Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
quan NHẬT mien HUNG tien Ngày lang trai viet cuoc thang thanh huyen pham nguoi ngoc cong nhung rang nghe phung Thầy sinh nguyen nghia thuy
Latest topics
January 2017
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Vũ Hoàng Chương - Thầy Ðồ Đầu Thai Lầm Thế Kỷ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
NHViet



Posts : 231
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Vũ Hoàng Chương - Thầy Ðồ Đầu Thai Lầm Thế Kỷ    Sat Sep 08, 2012 2:45 am


Vũ Hoàng Chương - Thầy Ðồ Đầu Thai Lầm Thế Kỷ


Hạ Long


Vũ Hoàng Chương dường như đã tâm sự: thi nhân chẳng làm được nghề gì khác ngoài nghề làm thơ! Ai cũng nghĩ đi dậy Việt Văn, bình giải thi phú cho học sinh đang tuổi lớn khôn là nghề thích hợp nhất cho văn thi sĩ, có biết đâu trái tim thi sĩ giống như lằn chớp, nhoáng lên ở đằng Đông rồi xẹt về đằng Tây, không dễ câu thúc trên bục giảng, không thể ngồi yên dù mươi phút trong một căn phòng mà mình đã chán, lại càng không thể nán lại vài giây trên những lá thơ xơ xác, những vụn văn nhạt nhẽo, ôi! Văn chương thi phú phải chăng là đệ ngũ khổ ngoài bốn nỗi khổ thiên thu sinh lão bệnh tử?
 


Suốt cả năm học đệ Nhị ban Văn chương tôi chỉ thấy Vũ Hoàng Chương nổi hứng có hai lần: lần giảng về Kiều và lần giảng về Tản Đà. Ông rất thích lối làm thơ câu này đối với câu kia, đoạn sau đối với đoạn trước của Nguyễn Du... “làm thơ mà tới mức độ như vậy phải nói là rất cao” như lời ông phẩm bình, và vào một buổi học cuối niên khoá, tháng Năm trời mưa, giữa cơn mưa lành lạnh, bàn bạt xầm xập trên mái nhà tôn, ông cao hứng đọc bài thơ Chả Chim của Tản Đà, dẫn học sinh, 16, 17 tuổi về thăm quê hương núi Tản sông Đà, thú vị như đang nhắm rượu với chả chim thơm phức, ông say sưa kể chuyện vua Tự Đức ngự giá Bắc tuần, dừng lại một đêm ở chân núi Tản, đêm ấy nhà vua nằm mơ thấy một ông quan mặc áo đỏ, tay bế đứa trẻ sơ sinh, dâng lên vua. Quần thần giải là ông quan mặc áo đỏ chính là sơn thẩn Tản Viên, đứa trẻ sơ sinh là nhân sâm quý núi thiêng, chỉ nơi đây, khắp đất Việt, trên núi thắt cổ bồng mà có Thánh sinh này, mới mọc được nhân sâm đệ nhất phẩm. Từ đền Hạ, leo lên đền Trung, rồi tới đỉnh non Tản, phải nhờ người Mường cõng, mất cả ngày trời. Trên đỉnh núi thắt cổ bồng, còn ngôi đền với ba chữ Nho Bạch Sỉ Tự, nét son đã mờ nhạt, nghe đâu dựng từ đời Lý. Thời tiền chiến, đền Thánh Tản còn giữ được sổ vàng với ngự bút của vua Tự Đức. Thế hệ Vũ Hoàng Chương, con cháu nhà Nho, gốc rễ sâu xa với dân tộc, bền bỉ truyền thống, còn bắt được huyết mạch Lạc Việt, để trao truyền cho thế hệ sau, cho nên chẳng lạ khi tác giả Thơ Say với bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân, bỗng hùng hồn xuất ra Bài Ca Bình Bắc, một mùa Xuân sau cuộc di cư 1954, rồi rừng rực Lửa Từ Bi sau 1963… Ngôn ngữ là hồn dân tộc, thi nhân lại là hồn ngôn ngữ, cho nên một nghệ sĩ đích thực, tâm hồn lặn sâu trong tâm thức giống nòi, để vọt lên nguồn hứng khởi tinh ròng bộ tộc. Vũ Hoàng Chương làm thơ với tâm thức non sông phả vào từng dòng, từng âm điệu, khi não nuột, khi say đắm, khi hừng hực, khi đĩnh đạc thày đồ. Ông là kẻ sĩ vác trên vai, một bầu rượu, một nỏ thần, một tia mắt đa tình, yêu thương chính mình, thương cảm cõi người bao quanh, ông chẳng sống trong tháp ngà 24 giờ một ngày, ông đứng hàng giờ trong lớp học, ngồi cả buổi ở quán, vãn cảnh chùa, thăm báo quán, quây quần văn hữu và luôn luôn sáng tạo dù có khi “hứng thơ cả tháng, cả năm... có khi không trở lại.”

Lớp học chật chội, mái tôn nóng nực như thiêu như đốt của những buổi trưa Sàigòn, vậy mà người giáo sư thi sĩ kia vẫn đóng bộ chỉnh tề, cà vạt diêm dúa, giày hai màu “deux couleurs” công tử Hà Thành, thời của Tự Lực Văn Đoàn, của hộp đêm ca kỹ đàn địch, không biết khi đứng trên bục giảng, một tay cầm tập cua ronéo bìa đỏ, một tay vịn lên mép bàn, ông còn cảm tưởng “sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió” hay không? Vũ Hoàng Chương hay mặc Âu phục mầu hạt dẻ, màu lịch sự nhất theo mắt ông và thường đội mũ phớt không biết để làm dáng hay để che nắng? Những lần nhìn ông tay sách cặp, quần áo đóng bộ không một nếp nhăn, đi giữa ánh nắng chói chang ở khu Chợ Vườn Chuối Phan Đình Phùng như một hiện tượng trích tiên giữa tục lụy... Con người đầu thai lầm thế kỷ này vẫn sống để nuôi dưỡng thế hệ mê đọc thơ văn tiền chiến, ông chính là hình ảnh sống động còn sót lại của lớp nghệ sĩ lãng mạn phong lưu! Cùng với Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương giữ trọn vẹn phong cách ấy... khác xa phong cách dở dở ngang ngang, loại lập dị, lúc vào ngồi ở nghĩa địa, bờm xờm tóc tai, lúc say sưa cẩu thả, háo hức mong tạo huyền thoại lưu danh!



Thời 1960 Sài Gòn có hai vị giáo sư nghệ sĩ, thường dậy chung trường, hai nghệ sĩ dáng dấp đối nghịch nhau: văn gia Vũ Khắc Khoan sức vóc mặt mũi đỏ gay, xắn tay áo như một tráng sĩ lẫm liệt, Vũ Hoàng Chương bạch diện ẻo lả thư sinh, gió thổi cũng bay... Vậy mà nghe đâu ông rất can đảm, thời kháng chiến Việt Minh ông cương quyết chống lại văn hóa chỉ đạo, trong lớp đôi lần ông giải thích “có nhiều người lúc thường rất nhút nhát yếu đuối nhưng bất ngờ có thể làm chuyện can đảm phi thường không ai ngờ được.” Kịch tác gia Khắc Khoan và nhóm Quan Điểm ưu thời mẫn thế, băn khoăn, đăm chiêu, nhưng nhà văn khác với nhà thơ: văn có thể giấu chân tướng, thơ thì không, vì hồn thơ kết tinh nhân cách tâm hồn, văn là người còn mặc quần áo, thơ là người trần truồng... mức cao, thấp, chấp nhặt, thoát sáo, phơi bày, đọc một câu một đoạn biết ngay. Người làm thơ chân đi trên mặt đất, nuôi tâm tình rất thực nhưng dùng đôi cánh trích tiên cao cả sẵn có, Trời phú, để thăng hoa, để bốc tâm tình nhân thế lên cõi cao xa, để giúp tục nhân bay tới gần chân thiện mỹ. Nguyễn Du thừa hiểu:

Tri giao ngã quái sầu đa mộng
Thiên hạ hà nhân bất mộng chung?
Bạn cười ta chỉ mơ mòng
Hỏi người ai đã ngoài vòng say mơ

Giới văn nghệ kể lại hai ông bạn thơ Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng thời 1945 nằm mơ màng bên khói phù dung quên cả ngày đêm, tới lúc ló đầu qua cửa sổ thấy cờ đỏ sao vàng bay rợp trời mới hỏi nhau. “Cờ nước nào đấy?” thì quả thật các tiên ông đã được sống trong thế giới vô tư lự, ta ca trái đất của riêng ta! Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng cốt cách giống nhau: ăn mặc diêm dúa, chải chuốt, tiêu biểu cho cả một thế hệ công tử Hà Thành, họ sống giấc mộng thi nhân, thành thật với chính mình, họ sống mơ màng, nhưng chẳng bao giờ khiếp nhược hèn hạ ca tụng bình vôi tượng đất, hay mang máu me dao găm lựu đạn vào văn chương. Thời trước 1960, chính phủ VN Cộng Hòa đặt ra phong trào tố Cộng cho công chức học sinh học tập, Vũ Hoàng Chương đã khảng khái: văn chương nịnh bợ cộng sản không hay thì văn chương tố cộng cũng không thể hayđược - trước sau ông chủ trương nghệ sĩ phải hoàn toàn tự do sáng tạo, không thể ép vào khung cũi chính trị nào, dù khung to hay nhỏ, khung đỏ hay khung xanh.

Ông nhận định thanh thoát: “con người ta sống cả vạn năm trong rừng rú hoang vu, tất nhiên máu tự do phải nhiều hơn, xã hội kìm kẹp làm sao được...” suốt năm học, chưa bao giờ nghe ông nặng lời chê bai dèm pha phỉ báng bất cứ ai, ông là loại thoát tục, ái ngôn ái ngữ, đóa sen giữa bùn lầy, như tre trúc phất phơ bờ ao, hiền hoà với cả chim muông sâu bọ.



Khi dậy học, Vũ Hoàng Chương đóng vai giáo sư nghiêm túc như thầy đồ Nho. Ông giỏi chữ Hán và giữ phong cách cẩn tắc của kẻ sĩ, đôi khi đi chùa mặc áo the đen, khăn đóng,đọc thơ ông người ta thấy nét mới nhưng ý vẫn cổ kính trang trọng như thơ Đường. Người đọc có thể thích hay không thích thơ Vũ Hoàng Chương, nhưng khó có thể tìm ra những câu thơ non hay những từ vụng trong dòng thơ họ Vũ. Thơ cũng vậy mà người cũng vậy, ông ăn nói nghiêm cẩn, không cười đùa trong lớp, không nóng giận, đặc biệt ông ra đề luận hàng tháng, chấm bài kỹ càng và trả bài rất đều đặn. Thời 1954-1960, các trường thiếu giáo sư trầm trọng, có ông như Nguyên Sa, dậy Triết, chẳng bao giờ ra bài, tới kỳ thi, cho cả lớp 9, 10 điểm (10/20 là trung bình) nghĩa là chẳng đọc chẳng chấm gì cả. Đứng về phương diện sư phạm, Vũ Hoàng Chương là một ông thầy đứng đắn hiếm có, trọng mình và trọng trò, ông thích thú bình văn, khoanh đỏ những câu hay, phê đầy mặt giấy, dù là luận văn non nớt của lớp học trò trẻ tuổi. Một đề luận về Nguyễn Công Trứ, học trò viết “cảnh cố cùng” theo ý câu “quân tử cố cùng thêm thẹn mặt”, ông giải bình cặn kẽ “cố là kiên cố, cùng là lúc khốn cùng, nếu viết là cảnh cố cùng thì vô nghĩa”. Ông trân trọng với văn chương thi phú, ông giảng kỹ Kim Thạch Kỳ Duyên, với Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, với cả Học Lạc nữa! Ông cho rằng thơ phải mang nét địa phương mới đặc sắc, miền Nam nắng chói chang, mưa đột ngột vẫn mang thi vị đặc biệt. Đã có thời trước 1954 ở Hà Nội ông viết báo chỉnh Đoàn Phú Tứ về ngôn ngữ văn phạm Việt. Thơ Vũ Hoàng Chương dùng từ rất chuẩn, đôi khi như câu đối, mực thước, nhiều bài đọc lên tráng lệ súc tích mà cũng đầy chất sáng tạo: suối chảy non cao ông dùng từ Tang tùng nước chảy gợi hình gợi âm suối chảy đàn trong, Mài gươm từ lúc nguyệt còn non, ông hỏi gươm sáng dần, sao nguyệt chẳng mòn. Nét bút của ông, rồng bay phượng múa, tựa vẽ tranh, lại hay chấm phá thành những vì sao rơi rắc quanh dòng chữ.



***

Khoảng tháng 5, tháng 6, năm 1959... hết giờ học tôi theo ông ra khỏi lớp hỏi : Bao giờ thầy cho ra tập Hoa Đăng?, nhà giáo thi sĩ chần chừ vài giây rồi trả lời - Bao giờ có lửa!

Bẵng đi vài năm tôi thấy ông giữ mục Nhị Thập Bát Tú, thơ 28 chữ, trên tờ Ngôn Luận, khoảng ấy Nhất Linh cũng đã trở về Sàigòn hoạt động. Có lẽ mấy năm trước 1963, đốm lửa Tự Lực xưa nhóm lại, bùng lên trước khi tắt, bốc cao cảm hứng, nhất là sau lần du hành tham dự hội thơ quốc tế ở Âu châu ông đã gặp một nữ thi sĩ người Bỉ nào đó, từ đấy ra đời tập Cảm Thông - Communion, thơ song ngữ Việt-Pháp-Les 28 Etoiles, in tuyệt đẹp. Năm 1963 bất ngờ Nhất Linh tự tử phản đối chế độ độc tài, trong phòng họp hôm ấy ban giáo sư xúm quanh Vũ Hoàng Chương tán thưởng vế câu đối chơi chữ của ông: “Nhất khả đoạn, nhị khả tuyệt, nhi Tam bất hủ”... Câu đối bất hủ này đăng lên báo qua mắt ban kiểm duyệt bộ Thông Tin, vì chữ Nho thâm quá, đọc kỹ mới thấy chữ khả ám dụ tên người, đọc sơ chỉ thấy hai chữ Đoạn Tuyệt rất khéo, thêm ba chữ Nhất, Nhị, Tam thật chỉnh. Tôi lần đầu gửi thơ đăng báo, một bài thơ tưởng niệm Nhất Linh, gửi cho ông thầy cũ trên mục Nhị Thập Bát Tú, ông trả lời cẩn tắc trên báo: tiếc không đăng được vì lý do bạn hiểu!



Tuy nhiên, đã mang nghệ thuật vào vòng tục lụy tất phải vướng hệ lụy, danh cao, ảnh hưởng lớn, khẩu nghiệp, làm phe thô bạo tục tằn lo ngại. Và một thi hào thân xác như tàu lá gió thổi cũng bay cũng đã phải đi ngồi tù trả nghiệp, có phải oan hồn Cao Bá Quát bị bêu đầu còn phảng phất trên cái đất Việt ma quỷ yêu tinh quái ác này không?... Có tin chính nhóm cán bộ văn hóa từng đố kỵ thuở xưa với Vũ Hoàng Chương đã gài buộc ông, nghe đâu họ (Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tố Hữu?) đưa cho ông quà cáp và một tấm ảnh lãnh tụ cùng tài liệu để viết bài (chắc hẳn là bài ca tụng chế độ!), không biết quên thật hay quên vờ, ông lại để tập tài liệu đó xuống giường nằm đè lên, không viết! Lại có chuyện sau 1975 nhóm văn công họp đêm văn nghệ ở SàiGòn, chờ ông lên tiếng ca tụng bài thơ Đời Đời Nhớ Ông ca ngợi Xít Ta Lin ông đã thẳng thắn như cây tre già, đại ý ông phân biệt, theo phê bình văn chương của văn hào Pháp Boileau (tk17), giữa thợ thơ (ouvrier poète) và thi sĩ đích thực, thợ thơ có thể làm thơ khéo, nhưng muốn đạt, muốn hay, thơ phải mang tâm tình chân thật. Nếu đặt vào miệng trẻ thơ hai câu:

Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin

thì là thơ khéo nhưng giả tạo, làm sao trẻ thơ Việt Nam mới tập nói đã biết đến cái tên Nga Sô xa lạ ấy! Chưa kể bài thơ vịnh tranh gà lợn vào dịp Xuân 1976 với những câu như:

Rằng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh

khiến lũ thợ thơ lấy cớ cáo buộc hận thù. Rồi tháng 4 năm 1976 chúng sinh từ lò Nga Tầu bắt ông vào tù, nghe nói trong buồng giam chật chội, ông được cựu Thủ Tướng Bác sĩ Phan Huy Quát, nguyên chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng, cũng đang trả nghiệp oan oán oái oăm của Trẻ Tạo, đấm bóp chăm sóc cho dịu những cơn đau xương cốt ở tuổi sáu mươi, thời gian này nhà thơ suy ngẫm về thân phận con người:

Đã bao giờ có hạc vàng đâu,
Để có người tiên, để có lầu
Đã tưởng hạc bay, mây trắng ở
Lầm, Thôi Hiệu trước, Nguyễn Du sau.
Hạc còn mê mải, mê hồn kịch
Tiên vẫn nằm trong vạn cổ sầu
Năm tháng hão huyền như khói sóng
Nồi kê chưa chín nghĩ mà đau!

Tháng 9 họ thả ông về nhà, nhìn mặt vợ con lần cuối, được một tuần tái kiến cõi nhân gian thì ông từ biệt thế kỷ XX ô trọc này. Vào những giây phút cuối cùng, ông còn nắm tay văn hữu Tam Lang Vũ Đình Chí và đọc bốn câu thơ:

Dấu hỏi bao quanh suốt cuộc đời
Sên bò trong óc máu thầm rơi
Chiều nay một chấm than buông lửng
Đinh đóng vào xăng tiếng trả lời.

Rồi Ông Tiên thơ tắt thở bay đi, ông đã sống đẹp và mơ sạch, ông hoá kiếp đời vinh nhục, mà kẻ nhục muôn đời chính là những chúng sinh đã hãm hại ông.

***

Trong ánh nắng chói chang của miền thung lũng Cali, thứ nắng thơm thơm bốc lên từ những vườn nho đang ươm giữa vũ trụ, mỗi lần nhẩm đọc dòng thơ man mác của ông:

Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

lòng tôi lại vời vợi như thấy trước mắt, trên xa lộ lung linh hoe vàng, một người xúng xính Âu phục màu hạt dẻ chải chuốt, đội mũ phớt, tay xách cặp đi tung tăng như cậu bé rong chơi, chốc chốc đôi vai lại nhún lên... bồng bềnh khói sóng.

HẠ LONG

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
tranvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vũ Hoàng Chương - Thầy Ðồ Đầu Thai Lầm Thế Kỷ    Wed Mar 05, 2014 11:43 pm


Vũ Hoàng Chương Và Những Vần Thơ Lẻ

 
Từ Linh Nguyên





Vũ Hoàng Chương có một lượng thơ khá lớn với nhiều tập thơ ra đời từ thời tiền chiến (phong trào thơ mới 1932-40) và thời hậu chiến (sau 1954). Tập thơ đầu của ông là THƠ SAY (1940), sau là Mây (do ĐỜI NAY xuất bản).

Khoảng năm 1943, nhà xuất bản Đời Nay xuất bản một Giai Phẩm Xuân có đăng vở kịch thơ VÂN MUỘI của ông.

Năm 1954, ông từ Bắc di cư vào Nam và xuất bản các tập thơ RỪNG PHONG, HOA ĐĂNG, CHÚNG TA MẤT HẾT CHỈ CÒN NHAU... Một số thơ mà ông liệt vào loại NHỊ THẬP BÁT TÚ, được đăng trên các tạp chí ở miền Nam. Nhị thập bát tú là những bài thơ làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt (4 câu 7 chữ) có tất cả 28 chữ, nên gọi là Nhị thập bát tú (28 vì sao).

Một tập thơ được các môn sinh tập trung các bài thơ tình của ông hồi trẻ và xuất bản ở hải ngoại sau năm 1975 là: TA ĐỢI EM TỪ BA MƯƠI NĂM.

Cũng sau năm 1975, ở Hoa Kỳ, nhà xuất bản Xuân Thu đã in lại VÂN MUỘI, cùng các tập thơ: CẢM THÔNG, ĐỜI VẮNG EM RỒI SAY VỚI AI, TÂM SỰ KẺ SANG TẦN, LOẠN TRUNG BÚT.

Vũ Hoàng Chương là một trong số ít nhà thơ sành Hán văn, thích thư họa, nên ông đã từng làm thơ, dịch thơ, làm câu đối bằng chữ Hán.

Năm 1954 vào Nam dậy học, và sinh hoạt văn nghê. Sau năm 1975, ông bị đưa đi học cải tạo và mất sau đó không bao lâu đi được tha.

Ở đây, người viết không đề cập đến Vũ Hoàng Chương qua số lượng thơ lớn với nhiều tập thơ đã xuất bản của ông. Chỉ nhắc đến một ít bài hay vần thơ lẻ của ông, Việt văn lẫn Hán văn, mà ít người biết đến, không nhớ hay do thơ đăng rải rác đây đó trên các báo mà không được tập trung vào một tác phẩm nhất đi.nh.

Trước hết, thử phát họa đôi nét về con người Vũ Hoàng Chương. Thời xưa, hồi còn trẻ, ông đam mê nhiều thứ: rượu, thuốc phiện, ả đào, khiêu vũ... Những cái đam mê này cũng chỉ để tìm những nguồn cảm hứng cho thơ theo cái "mốt" của thời đại bấy giờ. Bài SAY ĐI EM, QUÊN, NGHE HÁT được trích dẫn trong tập THI NHÂN VIỆT NAM là tiêu biểụ

Sau năm 1954 vào Nam, có lẽ vì là nhà giáo, ông không còn có cái đam mê thời trước, mà chỉ có cái đam mê sáng tác thi ca, và có cái cốt cách, phong độ của kẻ sĩ.

Thơ Vũ Hoàng Chương rất đa dạng: thơ tình, thơ hoài cổ, thơ triết lý... mặt nào cũng có phong vị riêng, rất Vũ Hoàng Chương.

Điều đáng nói là cái phong độ kẻ sĩ của ông đã biểu lộ rất mực, sau năm 1975, trong một buổi họp văn nghệ do Thanh Nghị, một nhà văn từ bưng về thành, tổ chức để ca tụng Tố Hữu, về hai câu thơ trong bài "ĐỜI ĐỜI NHỚ ÔNG": "Thương cha thương mẹ thương chồng, Thương mình thương một thương ông thương mười". Được mời phát biểu ý kiến, Vũ Hoàng Chương đã chê hai câu thơ đó là không chân thật khi đặt lời ấy vào miệng một bà mẹ Việt Nam, cũng như vào miệng con trẻ khi tập nói: "Tiếng đầu lòng con gọi Stalin." Ông cho đó là loại "thơ thợ", thơ tuyên truyền, không có gì đáng gọi là thơ hay, trong lúc các văn nghệ sĩ khác như Thanh Nghị, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và những người khác đều hết lời khen Tố Hữu đã có những câu thơ tuyệt tác, "xuất thần khẩu chiếm" đó.

Cũng nên biết rằng Vũ Hoàng Chương là một thi sĩ đồng thời với Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, cùng là những tài danh trong làng thơ mới, nhưng lại được Nhất Linh, chủ soái Tự Lực Văn Đoàn, gọi là "Thi Vương" (vua thơ) .

Có lẽ vì lời phát biểu "ươn ngạnh", không xu phụ nhà lãnh đạo văn nghệ miền Bắc, nên sau đó Vũ Hoàng Chương đã bị đưa đi cải tạo tư tưởng.Trong tù, ông đã làm bài thơ khí khái:

Thấm thoát vào đây tháng đã tròn
Lông hồng gieo xuống nặng bằng non
Một manh chiếu lỉa hồn ngây ngất
Ba chén cơm rau xác mỏi mòn
Ngày tới bữa ăn càng nhớ vợ
Đêm về giấc ngủ lại thương con
Bao nhiêu nước chảy qua cầu nữa
Chẳng dễ gì phai một tấm son.

Vào dịp Tết Bính Thìn - 1976, khi chưa đi cải tạo, sống dưới chế độ mới, "trong khoảng thời gian tranh tối tranh sáng của thời sư.... Lúc ấy, buổi hỗn quân hỗn quan, lúc thú vật đội lốt người, tác yêu tác quái", như Nguyễn Mạnh Trinh đã viết, Vũ Hoàng Chương có bài thơ VỊNH BỨC TRANH GÀ LỢN, với ngụ ý châm biếm sâu sắc:

Sáng chưa sáng hẳn tối không đành
Gà lợn om xòm rối bức tranh
Rằng vách có tai thơ có họa
Biết lòng ai đỏ mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

Qua hai bài thơ trên, Vũ Hoàng Chương có thái độ "khinh thế ngạo vật" trước thời cuộc biến thiên của nước nhà. Ông không là một kẻ khiếp nhược, chẳng tỏ vẻ gì lo sợ trước nghịch cảnh, như nhận định sau đây của Nguyễn Huệ Chi, một nhà văn miền Bắc, dù ông này vẫn phục tài và có cảm tình với Vũ Hoàng Chương:

"Đã từng sống trong không khí cải cách ruộng đất đợt V, hồi 1955 ở khi IV, tôi thấu hiểu nỗi sợ đến khủng khiếp về một cái gì không ra ngô ra khoai, về sự chờ đợi trong nặng nề khắc khoải, phải đếm từng giây phút một cho bớt cô đơn lạnh lẽo mà Vũ Hoàng Chương đã từng sống..." (sic)

Một số bài thơ của Vũ Hoàng Chương có tính chất thời sự, có lẽ ông chỉ cảm khái nhất thờị Chủ yếu thơ ông là thơ tình. Song thơ tình Vũ Hoàng Chương thời hậu chiến khác thơ tình thời tiền chiến, có ngôn ngữ chau chuốt, điêu luyện với giọng thơ phóng khoáng, tài hoa, có phong thái "thơ cẩm tú đàn anh họ Lý" của thi ca Đường, Tống:

Trở gót quê say ngược Suối Điều
Nét hoa mờ tỏ sóng phiêu diêu
Lên tiên về tục thương Từ Thức
Lấy giả làm chân học Thúy Kiều

Một số thơ khác của Vũ Hoàng Chương mang nét đấu tranh, do biến chuyển xã hội, thời Đệ Nhất Cộng Hòa:

Giờ điểm lâu rồi hỡi Tuổi Xanh
Có nghe nét chữ réo tung hoành
Có nghe giòng mực sôi trên giấy
Nhịp bốn nghìn thu Sử Đấu Tranh
Đáp tiếng nghìn xưa thề chiến đấu
Quên thân giằng cướp lấy sơn hà
Đứng lên đòi lại bằng xương máu
Sông núi vàng son của chúng ta

và trong vụ Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, bảo vệ Phật Pháp:

Thương chúng sanh trầm luân bể khổ
Người sẽ phăng đêm tối đất đầy
Bước ra ngồi nhập định hướng về tây
Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngõ...

Về sau, thơ Vũ Hoàng Chương chuyển sang địa hạt triết lý với NHỊ THẬP BÁT TÚ:

Ta ngắm trông vào cái chính ta
Hồn xanh trong nếp áo thu già
Tay kia từng níu trời cao mãi
Nay chống ô chờ đất nở hoa

Ngày song thất 1963 (7-7-63), Nhất Linh tự hủy mình, như Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, để phản đối nhà Ngô kết án ông là phản loạn, Việt Nam đã khóc nhà văn cách mạng qua hai câu đối chữ Hán:

- Sổ thập niên bút mặc thành danh, nhất khả đoạn nhị khả tuyệt, nhi tam bất hủ
- Song thất dạ vân tiêu lạc phượng, tiên Phong hóa hậu Văn hóa, ư trung lập ngôn

Tạm dịch:

Mấy chục năm bút mực lừng danh, một dễ đứt hai dễ mất, mà ba còn mãi
Đêm bảy bảy trời mưa rớt phượng, trước Phong hóa sau Văn hóa ngôn luận để đời

Ghi chú hai câu đối nhiều ý nghĩa này:

1/ một, hai = bút mực, ba = danh
2/ Nhất = Nhất Linh, Nhị = Nhị Linh (bút hiệu Khái Hưng), Tam = Tam Linh (bút hiệu khác của Nhất Linh và Nguyễn Tường Tam (tên Nhất Linh).
3/ đoạn, tuyệt = cũng là tên ĐOẠN TUYỆT, một tác phẩm của Nhất Linh
4/ phượng = chỉ Nhất Linh, mà cũng là tên nhà xuất bản Phượng Giang, kế tiếp nhà xuất bản đời Nay, do Nhất Linh chủ trương.
5/ Phong hóa = tờ báo có trước Ngày Nay (thập niên 1930) của Nhất Linh.
6/ Văn hóa = tức tạp chí VĂN HÓA NGÀY NAY do Nhất Linh chủ trương, cùng với nhà xuất bản Phượng Giang, vào thập niên 1950.

Vốn sành chữ Hán, Vũ Hoàng Chương từng dịch bài LIÊU TRAI ĐỀ TỪ của Vương Ngư Dương ở sách LIÊU TRAI CHÍ DỊ của Bồ Tùng Linh:

Cô vọng ngôn chi vọng thính chi
Đậu bằng qua giá vũ như ty
Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ
Ái thính thu phần quỷ xướng thi

THƠ ĐỀ SÁCH LIÊU TRAI:

Nói bứa bừa đây nghe bứa bừa
Dây dưa giàn đậu phới tơ mưa
Chuyện đời chừng đã đầy ngao ngán
Thích lắng mồ thu quỷ đọc thơ

Cách dịch thơ của Vũ Hoàng Chương rất phóng túng, ít chịu gò bó theo nguyên tác, kể cả từng chữ, câu và luôn cả ý. Ngôn ngữ dịch của ông khá đặc biệt, kênh kiệu mà tân kỳ (bứa bừa, phới tơ mưa).

Với bài TAM THƯỚNG HẢI VÂN dưới đây, của Trần Bích San, ông đã đảo thứ tự trên dưới hầu hết số câu và dịch rất thoát, dùng chữ khéo, tuy có phần không sát lời thơ nguyên tác, và vẫn diễn rất đạt và mở rộng cái ý tưởng hàm súc của tác giả (nhất là những câu 3-4, 5-6).

điểu thân khinh độc vãng hồi
Thả Tam niên tam thướng Hải Vân đài
Nhất o thụ bán không đê nhật nguyệt
Kiền không trích nhãn tiểu trần ai
Văn vô sơn thủy vô kỳ khí
Nhân bất phong sương vị lão tài
Hưu đạo tần Quan chinh lộ hiểm
Mã đầu hoa tận đới yên khai

BA LẦN VƯỢT HẢI VÂN

Ba năm vượt ải đã ba lần
Nhẹ cánh chim trời dạo Hải Vân
Ngắm rộng kiền khôn coi cũng bé
Lên cao nhật nguyệt tưởng đâu gần
Gió sương như búa tài thêm chuốt
Hồ bể làm nghiên bút mới thần
Đầu ngựa rừng hoa chen khói nở
Cười ai kêu hiểm lối sang Tần

Vũ Hoàng Chương đã dịch:

Xưa hạc vàng bay ngút bóng người
Đây lầu Hoàng hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mất
Trắng một màu mây vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống đâu quê quán
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi

Bài dịch này cùng vẫn theo lối dịch không đi sát nguyên tắc. Vũ Hoàng Chương không chịu phụ thuộc triệt để lời thơ của tác giả, chỉ tạo ngữ khí và ngữ cảnh riêng của mình để diễn dịch thơ của ngườị Có thể nói đây là một cách chuyển tác bài thơ này sang bài thơ khác với những ý chính được lưu giữ lại.

Thơ chữ hán của Vũ Hoàng Chương cũng rất điêu luyện. Mở đầu thi phẩm RỪNG PHONG ông có hai câu thơ:

Lãnh quế trầm hương thương hải nguyệt
Loạn bồng tâm đới bạch vân thu

và ông tự dịch:
Quế lạnh hương chìm trong bể biếc
Cỏ bồng mây trắng rối lòng thu

Vẫn lối dịch phóng khoáng, đảo lộn trật tự trong câu nguyên tác để diễn ý thợ Có thể hiểu câu thơ trên:
Trăng biển xanh lặng quế chìm hương
Mây thu trắng rối bồng trĩu dạ

Năm Ất Mão (1975) vào đêm trừ tịch, Vũ Hoàng Chương đã sáng tác bài thơ chữ Hán KHAI XUÂN THẠCH KHÚC với nhiều điển tích khó hiểu:

Tường vân mãn tọa tọa bôi minh
Hy chúc xuân khai dạ bán quỳnh
Đông liễu Tây đào song tận mỹ
Tần tang Yên thảo nhất hồi thanh
Tần giao cố quốc hoài kim phấn
Tự hữu cuồng ngôn xuất thạch bình
Đồi ngoạ dữ sa trường tuý ngoạ
Cổ lai thuỳ giả chiếm cao danh

Dịch: KHÚC THẦM ĐẦU XUÂN

Mây vờn quanh chỗ chén lung linh
Vui chúc đầu xuân mọi tốt lành
Tây liễu Đông đào đôi vẻ đẹp
Tần dâu Yên cỏ một màu xanh
Phấn hương nước cũ dù mang dạ
Vách đá lời ngông đã vọng tình
Nát rượu cùng say lăn chiến địa
Xưa nay ai đã vượt hơn danh?
(Thiên Nhất Phương dịch)

Bài này bộc lộ ít nhiều tâm sự của tác giả giữa buổi giao thời năm 1975. Hai câu cuối tác giả vẫn tự cho mình là một kẻ "đồi ngoạ" (đồi nhiên tuý ngoạ = say quá nằm liều) tức là một văn nhân bất đắc dĩ.

***
Nhắc đến Vũ Hoàng Chương, người mà Nhất Linh đã phong thì "thi vương" và một nhà văn sau này (Nguyễn mạnh Trinh) gọi là "ngôi sao Bắc đẩu" trên thi đàn Việt Nam.

Thực vậy, Vũ Hoàng Chương là nhà thơ tài hoa, phóng dật cả trong lối sống và trong sáng tác thi cạ. Hơn nữa, ông còn là một kẻ sĩ, "uy vũ bất năng khuất", để rồi phải nhận lãnh cái chết sau một thời gian bị giam giữ trong tù.

Hồi trước, vào năm 1963, Vũ Hoàng Chương đã tôn vinh Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (với câu đối dẫn trên), thì sau này ông cũng bất hủ với sự nghiệp "lập ngôn" của ông.

Nguồn: Vantuyen.net 






.
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vũ Hoàng Chương - Thầy Ðồ Đầu Thai Lầm Thế Kỷ    Tue Jul 01, 2014 9:12 am


Mười Hai Tháng Sáu (Thơ Vũ Hoàng Chương)
Tình khúc Tháng Sáu (Thơ Nguyên Sa, Nhạc Ngô Thụy Miên)


Vũ Hoàng Chương môt nhà thơ dấn thân (1916-1976)


Nguyễn Thiên Thụ

Trước 1945, Vũ Hoàng Chương đã nổi danh với Thơ Say (1940) và Mây (1943). Cốt cách của ông là cốt cách của một lãng tử. Ông thuộc trường phái lãng mạn , nhưng nghệ thuật ông cũng là nghệ thuật tượng trưng cho nên đôi khi rất xa xôi bí hiểm và rất cao siêu, bóng bẩy. Sau 1954, Vũ Hoàng Chương vào Nam và đã sáng tác khá nhiều.

Các nhà nghiên cứu thường cho rằng thi ca Vũ Hoàng Chương lãng mạn, họ không biết rằng Vũ Hoàng Chương là môt nhà thơ dấn thân.

Thời Vũ Hoàng Chương, một số thi văn sĩ chạy theo ảo ảnh Thiên đường Cộng sản. Một số thì vẫn giữ cốt cách lãng mạn cũ. Trong khi đó Vũ Hoàng Chương vừa lãng mạn, vừa tranh đấu cho quốc gia, dân tộc. Tấm lòng ông luôn trong sáng không lung lay, không chao động nay Tần mai  Sở như môt số nghệ sĩ và trí thức miền Nam ta. Ông để lại nhiều tác phẩm.

THƠ
Rừng Phong Sai gòn, 1954
Hoa Đăng, SG, 1959.
Trời Một Phương, SG, 1962.
Lửa Từ BI, SG, 1963. Ánh Trăng Đạo, SG, 1966.
Bút Nở Hoa Đàm, SG, 1967.
Cành Mai Trắng Mộng, SG, 1968.
Ngồi Quán, SG, 1970.

TUYỂN TẬP THƠ:
Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm
Cảm Thông ( Communication)
Tâm Tình Người Đẹp (Les 28 étoiles)
Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai.

BÚT KÝ
Ta Đã Làm Chi Đời Ta. TrươngVĩnh Ký, SG, 1972.

KịCH
Tâm Sự Kẻ Sang Tần. SG,1961.


Rừng Phong in lần thứ nhất năm 1954 nhưng trong đó có những bài thơ làm trước 1945. Thời tiền chiến, Vũ Hoàng Chương đã nổi danh về những bài thơ về tình yêu và đam mê, sau 1945, ông vẫn tiếp tục sáng tác theo hai chủ đề trên. Vũ Hoàng Chương là một thi sĩ lãng mạn. Tinh hoa của thi ca lãng mạn là thuở hoa niên bướm ong rạo rực, nhiều mơ mộng đắm say cũng như lúc đẹp nhất của một ngày là buổi bình minh. Thơ Say và Mây là tinh hoa của Vũ Hoàng Chương, nhưng sau 1954, Vũ Hoàng Chương vẫn cho đời những bài thơ dịu ngọt như Chờ đợi hoài công, Bài ca hoài Tố.

Ông ca tụng tính yêu, đã say mê hình bóng giai nhân, và đau khổ vì yêu:
Ta đợi em từ ba mươi năm
Uổng hoa phong nhụy hoài trăng rằm
Heo may chớm đã lên mùa gió
Ngăn ngắt chiêm bao lạnh chiếu nằm
. . .
Ngai trống, vàng son lợt sắc rồi
Lòng ta hoàng hậu chẳng về ngôi
Hồ ly không hiện, người không đến
Chỉ ánh trăng vào khuôn cửa thôi

Hiu hắt tình trai một kiếp suông
Mênh mông nệm gối rét căn buồng
Lệ sa bạch lạp ngàn đêm trắng
Thơ vút sầu say, rượu nhập cuồng (Chờ đợi hoài công)

Vũ Hoàng Chương luôn hoài niệm mối tình ngày xưa, mối tình thuở hoa niên:
Mùa đã sắp thu rồi, trăng ướt sương
Nến lụi chiêm bao, nằm xa nhớ thương
Hỏi tiếng xưa còn gió thơm canh trường
Em Kiều Thu giờ lầu ai phấn hương? (Bài ca hoài Tố)
Em Kiều Thu ạ! Mười năm cách
Lòng gã Hoàng lang vẫn ngậm ngùi
(Tình thuở thanh bình)
Nhớ xưa còn tuổi hai mươi
Cả một vườn hoa của bướm
Lòng con hồ điệp chơi vơi
Tám nẻo dài thăm nhụy ướm (Hoa nào của bướm)

Vũ Hoàng Chương khi vào Nam cũng tiếp nối cuộc sống của một nghệ sĩ nhiều đam mê:
-Ta van cát bụi trên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này
Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời.( Nguyện cầu)

-Ta say, ta đốt
Ta nằm, ta quên
Và ta nhớ, thuở lòng ta lẫn một
Với âm dương, đằm thắm ý giao duyên
Là đây ngọn lửa đoàn viên
Khói hương tiền sử bên đèn nao nao.(Bài ca dị hỏa)

Trong Rừng Phong, Vũ Hoàng Chương vẫn nối tiếp chủ đề siêu thoát. Vũ Hoàng Chương chịu ảnh hưởng Phật và Lão Trang. Ông thắc mắc về cuộc đời . Ông luôn tìm kiếm chân lý. Phải chẳng tất cả là hư không, là hư ảo, là giấc mộng, là đau khổ?

Phải chăng muôn kiếp nặng nề
Từ Hư Không tới lại về Không Hư
Lẽ nào mộng cả thôi ư
Người ơi! Gịọt bể chứa dư tang điền. (Bài ca siêu thoát)

Những cơn say cũng là hình thức siêu thoát:

-Trở gót quê Say ngược Suối Điều
Nét hoa mờ tỏ sóng phiêu diêu
Lên tiên về tục thương Từ Thức
Lấy ảo làm chân học Thúy Kiều (Ngẫu cảm)

-Mặt khói chơi với hề ngọn đèn chênh vênh
Kìa núi tà dương đỏ dậy
Lam mờ bể nguyệt lung linh
Đã mở cánh huyền vi hề sau rèm hiển hiện
Còn nguyên khối hỗn mang hề vũ trụ sơ sinh
. . .
Đèn hôm nay ngọc đỏ
Khói nơi này tơ xanh
Ta ơi hề ta ơi
Kìa thoáng chân thân vừa hiện đó
Nụ cuời say hoan lạc đến vô tình (Bài ca tận túy)

Thi sĩ quan niệm cuộc đời là những cuộc siêu thoát, là những bước phiêu du từ bao độ luân hồi tử sinh:
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về. (Nguyện cầu)

Sau cùng, cái chết là một hình thức của siêu thoát:

Kìa mảnh da ngà đang nứt rạn
Cho tròn một kiếp chẳng phân vân
Lòng cây mấy thuở ai người biết
Từng khóc từng reo đã mấy lần
Nhựa ứ càng cao niềm giục giã
Đất trời mong mỏi nức hương lân
Cánh hoa sắp hé phô kiều diễm
Nụ thoát hình trong phút nhập thần (Thoát hình)


Thơ của Vũ Hoàng Chương là cái nhìn về mình và cuộc đời. Phần lớn là nỗi buồn tuôn ra cùng tiếng thở dàì áo não. Trước kia Vũ Hoàng Chương đã cảm thấy lạc loài vì nhân thế coi khinh, nay Vũ Hoàng Chương vẫn cảm thấy mình là một người khách lạ giữa cuộc đời xa lạ:

Ta đến nhân gian lạ cõi bờ
Này sông lưu lạc, núi chơ vơ
Nỗi buồn sông núi ai người biết
Máu cũng chưa hề rỏ phím tơ (Nỗi buồn sông núi)

Ông buồn vì mộng và thực khác xa nhau, và ông cũng buồn vì thân thế đắng cay của người nghệ sĩ nghèo:

Lửa khóa mây then vách bốn trời
Về đâu mộng cũng chẳng đành nơi
Vẫn chưa ý gửi hồn thơ được
Mà đã dâu toan hóa biển rồi
Ngọn gió nghe chừng xoay mãi hướng
Vầng trăng ai nỡ xẻ làm đôi
Tin xuân lạnh lắm rồng ao cạn
Há chỉ phòng thu lệ nến rơi (Ngẫu cảm)

Ngoài tình yêu, thơ Vũ Hoàng Chương còn là tiếng oán than thời ly loạn. Ông nhớ đến thuở thanh bình ngày xưa chàng Vũ cũng như những đôi trai gái cùng trang lứa đã yêu nhau nhưng bây giờ là chia ly, tang tóc:

Ôi thôi cuộc thế hết thanh bình
Cái tuổi thơ ngây của chúng mình.
Đã hết rồi em!... và cũng hết
Cả mùa thu ấy đẫm men tình (Tình thuở thanh bình)

Vũ Hoàng Chương là nhà thơ siêu thoát, siêu thực. Nhưng con người của Vũ Hoàng Chương là một con người thực tế. Ông như một cây cổ thụ đứng trên núi cao, cành lá tỏa bốn phương và nở hoa đến tận chín tầng trời nhưng cội rễ bán chặt lòng đất, đá và suối khe. Ông có hai cái nhìn: một cái nhìn mơ mộng và một cái nhìn thực tế. Ông là thi sĩ và cũng là một chiến sĩ. Ông là con người yêu nước cổ điển, nghĩa là yêu nước theo truyền thống dân tộc, theo quan điểm của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ chống Nguyên, Minh Thanh xâm lược trong khi cộng sản tôn thờ Stalin, Mao Trạch Đông:

Sát cánh vua cùng dân
Chung lòng với tướng quân
“Phá cường địch” cờ ai sáu chữ
Báo hoàng ân là báo quốc ân
Trăm họ chẳng ai còn lưỡng lự
Sông núi nào riêng một họ Trần.
Bình Than lạ nổi phong vân
Một gươm Tiết chế hai lần trao tay.

Lời Đại Vương truyền nín cỏ cây
Ba quân hào khí ngất tầng mây
Vụt nghe tướng lệnh, vươn mình thét:
-Sông Bạch Đằng tôi có mặt đây!
Hán hồ cũng đến chôn thây
Trước sau một khúc sông này mà thôi...

Triều non bạc lên ngôi, giờ lịch sử
Và xuống ngôi, theo lệnh Đại Vương truyền.
Nước rút đi, như ngàn vạn mũi tên
Lấy Đông Hải làm bia nhằm bắn tới
Một ám hiệu Kình nghê vừa mắc lưới,
Thuyền Vương Sư liền quật khởi tranh phong
Tay chèo nổi ngược cơn dông
Tiêng hò “Sát Thát” vang sông ngập bờ.
(Bài Ca Sát Thát)

Dưới vầng nguyệt lạnh lùng quan ải,
Dưới vầng dương thiêu đốt quan san
Lớp hưng phế xô nghiêng từng triều đại
Mà chí lớn dọc ngang
Mà nghiệp lớn huy hoàng
Vẫn ngàn thu còn mãi
Vẫn ngàn thu người áo vải đất Qui Nhơn?
Ôi người xưa Bắc Bình Vương
Đống Đa một trận trăm đường giáp công
Đạn vèo năm cửa Thăng Long
Trắng gò xương chất, đỏ sông máu màng.
(Bài ca bình Bắc)

Hình như trong tiềm thức, ông đã thấy rõ cái họa mất nước vì cộng sản Việt Nam dâng biển và đất liền cho cộng sản Trung Quốc cho nên ông đã gào thét: "Trả Ta Sông Núi"

Trải bốn nghìn năm dựng nước nhà
Sông khoe hùng dũng, núi nguy nga
Trả ta sông núi bao người trước
Gào thét đòi cho bọn chúng ta…
Trả ta sông núi từng trang sử
Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
Không đòi, ai trả núi sông ta

Cờ báo phục hai bà khởi nghĩa
Ðuổi quân thù, xưng đế một phương
Long Biên sấm dậy sa trường
Ba thu xã tắc, miếu đường uy nghi
Xót nòi giống, quản chi bồ liễu
Dòng Cẩm Khê còn réo tinh anh
Một phen sông núi tranh giành
Má hồng ghi dấu sử xanh đời đời

Bể dâu mấy cuộc đổi dời
Lòng trăm họ vẫn dầu sôi bừng bừng
Mai Hắc Ðế, Phùng Hưng, Bố Cái
Liều thế cô dằng lại biên cương
Ðầu voi, Lệ Hải Bà Vương
Dù khi chiến tử vẫn gươm anh hào
Tinh thần độc lập nêu cao
Sài lang kia, núi sông nào của ngươi?
Núi sông ấy của người dân Việt
Chống Bắc phương, từng quyết thư hùng
Ngô Quyền đại phá Lưu Cung
Bạch Ðằng Giang nổi muôn trùng, sóng reo
Hồn tự chủ về theo lửa đuốc
Chữ thiên thu: Nam Quốc sơn hà
Phá tan nghịch lỗ không tha
Tướng quân Thường Kiệt gan già mấy mươi
Gươm chiến thắng trỏ vời Ðông Bắc
Hịch vải nêu tội giặc tham tàn
Dựng nhân nghĩa, vớt lầm than
Danh thơm ải ngoại, sấm ran biên thùy
Khí thiêng tỏa chói tư bề
Phường đô hộ có gai ghê ít nhiều?…

Cũng như bao thi sĩ khác, Vũ Hoàng Chương đã đau khổ nhìn thấy khói lửa tràn ngập quê hương:

Một vầng trăng huyết
Rụng đỏ kinh kỳ
. . .
Say thành bại nhân gian cuồng vọng
Riêng mình ta vạn kiếp bi thương
Đã sa ngôi cũ hoàng vương
Còn toan đổ máu phơi xương làm gì (Bài ca thời loạn)

Ngồi Quán do Lửa Thiêng ấn hành năm 1970. Những bài thơ trong tập này đều được sáng tác trong năm 1968-1969. Trong tập này, chủ đề chính là chiến tranh Việt Nam, là cuộc tấn công mậu thân 1968 của Cộng sản tại miền Nam.

-Thế là con ác nhả sân bay rồi bỗng lên dần
Thế là bầy rắn nhổ neo vừa phun nọc độc
Thế là đoàn bọ hung sang số bay đi
Thế là cánh tay người buông rũ liệt
Thế là xong. . . là hết. . .
Thế là không còn chi. . .
Ôi Chiến tranh làm biệt ly
Như bọt vỡ trên sông trên biển
Như bụi nát nhừ trên đường ra hỏa tuyến.(Thế là)

-Khổ đau tràn bốn cửa Thành
Dư ba chợ Bến, hồi thanh xóm Chùa
Ngựa Thời gian phá trường đua
Hí lên cho bước Giao Mùa nhịp theo
Đường Hai Mưoi lắng chuông gieo
Gối tay thế kỷ nằm heo hút buồn
Dưới kia thác lũ mưa nguồn
Lệ hay mạch nước ào tuôn vỡ bờ?
Lật coi giòng máu chưa mờ
Bạch thư dày mấy muôn tờ đất đen. (Đào sâu trang sử)


Vũ Hoàng Chương là nhà thơ lãng mạn, là nhà thơ quốc gia và cũng là một nhà thơ Phật giáo. Cũng như Nhất Linh, ông đã phản đối hành động đàn áp Phật giáo của Ngô Đình Diệm cho nên ông đã sáng tác rất nhiều bài thơ ủng hộ công cuộc tranh đấu của Phật giáo chống gia đình họ Ngô. Đó là các tác phẩm: Lửa Từ Bi, SG, 1963; Ánh Trăng Đạo, SG, 1966; Bút Nở Hoa Đàm, SG, 1967.
Ông là một nhà thơ yêu nước, nhà thơ chống chiến tranh, chống cộng sản cho nên sau 1975, ông trở thành mục tiêu đầu tiên của cuộc thanh trừng văn nghệ sĩ quốc gia. Theo Mai Thảo, những năm cuối cùng, sống trong cảnh cơ cực của hỏa ngục, tâm linh và nghệ thuật của Vũ Hoàng Chương đã lên đỉnh cao:

. . . một thân thế non tây lồng trong một bình sinh xế tà thình lình đuổi đạt được khỏi nó tấm mùng khói sương cô tịch vây phủ, tự thắp sáng lại bằng một thắp sáng rực rỡ. Giữa thắp sáng lại này, một Vũ Hoàng Chương rất hài đồng, rất tươi thắm và cũng rất lớn đi ra.

Làm xanh thắm lại cái úa héo, giữ chặt trên cành sinh trái tử sắp rụng, chất lục diệp tố đến tự những nguồn hô hấp nào? Tự hai nguồn. Một của thơ. Một của đời sống. Hai nguồn trong một liên hệ tuyệt diệu.


Nếu tài thơ bao giờ cũng ung dung chuyển đảy được nó tới nhiều đất trời khác biệt, không chôn chết một đất trời cố định- những sức thơ tầm thường không bao giờ thực hiện được vận động này của thơ- cõi thơ sau, cõi thơ sáu mươi, cõi thơ phơi phới vô cùng riêng Vũ Hoàng Chương đưa mình tới được là một thoát vượt, một bỏ lại rất xa cách sau lưng mọi cõi thơ Vũ Hoàng Chương trước, và cõi thơ sau này, ánh sáng của ngôi sao bắc đẩu mới khởi sự trong suốt, thật sự vòi vọi.
Hãy nhớ lại ba đỉnh của vòm trời cũ. Là Mây, Hoa Đăng và Rừng Phong.

Tâm thức ba vùng trời cũ là:
Đêm hỏa táng trần tâm cõi đời nghiêng đổ
Thịt xương ơi, nằm nhé đất oan khiên.
Trần cấu lâng lâng ngoài cửa mộ
Ta thoát hình nương khói bay lên.
Đâu đó tà dương hề treo ngọn bắc
Đâu đó cuồng phong hề reo đáy chai
Mùa chi ngày chi tuổi bao rồi nhỉ
Quanh chiếu rộn tang thương hề tinh anh ngoài đời.

Đó là tâm thức hình giảo quấy động quằn quại trong một thạch động kín bịt. Hồn tuy đắm khổ đau những muốn bay lên cùng khinh thanh, chướng nghiệp chưa yên rũ được, nhà ngục hình hài. Tưởng là thoát hình, đâu có thoát hình. Thịt xương ném trả đất oan khuất đâu có ném trả. Thực hiện cuộc thiêu hủy trần tâm bằng một lửa. Thì thiêu hủy. Nhưng khác nào ngọn lửa hủy giận dữ của Hồ Dzếnh:' Lửa giận tan rồi, than tối đen' (ChânDung 15 Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam, 16-17).

Vũ Hoàng Chương bị bắt ngày 13-4-1976. Họ tịch thu 60 bài thơ cuối cùng của thi sĩ (27). Họ bắt ông vì ông là nhà thơ hàng đầu của miền Nam, vì ông không theo chúng mà còn làm nhiều bài thơ mang tính cách chống cộng. Một vài tài liệu cho thấy trước khi ông bị bắt, cộng sản đã chiêu hàng ông, bắt ông phải ca tụng bài thơ của Tố Hữu quỳ lạy Stalin nhưng ông đã thẳng thắn cho rằng đó không phải là thơ, mà là những lời nịnh hót đê tiện. Vì vậy, hôm sau, Vũ Hoàng Chương đã bị bắt giam và bị trả thù cho đến chết. Biết tấm thân già yếu của thi sĩ chỉ còn thoi thóp, chúng bèn cho về.

Hơn nữa, trong thời gian quân quản, dân chúng miền Nam đã kính yêu ông, nhắc nhở ông, coi ông như một nhà thơ tiên tri cho vận mệnh đất nuớc đen tối khiến cho hàng vạn người băng qua biển cả để tìm tự do:

Lũ chúng tôi lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy lênh đênh. . .
(Thơ Say, Phương xa)

Sau 1975, em trai của Vũ Hoàng Chương là Vũ Hoàng Địch và một số văn nghệ sĩ hàng đầu của chế độ đã vào thăm Vũ Hoàng Chương. Họ nói những gì với Vũ Hoàng Chương? Họ nói cho Vũ Hoàng Chương những tội ác của cộng sản đối với nhân dân và đối với văn nghệ sĩ? Họ khuyên ông nên trở lại với đảng và nhân dân vì đảng luôn luôn yêu quý những nhân tài như ông? Hay họ khuyên ông đầu hàng? Khuyên ông đứng lên tố giác tội ác Mỹ ngụy, tội ác của các văn nghệ sĩ Miền Nam (như Vũ Hạnh, một cộng sản nằm vùng đã làm). Có lẽ Vũ Hoàng Địch đã kể cho Vũ Hoàng Chương con đường đau khổ của ông và của các văn nghệ sĩ miền Bắc sống dưới chế độ cộng sản vì đó là dẫn dụ và cũng là răn đe. Bài học lịch sử này cũng sẽ được lặp lại cho nhân dân và văn nghệ sĩ miền Nam. Vũ Hoàng Địch, Đào Duy Anh, Nguyễn Đổng Chi đã thực hiện chỉ thị của Đảng nhưng họ đã thất bại. Vũ Hoàng Chương đã trầm tĩnh đón nhận bàn tay máu của cộng sản. Có thể ông đã hiểu cộng sản vì ông cũng đã sống trong lòng chiến khu Việt Minh. Và cũng có lẽ ông đã đi sâu vào thiền, vào được trung tâm của Phật cho nên ông vẫn bình tĩnh coi thường tù đày và chết chóc.Ông đã chọn con đường danh dư và chiến đấu trong bất khuất.

Mai Thảo đã nói đến cái chí khí bất khuất của Vũ Hoàng Chương:
Anh em văn nghệ sĩ miền Nam, ngoại trừ một thiểu số khiếp nhược, nói chung đã có một phong cách nghiêm chỉnh, lúc thất thế, trong bi thảm, trước kẻ thù. Nhưng gương mẫu nhất, rực rỡ nhất tuy từ hai cách thế biểu hiện khác biệt, qua suy nghĩ và nhận thức tôi là Vũ Hoàng Chương và Thanh Tâm Tuyền (23) mất ngày 19-8-76. 12 giờ khuya. 13-4-76.

Bài thơ sau cùng của Vũ Hoàng Chương là tiếng chuông báo tử của tự do văn nghệ miền Nam:

Cứ coi như từ biệt
Liền tay thảo một chương
Bút vạch không thành nét
Chữ viết không thành hàng
Bây giờ trở về trước
Là mây trời dọc ngang
Từ nay là bóng tối
Chia hai từ dao vàng (39).

Năm 1974, con gái họa sĩ Mai Lân, đã xin nhà thơ một bài cho báo Văn , và đây chính là chúc thư của nhà thơ gửi cho hậu thế:

Lòng đá

Kể cả chuyến ngược chiều lên tuổi mộng
Vì nay trong vòng tay đôi mươi cũng chỉ là trống rỗng
Thì không còn chuyến đi nào làm ta ngạc nhiên
cho dẫu đi bằng không thuyền.
Khắp đâu đâu cũng chỉ là mảnh vỡ ta ra từ một
khối thuyền quyên
Họa may còn chuyến đi vào hư vô tên gọi văn chương
của những nấm mồ.
Đi chuyến ấy dòng đời ta tự xóa ta không
còn gì cũng không là ức triệu mảnh hồn
ghen kia mới thỏa mới chịu về nguyên mối tình
si mang hồn phiến đá
Đá sẽ dựng cho không-là- gì - hết
một phiến cao tận cùng sâu tận tuyệt mà không
chữ nào viết không âm nào ghi
Cao sâu lòng đá phẳng lì
mãi mãi chỉ riêng nàng được biết
từ đầu những chuyến Gã ra đi. (46)

Trước 1975, Vũ Hoàng Chương nhận sự giúp đỡ của gia đình Đông Hồ. Sau 1975, bọn cộng sản khủng bố ngấm ngầm khiến bà Đông Hồ tức Mộng Tuyết (Thất Tiểu Muội) đã sợ hãi. Vì tế nhị và cao thượng, Vũ Hoàng Chương đã lui về ở chung với gia đình Đình Hùng trong một xóm nghèo. Lúc này, một số văn nghệ sĩ miền Bắc đã vào thăm hoặc kín đáo gửi lời thăm Vũ Hoàng Chương.
Đào Duy Anh xin Rừng Phong (27-28).
Đào Duy Anh nói: Tôi vào Nam chỉ để gặp anh. Thơ trước sau tôi vẫn yêu nhất có hai người. Là anh và Lý Bạch.
Vũ Hoàng Chương đã đưa cho Mai Thảo xem lá thư Trần Dần gửi cho Vũ Hoàng Chương sau 30 năm xa cách vì chiến tranh, Trần Dần viết với tất cả sự tôn kính:
Thơ anh, thơ Đinh Hùng, sống muôn đời với thi ca Việt Nam (sđd, 19).

Trong các nhân vật Bắc Hà, thư của Trần Dần là thành thật và đáng tin cậy. Còn những nhân vật khác không biết tâm địa ra sao. Họ thật sự tôn trọng Vũ Hoàng Chương? Họ chỉ xã giao làm công việc trí vận của đảng mà trong tâm, họ là kẻ chiến thắng, coi Vũ Hoàng Chương là kẻ chiến bại đáng khinh, là kẻ ngụy quân, ngụy quyền đáng bị trừng phạt?

Vũ Hoàng Chương là nhà thơ hàng đầu của miền Nam và của cả nước Việt Nam. Ông đã cống hiến cho đời những hàng châu ngọc. Thơ ông tiếp nối dòng thơ tiền chiến với những ý tưởng tân kỳ và lời trang nhã,văn hoa ít người sánh kịp. Ông đem lại cho thi ca miền Nam một sinh khí mới, một nghệ thuật vững vàng trong khi thơ miền Bắc chỉ là tiéng thét và tiếng súng ở nơi ngục tù. Trái tim ông luôn hòa nhịp với những biến động của đất nước, ông không đứng ngoài mà tích cực và can đảm dấn thân và chịu đựng những gian truân của kiếp người và của dân tộc đau khổ. Thơ ông còn mãi với thời gian và tâm hồn ông đã chinh phục trọn vẹn tình cảm của người quốc gia yêu nước , yêu tự do và yêu văn hóa Việt Nam.

(Trích Nguyễn Thiên Thụ, Văn Học Sử Việt Nam - Văn Học Hiện Đại IV)


Về Đầu Trang Go down
tranvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Vũ Hoàng Chương - Thầy Ðồ Đầu Thai Lầm Thế Kỷ    Sun Jul 06, 2014 1:15 pm




THIÊN TÌNH SỬ CỦA THI SĨ VŨ HOÀNG CHƯƠNG




Tình yêu là một nguồn thi hứng vô tận của loài người, bất luận ở phương trời nào và ở thời điểm nào. Chẳng thế ông cha chúng ta, từ thưở xa xưa, khi chưa có chữ viết đã biết bày tỏ tình yêu qua những câu ca dao truyền khẩu, tuy đơn sơ nhưng đã vô cùng thơ mộng và thắm thiết như:

Một yêu là sự đã liều
Mưa mai cũng chịu,
nắng chiều cũng cam.
hay:
Tóc mai sợi vắn sợi dài,
Lấy nhau chẳng đặng,
thương hoài ngàn năm.

Trong văn chương bác học của chúng ta cũng không thiếu những bài thơ tình diễm tuyệt, như những bài thơ tình của Nguyễn Trãi, Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Dực Tông, nhưng dù sao phải đợi đến giữa thế kỷ XX, khi phong trào thơ văn lãng mạn ở nước ta bộc phát và lên cao, trong khoảng thời gian 1925-1943, thơ mới chiếm ưu thế trên thi đàn, thơ tình yêu mới thực sự trăm hoa đua nở.
Trong khu rừng của thơ tình yêu buổi ấy, tuy có nhiều kỳ hoa dị thảo nhưng hầu hết được xây dựng trên những mối tình nếu không là hư cấu, mộng ảo, thì cũng chỉ là
những mối tình âm thầm kín đáo hay thoảng qua, hay ngắn ngủi, chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian nào đó với dăm bẩy bài thơ đã là nhiều.
Trong khi đó, thơ tình yêu của Vũ Hoàng Chương ở một trường hợp khác hẳn. Có thể nói đây là một thiên tình sử bất tuyệt, rất đỗi thơ mộng nhưng cũng rất đỗi bi thiết với cả ngàn câu thơ.
Vũ Hoàng Chương đã vì hai chữ chung tình mà bi lụy gần hết cả cuộc đời, làm ta nhớ đến Phạm Thái, một tráng sĩ cuối thế kỷ 18, đang mưu đồ phục Lê, diệt Tây Sơn, mà vì mấy năm lận đận trong bể tình (yêu Trương Quỳnh Như bị trắc trở, sau Quỳnh Như tuyệt mệnh) đã làm tiêu ma cả chí khí. “Ôi chí lớn trong thiên hạ không chứa đầy đôi con mắt mỹ nhân” là thế đó.
Thơ của Vũ Hoàng Chương cũng có những nét đặc biệt. Ông theo Tây học, chịu ảnh hưởng thơ văn lãng mạn Pháp là lẽ tự nhiên; nhưng ông còn là còn người có bản ngã nghệ sĩ Á Đông: Ông giỏi Hán văn, và chịu ảnh hưởng giáo dục nghiêm khắc của thân phụ, một nhà nho bảo thủ, đồng thời ông còn chịu ảnh hưởng của thân mẫu, một tiểu thư vốn dòng khuê các, hay chữ và giỏi đàn tranh. Từ đó, Vũ Hoàng Chương mang tâm hồn của một nghệ sĩ đa tình, mẫn cảm, giàu trí tưởng tượng, tính tình thì hiền lành, tình nghĩa thủy chung. Tất cả, vâng tất cả đó đã bồi cho hồn thơ của Vũ Hoàng Chương thêm mặn nồng thắm thiết.
Ngoài ra, thi sĩ Vũ Hoàng Chương còn có cái tài hoa, cái khả năng thiên phú trong cách dùng chữ, đặt câu, tạo hình, diễn ý và gieo vần điệu, khiến thơ ông đã diễn tả được hết những rung động vi tế nhất trong đời sống nội tâm của con người.
Với con người ấy, với mối tình ấy, với tài năng ấy, Vũ Hoàng Chương đã để lại cho văn học nước nhà nhiều bài thơ tình trác tuyệt , âu cũng là điều dễ hiểu.

1 - TỐ CỦA HOÀNG ƠI, TỐ CỦA ANH!
Hồi đó, vào năm 1935, Hà Nội tuy sống dưới chế độ bảo hộ của thực dân Pháp nhưng có một bộ mặt rất thanh bình, vui vẻ, trẻ trung. Nhà cầm quyền đang cố tình dung túng các cuộc ăn chơi phóng túng để người ta quên đi biến cố đàn áp tàn bạo vừa qua (1), đồng thời để ru ngủ thanh niên nên các trà đình, tửu điếm, các tiệm nhẩy đầm, các nhà hát ả đào (còn gọi là hát cô đầu) và các tiệm hút thuốc phiện (2) mọc lên nhan nhản. Người ta đua nhau ăn diện , nhiều cậu công tử Hà Thành diện đúng mốt Paris, tay sách can đi bên cạnh các cô gái tân thời, phấp phới áo dài Lemur Nguyễn Cát Tường (3). Họ dập dìu, tấp nập ra vào nơi các chợ phiên, các phòng triển lãm tranh ảnh mỹ thuật (do nhóm sinh viên Cao Đẳng Mỹ Thuật thực hiện).
Báo chí đang hồi bộc phát vì được chính quyền nâng đỡ (4), đúng năm 1935 lệnh kiểm duyệt còn được bãi bỏ, nhưng không phải để người ta bàn chuyện chính trị mà để làm văn nghệ thuần túy.
Ảnh hưởng tư tưởng tự do và văn học lãng mạn Tây phương đã nhuần thấm trong đời sống tình cảm, tư tưởng và bút pháp của những người viết văn, nên trong thi ca cũng như trong tiểu thuyết, từ nội dung đến hình thức đã rất mới mẻ, phóng túng. Đây cũng là lúc nhóm Tự Lực Văn Đoàn đang chủ trương đẩy mạnh phong trào vui sống với ái tình lãng mạn lý tưởng xinh tươi, thơ mộng. Thơ mới đã chiếm ưu thế trên văn đàn và đang đi vào thời thượng của nó.
Hà Nội thời này quả là một Hà Nội đô hội, tân tiến, thanh lịch, trẻ trung và văn nghệ.
Lúc này Vũ Hoàng Chương vừa 19 tuổi, đang theo học ban Tú Tài Pháp tại Trường Trung Học Albert-Sarraut Hà Nội. Vào một chiều chủ nhật rảnh rỗi, Dương Tuệ, bạn học của Hoàng (trong thi ca Vũ Hoàng Chương thường tự xưng như thế) lại chơi và rủ chàng đi thăm Nguyễn Minh Ngải, bạn chung của hai người, đang làm trợ giáo tại nhà bà Tư, dì của Tuệ, ở Phố Cầu Gỗ.
Lần đầu tiên được quen biết gia đình ông bà Tư, Hoàng đã cảm thấy ngay cái không khí cởi mở, thân mật nơi đây mà đã từ lâu chàng thiếu thốn.
Bốn cô cậu học trò của thầy Ngải thật dễ thương, cô bé lớn nhất là Trần Tố Uyển được 14 tuổi, cùng cậu em, kém chị một tuổi, cả hai đang được thầy Ngải luyện thi Bằng Tiểu Học. Ông Tư làm Tham biện nhà giây thép, bà Tư có cửa hàng buôn bán riêng; thấy Hoàng vừa là bạn học của cháu mình lại vừa là bạn của thầy giáo bày trẻ nên cũng có ý vị nể và tiếp đón ân cần.
Hoàng đang sống lẻ loi nơi nhà trọ, thuê của người gác vườn Bách Thảo (gần Trường Albert-Sarraut) trong khi gia đình chàng vẫn sống ở Nam Định, quê nhà; thân phụ chàng, ông Vũ Thiện Thuật, từng nhậm chức Tri Huyện, còn mẹ chàng có cửa hàng buôn bán thóc gạo.
Từ mấy năm nay Hoàng đã có cái tâm trạng bất mãn cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời. Ngoài xã hội ư? Dân tộc còn bị nô lệ chưa nhìn thấy lối thoát; trong khi đó, xung quanh chàng người ta đang bon chen ganh đua giành giật những mảnh bằng to, mong chiếm địa vị cao để hưởng vinh hoa phú quí mà người Pháp đã cố tình nhử mồi, mua chuộc. Với bản ngã ưa sầu mộng, nhiều cảm xúc và thiếu óc thực tế như Hoàng, chốn ấy nhất định không phải là nơi chàng đeo đuổi, mà còn cảm thấy quá xa lạ là đằng khác. Còn gia đình ư? Cha chàng là một nhà nho bảo thủ, nghiêm khắc, bấy lâu nay hai cha con đã có mối bất hòa về chuyện hôn nhân của chàng. Ông Tri huyện chỉ muốn sau khi Hoàng học xong sẽ đi hỏi cô con gái một vị quan Bố chánh, bạn thiết của ông cho chàng. Hoàng đã theo Tây học, những tư tưởng tự do cá nhân, giải phóng tình cảm đã nẩy mầm, bén rễ trong tim óc của chàng, làm sao chàng có thể nghe lời? Mỗi lần cha con nhắc đến chuyện này, sấm sét lại nổi lên.
Thế là trước sự trống rỗng của một cuộc đời không lý tưởng, trước sự chán chường của hoàn cảnh cá nhân và gia đình, Hoàng trở thành một con người mang tâm trạng bất mãn, cô đơn như một kẻ bị lưu đầy, lạc lõng giữa cuộc đời:
 Riêng tôi sống cuộc đời vô vị
 Khắc nỗi buồn u uẩn từ lâu
.........
Ôm khối hận gia đình trĩu nặng
Tôi căm hờn thù ghét hôn nhân.


 Nhìn đời bằng con mắt bi phẫn như thế, thử hỏi còn sinh thú đâu nữa mà trông tìm, chờ đợi.
Tôi ngao ngán thờ ơ, khinh bỉ
Hết.  Không hy vọng, chẳng mong cầu.
 Nhìn đời bằng con mắt bi phẫn như thế, thử hỏi còn sinh thú đâu nữa mà trông tìm, chờ đợi.

Giờ đây, mỗi khi Vũ Hoàng Chương thấy chán đời thì không khí vui vẻ, thân ái của gia đình ông bà Tư lại hiện ra và Hoàng lại muốn đến thăm thầy giáo Ngải... hai lần, ba lần, bốn lần! Rồi trở thành thông lệ. Cô bé Tố hồi này đã đỗ Bằng Tiểu Học, nàng đã rời Trường Ecole des Jeunes Filles Brieux (sau đổi thành Trường Tiểu Học Hàng Cót) để vào Trung Học Sainte Marie. Với sở trường về Anh văn, Hoàng nghiễm nhiên trở thành cố vấn đắc lực cho hai chị em Tố Uyển về môn sinh ngữ này trong những năm đầu bực trung học, vì thầy Ngải chỉ kèm cho chị em nàng về toán và Pháp văn.
Chủ nhật nào tới chơi, gặp kỳ nhà có hội tổ tôm thì Hoàng lại đến đứng sau lưng bà Tư “gà nước”; chàng thường có những nước bài cao, tỏ ra thông minh, đôi khi bà Tư lại nhường chân cho Hoàng chơi bài thay mình. Chẳng bao lâu Hoàng trở nên người bạn thân của tất cả gia đình. Chàng được giữ lại ăn cơm và khi làm được bài thơ nào đắc ý, chàng vội đem đến khoe rồi đọc cho cả nhà nghe. Có nhiều hôm Hoàng ở lại khá muộn để giảng bài cho chị em Tố.  Tình cảm quyến luyến giữa Hoàng và Tố nẩy nở một cách tự nhiên quá, hồn nhiên quá nên gia đình Tố chẳng một ai để ý:
                Nhà đông người vui nhộn
                Chẳng ai còn nhớ ra
                Nơi này anh có mặt
                Vì đâu từ bao giờ.

Mà chính Hoàng cũng không hay. Cho đến một ngày kia, vì bận học, đã lâu Hoàng không lại thăm gia đình ông bà Tư, chàng bỗng cảm thấy nhớ nhung cô bé, con người có cái vẻ em xinh kiều diễm thiên nhiên.  Sự ý thức được tình cảm xa nhau mà nhớ nhung này khiến Vũ Hoàng Chương như sực tỉnh, tự bấy lâu nay chàng thường có cái trạng thái tâm hồn lâng lâng, yêu đời, sống nửa mơ nửa thực, và đôi khi còn như lưu luyến một cái gì mà chàng chưa kịp nhận biết, thì nay chàng mới sáng ra, rồi hồi hộp tự hỏi:
                Chập chờn bến thực hay nguồn mơ
                Hay chính bâng khuâng là ái tình?

Đồng thời, chàng khám phá ra lý do vì đâu chàng đã năng lui tới nhà Tố:
                Kèm cho cả nhà học
                Đã có thầy giáo riêng.
                Anh qua lại khuya sớm
                Chỉ vì anh yêu em!

Hoàng đã tìm được hương vị của cuộc đời, lòng chàng cảm thấy ngây ngất và dâng lên một niềm mơ ước thiết tha là sẽ được cùng ai chung sống trong hạnh phúc lứa đôi:
                Cho đến lúc vì em tôi được
                Thấy mùa xuân thoảng vị men say
                Tôi khao khát rồi tôi mơ ước
                Chén rượu tương lai hạnh phúc đầy.

Nhưng khi ước muốn chung đôi vừa lóe lên trong tâm trí thì Hoàng ý thức ngay rằng đó quả là điều không nên thực hiện. Tại sao thế?  Vì người yêu của chàng còn trong trắng ngây thơ quá:
Ôi Kiều Thu hồn em trong sạch
Vui sống yêu đời tuổi trẻ thơ
Ham mê chúng bạn mê đèn sách
Không chút mây buồn gợn giấc mơ.
(Kiều Thu là tên chàng đặt cho người yêu)

Trong khi chàng vẫn chỉ là kẻ lạc lõng giữa cuộc đời với bao nỗi buồn đau tủi hận, làm sao chàng có thể đem lại được hạnh phúc cho người chàng yêu. Thế là ước muốn yêu đương chung đôi vừa nhen nhúm đã vội dấu kín, chôn chặt tận đáy lòng:
Vì anh vẫn ước chẳng bao giờ
Em hiểu tình ta nhắc chuyện xưa.
Anh sợ đời anh đầy lệ tủi
Không làm vui được em ngây thơ.

Ngày lại ngày, chàng vẫn êm đềm đi bên cạnh cuộc sống thơ ngây của nàng, song là cái êm đềm trên mặt nước có sóng ngầm:
Anh vẫn như chiếc bóng
Qua lại bước êm ru
nhưng:
Thịt da nào gợn sóng
Vang dội tên Kiều Thu !
và:
Kín tiếng nhưng lòng riêng xôn xao
Ai thấy phong ba nơi bể hồn.

Chúng ta cũng hiểu, theo tâm lý học, khi con người càng cố gắng che dấu tình cảm lộ ra bên ngoài bao nhiêu, thì sự dồn nén lại khiến đời sống tình cảm bên trong càng thêm mãnh liệt bấy nhiêu. Chính vì sự khao khát chung đôi không dám thổ lộ cùng ai nên nó đã lẩn vào trong tiềm thức của Hoàng, rồi một đêm nào đó, nó hiện lên trong giấc mơ để giải tỏa cho nỗi lòng khắc khoải bấy lâu. Chỉ trong mơ, Vũ Hoàng Chương mới sống thực như lòng mình, và chàng đã say sưa giãi bầy hết chân tình cùng ai:
                Xuân đắm trong mơ một buổi chiều
                Bên em anh thấy sóng lòng xiêu
                Mê man giãi hết tình u ẩn
                Trong lúc điên rồ anh quá yêu.

Em cười chế riễu: “Anh thường bảo
                Ưa kiếp giang hồ sống lẻ loi .
                Sao anh nghĩ đến tình duyên sớm
              Gạn hỏi chiều nay chuyện lứa đôi”.

Cũng vì sự khao khát được yêu nên trong thơ Hoàng còn thấy nàng Tố cười cợt nhưng cũng đã cảm động rơi lệ. Đối với Hoàng thế là đủ, chàng đã mãn nguyện, điều gì chàng muốn biết, đã biết. Giọi nước mắt ấy đã tố cáo nàng đã yêu chàng (dù chỉ trong mơ thôi đấy nhé!)
                Hỡi ơi một phút giây huyền ảo
                Đủ giẹp lòng anh sóng gió yên
                Anh sẽ trầm luân ngàn kiếp nhớ
                Cho dẫu ngày mai em lãng quên.

Cuộc sống tạm yên phận như thế êm trôi như mơ:
                Tháng năm dìu diu trôi mơ màng

Nàng Tố vẫn sống yên ấm trong vòng tay thương yêu của gia đình, và Vũ Hoàng Chương vẫn nhận được tình cảm quyến luyến đặc biệt của nàng dành riêng cho chàng:
                Coi chàng hơn bạn thiết
                Coi chàng hơn anh trai.

Cho đến một ngày kia Hoàng chợt nhận thấy cuộc sống của người yêu đã bắt đầu có sự đổi khác:
Em chẳng còn ham chơi, như trước
Nhịp máu rung trời nước đâu đâu
Có khi ngồi lặng giờ lâu
Vẩn vơ nét bút, đường khâu ngại ngùng.
Xiết bao vẻ thẹn thùng e lệ
Trong làn thu cô bé năm xưa.

Mầm mống báo hiệu của tuổi dậy thì nơi người thiếu nữ thế là đã rõ. Vũ Hoàng Chương dù hiểu rằng con người ta cũng như vạn vật làm sao thoát được luật vô thường, biến dịch của trời đất; thời gian trôi mau, sẽ cuốn phăng đi tuổi xanh thơ mộng của người yêu và nàng sẽ đổi thay:
Khi bức rèm tuổi xanh mơ mộng
Đã cuốn dần theo thời gian mau chóng
Lòng em thay đổi.

Nghĩ tới đó, Vũ Hoàng Chương hoảng sợ... Có cái tâm trạng hoảng sợ này cũng vì chàng biết chắc một ngày rất gần thôi, người yêu của chàng sẽ trở thành một thiếu nữ tuyệt sắc, một ước mơ của cuộc đời và nàng sẽ bị cuộc đời lôi cuốn theo:
 Khi cô bé hôm nay
Chưa một ai ca tụng mê say
Đã trở thành trang thiếu nữ
Có phép thu hồn trong sóng thu tình tứ
Khi vẻ phong lưu tuyệt sắc của giai nhân:
Đã điểm nên tranh, đã dệt nên vần
Đã rung lên muôn lời ca điệu hát.

Tương lai chưa xảy ra, mà cũng mới chỉ là dự phóng của Hoàng thôi, chàng đã tự đầy ải mình trong nỗi khổ đau của kẻ bị lãng quên:
Khi ấy, khi đời em đầy mộng tưởng
                Như thủy trào dâng biển lớn mênh mông
                Đắm đuối trong tương lai,
                những giờ vui sẽ hưởng
                Không biết em còn nhớ đến tôi không?

Hoàng không hề có mặc cảm thấp kém, thua sút thiên hạ, không thể với tới được Tố mà đành cam phận con giun đất, hướng vọng về ngôi sao ở tận mãi trên trời cao. Không, chàng học giỏi, thông minh, chính gia đình Tố đã xác nhận điều này. Chàng đang theo học ban Tú tài Pháp ở trường Trung Học Albert Sarraut, chàng đủ sức đỗ, và quả năm sau (1937) chàng đã lấy được bằng Tú Tài Pháp ban toán; chàng cũng dư sức để giật lấy mảnh bằng Cử nhân Luật như ai nếu chàng muốn, để trở thành mẫu người ước mơ của xã hội thời ấy. Nhưng nếu thế Vũ Hoàng Chương đã chẳng còn là thi sĩ Vũ Hoàng Chương của chúng ta nữa .
 Hoàng tự biết mình không thể nào trở thành một ông Tri huyện đạo mạo, quyền thế, xét nét dân đen; chàng cũng không thể nào là một Luật sư tài danh đanh thép, hùng biện xoay không thành có, cãi có thành không; chàng không thể là gì gì nữa trong cái xã hội đầy phiền toái này, có nghĩa là chàng sẽ không thể đem lại hạnh phúc cho người chàng yêu. Vì ý thức rõ rệt như thế nên Vũ Hoàng Chương đã quyết định rời Tố đi xa. Chàng chấp nhận mọi thiệt thòi để người yêu sau này sẽ được hưởng hạnh phúc trong cuộc đời của nàng.
Nhưng vừa rời Tố ra đi Hoàng đã rơi ngay vào cái tâm trạng bơ vơ, trôi giạt thưở nào. Nói khác đi, chàng lại tự đầy ải mình trong kiếp đau thương của một kẻ đi đầy giữa cuộc đời:
                Tôi lại bơ vơ đường quạnh vắng
                Chiếc lá khô tàn mặc gió đem.
                Ôi một kẻ đi đầy tuyệt vọng
                Suốt đời số mệnh chẳng buông tha.

Chàng chỉ còn biết tự an ủi bằng chút kỷ niệm vang bóng của những ngày đã qua:
                Tôi theo đuổi chút gì vang bóng
                Yêu, vui, hồi hộp những ngày qua.

Rồi chính ý thức đau thương phải xa rời người yêu đã làm hoàng rộn lên lòng thương xót đối với thế nhân, trong đó có người chàng yêu. Thế nhân ngoài kia đang ngụp lặn trong thứ hạnh phúc xây dựng trên tài sắc danh lợi những thứ phù du ấy một mai không còn nữa, con người dễ trở nên tệ bạc, bội phản. Đã có bao nhiêu và sẽ còn bao nhiêu nạn nhân của tình đời đen bạc này? Từ sự thương xót đó Hoàng đã tìm ra được niềm vui trong ý nghĩa hy sinh:
                Để gượng sống so dây thi nhạc
                Cao dâng lời thảm khúc bi ca
                Cho rung động loài người tệ bạc
                Cũng vì em, tình của đôi ta.

Nói rõ hơn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã tìm được thú đau thương trong sự thiệt thòi thương đau của mình, nói như giáo sư Lê Tuyên trong Chinh Phụ Ngâm Và Tâm Thức Lãng Mạn Của Kẻ Lưu Đầy (6): “Có đau thương mới làm sáng được thiên đường của tình yêu”. Quả vậy, vì chính sự thiệt thòi đau thương ấy đã làm tỏ rõ được tình yêu cao thượng của Hoàng, nó sẽ giúp cảm hóa lòng người, làm khơi dậy được tình yêu chung thủy nơi họ. Những điều này đã đem lại cho Hoàng niềm hạnh phúc, tự mãn.

Nhưng đã là tình yêu đích thực thuộc về thế giới thiêng liêng, huyền nhiệm của tâm hồn, và thế giới phức tạp chủ quan của tình cảm con người thì dễ đâu đem những lý luận thuộc về lý trí khách quan mà thuyết phục, mà giải quyết được. Thế nên, tuy dứt khoát bỏ ra đi, xa hẳn người yêu để nàng được yên sống trong thế giới của nàng, Vũ Hoàng Chương vẫn không nguôi được lòng thương nhớ, tưởng vọng; mỗi giờ phút phải xa nàng là mỗi giờ phút khắc khoải, đớn đau:
Tự nhủ sống là quên, anh vẫn muốn
Đem tháng ngày khâu kín vết chia ly.
Nhưng mỗi phút thời gian đưa thép nhọn
Máu thầm rơi mỗi phút đáy tim si.

Để chống chọi với nỗi nhớ nhung, đau thương của mình, Vũ Hoàng Chương đã tìm quên bằng mọi cách.
Chàng đắm mình trong những cuộc ăn chơi trác táng, hết gái, lại đến thuốc phiện, chàng tự chôn vùi nhân phẩm để mong nàng sẽ khinh rẻ, hắt hủi; tự ái có bị tổn thương va chạm, chàng mới có thể quên được nàng:
                Anh lại muốn đắm mình trong trác táng
                Giữa mê ly đầy xác thịt kiêu sa.
                Nhưng mỗi lúc đêm tàn trời hửng sáng
                Anh khóc mùa trinh bạch sớm tiêu ma.
                Và anh cũng muốn thiêu hồn trong lửa đỏ
                Lượm tàn tro vang bóng gửi xa đem
             Nhưng mỗi lúc buông tay liều mặc gió
             Anh nhớ ngày thơ mộng sống bên em.

Có ngờ đâu chính những kỷ niệm thơ mộng trong những ngày Hoàng được sống gần gụi bên người chàng yêu đã làm sống dậy tình yêu trinh bạch thuở ban đầu của chàng, và những hình ảnh ngây thơ trong sáng của nàng Tố đã vô tình trở thành chiếc phao cứu nạn, giúp chàng thoát khỏi sự sa lầy trong cuộc sống trụy lạc.
Những thú ăn chơi trác táng đã không thể giúp cho Vũ Hoàng Chương nguôi ngoai được nỗi đau khổ phải xa Tố, chàng bèn tìm quên trong kiếp sống giang hồ.
Nhưng đi đâu? Hết Na Sầm rồi Thanh Hóa, Lạng Sơn, nơi nào chàng cũng chỉ nhìn thấy ngoài trời một màu ảm đạm, còn trong lòng thì “nung nấu lòng dưa héo mòn”, chỉ vì:
               Làm sao quên được tình ai
              Chàng Lưu còn nẻo Thiên Thai còn tìm.

Thế là nhà thơ của chúng ta đành xếp giáp tính chuyện quay về:
                Mai anh bỏ kiếp giang hồ lại
                Đáy biển vừa rung động mũi kim
                Phải gắng thêu xong đường chỉ dở
                Uyên ương liền cánh mãi đôi chim.

Ý tưởng trở về phen này quyết tìm mọi cách để tiếp tục xây dựng tình yêu cùng Tố, lo thực hiện mộng ước chung đôi với Tố vừa xuất hiện trong tâm trí Vũ Hoàng Chương, thì mầu nhiệm thay tình yêu hạnh phúc nơi chàng liền được hồi sinh. Không chỉ hồn chàng phơi phới mà tất cả vạn vật được phóng nhìn qua con mắt yêu đời của chàng cũng như đổi khác. Chúng không còn là những hiện tượng thiên nhiên vô hồn đơn giản thực hữu nữa, mà đã trở nên sinh động vô cùng, chúng cũng đang ngan ngát một mầu yêu:
                Có một mùa thu đẹp chẳng ngờ
                Mây chiều giải lụa, sớm giăng tơ,
                Nắng thanh bình cũng vàng như bướm
                Hoa cũng vàng như nguyệt trẻ thơ.

Và giờ đây chuỗi ngày hạnh phúc của tình yêu lứa đôi mới thực sự bắt đầu. Đó là năm 1938, lúc này gia đình Tố đã rời phố Cầu Gỗ, dọn nhà về phố Kỳ Đồng (tức Capitaine Bruisseau). Hạnh phúc tràn đầy quá, Vũ Hoàng Chương đã phải thú nhận:
                Bao nhiêu là chuyện thần tiên quá
                Nhẩy múa thi trong giấc mộng đầu.

Tình yêu của Vũ Hoàng Chương và Tố Uyển khởi đi từ lòng cảm mến hồn nhiên của tuổi trẻ, do hoàn cảnh thân cận tạo nên đã đành; đây còn là tình yêu thơ mộng, đồng điệu của đôi thanh niên nam nữ tính tình đằm thắm đa cảm, vừa lớn lên, lại theo Tây học, chịu ảnh hưởng tư tưởng tự do, giải phóng tình cảm cá nhân của văn chương Pháp. Nay tình yêu có điều kiện nẩy nở, hẳn là một cơ hội tốt để tâm hồn họ rung động và tạo ra biết bao mỹ cảm. Và trong bao nhiêu vốn sống tươi rói của cuộc tình đầu này, Vũ Hoàng Chương đã biết ghi nhận lấy những khoảnh khắc nên thơ nhất để thể hiện thành thi ca. Đây ta hãy nghe nhà thơ kể lại:
Nào những bữa cơm thân mật trong gia đình:
                Những chiều đông rét mướt
                Cả nhà ngồi vây quanh
                Bàn ăn khói nghi ngút
                Bên em vẫn có anh.
Nào những buổi đón học:
                Em biết anh chờ em ngã ba
                Trường Thi, Ngõ Huyện vắng người qua
                Đi chung một quãng, chiều tan học
                Chẳng nói yêu mà yêu thiết tha.
Nào những lúc trao thư:
                Em biết anh chờ em ngã tư
                Hàng Khay, Hàng Trống để trao thư.
                Lời yêu chẳng viết nhưng trong ý
                Ta đã cùng chia một động từ.
Hay những khi hờn dỗi:
                Bài toán khó em hỏi
                Trêu cợt anh lắc đầu.
                Em hỏi thầy giáo chứ
                Anh biết làm toán đâu.
                Em giận không cười nữa
                Thôi thế anh về đi
                Trời! Anh về sao được!

Thế rồi lại một phen Vũ Hoàng Chương phải ỉ ôi xin lỗi, nhưng cuối cùng thì “giận nhau càng yêu thêm”.
Tình yêu của Hoàng và Tố còn được nuôi dưỡng trong hương vị của văn chương. Thời bấy giờ trên các sách báo, những tiểu thuyết tình lãng mạn thơ mộng như Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng, Đôi Bạn của Nhất Linh... hay những bài thơ tình ảo mộng hay thiết tha, phóng túng của Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Xuân Diệu... đang là những món ăn tinh thần thời thượng của giới trẻ. Trong thế giới tình cảm riêng của Hoàng và Tố, chàng cũng đang say sưa sáng tác không biết bao nhiêu vần thơ tình thắm thiết để tặng nàng:
              Kiều Thu ơi thơ viết
              Trăm nghìn vần cho em
              Cũng chỉ là tiếng đập
              Từ sâu thẳm trái tim.

Tiếng lòng thành thật bao giờ cũng dễ làm cảm động đối tượng, hơn nữa, Vũ Hoàng Chương còn hiểu rất rõ hiệu lực những dòng thơ tình của chàng đối với người yêu như thế nào:
                Giòng chữ nghe ẩn hiện
                Ngọt ngào trên đôi môi
                Nồng say như gió biển
                Lùa trong nhịp máu trôi.

Hậu quả tất nhiên đã đến với nàng Tố là:
                Đủ các môn em học
                Mỗi bài cả trăm lần.
                Nhưng vang dội tim óc
                Toàn lời thơ ái ân!

Cuộc tình ấy còn được tô bồi bởi trí tưởng tượng phong phú của thi sĩ, thế nên nhiều khi từ cuộc sống hiện thực tác giả đã đi vào mộng lúc nào không hay. Thực với mộng quyện lẫn vào nhau, phụ họa, tô điểm cho nhau. Mộng nhờ có thực mà trở nên sinh động, có hồn. Thực cũng cần có mộng để thêm thi vị, nên thơ.
Dù thực hay mộng, ta thấy Vũ Hoàng Chương đã thực sự được sống những giây phút hạnh phúc nhất trong tình yêu lứa đôi của loài người.
Này đây những lúc cùng sánh bước dạo phố:
                Ai biết chiều nay sánh bước
                Hàng Ngang, Hàng Trống, Hàng Khay
                Cả một trời anh mơ ước
                Mở trong tà áo em bay.
Này đây chuyến đi chơi Hải Dương :
                Mau xuống đò thôi kẻo mợ trông
                Gió lên, đò nhỏ xiêu chân sóng
               Vừa gỡ tay ra, vội nắm tay
                Đứng sát vai nhau liền cả bóng
                Tình ta ai gỡ nổi từ đây.
Này đây là chuyến du xuân :
                Theo gió xuân lên đường Ngọc Hà
                Nẻo về tươi nắng trại hàng hoa.
                Đến vườn Bách Thảo, anh reo khẽ:
                -Thượng uyển này riêng của chúng ta !

Đêm hôm ấy ra về, Vũ Hoàng Chương còn cảm thấy hồn mình ngây ngất mãi:
                Đưa em về phố tạm chia tay
                Trở lại vườn khuya anh vẫn say.
                Trên đỉnh tình yêu hồn chót vót
                Tha hồ cọp hú lộng hơi may.

Tuy vậy giữa hai người, tình yêu vẫn chưa một lần được lên tiếng chính thức, được thú tội, vì nàng còn kiêu kỳ lắm, và chàng thi sĩ của chúng ta cũng đâu có chịu thua:
                Hai bên cùng kiêu kỳ như nhau
                E dè như nhau nên nghi ngờ
                Không ai cho ai lời yêu đầu
                Anh làm vô tình, em ngây thơ.

Nhưng họ đóng vai trò ấy vụng về lắm, rõ là:
                Đôi tim đóng then mà hớ hênh
                Đôi hồn kín bưng mà trống trênh.

Thật thế, nàng Tố chẳng cần phải viện đến giác quan thứ sáu bén nhậy của người con gái nàng cũng dư biết tiếng lòng của ai, vì cái nhìn “đăm đắm” cùng những hành động săn đón và những bài thơ mơ yêu của chàng .
Nhưng còn Vũ Hoàng Chương, chàng có đoán biết được tình ý của người yêu không? Có chứ, bằng nhiều cách lắm, trước hết là chính những cử chỉ hữu tình của nàng đã tự tố cáo tình yêu của nàng dành cho chàng :
                Em đã nao lòng anh mê man
                Đuôi mắt, đầu môi tình chứa chan.

Tình yêu cũng như hương thơm của hoa, dù có dấu dưới hang cùng, hốc thẳm nào, hương thơm của nó vẫn tỏa thoát ra bên ngoài, những kẻ cố tình tìm hoa vẫn có thể dõi theo “dấu hương” mà tìm tới.
Sau nữa là nhờ sự mẫn cảm đặc biệt của nhà thơ, Vũ Hoàng Chương đã khám phá ra tiếng lòng thầm kín của người yêu, qua một vài điệu bộ, hành động và phản ứng của nàng , như:
Qua ánh mắt:
                Đường về nhà quanh co thơm ngát
                Em nhìn anh chưa nhạt còn mê.
Qua ánh mắt của người yêu, Hoàng đã hiểu là nàng muốn nói với chàng:
                Đời em chẳng có anh sao được
                Lời nói say như một chén thề.
Qua giọng nói thân thương, nũng nịu của ai kia, Hoàng cũng đã đoán được thâm tình trao gửi của nàng:
                Em nói- Để em cài lại tóc
                Mà như trọn vẹn một đời trao.

Lại như qua cử chỉ cúi đầu và phản ứng đỏ má:
                Thấy anh đăm đắm nhìn
                Cúi đầu em đỏ má.

Từ đó Hoàng đã nhìn ra tâm ý của người yêu:
                Như hiểu niềm van xin
                Như hẹn cho tất cả.
Còn nữa, Vũ Hoàng Chương còn khám phá ra tình cảm của nàng dành cho chàng bằng lối lý luận rất trữ tình.
Đó là những cử chỉ” làm duyên” :
                Bao nhiêu cử chỉ làm duyên ấy
                Đã mách tình em đủ lắm rồi.
                - Em đừng chối vô ích
                “ Làm duyên” là” yêu” rồi !

Đó là tiếng reo “thích nhỉ”:
                Anh bảo em cố học
                Rồi mai chung một nghề.
                Chapa rừng núi đẹp
                Là chỗ ta đi chơi.
                Em reo thích nhỉ như vừa được
                Sống trước say sưa một quãng đời.
                - Cũng đừng chối vô ích
                “Thích nhỉ” là” yêu” rồi !
Đó là sự” hờn dỗi” :
                Một lá thư nhỏ nhắn
                Của cô nào không biết
                Anh cất trong túi áo
                Ngồi bên em đánh rơi
                Em vô tình bắt được
                Hờn dỗi mấy hôm trời.
                Nhưng đâu có phải anh lơ đễnh
                Anh muốn thử lòng em đấy thôi.
                - Càng chối càng vô ích
                “Hờn dỗi” là “yêu” rồi !

Cùng với những khám phá trên, nhà thơ của chúng ta còn đưa ra một lý luận rất lô gích, rất hợp, tình hợp lý để được yên tâm sống trong hạnh phúc tuyệt vời của tình yêu lứa đôi:
                Bao nhiêu năm gần gũi
                Bao nhiêu ngày bên nhau.
                Anh có phải là sắt
                Em có là gỗ đâu.
                Nụ cười đuôi mắt say sưa ấy
                Đã hẹn yêu anh đến bạc đầu.

Thế nên Vũ Hoàng Chương đã chấp nhận tình yêu mà không cần nàng phải hứa hẹn, thề thốt gì, và còn cho đấy là sắc thái riêng của một tình yêu êm đẹp tuyệt vời:
                Không cần phải hẹn hứa
                Không cần nói yêu nhau.
                Không yêu mà vẫn là yêu đấy
                Êm đẹp làm sao giấc mộng đầu !
 

2- TỐ CỦA HOÀNG ƠI HỠI NHỚ THƯƠNG!
Thời gian êm trôi cho đến chuỗi ngày Tố Uyển sửa soạn đi thi Trung học. Mỗi chủ nhật thầy giáo Ngải soạn đề thi thử về toán và pháp văn thì Vũ Hoàng Chương cũng tất bật lo soạn đề thi thử về Anh văn cho hai chị em Tố. Nhiều tối ghé chơi, nhưng rồi chàng lại nấn ná ở lại tới khuya để giảng thêm bài cho chị em nàng:
                Mùa thi rối gương lược
                Anh sửa soạn cho em
                Ngay từ nửa tháng trước
                Ngồi khuya đêm lại đêm.
                ...
                Anh ngồi bên học giúp
                Cho em mau thuộc bài.
Không biết lối học thi như thế có làm cho nàng Tố “mau thuộc bài” thật không, nhưng chúng ta biết chắc chắn là nhà thơ của chúng ta rất hạnh phúc :
                Thời gian rót hạnh phúc
                Bao nhiêu đêm ngồi kề
                Bấy nhiêu vòng khăng khít
                Buộc đôi hồn si mê.
Rồi ngày thi tới, những buổi nàng đi thi, dù đã có bác xe đưa đón, Vũ Hoàng Chương vẫn không bao giờ vắng mặt:
                Đưa nhau ríu rít đón nhau về
                Ngày lại ngày cho tình càng mê.
Ngày Vũ Hoàng Chương đi xem bảng cho Tố Uyển cũng để lại một kỷ niệm đẹp khó quên trong lòng chàng. Thấy tên nàng đỗ, Vũ Hoàng Chương vui mừng khôn xiết vội phóng xe về nhà người yêu, chàng vừa thấy bà Tư đứng nơi cửa ra vào, dù chưa kịp gác xe vào vỉa hè, chàng đã vội rối rít báo tin vui — Tố đỡ rồi! -Tố đỗ rồi! Chàng reo to quá đến cả xóm đều nghe thấy.
Đó là giữa năm 1939, lúc này Tố Uyển đã được 18 tuổi, đang ở cái tuổi thanh xuân mơn mởn đào tơ của người con gái. Nàng đẹp nổi tiếng, trong tác phẩm “Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đi Qua Đời Tôi” xuất bản tại Mỹ Quốc, 1990, Tạ Tỵ cũng phải công nhận điều này.

Đây cũng là lúc đang có phong trào kén chồng theo quan điểm “phi cao đẳng bất thành phu phụ” của các cô gái gia thế Hà thành. Mấy cô bạn học của Tố hầu hết đã nhận trầu cau của các ông Bác sĩ, Luật sư đâu đấy cả rồi. Tố Uyển cũng có nhiều chàng trai danh giá “rắp ranh bắn sẻ”, và bà Tư rất hãnh diện về con gái. Nhưng vì đã có thiện cảm với Vũ Hoàng Chương, bà Tư còn biết nhà thơ yêu con gái mình tha thiết, bà thương nhà thơ hơn nữa ở điểm khi tiếp xúc với họ hàng nội ngoại của ông bà, Vũ Hoàng Chương đều thưa gửi -cô -dì -chú –bác... theo như chị em Tố, như chàng đã là người nhà của gia đình bà. Ngoài ra bà cũng đoán biết phần nào tình ý của con gái nên bà không nề gì nhà thơ vẫn còn lẹt đẹt ở năm thứ nhất trường Luật (Vũ Hoàng Chương chỉ ghi danh rồi đi học phất phơ vài buổi, chàng không thấy hợp nên có học gì đâu mà thi với đỗ!). Bà vẫn có ý tác thành cho đôi trẻ nên vợ nên chồng, vì bà đã dự tính, sau này gả con cho nhà thơ rồi bà sẽ cho “hai đứa” đi Pháp du học.
Riêng Vũ Hoàng Chương, chàng cũng hiểu đã đến lúc phải về thưa chuyện với cha mẹ đem trầu cau đến xin Tố cho mình.  Ngờ đâu dông bão đã xảy ra, ông bà Tri huyện đã giận Vũ Hoàng Chương không chịu đi hỏi con gái quan Bố chánh theo ý muốn của ông bà, nên đã thẳng tay gạt bỏ chuyện xin đi cầu hôn của con. Ông bà chê Tố là học trò trẻ con, lại theo Tây học nhăng nhít, không thể về làm dâu một gia đình nề nếp quan cách như gia đình ông bà; còn bà Tư, mẹ của Tố, là dân buôn bán (bà Tư hồi đó đang có cửa hàng xuất nhập cảng giấy) lại quá trẻ (mới có ba mươi tám tuổi), không xứng thông gia!
Bao nhiêu mộng ước đang đến hồi đẹp nhất, cao điểm nhất nay bỗng bị cha mẹ phản đối quyết liệt đã khiến Vũ Hoàng Chương choáng váng, đớn đau; chàng còn vô cùng khổ sở và ngượng ngùng khi nghĩ đến gia đình Tố Uyển, vì chàng biết giải thích ra sao? Biết nói gì bây giờ? Thế là chàng trốn luôn, không dám bén mảng đến nhà Tố nữa.
Duyên tình thì trắc trở lại không được gặp mặt người yêu, Vũ Hoàng Chương làm sao tránh khỏi buồn khổ. Chàng chỉ còn một cách là cố gắng tìm quên, và chàng đã tìm quên trong những thú say sưa. Chúng ta hãy nghe nhà thơ nói về cái say nhẩy đầm và say rượu xem chàng có thành công hay không?
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ.
              
                Âm ba gờn gợn nhỏ
                Ánh sáng phai phai dần
                Bốn tường gương điên đảo
                bóng giai nhân
                Lui đôi vai, tiến đôi chân
                Riết đôi tay, ngả đôi thân
                Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
                Không biết nữa mầu xanh hay sắc đỏ
                Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta.
              
                Say đi em, say đi em
                Say cho lơi lả ánh đèn
                Cho cung bậc ngả nghiêng
                điên rồ xác thịt
                Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!
                Ta quá say rồi sắc ngả, mầu trôi
                Gian phòng không đứng vững
                Có ai ghì hư ảnh sát kề môi.

Những đoạn thơ trong bài “Mời Say” trên được in trong thi tập “Thơ Say”, tác phẩm đầu tay của Vũ Hoàng Chương, xuất bản vào năm 1940 tại Hà Nội, đã cho chúng ta thấy nghệ thuật độc đáo của bài thơ này chính là ở chỗ tác giả như không cố ý làm nghệ thuật, nhà thơ cứ để cho những cảm giác và cảm xúc của mình trào ra thành thơ, lướt trên đầu ngọn bút. Cái tài hoa, cái duyên dáng trong thơ Vũ Hoàng Chương lộ ra rất rõ trong những từ ngữ gợi tả hình ảnh, ánh sáng, mầu sắc, âm thanh, cảm giác và cảm xúc; sau nữa là nhạc điệu của bài thơ uyển chuyển, thanh thoát vô cùng, tất cả đã giúp vào việc dẫn khởi đưa tâm hồn người thưởng ngoạn đi vào thế giới chuếnh choáng men say, chập chờn trong vũ điệu “tango” phóng túng (tango de fantaisie) và bồng bềnh trong tiếng nhạc, mờ ảo trong ánh sáng...
Trở lại với Vũ Hoàng Chương, ta thấy cho đến lúc dù chàng đã say mèm, “say không còn biết chi đời”, đến gần như vô tri, vô giác thế mà trong tiềm thức của nhà thơ, mối sầu vẫn sừng sững như thành, không làm sao sụp đổ :
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời.
Nhưng em ơi đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ em ơi!

Không biết đã từng có ai mượn cách say men, say khói mà quên được sầu không, riêng Vũ Hoàng Chương chàng thấy mình càng say bao nhiêu thì mối sầu lại như càng thấm thía, càng lắng sâu bấy nhiêu:
                Có ai say để quên sầu
                Lòng ta lảo đảo càng sâu vết buồn.

Lại nói đến gia đình bà Tư, sau ngày Tố Uyển thi đỗ bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, gia đình ông bà Tư hơi lấy làm lạ vì không thấy Vũ Hoàng Chương lại chơi như trước, thời gian này kéo dài có đến cả nửa năm. Rồi một hôm cô Viên, em họ Vũ Hoàng Chương, đồng thời cũng là bạn của Tố lại chơi, cho biết tự sự. Gia đình bà Tư bị va chạm tự ái nên rất bực mình, và được biết Vũ Hoàng Chương đã bỏ học đi làm phó kiểm soát viên sở Hỏa Xa Đông Dương. Ít lâu sau lại thấy Hoàng thỉnh thoảng ghé thăm, biết Hoàng vẫn níu hy vọng, không muốn cắt đứt. Gia đình Tố tuy giận ông bà Tri Huyện, nhưng nhìn thấy Hoàng thì lại thương nên có ý nấn ná đợi chờ. Trong thời gian này Vũ Hoàng Chương và Tố Uyển tuyệt nhiên không gặp nhau riêng lần nào.
Bà Tư đã có lần gọi Vũ Hoàng Chương ra nói chuyện, bà cho biết bà sẵn sàng gả Tố cho chàng, nhưng điều kiện tiên quyết là ông bà Tri huyện phải đến xin hỏi cưới đàng hoàng.
Lẽ tất nhiên là phải như vậy, vì ảnh hưởng Nho giáo còn nặng nề trong xã hội Việt Nam ta thưở ấy. Thế là vì danh giá gia đình, vì danh giá của Tố, ông bà Tư không thể chấp nhận gả con cho Vũ Hoàng Chương mà không có sự đồng ý của cha mẹ chàng.
Thấm thoát đã gần hai năm trôi qua, không thấy ông bà Tri huyện thăm viếng hay đánh tiếng gì, và những tháng sau cùng Vũ Hoàng Chương cũng bặt tăm luôn, ông bà Tư hiểu là chuyện chờ đợi không đi đến đâu, và cũng vì tự ái, ông bà bèn hết lời khuyên giải Tố để nàng hiểu rằng, nàng đã 20 tuổi rồi, đã đứng tuổi rồi, (thời đó con gái 20 tuổi đã cho là già, sắp ế chồng!), nay bao nhiêu người danh giá hỏi không nhận lời đi, đến khi quá lứa lỡ thì lấy ai được nữa! Và Vũ Hoàng Chương chắc cũng chẳng yêu tha thiết gì Tố, nếu không, chàng phải cố gắng học hành để tỏ ra xứng đáng với nàng chứ? Nhất là đã từ lâu Vũ Hoàng Chương chỉ thỉnh thoảng ghé thăm phất phơ chứ không tỏ ra tha thiết thân tình như xưa nữa.
               
Tố là gái mới lớn, thấy Vũ Hoàng Chương cũng xứng đáng lại yêu mình tha thiết, làm bao nhiêu thơ ca tụng mình, bảo sao nàng không cảm động? Và Tố đã yêu lại Vũ Hoàng Chương, điều đó không thể phủ nhận, nhưng nàng tất nhiên không yêu si mê như chàng đã yêu nàng. Nay thấy chàng hờ hững, cha mẹ chàng lại chê nàng không chịu đi hỏi, tự ái của một cô gái vừa đẹp, vừa học giỏi lại con nhà giàu bị quá tổn thương, làm sao nàng không buồn tủi? Nàng lại thương mẹ, biết mẹ lo lắng cho mình, nên cuối cùng nàng đã nghe lời, chấp nhận tìm hiểu ông Cương là người vừa đỗ Cử Nhân Luật mà bà nội nàng đã có ý chọn cho. Sau ba bốn lần gặp gỡ, Tố chưa yêu ông Cương nhưng cũng thấy chẳng có gì để phản đối, mẹ ông Cương lại thúc giục, thế là gia đình nàng cho tiến hành lễ Trạm ngõ (khoảng tháng 3,1941).
Đúng một tháng sau, bà huyện, mẹ Vũ Hoàng Chương cùng với cụ mẹ chồng cô em gái ông huyện đến thăm ông bà Tư, ướm lời hỏi Tố cho Vũ Hoàng Chương, nếu bằng lòng thì nhà trai sẽ đưa lễ vật.
Hỡi ơi, đến lúc ông bà huyện kịp nhìn thấu nỗi lòng của con, biết thương con thì đã muộn rồi, đã lỡ làng hết rồi.
Khi Vũ Hoàng Chương biết tin Tố Uyển đã nhận trầu cau của người khác thì quá thất vọng, lâu đài tình ái sụp đổ tan tành. Trước kia chỉ là sự cản trở của cha mẹ thì chàng còn có thể thuyết phục, nay nàng đã nhận lời người ta thì vô phương rồi. Quá bất mãn trước thực tại phũ phàng:
Tình đã mất
Sự nghiệp không
Cuộc đời chẳng chí hướng
Vũ Hoàng Chương cảm thấy chới với, lạc hướng, chàng muốn chạy trốn, muốn xa lánh hẳn mặt đất đầy đau thương này:
Nhổ neo rồi thuyền ơi xin mặc sóng
Xô về Đông hay giạt đến non Đoài
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng
Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi.

Vũ Hoàng Chương mang tâm trạng lạc loài, chơ vơ, u uất của một kẻ đầu thai lầm thế kỷ, bị lưu đầy giữa cuộc đời kiêu bạc; nơi đây không phải là chốn cho những người có tâm hồn mơ mộng, giản dị như chàng dung thân, và chàng mong được thoát đi, đến một phương trời xa vời, thanh thản nào đó :
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ.
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ.

Tưởng đâu Vũ Hoàng Chương đã gặp Baudelaire qua bài Élévations:
Envole-toi bien loin de ces miasmes morbides
Va te purifier dans l’air supérieur
Et bois, comme une pure et divine liqueur
Le feu clair qui remplit les espaces limpides.

Nhưng không hẳn thế, Baudelaire mang tâm trạng của kẻ bị lưu đầy trong một thế giới đầy phiền muộn và chồng chất những khổ đau, và nhà thơ này mong mỏi được sống trong một thế giới tràn ngập ánh sáng và thanh tịnh:
 Derrière les ennuis et les vastes chagrins
 Qui chargent de leurs poids l'existence brumeuse.
 Heureux celui qui peut d'une aile vigoureuse
 S'élancer vers les champs lumineux et sereins

PHẠM THỊ NHUNG (Paris)
http://cothommagazine.com
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Vũ Hoàng Chương - Thầy Ðồ Đầu Thai Lầm Thế Kỷ    Today at 12:56 am

Về Đầu Trang Go down
 
Vũ Hoàng Chương - Thầy Ðồ Đầu Thai Lầm Thế Kỷ
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Thơ-
Chuyển đến