang bế tắc khác, chẳng cái nào dễ chịu hơn cái nào. Cuối cùng, chị gom hết vốn liếng, mua một cái ghe nhỏ có mái che, mẹ con dẫn nhau đi buôn bán dọc theo các làng xóm xa xôi, đổi chác sống qua ngày.

Từ một người phụ nữ trí thức thành phố, chị mau chóng trở thành một người phụ nữ miền quê đen đủi, đảm đang. Chân đi đất, đầu quấn khăn rằn, biết chèo xuồng và sống như một người nhà quê thứ thiệt. Trên chiếc ghe chật chội ấy thay cho mái nhà tranh, mẹ con chèo chống, trôi nổi như giề lục bình trôi theo giòng nước. Có chỗ để ngủ, có chỗ nấu ăn, có khạp nước uống, chiếc ghe như một cái nhà lưu động, rày đây mai đó, thỉnh thoảng chị mới chèo ghe về chợ Quận, mua hàng hóa và thuốc men để trao đổi với người dân sống ven hai bờ kinh rạch. Lúc ấy, con chị mới được ăn tô hủ tíu, được nhìn ánh đèn điện sáng như trăng ở phố chợ, đôi mắt háo hức nhìn những đứa trẻ cùng cỡ tuổi đến trường.

Theo như chị kể lại, người nông dân quê mình là những người sản xuất ra lúa gạo, lại là những người chịu cảnh bữa đói, bữa no. Gặp lúc được mùa, có chút lúa bán xong phải mua phân, mua giống để dành, sửa cái nhà, cái ghe, sắm bộ quần áo chờ mùa tới. Chẳng may thất mùa lúa đóng thuế không đủ, trong nhà vét không ra hột gạo để ăn. Lại đi vay, nợ mẹ đẻ nợ con, lắm nhà chỉ có cơm ăn với muối xả ớt. Tuy vậy họ vẫn cần nhiều thứ cho sinh hoạt hằng ngày. Cuộn chỉ, cây kim, chai dầu gió, viên thuốc cảm, lúc ốm đau làm gì có bác sĩ, y tá nào mạo hiểm đến đó cứu nhân độ thế, hay để thực thi câu “lương y như từ mẫu” cho họ. Chính lúc ấy, chị trở thành thầy thuốc bất đắc dĩ của đám dân nghèo, bằng chút  kinh nghiệm của sự học hành năm xưa, qua mấy cuốn y học thường thức chị được đọc, dẫu không có bằng cấp chuyên môn, chị vẫn là tia sáng  trong cảnh tối tăm của đám người nghèo khổ. Người ta đón chiếc ghe của chị để mua viên thuốc cảm, thuốc ho, nhờ chị chữa giùm những chứng bệnh thông thường, vô tình chị trở thành cô bác sĩ của những người dân quê tội nghiệp .

Cuộc sống cứ thế trôi đi, chồng chị vẫn chưa về dù chị đã hai lần đi xây dựng quê hương mới. Hai đứa con không được đi học, nhưng những buổi tối neo thuyền trên bến sông, dưới ngọn đèn lù mù, chị dạy con học đọc, học viết. Sau này, anh được chuyển dần vào Nam, mỗi lần đi thăm chồng chị gửi ghe cho người bà con, mẹ con dắt nhau đi thăm nuôi. Chị dấu biệt anh về cảnh sống hiện tại, con không được đi học, mỗi lần về anh gửi thêm lá thư cho ông anh Cách mạng nhờ giúp đỡ vợ con. Chị im lặng không nói, lúc về ngang bến phà Mỹ Thuận, chị đọc thư rồi xé nhỏ từng mảnh thả trôi theo dòng nước. Bây giờ chị đã trưởng thành, sáu năm trời lận đận chị không còn ngây thơ như dạo trước. Lần chị về thành phố thăm tôi, dẫn theo hai đứa con nay khá lớn, chị hầu như lột xác để trở thành một người phụ nữ thôn quê biết an phận, đen đủi hơn và nét mặt đăm chiêu hơn. Tôi hiểu chị đã trưởng thành, từ những kinh nghiệm suốt sáu năm qua chị gặp phải.

Vẫn mái tóc được bới gọn đằng sau gáy, chiếc áo bà ba đen, nụ cười buồn vẫn còn hũm xuống lúm đồng tiền, có lẽ đấy là nét duyên dáng cuối cùng còn sót lại nơi chị. Hai đứa con chị thật tội nghiệp, chân mốc cời, mặt ngơ ngáo khi gặp lại những đứa bạn ngày thơ ấu, nay đã quá xa lạ. Ở chơi với tôi vài ngày, chúng tôi nhắc lại chuyện cũ. Chuyện nhà ông thầy bói giữa ban ngày mái lá sáng như sao sa, chuyện hai đứa giữa buổi chợ túm bốn góc ny lông chạy như vịt, chuyện về những người đàn ông vắng mặt trong nhà không biết đến mấy mươi trăng mới trở lại. 
 
***

Mãi bảy năm sau chiến tranh anh mới được trở về xum họp với vợ con, đúng vào đợt cuối năm, kịp về ăn Tết với gia đình. Lúc thay bộ quần áo cũ ngày xưa, anh ngượng nghịu như người quen đi chân đất lần đầu tiên được mang giày, anh thấy mình trở thành con người khác. Hành trang anh chẳng có gì, cái gì còn xài được anh cho lại bạn bè, hai chữ Tự Do khiến anh hồ hởi, ước thành chim để bay ngay về với vợ con.

Hôm ấy là những ngày cận Tết, trên chuyến phà buổi chiều sang sông, anh nhìn thiên hạ chen chúc nhau, tay xách nách mang, người ta về quê ăn tết, trông ai cũng háo hức lạ. Còn một ít tiền vợ đưa hôm trước, anh mua cho con chục ổi, mấy xấp bánh phồng khoai, bao nhiêu năm tù tội anh chẳng còn gì, chỉ còn tấm thân tàn và túi hành trang rỗng tuyếch. Anh dựa vào lan can chiếc phà đang lướt sóng trên giòng sông Cửu Long, mặt sông như một miếng bông cỏ khổng lồ trải rộng ra từ bờ bên này tới bờ bên kia. Anh hít thở nhiều lần không khí trong lành của dòng sông quê mẹ, mắt nhìn theo giề lục bình lênh đênh trên dòng nước, không biết nó trôi về đâu, với những bến bờ xa lạ.           

Cuối cùng anh cũng về tới quê nhà, nơi mà ngày xưa lúc còn chiến tranh, anh ít khi dám trở lại. Con đường cũ vẫn gập ghềnh như ngày nào, ngày xưa đã không ít những chuyến xe bị lật nhào sau tiếng nổ long trời của mìn bẫy, đã không ít những người vô tội chết thảm thiết trên nẻo đường yêu dấu của quê hương.
 
Bây giờ thì cảnh ấy không còn, nhưng đường xá  vẫn lồi lõm còn hằn sâu dấu tàn phá của chiến tranh. Cảnh nào với anh cũng vậy. Miền Bắc heo hút những rừng, những suối, đường xe chạy những cây giang, cây nứa quẹt vào thành xe cào xước. Miền Nam sông rạch chằng chịt, nhà cửa xiêu vẹo vẫn y chang ngày trước. Cha mẹ anh qua đời từ lâu, vợ con anh đã thay anh về quê chồng lập nghiệp, anh thấy lòng mình vẫn ấm áp với hai chữ trở về thật thiết tha.

Khi anh tìm về căn nhà, làng xóm cũ năm xưa, người đầu tiên anh gặp lại là ông anh lớn, người đã theo tiếng gọi núi sông ra Bắc tập kết, nay trở về miền Nam sống trong căn nhà hương hỏa của gia đình. Dạo ông ra Bắc, anh còn nhỏ xíu đang đi học tiểu học, nay gặp lại hai người đã đứng vào hai phía khác nhau. Ông anh là hình ảnh của cha anh hồi trước, cũng chút hom hem khi đôi má hõm xuống bởi thiếu những chiếc răng. Sau vài lời hỏi thăm, anh được thêm những lời khuyên nhủ, y như những bài anh học được trong tù.

Lúc hỏi thăm đến vợ con, anh được biết “thím ấy và các cháu” đang sống trên chiếc ghe nhỏ, cuộc sống bập bềnh như cọng lục bình thả theo nước lớn, nước ròng. Tự nhiên anh muốn khóc, người anh cả lúc đưa anh ra mé sông tìm vợ con, đã hạ giọng nói với anh mà nghe rõ lắm mới thấy có gì rất ngậm ngùi:
“Thôi lỡ rồi, anh cũng không làm lại được mà chú cũng không làm lại được. Nói vợ em thu xếp cho các cháu lên bờ, dầu gì chúng cũng là cháu của anh”.         

Ôi tình nghĩa anh em, dẫu có thế nào đi nữa cũng phải có phút giây sống thật với tình máu mủ. Không ai căm thù ai, vì ai cũng chỉ là nạn nhân của lũ kên kên thèm ăn thịt người, xô đẩy nhau chết chất chồng để làm vật tế thần cho chiến tranh.

May là anh về đúng dịp cuối năm, chị neo ghe vào bờ cho con ăn Tết. Dưới hàng dừa lả ngọn trên sông chiều, một làn khói trắng bốc lên trên mặt sông, lòng anh man mác buồn, rồi khi bước qua mấy bậc đá rêu trơn trợt để xuống ghe, tự nhiên anh bật khóc. Chưa bao giờ anh khóc ngon lành như thế, vì không phải lúc nào anh cũng có tự do để khóc, hơn nữa, nỗi đau khổ đã làm mắt anh ráo hoảnh, khô khốc không còn giọt lệ.  Anh biết đời anh mất tất cả, chỉ còn chút này thôi. Nhìn vợ trong chiếc áo bà ba đen, hai bờ vai thon mảnh năm xưa nay u lên vì chèo chống nhiều quá, lòng anh như bị sát muối. Hai đứa con lơ láo nhìn cha, chân cẳng chúng nó mốc cời, anh ôm con vào lòng mà không làm sao ngăn được những giọt nước mắt, cứ thế lả chả rơi xuống mái tóc khét nắng của con.

Mùa Xuân ấy vợ chồng con cái anh đón ông bà trên chiếc ghe neo dưới mé sông, vì họ là những người không đất đứng, không có nhà, không có nơi chốn để về khi mùa Xuân tới. Anh còn sống nhiều năm, nhiều tháng chèo chống với vợ trên chiếc ghe thương hồ ấy, chấp nhận hoàn cảnh một cách bình thản vì không còn một chọn lựa nào khác. Hai đứa con được cho lên bờ đi học, tá túc với người bác trong căn nhà của ông bà nội. Dù sao con anh vẫn phải đi học, học gì không biết, nhưng từ trước đến nay, trường học vẫn là cái nôi êm ái nhất trong cuộc đời của mỗi con người. Vợ anh vẫn là cô bác sĩ bất đắc dĩ của những người dân quê nơi vùng sâu, nhưng từ ngày có anh, chị đỡ vất vả hơn, nét mặt có tươi tắn và nụ cười vẫn còn dấu vết  hai lúm đồng tiền in trên má.

Sống trên sông đã quen, người anh cứ bập bềnh, lúc được lên bờ là những ngày ít ỏi của anh trên quê hương. Mỗi lần bước đi anh cứ lảo đảo như người say sóng, chút xíu anh ngã vì lòng cứ mênh mông nghĩ đến một chân trời xa lạ. Anh để lại chiếc ghe cho đứa cháu họ, về ngôi nhà hương hỏa với người anh một thời gian trước lúc đi xa, có dịp sống lại với nhau một thời gian, nhờ vậy họ đã hiểu nhau thêm một chút. Khi chỉ còn hai anh em, không còn lằn ranh nào giữa tình huyết nhục, ông anh của anh đã khóc và mới có dịp nói hết những ray rứt mà ông dấu kín bao nhiêu năm, kể từ năm 54, ông bỏ nhà ra Bắc.   
                          
ĐOẠN  KẾT  

Đó là những gì tôi biết về anh chị, những người bạn cùng hoàn cảnh với tôi, đã không có đất đứng ngay chính trên quê hương của mình. Giờ này anh chị đã có một cuộc sống khá ổn định trên nước Mỹ, tôi không dám bảo nơi đây là đất thiên đường, nhưng nó cũng không phải là hỏa ngục.

Anh chị lập nghiệp trên miền Bắc, mùa Đông có tuyết phủ và mùa hè, trời vẫn mát mẻ với những ngọn thông xanh. Họ gửi cho tôi mấy tấm ảnh, anh tóc đã muối tiêu, chị đã tròn trịa hơn trước, riêng hai đứa nhỏ nay đã lớn, nhận không ra, đứa con gái thật xinh, nụ cười giống hệt mẹ thời còn trẻ. Nghe nói ông anh Cách mạng của anh đã chết, những năm về sau anh vẫn gửi tiền, gửi quà và thuốc men về cho ông, ít ra nhờ vậy ông cũng được hưởng chút nào của thằng em trong những ngày cuối đời. Những người ở thế hệ anh năm xưa mất đi cũng nhiều, càng về già thì nỗi nhớ quê càng chập chùng, anh vẫn không quên được dòng sông miền quê cũ. Trong tấm hình mới nhất anh chị tặng tôi, chị nép vào vai anh mỉm cười, già rồi mà hai lúm đồng tiền vẫn còn mờ trên má. Chóng thật, mới ngày nào mà đầu đã hai thứ tóc.                                                                 


Để nhớ những mùa Xuân xưa.

Nguyên Nhung

.
Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Wed May 06, 2015 12:39 pm



CĂN GÁC ÐÌU HIU

Nguyên Nhung


Hình như  dĩ vãng không hề tách rời khỏi tâm hồn Ðoàn, mỗi lần nghĩ về những khoảnh đời cũ, Ðoàn lại nhớ như in căn gác lửng  mái tôn có cái trần thấp lè tè, một  thế giới đầy kỷ niệm của những ngày trẻ tuổi. Mỗi lần bước lên gác, chàng lại phải khom mình xuống, để tránh đụng đầu vào cây kèo trên căn gác chật hẹp  ấy.

Thế nhưng, căn gác thấp tuy nhỏ bé lại là cả một giang sơn của một cậu học sinh thời Trung học, có một chiếc bàn nhỏ làm bàn học, vứt  đầy những bản nhạc mua được bằng những đồng tiền dành dụm quà sáng.

Chiếc kệ bằng gỗ tạp xếp nghiêng nghiêng những cuốn sách học, những tập vở, lẫn lộn vào đó là vài cuốn tiểu thuyết, hay một vài bài thơ viết dở dang. Rồi khi thêm được cây đàn, ngoài những lúc đi vắng, căn gác nhỏ là cả một thế giới âm thanh của tuổi trẻ và tình yêu. Những ngày với bạn bè lang thang ngồi quán cà phê ngắm những tà áo màu tung bay trên hè phố, khuôn viên trường Ðại học, hay khi chỉ một mình  trong căn gác thấp và tối, âm nhạc quả là thế giới kỳ diệu để tuổi trẻ tạm quên  đi nỗi buồn chiến tranh.

Ði xa nhiều năm, trở về căn gác nhỏ của mình, Ðoàn vẫn thấy xúc động khi  có dịp sống lại với những kỷ niệm cũ, và trong đời chàng, có lẽ khoảng thời gian ấy, là thời gian đẹp nhất trong cuộc đời, khi bỏ lại  đời sinh viên, xa khung trời Ðại Học, chọn binh nghiệp làm hướng đi của người trai thế hệ. Thế hệ của chiến tranh, của những đêm nhìn ánh hỏa châu lơ lửng trên vùng đêm đen ở phía xa thành phố, của những ngày đi học nhìn bạn bè chuẩn bị lên đường nhập ngũ, Ðoàn đã có lúc nghĩ, thế nào rồi cũng tới lượt mình. Không có chọn lựa nào khác thì đành là phải chọn lựa thôi, nếu như bảo rằng vì say mê binh nghiệp, giã từ nếp áo sinh viên để lăn mình vào chỗ chết, chưa chắc lúc ấy Ðoàn đã có ý nghĩ đó. Nhưng khi bước chân vào đời quân ngũ, tự nhiên hoàn cảnh đưa đẩy, khiến chàng phải xác định lại chỗ đứng của mình, nhất là khi có những người bạn nằm xuống lúc tuổi còn đang độ thanh xuân.

Bấy giờ thì căn gác của Ðoàn thật sự buồn hiu vì sự vắng mặt của chàng, để mỗi lần về phép trong đời lính, khi nhìn lại những đồ vật quen thuộc trên căn gác xép, lòng chàng vẫn vu vơ nỗi nhớ đằm thắm của một thời hoa mộng. Chàng hay lẩn thẩn nhìn mặt bàn, chiếc ghế, bâng khuâng nhớ đến dáng ngồi khép nép và mái tóc dài của người bạn gái cùng lớp, chiếc cặp tóc bỏ quên trên mặt bàn khi ra về, Ðoàn vẫn giữ gìn nâng niu  như một kỷ niệm khó phai. Ít ra cũng có một chút gì để nhớ. Sau này khi ra đơn vị, đóng quân ở Pleiku, thành phố có những con đường quanh co gió núi với mây mù, đi loanh quanh một buổi chiều đã hết mấy con đường của thị xã. Ly cà phê đậm đắng, ngồi lơ mơ với điếu thuốc rồi  thả hồn theo những tiếng hát, Ðoàn lại thú vị vì biết đời vẫn rất cần có những nỗi nhớ dịu dàng như vậy.

Những ngày cuối cùng của cuộc chiến, chạy thục mạng theo đoàn quân đổ về phương Nam. Suốt một đời làm lính Ðoàn chưa bao giờ khóc, ngay cả phút chia tay với bạn bè sau bốn năm ở quân trường, thế mà những ngày cuối tháng Tư năm ấy, nó cứ in vào lòng chàng một nỗi buồn  ray rứt khôn nguôi. Làm sao quên được chặng đường thương khó đầy máu và nước mắt, Ðoàn bắt gặp hình ảnh người vợ lính, một mình tay bồng tay dắt mấy đứa con nhỏ để chạy theo đoàn quân lui về phương Nam. Ðể rồi trên một chặng nghỉ chân, người vợ lính ấy gào khóc thảm thiết đến tuyệt vọng khi đứa con bốn tuổi đã lạc mất trong dòng người hỗn độn... Lúc đó, tự nhiên nước mắt Ðoàn cứ tuôn như mưa trên đôi gò má xạm đi vì nắng bụi, sự đổ vỡ tan tác cuả gia đình người lính trong thời loạn, đã trở thành nỗi buồn khó phai trong lòng chàng mãi mãi về sau...

Tưởng như một phép lạ khi Ðoàn lại trở về với căn gác nhỏ, sau những ngày dài đói khát vượt rừng bằng đôi chân không đau buốt, đem theo  cái buồn u uất lẫn với nỗi phẫn hận khiến chàng mệt mỏi, nằm vùi trên chiếc giường nhỏ. Vật vờ vì cơn sốt chợt đến chợt đi, bao nhiêu nhiệt huyết của tuổi trẻ dường như cũng theo đó mà xụp đổ. Nhìn qua khung cửa sổ bé tý trên căn gác tối, một nửa vầng trăng và những ánh sao đêm ấy sao lạnh lẽo quá chừng, chưa bao giờ chàng cảm thấy cô đơn  bằng lúc ấy. Cơ thể mệt mỏi rã rời, tâm hồn trống rỗng hụt hẫng, tất cả thực tại hình như trong thoáng chốc đã biến mất, như có như không, những bạn bè năm cũ, những gương mặt đồng đội bỗng dưng lại có thể nhanh chóng biến thành những bóng ma dật dờ sau cơn đồng thiếp chiến tranh...

Ðể rồi sau cuộc đổi đời đó, người lính biến thành người tù còn nhận thêm những cay đắng của thân "cá chậu chim lồng". Cái hào khí ngất lửa năm xưa tạm nằm im để chịu đựng thêm những nhục nhằn, cơ cực. Cuối cùng, Ðoàn đã trở về căn gác cũ của mình sau ba năm xa vắng, nó vẫn cho chàng đầy ắp cảm giác được trở về căn nhà xưa, như người bạn tình chung không hề thay lòng đổi dạ.

***

Ðời đã bước qua một bước ngoặt, thế nào đi nữa Ðoàn vẫn phải có một việc làm để mưu sinh. Không phải lúc để chọn lựa, vì trước mắt chàng tương lai hoàn toàn không có. Có chăng là phải thoát ra khỏi cuộc đời đầy bóng tối vây bủa những tù ngục vô hình, lúc nào cũng lởn vởn trong chàng ý muốn được đi xa. Có những đêm khuya Ðoàn cố nằm im  đợi giấc ngủ, bỗng chàng chợt ngồi bật dậy, một luồng hơi tức nghẹn trong lồng ngực khiến mắt chànng  cay cay, rồi cứ vậy chập chờn suốt đêm khuya...
 
Không còn làm gì được nữa, thôi thì đành chấp nhận hoàn cảnh rồi đời muốn ra sao thì ra. Ngày hôm sau Ðoàn đạp xe lang thang đi tìm những người bạn cũ đồng cảnh, may mắn sao chàng lại tìm được một việc làm tương đối thích hợp. Ðó là vẽ mặt cho những con búp bê biết cười bằng gỗ, một thứ đồ chơi tiểu công nghệ rẻ tiền cho trẻ con, dựa vào những câu chuyện cổ tích thần thoại Liên Xô đang được hâm mộ lúc bấy giờ.

Lúc nhận việc, Ðoàn vẫn hóm hỉnh nghĩ đến cái tương phản của công việc với tâm hồn mình lúc ấy, vẽ mặt người cười trong khi mặt chàng lúc nào cũng muốn méo xệch đi vì thất vọng. Người ta đang ru ngủ những đứa trẻ thơ, để tin rằng vẫn có những mơ ước trong cái cõi đời đầy bịp bợm, riêng với Ðoàn, chắc khó tìm lại được niềm tin khi vừa trải qua nhiều tháng ngày vật lộn với tù tội, đói khát. Nhưng cũng thời gian ấy, trong nỗi buồn miên man, Ðoàn mơ hồ rằng giữa lúc cuộc đời đến tận cùng bằng số, chàng vẫn có một mối tình để nhớ.

Công việc quả không cực nhọc gì, bề bộn quanh mình là những con búp bê bằng gỗ đang chờ được chàng vẽ phác một nụ cười. Nhân vật là thằng bé có cái mũi dài, cô bé Lọ Lem, công chúa với hoàng tử, mụ phù thủy và những vị "Thần Tháng" râu tóc bạc phơ. Mỗi lần ngồi tô điểm nụ cười cho những nhân vật không có thật ấy, Ðoàn cảm tưởng mình cũng quên được phần nào nỗi buồn của thực tại.

Ðược phân công làm việc chung với một cô bé, có lẽ thua chàng đến gần  chục tuổi, vì thế mà cô ta gọi Ðoàn bằng chú. Thật tình lúc ban đầu, chàng cũng thích lối xưng hô ấy, khi Tâm cho Ðoàn biết bố cô cũng là một sĩ quan Ðà Lạt lớp đàn anh, đang bị tập trung cải tạo. Và bây giờ  vì hoàn cảnh sống, Tâm phải bỏ học đi làm để tiếp mẹ nuôi lũ em còn bé dại. Sau thấy Ðoàn còn trẻ, lại độc thân, Tâm tự nhiên thay đổi lối xưng hô. Như một người anh lớn, Ðoàn thường chỉ vẽ thêm cho Tâm cách tô điểm sao cho những con búp bê, mỗi con một vẻ đầy tính cách nghệ thuật. Tự nhiên Ðoàn có cảm tưởng hai người rất gần nhau, vì họ có chung một cảnh đời bất hạnh như nhau.

Tâm cũng khéo tay, từ từ đã vẽ được đôi mắt và chiếc mũi xinh xinh cho những con búp bê gỗ, rồi đẩy qua Ðoàn để chàng vẽ vào đó một cái miệng cười. Có lần Toàn vừa vẽ, vừa nhìn đôi môi chúm chím cười trên khuôn mặt còn đầy nét thơ ngây của Tâm, chàng bỗng liên tưởng đến nụ cười xinh xinh của cô bé Lọ Lem trong cổ tích. Tự nhiên Ðoàn hy vọng, một ngày nào đó cô bé Lọ Lem đang ngồi trước mặt chàng, sẽ có thể biến thành một công chuá.

Ðể rồi từ đấy với một tâm hồn nghệ sĩ, mỗi khi vẽ nụ cười cho búp bê, chàng lại có cảm tưởng mình đang vẽ nụ cười của Tâm, nhờ thế mà khuôn mặt của những con búp bê sinh động hẳn lên, đến nỗi ai nhìn qua cũng đều tấm tắc khen đôi tay tài hoa của chàng. Anh bạn cũ cũng là chủ nhân của cơ sở sản xuất búp bê thật tinh mắt, anh đã nhìn ra được tâm hồn bạn mình gửi gấm qua những nụ cười búp bê, đôi khi anh ta hay nhìn Ðoàn rồi nheo mắt cười thông cảm.

Chuyện vẫn chỉ là thế nếu không có lần hai người cùng làm việc chung, Ðoàn bất chợt nghe Tâm hát. Nàng hát nhỏ thôi nhưng vì lúc ấy trời mưa, mưa nhỏ thôi nhưng không gian chừng như giăng giăng những cụm buồn trên nền trời đầy mây xám, chỉ có tiếng mưa vẫn  rích rắc nhỏ giọt xuống hàng hiên ẩm ướt bên ngoài khung cửa. Tự nhiên Ðoàn xúc động, lâu lắm rồi chàng bỗng nghe lại một tiếng hát, hay là một bài hát mà chàng thích, trong những buổi chiều ẩm ướt ngồi uống cà phê nơi thành phố gió núi và bụi đỏ ngày xưa. Giọng hát Tâm còn non nớt, không điêu luyện lắm, nhưng bản nhạc vô tình lại khiến Ðoàn xúc động:

"Phố núi cao, phố núi đầy sương. Phố núi cây xanh, trời thấp thật buồn. Anh khách lạ đi lên đi xuống, may mà có em, đời còn dễ thương. Em Pleiku, má đỏ môi hồng, ở đây buổi chiều, quanh năm mùa Ðông, nên mắt em ướt, và tóc em ướt, nên em mềm như mây chiều trôi. ..."

Chàng buông cây cọ trên tay, thẫn thờ nhìn ra khung cửa sổ, những sợi mưa mỏng đan nghiêng nghiêng làm không gian càng ẩm ướt một nỗi buồn. Giá như có cây "guitare" để đệm theo tiếng hát buồn buồn của Tâm trong buổi chiều hôm đó, có lẽ hạnh phúc đối với Ðoàn chỉ có vậy. Không biết Tâm có cảm được bản nhạc cô vừa hát đã khiến Ðoàn xúc động đến thế không, nhưng khi thấy Ðoàn im lặng lắng nghe, cô bé đang hát bỗng bẽn lẽn ngồi im, khiến chàng phải lên tiếng:

"Tâm hát hay lắm. Bản nhạc này khiến tôi nhớ nhiều đến một thành phố cũ..."

Vốn ít nói, Ðoàn cũng chỉ nói tới đó rồi thôi, những nỗi buồn chàng vẫn thường hay giữ lấy một mình, như những lá thư tình tuổi học trò chàng gửi vào đấy bao nỗi nhớ nhung, để rồi nó vẫn không bao giờ được gửi đi cho người nhận. Tâm vẫn vừa chăm chỉ tô những đường nét trên khuôn mặt búp bê, sơn phết lại áo quần cho nhân vật trong phim "Mười hai vị Thần Tháng", vừa hát nho nhỏ "... may mà có em, đời còn dễ thương...", khiến Ðoàn tủm tỉm cười, thầm ao ước rằng câu hát ấy được Tâm dành riêng cho chàng trong buổi chiều nay. Chàng bỗng dưng chợt nhớ đến mấy vần thơ thật dễ thương cuả một cô bé chàng quen thời đi học, mỗi chiều tan trường đi ngang nhà, vẫn lắng nghe tiếng đàn "guitare" cuả chàng vọng xuống từ mái hiên căn gác nhỏ. Rồi khi chàng nhập ngũ, Ðoàn có nhận được mấy vần thơ trước lúc lên đường, như một lời tỏ tình rất dễ thương:   
      
"Chắc anh người trai trẻ,      
Ðã lên đường tòng quân,        
Ðường đi ra chiến trận,        
Có mang đàn theo không?"

Bây giờ ngồi làm việc chung với Tâm, càng gần gũi với những nhân vật trong huyền thoại cổ tích, cô bé cũng như Ðoàn, đã có lúc đắm hồn vào những mơ ước của mộng ảo, để quên đi nỗi buồn thực tại. Có lần Ðoàn đã thân mật nói với Tâm, bằng sự chân  thành nhất của lòng mình:

"Lắm khi nghĩ lại thấy công việc của tụi mình rất buồn cười. Ðời thì buồn nẫu ruột ra vì không có tương lai, thế mà ngày nào cũng sống trong thế giới mơ ước của công lý, kẻ ác phải đền tội, người hiền sẽ được hạnh phúc. Thế mà đời vẫn không là vậy..."

Ngày nào cũng như ngày nấy, công việc chỉ có vậy, mà cũng không phải dễ để có việc làm đều đặn hoài như thế. Những con búp bê bằng gỗ xinh đẹp biết cười sắp hết thời, đám trẻ nhỏ chắc cũng không tin tưởng lắm vào đôi đũa thần của sự mơ ước. Như  Ðoàn và Tâm  lúc ấy, cũng phập phồng nghĩ tới một hôm nào đó, sẽ không còn việc làm để nuôi thân và giúp đỡ gia đình...

Tất cả đều trở thành thói quen, dù sự đau khổ hay nỗi cô đơn, nó cũng sẽ chỉ là thói quen khi con người đã quen chịu đựng nó, huống gì mỗi ngày được làm việc chung  với một cô bé dễ thương như Tâm,  đã cuốn hút Ðoàn vào nỗi  đam mê vốn có sẵn không rời ra được. Nhìn Tâm, Ðoàn bỗng nhớ da diết khung trời Ðà Lạt mà những mối tình ở lại, cũng mong manh như những sợi tơ trời lãng đãng trên nền trời xanh biếc. Chàng mơ hồ mình đã yêu, rồi lại dối lòng bảo rằng không khi chạnh nghĩ tới thực tại. Chàng có gì để dám ngỏ thật với Tâm là thực sự chàng đang muốn chia xẻ với cô bé, những khó khăn trong cuộc sống hiện tại. Chắc chỉ trong đêm khuya nằm trằn trọc chờ giấc ngủ trong căn gác nhỏ, Ðoàn vẫn thấy hình ảnh Tâm lúc nào cũng lưởng vưởng trong tâm trí. Trong chàng như có hai con người lẫn lộn, giữa tình cảm và lý trí. Một đứa như bảo chàng, làm sao khi yêu còn kiểm soát nổi nhịp đập của trái tim, thế nhưng tiếng nói của đứa kia mạnh mẽ hơn, thực tế hơn khi lôi chàng trở về với hiện tại, bảo chàng phải đi đâu đó, phải tìm một cái gì đó. Cuối cùng chàng cũng mơ hồ hiểu rằng đó là niềm khao khát được thở một chút không khí tự do mà chàng đã mất...

Với những mâu thuẫn nội tâm, có lẽ cả đời Ðoàn vẫn chưa nói hết được điều hay ho, dù con  tim chàng nó xúi bẩy chàng nói đi, sống thật đi kẻo hết một đời cũng vậy thôi. Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi, Ðoàn chưa nói được gì thì chính Tâm lại là người nói trước. Ðoàn vẫn không bao giờ quên chiều hôm ấy, lúc hai người cùng cắm cúi làm việc chung với nhau thì Tâm bỗng thở dài rồi nói khẽ:

"Anh em mình sắp xa nhau rồi."

Ðoàn thảng thốt nhìn Tâm, nhưng vẫn im lặng. Ðôi mắt Tâm thật buồn, chẳng bao giờ chàng quên nổi đôi mắt u uẩn như còn đọng đầy một hồ lệ. Tâm nói tiếp, rất nhỏ như một cơn gió thoảng:

" Tâm sắp đi rồi..."

Chữ "Ði" lúc này có nghĩa là ly biệt, và khó có ngày gặp lại.  Ði là đi tìm tương lai ở một vùng trời xa lạ, nhưng chữ " Ði " vẫn có nghĩa là sắp bước vào một đoạn đời chông chênh đầy bão tố, một sống một chết, một mất một còn, hay tệ hơn là trước khi tìm thấy tương lai, đã phải đánh đổi bằng nhiều mất mát. Lúc ấy, không hiểu sao khi nghe Tâm nói, Ðoàn lại chỉ nói:

"Nếu đi được thì cũng nên đi, nhưng phải cẩn thận..."

Tâm lắc đầu, mái tóc nàng thoảng mùi hương bồ kết. Giọng Tâm trầm xuống gần như muốn khóc:

"Nếu chỉ đi thôi thì đã không có gì để nói, nhưng..."

Ðoàn ngắt lời Tâm với nỗi lo sợ lẫn xót xa:

"Nhưng làm sao hở Tâm?"

Rồi chàng chờ đợi, như chàng sợ sắp sửa phải nghe Tâm nói điều gì đó mà chàng mong đợi, mà lại hoàn toàn không biết sẽ trả lời ra sao. Nhưng Tâm chỉ buồn buồn bảo Ðoàn:

"Tâm sắp đi, nhưng trước khi đi thì phải lấy chồng đã. Người ta muốn vậy, đời luôn luôn là sự đổi chác."

Gần như choáng váng vì câu nói của Tâm, nó lạnh lẽo như nước đá dù cô bé  đang đề cập đến chuyện quan trọng trong đời mình. Ðoàn hỏi lại:

"Sao lại như  thế?"

Tâm mím chặt đôi môi như để giữ lại nỗi xúc động, mà lại có vẻ liều lĩnh khi chấp nhận một sự thật ê chề:

"Bố đang bị tù, mẹ không biết làm gì để nuôi được các em, chỉ còn cách là phải đi thì mới đem lại niềm hy vọng cho gia đình. Nhưng khả năng lại không có, chỉ còn cách này thôi. Họ có phương tiện, còn mình thì không, nhưng không chấp nhận thì không còn con đường nào nữa."

Ðoàn hiểu, lòng quặn lên  nỗi thương cảm. Cô con gái của một người sĩ quan chế độ cũ, đã có một quyết định quyết liệt dù rằng cô hiểu niềm hy vọng đó có thể làm tan nát trái tim cô. Người cha giờ này đang mịt mù nơi rừng sâu núi thẳm, trong một trại tù nào đó tuốt ngoài miền Bắc, chắc hẳn những lá thư gửi về đã xa gần nhắn gửi đến vợ con điều mong mỏi của ông…

Chiều hôm đó, lần đầu tiên hai người đạp xe đi bên nhau đến một quán cà phê vắng, nói nốt câu chuyện dở dang mà có lẽ sau này không bao giờ có dịp nói nữa. Ðoàn vẫn nhớ giọng nói dịu dàng của Tâm, khi cô se se những sợi tóc vương trên chiếc áo trắng:

"Anh Ðoàn nhỉ? Có những điều người ta không cần nói ra, mà vẫn hiểu là đã nhận, đã nghe. Tâm rất mến anh, nhất là hôm vô tình anh lắng nghe Tâm hát. Ðúng là đời dù có tàn tạ tới đâu, vẫn cần giữ cho mình một chỗ riêng để nhớ. Mai mốt dù đi đâu, ở đâu, Tâm vẫn không bao giờ quên anh..."

Lúc ấy Ðoàn cũng chỉ muốn nói: "Anh cũng thế, anh cũng sẽ không bao giờ quên em, cô em bé bỏng dễ thương của anh". Nghĩ thế nhưng Ðoàn vẫn không nói được, nhưng chàng hiểu chỉ nhìn vào mắt chàng, Tâm  có thể nhận hết những gì chàng đang nghĩ trong lòng.

Buổi chiều trong quán cà phê vắng, tự nhiên Ðoàn thèm nghe tiếng hát của Tâm, với bản nhạc vô tình nhắc nhở Ðoàn những ngày cuối cùng của một người lính tâm hồn nhiều mộng mơ, quán cà phê và con đường Hai Bà Trưng ở Pleiku, những buổi chiều mùa Ðông lẩn khuất trong hàng cây ven đường.

Chiều bỗng dưng đổ mưa, Ðoàn trầm ngâm nhìn khói thuốc bay trong không gian mờ tối, trong khi Tâm âu yếm bỏ đường vào ly cà phê cho Ðoàn, rồi nhấp môi nếm thử. Có lẽ những giờ cuối còn ngồi bên nhau, không biết ngày mai đời sẽ như thế nào, Tâm muốn dành riêng cho Ðoàn chút êm dịu của một mối tình không ngỏ được. Không biết nghĩ sao, Ðoàn nhìn vào đôi mắt Tâm, cầm ly cà phê đặt môi mình vào chỗ đôi môi của Tâm vừa nhấp, tưởng như chàng vừa đặt một nụ hôn lên đôi môi xinh xinh của nàng. Ðôi mắt họ bối rối nhìn nhau, cho đến suốt cả đời, chàng vẫn không bao giờ quên được đôi mắt Tâm chiều hôm ấy...

***                                     

Những ngày sau đó, Tâm không còn đến Tổ Hợp Búp Bê để làm việc, Ðoàn một mình làm hết những công việc cho khuôn mặt búp bê, nhưng lòng hoàn toàn trống rỗng để không làm sao vẽ trọn vẹn một nụ cười. Những nụ cười vui tươi, xinh xinh trước kia được chàng say sưa, nắn nót để tô điểm, nay cứ méo xệch đi như sắp khóc. Cứ mỗi lần vẽ nụ cười cho con búp bê gỗ, tùy theo khuôn mặt của nó, chàng lại thấy mắt mình cay cay, nhòe đi như không nhìn rõ được gì nữa...

Chắc chắn rằng Ðoàn không còn hứng thú gì để tiếp tục công việc này, dù nó cũng giúp cho chàng ngày hai bữa cơm, thêm thắt vào đời sống gia đình cho cha mẹ. Sự ra đi của Tâm đã mang theo tất cả niềm hy vọng màu xanh vừa hồi sinh trong trái tim chàng, khiến Ðoàn buồn rã rượi. Làm sao đời lại chỉ là những bất hạnh này tiếp nối những bất hạnh khác, nhất là điều ấy lại xảy ra với một cô gái vừa ngơ ngác bước vào đời như  Tâm, đã phải chua chát chấp nhận hoàn cảnh đau xót ấy. Những bế tắc cuả đời sống hiện tại, khiến người ta chỉ  nghĩ đến chuyện thoát ra, mà không biết những bất hạnh đang rình rập ở phía trước.

Ðoàn vẫn cầu nguyện cho Tâm gặp nhiều may mắn trên con đường vượt biển đầy hiểm nguy và bão tố. Không lẽ ông Trời lại nghiệt ngã không ban cho nàng niềm hy vọng cuối cùng, ước muốn là con chim đầu đàn trong gia đình, bay đến một phương trời xa và mang niềm hy vọng cho người thân trong nhà.

Cuối cùng, Ðoàn cũng từ giã những người cùng làm chung trong Tổ Hợp Búp Bê, vì đã tìm được một việc khác, tuy nặng nhọc hơn nhưng đỡ phải suy nghĩ. Chàng hy vọng thời gian sẽ làm chàng nguôi đi nỗi nhớ, chút tình yêu dịu dàng khởi đầu bằng một tiếng hát, để nhìn về tương lai với một niềm hy vọng, cho chàng và cho Tâm...

Những buổi chiều  một  mình trong căn gác đìu hiu, nhìn những mảng mây tím lãng đãng trên bầu trời lúc hoàng hôn, Ðoàn vẫn nghĩ về Tâm, nghĩ tới nụ cười xinh như con búp bê trong cổ tích, nhớ hoài đôi mắt buồn còn ngấn những giọt lệ. Nhất là những buổi chiều mưa, Ðoàn đứng mãi bên khung cửa sổ, để những giọt mưa hắt vào ướt đẫm trên mặt mình, không biết đó là những giọt nước mưa hay những giọt nước mắt. Ðoàn bâng khuâng dạo lại bản đàn cũ, nghe như trong không gian im vắng của buổi chiều, có tiếng hát êm êm của Tâm còn bỏ lại.

                                     
(Viết thay tâm sự cuả một người)
                                           
Nguyên Nhung
Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Mon Jul 13, 2015 7:09 pm



Viết Giữa Mênh Mông

Nguyên Nhung


Cả khu chung cư này gọi hắn là gã khùng, thằng điên hay là ông dở người, hắn chỉ mỉm cười tha thứ. Đối với họ hắn chỉ biết cười ngô nghê như trẻ con, chứ riêng hắn, hắn mới biết mình độ lượng đến đâu, lòng thương hại, nỗi trắc ẩn ấy chỉ mình hắn hiểu khi bọn người lớn mặc kệ lũ trẻ con giễu cợt hắn. Hắn đã thấy nhiều người gầm lên khi cho là mình bị ai xúc phạm, dù người ấy đã được đọc nhiều sách vở nói về cái “ta” của một thực thể, chỉ là hạt bụi vô thường giữa sắc sắc, không không. Dưới mắt hắn, lũ người bảo hắn khùng điên ấy cũng đã từng điên khùng, quanh quẩn trong cái khổ của họ mà họ chưa có can đảm bộc lộ ra bên ngoài cái vỏ của một con người, là vì họ đã khéo léo che đậy được, chứ mở được lòng nhau ra, chưa biết ai điên ai tỉnh.

Hắn là một người điên chữ. Hắn mê sách vở hơn tất cả mọi thứ sinh thú của cuộc đời, cũng chính vì đọc nhiều quá mà hắn đâm rối loạn, mê tỉnh với những điều hắn đọc được. Hắn đọc đủ loại, có những tác phẩm hay, có những tác phẩm dở, mỗi một tác phẩm lại bơm vào đầu hắn một ít suy nghĩ trăn trở, đủ cả hỉ nộ ái ố, đủ cả diễm tình, thù hận, vô luân khiến hắn bị “tẩu hỏa nhập ma”. Vô tình, những tác phẩm của nhiều tác giả đã dàn thành một mặt trận ẩu đả lẫn nhau trong óc hắn, không biết có nên kết tội cho văn chương đã làm băng hoại tâm hồn hắn, hắn không chết được để cứ thế ngẩn ngơ.

Một ngày kia hắn bỗng ngơ ngẩn thật, đi lên đi xuống mấy con đường trong khu chung cư, rồi hắn đi ra biển để hàng giờ cứ lòng vòng trong khu nghĩa trang. Hắn không nhìn ai, lúc nhìn trời, cười, lúc lẩm bẩm câu gì đó trong mồm, cả ngày hắn chỉ thích nói vu vơ với những nhân vật không có thực rồi lại cười một mình. Vợ hắn cho là hắn bị ma ám, còn người đời lại bảo hắn khùng. Hắn đã có một kho tự vị trong đầu, khùng, điên, man man, cám hấp, dở hơi, rồ, tưng tửng, không bình thường đều có nghĩa ám chỉ một người như hắn.

Trước tiên là hắn quên ngay cái việc phải đi làm để kiếm sống. Hắn làm nhiều quá rồi, từ thuở vào đời hắn đã được học để chuẩn bị làm việc, khi ra đời hắn phải lăn xả vào để kiếm miếng cơm nuôi thân, không được ỷ lại vào người khác. Lúc lấy vợ rồi có con, hắn phải làm việc bằng hai, chỉ vì người ta bảo hắn là trụ cột của gia đình. Hắn cứ bị cột chặt vào những vòng luẩn quẩn liên hệ của gia đình và xã hội, đời chả mấy khi vui. Từ lúc điên, hắn quên khuấy ngay cái người đàn bà sống chung với hắn, và cả những đứa con thì hình như không có vẻ dính dáng đến hắn cả. Mỗi ngày, họ bày biện ra đấy cho hắn một phần cơm, hắn lặng lẽ ngồi vào ăn khi bụng đói, hắn lặng lẽ dọn dẹp, lặng lẽ ngồi một mình ngoài hiên đọc sách, ngắm nhìn thế giới loài người bằng ánh mắt xa lạ.

Hắn là một người điên hiền lành không làm phiền cho ai, nhưng người ta vẫn không để hắn yên. Vợ hắn lôi hắn đi nhà thương, hỏi gì thì hắn cũng chỉ cười, nghe rào rào như các nhân vật đang độc thoại trong một tác phẩm. Hắn thú vị thấy anh bác sĩ tâm thần giơ hai tay lên trời, chịu thua không khám phá nổi con người của hắn, bởi vì anh ta hỏi gì thì hắn cũng chỉ cười, nụ cười an nhiên tự tại mà hắn nhìn thấy được trên bức tượng Phật ở ngôi chùa miền quê, hồi còn nhỏ hắn theo mẹ đi chùa, đã có lúc bắt chước nhắm mắt mỉm cười như Phật. Anh ta hỏi gì hắn cũng chỉ cười, như cười vào mũi những kẻ chẳng ra gì mà cứ hay dí mõm vào cuộc đời của người khác, anh ta cỡ nào mà soi thủng nổi tâm hồn của một con người kỳ dị như hắn.

Hắn được cho uống thuốc, uống nhiều, ngủ nhiều, thức dậy thì cuộc đời vẫn vậy, không thay đổi, không đẹp hơn hay xấu đi. Bỗng dưng hắn thấy mình phải viết, cần phải trang trải những suy tư về cuộc đời lên giấy. Hắn thấy không có thứ bút mực nào đủ sức chuyên chở những điều hắn cảm nhận được bằng cái bình mực đầy ắp trong tâm hồn hắn, đơn giản nhất là cứ chấm ngón tay vào ngực, nơi có trái tim, nơi bình mực có sẵn trong người rồi viết lên khoảng không những gì hắn muốn viết. Thứ giấy của trời sao đẹp thế, trong suốt vô ngần, có khi bàng bạc một màu xanh, có khi ửng hồng như má môi người thiếu nữ, lại nõn nà như tơ, không phải bật đèn khi trời tối, không gửi gấm, đăng tải đó đây để mọi người bình phẩm lôi thôi.

Hắn thích viết vào những buổi sáng khi mặt trời vừa lên, chiếu ánh sáng vào cõi đời tối tăm chật chội này, đời lại thêm một ngày đáng ghét. Có thể là buổi chiều khi hoàng hôn xuống, lũ chim chóc đã gọi nhau về tổ, hắn ngồi đấy ngắm nghía ông đi qua bà đi lại, nghe cây cỏ rì rào, than thở. Trong hắn như dục dã hắn phải viết, cứ thế chấm ngón tay vào ngực, viết nhoay nhoáy vào khoảng không , đó là lúc hắn đang viết truyện đấy.

Truyện của hắn nhiều lắm, không ai đọc được nên không ai biết hắn viết gì, chứ hắn thì nhớ từng tác phẩm. Khi viết xong, hắn viết một chữ HẾT thật to, rồi mỉm cười nhẹ nhõm. Có lúc hắn cười hoài với một câu chuyện dí dỏm, có lúc cũng xúc động ứa nước mắt với những tác phẩm buồn. Hắn đã viết xong câu chuyện của một cặp vợ chồng già, sống hẩm hiu với nhau trong khu chung cư, con cháu họ thành đạt cả nhưng không ai chịu sống chung với cha mẹ. Có lẽ tại các cụ khó tính. Có lẽ tại xứ này người ta quan niệm hai chữ Tự Do cao cả hơn đạo lý con người, cho nên mặc nhiên xem đấy là điều phải chấp nhận, không có nghĩa là bất hiếu theo quan niệm Á Đông, không có gì đi ngược với nền văn minh của khoa học và kỹ thuật hiện đại.

Hai cụ già dạo còn khỏe mạnh, cụ bà ngồi xe lăn vì chứng đau đầu gối, cụ ông cũng ngót nghét tám mươi, nhẫn nại ì ạch đẩy chiếc xe lăn cho cụ bà đi chợ, đổ rác. . . Hai cái mồm móm mém, bốn con mắt nhăn nheo, hấp háy cùng cười với hắn mỗi lần gặp, chào hắn tử tế dù biết hắn được gọi là người khùng của khu chung cư. Hắn tưởng tượng năm, sáu mươi năm trước, khi cụ bà là một cô gái xuân mặn mà, cụ ông là một thanh niên hùng dũng, trẻ trung, họ có thể là một cặp uyên ương lý tưởng mà bao người phải thèm thuồng, mơ ước. Mấy mươi năm trôi qua để đâu biết rằng đời có lúc lại hẩm hiu đến thế. Hắn đặt tên cho tác phẩm là “Hai chiếc bóng” trên một nền trời mênh mông màu tím ngắt, như một bức phông đẹp và buồn cho ăn nhịp với cái buồn bã của cuộc đời, sau chữ THE END to tướng, là hình ảnh hai cụ già lủi thủi đẩy xe đi loanh quanh trên con đường đầy lá vàng khô, mỗi lúc lôi ra đọc bằng sự hồi tưởng hắn lại ngậm ngùi ứa ra mấy giọt lệ.

Đấy là một tác phẩm buồn, còn có lúc hắn cũng viết được những truyện vui, trào lộng, qua hình ảnh ông hàng xóm to béo hay chọc ghẹo, trò chuyện với hắn những chuyện chẳng ra đâu vào đâu. Ông ta đã được hắn cho vào tác phẩm “Người hàng xóm” với lối viết trào lộng, chỉ có hắn với trời mới biết được. Ông ta hay hỏi hắn với lối xách mé của một bậc đàn anh hay bỡn cợt, tưởng như hắn là con chó, con mèo đùa chơi cho đỡ buồn:

“ Sao chú mày? Cơm nước gì chưa?”

Ông cười hề hề, vô duyên không ngửi được. Hắn cũng yên lặng cười, mắt nhìn trời, không nói năng. Ông ta tiếp:

“ Suốt ngày nhìn trời, ở đấy có gì mà nhìn mãi thế?”

Mặc ông ta nói, hắn chỉ cười. Hắn có cái bình tĩnh, dịu dàng mà những người tỉnh táo hiếm khi có được, cái im lặng như một câu trả lời ông hàng xóm to béo lúc nào cũng bô lô, ba la, vậy mà khi mụ vợ quát lên, ông nem nép như rắn mùng năm. Không biết ông ta làm gì, thỉnh thoảng thấy ông ta diện đẹp, đi với một đám người cũng ồn ào như ông ta, mụ vợ bĩu môi, nhìn theo với một cái nhìn rẻ rúng. Họ cãi nhau hoài, những lúc ấy chỉ nghe tiếng mụ vợ ong óng rủa sả, còn ông ta ngậm câm như hến. Một buổi chiều ăn cơm xong, hắn ra sân nhìn trời, xỉa răng, ông to béo chỉ trần xì cái quần cụt, áo thung ra sân tưới cây, hôm ấy hắn mới nghe ông ấy nói một câu chí lý:

“ Lắm lúc tao cũng muốn điên như chú mày mà không điên được. Đời chán bỏ mẹ”..

À, có thế chứ! Hôm đó hắn mới biết ông hàng xóm đã nói một câu chân thật nhất, chí lý nhất, câu nói phát xuất tự đáy lòng của một con tim chân chính, hóa ra có lúc con người đã cả đời phải dấu diếm nỗi đau khổ. Thì ra có người cũng ao ước cái điên của một thằng điên. Hê, hê! Có bị đời cột chặt vào những gông xiềng của trăm thứ bổn phận, mới thấy cái Tự do khi rũ ra được những thứ của nợ đó. Hóa ra ông to béo cũng chán đời, chán cái không khí nặng nề trong gia đình, chán vợ, chán con, cái mà người ta ngó vào lại cho là ông ta đang hạnh phúc.

Hắn lại viết, vẫn lối chấm tay vào ngực viết lên trời, tác phẩm “Ông Hàng Xóm” được tả rất tỉ mỉ từng tiếng tru tréo và nét mặt hậm hực của người vợ mỗi khi cãi nhau, bước chân nặng nề của người chồng, cánh cửa xập thật mạnh làm rung rinh nhà hàng xóm. Khi viết xong, chữ HẾT lại được viết nắn nót trên một nền trời xám xịt, đang ngả sang màu đen, với những tia chớp ngoằn nghoèo báo hiệu một cơn giông tố.

* * *

Những ngày không có gì để viết hắn lang thang ra bờ biển, cách khu chung cư mấy con đường đi tìm ý. Bên kia là biển xanh, bên này trên triền đồi thoai thoải là một khu nghĩa trang, những ngôi mộ sơn trắng toát bằng nhau nằm im lặng trong một thế giới không còn màng đến nhà cao cửa rộng, không còn tranh đua cao thấp như xã hội loài người. Ở phía ngoài là một cái nhà quàn bằng đá xám, cũng im lặng nốt. Hôm nào có người mới hắn thấy xe đậu đầy ngoài sân, ánh đèn hắt lên từ cánh cửa đóng im ỉm, u ám như một ngôi mộ lớn. Đi ra đi vào là những khuôn mặt ảm đạm của người sống, quần áo kịt một màu đen, những lúc ấy dường như con người mới thấm thía tận cùng nghĩa “vô thường” của cõi nhân gian.

Chỉ hôm nào đến khu nghĩa trang, hắn mới có cảm giác đi vào một khu toàn những người lịch sự, thích sự yên tĩnh và biết tôn trọng tư duy của người khác. Bỏ lại sau lưng khu chung cư đủ mọi hạng người, đủ mọi âm thanh, đầy mùi vị, mỗi lần đến đây hắn lại có cảm giác được trở về nhà, một thôn xóm bình thường, nhà ai nấy ở, họ có cái yên tĩnh của những trang giấy trắng đầy chữ, yên lặng mà lại nói biết bao nhiêu.

Con đường này hắn đi qua mộ của cụ Mary, cứ xem qua cách trình bày trên bia mộ thì cụ Mary người ở vùng Arizona, nơi ấy chỉ có núi đá và sa mạc, đồi trơ trụi, cây thưa thớt, khí hậu nóng và khô. Chắc cụ lấy chồng rồi trôi giạt sang đây, và khi chết gửi nắm xương tàn trong khu nghĩa trang ven eo biển vắng. Hắn về nhà nghiên cứu cuốn địa lý và thổ nhưỡng nước Mỹ, biết ở đấy chỉ có xương rồng và loại cây thấp, lá nhỏ như lá me keo là sống được. Mấy lần hắn đều tạt vào thăm cụ, lại trồng cho cụ một cây xương rồng có hoa vàng hắn xin được của một nhà trong xóm. Hắn biết nếu còn sống, cụ bà Mary chắc hẳn rất hài lòng trước tấm lòng của hắn, khi nhìn thấy cây xương rồng biểu tượng cho vùng quê hương cằn cỗi, nóng khô người nơi cụ chào đời đã mọc lên ở đây. Ấy là tự hắn “suy bụng ta ra bụng người”, khi đi đâu, bất ngờ nhìn thấy một khóm chuối, một bụi trúc hắn lại thấy lòng dấy lên nỗi nhớ quê kỳ dị. Ngõ vào nhà hắn năm xưa có một bụi trúc mát rượi, có mái nhà tranh, có bà mẹ già, có bụi chuối xiêm bên hè, khoảng sân đất nóng ran bàn chân mỗi trưa hè, vậy mà sao vẫn nhớ, vẫn thương đến thế.

Cạnh nhà cụ Mary là nhà anh David, hắn cứ gọi là nhà cho tiện, vì người sống có nhà, người chết có mồ mà lại. Anh ta là một chiến sĩ Không Quân, chết trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. David chết trẻ lắm, mới hai mươi bốn tuổi, sao anh ta lại lạc lõng ở nơi này trong khi hàng ngàn, hàng ngàn bạn bè anh chen vai thích cánh trong những nghĩa trang Quân Đội rộng lớn. Chắc nơi đây là chốn quê nhà, chim có tổ, người có tông, cha mẹ anh đã mang con về đây cho gần gũi, hai cái thân già một năm đôi ba lần ghé vào để chua sót, ngậm ngùi, thương tiếc đứa con bạc phước.

Cái cảnh này không lạ gì đối với hắn. Ngày xưa, thuở hắn còn trẻ, thời chiến tranh Nam Bắc đang hồi khốc liệt, bạn bè hắn khối người đã ra đi như thế, mới buổi sáng còn giơ tay chào nhau, buổi chiều đã ra người thiên cổ. Hắn sợ nhất phải nghe tiếng khóc nức nở của người còn ở lại, sợ những đôi mắt ngây dại nhìn đăm đắm vào khoảng không để tìm lại những ảnh hình của người thân đã mất. . .

Đã nhiều lần hắn ngồi bệt xuống ngôi mộ của David để trò chuyện với anh ta như một người bạn, vì dù sao anh ta đã từng đổ những giọt máu cuối cùng trên quê hương hắn. Dưới bóng cây phong, hắn nhìn ra mé biển phía bên kia, ở đấy suốt ngày sóng vỗ vào ghềnh đá, ì oạp, xói mòn vào bờ tạo nên những hõm tối âm u. Ngoài xa là biển xanh vẫn rì rào sóng vỗ, một đôi chim hải âu chao lượn trên sóng nước, như hình ảnh hai chiếc phi cơ đang bay theo đội hình, bất chợt chúi xuống mặt đất để thả bom vào mục tiêu của chiến trận. Không hiểu David có bao giờ nhìn ra hình ảnh ấy, như hắn đã nhìn thấy những trận đánh kinh hồn nơi quê hương của mình. Ngày sinh và tháng sinh của David đã gợi cho hắn nhớ về dĩ vãng, cũng hắn những ngày tháng đó, cũng những lần vào sinh ra tử để rồi có một ngày bật khóc khi không biết mình là ai. Cuộc chiến ấy đã nuốt chửng đi hàng triệu sinh linh, hầu hết là những người vô tội, cuối cùng thì hắn tơi tả như chiếc mền rách, còn David lại về nằm ở nơi đây, khi linh hồn đã bay về nẻo hư không.

Hắn cứ tò mò muốn biết anh ta đã nghĩ gì về Việt Nam, đã bỏ gì ở Việt Nam, chắc chắn là có, những giọt máu của anh ta đã đổ xuống trên một chỗ nào nơi vùng đất xa xăm bên kia bờ đại dương, vì lý tưởng cho hai chữ Tự do mà anh ta nghĩ là ai cũng phải hưởng đồng đều như nhau. (…)

Hắn thì thầm nói chuyện với người lính Mỹ chết trận năm xưa, rồi múa may viết lên trời câu chuyện “Người lính Mỹ chết ở Việt Nam”. Công nhận David đẹp trai, nét mặt hiền, dưới chiếc calô đội lệch, anh ta lúc nào cũng cười, đôi mắt anh mơ mộng như khói sóng, lúc nào cũng như muốn bảo hắn rằng:

“Thôi đi anh bạn tội nghiệp, đời như một chỗ tạm, ghé qua rồi lại về, hơi sức đâu mà ngậm ngùi, tiếc nuối.”

Cũng phải thôi, một ngày nào đó hắn cũng sẽ trở về với đất như David, hắn ao ước cái thân xác này được thiêu ra thành tro bụi, được hòa tan theo sóng biển, để linh hồn hắn được lặn ngụp trong cái mát mẻ của đại dương. Về đâu bây giờ? Chỗ nào cũng có loài người hiện diện, một sinh vật siêu đẳng chuyên môn tìm cách làm khổ lẫn nhau, nhân danh đủ thứ chuyện để bắt con người vào cái vòng “kim cô” oan nghiệt không lối thoát. Có lẽ phải hỏi David chuyện này, vì chỉ có anh ta mới có câu trả lời trung thực nhất, như người hàng xóm to béo đã có lúc buột mồm ao ước điên khùng để được yên thân. Nhưng David cũng chỉ im lặng, nhìn hắn cười như hắn cũng chỉ im lặng nhìn trời cười một mình.

Câu chuyện của David hắn đã viết xong, hai chữ THE END trên nền trời nửa sáng nửa tối, giữa cõi bên này và cõi bên kia chỉ đi bằng một bước chân. Hắn vẽ thêm hình ảnh một chiếc trực thăng đang là là đáp xuống một bãi cỏ trống nửa vàng, nửa xanh, lố nhố những chiếc nón sắt, lòa nhòa hình ảnh vài thân cây cháy đen vì bom đạn.

* * *

Nhiều tác phẩm của hắn đã được viết bằng mực của hắn và giấy của trời, mỗi bố cục của truyện có lồng vào một bối cảnh thật của cuộc đời muôn mặt. Hắn đã lặng đi, miên man với tác phẩm của mình, trong những buổi chiều ngồi trước sân nhà sau bữa cơm, hay những lúc lang thang trong khu nghĩa trang bên eo biển vắng. Hắn là một người điên hiền lành, một chứng nhân của cuộc đời ít là ở một khoảnh khắc nào đó, là một nhà văn không tên tuổi nhưng lại viết rất nhiều những gì hắn cảm nhận được.

Ngày đến rồi ngày đi, sáng cũng như chiều, hắn lặng lẽ sống, lặng lẽ đi, lặng lẽ về, hắn nhìn đời dửng dưng và đi tìm hoài cái mênh mông trong vô tận. Thỉnh thoảng hắn lại viết, chấm ngón tay vào ngực, rồi nhoay nhoáy viết lên trời, dường như chỉ có trời mới đủ rộng để chất chứa tất cả những suy nghĩ buồn vui, hóm hỉnh của hắn, cho những tác phẩm viết lên khoảng không gian mênh mông vô tận ấy.

Nguyên Nhung
.
Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Sun Sep 13, 2015 6:32 pm


 ‎ ‎

Từng giọt hư không

Nguyên Nhung


Tiếng chuông chiều chầm chậm thả từng giọt buồn vào không gian im vắng nơi cảnh chùa tịch mịch. Ðó là một buổi chiều cuối thu, trời chưa tắt nắng, những vệt nắng còn kéo dài trên rặng liễu úa vàng, rủ xuống thảm cỏ ẻo lả như một cái bóng thướt tha. Hàng cọ vẫn lao xao trong gió chiều rì rào xen lẫn với hồi chuông thầm thĩ buông, hai con chim đậu trên cây thông chừng sắp về tổ, cũng lặng mình nghe tiếng chuông ngân nga gọi chiều buồn ngơ ngẩn...

Sao cảnh bỗng dưng buồn mà lòng người chừng như tịnh lại. Nơi bậc tam cấp của tháp chuông, một người con gái mặc áo đen, tóc xõa xuống đôi bờ vai, mắt u uẩn nhìn ánh nắng cuối ngày thoi thóp trên bụi trúc đã đổi màu vàng ẩm. Âm vang của hồi chuông thong thả, không rộn rã như tiếng chuông nhà thờ, y hệt từng bước chân đi ngược vào lòng người để tìm ra những ngóc ngách sâu kín của tâm hồn.

Ngọc đã định ra về khi thấy bóng chiều ngả xuống trước sân  chùa, gió chiều càng lúc càng lạnh, tiếng gió rền rĩ  cuộn trôi những dải mây tím, bay về một hướng trời xa. Ðúng lúc ấy hồi chuông công phu chiều vang ngân nga, khiến nàng đảo mắt nhìn về phía gác chuông. Một cụ già khoảng ngoài bảy mươi, đầu đội chiếc mũ len màu nâu, bộ quần áo màu lam nhạt may lối nhà chùa, một tay cầm chuỗi Bồ Ðề đang thì thầm nguyện kinh. Ðứng cách đó khoảng mười mét, Ngọc không nghe rõ được tiếng tụng kinh của cụ, nhưng đôi môi ấy mấp máy liên tục, rồi cứ một khoảng ngắn của thời gian, cụ lại dùng cả hai tay đẩy chiếc chày gỗ mun vào quả chuông đồng vàng xẫm, tiếng chuông lại ngân lên gieo vào không gian im vắng một tiếng thở dài.
                            
Tiếng chuông buổi hoàng hôn như có một hấp lực thiêng liêng khiến Ngọc bước lần trên thảm cỏ, gần hơn với cái tháp chuông để quan sát ông cụ đang thỉnh từng hồi chuông một. Khuôn mặt ấy toát lên vẻ thành khẩn, như đang dồn hết tâm tư vào lời cầu nguyện, và mỗi một động tác nhịp nhàng của ông có vẻ như đã chìm vào một thế giới khác. Nàng đứng lặng trên bãi cỏ úa, im lặng nghe từng tiếng chuông ngân, không để ý đến một người đàn ông lưng hơi gù, râu tóc bạc trắng cũng đã bước tới đứng im lặng lắng nghe. Lúc nãy Ngọc nhìn thấy ông ta khập khiễng đi đi, lại lại trên sân chùa, nàng tưởng là một người già tàn tật. Khi nàng giựt mình quay lại nhìn, ông ta mỉm cười chào, mới biết đó là người đàn ông chưa già lắm, chỉ trạc độ ngoài năm mươi tuổi, da mặt phẳng phiu tương phản lại với râu tóc bạc trắng của ông ta:
" Chào chị!"

Ông ta mỉm cười, nụ cười hiền khiến Ngọc có cảm tình ngay với người đối diện:
" Chào ông. Tiếng chuông nghe buồn quá phải không ạ?"

Ông ta gật gù, như xác nhận tại sao ông lại lò mò đến đây đứng cạnh nàng trong lúc này:
" Vâng, đúng vậy. Tôi biết có đến 108 tiếng chuông mỗi buổi công  phu chiều, vì đã nhiều lần đến đây, đã đếm và đã nghe nhưng thật sự chưa hiểu hết được ý nghĩa của từng hồi chuông. Nghe  hoài thì cứ tưởng nó vang đi xa, mà sao lại có vẻ đi vào lòng mình, khắc khoải làm sao đó phải không chị?

Ngọc gật đầu đồng ý với người đàn ông:
" Tôi cũng có cảm tưởng như thế, dù đây  là lần đầu tiên tôi nghe được tiếng chuông công phu  vào buổi hoàng hôn. Tôi cũng có cảm giác như những bước chân đi vào từng ngõ ngách của lòng người, bao nhiêu sân si của đời dường như lắng lại. Ông nhìn cô con gái ngồi ở dưới bậc cấp của tháp chuông sẽ thấy, cô ta còn trẻ lắm nhưng tiếng chuông hình như cũng dội vào lòng cô nỗi u uẩn nào đó, khiến khuôn mặt ấy tự nhiên trông dịu dàng, dễ thương chi lạ."

Người đàn ông đưa mắt nhìn cô gái đang dõi mắt nhìn hai con chim sẻ đậu trên cây thông già, chắc hẳn cô đang hình dung đến tình yêu, và cái bóng lẻ loi của cô gần như  toát ra một nỗi buồn đơn lẻ. Im lặng một lát, hình như không thể nào giữ được những khắc khoải trong tâm hồn, người đàn ông tự nhiên thổ lộ:

" Hình như mỗi hồi chuông lại gieo vào lòng người một cảm nhận khác nhau, chị có nghĩ vậy không. Tôi lại đang hồi tưởng đến cha mẹ mình, mẹ tôi đạo Thiên Chúa, còn cha tôi lại đạo Phật. Hồi trẻ người ta cứ tưởng khi người ta yêu, tình yêu sẽ xóa bỏ những lằn ranh của niềm tin vẫn nằm sâu trong tâm tưởng của mỗi con người, nên cố tin rằng chẳng có gì có thể lớn hơn hai chữ tình yêu. Ðến chừng sống chung với nhau một thời gian dài, khi tình yêu lắng xuống, lúc đó người ta mới thấy được sự nghiệt ngã của những niềm tin. Tôi là sản phẩm kết hợp của hai niềm tin ấy, và cũng bất hạnh thay khi thấy cha mẹ tôi không tìm được hạnh phúc, vì họ không nhìn về một hướng như nhau. Càng về già, mỗi người lại càng đi ngược với nhau để đi tìm gốc rễ của mình, và họ cứ bị dằn vặt mãi không thôi. Tôi... "

Ngọc ngắt lời người đàn ông:
" Ông cho rằng tôn giáo đã làm khổ con người?"

Ông ta gật gù cái đầu bạc phơ:
" Gần như là như vậy, vì chính tôi khi lớn lên, đã từng bị lôi kéo giữa sự giằng co của cha mẹ, của ông bà cô chú hai bên, đến nỗi có lúc tôi đã muốn bỏ nhà ra đi. Và tôi đi thật, tôi bỏ học đi lính để đừng nghe, đừng nhìn thấy những giọt nước mắt của mẹ tôi, để không nghe những câu nói làm tổn thương Phật, Chúa của cả hai bên nội ngoại. Người ta tranh chấp nhau, dành giựt những đứa trẻ từ khi chào đời, bắt đi theo những gì có sẵn mà không cho quyền chọn lựa, hóa ra con người làm khổ con người, chứ tôi có thấy Phật, Chúa nào hiện lên để phân rẽ con người đâu."

À thì ra, tiếng chuông chùa buổi chiều nay cũng là dịp để cho người đàn ông xa lạ nói ra được những u uẩn trong lòng ông, lại cũng là dịp may để Ngọc có thể chia xẻ với ông ta những khắc khoải của một  người đồng cảnh. Nhưng Ngọc chưa vội nói ra những điều đó, cứ để cho ông ta nói hết cho nhẹ lòng:
" Chị có nhìn thấy cái chân bị thương tật của tôi rồi chứ gì? Ðấy, cũng từ nỗi khổ của chiến tranh mà ra, tôi cũng đâu có quyền chọn lựa, cũng phải đi theo những tranh chấp chính trị cũng do con người đẻ ra nó, nếu con người biết thương nhau, hiểu nhau thì làm gì nên nỗi. Tôi đi lính rồi bị đẩy ra đơn vị tác chiến, được hai năm thì bị thương, may là không phải chống nạng.Tôi đã nhìn ra nỗi khổ của nhân loại đều do con người tạo nên, mình chỉ là nạn nhân..."

Ông ta lại cúi xuống xoa tay vào hai đầu gối, rồi mỉm cười buồn bã:
" Xin lỗi chị, mấy chục năm rồi mà mỗi khi trở trời tôi lại khốn khổ với vết thương, nó nhức nhối đến không chịu được. Ðó là nỗi đau của thể xác mà hậu quả của chiến tranh còn để lại, khiến một người lính như tôi dễ gì quên được cái thời chiến tranh mà mình có dự phần trong đó. Nỗi nhức nhối của tinh thần còn ghê gớm hơn, bàng bạc đâu đó mỗi lần gặp, cứ nghe tiếng chuông nhà thờ hay chuông chùa, là tôi lại nhớ đến cha mẹ tôi. Giờ này đã chết cả rồi, không biết họ có gặp nhau ở một khoảng trời nào đó, thiên đàng hay niết bàn, địa ngục hay hỏa ngục? Thật buồn khi còn sống họ đã làm khổ nhau, ảnh hưởng lây đến con cái, tất cả những gì ta có trên cuộc đời đều đã ra đi, lắm khi tôi hay nhìn lên trời mà tìm kiếm, nhưng có phải:
" Ngước hỏi cao xanh, ta thấy được gì
Cũng chỉ vẫn  một "ngàn trùng vĩnh cửu"

Nghe ông ta đọc hai câu thơ, Ngọc buột miệng khen:
" Hai câu thơ của ông thật hay, như vậy có phải ông đã nhìn ra cái hữu hạn của vật chất, và cái vô hạn của tinh thần, những điều mình không nắm được bao giờ. Tôn giáo chắc cũng vậy, hay niềm tin của mỗi con người thì cũng bởi ở mỗi con người mà thôi, đau khổ làm gì cho bận tâm."

Người đàn ông yên lặng nghe tiếng chuông rơi từng giọt trên mái chùa cong, la đà trên những thân cọ vẫn lào xào trong gió. Bỗng nhiên tiếng chuông chiều đã cho Ngọc cảm tưởng thật gần gũi với người đàn ông này, rồi tự hỏi sao không kể cho ông nghe câu chuyện của mình, cũng khắc khoải nhiều năm tháng, cho đến khi hiểu ra được chân lý của niềm tin, tự giải thoát cho mình những niềm đau của tinh thần. Ngọc lên tiếng:
"Bây giờ tôi kể cho ông nghe chuyện của tôi, để xem chúng ta có một cái nhìn giống nhau về niềm tin Tôn giáo của mình không? Nếu ông bảo rằng ông là nạn nhân sự tranh chấp giữa hai niềm tin khác nhau, nhưng theo như ông kể, sự đau khổ của ông đã tự chấm dứt khi ông nhìn ra vấn đề. Chỉ có cha mẹ ông mới là hai kẻ đau khổ vì họ không tìm ra lối thoát cho nhau. Riêng tôi, cái đau khổ dữ dội hơn, chắc cũng giống nỗi  đau khổ của mẹ ông ngày xưa, tôi đã phải chống chỏi một lúc nhiều phía khác nhau, cả gia đình chồng tôi cũng như gia đình tôi, cuối cùng nơi nào tôi cũng chỉ nhìn thấy hỏa ngục."

Người đàn ông há hốc mồm nhìn người thiếu phụ xinh xắn đứng trước mặt mình, bỗng nhiên mà gặp gỡ tâm sự như một đôi bạn tri âm, tri kỷ.

"Tình cảnh của tôi còn tồi tệ hơn ông nhiều, vì dù khác biệt niềm tin để gia đình không hạnh phúc, nhưng ông vẫn là đứa con luôn luôn nhận được sự thương yêu của người sinh ra mình. Tôi là một tín đồ công giáo, khi sinh ra cha mẹ tôi đã mang tôi đến nhà thờ để làm phép Rửa Tội. Tôi lớn lên bằng sự giáo huấn màu sắc tôn giáo của gia đình, nhưng đến khi trưởng thành thì thú thật với ông, tôi chịu thua tiếng nói của tình yêu. Tuy phải chấp nhận giải pháp đạo ai nấy giữ, nhưng thật ra tự trong tim tôi, tôi vẫn nghĩ mình bị tước đoạt niềm tin một cách quá đáng. Muốn vừa lòng gia đình chồng, tôi lại gặp sự chống đối của gia đình mình, tồi tệ hơn là vì lý do đó, tôi còn hứng chịu nhiều cay đắng hơn mình tưởng. Ðó là một trong những nguyên nhân họ không thương yêu tôi, tìm đủ cách để làm khổ tôi, đến nỗi những khi tuyệt vọng vì đau khổ, thay vì tôi phải thương yêu họ như lời Chúa dạy, tôi chỉ thêm oán hận, rồi vì cái yếu đuối của con người, lắm lúc tôi chỉ cầu sao cho họ gặp điều không may xứng đáng với nỗi khổ mà người ta trút lên đầu tôi..."

Ngọc nở một nụ cười buồn bã, trong khi người đàn ông có vẻ ngỡ ngàng lắm trước nỗi đau khổ của thiếu phụ, ông ta lúng túng chưa tìm được lời ủi an cho người bạn mới:
"Thật đáng tiếc, hóa ra tôi đã vô tình khơi dậy nỗi đau của chị..."

Ngọc xua tay, nàng tiếp tục câu chuyện:
" Không có gì ghê gớm đâu, vì tôi chưa nói hết câu chuyện nên ông chưa biết tại sao đến một lúc tôi không còn cảm thấy đau khổ nữa. Quay ra quay vào, chỗ nào tôi cũng không tìm ra lối thoát, điều ấy lại còn ảnh hưởng đến hạnh phúc trong gia đình, có lúc tôi cảm thấy tình yêu vợ chồng bị rạn nứt. Với những trở lực trong đời sống thường ngày, sự giáo dục con cái cũng là một vấn đề khi người lớn lý luận niềm tin ngược chiều nhau, gia đình bỗng rời rạc và đến lúc chẳng biết mình là ai, như thế nào nữa. Tôi đã sống trong cảnh đời u buồn đó nhiều năm dài mà không thoát ra được, tôi đã phí hết một đời thanh xuân của mình chỉ vì những ray rứt mơ hồ đó.

Ngọc thở dài, những cành lá cọ vẫn xào xạc theo tiếng chuông rền rĩ:
" Nhưng thưa ông, tôi đã lục lọi trong lòng mình những lý do để hiểu tại sao người ta không thương yêu nhau, đặt niềm tin nơi nhau hay cùng nhau nhìn về một hướng, thì quả thật đơn giản là chính con người làm khổ nhau, chứ không có Phật, có Chúa nào nhúng tay vào để phân rẽ. Chưa ai nhìn thấy Chúa, chưa ai nhìn thấy Phật, chẳng qua sự tin tưởng dẫn đưa con người đi vào ảo giác của niềm tin, và vì thế khiến họ nhìn thấy tất cả, niềm tin càng mãnh liệt hơn. Rồi từ đó cho rằng chỉ có mình đúng, mình thật, còn ai khác họ là sai, đến nỗi Phật Chúa là những vị vô can trong cách suy nghĩ, dàn dựng của con người, cũng bị họ chê bai, khích bác."

Nét mặt Ngọc lúc ấy hẳn cương quyết lắm đến độ người đàn ông dường như cũng nín thở để lắng nghe. Vẫn chỉ mình Ngọc tiếp tục câu chuyện của mình:
" Thưa ông, khi khoa học đã tiến bộ, người ta tìm được nguyên nhân của nhiều vấn đề, nâng cao dân trí cho con người thì chuyện tôi tự giải quyết cái đau khổ của mình cũng không có gì lạ lắm đâu. Nhiều đêm không ngủ được, có khi khóc thầm một mình, tôi đã có lúc tự hỏi không biết Thượng Ðế sinh ra con người hay con người tạo nên Thượng Ðế. Người Mỹ họ bảo có bao nhiêu "Gods" trong cuộc sống, cái chính là mình đi tìm được ông "God" của mình mà thôi. Sau nhiều lần oán trách Trời rồi oán trách người, càng suy nghĩ tôi mới thấy dần dần lòi ra cái ích kỷ của chính mình và cả của người khác nữa, đến nỗi tôi lại bật cười một mình khi nhìn ra sự mâu thuẫn đó. Người ta có khuynh hướng chống những gì đi ngược với mình, và chẳng qua cái khổ của tất cả mọi thứ trên cuộc đời này chỉ có vậy."

Tiếng chuông vẫn rền rĩ tan vào hư không, có lúc như bay tuốt lên trời xanh để nhập vào thế giới của Tiên Phật, có lúc như chìm xuống đáy vực đến với những linh hồn tự cõi u minh. Chuông vẫn là chuông nhưng cảm xúc của lòng người thì vô hạn, bởi vậy tùy theo tâm mà nghe được hồi chuông để tỉnh thức. Người đàn ông ngước mắt nhìn theo dải nắng chiều se sắt, kéo trên rặng liễu rớt xuống tới mặt cỏ, đọng lại đó một chút buồn mênh mang. Ông ta cắt nghĩa thêm về những tiếng chuông:
" Có tới 108 tiếng chuông cho buổi công phu chiều, nhưng thực ra nó chỉ  gom lại có hai điều, đó là sự bình an và giải thoát. Nó không thuộc về thế giới của thần linh, mà vẫn là sự vỗ về những hương linh đau khổ. Nó chẳng là của người sống mà còn là của người chết nữa. Nếu mình nghĩ xa hơn thì tiếng chuông chiều như một làn khói tỏa, một bếp lửa hồng, xoa dịu được sự cô quạnh cho tâm hồn đỡ đơn độc.  Có lẽ cũng trùng hợp với câu chuyện của chị, khi người ta cảm thấy bình an thì tức khắc sẽ có được sự giải thoát, chị có nghĩ vậy không?"

Ngọc gật đầu :
"À thì ra nó cũng có điểm trùng hợp với câu "Love God and love others",  nhưng ít ra tôi cũng phải kể hết cho ông nghe để mình có thể kết luận rằng hạnh phúc hay đau khổ là do con người tạo nên. Nhiều năm dài trôi qua, khi hiểu ra điều đó là tôi biết tự tôi đã làm khổ tôi, và vì một lẽ nào đó khi tôi ước ao sự đau khổ đến cho người khác, tôi đã tự tạo cho mình hỏa ngục mà không hay. Mãi đến khi nghe được câu "Thiên Ðàng tại tâm, Hỏa ngục cũng tại Tâm" của một vị lãnh đạo tinh thần, tôi đã hiểu cuối cùng thì những dòng sông đều chảy ra biển. Tại sao loài người lại phải dằn vặt nhau về vấn đề tôn giáo, trong khi đã từng được học hỏi về đủ thứ tốt đẹp của nó. Ðôi khi ngồi ngắm nhìn chân dung Chúa, tôi tưởng đôi mắt nhân từ kia cũng chỉ nhìn tôi bằng sự hiền từ nhân ái, làm sao có thể nhận lời tôi để giáng tai họa xuống cho người khác. Tôi nhìn lên tượng Phật, Ngài cũng mỉm cười suốt ngày và suốt đêm, khuôn mặt "an nhiên tự tại" ấy đâu phải được sinh ra để đem đau khổ cho nhân loại. Chỉ con người, với cái tâm ích kỷ, lòng đố kỵ và tham vọng thích thống trị người khác mà gây nên tội ác. Ðó chỉ là phạm vi nhỏ hẹp của gia đình, lớn rộng hơn như tầm cỡ quốc gia thì tai họa ấy vô cùng khủng khiếp, bằng chứng những cuộc chiến tranh vì tôn giáo vẫn còn hằn vết trong lịch sử nhân loại, vẫn còn tiếp diễn và tiếp diễn..."

Khi cả hai cùng nói ra được những khắc khoải đó, dường như họ đều cảm thấy tâm hồn thật nhẹ nhõm, như vừa cởi được chiếc áo chật hẹp mà tâm hồn họ đã phải mặc từ hồi còn rất trẻ. Những tiếng  chuông ngân cuối cùng như rời rạc hơn, nhẹ hơn, bay xa hơn, vút lên cao rồi rơi xuống lòng người để rồi tan loãng vào với hư không. Ngọc mỉm cười như nói với chính mình:
"Cuối cùng, điều lớn nhất là mình làm sao sống ngay thẳng với lương tâm mình, cái Ðạo Tâm hình như vượt lên trên tất cả."

Nghĩ ngợi mãi nên cả hai đều không biết là hồi chuông chiều đã tắt lịm tự bao giờ. Người đàn ông lại cúi xuống xoa hai đầu gối, vết đau cũ vẫn còn đó, không cho ông ta đứng lâu hơn. Chẳng còn gì để nói nữa, ông ta chào Ngọc rồi khập khiễng bước đi. Những bước chân xiêu vẹo đẩy cái lưng oằn xuống với tuổi đời chồng chất, như một cái bóng thấp thoáng sau những lùm cây thấp.
                                                                                                                                 
NGUYÊN NHUNG


Về Đầu Trang Go down
Ng. Nhung
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Thu Nov 12, 2015 4:15 pm



VẪN LÀ NỖI NHỚ KHÔN NGUÔI

Nguyên Nhung

Mùa tựu trường bắt đầu vào cuối tháng Tám, thời tiết như dịu đi chút nóng của mùa hè, buổi sáng đã có chút gió heo may thổi về trên rặng cây xồi cổ thụ quanh khu công viên. Trên các nẻo đường vào buổi sáng, đã xuất hiện những chiếc xe school-bus màu vàng đưa đón các em học sinh.

Năm nay, lớp học tôi phụ trách có vài em học sinh người Á châu, có lẽ chúng nó ở trong những chung cư phía bên kia đường đối diện với ngôi trường Tiểu Học. Thỉnh thoảng lái xe ngang đấy, tôi lại bắt gặp những khuôn mặt lạ lẫm, ngộ nghĩnh của mấy người Á Ðông, vài phụ nữ lớn tuổi vẫn còn mặc y phục của xứ họ, trên đầu đội thêm chiếc nón lá.

Ðó là hai đứa bé trai và đứa bé gái, chúng như đôi nét chấm phá đậm nét trong lớp học giữa các học sinh bản xứ, với mái tóc đen mượt và đôi mắt cũng màu đen long lanh, hơi dài ra như một chiếc lá, nhìn chúng rất ngộ nghĩnh và dễ thương. Vì khác biệt ngôn ngữ nên chúng có vẻ e dè, tôi thấy cô bé gái vẫn đứng khoanh tay nhìn tôi bằng đôi mắt ướt, có lẽ bé vừa khóc xong vì lần đầu tiên phải xa mẹ đến trường, xung quanh toàn là trẻ con tóc vàng, mắt xanh đang tò mò nhìn chúng.

Tôi đọc hồ sơ của học sinh, mấy đứa nhỏ này người Việt Nam có những cái tên phát âm thật khó, nhưng chính nơi xuất xứ của chúng đã gợi lại trong tôi biết bao kỷ niệm đằm thắm của ngày trẻ tuổi, với mối tình đầu hình như vẫn bàng bạc những hình ảnh đẹp đẽ trong lòng . Davis đã viết cho tôi bao nhiêu lá thư từ miền đất xa xăm đó, ngày chàng ra đi, chúng tôi đã đắm chìm trong những giọt nước mắt chia ly, những nụ hôn cuống quýt tưởng có thể ngộp thở trong phút giây gần gũi của hai kẻ yêu nhau. Vậy mà đã hơn ba mươi năm trôi qua, những giòng chữ của Davis vẫn còn in trong lòng tôi:

"Jane yêu quý của anh,

Lá thư đầu tiên anh viết cho em từ miền đất nhiệt đới, trên bản đồ có lẽ em chỉ nhìn thấy một giải đất dài và hẹp nằm ven bờ Thái Bình Dương. Tuy mới bước vào mùa Xuân, nhưng khí hậu nóng và ẩm làm anh muốn ngộp thở. Lúc nào người anh cũng nhơm nhớp mồ hôi, thời tiết quả rất là khó chịu. Anh nhớ em vô cùng, nhớ em và nhớ cả những mùa xuân của quê nhà, bây giờ chắc cánh đồng cỏ hoa đã rộ lên những bông hoa " blue bonnet" màu xanh thật đẹp, những rừng thông bạt ngàn chắc đã xanh biêng biếc.

Mùa xuân ở bên này khác hẳn mùa xuân ở xứ mình, tuy đường phố nhộn nhịp người qua lại, không vắng vẻ, yên tĩnh như thành phố của chúng mình. Từ Phillipine chuyển tiếp sang Việt Nam, mỗi một đường bay như dài thêm nỗi xa cách giữa anh và em. Anh nhớ em vô cùng, Jane, anh mong đợi thời gian qua nhanh để trở về với em....."

Năm 1968, sau khi tốt nghiệp Trung học, tôi bắt đầu theo học một trường Ðại học lớn ở Houston. Vốn yêu thích trẻ em từ khi còn sinh hoạt trong một tổ chức hướng đạo của nhà thờ, tôi chọn ngành sư phạm. Cha mẹ tôi cũng đồng ý với sự chọn lựa ấy, tôi sống với cha mẹ trong một căn nhà cũ kỹ ở vùng ngoại ô trong một thành phố đất rộng, người thưa có rất nhiều di dân từ Mễ tây Cơ tới.

Davis là bạn trai của tôi từ thuở Trung học, chàng gia nhập Không quân Hoa Kỳ để làm đúng nỗi ước ao được trở thành một phi công. Ðất nước tôi không có chiến tranh, nhưng nhu cầu quân đội và chiến trường lại nằm ở những quốc gia khác. Tôi thật sự lo lắng cho Davis, nhưng người Mỹ vốn vậy, thích là làm, dù yêu tôi Davis vẫn theo đuổi ý muốn được bay bổng trên không trung, dù chàng biết sẽ rất nhiều gian nan.

Hai đứa yêu nhau mải miết, thỉnh thoảng tôi đi quân trường thăm chàng, thỉnh thoảng chàng về thăm tôi. Gia đình hai bên đã tổ chức một lễ đính hôn nho nhỏ, cái nhẫn ấy cho đến bây giờ tôi vẫn còn giữ, như một kỷ vật khó quên trong đời.

Sau khi ra trường, lúc chàng báo tin được phân phối sang chiến trường Việt Nam, tôi đã khóc biết bao nhiêu. Nhìn trên bản đồ, tôi không hình dung nổi giải đất bé nhỏ cong cong hình chữ S, nằm ven bờ đại dương xa xăm đó lại là một vùng đất đầy máu lửa. Ðã nhiều lần tôi tự hỏi, chàng sang đấy làm gì, chiến đấu cho ai, Việt Nam đâu phải quê hương tôi. Mỗi lần nhìn chiếc nhẫn đính hôn trên tay, tôi lại không ngăn được những giọt lệ nhớ nhung. Chiếc nhẫn ấy chưa đủ cột chặt đời chúng tôi bên nhau, cho nên tôi vẫn lủi thủi đếm bước trên hành lang của khu giảng đường rộng thênh thang, từng tiếng giày gõ nhịp trên nền đá hoa khô lạnh, như đếm được cả nỗi cô đơn trong lòng người con gái trẻ.

"Jane yêu quý của anh,

Không biết đây là lá thư thứ mấy anh viết cho em, từ đất nước xa xăm có những người dân dáng người bé nhỏ nhưng nhanh nhẹn, đôi mắt đen như dấu kín những tư tưởng khó hiểu khi họ nhìn anh, nhưng nụ cười của họ lại làm anh yên tâm.

Khí hậu ở đây thật là khác biệt với quê mình. Mưa chỉ bắt đầu vào mùa hè, những cơn mưa tầm tã đổ xuống đột ngột rồi ngưng để cái nóng lại trở về, nhưng đất trời có vẻ như dịu đi. Anh đang ở căn cứ Không quân Biên Hòa, thuộc miền Ðông của thủ đô Sài Gòn, bay khoảng mười lăm phút. Nếu lái xe, anh có thể nhìn thấy nhiều thửa ruộng và vườn cây nằm chen lẫn nhau, vùng này lại có núi, tất cả đều có vẻ bình yên.

Bây giờ thì anh đã quen một phần nào với khí hậu ở đây, quanh năm giống như mùa hè ở Texas, nhưng dễ chịu hơn vì vào buổi tối trời lại trở nên mát mẻ. Anh có theo mấy người bạn ra phố, rất buồn cười khi có những đứa bé chạy theo anh và nói " OK. Salem ", chúng nó là những đứa trẻ của vỉa hè, nhìn chúng đen đủi và gầy guộc, cái miệng toác ra cười mỗi khi bày tỏ sự thân thiện. Tuy nhiên, anh cũng thấy có nhiều trường học, trẻ con mặc đồng phục đến trường, chúng được cha mẹ chở trên những chiếc xe đạp hoặc xe gắn máy. Anh thấy có một cái gì đó khác biệt trong cuộc sống của những đứa trẻ trên đất nước này, có cái gì đó không bình thường giữa những cái bình thường, nhưng với anh đứa bé nào cũng có nét dễ thương. Anh lại nhớ đến em mai này khi thành cô giáo trẻ, với những đứa học trò mũm mĩm, hồng hào trong một trường tiểu học."

Năm nay là mùa hè thứ hai tôi xa Davis, những lá thư vẫn đều đặn gửi về, có nhiều chuyện vui vui nhưng cũng có những chuyện khá buồn, nhất là khi bạn Davis có người vĩnh viễn nằm xuống. Davis vẫn thường an ủi tôi, và cho rằng con người sống hay chết là do sự an bài của Thượng Ðế, tôi cũng cố tin như vậy, và hy vọng chiến tranh ở đất nước xa xôi chóng đến ngày kết thúc.

Davis có gửi cho tôi vài xấp lụa dệt bằng tơ tằm, đó là thứ lụa quý dùng để may áo dài cho những người phụ nữ thanh lịch. Davis kể cho tôi nghe về y phục cổ truyền của những người đàn bà Việt Nam, khiến mỗi khi họ bước đi, hai tà áo như được bọc trong gió, và bay phất phơ như hai cánh bướm. Cầm tấm lụa với đường vân óng ánh, nó mềm mại và mát dịu như tình yêu của chàng đã xoa dịu phần nào nỗi buồn của sự xa cách, mặc dù tôi chưa biết sẽ may kiểu áo nào với xấp lụa mềm mà Davis gửi cho tôi. Không biết tôi có thể chờ chàng bao lâu vì tôi còn trẻ quá, tôi thèm những đêm đắm đuối bên chàng, tôi thèm nụ hôn ngọt ngào và vòng tay của Davis vào những buổi chiều như buổi chiều nay. Ôi những chiều cuối tuần mùa hè cùng chàng tung tăng bên bờ biển Galveston, đùa rỡn với những đợt sóng đẩy vào bờ, nằm phơi nắng trên bãi cát, bây giờ chỉ còn là kỷ niệm. Bạn bè tôi thật hạnh phúc với người tình của chúng nó, còn tôi sẽ đợi chàng đến bao giờ?

Chủ nhật tôi thích đi nhà thờ, sinh hoạt với nhóm Hướng đạo sinh ngoài trời vào những ngày trời đẹp. Tôi muốn gói nỗi nhớ chàng trong những sinh hoạt chung của xã hội, của gia đình, nhưng không đơn giản thế, lúc nào tôi cũng cảm thấy thiếu vắng, lúc nào tôi cũng cảm thấy cô đơn.

Davis gởi cho tôi nhiều tấm hình cảnh Việt Nam, hầu hết là hình ảnh thành phố Sài Gòn đông vui, người qua lại như mắc cửi. Davis nói đó chỉ là mặt nổi của đô thị, còn trong ngõ hẻm hay ở vùng quê thì lại có bao nhiêu cảnh đời khốn khổ. Người ta đổ dồn về thành phố, chen chúc nhau trong những khu lao động, cuộc sống thật là tăm tối. Chiến tranh có mặt ở khắp mọi nơi, sống và chết kề cận bên nhau, hạnh phúc và đau khổ như lẫn lộn đến nỗi người ta không biết thế nào để chọn lựa hoặc lẩn tránh.

Tuy vậy, tôi ao ước được đến đó, được gặp chàng, ôm lấy chàng, đắm đuối trong đôi mắt chàng. Chỉ thế thôi, để biết rằng đời không phải là mộng....

"Jane yêu quý,

Không biết đến bao giờ anh mới được trở về bên em, hơn một năm rồi anh xa gia đình, xa quê hương, xa người bạn tình yêu dấu đầu tiên của đời anh.

Anh đã được thuyên chuyển đến một căn cứ khác thuộc miền Tây miền Nam Việt Nam. Từ trên máy bay, anh nhìn thấy đồng quê Việt Nam đẹp như một bức tranh, với những thửa ruộng nối tiếp nhau và bao nhiêu sông rạch tạo thành một bức tranh màu xanh của hy vọng. Vậy mà ngấm ngầm ở đâu đó vẫn là nỗi chết rình rập, vẫn là phân định không rõ rệt giữa bên này và bên kia.

Thành phố Cần Thơ trù phú, hiền hòa nằm ven bờ Hậu giang của nhánh sông Mêkông. Sông mênh mông là nước, những lượn sóng vỗ vào bờ, những thân dừa soi nghiêng trên mặt sông đục màu phù sa, anh thấy có một loại hoa màu tím lênh đênh trôi theo dòng nước, đẹp một cách kỳ lạ. Mỗi một dòng sông như chuyên chở bao sức sống của những miền đất khác nhau, bởi vậy mà anh vẫn thấy nó khác, nó lạ vì nó buồn quá, mênh mông quá.

Mùa hè nữa lại đến, thời gian qua đi nhanh quá phải không Jane, ráng chờ anh Jane nhé! Anh sẽ thất vọng vô cùng nếu ngày trở về không có em đón anh với những nụ hôn ngọt ngào và những giọt nước mắt mừng vui của ngày đoàn tụ.

Những cơn mưa mùa hè như tưới mát cây cỏ, cái nóng của miền Nam như dịu đi , thành phố ướt át và bóng bẩy sau cơn mưa làm sáng lên màu đỏ rực rỡ của một loại hoa mùa hè, dân địa phương gọi là hoa phượng. Chưa bao giờ anh thấy một loại hoa nào tươi thắm đến thế, bên này phố xá không nhiều cây cối như bên mình, cho nên màu đỏ của hoa như lung linh cả một góc trời, và những cô nữ sinh trong màu áo trắng đồng phục thướt tha, nhặt những chiếc hoa ấy để cài lên những chiếc nón lá dễ thương của họ. Nhìn những tà áo trắng tung bay trên đường phố, anh không biết diễn tả làm sao được vẻ đẹp rất dịu dàng của những cô gái Việt Nam còn đang tuổi học trò. Những cô gái cũng thật lạ, anh không muốn nói đến những người đàn bà son phấn trong những quán rượu của lính Mỹ, nhưng muốn làm quen với một người con gái Việt Nam thật không dễ. Jane đừng ghen với họ nghe, anh không bao giờ quên em đâu, anh chỉ muốn nói đến tâm hồn kỳ lạ của họ. Vài người bạn phi công Việt Nam nói với anh, những người con gái xinh đẹp ấy, nhìn rất dễ thương nhưng thương không dễ là vậy."

Phong trào chống chiến tranh nổi lên khắp nơi, sinh viên bỏ học xuống đường giương cao biểu ngữ "Make love, not War" đằng sau minh tinh màn bạc Jane Fonda ở Hoa Thịnh Ðốn. Chiến tranh phải chấm dứt, trả lại Việt Nam cho Việt Nam, trên màn ảnh truyền hình, mọi người nhìn thấy những chiếc quan tài của lính Mỹ được chở về quê hương trên mỗi chuyến bay, mỗi lần nhìn những hình ảnh đó, tim tôi muốn vỡ ra làm trăm mảnh. Tôi mong Davis trở về, chứ không thì tôi cũng đã mỏi mòn trong chờ đợi. Lũ bạn chế nhạo tôi thuộc loại phụ nữ cổ điển chỉ tôn thờ những mối tình vô vọng. Làm sao tôi có thể giải bày cho họ hiểu, tình yêu của tôi dành cho Davis, chính vì cảm phục lòng can đảm và chấp nhận tất cả khó khăn, nguy hiểm khi trở thành một người lính. . .

"Jane yêu dấu của anh,

Như thư trước anh đã kể em nghe, Việt Nam dần dần đã trở thành một miền đất dễ thương trong tâm hồn anh, dù nó bị tàn phá bởi chiến tranh. Những người bạn phi công Việt Nam đã chiến đấu không mỏi mệt trong mọi điều kiện thiếu thốn, chắc hẳn phải có một lý do sâu xa nào đó, hẳn nhiên để bảo vệ một chính nghĩa. Ðất nước ấy như một bức tranh đẹp đẽ trong lòng dân tộc họ, có ai lại nghĩ đến chuyện gạch những nét ngang dọc lên tác phẩm quê hương, có ai lại muốn dội xuống quê hương mình hằng ngàn tấn bom đạn? Nó là khuôn mặt của mẹ, của cha, là sức sống mọc lên từ cây lúa, từ bờ tre, từng thân dừa để tô điểm vẻ đẹp, sức sống của cả một dân tộc.

Chiến tranh tàn nhẫn quá em ạ. Anh phải làm nhiệm vụ và cả những người phi công Việt Nam cũng làm nhiệm vụ của họ, nhưng mỗi người mang một nỗi niềm đau xót khác nhau. Chỉ vì ý nghĩ "chậm tay thì chết" mà con người phải giết lẫn nhau, kinh khủng quá phải không em? Muốn có thỏa hiệp hòa bình mà phải trả một giá quá đắt cho cả một dân tộc khốn khổ như thế, anh ngậm ngùi lắm.

Chúng ta đã có bốn năm lầm lẫn cho cuộc nội chiến ngu xuẩn trong lịch sử Hoa Kỳ, Việt Nam cũng lại tương tàn trong một cuộc chiến tranh dai dẳng cũng chỉ bởi tham vọng kỳ cục, khi muốn đem về cho đất nước họ một triết thuyết không tưởng và một thiên đàng không làm sao có được trên mặt địa cầu."

Năm 1972, xong bốn năm Ðại Học, tôi ra trường, Davis báo tin sắp trở về sau bốn năm phục vụ tại Việt Nam. Bao nhiêu đợt lính Mỹ hồi hương được chiếu trên truyền hình mỗi buổi tối, nhìn nét mặt hân hoan của họ, tôi nôn nao chờ ngày vui của đời mình. Hòa bình đã được ký kết, chiến tranh Việt Nam sắp kết thúc, chàng sẽ trở về và chúng tôi sẽ có một đám cưới, sau đó là những ngày trăng mật. Tôi mừng cho hạnh phúc của mình, cho hạnh phúc của cả một dân tộc khi hai miền Nam Bắc của họ được phân định rõ rệt, không còn chiến tranh, bức tranh đẹp đẽ của đất nước xa xăm kia sẽ chỉ là một màu xanh, màu xanh của hy vọng và vươn lên, để người dân Việt Nam có một cuộc sống dễ chịu hơn.

Vậy mà có một ngày, một ngày bi thảm và tàn khốc nhất đã đến với Davis, với tôi khi cả hai cùng ngây thơ tin rằng có một ngày người ta thôi không còn giết lẫn nhau. Chuyến bay đưa Davis về Sài Gòn để lên đường trở về quê hương đã bị bắn rơi bởi những người phía bên kia, chắc ngay cả những giây phút cuối cùng của đời mình, Davis vẫn chưa hiểu tại sao đời mình lại có một kết thúc bi thảm như vậy?

Bên này bờ đại dương, người ta đang hoan hỉ vì đã tìm ra được một giải pháp cho cuộc chiến ở Việt Nam, họ được ban tặng giải thưởng hòa bình. Nào ai nghĩ nổi, trong khi ấy có cả một dân tộc vẫn đang quằn quại vì những vết thương chiến tranh, có cả những người như Davis đã chết vì sự bịp bợm ấy.

* * *

Thời gian qua đi rất nhanh, mới đó mà tôi đã trở thành người mẹ của ba đứa con nay cũng đã lớn khôn. Không còn sống chung với cha mẹ, nhưng không hiểu sao tôi vẫn nhờ mẹ tôi giữ những kỷ niệm của tôi và Davis, tôi không có can đảm tiêu hủy nó bởi vì nó đẹp và trong sáng quá. Trong đời tôi, ít nhất đã có vài lần tìm vào căn phòng nhỏ, lật từng lá thư và những tấm ảnh đã ố vàng với thời gian, để lòng vẫn ngậm ngùi và thổn thức với những kỷ niệm của dĩ vãng.

Cách đây vài năm, tôi có dịp lên Washington D.C. Tôi đã đi tìm đến bức tường đá đen, đài tưởng niệm những người lính Mỹ chết ở Việt Nam. Tôi đã tìm thấy tên chàng, William Davis, tôi đã khóc khi đặt những đóa hồng dưới chân tường , ngậm ngùi đọc tên chàng như có lần tôi đã thì thầm những lời vĩnh biệt trước nấm mộ của chàng ở nghĩa trang Arlington. Phản chiếu từ bức tường đá đen ấy, những bóng người buồn bã đi lại trên con đường xào xạc lá khô. Một ngày cuối thu có hơi gió heo may se lạnh, tôi cứ ngỡ linh hồn của Davis và của bao nhiêu người chiến binh năm xưa đang dật dờ trở về từ cõi chết.

Năm nay tôi đã năm mươi tuổi, cái tuổi có thể là hơn nửa đời người mà cũng có thể là cả một đời người, như Davis thì cuộc đời chàng chỉ vỏn vẹn hai mươi mấy năm. Con người vẫn không quyết định được cuộc đời mình, Thượng đế muốn lấy đi lúc nào chẳng được.

Mười năm rồi tôi dạy ở ngôi trường này, lớp học có thêm những đứa học trò Việt Nam ở khu chung cư bên kia đường. Tôi có dịp tiếp xúc với những phụ huynh Việt Nam, họ đã làm tôi cảm phục vì họ vẫn cố gắng bảo tồn nền văn hóa của họ qua sự dạy dỗ những đứa trẻ biết trân trọng và biết ơn những người mang trách nhiệm giáo dục và khai sáng con người. Mỗi lần nghĩ đến đây, tôi đã hiểu phần nào tại sao tôi lại thông cảm với nỗi đau của những người Việt Nam lưu vong, mỗi lần nhớ đến quê hương yêu dấu của họ bên kia bờ đại dương.

Nguyên Nhung

(Ðể Tưởng Niệm Những Người Ðã Chết trong cuộc chiến Việt Nam)
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 239
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Wed May 11, 2016 6:10 pm




NHƯ  NHỮNG  GIỌT  MƯA

Nguyên Nhung
 
Ngẫu nhiên tôi gặp lại Hà sau gần hai mươi năm xa cách. Một chiều mưa tầm tã vào tháng bảy mùa Vu Lan, bên hiên chùa tôi đang thả hồn về dĩ vãng, với những sợi mưa giăng mịt mờ phía rừng cây trước mặt. Tháng Bảy mưa ngâu Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau, những cơn mưa tháng bảy, tháng tám ở quê nhà ngày xưa như trở lại. Tâm trí tôi trở về những mùa ngâu nhạt nhòa trong quá khứ, ở đấy có mẹ tôi bên bếp lửa hồng và đàn gà con chiêm chiếp kêu tìm đôi cánh gà mẹ trong một chiều bão rớt. Ở đấy là những chùm hoa mẫu đơn nở vàng trước ngõ giậu thưa, là hàng dừa lướt thướt ướt mưa bên một giòng sông, là khoảng sân gạch loang loáng nước và những giọt mưa màu cà phê từ mái tranh rớt xuống.

Cứ thế tôi đắm chìm trong những hình ảnh chập chờn của dĩ vãng thì từ bên kia mấy chậu hoa quỳnh, tôi nghe có tiếng thở dài. Tiếng thở dài muộn phiền mong chờ cơn mưa ngớt hạt, nghe chừng quen quen, thật là thân thiết, có chút gì u uẩn trong bóng chiều nhập nhoạng. Đưa mắt nhìn người phụ nữ đứng nghiêng nghiêng trong khoảng tối của mấy chậu hoa, tôi ngờ ngợ nhận ra Hà, người bạn cũ. Mặc dù đã bao nhiêu năm trôi qua, nhưng dáng dấp và khuôn mặt ấy, có già dặn hơn, nhưng vẫn là Thanh Hà của những năm xưa. Sau một chút ngại ngùng, tôi tiến lại rụt rè:
“Xin lỗi, có phải Hà đấy không?”

Ngỡ ngàng mấy giây, Hà nhìn tôi trân trối. Rồi như một cơn lốc, Hà ôm chầm lấy tôi:
“Trời ơi! Ngọc, lúc nãy mình thấy ai giống Ngọc ở trong chùa nhưng không dám hỏi, sợ người giống người, không ngờ quả đất tròn lại có ngày gặp nhau. Ngọc qua đây lâu chưa, ở đâu, làm gì, gia đình ra sao?”

Trước sự mừng rỡ và những câu hỏi dồn dập của Hà, tôi chỉ biết cười. Trên khóe mắt nó long lanh ngấn nước, tôi nhớ đến tiếng cười ròn rã của nó ngày xưa vang lên trong những buổi nắng ấm sân trường:
“Từ từ đã, phải cho mình thở chứ! Gặp lại Hà mình mừng quá, thời gian qua đi nhanh quá phải không Hà, mới đây mà đã già hết rồi. Mình sang đây đã lâu, có một cháu đang học Đại học, sắp ra trường nay mai. Cuộc sống thì vậy vậy, độc thân, vui tính, vẫn phải đi cày cho hết một kiếp người.”

Hà nhướng mắt, ngạc nhiên:
“Quyền đâu? Vợ chồng ngươi hạnh phúc chứ?”

Tôi buồn bã lắc đầu:
“Chuyện xưa rồi nhắc làm gì, để rồi khi rảnh rỗi mình sẽ kể bồ nghe. Quyền còn đó nhưng là của người khác, mình nghĩ vậy lại hay, cứ để dây dưa trong đau khổ triền miên, không tìm cho mình một lối thoát e càng khổ hơn nữa. Còn phần Hà thế nào? Bác Năm chắc đã già lắm, bác và anh Lâm có sang bên này không?”

Hà xiết chặt tay tôi, ngậm ngùi:
“Má mình qua đời đã lâu rồi Ngọc à, mình chôn má mình ở mảnh vườn sau nhà, Ngọc vẫn còn nhớ chứ? Sau đó thì hai anh em vượt biên, sang bên này có dễ thở hơn vì được tự do nhưng buồn quá là buồn, cực quá là cực, mình già đi nhiều Ngọc thấy không?”

Tôi xót xa nhìn Hà, như nhìn một đóa hoa tươi thắm ngày nào nay đã nhạt nhòa hương sắc. Thời gian đã điểm vài nét nhăn lờ mờ trên khuôn mặt và ở đuôi mắt, tuy nhiên đôi mắt Hà vẫn còn nguyên nét nhìn trong sáng:
“Mình cũng hơn gì Hà đâu, phải chấp nhận thôi, đấy là định lý thuận với thời gian mà.”

Tôi và Hà cùng cười, ngày xưa nó là cây toán của lớp, có lẽ nó hiểu tôi muốn nói gì.

“Bây giờ Hà kể mình nghe chuyện của Hà đi chứ, Hà và anh Lâm có ở gần nhau không?”

Giọng Hà như chùng xuống, mắt nó rưng rưng:
“Mình đâu có lập gia đình, sang đây được vài năm thì anh Lâm gặp tai nạn trong lúc làm việc, mù cả hai mắt, mình đâu đành lòng để ảnh một mình, cho nên hai anh em giờ này vẫn sống với nhau như hai kẻ tu hành, trụ trì trong một ngôi chùa không tên tuổi. Tội nghiệp anh Lâm, đáng lẽ đời anh ấy phải được thênh thang, đẹp đẽ thay vì mù lòa, tăm tối, âu cũng là nghiệp phải không Ngọc? Sống bây giờ không phải lo cơm ăn áo mặc, nhưng nhìn anh ấy suốt ngày sờ soạng bên khung cửa để nghe tiếng gió, tiếng mưa, năm này qua năm nọ, ngày này qua ngày khác, Ngọc thấy đời có nghĩa gì không?”

Tôi nghe lòng mình thắt lại theo từng tiếng Hà kể lể. Anh Lâm, người thanh niên hiền lành, chăm chỉ, rất đỗi hiền hòa trong những ngày trẻ tuổi hiện về trong trí nhớ của tôi. Bên ấy là giàn bông giấy màu hồng tím, tiếng đàn của anh xôn xao những đêm trăng, là mộng, là hoa, là sách vở chất đầy thương nhớ. Tôi đột ngột đề nghị:
“Mình có thể đến thăm anh ấy được không?”

Hà lắc đầu, ngần ngại:
“Thú thực với bạn, thế nào thì tụi mình cũng phải gặp lại nhau, nhưng bây giờ anh Lâm hầu như không muốn giao tiếp với ai, nhất là những người quen cũ. Ngọc biết không, có lần anh Lâm giận Hà mất mấy ngày vì mình đưa về nhà một người bạn của anh ấy mà không hỏi ý kiến của anh ấy trước...”

Tôi quả quyết:
“Mình chỉ muốn nhìn thấy anh ấy thôi, và sẽ không nói một câu nào để anh ấy không biết là có người đến thăm.”

Hà lưỡng lự giây lát. Rồi biết là không thể từ chối, nó phải dặn dò tôi:
“Ừa thì đi, nhưng Ngọc nhớ là những người mù thường sống bằng thính giác, anh Lâm từ khi mù đến nay đã quen nghe và đoán sự việc gần như chính xác, mình không dấu anh ấy được chuyện gì đâu. Bây giờ, Ngọc cho mình số phôn và địa chỉ, chúng mình còn nhiều chuyện để nói mà mình lại phải về, mưa xuống là trời mau tối lắm, không biết ở nhà anh Lâm đã ăn uống gì chưa.”

Thấy Hà lo lắng cho anh, tôi không khỏi cảm động. Tôi theo Hà ra chỗ đậu xe, trời ngớt mưa, những sợi mưa nhỏ bay bay trong khung trời mờ mờ của buổi hoàng hôn. Ngôi chùa nằm trên một ngọn đồi, xung quanh bao bọc bằng rừng cây và lá úa, từ phía thung lũng đằng sau, gió như muốn cuốn hút tất cả những chiếc lá vàng xô vào nhau đến một nơi êm đềm nhất. Mỗi lúc buồn tôi lại đến đây, để lòng mình cuốn theo những chiếc lá rơi vào những nơi thăm thẳm dưới chân đồi, phảng phất mùi hương trầm và tiếng mõ nhịp nhàng của khóa kinh chiều, cái buồn đã bay đi dịu dàng như một làn khói tỏa.

Hai chiếc xe lăn bánh ra khỏi sân chùa và lướt đi trên con đường phủ đầy lá ướt, những vũng nước mưa phản chiếu ánh đèn vàng buồn hiu hắt. Lòng tôi như chơi vơi nỗi nhớ nhung về một khoảnh đời rất xa trong dĩ vãng. Ngày ấy là tôi mười bảy tuổi, mắt biếc và môi tươi, đôi guốc nhỏ khua những bước chân rộn ràng trên đường vắng. Ngày ấy là Hà nghịch ngợm líu lo như chim vành khuyên, mái tóc cắt ngắn, khuôn mặt bầu bĩnh dễ thương, mặc chiếc quần cụt ngắn để sẵn sàng nhảy ào xuống sông, lội đùng đùng như một con rái cá. Ấy vậy mà hai đứa thân nhau, Hà sôi nổi còn tôi u trầm, lãng mạn, nó thường chỉ cho tôi những bài toán khó, còn tôi thường đọc cho nó nghe những bài thơ học trò rất non nớt.

Chắc Hà một phần nào đã hiểu được tình cảm mộng mơ của anh Lâm và tôi, nhưng vẫn không bao giờ nói cho nhau biết. Nhà Hà chỉ có hai anh em, ba nó chết khi nào tôi cũng không rõ, chỉ thấy mỗi buổi chiều má nó hay ra sau vườn đốt nhang cho mấy ngôi mộ nằm khuất sau rặng dừa nước tối đen, những khi ấy tôi rất sợ khi nhìn những đốm nhang lập lòe trong khu vườn tối. Bác Năm có một sạp bán chạp phô ngoài chợ, vậy mà bác cũng nuôi nổi hai đứa con thơ dại mồ côi cha. Tuy vất vả nhưng bù lại anh em Hà là những đứa con hiếu hạnh và rất đỗi thương nhau. Nhà tôi và Hà chỉ cách nhau có một hàng rào thấp và một đường mương thông ra con sông nhỏ, ngày hai buổi lên xuống theo con nước thủy triều. Mẹ tôi trồng những giây mồng tơi tím, những cây đậu ván có chùm đậu xanh như ngọc, và cả một thứ hoa leo có bông nhỏ xinh xinh màu đỏ thắm. Tôi hay đứng bên này hàng rào để nói chuyện với Hà khi nó giặt quần áo hay rửa chén ở cái mương sau hè ấy. Hai đứa trẻ lớn lên lúc nào không hay, ngày anh Lâm vào Đại học bác Năm mừng chảy nước mắt, còn Hà và tôi đã là hai cô nữ sinh đệ nhị cấp cùng lớp, cùng trường. Hà đã bớt phần ngổ ngáo, còn tôi cũng thêm phần e lệ mỗi lần bắt gặp cái nhìn nồng nàn, kín đáo của anh Lâm bên kia giàn bông giấy.

Tuy vậy, trong những chiều nước lớn, Hà vẫn nheo nhéo gọi tôi đi tắm sông. Ai đã từng ngụp lặn dưới dòng nước mát của dòng sông quê hương, mới thấy cái thú tắm sông thuở nhỏ thật là tuyệt vời. Trên bến sông, rộn rã tiếng vui đùa của đám trẻ con trong một trưa hè oi ả, từng làn sóng lăn tăn trên mặt sông êm ả, và những tàu dừa lơi lả bên bờ sông như đùa với gió.

Tôi vẫn nhớ một buổi chiều năm xưa, anh Lâm đón tôi ngoài đầu ngõ. Anh đưa cho tôi một cuốn sách Toán rồi vội vã bước đi. Tôi chớp mắt nhìn anh, không nói được câu cám ơn nhưng lòng vô cùng xao xuyến, đây có lẽ là lần đầu tôi gặp anh mà không có Hà bên cạnh. Tôi đinh ninh sẽ có một cái gì thơ mộng hơn, cuốn sách Toán khô khan chỉ là cái cớ để anh có dịp nói với tôi bao điều anh muốn nói. Vậy mà không, anh lặng lẽ bước đi để tôi lơ ngơ không hiểu nổi con người kín đáo ấy. Phải chăng sự kín đáo của anh cũng là nguyên nhân để tình yêu vuột mất khỏi tầm tay, khi cuộc đời có bao điều mới lạ đầy lôi cuốn.

Câu chuyện từ những ngày còn đi học hiện về trong trí tôi như một cuộn phim, tôi bỗng mỉm cười một mình và để lòng trôi nổi theo những kỷ niệm thời con gái. Thực ra, tình cảm giữa tôi và Lâm chỉ đơn thuần là thứ tình cảm đầu đời trong sáng, anh vẫn nghiêm trang như một ông thầy ngồi trong lớp học. Với giác quan bén nhạy của con tim, tôi đã cảm được tiếng lòng anh qua tiếng đàn dìu dặt những đêm mưa, tiếng tí tách của giọt mưa rớt bên thềm, chiếc bóng của anh hắt lên tường bên kia khung cửa mở.

Không biết sao tôi lại giận anh, chắc chỉ vì một buổi chiều tôi thấy anh đứng nói chuyện với mấy người bạn học dưới giàn bông giấy, cô bạn gái ghé vào tai anh thì thầm câu gì đó, rồi cả hai cùng cười với nhau vui vẻ. Tôi nép xuống khung cửa sổ để quan sát mọi người, mà cứ tưởng như mắt anh đang quyến luyến trao cho cô bạn học. Người ta là sinh viên, còn tôi chỉ là cô nữ sinh trung học. Sao hôm nay anh nói nhiều như thế, sao hôm nay anh cười vui đến thế, nỗi giận hờn ập đến tâm hồn cô gái nhỏ, dễ tủi thân và nhiều mặc cảm tự ti. Hèn gì anh tiếc tôi mấy giòng chữ, hèn gì anh không thèm trao cho tôi một cánh thư. Ôi tình yêu, tình yêu chưa nói được nên lời mà đã vỡ tan như những bong bóng nước trong cơn mưa chiều trút xuống sân nhà. Đêm sáng trăng, tôi thơ thẩn một mình nhìn ra giòng sông trước mặt, ánh trăng như dát một giải lụa vàng trên mặt sông mênh mông, tôi nghe lòng sầu nhớ một nỗi niềm khó bày giải. Tình yêu giữa anh và tôi nhẹ nhàng đến nỗi tôi tưởng như lúc có lúc không, lúc đằm thắm, lúc hững hờ, khi bừng bừng chất ngất để rồi lại chìm chìm như hòn sỏi ném xuống mặt hồ lặng ngắt.

Những năm ấy tôi sắp bước qua tuổi mười tám với rất nhiều suy tư về tình yêu, cuộc đời và tương lai. Chiến tranh đang lan tràn trên quê hương, từ miền quê đã lan vào phố thị. Từng ngày, từng ngày, tôi đã nhìn thấy những chuyến xe nhà binh chạy qua thành phố, chiếc quan tài phủ cờ và người vợ trẻ ôm con thơ với ánh mắt buồn tê tái. Từng đêm, từng đêm, ánh hỏa châu lơ lửng treo trên vùng trời tối thẫm, tiếng đại bác vọng về thành phố như một tín hiệu của đổ nát, tan hoang.

Đúng lúc đó thì tôi gặp Quyền, trong một "party” sinh nhật thứ mười tám của cô bạn học con nhà giàu cùng lớp. Quyền là một sĩ quan Không Quân, vui tính, lém lỉnh, chàng tán tôi sát sạt đến nỗi trái tim tôi còn non nớt, đã rộn rã tiếp nhận chàng như một thứ hào quang rực rỡ khác xa thế giới học trò. Bản Slow nồng nàn quyến rũ, điệu Tango dìu dặt bước chân, tôi bước vào đời Quyền trong nỗi nhớ nhung về một bầu trời chi chít sao đêm, những dải mây bồng bềnh như lụa và bóng những con tàu xé gió vút lên không gian thênh thang, vô tận. Như con thiêu thân, tôi lao vào Quyền mà hầu như không hiểu được chàng bao nhiêu, Quyền là hiện thân của chinh phạt và bão tố, tôi ngu ngơ như con chim non vừa mọc cánh chỉ muốn đi tìm những gì mới lạ ở phía trời xa, tôi đã lãng mạn, nhớ nhung và tưởng mình đang hưởng được thú đau thương của cuộc đời. Để đến một ngày trái tim tôi vỡ nát vì không quen nhìn đời như một cuộc chơi, và tình yêu chỉ là trò đùa trong những khoảnh khắc của đời sống. Tôi theo Quyền rời xa xóm cũ, anh Lâm sắp tốt nghiệp Đại học và Hà vẫn chăm chỉ học hành. Dòng sông vẫn êm đềm trôi, chỉ có tôi sắp bước vào cuộc đời đầy giông bão....

Với một mảnh giá thú chưa đủ bảo chứng cho một tình yêu, hay đấy chỉ là một sự lầm lỡ, Quyền và tôi hai tâm hồn khác biệt hẳn nhau. Chàng vẫn nói yêu tôi để rồi lại tươi cười, nồng nàn trong một vòng tay khác, chàng vẫn trở về nhà sau những chuyến bay mệt mỏi để rồi lại miệt mài trong ánh mắt giai nhân. Sống và chết trong thời buổi chiến tranh, khiến Quyền đã có quan niệm về tình yêu rất là hời hợt và vội vã. Khóc lóc, giận hờn, đau khổ thì chàng vẫn là chàng, tôi vẫn là tôi, khi đứa con đầu lòng chào đời cũng không cứu vãn nổi cái hạnh phúc đớn đau kia, lòng tôi đã ủ ê vì tuyệt vọng. Tâm hồn tôi vốn bình lặng như giòng sông êm ả, như đồng cỏ xanh non của một mùa xuân, đâu hiểu nổi và đâu chịu nổi những phù hoa, hào nhoáng của thứ cuộc đời đầy phức tạp.

Theo Quyền về làm dâu, tôi đã ngất ngư vì những lời trì triết, bóng gió xa xôi của mẹ Quyền và chị em chàng, như những cái tát tai nẩy lửa quật vào mặt tôi tê buốt. Quyền là đứa con cưng của gia đình giàu có ấy, chàng đã quen hưởng thụ và được người khác phục vụ mình, chắc là kiếp trước tôi đã vay chàng một món nợ lớn, cho nên kiếp này tôi phải trả cho hết nỗi oan khiên. Thế rồi chia tay, thế rồi đường ai nấy đi, tôi đã bỏ cuộc đành quay về bên mẹ như con gà con nhao nhác tìm mẹ trong một chiều mưa bão. Gia đình tôi chuyển về một thành phố khác, tôi ngại ngần không dám gặp lại Hà, cho đến ngày nhà tan, nước mất. Vài năm sau tôi ôm con theo làn sóng người ào ạt ra khơi tìm tự do, trải qua những giờ phút sinh tử trên biển khơi, cuối cùng mẹ con tôi cũng đến được bến bờ tự do....

Gặp lại Quyền bên cạnh một người đàn bà khác. Sắc sảo, lộng lẫy, rạng rỡ phấn son, những loại hoa đẹp nồng nàn dưới ánh đèn mờ ảo. Tôi ôm con với một thoáng ngậm ngùi, con gái tôi đã có nét buồn ngay từ hồi còn nhỏ. Cám ơn Trời, con tôi thật ngoan, thật hiền, nó dịu dàng như giòng sông quê mẹ, và có một tâm hồn mang nặng tình người Việt Nam.

***

Tôi đậu xe cách nhà Hà một quãng xa để đề phòng anh Lâm nhận ra Hà về nhà với khách lạ, rồi rón rén theo Hà trong bóng tối của căn phòng khách mờ mờ vì bóng chiều đã xuống. Hà bật đèn phòng khách, thật nhẹ nhàng, tôi hồi hộp nhận ra dáng anh Lâm ngồi im lìm bên khung cửa sổ. Hà hỏi, giọng bối rối:
“Sao anh không bật đèn lên anh hai? Bữa nay mưa lớn quá, không làm sao về được, anh đã ăn gì chưa?”

“Cám ơn em, anh không đói”, bây giờ tôi đã nghe anh nói, hơn hai mươi năm qua, giọng anh vẫn dịu dàng như ngày còn trẻ. Lâm tiếp:
“Ngồi ở đây anh cảm thấy dễ chịu, sáng hay tối thì có nghĩa gì đâu. Mưa dữ quá phải không Hà, chắc ngày mai em lại phải quét lá, vườn đã ngập đầy lá khô.”

Nghe anh nói, tôi gần như muốn khóc. Có ngờ đâu một ngày như hôm nay, anh một mình ngồi bên khung cửa, để nghe ngóng từng giọt mưa rơi, từng chiếc lá rớt. Hà nói, giọng không dấu được niềm vui:
“Anh ăn cơm bây giờ nghe anh hai. Em có mang về cho anh chút dưa cải, đậu hũ xào nấm tươi, ngon ơi là ngon.”

Lâm lắc đầu, giọng anh đầy âu yếm, anh không quay mặt lại nên tôi chưa nhìn được mặt anh:
“Không, em đừng lo lắng nhiều cho anh làm gì, đời có bận rộn chi đâu mà vội vã. Hôm nay đi chùa có gì lạ không? Anh nghe như em có điều gì vui, có gặp ai quen không Hà? Ờ, em cũng cần đi đây đi đó cho vui, đừng băn khoăn lắm cho anh làm gì, vì tuy ngồi một chỗ như thế này, nhưng anh vẫn có thể hình dung được sự thay đổi của trời đất. Như hôm nay mưa thì lại nhớ đến những cơn bão rớt ở quê mình, mái nhà xưa và bến sông ngập đầy nắng gió. Gió chi mà mát rượi, anh còn nhớ mấy cái khạp chứa đầy nước mưa của má, mùi thơm của hoa cau, hoa bưởi, uống một miếng nước mà dường như uống cả hương, cả hoa, cả trời, cả đất. Má vẫn nói nước mưa là nước của trời nên nó hiền và ngọt, cho đến bây giờ anh vẫn không làm sao quên được. Bây giờ có trở về chắc mọi thứ đã thay đổi hết rồi...”

Lòng tôi chùng xuống , thổn thức theo từng tiếng kể lể của anh, bất giác tôi không ngăn được tiếng thở dài. Anh Lâm đã quay về phía tôi và Hà, ngọn đèn trần tỏa xuống cho tôi thấy một khuôn mặt đàn ông mang những nét già giặn trên vầng trán thông minh và mái tóc bồng bềnh đã điểm sương. Vẫn khuôn mặt ngày xưa ấy, bờ môi ấy, đôi mắt đã khuất dưới cặp kính đen, cả gương mặt ấy có hằn lên nét phong trần của thời gian, nhưng vẫn toát ra vẻ an nhiên, tự tại. Giọng anh vang lên, buồn buồn như một chiếc lá rơi vào khoảng tối của khu vườn:
“Anh làm em buồn phải không Hà, sao em lại thở dài? Nếu vậy, anh xin lỗi em vì anh chỉ nhớ được trong lòng anh những hình ảnh của dĩ vãng, nó là niềm an ủi của riêng anh, bởi vì anh cũng còn được những gì để nhớ.”

Hà liếc nhìn tôi, nó tiến lại ngồi cạnh anh Lâm:
“Anh hai nè, bữa nay người ta đi chùa đông ghê nơi, tình cờ em gặp lại Ngọc ở trên chùa, anh còn nhớ Ngọc chứ?”

Tôi thấy Lâm nhỏm dậy, như có một sự thay đổi đột ngột trong tâm hồn anh làm anh xúc động, nhưng anh cố nói với một giọng bình thản:
“Ngọc à? Anh nhớ chứ, cái cô bé hàng xóm dễ thương ấy làm sao anh quên được. Bây giờ Ngọc ra sao, vẫn xinh đẹp và hạnh phúc?”

Hà ái ngại nhìn tôi, cười nhẹ:
“Anh quên là chúng mình già cả rồi, Ngọc cũng đâu là cô bé hàng xóm bé bỏng của anh ngày xưa, nhưng Ngọc vẫn còn duyên dáng lắm. Em chưa có dịp hỏi nhiều về đời sống của Ngọc, nhưng em đoán Ngọc cũng không hạnh phúc lắm, vì Ngọc đi chùa có một mình, em bắt gặp cô nàng đứng thả hồn hằng giờ theo mưa.”

Anh Lâm cười, tiếng cười nghe xao xuyến:
“Ngày xưa, Ngọc vẫn hay mơ mộng như vậy, chỉ tiếc là...”
Lâm bỏ lửng không nói, một lúc sau, anh tiếp:
“Hà nè, anh rất mừng em gặp lại bạn cũ, dù sao nơi xứ lạ quê người, không gì quí bằng gặp lại bạn xưa chung trường, chung lớp, nó có nhiều ủi an cho mình lắm em à.”

Hà đột ngột hỏi anh:
“Anh Hai à, anh có muốn gặp lại Ngọc không? Nếu em nhớ không lầm thì ngày xưa anh cũng có... thương Ngọc, nhưng sao lúc ấy anh không nói, hở anh hai?”

Anh Lâm lặng thinh, dường như anh chìm đắm với những kỷ niệm trong dĩ vãng. Một lúc, tôi nghe anh thở dài:
“Gặp hay không gặp thì cũng thế thôi, anh đâu có nhìn thấy gì dù Ngọc bây giờ có già hơn hay xấu đi, trong anh vẫn chỉ là hình ảnh Ngọc ngày xưa ấy. Chuyện xưa rồi phải không Hà? Sở dĩ anh vẫn nghĩ đến Ngọc là vì hình ảnh của cô ấy gắn liền với dĩ vãng của anh em mình, hai căn nhà hàng xóm, cách nhau một hàng giậu thưa, bên này là giàn bông giấy, bên kia là khung cửa mở với ánh đèn lay lắt đến nửa khuya. Cứ mỗi lần hồi tưởng về quá khứ, anh lại nhớ ngay đến cái xóm nghèo ven sông , mỗi chiều má thường ra sau vườn thắp nhang cho ba và ông bà nội, anh vẫn nhớ mùi hương trầm thơm ngát tỏa bay trong không gian mỗi khi chiều xuống, tiếng trẻ con í ới gọi nhau trên sông chiều nghe vui làm sao...”

Hà im lặng nhìn tôi, nghe như có tiếng mưa rơi chầm chậm, buồn buồn, thánh thót rớt xuống trong lòng một nỗi nhớ khôn nguôi. Anh Lâm lên tiếng hỏi:
“Em còn đó không Hà?”

Nghe anh hỏi tự nhiên tôi muốn khóc. Hà cầm lấy tay anh, sụt sùi:
“Em vẫn ngồi đây, anh cứ nói nữa đi anh hai, em muốn nghe anh kể về những gì đã mất. Em đã từng đi qua những bến sông, chỗ nào cũng hoa, cũng lá, cũng nắng, cũng gió, vậy mà cũng chưa thấy chỗ nào đẹp bằng bờ sông quê mình.”

Anh Lâm vỗ nhẹ lên bàn tay Hà:
“Đúng vậy, có khi bờ sông ở quê mình đối với mọi người nó không là gì cả, nhưng với riêng mình nó vẫn đẹp, vì nó là quê hương. Hà có nhớ không những ngày bão rớt, bến sông vắng tiếng trẻ nô đùa, chỉ có mấy thân dừa oằn oại với gió. Anh nhớ má hay xào mắm ruốc xả ớt cho anh em mình ăn, có khế chua và chuối chát. Mưa gì mà mưa ngày mưa đêm, mấy gốc đu đủ trốc gốc, má hay nấu canh đu đủ hườm với tôm khô ăn với dưa mắm. Ngày xưa, Ngọc cũng thích món chuối hầm dừa của má mình nữa, bữa nào học xong tụi mình cũng có một món gì âm ấm bụng. Anh vẫn còn nhớ những đêm trăng, dưới giàn bông giấy, anh hay đàn cho em và Ngọc hát, giọng em thì réo rắt như đàn kìm, còn Ngọc lại ưa mấy bài thương mây khóc gió, những cô bé biết buồn sớm quá thường khó tìm được hạnh phúc trong cuộc đời.”

Lại một phút im lặng, Lâm tiếp:
“Bởi vậy dù rất yêu Ngọc anh vẫn không dám nói, vì anh không muốn lay động trái tim non nớt của Ngọc, anh chỉ muốn Ngọc sống êm ả với thế giới học trò mà thôi. Đối với anh, tình yêu phải được nâng niu như viên ngọc quí, anh rất trân trọng tình cảm của riêng anh và của mọi người, đó có phải là điều thiệt thòi cho anh khi Ngọc không hiểu được tình yêu đó. Nhưng thôi, chuyện xưa nhắc để mà nhớ chứ bây giờ anh còn làm được gì cho ai...”

Tôi không ngăn được những giọt nước mắt, nếu không kìm hãm được có lẽ tôi đã chạy đến bên anh, ôm lấy anh, để khóc cho hả những đau khổ và bất hạnh của đời mình.

“Bây giờ, anh ví Ngọc như cơn bão rớt, rớt xuống hồn anh những giọt mưa. Phải, chỉ là những giọt mưa...”

Hà bật cười, tuy mắt còn ngấn lệ:
“Anh làm thơ đấy hả anh hai? Hay đấy chứ, “em như cơn bão rớt, rớt xuống hồn anh những giọt mưa “, nhưng sao không là bão, nó không phá hồn anh tan hoang ra đó sao?”

Anh Lâm cũng mỉm cười, anh nói:
“Em đúng là cô em dễ thương của anh đó Hà, không có em không biết tinh thần anh xuống dốc đến độ nào. Không, không bao giờ Ngọc là cơn bão, vì tình yêu ấy dịu dàng và đẹp đẽ biết bao, mỗi lần nghĩ đến nó lòng anh vẫn ngây say và lắng đọng. Anh mong Ngọc mãi mãi hạnh phúc, cho dù Ngọc không là của anh, trái tim cô ấy non nớt quá, nó là thứ tâm hồn của hoa cỏ, tươi thắm đấy rồi sầu héo đấy, phải không Hà?”

Trái tim tôi như muốn vỡ ra khi nghe Lâm nói, mãi cho đến bây giờ khi đầu đã hai thứ tóc, tôi mới hiểu được tình yêu của chàng dành cho tôi vẫn trọn vẹn trong sáng quá, vậy mà tôi đã làm mất đi chỉ vì chạy theo sự quyến rũ của một tình yêu không thực.

Hà lại thủ thỉ bên Lâm, ngọt lịm:
“Anh hai à, em rất muốn mời Ngọc đến chơi nhưng phải hỏi ý anh trước đã. Anh có muốn gặp lại Ngọc hông?”

Lâm im lặng, anh đang cố nén những cảm xúc ào ạt như tiếng mưa rào rào trên khung cửa kính. Một lát, tôi nghe anh thở dài:
“Nếu Ngọc đến để mà thương hại anh thì anh không muốn, nhưng để em có được những phút giây xưa thì anh không có lý do gì để ngăn cản em cả. Thực ra, đã lâu lắm rồi, anh không biết đau khổ là gì nữa, anh hằng cầu xin cho mình được sáng suốt chấp nhận cuộc đời, dù đang sống trong cảnh mù lòa, tăm tối. Anh đã tìm ra chân lý của cuộc sống, đó là sự bình an của tâm hồn, cho nên mỗi khi anh nghĩ đến ai, đến điều gì thì chỉ vẽ lên hình ảnh tuyệt vời của nó, và chỉ nhớ đến cái đẹp của nó mà thôi.”

Anh ngừng nói, nhưng từ nơi anh tôi nghe có tiếng róc rách giòng suối reo đến tận cùng sâu thẳm của con tim. Cho đến bây giờ, tôi mới thực sự hiểu được tâm hồn anh thanh cao, dịu dàng, nhân ái biết bao. Trên cõi đời này, có bao nhiêu người đủ tay, đủ chân, đủ mắt, tai, mũi, miệng, nhưng tâm hồn họ đã què quặt, mù lòa trước bao nỗi đau của kẻ khác, họ đã không ngại ngần vùi giập những mảnh đời khốn khổ đi xuống sự tận cùng của nó.

Từ giã Hà ra về bằng ánh mắt yên lặng, tôi nghe con tim mình đập rộn ràng trong lồng ngực. Trên đường về, bóng tối phủ ngập hai hàng cây ven đường, chỉ còn ánh đèn chấp chới của những chiếc xe qua lại trên lòng đường vắng, tôi thấy lòng rưng rưng, “Lâm ơi, em sẽ trở lại. Em sẽ là giọt mưa, rớt xuống đời anh, như những giọt mưa đầu mùa xôn xao trên mái tranh nghèo quê xưa anh nhé!”

NGUYÊN NHUNG

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung   Today at 9:07 am

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn Nguyên Nhung
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến