Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
phung thang nguoi sinh cuoc HUNG nghia nhung huyen pham rang cong Ngày mien tien trai nguyen viet quan Thầy lang thuy nghe PHAT ngoc thanh
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Chửi mất gà

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Hung Phi
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Chửi mất gà   Tue Nov 22, 2011 10:49 am



Chửi mất gà



Buổi sáng ở làng Bùi Trên, hiu hắt cùng mây trắng, nắng vàng hắt hiu. Vắng hẳn tiếng gà quang quác, lợn eng éc. Giữa hàng xóm láng giềng cũng có hàng giậu thưa, vẩn vơ dăm con bươm bướm vàng, vài ba chú chuồn chuồn kim vơ vẩn. Sau cây chanh thấp tè, rõ mồn một là bà phó rèn, áo sồi váy đũng đang ngồi chồm hổm, nhởn nha sàng gạo với cái nia bé con con. Thỉnh thỏang bà nhón một hạt thóc, bỏ vào miệng nhậm gấm, rồi nhổ bẹt xuống đất. Lâu lâu ngẩng lên nhìn ra góc vườn ngóng đợi tìm kiếm. Thỉnh thỏang bà bâng quơ chụm môi, đánh lưỡi như gọi gà, ới vịt.


Bên này hàng rào là cơ ngơi của ông Cửu. Nghe đâu làm thông ngôn cho lính thợ mãi ở bên Tây, áo gấm về làng với “ba-đờ-suy” khuy đồng, giầy đinh “săng-đá”. Nhà cửa đang một gian hai trái hẹp vanh vách, vậy mà ông vật lên được cái nhà ngói cao nghệu, mái lợp ngói âm dương, đều tăm tắp như vẩy rồng. Ruộng thượng đẳng hạ điền, chuồng rậm rịch lợn đàn, trâu nghé có một dạo nhất làng nhất xứ. Chưa hết, số là có công với nhà nước Bảo hộ, nên ông túm tó được cái hàm cửu phẩm văn giai ngon ơ. Rõ ra từ hàng thất phẩm trở lên dành cho các quan thông kinh sử, còn bát phẩm và cửu phấm cho hàng thứ dân. Nghe già làng kể lại, xưa kia chạy được hai cái danh ôn này cũng hốc người ra chứ chẳng dễ sơi gì.


Vừa lúc bà Cửu vén cái mành mành chớm bước ra, tay che mắt nhìn trời đất khô queo, chẳng một ngọn gió, cây đứng im, lá không lay động, chắc có cơn giông, cơn bão âm ỉ đâu đó. Vừa định quay vào cũng vừa lúc bà láng giềng hóng mắt qua bắt gặp. Mà sắp có giông tố thật, từ nẫy đến giờ bà chỉ đợi có bấy nhiêu. Bà phó rèn đây nức tiếng chanh chua, ngang ngược ở cái thôn này. Bà đang như con diều hâu từ trên cao dang cánh đảo một vòng thăm chừng trước khi lặng lờ sà xuống.

Thế nên bà đỏng đảnh mào đầu bằng câu chửi tự biên tự diễn dân dã trước đã. Giọng bà phó rèn uồm uồm, oàng oàng như phát ra từ cái chum lớn:

“…Mả bố đứa nào bắt gà của bà! Mày bắt gà bà, mày băm, mày bổ, mày rỉa, mày rói, mày gói, mày dâng cho thằng trắng râu đầu bạc, nó sắp sửa ngồi bát bình hương nhà mày nó xơi nhá…” .

Còn ai trồng khoai đất này, thằng trắng râu đầu bạc sắp sửa ngồi bát bình hương là ông Cửu chứ ai. Đang nằm trên cái phản kê trên hai ghế ngựa ngang tầm bệ cửa sổ để ông thăm chừng hàng xóm láng giềng. Như hôm nay chẳng hạn, đang bẹp dí bên khay bàn đèn thuốc phiện, và ông nghe vanh vách, không sót một tiếng…Dưới gầm phản, con vện cũng hãi quá thể, cuộn đuôi nằm co rúm. Khác với mọi ngày, lúc này ông đang vật vờ về một thời hoàng kim cùng ngẫm chuyện nhân gian. Nào là sống ở trên đời chả được mấy. Không ăn chơi cũng thiệt, chả ăn cũng thiệt vào thân, không chơi cũng già khú đế. Và ông tặc lưỡi một cái. Mà đã ngập vào nơi chốn ấy, tương giao tri kỷ không ngòai khi buồn thuốc phiện, lúc vui cô đầu đến…nhức đầu.

Chuyện nhức mình nhức mẩy là ông năm nay mới ngòai bốn mươi, vậy mà con cháu vô phép vô tắc gọi là…“cụ”. Mà ông khọm thật, chẳng qua cũng vì ông theo đuổi nàng tiên nâu như gà ấp bóng. Chả là dạo nọ, nghe lỗm bỗm rằng làm dăm bi thì cái chuyện…ấy nó khỏe như vâm với mấy cô nhà hát. Thọat đầu ông bỏ ra vài hào, làm vài khói ngòai phố huyện. Nghĩ lại, ông gắn bó nàng tiên nâu cũng là một duyên hai nợ. Nào khác gì vợ chồng về già sống với nhau vì nghĩa chứ chả vì tình. Với ý nghĩ hoen hoẻn ấy, ông cho là mọi sự từ trên trời rớt xuống nên ông chả có tội vạ gì sất.

Như chuyện ông lên huyện đi hát cô đầu chẳng hạn, bỗng đâu gặp ngay ông chánh tổng Đoàn rủ rê đi…bắn khỉ. Cứ theo ông ta thì…thở ra hít vào thông tim thông mạch khỏe lắm. Khỏe luôn cả cái mục kia. Ông chả tin nhưng cứ ngoặt ngoẹo vào xem cái đã. Thế đấy. Thế là ông gặp ngay cô chủ bàn đèn mắn chuyện. Âu là số mạt rệp. Vừa lúc ông chánh tổng vác “ba-dô-ca” bắn kêu “ro..ro..” nghe như sáo diều cốc. Cô hú họa ông rằng hút thuốc phiện khó lắm, nhiều người hút lần đầu, một là chẳng mấy khi kêu thành tiếng. Hai là sẽ bị nhâm nhẩm đau bụng, ói mửa, ho khan. Ông tức khí làm một điếu chơi. Ông thở ra một hơi ngắn, nhắm tịt mắt hít vào một hơi dài thẳng băng nghe “ro..ro..” ngon ơ. Cô chủ bàn đèn nức nở khen ông…có khiếu ít thấy.

Có khiếu đâu chả thấy, ông bị ả tiên nâu nó hành lúc nào không hay nên hom hem, lụ khụ là vậy. Tôi hồi hôm, ông ngủ cho béo mắt. Sáng nay dậy muộn. Ông nằm khểnh trên phản nghe bà hàng xóm mắng chó chửi mèo, quên tiệt đi mất là từ sáng đên giờ chưa làm ngao nào cho ra hồn. Tiện tay quơ cái dọc tẩu. Ông phồng má lấy hơi thổi phù phù vào cái đít dọc tẩu cho thông hơi thông điếu. Chậm rãi hơ cái nõ qua ngọn đèn dầu lạc cho vừa đủ nóng. Nhét bi thuốc phiện lấy ra từ cái hộp dẹt tròn. Hộp có dấu in hình nổi “Bà Đầm Xòe”. Với cái tít “Công Quản Nha Phiến Đông Dương“ mà ông đã cậy cục mua ở phố Khâm Thiên, tận Hà Nội. Ông lào thào: Ai bảo! Cho đáng đới”. Ấy là ông trộm vía rủa thầm vợ nhà đấy thôi cho bõ ghét.

Và ông nhón tai nghe tiếng văng vẳng từ bên kia giậu ruối:

“…Chém cha đứa nào bắt gà nhà bà! Chiều hôm qua, bà cho nó ăn nó hãy còn, sáng hôm nay bà gọi nó, nó hãy còn, mà bây giờ nó đã bị bắt mất. Mày muốn sống mà ở với chồng với con mày, thì buông tha thả bỏ nó ra, cho nó về nhà bà. Nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào mả thằng tam tứ đại nhà mày ra, bà khai quật bật săng thằng ngũ đại, lục đại nhà mày lên…”.

Ông nghiêng người, bâng quơ với bà: “Này, cái con vợ nhà thằng phó rèn quang quác gì ấy nhẩy. Tôi nghe khí có hơi lạ tai đấy”. Ý đồ ông xem chừng như “thằng phó rèn” vẫn còn sống nhăn, ông chả giậu đổ bìm leo đến nhà ấy gì sất. Từ nãy đến giờ, mới bảnh mắt ra chả hiểu nếp tẻ gì, bà quay lại vặc ông: “Ông bảo lạ là lạ thế nào. Thì cái con của nợ của ông đang nhiếc tôi chứ còn ai”. Ông nghe rát cả mặt: “Nhào, bà nói nghe thối inh, nghe điếc cả lỗ đít”. Bà quay ngoắt lại: “Ông muốn trêu ngươi phỏng”. Ông phang bừa, rồi muốn ra sao thì ra: “Chuyện xấu tốt mặc bố tôi, bà đừng dây vào”. Buông cái mành mành, trước khi đi ra hẳn, bà tiếp: “Còn quạc cái mồm ra nữa. Thì nó sờ sờ ra cả đấy, bánh đúc bầy hàng, đây đâu có nói ngoa”.

Ra ngoài, bà Cửu còn vọng vào chì chiết: “Xời, ngữ ấy chừa ra, đừng có lăn tăn vào mà thối hoăng lên nhá”. Bà cũng đang tự hỏi chuyện đá thúng búng nia gì đây, đồ cái thứ gái góa ăn không ngồi rồi, ngứa chôn ngứa mồm mang mẹ con bà ra mà réo. Trong đầu bà Cửu lầng quầng: Giời ơi là giời, bỏ mẹ nó rồi, gặp bà thì cứ bỏ xác. Bà báo đời cho mày biết….Lạt mềm buộc chặt, để đấy rồi bà sẽ văm như văm cám, bà sẽ bằm nó ra như bằm chuối cho lợn ăn”. Nhưng bà im thin thít như thịt nấu đông, bà đang ú ớ, chưa biết tung hê lời ăn tiếng nói sao cho mát mẻ, cho gọn gàng nề nếp.

Thì cũng vừa lúc bà phó rèn đứng lên vén váy, gấu áo giắt dưới cái giải rút, hai tay vỗ đen đét vào nhau, chân nhún nhẩy. Bà ngóac mồm gào tóang lên, âm thanh lỏang xỏang, chan chát như búa tạ đập xuống đe. Bây giờ bà phó rèn mới nhập hồn, nhập vía vào lời ăn tiếng nói những câu chửi ở làng quê ruộng vườn có từ xửa từ xưa:

“…Làng trên xóm dưới, bên ngược bên xuôi, tôi có con gà mái xám. Hôm qua tôi còn cho nó ăn, thế mà bây giờ nó bị mất. Ai bắt được thì cho tôi xin, nếu không trả thì tôi chửi cho mà nghe. Ấy…ấy…”.

Ông Cửu ve ve mắt qua song cửa, vừa lúc bà phó rèn ngúng nguẩy quẹt miệng và co cái đầu gối lên. Ông nhíu mày, miệng lầu nhầu: Giời ạ, ông giời có mắt xuống đây mà xem người ngợm…người ấy cứ đuỗn ra như con cá rô đực trông chán chết…Bỗng dưng gì đâu từ lỗ nẻ chui lên, đột nhiên ông buồn, chỉ biết buồn không đâu. Tự nhiên ông nhớ, nhớ gì cũng chẳng hay. Chợt nhớ tới người ấy tức cái con của nợ mà vợ nhà vừa đay nghiến ông. Được thể cái đầu đất sét của ông đùn ra câu: “Lợn vừa chứ”.

Thế là chuyện xưa, chuyện nay chui tọt vào đầu ông. Số là ông mới ở bên Tây về.

Về đến nhà, hôm trước hôm sau ông đảo mắt qua bên hàng giậu thưa và tự hỏi chồng chị là ai, nào ai hay biết. Và ông chả phải đợi lâu vì đợi đến ngày mai, dòm sang kẻ liếp là gặp ngay cái chị hàng xóm vừa mới góa chồng là anh phó rèn mới rõ…hay. Ông được thể lâm râm cơm chín tới, cải vồng non, gái một con, gà nhảy ổ, rồi ông râm ran cau phơi tái, gái đoạn tang, chim ra ràng, gà mái ghẹ. Tiếp, ông búng lưỡi đến “tách” một cái rằng các cụ ta dậy cấm chả sai tí tẹo nào. Thảo nào cái thứ giềng tỏi xóm gừng ấy trông sao mà cứ phễn phễn ra. Tối về, ông vắt tay lên trán nghĩ dại là thắm da đỏ thịt như thế ấy, rằng không ai nắm tay được đến tối, gối tay được đến sáng được mãi đâu. Và ông để cái đầu củ chuối của ông lêu bêu rằng gớm sao mà ngực căng thây lẩy, cứ nổi phễnh lên như cái gáo dừa, thế mới rõ khổ ông.

Ấy vậy mà sáng hôm sau lại bắt gặp chị phó đang vớt bèo bên cầu ao, quần vén lên tận bắp đùi, cặp đùi trắng như ngó cần, trông phát khiếp, cứ rợn cả người lên ấy. Dẫu gì ông cũng từ mẫu quốc về, ông bước tới tính xí xô “bông-dua”…bông hoa cho nó Tây. Nghe tiếng chân ông đi đến. Chị phó quay lại, mặt đang trắng nông nỗng, sau đỏ lựng dần. Mọi ngày lờ đờ như chị vịt chống gậy, vậy mà ngoắt một cái cắm đầu chạy le te về nhà. Ông lững thững đi theo, tưởng chị phó đi đâu hóa ra đang lúi húi chổng mông cho lợn ăn. Buồn tay, và cũng rất Tây, ông phát vào mông đánh đét một cái. Thấy chả nói năng gì, người ngợm hiền hậu như thế đấy. Và ông húyt sáo, chống “ba toong” bỏ đi một nước. Quay lại, ông bắt gặp con mắt có đuôi liếc xéo theo ông.

Bây giờ ông chỉ biết cười tủm và…

***

Và ông vểnh tai nghe ngóng…cái con của nợ nhỏ nhẹ xưng…”tôi” là sắp kiếm chuyện chan tương đổ mẻ. Y như rằng, bà phó như chờ đợi cái thời cơ này từ lâu lắm. Lúc này ấm ức giận hờn được bung ra như ngô rang. Bà tung tóe:

“…Bố cái thằng chết đâm, cha cái thằng chết xỉa. Mày day tay mặt, mày đặt tay trái, nỡ ăn cắp của bà đây con gà, này bà bảo cho chúng mày biết: Con gà nó ở nhà bà, nó bị bắt trộm về nhà mày thì nó thành con cú, con cáo, con “thành đanh mỏ đỏ”, nó mổ mắt xé xác ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con cái nhà mày đấy. Ấy…ấy….

Mày ăn thịt con gà nhà bà thì mày ăn một miếng, chết một đứa, ăn hai miếng chết hai đứa, ăn ba miếng chết ba đứa và ăn cả con gà đó sẽ chết cả ổ nhà mày…”

Ông Cửu lầm rầm, cáithằng chết đâm, cha cái thằng chết xỉanày là ông chứ còn ai. Ấy là chưa kể ăn ba miếng chết ba đứa ám chỉ cả lò nhà ông rồi chứ còn gì nữa. Ông thong thả day tay mặt, đặt tay trái khẽ nhấn nhấn chất dẻo vừa đủ chặt sau đó nhẹ nhàng châm lửa. Trong cái vắng tanh vắng ngắt của gian phòng ẩm thấp, gần như ông nghe được cả tiếng xèo xèo của chất nhựa quánh gặp nóng kêu riu riu. Trong cái giây lát yên ắng chờ đợi sắp gặp gỡ ả phù dung, ông thót bụng lấy hơi từ lục phủ ngũ tạng. Đưa cái đít dọc tẩu ngang cửa miệng, thông qua cái yết hầu nhấp nhô lồi lõm. Ông hít vào một chập thật lâm ly quy phượng như lõ cả bộ điếu ra. Tiếng ống điếu kêu ròn tan, mùi thơm ngào ngạt tỏa khắp nhà. Ông lờ đờ nhả ra từng ngụm phùn phụt như khói tầu hỏa giữa gian phòng thênh thang, không một bóng người. Trừ con thạch thùng đang đờ đẫn trên vách tường, bỗng khi không nó buồn tình tặc lưỡi một tiếng “tách” vô nghĩa. Cái màng cổ họng trăng trắng của nó đang phập phồng, kéo lên kéo xuống, thì ra nó cũng đang hít hít chút hơi hám cơm thừa canh cặn của ông.

Bên kia, tiếng chửi bà phó nề vang vọng như kèn đồng của Tây báo hiệu thức dậy, như con gà gáy sáng vang vang…tọ tè ti tọ tè ti…ti tọ ti tè mà quen thói ông nghe ba chớp ba nháng ra là…một ngàn, ba mươi vạn thằng Tây, xách cái bị, đi ăn mày.

“…Bốn thằng cầm cờ xanh đứng đầu ngõ, ba thằng cờ đỏ đứng đầu làng, đưa đám tang cả nhà mày ra đồng làng chôn đấy. Mày có khôn hồn mang trả ngay con gà đó cho tao, kẻo không tao đào mồ, quật mả cao tầng tổ khảo, cao tằng tố tỉ, thúc, bá, huynh, đệ, cô, dì, tỉ muội nhà mày đấy…”.

Bất giác ông nhăn mặt vì chả hiểu bà phó này hát hỏng giống kéo đàn cò, đàn gáo với cờ xanh đứng đầu ngõ, cờ đỏ đứng sau nhà, cờ vàng dựa bên hữu, cờ trắng nghiêng bên tảlà thể thống, thống chế Pétain gì. Tiên nhân nhà nó chứ,chứ cứ như hát, cô đầu không bằng và ông cho là vậy. Ông lại te tái đến chuyện cũ. Dạo ấy chị hàng xóm đây cũng đẹp gái, đẹp nết ra phết chứ đâu có đanh đá cá cầy như bây giờ. Chả là cứ theo ông thì dòm cũng ngồn ngộn gớm, cái yếm sồi rộng toang tóac đựng hai quả bưởi to đùng, bắp đùi to bằng con cá trắm, đít chành bành như đít trâu…Ông quay quắt bắt qua chuyện vợ nhà, chả hiểu sao lấy nhau rồi, gầy thầy cơm, ăn thủng nồi trôi rế, người vẫn đuỗn ra như con lươn, con trạch. Ông lân la qua chuyện đánh chén ở ngoài đình, qua câu nói của ông chánh tổng Đòan: “Các mụ nhà ta đều giống miếng thịt ngan già luộc dối, đã hoi lại dai như chão”.

Từ cút rượu bắt qua mục đầu gà má lợn, ông chánh tổng âm ử: tái dê chấm với tương bần, ăn vào nó cứ bần thần như dê, đêm về vợ lạy tỉ tê, tối mai ta lại tái dê tương bần. Bất thình lình ông tổng Đoàn hỏi ông vậy chứ con gì càng già càng dai nhanh nhách. Chả lẽ lại con dê, ông chắc mẩm như cua gạch là…con ngan già chứ còn con của nợ gì nữa. Ông chánh tổng cười hề hề và ấm ớ hội tề là…là…con vợ ông chứ còn ai trồng khoai đất này. Vậy mà sau đấy, chả biết vợ nhà ăn gan giời trứng trâu gì mà người cứ phình ra như cái đụn rơm, và quả tình có khó nhai như chó gậm xương thật. Thế nên từ dạo ấy, ông cứ để mặc đầu óc lởn vởn theo khói bếp lam chiều qua mái rạ, qua chuồng lợn. Như ếch vồ hoa mướp, ông mơ tưởng đến…, ông vỡ bọng cứt mãi mới ra câu thâm nho của các ông đồ xưa là thê…thê gì ấy nhẩy…Như thê bất như thiếp, thiếp bất như tì, tì bất như đạo, đạo như đạo bất đạo.

Bỗng ông khóai chí tử cười khan, vỗ đùi đét một cái như…bị muỗi đốt với đạo như đạo bất đạo là trở về những ngày vợ nhà nằm ổ. Ông ngồi buồn gãi dái, dái lăn tăn cho đến một tối ngáo ra thao thức, co hai cái đầu gối củ lạc đến tận mang tai. Và ông chằn chọc nghĩ đến thân phận đàn bà con gái, ông nghĩ quẩn hóa dại, hóa dồ là đàn bà con gái thức được nửa đêm về tối, chứ ai thức nửa đêm về sáng. Nhưng cái giuộc gái góa lại là chuyện khác. Khác như thế nào thì ngay sáng hôm sau, sau khi bắn ba-zô-ca vài quả ở phố quận thì về nhà, người ngợm ông cứ phơn phớn bay bay như cờ đuôi nheo. Chả hiểu ma đưa lối quỷ dẫn đường thế quái nào, ông cứ nhè theo lối đi ngoằn ngoèo như vệt trâu đái và nghẹo ngoặt lạc bu nó vào cửa chuồng lợn. Và nhòm thấy chị phó cũng lại đang lóng ngóng cho lợn ăn. Thế mới rõ khỉ, mà khỉ thật.

Khỉ một nỗi chị ta lại mặc váy. Phiền thật chứ đâu có rỗi hơi nói chơi. Vậy đấy. Vậy là ông đâm ra…ngứa mắt. Từ đằng sau ông tốc váy lên. Ông chả thấy gì ngoài thấy rõ tổ con chuồn chuồn. Khi không bỗng ở góc chuồng lợn có tiếng con cộp cộp đực giục giã “ì oạp, ì oạp” gọi con cộp cộp cái. Thì như đã bảo, đúng là số ruồi. Và ông…”ì oạp, ì oạp” thế chó nào chả biết nữa, mà chị phó nhà ta cứ cắn răng ôm khư khư cái nồi cám. Mồm miệng chả chịu hở môi cho một tiếng. Thì đã bảo người ta lành như đất mà. Nói cho đúng ra, chỉ…ư…ư…thôi. Ấy vậy mà cái nồi cám lăn kềnh ra đất mới…hay chứ lị. Lúc này chị phó mới bật văng ra khỏi miệng câu “Lợn vừa chứ”.

Ông bụng bảo dạ làm gì mà nhắng lên vậy rôi huýt sáo bỏ đi…về nhà với vợ nhà đang ở cữ. Ông cho là tất cả mọi sự từ đẩu từ đâu là tại…con cộp cộp. Nhưng ông chẳng quên con mắt lá răm. Nhưng bố khỉ, lại để quên cái “ba-toong”. Thế mới hốc.

***

Giờ này, hốc…hay không chửa biết. Vườn rộng ao sâu, ông lắng nghe bà phó ỉ ôi chửi cả họ hàng hang hốc nhà ông, giọng âm ỉ như cuốc gọi hồn. Ông nhẩm chừng bà có thể chửi cả buổi. Cứ như cái điệu văn vẻ có tông, có tích, cứ thượng tổ, hạ tổ nhà hàng xóm đến tàn cây héo lá, mồ mả tổ tiên nhà ông cũng phải nhẩy dựng đứng lên.

Buồn buồn gãi khô búng ghét, chả biết làm gì hơn là nghe cho vui ấy mà:

“…Cha tiên nhân ông nội, ông ngọai, ông dại, ông khôn, đồng môn chi rễ nhà mày nhé. Mày gian tham đã ăn trộm, ăn cắp con gà nhà tao. Rồi ra, nhà chúng mày chết một đời cha, chết ba đời con, đẻ non, đẻ ngược, chân ra trước, đầu ra sau, đẻ sót nhau. Chết mau chết sớm, chết trẻ đẻ ngang nhé…nhé”.

Đẻ với đái, đến đây thì giời chẳng chịu đất, đất phải chịu giời. Bên này bà Cửu than thầm: Ối giời cao đất dầy ơi, đúng là giống mồm chó vó ngựa, đúng là cái con mụ nạ dòng chết bầm chết tiệt này nó chửi gà, chửi qué đến…thằng cả nhà bà thì phải”. Giận bầm gan tím ruột, như muốn đào mồ đào mả ông cố nội nhà nó lên, nhưng bà lẹo đẹo vào nhà xách cơi trầu ra làm một miếng cho thấm giọng cái đã.

Rồi bà Cửu ngồi bệt xuống bên hè, vừa têm trầu vừa chửi vọng qua bên kia:

“…Cha tiên nhân tam tứ đại đồng đường nhà mày, đồ quạ tha ma bắt, đồ ăn gian nói dối, dám đổi trắng thay đen, dám vu oan giá họa cho nhà bà. Bà truyền bảo ba hồn chí vía cho nhà mày biết: Quân điêu ngoa đi ngang về tắt, quen thói giăng hoa chim chuột, không chết treo chết chém thì cũng chết sông chết ngòi, chết đường chết xá, mưa sa gió dập đời mày. Ba vạn chín nghìn âm binh quen đựng điều đặt chuyện, cũng không cứu nổi cái tội mỏng môi hay hớt của m..à..y…m…à..y..đấy nhá! nhá!..”.

Nghe đến câu rủađi ngang về tắt, quen thói giăng hoa chim chuột…, bà phó rèn mặt đỏ lên phừng phừng, hừng hực như cái lò rèn bốc khói. Bà cũng bốc, tay vung miệng chửi, chửi đơn, chửi kép, chửi chùm, chửi lợp. Bà chửi có gai, có ngạnh, cho thỏa chí bình sinh là dân đồng chua nước mặn nhưng cũng văn tế, văn vẻ như ai.

Bà, mồm miệng nước đầy bọt, nước rãi dẻo quánh như nhựa sung, nhựa mít:

“…Con gà của tao nuôi bằng gạo, bằng thóc, vậy thằng cha nhà mày đã bắt con gà của tao. Nó là con gà, con qué, nó về nhà mày là con cú, con cáo, nó mổ gan lòi ruột đứa nào ăn miếng thịt gà nhà tao. Nó là thành đanh đỏ mỏ rút ruột rút gan nhà mày ra. Mày không thả gà nhà tao ra, tao đóng ghế 9 tháng 10 ngày, buổi sáng tao chửi, buổi chiều tao tế, buổi trưa tao hú, buổi tối tao nguyền. Tao rủa cho cây vàng lá, cho quả chột thui, cho thần trùng đến rút từng khúc ruột cha, ông, vợ, con nhà mày ra…”.

Chẳng đợi 9 tháng 10 ngày, bà khơi khơi vào nhà lấy nước uống thấm giọng…

Buồn môi ngứa miệng, ông lầu bầu: “Vợ, con nhà mày…”, đúng là vợ dại cái mang. Số là ông chưa đến cái tuổi…ngũ…ngũ thập tri thiên mệnh, chưa chi vợ nhà đã nghe thằng cả súi bẩy khuân cái quan tài bằng gỗ vàng tâm đặt lù lù ở giữa nhà để báo cô, báo hiếu. Riêng ông chả dại về chầu ông bà ông vải vội, trăm sự cứ ở chị “Lợn vừa chứ” mà ra. Ông thấy “gần” nhau cứ dễ như quạ vào chuồng lợn nên ông càng hẻo lánh đến chuồng lợn nhiều hơn và càng phải bắn ba-zô-ca…nhiều hơn nữa. Khỏe như vâm đâu chả thấy, cả mà cà cập với chị “Lợn vừa chứ” được mấy nả thì ông ủ dột như canh bí chiều đông. Rồi tịt mít. Ông đành quên tuốt luốt lối đi ngoằn nghoèo như vệt trâu đái. Thôi cũng đành, bệnh già như cây hết nhựa. Đèo bòng thêm là nửa đêm nửa khuya cứ lục đục đi giải xòanh xọach, tim gan phồi phẻo ắt hẳn muốn ấm ớ gì đây. Nói dại chứ nếu mắt có trắng dã, tay có bắt chuồn chuồn thì hai mẹ con thằng cả cứ chơ mắt trẫu nhìn nhau, của khôn người khó, nhà lại độc đinh neo người. Cớ sự này thì ông phải tính, ấy là tính chuyện kiếm vợ thằng cả. May quá là may. Mới ra giêng đây, bà chánh tổng làng “Bùi Dưới” bắn tiếng với vợ ông về cô gái rượu của họ.

***

Vừa lúc vợ nhà dềnh dàng đi vào săm soi ba cái đầu rau, rồi lại đi ra. Nhìn dáng đi kềnh càng của vợ nhà. Ông nghiệm ra rằng chả phải vì thuốc phiện mà ông…liệt…liệt giường, liệt chiếu đâu. Mà theo nhẽ của đất trời với âm thịnh dương suy. Các mụ vợ bắt đầu phè phè phát tướng thì thằng chồng cũng bắt đầu chả…ngóc đầu lên nổi. Trên thì móm mém nhai không vỡ, dưới lại chun choăn nhét chẳng vào mà các cụ ta dậy cứ như thật vậy. Chuyện chéo ngoe dễ hiểu như thế đó. Mà các cụ non quanh ông ai chả mắc chứng giời đày này. Các cụ ấy dấu nhau như mèo dấu cứt ấy thôi.

Ông đang óc ách đến đây thì bắt gặp bà Cửu ngoài kia đang ngó quanh ngó quất. Bà đang lầu bầu một mình cái con giời đánh đâu rồi, ra đây bà chửi cho mục mả cho biết tay. Chẳng cần bà hàng xóm có mặt, bà oang oang: “…Thứ con gái trốn chúa lộn chồng…”. Bà định băm bổ vào mặt nó tiếp: “Chồng mày là thứ đàn ông ba đời đi ở đợ...”. Vải thưa đâu che được mắt thánh, nó…lộn chồng bà thì rành rành ra đấy. Nhưng bà chợt nhớ ra là thằng chồng nó nhẩy tót lên bàn thờ ngồi ăn sôi nghe kèn từ đời tám kiếp nào rồi. Nó đâu còn con gái mà là…gái góa. Nên bà bí rị chưa biết tính sao. Nằm trong này, ông Cửu râm ran cứ nheo nhéo điếc cả lỗ đít, có chuyện chửi mà…chửi cũng không xong thì còn nước mẹ gì nữa. Và ông rị mọ tiếp…

Đất Nam Định của ông đây có hai làng sát nhau là làng Bùi Trên và làng Bùi Dưới. Cả hai làng này có chung một họ Bùi…Chỉ khác một nhẽ làng Bùi dưới lại…ngọng líu ngọng lo. Nói ngọng cứ đá ngược lên tận mái ngói, đến quặn cả mồm miệng. Đau nhất là họ lại nhè ngọng chữ “Bù..i..” mới thành chuyện. Chuyện là gái làng dưới vì vậy mới ế chỏng gọng ra, mới có chuyện trâu đi tìm cọc, gái duới cứ nhè trai trên mà gá nghĩa tào khang. Hương ước làng có ghi rành rành ra cả đấy, nói chả ai tin mới rõ khỉ.

Mà cô con gái rượu của bà chánh tổng, ông biết thừa bứa ra đấy, lớn tuổi nhầng nhầng, còi cọc cơm cớm như mèo bị kiết lỵ. Người ngợm vừa gầy vừa khô. Ấy là khô chân gân mặt, các cụ ta xưa dậy đắt tiền mấy cũng mua, như mua trâu mua lợn ấy thôi. Chuyến trâu đi tìm cọc, ông Cửu không…”đặt cọc” cũng không xong. Nhưng chả biết cái thằng ôn vật có ưng hay không. Cứ theo ông chỉ cần vác cái “ba-toong” ghè cho một trận thì nói phải củ cải cũng phải nghe, vì ông biết thằng con ông sợ bố một phép. Đụng đến cây gậy chống trời, ông mới hỡi ơi, cũng chỉ vì quên cái “ba-toong” mà vợ nhà nó biết. Nó gào tướng lên như cha chết mẹ chết không bằng nên ông đành phải khai tuốt cho yên cửa yên nhà. Trở về chuyện lấy vợ cho thằng cả, được cái thằng con ông với lũ đàn ông, con trai cá mè một lứa hết, như cái nơm chòm chọp úp xuống là cũng đâu vào đấy cả, nên chuyện xem mắt vợ cho thằng con cũng xong tất.

Xong thế nào được, bên kia bà phó rèn cũng vừa bước ra. Bà hất hất cái đầu ra cái vẻ nghe ngóng động tĩnh. Làm như mình đang điên tiết đây, hai chân bà dẫm thình thịch xuống đất và dẫy đành đạch như đỉa phải vôi. Giận mất khôn, chả hiểu nghĩ sao, hai tay nắm gấu váy, bà phó rèn vén phứa lên như khoe của và há họng tung hê:

“…Tao hú ba hồn bẩy vía thằng đàn ông, ba hồn chín vía con đàn bà bắt con gà nhà tao. Thằng đứng chiếu ngang, thằng sang chiếu dọc, thằng đọc văn tế, thằng bế cái hài, thằng nhai thủ lợn. Tao gọi ông cầm cờ xanh đứng đầu ngõ, ông cờ đỏ đứng sau nhà, ông cờ vàng dựa bên hữu, ông cờ trắng nghiêng bên tả, yểm cho nhà mày đẻ con ra thì ngược, sinh cháu ra thì ngang vì dám cả gan ăn con gà mái nhà tao…”.

Vướng víu vào mắt ông là bà phó vén phứa váy lên…Bỏ mẹ…lại chình ình cái tổ con chuồn chuồn. Thề trước ngọn đèn…thuốc phiện nào ông có tội vạ gì. Ông búng lưỡi, cũng chả phải vì người “Lợn vừa chứ”..ư..ư…đâu. Vì Ta khác Tây, bên trong Tây nó còn chút vải thừa bằng bàn tay để che mưa che nắng. Còn Ta thi…thì…trống toang hoác mới điên người. Nói trắng ra trăm sự ở…”cái váy” cả.

***

Bà Cửu bên này ngứa mắt bà phó rèn bên kia hai chân dẫm thình thịch. Bà không thể để con mụ tai ngược mồm loa mép giải này lên chân được nữa. Trên rừng có sơn lâm, dưới sông có hà bá, phải cho mụ này một mẻ, phải trị nó thẳng tay. Đúng là cái thứ xanh vỏ đỏ lòng, mới hôm nào đây lẻo mép nhà bác với nhà em. Nào là dạo này nhà em túng bấn lắm, đám Bùi Dưới ấy em chẳng nhờ vả được ai, trăm sự nhờ bác, nay vay rá gạo, mai mượn rổ khoai. Ấy vậy mà bây giờ giở mặt thớ lợ, nỏ mồm chua ngoa, nó muốn trêu ngươi ai đây mà độc mồm, độc miệng thế không biết, hả giời.

Thế là ba máu sáu cơn bà nổi lên, bà Cửu bỏ cơi trầu xuống, khăn vuông vắt vai, một tay chống sườn, một tay vung vẩy. Bà bước tới bước lui trên mặt đất thô. Cứ mỗi bước đi, ngón tay trỏ cong khoằm như mỏ vẹt, lại mổ đôm đốp sang bên kia xỉa xói. Như được thuê chửi mướn hay thuê đòi nợ chiều ba mươi tết với năm cùng tháng tận. Bà chửi toang hóac: “Tổ cha chúng mày…”. Bà cũng bắt chước con nặc nô, ngừng một chút nghe động tĩnh, rồi bà lồng lộn, gân cổ như con gà chọi, bà chửi te tái:

“…Cha đẻ mẹ thằng đàn ông, con đàn bà nào quen thói bán không mua chịu, quên vay đầy giả vơi, đẻ con có mồm mà nói điêu, có mắt mà nói mò như mày…Cha đẻ nhà chúng mày nhá… ”.

Vừa làm thêm một ngao nữa. Cạnh cái bàn đèn là ông đầu rau nhỏ bằng quả bòng. Ông thong thả nhấc cái siêu nước trà được hâm nóng từ cái lò than, những bông hoa lửa bắn ra như pháo hoa cà, hoa cải. Chiêu trà vào cái chén sành to bằng quả bứa. Ông khẽ cất đầu khỏi cái gối mây, nghiêng mình hớp một ngụm. Ông hãm khói thuốc từ nãy giờ. Giờ mới nhả ra những mảng khói xanh nhạt nhỏ, từng đợt, từng sợi mỏng tang như hương tàn khói lạnh. Ông lơ tơ mơ như cóc ngậm thuốc lào và rị mọ đến ngày nào. Ấy là cái ngày ông như cờ phướn phất phơ. Đang định rẽ phải về nhà thì lại theo lối đi ngoằn ngoèo như vệt trâu đái. Không gặp trâu lại gặp…“Lợn vừa chứ”. Khẽ trở mình cho đỡ ê ẩm…Ông bâng khuâng, bâng quơ...

Chẻ hoe trắng phớ được nhăm câu, bà Cửu đã đứ đừ, mặt tái dại như dây khoai kiệt nước. Bà Cửu ngừng một chốc, và thở rốc. Bà phó nề cũng chẳng hơn gì, đến phiên mình, một tay vừa mệt mỏi vung lên nửa chừng, cái yếm khi không lỏng…dây, tuột xuống phơi bày cái rốn lồi bằng quả sung. Cờm rớm để lộ cặp vú như hai quả mướp già đầy gân xanh, gân đỏ. Bà phó nề cắt ngang sẻ dọc đứt quãng, rời rạc:

“…Hôm nay tao chửi một, ngày mai tao chửi hai, tao chửi cho chúng mày hóa điên hóa cuồng, tao rủa suốt tháng liên miên không ngừng, năm này qua năm nọ. Bây giờ tao mệt quá rồi, tao vào lo cơm nước, muốn sống thì phải thả gà tao ra, lạy tao hai lạy, tao tha cho mày. Nếu không, ngày mai tao tế sống chúng mày cho mà biết, chúng mày hãy vén màng tai, gài mái tóc, chặt hàng rào cho thấp mà nghe tao chửi: Bớ con nào bắt gà nhà tao thì đẻ con không có lỗ đít. Bớ…”

Bầm vập vào mặt ông là hai bầu vú xẹp lép…Bất giác ông tặc lưỡi một cái... Mặt trời ngả gần con sào, cuộc đối đáp đến hồi giống phường chèo. Khi chậm, khi nhanh. Lúc ngừng, lúc nghỉ. Lên cao, xuống thấp. Vung tay đá chân đến gần giờ ngọ lúc nào bà phó rèn quên tiệt…”bây giờ tao mệt quá rồi, tao vào lo cơm nước”. Bà khản cổ, giọng rè đặc, tóc xổ ra, mắt đỏ ngầu, sùi bọt mép, thở hổn hển và ngồi bẹt xuống đất.

Bà Cửu cũng vừa nghỉ mệt xong và đang ngong ngóng đợi đến phiên mình. Cũng ngay khi ấy, có tiếng gà gáy te te giữa trưa, bà Cửu nhớ lại lời chồng bà là con gà biết những cái người không biết. Như gà biết gáy giờ tí, giờ dậu. Gáy ròn rã là nắng, khào khào là mưa. Người chỉ biết sau con gà là gáy giờ ngọ, thế nào trong làng cũng có đàn bà…chửa hoang và bà như vỡ nhẽ ra…ngọ gần với...với…

Bà Cửu chợt nhớ ra bà hàng xóm kia tên Dần. Thế là bà gân cổ lên…dần cho con đĩ rạc một trận. Báo đời cho con đĩ gầy này biết tay bà. Bà lộn mề ứa gan, giật phắt cái khăn vuông vứt tọet xuống đất, bà chửi vỡ làng vỡ nước, bà tế sống nhà chúng nó:

“…Có là…là… hùm, là hổ thì cũng chui từ cái lỗ kín của đàn bà mà ra. Từ ông ba mươi đến con thối thây, thối xác cũng chẳng thóat được cái lỗ rò ấy. Đời con đời cháu nhà mày cũng ở cái giống ấy mà chui ra. Này, bà báo đời cho mày biết nhá, con đĩ gầy, đĩ rạc, con đĩ chửa hoang…”.

Nghe đến “chửa hoang”, ông giật thót người vì…hú vía. Đảo qua tít lại, ông hồi tưởng đến…buổi trưa hôm ấy. Rồi ông đẩy đưa tới chiều hôm qua thằng cả luộm thuộm áo dài “ba-ga”, quần trúc bâu, ắt hẳn lại thậm thụt xuống làng Bùi Dưới điếu đóm như mấy chuyến trước, lúc rổ na, khi quả mít. Ông biết tỏng cái thằng say gái này đang bám ả như cua cắp. Con giống cha nhà có phúc, phúc đâu không thấy, dám…như ông lắm ạ. Mẹ bố nó chứ, chứ trứng đòi khôn hơn rận, đến bố mày đây còn xém chết nữa là…Thế là ông vặc thằng con mới nứt mắt ra đã tí tỡn, sướng con cu mù con mắt, có ngày…trắng mắt ra. Thằng con mắt trắng như mắt lợn luộc, ngóac cái mồm: “Bố đay gì tôi. Bố nói gì tôi chả hiểu sất”. Rồi bỏ đi một nước…

***

Đang lất phất đến đây, “Lợn vừa chứ” mặt không còn nhơn nhơn ra nữa với con mắt lá răm. Chợt có tiếng con cộp cộp đực giục giã... “Lợn vừa chứ” thộn mặt ra, vẩu môi môi lầu bầu…Ông không muốn nghe nhưng nó cứ bò vào tai ông với tiếng đực tiếng cái nào là đồ “ăn cháo đái bát” này kia. Tới cái thứ đàn ông “qua sông dí buồi vào sóng” kia nọ. Hóa ra “Lợn vừa chứ” không chửi vì mất gà mà nhè ông chửi...Chưa nghĩ hết câu, ông thấy “Lợn vừa chứ” dóng mỏ…chửi lại từ đầu mới rõ cơ khổ ông cơ chứ:

“…Thằng đứng chiếu ngang, thằng sang chiếu dọc, thằng đọc văn tế, thằng bế cái hài, thằng nhai thủ lợn. Con gà nó ở nhà tao nó là con gà, nó sang nhà mày nó là thần đanh đỏ mỏ...”.

Hóa ra “Lợn vừa chứ” chửi ông thật mới đau. Vừa gãi bẹn sồn sột, ông vừa thông điếu, thông manh ra rằng bấy lâu nay ông chả hiểu quái gì về đàn bà, con gái cho mấy, mới quen thì rằm cũng ừ, mười tư cũng gật. Ấy vậy mà bén hơi thài lài cứt chó rồi thì dính cứng vào nhau như chó dái, ít lâu sau hóa dại, hóa dồ nào có khác gì…chó dại. Bông ông buột miệng: Tiên nhân cái lũ đàn bà, chúng càng ủng oẳng mình bao nhiêu thì chúng lại càng bám mình như đỉa đói bấy nhiêu. Mà cái giuộc đàn bà nạ dòng chúng nó lạ lắm, đất sinh cỏ già sinh tật, họ cứ như chuồn chuồn khi vui thì đậu khi buồn thì bay nên chả biết đâu mà lần. Ông gật gù, đúng là chó dại từng mùa người dại quanh năm. Ông lắc đầu lan man, mà chả ai dại gái như thằng con ông, mới chiều hôm qua đây, vừa hỗn láo với ông “Bố đay gì tôi..”, nháo nhác một cái cung cúc lỉnh ra đầu ngõ. Nhòm từ xa, nó lum khum phía đằng trước như dấu diếm gì đó. Với mắt quáng gà của ông thì dường như hai tay nó củm nủm cùm nụm…cái bu gà thì phải. Khỉ thật, chẻ tre không bằng ve gái, ai lại thằng nỡm đi ve gái với gà cơ chứ. À mà dám chị…gà mái xám lắm ạ. Ông thốn người lại…

Ông thốn người thêm cái nữa với những lao xao…Vì bắt gặp “Lợn vừa chứ” đang đi vào. Bỗng quay lại, mặt mũi nhẹ hẳn đi với con mắt có đuôi. “Lợn vừa chứ” vớt vát:

Cha năm đời mười đứa nào bắt gà của bà thì thò mặt ra nghe bà chửi thêm nhé! Mày bắt gà, mày vặt lông, mày luộc, mày nấu, mày nướng. Cho vợ, cho chồng, cho con, cho cái, khi khi khú khí với nhau nhá! Mày có khôn hồn thì trả ngay cho bà, nếu không ngày rằm, ngày một bà trồng cây chuối ngược, bà... “.

Cuối cùng thì “Lợn vừa chứ” cắp cái nia lon ton đi vào mất hút.

***

Đất trời lặng ngắt như tờ, còn lại chỉ là tiếng rì rào của cỏ cây. Ở trong này, ông cảm thấy trống vắng đến dớ dẩn. Bỗng con thạch thùng đi hoang tặc lưỡi một cái “tách”. Cành lá chanh ngả nghiêng trước gió, câu chửi “Mày bắt gà, mày vặt lông, mày luộc…” như mời mọc đâu đây. Ông chẳng biết làm gì hơn là nghe ngóng, đợi chờ. Ông không nghe thấy con cộp cộp đực ì oạp gọi con cộp cộp cái nữa. Vắng lặng đến nhạt thếch người. Buồn tình ông thò tay gãi háng, gãi bẹn, ghếch đầu đảo qua cái quan tài gỗ vàng tâm, ngước mắt lên bàn thờ. Mẹ ơi, ông như nhìn thấy chính ông đang ngồi nấp sau bát nhang, và thấp thỏm nhìn trộm…con gà khỏa thân.

Chả là ông muốn nghe chửi mất gà…thêm nữa, nghe đến chót đời. Rõ ra là thế đấy, hóa ra ông nghiện nghe chửi như…nghiện thuốc phiện ấy thôi. Ông chỉ sợ mai này chẳng được nghe chửi thì…Ừ thì với cái tuổi già, không có chuyện làm cho qua ngày hay để dựa dẫm theo năm tháng thì…tiên nhân nó chứ, càng ngày càng già đi.

Vì vậy ông cần có một cái gì để bám như đỉa bám chứ. Và ông tặc lưỡi một cái…



Trúc gia trang

Xuân phân, Ất Dậu niên

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng



Phụ chú:
1 - Theo tài liệu người viết có được thì những câu chửi mất gà được truyền khẩu từ vùng đất núi Nùng sông Nhị. Vì vậy có nhà biên khảo ngôn ngữ dân tộc học ở Hà Nội cho rằng qua âm ngữ hay cuộc hội nhập của chữ nghĩa thì có thể có trước thời vua Lê chúa Trịnh, cùng thời với bài thơ Con Cóc với “Con cóc trong hang, con cóc nhẩy ra…“. Hoặc giả như sau thời Trịnh Nguyễn phân tranh một chút.
2 – Cũng theo nhà biên khảo trên, ngôn ngữ truyền khẩu chửi mất gà được lan truyền rộng rãi tại vùng quê miền Bắc. Tuy nhiên vì lời ăn tiếng nói hơi dài cùng tam sao thất bản, và cũng tùy theo âm thổ nên câu chửi mất ngắn đi và chữ nghĩa biến dạng cũng khác nhau theo địa phương tính
Xuất phát từ miền Bắc, văn chương dân gian chửi mất gà theo cuộc di dân của chúa Nguyễn vào đến miền Trung thì chữ nghĩa rơi rớt còn lại dăm câu như ở dưới đây:
“Hôm qua tau mất con gà mái dầu khoang cổ. Hôm ni tau mất con gà mái nổ khoang bông. Con mô bắt là gái trốn chúa lộn chồng. Thằng mô bắt là đàn ông ba đời đi ở đợ...
Tụi bay hãy vén mái tai, gài mái tóc, chống cửa ngõ cho cao, chặt hàng rào cho thấp mà nghe tao chửi...Bay ăn cho chồng bay sợ, cho vợ bay kinh, bay ăn cho ngã miếu sập đình, cho mồ cha bay chết hết, để một mình bay ăn.”
3 - Vào đến miền Nam, trước năm 75, văn chương truyền khẩu dân tộc chửi mất gà được giáo sư Nguyên Ngọc Huy thuyết trình bằng tiếng Anh trong Đại Hội Văn Hóa Á Châu tại Vọng Các, Thái Lan.


Ngôn từ chửi được ngắt từng đoạn, chia từng khúc trong truyện ngắn “Chửi mất gà” được xem như là tạm đầy đủ với nguyên bản từ trong nước gửi sang cho người viết).





























































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































Về Đầu Trang Go down
 
Chửi mất gà
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến