Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
Latest topics
October 2017
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Thơ Bùi Giáng

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Thơ Bùi Giáng   Thu Jun 28, 2012 11:40 am


Bùi Giáng
Càng điên..., càng tỉnh; càng già..., càng lãng mạn


Nguyễn Hưng Quốc




Trong bài "Chép thơ" in trong tập Bùi Giáng 1994 do thân nhân của Bùi Giáng xuất bản tại California năm 1995, có hai câu mở đầu như sau:

Chép bài thơ cũ tặng em
Những bài thơ mới tèm nhem tâm hồn

Đó là nhận định của Bùi Giáng về chính thơ của ông: những bài thơ ông mới viết sau này "tèm nhem tâm hồn", hay nói cách khác, sướt mướt đầy những cảm xúc dễ dãi, một điều hình như ông không thể tránh được nhưng ông lại không thích mấy, nên ông không muốn chép tặng người thân.

Trong một bài thơ khác, bài "Từ bấy tới nay" in trong tập Thơ Bùi Giáng do Thế Kỷ 21 xuất bản năm 1994, Bùi Giáng, một lần nữa, lại ghi nhận sự thay đổi trong thơ của mình:

Chợt mùa thơ vội đổi giòng
Cỗi nguồn cũng bởi tự lòng mà ra

Nhớ, trong bài "Xuân xanh người Tàu" in trong tập Mùa Thu trong thi ca, năm 1969, nhân nhắc đến Nam Phương Hoàng Hậu Nguyễn Thị Lan, Bùi Giáng làm hai câu thơ, trong đó, câu đầu tiên hao hao như câu trên:

Chợt mùa thơ vội đăm chiêu
Bên mình phố thị Lan đìu hiu đi

Câu thơ sáu chữ, chỉ khác nhau hai chữ sau cùng. Nhưng đó là sự khác biệt quyết định. Sự thay đổi, ngày xưa, chỉ là một sự thay đổi nhỏ nhoi: hơi thơ tự dưng chùng lắng xuống, trầm ngâm hẳn đi khi nhớ đến người phụ nữ mình ái mộ. Sự thay đổi hiện nay không những đột ngột mà còn quyết liệt, toàn diện. Là một sự "đổi giòng". Từ sông Thương sang sông Mã hay ngược lại. Biến thơ Bùi Giáng, giai đoạn trước và giai đoạn sau, có những khác biệt căn bản trong phong cách. Trong bài "Thuở chưa điên" in trong tập Thơ Bùi Giáng do Việt Thường xuất bản tại Canada năm 1990, Bùi Giáng nói về hai giai đoạn thơ ấy:

Ấy là thơ thuở chưa điên
Ở trong dấu ngoặc quàng xiên reo cười
Bây giờ xoang điệu đười ươi
Điệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân.

Bài thơ cấu trúc trên trục đối lập: lúc người chưa điên thì thơ lại như điên; lúc người đã bị xem là điên thì thơ, đằng sau cái vẻ ngớ ngẩn và nhảm nhí lại rất hiền triết, chứa đựng thật nhiều tâm sự hắt hiu về cuộc đời.



Trước năm 1975, Bùi Giáng đã có một số những cơn điên ngắn. Trong lời giới thiệu Bùi Giáng in trong cuốn Thơ điên ... thứ thiệt do Thái Bình Điên Quốc xuất bản tại Sài Gòn năm 1970, các bác sĩ làm việc trong dưỡng trí viện Nguyễn Văn Hoài đồng thời cũng là những người đứng ra biên tập tập thơ, cho biết, lúc đầu Bùi Giáng bị xếp vào loại điên nhẹ, nhưng từ tháng 5 năm 1969 thì ông bị chuyển sang hạng điên nặng. Tuy nhiên trước năm 1975, bệnh tình của ông trở thành nặng hơn; những cơn điên đến với ông thường xuyên hơn và cũng kéo dài hơn. Nhưng có điều lạ là, nếu so sánh các tập thơ của Bùi Giáng xuất bản trước năm 1975, sau tập Mưa nguồn, với các tập thơ của ông xuất bản sau năm 1975, cả ở hải ngoại lẫn ở trong nước, chúng ta sẽ thấy ngay là những tập thơ sau này tỉnh táo hơn hẳn.

Thơ Bùi Giáng trước năm 1975, trừ tập Mưa nguồn và phần nào, tập Ngàn thu rớt hột, là một cuộc tra vấn đầy khắc khoải về khả năng của ngôn ngữ. Đó là những bài thơ viết về ngôn ngữ của một kẻ mà số phận bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện diễn đạt và hơn nữa, như một cách thế duy nhất để tồn tại. Ông làm thơ như một kẻ say mê chơi trò chơi chữ nghĩa:

Một hôm gầu guốc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
Bôm ha? đạn hả? bao gồm
Bồm gao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen. (Ngẫu hứng)  (1)

Dạo ấy có lẽ Bùi Giáng chưa đọc Jacques Derrida, triết gia hàng đầu trong trào lưu hậu cấu trúc luận (post-structuralism) và hủy cơ luận (desconstruction), người bắt đầu nổi tiếng tại châu Âu và Mỹ trong khoảng thời gian từ 1967 đến 1972, nhưng mãi đến năm 1975, tôi chưa thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ là được biết đến nhiều tại Việt Nam. Trong lý thuyết của Derrida, có một luận điểm quan trọng: nếu ngôn ngữ, nói theo Ferdinand de Saussure là một hệ thống bao gồm một chuỗi những sự khác biệt về âm kết hợp với một chuỗi những sự khác biệt về khái niệm thì, theo Derrida, mối quan hệ giữa âm và khái niệm, hay nói theo thuật ngữ ngôn ngữ học, giữa cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified) không phải là một thứ quan hệ ổn định. Derrida đặt ra từ "différance" để chỉ bản chất bất định của các ký hiệu ngôn ngữ: động từ "différer" trong tiếng Pháp vừa có nghĩa là hoãn vừa có nghĩa là khác. "Khác" là một ý niệm về không gian: ký hiệu này được phân biệt với các ký hiệu khác. "Hoãn", ngược lại, là một ý niệm về thời gian: một cái biểu đạt ám chỉ một cái được biểu đạt nhưng đến lượt nó, cái được biểu đạt đó lại trở thành cái biểu đạt để ám chỉ một cái được biểu đạt khác, rồi đến lượt nó nữa, cái được biểu đạt ấy lại trở thành cái biểu đạt. Các mối quan hệ, cứ thế, lan rộng ra mãi. Minh chứng rõ nhất cho điều này có thể được nhìn thấy trong từ điển. Chẳng hạn, chúng ta thử tra chữ "viết". Ý nghĩa của chữ viết, tức cái được biểu đạt của ký hiệu "viết" được ghi là: "Vạch những đường nét tạo thành chữ". Trong định nghĩa này, yếu tố quan trọng nhất là "vạch". "Vạch" là gì? Với câu hỏi ấy, cái được biểu đạt ("vạch") tức khắc biến thành cái biểu đạt. Từ điển giải thích ý nghĩa của chữ "vạch" là: "Tạo thành đường, thành nét". Nhưng "tạo" là gì? Từ điển ghi: "Làm cho từ không có trở thành có". Nhưng "làm" là gì? v.v... Cứ thế, liên tục. Điều này một mặt làm cho mỗi từ không những chỉ có quan hệ với các từ khác trong văn cảnh của nó mà còn có những quan hệ vô tận với những từ khác ở ngoài văn cảnh, và mặt khác, quan trọng hơn, làm cho cái gọi là ý nghĩa cứ triển hạn mãi mãi. (2)

Bài thơ ở trên của Bùi Giáng là một đoạn trong chuỗi liên hệ vô tận trong ngôn ngữ: chữ "một hôm" làm ông liên tưởng đến "hai hôm" rồi "ba hôm"; rồi chữ "ba hôm" làm ông liên tưởng đến cách nói lái "bôm ha"; rồi trong "bôm ha", từ tố "bôm" khiến ông liên tưởng đến "đạn", từ âm tố "gao", ông liên tưởng đến "gạo", v.v... Thành ra, chữ "một hôm" không phải chỉ gợi ra ý nghĩa là một đơn vị thời gian, mà còn gợi ra ý nghĩa là súng đạn, là cơm gạo. Xin mở một dấu ngoặc: bài thơ này được Bùi Giáng sáng tác trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam đang hồi khốc liệt. Thời ấy, với nhiều người, với rất nhiều người, sống một ngày đồng nghĩa với sự chịu đựng những đe dọa từ chiến tranh và từ sinh kế.



Tuy nhiên, nếu ngôn ngữ chỉ là một chuỗi những liên hệ bất tận như vậy thì, như các nhà hậu cấu trúc luận sau này đã chỉ rõ, ngôn ngữ không còn khả năng quy chiếu về hiện thực và do đó, cũng không còn khả năng phát hiện chân lý được nữa. Bùi Giáng hoàn toàn hiểu điều đó. Trong bài "Phố phường cỏ mọc" in trong tập Mùa Thu trong thi ca, ông mỉa mai: "người ta tưởng chừng như tin rằng ngôn ngữ có thể nói ra được sự thât" (3). Ai tưởng thì cứ tưởng, riêng ông, ông rất bi quan:

Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ
Mỹ Thọ muôn đời là Lục Tỉnh hôm nay
Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng
Gọi người sương phụ gái thơ ngây. (Lẫn lộn lung tung) (4)

Hoài nghi khả năng "tái hiện hiện thực" của ngôn ngữ, có khi Bùi Giáng bỏ cuộc chơi trong lãnh vực ngữ nghĩa để đuổi bắt một trò chơi ở lãnh vực ngữ âm, với nhịp điệu trầm bổng của các thanh, các âm. Đó là những lúc Bùi Giáng làm những câu thơ toàn bằng chữ Hán hoặc những câu thơ hoàn toàn vô nghĩa, trong đó, chỉ có những tiếng động lanh canh lách cách của các âm, các vần, các thanh điệu va chạm vào nhau mà thôi. (5)

Những trò tra vấn ngôn ngữ ấy, dù sao, cũng là những trò chơi của một người trí thức. Tôi nghĩ, đó là ý nghĩa của cụm từ "ở trong dấu ngoặc" trong đoạn thơ trên của Bùi Giáng. Sau này, chủ yếu là sau năm 1975, ông thoát được những ám ảnh thuần túy trí thức ấy. Thơ của ông, đằng sau cái vẻ ngớ ngẩn điên khùng, lại chứa đựng nhiều nhân tình hơn:

Bây giờ xoang điệu đười ươi
Điệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân

Nói đến "xoang điệu đười ươi" là nói đến những yếu tố quậy phá bên ngoài. Ở đây nên chú ý là Bùi Giáng, cả trước và sau năm 1975, đều nói đến cái điên của mình; tuy nhiên, sau năm 1975, tần số xuất hiện của những bài viết về cái điên ấy tăng lên rất cao. Hơn nữa, trong những bài thơ ấy, Bùi Giáng nhắc đến cái điên của ông một cách cực kỳ tỉnh táo, như là cái điên của một ai khác:

Chớm vừa tỉnh táo hôm qua
Mà hôm nay đã hét la vội vàng
Ồn ào quậy phá xóm làng (Cho hay là giống) (6)

Đôi khi với chút hài hước:

Điên cuồng mà tưởng nên thơ
Cuồng điên mà tưởng làm thơ như thần (Tặng bạn điên)

Có khi vừa hài hước vừa nhuốm chút tự hào:

- Ủa, phải anh Sáu Giáng đó không?
- Và cô có phải cô Bông năm nào?
- Anh còn nhớ rõ, ôi chao
Vợ chồng tôi cũng lúc nào nhớ anh
Anh điên mà dzui dzẻ thập thành
Còn chúng tôi tỉnh táo mà đành buồn hiu! (7)

Điên, mà ý thức về cái điên của mình một cách sáng suốt như vậy, kể cũng rất lạ lùng. Nhưng điều đáng lạ lùng hơn nữa là, càng điên, thơ Bùi Giáng càng chất chứa nhân tình, hay nói theo ngôn ngữ của ông là "điệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân". Thơ không còn là một trò chơi chữ nghĩa nữa mà là một sự bộc bạch, một sự thố lộ tâm tình:

Lời tỉnh táo lời mê man
Điệu thê thiết rống điệu bàng hoàng ca (Y ư mộng du ư mê)

Một tiếng đoạn trường:

Câu thơ viết ngắn viết dài
Ghép làm một mảnh miệt mài cho nhau
Ghép thật chậm ghép thật mau
Ghép lui ghép tới ghép gào rống tru (Câu thơ viết ngắn)

Ngay cả khi may mắn, được hạnh phúc, Bùi Giáng cũng dùng thơ để gửi gắm niềm vui:

Những tờ thơ mộng tạc ghi
Niềm vui vô tận từ khi Dì về (Tặng dì Trang)

Chính vì đem hết tâm tình, cả vui lẫn buồn, cả hạnh phúc lẫn thống khổ, gửi gắm vào thơ như vậy, cho nên Bùi Giáng mới khắc khoải trông đợi sự cảm thông của người đọc, điều trước năm 1975, có lẽ ông ít nghĩ tới:

Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không (Bao giờ)

hay:
Xổ bầu tâm sự điêu linh
Ai người chia xẻ với mình với ta (Một giờ)

Khát khao được thông cảm, có lúc ông năn nỉ:

Tặng nhau từ ngữ lạc lầm
Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn (Y ư mộng du ư mê)

Nói đến "từ ngữ lạc lầm" là nói đến sự bất lực của người sử dụng ngôn ngữ chứ không phải là sự bất lực của chính bản thân ngôn ngữ. Đó là sự thất vọng rất thực tế chứ không còn là một sự thất vọng mang tính siêu hình:

Người điên ngôn ngữ điệp trùng
Dở chừng như mộng dở chừng như mê
Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói được nghiệp nghề người điên (Người điên)

Bùi Giáng, sau 1975, rõ ràng là một nhà thơ "ngậm ngùi dấn thân". Ông sống ngoài đường phố nhiều hơn trong nhà; thơ của ông cũng nhuốm nhiều chất bụi của nhân sinh. Rời bỏ những trang sách triết học hiểm hóc của Nietszche, của Heidegger, ông lắng nghe những tiếng nói âm thầm của đời sống chung quanh:

Anh đi đứng phố ngồi hè
Thiu thiu nằm ngủ lắng nghe chuyện gì. (Cảm ơn)

Cũng ý tương tự, ông có một câu thơ khác không chừng ý vị hơn, mênh mang hơn:

Chiêm bao đứng phố ngồi hè
Nghìn phương mây gió còn nghe ví dù (Ví dù)

Nhà thơ đường phố ấy viết về mình một cách rất đỗi hiền hòa:

Đường quanh ngõ quẹo lang thang
Niềm vui tao ngộ muôn vàn lạ thay
Trái tim mỗi mới mỗi ngày
Mỗi giờ phút động mây trời rung rinh
Đường đi mất hút thình lình
Những khôn mặt lạ những hình ảnh quen
Tạm nhờ men rượu nguôi quên
Niềm vui nỗi nhớ chênh vênh lạ lùng (Đường quanh ngõ quẹo)

Có thể nói, sau 1975, thơ của Bùi Giáng giảm chất siêu hình và tăng rất nhiều chất cảm xúc. Thơ ông không còn là những cuộc tra vấn, "lời nghi vấn lời", mà chủ yếu là một sự bộc bạch tâm sự, "lời lời vô tận từ lòng mà ra". Ông viết nhiều về những buồn vui trong đời thường:

Tôi ngồi chép mãi bài thơ
Quẩn quanh vần điệu bao giờ cho xong
Đôi phen lệ chảy ròng ròng
Tâm tình kín đáo giòng giòng tuôn ra
Tiếng cười tiếng khóc tiếng ca
Tưởng chừng khép mở màu hoa mấy mùa (Chuyện bữa trước bữa sau)

Hình như chính Bùi Giáng cũng ngạc nhiên về điều ấy:

Rong chơi râu tóc bạc phơ
Còn nghe đắm đuối vần thơ yêu người (Râu tóc bạc phơ)

Ngạc nhiên, nhưng chưa chắc ông đã hài lòng khi ông tự biết:

Mỗi ngày thân thể mỗi gầy
Mỗi năm tim máu mỗi nhầy nhụa ra (Mỗi ngày)

Có lẽ Bùi Giáng xem những bài thơ xuất phát từ tim máu "nhầy nhụa" ấy là những bài thơ "tèm nhem tâm hồn" chăng?

Điều rất thú vị là sau 1975, không phải chỉ có mỗi Bùi Giáng là trở thành nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa theo nghĩa là kẻ xem thơ chủ yếu như một sự bộc lộ cảm xúc và nhắm tới, trước hết, mục đích giao cảm với tha nhân. Một sự "đổi giòng" tương tự cũng diễn ra trong sáng tác của rất nhiều người khác, kể cả Mai Thảo lẫn Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên, tuy ở mỗi người, mức độ và thời điểm "đổi giòng" khác nhau. Hình như khi bị đẩy xuống tận cùng thảm họa, không còn lại gì cả, người ta bắt đầu nghiêng xuống lắng nghe tâm tình của mình một cách chăm chú và thành khẩn hơn, từ đó, người ta cũng đâm ra thèm khát được thông cảm, được chia xẻ hơn chăng? Nếu đúng thế thì hiện tượng ít nhiều chuyển sang xu hướng lãng mạn chủ nghĩa là một trong những đặc điểm lớn của văn học miền Nam thời kỳ hậu 1975.

Nguyễn Hưng Quốc
______________________

Chú thích:
1. Trích trong tập Thơ Điên... thứ thiệt do Thái Bình Điên Quốc xuất bản tại Sài Gòn năm 1970.
2. Quan điểm về ngôn ngữ và văn học của Jacques Derrida chủ yếu được trình bày trong hai cuốn: De la grammatologie (Minuit, Paris, 1967), Gayatri Chakravorty Spivak dịch ra tiếng Anh, Of Grammatology, Johns Hopkins University Press xuất bản năm 1976; và cuốn L' écriture et la différence (Seuil, Paris, 1967), Alan Bass dịch sang tiếng Anh, Writing and Difference, Routledge xuất bản tại London năm 1978. Cuốn sách giới thiệu Derrida một cách vắn tắt và dễ đọc nhất có lẽ là cuốn Derrida của Christopher Johnson, Phoenix xuất bản tại London năm 1997.
3. Bùi Giáng (1969), Mùa thu trong thi ca, Sống Mới in lại tại Hoa Kỳ, không ghi năm, tr. 223.
4. Bài thơ này in trong tập Ngàn thu rớt hột; (tôi bị mất tập thơ này và không nhớ số trang).
5. Về vấn đề ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng, xin xem thêm chương "Cuộc hòa giải vô tận: trường hợp Bùi Giáng" trong cuốn Thơ, v.v... và v.v... của Nguyễn Hưng Quốc, Văn Nghệ xuất bản, 1996, tr. 181-216.
6. Tất cả những câu thơ của Bùi Giáng dẫn trong bài này nếu không có chú thích riêng đều trích từ các tập Thơ Bùi Giáng do Việt Thường xuất bản tại Canada năm 1990; Thế Kỷ 21 xuất bản tại California năm 1994 và Bùi Văn Vịnh xuất bản tại California năm 1995.
7. Ghi theo trí nhớ, không nhớ trong bài nào và tập nào.
.
Về Đầu Trang Go down
tnguyen
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Bùi Giáng   Thu Mar 13, 2014 10:08 am


BÙI GIÁNG Bốn Mùa

Thơ: Phạm Thiên Thư
Nhạc: Nguyễn Tuấn



.
Về Đầu Trang Go down
maile
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Bùi Giáng   Fri Mar 14, 2014 2:32 pm


CÕI THƠ BÙI GIÁNG




CHẾT TỪ SƠ NGỘ
MÀU HOA CUỐI CÙNG
.
Về Đầu Trang Go down
nguyenvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Bùi Giáng   Sat Mar 15, 2014 12:09 pm


Với “Đười ươi chân kinh”, “Hoàng tử bé” Bùi Giáng có thật sự làm thơ?


Bùi Giáng là một cái tên không xa lạ với văn học hậu hiện đại Việt Nam. Theo như nhà phê bình Đỗ Lai Thúy thì “Nếu trước đây, Nguyễn Du mở ra thời kỳ trung đại cổ điển trong văn học Việt Nam, nâng nó lên ngang tầm khu vực Đông Á, còn Tản Đà vào những thập niên đầu thế kỷ XX đã mở đầu cho thời hiện đại, đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo thế giới, tuy có sự lệch thời gian, thì Bùi Giáng ở những mười năm cuối của cùng thế kỷ ấy đã đi đầu trong việc mở ra một thời đại mới cho văn học Việt Nam, văn học hậu hiện đại”. Tuy vậy, những người đọc và hiểu thơ Bùi Giáng hiện nay lại rất hiếm, nhất là các bạn trẻ. Bùi Giáng in sách nhiều, với số lượng khổng lồ các tập thơ, sách dịch, “có lẽ vì vậy mà những câu thơ vàng thau lẫn lộn, dính mắc, bíu ríu đến nỗi sẽ thực sự là một thách đố để độc giả có thể tìm thấy trong những đống hỗn độn ấy những cặp lục bát xuất thần, hay một thước văn rực rỡ” (trích lời tựa cuối cuốn sách “Đười ươi chân kinh”).

Với mong muốn mang đến cho độc giả một cuốn sách về Bùi Giáng với những bài thơ, áng văn hay, xuất sắc thể hiện một “hoàng tử bé” theo đúng nghĩa thực, “Đười ươi chân kinh”, thơ văn tinh tuyển Bùi Giáng đã được xuất bản. Trong buổi tọa đàm giới thiệu về “Đười ươi chân kinh” dài hơn hai tiếng đồng hồ vào chiều 20-12 tại Hà Nội, những người yêu thơ Bùi Giáng, những người biết đến Bùi Giáng, những người chưa từng đọc thơ Bùi Giáng đã có cho mình những cảm quan riêng về “Đười ươi thi sĩ”.


“Hoàng tử bé” Bùi Giáng. Ảnh: Internet

“Bùi Giáng là ai”?


“Hỏi tên rằng Biển Dâu Ngàn
Hỏi quê rằng xứ Mơ Màng đã quên”

Đó là hai câu thơ mà Bùi Giáng in trên tấm danh thiếp của mình, sự lạ lùng của tờ danh thiếp đã phần nào hé lộ một “Đười ươi thi sĩ” khác biệt, độc đáo và lạ thường giữa số đông những nhà thơ thời bấy giờ.

“Trước mắt tôi, Bùi Giáng xuất hiện như trong một chiếc kính vạn hoa. Với tôi, hình ảnh ấy là một sự nhìn nhận, một vinh hạnh và một niềm an ủi lớn lao đối với bất kỳ tác giả nào không đơn điệu và nhất phiến”, nhà nghiên cứu, dịch giả Bùi Văn Nam Sơn (cũng là chú họ của Bùi Giáng) đã chia sẻ cách nhìn của ông về “Đười ươi thi sĩ” như vậy.

“Người ta nói ông điên, nhưng điên mà tuôn ra thơ, múa ra triết thì chắc nhiều kẻ muốn điên như ông” (nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo). Đúng là Bùi Giáng “điên”, một cái “điên rất thi sĩ”, một cái “điên có tâm hồn”.

Giai thoại về Bùi Giáng có thể nói là một kho tàng cho những ai muốn khám phá, muốn bóc tách cái “điên” trong “hoàng tử bé”. Đó là một con người rất lạ lùng, rất “Tây phương” khi dịch sách, nhưng lại cũng mang đậm chất Á Đông khi làm thơ Hán, dịch thơ Hán.

Đi trọn hơn 70 năm cuộc đời, Bùi Giáng vừa là một nhà thơ với bút lực phi thường “vô tiền khoáng hậu”, vừa là một dịch giả và là một nhà phê bình văn học. Hơn tất cả những thi sĩ miền Nam đương thời khác, Bùi Giáng có được may mắn không đứt đoạn qua mốc 1975 lịch sử. Sau năm 1975, ông vẫn liên tiếp tái bản thơ và sách dịch. Hơn thế, sau khi ông mất, một lượng di cảo thơ khổng lồ đã lần lượt được xuất bản, biến Bùi Giáng thành “tác giả không bao giờ vắng bóng” trên các kệ sách.

“Một ông lão gầy nhom, râu tóc bạc phơ, quần áo nhầu nhĩ ngồi sau chiếc xe đạp thồ lướt qua đường và điều đặc biệt là ông ngồi quay lưng với người lái xe, tay huơ lên như đang nói với trời xanh”, đó là những phác họa mà nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã ưu ái chia sẻ với những người tham gia tọa đàm về “Đười ươi thi sĩ” Bùi Giáng.

Bùi Giáng không lạ, nhưng để biết Bùi Giáng là ai thì có lẽ lại là một sự lạ đối với những người tìm hiểu về ông. Muốn hiểu rõ về Bùi Giáng có lẽ chỉ còn cách đọc thơ ông, sách ông dịch, để chiêm nghiệm con người thơ trong đấy, một áng thơ rất "điên" nhưng cũng rất "tình".

“Hoàng tử bé” Bùi Giáng có thật sự làm thơ?


Đọc thơ Bùi Giáng, người ta ngỡ như lạ mà quen, ngỡ như quen mà lạ. Thơ Bùi Giáng là một trường hợp đặc thù và lý thú. Đọc thơ Bùi Giáng người ta cứ loay hoay mà tìm cách trả lời cho những câu hỏi: Bùi Giáng là nhà thơ lãng mạn, cổ điển hay nhà thơ tân kì? Bùi Giáng có cách tân thơ hay không, nếu có cách tân thì ở phương diện nào? Bùi Giáng có thật sự làm thơ hay không, hay đó là tiếng lòng thốt lên thành thơ? Rất khó để có thể trả lời những câu hỏi đó, chỉ có thể nắm bắt được một Bùi Giáng rất "điên" trong thơ, mà đó lại là "cái điên triết lý". Triết lý trong thơ Bùi Giáng tưởng như xa lắm nhưng lại rất gần. “Các nhà phê bình thường kêu thơ ta ít tính triết học và thiếu vắng những tư tưởng lớn. Tôi nghĩ, đọc lại thơ Bùi Giáng, phần nào chúng ta sẽ trả lời được câu hỏi đó” (nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo).




Thơ lục bát của Bùi Giáng thì như một "nguồn suối từ trời cao tưới xuống trần gian. Nó lênh loáng, miên man, mát mẻ, và nhiều khi ớn lạnh lòng người" (trích lời nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo). Qua cảm nhận của mỗi người, thơ Bùi Giáng lại có những nét riêng, có người cảm nhận thơ ông "đan xen với những cảm xúc vô bờ trước những câu thần cú, những ý tình bát ngát của họ Bùi", có người lại nhìn thấy "mối tương quan mật thiết với hồn thơ dân tộc, với các truyền thống tư tưởng Đông Tây trong thơ "đười ươi thi sĩ"', lại có người "thông diễn" thơ Bùi Giáng dưới nhiều bầu khí và ánh sáng khác nhau" (trích lời nhà nghiên cứu, dịch giả Bùi Văn Sơn Nam).

Ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng cũng vô cùng phong phú và đa dạng, có khả năng chạm đến những thứ nhỏ nhặt nhất của sự việc của cuộc sống của con người, "với việc đưa ngôn ngữ trở về với sự vật, rồi lại coi sự vật, trật tự sự vật, tức cuộc đời, tức thực tại chỉ là các trò chơi ngôn ngữ, tức thống nhất vào ngôn ngữ cả sự biểu đạt thực tại lẫn thực tại được biểu đạt, Bùi Giáng đã vượt qua chủ nghĩa hiện đại, mở một cánh cửa vào hậu hiện đại, để hôm nay, càng lúc càng đông nhà thơ trẻ, với những kích thước tài năng và tầm vóc tư tưởng khác nhau, chen chân qua khung cửa hẹp ấy" (trích bài phê bình "Bùi Giáng nhà thơ của các nhà thơ", nhà phê bình Đỗ Lai Thúy).

“Đươi ươi chân kinh” – đọc và chiêm nghiệm

"Đươi ươi chân kinh" có thể coi là một tinh tuyển thơ văn tập hợp những tác phẩm xuất sắc nhất của Bùi Giáng mà qua đó, những ai còn tò mò, còn muốn tìm hiểu về một "hoàng tử bé" có thể tìm đọc và chiêm nghiệm. Hơn 500 trang sách được biên tập, chọn lọc kĩ lưỡng, ngoài những bài thơ đầy đủ, còn có những câu thơ lục bát lẻ xuất thần của Bùi Giáng được in trong một chương riêng có thể giúp bạn đọc yên tâm "lật giở để thưởng thức "đười ươi thi sỹ", tức Bùi Giáng, một gương mặt văn học đa tạp thuộc loại kỳ lạ nhất, người thừa kế lớn nhất và tinh quái nhất của Nguyễn Du về lục bát, người mà hồn thơ bị libido vây khốn gay cấn khó tả và vì thế dường như là kẻ đem lại nhiều tiếng cười nhất cho thơ ca Việt hiện đại". (trích lời tựa cuối cuốn sách "Đười ươi chân kinh").

Đọc thơ Bùi Giáng để cảm nhận nhiều hơn một tâm hồn, một con người, một "Doáng booao diêu tuổi Doáng gióa/ Điêng booao diêu tuổi gọi lòa điêng non".

Bài, ảnh: Thu Thủy - Nguyễn Thảo




.
Về Đầu Trang Go down
tranvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Bùi Giáng   Sat Aug 02, 2014 11:19 am



Chiêm Bao

thơ Bùi Giáng
Hồng Vân diễn ngâm



Tọa đàm khoa học về cố thi sĩ Bùi Giáng

Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ Bùi Giáng   

Về Đầu Trang Go down
 
Thơ Bùi Giáng
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Thơ-
Chuyển đến