Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
nguoi nguyen cuoc nhung huyen Ngày thuy trai thang lang thanh cong PHAT pham quan nghe viet rang nghia ngoc Thầy HUNG sinh mien phung tien
Latest topics
March 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Thơ Nguyễn Tất Nhiên

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Thơ Nguyễn Tất Nhiên    Thu Jun 21, 2012 11:53 am


Ðọc Thơ Nguyễn Tất Nhiên


Vĩnh Hảo   



Nguyễn Tất Nhiên qua nét vẽ của Họa sĩ Đinh Cường

Anh nổi tiếng rất sớm. Vì thơ anh đi sớm hơn bước chân còn ngại ngùng bỡ ngỡ của thế hệ trẻ thời ấy trước sự tràn ngập của văn hóa phương Tây, qua hình ảnh người lính viễn chinh Mỹ, và qua phong trào hiện sinh mô phỏng trễ tràng trên đất nước đói nghèo, chiến tranh. Anh mạnh dạn nói được tiếng nói của tình yêu tuổi trẻ với sân trường, kỳ thi, chiến tranh, mất mát, hoài vọng, tuyệt vọng... Chẳng phải sớm gì trong thể loại thơ, mà sớm trong phong cách biểu hiện. Anh dùng thứ ngôn ngữ của thời đại, rất hiện thực, không đẽo gọt; vậy mà thứ ngôn ngữ ấy bỗng nhiên mới, lạ, và được đón nhận nồng nhiệt. Bắt được giọng thơ tươi rói và đầy sức thu hút của anh, một nhạc sĩ tài danh phổ ngay thơ của anh thành nhạc, làm rung động bao trái tim cuồng nhiệt yêu đương thời chiến loạn. Vậy rồi thơ anh cất lên thành cơn sóng lớn, vượt bờ. Không ai mà chẳng biết thơ anh, không ai mà không hát nhạc phổ thơ của anh.
Hãy đọc một số bài thơ nổi tiếng được phổ nhạc mà ai cũng biết; và nên nhớ rằng lúc ấy, Nguyễn Tất Nhiên chỉ mới xấp xỉ ở tuổi hai mươi, để thấy cái tài hoa dị thường của anh:
 
Khúc Buồn Tình

1.
Người từ trăm năm
về ngang sông rộng
ta ngoắc mòn tay
... trùng trùng gió lộng
(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)
 
người từ trăm năm
về khơi tình động
ta chạy vòng vòng
ta chạy mòn chân
nào hay đời cạn!
(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)
 
người từ trăm năm
về như dao nhọn
ngọt ngào vết đâm
ta chết âm thầm
máu chưa kịp đổ
(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)
 
2.
thà như giọt mưa
gieo xuống mặt người
vỡ tan vỡ tan
nào ta ân hận
bởi còn kịp nghe
nhịp run vồi vội
trên ngọn lông măng
(người từ trăm năm
vì ta, phải khổ!)
(1970)
 
Trong tình yêu, thơ anh táo bạo vay mượn những hình ảnh thánh thiện để ví von mình, ví von người tình. Có thể nói lối vay mượn này là bước khai phá có một không ai của anh vào thời ấy, khiến thơ anh càng thêm phần đặc dị, ngời sáng, mà lại gần gũi biết bao với tâm tình giới trẻ.
 
Ma Sœur

đưa em về dưới mưa
nói năng chi cũng thừa
phất phơ đời sương gió
hồn mình gần nhau chưa?
 
tay ta từng ngón tay
vuốt lưng em tóc dài
những trưa ngồi quán vắng
chia nhau tình-phôi-thai
xa nhau mà không hay
(hỡi em cười vô tội
đeo thánh giá huy hoàng
hỡi ta nhiều sám hối
tính nết vẫn hoang đàng!)
 
em hiền như "ma sœur"
vết thương ta bốn mùa
trái tim ta làm mủ
"ma sœur" này "ma sœur"!
có dịu dàng ánh mắt?
có êm đềm cánh môi?
ru ta -- người bệnh hoạn
ru ta suốt cuộc đời
(cuộc đời tên vô đạo
vết thương hành liệt tim!)
 
đưa em về dưới mưa
xe lăn đều lên dốc
chở tình nhau mệt nhọc!
 
đưa em về dưới mưa
áo dài sầu hai vạt
khi chấm bùn lưa thưa...
 
đưa em về dưới mưa
hỡi em còn nít nhỏ
chuyện tình nào không xưa?
 
vai em tròn dưới mưa
ướt bao nhiêu cũng vừa
cũng chưa hơn tình rụng
thấm linh hồn "ma sœur"...
(1971)
 
Linh Mục

1.
dĩ vãng là địa ngục
giam hãm đời muôn năm
tôi -- người yêu dĩ vãng
nên sống gần Sa-tăng
ngày kia nghe lời quỷ
giáng thế thêm một lần
trong kiếp người linh mục
xao gầy cơn điên trăng!
 
2.
vì tôi là linh mục
không mặc áo nhà giòng
nên suốt đời hiu quạnh
nên suốt đời lang thang!
 
vì tôi là linh mục
giảng lời tình nhân gian
nên không có thánh kinh
nên không có bổn đạo
nên không có giáo đường
(một tín đồ duy nhất
vừa thiêu hủy lầu chuông!)
 
vì tôi là linh mục
phổ lời tình nhân gian
thành câu thơ buồn bã
nên hạnh phúc đâu còn
nên người tình duy nhất
vừa thiêu hủy lầu chuông!
 
vì tôi là linh mục
không biết mặt thánh thần
nên tín đồ duy nhất
cũng là đấng quyền năng!
 
3.
tín đồ là người tình
người tình là ác quỷ
ác quỷ là quyền năng
quyền năng là tín đồ
tín đồ là người tình
thiêu hủy lầu chuông tôi
(vì tôi là linh mục
giảng lời tình nhân gian!)
 
4.
vì tôi là linh mục
không biết rửa tội người
nên âm thầm lúc chết
tội mình còn thâm vai...
(1970)
 
Ðụng chạm, lôi kéo những biểu tượng linh thiêng, đưa vào thơ và đưa vào tình yêu đời thường. Vậy mà anh chẳng làm mất lòng ai. Người ta vẫn cứ thích thú ca hát lời thơ của anh:
 
Hai năm tình lận đận

1.
hai năm tình lận đận
hai đứa cùng xanh xao
mùa đông, hai đứa lạnh
hơi thở dài như nhau (?)
 
hai năm tình lận đận
hai đứa cùng hư hao
(em không còn thắt bính
nuôi dưỡng thời ngây thơ
anh không còn luýnh quýnh
giữa sân trường trao thư!)
 
hai năm tình lận đận
hai đứa đành xa nhau
em vẫn còn mắt biếc
anh vẫn còn nôn nao
ngoài đường em bước chậm
trong quán chiều anh ngóng cổ cao...
 
2.
em bây giờ, có lẽ
toan tính chuyện lọc lừa
anh bây giờ, có lẽ
xin làm người-tình-thua
chuông nhà thờ đổ mệt
tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ, có lẽ
rơi xuống trần gian, mưa
(dù sao thì Chúa cũng
một thời làm trai tơ
dù sao thì Chúa cũng
là đàn ông... dại khờ!)
 
anh bây giờ, có lẽ
thiết tha hơn tín đồ
nguyện làm cây thánh giá
trên chót đỉnh nhà thờ
cô đơn nhìn bụi bặm
làm phân bón rêu xanh
(dù sao cây thánh giá
cũng được người nhân danh!)
 
3.
hai năm tình lận đận
em đã già hơn xưa!...
(1972)
 
Anh thoát ra khỏi những hình ảnh và ngôn ngữ thơ chắt lọc, sang cả quí phái của nền thơ truyền thống. Thơ anh, không cứ là trăng là gió, là bến nước, bờ mây, tóc thề và áo dài bay tha thướt, mái tranh, cây đa hay gốc chuối... (như thể là người thơ cứ suốt đời ở nhà quê, cảnh cũ!) mà thay vào đó là những hình ảnh rất thực của thị thành với "tóc demi garçon", tóc bính, cột điện, với xe đạp, cà phê, cà phê đá, rạp cải lương, nhà ga và toa tàu, mùa thi với văn bằng... Tự ví mình như là một gã ngông cuồng, là người phá phách, là người vô đạo, là sa-tăng ác quỷ... nhưng trên thực tế thì anh rất hiền, và trong tình yêu, thường là người thua cuộc, hoặc tự nguyện chịu thua cuộc. Trách người chỉ là trách nhẹ nhàng. Còn lại là trách mình.
Thơ tình của anh vì vậy mà phổ cập, mà thành của chung. Ai đọc cũng thấy, cũng nghe được nhân dáng và kinh nghiệm của chính mình trong ấy. Từ thứ tình yêu reo vui, nhảy múa theo nhịp chân của "cô Bắc-kỳ nho nhỏ" cho đến tình yêu của người tuyệt vọng... anh nói thay mọi người bằng thánh ca của tình yêu.
Nhưng đặc biệt là lúc khổ đau vì tình, thơ anh chùng xuống, gãy đổ, nát tan... và quả là anh đã đi thật sớm, trước thế hệ của anh, trong sự cảm nhận cũng như lối biểu đạt về tình yêu:
 
Thiên thu

sao thiên thu không là xa nhau?
nên mưa xưa còn giăng ngang hồn sầu
tôi đứng như cây cột đèn gẫy gập
và một con đường cúp điện rất lâu!
 
sao thiên thu không là chôn sâu?
nên nắng xưa còn hanh mái tóc nhầu
tôi đứng như xe tang ngừng ngập
và một họ hàng khăn trắng buồn đau!
 
sao thiên thu không là đường chim?
nên mây năm xưa còn trên tay phiền
tôi đứng như tường vôi luống tuổi
và những tàng xanh chùm gởi quê hèn!
 
sao thiên thu không là lãng quên?
nên tình xưa còn cháy âm thầm
tôi đứng như căn nhà nám lửa
và những người thân trốn chạy vội vàng!
 
sao thiên thu không là sương tan?
nên mặt trời xưa còn gượng huy hoàng
tôi đứng như dòng sông yên lặng
và những cánh buồm kiệt sức lang thang!
 
sao thiên thu không là thiên thu?
nên những người yêu là những ngôi mồ
tôi đứng một mình trong nghĩa địa
và chắc không đành quên khổ đau!
(1970)
 
Trong thơ lục bát, anh vẫn theo vần nhịp cũ nhưng lối diễn đạt rất là thảnh thơi, thoải mái, tự nhiên như nói chuyện. Ðây, vần lục bát của hơn 30 năm trước:
 
Nên thời gian ấy ngùi trông
giọt mưa xanh mấy tuổi nàng
tôi nghe lá rụng như vàng áo xưa
 
hơi tàn tro ấm lần đưa
ba năm khơi lại cũng vừa đủ đau!
 
sớm, trưa, chiều, tối, ra, vào
người chưa yên nỗi thầm xao xác lòng
nên thời gian ấy ngùi trông
khô như hạt bụi trưa ngừng ngập bay...
 
ba năm vuốt sợi tình dài
ừ, tôi còn vụng ngón-tay-dậy-thì
thuở nào sầu đã lâm ly
giờ thêm già héo (nhiều khi hận thù!)
 
lửa đom đóm mỏi mòn, lu
nhưng tôi cứ buồn vi vu thổi hoài
 
mưa thì mưa thả phai phai
rồi sau đó sẽ một vài tang thương
bởi quen cầm lược soi gương
biết ai ôm gối mộng thường lâu chăng?
 
giọt mưa xanh mấy tuổi nàng
tôi nghe lá rụng như vàng áo xưa...
(1970)
 
Hôm nay

khi không tình não nùng buồn
gót chân ai bỏ con đường nhớ nhung
gót chân ai nhẹ vô cùng
dẫm lên xác-lá-tôi từng tiếng kêu
gót chân ai bước, nhẹ hều
bước qua tôi, bước, hư nhiều thói quen!
 
khi không tình não nùng buồn
nhớ hôm qua vẫy tay ngừng ngập xa
tóc ai ngắn ngắn, như là
suốt đời chưa chịu thiệt thà chấm vai
suốt đời khét nắng rong chơi
kể như hơi hướm bàn tay tôi, thừa!
 
mừng em sớm biết lọc lừa
biết ngây thơ giả -- biết đùa với đau!
 
biệt ly dù ở ga nào
cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên...
(1974)
 
Ðó là Nguyễn Tất Nhiên của tuổi hai mươi, với TÌNH qua tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên; và bây giờ hãy đọc Nguyễn Tất Nhiên với TÂM qua Tâm Dung. Tập trước được xuất bản năm 1980 (gom lại những bài thơ cũ trước năm 1975 và một số ít cuối thập niên 70) khi anh mới vượt biên ra hải ngoại; tập sau được xuất bản 9 năm sau đó. Tựa tập thơ là Tâm Dung, bao gồm nhiều bài thơ bắt đầu bằng chữ TÂM (như Tâm khai, Tâm sân, Tâm hoa, Tâm xuân, Tâm hồng, Tâm hương, Tâm mưa, Tâm sương, Tâm ca, Tâm cảm...) được chính tác giả mở đầu bằng một đoạn rất thâm trầm về tư tưởng Phật giáo, khiến người đọc có cảm tưởng là sẽ được đọc một tác phẩm về Thiền vậy:
"Dung, theo nghĩa dung chứa.
Năm lần Phật chỉ cho ngài A Nan, tâm là cái thấy.
Lấy cái thấy phân biệt để chỉ cái thấy vô phân biệt, lấy cái tâm vọng để chỉ cái tâm chơn, lấy ngón tay phàm phu để dụ như ngón tay Phật chỉ trăng. Kẻ trèo đèo này chỉ mong góp một cỏn con Phật sự, vọng động chăng?
Chỉ mong quí thiện hữu niệm tình: vọng mà biết mình vọng, còn hơn không."
Nguyễn Tất Nhiên
(Westminster, Ca. ngày 12/01/89)
 
Nhưng không. Dù mào đầu như thế, dù chọn lựa chủ đề và tựa đề như thế, thơ anh vẫn cứ là thơ, không phải là tập giáo nghĩa khô khan, cứng nhắc. Chỉ khác là anh đã chững chạc hơn (dĩ nhiên!), bớt bông đùa hơn, và trải đều lên những trang thơ là cõi lòng bát ngát của anh.
 
Tâm nguyệt


từ gót sen hài em hút dấu
sầu tôi như lá thẫn thờ bay
ví dù lá ngập đường em bước
lá cũng xin đừng bận gót ai...
 
từ mắt chia lòng sông cách núi
sầu tôi như bụi khắp không gian
ví dù bụi ố hoen màu trắng
bụi cũng xin đừng vương mắt xanh...
 
từ tóc bay xuôi dòng quá khứ
sầu tôi như bóng lặng lờ trôi
ví dù bóng đẳng đeo tròn kiếp
bóng cũng xin dòng tóc thảnh thơi...
 
từ hơi thở của không gian khác
sầu tôi như lịch nhẩn nha rơi
mỗi ngày thiên hạ hồn nhiên xé
lịch mới, như tờ-thương-nhớ-tôi!
 
từ hoa môi của bình minh khác
núi đồi vắng cả tiếng thông reo
chim thôi cười chúc mừng hoa lá
thành-phố-tôi già ho động cơ
 
từ vỡ, lành trăng lồng bóng nước
từ em là nguyệt lộng đời sông
từ tôi là một dòng tâm nguyệt
sông có trăng cười sông xóa trăng...
(06/01/1989)
 
Tâm duyên

1.
mùa hè anh lên núi
thấy tóc em lành nhiên
cười theo chiều, gió tối
trời đi vào giấc yên
cho sự sống duyên hiền
từng búp hoa huệ nhỏ
cho sự sống hương êm
từng thoảng hoa huệ thở
sự sống trắng tinh im
từng nụ quan-âm nở
im lặng là xin dâng
tặng đời bông hoa nữa...
 
mùa hạ anh ra đường
thấy mới tinh tất cả
thấy nắng nôi dịu dàng
đang vuốt ve cây cỏ
thấy cây cỏ dễ thương
đang làm duyên, tóc xõa
thấy lửa trời nung ngon
chín bòn bon sự sống
thấy sự sống nhịp nhàng
theo đỏ, vàng, xanh, đỏ...
thấy phố xá từ tâm
đèn cười hoa ba đóa...
(17/01/89)
 
Rõ ràng là anh đã học ở đâu, từ những vật vô tri, từ người tình, từ cuộc đời, từ nỗi buồn đau, từ cơn thất chí, từ niềm tuyệt vọng, từ cơn bệnh tưởng, từ một nền đạo lý hun đúc tâm anh, hay từ tất cả những thứ trên: đức khiêm nhẫn và lòng tha thứ, chịu đựng vô cùng:
 
Tịnh khúc

buồn ơi...
tôi bỏ tôi chìm đắm
trong tiếng làm thinh của ghế bàn
ghế bàn không sẻ chia sầu thảm
nhưng biết làm thinh lặng cảm thông
bàn ghế đâu như người vui nhảm
tọc mạch đời nhau để miệng mồm
buồn ơi, tôi muốn như bàn ghế
chịu đựng đời không biết thở than!
 
buồn ơi...
tôi bỏ tôi tàn tạ
lạy đời xin một bận ngó lơ
lần té nặng này tôi muốn giữ
cho tim đừng hối hận trèo cao
lần té nặng này tôi muốn sống
buồn ơi, đừng giết chết tình nhau
buồn ơi, tôi muốn hôn đời sống
dù môi nhầu nứt nẻ thương đau!
 
buồn ơi...
tôi bỏ tôi ngây dại
có phải thu-bồn chở tóc ai
có phải lần run tay vuốt đại
là lần đời biết thứ tha tôi
có phải lần xin tay nắm... đại
là lần té gập dưới bàn tay?
buồn ơi, tôi muốn dâng đời sống
một đóa hồng đau đớn tuyệt vời!
 
buồn ơi...
tôi bỏ tôi rời rã
bất lực làm sao trước cuộc đời
ừ nhỉ, trước giờ tôi chiến đấu
cho niềm bất lực buổi hôm nay!
ừ nhỉ, bây giờ tôi mới biết
ghế bàn nên kính trọng như thầy
bàn ghế dạy tôi điều nhẫn nhục
dạy tôi bình thản thứ tha đời
bàn ghế có bao giờ bất lực
có bao giờ biết đợi trông chi
buồn ơi, tôi muốn như bàn ghế
thương đời như thể bỉ khinh thôi!
 
buồn ơi...
tôi bỏ tôi gần chết
tay đời bít lối chẳng ngưng tay
u đầu sứt trán lao vào vách
tội tình tôi sao nặng thế này?
 
buồn ơi...
trong đám đông tàn nhẫn
một người chứng kiến đủ cho tôi
nhờ ai, tôi đã thành tâm nhẫn nhờ ai,
tôi phục dưới chân đời
buồn ơi, tôi muốn như dòng lệ
cay đời như kẻ thích ăn cay!
 
buồn ơi...
tôi có tôi-bàn-ghế
nguyện hiến cho đời một tấm lưng
(13/01/89)
 
Ðiều anh học được, làm được, cũng cho ta học được. Một tấm lòng khiêm cung, khiêm nhẫn. Một tấm lòng bao dung, tha thứ, và trên hết, vẫn tiếp tục yêu thương con người, yêu thương cuộc đời.
Sau đây là bài Tâm Dung, bài thơ được lấy đặt tên chung cho tập thơ. Bài thơ được đặt ở cuối tập. Không rõ sau bài này, Nguyễn Tất Nhiên còn những bài khác chăng. Nhưng đọc xong bài này, tôi nghĩ đời thơ của anh đến ngang đây cũng quá đủ rồi. Không cần phải thêm một bài nào nữa. Ðây không phải là một bài thơ tuyệt tác của nền văn học nước nhà, mà là lời tỏ tình tuyệt vời của một tín đồ thuần thành của tình yêu, suốt đời chỉ tận tụy yêu, và tụng đọc bài kinh yêu. Sau đây là vài trích đoạn:
 
Tâm dung

1.
có thể nào trẻ thơ sống bên ngoài lòng mẹ? có thể nào anh sống ngoài tầm mắt em?
...
4.
vì người yêu thương trời đất cũng yêu thương, vì em đang ban phát yêu thương, vì anh cũng là thành phần muôn một của đất trời, nên cho dù em không hay không biết yêu thương vẫn thấm nhuần đều trên cuống đọt ngàn xanh dù em không biết không hay anh vẫn lan âm thầm khắp mặt địa cầu bất đồng khí hậu nhưng phải chăng em, nơi đá khô đất khó nào mà không diệp lục phải chăng em, đồng hoang man dã nào mà không có hoa chỉ tay em? vì em đang ban phát yêu thương nên anh khẩn xin là cọng cỏ được lần nào của chân em, tội nghiệp cho anh lòng còn ham muốn, tội nghiệp cho anh một đơn thân cỏ dại đòi chỉ riêng dành cho ngón ngón nhịp nhàng nhịp từng mỗi nhịp tim...
5.
tình yêu sao mà đau khổ với khổ đau, toại nguyện phải chăng là hạnh phúc? em lý lẽ gần nhau tình sẽ chết, vậy người ta sinh ra, sống, để làm chi?
6.
anh cô đơn ca hát vu vơ lời gì vô ý chỗ đám đông nơi con người dễ dàng phỉ báng kẻ điên khùng, ấy chết, anh chẳng thể viện lý do cuộc sống vắng em, dù em sẽ tin, nhưng thảm trải dưới chân có lời nào giải thích? dưới chân tình yêu, anh xin thành khẩn hứa chịu đựng ngang nhau hết thảy kẻ thân, thù.
.......
10.
anh muốn dụi tóc vào những ngón tay em cho hiện ra vài điểm bạc, cho thời gian đẹp phôi phai, cho sen lòng anh ngày mỗi thêm một đóa, cho hoa huệ hoa trang em đong đưa ngần ấy búp nhỏ đơm hương cho gió tình thơm tho không phân biệt chiếm hữu, tự do.
11.
mặt đất kia phù sa đắp bồi cho lúa no hạt mởn mơ bông, ruộng lòng anh đòng đòng  tươm mắn sữa vì em là mưa hạ nắng đông là suối sông nguồn lượng cho rễ ngon khoáng chất trẩy hoa cành, vườn lòng anh xanh ngát tận chân trời vì em là yêu thương không phân biệt hoa nào là  hoa hạnh phúc quả nào là quả đau thương.
12.
buổi sáng tinh khôi bừng mắt dậy thấy hoa lá không tên bóng động hình bên cửa sổ đùa gió vui sương, môi cười theo hồn nhiên nụ, hoa cười hay anh cười? trưa trưa rực nắng chan vàng đồng hướng dương hực vàng một cánh ngút ngàn chân mây, những nụ cười hàm tiếu tròn đầy, anh cười hay hoa cười? chiều chiều nghiêng nghiêng nắng dịu nghiêng nghiêng mình chào người và người chào đáp lại, người cười hay tim cười? buổi tối anh ngon lành êm ả ngủ, thở đều hòa nơi một kẽ ngón chân em, em thở hay anh thở...
(19/01/89)
 
Sau đó không thấy thơ Nguyễn Tất Nhiên nữa. Rồi một hôm, nghe tin anh mất. Trên chiếc xe cũ, đậu dưới bóng cây, trong vườn một ngôi chùa. Ðời anh, lúc nào cũng đi sớm hơn kẻ khác. Ðời không ruồng bỏ anh, cũng chẳng người tình nào ruồng bỏ anh (không ai có thể ruồng bỏ một người đáng yêu như thế! mà cũng chẳng ai có thể ruồng bỏ được một gã yêu tha thiết, yêu miệt mài, yêu thủy chung suốt đời như thế!). Chỉ có anh, tự ý đi thật sớm, rời bỏ cuộc đời, để lại một cõi thơ bát ngát. Không cần phải tội nghiệp cho anh, và đừng tưởng anh khổ đau cùng tận! Anh là kẻ hạnh phúc vô cùng tận với tình yêu bất diệt và tấm lòng bao dung hiếm có. Và thơ anh, đã hóa thân khắp nơi khắp chốn: là ngọn cỏ mềm, là gió mơn man, là dòng sông êm, là bàn ghế lặng thinh, là đất trời mênh mang vô hạn... Nơi đó, có đủ hương vị của tình yêu cũng như những hỉ, nộ, ái, ố... bình thường của một con người, dù là con người thi sĩ, hay văn sĩ. Nhưng tất cả đều được dung chứa trong một cõi lòng thật rộng.

Có thể nói, giới hạn giữa sống-chết, qua Tâm Dung ấy, không còn nữa.

Vĩnh Hảo

*********

Nguyễn Tất Nhiên

Ông tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30-5-1952 tại xã Bình Trước, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa. Sau 5-1975 sống tại Hoa Kỳ. Mất ngày 3-8-1992 tại California. Lúc còn trẻ ông còn có biệt danh là Hải Khùng.

Theo lời nhà thơ Thái Thụy Vy (người cùng quê với ông) "hồi chưa nổi tiếng, trời nắng chang chang mà anh ưa mặc cái "măng-tô" mua ở khu Dân sinh, mồ hôi nhễ nhại, ưa đạp xe đạp đi cua cô em Bắc Kỳ nho nhỏ tên Duyên; anh nhỏ hơn tôi đúng một con giáp, tuổi Thìn; anh thường làm thơ in ronéo đi phát không cho nữ sinh, họ đều quăng vào thùng rác, đến lúc Vĩnh Phúc và Nguyễn Xuân Hoàng dạy trường Ngô Quyền gửi đăng ở tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo, được Phạm Duy và Nguyễn Đức Quang phổ các bản "Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá", "Trúc đào", "Vì tôi là linh mục", "Em hiền như ma soeur", "Kià cô em Bắc kỳ nho nhỏ", "Hai năm tình lận đận" thì nữ sinh ùn ùn kiếm mua thơ anh; Nguyễn Tất Nhiên sau lấy Minh Thủy, xóm Cây Me, chú út tôi là Kiến trúc sư Đỗ Hữu Nam lấy chị thứ ba là Minh Vân ....
... Lúc Nguyễn Tất Nhiên quyên sinh trước cửa chùa Việt Nam, California, anh chưa được trông thấy tác phẩm "Minh Khúc" của anh ra đời. Quyễn thơ nầy đang bị tranh chấp giữa Minh Thủy và gia đình Nguyễn Ngọc (cha của Nguyễn Tất Nhiên) chưa ngã ngũ".

Tác phẩm đã in:

Nàng thơ trong mắt (1966, cùng với Đinh Thiên Phương)
Dấu mưa qua đất (1968, cùng với bút đoàn Tiếng Tâm Tình)
Thiên Tai (Thơ, 1970)
Thơ Nguyễn Tất Nhiên (Thơ góp nhặt từ 1969-1980, nhà xuất bản Nam Á - Paris in lần đầu tiên)
Những năm tình lận đận ( tập nhạc 1977-1984, nhà xuất bản Tiếng Hoài Nam)
Chuông mơ (Thơ từ năm 1972-1987, nhà xuất bản Văn Nghệ - California)
.
Về Đầu Trang Go down
pnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Nguyễn Tất Nhiên    Tue Mar 04, 2014 12:24 pm


Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên


Mặc Lâm, phóng viên đài RFA


Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải sinh năm 1952 tại Biên Hòa, sau tháng 5-1975 sống tại Hoa Kỳ. Ông mất ngày 3-8-1992 tại California.

Làm thơ năm 14 tuổi



Cố thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên.
Photo courtesy of Wikipedia.

Theo lời những người bạn cùng trường thì Nguyễn Tất Nhiên làm thơ rất sớm khi mới 14 tuổi. Năm 1966, cùng với Đinh Thiên Phương, Nguyễn Tất Nhiên dùng bút hiệu Hoài Thi Yên Thi cho ra đời thi phẩm Nàng thơ trong mắt. Nhà thơ Du Tử Lê nhớ lại kỷ niệm mà ông có với Nguyễn Tất Nhiên trong giai đoạn này như sau:

“Giữa năm 1970, khi tôi đang ngồi ở cà phê La Pagode ở Sài Gòn cùng với mấy người bạn của tôi là các anh Nguyễn Đình Toàn, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ thì có một cậu học trò đẩy cửa đi vào hỏi tôi có phải là Du Tử Lê không, thì tôi nói là: “phải”. Sau đó cậu ấy tặng cho tôi một tập thơ nhan đề là Thiên Tai, và tác giả tập thơ đó tên là Hoài Thi Yên Thi. Cậu ấy cho biết là cậu đang học ở trường Ngô Quyền, Biên Hòa. Sau đó chúng tôi trở thành tình anh em rất là thân thiết. Đến lần gặp thứ hai thì cậu nói với tôi là cậu muốn có một tên hiệu khác, tức là một bút hiệu khác, vì bút hiệu Hoài Thi Yên Thi có vẻ thi văn đoàn quá. Tôi có chọn cho cậu ấy cái tên“Nguyễn Tất Nhiên”. Đó là kỷ niệm mà tôi rất nhớ.”


Khúc Tình Buồn

Trong những năm đó sinh viên học sinh miền Nam có phong trào thành lập Thi văn đoàn và những người có năng khiếu văn chương cùng tụ tập nhau lại để in những bài thơ, hay văn xuôi chung với nhau. Kỹ thuật quay ronéo để xuất bản tác phẩm của những người trẻ trong giai đoạn này rất phổ biến. Nguyễn Tất Nhiên nổi lên như một ngôi sao khi bài thơ Khúc Tình Buồn của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Khúc Tình Buồn được đặt lại tên “Thà như giọt mưa” và trong nhiều tuần lễ sau đó, nhạc phẩm này hầu như ngày nào cũng phát trên đài phát thanh Sài Gòn được giới sinh viên học sinh chuyền tay nhau tập thơ của ông với tất cả sự thích thú vốn có của tuổi trẻ:

Người từ trăm năm
về qua sông rộng
ta ngoắc mòn tay
trùng trùng gió lộng

(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)

Người từ trăm năm
về khơi tình động
ta chạy vòng vòng
ta chạy mòn chân
nào hay đời cạn

(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)

Người từ trăm năm
về như dao nhọn
ngọt ngào vết đâm
ta chết âm thầm
máu chưa kịp đổ

(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)

Thà như giọt mưa
gieo xuống mặt người
vỡ tan vỡ tan
nào ta ân hận
bởi còn kịp nghe
nhịp run vồi vội
trên ngọn lông măng

(người từ trăm năm
vì ta phải khổ)

Khúc tình buồn


Người con gái tên Duyên

Bài thơ “Khúc Tình Buồn” không nhắc tới tên Duyên như trong nhạc phẩm “Thà Như Giọt Mưa” của Phạm Duy. Cô gái tên Duyên này là một nhân vật có thật và học chung lớp với nhà thơ tại trường trung học Ngô Quyền thành phố Biên Hòa, và tình cảm của ông đối với cô chính là nguồn cảm hứng khiến ông liên tục sáng tác những bài thơ nổi tiếng một thời chỉ để riêng tặng cho cô. Tuổi trẻ thời ấy thích thú với những dỗi hờn rất con nít của tác giả bài thơ khi mong cho người con gái tên Duyên sẽ đau khổ muôn niên, sẽ đau khổ trăm năm… lời lẽ như là chính cô gái đã phụ tình tác giả.

Cô gái xứ Bắc mang tên Bùi Thị Duyên ngày nào nay sống tại Michigan, Hoa Kỳ. Cô nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp của tuổi học trò áo trắng:

“Tụi này học chung với nhau từ năm đệ tứ. Trường đó là trường nam-nữ học chung. Đến khi học sinh đông quá thì họ phân lớp ra, trong đó có một lớp đệ tứ “mix” giữa con trai với con gái. Sau đó tôi lên học ban B thì tôi học luôn đến lớp đệ nhất, học chung với tụi con trai, trong lớp chỉ có vài cô con gái thôi. Tụi này biết nhau từ hồi nhỏ, lúc đó cũng ngây thơ, tôi chưa nghĩ gì hết, còn Nguyễn Tất Nhiên nghĩ gì hay không thì tôi không biết. Gặp nhau, biết nhau từ lúc 14, 15 tuổi. Tôi được tặng một quyển thơ mà Nguyễn Tất Nhiên nói là có ba bản chính. Một bản của Nhiên, một bản cho tôi và một bản cho ai tôi quên mất rồi. In ra khoảng chừng 100 quyển thôi. Tôi biết sự hình thành quyển thơ của Nguyễn Tất Nhiên chứ không phải không, nhưng thật ra là chẳng có gì hết, tất cả bạn bè trong lớp ai cũng biết, nhưng đó là chuyện hồi nhỏ.”

Thật ra chính cái tên Duyên mới làm bài thơ nổi tiếng. Trong tập thơ Thiên Tai, Nguyễn Tất Nhiên có rất nhiều bài nói về người thiếu nữ tên Duyên và tập thơ này viết bởi nguồn cảm hứng duy nhất đó.

“Dĩ nhiên là phải xúc động bởi nguyên một quyển thơ viết cho tôi. Nhưng tôi đã nói với Nguyễn Tất Nhiên ngay từ đầu là mình làm bạn thôi, nếu có ý gì đó thì tôi không gặp nữa. Về sau anh ấy phải công nhận là muốn làm bạn, để còn được tiếp tục gặp một người bạn như tôi. Chắc anh ấy cũng quý tôi lắm.”


Nguồn cảm hứng tôn giáo

Thời gian trôi qua, những vần thơ nói về Duyên hay ám ảnh bởi Duyên không còn là nguồn cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Tất Nhiên nữa. Thay vào đó nguồn hứng khởi tôn giáo bắt đầu đi vào thơ ông một cách tình cờ, bắt đầu từ bài “Hai năm tình lận đận”:

Chuông nhà thờ đổ mệt
Tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ có lẽ
Rơi xuống trần gian mưa

Anh bây giờ có lẽ
Thiết tha hơn tín đồ
Nguyện làm cây thánh giá
Trên chót đỉnh nhà thờ

Cô đơn nhìn bụi bậm
Làm phân bón rêu xanh
Dù sao cây thánh giá
Cũng được người nhân danh

Càng về sau Nguyễn càng thấy hình tượng của Chúa, của Linh Mục, Ma Soeur gần gũi với ông hơn mặc dù nhà thơ là người ngoại đạo. Vì ngoại đạo nên thơ ông không chịu sự ràng buộc của tín lý, của đức vâng lời, tôn kính. Nguyễn Tất Nhiên tung tăng trong ngôn ngữ đức tin và bởi vô úy nên những lời thơ truyền thẳng vào tâm tình người đọc, bùng lên thứ cảm nhận vừa xuýt xoa ngạc nhiên vừa lâng lâng niềm khoái cảm của người ăn trái cấm:

vì tôi là linh mục
không mặc chiếc áo giòng
nên suốt đời hiu quạnh
nên suốt đời lang thang!

vì tôi là linh mục
giảng lời tình nhân gian
nên không có thánh kinh
nên không có bổn đạo
nên không có giáo đường
(một tín đồ duy nhất
vừa thiêu hủy lầu chuông!)

vì tôi là linh mục
phổ lời tình nhân gian
thành câu thơ buồn bã
nên hạnh phúc đâu còn
nên người tình duy nhất
vừa thiêu hủy lầu chuông

Nguyễn Tất Nhiên chậm rãi dìu người tình của mình nay hóa thân thành một Ma Soeur đằm thắm. Ma-Soeur-Người-yêu này nhẹ nhàng xưng tụng niềm thống hối như tín đồ xưng tội. Kẻ ngoại đạo cảm thấy Thượng Đế mỉm cưởi với mình qua ẩn dụ tràn ngập chân phước. Tình Yêu trở thành bất tử, và thánh hóa dưới ánh mắt hiền hòa của Chúa qua những vần thơ xưng tụng.

Ðưa em về dưới mưa
Nói năng chi cũng thừa
Phất phơ đời sương gió
Hồn mình gần nhau chưa?

Tay ta từng ngón tay
Vuốt lưng em tóc dài
Những trưa ngồi quán vắng
Chia nhau tình phôi thai

Xa nhau mà không hay
Hỡi em cười vô tội
Ðeo thánh giá huy hoàng
Hỡi ta nhiều sám hối
Tính nết vẫn hoang đàng!

Em hiền như ma soeur
Vết thương ta bốn mùa
Trái tim ta làm mủ
Ma soeur này ma soeur

Có dịu dàng ánh mắt
Có êm đềm cánh môi
Ru ta người bệnh hoạn
Ru ta suốt cuộc đời



Những năm cuối đời

Nguyễn Tất Nhiên ở những năm cuối đời đã có những biểu hiện của chứng trầm cảm. Người thơ thường đặt những câu hỏi gần gụi với cái vĩnh hằng, là sự chết. Chết trở thành một câu hỏi lớn theo đuổi nhà thơ, như bóng ma thời gian ám ảnh sự sống không ngừng. Trong bài Thiên Thu, nhà thơ thở dài buồn bã nhận ra bóng mình in trên bức tường vôi luống tuổi mang tên “Con người”:

sao thiên thu không là chôn sâu?
nên nắng xưa còn hanh mái tóc nhầu
tôi đứng như xe tang ngừng ngập
và một họ hàng khăn trắng buồn đau!

sao thiên thu không là đường chim?
nên mây năm xưa còn trên tay phiền
tôi đứng như tường vôi luống tuổi
và những tàng xanh chùm gởi quê hèn!

sao thiên thu không là lãng quên?
nên tình xưa còn cháy âm thầm
tôi đứng như căn nhà nám lửa
và những người thân trốn chạy vội vàng!

sao thiên thu không là sương tan?
nên mặt trời xưa còn gượng huy hoàng
tôi đứng như dòng sông yên lặng
và những cánh buồm kiệt sức lang thang!

“Cánh buồm kiệt sức” ấy không còn lang thang nữa, theo như lời kể của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, người quen thân với nhà thơ từ thuở thiếu thời:

“Một tuần lễ trước ngày Nguyễn Tất Nhiên quyết định con đường ra đi, tôi và Nhiên ngồi với nhau ở ngoài lề đường. Tôi nói Nguyễn Tất Nhiên đi vào ăn cơm thì Nhiên nói rằng: “Cái thằng sắp chết không ăn”. Biết tính Nhiên từ lúc còn bé chơi với nhau, nên tôi cũng không để ý câu nói đó, tôi hỏi: “Vậy thì hút thuốc không?”, Nhiên cũng nói rằng: “Cái thằng sắp chết không hút thuốc lá”. Và đó là lần chót mà hai đứa có trao đổi với nhau. Và tuần lễ sau thì Nhiên mất. Thực sự ra thì từ lúc chơi với nhau ở Sài Gòn trước 75, và sau 75 thân thiết hơn, thì lúc nào Nhiên cũng mang một ý định muốn tự quyết định cuộc đời mình. Mãi sau, những người bạn thân với Nguyễn Tất Nhiên đều hiểu rằng có thể đó là một lúc mà tinh thần không được ổn định thì Nhiên nói thế thôi. Anh em không còn để ý và xem đó như là một lời nói có tính cách nghiêm trọng nữa. Không ngờ một tuần lễ trước khi Nhiên quyết định tự tử, Nhiên lại nói với bản thân tôi hai lần câu: “Người sắp chết không ăn cơm và người sắp chết không hút thuốc lá.”

Nguyễn Tất Nhiên ra đi ở tuổi 40 khi còn rất trẻ, khi mầm sống thi ca đến độ chín muồi nhất. Thế nhưng đối với trường hợp riêng ông thì quyết định chọn được nằm im để hòa mình vào nguồn minh triết của suy tưởng bất diệt có lẽ là một quyết định đúng với nhà thơ khi ông chợt nhận ra cõi đời đã trở nên vô nghĩa…
.
Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Nguyễn Tất Nhiên    Tue Mar 04, 2014 3:32 pm


CON SÁO SANG SÔNG

Nhạc Võ Tá Hân
Thơ Nguyễn Tất Nhiên
Ca sĩ Quang Linh
PPS: NNS



.
Về Đầu Trang Go down
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Nguyễn Tất Nhiên    Thu May 01, 2014 8:51 am


GÃ CUỒNG THƠ YỂU MỆNH - Nguyễn Tất Nhiên
 



Tài thơ ấy, sớm nổi tiếng và Nguyễn Tất Nhiên cũng sớm ra đi.
Một sự ra đi định mệnh, nhưng những vần thơ lạ còn ở lại reo lên cùng những nốt nhạc đắm say lòng người.


Vì Tôi Là Linh Mục

Thơ: Nguyễn Tất Nhiên
Nhạc: Nguyễn Đức Quang
.
Về Đầu Trang Go down
tranvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Nguyễn Tất Nhiên    Sat Aug 02, 2014 11:54 pm



Em Hiền Như Ma Soeur
Nguyễn Tất Nhiên



Xin chở Tình ra theo
Nguyễn Tất Nhiên

.
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Nguyễn Tất Nhiên    Sat Aug 23, 2014 8:20 pm




Nguyễn Tất Nhiên – Từ thiên tai đến tâm dung

Nguyễn Lương Vỵ
TV và BH


Chân dung Nguyễn Tất Nhiên – Đinh Cường
(Nguồn: Sáng tạo)

Xế trưa ngày 06.11. 2012, nhà thơ Võ Chân Cửu (vừa mới có chuyến du lịch từ Việt Nam sang Hoa Kỳ) và tôi, đã đến khu nghĩa trang Peek Family, thành phố Wesminster, Nam California, viếng mộ thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên (tên khai sinh là Nguyễn Hoàng Hải.) Hướng dẫn hai chúng tôi, là người em ruột của Nhiên – Nguyễn Hoàng Nam, cũng là nhà thơ.

Mộ của Nguyễn Tất Nhiên nằm khá sâu phía trong nghĩa trang, yên ắng, râm mát vì có nhiều bóng cây. Chúng tôi thắp nhang, cắm lên phía đầu mộ, khấn chào Nhiên sau hơn 40 năm xa cách rồi cùng ngồi xuống, xoa tay lên tấm bia xi-măng nằm ngang mặt đất, có ghi 8 câu thơ của Nhiên, như là lời nhắn gửi tâm tình của thi sĩ:

Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
Phải đau theo từng hớp rượu tàn
Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định!
(Vì Thượng Đế từ lâu kiêu hãnh
Cầm trong tay sinh tử muôn loài
Tình ta vừa gánh nặng thấu xương vai
Thì em hỡi, ngai trời ta đạp xuống)

Tôi lặng lẽ nhìn và đọc thầm, chẫm rãi 8 câu thơ trên. Trong tâm tôi vang lên một lời tâm tình với bạn: “Nhiên ơi! Thế cũng là vui rồi. Hãy tiếp tục rong chơi nữa đi với hư không bất tuyệt.”
8 câu thơ trên, thi sĩ đã cất lên lời kiêu hãnh một cách bi tráng, để đáp lại cái “kiêu hãnh” từ lâu của Thượng Đế?! Một suy nghĩ, một thái độ lạ lùng, đáng yêu biết bao!!! 8 câu thơ trên, Nhiên viết năm 1972, trích trong bài thơ “Giữa Trần Gian Tuyệt Vọng,” lúc Nhiên vừa tròn 20 tuổi. Thơ đã linh cảm, ứng hiện như định mệnh. Đúng 20 năm sau, Nhiên giã biệt trần gian, tròn 40 tuổi.

Nếu so với một số thi sĩ tiền bối, đàn anh đi trước như: Hàn Mặc Tử (1912 -1940, 28 tuổi,) Nguyễn Nhược Pháp (1914 – 1938, 24 tuổi,) Bích Khê (1916 -1946, 30 tuổi,) Phạm Hầu (1920 – 1944, 24 tuổi,) Quách Thoại (1930 – 1957, 27 tuổi,) thì Nhiên không phải là người mệnh yểu như các vị trên, tính theo tuổi tác. Nhưng các vị kia mệnh yểu vì bệnh nan y, còn với Nhiên, theo tôi, có lẽ do 2 nguyên nhân chính: Di chứng hoang tưởng của bệnh tâm thần phân liệt và do quá cùng quẫn, bế tắc trong cuộc sống cá nhân (thân bệnh và tâm bệnh) nên Nhiên đã tìm cách tự hủy mình, cũng là cách để thách thức Thượng Đế bằng một kết thúc đẹp và bi thương như vậy,“phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định”? Thật tình, đây cũng chỉ là cách suy đoán, suy diễn có tính chủ quan. Còn cái vô hình của định mệnh thì chỉ có hư không mới biết được!!!

Nhiên là một thi sĩ bẩm sinh, tài hoa, suốt đời cuồng nhiệt, đam mê với thơ, đặc biệt là thơ tình. Biết làm thơ từ rất sớm: Mới 14 tuổi (1966,) Nhiên đã có tập thơ đầu tay “Nàng Thơ Trong Mắt” và hai năm sau, 16 tuổi (1968,) viết tiếp tập thơ “Dấu Mưa Qua Đất” (cả hai tập thơ nầy đều ký bút danh Hoài Thi Yên Thi.) Năm 1970, đúng 18 tuổi, Nhiên tự ấn hành tập thơ“Thiên Tai,” cũng là lúc bút danh Nguyễn Tất Nhiên lần đầu tiên xuất hiện trên thi đàn miền Nam. Năm 1978, Nhiên vượt biên và định cư tại Pháp. Tại đây, nhà xuất bản Sud-Asie đã ấn hành tập“Thơ Nguyễn Tất Nhiên”gồm những bài thơ sáng tác từ 1970 – 1980. Sau đó, Nhiên sang Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, tiếp tục sáng tác thơ, nhạc. Nhiên tiếp tục cho ấn hành các tập thơ“Chuông Mơ” (NXB Văn Nghệ,1987,)“Tâm Dung”(NXB Người Việt, 1989,)“Minh Khúc” (1990, đã hoàn tất bản thảo, phổ biến hạn chế. Gần đây có xuất hiện trên mạng internet dưới dạng PDF.) Ngoài ra, “kho tàng” thơ Nguyễn Tất Nhiên còn khá nhiều, hiện được gia đình lưu giữ.

oOo

Tôi yêu kính thiên tai
Vì thiên tai đẻ ra tôi

Bìa sau của tập thơ “Thiên Tai,” Nhiên cho in một “tuyên ngôn” ngắn, khá kiêu ngạo, lạnh lùng, ẩn dấu phía sau khí chất tự hào của thi sĩ:

“Tôi kiêu ngạo trước nhiều thiên tai
Tôi điên khùng tôi phí đời tôi phi thường tôi rách nát trước một thiên tai
Thiên tai lớn
Tôi cuồng tín với thơ
Tôi dầm mình trong thơ
Tôi hét ra thơ
Vì thơ dựng đứng được tôi suy tôn được tôi
Vì thơ là độc dược là kinh kệ chịu đựng nổi thiên tai
Tôi yêu kính thiên tai
Vì thiên tai đẻ ra tôi
Vì tôi chửi rũa thiên tai đỡ buồn
Mỗi thiên tai là một người tình
.

Tôi tuyên chiến rồi đó
Ra mặt đi hỡi những kẻ từ lâu nuôi dự tính hạ sát tôi
.

Cảm ơn
Cảm ơn thần thánh
Cảm ơn hơi ấm những người khốn nạn cùng tôi“

Vậy“thiên tai” là gì? Là ai? Thi sĩ giải bày: NGƯỜI TÌNH – “mỗi thiên tai là một người tình” – Chỉ có THƠ mới cứu được thi sĩ trước “thiên tai” đó,“vì thơ dựng đứng được tôi suy tôn được tôi,”“vì thơ là độc dược là kinh kệ chịu đựng nổi thiên tai”

Đọc lại “tuyên ngôn, tuyên chiến” của thi sĩ, tôi chỉ biết gật gù rồi mỉm cười một mình, thuận tay gõ ngay mấy câu cảm ứng vào bài viết để trêu bạn: “Thiên tai vần với thiên tài / Tài tai tái mặt hình hài bão giông / Tất Nhiên thơ hét hư không / Thánh Thần bỏ trốn khốn cùng trần gian…” Đúng không Nhiên?

Ở đâu đó, tôi như thấy Nhiên cũng đang gật gù rồi mỉm cười, chẫm rãi, rõ giọng, đáp lại:

“Tôi yêu kính thiên tai
Vì thiên tai đẻ ra tôi”

Nhiên“cảm ơn thần thánh” nhưng thần thánh đã bỏ trốn, để Nhiên một mình ở lại trần gian, đam mê, cuồng nhiệt với Tình Yêu, với Thơ – với THIÊN TAI.

Tập thơ“Thiên Tai” với số lượng thơ khiêm tốn (15 bài,) nhưng đã tạo được dấu ấn đặc biệt cho tên tuổi Nguyễn Tất Nhiên. Những bài thơ tình đầu đời của Nhiên độc sáng một cõi riêng bởi thi ảnh, thi tứ, thi pháp táo bạo, độc đáo.

Bài thơ“Linh Mục,” (nhạc sỹ Nguyễn Đức Quang phổ nhạc, đổi thành Vì Tôi Là Linh Mục,) với cấu trúc 5 chữ, lạ lùng, mới toanh ý tưởng, ẩn dụ về Tình Yêu, về Người Tình – Tự nhận mình là linh mục, nhưng tôi-linh-mục“không mặc áo nhà giòng,”“không biết mặt thánh thần,”“không biết rửa tội người,”“không có thánh kinh,”“không có bổn đạo,” tôi-linh-mục chỉ biết “giảng lời tình nhân gian,” “phổ lời tình nhân gian,” tôi-linh-mục chỉ có duy nhất một tín đồ:“tín đồ là người tình / người tình là ác quỉ / ác quỉ là quyền năng / quyền năng là tín đồ / tín đồ là người tình.” Giải thích lòng vòng theo kiểu tam-tứ-ngũ đoạn luận, cuối cùng té ra:“tín đồ là người tình!” Đúng là giải thích, lập luận theo kiểu của thi sĩ. Rốt cục, vị tôi-linh-mục-thi-sĩ nầy biết mình “tội còn thâm vai” vì mình chỉ có duy nhất một tín-đồ-người-tình, cho nên mình phải“suốt đời hiu quạnh, suốt đời lang thang.” Tôn vinh, cuồng nhiệt với Người Tình như thế, thật đúng là… đỉnh của đỉnh!

Bài thơ“Khúc Buồn Tình,” (nhạc sỹ Phạm Duy phổ nhạc, đổi thành Thà Như Giọt Mưa,) với cấu trúc 4 chữ, đột phá âm tiết, nhịp điệu, hình ảnh lạ lẫm“người từ trăm năm / về qua sông rộng / ta ngoắc mòn tay / trùng trùng gió lộng”, “người từ trăm năm / về như dao nhọn / ngọt ngào vết đâm / ta chết âm thầm…” Ngoắc người tình đến nỗi phải mòn tay thì thật là kỳ lạ cho trí tưởng tượng! Hình ảnh người tình về như dao nhọn, ngọt ngào vết đâm, chỉ có thi sĩ mới tưởng tượng được như vậy! Tứ thơ buồn dằng dặc, ray rức như những giọt mưa đang rơi, đang vỡ, đang khô trên tượng đá theo liên tưởng của thi sĩ.

2 bài thơ hay và lạ, được âm nhạc chắp cánh thêm nên đã nhanh chóng đi vào lòng người, nhất là thế hệ học trò, tươi rói tình yêu của tuổi mới lớn.

“Thiên Thu,” bài thơ in ở cuối tập thơ “Thiên Tai,” với cấu trúc 7 chữ phá cách – Hay và đẹp xuất thần! Giọng thơ điềm đạm, trầm buồn, vượt xa hẳn độ tuổi 18, khi thi sĩ viết bài thơ nầy:

“sao thiên thu không là xa nhau?
nên mưa xưa còn giăng ngang hồn sầu
tôi đứng như cây cột đèn gẫy gập
và một con đường cúp điện rất lâu

sao thiên thu không là chôn sâu?
nên nắng xưa còn hanh mái tóc nhầu
tôi đứng như xe tang ngừng ngập
và một họ hàng khăn trắng buồn đau

sao thiên thu không là đường chim?
nên mây năm xưa còn trên tay phiền
tôi đứng như tường vôi luống tuổi
và những tàng xanh chùm gởi quê hèn!

sao thiên thu không là lãng quên?
nên tình xưa còn cháy âm thầm
tôi đứng như căn nhà nám lửa
và những người thân trốn chạy vội vàng!

sao thiên thu không là sương tan?
nên mặt trời xưa còn gượng huy hoàng
tôi đứng như dòng sông im lặng
và những cánh buồm kiệt sức lang thang!

sao thiên thu không là thiên thu
nên những người yêu là những ngôi mồ
tôi đứng một mình trong nghĩa địa
và chắc không đành quên khổ đau!“
(Thiên Thu, 1970)

“tôi đứng như cây cột đèn gẫy gập / và một con đường cúp điện rất lâu…” một liên tưởng bất ngờ, độc đáo để diễn tả tâm trạng sầu nhớ người tình. Rất thực nhưng cũng rất thơ! Hai câu cuối: “tôi đứng một mình trong nghĩa địa / và chắc không đành quên khổ đau!” làm cho ta phải lặng người thương cảm.

Hầu hết những bài thơ trong“Thiên Tai,” Nguyễn Tất Nhiên đã dồn hết tâm sức, tâm lực, tâm khảm, tâm huyết, tâm hồn cho NGƯỜI TÌNH. Tôi chỉ xin giới thiệu trong bài viết nầy 3 bài thơ tiêu biểu nhất đã đề cập ở trên, có dấu ấn nổi trội nhất về đặc điểm thơ tình của thi sĩ: Đam mê, cuồng nhiệt, sầu khổ, tuyệt vọng, bi thương… kết tụ thành cái ĐẸP trong thơ, dâng hiến cho NGƯỜI TÌNH (mà theo thi sĩ, NGƯỜI TÌNH cũng là “ác quỷ,” cũng là kẻ đầy “quyền năng” nhất đối với mình.)

NGƯỜI TÌNH có thật, học cùng trường với Nhiên, đã“về như dao nhọn / ngọt ngào vết đâm” thường xuyên trong ký ức, trong nỗi nhớ – mãi là niềm cảm-hứng-hạnh-phúc-khổ-đau nhất của thi sĩ từ buổi gặp gỡ đầu tiên và ám ảnh mãi cho đến cuối cuộc đời. Có thật trong cuộc đời, nhưng người nữ ấy vẫn chỉ là ảnh ảo một phía, là tình yêu một phía của thi sĩ! Phải chăng đây là ứng mệnh của Thiên Tai?

Xin thưa, rất đúng:“tôi yêu kính thiên tai / vì thiên tai đẻ ra tôi.” Cũng chính ứng mệnh đó, đã ráo riết bám sát cuộc đời của thi sĩ, bầm dập, nát tan – Và cũng chính ứng mệnh đó, thơ tình Nguyễn Tất Nhiên ngày càng thăng hoa, rực rỡ riêng một cõi.

Tâm Dung -
Vọng mà biết mình vọng, còn hơn không.

Tập thơ“Tâm Dung,” (NXB Người Việt, Calif., 1989,) gồm 18 bài thơ, trong đó có 15 bài thơ mang tựa đề bắt đầu bằng chữ “Tâm…” (Tâm Khai, Tâm Sân, Tâm Hoa, Tâm Xuân, Tâm Hồng, Tâm Hương, Tâm Mưa, Tâm Sương, Tâm Cảm, Tâm Ca, Tâm Tưởng, Tâm Nguyệt, Tâm Cảnh, Tâm Chung, Tâm Duyên.)

Ngay trong trang đầu của tập thơ, thi sĩ viết:

“Dung, theo nghĩa dung chứa.
Năm lần Phật chỉ cho ngài A Nan, tâm là cái thấy.

Lấy cái thấy phân biệt để chỉ cái thấy vô phân biệt, lấy cái tâm vọng để chỉ cái tâm chơn, lấy ngón tay phàm phu để dụ như ngón tay Phật chỉ trăng. Kẻ trèo đèo này chỉ mong góp một cỏn con Phật sự, vọng động chăng?

Chỉ mong quí thiện hữu niệm tình: vọng mà biết mình vọng, còn hơn không.”

“Vọng mà biết mình vọng,” theo Phật pháp, đó là pháp “biết vọng”: Lúc đối duyên xúc cảnh, niệm khởi lên, ta liền biết đó là vọng tưởng, không bị nó lôi dẫn. Khi ta không chạy theo vọng tưởng, vọng tự nhiên biến mất, ngay lúc đó, tâm liền an. Trong pháp “biết vọng” có hai lối tu tập: Biết vọng liền buông và Biết vọng không theo. Đây là phương tiện cho những người có chí tu tập, hành trì nhưng chưa thấy tánh, phải tạm dùng phương tiện này để phá cái “chấp ngã” về tâm. Đến khi vọng tưởng lặng dứt thì pháp đối trị cũng dừng, đủ nhân duyên, liền quay về hội nhập tự tánh, tức là kiến tánh.

Phải chăng, bản thân Nguyễn Tất Nhiên tự biết mình đã quá chạy theo vọng tưởng, vọng động, vọng niệm, và đã từng nếm mùi khổ ải trong tình yêu, bầm dập khôn lường, nên giờ đây đã quay về nương tựa Phật pháp?

15 bài thơ mang tựa đề bắt đầu bằng chữ “Tâm…,” thơ của Nhiên đã chuyển hóa một cách khác thường. Cũng là những suy nghiệm, hồi tưởng, cảm xúc về Tình Yêu, về Người Tình, nhưng là những suy nghiệm, hồi tưởng, cảm xúc rất bao dung, độ lượng – không còn ưu uất, oán trách, giận hờn, bi lụy như trước đây nữa. Xin trích dẫn một số đoạn thơ tiêu biểu:

“… hôn em thảng nụ bất ngờ
bỗng nghe trật tự khá nhiều đổi thay!
(ví dù nội cỏ ngàn cây
cũng môi trường đúng mới khai lá cành
mới đơm bông, mới trái lành
như tôi hướng thiện bởi tình thăng hoa)…”
(Tâm Khai)

Hôn em như thế thì còn gì bằng nữa hỡi thi sĩ? Tôi cũng phải phát thèm! Hôn em xong, rồi ôm nhau bay luôn lên cõi trời hồng mênh mông lãng đãng thì hỉ lạc biết bao nhiêu!!!

“… luật chơi
thi sĩ
là kẻ
phải gục ngã thảm thiết
gục ngã tận bình sinh
trong trò đùa ngôn ngữ
ngã gục vì không tin
văn chương gian lận mình
bởi chế độ
bởi chính trị
bởi xã hội vật dục
bởi vận tốc văn minh xô sấp ngửa trắng trợn từng ngày”
(Tâm Sân)

Rất thương, rất cảm kích và rất mừng cho thi sĩ đã “ngộ” ra cái lẽ đương-nhiên, cái lẽ sở-dĩ-nhiên, cái lẽ nhiên-như-nhiên-tất-nhiên nầy! Thật ra, những điều nầy không hẵn dành riêng cho thơ, cho thi sĩ đâu, mà là cho cả cuộc-đời và cuộc-người đấy Nhiên à!!!

“… hỡi người nhỏ nhẹ gót chân sen
cành nhánh hồn tôi rất yếu mềm
những nụ cười tôi sầu tản mạn
chỉ xin hài điệu với thiên nhiên…”
(Tâm Hoa)

Nhẹ lòng, thanh thản tâm hồn quá rồi còn gì!

“… em có mắt nhìn lên quang đãng
đất trời tám tiết cũng trong veo
bông lúa lòng anh thơm sữa quá
tâm xuân trời đất cũng xuân theo…”
(Tâm Xuân)

Em-anh-trời-đất nhất tâm hòa điệu. Há chẳng vui sướng sao!

“… bạn thân ơi là bạn thương
vườn đông phương bát ngát quê hương
phong phú hạt tâm hồng
tuyệt vời nở đóa vòm từ lượng mẹ
đóa khung hồn xanh cửa sổ tình chân…”
(Tâm Hồng)

Còn gì đẹp bằng, hỡi thi sĩ! Khi hạt tâm hồng“tuyệt vời nở đóa vòm từ lượng mẹ…” Đó chính là cái đẹp thiêng liêng, vi diệu của Tình Yêu.“đóa khung hồn xanh cửa sổ tình chân…” Đó chính là cái đẹp bất tuyệt của Tình Yêu.

“…giữ cho nhau một chút nào
giữ duyên đáp nghĩa đền câu phụ lòng
giữ thơm không khí phiêu bồng
giữ mây cho khói mang hồn sông theo…”
(Tâm Hương)

Nếu em có phụ lòng, thì anh đây vẫn giữ duyên đáp nghĩa đền câu phụ lòng của em. Không hề gì! Em có mất đi mô đâu mà anh phải lo buồn, vì anh vẫn“giữ thơm không khí phiêu bồng / giữ mây cho khói mang hồn sông theo…” đấy em à. Thiện tai, thiện tai!

“…phải em là giọt mưa theo
cho ao yên đỗ cá gieo vần bèo
cho thuyền con bé tẻo teo
nghe thu gợn tí tình nghèo mà vui
phải em giọt ngậm giọt ngùi
giọt đường vắng giọt ngừng trôi mây chiều
giọt mười thương nhớ hắt hiu
giọt ve tấu khúc anh theo ngọ về
giọt lan cắt tóc quên thề
giọt ngàn năm điệp tình quê não nùng
phải em là giọt chung thân
cây quanh năm học làm xanh sắc vàng
phải em giọt nước giọt non
giọt non nước giọt hãy còn thề xưa…”
(Tâm Mưa)

Em thấy chưa? Tình yêu anh dành cho em lãng đãng mênh mông biết bao. Từ nay, sẽ không còn cái cảnh anh phải ngồi ở quán cà phê gần nhà thờ vào mỗi buổi chiều, thấp thỏm mong ngóng em xong lễ nhà thờ chưa, để chỉ mong được nhìn dáng em lướt qua một chút thôi, để rồi tối về làm thơ nhớ em… Bây giờ, anh cũng chẳng cần làm ông linh mục nữa! Ôi cái tôi-linh-mục mệt quá và buồn quá em ạ. Giọt mưa của anh ngày xưa rơi, vỡ, khô trên tượng đá thảm quá phải không em?! Hôm nay, phải em là giọt mưa theo thì chắc chắn em sẽ bay, rơi và thấm miên man như dòng thơ sáu tám anh viết đây nè! Giọt mưa sẽ khiến cho những hồn thơ thức giấc chớp mắt nhìn theo. Em hãy đọc chậm bài thơ lại đi rồi sẽ thấu lòng anh. Hà hà!

“…buồn ơi…
tôi bỏ tôi chìm đắm
trong tiếng làm thinh của ghế bàn
ghế bàn không sẻ chia sầu thảm
nhưng biết làm thinh lặng cảm thông
bàn ghế đâu như người vui nhảm
tọc mạch đời nhau để miệng mồm
buồn ơi, tôi muốn như bàn ghế
chịu đựng đời không biết thở than!

(…)

buồn ơi…
tôi bỏ tôi rời rã
bất lực làm sao trước cuộc đời
ừ nhỉ, trước giờ tôi chiến đấu
cho niềm bất lực buổi hôm nay!
ừ nhỉ, bây giờ tôi mới biết
ghế bàn nên kính trọng như thầy
bàn ghế dạy tôi điều nhẫn nhục
dạy tôi bình thản thứ tha đời
bàn ghế có bao giờ bất lực
có bao giờ biết đợi trông chi
buồn ơi, tôi muốn như bàn ghế
thương đời như thể bỉ khinh thôi!

(…)

buồn ơi…
tôi có tôi-bàn-ghế
nguyện hiến cho đời một tấm lưng”
(Tịnh Khúc)

Bài thơ như một bài kinh sám hối, đầy xúc cảm, rất mực chân thành, hồi hướng quay về Chơn Tâm, sau khi thi sĩ đã “biết vọng.” Giọng thơ da diết, trầm trầm, “… buồn ơi… / tôi có tôi-bàn-ghế / nguyện hiến cho đời một tấm lưng.” Nhưng Nhiên ơi! Thật lòng tôi chẳng biết, Nhiên đã thật tình “buông vọng” và “không theo vọng” được chưa?

“Tâm Dung,” bài thơ cuối cùng, cũng là bài thơ chính của tập thơ, như một tản-văn-thi, gồm 12 đoạn, dung chứa, dung nhiếp trọn vẹn tâm cảnh của thi sĩ.

Cái cách thế suy nghiệm về Tình Yêu, về Người Tình nồng ấm sâu xa như tình mẫu tử. Tôi liên tưởng đến hình ảnh “mẫu thân” của đại huynh thi sĩ Bùi Giáng (Mẹ về đứng ở đầu sân / Cuối cùng mẹ bước vô ngần mẹ đi – BG.) Nguyễn Tất Nhiên cũng một giọng điệu tha thiết như thế:

“1. có thể nào trẻ thơ sống bên ngoài lòng mẹ? có thể nào anh sống ngoài tầm mắt em?”



“7. có thể nào môi mẹ không cần má con thơ? Em từ tâm anh tin tưởng sống chẳng thể nào…”

Đoạn thơ thứ 8, trong trẻo hồn nhiên đến nao lòng:

“anh vẫn ngây thơ trong sáng như thời mới lớn như thuở mười bốn làm thơ yêu em mà ngủ phương phi trên nệm-gối-thơ mình, anh vẫn thắm tươi hy vọng như thời mới lớn như thuở mười sáu mười bảy làm thơ yêu em mà thức dậy trên thảm-cỏ-thơ mình hướng mũi về gần một đóa hoa hàm tiếu hít ắp đầy hai cánh phổi lành tươi luôn được tinh lọc bởi những buổi bình minh bầu hồng căng sữa nóng rồi sau cơn ngây ngất đê mê anh dồi dào năng lực sống suốt hai mươi bốn giờ, anh vẫn tin yêu thành tín như thời mới lớn như thuở mười tám mười chín làm thơ yêu em mà quỳ hôn lên bóng người yêu đổ dài vào công-viên-thơ mình rồi trong cơn chiêm ngưỡng triền miên anh hoàn toàn chẳng còn bất cứ tiếng gì từ chung quanh đường phố chợ người điệp trùng xe cộ để, tiếng đều đều thạo việc ong đàn xây tổ, để, tiếng tung tăng bướm lũ rập rờn vẩy màu thành bài ngợi ca hoa ngàn hiền khoe mơn mởn sắc, để, anh hoài hoài cặm cụi ngồi lựa từng-cọng-rơm-sợi-lác thơ mình những mong dệt thành chiếc-đệm-chất-phác-tình-yêu dài trải bằng suốt kiếp người này cho nhỏ nhẹ đôi bàn chân em đời còn mềm mại mãi…”

Vậy là, gần 20 năm trải nghiệm, từ “Thiên Tai” đến “Tâm Dung,” thơ tình của Nguyễn Tất Nhiên vẫn trong sáng, tinh khôi như thuở ban đầu. Tình Yêu, Người Tình vẫn thiêng liêng, mầu nhiệm; vẫn là những rung động sâu lắng, bềnh bồng; vẫn là nguồn an ủi, cảm hứng bất tận cho thi sĩ. Có khác chăng, là sự chuyển hóa của tâm cảnh, cách nhìn, cách nghe, cách cảm thụ về Tình Yêu, Người Tình. Đã qua rồi một thời bồng bột, sôi nổi, cuồng mê của “Thiên Tai,” giờ đây, “Tâm Dung” sâu lắng hơn, trầm tĩnh hơn, bao dung và độ lượng hơn.

Thật tình, cuộc đời Nguyễn Tất Nhiên rất bất hạnh về tình yêu. Người bạn đời sau nầy của thi sĩ cũng là kết quả của một mối tình rất đẹp từ thuở học trò. Nhưng “Ông Xanh” cũng thật oái ăm, quái ác! Cuối đời, Nhiên cũng đã phải chia tay người bạn đời ấy, xa cách hai đứa con mà mình rất mực thương yêu. Tôi hiểu, Nhiên rất cô đơn và đau xót từ thể xác đến tâm hồn. Tôi nghĩ, cũng chính sự cô đơn tận cùng đó, tố chất bẩm sinh của thi sĩ lại ngày càng phát tiết, thăng hoa. Giọng thơ của Nhiên về cuối đời, trong tập thơ “Minh Khúc” càng bao dung, độ lượng hơn, mặc dù rất ngậm ngùi:

“đường không gian – đã phân ly
đường thời gian – đã một đi không về…

những con đường mịt sương che
tôi vô định lái chuyến xe mù đời
cu tí ngủ gục đâu rồi?
băng sau, ngoái lại, bời bời nhớ con!

đường trăm năm – nát tan lòng
đường ngàn năm – hận, xin đừng trả nhau!
những con đường cuối năm nào
cho tôi tìm lại cành đào ba sinh

khi em lễ mễ với tình
thắp nhang tạ tội sinh thành con đi…

đường chung đôi – đã chia đời
đường chia đôi – vẫn hơi người quẩn quanh

chim đêm hót tiếng đau tình
đau tim tôi chở lòng thành kiếm em…”
(Minh Khúc 90 – Trích trong tập thơ “Minh Khúc.”)

oOo

40 năm ngắn ngủi của một đời người, từ lúc mới biết làm thơ (13 – 14 tuổi) cho đến ngày hắt hơi từ biệt trần gian (40 tuổi,) Nguyễn Tất Nhiên đã sống trọn vẹn với phẩm cách thi sĩ, cuồng nhiệt với Thơ, đã tận tâm, tận tình, tận hiến cho Thơ. Tài hoa – Mệnh bạc! “Tất Nhiên ấy chính là Nhiên vậy.” Nhiên ơi, Tôi chơi chữ tinh nghịch, hàm hỗn lai rai chút tình bằng hữu văn chương từ thời trai trẻ, để bạn có thể gật gù mỉm cười đâu đó, như cách nay trên 40 năm, tại Sài Gòn, bạn và tôi thi thoảng gặp nhau, ngồi quán uống cà phê, hút thuốc liền tay, im lặng nhìn lên mái phố đã về chiều, thỉnh thoảng buông vài câu tào lao, gật gù mỉm cười khinh khoái, rồi chia tay.

Tôi rất nhớ bạn và cũng đang gật gù mỉm cười đây. Nhiên ơi!

Nguyễn Lương Vỵ
Bolsa, 11. 2012. Đọc lại và hiệu đính, cuối tháng 7. 2014

Ghi chú:

- Phần tiểu sử và thi nghiệp của Nguyễn Tất Nhiên, đã được khá nhiều tạp chí, trang mạng phổ biến. Người viết xin không ghi chú lại.
– Thơ Nguyễn Tất Nhiên và một số tư liệu văn học khác, được tham khảo trên Google, trang mạng Vikipedia VN.
– Cám ơn nhà thơ Lê Giang Trần đã cho mượn tập thơ “Tâm Dung.”
– Có tham khảo thêm với nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam, em ruột của thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên về một số bài thơ trích dẫn để đúng với nguyên tác và cuộc sống đời thường của Nhiên tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ.




Về Đầu Trang Go down
vnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Nguyễn Tất Nhiên    Tue Oct 28, 2014 6:20 pm


Chỉ Chừng Đó Thôi
Thơ: Nguyễn Tất Nhiên


Em Ngủ
Nhac: Trần Quảng Nam
Thơ: Nguyễn Tất Nhiên

.
Về Đầu Trang Go down
Ng. Tuan
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Nguyễn Tất Nhiên    Sat Nov 01, 2014 9:14 am




Thục Nữ

Nhạc: Nguyễn Tuấn
Thơ: Nguyễn Tất Nhiên
Trình bày: Duy Linh
Hòa âm: Giang Đông


Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Nguyễn Tất Nhiên    

Về Đầu Trang Go down
 
Thơ Nguyễn Tất Nhiên
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Thơ-
Chuyển đến