Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
cong lang pham NHẬT nghia thang mien nhung sinh thanh tien quan ngoc huyen HUNG nghe thuy phung viet rang nguyen trai cuoc Thầy Ngày nguoi
Latest topics
January 2017
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Đêm Vĩnh Biệt Sài Gòn - hoanghaithuy

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
LHSon
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Đêm Vĩnh Biệt Sài Gòn - hoanghaithuy    Mon Jun 11, 2012 9:58 pm

Đêm Vĩnh Biệt Sài Gòn

hoanghaithuy



Chuyện Nhà Tranh Ðấu Dân Quyền Tầu Luật Sư Mù Trần Khang Thành Vượt Thóat Vòng Vây của bọn Công An Tầu Cộng làm tôi nhớ một câu nói của Nhà Văn Solzhenitsyn năm xưa.

Năm xửa, năm xưa ấy là những năm 1971, 1972 khi tôi dịch tác phẩm The First Circle ra tiếng Việt Tầng Ðầu Ðịa Ngục. Trong một bài viết Nhà Văn Nga cay đắng và tiếc hận, ghi nhận thái độ của người dân Nga trong những năm Stalin mở những cuộc bắt giam họ.
“Người ta sợ quá. Biết là mình sắp bị bắt, người ta cứ ở nhà chờ chúng đến bắt. Không ai dám nghĩ đến việc đi trốn. Nếu trong những chiến dịch bắt người ấy, người Nga chỉ chống đối tiêu cực thôi, như trốn đi, như kéo nhau ra đập phá xe của bọn công an ban đêm đi bắt người đậu ở ngoài đường, nhiều người có thể trốn thóat, bọn Mật vụ sẽ vất vả hơn trong việc đi bắt người, số người bị bắt sẽ không nhiều đến như thế.”
Nhà Văn kể:
“Tôi biết một sinh viên. Khi bọn mật vụ đến bắt anh, anh nhẩy qua cửa sổ ra vườn sau, chạy trốn. Anh trốn thóat. Nhiều năm sau tôi gặp lại anh. Anh sống như mọi người.”

Chuyện nhớ lại đó gợi cho tôi nghĩ:
“Trong hai tháng Ba, tháng Tư 1976, bọn Lê Duẩn phóng tay bắt giam những văn nghệ sĩ, ký giả Sài Gòn có người nào chúng muốn bắt mà trốn thoát không?”

Có một người.
Người ấy là Mai Thảo.

Năm 1956 khi Hồ Anh ra Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong tôi mới gặp Mai Thảo. Anh giữ trang BìnhThơ của tuần báo. Nhưng chỉ chừng hai, ba tháng, Mai Thảo ngừng viết cho Văn Nghệ Tiền Phong, anh chủ trương Tạp Chí Sáng Tạo.


MAI THẢO. Tranh CHÓE.

Bà nội tôi là bà em ông nội của Mai Thảo. Khoảng năm 1940 có một lần tôi theo ông bố tôi về làng Thủ Khối, làng quê ngọai của ông bố tôi, làng quê của Mai Thảo Nguyễn Ðăng Quí. Thủ Khối ở cạnh làng Bát Tràng, Phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, bên đê sông Hồng. Ông bố của Mai Thảo và ông bố tôi từng ở trọ cùng một nhà người trong họ ở Hà Nội để đi học. Mai Thảo là anh tôi.

Tòa sọan Tạp Chí Sáng Tạo ở đường Ký Con. Mai Thảo ở ngay trong căn nhà ấy. Căn ngoài là tòa sọan, bàn viết của Mai Thảo, gian trong là phòng ngủ. Năm ấy Mai Thảo có xe bốn bánh – Xe Fiat, 2 cửa, mầu trắng – anh sống chung kiểu già nhân ngãi, non vợ chồng với chị Cúc. Cuộc sống chung kéo dài chừng ba năm. Những năm 1960 nhiều văn nghệ sĩ độc thân sống trong Bin-đinh Cửu Long, đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn. Trong số này có các ông Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư, Minh Ðăng Khánh, nhưng Mai Thảo không sống tháng nào trong Bin-đinh Cửu Long. Nơi ở cuối cùng của anh trước Tháng Tư 1975 là một phòng trong nhà Chiều Tím, gần tiệm Phở 79. Ông anh của Mai Thảo – Luật sư Nguyễn Ðăng Thiện – có căn nhà ở đường Phan Ðình Phùng. Anh Thiện và gia đình anh đi khỏi nước trước ngày 30 Tháng Tư. Ông anh thứ hai của Mai Thảo là anh Nguyễn Ðăng Viên, người từng làm Quận trưởng ở ngoài Bắc trước năm 1954, đến ở căn nhà này. Nhờ anh Viên làm được Sổ Gia Ðình với số nhà này nên anh giữ được nhà. Viết rõ hơn: căn nhà của anh Thiện không bị bọn Bắc Cộng chiếm vì lý do chủ nhà trốn ra nước ngoài. Mai Thảo có một phòng trong nhà này. Một đêm đi chơi khuya tôi về ngủ với Mai Thảo trong phòng này. Hai anh đàn ông ngủ một gi
ường. Cả đêm hai tên cùng khó chịu. Trong đêm ngủ này tôi thấy trong ngăn kéo bàn ngủ có mấy bài thơ của anh Vũ Hoàng Chương.

Bọn Cộng vào Sài Gòn, ông bà Vũ Hoàng Chương sống rất cơ cực về vật chất – ông bà Thi bá bị bà Mộng Tuyết trở mặt đuổi ra khỏi nhà – nhưng Thi bá vẫn mần Thơ. Ông vẫn viết như trước, ông dùng bút làm bằng cành tre, cành trúc, viết với mực Tầu, những hàng chữ phơi phới bay lên. Thi bá làm những bài thơ tứ tuyệt, viết lên những mảnh giấy, tặng những văn nghệ sĩ. Trong ngăn kéo bàn ngủ trong phòng Mai Thảo đêm xưa ấy tôi thấy có bài thơ anh Vũ Hoàng Chương tặng Mai Thảo.

Tháng Ba, Tháng Tư năm 1976, cuộc bắt giam văn nghệ sĩ Sài Gòn xẩy ra.  Sáng sớm anh bạn trên xe đạp ghé qua nhà tôi, nói ở cửa:
“Ðêm qua nó bắt các anh Côn, Sĩ, Duyên Anh, Ðằng Giao, Hồng Dương, Minh Vồ, Lê Xuyên, Minh Ðăng Khánh, Hoàng Vĩnh Lộc, Hoàng Anh Tuấn, vợ chồng Trần Dạ Từ, Nhã Ca.. Nhiều lắm. Nó còn bắt nữa. Có trốn thì trốn đi..”

Tôi hỏi về Mai Thảo, anh bạn nói không rõ, hình như Mai Thảo chưa bị bắt. Về sau tôi biết lý do Mai Thảo không bị bắt trong ngày đầu ấy. Không vợ con, anh đến chơi nhà người trong gia đinh anh, nhà bạn anh, anh hay ngủ lại những nhà đó. Bọn Công An Thành Hồ đến căn nhà đường Phan Ðình Phùng nhưng chúng không thấy Mai Thảo ở đó. Biết tin bị bắt, Mai Thảo đi luôn.
Mai Thảo trốn, anh trốn thoát.

Một hôm anh cháu gọi Mai Thảo là cậu đến nhà tôi, anh đưa tôi lá thư ngắn của Mai Thảo:
“Tưởng mày bị bắt nên không liên lạc với mày. Tao bây giờ là kẻ thù của mặt trời. Cho tao mượn tiểu thuyết Detective.”

Mỗi lần tôi đưa anh cháu đem về cho Mai Thảo cả chục quyển tiểu thuyết Detective chữ Pháp. Sau vài lần lấy sách, tôi nói với anh cháu:
“Anh đưa ông ấy đến đây với vợ chồng tôi, ở đây với chúng tôi một ngày.”

Anh cháu chạy xe Vespa một sáng đưa Mai Thảo đến căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi trong Cư Xá Tự Do, giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền. Mai Thảo đội mũ phớt, để ria mép. Vợ tôi làm cơm, rồi chúng tôi đánh chắn. Tôi mời bà Dì tôi nhà ở gần nhà sang chơi. Bà Dì tôi, Mai Thảo, anh cháu, vợ tôi, bốn chân bài, tôi phải ngồi vào chân bài thứ năm. Tôi đánh chắn thấp hơn vịt. Tối xuống, cậu cháu Mai Thảo ra về. Ðấy là lần cuối cùng tôi gặp Mai Thảo ở Sài Gòn.

Bọn Công An Thành Hồ cay cú vì chúng không bắt được Mai Thảo. Chúng càng cay cú khi chúng biết Mai Thảo vẫn sống ở Sài Gòn. Chúng lùng bắt Mai Thảo ráo riết nhưng chúng vẫn không bắt được Mai Thảo. Cay cú nhất là tên Công An Huỳnh Bá Thành.

Vì có vài lần tôi kể chuyện Mai Thảo đến nhà tôi, kể với anh em văn nghệ, để anh em biết Mai Thảo chưa bị bắt, nên chuyện bị bọn Ăng-ten báo với bọn Công An. Năm 1977, Hùynh Bá Thành thẩm vấn tôi trong  Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Hắn bất chợt hỏi tôi:
“Mai Thảo có đến nhà anh. Anh cũng có lần anh đến chỗ Mai Thảo rủ anh ta đi chơi chứ?”

Tôi trả lời:
“Chỉ có Mai Thảo đến nhà tôi, tôi không bao giờ đến chỗ Mai Thảo ở. Tôi không hỏi Mai Thảo ở đâu, vì tôi sợ nếu tôi biết, khi tôi bị bắt, các anh hỏi. Tôi không khai thì tôi sợ tôi bị các anh làm khó, tôi khai ra thì tôi ân hận vì tôi mà Mai Thảo bị bắt.”

Tôi nói thêm:
“Tôi nghĩ như thế trước khi tôi bị bắt. Nay tôi bị bắt rồi tôi thấy tôi có thể khai chỗ ở của Mai Thảo. Vì tôi thấy Mai Thảo có bị bắt, nó cũng khổ như tôi mà thôi. Mà trước sau gì nó cũng bị các anh bắt, làm sao trốn mãi được.”

Trong một lần thẩm vấn, Hùynh Bá Thành lấy giấy bao gói thuốc lá, đưa tôi cây bút, bảo tôi viết lên mặt trắng của mảnh giấy:
“Anh viết cái thư ngắn cho Hoài Bắc: “Người ta biết chỗ ở của Mai Thảo rồi. Báo cho Mai Thảo đi chỗ khác ngay.”

Tôi biết mưu của Huỳnh Bá Thành: người tù thuờng lén viết thư nhờ đưa ra ngoài khi có bạn tù được tha. Y sẽ cho một tên công an trẻ giả làm người tù, đến nhà Hoài Bắc, đưa thư tôi:
“Cháu ở tù chung phòng với ông Hoàng Hải Thủy. Cháu được tha, ông ấy nhờ cháu đưa cho ông thư này.”

Nhận được thư tôi Hoài Bắc sẽ lên ngay xe đạp, đi đến chỗ Mai Thảo ở, bọn công an phục sẵn bên ngoaì, sẽ theo Hoài Bắc đến bắt Mai Thảo.

Tôi biết Hoài Bắc cũng không biết chỗ Mai Thảo ở như tôi, tôi cúi mặt trên mảnh giấy, đọc nhẩm lời xin Ðức Mẹ Maria ban ơn, làm cho thư tôi viết không gây ra việc Mai Thảo bị bắt. Rồi tôi viết:
“Hoài Bắc. Tao là HHT. Người ta biết chỗ Mai Thảo đang ở. Mày đến bảo MT đi chỗ khác gấp.”

Hoài Bắc không “mày tao” với tôi, tôi thấy anh cũng không “mày tao” với những người bạn thân của anh. Tôi cố ý viết “mày tao” với anh trong thư để anh nghi thư không phải do tôi viết. Tôi viết xong, Huỳnh Bá Thành còn bảo tôi:
“Anh vẽ bông hoa dưới chữ ký của anh.”

Cuối năm 1977 hay đầu năm 1978, một buổi trưa tôi đi làm việc về - “làm việc” là đi chịu thẩm vấn - Ðường Thiên Lý cũng đi làm việc về. Ðường Thiên Lý mới bị bắt. Anh đứng ở cửa Phòng Tập Thể 6, tôi đứng ở cửa Phòng Tập Thể 7, chúng tôi chờ cai tù đến mở cửa để vào phòng. Ðường Thiên Lý nói với tôi:
“Hoài Bắc, Mai Thảo… đi thoát hết rồi.”
Nghe tin, tôi nhẹ người.


MAI THẢO. Cali 1982

Những mùa thu vàng võ theo nhau qua. Tháng 11 năm 1994 vợ chồng tôi đến Virginia. Mai Thảo đang ở chơi Virginia. Tôi gặp lại Mai Thảo. Ðưa bàn tay lên, Mai Thảo nói:
“Bàn tay này của tao đã đẩy ba thằng bạn tao vào lò thiêu, tao còn thiết gì nữa.”
Ba người bạn của Mai Thảo là Thanh Nam, Vũ Khắc Khoan, Hoài Bắc.
Khi tôi đến Kỳ Hoa, Hòai Bắc đã qua đời. Tôi không thể hỏi anh chuyện năm xưa VC Hùynh Bá Thành có cho người đem đến anh cái thư hắn bắt tôi viết trong tù hay không.
Lễ Giáng Sinh năm 1994, Hồng Dương mời vợ chồng tôi sang chơi Cali. Tôi gặp lại Mai Thảo trong căn phòng nhỏ của anh ở sau Tiệm Ăn Song Long. Phòng anh có một giường một người nằm, bàn viết kê trước giường, một ghế.
Ðó là lần thứ hai và lần cuối cùng tôi g
p Mai Thảo ở Mỹ.

--------------
Mời quí vị đọc một trong những bài viết cuối cùng của Mai Thảo ở Sài Gòn.

Tháng 1-1975 một nhóm văn nghệ sĩ tổ chức một đêm Thơ Vũ Hòang Chương. Việc làm này là để lấy một khoản tiền giúp ông bà Thi bá. Ðêm Thơ được làm ở Trà Thất của Khánh Ly đường Tự Do.
VĂN Ngày 25 Tháng 1 Năm 1975.

Lời Tòa Sọan: Những dòng dưới đây của Mai Thảo kể lại một buổi họp mặt văn nghệ tại nhà Vũ Hoàng Chương, có lẽ là lần cuối cùng, mà chúng ta còn biết được trước khi miền Nam sụp đổ .

Mai Thảo: Cùng trở lại Út Viên biệt thự với Cung Tiến, Phan Lạc Phúc, Thái Tuấn, Hoài Bắc, Thanh Nam. Trao tận tay Vũ số tiền 600 ngàn đã trừ mọi phí khoản thu được về Ðêm Thơ ở Khánh Ly Trà Thất. Tóc Vũ như tóc Thằng Bờm, bờm hết mọi sợi. Chân cẳng Vũ, hai cái ống trúc, làm khẳng khiu cả một vùng cầu thang. Bàn ghế dẹp, theo yêu cầu. Chiếu trải trên nền phòng. Cảnh tượng tháo giầy cùng dăm thế ngồi dân tộc tính gợi không khí một họp mặt tiền chiến của đám thi sĩ Tiểu Thuyết Thứ Bảy đầu bù tóc rối.

Vũ nhận gói bạc, hơi ngỡ ngàng. Nhiều thế này. Cho cám ơn cả nhé. Ðoạn, chìa mấy tờ giấy:
“Ðây, cảm đề ít hàng Ðêm Thơ Tao.”

 Chúng tôi truyền tay nhau hai cái tứ tuyệt. Của chị Mộng Tuyết, giấy vàng ngà quý phái, nét chữ nhi nữ thanh nhã:
Thế kỷ lầm hay đã chẳng lầm
Mà nghe bốn bể vọng thanh âm
Duyên Thơ gợn sóng trên tơ Nhạc
Ðồng điệu hòa lên khúc Cẩm Tâm.

Của Vũ:
Thế kỷ đang còn một Góc thôi
Mà Duyên nhiều thế ư Hai mươi?
Ðêm Thơ quán Nhạc tình tri kỷ
Tận thế rồi men cũng chẳng vơi.

Rồi, trong hoàng hôn Tây Bắc Sài Gòn, sự quây quần chung quanh một bữa nhậu thanh đạm dọn trên mâm đồng. Chuyện mở vào Thơ, tất nhiên. Gọi về Thâm Tâm. Rủ Nguyễn Bính tới. Cho Xuân Diệu, Huy Cận, ngồi ghé một mép chiếu. Nhấp một ngụm rượu của thời bây giờ, thả ngược cái ngà ngà hậu sinh nơi mình, tới những Xứ Thơ, những Cõi Thơ đã tịch lặng, tôi vỡ nhẽ được một điều Thơ này là phải ở thật sâu và xa trong mịt mùng tịch mịch, những bài thơ bất hủ mới sáng chói tới cùng độ ánh sáng, trong suốt tới cùng độ trong suốt. Như cái hiện tượng một vật thể có phản chiếu, khi đã ở thật cao trên thượng tầng không khí, không còn bị khí quyển độc vẩn che lấp, vật thể đó mới cực điểm hào quang.

Nghe Vũ vừa đọc vừa dẫn giải một số hạt ngọc của Thơ nghìn cũ, tôi theo chân bạn, đẩy nhẹ cánh cửa Tịch Mịch, lọt được vào một cõi thơ Ðường nguy nga những hạc vàng. Ðứng lại, kính thành, trước từng bài thơ Ðường nâng đẩy tình, nghĩa, tri kỷ, bằng hữu lên thành khí phách trí thức và hoài bão một đời, thần giao cách cảm trong khoảnh khắc với những Giang Nam trăng nước, Tô Châu núi non, Ðộng Ðình dương liễu, bỗng thấy được, dầu rất đỗi mơ hồ, thế nào là trạng thái linh hiển của ngôn ngữ trác tuyệt. Phi phàm, hiển thánh, siêu việt. Chỉ có Thơ, ở những thăng hoa tột đỉnh, tất nhiên xứng đáng những danh xưng này. Và tài năng. Bất chấp mọi phán đoán, tài năng, một giá trị tương đối, hàm hồ, lại là cái đích thực, hiển nhiên nhất của mọi giá trị mặt đất. Lăn ra khỏi những lớp lớp từng từng giá trị hư ngụy và đầy ngờ vực khác, tài năng sáng chói, dù dưới nghìn thước sâu.

Ngưng trích bài viết của Mai Thảo.

--------------

CTHÐ: Chuyện xưa, nhắc lại chỉ thêm ngậm ngùi. Tôi viết bài này là để:
Kể chuyện năm 1975 bọn Bắc Cộng chiếm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Chúng bắt người Quốc Gia VNCH đi tù. Và tất cả những người Quốc Gia bị chúng bắt đi tù đều líu ríu xách bị đi tù. Có thể có người không chịu tuân lệnh trình diện đi Tù nhưng số người này quá ít, ít đến có thể nói là không có. Nhưng ít nhất, theo tôi biết, có một người bị bọn Công An Thành Hồ bắt mà trốn thoát. Người ấy là Nhà Văn Mai Thảo.

Ở Nga Xô những năm 1970 có một thiếu nữ đánh máy chữ những bản thảo tác phẩm của Nhà Văn Alexandre Solzhenitsyn. Vì tội đó người thiếu nữ bị bọn Mật Vụ Nga bắt giam. Cô chết trong tù.
Ở Sài Gòn có người đánh máy tác phẩm Ðồi Fanta của Duyên Anh. Người này bị bắt khi Duyên Anh đã vượt biên đi thóat. Ra tòa, người đánh máy bản thảo Ðồi Fanta – Duyên Anh viết năm 1982 ở Sài Gòn – bị án 5 năm tù.
Tôi không biết kể từ ngày bọn Cộng Sản cướp chính quyền trên thế giới có bọn Cộng nước nào kết án tử hình những tu sĩ Phật giáo hay không? Năm 1988, bọn Cộng Việt Nam đã kết án Tử Hình Tu sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát, và Tu sĩ Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương.
Ở Sài Gòn năm 1985 Nhạc sĩ Trịnh Hưng bị bọn Cộng kết án Tù Khổ Sai 8 năm vì bản nhạc ông làm trong có câu:
“Thành phố âm u, chúng bắt thầy tu đi tù.”

Năm 1986, trong sà-lim Trung Tâm Thẩn Vấn Số 4 Phan Ðăng Lưu, Nhà văn Dương Hùng Cường, bút hiệu Dê Húc Càn, ban đêm chết cứng trên sàn xi-măng vì tội viết bài “Nếu anh Trương Chi đẹp trai.”

Ở Sài Gòn năm 1988, cô Lý Thụy Ý, một nữ ký giả, bị án tù 5 năm khổ sai vì bài thơ cô làm trong có hai câu:
“Tôi giải phóng anh hay anh giải phóng tôi?”
“Tôi kiêu hãnh vì tôi là Ngụy.”

Tôi – CTHÐ – có bài thơ về Mai Thảo:
Giã Từ Hà Nội Ðêm còn nhớ?
Bẫy Ngầm ai biết chuyện bây giờ.
Buồn như Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật!
Về Ðỉnh Trời xem lại Chúc Thư.

Mai Thảo có bài thơ:
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao, khi đã nằm trong đất
Ðọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.

Một chiều nhớ Mai Thảo, tôi làm bốn câu:
Cuộc sống có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời.
Ngàn năm thân đã nằm trong đất
Ðọc ở sao trời chắc hiểu rồi!

Ði khỏi Hà Nội, Mai Thảo viết “Ðêm Giã Từ Hà Nội.”
Ði khỏi Sài Gòn, Mai Thảo không viết “Ðêm Vĩnh Biệt Sài Gòn.”

Về Đầu Trang Go down
pvc
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Đêm Vĩnh Biệt Sài Gòn - hoanghaithuy    Sun Jun 17, 2012 9:42 am

HHT nhắc tới "Đêm Giã Từ Hà Nôi". Post bài này của Mai Thảo để Bạn khỏi phải đi tìm nếu cũng muốn đọc coi MT viết những gì khi rời Hà nội. PVC.


Đêm Giã Từ Hà Nội
Mai Thảo


 
Phượng nhìn xuống vực thẳm. Hà Nội ở dưới ấy.
Từ chỗ anh đứng, Phượng nhìn sang bờ đường bên kia. Những tảng bóng tối đã đặc lại thành khối hình. Từng chiếc một, những hàng mái Hà Nội nhoà dần. Phượng nhìn lên những hàng mái cũ kỹ, đau yếu ấy, giữa một phút giây nhoè nhạt, anh cảm thấy chúng chứa đựng rất nhiều tâm sự, rất nhiều nỗi niềm. Những tâm sự câm lặng. Những nỗi niềm nghẹn uất. Của Hà Nội. Của anh nữa.

Dưới những hàng mái cong trũng, ngập đầy lá mùa kia, đang xảy ra những tâm trạng, những biến đổi gì mà ở bên này đường Phượng không đoán hiểu được. Hà Nội đang đổi màu. Đứng bên này bờ đường nhìn sang, Phượng bắt đầu tiếp nhận với một thứ cảm giác ớn lạnh, cách biệt, anh đã đứng trên một bờ vĩ tuyến mà nhìn về một vĩ tuyến bên kia. Bên ấy, có những hình ảnh chia cắt, đứt đoạn. Bên ấy, có những hình chiến luỹ, những hàng rào dây thép gai, những đoạn đường cấm, những vùng không người.
Phượng cũng không hiểu tại sao nữa. Giờ này anh còn là người của Hà Nội, thở nhịp thở của Hà Nội, đau niềm đau của Hà Nội, mà Hà Nội hình như đã ở bên kia.
Phượng nhìn xuống lòng đường. Trong bóng tối, mặt nhựa lầm lì không nói gì. Những hình cây đổ nghiêng trên những tấc đất đá câm nín. Bí mật dàn ra những bề phẳng, những đường dài như một dòng sông ngăn chia hai bờ, và Phượng đã đứng ở bên này mà nhìn sang một bờ bến bên kia. Bên kia có Hà Nội. Bên này có anh. Có tập thể. Có những bạn đường. Có một chuyến đi về Hà Nội.
Chung quanh chỗ Phượng đứng, những tảng bóng tối đã đọng lại trên bờ đường như những bờ hầm hố. Nhìn xuống, Phượng có cảm giác chơi vơi như đứng trên một tầng cao. Anh nhìn xuống vực thẳm. Hà Nội ở dưới ấy.
Anh nhớ đến Thu. Thu cũng còn ở dưới ấy, trong Hà Nội. Cái mái nhà cũ kỹ bên kia, chính là mái nhà Thu, lại cũng chính là ở bên ấy, Thu sẽ đến với anh, ở bên này. Từ một mái nhà của Hà Nội đêm nay, đến bờ đường anh đứng, chỉ có một đoạn ngắn, nhưng Phượng biết rằng đêm nay, nó chứa đựng tất cả ý nghĩa của một đoạn đời. Và Thu, Thu phải đặt cả đời Thu vào một chuyến đi, thì Thu mới vượt được đoạn đường ngắn ngủi ấy, và Thu mới sang được với anh. Như anh, như hàng nghìn hàng vạn con người Hà Nội đêm nay, Thu sẽ ở lại hay sẽ vượt lòng biên giới cũ. Giữa những phút giây Hà Nội đang rắn lạnh lại trong chuyển đổi chính thể đã bắt nguồn, đứng bên này đường, Phượng mới cảm thấy rằng ở bên kia Hà Nội, Thu đã ở thật xa anh. Cái cảm giác ớn lạnh mỗi khi anh đứng trước một dòng sông lại nổi lên. Con sông biên giới đêm nay lại hình như con sông Hồng chảy qua một bờ Hà Nội. Trong Phượng, sóng lòng của chuyển dịch chưa kịp nổi lên mà những ngọn sóng của dòng sông cũ đã nổi dậy. Âm thanh oà oà. Lòng đêm Hà Nội chứa đựng những tiếng đổ vỡ đang xô chen trong bóng tối đặc quánh.
Qua bóng tối, Phượng nhìn thấy những hình khối của Hà Nội bên kia: một cửa ô đoạ đầy. Một hàng mái cũ. Những lớp phố phường sa đoạ. Những ánh đèn nhạt tái trên những bờ tường câm đen. Bóng tối chính thể đổ xuống làm nghiêng ngả những sự kiện này.
Bên kia, Hà Nội vẫn đang lặng lẽ đổi màu. Người Hà Nội dựng cửa tắt đèn để mà đổi thay trong bóng tối. Phượng thấy thương Hà Nội. Thương những người Hà Nội. Những người còn ở lại dưới những hàng mái cũ kỹ kia vì những vướng bận đau khổ.

Đêm khuya dần. Từ một cửa ô, Hà Nội bắt đầu ngây ngất dấy lên những ngọn gió núi rừng thổi về. Gió rừng hoang về qua cửa ô, đi thẳng vào tâm can của người Hà Nội. Ngọn gió tiền phong này đến trước chính thể, đang lọt dần qua cửa ô Yên Phụ, Kim Liên như một điển hình của hoang lạnh rộng lớn. Cả Hà Nội run lên, tê đi. Trước phút bỏ đi mà Phượng cũng như giá buốt cả cơ thể. Hà Nội đã bắt đầu đón nhận ấn tượng. Ngày mai, Phượng ở miền Nam rồi, Hà Nội sẽ phải còn đón nhận những sự kiện, những con người bên ngoài. Sau ấn tượng hoang vắng đêm nay, sẽ là sự thật tàn nhẫn ngày mai. Nhưng chỉ đón nhận ấn tượng, Phượng cũng đủ thấy Hà Nội không còn gì. Hà Nội chỉ còn là một thứ thuộc về bên kia. Hà Nội chỉ còn là một thứ thuộc về bên kia. Bên kia như Đêm. Như Bóng tối. Như Sa đoạ. Như Tù đày.

Trên đầu Phượng, những ngọn lửa nhìn xuống. Ấy là những con mắt đau yếu của một Hà Nội không ngủ. Những ánh lửa tròn, nhợt nhạt, bé nhỏ, bị giam chặt giữa bóng tối. Phượng nghĩ đến những vì sao xa xôi đứng chết ở một góc trời cũ. Hệ thống ánh sáng Hà Nội đã hết bay múa. Bóng tối dềnh lên những đường lung linh. Từng điểm lửa gục đổ. Đêm nay, Phượng chỉ còn mong chúng có đủ ánh sáng để soi đường cho Thu đến được với anh. Phượng chỉ còn mong có thế thôi. Vì anh biết ngày mai những điểm lửa ấy sẽ không sáng nữa. Hà Nội sẽ không sáng nữa.
Buổi chiều, hồi năm giờ, gặp Thu ở cuối nhà Thuỷ Tạ, anh đã nhắc Thu đến một ngả đường. Đúng hơn đến một chuyến đi. Anh lại nhắc cả Thu đến một hạn định: Hôm nay là ngày cuối cùng người ta được tự do rời khởi Hà Nội.
Phượng bảo người yêu: “Hôm nay đã là ngày chót rồi, Thu ạ! Mười hai giờ đêm nay, chuyến xe cuối cùng sẽ đi qua cầu Long Biên. Anh sẽ đi chuyến ấy. Việc lớn việc nhỏ, anh đã thu xếp tạm yên cả rồi. Chưa yên hẳn, nhưng cũng đành vất bỏ hết. Việc đi khỏi Hà Nội trước hạn định cần hơn. Anh sẽ đến đợi em ở đầu phố tối hôm nay. Chúng mình sẽ cùng vào trong Nam”.
Phượng nói vắn gọn có thế. Bao nhiêu lần gặp trước, kể từ ngày có hiệp định chia đôi, anh và Thu đã bàn với nhau nhiều. Bàn đi bàn lại, nhưng vẫn chưa ngã ngũ ra sao cả. Vấn đề chỉ mới giải quyết xong về phần anh thôi. Trước sự lựa chọn một thái độ và trước những mưu toan xây dựng một cuộc sống tay đôi ở bên kia vĩ tuyến của hai con người cùng gắn bó đến những cái cao đẹp của đời sống, những gió bão của chiến thời ở đây lại có thêm những thảm trạng của đất nước bị chia rẽ. Sự ngăn chia đến cả từng cuộc đời. Đất nước ngăn cách làm hai miền, thì những cuộc đời cũng chia về hai phía. Như đêm và ngày. Bên này, bên kia. Biên giới oán thù dựng lên ở giữa.
Cho đến nay, Thu vẫn chưa quyết định. Thời hạn được ấn định cho di chuyển trong khu vực Hà Nội cứ vợi mãi trong phân vân lưỡng lự của người thiếu nữ. Phượng cũng hiểu cho người yêu. Anh khác, Thu khác. Cuộc sống mấy năm gần đây của anh trong Hà Nội cứ an định một chỗ, chỉ một ngụm gió nổi lên là cũng đủ đưa anh ra ngoài cửa ô. Di chuyển là một cần thiết cho đời sống của Phượng trong ngày cũ, bây giờ lại là một hành động của tự do. Cứu cánh của người Hà Nội hôm nay nằm trong sự thoát khỏi phố phường cũ.
Nhưng Thu, Thu chỉ là một người đàn bà. Vây quanh lấy đời Thu, Phượng cũng đoán thấy không biết cơ man nào là những sợi dây nối kết cuộc đời của Thu với Hà Nội. Như lúa với đất. Đi khỏi được, ít ra Thu cũng phải cắt đứt được bằng hết những sợi dây ấy. Chúng là những rễ lớn rễ con đã bám chặt lấy đời Thu từ tuổi thơ. Trên mái tóc suối chảy của người thiếu nữ, bóng dáng một mái nhà cổ kính đổ xuống. Những nếp nhăn trên trán người mẹ. Những sợi tóc bạc trắng của người cha. Đi thoát được mái nhà cũ, hành động của Thu sẽ là một hành động quyết liệt. Nó đòi hỏi nhiều đau khổ, nhiều mất mát. Lòng người vẫn phải rách nát vì những đau khổ, những mất mát ấy.
Phượng biết thế, nên người anh hùng cũng không giục giã người yêu. Mặt khác, anh muốn rằng trước thử thách này, Thu sẽ hành động, sẽ quyết định một mình. Như một con người tự do hành động và quyết định. Phượng vẫn thường có quan niệm rằng chính kiến của con người như một thứ hướng đi, tuỳ theo sự lựa chọn chân trời riêng. Đối với Phượng trái đất này có hàng triệu ngả đường thì con người cũng có hàng triệu hướng đi, trên đó đua nở những hoa cỏ cùng là rung động những tình cảm của người trước cuộc sống. Thảy đều mênh mộng, không bến bờ. Nhẹ thoáng như không khí. Bay múa như nắng.
Nếu không, thì trái đất không còn là trái đất nữa. Con người không còn là con người nữa.
Mấy ngày gần đây, Hà Nội của Phượng đã hết nắng. Hà Nội đã thiếu không khí, thiếu hơi thở. Bên kia tả ngạn Hồng Hà, bên này năm cửa ô, ngay trong nội tâm Hà Nội, những sự kiện mới mai đây sẽ về ngự trị trên Hà Nội đã như những tảng bóng tối mịt mùng dâng lên. Bóng núi bóng rừng chấp chới. Tim phổi người choáng váng, rức buốt. Những mạch đời ngừng nghỉ. Những màu sắc lộng lẫy nhất cũng nhạt tái lần lần.
Trên những sân ga, bến tàu, từ những trạm hẹn, những con người có sẵn thái độ như Phượng đã hướng vào chuyến đi. Những cuộc đời như đời Thu, rách nát vì mâu thuẫn, giờ phút này đang trải qua một cuộc tranh đấu quyết liệt với bản thân. Chúng là những miền còn tranh tối tranh sáng. Sau hết, là những người ở lại. Ở lại với Hà Nội. Vì hoàn cảnh vướng bận.
Chưa bao giờ Phượng lại cảm thấy Hà Nội chứa đựng nhiều khía cạnh, nhiều thời gian tính đến thế. Đứng trước cuộc đổi đời, Phượng va chạm với những con người đang lựa chọn để nắm lại trong dĩ vãng hay đi vào tương lai. Từ một bản hiệp định chia đôi, chói lên những phút giấy thử lửa. Thái độ của từng người phân định dần mãi. Như thế cũng hay. Lại hơn. Đằng nào cũng một lần.
Từ ngày Hà Nội thay đổi sắc thái, Phượng thấy cái việc giã từ Hà Nội của anh không đến nỗi sầu thảm như anh tưởng. Nhìn sang một lớp sự kiện còn nằm lại bên kia, đêm nay, Phượng, trong một cảm thông cụ thể, như đã sờ mó thấy trên đầu ngón tay cái lành khoẻ rộng lớn của một khối đời anh sẽ dựng lên sau chuyến đi. Dựng lên bằng niềm tin. Trong tập thể. Niềm tin này, riêng đêm nay, đã đốt cháy được hộ Phượng những sợi dây gắn bó với đời cũ. Với bên kia. Với Hà Nội. Theo anh, Hà Nội cũng không còn gì. Những người như anh lên đường đã mang theo Hà Nội vào chuyến đi.
Thanh toán cho xong được những chua xót lúc đầu, lòng người đi vậy là đã ổn định.
Duy có một vấn đề là Thu. Đối với Phượng, Thu đi hay Thu ở lại, việc ấy đã ra ngoài cái lãnh vực thường rất bé mọn của tình cảm. Anh yêu Thu, qua những rung cảm của tình yêu, còn có những nỗi niềm hết sức bao la, hết sức sâu nặng của con người anh gửi đến một người bạn cùng đường. Thêm Thu tập thể thêm đông, và đời Phượng cũng vui thêm trong xây dựng.

Chiều xuống dần. Hai người yên lặng bước đi. Buổi chiều cuối cùng ở lại Hà Nội, Phượng chỉ còn tìm thấy ở Thu một sự kiện lành mạnh gần gụi, khi mà tất cả những sự kiện khác đã sa đoạ, đã đổi màu.
Anh nhìn Thu: Mái tóc dài chảy xuống một bờ vai gầy. Hàng mi nghiêng nghiêng. Và con mắt sâu đen của Thu thì nhíu lại trong suy nghĩ. Phượng nhìn lâu lâu vào đôi mắt ấy, tận trong, đôi mắt u uẩn hình như đang thăm dò một ngả đường, trong đêm tối. Anh không biết Thu đang nghĩ ngợi gì. Nhưng anh đoán Thu đang đau khổ nhiều. Trong nội tâm người thiếu nữ cũng đang có những sự kiện vừa nằm xuống, vừa chìm lặn, cùng một lúc với những sự kiện đang đi lên, đang sinh thành. Bóng tối và ánh sáng chấp chới trên những mâu thuẫn chưa ổn định. Trong Thu đã có một ngả đường? Cháy một niềm tin? Đường mũi dài, đôi môi trang nghiêm của Thu in lên một nền nhờ xanh của sương mù, của buổi chiều. Bên kia, thấp thoáng những hàng cây, những mái nhà Hà Nội.
Một lát yên lặng. Phượng châm một điếu thuốc.
Thu nói với anh: “Em thì em cũng định đi rồi. Một phần vì Hà Nội. Cơ sự đã xảy ra thế này, cũng chẳng ở được nữa. Một phần vì em không muốn xa anh. Xa nhau, biết đến bao giờ mới gặp lại? Em sợ thay đổi lắm. Nhưng anh cũng biết, còn gia đình em đấy! Thầy me em già rồi. Me em đang đau nặng. Thầy em thì chỉ biết có lũ chậu hoa cây cảnh. Hồi này ông cụ chán đời cứ thở dài suốt ngày”.
Phượng hỏi Thu:
“Thầy me không bằng lòng cho Thu đi ư?”
“Không, thầy me em bằng lòng. Chính vì thế mà em phân vân. Anh hiểu cho em chứ?”
Phượng cúi đầu không nói gì. Hai người lại yên lặng bước đi. Phượng nhìn đồng hồ. 7 giờ 35. Anh bảo bạn:
“Thôi, anh đưa Thu về. Đêm nay, trên đường tới trạm di chuyển, anh sẽ đi qua nhà em. Em về nhà nghĩ lại đi. Cố thu xếp xem có được không?”
Thu đáp, tiếng nói bé nhỏ:
“Vâng, em sẽ cố gắng thu xếp. Dù sao, anh cũng đến, anh nhé!”
Hai người chia tay. Và Phượng, đúng 11 giờ đêm, đã xách va ly đến đợi Thu ở đây, bên này đường. Bên kia là Hà Nội.

Đêm Hà Nội càng về khuya càng lạnh buốt. Mặt nhựa loáng ướt. Những ánh đèn lu xanh một màu xanh hoang vắng trong sương. Trước mắt Phượng con đường Trần Nhật Duật chạy dài, một đầu phố nhạt nhoà mất hút về phía chân cầu Long Biên. Vắt qua lòng sông Hồng, những ánh lửa nơi chân cầu đổ về một hướng Gia Lâm. Gia Lâm, Phượng nghĩ đến những vùng cỏ tối bên ấy, nơi phi trường. Lát nữa anh sẽ vượt Hồng Hà, tới phi trường và ở đó, anh sẽ giã từ Hà Nội.
Lòng Phượng lắng đọng lại trong suy tưởng, trong đợi chờ. Những ý nghĩ nhẹ thoáng nhất cũng đều có những sắc thái rất mênh mông. Nhãn giới Phượng bắt gặp những hình khối của Hà Nội đang ngược đường về trong dĩ vãng, và lòng Phượng thì đã thơm rồi, những nhành hoa của xây dựng trên luống đất tương lai. Ngày mai, anh đi khỏi, tập thể xa rồi, Hà Nội sẽ ra sao? Những con người ở lại Hà Nội sẽ ra sao? Trong đêm giã từ, ba mươi sáu phố phường đi dần vào những tầng lớp của ký ức. Nhìn Hà Nội, Phượng bỗng liên tưởng tới những thành phố khác của thế giới, của thời đại. Hán Thành, Bá Linh. Những thủ đô đổ nát vì chiến tranh, bây giờ lại chứa đựng những ấn tượng buồn thảm của chia cách, hờn oán. Bên này, bên kia. Giã từ Hà Nội. Những con người cúi đầu. Một khung cửa đen câm. Những ngả đường ngoại thành hoang vắng. Những hàng mái đau yếu. Thu, Thu của anh.
Đứng một mình trong đêm dài, trước một Hà Nội ngủ thiếp, Phượng nghĩ đến những người bạn đường đã vượt Hồng Hà, đã bỏ Hà Nội, bỏ đất Bắc trước anh, vượt vĩ tuyến về tiếp tục cuộc đấu tranh cho tự do, cho con người, trên phần đất nước còn lại. Anh biết rằng thời đại, trong ngày tới sẽ nối kết con người bằng một ý niệm một hệ thống tự do. Tâm trạng của Phượng đêm nay cũng là tâm trạng của một người thợ máy Đức, một người dân cầy Triều Tiên, đang ngày đêm vượt khỏi những vĩ tuyến tù đày để tìm một hướng đi, một chân trời có không khí và ánh sáng. Năng lực đấu tranh của con người nằm trong những cạnh khía bay múa ấy.
Cái ý nghĩ cuối cùng của Phượng, gửi đến Thu. Anh nhìn sang bên kia đường. Vẫn không thấy gì. Có lẽ Thu đã ở lại. Phượng nhìn đồng hồ: Chiếc kim dạ quang chỉ đúng mười hai giờ đêm. Phượng cúi xuống nhấc va ly, bước đi.
Sau lưng anh, bống có tiếng gọi nhỏ: “Anh!”.
Phượng quay lại. Đôi mắt anh sáng lên trong tối. Từ bên kia bờ đường, từ bên kia Hà Nội, một bóng người bé nhỏ đang vượt lòng đường đi sang anh. Thu. Bóng Thu xiêu xiêu vội vã. Một thoáng, Thu đã đứng bên cạnh anh. Đôi mắt Thu còn ngấn lệ. Phượng đỡ lấy va ly Thu.
Tiếng Thu vang lên trong đêm Hà Nội:
“Em được đi rồi. Cả thầy me cũng đi nhưng đi sau.
Và kéo tay Phượng.
“Chúng mình đi đi thôi anh ạ!
Phượng mỉm cười nhìn Thu. Giọt nước mắt của người lên đường nhập vào hàng ngũ của tập thể, của di chuyển, Phượng biết là một giọt nước mắt của tin tưởng. Sự đấu tranh cho tự do khởi thuỷ ngay cả ở chỗ ấy, nơi con người phải đấu tranh quyết liệt với chính mình, chịu đựng những mất mát, lìa bỏ ruộng đất, phố phường, để đến những miền tự do. Sau Thu, rồi còn hàng ngàn người như Thu, cũng chiến thắng được hoàn cảnh, cũng sẽ lên đường. Để bảo vệ một niềm tin. Để bảo vệ con người. Tất cả, họ sẽ trở về.
Phượng đưa Thu đi. Những ánh đèn xanh biếc của Hà Nội nghiêng theo những bước chân bắt đầu dời khỏi Hà Nội.

Bóng Phượng, bóng Thu nhoà dần. Rồi mất hẳn. Họ đã đi vào Tương Lai.

_
Về Đầu Trang Go down
 
Đêm Vĩnh Biệt Sài Gòn - hoanghaithuy
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Chính Trị-
Chuyển đến