Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
VNCH hanh sung thang tran Thuong
Latest topics
April 2018
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30      
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)

Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Sun Jul 01, 2012 3:05 am



Dino Buzzati sinh năm 1906 tại Belluno, mất năm 1972 ở Milano (Italia). Trước khi viết văn, ông là họa sĩ, nhạc sĩ và nhà báo, từng là phóng viên chiến trường và phụ trách mục phê bình nghệ thuật cho Corriere della Sera, một nhật báo quan trọng nhất nước Ý.

Với Sa mạc Tartari (1940), tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, ông đã trở thành một trong những tên tuổi lớn của thế kỷ 20. Nhiều truyện dài của ông đã được chuyển thành kịch bản sân khấu, phát thanh và truyền hình. Truyện Con chó gặp Chúa, đã được trình diễn trên đài truyền hình Pháp.
Ông viết nhiều tiểu thuyết nhưng hình như thể loại yêu thích của ông là truyện ngắn. Chủ đề quen thuộc của Buzzati là những ám ảnh và nỗi bất an của kiếp người, sự chạy trốn thời gian, định mệnh, sợ hãi đối với hư vô, thất bại của sự sống, mong manh của tình yêu, bí ẩn của nỗi đau và cái ác...
Bằng bút pháp độc đáo ông dắt người đọc ra khỏi cuộc sống thường ngày để bước vào một thế giới khác, rồi đẩy họ vào những sự kiện nghịch lý, ly kỳ và đầy bí ẩn. Bí ẩn vì nằm ngoài cánh cửa của đời sống thường nhật nhưng cũng có thể đồng hiện hữu với diễn biến thường ngày mà chúng ta đã vô tình không nhận thấy để cuối cùng phải kinh ngạc, suy nghĩ... trong một niềm xúc động sâu xa. 




Những ngày đánh mất
Dino Buzzati  (Ý)


Vài ngày sau khi mua biệt thự, một bữa về nhà Ernst Kazirra thấy một gã đàn ông đang lách ra ngõ phụ trổ qua tường, trên vai vác một thùng gỗ rồi chất nó lên xe cam nhông.

Anh chưa kịp chận thì gã đã bỏ chạy. Anh phải đuổi theo bằng xe hơi. Chiếc cam nhông chạy ngoằn ngoèo đến tận ngoại biên thành phố rồi mới chịu dừng trên lề một bờ vực.

Kazirra xuống xe và bước đến. Gã lạ mặt đang khuân một thùng gỗ, khệnh khạng đi vài bước rồi quăng xuống hố. Dưới đó đã có chất hằng nghìn thùng gỗ khác, rất giống nhau.

Anh đến trước mặt gã đàn ông và hỏi: “Tôi thấy anh mang những thứ này từ khuôn viên nhà tôi. Anh bỏ cái gì trong đó? Còn những cái thùng gỗ này là đồ quái gì vậy?”

Gã lạ mặt nhìn anh rồi tủm tỉm cười. “Tôi còn nhiều lắm trên xe cam nhông, để vất đi. Ông không biết à? Chúng là những ngày."

“Những ngày gì?”
“Những ngày của ông”.
“Những ngày của tôi?”
“Những ngày đã mất của ông. Những ngày mà ông đã hoang phí. Có phải ông đã đợi chúng không? Chúng đến rồi đấy. Nhưng ông đã dùng để làm gì? Ðấy, ông xem, còn nguyên vẹn. Bây giờ thì...”

Kazirra đảo mắt. Những thùng gỗ đang chất thành một đống lớn. Anh lần xuống hố rồi đến mở một thùng.

Trong đó có một con đường mùa thu, và ở cuối đường người yêu của anh, Graziella đã vĩnh viễn bỏ đi. Nhưng anh đã không thèm gọi.

Anh mở thùng thứ hai. Trên chiếc giường nằm trong một căn phòng bệnh viện, người em trai Giosué đang đau nặng và có ý mong anh. Nhưng anh đang bận áp phe ở một nơi nào đó.

Anh mở thùng thứ ba. Ngoài cổng một căn nhà cũ nghèo nàn, con chó Duk trung thành đã đợi anh từ hai năm nay, gầy đến trơ xương. Mà anh đâu có muốn quay về.

Anh chợt nghe nhói lên ở chỗ này, ngay cuống bao tử. Gã lạ mặt đang đứng hiên ngang trên bờ vực, bất động như một kẻ thi hành công lý.

“Ông ơi!” anh gọi lớn. “Ông làm ơn nghe tôi nói. Ông cho tôi xin lại ba ngày. Tôi van ông. Ít nhất ba ngày này. Tôi giàu lắm! Tôi sẽ trả cho ông bất kỳ giá nào ông muốn.”

Gã lạ mặt phát một cử chỉ bằng tay phải, nửa như ngầm chỉ một nơi nào không thể đến, nửa như muốn nói là đã quá trễ rồi và không còn cách nào cứu vãn. Bóng gã vụt nhòa đi trong không gian và lúc đó đống thùng bí ẩn cũng đột nhiên biến mất.

Rồi bóng đêm tràn xuống.

Trương Văn Dân dịch
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 333
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Sun Feb 11, 2018 12:51 am

.

Dino Buzzati (1906-1972) là nhà văn và nhà báo Ý. Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông là Il deserto dei Tartari / Le Désert des Tartares (1940) thành công khắp thế giới và được dịch ra nhiều thứ tiếng (Bản dịch Pháp ngữ được thực hiện năm 1949 và dựng phim năm 1976). Giới phê bình nhận xét rằng văn ông ảnh hưởng nhiều của Kafka, Sartre và Camus.


Chết nhầm
Dino Buzzati


Bản dịch: Miêng
Dịch theo bản tiếng Pháp: Le défunt par erreur, trong quyển Le K, do Jacqueline Remillet dịch từ tiếng Ý.– nxb Lafont, 1967.


Một buổi sáng, danh hoạ Lucio Predonzani 46 tuổi, từ lâu đã ẩn cư trong căn nhà ở vùng quê Vimercate, sửng sờ khi mở tờ báo hằng ngày vì nhận thấy nơi trang ba, phía dưới bên phải, trên bốn cột, cái tựa như sau:

NGHỆ THUẬT Ý ĐỂ TANG
hoạ sĩ Predonzani đã chết

Và ở dưới có mấy dòng in nghiêng: Vimercate, 21 tháng 2. Sau cơn bịnh ngắn ngày và bác sĩ bó tay, hoạ sĩ Lucio Predonzani vừa từ trần hai hôm nay. Người quá cố đã bày tỏ ý muốn là cái chết của mình chỉ được công bố sau tang lễ.
Tiếp theo là bài báo rất tán tụng khoảng một cột, ký tên nhà phê bình nghệ thuật tiếng tăm Steffani. Còn có cả tấm hình từ hai mươi năm trước.

Choáng váng, không tin vào mắt mình, Predonzani cuống cuồng đọc lướt qua bài viết tiểu truyện người chết, mặc dù vội vã, cũng phát hiện trong chớp mắt vài câu với sự dè dặt độc địa, nhét đó đây bằng lối ngoại giao không chối cãi được, giữa hàng loạt hình dung từ ca tụng.
– Mathilde! Mathilde! – Vừa lấy lại hơi thở là Predonzani gọi ngay.
Từ phòng bên cạnh, vợ ông trả lời “Chuyện gì vậy?”.
Ông khẩn khoản :
– Đến đây, đến ngay Mathilde!
– Chờ chút. Em bận ủi đồ.
– Anh bảo đến đây đã mà!

Giọng ông lo âu đến nỗi vợ đặt bàn ủi xuống, chạy ào đến.
– “Nè… đọc đi!” Hoạ sĩ rên rỉ đưa tờ báo cho vợ.
Bà cầm tờ báo, xanh mặt, và với tính phi lý tuyệt vời của đàn bà, nức nở tuyệt vọng. Bà bập bẹ trong nước mắt:
– Ôi, Lucio của em, Lucio tội nghiệp của em, kho báu của em…

Hoạt cảnh cuối cùng khiến người đàn ông phẫn nộ.
– Em điên rồi hả Mathilde? Bộ em không thấy là anh đây à? Bộ em không hiểu đây là một nhầm lẫn, một sự nhầm lẫn kinh khủng sao?

Mathilde ngừng khóc ngay tức khắc, nhìn chồng, mặt bà bình tĩnh lại, và rồi thình lình cũng nhanh chóng như hồi nãy đã cảm thấy goá bụa, bị khía cạnh khôi hài của tình huống thọt léc, bà nổi cơn cười như điên.
– Ôi Trời ơi, tức cười quá! Ôi, ôi, thiệt tình! Tha lỗi cho em Lucio, nhưng anh biết không… một tang tóc cho nghệ thuật… mà anh thì ở đây tươi tắn hồng hào!
Bà tru tréo vừa phì cười. Ông nổi cáu:
– Thôi, đủ rồi! Em không nhận thấy sao? Kinh khủng, thực là kinh khủng! A, hắn sẽ biết tay ta, cái thằng giám đốc tờ báo đó! Cái trò đùa bỡn này! Hắn sẽ phải trả giá đây.

Predonzani vội vã ra phố, chạy thẳng đến toà báo. Viên giám đốc tiếp ông với thái độ nhã nhặn:
– Xin mời, họa sư thân mến, xin mời ngồi. Không không. Chiếc ghế này tiện nghi hơn. Một điếu nhé? Ô, mấy cái bật lửa này chẳng bao giờ được việc, thật bực. Cái gạt tàn đây… Và bây giờ tôi xin nghe: ngọn gió nào đưa ngài tới đây vậy?

Hắn giả vờ hay thực sự không biết tờ báo mình đã đăng những gì? Predonzani đâm sửng sốt.
– Nhưng mà?… nhưng mà?… báo hôm nay… trên trang ba… Có loan tin cái chết của tôi…
– Về cái chết của ngài ư?

Viên giám đốc lấy tờ báo xếp nằm trên bàn, mở ra, thấy, hiểu (hay giả vờ như hiểu), hơi bối rối một lát, ô! chỉ đúng vài sát na, rồi lấy lại bình tĩnh một cách tuyệt hảo, ho húng hắng.
– Ờ! Ờ nhỉ! Quả thực có chút nhầm lẫn chen vào… một bất đồng nhỏ…
Có thể nói như là ông bố quở mắng lấy lệ đứa con trước người qua đường bực mình vì đứa bé.

Predonzani mất kiên nhẫn. Ông hét lên:
– Bất đồng nhỏ? Ông đã giết tôi, đó là điều ông đã gây cho tôi! Thật là quái dị!
Viên giám đốc điềm tĩnh:
– Vâng, vâng. Có thể là … Tôi cho rằng… hơ… bối cảnh của thông tin có… hơ… hơi vượt quá ý định của chúng tôi… Mặt khác, tôi hy vọng rằng ngài nhận thấy giá trị chính xác của sự ngưỡng mộ mà tờ báo chúng tôi đã bày tỏ về nghệ thuật của ngài chứ?
– Sự ngưỡng mộ đẹp đẽ quá! Ông làm tôi sạt nghiệp thì có!
– Hem, tôi không chối cãi là có sự nhầm lẫn nho nhỏ lẩn vào trong…
– Cái gì! Ông nói rằng tôi đã chết khi tôi còn sống?… Và ông gọi đó là nhầm lẫn à? Nghe phát điên được! Tôi đòi một sự cải chính với hình thức đúng đắn ngay ở chỗ bài báo này! Và tôi dành mọi quyền truy tố ông đòi bồi thường thiệt hại.
– Thiệt hại? Coi kìa, thưa ông – từ “hoạ sư” đổi sang “ông” đơn giản, dấu hiệu xấu rồi – ông không nhận thức được cái may mắn đặc biệt đến với ông ư? Bất kỳ hoạ sĩ nào cũng sẽ nhảy dựng lên vì vui mừng cao như vầy …
– May mắn?
– Phải, may mắn chứ! Tại sao ư? Khi một hoạ sĩ chết, giá tranh của họ tăng vọt lên đáng kể. Không chủ ý, vâng rõ ràng như thế, không chủ ý, tôi xin xác nhận, chúng tôi đã mang lại cho ông một dịch vụ không-định-giá-được.
– Còn tôi thì sao? Tôi phải làm người chết hả? phải biến mất, phải bay hơi đi hả?
– Tất nhiên, nếu ông muốn lợi dụng cái tin giật gân này… Chúa ơi! Ông không muốn cơ may này vuột mất chứ? Suy ngẫm lại tí nào: một cuộc triển lãm tưởng niệm khéo tổ chức, có quảng cáo rùm beng… Chúng tôi sẽ làm hết khả năng để phát động… Một áp phe nhiều triệu đấy, hoạ sư thân mến ạ.
– Nhưng tôi, tôi là cái gì trong tất cả các trò đó? Tôi phải biến mất à?
– Nói nghe… Ngài không có một người em trai nào sao?
– Có, chi vậy? Nó sống bên Nam Phi.
– Tuyệt hảo! Và anh ta giống ngài chứ?
– Khá giống. Nhưng nó để râu.
– Tuyệt vời! Vậy, hãy để râu ngài cũng mọc đi, rồi nói rằng ngài là ông em. Mọi việc sẽ trôi chảy như phong thư gửi bưu điện thôi mà… Cứ tin tôi đi: nên để mọi việc xuôi theo dòng vẫn hơn… Và xin hiểu cho tôi: một đính chính kiểu này… chả biết nó sẽ phục vụ ai… Riêng ngài, tha lỗi cho sự chân thật của tôi nhé, ngài sẽ là một nhân vật buồn cười… Phản đối vô ích, những người chết đi sống lại không bao giờ dễ thương hết cả… Và trong thế giới nghệ thuật, ngài biết rõ mọi sự như thế nào mà, sự sống lại của ngài sau từng ấy ca ngợi, sẽ gây ấn tượng xấu, và chỉ mang hương vị khả nghi thôi…

Predonzani không biết nói không. Trở về căn nhà ở vùng quê. Giam mình trong phòng và để râu mọc. Vợ ông để tang. Bạn bè đến thăm bà, đặc biệt là Oscar Pradelli, cũng là hoạ sĩ, nhưng luôn là cái bóng mờ bên cạnh ông. Rồi người mua tranh bắt đầu kéo đến: thương gia, nhà sưu tập, người đoán thấy thời cơ. Nhiều bức tranh trước kia khó nhọc lắm mới đạt đến bốn năm mươi nghìn, bây giờ bán dễ dàng với giá hai trăm. Và, trong chỗ ẩn cư bí mật của mình, Predonzani làm việc cật lực, bức này tiếp bức kia, dĩ nhiên là đề ngày tháng lùi lên.

Một tháng sau – râu đã mọc khá đủ rồi – Predonzani liều lĩnh ra ngoài, làm như là người em đến từ Nam Phi. Ông mang kính và bắt chước giọng lai ngoại quốc. Thiên hạ bảo ông giống người anh kinh khủng.

Do tò mò, vào một trong những cuộc đi dạo đầu tiên sau khi ru rú tự giam mình, ông đi đến tận nghĩa trang. Trên tấm đá cẩm thạch to trong hầm mộ gia đình, một người thợ đẽo đang khắc tên cùng ngày sinh, ngày mất của ông.
Ông nói với anh ta mình là em kẻ quá cố. Ông mở khoá cánh cửa nhỏ bằng đồng thanh, bước xuống nhà mồ nơi quan tài dòng họ chồng chất lên nhau. Nhiều làm sao! Một chiếc mới tinh thật đẹp. “Lucio Predonzani”, ông đọc thấy trên tấm bảng đồng. Nắp được gắn vít. Với nỗi lo sợ tối tăm, ông co ngón tay gõ lên mặt quan tài. Nó vang vang, rỗng ruột. May quá!

Lạ lùng. Dần dà những cuộc thăm viếng của Oscar Pradelli thường xuyên hơn, Mathilde rạng rỡ, có vẻ trẻ lại. Chắc chắn sự tang chế có vẻ hạp với bà. Predonzani quan sát sự biến thái của bà với tình cảm thích thú và lo ngại trộn lẫn. Một tối ông cảm nhận thèm muốn bà, điều mà nhiều năm nay không đến với ông nữa. Ông thèm muốn bà goá của mình.

Về phần Pradelli, sự xum xoe của gã quả là không hợp lúc sao? Nhưng khi Predonzani lưu ý Mathilde điều này, bà phản ứng hầu như hung hăng: “Anh sao vậy? Tội nghiệp Oscar. Người bạn thực sự duy nhất của anh. Người duy nhất chân thành hối tiếc anh. Anh ấy chịu khó an ủi nỗi cô đơn của em, còn anh thì nghi ngờ anh ấy. Anh nên xấu hổ!”.

Trong khi đó, cuộc triển lãm di cảo được tổ chức và thành công rực rỡ. Thâu được năm triệu rưỡi, sau khi đã trả hết chi phí linh tinh. Sau vụ đó thì Predonzani và tác phẩm của ông nhanh chóng rơi vào quên lãng. Tên ông được nhắc đến càng lúc càng hiếm ở các mục báo và trong tạp chí nghệ thuật. Và chẳng bao lâu nữa, ông sẽ biến mất trên đó hoàn toàn.

Với sự kinh hoàng hối tiếc, ông xác nhận rằng ngay cả không có Lucio Predonzani, thế giới vẫn tiếp tục vận hành như trước: mặt trời mọc lên, lặn xuống như trước; mấy cô giúp việc rũ thảm mỗi sáng như trước; tàu lửa lao đi; người ta ăn uống cười đùa; và đêm về trai gái hôn nhau, đứng, tựa vào hàng rào sẫm tối công viên, như trước.

Cho đến một hôm, trở về sau cuộc dạo chơi ngoài đồng, ông nhận ra chiếc áo choàng của người bạn thân Oscar Pradelli bỏ ở phòng đợi. Căn nhà yên ả, thân mật lạ lùng và mời mọc. Và từ đó thoát ra những tiếng nói thật nhỏ, những thì thầm, những hơi thở dịu dàng.
Ông nhón gót quay ra cửa. Ra ngoài nhẹ nhàng và đi đến nghĩa trang. Đó là một đêm êm ả mưa lâm râm.

Khi đứng trước nhà nguyện nhỏ gia đình, ông nhìn quanh. Không một ai. Ông bèn mở cánh cửa đồng.
Không vội vàng, trong khi đêm xuống, bằng con dao nhíp, ông từ từ vặn mấy cái vít đóng chiếc quan tài mới tinh, quan tài của mình, của Lucio Predonzani.
Ông mở nó ra, rất trầm tĩnh, nằm vào đó với tư thế cho là đúng với người chết trong giấc ngủ ngàn thu. Ông thấy thoải mái hơn mình tưởng.

Không dao động, ông kéo nhẹ nhàng cái nắp bên trên mình. Khi chỉ còn lại một khe hở nhỏ, ông vểnh tai nghe ngóng một lát, lỡ có ai gọi mình. Nhưng không ai gọi cả.

Ông bèn để cái nắp đậy lại hoàn toàn.
 
Miêng
Paris, Nov. 2009
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 400
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Mon Feb 19, 2018 3:29 pm



Dino Buzzati (1906-1972) là nhà văn và nhà báo Ý.
Ông viết nhiều tiểu thuyết nhưng hình như thể loại yêu thích của ông là truyện ngắn. Chủ đề quen thuộc của Buzzati là những ám ảnh và nỗi bất an của kiếp người, sự chạy trốn thời gian, định mệnh, sợ hãi đối với hư vô, thất bại của sự sống, mong manh của tình yêu, bí ẩn của nỗi đau và cái ác...
Bằng bút pháp độc đáo ông dắt người đọc ra khỏi cuộc sống thường ngày để bước vào một thế giới khác, rồi đẩy họ vào những sự kiện nghịch lý, ly kỳ và đầy bí ẩn. Bí ẩn vì nằm ngoài cánh cửa của đời sống thường nhật nhưng cũng có thể đồng hiện hữu với diễn biến thường ngày mà chúng ta đã vô tình không nhận thấy để cuối cùng phải kinh ngạc, suy nghĩ... trong một niềm xúc động sâu xa. 


NHỮNG NGƯỜI BẠN

Dino Buzzati


Ông lão làm đàn luýt Amedeo Torti và bà vợ đang ngồi uống cà phê. Lúc đó bọn trẻ đã đi ngủ. Như lệ thường, hai người nhìn nhau yên lặng. Nhưng đột nhiên bà vợ nói:
”Tôi phải nói với ông một việc… Suốt ngày hôm nay tôi luôn có một cảm giác rất lạ… Như là tối nay ông Appacher sẽ đến thăm chúng ta.”
“Thôi, không có đùa về chuyện này đó nhé!” Ông chồng đáp lại bằng một thái độ cáu gắt. Bỡi vì Toni Appacher, bạn thiết của ông  và là nhà chế tạo đàn violon, đã chết hai mươi ngày trước đó.
“Em biết, em biết… là một điều ghê gớm” bà vợ nói ”nhưng đó là một ý tưởng mà em không sao từ bỏ được.”
”À, giá như…” Ông Torti lẩm bẩm với một sự mâu thuẫn mơ hồ nhưng không muốn đào sâu  đề tài. Và ông lắc đầu.

Hai người im lặng. Lúc đó là mười giờ kém mười lăm. Một lát sau có tiếng chuông cửa. Tiếng chuông kéo dài, giục giã. Cả hai  giật nẩy mình.
“Ai mà đến vào giờ này?” bà vợ lẩm bẩm.
Họ nghe có tiếng dép lết thếch của cô làm phòng Ines trong hành lang, tiếng mở cửa, rồi có tiếng thì thầm. Lát sau cô ta xuất hiện trong phòng khách; mặt tái mét.

“Chuyện gì vậy Ines?” Bà vợ hỏi.
Cô làm phòng lấm lét nhìn ông chủ, giọng cà lăm :”Thưa… mời ông ra… xem… ngoài đó…!”
“Mà ai? Ai vậy?” bà chủ hỏi  bằng giọng giận dữ, dù đã biết chắc người ngoài đó là ai.
Cô Ines cúi gầm người xuống, như người ta thường làm khi thố lộ một bí mật. Lời lẽ của cô tuôn ra nhẹ như gió thổi:”Có… có… ông chủ ơi, ra mà xem… Thầy Appacher đã trở lại!”
”Bậy!” Ông Torti giận dữ, cáu gắt trước thái độ bí ẩn của cô gái rồi quay sang bà vợ: ”Để tôi ra cho… bà cứ ngồi đây.”

Ông bước ra, đụng phải cạnh tủ ngoài hành lang, rồi kéo mạnh cánh cửa mở ra phòng ngoài.
Nơi đây, có ông Appacher đang đứng, vẻ rụt rè. Đó không giống ông Appacher như lệ thường mà gầy gò hơn và hình thù thì không rõ nét. Đó là một bóng ma? Có lẽ  chưa phải vậy. Có lẽ là ông ta chưa giải phóng hết những thứ mà loài người gọi là vật chất. Một con ma, nhưng còn một phần khá lớn thịt xương. Ông ta ăn mặc như thói quen ngày nào, bộ complet màu xám, áo chemise sọc xanh da trời và thắt cà vạt hai màu, đỏ và xanh nước biển. Ông đứng, vẻ bồn chồn, hai tay  mân mê chiếc mũ lát rộng vành (xin hiểu cho: con ma quần áo, con ma cà vạt… vv).

Ông Torti không phải là người dễ bị ấn tượng. Ngược lại là khác. Thế nhưng ông ta đứng trân trân, như ngạt thở. Một người bạn tái xuất hiện trong nhà mình mà trước đó 20 ngày chính ông đã tiễn linh cửu của bạn ra nghĩa trang đâu có phải là một chuyện đùa.
“Amadeo!” gã Appacher miệng mỉm cười, khe khẽ  gọi tên ông như để thăm dò.
“Anh ở đây à? Ở đây à?” lão Torti gào lên như sỉ vả, bởi từ những tình cảm trái ngược và xáo động trong lòng lão, chẳng hiểu sao, chỉ nẩy sinh một sự tức giận. Gặp lại người bạn cũ chẳng phải là niềm an ủi tuyệt vời sao? Lão Torti chẳng phải sẽ sẵn sàng trả tiền triệu để thực hiện được cuộc gặp mặt này sao? Vâng, đúng vậy, lão sẽ trả mà không cần nghĩ ngợi. Lão sẽ trả với bất cứ giá nào.  Thế tại sao ngay lúc này lão không cảm nhận được niềm hạnh phúc đó? Tại sao lão chỉ thấy tức giận? Có lẽ là sau nỗi kinh hoàng, khóc lóc, nén mình vì lợi ích, lão chẳng muốn phải làm lại từ đầu? Hay là trong những ngày chôn cất, niềm xót thương cho bạn đã trút ra đến cạn kiệt và lúc này có lẽ chẳng còn gì nữa?

”Vâng, tôi đây” gã Appacher trả lời, tay vẫn mân mê vành mũ lát.
”Nhưng tôi… anh biết là giữa chúng ta, chẳng nên khách sáo… có lẽ tôi làm phiền anh…”.
“Làm phiền à? Anh gọi là làm phiền à?” Lão Torti lớn giọng, vì cơn giận đang lôi cuốn lão.” Anh trở về từ nơi mà tôi chẳng cần biết là đâu, và… trong tình trạng này… thế mà anh gọi là làm phiền à! Can đảm quá vậy, ông bạn!”
Rồi lão Torti như nói một cách tuyệt vọng với chính mình :”Bây giờ thì tôi biết phải làm sao đây?”.
“Nghe tôi nói nè, ông Torti… Ông đừng giận dữ… Đó đâu phải là lỗi ở tôi… Thế giới bên kia (gã phát một cử chỉ mơ hồ) lộn xộn quá…. Tóm lại là tôi phải ở lại bên này thêm một tháng nữa… Khoảng một tháng thôi chứ chẳng hơn đâu… và anh đã biết là căn nhà của tôi đã bị người khác chiếm giữ…”
”Vậy thì sao? Bộ anh muốn nói là anh sẽ ở lại đây để ngủ à?”
”Ngủ hả? Bây giờ thì tôi đâu có ngủ nữa… Không phải ngủ đâu anh… Tôi chỉ cần có một góc nhỏ… tôi hứa sẽ không làm phiền, tôi không ăn, không uống và không… nói trắng ra là tôi chẳng cần dùng toa lét… Anh biết không? Thực ra là để tránh phải đi suốt đêm, có khi đi dưới mưa.”
”Nhưng mưa… làm anh ướt à?”
”Dĩ nhiên là không thể làm tôi ướt” gã khẽ cười ”nhưng mà nó cũng làm tôi khó chịu lắm”        
”Vậy là anh muốn trú qua đêm ở đây?”
“Vâng, nếu anh cho phép…”
”Tôi cho phép anh!… Tôi không hiểu… Môt người thông minh, một người bạn cũ… Một người đã từng trải biết bao kinh nghiệm ở trường đời… làm thế nào mà không hiểu nhỉ? À, mà anh chưa bao giờ có một mái gia đình!”.
Gã kia, bối rối, bước từng bước giật lùi về phía cửa. ”Xin lỗi anh, tôi tưởng… Chỉ có một tháng thôi mà…”
”Vậy là anh chẳng muốn hiểu phải không?” Lão Torti làm như mình bị xúc phạm. ”Không phải vì tôi mà tôi bận tâm đâu… bọn trẻ con!… Chính là vì bọn trẻ con!… Bộ anh tưởng cho 2 đứa bé thơ ngây chưa đến mười tuổi trông thấy anh là chẳng có gì, sao? Đáng lý anh phải biết là tôi đang ở trong hoàn cảnh nào chứ. Xin lỗi anh nếu tôi quá thẳng thắn nhé, xem đây, anh là một con ma… và nơi nào có những đứa con của tôi, tôi không thể để cho một con ma hiện diện, ông bạn thân yêu ạ…”
”Vậy là không được?”
”Ông bạn thân yêu ơi, tôi chẳng biết nói sao…” Lão Torti bỏ lửng câu nói. Gã Appacher đột nhiên biến mất. Lão Torti chỉ kịp nghe thấy tiếng chân chạy thật nhanh xuống cầu thang.

***

Sau buổi hoà tấu, ông Mario Tamburlani giám đốc nhạc viện trở về nhà lúc không giờ ba mươi phút. Đứng trước ngạch cửa của căn hộ nhà mình, vừa mới vặn một vòng trong ổ khoá thì nghe tiếng gọi khẽ đằng sau lưng mình: ”Nhạc trưởng, Nhạc trưởng!”. Giật mình quay lại, ông thấy Appacher.
Nhạc trưởng Tamburlani là một người được biết đến như một nhà ngoại giao giỏi, savoir faire [1], có khả năng ứng xử trong mọi tình huống ở đời. Người ta có thể xem đó là tài năng hay thủ thuật, nhưng chính nhờ nó mà ông ta đã leo đến đỉnh cao dù với tài năng khiêm tốn của mình. Trong tích tắc ông ta cân nhắc tình hình.
“Chào ông bạn yêu mến” Ông ta  reo lên với một giọng thân tình và thống thiết rồi chìa tay cho bạn nhưng ý tứ dừng lại ở khoảng cách chừng một mét.” ôi bạn ơi, nếu anh biết là khoảng trống…”
“Cái gì, cái gì” gã kia hỏi lại vì thông thường các giác quan của ma rất ít nhạy bén. ”Xin lỗi ông, bây giờ tôi không còn nghe rõ như ngày xưa…”
“Ồ, tôi hiểu mà… Nhưng ông bạn  cũng nên hiểu là tôi không thể nói lớn. Bà xã tôi, Alda, đang ngủ và…”
”Xin lỗi, ông có thể cho tôi vào một lát không? Tôi đã đi bộ rất nhiều giờ rồi…”
”Không, không được đâu. Con  Blitz sẽ  đánh hơi và biết ngay.”
“Sao, ông nói sao?”“ Blitz, con chó lai sói của tôi ấy, ông biết nó mà… Nó sẽ sủa ầm lên và cả chung cư này sẽ bị đánh thức…”          
”Vậy là… chỉ vài ngày mà cũng không được sao?”
”Ông đến ở với tôi hả? Ui chao, ông bạn Appacher ơi, Được chứ, được chứ… đối với một người thân thiết như ông… Nhưng, tha lỗi  nhé, với một con chó như vậy chúng ta sẽ  phải làm sao?”
Lý do đó làm gã Appacher sững sờ. Ông liền tìm cách khêu gợi tình cảm :”Nhạc trưởng, một tháng trước khi  đọc điếu văn ở nghĩa trang  ông đã khóc lóc thảm thiết trước khi người ta phủ đất. Ông còn nhớ chứ? Tôi đã nghe rất rõ tiếng nức nở của ông.”
”Ông bạn ơi, xin ông đừng nhắc đến nữa… nó làm tôi ngạt thở (rồi ông ta đưa một bàn tay lên ngực)… Ôi chúa ơi, hình như con Blitz…”
Lúc đó, từ phía trong căn hộ có tiếng gầm gừ.
“Ông bạn… chờ một chút nhé… tôi vào trong một lát để dỗ cho con chó khó ưa này ngoan ngoãn. Ông bạn thân ơi… chỉ một lát thôi nhé.”
Rồi nhanh như con lươn ông lách mình vào bên trong và đóng cửa, cài chốt cẩn thận. Sau đó, yên lặng.
Gã Appacher đợi vài phút. Lát sau gã gọi nhỏ :”Nhạc trưởng Tamburlani, Nhạc trưởng Tamburlani”. Nhưng phía trong không có tiếng đáp lời. Gã gõ nhẹ lên cánh cửa. Mà chỉ có sự yên lặng tuyệt đối.

Đêm nặng nề trôi qua. Lúc này gã Appacher định thử đến nhà Gianna, một cô gái dễ dãi và tốt bụng, mà lão đã từng ăn ngủ với cô nàng. Cô Gianna cư ngụ  ở một căn hộ hai phòng trong một chung cư ở khá xa trung tâm thành phố. Khi gã đến thì đồng hồ đã chỉ ba giờ hơn. Cũng may là, cửa chính của toà nhà chỉ khép hờ, như vẫn thường xảy ra trong các khu chung cư đông đúc như tổ ong. Appacher mệt nhọc leo lên tầng năm. Lúc này gã đã mệt mỏi vì đi quá nhiều rồi.

Dù bên ngoài tối đen nhưng gã Appacher không mấy khó khăn  tìm ra cửa vào căn hộ. Gã gõ nhè nhẹ. Gã phải đợi khá lâu mới nghe được tiếng động ở bên trong. Sau đó là giọng ngái ngủ của cô gái: ”Ai vậy? Ai mà đến vào giờ này thế?”
”Có một mình em hả? Mở cửa cho anh đi… Toni đây”
“Giờ này à?” nàng lập lại câu hỏi, tuy không vui lắm nhưng vẫn giữ vẻ chiều bạn như thường lệ ”chờ đó… em ra ngay.”. Gã Appacher nghe tiếng lê dép uể oải trên sàn nhà, tiếng bật công tắc điện rồi tiếng vặn chìa trong ổ khoá. Rồi, cửa mở, Gianna sắp sửa chạy về giường nằm, để mặc  người đàn ông, thì hình dáng của gã Appacher đã làm nàng giật mình. Nàng sững sờ nhìn gã một lát và từ trong cõi mù mờ ngái ngủ bỗng phát sinh một trí nhớ kinh hồn.” Mà anh… mà anh… mà anh…”. Ý nàng muốn nói: mà anh đã chết, bây giờ tôi nhớ ra rồi. Nhưng không có can đảm. Nàng bước giật lùi, hai tay giang ra như sẵn sàng xô đẩy nếu anh có ý tiến đến gần nàng.”Mà anh… mà anh…” Sau đó nàng nói to, như hét.” Đi ra… làm ơn đi ra đi!” nàng van lơn, đôi mắt giương ra trong nỗi kinh hoàng.
“Anh van em, Gianna… Anh chỉ muốn nghỉ ngơi một chút thôi mà”.
“Không, không, Đi ra, đi! Sao anh có thể nghĩ là… Anh làm em nổi điên rồi đó. Đi ra, đi. Bộ anh muốn đánh thức cả chung cư này hả?”
Rồi thấy gã Appacher không  có ý  nghe lời, cô gái, mắt vẫn không rời ông bạn quý, đưa tay sờ soạn tìm  một cái gì trên một chiếc kệ nằm ở phía sau lưng mình. Và những ngón tay nàng rờ trúng chiếc kéo.
“Anh đi, anh đi mà” gã đàn ông lắp bắp  nhưng cô gái, bằng tất cả can đảm của sự tuyệt vọng, đã chỉa mũi kéo vào ngực gã. Mũi kéo không gặp phải trở ngại, xuyên  thật ngọt vào bóng ma.
”Ồ, Toni, tha lỗi, em không muốn thế” nàng giật mình nói thế, trong khi gã mỉm cười:
”Không, không… ui chao… nhột quá… anh van em… nhột quá!” rồi gã bật cười như một thằng điên. Bên ngoài,  tiếng cửa của căn hộ bị đấm lên thật mạnh. Rồi một giọng nói hét lên giận dữ: ”Chuyện gì đây?  Bây giờ là bốn giờ sáng. Chúa ơi, vừa vừa thôi chứ!”. Gã Appacher vụt biến đi như một cơn gió.

Bây giờ thì thử đến nơi nào nữa? Đến cha xứ của nhà thờ thánh Calisto chăng? Phải rồi, đến với cha Raimondo, người bạn cũ từ thời học trung học, người đã đến ban phép và an ủi lúc gã còn nằm trên giường bệnh trước khi sắp về nước Chúa? Nhưng ”Đi ra, đi ra… đồ quỉ” chính là sự chào đón của  đức cha xứ ngay khi gã làm đàn violon xuất hiện.
”Con là Appacher đây, cha không nhận ra sao?… Đức cha Raimondo, xin ngài cho tôi nương náu ở đây với ngài. Lát nữa  trời đã sáng rồi. Không có ai cho tôi tá túc cả. Tất cả bạn bè đều từ bỏ tôi. Ít ra là ngài…”
“Tôi đâu có biết ông là ai” đức cha xứ trả lời với giọng u sầu và trịnh trọng. Anh có thể là ma quỷ hay có khi chỉ là một ảo giác, tôi không biết rõ. Nhưng nếu anh thật là Appacher thì, đây, anh cứ vào đi, đó là chiếc giường của tôi, anh cứ nằm xuống và nghỉ ngơi…”
”Cám ơn, con  xin cảm ơn cha. Con biết thế nào…”
”Anh đừng quan tâm” ông cha xứ tiếp lời một cách êm ái” anh đừng bận tâm nếu tôi đang bị đức tổng giám mục nghi ngờ… Tôi xin anh đừng quan tâm, nếu sự hiện diện của anh ở nơi này có thể làm rối thêm tình thế, để nó thành nghiêm trọng hơn… Tóm lại là anh đừng quan tâm gì đến tôi. Nếu anh được phái đến nơi này để làm tôi sạt nghiệp thì xin xem đó là ý Chúa! Mà… anh làm gì vậy? anh bỏ đi à?”

Và chính vì những tình huống này mà loài ma - nếu có vài con ma bất hạnh buộc phải sống trên trái đất - chúng không muốn sống với chúng ta mà nó thường tìm đến những căn nhà bỏ hoang, giữa những phế tích tàn lụi của các ngôi tháp, giữa những nhà nguyện lẻ loi trên vách đá, hay trên những cụm đá cô đơn trên bờ biển mà sóng vỗ rì rào, rì rào rồi dần dần làm cho đổ nát.

TRƯƠNG VĂN DÂN
Chuyển ngữ từ nguyên tác: Gli amici của Dino Buzzati.

[1] biết ứng xử (Nguyên văn bằng tiếng Pháp)

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 333
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Thu Feb 22, 2018 7:45 pm



CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG

O. Henry (Mỹ)
(The Last Leaf, 1907)  


Trong một khu nhỏ ở phía Tây Công viên Washington, phố xá chạy ngang chạy dọc lung tung như hóa rồ, rồi đứt quãng ở những mảnh đất nhỏ gọi là “quảng trường”. Những “quảng trường” này tạo nên những góc độ và những đường cong kỳ lạ. Một đường phố tự cắt nó một hoặc hai lần. Một nghệ sĩ có lần đã phát hiện ra là phố này có một khả năng rất quý. Hãy tưởng tượng một tay thu ngân nào đó mang hóa đơn đòi tiền sơn hay giấy và vải vẽ đi qua con đường này, đột nhiên lại gặp ngay chính mình quay trở ra, tiền nợ không thu được một xu nhỏ!
Bởi vậy, chẳng bao lâu, giới nghệ sĩ liền mò tới cái Làng Greenwich cổ kính, kỳ quặc này, lùng thuê những phòng có cửa sổ hướng bắc, đầu hồi kiểu thế kỷ mười tám. Những buồng xếp sát nóc kiểu Hà Lan và tiền thuê rẻ. Rồi từ Đại lộ thứ Sáu, họ nhập cảng vào vài chiếc cốc vại bằng thiếc, một hai chiếc lò hâm thức ăn và họp thành một “xóm”.

Phòng họa của Sue và Johnsy đặt ở tầng thượng một ngôi nhà gạch ba tầng thấp lè tè. “Johnsy” là tên gọi thân mật của Joanna. Một cô từ bang Maine tới, cô kia quê ở California. Họ đã gặp nhau tại bàn ăn chung của hiệu “Delmonico” ở Phố thứ Tám và thấy những sở thích của họ về nghệ thuật món rau diếp xoăn trộn dầu dấm và kiểu ống tay rộng hợp nhau đến nỗi kết quả là họ cùng chung nhau thuê một phòng họa.
Khi ấy là khoảng tháng Năm. Đến tháng Mười một, có một gã khách lạ, lạnh lẽo, chưa ai từng thấy, mà thầy thuốc gọi là chứng viêm phổi, oai vệ đi khắp xóm, ngón tay lạnh ngắt của gã chạm vào chỗ này một người, chỗ kia một người. Bên khu phía Đông, tên phá hoại này xăm xăm bước đi đánh ngã hàng chục nạn nhân, nhưng khi qua những “quảng trường” chật hẹp, chằng chịt và mọc rêu thì hắn lại từ tốn thong thả tiến bước.
Ông Viêm Phổi không phải là hạng người được gọi là lịch sự mã thượng. Một phụ nữ nhỏ bé, thiếu máu vì những cơn gió hiu hiu của miền California, đâu có phải là đối thủ xứng đáng của tên bợm già có hơi thở dồn dập và nắm tay đỏ lòm ấy. Thế mà hắn vẫn cứ đánh vào Johnsy và cô ta nằm lăn như bất động trên chiếc giường sắt sơn và qua những tấm kính cửa sổ nhỏ kiểu Hà Lan, cô trân trân nhìn cái đầu hồi của tòa nhà gạch bên cạnh.

Một buổi sáng, viên bác sĩ bận rộn, nháy cặp lông mày rậm, đốm bạc, mời Sue ra ngoài hành lang.
“Bệnh tình của cô ấy có thể nói là mười phần chỉ còn hy vọng được một thôi, ta hãy tạm nói thế,” ông vừa nói vừa vẩy cái cặp sốt cho thủy ngân hạ xuống. “Và muốn có được một phần đó thì cô ấy phải có ý muốn sống kia. Cái cung cách con người ta cứ sắp hàng đứng sẵn bên phía anh chủ thầu đám ma, làm cho mọi thứ thuốc men đều trở thành vô dụng. Cô bạn nhỏ nhắn của chị yên trí là mình không thể khỏi được. Cô ta có điều gì lo nghĩ không?”
“Cô ấy… cô ấy mong muốn có ngày được vẽ Vịnh Naples 4,” Sue đáp. “Vẽ à? Bậy! Cô ấy không có điều gì đáng để bận tâm hơn gấp đôi sao? Chàng trai nào đó chẳng hạn?”
“Một chàng trai nào ư?” Sue nói, giọng rít lên như tiếng đàn môi. “Một người đàn ông đáng gì để… Nhưng không, không có cái chuyện ấy đâu, bác sĩ ạ.”
“Thế thì đây là điểm bất lợi,” bác sĩ nói. “Tôi sẽ làm tất cả những gì khoa học có thể làm được thông qua những cố gắng của tôi. Nhưng khi nào bệnh nhân bắt đầu đếm những chiếc xe đi theo đám tang của mình thì tôi sẽ phải trừ khả năng chữa bệnh của thuốc men đi năm mươi phần trăm. Nếu chị làm cho cô ta hỏi được một câu về mốt tay áo mới của áo choàng mùa đông thì tôi xin thưa với chị khả năng khỏi bệnh của cô ấy sẽ là một trên năm chứ không phải là trên mười nữa.”

Sau khi bác sĩ đi khỏi, Sue vào phòng làm việc và khóc đến ướt đẫm cả một chiếc khăn trải bàn Nhật Bản. Rồi cô lại thản nhiên mang chiếc bảng vẽ của mình đi vào phòng Johnsy, miệng huýt sáo một điệu nhạc rác tim 5.
Johnsy nằm quay mặt về phía cửa sổ, tấm khăn trải giường phủ lên người, hầu như không có một gợn. Sue ngưng huýt sáo, tưởng bạn đang ngủ.
Cô bày bảng vẽ của mình ra và bắt đầu vẽ bằng bút sắt và mực để minh họa cho một truyện ngắn đăng trên một tờ tạp chí. Các nghệ sĩ trẻ phải lát con đường dẫn tới Nghệ thuật bằng những bức tranh minh họa cho những truyện ngắn của các tạp chí, do các nhà văn trẻ viết để lát con đường của họ dẫn tới Văn học.
Sue đang vẽ phác chiếc quần cưỡi ngựa đúng mốt và chiếc kính một mắt trên mặt nhân vật chính, một tay chăn bò Idaho, thì bỗng nghe thấy có tiếng thì thầm cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Cô vội chạy tới bên giường.

Mắt Johnsy mở to. Cô đang nhìn ra ngoài cửa sổ và đếm – đếm ngược. “Mười hai,” cô lầm bầm, rồi một lát sau, “mười một”; rồi “mười,” và “chín”; rồi “tám” và “bảy” thì hầu như được đếm cùng một lúc.
Sue lo lắng nhìn ra phía cửa sổ. Có cái gì ngoài đó mà đếm? Chỉ thấy một cái sân trơ trụi, ảm đạm và bức tường bên trống trơn của tòa nhà gạch cách đấy chừng sáu thước. Một dây thường xuân già, già lắm, rễ đã mục nát và sần sùi những mấu, leo lên đến giữa bức tường gạch. Hơi thở lạnh lẽo của mùa thu bứt rụng hết lá của nó chỉ còn lại bộ xương cành, gần như trơ trụi bám vào những viên gạch vỡ nát.
“Gì thế, Johnsy?” Sue hỏi.
“Sáu,” Johnsy nói, giọng gần như thì thào. “Bây giờ chúng rụng mau hơn. Trước đây ba ngày còn có tới gần một trăm. Em đếm nhức cả đầu. Nhưng bây giờ thì thật là dễ. Lại một chiếc nữa. Giờ chỉ còn lại có năm thôi.”
“Năm gì, Johnsy? Cho Sudie 6 của em biết đi.”
“Những chiếc lá. Trên cây thường xuân khi nào chiếc lá cuối cùng rụng thì em cũng ra đi thôi. Em biết điều đó đã ba ngày nay rồi. Ông bác sĩ không nói với chị sao?”
“Ồ, chị chưa bao giờ lại nghe thấy một chuyện vô lý đến như thế.” Sue trách, làm ra vẻ mạnh bạo khinh thường. “Những chiếc lá thường xuân già đó thì có liên quan gì đến việc em khỏi bệnh kia chứ? Tại em vốn mến cái cây leo ấy đấy, em hư lắm. Đừng nói chuyện ngốc nghếch nữa. Ấy, sáng nay ông bác sĩ đã nói với chị là em sẽ chóng bình phục thôi, đúng ra là ông ta nói thế nào nhỉ – khả năng khỏi là mười phần chắc chín; ông ta nói thế! Ấy, cũng tựa hồ như là khi chúng ta ngồi trên xe hàng hay đi qua một tòa nhà mới đang xây ở New York này, mười phần thì họa chăng chỉ có một phần mới xảy ra tai nạn. Giờ thì em cố ăn tý cháo nhé và để Sudie quay về với bản vẽ của mình, có thế chị mới bán được tranh cho lão chủ bút, để mua rượu poóc tô7 cho đứa em ốm của chị và mua sườn lợn cho cái bản thân háu ăn của chị chứ.”
“Chị chẳng cần phải mua thêm rượu nữa đâu,” Johnsy nói, mắt vẫn nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ. “Lại một chiếc nữa rụng kìa. Không, em không muốn ăn cháo đâu. Còn lại đúng bốn chiếc. Em muốn thấy chiếc cuối cùng rụng xuống trước khi trời tối. Đến lúc đó thì em cũng ra đi thôi!”
“Johnsy yêu quý,” Sue nói và cúi xuống bên người bạn, “em hãy hứa với chị là em hãy nhắm mắt lại và không nhìn ra ngoài cửa sổ nữa cho tới khi chị xong việc được không? Mai chị phải trao những bức tranh này rồi. Chị cần ánh sáng, nếu không thì chị đã kéo mành mành xuống rồi đấy.”
“Chị không vẽ ở buồng bên được ư?” Johnsy lạnh nhạt hỏi.
“Chị muốn ở đây bên cạnh em kia,” Sue đáp. “Vả lại chị không muốn em cứ nhìn mãi những chiếc lá thường xuân vớ vẩn đó nữa.”
“Bao giờ xong chị bảo em ngay nhé!” Johnsy nói rồi nhắm mắt lại, nằm yên và trắng bệch như một pho tượng đổ, “vì em muốn được thấy chiếc lá cuối cùng rụng xuống. Em đợi mãi ngán lắm rồi, em nghĩ mãi mệt lắm rồi. Em muốn buông trôi hết thảy và giong buồm xuôi dòng như một trong những chiếc lá mệt mỏi và tội nghiệp kia.”
“Cố ngủ đi,” Sue nói. “Chị phải đi mời cụ Behrman lên làm mẫu cho chị vẽ một người thợ mỏ già khổ hạnh. Chị sẽ không đi lâu quá một phút đâu. Đừng có động đậy, chờ chị quay lại nhé.”

Cụ Behrman là một họa sĩ ở tầng dưới cùng, dưới tầng của họ. Cụ đã ngoài sáu mươi và có một bộ râu như Moses 8 của Michael Angelo loăn xoăn trừ cái đầu như đầu thần Satyr 9 lòa xòa xuống cái thân hình một tiểu yêu. Behrman là một người thất bại trong nghệ thuật. Cụ múa cây bút vẽ đã bốn mươi năm mà vẫn không với tới được gấu áo vị nữ thần của mình. Cụ luôn có ý định vẽ một bức tranh kiệt tác, nhưng chưa bao giờ bắt đầu cả. Bao năm nay cụ chẳng vẽ được gì, ngoài việc thỉnh thoảng bôi bác một bức cho ngành buôn bán hay quảng cáo. Cụ kiếm được chút ít bằng cách ngồi làm mẫu cho các nghệ sĩ trẻ cùng ở xóm đó, không đủ tiền thuê nổi một người làm mẫu chuyên nghiệp. Cụ uống rượu nặng quá độ và vẫn nói về các tác phẩm kiệt xuất sắp tới của mình. Còn thì ngoài ra cụ là một ông già nhỏ nhắn dữ tợn, hay chế nhạo cay độc sự mềm yếu của bất kỳ ai, và tự coi mình là một con chó xồm lớn chuyên gác cửa bảo vệ hai nữ nghệ sĩ trẻ ở phòng vẽ tầng trên. 

Sue tìm thấy cụ Behrman sặc sụa mùi rượu dâu loại nặng trong gian buồng tối om om của cụ ở tầng dưới. Trên giá vẽ ở góc buồng là một tấm vải trống trơn, từ hai mươi lăm năm nay vẫn cứ chờ đợi mãi nét vẽ đầu tiên của bức tranh kiệt tác. Cô kể cho cụ nghe ý nghĩ kỳ quặc của Johnsy và nói cho cụ biết cô lo lắng như thế nào về Johnsy; cô ấy yếu đuối và mảnh mai như một chiếc lá, quả thật rất có thể sẽ bay đi mất, khi mối ràng buộc mong manh giữa cô ấy ở trên trần thế này suy yếu.
Cụ Behrman cặp mắt đỏ ngầu, nước mắt chảy ròng ròng, hét lên sự khinh bỉ và nhạo báng của mình đối với những chuyện tưởng tượng ngốc nghếch ấy. Cụ quát to:
“Sao! Trên đời này lại có những người ngớ ngẩn muốn chết chỉ vì một cây leo chết tiệt nào đó rụng hết lá ư? Tôi chưa bao giờ nghe thấy một chuyện như thế cả. Không, tôi sẽ không ngồi làm mẫu cho cô vẽ cái lão già ngu xuẩn ngớ ngẩn của cô đâu. Tại sao cô lại để cho những chuyện vớ vẩn ấy chui vào đầu óc cô ta? Chà, tội nghiệp cô bé Johnsy.”
“Em nó ốm nặng và yếu lắm,” Sue nói. “Cơn sốt đã làm đầu óc nó đâm ra bệnh hoạn, đầy những ý nghĩ kỳ quái. Thôi được, cụ Behrman ạ, cụ không muốn ngồi làm mẫu cho cháu thì thôi. Nhưng cháu thấy cụ thật là một ông già kinh khủng, sao mà lắm nhời, lắm điều thế.”
“Cô thật đúng là đàn bà!” cụ Behrman hét lên. “Ai bảo là tôi không muốn ngồi làm mẫu? Đi, tôi lên cùng với cô. Tôi đã nói suốt nửa tiếng đồng hồ rằng tôi sẵn sàng ngồi làm mẫu kia mà. Trời, đây không phải chỗ cho một con người tốt như cô Johnsy nằm. Một ngày kia tôi sẽ vẽ một tác phẩm kiệt xuất và tất cả chúng ta sẽ đi khỏi nơi này. Trời, nhất định thế.”
Khi hai người lên tới gác trên thì Johnsy đang ngủ. Sue kéo tấm mành mành xuống che kín cửa sổ và ra hiệu cho cụ Behrman sang buồng bên cạnh. Sang đến nơi, họ ngoái ra ngoài cửa sổ, sợ sệt nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau, không nói mất một lúc. Một cơn mưa lạnh lẽo dai dẳng, pha lẫn tuyết đang đổ xuống. Cụ Behrman mặc chiếc áo sơ mi cũ màu xanh, ngồi làm một tay thợ mỏ già trên cái ấm đun nước lật úp giả làm một tảng đá.

Sáng hôm sau Sue tỉnh dậy sau khi chợp mắt được một giờ thì thấy Johnsy đang mở to cặp mắt thẫn thờ nhìn tấm mành mành màu xanh đã kéo xuống.
“Kéo nó lên, em muốn xem,” cô thều thào ra lệnh.
Sue làm theo một cách chán nản.
Nhưng ô kìa sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phũ phàng kéo dài cả một đêm, tưởng chừng như không bao giờ dứt, vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch. Đó là chiếc lá cuối cùng trên cây. Tuy ở gần cuống lá còn giữ màu xanh xẫm, nhưng rìa lá hình răng cưa đã nhuốm màu vàng úa, tuy vậy, chiếc lá vẫn dũng cảm bám vào cành cách mặt đất chừng sáu thước.
“Đó là chiếc lá cuối cùng,” Johnsy nói. “Em cứ tưởng là nhất định hôm qua nó sẽ rụng. Em nghe thấy gió thổi. Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết.”
“Em thân yêu,” Sue nói, cúi khuôn mặt hốc hác xuống gần gối. “Nếu em không còn muốn nghĩ đến mình nữa thì hãy nghĩ đến chị, chị sẽ làm gì đây?”
Nhưng Johnsy không trả lời. Trong khắp thế gian, cái cô đơn nhất là một tâm hồn đã chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi xa xôi, bí ẩn của mình. Những sợi dây ràng buộc cô với tình bạn, với thế gian này cứ lơi lỏng dần từng cái một thì ý nghĩ kỳ quặc kia hình như lại càng choán lấy tâm trí cô mạnh mẽ hơn.

Ngày hôm đó trôi qua và ngay cả trong ánh hoàng hôn, họ vẫn trông thấy chiếc lá thường xuân đơn độc bám lấy cái cuống của nó trên tường và rồi, cùng với màn đêm buông xuống, gió bấc lại lồng lộn, trong khi mưa vẫn đập mạnh vào cửa sổ và từ mái hiên thấp kiểu Hà Lan mưa rơi lộp độp xuống mặt đất.
Khi trời vừa hửng sáng thì Johnsy, con người tàn nhẫn, lại ra lệnh kéo màn lên.
Chiếc lá thường xuân vẫn còn đó.
Johnsy nằm nhìn lá hồi lâu. Rồi cô gọi Sue đang quấy món cháo gà trên lò hơi đốt.
“Em thật là một con bé hư, chị Sue ạ,” Johnsy nói. “Có một cái gì đó đã làm cho chiếc lá cuối cùng kia vẫn còn đấy để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là có tội. Giờ thì chị có thể cho em xin tí cháo và chút sữa pha ít rượu poóc tô và, không, mang cho em chiếc gương tay trước đã, rồi xếp những chiếc gối lại quanh em, để em ngồi dậy xem chị nấu nướng.”
Một giờ sau cô lại nói: “Sue ơi, em hy vọng một ngày nào đó sẽ được vẽ Vịnh Naples.”

Buổi chiều bác sĩ tới và khi ông ta về, Sue kiếm cớ theo ông ra ngoài hành lang.
“Được năm phần mười rồi,” bác sĩ nói và cầm lấy bàn tay mảnh dẻ run rẩy của Sue. “Chăm sóc chu đáo thì chị sẽ thắng. Và bây giờ tôi phải xuống dưới nhà thăm một bệnh nhân khác. Tên ông cụ là Behrman, hình như là một nghệ sĩ gì đó. Cũng lại chứng sưng phổi, ông cụ già yếu, bệnh tình nguy kịch, chẳng còn hy vọng gì, nhưng hôm nay ông cụ sẽ vào nằm bệnh viện để được chăm sóc chu đáo hơn.”
Hôm sau, bác sĩ bảo Sue: “Cô ấy khỏi nguy hiểm rồi, chị đã thắng. Giờ, chị chỉ còn bồi dưỡng và chăm nom, có thế thôi.”
Và buổi chiều hôm đó Sue tới bên giường Johnsy đang nằm và đang vui vẻ đan một chiếc khăn choàng len màu xanh thẫm rất vô dụng. Sue ôm lấy cả người Johnsy lẫn những chiếc gối.

“Chị có câu chuyện muốn nói với em, con chuột bạch của chị,” cô chị nói.
“Hôm nay cụ Behrman đã chết vì sưng phổi ở bệnh viện rồi. Cụ ấy chỉ có hai ngày. Buổi sáng ngày thứ nhất, bác gác cổng thấy cụ ấy ốm nặng trong căn phòng của cụ ở tầng dưới. Giày và áo quần cụ ướt sũng và lạnh buốt. Mọi người không ai hiểu được cụ ấy đã đi đâu trong đêm khủng khiếp như thế, nhưng rồi họ tìm thấy một chiếc đèn bão vẫn còn cháy sáng và một chiếc thang đã bị lôi ra khỏi chỗ để của nó, vài chiếc bút lông rơi vung vãi và một bảng màu xanh vàng pha trộn lẫn lộn, và em ạ, hãy nhìn ra ngoài cửa sổ kia, hãy nhìn chiếc lá thường xuân cuối cùng ở trên tường.
Em có tự hỏi tại sao chẳng bao giờ nó rung rinh hoặc lay động khi gió thổi không? Ồ, em thân yêu, đó chính là tác phẩm kiệt xuất của cụ Behrman đấy. Cụ vẽ nó vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng.”  

Ngô Vĩnh Viễn dịch


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 382
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Thu Mar 01, 2018 5:50 pm


Dino Buzzati sinh năm 1906, mất năm 1972 ở Milan (Italy).
Trước khi viết văn, ông là họa sĩ và nhà báo, từng là phóng viên chiến trường của tờ Corriere della Sera. Với Hoang mạc Tácta (1940), ông trở thành một trong những tên tuổi lớn của thế kỷ 20.
Chủ để quen thuộc của Buzzati là sự chạy trốn thời gian, định mệnh loài người, sợ hãi đối với hư vô, thất bại của sự sống, bí ẩn của nỗi đau và cái ác.


CHIẾC ÁO KỲ DỊ
Dino Buzzati (Ý)


Mặc dù thích ăn mặc trang nhã nhưng ít khi tôi quan tâm đến cách phục sức và áo quần kẻ khác.

Thế nhưng trong dạ hội tại nhà một người bạn ở Milano tôi đã gặp một người đàn ông, khoảng 40 tuổi, đẹp lộng lẫy trong bộ quần áo rất thời trang. Tôi chưa biết ông ấy là ai vì gặp mặt lần đầu; và điều thường xảy ra là rất khó nhớ tên người lạ mặt trong khi giới thiệu. Tuy thế cũng có lúc chúng tôi tình cờ ngồi gần nhau rồi bắt đầu câu chuyện. Ông ta là một người hiểu biết, ăn nói bặt thiệp nhưng trên mặt sao có vẻ buồn buồn. Rồi có lẽ trong một lúc thân mật quá đáng - Phải chi Chuá đã cản ngăn – tôi đã khen lối cắt may tuyệt xảo về bộ đồ ông ta đang mặc và còn dám hỏi thêm ai là thợ may của ông ta.

Gã đàn ông nở một nụ cười rất lạ; dường như gã đang chờ tôi hỏi câu hỏi đó: ”Không ai biết lão đâu, nhưng lão ta đáng là một bậc thầy. Lão rất kén khách và làm việc rất tuỳ tiện”.
“Nghĩa là tôi…?”
“Ối dào, ông cứ hỏi thử xem. Tên lão ta là Corticella, Alfonso Corticella, nhà ở phố Ferrara số 17″.
“Chắc đắt tiền lắm phải không?”.
“Có lẽ vậy, nhưng thật tình thì tôi không biết: Bộ đồ này lão ấy may cho tôi đã ba năm nhưng đến nay vẫn chưa gởi phiếu tính tiền”. “Tên ông ta là Corticella? phố Ferrara số 17 phải không ?” “Ðúng đấy” gã đàn ông lạ mặt trả lời rồi bỏ đi nhập bọn với một nhóm khác.

Ở phố Ferrara số 17 tôi thấy một căn nhà bình thường như những căn nhà khác và chỗ ở của Alfonso Corticella không khác gì chỗ ở của những người thợ may bình thường. Chính ông ta bước ra mở cửa cho tôi. Ðó là một lão già, tóc hãy còn đen nhưng chắc là được nhuộm.

Tôi hơi bất ngờ vì lão ta không hề làm khó dễ. Ngược lại, hình như lão ta đang phấp phổng muốn tôi trở thành một khách hàng. Tôi giải thích đã biết được địa chỉ của lão ta như thế nào, ngợi khen tài may cắt rồi yêu cầu may cho tôi một bộ đồ. Chúng tôi chọn một xấp vải màu xám tro, lão ta lấy số đo và bảo rằng sẽ cho người mang đến nhà để thử. Tôi có hỏi giá, nhưng lão bảo là không vội gì, trước sau gì mình cũng sẽ thỏa thuận. Thật là một người dễ thương, ban đầu tôi nghĩ thế, nhưng lúc sau, trên đường trở về nhà, tôi mới nhận ra rằng lão già ấy đã để lại trong tôi một nỗi bức rứt lạ lùng (có lẽ vì nụ cười nhơm nhớp và quái dị của lão). Ðột nhiên tôi không còn ý định gặp lại lão ta. Nhưng đã quá trễ, tôi đã đặt may quần áo. Và chừng hai mươi ngày nữa thì xong.

Khi người ta mang đồ đến thử, tôi đứng ngắm mình vài phút trước gương. Ðúng là một kiệt tác. Nhưng không hiểu vì sao tôi không muốn mặc nó nữa; có lẽ vì chợt nhớ đến lão thợ may quái đản. Thế rồi nhiều tuần lễ trôi qua trước khi tôi chọn mặc.

Tôi còn nhớ cái ngày hôm ấy. Ðó là một sáng thứ ba, vào tháng tư và trời đang đổ cơn mưa. Khi mặc xong bộ đồ – áo vest, quần và gillet – tôi vui mừng nhận ra là không có chỗ nào chật hay căng cứng như vẫn thường xảy ra với những quần áo mới. Bộ đồ ôm chẽn lấy người tôi một cách tuyệt vời.

Thường thường thì tôi không bỏ gì cả vào túi phải, tất cả các giấy tờ tôi đều cho vào túi bên trái. Tôi nói thế để giải thích vì sao sau vài giờ ở sở, tình cờ thọc tay vào túi phải, tôi chợt nhận ra bên trong có một tấm giấy. Có lẽ đó là phiếu tính tiền của lão thợ may?

Nhưng không. Ðó là tấm giấy bạc 10 nghìn lia *[1]

Tôi giật nẩy người. Chắc chắn không phải tôi bỏ vào nhưng cũng thật vô lý nếu nghĩ đó là trò đuà của lão thợ may. Chẳng lẽ lại là món quà của bà làm phòng, người duy nhất sau lão Corticella có cơ hội đến gần chiếc áo? Hay là bạc giả? Tôi đưa ra ánh sáng để nhìn cho kỹ và đối chiếu với nhưng tờ bạc khác. Ðúng là bạc thật và không còn gì để nghi ngờ.

Chỉ còn một cách giải thích có thể tin được: sự sơ ý của lão Corticella. Một người khách nào đó đến trả tiền lúc lão ta không có sẵn bóp, để tránh cất bừa lão đã tạm cho vào túi áo của tôi đang móc vào một hình nhân gỗ nằm gần đó. Trường hợp tương tự như vậy vẫn thường xảy ra luôn.

Tôi nhấn chuông gọi cô thư ký với ý định nhờ viết một bức thư cho lão Corticella để trả lại số tiền không phải của tôi. Nhưng không hiểu sao, tôi lại cho tay vào túi áo một lần nữa.

– Thưa ông cần chuyện gì?… Ông không được khỏe à ? Cô thư ký vừa bước vào vừa hỏi, chắc cũng vừa nhìn thấy khuôn mặt tôi tái lên như của một xác chết. Trong túi áo, những ngón tay của tôi vừa đụng phải cạnh của một tấm giấy khác, trước đó mấy phút chưa hề có.
– Không, cũng chẳng có gì nghiêm trọng. Tôi nói. Tôi hơi chóng mặt một tí nhưng dạo này vẫn hay xảy ra luôn. Có lẽ do quá mỏi mệt. Cô có thể ra ngoài, tôi định đọc cho cô đánh máy một bức thư nhưng không gấp lắm, để khi khác làm cũng được.

Cho đến khi cô gái bước hẳn ra khỏi phòng tôi mới dám rút tấm giấy từ túi áo ra. Ðó cũng là một tấm giấy bạc 10 nghìn lia. Tôi làm thử một lần thứ ba nữa, và lần này tờ bạc thứ ba lại xuất hiện.

Trống ngực tôi đánh liên hồi. Tôi có cảm tưởng là mình đang bị lôi cuốn, vì những lý do bí ẩn, vào một chuyện cổ tích mà người ta vẫn kể cho con nít nhưng chả ai tin là có thật. Viện cớ là không được khoẻ, tôi bỏ sở trở về nhà. Tôi cần suy nghĩ một mình. May thay bà lão làm phòng cũng đã đi rồi. Tôi đóng cửa, hạ màn sáo xuống. Rồi bắt đầu nhanh nhẹn rút những tấm giấy bạc, tấm này đến tấm khác, từ chiếc túi thần kỳ tưởng chừng như bất tận.

Tôi làm công việc đó với một sự căng thẳng thần kinh ghê gớm, phập phồng lo là đến một lúc nào đó phép lạ sẽ ngừng hiệu nghiệm. Tôi muốn làm đến chiều, suốt buổi tối cho đến khi tích trữ thành bạc tỉ. Nhưng sức của tôi có hạn và đến một lúc cũng yếu dần.

Trước mặt tôi là một đống bạc cao ngất. Ðiều quan trọng là làm sao cất giấu để không ai có thể nghi ngờ. Tôi đổ cái rương đựng thảm và sắp xếp những tờ giấy bạc thành từng đống nhỏ, vừa đặt vào đáy rương vừa đếm nhẩm. Tất cả vừa đúng 58 triệu lia.

Sáng hôm sau bà lão làm phòng đánh thức tôi dậy, ngạc nhiên thấy tôi ngủ mà vẫn còn mặc nguyên quần áo. Tôi gượng cười giải thích là tối qua đã hơi quá chén rồi cơn buồn ngủ kéo đến bất ngờ.
Một nỗi lo: bà lão yêu cầu tôi cởi áo để đem chải cho thẳng nếp.
Tôi vội đáp là đã đến giờ phải đi và không còn có thể thay đồ kịp nữa .

Sau đó tôi hối hả đến một tiệm bán y phục để mua một bộ đồ mới, cũng loại vải tương tự; tôi sẽ đưa nó cho bà dọn phòng; còn chiếc áo kia, chiếc áo mà chỉ trong vài ngày sẽ làm tôi trở thành một trong những người đầy quyền lực trên thế giới, tôi sẽ cất dấu vào một nơi an toàn nhất.

Tôi không hiểu là tôi đang sống trong một giấc mơ, có hạnh phúc không hay đang bị ngạt thở dưới sức nặng quá lớn của định mệnh. Ngoài đường phố, qua lớp áo choàng, tôi luôn luôn sờ soạng nơi có cái túi thần kỳ. Mỗi lần như thế tôi lại thở phào nhẹ nhõm. Dưới làn vải tiếng rào rạo của những tờ giấy bạc chạm nhau đã mang lại cho tôi câu trả lời đầy khích lệ.

Nhưng một sự trùng hợp ngẫu nhiên đã làm nguội lạnh niềm vui mê hoảng của tôi. Sáng hôm sau các nhật báo đều tường thuật đầy đủ chi tiết về vụ cướp xảy ra ngày hôm trước. Một chiếc xe tải bọc thép của ngân hàng, sau khi thu tiền ở các chi nhánh để mang về trụ sở đã bị bốn tên cướp tấn công và hốt trọn trên phố Palmanova. Khi mọi người đổ xô chạy đến, bọn chúng đã phải bắn để thoát thân; và có một khách bộ hành bị chết. Nhưng điều làm tôi vô cùng kích động là số tiền bị cướp: 58 triệu lia (như số tiền của tôi).

Lẽ nào có một mối liên quan về sự giàu có bất ngờ của tôi và số tiền do bọn cướp chiếm đoạt, vì hai việc đã xảy ra đồng thời? Thật vô lý nếu có ai nghĩ thế. Còn tôi, tôi không phải là một kẻ mê tín. Nhưng sự việc cũng làm cho lòng tôi dao động. Và hoang mang.

Chuyện đời thì các bạn cũng thừa biết: càng có nhiều bao nhiêu, người ta càng ham muốn bấy nhiêu. Tôi đã giàu rồi, nếu xét đến thói quen khiêm tốn và gỉan dị của tôi. Nhưng cái bóng mờ của cuộc sống giàu sang không giới hạn cứ thôi thúc mãi. Ngay tối hôm ấy tôi lại bắt tay vào việc. Giờ thì tôi tiến hành một cách bình tĩnh và ít căng thẳng hơn. 135 triệu khác lại được cất chồng bên đống tiền hôm trước.

Ðêm hôm đó tôi không chợp mắt được. Linh tính đang báo hiệu một điều gì nguy hiểm? Hay là nỗi dày vò lương tâm của kẻ nhận được may mắn mà không hề có một công lao xứng đáng nào? Hoặc một nỗi ân hận mơ hồ? Ngày hôm sau khi trời chưa kịp sáng tôi đã nhảy xuống giường, mặc quần áo và vội vã chạy ra ngoài để tìm mua tờ báo.

Vừa đọc xong tôi như bị ngộp. Một trận hoả hoạn ở kho xăng đã thiêu huỷ toàn bộ khu nhà trên phố San Cloro. Ngọn lửa đã lan ra và đốt cháy két sắt của một cơ quan bất động sản, biến ra tro số tiền 135 triệu. Trong lúc cứu chữa, hai nhân viên cứu hoả đã bị thiệt mạng.

Giờ tôi phải kê khai ra đây từng tội ác của tôi chăng? Phải, bởi vì lúc này tôi thừa biết là số tiền mà chiếc áo lạ kỳ đã cho tôi tìm thấy đã đến từ tội ác, từ máu, từ những tuyệt vọng, từ chết chóc; nó đến từ địa ngục. Nhưng trong tôi vẫn còn ngự lại sự dối lừa của lý trí, đang chối từ mọi thú nhận về bất kỳ một trách nhiệm nào. Và cứ thế những cám dỗ cứ tiếp tục tái diễn – dễ quá mà – và cái bàn tay cứ thọc vào túi rồi những ngón tay tham lam cứ nắm chặt những tờ bạc mới. Tiền. Những đồng bạc tuyệt vời.

Không cần bỏ căn nhà cũ (để tránh bị dòm ngó) nhưng trong một thời gian ngắn tôi đã mua được một căn biệt thự, sắm nhiều bức tranh đắt giá, di chuyển bằng xe hơi sang trọng và bỏ việc làm ở sở vì lý do sức khoẻ; tôi đi du lịch khắp nơi trên thế giới bên cạnh những người đàn bà trẻ đẹp.

Tôi vẫn biết cứ mỗi lần tôi rút tiền từ chiếc áo thì ở một nơi nào đó lại xảy ra một biến cố đau thương và bi thảm. Nhưng đó chỉ là một ý thức rất mơ hồ vì không có bằng chứng gì rõ rệt. Rồi dần dần sau những lần lấy thêm tiền, lương tâm tôi bắt đầu thoái hoá, trở nên đốn mạt. Còn lão thợ may? Tôi đã gọi điện thoại cho lão ta để hỏi phiếu tính tiền nhưng chẳng có ai trả lời. Tôi có đi tìm lão ở phố Ferrara, nhưng người ta bảo lão đã di cư ra nước ngoài mà không ai biết chính xác là đâu. Tất cả những điều này dường như đều có ngụ ý chứng tỏ, dù tôi vẫn chưa hề hay biết, rằng tôi đã thoả hiệp với quỷ.

Cho đến một hôm, trong ngôi nhà mà tôi đã sống từ nhiều năm, một buổi sáng người ta tìm thấy một bà lão 60 tuổi chết ngạt vì gas; Bà ta đã tự tử vì đánh mất 30 nghìn lia tiền hưu bổng lãnh ra từ bữa trước (và đã lọt vào tay tôi).

Ðủ rồi. Ðủ rồi. Tôi phải huỷ bỏ chiếc áo quỷ quái này để khỏi phải rơi vào đáy vực. Tôi không thể nhượng lại cho ai vì trò chơi đốn mạt này sẽ tiếp diễn (Ai mà có thể cưỡng lại được sức cám dỗ của nó?). Cần phải huỷ nó thôi.

Tôi lái xe đến một thung lũng vắng vẻ trên dãy núi Alpe. Dừng xe trên một bãi cỏ tôi đi về hướng khu rừng. Không có ai đi theo. Vượt qua khu rừng tôi đến một vách núi lởm chởm đá. Nơi đây, giữa hai tảng đá khổng lồ nằm bên lòng núi, tôi đặt lên chiếc áo khốn nạn, chế xăng và châm lửa. Sau ít phút nó chỉ còn là một đống tro.

Nhưng khi tia lửa cuối cùng vừa đảo lên và sắp tắt, từ phía sau lưng tôi vang lên một giọng người như chỉ cách chừng vài ba thước: Trễ quá rồi, trễ quá rồi! Hoảng hồn, tôi quay đầu như con rắn. Nhưng không có ai cả. Tôi chăm chú nhìn xung quanh, nhảy từ mõm đá này sang mỏm đá khác để tìm kẻ khốn nạn nào vừa lên tiếng. Nhưng chẳng thấy gì. Chỉ có đá và đá.

Dù vừa trải qua một trận đứng tim nhưng khi xuống thung lũng lòng tôi cũng nhẹ nhõm phần nào. Rốt cuộc tôi đã được tự do. Và giàu nữa, thật may.

Khi đến bãi cỏ thì chiếc xe hơi của tôi không còn nữa. Và khi trở về thành phố thì cái biệt thự lộng lẫy của tôi cũng biến đi đâu mất; thay vào đó là một mảnh đất hoang có mấy cọc gỗ dựng tấm bảng: Ðất để bán của thị xã. Rồi những trương mục ở ngân hàng, tôi cũng chả biết giải thích ra sao, đã hoàn toàn trống rỗng. Những bó cổ phần cất trong các hộc an toàn cũng biến đi đâu mất.Và bụi, chỉ toàn là bụi nằm trong đáy của chiếc rương đựng thảm.

Giờ thì tôi lại bắt đầu làm việc một cách khó khăn, tôi phấn đấu với nhiều cay đắng và điều lạ nhất là hình như chả mấy ai ngạc nhiên về sự phá sản đột ngột của tôi.

Nhưng tôi thừa hiểu rằng câu chuyện chiếc áo vẫn chưa chấm dứt. Tôi biết là một ngày nào đó chuông cửa sẽ reo, tôi sẽ ra mở cửa và trước mắt sẽ xuất hiện nụ cười quái đản của lão thợ may khốn nạn, đến để đòi thanh toán món nợ năm xưa.

Trương Văn Dân chuyển ngữ từ nguyên tác: LA GIACCA STREGATA

Chú thích:

* Tiền Ý: 10 nghìn Lire
(năm 1996) tương đương 7 đô la Mỹ: Lúc tác giả viết trị giá lớn hơn nhiều.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 400
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Sat Mar 10, 2018 7:05 am



GẶP GỠ EINSTEIN
Dino Buzzati (Ý)
Dịch giả: Đoàn Tử Huyến


Một tối tháng Mười, sau ngày làm việc căng thẳng, Albert Einstein đang một mình dạo chơi dọc con đường hai bên trồng cây của thành phố Princeton thì xảy ra một việc lạ lùng. Hoàn toàn bất ngờ và không có bất cứ một nguyên nhân đặc biệt nào, khi ý nghĩ tự do chuyển từ sự vật này sang sự vật khác giống như con chó xổ xích, ông đã đạt đến được cái suốt đời từng là mục đích ông gắng hướng tới trong các mơ ước của mình. Trong một thoáng, Albert Einstein chợt thấy xung quanh mình cái gọi là không gian cong, và ông kịp xem xét nó từ một góc cạnh, hệt như bây giờ bạn đọc có thể xem xét quyển sách này trên tay.

Người ta cho rằng, trí tuệ của con người không đủ sức để nắm bắt hiện tượng uốn cong của không gian – không chỉ có chiều rộng, chiều dài, chiều sâu mà còn có cả một chiều thứ tư bí ẩn nào đó nữa: sự tồn tại của nó đã được chứng minh, mặc dù nó nằm ngoài khả năng cảm nhận của con người. Xung quanh chúng ta có một bức tường nào đó và con người, đang tiến thẳng về phía trước trên đôi cánh tư duy không mệt mỏi của mình, bay lên mỗi lúc một cao hơn, bỗng đụng phải. Cả Pithagore, cả Platon, cả Dante, cho dù họ có sống đến tận ngày hôm nay đi nữa, cũng không thể vượt qua được bức tường đó, vì rằng một chân lý như vậy không khuôn vừa trong kích thước bộ não của chúng ta.

Tuy nhiên, cũng có người cho rằng có thể nắm bắt được không gian cong bằng những năm tháng dài thí nghiệm và tư duy cực kỳ căng thẳng. Một vài nhà bác học, trong khi thế giới xung quanh họ sống cuộc sống bình thường, các lò cao và các đầu tầu nhả khói, hàng triệu người bỏ mạng nơi chiến trận, còn trong bóng tối của các công viên thành phố những cặp tình nhân âu yếm hôn nhau, thì các nhà bác học cô đơn đó, bằng nỗ lực trí tuệ phi thường của mình – ít ra là trong các huyền thoại cũng nói như vậy – đã nhìn thấy được, dù chỉ trong một thoáng chốc ngắn ngủi (dường như có một sức mạnh nào đó nâng họ lên phía trên vực thẳm rồi lại ngay tức khắc kéo họ về chỗ cũ) và kịp xem xét cái không gian cong – đỉnh cao không thể đạt tới của tòa vũ trụ.

Nhưng thường thường, về hiện tượng kỳ lạ này, người ta không đưa ra khoe khoang và không ai chúc mừng các anh hùng, không có các dàn kèn đồng chào đón, các cuộc phỏng vấn, các tấm huân chương kỷ niệm, vì rằng những chiến thắng đó mang tính chất hết sức cá nhân, chỉ đơn giản là một người nào đó có thể nói: tôi đã cảm thận được không gian cong. Bởi vì không hề có giấy chứng nhận, không hề có ảnh chụp, không hề có bất cứ một cái gì tương tự khả dĩ chứng minh điều đó là có thật.

Thế nhưng, khi những khoảnh khắc đó xuất hiện và tư duy của chúng ta trong đà bay mạnh mẽ dường như tìm được khe hở rất khó nhận thấy trên bức tường, luồn qua đó, lọt vào cái thế giới đóng kín đối với chúng ta, và cái trước đây chỉ là một công thức trừu tượng được sinh ra và phát triển ở ngoài chúng ta, chợt trở thành chính bản thân cuộc sống của chúng ta, ôi, khi đó, trong nháy mắt, biến thành mây khói tất cả những nỗi lo buồn, bận bịu ba chiều của chúng ta, và chúng ta – sức mạnh trí tuệ con người mới kỳ lạ làm sao! – vụt bốc lên cao và bay lượn trên một cái gì đó rất giống như sự vĩnh cửu.

Chính đó là điều xảy ra với giáo sư Albert Einstein vào buổi tối tháng Mười nọ. Trong bầu không khí trong suốt tựa pha lê, đây đó những ngọn đèn đường cháy sáng như muốn ganh đua với ánh sao Vệ Nữ, và trái tim – một khối cơ bí hiểm của con người – thỏa sức hít vào mình cái thanh bình ngọt lành của Chúa. Mặc dù Albert Einstein, một nhà thông thái và không vướng bận bả vinh hoa thường tình trần thế, vào thời điểm đó ông cũng cảm thấy mình trội vượt hơn hẳn mọi người, giống như một kẻ ăn mày kiết xác nhất chợt nhận thấy túi mình đầy ắp vàng ngọc.

Nhưng ngay tức khắc, dường như để trừng phạt thói cao ngạo ấy, chân lý bí ẩn đó vụt biến mất đi cũng nhanh hệt như lúc hiện đến. Liền đó, Albert Einstein nhận thấy chỗ mình đang đứng là một nơi hoàn toàn xa lạ đối với ông. Nhà bác học bước dọc theo con đường nhỏ hai bên trồng cây xanh, bốn phía không hề thấy nhà cửa, lều quán. Chỉ có một cột bơm xăng, sơn sọc vàng đen loang lổ với quả cầu bằng kính chiếu sáng ở phía trên. Bên cạnh, trên chiếc ghế bằng gỗ, một gã da đen ngồi đợi khách hàng. Gã mặc áo liền quần bảo hộ lao động, đội mũ thể thao bóng chày màu đỏ chói.

Albert Einstein đã định đi ngang qua thì gã da đen đứng lên và đi thẳng về phía ông vài bước.
– Mister!- Gã gọi.
Giờ đây, khi gã đứng, có thể thấy rằng đó là một người rất cao, khuôn mặt dễ coi, cân đối một cách đáng ngạc nhiên, rất đẹp trai theo kiểu châu Phi. Gã cười lộ hàm răng trắng lóa trong bóng tối vừa buông xanh biếc.
– Thưa ngài, – gã da đen nói – ngài có lửa không ạ? – Gã chìa ra điếu thuốc lá hút dở đã bị tắt.
– Tôi không hút – Einstein đáp và dừng lại, phần nhiều là do ngạc nhiên.

Gã da đen lại lên tiếng.
– Thế ngài có thể cho tôi tiền uống rượu được không? – Gã cao lớn, trẻ khỏe và trơ tráo.
Einstein lục lọi các túi.
– Tôi không biết… Tôi không mang theo gì cả… Tôi không quen… Tôi, quả thật, đáng tiếc… – Ông nói rồi toan bước đi tiếp.
– Cám ơn ngài! Gã da đen nói – Nhưng… xin lỗi.
– Anh còn cần gì nữa? – Einstein hỏi.
– Tôi cần ông. Chính vì vậy mà tôi ở đây.
– Cần tôi? Có chuyện gì thế?
– Tôi cần ông. – Gã da đen nói. – Cho một việc bí mật. Và điều đó tôi chỉ có thể nói thể nói thầm với ông mà thôi.

Hai hàm răng trắng của kẻ lạ mặt như trở nên trắng hơn vì trời lúc này gần như đã tối hẳn. Gã ghé sát vào tai Einstein.
– Tôi là quỷ Iblich. – Gã thì thầm – Tức là Thần Chết, đến đây để bắt linh hồn ông.
Einstein lùi lại một bước.
– Tôi thấy – giọng ông trở nên gay gắt, – tôi thấy anh có vẻ đã quá chén.
Gã da đen bước đến bên hàng cây xanh, bẻ một cành nhỏ và chỉ trong chớp mắt những chiếc lá xanh biến màu, héo rũ xuống và trở nên xám xịt. Gã chúm miệng thổi, và tất cả, những chiếc lá, cả cành cây, tan thành đám bụi nhỏ.
Einstein cúi đầu.
– Hừm, quỷ thật! Có nghĩa đúng là hết… Nhưng sao, ngay tại đây, buổi tối… ngoài phố thế này à?
– Tôi được lệnh như vậy.

Einstein nhìn quanh, nhưng bốn phía không một bóng người. Vẫn con đường nhỏ, những ngọn đèn đường và xa xa phía dưới, ở ngã tư, lấp loáng đèn ôtô. Ông nhìn lên trời – bầu trời trong và sáng. Những ngôi sao vẫn cháy rực rỡ ở các vị trí của mình. Riêng sao Vệ Nữ vừa lặn khuất nơi chân trời.
Einstein nói:
– Này, anh hãy hoãn cho tôi một tháng. Làm sao mà anh lại đến đúng cái lúc tôi đang hoàn thành một công trình! Tôi xin anh cho tôi chỉ một tháng thôi.
– Cái mà ông định phát minh – gã da đen nói, – ông đi với tôi, đến bên đó sẽ tìm thấy ngay.
– Đó là những chuyện hoàn toàn khác nhau: liệu tất cả những gì chúng tôi dễ dàng biết được ở thế giới bên kia có đáng giá không? Công trình của tôi có một giá trị nghiêm túc. Tôi đã trăn trở đeo đuổi nó ba chục năm. Và giờ đây, khi chỉ còn lại một ít nữa…
Gã da đen cười khẩy.
– Ông bảo là một tháng à?… Thôi được, nhưng ông chớ có lẩn khi hết hạn đấy. Cho dù ông có trốn xuống tận đáy của hầm mỏ sâu nhất, tôi cũng tìm ra ông.
Einstein định hỏi thêm một câu nữa, nhưng người đối thoại của ông đã biến mất.

Một tháng là khoảng thời gian rất dài khi phải sống xa người ta yêu dấu nhưng lại hết sức ngắn ngủi khi anh chờ đợi sứ giả của thần chết. Tưởng như nó ngắn hơn cả một tiếng thờ dài. Và rồi nó đã hết. Một buổi chiều, khi chỉ còn lại một mình, Einstein tìm đến nơi đã hẹn. Vẫn cột xăng ấy, vẫn chiếc ghế dài ấy, còn ngồi trên ghế là gã da đen, chỉ có điều bây giờ đã khoác thêm ngoài bộ bảo hộ lao động một chiếc áo capốt nhà binh cũ – trời đã chuyển sang rét đậm.
– Tôi đã đến đây. – Einstein khẽ chạm tay vào vai gã, nói.
– Thế công việc của ông ra sao rồi? Xong chưa?
– Chưa, chưa xong được – Nhà bác học buồn rầu đáp – Hãy cho tôi thêm một tháng. Một lần này nữa thôi, tôi thề đấy. Tôi tin là lần này sẽ hoàn thành được. Anh biết không, tôi làm việc như điên suốt ngày đêm, mà vẫn không kịp. Nhưng còn lại có chút xíu nữa thôi.
Gã da đen xoay người, nhún vai.
– Tất cả loài người các ông chẳng khác gì nhau. Không bao giờ chịu vừa lòng. Sẵn sàng quỳ gối để xin gia hạn. Bao giờ cũng tìm ra lý do…
– Nhưng vấn đề tôi nghiên cứu rất phức tạp. Chưa bao giờ có ai…
– Tôi biết, tôi biết – gã Thần Chết cắt ngang lời ông – Ông tìm chìa khóa để mở cửa vào vũ trụ chứ gì?
Cả hai im lặng. Cảm thấy thật lạnh lẽo trong bóng tối đầy sương mù của trời đêm đã thật sự sang đông. Trong những đêm như thế này chẳng ai muốn bước ra khỏi nhà.
– Thế nào? – Einstein hỏi.
– Thôi được, ông về đi… Nhưng nên nhớ là một tháng trôi qua chóng lắm.

Và quả thật, nó trôi qua lúc nào không biết. Chưa bao giờ thời gian nuốt chửng cả bốn tuần lễ một cách ngấu nghiến như vậy. Vào đêm tháng Mười Hai hôm đó, một ngọn gió giá băng thổi những chiếc lá rụng cuối cùng xào xạc lăn trên mặt đường rải đá. Những sợi tóc bạc của nhà bác học xổ ra dưới vành mũ bêrê bay phất phơ. Và vẫn lại cột xăng ấy, bên cạnh là gã da đen ngồi xổm, mũ trùm kín đầu, và dường như đang ngủ gật.
Einstein bước đến, rụt rè chạm tay vào vai gã.
– Tôi đã đến.
Gã da đen va hai hàm răng vào nhau và co rúm người lại trong chiếc áo capốt:
– Ông đấy à?
– Vâng, tôi.
– Nghĩa là ông đã làm xong.
– Vâng, nhờ trời, tôi đã làm xong.
– Cuộc đấu thế kỷ đã kết thúc? Thế nào, ông đã thấy cái ông tìm ra rồi chứ? Đã mổ xẻ được vũ trụ rồi à?
– Đúng thế. – Einstein mỉm cười đáp và khẽ hắng giọng ho. – trong một chừng mực nào đó có thể nói giờ đây mọi chuyện với vũ trụ đều đã ổn thỏa.
– Vậy thì ta đi. Ông đã sẵn sàng chịu chuyến đi này chứ?
– Tất nhiên, đó là điều kiện mà.

Gã Iblich bỗng nhảy vọt dậy và phá ra cười – cười rất to, rất cởi mở, rất da đen. Rồi gã chọc ngón trỏ bàn tay phải vào bụng Einstein khiến ông loạng choạng suýt ngã.
– Thôi được, thôi được, ông bạn bịp già lõi ạ… Ông về nhà đi… chạy nhanh lên, nếu không muốn viêm phổi… Bây giờ tôi tạm thời không cần ông nữa.
– Anh tha tôi?… Nếu thế thì tất cả những trò kia để làm gì?
– Để cho ông hoàn thành công trình của mình. Chỉ có vậy thôi. Và tôi đã làm được điều đó… Nếu tôi không dọa ông thì ai biết được ông còn kéo dài bao lâu nữa.
– Công trình của tôi? Thế anh cần nó để làm gì?
– Tôi thì chẳng cần để làm gì cả… nhưng các sếp trên của tôi, ở dưới kia, những chúa quỷ cấp cao hơn… họ nói rằng ngay từ những phát minh đầu tiên của mình ông đã phục vụ cho họ rất đắc lực… Mặc dù ông không có lỗi, nhưng đúng là như vậy đấy. Ông có thích hay không, thưa giáo sư quý mến, nhưng địa ngục đã áp dụng các phát minh của ông rất hiệu nghiệm. Bây giờ chúng tôi đầu tư những khoản chi phí cho trang thiết bị, phương tiện…
– Vớ vẩn! – Einstein phẫn nộ quát lên – Hỏi trên thế giới có cái gì vô hại hơn không? Đó chỉ là những công thức, thuần túy trừu tượng, khá là khách quan…
– Đúng rồi! – Iblich hét vang, lại chọc ngón tay vào bụng nhà bác học. – Ôi, ngài cừ quá! Hóa ra người ta cử tôi đến đây phí công vô ích? Theo ngài, họ đã làm gì? Không, không đâu, ngài đã làm việc rất tốt. Các sếp của tôi ở dưới kia sẽ rất hài lòng! Ôi, giá như ngài biết được!…
– Giá như tôi biết được cái gì?
Nhưng gã da đen đã biến mất.

Không còn cả cây xăng, không còn cả chiếc ghế dài. Chỉ có màn đêm, gió lạnh và những ánh đèn ôtô xa xa phía dưới kia. Thành phố Princeton bang New Jersey.
.
 
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 382
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Fri Mar 23, 2018 7:40 pm



Dino Buzzati sinh năm 1906, mất năm 1972 ở Milan (Italy). Trước khi viết văn, ông là họa sĩ và nhà báo, từng là phóng viên chiến trường của tờ Corriere della Sera. Với Hoang mạc Tácta (1940), ông trở thành một trong những tên tuổi lớn của thế kỷ 20.
Chủ để quen thuộc của Buzzati là sự chạy trốn thời gian, định mệnh loài người, sợ hãi đối với hư vô, thất bại của sự sống, bí ẩn của nỗi đau và cái ác.



NGÀY TẬN THẾ
Dino Buzzati (Ý)


Một buổi sáng khoảng mười giờ, một nắm đấm khổng lồ xuất hiện trên bầu trời thành phố. Rồi từ từ mở ra và giữ nguyên như vậy, không di chuyển, như là một cái vòm khổng lồ của sự hủy họai. Trông giống như đá, nhưng không phải là đá; trông giống như thịt nhưng không phải. Ðó là Thượng đế, và là ngày tận thế. Một tiếng rì rầm, mà ở đây trở thành rên rỉ, ở kia nghe như la hét, lan truyền trong những khu của thành phố, cho đến khi lớn dần thành một giọng độc nhất, hoà hợp và dễ sợ, dâng cao the thé như tiếng kèn trompet.

Luisa và Pietro đang ở trong một quảng trường nhỏ, sưởi ấm bởi ánh nắng sớm, bao bọc bởi khung cảnh lạ và một phần là những khu vườn. Nhưng trên bầu trời, ở một độ cao khó lường, bàn tay treo lơ lửng. Cửa sổ được mở tung giữa những tiếng kêu khóc sợ hãi, trong khi những tiếng la hét ban đầu của thành phố dần chìm xuống, và những người phụ nữ nửa kín nửa hở nhìn ra để xem sự khải huyền. Người ta rời nhà, rất nhiều trong số họ vùng chạy. Họ cảm thấy sự cần thiết phải di động, phải làm gì đó, bất cứ thứ gì, nhưng họ không biết hướng về đâu.
Luisa bật khóc nức nở không kìm được: “Em biết mà,” cô lắp bắp giữa tiếng thổn thức, “Em biết là mọi sự sẽ phải kết thúc như thế này, không phải khi mà ta đang ở nhà thờ, không phải khi ta đang cầu nguyện. Em không cần biết, không cần để ý, và bây giờ em cảm thấy mọi sự sẽ phải diễn ra như thế này!”
Pietro phải làm gì để an ủi cô? Thậm chí anh cũng đang khóc như một đứa nhỏ. Phần lớn mọi người mắt đều giàn dụa, đặc biệt là phụ nữ.
Chỉ có hai thầy dòng, hai người đàn ông nhỏ bé lanh lẹn, đi ngang vui vẻ như là như họ đang trên đường đến dự tiệc. “Giờ là rồi đời những người thông thái!” họ vui sướng cảm thán, rảo bước tiếp thật nhanh, hướng về những khách bộ hành có danh vọng nhất.

“Các ông chẳng còn thông thái nữa, nhỉ? Giờ bọn tôi là người thông thái!” họ lên giọng châm chọc. “Luôn bị nhạo báng, luôn bị xem là ngu độn — giờ để xem ai là người thông thái cho biết!” Vui vẻ như lũ học trò, họ đi ngang qua giữa một đám đông đang lớn dần, những người nhìn họ trừng trừng nhưng không dám làm một cử chỉ cản trở.
Ít phút sau khi họ đã mất hút vào một ngõ hẹp, một người đàn ông nhào theo tìm họ một cách đầy bản năng, như là một cơ hội đã bị để cho vuột mất. “Lạy Chúa!” anh ta gào lên, tự đấm vào trán mình, “quên nghĩ là họ có thể rửa tội cho bọn ta.” “Tức thật!” ai đó tiếp lời thật nhanh, “Bọn ta thật là ngu! Họ hiện ra ngay trước mũi mình mà lại để cho họ đi mất!” Mà ai có thể đuổi kịp với những thầy dòng nhanh nhảu?

Trong lúc đó thì đàn bà và những người đàn ông độc ác, những người trước kia tỏ ra ngạo mạn, giờ đang trở về từ nhà thờ, chửi rủa, thất vọng và đầy chán nản. Những người giáo sỹ nghe xưng tội thông minh hơn đã biến mất – người ta cho hay – có lẽ bị mua bởi những người có thế lực và những tay đại tư bản công nghiệp. Thật là lạ, nhưng mà tiền bạc kỳ diệu thay bảo toàn được uy tín của nó cho dù đây là ngày tận thế; người ta đoán chừng rằng có thể vài phút, vài giờ, hay vài ngày còn sót lại, nhưng làm sao biết được. Về những giáo sỹ còn sót lại, một đám đông chật ních dễ sợ tạo thành trong nhà thờ nên có họ cũng như không. Người ta nói rằng những vụ xô xát nghiêm trọng thường xảy ra gây bởi những đám người quá đông, và rằng những tên lường gạt mặc áo thầy tu còn đề nghị gọi điện thoại đến tận nhà để nghe xưng tội với giá cắt cổ. Mặt khác thì những cặp còn trẻ hối hả đắm mình làm tình lần cuối cùng, duỗi dài trên cỏ trong vườn, không hề tỏ ra một chút ý định giả vờ kiềm chế nào. Bàn tay, lúc đó, đã đổi sang màu tro, cho dù mặt trời vẫn còn chiếu sáng, và như là một kết quả, còn đáng sợ hơn nữa. Tiếng đồn rằng thảm họa sắp xảy ra bắt đầu lan nhanh; một vài người tin chắc họ sẽ chẳng thấy buổi trưa.

Vừa lúc đó một tu sỹ còn trẻ được phát hiện trên một ban công nhỏ, duyên dáng của một biệt thự, cao hơn mặt đường một chút (ban công được lên tới bởi hai dãy tầng cấp hình nan quạt). Với đầu thu giữa hai vai, anh ta chạy như là sợ bị thấy đi ra từ đó. Thật là lạ khi thấy một tu sỹ vào giờ này, trong căn nhà xa xỉ đó cư ngụ bởi những gái làng chơi hạng sang. “Một tu sỹ! Một tu sỹ!” được nghe la lên khắp mọi nơi. Với tốc độ của ánh sáng, đám đông thành công trong việc chận anh ta lại trước khi vị tu sỹ đi mất. “Hãy rửa tội cho chúng tôi! Hãy rửa tội cho chúng tôi!” họ kêu khóc với anh ta. Anh chàng tái mặt, bị lôi kéo đến một chỗ xinh xắn nhô ra từ ban công như là một bục giảng được che phủ; có vẻ như là được xây nên cho mục đích này. Hàng tá đàn ông đàn bà lập tức họp lại với nhau, tạo thành tiếng hò hét, tràn lên từ phía dưới, trèo lên những chỗ trang trí nhô ra, bám vào những cây cột, và gờ của lan can; mà sau hết có vẻ không cao lắm.

Vị tu sỹ bắt đầu nghe xưng tội. Rất nhanh anh lắng nghe những lời bí mật không kịp thở từ những người xa lạ (những người mà vào lúc này không còn quan tâm đến việc người khác có nghe họ hay không). Trước khi họ kết thúc anh làm dấu thánh giá nho nhỏ bằng tay phải, giải tội cho họ, và lập tức quay sang người có tội kế tiếp. Nhưng có nhiều người quá. Vị tu sỹ nhìn quanh, chóng mặt, cố ước lượng cái biển tội lỗi đang dâng cần được tẩy sạch.

Bằng cố gắng hết sức, Luisa và Pietro cũng đến được dưới chân anh ta, chờ tới phiên mình, và được nghe xưng tội. “Con không hề đi lễ, con nói dối,” cô gái trẻ gào thật nhanh trong một cơn điên bị sỉ nhục, sợ rằng cô sẽ không kịp giờ, “và sau đó là tất cả những tội lỗi gì cha muốn cộng hết cũng được, thật đấy, và con không phải nói điều này bởi vì con sợ những người ở đây, hãy tin con, chỉ vì con ao ước được ở gần Chúa, con thề với cha,” và vị tu sỹ bị thuyết phục bởi lòng thành của cô. “Ego te absolvo,” anh ta thì thầm, và quay sang lắng nghe Pietro.

Bây giờ thì một sự mong chờ không diễn tả được dâng lên trong bọn đàn ông. Một người hỏi: “Còn bao lâu nữa thì đến giờ phán xử cuối cùng?” Một người khác, có vẻ hiểu biết, nhìn đồng hồ. “Còn mười phút,” ông ta nói giọng đầy quyết đoán. Vị tu sỹ nghe người đàn ông và thình lình cố rời bước. Nhưng, chưa thỏa mãn, đám đông giữ anh ta lại. Trông anh ta như đang lên cơn sốt. Rõ ràng làn sóng lời xưng tội đến với anh ta không khác hơn lời thì thào vô nghĩa lý; anh ta làm dấu thánh giá cái này tiếp theo cái kia, lặp lại câu Ego te absovo đầy máy móc.

“Còn tám phút!” một giọng đàn ông trong đám đông cất lên. Vị giáo sỹ run rẩy thật sự, anh ta giậm chân lên mặt đá cẩm thạch như là một đứa trẻ đang làm nũng. “Còn tôi? Còn tôi thì sao?” anh ta bắt đầu khẩn nài, tuyệt vọng. Họ đã lường gạt anh sự cứu rỗi tâm hồn anh, những người đáng nguyền rủa; quỷ sứ bắt hết họ đi, không cần biết bao nhiêu. Nhưng làm sao tự anh có thể giải thoát cho anh được?

Anh ta gần khóc. “Còn tôi? Tôi?” anh ta hỏi một ngàn tín đồ, tham lam được vào thiên đường. Nhưng không có ai để ý đến anh ta cả.

Nguyễn Ðức Thanh Quang dịch
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 333
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Tue Mar 27, 2018 7:42 am



VÌ TÔI LÀ CON CỦA MẸ
Dino Buzzati (Ý)

 
Nhiều năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn còn thầm hỏi hai người tài xế đã nói gì trên đường chở linh cửu mẹ tôi đến nghĩa trang .
            
Ðó là một cuộc hành trình dài hơn 300 km, tuy đường vắng người nhưng xe đi rất chậm. Lũ con chúng tôi theo sau bằng xe hơi, giữ khoảng cách chừng 100 thước, và đồng hồ đánh dấu tốc độ 60 km/giờ. Có thể loại xe tang được chế tạo để di chuyển chậm nhưng sao tôi cứ nghĩ là có một quy luật nào đó, xem tốc độ là một điều bất kính với người đã khuất. Ðiều này hơi vô lý – bởi tôi tin mẹ tôi sẽ rất thích nếu xe chạy 120 km/giờ, ít ra cũng tạo cho người cái cảm giác về một chuyến đi bình thường như những dịp hè về Belluno nghỉ mát.
 
Bữa đó là một ngày tháng sáu tuyệt vời, hai bên con đường quen thuộc mà mẹ tôi đã đi qua lại hằng trăm lần đang hiện ra những cánh đồng bát ngát mà bây giờ người không nhìn thấy nữa. Mặt trời lúc ấy đã lên cao, hơi nóng trên đường nhựa bốc lên làm đoàn xe phía trước giống như đang lửng lơ trong không khí.        
Ðồng hồ vận tốc chỉ 60 km/giờ, xe tang như đứng yên một chỗ vì có nhiều xe qua mặt, trên đó chở những người đang sống tự do, hay những cô gái thả tóc bay trong gió, ngồi cạnh các thanh niên trên xe mui trần. Rồi những xe cam nhông, kể cả loại kéo rờ mọt cũng vượt qua phía trước… Tôi nghĩ  sao mà dại thế, phải chi người ta chở linh cửu mẹ tôi trên một xe thể thao màu đỏ, phóng hết tốc lực để hiến dâng cho người thêm chút  nữa về đời sống thực, thay vì chậm chạp lăn trên đường  như  một đám tang.
           
Bởi những lý do đó nên  tôi muốn biết là hai người tài xế đã nói những gì; một người khoảng ba mươi lăm tuổi cao chừng thước tám, khuôn mặt hiền lành, còn người kia cũng to con với màu da sạm nắng. Tôi thoáng thấy họ ngay từ lúc khởi hành và chợt  nghĩ  với vóc dáng như thế, họ không mấy phù hợp với việc lái xe tang; một chiếc cam nhông chở ống sắt có lẽ  sẽ thích hợp với họ nhiều hơn.          
Sở dĩ tôi muốn biết là họ đã nói với nhau những gì bởi vì đó là câu chuyện cuối cùng của loài người, những lời lẽ cuối cùng của cuộc sống mà mẹ tôi còn nghe được; vì trong cuộc hành trình dài và nhàm chán đó thế nào mà hai gã tài xế  không nói chuyện với nhau. Còn việc sau lưng họ có linh cửu mẹ tôi thì đối với họ nào có quan trọng gì, dĩ nhiên, công việc này đã quá quen với họ, nếu  không  chắc  họ đã chọn nghề khác.           
Ðó là những lời cuối mà mẹ tôi còn nghe được vì  sau khi đến nghĩa trang, các nghi lễ của nhà thờ sẽ bắt đầu, và từ lúc ấy những âm thanh và lời  lẽ sẽ không còn dành cho cuộc sống này nữa, mà  dành cho một thế giới khác.
           
Họ đang nói với nhau về chuyện gì? Về sự oi bức? Về thời gian cần thiết khi quay lại? Họ kể chuyện gia đình hay bàn về kết quả các trận túc cầu bữa trước? Họ chỉ cho nhau những quán ăn ngon nằm rải rác trên đường rồi tiếc rẻ vì không ngừng lại được? Hay bàn tán về xe hơi với những hiểu biết về cơ giới như những tay sành sõi? Tuy là tài xế xe tang, nhưng có mấy ai dính líu đến ngành cơ khí mà không đam mê máy móc? Hay họ tâm sự với nhau về những cuộc phiêu lưu tình ái? Mày còn nhớ con bé tóc vàng bán nước ở cái quán cạnh cây xăng mà bọn mình thường dừng lại? Ðúng là con đó đó. Thôi đừng xạo cha nội, tao không tin. Thiệt mà, tao thề liền đó… Hoặc họ đang kể cho nhau những chuyện tiếu lâm tục tĩu? Bởi vì hai gã đó cứ tưởng chẳng có ai; cái hòm gỗ đóng kín nằm đằng sau như không hiện hữu, vì họ đã quên rồi…          
Và mẹ tôi phải nghe những lời đùa bỡn ấy cùng với những trận cười khoái trá? Chắc thế, người đã nghe và con tim đớn đau của người lại co thắt thêm lên, chẳng phải vì xem thường hai gã đàn ông lạ mặt mà chính vì nỗi cay đắng là phải nghe những lời lẽ đó thay vì nghe giọng nói của những đứa con  mà người hằng yêu thương.
           
Tôi còn nhớ lúc gần đến Vicenza, khi cái nóng trưa tròn bóng làm rung mờ bóng hình mọi vật, đã bàng hoàng nghĩ lại là thời gian sau này tôi đã sống quá ít bên cạnh mẹ. Rồi chợt nghe một mũi nhọn buốt đau giữa ngực, như người ta thường gọi là niềm ân hận.
      
Ngay lúc ấy - không hiểu sao trước đó vẫn chưa hề xảy ra - âm vang giọng nói của người bắt đầu dội lại trong tôi, của những buổi sáng đến phòng người trước khi ra  tòa soạn: “Mẹ có khoẻ không?” “Đêm qua mẹ ngủ được?” (mà tôi biết  là  nhờ những mũi thuốc an thần)  “con đi làm nghen mẹ”  “ừ thôi con đi đi ”.
Tôi  bước được vài bước trong hành lang thì giọng nói đầy sợ hãi của người vọng đến: “Dino!” Tôi quay lại. “Con về ăn trưa chứ?” “Dạ”  “Còn bữa cơm chiều?”.
“Còn bữa cơm chiều?” Chuá ơi, trong câu hỏi bình thường đó có ẩn chứa một ước vọng nhỏ nhoi. Người không yêu cầu cũng không đòi hỏi gì ở tôi, chỉ nói để hỏi thăm một tin tức thế thôi.
Nhưng tôi đang có những cuộc hẹn hò ngu xuẩn, với những đứa con gái chưa chắc đã thương yêu gì tôi, thậm chí còn cóc cần đến tôi nữa… nhưng ý nghĩ trở về nhà lúc tám giờ ba mươi tối trong căn nhà buồn thảm, đượm không khí già nua bệnh hoạn như nỗi chết cận kề đã làm tôi sợ hãi; mà đã có mấy ai can đảm thú nhận những điều kinh khủng này, dù rằng rất thật? “Con cũng không biết nữa, con sẽ điện thoại về sau” - Tôi thường trả lời như thế. Và tôi chắc thông báo là sẽ không về. Có lẽ người cũng  biết là tôi sẽ nói thế nên hai tiếng  “đi đi”  mang một nỗi buồn vô tận. Nhưng tôi là một đứa con ích kỷ. Ích kỷ như tất cả mọi đứa con.
Lúc đó tôi không hề ân hận, không hề ăn năn hay có một ray rứt nào. “Con sẽ điện thoại về”, và người đã thừa hiểu là tôi sẽ không về nhà ăn tối.

Mẹ tôi già nua, bệnh tật và biết là ngày tàn sắp đến nên rất hài lòng nếu tôi về ăn tối ở nhà để bà bớt cô đơn. Bà chỉ cần tôi hiện diện, dù không nói lời nào hay đôi khi gắt gỏng về những việc bất như ý trong ngày. Nằm bất động trên giường nhưng bà sẽ thấy ấm lòng và được an ủi nếu nghe tiếng lục đục của tôi ăn cơm trong bếp.
Nhưng tôi thì không. Tôi quả thật là thằng khốn nạn và ngu đần vì trong khi tôi đi khắp thành phố Milano để vui chơi cùng bè bạn thì chính đấng sinh thành, điểm tựa thật và duy nhất, sinh vật có một không hai trên cõi đời có khả năng thông cảm và yêu thương, trái tim duy nhất có thể rướm máu vì tôi (và tôi sẽ không bao giờ tìm được dẫu sống thêm ba trăm năm nữa) đang nằm chờ chết.

Tôi chỉ cần nói vài lời với người trước bữa ăn tối về công việc và sinh hoạt trong ngày, tôi ngồi trên đi văng và mẹ nằm duỗi cẳng trên giường. Rồi sau bữa cơm tối, mẹ vui lòng để tôi đi đâu mặc kệ; người đâu có tiếc gì, trái lại, còn  vui mừng nữa nếu tôi có những cơ hội giải khuây. Nhưng trước khi ra khỏi nhà để lao mình trong đêm tối tôi sẽ đến chào người:  “Mẹ đã chích thuốc chưa?” “Chích rồi, mẹ hy vọng là đêm nay ngủ được”.
Mẹ chỉ yêu cầu có thế. Nhưng ngay cả điều nhỏ nhoi này tôi cũng không làm được, do lòng ích kỷ thấp hèn. Bởi vì tôi là con; và trong sự ích kỷ của kẻ làm con tôi đã không cần biết là mình đã thương mẹ bao nhiêu. Ðể bây giờ, trong khoảng khắc cuối đời, trên đường ra nghĩa trang, người phải nghe những lời tán gẫu, những chuyện tiếu lâm và tiếng cười  thô lỗ của hai gã đàn ông lạ mặt. Ðấy là món quà cuối cùng mà cuộc đời đã dành cho mẹ.
         
Giờ thì quá muộn rồi. Không còn gì nữa. Đã muộn quá rồi. Gần hai năm qua, tảng đá đã hạ xuống để mãi mãi đóng kín ngôi mộ trong lòng đất, nơi ánh sáng lờ mờ có linh cửu của ông bà, cha mẹ nằm chồng chất lên nhau. Ðất đã lấp kín những đường rãnh, đây đó mọc lưa thưa vài chùm cỏ dại. Mấy chậu hoa mới đặt trong chậu đồng vài tháng trước giờ  phai tàn đến nỗi không còn nhận ra hình dáng. Không. Những ngày mẹ bệnh hoạn và biết mình sắp chết chắc chắn sẽ không bao giờ lùi lại. Mẹ vẫn câm lặng, mẹ không trách móc gì tôi và có thể là người đã tha tội cho tôi, bởi vì tôi là con của mẹ. Mà chắc là mẹ đã tha tội cho tôi. Thế nhưng cứ mỗi lần nghĩ đến, tâm hồn tôi lại bất an.
            
Mỗi một niềm đau sẽ được khắc lên tấm bia bằng chất liệu diệu kỳ, so với nó cẩm thạch vẫn còn mềm như đất sét. Và thời gian dù vô tận cũng chưa đủ để làm nó phai mờ. Sau một triệu thế kỷ niềm đau và nỗi cô đơn của mẹ do tôi gây ra sẽ còn mãi  mãi. Và tôi sẽ không thể nào cứu vãn. Tôi chỉ còn biết thở dài, và hy vọng là người nhìn thấy.
Nhưng mẹ không nhìn thấy tôi. Người đã chết, xác thân bị huỷ hoại, không còn sống nữa hay đúng hơn là chẳng còn gì ngoài sự mục rữa hình hài đã bị tháng năm xúc phạm, theo sự phân hủy kinh hoàng và đau đớn của thời gian.

Không còn gì? Ðúng là không còn gì. Mà quả thật về mẹ tôi đã không còn gì nữa?
           
Biết đâu! Có khi, nhất là trong những buổi chiều đơn độc, tôi lắng nghe một cảm xúc lạ lùng. Có một điều gì đó xâm nhập trong tôi mà trước đó vài giây chưa hề có, như một bản thể mơ hồ ngự trị trong tôi làm tôi không còn cô độc, và mỗi cử chỉ, mỗi một lời  đều như có chứng nhân của một linh hồn bí ẩn. Mẹ! Nhưng phép lạ chỉ kéo dài rất ít, chừng một giờ rưỡi chứ không hơn. Rồi sau đó dòng đời lại tiếp tục nghiền nát tôi dưới những bánh xe khô khốc và bạo tàn của nó.

Nguyên tác: I due autisti 
Trương Văn Dân chuyển ngữ
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 400
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Sat Mar 31, 2018 2:45 pm


 
Sáng Thế
Dino Buzzati (Ý)


Bấy giờ Đức Chúa Vạn năng vừa xong việc với vũ trụ: các ngôi sao, tinh vân, hành tinh, sao chỗi được xếp đặt lộn xộn một cách phóng túng. Ngài đang hài lòng ngắm nghía tác phẩm của mình thì thấy một trong hằng hà sa số những kỹ sư - chuyên viên thiết kế tiến lại gần ngài với vẻ mặt hết sức bận rộn.

Đó là thần Odnom, một trong những vị thần thế hệ mới thông minh và năng động hơn cả (Bạn nhất thiết phải quên ngay các vị thánh có cánh mặc áo trắng đi nhé; cánh và áo trắng chỉ là sản phẩm tưởng tượng của các họa sĩ thời xưa, chẳng qua vì họ thấy vẽ thế thì đẹp).

- Con muốn gì chăng? - Chúa Sáng Thế thân mật hỏi.
- Vâng, thưa Đấng Tối cao. - Vị thần kiến trúc trả lời. - Trước khi ngài đặt chữ Hết và ban phước cho tác phẩm tuyệt diệu của ngài, con muốn dâng ngài xem một đề án nhỏ mà con với vài đồng nghiệp trẻ vừa nghĩ ra. À, vài thứ phụ thôi, hết sức vặt vãnh so với toàn bộ phần còn lại, một chi tiết nhỏ, nhưng chúng con cho rằng có lẽ cũng thú vị.

Từ cặp tài liệu đang cầm ở tay, thần rút ra một tờ giấy có vẽ một dạng hình cầu.
- Xem nào. - Đấng Vạn Năng nói, tất nhiên là ngài đã tỏ tường toàn bộ đề án, nhưng ngài ra vẻ không biết gì và giả vờ tò mò để làm vừa lòng những kiến trúc sư giỏi nhất của ngài.
Kế hoạch rất cụ thể, có đủ những đánh giá cần thiết.
- Xem xem, đây có thể là gì nhỉ? - Đấng Sáng thế nói, tiếp tục màn ngoại giao của mình. - Ta có thể bảo đây là một tinh cầu, nhưng chả phải chúng ta đã xây hàng tỷ tỷ tinh cầu đó sao? Có cần phải làm thêm một cái nữa, với kích thước hạn hẹp thế này không?
- Thực ra đây đúng là một hành tinh nhỏ. - Vị thần - kiến trúc sư thừa nhận. - Nhưng không như hàng tỷ hành tinh khác, nó có vài thứ độc đáo.

Thần giải thích rằng nó sẽ quay quanh một ngôi sao, ở khoảng cách để nó có đủ nhiệt lượng cần thiết nhưng không quá nóng; thần liệt kê chi tiết bản dự toán với số lượng từng thứ và giá cả tương ứng. Và với mục đích gì? Chả là nếu hội đủ mọi điều kiện cần như thế, trên tinh cầu nhỏ nhoi ấy có thể tạo tiếp ra một hiện tượng rất lý thú: Cuộc sống.

Hiển nhiên là Đấng Sáng thế chẳng cần nhiều giải thích dài dòng. Hiểu biết của một mình ngài hẳn là hơn tất cả những thần-kiến trúc sư, thần-đốc công, thần-thợ nề cộng lại. ngài mỉm cười. Ý tưởng về hòn bi nhỏ lạc giữa vô hạn không gian, mang hằng hà những sự sống cứ sinh ra, giao phối, nhân lên và chết làm ngài thích thú. Tất nhiên thôi, bởi cho dù dự án là do thần Odnom và các cộng sự đề ra, thì tính cho cùng nó vẫn là từ ngài, khởi nguyên của vạn vật.

Yên tâm trước sự tiếp nhận thân tình của Thượng đế, thần-kiến trúc huýt lên một tiếng sáo chói tai và lập tức hàng nghìn, tôi đang nói gì nhỉ, hàng nghìn à, không, hàng trăm nghìn và có thể đến hàng triệu vị thần khác hiện ra ngay trước mặt.

Điều này làm Đấng Sáng thế hoảng hốt. Nếu chỉ có một vị đề đạt ý kiến thôi thì cũng được đi. Nhưng nếu mỗi vị thần kia mang đến nộp một đề án riêng với các giải thích cần thiết thì chuyện này phải kéo dài đến vài thế kỷ mất. Tuy nhiên, với lòng tốt vô biên, ngài đành chuẩn bị chấp nhận thử thách. Bọn hay quấy quả là một tai ương vĩnh cửu. Ngài chỉ biết thở dài...

Odnom làm ngài yên tâm. Không có gì phải sợ. Đám đông các thần này đều là các nhà vẽ mẫu. Ủy ban điều hành của tinh cầu mới đã đặt họ vẽ các loài sinh vật - cây cối và động vật - cần thiết cho tinh cầu mới. Odnom và đồng nghiệp đã không lãng phí thì giờ. Thay cho việc đưa ra các kế hoạch trừu tượng, họ đã tiên liệu các chi tiết nhỏ nhất. Và có lẽ tự thâm tâm, họ muốn đặt Đấng Tối cao trước sự đã rồi với một công việc hoàn hảo đến thế. Nhưng chẳng cần phải vậy.

Cuộc diễu hành đáng chán của bọn xin xỏ mà ngài chờ đợi hóa ra lại biến thành một dạng huy hoàng và vui tươi. Ngài không chỉ chăm chú xem xét phần lớn - nếu không phải tất cả - các bức vẽ cây cỏ sinh vật mà còn hăng hái tham gia vào các tranh luận liên tục nảy ra giữa các tác giả.

Mỗi nhà tạo mẫu hiển nhiên đều mơ ước tác phẩm của mình được thông qua, được khen nữa thì càng tốt. Nhưng trình độ tạo mẫu là hết sức khác nhau. Như bất cứ nơi nào trong vũ trụ, một số đông những kẻ tầm thường phải lăn lưng ra chế tạo cái mà chúng ta có thể gọi là "nền tảng vững chắc" cho tự nhiên: các thợ vẽ, tuy thường có trí tưởng tượng khá hạn chế, nhưng cần cù bù thông minh, họ đã lần lượt vẽ ra các vi sinh vật, rêu, địa y, côn trùng, đại khái những loài mà thời đó được xếp vào loại ít quan trọng nhất. Rồi đến các nghệ sĩ tài năng, bọn ngông cuồng, bọn lòe bịp cố gắng tỏa sáng và thu hút chú ý bằng cách tạo ra các loài kỳ dị, phức tạp, hoành tráng và đôi khi quái đản. Vài loại trong số đó, ví dụ rồng với hơn chục cái đầu, tất nhiên là bị từ chối và vứt vào sọt rác.

Các bức vẽ được thể hiện trên loại giấy xịn nhất với màu sắc và độ lớn bằng vật thật. Điều này rõ ràng đẩy tác giả của các sinh vật bé nhỏ xuống hàng thứ yếu. Các tác giả của vi khuẩn, virus và các loài tương tự gần như không được ai để ý, mặc dù công lao của họ là không thể phủ nhận. Họ xuất hiện với những miếng giấy bé bằng tem thư, có những ký hiệu li ti mà con mắt người thường của chúng ta không thể thấy được (nhưng mắt họ thì thấy, tất nhiên). Trong đám này có tác giả của các động vật thân khớp, đi đi lại lại với quyển ký họa to bằng cái mắt muỗi, chờ những người khác tán thưởng vẻ duyên dáng của các vi động vật tương lai nhang nhác giống gấu con, nhưng chẳng ai thèm để ý. May thay Đấng Toàn năng vốn chẳng bỏ sót điều gì, đã gửi cho vị này một cái nháy mắt làm ấm lòng, đáng giá bằng cái bắt tay nhiệt tình nhất.

Một cuộc tranh cãi gay gắt nổ ra giữa tác giả của lạc đà hai bướu và lạc đà một bướu, ai cũng cho rằng mình là người đầu tiên nghĩ ra cái bướu, như thể đó là một sáng chế thiên tài. Cả hai được công chúng đón nhận một cách khá lạnh nhạt: Phần lớn cho rằng chúng xấu đến thảm hại. Chúng được chấp nhận chẳng qua là cho công bằng.

Dự án về khủng long bị đa số la ó phản đối. Một nhóm các thần táo bạo nhiều tham vọng đã tổ chức một cuộc diễu hành, giương cao những tấm bảng khổng lồ có hình loài động vật lực lưỡng này. Sự phô trương như thế rõ ràng đã gây ấn tượng mạnh. Dù sao thì loài thú ngoại cỡ này cũng là sự thổi phồng hơi quá đáng và không có nhiều khả năng là chúng sẽ sống sót. Nhưng để khỏi làm các nghệ sĩ dũng cảm thất vọng - họ đã đổ bao tài năng công sức vào đó - Đấng Sáng thế Tối thượng vẫn cho thông qua.

Một trận cười nổ ra trước hình vẽ con voi. Độ dài của cái mũi có vẻ hơi quá đáng, thậm chí lố bịch. Tác giả vặc lại là đấy không phải cái mũi, mà là một cơ quan đặc biệt, có thể gọi là cái vòi chẳng hạn. Từ này khá là thích đáng và được vài người hoan hô. Đấng Toàn năng mỉm cười. Và con voi cũng thành công lọt qua vòng thi.

Đối lại, cá voi dành được thành công tức thời và ngoạn mục. Sáu vị thần bay tới, khiêng một tấm ván ngoại cỡ có chân dung con vật khổng lồ. Nó tạo được thiện cảm cho mọi người và khơi dậy sự hoan hô nhiệt liệt.

Nhưng làm sao mà nhớ hết được cuộc kiểm điểm vô tận ấy? Trong số những cái đinh nổi trội nhất, chúng tôi có thể kể ra một số loại bướm lớn màu sắc sặc sỡ, trăn khổng lồ, cây cù tùng, chim thủy tổ, chim công, chó, hoa hồng, bọ chét. Tất cả đồng thanh tiên đoán một tương lai lâu dài và xán lạn cho ba loài cuối cùng này.

Trong lúc đó, giữa đám đông các thần đang chen chúc sôi nổi quanh Đấng Toàn năng, khao khát được ban khen, một vị đơn độc đi đi lại lại với cuộn giấy cặp nách: thật là một kẻ quấy rầy bậc nhất khó chịu! Hắn có gương mặt sáng sủa, thật thế, cái này không ai phủ nhận. Nhưng hắn mới đáng ghét làm sao! Đến hai chục lần là ít hắn sấn sổ chen vai thích cánh người khác hòng leo lên hàng đầu, thu hút sự chú ý của Đại Chủ nhân. Nhưng sự hăng máu kiêu ngạo của hắn làm người ta phát ghét. Và các đồng nghiệp giả đò không thấy, đẩy hắn ra hàng sau.

Nhưng điều này chẳng làm hắn chùn lòng. Ối chà! Cuối cùng hắn cũng chen được đến chân Đấng Sáng thế, và trước khi đám đồng nghiệp có thì giờ ngăn trở, hắn trải cuộn giấy ra trưng thành quả tài năng của mình trước những con mắt thần thánh. Các bức vẽ thể hiện một động vật trông khá đáng ghét, nếu không nói là đáng ghê tởm, tuy nhiên đập vào mắt người ta vì sự khác biệt hoàn toàn so với những thứ được trình diễn cho đến lúc đó. Một bên là con đực, một bên là con cái. Như nhiều động vật khác, chúng có tứ chi, nhưng ít nhất nếu suy đoán từ hình ra, thì chúng chỉ dùng có hai chi để đi lại. Không có lông, nếu không kể vài túm chỗ này chỗ kia, nhất là trên đầu, như một cái bờm. Hai chi còn lại lòng thòng bên hông trông khá nực cười. Cái mõm hơi giống khỉ, loài đã vượt qua vòng thi. Hình dáng không được thanh nhã, hòa hợp và đẹp như các loài chim cá hay sâu bọ cánh cứng mà nguều ngoào, lóng ngóng, hơi nhờ nhạt thế nào đó, như thể đúng lúc quyết định, tác giả vào đâm mệt và nản chí.

Đấng Toàn Năng liếc qua:
- Không thể nói là chúng thật đẹp được! - Ngài vừa nhìn vừa bảo, thân tình giảm nhẹ sự nghiêm khắc trong phán xét. - Nhưng có thể con vật này có vài công năng đặc biệt chăng?
- Vâng, lạy Chúa tôi. - Kẻ đáng ghét khẳng định. - Nói một cách khiêm tốn thì đây là một sáng chế kỳ diệu. Đây sẽ là đàn ông và đây là đàn bà. Tách biệt với khía cạnh hình thể mà con thừa nhận là còn cần tranh cãi, con đã tìm ra cách để chúng có thể - xin ngài tha thứ cho sự táo gan của con - giống ngài, thưa Đấng Tối cao. Đây sẽ là loài duy nhất trong mọi vật có được lý trí, loài duy nhất biết đến sự tồn tại của ngài, loài duy nhất sẽ thờ cúng ngài. Vinh danh ngài chúng sẽ xây những ngôi đền vĩ đại, và chúng sẽ lao vào những cuộc chiến đầy chết chóc.
- Chà chà chà! Con muốn nói đây sẽ là loài có trí tuệ à? - Đấng Toàn Năng nói. - Tin ta đi, con của ta, không, không có loài trí tuệ nào hết. May thay cho đến nay vũ trụ vẫn được miễn trừ khỏi chúng. Và ta hy vọng sẽ tiếp tục như thế cho đến tận cùng các thiên niên kỷ. Con của ta ơi, ta không chối rằng sáng tạo của con thực sự là thiên tài. Nhưng con có thể bảo đảm sự thành công của nó chăng? Cái loài con đã nghĩ ra này có các phẩm chất đặc biệt, có thể thế, nhưng nếu xét theo điệu bộ của chúng thì có vẻ đây sẽ là nguồn rầy rà vô tận. Tuy nhiên, ta phải nói là ta rất sung sướng thừa nhận tài năng của con. Thậm chí ta có thể trao huy chương cho con. Nhưng ta nghĩ con nên từ bỏ ý đồ này thì hơn. Cái loài này, nếu ta mềm lòng mà tạo ra thì khá chắc chắn là một ngày chúng sẽ mang lại những phiền hà tệ hại nhất. Không, không, bỏ đi thôi.
Và ngài đuổi kẻ quấy rầy đi với một cử chỉ đầy tình phụ tử.

Tác giả của con người cau có bỏ đi dưới những nụ cười thầm ranh mãnh của đồng nghiệp. Muốn làm ra vẻ xuất sắc à... Sau đó đến lượt tác giả của gà gô đen.

Đó là một ngày đáng nhớ và vui vẻ như mọi giờ phút huy hoàng trong hy vọng và đợi chờ những điều tốt đẹp đang trên đường hình thành nhưng chưa hoàn tất. Trái Đất sẽ sinh ra với những kỳ quan tốt đẹp và tàn ác, với sự an lạc và sợ hãi, tình yêu và cái chết. Loài nhiều chân, loài sồi, giun sán, đại bàng, tò vò, linh dương, đỗ quyên. Sư tử!

Kẻ đáng ghét vẫn đi đi lại lại, không mệt mỏi và, ôi dào, trông đến là chán, với cái cặp tài liệu của hắn. Hắn không rời mắt khỏi ngôi cao, cố tìm trong mắt Đại Chủ nhân một dấu hiệu bãi bỏ lệnh cũ. Tuy nhiên các đề tài Người đang theo dõi lại hoàn toàn khác: chim ưng và trùng đế giày, chim ri và cây bông, khuẩn cầu và cá chép.

Cho đến lúc Trái Đất đã đầy tràn những loài đáng yêu và ghê tởm, hiền lành và hoang dã, khủng khiếp, tí xíu, lộng lẫy. Tiếng rì rầm của xao động, của tim đập, tiếng rên rỉ, âm ư, lúc rúc, líu lo bắt đầu nổi lên từ rừng từ biển. Đêm xuống. Các nhà tạo mẫu nhận được sự đồng ý tối thượng, bỏ đi, thỏa mãn về mặt này hay mặt khác. Mệt mỏi, Đấng Tối cao ở lại một mình trong không gian vô hạn lấp lánh sao. Ngài chìm vào giấc ngủ, thanh thản...

Ngài cảm thấy gấu áo của mình bị ai kéo nhẹ. Ngài mở mắt nhìn xuống và thấy kẻ quấy rầy đã quay lại: hắn lại mở bức vẽ ra và đăm đăm nhìn ngài khẩn khoản. Con người! Ý tưởng mới điên rồ và nguy hiểm làm sao. Nhưng tận sâu xa, đó cũng là trò chơi quyến rũ, là sự cám dỗ lớn lao đến chừng nào. Nói cho cùng, có thể nó cũng đáng công. Dào, thôi thì ra sao thì ra. Với lại vào lúc sáng thế người ta cũng nên lạc quan.

- Nào, đưa đây. - Đấng Toàn năng nói và cầm lấy bản vẽ định mệnh.
Và ngài hạ bút ký.

Phan Mai dịch từ tiếng Pháp
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 333
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Fri Apr 06, 2018 12:05 am



Ngọn Tháp Eiffel

Dino Buzzati (Ý)


Cái thời tôi làm việc xây cất tháp Eiffel là một thời đẹp. Và tôi đã không cảm nhân được rằng lúc ấy tôi đang có hạnh phúc.

Công trình xây dựng tháp Eiffel là một điều vĩ đại và thật tuyệt vời. Giờ đây, các bạn không thể hiểu được điều ấy nữa. Tháp Eiffel từ nay không còn có gì giống như ngày xưa nữa. Bắt đầu là kích thước. Tháp như đã bị rút nhỏ lại. Tôi mà khi nào đi ngang qua phía dưới, tôi hay ngước mắt lên và nhìn. Nhưng tôi khó mà nhận ra được cái thế giới mà tôi đã sống những ngày đẹp nhất trong đời. Các du khách bước vào thang máy, leo lên tầng nhất, trèo lên tầng nhì, reo thảng thốt, cười, chụp ảnh, với những cuộn phim màu. Tội nghiệp... họ không biết, họ chẳng có thể bao giờ biết được.

Ngày nay người ta đọc trong các sách hướng dẫn du lịch rằng tháp Eiffel cao ba trăm thước, cộng thêm vào ngọn ăng-ten viễn thông hai mươi thước. Đó cũng là điều mà các báo thời đó đăng tải, trước khi công trình xây cất bắt đầu. Và ba trăm thước cũng đã là một sự điên rồ đối với công chúng.

Xì, ba trăm thước. Tôi lúc đó đang làm tại công trường Rungis, gần Neuilly. Tôi là một công nhân cơ khí giỏi. Một buổi chiều, trên đường về nhà, một người đàn ông đội mũ cao thành, lối bốn mươi tuổi chận tôi lại.
- Có phải ông là André Lejeune không?
- Vâng, chính tôi, thế còn ông là ai?
- Tôi là kỹ sư Gustave Eiffel và tôi muốn đề nghị với ông một chuyện. Nhưng trước tiên, tôi cần phải cho ông xem cái này. Xe tôi đậu đây này.

Tôi trèo lên xe của viên kỹ sư, ông ta đưa tôi tới một nhà kho rộng lớn nằm trên một bãi đất trống ở vòng đai thành phố. Ở đấy có khoảng ba mươi người trẻ tuổi đang cặm cụi im lặng ngồi làm việc trước những bàn vẽ to lớn và không buồn ngẩng mặt lên ném một cái nhìn về phía chúng tôi.

Viên kỹ sư dẫn tôi đến cuối phòng. Nơi đó, một tấm bảng cao hai thước được kê sát tường và trên bảng có vẽ hình một cái tháp.

- Tôi xây dựng cho Paris, cho nước Pháp, cho cả thế giới, cái tháp mà ông thấy đó. Bằng sắt. Đó sẽ là ngọn tháp cao nhất trần gian.
- Cao bao nhiêu? - Tôi hỏi.
- Đồ án chính thức dự trù một chiều cao ba trăm thước. Nhưng đấy là con số mà tôi đã thỏa thuận với chính quyền, để khỏi làm họ kinh hoảng. Thật sự ra sẽ cao hơn rất nhiều.
- Bốn trăm à?
- Cậu trẻ ơi, cứ tin tôi đi, hiện tại tôi không thể nói gì cho cậu. Chúng ta đừng vội hăng tiết lắm. Nhưng đúng là một công trình tuyệt diệu và một sự vinh hạnh dù chỉ được tham gia. Tôi đích thân đến tìm ông vì nghe nói ông là một thợ máy tuyệt hảo. Lương tháng ông bao nhiêu tại Runtiron?
Tôi cho ông ta biết số lương của tôi.
- Nếu anh đến làm việc cho tôi, viên kỹ sư đột ngột thay đổi lối xưng hô thân mật, anh sẽ lãnh gấp ba lần nhiều hơn.
Tôi nhận lời.

Nhưng viên kỹ sư hạ giọng nói thêm:
- Tôi quên mất một chi tiết, anh bạn André thân ạ. Tôi rất muốn anh cộng tác với chúng tôi, nhưng trước tiên anh phải hứa với tôi điều này.
- Tôi hy vọng rằng đó không phải là một điều đụng chạm đến danh dự, tôi nói mò, trong lòng hơi chao động bởi vẻ bí ẩn của ông ta.
- Giữ bí mật, ông ta nói.
- Bí mật gì?
- Anh có thể hứa danh dự với tôi rằng anh sẽ không nói với ai, ngay cả những người thân của anh, về việc làm của chúng ta? Không kể với bất cứ một ai về những gì anh sẽ làm và anh sẽ làm như thế nào công việc ấy? Không tiết lộ những con số, những kích thước, những dữ kiện? Hãy suy nghĩ kỹ càng, hãy suy nghĩ về điều này trước khi ký kết nơi đây. Bởi vì một ngày nào đó có thể sự bí mật này sẽ đè nặng trên vai anh.
Ông ta đưa tôi một mẫu đơn in sẵn, với tờ giao kèo việc làm mà trong đó có ghi điều cam kết giữ bí mật. Tôi hạ bút ký.

Công trường bao gồm cả những hàng trăm công nhân, có thể lên đến vài nghìn người. Chẳng những tôi không bao giờ quen biết hết tất cả mà tôi lại càng không thấy mặt tất cả mọi người vì chúng tôi làm việc theo từng ê-kíp, không tiếp nối nhau và trọn ba ngày đêm liền.

Sau khi nền móng đã được xây, chúng tôi, những tay thợ cơ khí bắt đầu ráp dựng những trụ sắt. Giữa chúng tôi, ngay từ đầu, ít có lời trao đổi, có lẽ vì lời thề nguyền. Tuy nhiên, với những gì tai nghe lượm lặt được, tôi hiểu ra rằng các bạn thợ thuyền của tôi đã nhận công việc làm này chỉ vì số tiền lương đặc biệt. Nói thật ra, không một ai tin rằng cái tháp sẽ được xây xong. Mọi người đều nghĩ rằng đây là một chuyện điên rồ, trên sức người.

Thế nhưng, sau khi bốn chiếc chân khổng lồ bằng sắt được cắm chặt trong đất, thì cái sườn sắt vươn cao lên thấy rõ. Phía bên kia của khu đất được rào kín, chung quanh công trường rộng lớn, những đám đông tụ tập ngày đêm, để nhìn ngắm chúng tôi đang thi đua trên cao, trông như những con côn trùng bé tí đong đưa trên mạng nhện.

Các vòm hình vòng cung nơi bệ đã được hàn chặt, bốn cột sườn gần như nhô thẳng lên và sau đó vút lên không trung để rồi nhập lại thành một trụ càng lúc càng mảnh mai khi càng vươn lên cao. Vào tháng thứ tám, chúng tôi đã lên đến độ cao 100 và tất cả công nhân viên được đãi một chầu tiệc trong một quán ăn bên bờ sông Seine.

Tôi không còn nghe thấy những lời than van tuyệt vọng nữa. Ngược lại, một niềm hứng khởi kỳ lạ xâm chiếm lấy những người thợ, những ông xếp ê-kíp, những chuyên viên kỹ thuật, những viên kỹ sư, tựa như chúng tôi đang sắp đứng trước một biến cố hi hữu. Một buổi sáng, vào những ngày đầu tháng mười, chúng tôi bị chìm đắm trong màn sương mù.
Chúng tôi cứ ngỡ rằng một lớp mây thấp đang đọng trên nền trời Paris, nhưng không phải thế. Hầu hết những nơi chung quanh không khí vẫn trong lành.
- Ê! Nhìn tí xíu cái ống kia kìa.

Claude Gallumet nói với tôi. Anh ta là một trong những tên thợ nhỏ con nhất và tháo vát nhất trong nhóm của tôi. Anh đã trở thành bạn thân của tôi. Từ một cái ống to bằng nhựa gắn vào cái sườn sắt, một luồng khói trắng phun ra. Có tất cả bốn ống, mỗi ống ở một góc tháp. Từ đó tuôn ra những cụm khói dày dặc dần dần tụ lại thành một đám mây lơ lửng, không lên không xuống, và dưới cánh dù bông to ấy, bọn chúng tôi tiếp tục làm việc. Mà tại sao thế? Vì sự bí mật đó ư?

Chúng tôi được các nhà thầu xây cất khoản đãi một chầu tiệc khác khi chúng tôi đạt đến độ cao 200, và ngay cả báo chí cũng nói đến. Nhưng chung quanh công trường không còn đám đông đứng xem nữa, cái mũ sương mù kỳ cục ấy hoàn toàn che giấu chúng tôi khỏi tầm mắt nhìn của họ. Và báo chí khen ngợi cái mẹo ấy: sự cô đọng của hơi nước – họ giải thích như thế - khiến các thợ xây cất những tòa kiến trúc cao ngất trong không gian không chú ý đến cái vực thẳm phía dưới họ; và điều đó giúp họ tránh được sự chóng mặt. Bậy thật: trước hết bởi vì chúng tôi hoàn toàn đã quen với cái trống không; và ngay cả khi bị chóng mặt, chúng tôi sẽ không gặp tai họa gì vì mỗi người chúng tôi đều mang một sợi dây nịt da chắc nịch được nối dần vào một sợi dây cột vào những thanh sườn sắt xung quanh.

Hai trăm năm mươi, hai trăm tám mươi, ba trăm… hai năm đã trôi qua. Chúng tôi đến giai đoạn cuối của cuộc phiêu lưu chăng? Một buổi chiều chúng tôi được triệu tập dưới cái vòm lớn hình chữ thập dưới chân tháp và ông kỹ sư Eiffel nói chuyện với chúng tôi. Sự ký kết của chúng tôi – ông ta lên tiếng – đã đến ngày mãn hạn, chúng tôi đã chứng tỏ sự bền chí, sự gan dạ, sự can đảm của mình và hãng sẽ cho chúng tôi một khoản tiền thưởng đặc biệt. Ai muốn nghỉ việc thì cứ đi. Nhưng ông ta, kỹ sư Eiffel, hy vọng rằng sẽ có những người tự nguyện sẵn sàng tiếp tục. Tiếp tục việc gì? Ông kỹ sư không thể giải thích cho chúng tôi được, chỉ xin chúng tôi hãy tin tưởng nơi ông ta, điều đó rất đáng làm.

Cũng như nhiều người khác, tôi ở lại. Và thế là trở thành một sự thông đồng điên rồ giữa chúng tôi mà không một người ngoại cuộc nào nghi ngờ gì cả bởi lẽ mỗi người trong chúng tôi hơn bao giờ hết giữ sự trung thành đối với việc bí mật kia.

Và chính thế mà vào độ cao 300, thay vì bắt đấu thiết lập chiếc sườn cho đỉnh úp trên cùng, chúng tôi lại dựng thêm những cột trụ mới bằng thép chồng chất lên nhau hướng về vòm trời cao hun hút. Thỏi chồng thỏi, sắt chồng sắt, kèo chồng kèo, và những đinh ốc và những nhát búa bổ, vừng mây vang rền âm thanh như một thùng đàn. Riêng chúng tôi, chúng tôi ở tận bảy từng mây.

Cho đến lúc mà, cứ mải miết trèo lên cao, chúng tôi trồi ra khỏi vùng mây nằm tụt lại phía bên dưới chúng tôi, và người dân Paris vẫn tiếp tục không nhìn thấy chúng tôi vì cái tấm chắn bằng hơi nước kia, nhưng thật sự chúng tôi liệng trên không trung tinh khiết và trong sáng của những đỉnh cao. Và vào những buổi sáng có gió chúng tôi trông thấy tận xa xa dãy núi Alpes phủ tuyết.

Từ nay chúng tôi ở trên một độ thật cao mà sự di chuyển lên và xuống của những tay thợ chiếm hơn một nửa giờ làm việc. Vào thời đó chưa có thang máy. Từng ngày một thời gian làm việc hữu hiệu càng vơi dần đi. Đã sắp đến lúc mà, khi vừa lên đến đỉnh, chúng tôi lại phải chuẩn bị đi xuống. Và cái tháp ngừng cao thêm nữa, dù chỉ một thước thôi.

Thế là được đưa ra quyết định dựng trên cao, cho chúng tôi, giữa những giàn sắt, những túp lều gỗ, như những tổ chim, mà người ta sẽ không nhìn thấy từ thành phố bởi lẽ những căn nhà này sẽ được che bởi lớp mây mù nhân tạo. Chúng tôi ngủ trên đó, ăn trên đó, và khi chiều xuống chúng tôi chơi bài nếu không buồn cất tiếng ca vang những bài xướng lừng danh về các ảo tưởng và thắng lợi. Chúng tôi thay phiên nhau xuống phố và chỉ vào những ngày lễ lộc.

Và thế rồi từ đó chúng tôi bắt đầu nghi ngờ sự thật tuyệt vời này và hiểu dần dần lý do của sự bí mật. Chúng tôi không còn có cảm tưởng rằng mình là những người thợ máy nữa, mà chính thị là những người tiên phong, những nhà thám hiểm, chúng tôi là những vị anh hùng, những bậc thánh. Dần dần chúng tôi ý thức ra rằng công trình xây dựng tháp Eiffel sẽ vĩnh viễn không bao giờ chấm dứt, giờ đây chúng tôi mới tự giải thích được vì sao ông kỹ sư đã đòi hỏi cái bệ quá khổ như thế và bốn cái chân sắt khổng lồ ấy hoàn toàn quá mức. Việc xây dựng sẽ không bao giờ ngưng và cho đến cuối thời tháp Eiffel sẽ tiếp tục vươn lên trời, vượt qua những tầng mây, những bão bùng, những chốp đỉnh của Hi Mã Lạp Sơn. Ngày nào mà Chúa còn cho chúng tôi sức lực thì chúng tôi vẫn còn tiếp tục vặn xiết đinh ốc ráp dính các trụ thép vào nhau, càng lúc càng cao thêm lên, và sau chúng tôi các con cháu chúng tôi sẽ tiếp nối công việc, và không một ai trong cái thành phố Paris bẹp dí này sẽ biết một điều gì cả, cái thế giới đáng thương này sẽ chẳng ngờ vực gì cả.

Cố nhiên, phía dưới, không sớm thì muộn họ sẽ mất kiên nhẫn, sẽ có những sự phản đối và những cuộc chất vấn tại Nghị Viện, vì lý do gì mà chúng nó vẫn chưa hoàn tất xong cái tháp vô tích sự ấy? Ba trăm thước theo dự tính đã đạt xong từ đây, thế thì còn chờ gì nữa đề mà không xây đĩnh tháp? Nhưng chúng tôi sẽ tìm ra cớ, chắc chắn là chúng tôi sẽ cài được trước người của chúng tôi tại Nghị Viện hoặc trong các Bộ, chúng tôi sẽ thành công trong kế hoạch làm cho sự việc bị đình trệ lại, người ta sẽ đành chịu, và riêng bọn chúng tôi sẽ mãi mãi lên cao hơn nữa trên trời, một chốn lưu đày tuyệt vời.

Bên dưới, dưới vùng mây trắng, một loạt súng nổ rền vang. Chúng tôi xuống một đoạn đường khá dài, chúng tôi đi xuyên qua đám mây, đến chỗ tận cùng thấp nhất của lớp sa mù, chúng tôi nhoài người ra nhìn về phía công trường qua ống viễn kính, những lực lượng cảnh sát, những đội hiến binh, những đoàn vệ binh cộng hòa đang tiến tới. Ở đấy có nào các đại đội, các tiểu đoàn, các đội quân, quỷ tha ma bắt chúng nó đi cho rồi!

Họ đưa đến chúng tôi một sứ giả của Nghị Viện: hãy hàng đầu và đi xuống ngay. Ồ bọn chó đẻ! Quyết định tối hậu trong vòng sáu giờ, sau đó, họ sẽ nổ sùng với những nòng súng trường, súng liên thanh, đại bác hạng nhẹ, cái đó cũng khá tốt cho bọn mi đấy, đồ con hoang.

Một tên phản đồ bẩn thỉu đã phản bội chúng tôi. Người con trai của ông kỹ sư Eiffel, bởi lẽ ông cụ đã qua đời và đã được chôn cất từ lâu, mặt mày xanh như một tàu lá chuối. Làm sao chúng ta có thể chống đỡ được đây? Nghĩ đến gia đình họ hàng thân thương, chúng tôi đành quy hàng.

Họ tháo gỡ bài thơ mà chúng tôi đã nâng cao lên tận mây xanh, họ chặt đứt mũi tên ở ba trăm thước cao, tại đó họ cắm ngay trước mắt chúng tôi cái thứ mũ úp dị hình thật sự tồi tệ mà bạn còn trông thấy cho đến ngày nay.

Vừng mây che giấu chúng tôi trước kia không còn nữa, họ còn kiện cáo lên tòa đại hình bên sông Seine, vì cái đám mây ấy. Cái tháp bị thui chột được quét trọn lên một lớp sơn bóng màu xám, những lá cờ dài được treo lòng thòng phất phơ trong nắng, hôm nay là ngày lễ khai trương.

Vị Tổng Thống đến nơi, trang phục trong chiếc áo vét đuôi dài và chiếc mũ cao thành, trong cỗ xe hoàng cung mui gập được kéo bởi bốn con ngựa. Như những lưỡi lê, các hồi kèn lệnh của đội kèn đồng bay vút trong ánh sáng. Các khán đài danh dự tươi sáng lộng lẫy với các quan khách phu nhân y trang cầu kỳ sang trọng. Vị Tổng Thống duyệt binh hàng ngũ phân đội thiết giáp. Những người bán huy hiệu và các phù hiệu mũ đi qua lại trong đám đông. Nắng, những nụ cười, sự thoải mái, sự trang trọng. Từ phía bên kia vòng rào cản, lạc lõng trong đám đông người cùng khổ, bọn chúng tôi, những người thợ già nua mệt mỏi của cái tháp, chúng tôi lặng nhìn nhau, và những dòng nước mắt chảy xuống hàm râu bạc xám của chúng tôi. Chao ôi! tuổi thanh xuân …

(Antony, dịch vào những ngày đầu hạ 2006.)

https://www.youtube.com/watch?v=ho40kj4bdgI
Tháp Eiffel - Biểu tượng của nước Pháp
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến