Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
viet quan lang PHAT nghia thanh pham Thầy sinh mien cuoc thang nguyen phung nguoi cong Ngày nghe thuy ngoc trai HUNG rang huyen nhung tien
Latest topics
June 2017
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Thơ của Thiền Sư Không Lộ và Bản gốc với Bản phục hồi

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
VuLang
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Thơ của Thiền Sư Không Lộ và Bản gốc với Bản phục hồi   Tue Nov 13, 2012 12:27 am

Thơ của Thiền Sư Không Lộ và Bản gốc với Bản phục hồi




Bản gốc




Bản chép lại (phục hồi)




Thơ của thiền sư Không Lộ, thầy Vũ Lang (GS THNT Saigon) dịch


Về Đầu Trang Go down
tuetam
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tiếng Hú của Thiền Sư Không Lộ   Thu Nov 15, 2012 9:00 am

Tiếng Hú của Thiền Sư Không Lộ


Kỷ Niệm 996 Năm Sinh Của Thiền Sư Không Lộ (Bính Thìn 1016-Nhâm Thìn 2012)


Chắc bạn đã từng nghe nói đến tiếng “quát” kinh thiên động địa của thiền sư Vân Môn Văn Uyển, tiếng “hét” dựng tóc gáy của thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền, hay cây gậy “đánh” người túi bụi của thiền sư Đức Sơn Tuyên Giám trong thiền sử Trung Hoa. Nhưng bạn đã có bao giờ nghe tiếng “hú” lạnh buốt cả bầu trời của thiền sư Không Lộ trong thiền sử Việt Nam?

Bài viết này xin giới thiệu tiếng “hú” đặc biệt hy hữu đó.

Thiền sư Không Lộ, thế danh là Dương Minh Nghiêm, sinh ngày 14 tháng 9 năm Bình Thìn (1016) đời Vua Lý Thái Tổ tại làng Giao Thủy, huyện Hải Thanh, Tỉnh Nam Định, và viên tịch vào năm Giáp Tuất 1094 đời Vua Lý Nhân Tông, thọ 79 tuổi. Như thế, năm nay, Nhâm Thìn, 2012, là 996 năm sinh của thiền sư Không Lộ. Ông sinh 6 năm sau khi nhà Lý dựng đế nghiệp. Thiền sư Không Lộ là người khai sơn Chùa Keo, tức Chùa Nghiêm Quang, sau đổi tên là Chùa Thần Quang ở Huyện Vũ Thư, Tỉnh Thái Bình. Chùa nguyên ở hữu ngạn Sông Hồng, vì bị lụt làm hư hại, đến đầu thế kỷ 17 đã dời sang tả ngạn sông Hồng và tồn tại đến ngày nay.

Thiền sư Không Lộ làm nhiều bài thơ, trong số đó nổi tiếng nhất là 2 bài: Ngôn Hoài và Ngư Nhàn. Bài viết này xin nói đến bài Ngôn Hoài vì trong bài thơ này xuất hiện tiếng “hú” kỳ bí của thiền sư Không Lộ. 

Ngôn Hoài (âm Hán Việt)

Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thướng cô phong đảnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
 
Dịch nghĩa:
Chọn được đất rồng rắn có thể ở
Tình quê mộc mạc suốt ngày an lạc trọn vẹn
Có lúc leo thẳng lên đỉnh núi cô quạnh
Hú một tiếng dài làm lạnh cả bầu trời.
 
Bài thơ này đã được nhiều người dịch. Nay xin trích một vài bản dịch tiêu biểu để độc giả thưởng lãm.

Trước hết là bản dịch Việt của Ngô Tất Tố:

Lựa nơi rồng rắn đất ưa người,
Cả buổi tình quê những mảng vui.
Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm,
Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời.

Sử gia Lê Mạnh Thát dịch Việt như sau:

Chọn chỗ thâm u, đất rắn rồng
Tình quê suốt buổi mãi vui rong
Có khi lên thẳng đầu non quạnh
Huýt một hơi dài lạnh cõi không.
 
Người viết xin dịch như sau:

Chọn đất rắn rồng để ẩn cư
Suốt ngày an lạc với tình quê
Có khi lên tận trên đầu núi
Hú một tiếng dài lạnh bầu trời.
 
Trong bài thơ trên có mấy chỗ cần ghi chú trước khi đi vào nội dung tổng quát. Mấy chữ “long xà địa” ở câu đầu, theo Ngô Tất Tố và một số nhà bình giải khác là “đất rồng rắn,” thuộc khoa phong thủy, nhưng sử gia Lê Mạnh Thát thì cho là “chỗ thâm u.” Cùng quan điểm với sử gia Lê Mạnh Thát có nhà thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh trong bài  “Tiếng Hú Trên Đỉnh Cô Phong.” Trong bài viết này, nhà thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh trích dẫn nhận định của nhà nghiên cứu An Chi cho rằng, “Nhà nghiên cứu An Chi có nói về sự hiểu sai đáng tiếc này: Tiếc rằng, thuật phong thủy và các thầy địa lý lại không bao giờ nói đến “những rặng núi hình rồng, hình rắn” hoặc “kiểu đất có hình thể của rồng, rắn”, chỉ đơn giản vì “long xà địa” là một lối nói không hề tồn tại trong thuật phong thủy. Rồi ông còn chịu khó lục tìm trong sách “Bí ẩn của phong thủy”, trong đó nêu ra 21 khái niệm thường dùng và 92 thuật ngữ cơ bản của thuật phong thủy nhưng chẳng có khái niệm hoặc thuật ngữ nào là “long xà địa.”  Cuối cùng, An Chi nói, “Long xà địa” là đất ẩn dật, bắt nguồn từ một lời “Hệ từ” trong Kinh Dịch: “Long xà chi trập, dĩ tồn thân dã”, nghĩa là “rồng rắn mà ẩn nấp là để giữ mình vậy”.” Có lẽ cách giải thích “long xà địa” như là “chỗ thâm u” hay là “đất ẩn dật” là phù hợp nhất, bởi vì nhờ ở “chỗ thâm u” hay “đất ẩn dật” nên thiền sư có thêm thuận duyên cho đời sống “dã tình,” tức tình quê mộc mạc, chất phác, đơn sơ, giản dị, thong dong tự tại không bị ngoại cảnh quấy rầy, phiền lụy. Và vì vậy, suốt ngày thiền sư mới an trú trong cảnh giới “lạc vô dư.” “Lạc vô dư” là sự an lạc trọn vẹn không còn một chút phiền não nào chen vào, trạng thái tâm thức hết vô minh và phiền não một cách rốt ráo. “Vô dư” là không còn lưu lại, không còn rơi rớt lại, là một trong 2 đặc tính của niết bàn: hữu dư và vô dư. Niết bàn thường được dịch sang Hán văn là tịch diệt, tức là sự vắng lặng do hết các lậu hoặc, phiền não. Vô dư niết bàn là niết bàn lúc đức Phật và các vị A La Hán viên tịch.

Chữ “khiếu” trong Hán văn, có nghĩa là kêu, tiếng kêu. Nhưng khi chữ “khiếu” đi với chữ “trường” thành “trường khiếu” thì ý nghĩa ắt có thay đổi. “Trường khiếu” là tiếng kêu dài, mà khi phát ra tiếng kêu dài thì người kêu phải vận dụng đến hơi thở và sức lực, tức là sức thì phải mạnh và hơi thì phải dài. Điều đặc biệt là trong câu thơ cuối này còn có thêm hai chữ “nhất thanh,” tức là một tiếng, một âm thanh, nghĩa là tiếng kêu chỉ phát ra và kéo dài thành một âm thanh chứ không phải phát ra đứt đoạn, hết hơi này tới hơi khác. Hành động phát ra tiếng kêu với sức mạnh và hơi dài thành một tiếng mà không bị đứt đoạn tất nhiên phải tạo ra âm thanh của tiếng hú. “Trường khiếu” vì vậy là tiếng hú dài.

Điều cần đặc biệt lưu ý ở đây là trạng thái tâm thức của một người khi phát ra tiếng hú và khung cảnh lúc người đó cất lên tiếng hú dài. Tiếng hú không phải là động thái được làm bình thường trong đời sống thường nhật của một người, nhất là người đó không những là một tăng sĩ mà còn là một vị thiền sư có uy tín đương thời. Tiếng hú chỉ được kêu lên trong hoàn cảnh và trạng thái tâm lý đặc biệt, chẳng hạn, khi hú một người nào đó thì nhất định là người hú muốn cho người nghe biết rằng ông hay bà ta đang nhắn gửi một thông điệp khẩn cấp chứ không phải bình thường, như vì sợ người kia đang ở xa, đang bị chi phối bởi ngoại cảnh nào đó nên người hú phải cất lên tiếng hú để tạo chú ý cho người nghe. Đôi khi tiếng hú cũng là động thái biểu lộ trạng thái tâm thức nào đó mà người hú không thể hay không muốn bày tỏ qua tiếng nói bình thường.

Tiếng hú càng dài, càng lớn thì tính cách đặc biệt của nó càng được thấy rõ.

Trong tiếng hú của bài thơ Ngôn Hoài của thiền sư Không Lộ, có hai sự kiện mà chúng ta cần quán sát, đó là khung cảnh mà tiếng hú xảy ra và trạng thái tâm thức của thiền sư Không Lộ khi phát ra tiếng hú.

Trước hết, xin nói về khung cảnh. Bài thơ Ngôn Hoài mô tả khung cảnh lúc thiền sư Không Lộ cất tiếng hú dài rất đáng chú ý. Tiếng hú dài đó không xảy ra nơi sân chùa, nơi góc núi, nơi bờ rừng hay cạnh một con suối, mà diễn ra trên đỉnh một ngọn núi cô quạnh. Hãy hình dung rằng một thiền sư với dáng người mảnh khảnh đi băng băng lên đỉnh núi cô quạnh, nơi đó không một bóng người, không một bóng thú vật, chung quanh toàn là rừng núi bạt ngàn với khói sương và mây trắng lãng đãng, đỉnh núi đó sừng sững giữa bầu trời mênh mông bát ngát, rồi thiền sư ngước cổ lên trời mà hú một tiếng dài, âm ba xé nát không gian, kinh động khắp mười phương khiến bầu trời cũng phải lạnh buốt. Mấy chữ “lạnh cả bầu trời” trong bài Ngôn Hoài mang đầy tính hình tượng, gợi lên trong tâm trí người đọc một khung cảnh không gian sâu hun hút bị choáng ngợp, hay bị chìm ngập trong tiếng hú kỳ bí của thiền sư. Hãy để ý đến hình tượng một ngọn núi cô quạnh, một thiền sư cô độc, một tiếng hú dài lảnh lót.

Bây giờ xin nói về trạng thái tâm thức. Thiền sư một hôm đi phăng phăng lên đỉnh núi rồi cất tiếng hú dài không phải là chuyện làm để giỡn chơi. Tất yếu đó là hành động biểu lộ cho trạng thái tâm thức đặc biệt nào đó. Tâm thức đó là gì? Lẽ dĩ nhiên, chỉ có thiền sư Không Lộ mới thực sự cảm nhận được một cách đúng thực trạng thái tâm thức lúc đó của ngài. Nhưng, qua khung cảnh của bài thơ, qua hình ảnh đời sống thiền của các thiền sư, chúng ta cũng có thể hiểu được phần nào trạng thái tâm thức lúc ngài cất tiếng hú dài. Đối với một thiền sư như thiền sư Không Lộ thì có lẽ chỉ có một cách lý giải mà hầu hết các nhà bình giải bài thơ Ngôn Hoài xưa nay đều giống nhau, đó là biểu lộ giây phút cực kỳ trọng đại xảy ra với người tu thiền: kiến tánh, giác ngộ, hay chứng đạo. Vì chỉ có trạng thái tâm thức bùng vỡ tận cùng sâu thẳm của nội tâm lúc chứng ngộ mới có đủ sức mạnh phi thường để khiến cho thiền sư phải đi phăng phăng lên đỉnh núi cô quạnh mà hú một tiếng dài bất tận làm lạnh cả bầu trời. Ở đây, người đọc còn cảm nhận thêm một điểm lý thú nữa. Đó là trạng thái tâm thức bùng vỡ của thiền sư khi chứng ngộ đã mở tung cảnh giới bí ẩn sâu nhiệm của tâm để nó nhập thể hay trở về nguồn cội uyên nguyên của nó, và lúc đó tâm là pháp giới, tâm là vũ trụ, tâm là cõi không gian vô cùng, mà thật ra tâm cũng không là gì cả, vì tâm vô tướng, và pháp giới cũng vô biên tế. Chính vì thế, tiếng vọng của tâm qua tiếng hú dài mới có thể làm lạnh cả bầu trời, làm không gian vô biên đặc quánh thành một, rồi tan đi trong tiếng hú vô hình vô tướng.

Cho nên, tiếng hú dài của thiền sư Không Lộ là tiếng hú độc nhất vô nhị trong rừng thiền từ xưa tới nay.

Huỳnh Kim Quang
Về Đầu Trang Go down
hadinh
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tiếng hú trên đỉnh cô phong   Fri Nov 16, 2012 12:52 pm

Tiếng hú trên đỉnh cô phong



.




Không Lộ là một vị thiền sư thời Lý; ông họ Dương, quê ở Hải Thanh, chùa Nghiêm Quang – nay là chùa Keo, thuộc xã Vũ Nghĩa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; dòng dõi nhiều đời làm nghề chài lưới, sau bỏ nghiệp sông nước, xuất gia tu Phật, thường trì tụng Đà-la-ni.

Tương truyền, Không Lộ, Giác Hải và Đạo Hạnh là bạn đồng tu; họ thường vân du đây đó, dùng pháp thuật lạ lùng để kêu gió, gọi mưa, dùng nước phép chữa bệnh, tùy duyên hóa độ chúng sanh. Tài năng và đức độ của họ đều được vua phong tặng chức vụ Quốc Sư; tuy nhiên, cả ba đều không màng danh lợi, chuộng nếp sống quê mùa, thanh bần giản dị làm vui. Về già, Không Lộ về quê lập chùa, thâu nhận đệ tử và giáo hóa chúng đồ.

Ngoài hành trạng nổi bật như thế, Không Lộ còn để lại hai bài thơ nổi tiếng, tứ lời giản dị, văn phong thanh cao, thiền ý thâm sâu rất có giá trị văn học và thiền học.

Bài thơ thứ nhất:
 
Ngư nhàn
Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thùy trước vô nhân hoán
Quá ngọ tình lai tuyết mãn thuyền!

Kiều Thu Hoạch dịch:
 
Cái nhàn của ngư ông
Trời xanh nước biếc muôn trùng,
Một thôn sương khói, một vùng dâu đay.
Ông chài ngủ tít ai lay,
Quá trưa tỉnh dậy, tuyết bay đầy thuyền.
 
Tôi tạm dịch:
 
Trời nước xanh xanh, muôn dặm liền
Làng dâu lạnh giá, khói đông miên
Ông chài say ngủ, không ai gọi
Trưa trợt, mây quang, tuyết ngập thuyền!
 
Bài thơ “Ngư nhàn” này, ai cũng bảo đây là một điển hình thi pháp của nghệ thuật thiền tông. Nó không nói bằng những thuật ngữ Phật học dành cho lý trí suy nghiệm, không nói bằng tư duy khái niệm mệt mề khô rỗng – mà nói bằng tư duy hình tượng – tức là những hình ảnh khói sương, những nét chấm phá trời, nước, mây thủy mặc. Đây là ngôn ngữ của những cảm xúc giác quan: Muôn dặm sông xanh tiếp muôn dặm trời xanh, làng dâulạnh giá chìm trong làn khói nửa thực, nửa hư. Giữa trời nước mênh mông ấy, ông chài ngủ say tít trên chiếc thuyền câu, không ai lay gọi được. Trời đã quá trưa, quang tạnh, tuyết rơi ngập thuyền… Hãy xem bức tranh ấy – người và vật dường như cùng hòa với nhau làm một? Cái ta bé mọn, nhỏ nhoi với những lo âu, phiền muộn của cuộc đời chợt như mất tích, mù tăm giữa vũ trụ bao la? Trời-đất-người đều tịnh định, hòa đồng, nhất thể? Hay là tác giả muốn khơi mở thế giới vong ngã, vong pháp – chỉ còn sự sống vô biên thầm lặng dịch hóa đến muôn cùng?
Tuy nhiên, rõ ràng, bài thơ này, ta còn nghe hơi hướm nhàn của Lão Trang, ta còn đọc ra tư tưởng trời-đất-người hòa nhập – tam tài thiên địa nhân – của Nho triết, tương tự bóng dáng đại ngã nhất nguyên của bà-la-môn giáo!

Và bài thơ thứ hai sau đây – Ngôn hoài – mới chính là trọng tâm khảo sát của chúng ta:
 
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư!
 
Tạm dịch:
 
Tìm đất ẩn mình, chọn được nơi
Tình quê dân dã suốt ngày vui
Có khi chót vót đầu non quạnh
Một tiếng cười vang lạnh cả trời!
 
Hoặc:
 
Giấu mình, chọn đất dễ ưa
Niềm quê lạc đạo sớm trưa chẳng rời
Có khi chót vót non vời
Cất dài tiếng hú, đất trời lạnh băng!
 
Về mặt văn bản học, các nhà nghiên cứu cho rằng, bài thơ này, Không Lộ đã lấy ý từ bài thơ của Thứ sử Lý Cao (2) làm tặng Dược Sơn – Duy Nghiễm, nhân đêm kia, thiền sư kinh hành trên núi cao, chợt thấy mây vẹt, trăng tỏ – bèn cất tiếng cười dài vang xa đến chín mươi dặm Đông Phong Dương:
 
Tuyển đắc u cư hiệp dã tình
Chung niên vô tống diệc vô nghinh
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh
Nguyệt hạ, phi vân tiếu nhất thanh!
 
Tạm dịch:
 
Được nơi thanh vắng thú quê
Quanh năm đưa đón chưa hề biết hay!
Chợt khi lên thẳng non tây
Mây tan, trăng tỏ – vỗ tay cười dài!
 
Nếu so sánh hai văn bản – thì đúng là Không Lộ của chúng ta đã tá văn, nếu như không muốn nói là đạo văn của Thứ sử Lý Cao! Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt có 28 chữ mà Không Lộ đã vay của Lý Cao hết 14 chữ: đắc, cư, dã tình, chung, hữu thời trực thướng cô phong đỉnh, nhất thanh! Do vậy, có nhà nghiên cứu đã loại bài thơ này ra khỏi các tuyển tập văn học sử của nước nhà, thời Trung đại. Họ có lý. Tuy nhiên, ta hãy cùng nhau khảo sát, xem thử có phát kiến gì mới mẻ để “khả dĩ biện hộ” cho thiền sư Không Lộ của chúng ta hay chăng?

Trong văn học, thiền học Việt Nam kể từ thời Lý, các vị thiền sư thường hay mượn lời, mượn ý của các thiền đức, cao tăng đời trước để dạy môn sinh. Ví như vua Trần Nhân Tông có nói rằng: “Mỗi lần nêu lên là mỗi lần mới”. Tức là lặp lại mà vẫn sinh động, hiện tiền; vẫn là ánh nắng tinh khôi, vẫn là giọt sương trong vắt sáng nay trên đầu cây ngọn cỏ! Ánh nắng, giọt sương có bao giờ cũ? Đất trời cũng bắt chước, cũng lặp lại như vậy ru? Có lẽ Hương Vân Đầu Đà có một tuệ quán hiện tiền nên đã thật sự thấy như vậy chăng? Trước đó nữa, Lý Giác và Pháp Thuận cùng vui cảnh, vui tình, xướng họa bài thơ Nga nga – hóa ra chỉ sửa mấy chữ bài thơ của Lạc Tân Vương làm lúc 10 tuổi! Gần hơn, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Truyện Kiều của Nguyễn Du – chẳng lẽ nào người ta lại bảo vay mượn của Tàu hay sao? Đây chính là loại hình văn học phổ biến ở trong các nước đồng văn, được gọi là hiện tượng tập cổ quen thuộc của các tác gia Đông phương. Chúng đâu chỉ đơn thuần là giao lưu văn hóa. Các thiền sư nhờ học vấn thâm uyên – nên chỉ cần mượn một nhóm từ, một cụm từ hoặc luyến láy, chuyển đảo một vài tứ của cổ thi, thiền ngữ, thiền thoại, niệm, tụng gì đó – là có thể mở ra cả một trời liên tưởng về ngữ nghĩa hoặc hình tượng văn học, thiền học. Những cảm xúc nghệ thuật, do vậy, chúng có thể tương thuộc, tương đồng, đào sâu thêm, nới rộng ra, làm cho chúng mới mẻ hơn mà thôi vậy.

Trở lại với bài thơ “Ngôn hoài”.
 
Trạch đắc long xà địa khả cư…
(Giấu mình, chọn đất dễ ưa…)
 
Câu thơ đầu, trước đây có một số nhà nghiên cứu bảo là vị thiền sư này lựa tìm được một chỗ đất hợp với phong thuỷ – do cụm từ “long xà địa”. Như Đặng Thai Mai hiểu về “Kiểu đất long xà” theo cách nghĩ của mình rồi bình giảng như sau:“Nhà thơ vui mừng nhìn địa hình địa vật qua những dặng (sic) đồi hình rồng hình rắn uốn quanh ngôi nhà của mình. Đó là lối nhìn của các thầy địa lý” (3) Và các vị trách nhiệm biên soạn Thơ văn Lý, Trần cũng chú giải tương tợ: Long xà địa: Theo cách nhìn của các nhà phong thủy hay đi xem kiểu đất thì nơi nào có hình thế của rồng rắn là nơi đất đẹp, có thể ở được” (4). Nhà nghiên cứu An Chi có nói về sự hiểu sai đáng tiếc này: Tiếc rằng, thuật phong thủy và các thầy địa lý lại không bao giờ nói đến “những rặng núi hình rồng, hình rắn” hoặc “kiểu đất có hình thể của rồng, rắn”, chỉ đơn giản vì “long xà địa” là một lối nói không hề tồn tại trong thuật phong thủy. Rồi ông còn chịu khó lục tìm trong sách “Bí ẩn của phong thủy”, trong đó nêu ra 21 khái niệm thường dùng và 92 thuật ngữ cơ bản của thuật phong thủy nhưng chẳng có khái niệm hoặc thuật ngữ nào là “long xà địa” (5). Cuối cùng, An Chi nói, “Long xà địa” là đất ẩn dật, bắt nguồn từ một lời “Hệ từ” trong “Kinh dịch”: “Long xà chi trập, dĩ tồn thân dã”, nghĩa là “rồng rắn mà ẩn nấp là để giữ mình vậy”.

Thế thì câu đầu trong bài thơ, chỉ đơn giản là Không Lộ muốn ẩn thân để giữ mình nên đã lựa tìm một chỗ đất có thể ở được, vậy thôi!

Còn nếu nói về phong thủy thật thì ta cũng phải nắm cho rõ nguyên lý của phong thủy và giá trị giới hạn của nó. Phong thủy là các lực, các từ, các khí của ngoại giới thiên nhiên, chúng tương quan, tương tác với nhau mà ảnh hưởng, liên hệ đến con người là tiểu vũ trụ. Nói cách khác, phong thủy là các định luật tự nhiên của trời đất tác động đến sông núi, mùa tiết, muôn sinh và thảo mộc. Ở đây, nói đến phong thủy tác động đến nơi ở của con người: Ai thuận thiên (thuận với các định luật vũ trụ) thì còn, ai nghịch thiên thì mất! (thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong). Đối với khoa thiên văn, địa lý thì phong thủy quan trọng như vậy đấy. Nhưng đối với nhà Phật, nhà Thiền – chúng chỉ là ngoại duyên (thuận duyên, trợ duyên hoặc ngại duyên, chướng duyên) mà thôi. Duyên cũng có hai là nội duyên và ngoại duyên (theo Abhidhamma – trong và ngoài tương tác có cả thảy 24 duyên). Duyên bên ngoài không quan trọng bằng duyên bên trong. Ngay cái duyên bên trong này cũng không quan trọng bằng nhân bên trong. Nói khái lược như vậy để biết rằng, người tu Phật, tu Thiền dẫu xem ngoại duyên là có thật – nhưng họ vẫn xem trọng nội nhân, nội duyên hơn. Bởi vì chính nội nhân, nội duyên này mới là cái gốc, cái bản căn, chúng duyên hệ với ngoại duyên  mới sinh ra hữu vi, vô vi, khổ lạc, tham sân, si tuệ, trí bi, mê ngộ, sinh tử, Niết-bàn… Biết phong thủy, có thể mượn phong thủy – nhưng chưa bao giờ con cái nhà Phật xem phong thủy là yếu tố tích cực có thể quyết định số mạng, vận mạng con người (Định mệnh thuyết của Khổng Nho – cái tơ cái tóc cũng do trời định; tuy nhiên, nếu hiểu thiên – thiên lý, thiên mệnh – là những luật tắc của vũ trụ thì nó lại khác). Là một vị thiền sư uyên thâm, thông tuệ, chẳng lẽ nào những buồn vui, khổ lạc, trược thanh, mê ngộ của chính mình – Không Lộ lại nương nhờ vào cuộc đất do phong thủy (ngoại duyên) quyết định? Hóa ra, với những hiểu biết “gán ghép tùy tiện, suy diễn vô căn cứ” (An Chi nói) – như trong Thơ văn Lý, Trần là có tội với cổ nhân.

Câu thơ thứ hai,
 
Dã tình chung nhật lạc vô dư…
(Niềm quê lạc đạo sớm trưa chẳng rời…)
 
Người ta cũng đã bàn luận khá nhiều về hai chữ dã tình. Ai cũng biết dã tình là tình quê. Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy (6) có nói, các bản dịch đều dịch là tình quê, dạ quê là không thích hợp. Đại lược, theo anh, chữ “dã tình” phải liên hệ với liên văn bản từ bài thơ của Thứ sử Lý Cao, đó là hai chữ “u cư” mới đúng: Trạch đắc u cư hiệp dã tình. Theo với sự liên tưởng ấy, dã tình phải là nơi u cư, nhưng u cư này không phải là nơi ở ẩn của những Nho gia bất đắc chí. Tôi đồng ý với anh Thúy – cả Nguyễn Khắc Phi – khi đã lựa chọn nghĩa u cư là tính ưa ẩn dật nhàn tản, cộng thêm với tính chất phóng khoáng theo cả hai nghĩa của từ nguyên. Phát kiến ấy thật là tuyệt, đã giải mã được ngữ nghĩa mới lạ để cho một số học giả phải mở mắt mà suy gẫm. Đồng thời, mở hé được cánh cửa tâm linh, để cho những bậc trí thức chủ quan, phiến diện bình giảng rằng là, kết hợp giữa niềm vui về hạnh phúc trần thế…; rằng là tình yêu quê hương đất nước, đặc biệt với đất nước nông nghiệp thường được bắt đầu từ nguồn vui “thú quê” chung đó!? (7) Cũng đồng một suy diễn áp đặt, Nguyễn Đình Chú phán rằng, “Ý thơ là một nỗi vui trần thế suốt ngày không dứt, không thấy gì là dấu vết tâm lý ẩn dật” (Cool. Ở đây, tại văn cảnh này, ngữ cảnh này, tôi muốn tiếp với anh Thúy để nói thêm rằng, tính ưa ẩn dật nhàn tản, phóng khoáng kia cũng vẫn là của Khổng, của Lão chứ chưa phải là của Phật, của Thiền! Muốn nắm hết tâm yếu thiền – thiền Đông độ, thiền Zen hoặc cả thiền Vipassanā nguyên thủy – thì ẩn dật, nhàn tản, phóng khoáng đều chưa phải là thiền duyệt, niềm vui thầm lặng nội tâm (lạc về thiền, lạc về quả) của thiền gia! Ẩn dật là còn ngại trú xứ, ngại hồng trần! Nhàn tản là còn ngại công việc, ngại bận rộn. Phóng khoáng là còn ngại buộc ràng, ngại luật nghi!

Các vị thiền sư là những bậc đạt ngộ, do kinh nghiệm tâm linh tu chứng, họ thường vô ngại trước mọi chướng duyên. Ví dụ, có vị vô ngại trước vô thường biến đổi của cuộc đời:“Nhậm vận thịnh suy vô bố úy”(Gẫm chuyện thịnh suy không sợ hãi – Vạn Hạnh). Có vị, càng chướng ngại chừng nào thì tâm tuệ càng sáng trong, càng cao đẹp chừng ấy: “Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận, liên phát lôtrung thấp vị can” (Trên non ngọc đốt màu thêm nhuận, sen nở trong lò sắc chẳng phai – Ngộ Ấn). Có vị không cần hỏi gì cả, chỉ tin vào nắm tay quyền biến phương tiện của mình: “Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ, thùy tri phàm thánh dữTây Đông” (Trước mắt, nắm tay dùng việc lớn, biết chi phàm thánh vớiTây Đông – Khánh Hỷ). Những tư tưởng lớn, tâm tuệ lớn như thế ấy, trong thiền học ViệtNam, kể không hết đâu. Tuy nhiên, có lẽ, câu nói sau đây của một vị thiền sư đương đại, nó gần với văn mạch luận chứng, nói lên tư tưởng Phật học chính thống chưa lai tạp, chưa bị nhiễu, chưa bị khúc xạ: “Tự do là ung dung trong ràng buộc, hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau” (Viên Minh).

Vậy, Không Lộ là một vị thiền sư có định, có thần thông, có tuệ – không lý nào lại còn ngại lắm chuyện tầm thường như thế. Có lẽ, do người ta chưa giải mã đươc câu thơ thứ hai này, nó nằm nơi chỗ “dã tình” và “lạc vô dư”. Nó là hai nghĩa đối sánh trong câu, bổ túc cho nhau để làm nên một tâm tuệ vẹn toàn. Dã tình là tình quê mùa thảo dã, tình thế gian; lạc vô dư là niềm vui vượt ngoài trần tục, niềm vui siêu thế. Vô dư (9) cái từ huyền mật, bí hiểm – mà từ xưa đến nay chưa ai diễn nghĩa đúng nên cứ rơi vào những niềm vui dung tục, tầm thường. Vô dư là thuật ngữ của Phật học – Vô dư Niết-bàn – có nghĩa là không còn dư sót bất kỳ một lậu hoặc phiền não nào dù thô hay tế – chỉ cái tâm, cái tuệ của bậc giải thoát! Lạc vô dư – chữ lạc này cũng không phải là khổ-lạc tương quan đối đãi nhau – mà phải là cái lạc siêu thế, ly thoát khổ-lạc (dukkha) tại thế. Nó tại thế gian mà vẫn xuất thế gian – đúng như câu kinh: Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch bồ đề, cáp như tầm thố giác. Tạm diễn nghĩa: Phật pháp ở thế gian, không thể rời thế gian để tầm cầu giác ngộ; ra khỏi thế gian mà tìm kiếm bồ-đề thì chẳng khác gì đi tìm sừng thỏ! Người học Phật có căn bản giáo pháp ai cũng hiểu điều tôi vừa nói.

Có nắm bắt được ngữ nghĩa tinh mật ấy, chúng ta mới với tới được câu thơ thứ ba, vì nó chính là sức bật của lạc vô dư ở câu hai:
 
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh…
(Có khi chót vót non vời…)
 
Hữu thời – có thời – nhưng thời nào? Chính là thời của lạc vô dư, nó không còn hạn cuộc vào thời gian tại thế sinh diệt nữa. Chính ở đây mới hiển lộ được nghĩa của động từ trực thướng: Lên thẳng ngay, lên thẳng ngay tức khắc. Dưới núi trên núi là một. Bờ này bờ kia là tức khắc ở đây và bây giờ. Nó không còn lệ thuộc thời gian vật lý hay thời gian tâm lý phạm trù. Đây chính là sát-na kỳ ngộ chói lòa vĩnh cửu, mà người ta hay nói văn chương bóng bẩy rằng là cố quận, rằng là thiên thu… gì gì đó cũng được ráo trọi. Chính sự bừng nở ấy, trực thướng ấy, giây khắc ấy mới hội ngộ được với đỉnh cô liêu, đỉnh cô phong, đỉnh tuệ giác bất động tịch mịch của chính mình. Đúng như câu thơ của một thiền sư thi sĩ lãng đãng nào đó: “Bây giờ ta lại gặp ta; thiên thu, cố quận thiệt là hoát nhiên”.
Cảm hứng trầm hùng của tâm linh siêu thoát, do nhân và duyên ở ba câu đầu, nên có lẽ, câu thứ tư, nó đọng lại, nó nén chặt lại – dồn tụ nội lực mà bùng vỡ ra:
 
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư!
(Cất dài tiếng hú đất trời lạnh băng!)
 
“Trường khiếu nhất thanh” – một tiếng cười dài, một tiếng hét dài, một tiếng hú dài – mọi người thường dịch như thế. Và có lẽ họ dịch đúng, vì chính ở tại đỉnh cô phong ấy, tiếng cười của sự giác ngộ, của siêu thoát ấy mới làm lạnh cả hư không mênh mông, rộng lớn, dao động cả vũ trụ càn khôn! Tuy nhiên, khi viết đến ngang đây, một trực giác tâm linh xẹt đến, tôi bèn đi lục tra tất cả các từ, tự điển hiện có trong tay – thì chữ khiếu, ngoài nghĩa kêu lên, hô lên, la hét lên, lỗ hổng (như cửu khiếu), còn có nghĩa là năng lực hiểu biết, năng lực hiểu biết từ chỗ nào đó nó thoát ra. Tự dưng, tôi nổi cả da gà, lẽ nào nó vi diệu đến thế, bất khả tư nghị đến thế! Tôi rất dè dặt, thận trọng – cả chủ quan nữa – mà nói rằng, tại sao một vài ngữ nghĩa nằm ẩn trong một bài thơ đã ngàn năm qua, lại chưa ai phát hiện?

Tôi bần thần dã dượi. Kinh khiếp quá. Bài thơ Ngôn hoài vậy là khó có thể dịch bằng hiển ngữ rạch ròi. Cảm nhận thầm lặng. Cảm nhận và không thốt nên lời. Vì rằng đây là tiếng hú, tiếng cười trên đỉnh cô phong, đỉnh cô liêu của tuệ giác! Tiếng hú, tiếng cười ở biên cõi này vốn không có người hú, người cười! Chỉ có năng lực của sự giác ngộ tự nó bùng vỡ thành băng giá làm đông lạnh cả thiên nhiên ngoại vật.
 
Giấu mình, chọn đất dễ ưa,
Niềm quê lạc đạo sớm trưa chẳng rời
Có khi chót vót non vời
Cười dài một tiếng đất trời lạnh băng!
 
Bây giờ, sau khi đi qua những tầng lớp ngữ nghĩa của bài thơ Ngôn hoài – ta mới thấy rõ, bài thơ của Thứ sử Lý Cao, do ngại chuyện đưa đón tầm thường (vô tống diệc vô nghinh) nên tìm được chỗ ẩn cư (trạch đắc u cư) có tình quê, có thú quê (dã tình); rồi có khi lên đỉnh núi cao (cô phong đỉnh), thấy mây vẹt, trăng tỏ (nguyệt hạ, phi vân) bèn cất lên một tiếng cười (tiếu nhất thanh)! Hai câu đầu có cốt cách xử sĩ thanh cao của Nho hay Lão. Tuy nhiên, câu hai không có đủ nội lực để đẩy lên câu ba như bài Ngôn hoài. Nên cô phong đỉnh ở bài thơ của Lý Cao không phải là không gian tâm linh của tuệ giác. Điều ấy càng rõ nghĩa hơn ở câu tư: Mây vẹt, trăng tỏ (vô minh tan, minh hiện), sau đó mới là tiếng cười của sự giác ngộ! Cấu trúc bài thơ này lỏng lẻo ngữ nghĩa, không chặt chẽ nhân quả bằng bài Ngôn hoài – có thể sử dụng kiến thức vỏ não cũng làm được! Nguyễn Đình Chú có vẻ chê tiếng cười của Dược Sơn-Duy Nghiễm: “Tiếng cười dài dưới trăng mây kia, tuy có hấp dẫn, nhưng dù sao chỉ là tiếng cười cao đạo của một con người đã không thích gì mấy sự hòa nhập trần gian…!” (10)
Ôi! Lời bình luận ấy, ai có chút ít kiến thức Phật học sẽ cảm thấy như thế nào!?

Vậy thì xin các nhà nghiên cứu văn học, văn học sử hãy trả lại nguyên vị giá trị tót vời của bài thơ Ngôn hoài – nó xứng đáng đại biểu cho văn học, thiền học không chỉ ở thời Lý mà cho cả mọi thời! Nghi ngờ tá văn, đạo văn là có tội. Lại càng có tội hơn khi giảng dạy văn học mà phân tích, bình luận áp đặt, chủ quan, không tới, đôi chỗ chứng tỏ kiến thức nông cạn của người viết:

- Có một vị giáo sư đã bình giảng rất đáng phàn nàn như sau: “Sự kết hợp giữa niềm vui về hạnh phúc trần thế với khát vọng hòa nhập với vũ trụ bao la. Thứ nhất, là tình yêu quê hương đất nước, đặc biệt với đất nước nông nghiệp thường được bắt đầu từ nguồn vui “thú quê” chung đó. Thứ hai, là khát vọng vươn tới trời đất vũ trụ bao la như một nhu cầu nhân văn cao đẹp. Nhà sư đang vui nỗi vui trần thế, bỗng nhiên lên đỉnh núi cao trơ trọi, kêu vang một tiếng làm lạnh cả bầu trời. Ở đây đã trèo lên là trèo lên thẳng một mạch, không chút rụt rè. Đã lên cao là lên cao không lưng chừng. Và một tiếng kêu vang đủ làm cho cả vũ trụ bao la kia kinh ngạc đến rùng mình ớn lạnh” (11).

Khá hơn một chút, Trần Đình Sử – có vẻ như đã nói gần gần đúng, rằng là: “… Nêu ý nghĩa biểu trưng của bài thơ “Lên thẳng” là hình ảnh của đốn ngộ, xảy ra trong chốc lát, như ánh chớp. “Đỉnh núi cao trơ trọi” đây thuần túy là ẩn dụ chỉ thế giới không vô. “Thái hư” là thế giới của nhà Phật mà chỉ kẻ đắc đạo mới có thể đạt đến. Và “cất tiếng kêu dài làm lạnh cõi thái hư ấy là dấu hiệu hòa nhập giữa ta và thế giới, thế giới và ta” (12).

Cái gọi là không vô ấy, xin thưa rằng, không phải đơn giản, dễ hiểu đâu! Có rất nhiều cái không: Ngoan không, hư vô, không đối đãi với có, không của ý niệm, không của tâm, không của cảnh, không của vô, không của không, không trụ xứ, không vô biên, thức không, không có gì cả, không của phi tưởng; mười mấy cái không ấy đều không phải là không tánh (Suñnatā)- vì duyên khởi, vì vô ngã nên không – của Nikāya hoặc của Kim cương Bát-nhã – thấy được cái không này mới có tuệ giác. Và còn cái thái hư kia – hư không rộng lớn – thì nhà Phật đắc nó mà làm gì! Còn sự hòa nhập giữa ta và thế giới cũng có phải là của Phật đâu!

Một chỗ khác thì Trần Đình Sử lại bình giảng khá lạ lùng:“…Thú quê là thú quê thật, leo núi là leo núi thật, cả bài như một bức tranh tả thực và tư thế hiên ngang chinh phục vũ trụ được hiểu khá rõ…” (13)

Hèn gì, mà trong thơ văn Lý, Trần, người ta đã dịch chữ trực thướng là leo lên, trèo lên, xông lên, xông thẳng lên…“Có khi xông thẳng lên đầu núi” như đi đánh giặc!? Oan uổng quá! Biết bao nhiêu thế hệ học sinh đã không thể hiểu được sức mạnh tâm linh của cha ông nội hàm trong dòng văn hóa dân tộc – là do các bậc thầy giáo, các ông Nghè, ông Cống, các nhà nghiên cứu văn học – đã không tự trang bị đủ cho mình những kiến thức cần thiết.

- Có người nói từa tựa như đúng lắm, kêu lắm, cao siêu lắm, nhưng chỉ chứng tỏ kiến thức khuyết lõm của mình: “… Để hòa đồng và vui suốt ngày với thiên nhiên là hình ảnh con người mang khát vọng hòa nhập và chế ngự thiên nhiên… Là một tiếng kêu sảng khoái của một tâm hồn khoáng đạt với tư tưởng phá chấp triệt để và tinh thần thoải mái tột cùng, chứ không thể là của một người suốt ngày gõ mõ tụng kinh, câu nệ và tín điều một cách cứng nhắc khô khan. Tiếng kêu đó chính là sự trực cảm tâm linh, là trạng thái chứng ngộ của thiền sư. Cũng nhờ trực ngộ mà con người hòa nhập vào đại ngã vũ trụ (14).Lời bình giảng ấy thật là khó chịu, muốn nhẫn cũng không nhẫn được. Tưởng là ca tụng vị thiền sư – nhưng hóa ra là phỉ báng ngài. Vui suốt ngày với thiên nhiên không phải là tâm tuệ của một bậc thiền sư đạt ngộ! Khát vọng là những tâm và tâm sở si uế và trần tục! Giác ngộ, giải thoát của nhà Phật không bao giờ có tham vọng chế ngự thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên như Tây phương khoa học trục vật! (trên thì hòa đồng mà dưới là chế ngự!). Tiếng kêu sảng khoái – chắc là tiếng kêu trong phòng the! Lạc của thiền duyệt không phải là “tinh thần thoải mái tột cùng” như một cảm giác dung tục, tầm thường như thế! Xin nói thêm: Đạo Phật chung chung, thời nào cũng vậy, giáo phái nào cũng vậy – có thể có chăng câu nệ và tín điều? Câu nệ là câu nệ gì? Câu nệ hình thức lễ nghi – cái “dĩ lễ chế tâm” cần thiết để thu thúc bản năng? Và tín điều? Xin thưa, Đạo Phật không có tín điều, không có mặc khải, đừng ngây ngô nhầm lẫn Đạo Phật với các tôn giáo hữu thần!  Còn nữa, “Con người hòa nhập vào đại ngã vũ trụ” (tiểu ngã, Atman hòa nhập đại ngã, phạm thể – Mahātman, Brāhman) là tư tưởng của Bà-la-môn giáo – sau này là Ấn Độ giáo – chứ không phải của Phật! Dầu sao, có điều an ủi, là không phải ai cũng thế; nhà thơ Chế Lan Viên có đôi mắt xanh, có nội lực văn hóa thâm hậu đã thấy được sức mạnh tâm linh tỏa ra từ bài thơ này, tiếng hú này – trong dòng mạch văn hóa, tiếp khí, tiếp lực, un đúc sức mạnh cho dân tộc – nên đã cô đọng, gãy gọn, rất ấn tượng, rất hạo nhiên: “Không có tiếng kêu dài này  thì không có chiến thắng Bạch Đằng!” (15)
 
Để nói lời kết,
Vì tiếng cười, tiếng hú của thiền sư Không Lộ nó cao diệu, mênh mông, ngoài biên tế, phạm trù, vượt không thời gian, chẳng ở nơi cái vỏ của ngôn ngữ khái niệm; là tiếng vọng dài của tuệ giác bên kia bờ – nên tôi xin mượn câu kết của Bát-nhã tâm kinh để nói điều không thể nói: Gate, gate, paragate, parasamgate; Bodhi-svāha! (Vượt qua, vượt qua, cứ vượt qua, hãy vượt qua một cách trọn vẹn; chào mừng sự bùng vỡ của tuệ giác!)
Tiếng hú từ ngàn năm trước ấy – chính là sự bùng vỡ của tuệ giác – đã bay qua sông dài, biển rộng, sử lịch, thời đại, văn học, thiền học, khổ đế của trần gian – cho đến hôm nay, tôi vẫn còn bị chấn động, bồi hồi và nghe buốt lạnh cả từng con chữ!
 
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
 
***
Chú thích:
(1) Bài viết này được lấy cảm hứng từ bài tiểu luận: “Không Lộ thiền sư – người làm lạnh vũ trụ” của Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy trong Văn hóa ViệtNam… NXB Văn hóa Thông tin, 2005.
(2) Xem thêm, An Chi trong “Chuyện Đông, chuyện Tây” (tr.355, q.3) – có trích dẫn Từ nguyên, Từ hải, nói rằng: Chữ đó thiết âm là “nga lao thiết, âm ngao, hào vận” – vậy nó phải đọc là Ngao chứ không phải Cao.
(3) Xem “ Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học” (Thơ văn Lý, Trần – t.1, tr.41) – Viện Văn học  – Hà Nội, 1974.
(4) Sđd, tr.385, chương 2.
(5)  Xem “Chuyện Đông chuyện Tây” – t.2, tr. 248, NXB Trẻ, năm  2006.
(6) Văn hóa ViệtNam, tr.203, NXB Văn hóa Thông tin, 2005.
(7) Văn 10, NXB Giáo Dục, 1991.
(Cool Về bài thơ “Ngôn hoài” của Không Lộ thiền sư: “Chuyện rắc rối và cách đối xử”- Tạp chí Kiến thức ngày nay – số 147, tr.12.
(9) Hữu dư (Sa-upādasesa): Còn dư sót chút ít phiền não (Hữu dư Niết-bàn). Vô dư (Anupādisesa): Không còn phiền não (Vô dư Niết-bàn).
(10) Kiến thức Ngày nay - số 147, tháng 8/1994.
(11) Văn hóa ViệtNam-NXB Văn hóa Thông tin, tr. 202.
(12) Văn học Phật giáo – tr.182 của Nguyễn Công Lý, NXB Đại học Quốc gia – TP. HCM.
(13) Văn hóa ViệtNam của Đỗ Lai Thúy, tr.202, NXB Văn hóa Thông tin, 2005.
(14) Văn học Phật giáo của Nguyễn Công Lý, tr. 182-183.
(15) Trích lại, Văn học Phật giáo của Nguyễn Công Lý, NXB Đại học Quốc gia TP. HCM, tr. 182.
 

Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Thơ của Thiền Sư Không Lộ và Bản gốc với Bản phục hồi   

Về Đầu Trang Go down
 
Thơ của Thiền Sư Không Lộ và Bản gốc với Bản phục hồi
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Thơ-
Chuyển đến