Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
tran hanh Thuong VNCH thang sung
Latest topics
April 2018
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30      
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Vào cõi tranh thiền

Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Vào cõi tranh thiền   Sun Aug 19, 2012 5:21 pm

Vào cõi tranh thiền

Lê Anh Minh


Trong môn họa truyền thống của Trung Quốc (thường được gọi là Quốc Họa) ta thường bắt gặp những chủ đề ước lệ quen thuộc được thể hiện với màu sắc đậm nhạt thích mắt, thậm chí những màu tươi vui sặc sỡ. Các chủ đề này lặp đi lặp lại đây đó đến mức sáo mòn, đại loại như hoa (đào, mai, lan, cúc, sen, thủy tiên, mẫu đơn, tử đằng, quỳnh), điểu cầm (phụng, ưng, hạc két, quạ, chim cút, vịt trời, gà vịt, ngan ngỗng), muông thú (hổ, ngựa, lừa, trâu bò, dê, nai), con vật truyền thuyết (long, lân), tôm cá cua, côn trùng (bướm, chuồn chuồn, dế, bọ ngựa, sâu, kiến), cây cối (tùng bách, tre trúc, ngô đồng, dương liễu, phong), phong cảnh (mây nước sông biển, núi non, thác ghềnh, khe suối), trái cây, nhân vật (thật và truyền thuyết)... Những chủ đề này được các họa sĩ khai thác triệt để suốt bao thế kỷ qua. Có người chuyên vẽ đá, hoặc mai, hoặc lau, hoặc trúc... Chính vì thế nên hội họa Trung quốc lâm vào biển chết, người họa sĩ cảm thấy lúng túng trong mê lộ: bất kỳ ý tưởng nào cũng là cũ kỹ mà các tiền bối đã khai thác hết rồi. Loại tranh này chẳng còn gì tân kỳ nữa, rốt cuộc chỉ là những màu sắc trang trí trong phòng thất mà thôi.

Kể từ vị tổ thiền 28 Ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma (?-528) sang Đông Độ thành sơ tổ thiền Trung Quốc (năm 520, đời vua Lương Võ Đế), thiền đã mọc rễ và lớn mạnh với thông điệp thù thắng: «Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật.» Cho đến đời Nam Tống (thế kỷ XII) thiền du nhập vào Nhật Bản. Thiền đã ảnh hưởng tâm hồn hai dân tộc Trung-Nhật suốt bao thế kỷ trong sinh hoạt hằng ngày cũng như trong học thuật.


Vòng tròn viên mãn (tranh Torei Enji, 1721-1801)

Thế là thiền đã thổi vào nền hội họa truyền thống một luồng sinh khí mới, cứu lấy môn họa này thoát khỏi biển chết. Cách thể nghiệm thiền «minh tâm kiến tánh» là nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ sĩ. Hội họa là một ngôn ngữ phi ngôn ngữ, mà ngôn ngữ hội họa há không thể trực chỉ nhân tâm sao? Rõ ràng có thể xem hội họa là phương tiện thể nghiệm thiền để có thể kiến tánh. Nhưng tôn chỉ của thiền là phi phương tiện (bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền) cho nên phải thể hiện thế nào sao cho hội họa trở thành một thứ phương tiện để có thể tải được tư tưởng ảo diệu thâm mật của Phật giáo? Những đặc điểm nổi bật của thiền họa là sự đơn giản tối đa tưởng chừng phi nghệ thuật, sự hướng nội, sự trống trải đầy gợi ý, sự viên mãn trong bất toàn (như lời Lão Tử: «Đại thành nhược khuyết»), và được thể hiện theo phong các đặc biệt: tiết giảm nét bút và chừa nhiều khoảng trống trên giấy (gọi là bút pháp một góc: one-corner style).


Trúc trong gió (tranh Sengai Gibon, 1750-1837)

Trong môn họa Trung Quốc có hai loại bút pháp trái ngược nhau: «công bút» và «ý bút», có thể độc dụng hay kiêm dụng trong tranh. «Công bút» là lối vẽ tỉ mỉ công phu trau chuốt từng chi tiết nhỏ. «Ý bút» là bút pháp tả ý chấp nhận màu sắc, nhưng trong thiền họa bút pháp này ly khai màu sắc, chỉ có mực đen giấy trắng mà thôi. Người Nhật gọi là sumiye (mặc hội: vẽ bằng mực đen), Trung Quốc gọi là mặc họa.

«Mặc» tức là mực đen, làm bằng bồ hóng và keo. Bút làm bằng lông các thú như dê, thỏ, chồn, sói và ngậm được nhiều mực. Giấy vẽ là loại giấy cực mỏng, đặc biệt là giấy Tuyên mà ta quen gọi là «xuyến chỉ». Từ đời Tống trở về trước, tranh Trung Quốc chủ yếu dùng lụa. Từ đời Tống về sau, do kỹ thuật làm giấy tinh xảo hơn, bắt đầu xuất hiện giấy Tuyên. Nói chung, vẽ sơn thủy và tả ý chủ yếu dùng giấy; vẽ nhân vật, điểu, hoa chủ yếu dùng lụa để dễ đạt sự tinh vi tỉ mỉ. Nhưng dù lụa hay giấy, cả hai đều là chất liệu lý tưởng vì hút mực dễ dàng. Điểm này khác hẳn lối họa sơn dầu Tây phương.


Tranh của thiền sư Mục Khê (1180-1250), đời Tống

Một chất liệu mong manh dễ rách như giấy được chọn làm công cụ thể hiện cảm hứng nghệ thuật bởi những cảm hứng này phải được tải đi thật nhanh, nếu ngọn bút dừng lại lâu, giấy sẽ bở rách vì quá ẩm ướt. Đường nét phải vẽ nhanh, tiết giảm tối đa và chỉ thể hiện những gì thật cần thiết mà thôi. Một nét bút phóng ra phải là duy nhất, dù nó thế nào ta cũng không được dậm vá, tô điểm hay sửa chữa. Nó phải tự do, không gò ép, không tẩy xóa hay đồ lại. Người nghệ sĩ cứ để mình trôi đi theo dòng cảm xúc một cách tự nhiên tự phát tuyệt đối. Cánh tay, bàn tay, ngọn bút chính là một tổng thể và dường như có bàn tay vô hình nào đó dẫn dắt đi. Thiền họa dường như thực hiện bởi khả năng phi kiểm soát của người nghệ sĩ, một sự phi kiểm soát đầy khổ luyện. Nếu giữa bút và giấy có xen vào sự suy tư lý luận nào đó, điều này sẽ phá hỏng tác phẩm. Ta sẽ lầm nếu cho rằng bức tranh chỉ là những nét nguệch ngoạc cẩu thả vô lối. Đường nét của thiền họa là cái gì bất toàn, nó bất chấp luật phối cảnh (perspective) và luật vẽ bóng (chiaroscuro) vốn là định luật cơ bản của lối họa Tây phương để dựng hình ba chiều. Điều cốt yếu là cái thần của sự vật phải thể hiện được trên giấy, do đó nét bút phải sống động như là nhịp đập của một sinh thể.


Chăn trâu (tranh Tsuboshima Dohei)

Lối họa của tranh thiền khác hẳn lối họa sơn dầu Tây phương. Lối họa sơn dầu đòi hỏi một bố cục nghiêm chỉnh có qui tắc và hệ thống. Vải bố, sơn dầu là những chất liệu mạnh mẽ cho phép họa sĩ tẩy xóa, dặm vá, cạo sửa dễ dàng. Lối họa Tây phương ví như tấm vải triết lý hoàn bị mà các sợi chỉ logic của nó đan kết chặt chẽ với nhau. Nó ví như một giáo đường tôn nghiêm mà tường, cột, nền toàn bằng đá tảng rắn chắc. Ngược lại, thiền họa sao mà nghèo nàn, hình thức sao mà sơ sài thô thiển, đường nét sao mà giản ước, chất liệu sao mà mong manh đến vậy. Thế nhưng, người Đông phương chúng ta lại nhìn thấy trong đó một nhịp sống kỳ diệu ẩn tàng sau từng nét, từng chấm, từng mảng đậm nhạt. Đen và trắng tượng trưng cho cặp mâu thuẫn đối đãi gay gắt trong cõi nhị nguyên này. Cõi mà tư tưởng chúng ta chấp trước vào nó: đen/trắng, đúng/sai, thiện/ác, cao/thấp, ngắn/dài, sướng/khổ, đẹp/xấu, có/không, v.v...


Quán Tự Tại

Thiền là bất nhị pháp môn (non-dualism) đột phá cái thế nhị nguyên đối lập để giải thoát nhân sinh. Tư tưởng nhất nguyên (monism) phá chấp ấy chính là căn bản đạo pháp thiền. Những sắc độ đậm nhạt tượng trưng cho từng mức độ hóa giải, và tất cả những đen trắng đậm nhạt ấy trong từng nét bút đã thể hiện một sự vật nào đó tưởng chừng vô nghĩa như gốc cây, cục đá, cành hoa, con chim trên cành, ngọn lau trĩu tuyết... nhưng lại chuyển tải được sự sống mà không cần giảng giải. Một đoá huệ nở cô đơn hay một cánh sen lay trong gió là hình ảnh sống động của một tâm hồn thuần phác nguyên sơ trong cơn giông tố cuộc đời. Một lá thuyền câu bé nhỏ trên mặt nước mênh mông cho ta ấn tượng sâu sắc hình ảnh biển cả bao la và sự hiện hữu một tâm hồn sâu kín hòa nhập với cuộc sống vĩnh hằng vô ngại giữa nhịp sóng đời dâu biển. Tất cả những kỳ diệu sâu kín này lại tựu thành trong sự dung dị và phi nỗ lực.


Thiền sư nhập định (tranh Thạch Khác, thế kỷ X)

Thiền họa không phải là chụp hình, mô phỏng hay sao chép một thực thể. Một nét chấm hay một đường cong không tượng trưng cho con chim hay ngọn núi, mà nét chấm đó chính là con chim, đường cong đó chính là ngọn núi, bởi vì thiền họa phải là sáng tạo. Một sự vật trong tranh thiền phải giống thực mà không giống thực, phải viên mãn mà dường như khiếm khuyết. Người nghệ sĩ buông xả mọi nỗ lực chụp hình nguyên dạng sự vật, mà sáng tạo một sinh thể ngoài sự tưởng tượng của chúng ta. Thái độ của nghệ sĩ thiền họa đối với nghệ thuật cũng là thái độ của thiền đối với cuộc sống. Đó là lý do tại sao hầu hết các tác giả của tranh thiền đều là thiền sư hay thiền sinh.

Nét bút của họa sĩ phải dứt khoát như tia chớp, không tô sửa. Bởi vì một sự vật chỉ đẹp khi nó không bị ràng buộc hay câu thúc. Cái đẹp đó nằm trong sự buông xả. Cơ nhục được vận dụng vẽ một đường hay một chấm nhưng đằng sau đó là sự vô tâm. Với sự vô tâm vô niệm của nghệ sĩ thiền, tác phẩm nghệ thuật được hình thành. Thiền họa chụp bắt cái thần của sự vật đương lúc nó vận hành. Điều này có vẻ khó bởi vì vạn vật luôn vận động không bao giờ tĩnh tại. Nhưng người nghệ sĩ thiền họa có thể làm được điều này nếu biết nắm bắt sự sống từ trong tâm nội hơn là tâm ngoại. Khi tác phẩm hình thành, những nét bút phóng phát trực tiếp từ nội tâm không bị tạp niệm ngăn trở đó chính là một sinh thể.

Cho nên, thiền họa khước từ màu sắc, bởi vì màu sắc gợi nên một thực thể trong thiên nhiên mà thiền họa thì không chấp nhận một sự tái hiện nào dù hoàn toàn hay bất toàn. Nếu chủ trương hội họa là sao chép mô phỏng tái hiện giống hệt một sự vật thì không gian hai chiều của trang giấy sẽ không thể hiện được trung thực điều gì, và màu sắc khó mà đạt được nguyên dạng sự vật đó. Và nếu người họa sĩ lại cố vẽ cho thật giống thực thể đó thì cũng chỉ là sự mô phỏng tái hiện rất tội nghiệp mà thôi.

Mặt khác, thiền họa không cho phép sự trì hoãn. Sự diên trì của ngọn bút sẽ phá hỏng tờ giấy vốn dĩ mong manh yếu ớt. Trì hoãn có nghĩa là thay đổi, là vỡ mộng, là toan tính, là lý sự, là câu thúc mà đó không phải là tinh thần của thiền họa. Luôn luôn có một nét nào đó xuất hiện bất ngờ đột ngột trong thiền họa. Nơi mà ta tưởng sẽ có một đường hay một chấm thì lại chẳng có gì cả. Nhưng sự thiếu vắng đó không hề gây thất vọng mà nó gợi ý cho ta mạnh mẽ hơn nữa. Cho nên «bút pháp một góc» khiến cho tranh có nhiều khoảng trống, thoáng và đầy gợi ý. Một trang giấy nhỏ có thể hàm ẩn cả vũ trụ. Một nét ngang ngụ ý cho sự mênh mông của không gian, một vòng tròn gợi ý sự vĩnh hằng của thời gian, chúng còn gợi nên sự vô biên và sự sống nữa.


Lục tổ Huệ Năng đốn trúc
(tranh Lương Khải đời Tống)

Điều cần lưu tâm là tranh tôn giáo không phải là tranh thiền. Cho nên tranh họa chân dung chư Phật thậm chí chân dung các tổ thiền hay thiền sư không nên miễn cưỡng xếp vào loại thiền họa. Một số tranh tuy thực hiện với lối công bút nhưng giàu hương vị thiền thì cũng có thể gọi là thiền họa được.

Bước vào cõi tranh thiền là bước vào thế giới u mặc đầy gợi ý. Người nghệ sĩ thiền họa – nguyên là thiền sư hoặc thiền sinh – chẳng những muốn ký thác vào tranh tâm nguyện theo dấu bước của chư tổ bằng cách minh họa chân dung, hành trạng các ngài, mà còn muốn gởi cho tha nhân một thông điệp ẩn tàng qua những hình ảnh đơn sơ đời thường tưởng chừng vô nghĩa với nét bút tiêu sái ngõ hầu tha nhân có thể giải thoát tâm linh. Trong chừng mực nào đó thiền họa có thể xem là một phương tiện chứng ngộ. Chức năng của thiền họa gắn với chức năng của công án thiền.

Kể từ Thiền du nhập lưỡng thổ Trung-Nhật, nền hội họa mỗi nước đã khởi sắc và mang một hương vị thâm trầm. Hương vị thiền giúp thiền họa trở thành một mảng tranh độc đáo tân kỳ và biệt lập trong kho tàng hội họa Đông phương. Người thưởng ngoạn tranh thiền trong phút giây tĩnh lặng trầm ngâm bên tách trà ngát hương, dù đã muôn lần hân thưởng một bức tranh nào đó, nhưng rồi sẽ có một lần chợt thấy mình chới với. Bức tranh mới quá, lạ quá, cơ hồ mới thấy lần đầu. Một chân lý vi diệu vừa được khám phá. Đó là khoảnh khắc của sự bừng tỉnh, như căn phòng kín tối tăm đã lâu nay được mở toang mọi cửa nẻo đón ánh quang huy của một ngày mới, như ngọn đèn vừa thắp lên sau biết bao tháng năm bỏ quên lăn lóc trong bóng tối âm thầm.


10 tranh chăn trâu / Thập mục ngưu đồ


1. Tìm trâu


2. Thấy dấu


3. Thấy trâu


4. Được trâu


5. Chăn trâu


6. Cưỡi trâu về nhà


7. Quên trâu, còn người


8. Trâu và người đều quên


9. Phản bản hoàn nguyên


10. Thõng tay vào chợ

*********

SÁCH THAM KHẢO:

1. D.T. Suzuki, Zen Buddhism, Doubleday Anchor Books, NY, 1956, p.279-284.
2. D.T. Suzuki, Manual of Zen Buddhism, Grove Press Inc, NY, 1960, p.128-144.
3. Jean A. Keim, L'Art Chinois, Fernand Hazan, Paris, 1961.

.
Về Đầu Trang Go down
vudinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vào cõi tranh thiền   Mon Nov 03, 2014 6:04 pm


TRANH THIỀN CỦA SƯ CÔ HẠNH ĐẠT


Sư cô Hạnh Đạt (1954 - 2008) tu tại thiền viện Viên Chiếu, là một người yêu thích văn thơ, hội họa. Chỉ vài đường nét thủy mặc qua đôi tay tài hoa, bức tranh đã hiển hiện trông thật thuần khiết và giản đơn như chính tâm hồn của người nghệ sĩ - tu sĩ. Mời các bạn thưởng lãm những bức họa của Sư cô dưới đây:

















.
Về Đầu Trang Go down
bhtran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vào cõi tranh thiền   Mon Aug 31, 2015 5:01 pm


Trầm Kim Hòa với tranh Thiền


Tại Nhà trưng bày quốc gia bang Victoria ở Melbourne (Úc) có một triển lãm của họa sĩ Trầm Kim Hòa với tên gọi “Bóng trăng”. Triển lãm giới thiệu hơn 30 tranh và thư pháp Thiền của một tác giả người Việt gốc Hoa.


Sinh - Lão - Bệnh - Tử. Tranh thiền của Trầm Kim Hòa

Trầm Kim Hòa sinh tại Sài Gòn năm 1959 trong một gia đình người Hoa từ Vũ Hán di cư sang Việt Nam; đến năm 1984 ông sang Úc sinh sống, sáng tác và hiện định cư tại Melbourne. Trong khoảng hơn một thập niên trở lại đây, Trầm Kim Hòa đắm mình vào dòng tranh Thiền, kết hợp với phong cách thủy mặc, đặc biệt là tranh vẽ bằng mực nho, không màu và nghệ thuật thư pháp Trung Hoa đã có từ nghìn năm trước.

Từ năm 1990, ông đã có nhiều triển lãm tranh và thư pháp tại Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Malaysia, Philippines, Canada, Mỹ và các bang của nước Úc. Còn triển lãm “Bóng trăng” của ông, theo tiến sĩ Mae Anna Pang, nhà tuyển trạch về nghệ thuật châu Á cho Nhà trưng bày Victoria, là “một cuộc du hành vào sự khai giác tâm linh và khám phá nghệ thuật. Tranh và thư pháp của tác giả cho thấy sự minh triết, giản dị và hóm hỉnh của Thiền tông”.


Như như. Tranh thiền và Thư pháp Trầm Kim Hòa

Sự xuất hiện của Thiền tông với tư cách một tông phái Phật giáo được ghi nhận lần đầu tiên tại Trung Quốc vào thế kỷ thứ VII và sau đó lan tỏa đến nhiều nước châu Á khác, trong đó có Việt Nam với dòng thiền Trúc Lâm. Trong quá trình tu tập, các thiền sư đã mượn nghệ thuật để mô tả những chứng nghiệm tâm linh. Nhiều bộ môn nghệ thuật Thiền có xuất xứ từ Trung Hoa nhưng lại phát triển mạnh tại Nhật, chẳng hạn như kiến trúc, hội họa, trà đạo, thơ haiku, cắm hoa và ẩm thực.

Tranh Thiền đã xuất hiện ở Trung Hoa từ cuối đời nhà Đường và phát triển mạnh vào đời nhà Tống. Tranh Thiền được biết đến nhiều nhất là Thập mục ngưu đồ (tranh chăn trâu) với 10 bức, thể hiện các giai đoạn của việc tu tập Thiền. Song song với sự phát triển của hội họa Thiền thì thư pháp Thiền cũng ra đời và phát triển.

Trầm Kim Hòa cho biết: ý tưởng đến với tranh Thiền đã hình thành nơi ông từ năm 1986 và từ đó ông bắt đầu nghiên cứu về nghệ thuật hội họa Thiền tông. Trong quá trình đó ông không chỉ nghiên cứu triết học Thiền tông mà còn tu tập thiền; chính từ đó ông tìm được sự hài hòa giữa tu tập, thiền định với các kỹ thuật vẽ tranh Thiền, nhờ đó giúp ông tìm được một phong cách mới của tranh Thiền; chỉ dùng mực nho với những nét bút lông mạnh mẽ, đơn giản nhưng biểu đạt được nội tâm cũng như kinh nghiệm tu tập và sống với Thiền.

Theo NHƯ HOA

Một số tranh khác của Trầm Kim Hòa:











.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 400
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Vào cõi tranh thiền   Fri Apr 08, 2016 12:34 am


Thiền trong tranh Phượng Hồng

Họa sĩ Phượng Hồng là người giữ Kỷ lục quốc gia về sáng tác tranh Phật giáo nhiều nhất Việt Nam với hơn 5.000 tác phẩm từ 1965 đến nay. Hiện ông là thành viên Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, chuyên đề Mỹ thuật Phật giáo. Mỗi năm, ông đều tham gia triển lãm tranh trong các ngày lễ Phật giáo trong nước và quốc tế. Tranh của họa sĩ Phượng Hồng giống những mảng sống nhỏ bé giữa thiên nhiên bao la, ông níu nhặt từng khoảnh khắc để diễn tả cái bản ngã của Phật.

Họa sĩ Phượng Hồng sinh 1949 tại Nha Trang, Khánh Hòa. Năm 14 tuổi, nhờ sự chỉ dẫn của cha và sự cổ vũ nồng nhiệt của mẹ, Phượng Hồng “vung” những nét cọ đầu tiên lên giấy dó. Chưa đầy một năm sau, ông ra mắt triển lãm đầu tay với chủ đề "Phật trong thiên nhiên" tại Tỉnh Hội Phật giáo Khánh Hòa (1964), gây tiếng vang lớn trong giới nghệ sĩ nơi đây. Thành công này là tiền để hun đúc lên phong cách nghệ thuật trong tranh của ông về sau.
 

Chân dung Đạt ma Sư tổ qua cây cọ của họa sĩ Phượng Hồng.


Họa sĩ Phượng Hồng chủ yếu vẽ tranh bằng chất liệu màu nước trên vải và giấy dó.
 
Sau đó, ông khăn gói đi và đến những nơi mình muốn, thỏa chí sáng tác tranh. Hành trang trên vai ông là một vài cành cọ với mấy lọ màu nước, lúc ông lên non, khi xuống biển, mỏi gối lại vào chùa tu đạo, học thiền... nên nội dung tranh của ông hướng về thiền đạo.

Họa sĩ Phượng Hồng cho biết, thiền trong đạo Phật không phải là một cái gì đó quá thâm u, thiền tại tâm ta, do ta nắm bắt, và do ta tự giác ngộ nơi mình. Với ông, Đức Phật hiện hữu ở khắp nơi, từ thiên nhiên, vạn vật cho đến con người đều mang pháp thân của Đức Phật. Thế nên, thiền trong tranh là sự chuyển tải cái tâm lực của một người hành thiền vào trong bức họa, để qua đó truyền tải một cách trọn vẹn sức mạnh bất diệt của tinh thần Phật giáo đến với người thưởng thức.

Họa sĩ Phượng Hồng chủ yếu vẽ tranh bằng chất liệu màu nước trên vải và giấy dó. Đó là hình ảnh những chú chim nhỏ bé bay nhảy tự do, tự tại giữa thiên nhiên rộng lớn, là số kiếp lênh đênh của con người trước muôn ngàn đổi thay của tạo hóa, là sự bình dị của núi rừng, mặt trời, ánh trăng... Thế giới tranh của Phượng Hồng là thế giới động trong cái tĩnh lặng, và sống, chết bằng tâm thức của chính tác giả. Những tác phẩm của ông có dung mạo rất riêng, đó là sự dung dị mà sâu sắc, trầm lắng trong vẻ đẹp muôn màu của thiên nhiên, vạn vật và muôn loài.

Ngoài ra, ông còn vẽ tranh sơn mài, sơn dầu, phấn tiên,... Dù ở chất liệu nào, tranh ông cũng mang hơi hướng thiền trong Phật giáo, quan hệ giữa thiên nhiên và con người. Đó là những tâm tình, sự tri ân của ông với cuộc đời, tri ân Phật giáo đã nuôi dưỡng, hun đúc nên con người ông như ngày nay. Thiền trong tranh Phượng Hồng mang đến sự yên bình, thanh thoát cho người xem .

Cả đời họa sĩ Phượng Hồng đắm mình trong niềm đam mê hội họa và thiền học. Ở tuổi 66, ông vẫn miệt mài vẽ tranh không ngơi nghỉ, vẽ cả trong cơn đau ốm, vẽ quên ăn, quên ngủ, vẽ đến lúc nằm lăn ra mới thôi. Tranh của ông được mời triển lãm ở hầu hết các tỉnh thành trong nước, ngoài ra còn gửi triển lãm ở Mỹ, Úc, Canada, HongKong, Nga, Nhật, Thụy Sĩ,... và tham gia triển lãm trực tiếp ở Lào, Campuchia, Thái Lan,... Đó là những “hành trình tâm linh” bất tận. Sau mỗi cuộc triển lãm, ông thường dành phần lớn doanh thu cho việc làm từ thiện.
 
Một số tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Phượng Hồng:



















Bài: Đỗ Văn - Ảnh: Nguyễn Luân
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Vào cõi tranh thiền   

Về Đầu Trang Go down
 
Vào cõi tranh thiền
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Hội Họa-
Chuyển đến