Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
tran thang hanh sung VNCH Thuong
Latest topics
April 2018
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30      
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway

Go down 
Tác giảThông điệp
PVChuong
Admin


Posts : 400
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Fri Jan 19, 2018 12:20 am



TUYẾT TRÊN ĐỈNH KILIMANJARO

Ernest Hemingway


Kilimanjaro là một ngọn núi phủ tuyết cao gần 5850 mét và nghe nói đó là ngọn núi cao nhất ở Châu Phi. Đỉnh phía tây của nó gọi là Masai "Ngã je Ngài", ngôi nhà của Thượng đế. Ở gần kề đỉnh phía tây, có xác một con báo đã khô và đông cứng lại. Con báo tìm kiếm gì ở độ cao ấy, nào đã có ai giải thích cho ra nhẽ.

- Cái kỳ diệu là nó chẳng có đau gì hết - Hắn nói, - Chính như thế mà người ta biết khi nào nó bắt đầu.
- Có thật thế không?
- Hoàn toàn thật. Dù sao anh cũng lấy làm ân hận ghê gớm về cái mùi tỏa ra từ anh. Chắc hẳn nó làm phiền em.
- Đừng nói thế! Em xin anh đừng nói thế!
- Em nhìn chúng kìa - Hắn nói - Giờ thì do nhìn thấy hay do ngửi mùi mà chúng kéo đến thế kia?
Chiếc giường nhỏ trên đó người đàn ông nằm, đặt dưới bóng râm tỏa rộng của một cây mimoza, và phóng mắt vượt quá bóng râm đó nhìn ra vạt đồng bằng chói chang, hắn thấy ba con chim to tướng ngồi chồm chỗm, nom đến là dâm tục, trong khi một tá con khác liệng trong bầu trời, đổ những vệt bóng vùn vụt khi chúng bay qua.
- Chúng đã lượn quanh đó từ hôm chiếc cam-nhông bị gục - Hắn nói - Hôm nay là lần đầu tiên có con đậu xuống đất. Thoạt đầu, anh đã quan sát rất cẩn thận cách chúng liệng, ngộ nhỡ có khi muốn tả chúng trong một truyện ngắn. Bây giờ, cái đó đâm buồn cười.
- Em mong anh đừng nói thế. - Nàng nói.
- Anh chỉ chuyên gẫu thế thôi - Hắn nói - Anh thấy dễ chịu hơn nhiều nếu anh nói chuyện. Nhưng mà anh không muốn phiền lòng em.
- Anh biết đấy, cái đó đâu có làm em phiền lòng, - Nàng nói - Chỉ tại em quá đỗi bồn chồn bực dọc về nỗi không thể làm được bất cứ cái gì đấy thôi. Em nghĩ chúng mình có thể ráng hết sức thu xếp êm ả mọi sự cho đến khi máy bay tới.
- Hoặc cho đến khi máy bay không tới.
- Xin anh bảo cho em có thể làm gì. Chắc phải có một điều gì đó em có thể làm được chứ!
- Em có thể phăng-teo cái chân này đi, và biết đâu làm thế lại chả chấm dứt được cơ sự ấy, mặc dầu anh chả tin mấy. Hoặc giả em có thể bắn anh. Bây giờ, em là tay súng cừ rồi. Anh đã dạy em bắn mà, đúng thế không?
- Em xin anh đừng có nói năng kiểu ấy. Em đọc cho anh nghe nhé, được không?
- Đọc gì?
- Bất cứ cái gì trong cặp đựng sách mà chúng mình chưa đọc.
- Anh không thể nghe đọc sách được - Hắn nói - Chuyện gẫu vẫn là dễ dàng nhất. Chúng mình cãi vã, cái đó làm thời gian qua mau.
- Em không cãi vã. Em không bao giờ muốn cãi cọ. Chúng mình đừng cãi nhau nữa. Dù chúng mình có đâm bực bội đến thế nào đi nữa. Có thể hôm nay, họ sẽ mang về một cái cam-nhông khác cũng nên. Cũng có thể là máy bay sẽ tới.
- Anh không muốn di chuyển - Người đàn ông nói - Bây giờ, di chuyển chẳng có nghĩa gì hết, ngoại trừ để làm em yên tâm thanh thản hơn.
- Thế là hèn nhát.
- Em có thể để cho một thằng đàn ông chết yên ổn mà không nhiếc móc nó không? Xỉ vả anh thì ích gì.
- Anh không phải là sắp chết.
- Đừng có ngớ ngẩn. Anh đang ngắc ngoải đây. Em hỏi những cái con khốn kiếp kia xem. - Hắn nhìn ra chỗ lũ chim dơ dáy to đùng đang ngồi, những cái đầu trần trụi rụt vào trong bộ lông uốn vồng lên. Một con thứ tư sà xuống, chân thoăn thoắt chạy, rồi từ đi lạch bạch về phía những con kia.
- Bọn nó thì ở quanh chỗ cắm trại nơi nào mà chẳng có. Đừng có để ý đến chúng. Người ta không thể chết, nếu không nhắm mắt buông trôi.
- Cô đọc được cái ấy ở đâu vậy. Cô thật ngu hết chỗ nói.
- Anh có thể nghĩ về một người nào khác.
- Lạy Chúa, - Hắn nói - trước nay đó vẫn là nghề của tôi mà.

Thế rồi hắn nằm và yên lặng một hồi, nhìn qua ánh nhiệt lung linh của dải đồng bằng đến tận bìa rừng. Có mấy con linh dương hiện ra nhỏ bé và trắng tinh trên nền vàng và ở đằng xa, hẳn thấy một bầy ngựa vằn, trăng trắng trên nền xanh lục của rừng. Đó là một chỗ cắm trại thú vị dưới những cây to sát một quả đồi có nước trong lành, và kề bên là một hố nước đã gần cạn khô, nơi sáng, gà gô trắng bay từng đàn.
- Anh muốn em đọc cho anh nghe không? - Nàng nói. Nàng đang ngồi trên một chiếc ghế bố cạnh giường hắn - Có gió hây hẩy lên đấy.
- Không, cảm ơn.
- Có thể xe cam-nhông sẽ tới.
- Tôi đếch cần xe cam-nhông.
- Em thì em cần.
- Cô cần biết bao thứ mà tôi không cần.
- Đâu mà bao nhiêu thứ, Harry.
- Anh uống một ly, được không?
- Em nghĩ cái đó có hại cho anh. Từ điển Black 1 nói rằng phải tránh mọi thứ rượu. Anh không nên uống.
- Malo! - Hắn gọi to.
- Dạ, thưa Bwana 2
- Mang uýtxki-xôđa lại đây.
- Vâng, thưa Bwana.
- Anh không nên uống - Nàng nói - Vừa rồi em nói nhắm mắt buông trôi là có nghĩa như thế đấy. Người ta bảo cái đó có hại cho anh. Em biết cái đó có hại cho anh.
- Không - Hắn nói - Cái đó tốt cho anh.
Thế đấy, mọi sự đến đây là hết - Hắn nghĩ - Vậy là bây giở hắn tuyệt không hòng gì làm tròn được cái ấy. Vậy đây là cái cách nó kết thúc bằng một cuộc đôi co vặt vãnh về một ly rượu.

Từ khi chân phải hắn bắt đầu bị hoại thư, hắn chẳng thấy đau gì và nỗi khiếp sợ cũng biến mất cùng với cái đau, và giờ đây hắn chỉ cảm thấy mệt ghê gớm và giận dữ về nỗi nó chấm dứt như thế này. Về cái hiện đang tới, hắn chẳng mấy quan tâm muốn biết. Hàng bao năm, nó ám ảnh hắn; nhưng giờ đây tự bản thân nó chẳng có ý nghĩa gì nữa. Thật kỳ lạ là cái mệt lại khiến cơ sự đâm dễ chịu biết bao.
Giờ đây hắn sẽ không bao giờ viết những điều mà hắn đã để dành đến khi nào đủ điêu luyện để viết cho hay thì mới viết. Ở mặt khác, hắn cũng sẽ không phải chịu thất bại khi thử viết những điều ấy. Có thể là mày không bao giờ đủ sức viết những điều đó, và chính vì thế mà mày gác lại và trì hoãn mãi không dám bắt đầu hạ bút cũng nên. Thôi nhé, bây giờ thì hắn chả còn mong gì viết được nữa.
- Giá chúng mình đừng bao giờ tới đây - Người đàn bà nói. Nàng đang nhìn hắn cầm cốc rượu và nàng cắn môi - Cứ ở Paris thì đâu đến nỗi anh bị một cái gì như thế này. Anh vẫn luôn nói là anh yêu Paris mà. Đáng lẽ chúng mình có thể cứ ở lại Paris hoặc đi bất cứ đâu. Em sẵn sàng đi bất cứ đâu. Em đã báo em sẵn sàng đi bất cứ nơi nào anh muốn. Nếu lúc ấy anh muốn đi săn thì chúng mình đã có thể đi săn ở Hungari và tha hồ thoải mái.
- Cái đồng tiền chết tiệt của cô. - Hắn nói.
- Nói vậy là không đúng - Nàng nói - Tiền của em cũng là của anh, xưa nay vẫn vậy. Em đã bỏ tất cả và em đã đi bất cứ đâu anh muốn đi, và em đã làm những gì anh muốn làm. Song ước sao giá chúng mình đừng bao giờ đến đây.
- Trước cô bảo là cô thích nơi này kia mà?
- Em có nói thế, khi anh không sao cả. Nhưng bây giờ thì em căm ghét cái chốn này. Em không hiểu tại sao cái chứng ấy lại xảy ra đến với chân anh. Chúng mình đã làm gì để xảy ra nông nỗi này.
- Tôi đồ rằng cái tôi đã làm là quên không bôi i-ốt ngay khi bị xước da. Thế rồi tôi đã chẳng để ý gì đến nó bởi lẽ tôi chả bao giờ bị nhiễm trùng. Rồi sau đó, khi nó dở chứng, chắc là tại đi dùng cái dung dịch cácbôlic loãng ấy thay vì các chất khử trùng khác đã hết, nên mới đâm ra liệt các mạch máu nhỏ và chứng hoại thư bắt đầu. - Hắn nhìn nàng - Còn gì khác nữa?
- Em không định nói chuyện ấy.
- Nếu chúng ta thuê một gã thợ cơ khí tốt thay vì cái thằng cha tài xế non tay nghề người kikuyu ấy, thì ắt gã đã kiểm tra lại xăng dầu và chả bao giờ để cháy "biên" trong cam-nhông.
- Em không định nói chuyện ấy.
- Nếu cô không bỏ gia đình cô, bỏ cái lũ lĩ chết tiệt nhà cô ở Old Westbury, Saratoga, Palm Beach mà theo tôi thì...
- A, vì em đã yêu anh. Nói vậy thật bất công đấy. Bây giờ, em vẫn yêu anh. Em sẽ yêu anh mãi mãi. - Anh có yêu em không?
- Không - Người đàn ông nói - Tôi không nghĩ thế. - Tôi chưa bao giờ yêu cô.
- Harry, anh nói gì vậy. Anh quẫn trí rồi.
- Không. Tôi làm gì có trí mà quẫn.
- Anh đừng uống cái ấy - Nàng nói - Anh yêu, xin anh đừng uống cái ấy. Chúng mình phải làm tất cả những gì chúng mình có thể làm.
- Để cô làm - Hắn nói - Tôi mệt chán rồi.

Giờ đây, trong tâm trí hắn, hiện lên một cái ga xe lửa ở Karagatch, hắn đang đứng với bọc hành lý và đèn pha đằng đầu đoàn tàu Simplon-Orient xẻ dọc bóng đêm; hắn đang rời khỏi miền Thrace sau cuộc rút lui. Đó là một trong những điều hắn dành lại để sau này sẽ viết, và cũng sáng hôm ấy, vào lúc điểm tâm, hắn nhìn ra ngoài cửa sổ, trông thấy tuyết trên những ngọn núi ở Bungari, cô thư ký của Nansen hỏi lão già có phải tuyết đấy không, và lão già cũng nhìn ra mà rằng, không, đấy không phải là tuyết, và cả bọn cùng nói. Đấy không phải là tuyết, chúng mình nhầm rồi. Nhưng mà đấy đúng là tuyết thật và khi thực hiện trao đổi cư dân, hắn đã tống các cô ra lội tuyết. Và chính là lê bước trong tuyết mà các cô đã lang thang đến khi chết gục mùa đông năm ấy.
Cũng chính là tuyết rơi suốt cả tuần Nôen cái năm ở trên vùng cao Gauertal, cái năm họ ở nhà bác tiều phu, căn nhà có cái lò sứ vuông to tướng chiếm nửa gian buồng, họ ngủ trên những chiếc nệm nhồi lá gồi, cữ ấy có anh chàng đào ngũ đến, đôi chân nhỏ máu trên tuyết. Anh ta bảo cảnh sát đuổi theo sát anh ta, họ đã cho anh ta đôi bít tất len và giữ bọn cảnh binh lại nói chuyện cho đến khi lấp hết dấu chân.

Ở Schrunz, hôm Nôen, tuyết sáng chói cả mắt khi ta ngồi trong tiệm rượu nhìn ra và trông thấy từng người từ nhà thờ đi về nhà. Chính tại đó, họ đã leo lên con đường vàng màu nước tiểu được xe trượt qua lại bào nhẵn thín, men theo bờ sông với những trái đồi thông dốc đứng, ván trượt tuyết mang nặng trên vai, và cũng tại đó, họ đã lao cái chặng xuống dốc băng cực kỳ ấy bên trên Madlener-haus, tuyết nom mượt như kem bánh gatô và như bột, và hắn nhớ lại cái đà lao nhanh mà êm ru không tiếng động khi toàn thân liệng xuống như một con chim.
Đêm ấy, họ bị tuyết làm nghẽn đường một tuần, lưu lại Madlener- haus trong bão tuyết, đánh bài dưới ánh đèn lồng khói mù và Her Lenifn 3 càng thua cay, tiền đặt cược càng cao lên mãi. Cuối cùng ông ta thua sạch sành sanh. Nhẵn nhụi tất cả, nào tiền quỹ của trường dạy trượt tuyết, nào toàn bộ lãi trong mùa, rồi vốn liếng của ông ta nữa. Hắn có thể mường tượng lại ông ta với cái mũi dài, tay bốc bài và mở xòe ra "sans voir" 4 . Dạo ấy lúc nào cũng có sát phạt, không có tuyết, cũng đánh bạc, tuyết nhiều quá cũng đánh bạc. Hắn ngẫm nghĩ về tổng số thời gian hắn đã tiêu phí vào việc đánh bạc trong cả đời mình.

Nhưng hắn chưa bao giờ viết lấy một dòng về cái đó cũng như về cái ngày Nôen giá rét, sáng sủa với rặng núi in bật lên nơi cuối dải đồng bằng, cái ngày Barker bay qua chiến tuyến ném bom chuyến tàu chở bọn sĩ quan Áo về Pháp, xả súng máy vào họ khi họ chạy tán loạn. Hắn nhớ lại Barker sau phi vụ ấy bước vào phòng ăn sĩ quan và bắt đầu kể chuyện. Và không khí mới ắng lặng đi làm sao chứ, rồi một tay nào đó nói: "Mày là thằng sát nhân chó đẻ khốn kiếp".
Cũng vẫn là người Áo, bấy giờ họ giết, ít lâu sau lại trượt tuyết với hắn. Không, không phải vẫn những người ấy. Hans, bạn trượt tuyết với hắn trong cả năm ấy, đã từng ở đội săn của nhà vua, và khi họ cùng đi săn thỏ ở con thung nhỏ, mé trên nhà máy cưa, họ đã chuyện trò về chiến sự ở Pasubio, về trận đánh ở Pertica và Asalone, và hắn chưa bao giờ viết lấy một chữ về cái đó. Cũng như về Monte Corno, cũng như về Siete Commun, cũng như về Arsiedo.
Hắn đã sống bao nhiêu mùa đông ở vùng Voralberg và vùng Aclberg nhỉ? Tính ra là bốn, và hắn nhớ đến anh chàng có con cáo đem bán, cái lần họ đi bộ vào Bludenz để mua quà tặng, nhớ đến cái vị anh đào của loại rượu anh đào ngon, tuyết bụi trút nhanh ào ạt trên mặt băng mỏng, họ vừa hát: "Hi! Hô! Rolly kêu!" vừa lao nốt đoạn cuối xuống đến quãng dốc đứng, tuột thẳng một lèo, rồi băng qua vườn cây ăn quả, quặt ba lần, và vượt quãng hào đâm ra con đường băng giá đằng sau quán trọ. Tháo tung dây buộc, hắt chân một cái cho rời ván trượt tuyết và dựng nó lên dựa vào vách gỗ quán trọ. Có ánh đèn từ cửa sổ, mé bên trong, người ta đang chơi phong cầm trong cái ấm cúng ám khói và nồng nồng mùi rượu vang mới.

- Ở Paris, chúng mình trọ tại đâu nhỉ! - Người đàn bà hỏi, giờ đây nàng đang ngồi trên một chiếc ghế bố cạnh hắn ở châu Phi.
- Tại khách sạn Crillon. Cô biết thừa đi rồi còn hỏi.
- Tại sao lại biết thừa đi rồi?
- Bởi vì bao giờ chúng mình cũng trọ ở đấy.
- Không, không phải bao giờ cũng vậy.
- Tại đó và tại Lầu Henry IV ở St. Germain. Anh bảo anh yêu chỗ đó mà.
- Yêu, yêu, tình yêu là một đống phân - Harry nói - Và tôi là con gà trống nhảy lên trên đó mà gáy.
- Nếu số phận buộc anh phải ra đi - Nàng nói - thì có nhất thiết là anh phải hủy hoại tất thảy những gì anh để lại trên đời không? Em muốn nói là anh có phải mang đi tất cả không? Anh có nhất thiết phải giết ngựa của anh, vợ của anh và đốt yên cương cùng áo giáp của anh đi không?
- Có chứ - Hắn nói - Đồng tiền đáng nguyền rủa của cô là áo giáp của tôi. Tuấn Mã và Chiến Bào của tôi.
- Đừng nói thế.
- Thôi được. Tôi sẽ im. Tôi không muốn xúc phạm cô.
- Bây giờ thì hơi muộn mất rồi.
- Thế cũng được. Tôi sẽ lại tiếp tục xúc phạm cô. Thế lại vui hơn. Điều duy nhất tôi thực tình muốn làm với cô, bây giờ tôi không đủ sức làm nữa rồi.
- Không, nói thế không đúng. Trước đây anh muốn làm bao nhiêu thứ và tất cả mọi thứ anh muốn làm em đều đã làm.
- Ôi, Christ, lạy Chúa tôi, cô có thôi huênh hoang đi không? - Hắn nhìn nàng và thấy nàng khóc.
- Nghe đây em - Hắn nói - Em tưởng anh làm thế là vui thú lắm sao? Anh không biết tại sao mình lại làm thế. Đó là cái lối cố giết để giữ cho mình sống sót, anh ngờ vậy. Anh đã cảm thấy dễ chịu khi chúng mình bắt đầu trò chuyện. Anh đâu có định gây sự, thế mà bây giờ anh đâm điên điên khùng khùng như chó dại và hết sức phũ phàng với em. Em yêu, em đừng có để ý đến những gì anh nói. Anh yêu em, thực tình. Em biết đấy, anh yêu em. Trước đây anh chưa từng yêu ai khác như cách anh yêu em.
Hắn lại tự thả mình vào sự dối trá quen thuộc vốn là mánh khóe kiếm cơm của hắn.
- Anh thật dịu ngọt với em.
- Cô là con đĩ - Hắn nói - Đĩ tĩ vàng 5 . Thơ đấy nhé. Giờ đây, trong tôi đầy chất thơ. Sự thối mục và chất thơ. Thối và thơ. Thơ thối.
- Im đi, Harry, tại sao giờ đây anh lại phải tự biến mình thành con quỷ như vậy?
- Tôi không thích để lại cái gì - Người đàn ông nói - Tôi không thích để lại các thứ trên đời.

° ° °

Bây giờ là buổi chiều, và hắn đã ngủ. Mặt trời đã khuất sau núi, một vùng bóng đen trải dài suốt cánh đồng bằng và những con vật nhỏ đang kiếm ăn gần chỗ cắm lều, đầu chúi nhanh và đuôi vắt ve, hắn quan sát thấy giờ đây chúng đã tách ra khỏi rừng cây bụi. Lũ chim thôi không rình đợi ở dưới đất nữa. Chúng tót cả lên một cái cây, nặng nề đậu trên đó. Chúng đông thêm nhiều. Gã bồi riêng của hắn đang ngồi cạnh giường.
- Memsahib 6 đi săn - Gã bồi nói - Bwana cần gì ạ?
- Không cần gì cả.
Nàng đi giết tí thịt và, vốn biết hắn rất thích theo dõi thú săn, nàng đã đi thật xa để khỏi quấy rối cái khoảng đồng bằng nằm ngay trước mặt hắn. Cô ta bao giờ cũng lo xa, hắn nghĩ. Lo lắng đến bất cứ điều gì cô ta biết hoặc đã từng đọc được hay nghe thấy.
Khi hắn đến với nàng, đời hắn đã bỏ đi rồi, cái đó đâu phải lỗi tại nàng. Làm sao một người phụ nữ có thể biết được trong những điều anh nói ra chẳng có gì là thực bụng; rằng anh nói chỉ do thói quen và chỉ cốt cho mình được thoải mái? Từ sau khi hắn thôi không chân thành nữa, những lời dối trá của hắn lại có tác dụng chinh phục phụ nữ hơn là hồi hắn nói thật với họ.
Kể ra bảo hắn là không có gì thật để mà nói, thì đúng hơn là hắn nói dối. Trước đó, hắn đã có một cuộc đời và cuộc đời ấy đã chấm dứt, thế rồi hắn lại tiếp tục sống trở lại cuộc đời ấy với những người khác, với nhiều tiền bạc hơn, với những gì hay ho, tốt đẹp nhất ở những chốn cũ và một số nơi mới nữa.

Ta tránh không suy tư và như thế thật là tuyệt. Bên trong ta là gang, là thép cứng rắn, nên ta thấy không sụp tan tành như số đông người khác, và ta tỏ thái độ bất cần cái công việc xưa nay ta vẫn làm, giờ đây khi ta không còn khả năng tiếp tục nữa. Nhưng trong thâm tâm, ta vẫn tự nhủ rằng rồi đây ta sẽ viết về những con người ấy, về những kẻ giàu sụ; rằng thực ra, ta không thuộc giới họ, mà chỉ là một tên gián điệp chui vào trong bọn họ; rằng ta sẽ từ bỏ cái thế giới ấy và sẽ viết về nó, và sẽ đến lúc cái đó được viết ra bởi một người thấu hiểu những gì mình viết. Nhưng mà hắn sẽ không bao giờ làm điều ấy, bởi vì mỗi một ngày không viết, mỗi một ngày sống đầy đủ tiện nghi, mỗi một ngày là cái đồ mà hắn khinh bỉ, cứ làm cùn khả năng của hắn và làm mềm những ý chí làm việc của hắn, đến nước là, cuối cùng, hắn chẳng làm gì hết. Những người hắn quen biết hiện nay đều cảm thấy thoải mái hơn nhiều khi hắn không làm việc. Châu Phi là nơi hắn từng thấy mình hạnh phúc nhất trong thời kỳ tốt đẹp của đời hắn, cho nên hắn đã đến đây để bắt đầu lại lần nữa. Họ đã tiến hành cuộc xafari 7 này với tiện nghi tối thiểu. Không gian khổ, thiếu thốn nhưng cũng chẳng chút xa hoa, và hắn đã nghĩ có thể dày dạn trở lại bằng cách ấy. Hắn đã nghĩ rằng, cách nào đó, hắn sẽ có thể khử đi lớp mỡ bao quanh tâm hồn hắn như kiểu một võ sĩ vào rừng làm việc, tập tành để làm tiêu mỡ khỏi cơ thể vậy.

Nàng đã lấy đó làm thú vị. Nàng bảo nàng yêu thích cái đó. Nàng yêu thích bất cứ cái gì náo nức hồi hộp, kéo theo một thay đổi cảnh trí, ở đó có những bộ mặt mới và sự vật đều thú vi. Và hắn đã có cái ảo tưởng là ý chí làm việc đang hồi sức. Giờ đây, nếu cơ sự kết thúc như thế này, - và hắn biết rằng đúng là thế, - thì hắn cũng chả nên bắt chước con rắn ngoắt lại tự cắn mình vì nỗi lưng bị gãy. Đâu phải lỗi tại người đàn bà này. Nếu không có cô ta thì cũng nên có một ả khác. Nếu hắn sống trong dối trá, thì cũng cố mà chết trong dối trá. Hắn nghe thấy một tiếng súng bên kia núi.
Nàng bắn rất cừ, cái cô ả tốt bụng ấy, cái con đĩ tĩ vàng ấy, người bảo vệ nhiệt thành mà cũng là kẻ hủy hoại tài năng của hắn. Tầm bậy. Chính hắn đã hủy hoại tài năng của mình. Tại sao hắn lại đổ tội cho người đàn bà này chỉ vì cô ta bao hắn chu tất? Hắn đã hủy hoại tài năng mình bằng cách không sử dụng đến nó, bằng những lần tự phản bội bản thân, phản bội những điều mình tin, bằng rượu chè vô độ đến nỗi cùn mòn cả cảm quan, bằng lười nhác, ẽo ợt, bằng đua đòi điệu dàng, bằng hợm hĩnh và định kiến, bằng mưu kế giảo hoạt. Gì vậy nhỉ? Một bản liệt kê các sách cũ chăng? Mà tài năng của hắn là gì mới được chứ? Thì đúng là hắn có tài thực, nhưng đáng lý sử dụng nó thì hắn lại đem buôn bán nó. Nó không khi nào thể hiện ra những gì hắn đã làm, mà bao giờ cũng ở những gì hắn có thể làm. Và hắn đã chọn cách kiếm sống bằng một cái gì khác, chứ không phải bằng ngòi bút. Cũng thật là kỳ lạ, ờ, đúng thế, một lần hắn phải lòng một người đàn bà khác, thì bao giờ cũng vớ được một nàng lắm tiền nhiều của hơn nàng trước, cái đó chẳng kỳ lạ sao? Nhưng khi hắn thôi không yêu nữa, khi hắn thấy chỉ toàn nói dối, như đối với người đàn bà này, bây giờ đây, người giàu có nhất trong tất cả, người có tất cả tiền bạc trên thế gian, đã từng có chồng và mấy con, đã từng bồ bịch và không thỏa mãn với những người tình ấy, hiện yêu hắn tha thiết như một nhà văn, như một đấng nam nhi, như một bạn đời và như một tài sản quý báu, phải, thật kỳ lạ là khi hắn chẳng yêu gì nàng và chỉ dối trá, thì hắn lại có thể làm cho nàng sung sướng, bõ với đồng tiền nàng bỏ ra, hơn là khi hắn yêu chân thành.

Tất cả chúng ta, ai làm công việc gì, ắt hẳn đã được phú bẩm từ lúc lọt lòng, hắn nghĩ. Anh kiếm sống như thế nào, thì tài năng của anh ở chỗ đó. Hắn đã suốt đời bán sinh lực dưới hình thức này hay hình thức khác, và chính khi không quá nặng tình nặng nghĩa, người ta lại cho đi những cái giá trị gấp bội số tiền bạc nhận được. Hắn đã khám phá ra điều đó, nhưng bây giờ cả cái đó, hắn cũng chả bao giờ viết ra nữa. Không, hắn sẽ không viết cái đó, mặc dầu nó rất đáng viết.
Kìa, nàng đã xuất hiện, nàng đang đi ngang qua bãi trống về phía cắm lều. Nàng mặc Jodphur 8 và mang súng săn. Hai gã bồi khiêng một con linh dương tommic đi theo sau nàng. Cô ta còn đẹp, hắn nghĩ, và cô ta có một thân hình khả ái. Nàng có biệt tài trên giường và thích thi thố tài năng đó trên giường; nàng không xinh, nhưng hắn ưa bộ mặt nàng; nàng đọc rất nhiều, thích cưỡi ngựa, săn bắn, và rành là nàng uống rượu quá nhiều. Chồng nàng chết khi nàng còn là một thiếu phụ tương đối trẻ và trong một thời gian, nàng đã dốc hết mình vào hai đứa con vừa mới lớn (chúng chẳng những không cần đến nàng, mà còn thấy vướng víu khi có mẹ ở bên cạnh là đằng khác), vào chuồng ngựa của nàng, vào đọc sách, vào be lớn be nhỏ. Nàng thích đọc vào buổi tối trước bữa ăn và uống rượu Scotch pha xôđa trong khi đọc. Đến bữa thì nàng đã ngủ ngà ngà và sau một chai vang trong khi ăn, nàng thường đủ say để sụp vào giấc ngủ.
Đó là trước thời kỳ bồ bịch. Sau khi đã có nhân tình nhân bánh, nàng không uống nhiều đến thế nữa, vì nàng khỏi cần say mới ngủ được. Song đám bồ bịch này làm nàng phát ngán. Nàng đã từng lấy một người đàn ông không bao giờ làm nàng ngán, mà cái đám này thì khiến nàng quá ớn.
Thế rồi một trong hai đứa con nàng chết trong một vụ máy bay rơi, và sau khi mọi việc đã kết thúc, nàng chẳng thiết bồ bịch nữa, và bởi rượu không đủ để gây tê, nàng buộc phải làm lại cuộc đời. Đúng cái, nàng bỗng sợ cảnh cô đơn, một nỗi sợ hãi nhói buốt. Nàng muốn có ai đó bạn bầu, nhưng phải là người mà nàng kính trọng.

Mọi sự đã mở đầu rất đơn giản. Nàng thích những gì hắn viết và xưa nay nàng vẫn thèm muốn lối sống của hắn. Nàng ngỡ hắn làm đúng những điều hắn muốn. Những bước nàng tiến hành để chiếm được hắn và cái cách như thế nào mà rốt cuộc, nàng đâm yêu hắn, đều nằm trong một tiến trình quy củ mà qua đó nàng đã xây dựng cho mình một cuộc đời mới, và hắn đã bán chác nốt những gì còn sót lại từ cuộc đời cũ của hắn.
Hắn đã đánh đổi nó lấy an ninh, lấy tiện nghi nữa, cái đó hiển nhiên không chối cãi được. Và lấy gì khác nữa? Hắn cũng không biết. Bất kỳ cái gì hắn muốn, nàng đều sẵn sàng mua cho hắn. Hắn biết vậy. Hơn nữa, nàng còn là một phụ nữ cực kỳ dễ thương. Hắn ưng ngủ với nàng như bất cứ ai; dễ thương là ưng hơn cả, vì nàng giàu, vì nàng rất dễ chịu, biết trân trọng và vì nàng không bao giờ gây chuyện cãi cọ om xòm. Và giờ đây cuộc đời mà nàng đã ra công xây dựng lại này sắp đến chỗ kết thúc, chỉ vì cách đây hai tuần, hắn không chịu bôi i-ốt khi một cái gai cào xước đầu gối hắn trong lúc họ tiến lên định chụp ảnh một bầy trâu nước đang đứng nghển đầu ngó nghiêng, đồng thời hách mũi đánh hơi, vểnh tai nghe ngóng, sẵn sàng lao vào rừng ngay từ tiếng động đầu tiên. Chúng đã vụt đi khi hắn kịp chụp. Kìa, nàng đã đến.

Hắn xoay đầu trên giường nằm để nhìn về phía nàng. "Chào", hắn nói.
- Em bắn được một con linh dương đực - Nàng khoe với hắn - Đem nấu xúp cho anh thì tuyệt. Và em sẽ sai nghiền với khoai tây ăn kèm món Klim. Anh thấy trong người thế nào?
- Đỡ nhiều.
- Tuyệt diệu! Anh biết đấy, em vẫn nghĩ là có lẽ anh sẽ đỡ mà. Lúc em đi thì anh đang ngủ.
- Anh đã ngủ một giấc ngon lành. Em đi có xa không?
- Không xa. Chỉ quành ra sau núi thôi. Em đã bắn con linh dương một phát ra bắn.
- Em bắn tuyệt vời, em biết đấy!
- Em mê bắn. Em mê châu Phi. Thật đấy. Nếu anh khỏe mạnh, thì đây là dịp vui thú nhất em từng được hưởng. Anh không biết là đi săn với anh thú vị nhường nào đâu. Em yêu cái xứ sở này.
- Anh cũng yêu nó.
- Anh yêu, anh không hình dung được là em cảm thấy tuyệt diệu nhường nào khi thấy anh đỡ đâu. Em không sao chịu đựng nổi khi anh bực bội như thế kia. Anh sẽ không nói với em như thế nữa chứ? Anh có hứa với em không?
- Không - Hắn nói. - Tôi không nhớ tôi đã nói những gì.
- Anh không nhất thiết phải hủy hoại em chứ, phải không anh? Em chỉ là một con đàn bà đứng tuổi yêu anh và muốn làm những gì anh muốn làm. Đời em đã bị hủy hoại hai, ba lần. Anh không muốn hủy hoại em lần nữa chứ?
- Tôi những muốn hủy hoại cô vài ba lần trên giường. - Hắn nói.
- Ừ. Đó là một sự hủy hoại tốt. Trời sinh chúng ra là để được hủy hoại theo cách ấy. Ngày mai, máy bay tới đây.
- Làm sao em biết?
- Em chắc chắn thế. Nó nhất định phải tới. Bọn bồi đã chuẩn bị sẵn củi và cỏ khô để đốt làm hiệu. Hôm nay, em đã xuống kiểm tra lần nữa. Có khối chỗ để hạ cánh và chúng ta chuẩn bị đốt lửa cả hai đầu.
- Cái gì khiến em nghĩ rằng mai nó sẽ tới?
- Em chắc chắn là nó sẽ tới mà. Đáng lẽ nó đã phải ở đây rồi. Thế rồi, vô thành phố, họ sẽ chữa lành chân anh và chúng mình sẽ tiến hành những cuộc hủy hoại tốt lành. Chứ đừng hủy hoại bằng cái kiểu nói năng dễ sợ nọ.
- Ta làm một ly chăng? Mặt trời lặn rồi.
- Anh thấy có nên không?
- Anh uống một ly.
- Chúng mình cùng uống mỗi đứa một ly.
- Molo, letti dui whitskey-soda 9 ! - Nàng gọi.
- Em nên đi ủng chống muỗi vào. - Hắn bảo nàng.
- Em đợi khi nào tắm xong mới đi.

Họ uống với nhau trong khi trời tối dần, và ngay trước lúc tối mịt, không còn đủ ánh sáng để bắn, thì một con linh cẩu đi ngang qua bãi trống trước khi quành ra sau núi.
- Cái con khốn khiếp này đêm nào cũng qua đó, - Người đàn ông nói - Hai tuần nay, đêm nào cũng thế.
- Chính nó là cái con vẫn làm ồn ban đêm. Nhưng em mặc kệ. Dù sao nó cũng là một giống vật ghê tởm.
Giờ đây cùng uống rượu với nàng, chẳng thấy đau đớn gì ngoài cái bất tiện là phải nằm mãi trong một tư thế duy nhất, trong khi đám bồi nhóm một đống lửa, ánh sáng bập bùng nhảy nhót trên các bạt lều, hắn có thể cảm thấy sự trở lại chấp nhận cuộc sống đầy khước từ êm ái này. Nàng rất tốt với hắn. Ban chiều, hắn đã tàn nhẫn và bất công với nàng. Quả là một phụ nữ cao đẹp, phải, thực sự là tuyệt diệu. Và đúng lúc ấy, hắn chợt nghĩ ra mình sắp chết.
Ý nghĩa ấy ào ập tới, không phải như mưa trút, cũng chẳng như gió cuốn, mà xịch tới bất thần như một trống rỗng tanh tưởi, và điều kỳ lạ là ở ngoài rìa lại thấy lẩn quất bóng con linh cẩu.
- Gì thế, Harry? - Nàng hỏi hắn.
- Chả có gì cả - Hắn nói - Em nên chuyển sang mé bên kia thì hơn. Phía có gió ấy.
- Molo đã thay băng chưa?
- Rồi. Anh chỉ cần bôi boric nữa thôi.
- Anh thấy trong người thế nào?
- Hơi choáng váng một tí.
- Em đi tắm đây - Nàng nói - Em sẽ trở ra ngay, cùng ăn với anh rồi chúng mình sẽ dọn giường vào trong lều.

Thế đấy, hắn nghĩ thầm, chúng mình thôi cãi vã là tốt. Hắn chưa bao giờ cãi cọ nhiều với người đàn bà này, trong khi với những người phụ nữ hắn yêu thì hắn lại cãi cọ nhiều đến nỗi rốt cuộc bao giờ cũng vậy, với những eo xèo cãi vã gặm mòn, họ đã giết chết những gì từng có với nhau. Hắn đã yêu quá mãnh liệt, đòi hỏi quá nhiều và cuối cùng hắn đã làm mòn xác mòn xơ tất cả.
Hắn nhớ lại lần ấy hắn lủi thủi một mình ở Constantinople, hắn đã cãi nhau ở Paris trước khi ra đi. Hắn đã chơi đĩ suốt, rồi đến lúc tàn cuộc, thay mình chẳng những không giết được nỗi cô đơn, mà còn làm cho nó tệ hơn, hẳn bèn viết cho nàng, người tình đầu tiên, người đã bỏ hắn, một bức thư kể lể với nàng rằng hắn chẳng bao giờ đủ sức giết được nỗi cô đơn... Rằng có lần ngỡ trông thấy nàng trước cửa hiệu Regence, hắn đã thấy nôn nao trong người và xuýt té xỉu như thế nào. Rằng thấy người phụ nữ nào hao hao giống nàng là hắn theo liền, dọc suốt Đại lộ, sợ thấy ra rằng đó không phải là nàng và sợ mất cái cảm giác nó tạo cho hắn. Rằng tất cả những lần ngủ với ai khác chỉ làm cho hắn càng tiếc nhớ nàng thêm. Rằng những gì nàng đã làm chẳng mảy may hệ trọng, bởi lẽ hắn biết mình không thể nào khỏi được bệnh yêu nàng. Hắn viết lá thư đó tại Câu lạc bộ, hoàn toàn chay tịnh không uống một giọt và gửi qua bưu điện đến New York xin nàng viết cho hắn về địa chỉ văn phòng ở Paris. Như thế xem ra cũng đúng mức. Và đêm hôm ấy, nhớ nàng đến trống trếnh, nôn nao cả ruột gan, hắn lang thang qua hiệu Taxim, vớ được một cô gái và đưa cô ta đi ăn đêm. Sau đó, đến một tiệm nhảy, cô ta nhảy tồi, và hắn bỏ cô ta để chuyển sang một ả người Armeni hừng hực nhục dục, ả cứ cọ bụng hoài vào người hắn đến mức hắn gần như bỏng rát lên. Hắn đã nẫng ả từ tay một gã pháo thủ quèn người Anh sau một trận ẩu đả. Tay pháo thủ yêu cầu hắn ra ngoài và họ đánh nhau trong bóng tối, trên lớp sỏi giữa phố. Hắn nện trúng gã kia hai lần vào quai hàm, mạnh ra dáng, và khi gã ta không ngã, thì hắn biết là phải quạng ra trò đây. Gã pháo thủ đánh trúng người hắn, rồi vào cạnh mắt. Hắn quai tay trái lần nữa, trúng, và gã pháo thủ ngã lên hắn, túm lấy áo vét-tông của hắn, xé đứt tay áo và hắn choảng hai cú vào sau tai gã, rồi vừa đẩy vừa thôi tay phải vào mặt gã. Khi gã pháo thủ đổ gục, đầu gã nện xuống trước, hắn kéo ả kia chạy vì nghe thấy tiếng quân cảnh tới. Họ nhảy vào một chiếc tắcxi và phóng ra Rimmili Hissa, dọc theo Bosphorus, đi quanh quanh, và trở về trong đêm lành lạnh, lên giường ngủ và thân thể ả cũng chín nẫu như vẻ ngoài của ả... Hắn rời khỏi ả trước khi ả thức giấc, coi bộ khá phờ phạc trong ánh ban mai, và xuất hiện ở nhà hàng Pera Palace với một bén mi mắt tím bầm, áo vét-tông vắt trên cánh tay vì mất một ống.
Cũng đêm ấy, hắn đi Anatolia và hắn nhớ lại là, về sau trong chuyến đi ấy, hẳn đã phi ngựa suốt ngày qua những cánh đồng trồng cây thuốc phiện (rút cục, nó gây một cảm giác đến là kỳ cục, mọi khoảng cách đều như sai lạc đi), phóng miết tới chỗ đánh úp bọn sĩ quan mới chân ướt chân ráo từ Constantine đến, chả hiểu mô tê gì cả, và pháo binh đã nã vào đoàn quân, và tay quan sát người Anh đã khóc như con nít.
Ngày hôm ấy lần đầu tiên, hắn trông thấy những xác lính mặc váy balê màu trắng, đi giày mũi cong, có ngù ở trên. Bọn Thổ Nhĩ Kỳ cứ ùn ùn kéo đến. Hắn đã trông thấy những gã mặc váy chạy và hắn với tay quan sát người Anh cũng chạy cho tới khi phổi hắn đau nhói và miệng đắng nghét như ngậm xu. Họ dừng lại sau mấy tảng đá và kia, bọn Thổ vẫn kéo đến đông nghìn nghịt như trước, về sau, hắn đã thấy những điều hắn không bao giờ tưởng tượng nổi và về sau nữa, hắn còn chứng kiến những điều tệ hơn nhiều. Cho nên khi trở về Paris lần ấy, hắn không bụng dạ nào nói chuyện về cái đó, thậm chí không chịu nổi khi nghe nhắc đến nó. Và kia, trong tiệm cà phê, khi hắn đi ngang qua, là cái anh chàng thi sĩ Mỹ với chồng đĩa để trước mặt, cái bộ mặt củ khoai mang một vẻ ngây ngô đần độn, đang nói chuyện về trào lưu Đađa với một người Rumani xưng tên là Tristan Tzara 10, lúc nào cũng đeo chiếc kính một mắt, lúc nào cũng đau đầu, và về tới phòng riêng với vợ mà bấy giờ hắn lại yêu, tạnh hết cãi cọ, tạnh hết điên khùng, sung sướng được trở lại tổ ấm, thì văn phòng đã chuyển thư từ giấy má về tận nhà. Thành thử, một buổi sáng, bức thư trả lời bức hắn viết hồi nọ được mang vào trên một cái khay và khi nhận ra nét chữ, hắn lạnh toát cả người và toan nhét nó xuống dưới một cái thư khác. Nhưng vợ hắn đã hỏi: "Thư ai gửi thế mình?" và thế là kết thúc sự mở đầu của cái đó.

Hắn nhớ lại những giờ phút vui thú đã trải qua với tất cả những người đàn bà của hắn cùng những cuộc cãi lộn. Bao giờ họ cũng chọn những nơi thú vị nhất để gây sự cãi nhau. Và tại sao bao giờ họ cũng nhè những lúc hắn khinh khoải nhất để cãi nhau nhỉ? Hắn chưa bao giờ viết gì về cái đó, vì thoạt đầu, hắn không muốn làm người nào tổn thương và sau đó, xem chừng không cần cái đó cũng đủ đề tài để viết rồi. Song hắn luôn luôn nghĩ rằng, cuối cùng, hắn sẽ viết về nó. Có biết bao chuyện cần viết. Hắn đã chứng kiến thế giới đổi thay; không phải chỉ đơn thuần sự kiện; mặc dầu hắn đã thấy nhiều sự kiện và quan sát con người song hắn còn thấy được sự biến đổi tinh tế hơn và hắn có thể nhớ lại những biểu hiện con người ở những thời kỳ khác nhau. Hắn đã ở trong cuộc, hắn đã theo dõi, quan sát và bổn phận của hắn là phải viết về cái đó: nhưng giờ đây, hắn vĩnh viễn không làm được việc đó nữa rồi.

- Anh thấy trong người thế nào? - Nàng hỏi. Lúc này, nàng đã ra khỏi lều sau khi tắm xong.
- Tốt thôi.
- Bây giờ anh có thể ăn được không?
Hắn trông thấy Molo mang chiếc bàn gấp đằng sau nàng, và gã bồi kia mang thức ăn tới.
- Anh muốn viết. - Hắn nói.
- Anh phải ăn tí xúp cho lại sức chứ.
- Anh sẽ chết đêm nay - Hắn nói - Anh không cần lại sức.
- Đừng có lâm ly thế, Harry, em xin. - Nàng nói.
- Mũi em để đâu nhỉ. Giờ đây anh đã bị thối hoại tới nửa đùi rồi. Anh ăn xúp làm cái cóc khô gì mới được chứ? Molo, mang whiky-soda lại đây.
- Xin anh ăn xúp đi. - Nàng dịu dàng nói.
- Thôi được.
Xúp nóng quá. Hắn phải cầm bát chờ cho nguội để có thể húp được, và ngay cả bây giờ, hắn cũng phải cố mới nuốt trôi mà không nhổ ra.
- Em thật là một phụ nữ tuyệt vời - Hắn nói - Đừng để ý đến anh.

Nàng nhìn hắn với bộ mặt nàng đã quen thuộc, xiết bao thân thương, được miêu tả trong Đinh thúc ngựa và Thành thị và nông thôn, có điều hơi tàn phai hơn vì rượu, có điều hơi tàn phai hơn vì chiếc giường ân ái, nhưng Thành thị và nông thôn không hề phô bộ ngực chắc mẩy kia, cặp đùi ân cần kia và đôi bàn tay nây nây ve vuốt kia, và trong khi hắn nhìn, nàng mỉm cười, nụ cười khả ái quen thuộc của nàng, thì hắn lại cảm thấy cái chết lại đến. Lần này thì không ào ạt, mà chỉ thoảng một hơi, như một cơn gió làm ngọn nến chập chờn rồi lại bốc cao lên.
- Bảo chúng lát nữa mang màn của anh ra, mắc vào cây và khơi lửa to thêm. Đêm nay, anh không vào lều đâu. Chả việc gì phải di chuyển. Đêm sáng thế này chắc không mưa đâu.

Vậy ra người chết như thế đấy, thành những tiếng thì thào không nghe rõ. Ờ, sẽ chẳng có cãi cọ gì nữa. Hắn có thể hứa vậy. Lẽ nào bây giờ hắn lại đi làm hỏng cái điều duy nhất hắn chưa từng kinh qua bao giờ? Hắn có thể làm hỏng. Mày đã làm hỏng đủ mọi thứ. Nhưng có lẽ lần này thì không.
- Em có ghi tốc ký được không?
- Em chưa bao giờ học. - Nàng trả lời hắn.
- Thôi được, không sao.
Cố nhiên, chẳng còn thì giờ nữa, mặc dầu hắn có cảm giác như mọi sự dồn lại đến mức có thể thu gọn trong một đoạn văn ngắn nếu biết cách.

Có một căn nhà gỗ, với những kẽ trát vữa trắng, trên một trái đồi ven hồ. Trên một cái cột cạnh cửa ra vào, có chuông để gọi mọi người về dùng bữa. Đằng sau nhà là những cánh đồng và đằng sau những cánh đồng là rừng cây to. Một hàng bạch dương Lombardy chạy từ nhà đến bến. Những cây dương khác viền quanh mỏm. Một con đường dẫn lên đồi, men theo bìa rừng và hắn thường hái quả mâm xôi dọc theo con đường ấy. Thế rồi căn nhà bằng gỗ súc ấy bị cháy rụi và tất cả những khẩu súng treo ở những giá chăn hươu phía trên lò sưởi trống đều cháy và sau đó, những nòng súng, với lớp chì chảy ra trong ổ đạn và báng cháy mất tiêu, nằm chỏng trơ trên đống tro dùng làm nước kiềm cho vào những nồi sắt to nấu xà phòng, và mình hỏi ông nội là có lấy những nòng ấy đem chơi được không, thì ông bảo không được. Mình biết đấy vẫn còn là những khẩu súng của ông và ông không bao giờ mua khẩu nào khác nữa. Ông cũng chằng đi săn nữa. Bây giờ căn nhà được xây dựng lại bằng gỗ xẻ, vẫn ở nguyên chỗ cũ, quét vôi trắng, và từ cổng nhà, có thể trông thấy rặng bạch dương và quá nữa là khu hồ, nhưng chẳng bao giờ còn có những cây súng nữa. Những nòng súng từng treo ở các chân hươu trên tường căn nhà bằng gỗ súc, nằm ngoài kia, trên đống tro và không ai đụng tới chúng.

Ở vùng Rừng Đen, sau chiến tranh, chúng tôi thuê một con suối cá hồi. Có hai lối đi tới đó. Một lối từ Triberg xuống thung lũng rồi theo đường thung dưới bóng của hàng cây chạy dọc con đường trắng, và tiếp đó, vào một con đường nhánh leo lên đồi, qua nhiều trại nhỏ với những ngôi nhà lớn của Schwarzwald 11 cho đến chỗ con đường ấy vắt qua suối. Đó là chỗ chúng tôi bắt đầu câu cá.
Đi lối kia thì phải leo dốc tới bìa rừng, rồi vượt đỉnh đồi qua những rừng thông, sau đó đâm ra ven cánh đồng cỏ và đi ngang đồng cỏ tới cầu. Dọc con suối có những cây bulô. Suối hẹp, không to, nhưng trong và chảy xiết, với những vũng lặng ở chỗ nước khoét vào dưới đám rễ bulô. Tại khách sạn ở Triberg ông chủ được một mùa kinh doanh tốt đẹp. Thật là thú vị, và tất cả chúng tôi đều là bạn bè thân thiết. Năm sau, xảy ra nạn lạm phát, số tiền ông ta kiếm được năm trước không đủ mua trữ thực phẩm để mở khách sạn, và ông ta đã treo cổ tự vẫn.

Những điều ấy thì có thể đọc cho người khác ghi hộ song không thể làm thế với đoạn nói về Quảng trường Contrescarpe, ở đó những người bán hoa đem nhuộm hoa trên đường phố, thuốc nhuộm chảy lênh láng trên hè nơi các xe buýt khởi hành, và các ông bà già lúc nào cũng say rượu vang và rượu bã nho tồi; và lũ trẻ thò lò mũi xanh trong giá rét: mùi mồ hôi bẩn thỉu, mùi nghèo khổ và mùi say khướt ở quán Café des Amateurs 12 và những ả giang hồ ở tiệm Bal Musette 13 mà họ ở ngay tầng trên đó. Chị gác cổng tiếp đãi anh lính thuộc đội Vệ binh Cộng hòa trong phòng thường trực của mình, chiếc mũ sắt có chùm tua lông ngựa của anh chàng đặt trên ghế. Người phụ nữ ở thuê căn phòng trước mặt có chồng là một tay đua xe đạp và nỗi hân hoan của nàng buổi sáng hôm ấy tại cửa hàng đồ sữa khi giở tờ báo "L’Auto" 14 , thấy tin chồng về thứ ba trong cuộc đua Paris - Tua, cuộc đua lớn đầu tiên của anh ta. Nàng đỏ bừng mặt và cười vang, rồi vừa chạy lên gác vừa khóc, với tờ báo thể thao màu vàng trong tay. Tay chồng bà chủ tiệm Bal Mussette lái tắc xi, và khi hắn, Harry đây, cần đáp một chuyến máy bay sớm, tay chồng ấy đến gõ cửa đánh thức hắn và họ uống mỗi người một cốc vang trắng tại quầy trước khi khởi hành. Hồi ấy, hắn quen biết những người hàng xóm trong khu phố đó, bởi vì tất cả đều cùng cảnh nghèo...


(xem tiếp phía dưới)


Được sửa bởi PVChuong ngày Tue Jan 23, 2018 7:46 pm; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 400
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Fri Jan 19, 2018 12:30 am


(tiếp theo - hết)

TUYẾT TRÊN ĐỈNH KILIMANJARO
Ernest Hemingway


Ở quanh khu Quảng trường có hai loại người: cánh say rượu và cánh thể thao. Đám say rượu tìm cách giết cánh nghèo của mình bằng hơi men; đám thể thao thì cố tống khứ nó bằng tập tành. Họ là con cháu những chiến sĩ Công xã Paris, và họ hiểu rõ chính kiến của mình không vất vả gì. Họ biết ai đã bắn cha chú, anh em, họ hàng và bạn bè của họ khi toán quân Versaille vào chiếm thành phố sau thời kỳ Công xã và hành quyết bất kỳ ai chúng bắt được mà có đôi tay sần chai, hoặc đội mũ cát-két, hoặc mang bất kỳ dấu hiệu gì tố cáo nguồn gốc xuất thân công nhân của họ. Chính trong khung cảnh nghèo khổ ấy và trong cái khu bên phố trước cửa một hiệu bán thịt ngựa và một hợp tác xã rượu vang, hắn đã khởi bút mở đầu tất cả những gì hắn sẽ làm sau này. Chẳng có nơi nào khác ở Paris mà hắn yêu như thế, những cây tỏa lan man cành lá, những ngôi nhà cổ trát vữa trắng, mé dưới quét vôi náu, cái dãy dài xe buýt màu xanh lục ở quảng trường tròn đó, dòng đỏ tía thuốc nhuộm hoa chảy trên hè, quãng phố Giáo chủ Lemoine đột ngột dốc tuột xuống tận bờ sông, và mạn kìa là cái thế giới chật chội chen chúc của phố Mouffetard. Con phố ngược lên về phía điện Pantheon và con phố kia mà bao giờ hắn cũng rong ruổi qua bằng xe đạp, đường phố duy nhất được rải nhựa trong toàn khu, nhẵn thín dưới bánh xe, với những ngôi nhà cao hẹp và cái khách sạn rẻ tiền, nơi Paul Verlaine 15 đã chết. Căn hộ họ ở chỉ có hai buồng, và hắn thuê một phòng ở tầng trên cùng của cái khách sạn ấy với giá sáu mươi phrăng một tháng làm chỗ viết lách, và từ chỗ đó hắn có thể nhìn ra các mái nhà, các ống khói và tất cả những điểm cao ở Paris.

Từ căn hộ, chỉ có thể nhìn thấy cửa hiệu của lão bán gỗ và than. Lão cũng bán cả rượu nữa, rượu tồi. Cái đầu ngựa óng vàng ngoài cửa hàng bán thịt ngựa, ở đó lủng lẳng những bộ xương ngựa vàng vàng đỏ đỏ giữa khung cửa sổ mở và cái hợp tác xã quét vôi màu xanh lá cây, nơi họ vẫn mua rượu vang; rượu vang ngon và rẻ. Còn lại là tường trát vữa và cửa sổ của hàng xóm. Những người hàng xóm ấy, ban đêm, khi có kẻ say rượu nằm ềnh ra phố rên rẩm và rền rĩ theo cái kiểu "bét nhè" 16 điển hình Pháp mà người ta tuyên truyền là không có thật, thường mở cửa sổ ra ngó, và liền sau đó là tiếng xì xào bàn tán.
- Chà, cảnh sát đâu nhỉ? - Cái đồ chó chết, khi người ta không cần đến nó thì bao giờ nó cũng có mặt. - Hắn lại đang ngủ với một mụ gác cổng nào rồi! - Tìm "agent" 17 đến đây! Cho đến khi có người nào đó hắt một xô nước từ một cửa sổ và tiếng rên ngừng bặt. - Cái gì đấy? - Nước. - À, thông minh đấy. Và các cửa sổ đóng lại. Marie, người đàn bà giúp việc của hắn phản đối chế độ ngày làm tám tiếng: "Nếu anh chồng làm việc đến sáu giờ, trên đường về nhà, anh ta chỉ say ti tí thôi; và không vung phí quá nhiều tiền. Nếu anh ta chỉ làm đến năm giờ thì đêm nào anh ta cũng sẽ say mèm và nhà không có tiền. Chính vợ người công nhân chịu thiệt vì việc rút ngắn giờ làm việc".

- Anh có muốn húp thêm tí xúp nữa không? - Lúc này, người đàn bà hỏi hắn.
- Không, cảm ơn em. Xúp ngon lắm.
- Thử tí nữa thôi.
- Anh muốn uống thêm một ly whisky-soda.
- Cái đó không tốt cho anh đâu.
- Phải. Nó có hại cho tôi.
- Anh thừa biết rằng em thích anh uống rượu.
- A phải. Có điều là nó có hại cho tôi.

Để cho cô ta đi khỏi đã, hắn nghĩ. Mình sẽ uống thỏa thích. Không phải lả thỏa thích, mà là uống hết chỗ rượu hiện có ở đây. Ôi, hắn mệt. Quá mệt. Hắn sẽ ngủ một lúc. Hắn nằm im và cái chết không thấy đến. Chắc nó đang đi tua ở một chỗ khác. Nó đi xe đạp thành từng cặp và di động lặng lẽ trên đường phố.
Không, hắn chưa bao giờ viết về Paris. Chưa bao giờ viết về cái Paris mà hắn yêu thương. Nhưng còn tất cả những cái khác mà hắn chưa viết thì sao?
Thế còn cái trại nuôi súc vật và cái màu xám bạc của bụi cây ngải đắng, dòng nước trong veo chảy xiết trong những con mương và màu xanh lục rậm rì của cỏ linh lăng thì sao? Con đường mòn leo lên đồi và trâu bò về mùa hè thì nhút nhát như hươu nai. Tiếng trống và tiếng rậm rịch liên tục đều đặn vào mùa thu cả một khối từ từ di chuyển bụi mù lên khi người ta lùa chúng xuống. Và đằng sau rặng núi, ngọn cao nhất nổi bật lên sắc nét trong ánh chiều, và những phút ruổi ngựa xuôi theo con đường mòn đi xuống, trong ánh trăng vằng vặc tràn ngập thung lũng. Giờ đây, hắn nhớ lại cái lần nắm đuôi ngựa xuyên qua rừng mò mẫm đi xuống trong bóng tối bưng mắt cùng tất cả những chuyện hắn định viết.

Còn cả chuyện về cái thằng nhỏ dở ngây dở dại mà bận ấy họ để lại coi trại, dặn không được cho ai lấy cỏ khô và cái lão già khốn kiếp ở Ngã Ba dạo xưa vẫn đánh đập thằng nhỏ, hồi nó còn làm cho lão, ghé vào xin ít thức ăn cho ngựa. Thằng nhỏ từ chối và lão già dọa lại đánh nó. Thằng nhỏ vớ lấy cây súng trên bếp và bắn lão khi lão định vào kho, và khi họ trở về trại thì lão đã chết được một tuần, cóng lạnh trong ràn, xác đã bị chó ăn mất một phần. Còn lại bao nhiêu, cậu đem bó chăn, chất lên một cái xe trượt chằng dây thật chặt và bảo thằng nhỏ giúp cậu một tay kéo đi, rồi hai thầy trò cậu lướt ván trượt tuyết đưa xe ra đến đường cái đi tiếp sáu mươi dặm tới tận tỉnh để giao thằng nhỏ cho cảnh sát. Nó thì không ngờ mình sẽ bị bắt. Nó ngỡ mình đã làm tròn bổn phận và nó sẽ được thưởng cơ. Nó đã giúp một tay kéo xác lão già về tỉnh để mọi người thấy là lão xấu xa như thế nào, và khi tay quận trưởng cảnh sát còng tay thằng nhỏ, nó không thể tin đó là sự thật. Thế rồi nó òa lên khóc. Đó là một câu chuyện hắn đã để dành định viết: Hắn biết chí ít là hai mươi câu chuyện lý thú ở vùng ấy mà hắn chưa hề viết một chuyện nào. Tại sao?
- Nào biết tại sao? - Hắn nói.
- Tại sao cái gì, mình?
- Chả tại sao cái gì cả.

Từ khi có hắn, nàng không uống dữ như trước nữa. Nhưng nếu hắn sống, hắn sẽ không bao giờ viết về nàng, bây giờ thì hắn biết chắc điều đó. Cũng chẳng viết về bất kỳ ai trong số các cô nàng. Cái bọn giàu thật chán ngắt, và họ uống rượu quá đáng, cờ bạc quá đáng. Họ vừa chán phèo vừa hay lặp đi lặp lại. Hắn nhớ đến anh chàng Julian tội nghiệp, cậu ta kính sợ họ một cách lãng mạn, có lần cậu ta đã khởi thảo một truyện ngắn, mở đầu như thế này: "Những người rất giầu có vốn khác anh, khác tôi". Và ai đó đã bảo Julian; Phải, vì họ có nhiều tiền hơn. Nhưng Julian không thấy đó là hài hước. Cậu ta nghĩ họ là một nòi giống đặc biệt, lộng lẫy, mê hồn và khi cậu ta thấy ra rằng họ không phải thế, cậu ta sụp xuống y hệt như khi gặp bất kỳ điều gì khác làm cậu ta sụp xuống.
Xưa nay hắn vẫn khinh những kẻ suy sụp. Đâu phải cứ hiểu rõ cái gì thì phải ưa thích cái ấy. Hắn có thể bất chấp tất, hắn nghĩ vậy, bởi vì không gì có thể làm hắn tổn thương, nếu hắn không thiết.
Được lắm. Giờ đây hắn sẽ dửng dưng với cái chết. Có một điều bao giờ hắn cũng khiếp hãi, đó là cái đau. Hắn có thể chịu đau như bất kỳ người đàn ông nào khác, miễn là đừng quá kéo dài và đừng làm hắn kiệt sức, nhưng ở đây, hắn bị một cái gì đó đã làm hắn đau, khủng khiếp và đúng lúc hắn cảm thấy mình sắp quỵ thì cái đau bỗng dứt hẳn.

Hắn nhớ lại hồi đã lâu, khi Williamson, sĩ quan giật bom, bị thương vì một quả lựu đạn chày do một tên trong một đội tuần tra Đức ném khi đêm hôm ấy cậu ta mò vào qua hàng rào dây thép gai, và cậu ta đã gào thét xin mọi người giết mình đi cho rồi. Đó là một gã béo, rất dũng cảm, một sĩ quan tốt, mặc dầu nghiện những trò trưng trổ ngông nghênh. Nhưng đêm ấy, cậu ta bị kẹt trong hàng rào dây thép gai, pháo sáng soi rõ mồn một, và ruột lòi ra lòng thòng vướng vào dây thép gai đến nỗi phải cắt rời mới mang được cậu ta sống sót trở về. Bắn tao đi, Harry! Lạy Chúa, mày bắn tao đi cho rồi! Có một lần họ đã từng tranh luận về chuyện Thượng đế không bao giờ giáng xuống chúng sinh cái gì mà con người không chịu nổi, và ai đó nêu ra cái thuyết là đến một lúc nào đó, cái đau sẽ tự khắc làm cho người ta ngoẻo. Nhưng hắn không bao giờ quên Williamson cái đêm ấy. Không gì làm cho Williamson tịch đi được, cuối cùng hắn đã phải cho cậu ta tất cả những viên moóc phin hắn vẫn để dành riêng cho mình, và mặc dù vậy, vẫn không công hiệu ngay tức thì.
Tuy nhiên, cái mà hắn hiện đang phải chịu, vẫn rất nhẹ nhõm; và nếu có cứ tiếp tục, không tệ hơn, thì chả việc gì mà lo. Có điều, hắn vẫn ưng có người tâm đắc hơn để bạn bầu.
Hắn ngẫm nghĩ một chút về tâm hồn bầu bạn mà hắn muốn có.
Không, hắn nghĩ, khi mà mọi điều mày làm, mày đều làm quá rề rà và quá muộn, thì mày đừng trông mong gì mọi người. Mọi người đã đi cả rồi. Cuộc vui đã tàn và giờ đây chỉ còn có mày với nữ chủ nhân.
Mình đâm ớn luôn cả cái chết như ớn tất cả mọi thứ khác, hắn nghĩ.

- Thật phát ớn. - Hắn nói ra thành tiếng.
- Ớn cái gì, mình?
- Bất cứ cái chết tiệt gì mà người ta làm bôi ra quá lâu.
Hắn nhìn bộ mặt nàng xen giữa hắn và đống lửa. Nàng ngả người trên chiếc ghế và ánh lửa soi tỏ những nếp nhăn dễ thương trên mặt nàng, và hắn thấy nàng đã buồn ngủ. Hắn nghe thấy con linh cẩu lục xục ngay bên ngoài tầm chiếu sáng của đống lửa.
- Anh vừa viết - Hắn nói - Nhưng thế mà hóa mệt.
- Liệu anh có thể ngủ được không?
- Chắc chắn được. Sao em không vào lều nằm?
- Em thích ngồi đây với anh.
- Em có cảm thấy gì lạ không? - Hắn hỏi nàng.
- Không. Chỉ hơi buồn ngủ thôi.
- Anh thì có. - Hắn nói.
Hắn vừa mới cảm thấy cái chết lại lướt qua lần nữa.
- Em biết đấy, cái duy nhất anh không bao giờ mất, là tính tò mò. - Hắn nói với nàng.
- Anh chả bao giờ mất cái gì cả. Anh là người đàn ông hoàn hảo nhất em từng biết.
- Jesus - Hắn nói - Đàn bà chả biết gì mấy. Đó là cái gì nhỉ? Trực giác của em à?
Bởi vì đúng lúc ấy, cái chết đã đến dựa đầu lên chân giường, và hắn có thể ngửi thấy hơi thở của nó.
- Em đừng bao giờ tin những sự mường tượng ấy, nào lưỡi hái, nào đầu lâu - Hắn bảo nàng - Nó cũng có thể là hai gã cảnh sát đi xe đạp hay một con chim. Hoặc giả nó có thể là một cái mõm bè bè như một con linh cẩu.

Giờ đây, nó đã tiến lên người hắn, nhưng nó không còn hình thù gì nữa, chỉ choán không gian mà thôi.
- Em bảo nó đi đi.
Nó không đi khỏi mà còn xáp lại gần hơn.
- Hơi thở mày gớm quá - Hắn bảo nó - Đồ con hoang tanh hôi.
Nó nhích lại gần hắn hơn nữa, và bây giờ hắn không đủ sức nói với nó, và khi nó thấy hắn không thể nói được, nó bèn tiến sát hơn chút nữa, và lúc này hắn cố đuổi nó đi mà không phải lên tiếng, nhưng nó sấn lên người hắn đến độ toàn bộ sức nặng của nó đè lên ngực hắn, và trong khi nó ngồi thu lu đó khiến hắn không cựa quậy, nói năng gì được, hắn nghe thấy tiếng người đàn bà: "Bwana ngủ rồi. Nhấc giường lên thật nhẹ nhàng và khiêng vào trong lều".
Hắn không lên tiếng được để bảo nàng đuổi nó đi, và giờ đây, nó thu mình đè nặng hơn, khiến hắn không thở được. Thế rồi, khi họ nhấc bổng chiếc giường lên, mọi sự đột nhiên ổn định đâu vào đó và cái trọng lượng nó biến khỏi ngực hắn.

Đó là buổi sáng, và sáng được một lúc thì hắn nghe thấy tiếng máy bay. Mới đầu hiện ra một chấm rất nhỏ rồi nó lượn một vòng rộng và đám bồi chạy ra đốt lửa bằng dầu hỏa rồi chất cỏ khô lên thành hai đống to ở hai đầu bãi phẳng, gió sớm tạt khói về phía lều. Chiếc máy bay lượn hai vòng nữa, lần này thấp hơn, rồi là là xuống và hạ cánh êm ru, và kìa lão Compton quần thụng, áo vét tuýt, mũ phớt nâu, đang đi về phía hắn.
- Làm sao vậy, chú gà trống già? - Compton nói.
- Chân tôi, - Hắn đáp - ông dùng điểm tâm nhé?
- Cảm ơn. Tôi chỉ xin tí trà thôi. Đây là loại máy bay Puss Moth, ông biết đấy. Tôi không chở cả Memsahib được. Chỉ có chỗ cho một người thôi. Xe cam-nhông của ông bà đã lên đường.
Helen kéo Compton ra một chỗ, nói riêng với ông ta. Compton quay trở lại, vui vẻ hơn bao giờ hết.
- Chúng tôi sẽ đưa ông lên máy bay ngay lập tức - Ông ta nói - Tôi sẽ quay lại đón Memsahib. Tôi e là phải ghé Aruha để tiếp nhiên liệu. Tốt hơn là ta đi luôn thôi.
- Thế ông không dùng trà ư?
- Ông biết đấy, tôi cũng không mê trà lắm.

Đám bồi nhấc cái giường, khiêng đi vòng qua những lều bạt màu xanh lục, dọc theo vách đá xuống khoảng đồng bằng, qua chỗ những đống lửa lúc này đang cháy sáng rực, ngốn hết chỗ cỏ, được gió quạt bùng lên, tới chỗ máy bay. Đưa hắn lên được kể cũng khó khăn chật vật, nhưng khi đã vào được trong máy bay, hắn nằm ngủ trên chiếc ghế da, cái chân đau duỗi thẳng tựa vào một bên của chiếc ghế Compton ngồi. Compton mở máy và vào khoang lái. Ông ta vẫy Henlen và đám bồi, và khi tiếng đì đạch chuyển thành tiếng nổ giòn quen thuộc, chiếc máy bay quành góc (Compton quan sát đã tránh những hố do lợn rừng khoét), kêu ro ro, chồm chồm trên quãng mặt bằng giữa hai đống lửa, rồi sau cái xóc nẩy cuối cùng, bay lên khỏi mặt đất và hắn trông thấy cả bọn đứng ở dưới vẫy theo, cụm lều trại bên sườn núi lúc này bẹt xuống, cánh đồng bằng trải rộng, những lùm cây và khu rừng cũng bẹt xuống, với những dấu đường thú chạy nhẵn lì dẫn đến những hố nước đã cạn và lại thấy một điểm nước mới toanh mà hắn chưa từng biết đến. Lũ ngựa vằn, lúc này chỉ là những cái lưng tròn nhỏ, và những con linh dương đầu bò, giờ là những vật phình đầu, như đang leo lên, trong khi chúng di chuyển thành hàng dài qua cánh đồng, thấy bóng máy bay lướt lướt tới, lại chạy tản ra, bây giờ chúng bé tí tẹo, di động đều, không phóng nhanh, và cánh đồng giờ đây xám vàng hút tầm mắt, còn ngay đằng trước là cái lưng của lão Compton mặc áo vét tuýt và cái mũ phớt nâu. Thế rồi họ bay trên những ngọn đồi đầu tiên với những con linh dương đầu bò trèo lên theo vệt đường mòn, sau đó họ bay trên những ngọn núi với những quãng rừng đột ngột sâu thẳm màu xanh diệp và những dốc mọc đầy tre chắc khỏe, rồi lại rừng rậm nữa in bật nét điêu khắc trồi lên, lõm xuống cho đến khi họ vượt qua, và đồi núi thoải xuống thấp dần, rồi lại một dải đồng bằng giờ đây nóng thiêu và nâu tía, họ lắc lư vì nóng và Compton ngoái lại xem hắn có chịu đựng tốt chặng đường bay hay không. Rồi lại thấy những ngọn núi khác đen sẫm trước mặt.

Thế rồi đáng lẽ tiếp tục bay đến Aruha thì họ lại rẽ trái, hắn nghĩ bụng hiển nhiên là họ đủ xăng, và nhìn xuống, hắn thấy một đám mây hồng như bột rây bay là là mặt đất, và trên không tựa hồ tuyết đầu mùa trong một cơn bão lốc không biết từ đâu tới. Hắn biết là châu chấu đang từ phương Nam bay tới. Rồi họ bắt đầu vọt lên cao, hình như họ bay về phía đông, thế rồi trời tối sầm lại, và họ mắc vào một cơn dông, mưa dày đến nỗi tưởng như bay qua thác, thế rồi họ thoát ra và Compton ngoảnh đầu lại, nhe răng cười, đưa tay chỉ và kìa, ở đằng trước, tất cả những gì hắn nhìn thấy, rộng như cả thế gian, mênh mông, cao ngất và trắng xóa dưới ánh mặt trời, trắng đến độ không tin được, là cái chóp vuông của ngọn Kilimanjaro. Và hắn biết rằng đó chính là nơi hắn đang đi đến.

Đúng lúc ấy, con linh cẩu ngừng rền rĩ trong đêm và bắt đầu phát ra một âm thanh kỳ lạ gần như tiếng người khóc. Người đàn bà nghe thấy và cựa mình, không thoải mái. Nàng không thức giấc. Trong giấc mơ, nàng thấy mình đang ở ngôi nhà tại Long Ailen, và đó là đêm trước hôm con gái nàng ra mắt giới thượng lưu, không hiểu làm sao cha nó lại có mặt và ông ta rất thô bạo. Thế rồi tiếng con linh cẩu to đến độ làm nàng thức giấc và trong một lúc, nàng không biết mình đang ở đâu và nàng hốt hoảng. Rổi nàng cầm lấy đèn bấm rọi vào cái giường nhỏ kia mà đám người hầu đã khiêng vào lều sau khi Harry ngủ thiếp đi. Nàng nhìn thấy hắn nằm lù lù trong màn, nhưng không hiểu sao một chân lại tòi ra, thõng xuống lủng lẳng cạnh giường. Băng đã tuột hết và nàng không dám nhìn vào đó.
- Molo - Nàng gọi - Molo! Molo!
Rồi: - Harry, Harry!
Giọng nàng cất cao lên: - Harry! Em xin mình. Ôi Harry!
Không thấy trả lời, nàng không nghe thấy hắn thở.

Bên ngoài, con linh cẩu vẫn phát ra cái tiếng kỳ lạ, đã làm nàng thức giấc. Nhưng nàng không nghe thấy vì tim nàng đang đập mạnh.

Dương Tường dịch

--------------------------------
1. Một loại từ điển y khoa thông dụng (N.D)
2. Thổ ngữ Phi: Ông chủ (N.D).
3. Tiếng Đức trong nguyên bản: ông (N.D).
4. Tiếng Pháp trong nguyên bản: không buồn xem. - N.D.
5. Nguyên văn: You rich bitch (Cô là con điếm giàu có). Rich vần với bitch.
6.Thổ ngữ Phi: Bả.
7. Chuyến đi săn xa.
8. Quần đi ngựa, chẽn ống từ đầu gối đến mắt cá.
9. Bồi, mang uytxki-xorfa lại đây.
10. Nhà thơ và nhà văn nổi tiếng gốc Rumani, quốc tịch Pháp (1896-1938), kiện tướng của phong trào Đađa.
11. Tiếng Đức: Rừng Đen.
12. Tiếng Pháp: Tiệm cà phê của những người nghiệp dư.
13. Tiếng Pháp: Vũ hội đồng quê.
14. Tiếng Pháp: Xe hơi - một tờ báo thể thao của Pháp.
15. Một trong những nhà thơ tiêu biểu của phái tượng trưng Pháp, thế kỷ XIX.
16. Tiếng Pháp trong nguyên bản: ivresse.
17. Tiếng Pháp: nhân viên cảnh sát.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 400
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Sun Jan 21, 2018 9:25 pm

.


Nhạc và Phim "TUYẾT TRÊN ĐỈNH KILIMANJARO"





Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro (1952)
The Snows of Kilimanjaro
Actors: Gregory Peck, Susan Hayward, Ava Gardner

(Vietsub by TT) 





https://www.youtube.com/watch?v=Mf1vBzl6ei4


Nhạc phẩm “Kilimandjaro”, đôi khi còn được biết đến dưới tên “Les Neiges Du Kilimandjaro”, là một nhạc phẩm nổi tiếng của Pháp do Pascal Danel phát hành năm 1966. Nó được cho rằng là một nhạc phẩm tiêu biểu của Pháp thập niên 1960s. Đây là hit song thành công nhất của Pascal Danel và là bài được truyền thanh nhiều nhất trên các đài radio thời đó.

Lời bài hát được viết bởi Michel Delancray, hòa âm bởi Laurent Voulzy, và do chính Pascal Danel soạn nhạc. “Kilimandjaro” chiếm vị trí #1 trên bảng sắp hạng của “French Charts” và là nhạc phẩm được nhiều danh ca quốc tế thu âm bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau.



“Kilimandjaro” du nhập vào Việt Nam cuối thập niên 1960s, được nhạc sĩ Nguyễn Duy Biên đặt lời Việt dưới tựa đề “Đỉnh Tuyết” do hai ca sĩ Jo Marcel và Elvis Phương trình diễn trước tiên từng làm thổn thức bao trái tim của giới yêu nhạc Pháp tại thành phố Hòn Ngọc Viễn Đông – Sài Gòn.

https://www.youtube.com/watch?v=3JloNR9KBhA

** Jo Marcel - Đỉnh Tuyết (Kilimanjaro) - Thu Âm Trước 1975


https://www.youtube.com/watch?v=5VEOI7FGwtM

** Les Neiges Du Kilimanjaro ĐỈNH TUYẾT CAO - ELVIS PHƯƠNG



Nhạc phẩm “Kilimandjaro”
Tác giả: Pascal Danel, Michel Delancray, Laurent Voulzy


Il n’ira pas beaucoup plus loin
La nuit viendra bientôt
Il voit là-bas dans le lointain
Les neiges du Kilimandjaro

Elles te feront un blanc manteau
Où tu pourras dormir
Elles te feront un blanc manteau
Où tu pourras dormir, dormir, dormir

Dans son délire il lui revient
La fille qu’il aimait
Ils s’en allaient main dans la main
Il la revoit quand elle riait

Elles te feront un blanc manteau
Où tu pourras dormir
Elles te feront un blanc manteau
Où tu pourras dormir, dormir, dormir

Voilà sans doute à quoi il pense
Il va mourir bientôt
Elles n’ont jamais, jamais, été si blanches
Les neiges du Kilimandjaro

Elles te feront un blanc manteau
Où tu pourras dormir
Elles te feront un blanc manteau
Où tu pourras dormir, dormir, dormir, dormer, bientôt.




Nhạc phẩm “Đỉnh Tuyết” “Kilimandjaro”
– Lời Việt: Nguyễn Duy Biên

Nào xa chi vẫn nhớ tới chốn này
Khi đêm buốt giá dâng đầy
Nhìn nơi xa bát ngát núi rừng
Non cao bóng tuyết trắng bao trùm

Phủ quanh thân ai như áo choàng xinh
Phủ trong miên man tuyết rơi
Phủ quanh thân ai như áo choàng xinh
Cho người còn giấc nồng say
Miên man, miên man

Từ trong hoang vắng giá buốt thoáng về
Em xưa quá yêu kiều
Ta rủ nhau đi ngước mắt nhìn
Nghe như nơi đây chiếu những u buồn

Phủ quanh thân ai như áo choàng xinh
Phủ trong miên man tuyết rơi
Phủ quanh thân ai như áo choàng xinh
Cho người ngon giấc triền miên
Trong vang, trong vang

Dù trong hoang vắng với giá buốt này
Ai kia khép mắt xa đời
Rồi mưa bay khép kín lấp vời
Nhưng sao bóng tuyến vẫn ơ thờ

Phủ quanh thân ai như áo choàng xinh
Phủ trong miên man tuyết rơi
Phủ quanh thân ai như áo choàng xinh
Cho người ngon giấc triền miên
Trong vang, trong vang, triền miên…

(Nguồn: dotchuoinon.com)
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 381
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Sat Jan 27, 2018 12:56 pm



Miguel Rojas Mix, sinh năm 1934 tại thủ đô Chile. Giám đốc viện Nghệ thuật châu Mỹ La tinh thủ đô San Chiago. Bỏ Chile sang Pháp dạy học ở Đại học Paris VIII. Viết tiểu luận, truyện ngắn, sách thiếu nhi. “Bàn tay Chúa” là truyện ngắn ác liệt tố giác chính quyền Pinochet khát máu tại Chile chỉ có thể gây ra khổ đau, chết chóc, ly hương và quật khởi cho nhân dân xứ này. Truyện mang ý hướng ngụ ngôn, gợi ý, gợi hình, vừa có nét thần kỳ mà vẫn không xa hiện thực.
“Lạy Chúa toàn năng! Chúa là người minh triết vô biên đã giúp chúng con tuốt gươm cho Tổ quốc thân yêu tìm lại được tự do. Trước mặt đồng bào, con cầu xin Chúa điều mà con đã bao phen khẩn nguyện Chúa trong đêm vắng trước ngày 11 tháng 9; nay xin Chúa rủ lòng giúp sức cho dân tộc này tìm ra sinh mệnh sáng sủa nhất của nó trong đức tin”.
Tướng Pinochet
(Diễn văn đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ nhất cuộc đảo chính ngày 11 tháng 9 năm 1974)





Bàn tay Chúa
Miguel Rojas Mix (Chile)


Hôm ấy tôi bắt gặp lão đang bày trò với bàn tay Chúa. Tuân theo một lối nghi lễ cử hành mỗi buổi ngủ trưa, lão rút bàn tay trong hộp ra, đặt lên bàn, tắt đèn để cho vùng tam giác sáng viền quanh đấy nổi bật lên, mân mê mẫu bàn tay, nhấc nó lên và đứng lặng ngắm nghía hồi lâu giống như các bà mẹ trong loại tranh hiện thực đôn hậu ngắm nhìn con cái. Kế đó lão vỗ nhẹ vào đầu ngón tay, vào phía trần nhà, và bàn tay cất mình lên, lên, lừng lững một hồi (nó đã thường lên cao vì chỉ có nó là lên tới trên trời được), rồi chầm chậm hạ mình xuống trên mặt bàn gỗ đào. Nơi đây, lão cầm lấy bàn tay, chăm chú khảo sát nó một hồi, vuốt lưng bàn tay và, sau một hồi im lặng, lần lượt thoăn thoắt ra lệnh cho bàn tay thi hành đủ thứ trò lão nghĩ ra: bắt nó tỉa râu cho lão, gãi tai, đút ngón tay nó vào mũi lão… Nhưng cái lão khoái hơn cả và bắt nó làm liên hồi là đi lấy mấy hạt dẻ lùi trong lửa đang cháy trong lò sưởi ở cuối cái bàn làm việc to tướng.

Bàn tay Chúa thi hành bao nhiêu điều một cách nhẫn nhịn và tự tin, nhưng lâu lâu nó làm hỏng, chẳng hạn như dí bẹp một con ruồi thì chịu. Thế là, để phạt nó, lão bắt nó vào góc tường hí hoáy, và bàn tay chìa ra một ngón sáng viết ngoằn ngoèo bằng nét chữ ba-bi-lon, tùy theo lỗi nặng nhẹ, hai chục, năm chục hay một trăm lần câu nhận tội mình.

Không nên nghĩ rằng bàn tay Chúa có mang một dấu tích riêng biệt nào. Tôi thì đinh ninh rằng bàn tay có màu thiên thanh, còn móng tay thì màu mây hồng, nhưng không phải. Nó giống đúc bàn tay kẻ sử dụng nó. Lúc nào lão bày trò ra với nó, thì nó y hệt như hai bàn tay lão: cũng lông lởm chởm trên mặt lưng, cũng ngón tay ngắn ngủn dày dặn, cũng móng tròn… Và sau này, đến lượt đệ nhất phu nhân sử dụng bàn tay, thì tôi lại nom thấy bàn tay có ngón mảnh mai, lòng tay phớt hồng và móng tay dài bôi đỏ.

Bày trò một lát xong, lão phát hiện ra tôi. Lão hấp háy mắt mấy lượt, bối rối vì bị bắt gặp với món đồ chơi quái dị như thế, hoặc có thể là khó chịu vì tôi chứng kiến lão liên hệ với bàn tay Chúa, lão hấp tấp đút bàn tay vào lại trong hộp giấy dày. “Chú thấy cái gì trong này chưa?” lão vừa chỉ tay vào hộp vừa xẵng giọng hỏi tôi. “Thưa đại tướng, có thấy ạ”, tôi ngập ngừng đáp, lo sợ sự thập thò của mình gây lụy cho mình.

Lão nhìn tôi qua khóe mắt, quay người lại nửa vời và, sau một hồi lâu im tiếng, ý chừng nghĩ rằng có thể tin tưởng tôi được… cuối cùng lão giao cái hộp phát quang cho tôi (tôi phải bọc chiếc hộp vào một lớp giấy vải màu đen để cho ánh sáng khỏi lọt ra khe) rồi hạ lệnh cho tôi đưa chiếc hộp đến bà vợ lão đang cần đến nó cho bài diễn văn bà sẽ đọc chiều nay tại quãng trường Võ Binh. Trước khi ra đi, lão dặn dò thêm là phải coi ngó nó cực kỳ chu đáo, vì đây là một di vật vô giá, ích dụng lớn cho chính thể và lại càng có ích hơn nữa - lời của lão nếu như cái tốp giám mục kia, cái bọn không cha không mẹ ấy! không thường xuyên ngoan cố cãi lời lão, nhưng dù có như vậy, di vật vẫn rất có ích. “Di vật lịch sử đấy”, lão nói lại. Rồi nói tiếp là thừa kế nó từ mấy người Tây Ban Nha đầu tiên đến Châu Mỹ - bàn tay Chúa nhuốm nặng cái tính Tây Ban Nha. Để dẫn chứng, lão moi óc đọc thuộc lòng lời lẽ một người chép sử thế kỷ 16 có viết về vụ tàn sát ở So-luy-la như sau: “Người Tây Ban Nha được bàn tay Chúa dẫn đường và không nghĩ rằng họ phạm trọng tội - vì ý Chúa là đất đai kia phải được chinh phục, cứu độ và tước lấy từ quyền năng của ma quỷ”.


Trước khi bắt đầu bài diễn văn, và một khi hàng tướng tá, huy chương băng dải đầy mình, sắp lớp sau lưng như một hàng cột, Đệ Nhất Phu Nhân mở dây hộp và lấy bàn tay Chúa đưa lên cho mọi người thấy. Công chúng há mồm và chói mắt theo cái ánh sáng tỏa ra từ bàn tay, ngoại trừ một đoàn đàn bà điên chiều nào cũng quanh quẩn bên quảng trường, như thể một ai đó có quyền phép trao trả cho mấy bà những thân nhân mất tích. Người mất tích tái hiện hoặc không tái hiện, nhưng còn trao trả thì chẳng ai trao trả được. Ngoài ra, chính quyền đã lên tiếng rằng, nếu sau một tháng mà họ không xuất hiện, thì có thể chính thức công bố là mất tích và như thế là mấy bà khỏi cần tiếp tục quẩn quanh quảng trường, vì kẻ nào đã chính thức mất tích mà hiện ra lại thì đó là điều trái phép. Nhưng mấy mụ điên không cảm thấy hài lòng… Người ta cũng không thể phủ nhận rằng chính quyền đã làm đủ mọi cách trong vòng luật pháp để giải quyết vấn đề…

Sự có mặt của mấy bà điên khiến cho Đệ Nhất Phu Nhân phập phồng cao độ - bà vốn nhạy cảm, - bởi lẽ bà sợ một sự cố nào làm cho bà vấp váp trong bài diễn văn đã được tập dượt ráo riết mấy ngày nay trước gương soi, nhấn từng câu, ngắm từng động tác, và như thế thì sẽ u ám cho cái ngày sinh nhật thứ ba kỳ diệu này để kỷ niệm cuộc đảo chính đưa chính quyền mới lên thay thế. Nói vậy chứ bàn tay Chúa trấn an bà và tiếp đó, sau khi đã đưa bàn tay Chúa ra cho bốn phương tám hướng đều thấy xong xuôi, bà khai từ:

“Thưa các đại biểu lực lượng vũ trang, quý ông quý bà cùng toàn dân yêu quý. Hôm nay là ba năm kể từ ngày bàn tay Chúa hiện ra với chúng ta để cứu vớt chúng ta”, đó là lời tuyên bố mở đầu. Và chiếc bàn tay bây giờ có vẻ như sung sức và sáng ánh hơn thêm, nó nằm yên phía đằng sau gáy Đệ Nhất Phu Nhân, giúp cho bà có cái vẻ một hình tượng thời cổ đại. Đắc ý với lời phi lộ, bà sửa soạn tiếp lời thì bỗng, giữa đám đông nổi lên giọng ê a đục khàn của một bà điên rõ tiếng mồn một giữa khi diễn giả im tiếng: “Trả con cho tôi”.

Đệ Nhất Phu Nhân luống cuống thấy rõ. Làm sao nói tiếp nếu bị ngắt ngang đúng vào lúc mình định bụng trích dẫn một đoạn của Boóc-giơ mà gã cận vệ phụ trách văn hoá của đức ông chồng khuyến dụ bà chen vào giữa chừng. “Các … bạn thân … mến”, bà ấp úng lấy lại can đảm và nhìn qua nhìn lại kéo dài thì giờ, hy vọng lực lượng đặc biệt cứu gỡ cho mình và tống con mẹ điên này đi bằng công lực. Nhưng, ngay trước lúc lực lượng đặc biệt xuất hiện, một giọng khác lại vang lên từ phía đằng kia quảng trường: “Trả chồng tôi cho tôi”, “Thả con tôi ra”, “Trả em tôi cho tôi”.

Đến đây thì bàn tay Chúa hành sự và, sau khi rời gáy Đệ Nhất Phu Nhân, bắt đầu nhúc nhích các ngón tay phía trên cao khán đài, tiến xuống đám đông, đồng thời lớn dần ra, trương phồng thêm, đành đứng lại, biến đổi màu sắc. Những hòn đạn kim khí hiện ra trên lòng bàn tay, và các ngón cứng lại, long lanh màu nâu thẫm. Trên các đốt ngón tay mọc lên những chiếc đinh tán dài mấy phân, các móng đỏ biến thành họng đại bác, chân móng thành ống nhắm và các khớp thành lỗ châu mai bịt sắt, từ đây ngoi lên những chiếc đầu nón sắt chĩa vào đám đông khắp các hướng. Năm khẩu đại bác bắt đầu khạc đạn, và từng tản người nguyên khối gục ngã vô danh giữa quảng trường. Và trong khi nỗi kinh hoàng xâm chiếm những kẻ toan bài tháo chạy, thì riêng những người đàn bà điên có vẻ thản nhiên trước cuộc tàn sát và vẫn đứng trơ trơ tại chỗ, lớn tiếng gào lên nhất loạt: “Trả chồng con cho chúng tao”, “Buông tha con gái chúng tao ra”, “Để cho chúng tao có cháu”. Nhưng, cuối cùng, đám đàn bà này ngã theo xuống bởi vì bàn tay Chúa, giống hệt thời chinh phạt So-luy-la, đã muốn tận tụy phục dịch Chúa thì không để cho kẻ nào sống sót.

Và đến khi trên quảng trường không còn một mống nào đứng thẳng người thì các họng đại bác trở lại làm móng tay, các ngón mềm mại trở lại, các khớp và da nhũn mềm trở thành lòng bàn tay và bàn tay trăn qua trở lại mặt lưng mặt lòng, như thể có con mắt Chúa nhìn vào; lập tức nó kỳ cọ vào đất và vào một tượng đài dựng lên tưởng niệm một kỵ sĩ lẫy lừng để chùi máu dính vào nó, rồi trở lại nạm ánh vàng cắt thành hình tam giác và đậu xuống bàn tay run rẩy lật bật của Đệ Nhất Phu Nhân.

Hôm sau, tất cả báo chí trong nước đăng tải trên trang nhất hàng chữ sau đây:
“Tại quảng trường Võ Binh mưu sát Đệ Nhất Phu Nhân, một lần nữa bàn tay Chúa giáng xuống giữa chúng ta để cứu giúp chúng ta”.

BỬU Ý dịch
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 400
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Sat Feb 10, 2018 12:14 am



Một Nơi Chốn Khang Trang Vừa Sạch Vừa Đẹp

Ernest Hemingway (Nobel 1954)
Doãn Quốc Sỹ dịch


Thời gian đã trễ, mọi người đã đứng dậy rời tiệm cà phê trừ một ông già còn ngồi dưới bóng một vòm lá cây che ánh điện. Vào ban ngày đường phố bụi bậm nhưng ban đêm sương xuống đã phủ dày, và ông già sở dĩ còn ngồi lại trễ kia vì ông bị điếc, hơn nữa vào giờ tĩnh lặng này của đêm khuya ông cảm thấy có điều gì khác lạ. Hai người hầu bàn ngồi phía bên trong nhìn biết ông già đã hơi xỉn rồi. Họ biết dù ông là một khách hàng tốt nhưng khi quá say ông sẽ rời tiệm mà quên trả tiền, họ đành ngồi nán canh chừng ông vậy.

Một anh hầu bàn nói:
"Ấy tuần trước ông ta định tự vẫn đấy."
"Vì sao vậy?"
"Vì tuyệt vọng!"
"Tuyệt vọng cái gì?"
"Chẳng vì cái gì cả!"
"Sao cậu biết là chẳng vì cái gì cả?"
"Ông ta dư dật tiền bạc mà!"
Cả hai chàng cùng ngồi bên chiếc bàn kê sát vách tường ngay gần cửa ra vào nhìn ra khoảng thềm trống bên ngoài với những bàn trống vắng, trừ bàn có ông già ngồi dưới bóng lá đu đưa theo gió. Một cô gái và một chàng quân nhân đương đi ngang trên đường phố sát đó. Ánh đèn đường phản chiếu lấp lánh trên cổ áo có chữ số bằng đồng của chàng quân nhân. Người con gái rảo bước bên anh, trên đầu không có gì che.

"Nhân viên tuần hành có ý muốn bứng ông ta đi" - một chàng hầu bàn nói.
"Việc gì sẽ xảy ra nếu ông ta được thỏa mãn điều yêu cầu."
"Tốt hơn hết ông ta hãy rời khỏi phố lúc này. Nhân viên tuần hành muốn bắt giữ ông ta đó. Họ đã đi quanh năm phút trước đây rồi!"
Ông già ngồi dưới bóng cây gõ nhanh đáy ly lên mặt chiếc đĩa phía dưới. Chàng hầu bàn trẻ tuổi hơn tiến tới:
"Thưa ông muốn gì ạ?"
Ông già ngẩng nhìn và nói:
"Cho tôi một ly rượu mạnh nữa!"
Chàng hầu bàn nói:
"Ông sẽ bị say đó!"
Ông già ngẩng nhìn, hắn vội đi ngay và nói với anh bạn đồng nghiệp:
"Ông ta sẽ ngồi đó suốt đêm cho mà coi. Tao buồn ngủ rồi. Chẳng bao giờ được ngủ trước ba giờ sáng. Giá như tuần trước ông già thành tựu trong việc tự vẫn."

Chàng hầu bàn cầm chai rượu và một chiếc dĩa nhỏ để đặt ly tự phía trong quầy hàng rồi bước ra ngoài tiến về phía bàn của ông già. Chàng đặt chiếc tách xuống rót rượu đầy ly và nói với ông già điếc:
"Lẽ ra ông nên ra đi vĩnh viễn dịp ông tự vẫn tuần trước!"
Ông già ra hiệu với một ngón tay và nói:
"Rót thêm chút nữa đi!"
Chàng hầu bàn tiếp tục rót rượu vào ly, rượu đầy tràn chảy ào xuống lòng tách bên dưới.
Ông già nói: "Cám ơn!"

Chàng hầu bàn mang chai rượu để lại chỗ cũ bên trong quầy cà phê, rồi tới ngồi cạnh anh bạn đồng nghiệp và nói:
"Trông kìa, ông ta say rồi!"
"Thì đêm nào ông ta chẳng say như vậy."
"Điều gì làm ông ta muốn tự sát?"
"Làm sao tôi biết được!"
"Ông ta đã tự sát như thế nào?"
"Tự treo cổ bằng một dây thừng."
"Ai đã cắt giây cứu ông ta?"
"Cháu gái ông."
"Vì sao họ làm vậy?"
"Vì họ e ngại cho linh hồn ông."
"Ông ta tiền nhiều chừng nào?"
"Nhiều lắm!"
"Ông ta cỡ tám chục tuổi chứ gì?"
"Mong cho ông ấy đi về. Tôi chẳng bao giờ được lên giường trước ba giờ sáng. Giờ nào mới được lên giường đây?"
"Ông ta cứ ngồi nán vậy vì thích vậy."
"Ông ta sống một mình chứ tôi có sống một mình đâu. Bà xã tôi hiện đương nằm chờ tôi trên giường đó!"
"Ông ta cũng đã một thời có bà xã đấy chứ."
"Một bà vợ với ông giờ đây cũng chẳng ích gì."
"Không thể nói thế được. Giá như có một bà vợ ngay bên ông cũng hơn chứ."
"Đứa cháu gái săn sóc ông ta. Cậu nói là cô ta đã cắt giảm nhiều thứ chứ gì."
"Tôi biết."
"Tôi chẳng muốn sống già như vậy! Đời sống người già thật chán ngấy!"
"Không hẳn thế đâu. Ông già này sạch sẽ đấy chứ. Ông ta uống rượu có để rơi vãi giọt nào đâu. Kể cả vào lúc ông đương say như lúc này. Hãy trông ông ta kìa."
"Tôi không thích ngắm ông ta. Tôi muốn ông ta cuốn xéo cho rồi. Ông ta phải biết là người khác còn việc phải làm chứ."

Ông già nhìn qua khung vuông chiếc ly cạn của mình và nói với người hầu bàn:
"Một ly vang nữa đi" - ông vừa nói vừa chỉ vào ly.
Chàng hầu bàn đương nóng lòng muốn về gấp, chạy đến nói chẳng cần cú pháp, cứ như thể cách nói của một người ngoại quốc:
"Thưa hết rượu rồi! Không còn rượu cho đêm nay nữa. Tiệm đã đến giờ đóng cửa."
"Rót cho một ly nữa đi" - ông già nói.
"Không! Hết rượu rồi."
Anh chàng vừa nói vừa lau mép bàn bằng một chiếc khăn lau.
Ông già đứng lên, đếm những dĩa nhỏ, rút chiếc ví da trong túi, trả tiền và có để lại tiền típ.

Anh chàng hầu bàn bèn nhìn ông theo đường xuống phố, dáng một ông già bước đi không vững nhưng vẫn giữ được vẻ đàng hoàng.
Anh chàng hầu bàn không muốn về gấp nêu câu hỏi:
"Sao cậu không để ông ta ngồi nhẩn nha chút nữa uống tiếp? Chưa quá hai giờ rưỡi mà!"
"Tôi muốn về lên giường ngủ!"
"Chậm một giờ có đáng là bao."
"Nhưng với tôi thời gian vào lúc này đáng quý hơn với ông ấy."
"Thì một giờ cũng là một giờ thôi."
"Cậu nói như thể cậu là ông già đó vậy. Ông ta có thể mua một chai vang mang về uống ở nhà."
"Đâu có giống nhau!"
"Đúng, không giống nhau thật!"

Chàng hầu bàn có vợ chờ ở nhà biểu đồng tình với bạn vì chàng không muốn tỏ ra bất công, chàng chỉ muốn lẹ một chút thôi.
"Còn cậu, cậu không sợ về nhà trước giờ như thường lệ chứ?"
"Cậu định thóa mạ tôi sao?"
"Không đâu bạn ơi, rỡn mà!"

Chàng hầu bàn vội vã vươn tay kéo cánh cửa chớp bằng kim khí xuống và nói:
"Không. Tôi có niềm tin mà. Tôi hoàn toàn giữ vững niềm tin."
"Cậu có tuổi trẻ, có niềm tin, và có một việc làm. Cậu có đủ tất cả."
"Vậy bạn, bạn thiếu điều gì nào?"
"Thiếu đủ mọi thứ, trừ việc làm."
"Bạn có tất cả những thứ tôi có."
"Không đâu. Tôi chẳng bao giờ có được niềm tin và cũng không còn trẻ nữa."
"Thôi đi cậu ơi, đừng nói tào lao, khóa cửa lại đi!"
"Tôi giống những kẻ thích ngồi lại muộn nhất trong tiệm cà phê" - chàng hầu bàn nhiều tuổi hơn nói - "ngồi lại muộn nhất với những người không muốn về ngủ, với những người cần được thấy ánh sáng trong đêm."
"Tôi thì muốn về nhà, lên giường nằm đây."
"Chúng ta thuộc hai loại người khác nhau" - chàng nhiều tuổi hơn đáp. Chàng đã khoác xong áo chuẩn bị ra về. "Đây không phải là vấn đề còn trẻ hay không, có niềm tin hay không, mặc dầu đó là những thứ ai cũng quý. Mỗi đêm tôi vẫn chần chừ vào lúc đóng cửa vì nghĩ rất có thể vẫn còn người nào đó đương cần một ly cà phê."
"Bồ ơi, còn những kho rượu vang lâu năm mở cửa bán suốt đêm đó."
"Cậu không hiểu gì cả! Cậu nên nhớ đây là một tiệm cà phê sạch sẽ, khang trang, sáng sủa và còn thêm bóng lá cây đu đưa nữa."
"Thôi chúc bạn ngủ ngon" - chàng hầu bàn trẻ hơn nói.
"Vâng, chúc bạn ngủ ngon" - chàng kia đáp lại.

Chàng vừa đáp vừa tắt điện vừa tự đàm thoại thầm với mình. Đã đành ánh sáng cần thiết nhưng nơi chốn đó cũng còn phải sạch sẽ, dễ thương nữa chứ. Bạn không muốn có nhạc. Hẳn là bạn không muốn có nhạc. Bạn cũng chẳng thể đứng trước một quầy rượu với dáng uy nghi, mặc dầu mọi thứ đều được cung cấp vào giờ đó. Người sợ gì? Không phải là sợ hãi, kinh khiếp. Chẳng có gì cả, đó là điều người biết rõ quá đi. Tất cả là cái chẳng có gì và một người cũng chẳng là cái gì cả. Chỉ có vậy và ánh sáng là tất cả những gì cần thiết -- với một chút sạch sẽ, trật tự. Có người sống trong đó mà chẳng hề cảm thấy nhưng cũng hiểu rằng tất cả chẳng qua chỉ là chẳng có gì cả và rồi chẳng có gì cả - và - chẳng có gì cả và rồi chẳng có gì cả. Cái không có gì cả của chúng ta nằm trong cái không có gì cả, không có gì cả là tên bạn, là vương quốc không có gì của bạn, là vương quốc không có gì tương lai của bạn, trong vương quốc không có gì vì nó là vương quốc không có gì. Hãy cho chúng tôi cái vương quốc không có gì này vương quốc không có gì hàng ngày của chúng tôi và hãy không có gì những cái không có gì của chúng tôi trong khi chúng tôi không có gì những cái không có gì của chúng tôi và hãy không có gì chúng tôi không phải trong cái không có gì, nhưng hãy phân phát chúng tôi từ những cái không có gì. Hoan hô cái không có gì tràn đầy những không có gì, không có gì hãy ở lại với bạn. Anh chàng mỉm cười và đứng trước quầy rượu với một máy ép cà phê rực rỡ nghi ngút bốc hơi.

"Ông dùng gì?" chàng tiếp viên hỏi khách.
"Một không có gì!"
"Lại một tên khùng nữa" - chàng tiếp viên nói vậy rồi quay đi.
"Xin một ly rượu nhỏ" - chàng hầu bàn nói.
Chàng tiếp viên rót cho hắn.
"Ánh sáng tốt lắm và dễ chịu nữa nhưng quầy rượu không được lịch sự!" chàng hầu bàn nói.
Chàng tiếp viên nhìn chàng hầu bàn nhưng không nói gì. Đã quá khuya rồi, còn đối thoại làm gì.
"Bạn muốn thêm một ly nhỏ nữa chăng?" chàng tiếp viên hỏi.
"Thôi! Cám ơn bạn" - chàng hầu bàn nói rồi đi ra.

Chàng không ưa những quầy rượu và những hầm chứa rượu. Một quán cà phê sạch sẽ, sáng sủa là một cái gì khác hẳn. Giờ thì không muốn nghĩ gì xa xôi hơn, chàng chỉ còn muốn trở về với căn phòng của mình. Chàng sẽ nằm sõng soài trên giường và sau cùng với ánh sáng ban mai chàng lại ngủ. Sau cùng chàng tự nhủ với mình rằng hẳn đó chỉ là chứng mất ngủ. Hẳn là nhiều người mắc chứng mất ngủ!


Đọc và Phản ứng:

1. Trong truyện có đoạn nhân vật nhắc liên tiếp, liên tiếp từ ngữ "chẳng có gì cả và chẳng có gì cả." Điều này gợi cho ta cảm thấy cái trống rỗng của cuộc đời, đồng thời cũng gợi cho ta một niềm ngao ngán nào đó.
2. Những đoạn đối thoại trong truyện luôn luôn ngắn gọn như nuốt lời. Điều này gợi cho ta những suy tư chợt đến, chợt đi nơi từng người.
3. Âm sắc của truyện này có một nét đặc biệt, nó như luôn luôn muốn gợi nhớ nơi ta một điều gì vẫn thấp thoáng nơi tiềm thức.
4. Câu chuyện dường như vẫn gắng giữ lấy một niềm tin gì nơi cuộc đời, không hoàn toàn tuyệt vọng, do đó vẫn có ánh sáng của lạc quan, tin tưởng giữa cuộc đời đương gặp nhiều xao động này.
5. Tác giả dùng ngôn ngữ Tây Ban Nha trong lời tán thán "tất cả chẳng qua là chẳng có cái gì cả" cũng là để lời tán thán đó có một màu sắc đặc biệt trong nếp sống Tây Ban Nha. Nếu biểu lộ lời tán thán đó bằng tiếng Anh e rằng kém gợi cảm đi nhiều.
6. Quán cà phê trong truyện được tả là sạch sẽ và dễ thương. Nhưng lại chính là nơi gây bao nỗi niềm suy tư sâu thẳm. Đó là ý nghĩa hài hước tiềm ẩn nơi tác phẩm.
7. Quan điểm truyện chính yếu cũng là gián tiếp công nhận sự kiện nhân vô thập toàn, vạn sự đều có mặt tốt, mặt xấu, trong cái rủi có cái may và ngược lại.

Đúng như nếp suy nghĩ của Hemingway đã thể hiện trong hầu hết những nhân vật của ông: Tuy cuộc đời là không, là trống rỗng đấy, nhưng với con người có hùng tâm, họ vẫn thể hiện được một cuộc sống có chân giá trị và sáng ngời danh dự.

Doãn Quốc Sỹ
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 381
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Sun Feb 18, 2018 10:29 am




Edwidge Danticat ra đời tại thành phố Port-au-Prince, Haiti năm 1969. Đậu Cử nhân Văn Học Pháp tại Barnard College, và Thạc sĩ Nghệ Thuật tại Brown University, cô hiện đang giảng dạy tại New York University (NYU).
Những truyện ngắn của cô đã xuất hiện trên 25 tạp chí văn chương và góp mặt trong một số tuyển tập. Ngoài một số tác phẩm cô biên tập hoặc viết chung với người khác, cô đã xuất bản một tập truyện ngắn và năm cuốn tiểu thuyết. Danticat từng nhận nhiều giải thưởng văn học danh giá, và tác phẩm của cô được dịch sang tiếng Đại Hàn, Ý, Đức, Pháp, Tây Ban Nha và Thụy Điển.


Đàn bà đêm
Edwidge Danticat


Tôi co mình lại vì hơi nóng của đêm trên mặt. Tôi cảm thấy trần trụi như rách toạc da thịt. Đêm nay tôi già hơn nhiều so với hai mươi lăm năm tôi đã sống. Đêm là thời gian mà tôi kinh hãi nhất trong đời. Tuy nhiên nếu tôi muốn sống, tôi phải tùy thuộc vào nó.

Những bóng người chập chờn trên tấm màn ren khi con tôi trèo vào giường. Tôi nhìn nó duỗi mình lớn dậy từ một thằng bé thành một gã đàn ông dong dỏng, chiều cao của cơ thể nó vươn lên ngăn căn nhà một gian thành hai khoảng không gian, hai tấm chiếu, hai thế giới riêng biệt.

Trong khoảnh khắc, tôi suýt lầm tưởng nó với hồn ma của bố nó, một người tình cũ mất dạng từ lâu cùng với những chiếc bóng trong đêm. Giường của nó nằm nơi góc phòng, cách xa tấm sáo rèm mỏng mảnh. Tôi nhìn nó vùi đầu vào gối tạo ra những nếp nhăn. Nó xoay trở thân thể nhỏ nhắn của mình thật cẩn thận để khỏi làm nhàu bộ đồ vía mặc vào Chủ Nhật. Nó quấn chiếc khăn quàng dài đỏ thắm của tôi quanh cổ, chiếc khăn quàng mà tôi làm duyên để quyến rũ khách. Tôi cho nó khoác vào ban tối, để lúc nào nó cũng có một vật gì đó của mẹ khi tôi không ở cạnh.

Tôi nhìn bóng nó đứng im trên màn rèm. Mắt tôi bị hút vào nó, như những vì sao soi xuyên qua những lỗ thủng nhỏ trên mái nhà, những lỗ thủng mà không một vị khách nào sửa giúp, vì họ muốn nhìn mảng trời đêm khi nằm trần truồng trên chiếu.

Một con đom đóm bay quanh phòng, lượn đến với thằng bé mà không đến với tôi. Có lẽ nó là một con muỗi đã học được phép hóa lửa mầu nhiệm. Thằng bé luôn đập chết những con muỗi đậu trên mặt mà không hề tỉnh giấc. Sáng dậy, trên trán nó dính những vết máu nhỏ tí, như thể suốt đêm qua nó đã mải miết hôn một người đàn bà có những vết thương lở loét khắp mặt.

Trong giấc ngủ, nó lăn trở và ú ớ như thể nó đã tìm được niềm khoái lạc trong việc rờ rẫm chính mình. Hai mẹ con chưa hề nói chuyện về tình yêu. Nó cần phải biết những gì đây? Tình yêu là một trong những bài học mà khi lớn lên bạn sẽ biết, như cách bạn biết chiếc giầy nào vừa với bàn chân để khỏi bị khó chịu.

Có hai loại đàn bà: đàn bà ngày và đàn bà đêm. Tôi thì bị kẹt giữa ngày và đêm, kẹt trong một màu đồng vàng hổ phách. Mắt tôi màu đất, gần như màu vàng đồng nếu tôi đứng trong nắng. Tôi muốn bới mái tóc mình thành những lọn xoăn ngay từ khi tôi vừa học được cách bới cả đầu tóc mà không làm cho đôi tay mình tê cứng.

Hầu hết mọi đêm, tôi nghe một lời thầm thì nho nhỏ. Thân tôi tê dại khi tôi tự hỏi sẽ mất bao lâu để thằng bé vượt qua tấm màn và tìm thấy tôi.
Nó gọi, “Mẹ…”.
Thì tôi nói, “Cưng yêu”.

Chẳng hiểu sao vào ban đêm, nó luôn thì thầm gọi tôi. Tôi nghe tiếng o o từ cái máy ra-đi-ô của nó. Âm thanh giòn như tiếng của một lon Coca. Một trong những gã theo đuổi tôi đã cho nó để nhét vào tai lúc đi ngủ trong khi má làm việc.

Ở Ville Rose có một nơi những hồn ma đàn bà cưỡi những con sóng trong khi chải những vì sao rời khỏi tóc họ. Nơi đó, những hồn ma tán tỉnh người đi dạo và để lại những vì sao trên lối đi. Có nhiều đêm, tôi tin rằng những hồn ma đó đang hiện hữu cùng tôi. Tôi cũng biết có những người đàn bà thức trắng đêm để gỡ những mảnh vá mà họ đã khâu được trong ngày. Những người đàn bà này cố ý phá bỏ thành quả cực nhọc của chính họ để luôn có việc để làm. Và khi có việc để làm thì họ sẽ không phải nằm bên linh hồn bất động của người đàn ông còn nồng mùi chăn chiếu với một người đàn bà khác.

Cách thằng bé phản ứng với những cái hôn lên má báo cho tôi biết rằng nó đã ngủ chưa. Nó như con bướm rập rờn bay trên hòn đá trơ trụi nằm giữa dòng suối. Đôi khi tôi thấy trong ánh mắt nó niềm mong đợi cho một điều gì còn to lớn hơn cả chính tôi. Hai mẹ con như hai người tình xa cách, nói dối nhau, dưới những vầng trăng khác nhau.

Khi ngón tay út tôi mơn trớn đường nhân trung dưới mũi nó, thỉnh thoảng lưỡi nó lè ra liếm móng tay tôi. Nó rên lên rồi quay đi chỗ khác, có lẽ nó nghĩ điều đó là một phần của giấc mộng.

Tôi thì thầm kể những câu chuyện về núi của tôi, những mẩu chuyện về những hồn ma đàn bà và những vì sao được cài trên tóc họ. Tôi kể cho nó nghe về những con rắn độc nằm ở một đầu của cầu vồng và chiếc mũ đựng đầy vàng nằm ở đầu kia. Tôi kể rằng nếu tôi vượt qua được dòng suối đầy nhánh dâm bụt trong suốt, tôi sẽ trở thành một nữ thần. Tôi hà hơi nhẹ vào hàng mi dài của nó để xem nó đã ngủ say chưa. Những ngón tay tôi uốn thành những hình chim đậu trên mũi nó. Tôi muốn nó quên đi việc chúng tôi đang sống trong một nơi không có điều gì là vĩnh cửu.

Tôi biết đôi khi nó cũng thắc mắc sao tôi lại quá bận tâm như vậy. Sao tôi lại vẽ những mảnh trăng khuyết lên trán lấm tấm mồ hôi và rắc những bột phấn hồng lên hai gò má. Tôi mặc cho nó bộ đồ đẹp được gấp nếp cho ngày Chủ Nhật, và bảo rằng mình đang chờ đợi một thiên thần dịu dàng, và thiên thần giáng trần nơi nào thì gia chủ nơi đó phải đẹp như những hoa dâm bụt nổi trên dòng suối vậy.

Trong khi ngủ, tay nó kéo tung những nếp gấp. Nó liếm môi vì viên kẹo đường cuối cùng mà nó đã chôm được trong ví của tôi.

Thôi nào, đủ rồi nhé, nếu không răng của con sẽ trở nên đen xỉn mất. Tôi đã quên bảo nó dùng lá bạc hà để chà răng. Nó không biết rằng một ngày nào đó một người đàn bà như mẹ sẽ đánh giá nó bởi độ trắng của hàm răng.

Chẳng mấy chốc nó ngáy nhè nhẹ. Tôi lắng nghe giọng cười bẽn lẽn từ những giấc mơ đẹp nhất của nó. Giấc mơ về những thiên thần phóng qua đầu nó, thỉnh thoảng nhón những gót chân hồng trên mũi nó.

Tôi nghe nó hát thầm ậm ừ một bài hát. Một trong những khúc ca mà họ dạy trẻ con vào những buổi trưa nóng bức trong trường học. Kompè Jako, domé vou? Kìa con bướm vàng, kìa con bướm vàng. Xòe đôi cánh…

Hàng râm bụt lao xao trong đêm, ngoài kia. Tôi hát theo để ru nó ngủ. Tôi đánh thêm một lớp phấn đỏ Ai Cập lên má. Trong phấn có lấp lánh hạt kim tuyến để khách dễ dàng nhận ra tôi trong bóng tối.

Tối nay Emmanuel sẽ đến. Ông ta là bác sĩ, ông thích đàn bà mông to, mông tôi tuy nhỏ nhưng vẫn hấp dẫn. Ông đến vào những ngày thứ Ba và thứ Bảy. Ông mang hoa đến, như thể để tán tỉnh tôi. Tối nay ông ta tặng tôi những cánh hoa giấy. Hoa luôn luôn là một điều ngạc nhiên thú vị.

Tôi hỏi, “Vợ anh thế nào?”
“Bà ấy không đẹp như em.”

Những ngày thứ Hai và thứ Năm là phiên của một tay chơi đàn ắc-coóc-đi-ông tên Alexandre. Hắn thích giả tiếng của cây đàn ắc-coóc-đi-ông bằng miệng vào tai tôi. Suốt thời gian còn lại trong đêm, hắn lắc lư cạ cái đầu trái gấc lên rốn tôi.

Nếu thằng bé thức giấc, tôi đã chuẩn bị sẵn những lời ngụy biện. Rồi một ngày nào đó, nó sẽ đủ lớn để không bị mẹ xí gạt rằng người đàn ông lang bạt này là một ảo ảnh, và thân thể trần truồng ấy chỉ là một giấc mơ. Tôi sẽ nói với nó rằng bố nó đã đến, rằng một thiên thần đã mang ông về từ thiên đường trong chốc lát.

Những ngôi sao chậm rãi trượt khỏi lỗ thủng trên mái nhà trong lúc ông bác sĩ chìm sâu, sâu mãi dưới thân tôi. Ông ta nhịp mạnh và hổn hển thở. Tôi bịt miệng ông lại để ông khỏi gào lên. Tôi thấy gương mặt vợ ông trong những giọt mồ hôi chảy ròng xuống cằm ông. Ông ra về, cả người đẫm sương tiết ra từ da thịt chúng tôi. Ông gọi tôi là trận tuyết lở, là thác nước...

Sau khi ông về lúc rạng sáng, tôi ra ngoài ngồi hút một điếu thuốc lá vấn. Tôi nhìn những người đàn bà làm công đi bộ thành hàng đến khu chợ trời cách nơi họ ở gần nửa ngày đường. Tôi cám ơn những vì sao, vì ít gì đi nữa thì tôi cũng hưởng được những ban ngày cho riêng mình.

Khi trở vào nhà, tôi nghe tiếng thở đều đều của thằng bé. Tôi vội áp mặt vào môi nó để cảm nhận hơi ấm bình yên thoát ra từ miệng nó.
“Mẹ ơi, con lại hụt mất những thiên thần nữa rồi…”. Nó thì thầm âu yếm, với tay ôm lấy cổ tôi.

Tôi trườn vào giường, nằm xuống bên nó, và ru nó ngủ lại.
“Đừng lo, con yêu. Các thiên thần có cả cuộc đời để đến với chúng ta mà.”

Thận Nhiên dịch 

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 331
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Mon Mar 05, 2018 4:56 pm



Nhà văn W. Somerset Maugham - Ảnh: Internet

William Somerset Maugham (1874-1965) là một nhà văn Anh nổi tiếng, viết nhiều, với bút pháp hiện thực sắc sảo, soi rọi những khía cạnh mâu thuẫn nghịch chiều của cuộc sống, phác hiện những nét sâu kín của bản tính con người. Lối văn của ông trong sáng, khúc chiết, ông lại có biệt tài dẫn truyện hấp dẫn, lý thú, đặc biệt phong cách của ông thường hài hước, sâu cay. Là nhà văn đa tài, ông vừa là tiểu thuyết gia có tiếng, vừa là người viết truyện ngắn bậc thầy, và cũng là một kịch tác gia thành công.

Truyện ngắn “Thầy quản giáo đường” (The Verger) dưới đây thu hút độc giả bằng nghệ thuật lạ hóa được dẫn dắt qua tình huống nghịch lý không biết chữ vẫn thành công trong cuộc sống ở giáo đường cũng như kinh doanh. Dí dỏm, hài hước, đặc biệt cách kết thúc bằng tiếng cười mỉa hình như ông muốn người đọc khám phá một kiểu người thông minh bẩm sinh với kỹ năng sống tuyệt vời. Xử lý nghệ thuật bằng cách chọn điểm nhìn bên trong nhân vật chính phối kết với những hội thoại dí dỏm ngầm cũng là một nét thú vị của văn W.S. Maugham.


Thầy quản giáo đường
W. Somerset Maugham (Anh)


Chiều hôm ấy, có lễ rửa tội diễn ra tại Nhà thờ Thánh Peter, Quảng trường Neville, và thầy quản nhà thờ Albert Edward Foreman vẫn còn vận chiếc áo choàng quản giáo đường của ông trên mình. Ông vẫn để dành tấm áo mới của ông, với những nếp gấp còn nguyên vẹn và cứng đơ như thể nó được may từ chất đồng lưu niên, chứ không phải bằng len dệt từ lông lạc đà alpaca Nam Mỹ, nó chỉ chuyên dùng vào dịp các buổi cưới xin, ma chay (Nhà thờ Thánh Peter, Quảng trường Neville, là một nhà thờ được tầng lớp thượng lưu ái mộ những cuộc lễ này lắm!) và hiện giờ ông chỉ mặc chiếc áo hạng thứ mà thôi. Ông vận chiếc áo này, vẻ tự mãn, vì nó là biểu tượng trang nghiêm của chức vị ông, và nếu không mặc nó (đó là những khi ông phải cởi nó ra để về nhà), thì ông có cái cảm giác khó chịu là trang phục chưa được chỉn chu cho lắm. Ông chịu khó giữ gìn nó, ông tự tay là nó, gấp nó rất cẩn thận. Trong 16 năm ông làm thầy quản tại nhà thờ này, ông đã có một lô những chiếc áo như vậy, mà ông cũng không nỡ lòng nào quẳng chúng đi khi chúng đã sờn cũ. Lô áo ấy, đầy đủ không thiếu một chiếc, được gói gọn gàng bằng giấy dầu, nằm trong các ô kéo dưới cùng của chiếc tủ đứng kê trong phòng ngủ nhà ông. 

Thầy quản lặng lẽ làm việc, luôn chân, luôn tay, hết thay chiếc nắp gỗ ván sơn đậy trên bình nước thánh bằng đá cẩm thạch, lại chuyển đi một chiếc ghế mới được kê thêm cho một bà già ốm yếu, hom hem…, đoạn ông đợi cho cha sở xong xuôi mọi việc trong căn phòng áo lễ để ông có thể vào dọn dẹp trong đó rồi ra về. Ngay lúc ấy, ông trông thấy cha sở bước qua thánh đường, quỳ gối trước ban thờ chính, đoạn bước xuống lối đi giữa hai dãy ghế, nhưng ông vẫn còn vận chiếc áo choàng hành lễ của ông.

“Ông ta vẫn còn quanh quẩn ở đây để làm cái quái gì thế nhỉ?” Thầy quản tự hỏi, “ông ấy không biết là đã đến giờ mình phải về nhà uống trà rồi sao?”
Mãi tới gần đây cha sở mới được bổ nhiệm về nhà thờ này, một con người hoạt bát, da dẻ hồng hào, ngoài 40, nhưng Albert Edward vẫn còn tiếc luyến người tiền nhiệm của ông ta, vị cha sở trước kia, đó là một thầy tu thuộc trường phái cổ, ông giảng các bài thuyết pháp một cách chậm rãi bằng một giọng sang sảng và thường xuyên đi dự tiệc với những giáo dân thuộc dòng dõi quý tộc. Ông ấy thích cứ giữ nguyên mọi thứ trong nhà thờ, ông cũng không bao giờ gắt gỏng om sòm; ông không giống vị cha sở mới đến này, người chỉ thích chõ mũi vào tất cả mọi chuyện. Tuy vậy, Albert Edward là người biết chịu đựng. Nhà thờ Thánh Peter tọa lạc giữa một giáo xứ ôn hòa, giáo dân là lớp người rất ngoan đạo. Vị cha sở mới này từ Khu Đông tới và người ta không kỳ vọng ông ta sẽ có thể hòa nhập ngay lập tức với tất cả lối sống dè dặt, kín đáo của đám con chiên quý tộc này.
“Làm cái quái gì mà cứ nhặng xị ngậu cả lên!”, thầy quản Albert Edward tự nhủ. “Thôi được, cứ để cho ông ta có thời gian, rồi ông ta sẽ tự rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân mình.”

Khi cha sở bước xuống lối đi giữa hai hàng ghế, ông dừng lại ở khoảng cách đủ để nói với thầy quản mà không cần phải cao giọng quá mức cần thiết tại nơi thờ tự tôn nghiêm này.
“Foreman, ông hãy vào phòng áo lễ một phút, tôi có chuyện muốn nói với ông”.
“Vâng, thưa cha”.
Viên cha sở chờ cho ông theo kịp rồi cả hai cùng bước ngược lối đi.
“Tôi cho là buổi lễ rửa tội diễn ra rất tốt đẹp, thưa cha. Đứa bé nín khóc ngay lúc cha bế nó, trông thật ngộ nghĩnh”.
“Tôi nhận thấy chúng thường nín bặt,” cha sở nói, hơi nhếch mép cười. “Xét cho cùng, tôi đã làm biết bao lần như thế với chúng rồi”.
Niềm kiêu hãnh vẫn bị ghìm nén đối với cha sở là hầu như ông có thể làm cho một đứa bé đang khóc thút thít phải nín bặt bằng cái cách ông bế bổng nó lên, và ông cũng không phải là không thấy sự thán phục vui vui mà các bà mẹ và các cô hầu quan sát ông nhẹ nhàng ôm đứa bé vào chỗ thụng của chiếc áo tế. Thầy quản biết cứ tâng bốc ông ta là ông ta sẽ hài lòng.

Viên cha sở tiến trước thầy quản vào phòng áo lễ. Albert Edward hơi ngạc nhiên khi thấy có cả hai uỷ viên quản lý tài sản của giáo hội cũng có mặt trong đó. Ông không hề trông thấy hai người này vào từ lúc nào. Họ nhã nhặn gật đầu chào ông.
“Xin chào cha giám! Xin chào cha giám!”, ông chào từng người một.
Cả hai đều là những người luống tuổi, đã là uỷ viên quản lý tài sản ngay từ khi Albert Edward vào làm quản nhà thờ này. Giờ đây họ ngồi tại một chiếc bàn ăn rất đẹp mà nhiều năm trước đây, cha sở cũ đã đem từ xứ Italia xa xôi về. Cha sở ngồi xuống chiếc ghế trống. Albert Edward đứng đối diện với ba người, chiếc bàn ngăn đôi giữa ông một bên và ba người kia một bên, hơi thấp thỏm, bứt rứt, phân vân không biết có chuyện gì. Ông vẫn còn nhớ cái lần người đánh đàn organ gặp rắc rối và bọn họ đã ra sức bưng bít, ỉm mọi chuyện đi. Trong một nhà thờ như Nhà thờ Thánh Peter, Quảng trường Neville, họ không thể để cho có chuyện xì-căng-đan được. Trên khuôn mặt đỏ hồng của cha sở là một vẻ mặt nhân từ, cương quyết, nhưng hai người kia thể hiện nét mặt hơi bối rối trông thấy.

“Hẳn là ông ta đã cằn nhằn, rầy la họ gì đây,” Albert Edward tự nhủ, “hẳn ông ta đã buộc họ làm điều gì đó, mà họ không muốn đây. Đúng là như thế, ngẫm mà xem mình nói chớ có sai”.
Nhưng những ý nghĩ của ông không hiện lên khuôn mặt in đậm những nét sáng sủa, phương phi của ông. Ông đứng đó, với thái độ tôn kính, nhưng không khúm núm, xun xoe. Ông đã bắt đầu cuộc đời đi làm, ở toàn những nơi tốt cả, trước khi ông được bổ nhiệm vào chức vị này trong giáo hội, vả lại cách đi đứng, cư xử của ông không hề có điểm gì chê trách được. Thọat đầu, ông làm chú tiểu đồng tại tư thất một hoàng thân là thương gia, ông đã tiến dần lên chức người hầu thứ tư, rồi thứ nhất, trong một năm; ông đã đơn thương độc mã làm quản gia cho một phu nhân huân tước goá chồng; rồi cho đến trước khi vào làm việc tại Nhà thờ Thánh Peter này, ông còn làm quản gia, với hai người giúp việc dưới quyền, tại nhà một viên đại sứ về hưu. Ông cao, gầy, từ tốn và nghiêm nghị. Trông ông, nếu không giống một công tước thì ít nhất cũng giống một diễn viên thuộc trường phái cổ, chuyên đóng các vai công tước. Ông khéo xử sự, cương quyết và tự tin. Tính cách của ông không bắt bẻ vào đâu được.

Cha sở nhanh chóng đi ngay vào vấn đề.
“Ông Foreman ạ, chúng tôi có nhận được một tin không lấy gì làm vui cho lắm phải nói với ông. Ông đã ở đây nhiều năm và tôi cho rằng các vị ủy viên đây đều đồng ý với tôi rằng ông đã làm tròn trách nhiệm ở cương vị của ông khiến tất cả mọi người có liên quan đều cảm thấy hài lòng”.
Cả hai vị uỷ viên đều gật đầu tán thưởng.
“Nhưng hôm nọ, tôi được biết một điều vô cùng khác thường và tôi cảm thấy có nhiệm vụ phải truyền đạt lại thông tin đó cho hai quý vị đây. Tôi kinh ngạc khi biết tin là ông không hề biết đọc, cũng chẳng biết viết nữa”.
Nét mặt của thầy quản nhà thờ không hề lộ vẻ gì bối rối, lúng túng cả.
“Cha sở trước đây cũng đã biết chuyện này, thưa cha”, Albert Edward đáp. “Cha ấy nói điều đó chẳng hề chi. Cha luôn luôn nói rằng thiên hạ ngày nay biết quá nhiều chữ nghĩa, không hợp với sở thích của cha”.
“Đây là điều đáng kinh ngạc nhất mà tôi chưa hề được nghe thấy bao giờ”, vị trưởng viện thốt lên. “Có phải ông đã làm thầy quản nhà thờ này 16 năm trời mà chưa bao giờ học đọc, học viết không?”

“Tôi bắt đầu đi làm hồi tôi 12 tuổi, thưa cha. Thoạt đầu, một người đầu bếp cố dạy tôi học, nhưng hình như tôi không có năng khiếu học hành, thế rồi hết việc này tiếp đến việc khác, tôi không còn có thời giờ nữa. Mà tôi cũng chưa bao giờ thực sự thấy có nhu cầu cần phải học cả. Tôi cho rằng nhiều người trong đám thanh niên ngày nay lãng phí quá nhiều thời gian vào việc đọc sách vô bổ, trong khi họ có thể làm những việc khác có ích hơn”.
“Thế ông không muốn biết tin tức à?” một vị uỷ viên quản lý lên tiếng hỏi. “Ông không bao giờ thấy cần phải viết một bức thư ư?”

“Không ạ, thưa ngài, tôi vẫn phấn đấu làm tốt mọi việc mà chẳng cần chữ nghĩa gì cả. Và những năm gần đây cho tới giờ, người ta đăng đầy hình ảnh trên các báo chí, chỉ cần xem những hình ảnh đó là tôi có thể biết được khá rõ những gì đang diễn ra. Nhà tôi là một người được học hành; nếu tôi muốn viết một bức thư, bà ấy lại viết giúp tôi. Tôi có cá cược gì đâu mà cần đến chữ nghĩa”.
Hai vị uỷ viên bối rối liếc nhìn vị cha sở, rồi cùng cúi gằm xuống bàn.

“Thế này nhé, ông Foreman ạ, tôi đã trao đổi kỹ vấn đề này với các vị đây và cả hai đều hoàn toàn nhất trí với tôi rằng tình hình như vậy là không ổn, không thể được. Tại một giáo đường như Nhà thờ Thánh Peter, Quảng trường Neville, chúng tôi không thể để có tình trạng một thầy quản không biết đọc biết viết được”.
Khuôn mặt gầy, tai tái của Albert Edward bỗng đỏ bừng, ông cảm thấy khó chịu trên đôi chân của ông, nhưng ông vẫn không đáp lại.

“Thông cảm với tôi, ông Foreman, tôi không có gì phàn nàn về ông cả. Ông hoàn thành công việc của mình rất xuất sắc. Tôi đánh giá cao nhất về cả tính cách lẫn năng lực của ông; nhưng chúng tôi không có quyền cho phép mình liều lĩnh, nhỡ có chuyện gì đó có thể xảy ra do tình trạng mù chữ đáng tiếc của ông gây nên thì nguy to. Đây vừa là vấn đề cẩn trọng vừa là nguyên tắc nữa”.
“Thế ông không thể học được à, ông Foreman?” vị trưởng viện hỏi.

“Không ạ, thưa cha, tôi e rằng tôi không thể học được, nhất là vào lúc này. Cha thấy đấy, tôi không còn trẻ như xưa kia nữa, và nếu như hồi còn trẻ tôi đã không thể nhét chữ vào đầu mình, thì bây giờ chắc tôi khó có thể học được”.
“Chúng tôi không muốn đối xử khắt khe với ông, ông Foreman ạ”, cha sở nói. “Nhưng tôi và hai vị uỷ viên quản lý đây đã quyết định rồi. Chúng tôi sẽ cho ông 3 tháng để học, và cuối thời gian 3 tháng đó, nếu ông vẫn không đọc và viết được, thì tôi e rằng ông sẽ phải thôi việc”.

Trước đây, Albert Edward không hề ưa vị cha sở mới này. Ông cho rằng người ta đã phạm một sai lầm khi họ bổ nhiệm ông ta về Nhà thờ Thánh Peter. Vì ông ta không phải là “típ” người mà họ mong muốn với một giáo đoàn quý phái, sang trọng như thế này. Giờ đây, Albert Edward ưỡn thẳng người. Ông biết giá trị của mình và ông sẽ không cho phép mình bị người khác o ép. “Tôi rất lấy làm tiếc, thưa cha. Tôi e rằng như thế không ổn. Tôi đã có tuổi rồi, không thể học hành được nữa. Tôi đã sống bao nhiêu năm nay mà không cần biết đọc, biết viết. Tôi cũng không muốn ngợi ca mình; tự khen là điều không nên. Nhưng tôi không ngại nói rằng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ của mình trong trạng thái mà ý Chúa đã đặt tôi trong đó; cho dù bây giờ tôi có khả năng học được đi chăng nữa, thì tôi cũng không biết là tôi có còn muốn học nữa hay không”.
“Trong trường hợp đó, ông Foreman à, tôi e rằng ông sẽ phải ra đi thôi”.

“Vâng, thưa cha, tôi hiểu rất rõ điều đó. Tôi rất vui được làm điều đó, ngay khi cha tìm được người thế chân tôi, tôi sẽ xin nghỉ ngay”.
Tuy vậy, khi Albert Edward đóng cửa, với thái độ lễ phép thường lệ, sau lưng cha sở và hai vị uỷ viên quản lý, ông không còn giữ được cái vẻ thản nhiên điềm tĩnh mà ông đã thể hiện lúc đột nhiên ông bị giáng một đòn chí mạng nữa, giờ đây đôi môi ông run lên. Ông chậm rãi quay trở lại phòng áo lễ rồi treo chiếc áo choàng của ông lên đúng cái móc dành cho nó. Ông thở dài não nuột khi ông nghĩ tới những đám tang lớn, những đám cưới sang trọng mà ông đã từng được chứng kiến. Ông thu dọn mọi thứ, khoác áo, tay cầm mũ, rồi bước xuống lối đi giữa hai hàng ghế. Đoạn ông khoá trái cửa nhà thờ sau lưng ông. Ông đi bộ ngang qua quảng trường, nhưng giữa những ngổn ngang, suy nghĩ buồn rầu, ông đã không đi theo con đường dẫn ông về nhà, nơi có ấm trà đặc, thơm nóng, đang chờ đợi ông, ông đã rẽ nhầm đường. Ông chậm rãi bước dọc theo dãy phố. Trái tim ông nặng trĩu. Ông không biết rồi đây ông sẽ làm gì với chính bản thân ông nữa. Ông không thể hình dung nổi cái ý nghĩ quay trở lại cuộc sống gia đình; sau khi ông làm chủ bản thân ông trong bao nhiêu năm ấy, bởi vì cho dù vị cha sở và các uỷ viên quản lý có thể nói những gì họ muốn đi chăng nữa, nhưng chính ông mới là người thực sự điều hành Nhà thờ Thánh Peter, Quảng trường Neville, cho nên ông khó có thể hạ mình bằng cách chấp nhận tình trạng như vậy. Ông đã tiết kiệm được một món tiền kha khá, nhưng không đủ để cứ dựa vào đó mà sống không cần làm gì cả, trong khi giá sinh hoạt dường như mỗi năm một đắt đỏ hơn. Trước kia ông chưa bao giờ phải bận tâm suy nghĩ đến những vấn đề như vậy. Các thầy quản Nhà thờ Thánh Peter, giống như những đức giáo hoàng của Thành Roma, là những người phụng sự Chúa tại vị suốt đời. Ông vẫn thường mường tượng ra cái cảnh cha sở nhắc đến công lao lâu năm, trung thành và tính cách gương mẫu của ông quản nhà thờ quá cố của họ, ông Quản Albert Edward Foreman, trong bài giảng đạo tại buổi lễ ban chiều ngày Chúa nhật đầu tiên sau khi ông qua đời. Ông lại thở dài não nuột.

Albert Edward là người không hay hút thuốc lá, đồng thời cũng là người tuyệt đối không uống rượu, nhưng chỉ trong một phạm vi nào đó thôi, có nghĩa là ông cũng thích có một cốc bia trong bữa cơm chiều, và khi nào thấm mệt, ông cũng tự cho phép mình được thưởng thức một điếu thuốc lá. Chính lúc này đây, một điếu thuốc có thể an ủi ông, có thể làm cho ông cảm thấy khuây khỏa, mà ông lại không đem theo thuốc bên mình, cho nên ông nhìn quanh xem có hiệu bán thuốc lá nào không để ông mua một bao Gold Flake. Nhưng ông không tìm ra được một cửa hiệu nào gần đó, và vì thế ông lại tiếp tục đi xa hơn chút nữa. Đó là một dãy phố dài, có đủ các loại cửa hàng, cửa hiệu, nhưng tuyệt nhiên không hề có một hiệu nào bán thuốc lá cả.

“Lạ thật!”, Albert Edward thầm thốt lên.
Để bảo đảm cho chắc chắn, ông đi đi lại lại dọc suốt dãy phố ấy một lần nữa. Không, không còn nghi ngờ gì nữa về chuyện này. Ông dừng bước, vừa nhìn quanh vừa suy nghĩ. “Mình không thể là người duy nhất đi dọc con đường dài ngoẵng này muốn có được một điếu thuốc để hút”, ông tự nhủ. “Mình chẳng cần phân vân, hồ nghi gì, nhưng chắc chắn người nào có được một cửa hiệu nho nhỏ ở đây thì kiếm tiền phải biết. Chỉ cần bán thuốc lá và bánh kẹo thôi”.
Ông chợt giật mình.
“Đó là một ý nghĩ hay”, ông tự nhủ. "Thật lạ là những ý tưởng hay thường nảy ra trong óc ta khi ta ít ngờ tới nhất”.
Ông quay gót, trở về nhà uống trà.
“Chiều nay, mình có vẻ trầm ngâm, ít nói, Albert”, vợ ông nhận xét.
“Mình đang suy nghĩ”, ông đáp.

Ông cân nhắc, cứu xét đủ mọi góc cạnh của vấn đề, rồi ngày hôm sau ông lại đi dọc theo dãy phố ấy một lần nữa, và may mắn thay, ông tìm thấy một cửa hiệu nhỏ cho thuê, đúng như mong muốn, trong kế hoạch của ông. Hai mươi bốn giờ sau, ông thuê luôn cửa hiệu đó, và một tháng sau ông vĩnh viễn rời Nhà thờ Thánh Peter, Quảng trường Neville. Albert Edward Foreman mở cửa hiệu kinh doanh thuốc lá và bán báo. Vợ ông cho rằng đó là một bước sa cơ, xuống dốc dễ sợ, sau khi đã làm quản Nhà thờ Thánh Peter, nhưng ông đáp ta phải chuyển biến theo thời cuộc, “thời thế, thế thời, thời phải thế”, nhà thờ ngày nay không còn như xưa nữa, và do đó, của thiên ta phải trả địa thôi.
Albert Edward làm ăn rất phát đạt. Ông kiếm được nhiều tới mức sau một năm gì đó, ông chợt nảy ý nghĩ ông có thể thuê thêm một cửa hiệu nữa và mướn người quản lý. Ông tìm kiếm một đường phố dài khác mà không có một hiệu bán thuốc lá nào, và khi đã tìm được rồi, với một cửa hiệu cho thuê, ông thuê liền và mở cửa hàng bán luôn. Cửa hiệu này cũng thành công. Rồi ông lại chợt nảy ý nghĩ, nếu ông có thể quản hai cửa hiệu, thì chắc hẳn ông cũng có thể quản nửa tá cửa hàng, và thế là ông bắt đầu cuộc săn lùng khắp thủ đô Luân-Đôn; bất cứ khi nào ông thấy có một đường phố dài, không có cửa hàng bán thuốc lá, lại có cửa hiệu cho thuê là ông thuê liền. Trong vòng mười năm, ông đã mở có đến một chục cửa hiệu, và công việc kinh doanh của ông hái ra tiền. Cứ mỗi sáng thứ hai hàng tuần, ông lại làm một vòng tới các cửa hiệu của ông, để thu gom số tiền kiếm được trong tuần, rồi đem gửi nhà băng.

Một buổi sáng, khi ông tới ngân hàng để gửi tiền gồm một bọc toàn tiền giấy và một túi nặng đựng toàn tiền đồng, thì người thủ quỹ nói giám đốc ngân hàng muốn gặp ông. Ông được dẫn vào văn phòng và viên giám đốc bắt tay ông.
“Ông Foreman, tôi muốn trao đổi với ông về số tiền ông gửi tại ngân hàng chúng tôi. Ông có biết chính xác số tiền đó lên đến bao nhiêu rồi không?”
“Không chính xác tới từng đồng, thưa ông, nhưng tôi cũng có thể ang áng tổng số tiền ấy của tôi là bao nhiêu”.
“Không kể số tiền ông gửi sáng nay, thì tổng số lên tới hơn ba mươi ngàn bảng Anh rồi. Đó là một khoản tiền rất lớn ký gửi tại ngân hàng; tôi thiết nghĩ ông nên đem số tiền đó đưa vào đầu tư thì hơn”.
“Tôi không muốn liều lĩnh chuốc lấy rủi ro, thưa ông. Tôi biết cứ gửi ngân hàng là an toàn hơn cả”.

“Ông không việc gì phải lăn tăn, lo lắng gì hết. Chúng tôi sẽ chuyển cho ông một danh mục liệt kê toàn những cổ phiếu tuyệt đối an toàn. Chúng sẽ đem lại cho ông một lãi suất cao hơn ngân hàng chúng tôi có thể trả cho ông”.
Một thoáng bối rối hiện trên khuôn mặt quắc thước của ông. “Tôi chưa bao giờ giao dịch có dính dáng đến cổ phiếu với chứng khoán cả; tôi xin gửi gắm tất cả trong tay các ông”, ông nói.
Viên giám đốc ngân hàng mỉm cười. “Chúng tôi xin lo liệu mọi thứ, ông đừng lo. Tất cả những gì mà ông phải làm lần sau ông tới là chỉ phải ký vào các giấy chuyển khoản mà thôi”.
“Tôi có thể làm điều đó được thôi”, Albert nói, giọng không quả quyết lắm. “Nhưng làm thế nào tôi biết được là tôi ký những giấy tờ gì?”

“Tôi cho rằng hẳn ông phải biết đọc chứ”, viên giám đốc ngân hàng nói, có vẻ hơi sẵng giọng một chút.
Ông Foreman mỉm nụ cười hiền hòa, xoa dịu.
“Vâng, thưa ông, chính thế đấy. Vấn đề là ở chỗ ấy đấy. Tôi không biết đọc. Tôi biết, chuyện này nghe có vẻ hơi khôi hài, nhưng thực tế là như vậy đấy. Tôi không biết đọc mà cũng chẳng biết viết, chỉ ký mỗi tên tôi thôi, mà tôi cũng chỉ học ký mỗi tên tôi khi tôi bước vào kinh doanh”.
Viên giám đốc ngạc nhiên tới mức ông ta nhổm ngay dậy khỏi ghế ông ta đang ngồi.
“Đây là chuyện lạ đời nhất mà tôi chưa từng nghe thấy bao giờ”.
“Ông thấy đấy, thưa ông, vấn đề là như thế này, tôi không có cơ hội được học hành cho tới khi đã quá muộn và rồi tôi cũng không muốn học nữa. Tôi có hơi cứng đầu cứng cổ, bướng bỉnh tí chút thôi”.

Viên giám đốc trân trân nhìn ông, như thể ông là một con quái vật thời tiền sử vậy.
“Ý ông muốn nói rằng ông đã xây dựng cả cái cơ ngơi kếch xù này, gom góp được cả một gia tài ba mươi ngàn bảng Anh, mà lại không biết đọc biết viết gì, có đúng thế không ạ? Lạy Chúa lòng lành, ông ơi, nếu như ông biết đọc, biết viết thì giờ đây ông đã làm nên đến gì rồi nhỉ?”.

“Tôi có thể trả lời cho ông biết ngay, thưa ông”, ông Foreman nói, mỉm nụ cười trên khuôn mặt vẫn còn nét quý tộc của ông. “Tôi sẽ làm thầy quản giáo đường của Nhà thờ Thánh Peter, Quảng trường Neville, thế thôi!”

ĐIỀN THANH
(dịch từ nguyên bản tiếng Anh
truyện ngắn nhan đề The Verger)
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 331
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Thu Mar 15, 2018 8:04 am



ÔNG LÃO BÊN CẦU
Ernest Hemingway
(Nobel 1954)


Một ông lão đeo đôi kính gọng thép với áo quần đầy bụi ngồi bên vệ đường. Một chiếc cầu nổi bắc qua sông và xe chở hàng, xe tải, và đàn ông, đàn bà và trẻ con đang vượt qua. Mấy chiếc xe lửa chở hàng lắc lư trườn lên bờ dốc khi qua khỏi cầu có binh lính bắt tay vào căm xe phụ đẩy hộ. Những chiếc xe tải chuyển bánh rồi rít ken két thoát chạy lăn phía trước. Những người nông dân lê chân trong bụi đất ngập đến mắt cá. Nhưng ông lão vẫn ngồi đấy, không nhúc nhích. Lão quá mệt mỏi, không thể nào đi tiếp.

Nhiệm vụ của tôi là băng qua cầu, trinh sát tình hình đầu cầu bên kia và do thám bước tiến của quân địch. Tôi hoàn thành công tác rồi quay về. Bấy giờ chỉ còn vài chiếc xe ngựa và một ít người đi bộ, nhưng ông lão ở đó, vẫn nguyên đó.
- Bác từ đâu đến? - tôi hỏi lão.
- Lão từ San Carlos, - lão đáp và mỉm cười.
Đó là làng quê của lão và vì thế lão cảm thấy vui khi nhắc đến tên quê và lão mỉm cười.
- Lão chăn loài vật, - ông lão giải thích.
- Ờ - tôi nói, mà chưa hiểu gì mấy.
- Ừ - lão nói, - Lão ở lại, anh biết không, là để chăn loài vật. Lão là người cuối cùng rời làng San Carlos.
Trông ông lão chẳng có vẻ gì là người chăn cừu hoặc nuôi gia súc và tôi nhìn bộ đồ đen lem luốt với khuôn mặt xám bẩn bụi đường cùng đôi kính gọng thép của lão mà nói:
- Chúng thuộc loại nào?
- Nhiều loại, lão trả lời, và lắc đầu. - Lão đành phải để chúng lại.

Tôi canh chừng chiếc cầu và miền đồng bằng châu thổ Ebro trông hệt như cảnh ở châu Phi và tự hỏi chẳng biết còn bao lâu nữa đây chúng tôi mới nhìn thấy quân thù và mải miết lắng tai nghe ngóng những tiếng động đầu tiên báo hiệu sự cố đầy huyền bí được gọi là giáp mặt, và ông lão vẫn ngồi đó.

- Chúng là những loại nào? tôi hỏi.
- Có ba loại cả thảy, - ông lão giải thích, - Có hai con dê và một con mèo và có cả bốn cặp bồ câu.
- Và bác đã phải bỏ chúng lại? - tôi hỏi.
- Ừ. Bởi vì pháo. Ông đại úy bảo lão phải đi bởi vì pháo mà.
- Còn bác không có gia đình à? - tôi vừa hỏi vừa nhìn xem phía bên kia cầu nơi một vài chiếc xe ngựa cuối cùng đang vội vã xuống dốc bến.
- Ừ. - Lão đáp, - chỉ là sống với mấy con vật mà lão đã kể. Giống mèo thì dĩ nhiên ổn thôi. Con mèo thì có thể tự xoay xở lấy. Nhưng lão không biết điều gì sẽ xảy ra với những con khác.
- Bác theo phái nào? - tôi hỏi.
- Lão thì không có chính kiến, - lão đáp. - Lão đã bảy mươi sáu rồi. Lão đã đi được mười hai cây số rồi và bây giờ lo nghĩ mình có thể không đi nổi nữa.
- Chỗ này chẳng an toàn gì mà dừng chân, - tôi nói. - Nếu bác còn ráng được thì hãy còn mấy chiếc xe tải trên chỗ con đường rẽ vế hướng Tortosa.
- Lão chờ một lát nữa, - lão nói, - và rồi lão sẽ đi. Những chiếc xe tải đi đâu?
- Đến Barcelona, - tôi nói lão.
- Lão không biết ai ở mạn đó, - lão nói, - nhưng cảm ơn anh rất nhiều. Một lần nữa cảm ơn anh rất nhiều.

Lão lơ đãng và mệt mỏi nhìn tôi, rồi nói như chia sẻ nỗi lo với người khác: - Lão đoán chắc con mèo thì sẽ ổn thôi. Chẳng cần phải lo cho nó. Nhưng còn những con khác. Anh nghĩ gì về những con khác?
- Có sao đâu, chúng rồi cũng sẽ ổn thôi.
- Anh nghĩ như vậy sao?
- Sao lại không, - tôi vừa nói vừa nhìn sang bờ bên kia, nơi ấy bây giờ chẳng còn một chiếc xe nào nữa.
- Nhưng chúng sẽ làm gì dưới tầm đạn pháo khi mà người ta bảo lão phải rời đi cũng vì pháo kích?
- Bác có mở cửa chuồng bồ câu ra không, - tôi hỏi.
- Có.
- Thì chúng sẽ bay đi.
- Ừ, chắc là chúng sẽ bay. Nhưng còn những con khác. Tốt hơn là đừng nghĩ đến những con khác, - lão nói.
- Nếu bác lại sức rồi thì cháu đi đây, - tôi giục. - Bác đứng dậy và cố đi ngay đi.
- Cảm ơn, - lão nói và co chân gượng đứng dậy, lảo đảo và rồi lại ngồi bệt xuống giữa bụi bặm.
- Lão chỉ chăn loài vật, - lão buồn bã nói, nhưng là không còn nói với tôi:
- Lão chỉ chăn loài vật.

Không còn gì làm lão lay chuyển. Hôm ấy là ngày Chủ nhật Phục sinh. Quân phát xít đang tiến về Ebro. Đó là một ngày dự báo thời tiết u ám trời thấp vì thế máy bay của chúng không cất cánh. Sự kiện ấy cùng với việc giống mèo biết cách tự lo liệu được là điều thật sự may mắn mà ông lão có thể trước nay chưa từng có.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 400
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Tue Apr 03, 2018 5:15 pm

.

Bữa ăn trưa
W. Somerset Maugham (Anh)


Tôi gặp lại bà ta trong một buổi đi xem diễn kịch. Bà đưa tay ngoắc tôi và tôi đến ngồi bên cạnh bà trong giờ nghỉ diễn xuất giữa hai màn. Đã lâu lắm, tôi mới gặp lại bà, và nếu không ai nhắc cho tôi nhớ tên, chắc tôi không nhận ra bà ta. Bà nói với tôi thật lưu loát:
- Đã bao năm rồi chúng ta mới lại gặp nhau. Thời gian vun vút như tên bay. Chẳng mấy chốc mà cả hai chúng ta đều chẳng ai còn trẻ nữa. Ông bạn còn nhớ lần đầu tiên chúng ta gặp nhau không? Lần ông mời tôi ăn trưa ấy mà.

Làm sao tôi quên được nhỉ? Cách đây hai mươi năm, hồi ấy tôi còn ở Paris. Tôi có một căn gác xép ở xóm Latin, nhìn xuống một nghĩa trang, và lương tháng của tôi chỉ vừa đủ để sống qua ngày. Bà ta đọc một quyển sách của tôi mới vừa xuất bản, và viết thư cho tôi nói về quyển sách ấy. Tôi trả lời để cám ơn bà, và lại nhận của bà một cái thư nữa, báo tin hiện bà đang ghé lại Paris và mong muốn được gặp tôi để trao đổi một vài ý kiến, nhưng thì giờ của bà không được rộng rãi, nên bà chỉ rảnh vào ngày thứ năm; buổi sáng ngày ấy bà dự định đi viếng Luxembourg và hy vọng sau đó tôi sẽ mời bà ăn một bữa cơm đạm bạc tại khách sạn Foyot. Foyot là một khách sạn mà các Thượng nghị sĩ Pháp thường đến ăn, và quá sang trọng đối với túi tiền của tôi, nên chưa bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện ăn tại đó. Nhưng tôi đang được bốc thơm và còn quá trẻ để biết nói tiếng "không" với một người đàn bà. (Tôi có thể thêm: ít người đàn ông biết nói tiếng ấy, trừ khi họ đã quá già, nhưng khi ấy thì dù có nói gì với đàn bà cũng chẳng còn quan hệ gì nữa). Tôi còn được tám mươi phật-lăng (tiền vàng) để chi tiêu cho đến hết tháng, và một bữa ăn trưa sơ sài có lẽ không quá mười lăm phật- lăng. Nên tôi cúp bớt món cà phê trong hai tuần, tôi có thể điều chỉnh được các món chi tiêu khác cho đến cuối tháng.

Tôi biên thư cho bà biết là tôi có thể gặp bà tại khách sạn Foyot vào lúc 12 giờ rưỡi ngày thứ năm. Bà ta không trẻ trung như tôi hy vọng và có cái hình dáng đồ sộ hơn là quyến rũ. Bà vào trạc tứ tuần (một cái tuổi đẹp, nhưng không gây được sự đam mê đột ngột và tai hại khi mới gặp lần đầu tiên), bà cho tôi cái ấn tượng là bà có nhiều răng hơn người thường (những chiếc răng thực trắng, lớn và đều đặn). Bà nói chuyện như sanh như sứa, nhưng bởi vì bà đem tôi ra làm đề tài nên tôi sẵn lòng nghe bà nói một cách chăm chỉ.

Tôi hoảng hồn khi đọc thấy giá tiền các món ăn trên tấm thực đơn, vì nó quá cao, so với dự tính của tôi. Nhưng bà ta làm cho tôi vững tâm với câu nói:
- Tôi chẳng bao giờ ăn gì nhiều trong bữa ăn trưa.
- Ồ, bà đừng nói thế! - Tôi trả lời, tỏ ra rất hào phóng.
- Tôi không bao giờ ăn quá một món ăn. Tôi thấy ngày nay người ta ăn uống quá nhiều. Cho tôi một con cá nhỏ thôi. Không biết ở đây họ có cá hồi không.

Tốt! Mùa cá hồi chưa đến và món ấy không thấy có ghi trong bản thực đơn. Nhưng tôi cũng cứ hỏi người bồi bàn xem sao. Trời! Có. Người ta mới đem đến một con rất béo. Đây là con cá hồi đầu mùa mới câu được. Tôi bảo nhà hàng làm cá dọn ngay cho bà khách của tôi. Người bồi hỏi bà muốn dùng gì trong khi đợi món cá.
- Không! - Bà trả lời - Tôi không bao giờ dùng quá một món ăn. Nhưng nếu có ca-vi-a (1) anh lấy cho tôi một lọ nhỏ. Có thì tốt, không thì thôi, không quan trọng.
Tim tôi như muốn rụng. Tôi biết món ca-vi-a đắt lắm, tôi không kham nổi, nhưng tôi không thể nói như thế với bà ta. Tôi bảo người bồi phải tìm cho có cho bà. Về phần tôi, tôi lựa trên tấm thực đơn một món rẻ tiền nhất, đó là món sườn trừu.
- Tôi cho ăn thịt là không khôn ngoan tí nào cả - Bà nói - Tôi không hiểu làm sao ông có thể làm việc được sau khi ăn những thức ăn nặng nề như thịt trừu. Tôi không tin ăn thực no là tốt.

Bây giờ đến vấn đề uống. Bà nói:
- Tôi không bao giờ uống rượu trong bữa ăn trưa.
Tôi chụp lấy cơ hội, nói ngay:
- Tôi cũng vậy.
- ... trừ rượu chát trắng - Bà ta nói tiếp như không nghe câu nói của tôi - Rượu chát trắng của Pháp thực tuyệt cho sự tiêu hóa.
- Bà thích dùng loại nào? - Tôi hỏi, vẫn với vẻ hiếu khách, nhưng không vồn vã lắm.
Bà nhe răng trắng cười thân thiện với tôi :
- Bác sĩ của tôi không cho uống gì khác ngoài sâm banh.
Tôi chắc mặt tôi lúc ấy hơi tái, nhưng tôi vẫn gọi bồi đem ra nữa chai sâm banh. Tôi cho bà biết bác sĩ cấm tuyệt tôi uống sâm banh.
- Vậy ông uống gì nào?
- Nước trắng thôi.

Bà ta ăn ca-vi-a; rồi lại ăn cá hồi. Bà vui vẻ bàn về nghệ thnật, về văn chương và âm nhạc. Trong khi ấy, đầu óc tôi cứ loay hoay tự hỏi không biết cái hóa đơn lên đến bao nhiêu tiền rồi. Khi món sườn trừu đem lên cho tôi, bà ta bảo một cách tỉnh bơ đưa cho bà nếm thử với.
- Tôi thấy ông có thói quen ăn no bữa trưa. Tôi cho như vậy là không hợp vệ sinh. Tại sao ông không theo gương tôi, chỉ ăn một món thôi? Tôi cam đoan là ông sẽ cảm thấy khỏe khoắn lắm.
- Tôi đang bắt đầu tập ăn một món đây. - Tôi trả lời trong khi người bồi bàn lại đem tấm thực đơn đến.

Với cái cử chỉ rất kiểu cách, bà xua tay bảo anh ta đứng xê ra một bên, nói :
- Thôi! Thôi! Tôi ăn trưa ít ỏi lắm. Tôi không bao giờ ăn nhiều hơn thế này. Vả lại, tôi ăn để có dịp nói chuyện mà thôi. Tôi không thể ăn gì thêm được nữa, ngoại trừ nếu ở đây có loại măng tây thứ lớn. Sẽ đáng tiếc lắm, nếu tôi rời Paris mà không được nếm thứ măng ấy.
Tim tôi rụng mất rồi! Tôi có thấy loại măng ấy trong các tiệm bán thực phẩm và tôi biết nó đắt kinh khủng. Cho nên đã bao lần, tôi đành nhìn nó mà nuốt nước bọt thôi.
- Bà bạn tôi muốn biết ở đây có măng tây thứ bự không?
Tôi hỏi người bồi bàn và cầu nguyện thánh thần cho anh ta nói không có. Anh ta nở một nụ cười toét ra tận mang tai, vẻ mặt hoan hỉ như một vị tu hành đắc đạo, bảo đảm với tôi là nhà hàng có thứ măng tây thức bự, thực mềm, thực ngon lành không đâu bằng. Bà bạn tôi thở ra, như buộc lòng phải nhân nhượng :
- Tôi thấy đủ lắm rồi, nhưng nếu ông nài ép tôi, tôi cũng chìu ông mà ăn thêm mấy cọng.
Tôi bảo anh bồi đem măng cho bà.
- Ông cũng dùng với tôi chứ?
- Xin lỗi bà, tôi không bao giờ ăn măng tây.
- Tôi biết nhiều người không thích nó. Sự thực là vì họ quen ăn nhiều thịt, nên làm hư hết vị giác.

Trong khi ngồi đợi món ăn dọn lên, sự kinh hãi chiếm lấy tôi. Bây giờ không còn là vấn đề tôi sẽ còn lại được bao nhiên sau bữa ăn này để chi tiêu trong tháng, nhưng là vấn đề tôi có đủ tiền để trả bữa ăn không. Tôi sẽ độn thổ, nếu tôi thiếu mất độ mười quan chẳng hạn, buộc lòng phải mượn bà khách quý của tôi. Nhưng tôi sẽ không hạ mình làm như thế đầu. Tôi biết rõ số tiền tôi có trong túi, nên tôi định bụng nếu thấy số tiền trong hóa đơn lớn hơn, tôi sẽ giả vờ thọc tay vào túi và giựt mình kêu lên một tiếng bi thảm, bảo là bị cắp mất ví tiền. Tất nhiên sự bố trí như vậy cũng có phần nguy hiểm trong trường hợp là bà khách cũng không có đủ tiền để trả. Lúc ấy thì chỉ còn có một nước là tôi sẽ gởi tạm chiếc đồng hồ đeo tay lại và về lấy tiền đem đến trả sau.

Món măng tây được mang lên. Những đọt măng thực bụ bẫm, thực ngon lành! Mùi bơ chiên bốc lên, kích thích hai lỗ mũi tôi, như mũi của Jehovah được kích thích bởi mùi cháy khét của da thịt những nữ đồng trinh trong lễ hy sinh tế thần. Tôi nhìn người đàn bà tham ăn tham uống ấy bỏ những miếng măng thực bự vào mồm và nuốt ừng ực một cách khoái trá, còn tôi, với cái điệu bộ rất là nhã nhặn, thanh tao, đang ngồi thuyết trình về vấn đề kịch nghệ ở xứ Balkans.

Rồi! Bà ta đã ăn xong.
- Cà phê nhé? - Tôi đề nghị.
- Vâng, một ly kem và cà phê.
Bây giờ tôi không thèm lo lắng nữa vì đã quá sức rồi. Tôi bảo bồi đem cà phê cho tôi, và kem và cà phê cho bà.
- Ông biết không, có một điều mà tôi cho là rất đúng, - Bà ta nói trong khi ăn kem - là đừng ăn quá no. Làm sao cho mình khi rời khỏi bàn ăn, vẫn có cảm tưởng là mình còn có thể ăn thêm một ít nữa.
- Ủa! Bà còn đói sao? - Tôi vờ hỏi.
- Ồ không, tôi không đói đâu! Ông thấy đấy, tôi đâu có ăn trưa. Buổi sáng, tôi uống một tách cà phê, cho đến tối tôi mới ăn cơm. Bữa trưa tôi không bao giờ ăn quá một món. Tôi nói là nói cho ông đấy chứ!
- Vâng, tôi thấy rõ lắm.

Rồi một sự kinh khủng hiện ra. Trong khi chúng tôi đang đợi cà phê, thì người quản lý, với một nụ cười nịnh trên bộ mặt đóng kịch của anh ta, tiến về phía chúng tôi, tay xách một giỏ những quả lê thực lớn. Chúng có cái màu ửng hồng như gò má cô gái trong trắng ngây thơ, chúng có cái màu sắc đậm đà, giàu có như một bức tranh phong cảnh Ý Đại Lợi. Nhưng mùa lê đâu đã đến kia? Và giá nó đắc đến bao nhiêu, chỉ có trời mới biết được. Nhưng một lát sau đó, tôi cũng biết được, vì bà khách quý của tôi, trong khi đang say sưa trò chuyện, đã vô tình nắm lên một trái.
- Ông bạn thấy chưa. Ông chất đầy bụng những thịt và thịt - Bã muốn nói đến món sườn khốn khổ của tôi - và bây giờ ông không thể ăn gì thêm được nữa. Tôi thì chỉ ăn qua loa, nên bây giờ tôi có thể nếm thêm mùi vị một quả lê nữa.

Hóa đơn đưa đến. Khi trả tiền xong xuôi, tôi nhận thấy không còn đủ tiền để trả một vòng xe. Đôi mắt bà khách nhìn xuống ba phật- lăng tôi để lại cho người bồi bàn, và tôi chắc bà ta tưởng tôi keo kiết lắm. Bà đâu có ngờ khi tôi bước ra khỏi tiệm ăn, trong túi tôi không còn lấy một cắc với cái viễn ảnh còn gần cả một tháng phải chi tiêu.
- Ông bạn nên theo gương tôi, - Bà nói trong khi bắt tay từ giã - đừng bao giờ ăn trưa quá một món.
- Tôi sẽ làm hơn thế nữa kia - Tôi trả lời đốp chát - Tối nay tôi sẽ nhịn ăn luôn.
- Hài hước! Ông bạn thật đúng là con người hài hước!
Bà ta vui vẻ nói lớn trong khi bước lên tắc xi.

Nhưng ít ra tôi cũng đã được trả thù. Tôi không phải là con người hay thù oán, nhưng không lẽ bạn không cho phép tôi được sung sướng mãn nguyện khi nhìn thấy rõ cái hậu quả mà trời đất thánh thần đã trừng phạt bà ta dùm tôi sao? Bà ta bây giờ cân nặng ít ra là 130 kí.

--------------
(1) Trứng cá ướp muối.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 400
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Mon Apr 09, 2018 3:05 pm


Văn hào Vladimir Nabokov - Ảnh: internet

“Cơn Giông” là một trong các tác phẩm Nabokov, văn hào Mỹ gốc Nga, viết trong thời kỳ ông còn sáng tác bằng tiếng Nga, và được đăng lần đầu trên báo Đỵíÿ (Hôm Nay) vào ngày 28 tháng 9 năm 1924. Sau này, nó được Dmitri Nabokov, con trai tác giả, dịch lại qua tiếng Anh và đăng trong một số tuyển tập truyện ngắn nổi tiếng của Nabokov. Bản dịch dưới đây được dịch giả Thiên Lương, người từng dịch Lolita, thực hiện từ bản gốc tiếng Nga.

Mặc dù được sáng tác từ khi tác giả còn rất trẻ (25 tuổi), nhưng “Cơn Giông” đã báo hiệu cho sự xuất hiện của một trong những nhà văn vĩ đại nhất của nhân loại. Bằng lối viết đầy hình ảnh với các câu văn chặt chẽ, logic, nhiều tầng nghĩa, Nabokov đã đưa người đọc vào một thế giới huyền ảo rực rỡ ánh sáng, đầy ắp âm thanh, nửa thực nửa hư. Đã gần một trăm năm trôi qua từ khi tác phẩm xuất hiện lần đầu tiên, nhưng các nhà phê bình và độc giả vẫn tìm thấy trong tác phẩm chỉ dài chưa đến chín trăm chữ tiếng Nga này những điều mới lạ của một thế giới bất tử, thế giới của Vladimir Nabokov.



Cơn giông
Vladimir Nabokov (
Mỹ gốc Nga)

Nơi góc phố, dưới vòm hoa đoan, một mùi hương ngào ngạt quấn lấy tôi. Những tảng sương mù đồ sộ dâng lên trên trời đêm, và khi khoảnh sao cuối cùng bị nuốt chửng, thì ngọn gió mù lòa, che mặt bằng tay áo, lùa thấp theo phố vắng. Trong bóng tối nhập nhoạng, trên cánh cửa sắt của tiệm cắt tóc, một chiếc khiên treo - chiếc thau vàng - chao như quả lắc.

Về đến nhà, tôi bắt gặp ngọn gió đã đợi trong phòng: nó sập mạnh khung cửa sổ - và vội vã thốc ngược lại khi tôi khép cánh cửa sau lưng mình. Dưới cửa sổ phòng tôi có cái sân trong sâu hun hút, nơi đó, ban ngày, những chiếc sơ mi, bị đóng đinh trên các dây phơi rực nắng, tỏa sáng xuyên qua các bụi tử đinh hương và từ dưới ấy thỉnh thoảng lại vọng lên những tiếng sủa sầu muộn - giọng mấy người thu mua đồng nát ve chai; - ứ-ứ, - cây vỹ cầm tàn tật nức nở; và, có lần, một phụ nữ tóc vàng béo ú tới, đứng ngay giữa sân, hát hay đến nỗi các cô hầu, cúi cần cổ trần, nhoài cả người ra ngoài mọi cửa sổ, - sau đó, khi chị ta ngưng hát, mọi thứ trở nên yên lặng khác thường; - chỉ nghe tiếng bà chủ nhà tôi, một mụ góa lôi thôi, đang thổn thức hỉ mũi trong hành lang.

Giờ thì dưới ấy, màn sương u ám ngột ngạt đang trương lên, nhưng kìa, ngọn gió mù lòa, vừa bơ vơ luồn xuống đáy sâu, lại bắt đầu rướn lên trời, và đột nhiên - nó sáng mắt ra, lao vút lên và, trong những hố sâu màu hổ phách bên bức tường đen ngòm đối diện, những bóng tay và bóng tóc tất tả tới lui, bắt lại các khung cửa bay, sầm sập đóng chặt cửa sổ. Các cửa sổ vụt tắt. Và lập tức, trong màn đêm tím thẫm, một tràng âm thanh trầm đục, tiếng sấm xa, bắt đầu vỡ ra, lan rộng. Rồi mọi thứ lại lặng đi, như lúc chị hành khất ngừng hát, siết chặt tay lên bộ ngực đầy.

Tôi thiếp đi trong sự yên ả ấy, lử lả vì vui, một niềm vui mà tôi chẳng thể viết thành lời - và giấc mơ tôi chan chứa bóng hình em.

Tôi bừng tỉnh vì đêm vỡ vụn. Ánh lấp lánh nhợt nhạt, cuồng dại bay ngang bầu trời, tựa chớp hồi quang của chiếc nan hoa vĩ đại. Hết tiếng sét này đến tiếng sét khác xé toạc bầu trời. Mưa rơi rào rạt nơi nơi.

Tôi say những rung động xanh nhờ ấy, cái lạnh nhẹ buốt ấy. Tôi bước lên bậu cửa sổ ướt đẫm, hít không khí siêu phàm, nó làm tim tôi ngân lên, như kính.

Càng lúc càng gần hơn, càng lúc càng kỳ vĩ hơn, cỗ mã xa của nhà tiên tri rền vang theo những áng mây. Ánh sáng của sự điên rồ, của những ảo cảnh nhức mắt, rọi tỏ cõi đêm, những mái dốc kim loại, những bụi tử đinh hương cuống cuồng chạy trốn. Thần sấm, một ông khổng lồ tóc bạc, với bộ râu bão táp bị gió vắt ngược qua vai, mặc bộ lễ phục phấp phới chói ngời, đứng, ngả người về phía sau, trong cỗ mã xa ngùn ngụt cháy của mình, gồng tay ghìm lũ chiến mã khổng lồ, lông đen huyền, bờm rực lửa tím. Chúng lao vùn vụt, chúng phì bọt lóng lánh đì đùng, cỗ mã xa nghiêng ngả, và nhà tiên tri bối rối ghì dây cương mà chẳng ăn thua. Gương mặt ông bị méo đi bởi gió và sự căng thẳng; cơn lốc, thổi tung các nếp lễ phục, lột trần đầu gối vạm vỡ, - lũ chiến mã, tung bờm rực lửa, bay - mỗi lúc mỗi hăng - thấp dần, thấp dần theo những áng mây. Và đây, với những tiếng sấm ầm ì, chúng tung vó qua một nóc nhà sáng bóng, cỗ mã xa liệng đi, Elijah loạng choạng, và lũ chiến mã, điên lên bởi đụng phải chất kim loại phàm trần, nhào ngược lên trời. Nhà tiên tri bị quăng ra ngoài. Một bánh xe văng đi. Từ cửa sổ nhà mình, tôi thấy cái vành khổng lồ rực lửa của nó lăn theo mái nhà, chệnh choạng tại bờ mái, và nhảy vào bóng tối lờ mờ. Còn lũ chiến mã, kéo lê theo chúng cỗ mã xa bị lật nhào, nảy tưng tưng, đã bay nhanh theo những áng mây cao ngất; tiếng rầm rầm tắt dần và ngọn lửa giông lụi tàn trong những vực thẳm tím than.

Thần sấm, vừa rơi lên mái, nặng nề đứng dậy, đôi xăng đan của ông trượt đi; ông đạp chân vỡ cửa tò vò mái nhà, càu nhàu, khoát tay túm lấy ống khói. Chầm chậm quay gương mặt tối sầm lại, ông đưa mắt tìm kiếm thứ gì đó - hẳn là chiếc bánh xe vừa bung khỏi cái trục vàng. Sau đó ông ngước lên, các ngón tay túm chặt bộ râu rối, cáu kỉnh lắc đầu - chắc đây không phải lần đầu chuyện ấy xảy ra - và, hơi tập tễnh, bắt đầu thận trọng leo xuống dưới.

Rời cửa sổ, hấp tấp và hồi hộp, tôi khoác áo choàng và chạy xuống chiếc thang dốc dẫn thẳng đến sân trong. Cơn giông đã qua, nhưng trời còn lất phất mưa. Phương đông ửng màu xanh tái tuyệt đẹp.

Cái sân trong, nhìn từ trên cao thì như thể chìm trong bóng tối đặc quánh, thực ra ngập màn sương mỏng đang tan. Giữa sân, trên bãi cỏ thẫm màu vì ẩm ướt, một ông già gầy guộc, lưng còng vai xo, mặc chiếc áo thụng đẫm nước mưa, đứng lẩm bẩm nói gì đó và nhìn quanh. Trông thấy tôi, ông giận dữ nháy mắt:
- Là ngươi hả, Elisha?
Tôi cúi đầu. Nhà tiên tri chặt lưỡi, xoa xoa lòng bàn tay lên chỗ hói nâu nâu.
- Rớt đâu cái bánh. Tìm cho ta đi.

Mưa đã tạnh. Trên nóc nhà, những đám mây đồ sộ bừng bừng cháy. Xung quanh, trong không trung xanh mờ ngái ngủ, các bụi cây, hàng rào, cái cũi chó lấp lánh lững lờ trôi. Chúng tôi mò mẫm tìm rất lâu khắp các xó xỉnh. Ông già luôn miệng càu nhàu, nâng gấu áo nặng trĩu, lội đôi xăng đan mòn vẹt lõm bõm qua các vũng nước mưa và trên đầu cái mũi to, xương xẩu của ông treo một giọt nước lấp lánh. Gạt nhánh tử đinh hương thấp lè tè, tôi chợt để ý thấy, trên đống rác, giữa kính vỡ, một bánh sắt mỏng, chắc là từ cái xe nôi trẻ con nào đó, ông già thở phào nồng ấm ngay trên tai tôi và hấp tấp, thậm chí hơi thô bạo đẩy tôi qua bên, chộp cái vành han gỉ ấy nhấc lên. Ông nháy mắt vui vẻ bảo tôi:
- Thì ra là lăn vào đây…
Rồi ông chằm chằm nhìn tôi, nhíu cặp mày bạc, - và như thể chợt nhớ ra điều gì đó, oai nghiêm nói:
- Quay mặt đi nào, Elisha.
Tôi vâng lời. Thậm chí còn nheo mắt lại. Đứng như vậy được chừng một phút, - và không giữ được lâu hơn.

Sân vắng tanh. Chỉ có con chó già lông xù với cái mõm bạc màu thò đầu ra khỏi cũi và giống như người, ngước đôi mắt nâu sẫm đầy vẻ sợ hãi nhìn lên. Tôi ngẩng đầu. Elijah đã leo lên mái nhà, chiếc vành sắt sáng lờ mờ sau lưng ông. Trên những ống khói đen, một áng mây sừng sững hiện lên như rặng núi loăn xoăn vàng cam, và sau nó là áng thứ hai, thứ ba. Tôi và con chó im bặt ấy đăm đắm dõi theo nhà tiên tri, vừa leo đến đỉnh nóc nhà, bình tĩnh và thong thả đặt chân lên mây và tiếp tục trèo lên trên, nặng nề bước theo ngọn lửa dịu êm.

Nắng rọi vào bánh xe của ông, nó lập tức biến thành chiếc vòng vàng khổng lồ, - và chính Elijah dường như lúc này cũng mặc bộ lễ phục lửa, hòa mình với những ráng mây thiên đường ấy, bước mỗi lúc mỗi cao hơn, cao hơn nữa, cho đến khi biến vào lũng trời rực cháy.

Chỉ đến lúc đó thì con chó già mới cất tiếng sủa khàn khàn ban mai, - và những gợn sóng lăn tăn trên bề mặt sáng chói của vũng nước mưa; làn gió hiu hiu lay động các cây phong lữ đỏ thắm trên ban công, đôi ba cửa sổ tỉnh giấc nồng, - và tôi chạy ra ngoài phố, chân đi đôi dép ngủ kẻ ô ướt sũng, người mặc chiếc áo choàng phai màu, bắt kịp chiếc tàu điện ngái ngủ đầu tiên, vừa chạy vừa khép vạt áo và vừa cười hoài, vừa hình dung, chỉ lát nữa thôi là sẽ tới nhà em và kể em nghe về vụ tai nạn trời đêm ấy, về nhà tiên tri già cáu kỉnh ấy, vừa rơi xuống khoảng sân nhỏ của tôi.

Thiên Lương dịch

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 331
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Sun Apr 15, 2018 8:32 am



Cô Gái Trăm Phần Trăm Hoàn Hảo
Haruki Murakami (Nhật) 
  

Một buổi sáng đẹp trời tháng tư, tôi đã nhìn thấy cô gái trăm-phần-trăm-hoàn-hảo trên một phố nhỏ chạy qua khu Harajuku.

Nói thẳng thắn, nàng không đẹp đến mức chim sa cá lặn. Nàng không thu hút sự chú ý một cách đặc biệt. Nàng không diện mốt mới nhất. Trên gáy, tóc nàng còn hơi rối vì giấc ngủ, và nàng thậm chí không còn trẻ trung mơn mởn. Nàng hẳn đã sắp ba mươi tuổi. Người ta không còn có thể gọi nàng hoàn toàn là một "cô gái", mà đã gần như là một "thiếu phụ". Thế nhưng năm mươi mét trước khi đi ngang qua nàng, tôi đã biết: nàng là cô gái trăm-phần-trăm-hoàn-hảo với tôi. Ngay lúc nhìn thấy dáng hình nàng, trái tim tôi đã bắt đầu rung lên như thể đang có động đất, miệng tôi khô đắng lại như đang ngậm đầy cát.

Mỗi người thích một kiểu đẹp của phụ nữ, đồng ý. Một số thích những cô gái có mắt cá chân thật thanh mảnh, những người khác thích những cô mắt to, lại có người chỉ thích những cô tay đẹp, và một số khác lại thích những cô ăn thật chậm, tôi cũng chẳng biết tại sao nữa. Chính tôi cũng có những tiêu chí riêng của mình. Chẳng hạn có lần, ở quán ăn, tôi bị một cái mũi của cô gái ngồi bàn bên cạnh hút hồn.

Chỉ có điều không ai có thể xếp cô gái trăm-phần-trăm-hoàn-hảo vào bất cứ hạng nào hết. Nhất định tôi không sao nhớ nổi mũi của nàng như thế nào. Tôi còn không biết liệu nàng có mũi không nữa. Tôi chỉ nhớ không hẳn là nàng đẹp. Mà lạ.

Tôi đã nói với một người bạn:
- Hôm qua tôi vừa nhìn thấy cô gái trăm-phần-trăm-hoàn-hảo.
- Phì, trăm-phần-trăm-hoàn-hảo ấy à? Chắc là đẹp lắm, phải không?
- Ờ... Cũng không hẳn.
- Thế chắc là rất ưa mắt anh?
- Tôi không nhớ nữa. Tôi không nhớ mắt nàng ra sao, ngực nàng lớn hay nhỏ, tôi không nhớ gì cả.
- Thế thì kỳ quặc đấy.
- Kỳ quặc?
- Rồi sao? - Người đối thoại với tôi lộ vẻ mệt mỏi - Anh đã làm gì đó chứ, đã nói chuyện với cô ta, hay đi theo cô ta chẳng hạn?
- Không, tôi chỉ đi qua bên cạnh nàng thôi.

***

Nàng đi từ đông sang tây, còn tôi từ tây sang đông. Đó là một buổi sáng tháng tư dễ chịu.

Nhẽ ra tôi phải thích trò chuyện với nàng, dù chỉ trong nửa giờ đồng hồ. Nhẽ ra tôi phải hỏi han nàng, nói về tôi với nàng. Và nhất là, nhẽ ra tôi phải thích nói về những bất trắc của số phận đã khiến chúng tôi bắt gặp nhau vào một buổi sáng đẹp trời tháng Tư năm 1981 trên một phố nhỏ khu Harajuku. Một cuộc gặp như thế hẳn là phải dồn nén một bí mật nào đó, một cỗ máy cũ kỹ sinh ra từ thời thế giới còn sống trong hoà bình.

Sau khi trò chuyện một lúc, nhẽ ra chúng tôi phải đi ăn trưa với nhau, rồi đi xem một bộ phim của Woody Allen, sau đó đi uống cocktail ở quầy bar một khách sạn nào đó. Rồi... ai mà biết được, nếu như may mắn, thậm chí tôi còn có thể được ngủ với nàng.

Rất nhiều khả năng đến gõ cửa trái tim tôi.
Chúng tôi chỉ còn cách nhau chừng mười lăm mét.
Phải làm cách nào để tiếp cận nàng bây giờ?
- Xin chào, cô có thể cho tôi nửa giờ đồng hồ để trò chuyện không?
Lố bịch. Kiểu đại lý bảo hiểm.
- Xin thứ lỗi, cô có biết cửa hàng giặt nào gần đây không?
Lố bịch gần bằng. Thậm chí tôi còn không mang theo túi đựng quần áo bẩn. Ai tin được một lời đùa cợt như thế?

Có lẽ tốt hơn hết là đi thẳng vào vấn đề:
- Xin chào. Với tôi, cô là cô gái trăm-phần-trăm-hoàn-hảo.
Không, sẽ không được đâu. Nàng sẽ không tin tôi. Và ngay cả nếu tin, có lẽ nàng cũng sẽ không muốn nói chuyện với tôi. Nàng sẽ trả lời: Có thể với anh, tôi là cô gái trăm-phần-trăm-hoàn-hảo; nhưng với tôi, anh không phải là chàng trai trăm-phần-trăm-hoàn-hảo, tôi rất tiếc. Rất nhiều khả năng mọi việc sẽ xảy ra như thế. Và nếu nàng trả lời tôi như vậy, tôi tin mình sẽ vô cùng bối rối. Tôi sẽ không bao giờ gượng dậy nổi khỏi cơn bẽ bàng đó. Tôi đã ba mươi tuổi, đang già đi rồi.

Chúng tôi đi ngang qua nhau trước một cửa hàng hoa. Tôi cảm thấy một làn không khí nhẹ vờn qua da. Vỉa hè hơi láng nước, có mùi hoa hồng. Không thể nói với nàng được. Nàng mặc một chiếc áo pull trắng và cầm trên tay trái một chiếc phong bì trắng chưa dán tem. Nàng đã viết thư cho ai đó. Vì nàng có vẻ rất mệt mỏi, tôi cho rằng nàng đã thức đêm để viết thư. Có lẽ chiếc phong bì trắng này chứa đựng những bí mật của nàng.

Vài bước sau quay đầu nhìn lại, nàng đã biến mất vào dòng người.

Giờ đây, hiển nhiên là tôi biết chắc nhẽ ra mình nên nói chuyện để tiếp cận nàng. Nhưng vì dù sao chuyện đó cũng có thể kéo rất dài, chắc tôi sẽ không thể nói hết được mọi điều với nàng. Các ý tưởng của tôi luôn thiếu thực tế.

Dù thế nào đi nữa, câu chuyện của tôi cũng sẽ bắt đầu bằng "Ngày xửa ngày xưa" và kết thúc với "Cô không thấy nó buồn quá ư?".

***

Ngày xửa ngày xưa, tại một đất nước nọ, có một chàng thanh niên mười tám tuổi và một cô gái mười sáu tuổi. Họ chỉ là hai con người cô đơn - như rất nhiều người khác. Nhưng mỗi người đều tin rằng ở đâu đó vẫn tồn tại, với chàng là nàng, với nàng là chàng, trăm-phần-trăm-hoàn-hảo, và là một nửa của người kia, sinh ra là để dành cho nhau. Họ là những kẻ tin vào điều kỳ diệu. Và một hôm, điều kỳ diệu đã tới.

Hôm đó, hai người gặp nhau ở một góc phố.
- Thật là may mắn! Tôi tìm em từ lâu lắm rồi! Có thể em không tin tôi, nhưng với tôi em là người con gái trăm-phần-trăm-hoàn-hảo!- Chàng thanh niên nói với cô gái.
Và cô gái trả lời:
- Với em, anh cũng là chàng trai trăm-phần-trăm-hoàn-hảo, anh giống hệt với tưởng tượng của em... Em có cảm giác mình đang ở trong mơ...

Hai người ngồi xuống một ghế đá công viên, cầm tay nhau và nói với nhau, nói mãi không ngừng. Họ không còn đơn độc trong đời nữa. Họ đã tìm thấy một nửa trăm-phần-trăm-hoàn-hảo của mình. Điều đó thật sự tuyệt diệu. Một điều kỳ diệu lớn lao.

Nhưng một niềm nghi ngờ, một niềm nghi ngờ nhỏ len lỏi chạy qua trái tim hai người. Họ tự hỏi mình, rồi hỏi nhau: liệu một giấc mơ có thể thành sự thật dễ dàng đến thế chăng?

Chàng trai đề nghị:
- Chúng mình cần được thử thách. Nếu anh và em quả là trăm-phần-trăm-hoàn-hảo với nhau, thì nhất định một ngày nào đó, ở một nơi nào đó, chúng mình sẽ gặp lại nhau. Khi ấy, anh và em sẽ biết chắc chắn là mình thực sự được sinh ra là để dành cho nhau. Chúng mình sẽ làm đám cưới ngay lập tức. Em đồng ý không?
- Em đồng ý! - cô gái nói.
Và họ chia tay nhau. Một người đi về phía đông, người kia về phía tây.

Cuộc thử thách này thực ra là vô ích, họ chẳng việc gì phải thực hiện nó, bởi vì họ thực sự là trăm-phần-trăm-hoàn-hảo với nhau, và cuộc gặp gỡ của họ quả thực là một điều kỳ diệu của cuộc đời. Nhưng khi ấy, họ còn quá trẻ để có thể hiểu được điều đó. Và những đợt sóng vô tình của số phận đã cuốn lấy họ, đẩy họ xô dạt...

Một mùa đông, hai người ở hai nơi đều mắc bệnh cúm và ốm thập tử nhất sinh, sau nhiều tuần mới khỏi. Nhưng họ không còn nhớ gì về quá khứ nữa. Thật lạ kỳ! Khi thức dậy, đầu họ trống rỗng giống hệt túi tiền của D. H. Lawrence hồi còn trẻ. Nhưng họ là những người thực sự kiên nhẫn và dũng cảm, nhờ cố gắng họ đã khôi phục được trí tuệ và tình cảm để có thể tiếp tục sống trong xã hội. Chúa ơi, họ thật là những con người đáng khen! Họ lại có thể đi tàu điện ngầm, đổi tuyến, gửi thư nhanh, và họ có những kinh nghiệm tình ái hoàn hảo ở mức bảy mươi nhăm phần trăm, có khi đến tám mươi nhăm phần trăm.

Chàng trai đã ba mươi hai tuổi, còn cô gái hai mươi tám. Thời gian trôi nhanh đến không ngờ. Và rồi một hôm, một buổi sáng tháng tư, chàng trai đi từ đông sang tây trên một phố nhỏ khu Harajuku để uống một cốc cà phê buổi sáng, và cô gái đi cùng con đường, nhưng từ tây sang đông, đến bưu điện để gửi một bức thư nhanh. Họ nhìn thấy nhau ở giữa đường. Những ký ức đã bị đánh mất rọi chiếu một ánh sáng nhẹ nhàng vào trái tim họ, làm trái tim họ đập rộn ràng. Và họ biết.

Chàng biết nàng là cô gái trăm-phần-trăm-hoàn-hảo của mình. Nàng biết chàng là chàng trai trăm-phần-trăm -hoàn-hảo của mình.

Nhưng ánh sáng trong trái tim họ sáng lên quá yếu ớt, những suy nghĩ không còn sáng sủa được như mười bốn năm về trước. Họ đi qua nhau không nói một lời và biến mất vào dòng người, mỗi người về một hướng. Và mãi mãi.

Cô không thấy nó buồn quá ư?
Nhẽ ra, tôi phải nói với nàng như thế.

Dịch giả: Cao Việt Dũng
(Dịch từ bản tiếng Pháp, rút trong tập Con voi biến mất, NXB Seuil, dịch giả Corinne Atlan)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 400
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   Today at 12:06 am



Ba Câu Hỏi
Leo Tolstoy (Nga)


Ðó là chuyện ba câu hỏi khó của một nhà vua, do nhà văn hào Leo Tolstoy kể lại.

Nhà vua ấy, Tolstoy không biết tên. Một hôm đức Vua nghĩ rằng, giá mà vua trả lời được ba câu hỏi ấy thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy là:
1. Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc?
2. Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng?
3. Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện?

Nghĩ thế, vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được những câu hỏi đó.
Các bậc hiền nhân đọc chiếu liền tìm tới kinh đô. Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau.

Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng muốn biết thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng, có ngày giờ năm tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy. Như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính được trước những việc gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy; rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xẩy tới để có thể làm bất cứ gì xét ra cần thiết.

Có kẻ lại nói rằng, dù vua có chú ý đến tình hình mấy đi nữa thì một mình vua cũng không đủ sáng suốt để định đoạt thời gian của mọi việc làm một cách sáng suốt, do đó nhà vua phải thành lập một Hội Ðồng Nhân Sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ.
Lại có kẻ nói rằng, có những công việc cần phải lấy quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ để tham khảo xem đã đến lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy quyết định cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xẩy ra, do đó, nhà vua cần phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri và bốc phệ.

Về câu hỏi thứ hai, cũng có nhiều câu trả lời không giống nhau. Có người nói những nhân vật mà vua cần chú ý nhất là những ông đại thần và những người trong triều đình. Có người nói là mấy ông Giám Mục, Thượng Tọa là quan hệ hơn hết. Có người nói là mấy ông tướng lãnh trong quân đội là quan hệ hơn hết.

Về câu hỏi thứ ba, các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau. Có người nói khoa học là quan trọng nhất. Có người nói tôn giáo là quan trọng nhất. Có người lại nói: chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất.

Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không thể đồng ý với vị hiền nhân nào cả, và chẳng ban thưởng cho ai hết.
Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định đi chất vấn một ông đạo tu trên núi, ông đạo này nổi tiếng là có giác ngộ. Vua muốn tìm lên trên núi để gặp ông đạo và hỏi ba câu hỏi kia.
Vị đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo; chẳng bao giờ ông chịu tiếp người quyền quý. Vì vậy mà nhà vua cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi, vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới, và một mình vua, trong y phục một thường dân, vua trèo lên am của ông đạo.

Nhà vua gặp ông đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ, ông đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông đã già yếu; mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hào hển.

Nhà vua tới gần ông đạo và nói: "Tôi tới đây để xin ông đạo trả lời giúp cho tôi ba câu hỏi. Làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cho cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc? Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả? Và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước tiên?"
Ông đạo lắng nghe nhà vua nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống tiếp tục cuốc đất.

Nhà vua nói: "Ông đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát". Vị đạo sĩ cám ơn và trao cuốc cho Vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vồng đất thì nhà vua ngừng tay và lập lại câu hỏi. Ông đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói: "Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc". Nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại cúi xuống tiếp tục cuốc đất.

Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua. Rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc, và nói với ông đạo:
"Tôi tới để xin ông đạo trả lời cho mấy câu hỏi. Nếu ông đạo không thể trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho biết để tôi còn về nhà".

Ông đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua: "Bác thử xem có ai chạy lên kìa". Nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng. Máu chảy ướt đầm cả hai tay. Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất động miệng rên ri rỉ.
Vua và ông đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương, nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngừng chảy.

Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước. Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống. Khi đó mặt trời đã bắt đầu khuất và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường ông đạo. Ông ta nhắm mắt nằm yên. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa và ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi Vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc sau Vua mới nhớ ra được mình đang ở đâu và đang làm gì.

Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng.
Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì nói, giọng rất yếu ớt:
"Xin bệ hạ tha tội cho thần".
"Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha?"
"Bệ hạ không biết hạ thần, nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ, hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng được bởi vì khi xưa, trong chinh chiến bệ hạ đã giết mất người anh của hạ thần và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa".
"Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông đạo sĩ, nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường về.
Nhưng cho đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ để hành thích. Thay vì gặp bệ hạ, hạ thần lại gặp bốn vệ sĩ. Bọn nầy nhận mặt được hạ thần cho nên đã xông lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được chạy lên đây, nhưng nếu không có bệ hạ cứu thì chắc chắn hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần. Hạ thần hối hận quá. Bây giờ đây nếu hạ thần mà sống được thì hạ thần nguyện sẽ làm tôi mọi cho bệ hạ suốt đời, và hạ thần cũng sẽ bắt các con của hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho hạ thần".

Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng nhà vua rất vui mừng. Vua không những tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta, và gửi ngự y cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh.

Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về nhà, vua trở lên tìm ông đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lặp lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông đạo đang quỳ gối xuống đất gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua.
Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua: "Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà".
Vua hỏi: "Trả lời bao giờ đâu nào?"

"Hôm qua nếu Vua không thương hại bần đạo già yếu mà ra tay cuốc dùm mấy luống đất này thì khi ra về nhà vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi, và nhà Vua sẽ tiếc rằng đã không ở lại cùng ta. Vì vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian Vua đang cuốc đất; nhân vật quan trọng nhất lúc đó là bần đạo đây, và công việc quan trọng nhất là công việc giúp bần đạo.
Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho thì ông ta sẽ chết và vua không có dịp hòa giải với ổng; cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan trọng nhất, và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất.

Xin vua hãy nhớ kỹ điều này: "Chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại. Giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta.

Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được là mình sẽ đương đầu làm việc với những kẻ nào trong tương lai.

Công việc quan trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc, bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời sống".



.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway   

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro - Ernest Hemingway
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến