Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
Latest topics
November 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 TÔI THẤY và NGHE ĐƯƠC GÌ Ở SÀI GÒN và MIỀN NAM VIỆT NAM Sau 37 năm dưới chế độ CS

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
BocuDad
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: TÔI THẤY và NGHE ĐƯƠC GÌ Ở SÀI GÒN và MIỀN NAM VIỆT NAM Sau 37 năm dưới chế độ CS   Sun Dec 23, 2012 3:30 pm

Mot chut suy tu...
Ve tham VN & Ngắm lại Thành Phố SAIGON...

TÔI THẤY và NGHE ĐƯƠC GÌ
Ở SÀI GÒN và MIỀN NAM VIỆT NAM

Sau 37 năm dưới chế độ CS

Lời
người viết: Đây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã
hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt
mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ - ghi lại môt cách trung
thực
.

PHÓ THƯỜNG DÂN



Tôi
thấy bộ mặt Saigòn đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy.
Đổi mới với những nhà hàng “ vĩ đại “ trên các tuyến đường du lịch. Với
những trung tâm “thư giản” sang trọng, quý phái cở câu lạc bộ Lan Anh.
Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với
những trường Trung học tư thục mang tên Mỷ, giáo sư Mỷ, chương trình
học của Mỷ, giảng dạy bằng tiếng Mỳ- học sinh phải trả học phí bằng tiền
Mỷ - 1,000 US$ đến 1,500 US$ /tháng. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí
nầy cho con? )



Tôi
cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử “đỏ”,
các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan
chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để “thư giản”, uống rượu, đánh bạc, cá
độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường.
Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỷ cũng không phải là điều lạ.
Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ
để trả một chai rượu XỌ Vụ cá độ hàng triệu US$ đã bị phanh phui. là một
thí dụ cụ thể. Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các
công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi… “ lắc” suốt đêm.
Để vài hôm sau - đâu lại cũng vào đó…



Tôi
cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài tòa cao
ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt.
nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại. Vật
liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng
cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc
răng lòi sĩ vô duyên. , lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường…
Tôi
thấy Sàigòn bị ô nhiểm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày
đêm đinh tai nhức óc và 5.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa
kể đến xe hơi ???




hệ thống cống rảnh lạc hậu. mỗi khi trời mưa lớn - nước rút không kịp, ứ
đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu. không đáp ứng nổi
nhu cầu thải rác của 10.000.000 dân nhung nhúc như kiến. Sàigòn đầy dẫy
những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ, hàng lậu của
Trung quốc tràn vào vô số kể. Máu kinh tế Việt Nam bị loảng ra. Nhưng
chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng.
Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoản chừng 1,200 đô la Mỷ,
chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt. Thuốc lá và bia - bia nội, bia
ngoại - có đủ. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở
Sàigòn. Đảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị -"Nhậu". Già nhậu, trẻ
nhậu… con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói. Giai cấp cán bộ răng
đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm quyền thống trị - đã lột xác - không
còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló
một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân
chúng hút - thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu
thuốc một cách khoái trá. Các hảng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm
được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn
hoi, xe hơi bóng loáng. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da
mông mốc, cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê mới lên
Tỉnh.
Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng “tiếm công vi tư” lộng hành,
ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện
đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ bất thành văn trong
chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm
quán cà phê. Chưa thỏa mãn - ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ
của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm
thơ mộng. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy
xem công viên như đất nhà của ông vậy. Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu -
nơi gặp gở của 2 đường Nguyễn Trải và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ
Huyện Sĩ - thì rõ.



Còn
nhiều, rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan
nhãn ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể: Một công thự tại vườn
Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao đàn) - mặt
tiền ngó vào trong - mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ) -
bên có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương
mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn
mỷ kim - ngon ơ ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Hoà
cũ, trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 -
phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng
hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường
Trần hưng Đạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách
đố dân chúng. Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây
giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo,
giày vớ thể thao, buôn bán ầm ỉ, náo nhiệt suốt ngày.
Công an chiếm
đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của
Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà.
Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn. Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với
ai? Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an?
Tướng CS Trần Độ phản ảnh còn rõ rệt hơn : “Xã hội Việt Nam ngày nay là
một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng . Không thể nào
chống tham nhũng được vì nếu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chống lại
Đảng sao? “ (Nhật ký “Rồng Rắn” của Trần Độ).
Nón cối, nón tai bèo,
dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu cứt ngựa của người
cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn - đã biến mất.
Cũng không còn
thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối
tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75
nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng “khẩu
trang”, găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay trên đường
phố.



Tôi
còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng
carton và bao túi Nylông, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống…
Những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường,
những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gổ … đi
bán vé số (một cách ăn xin trá hình).



Bộ
mặt Sàigòn “đổi mới” bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ
thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn
lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ
tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt
tiền. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày
xưa, những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố - Nhiều người chóa
mắt. choáng váng, cho là “Việt Nam bây giờ tiến bộ quá”. Riêng Phó
thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không ? Sự tiến bộ
của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời
sống vật chất và tinh thần của dân chúng. Lợi tức đầu người của Việt Nam
- theo thống kê của báo The Economist - bằng: 800 US$ năm 2011 (Hà Nội
bốc lên 1,000 US$, Chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước
láng giềng: Thái Lan: 3.500 US$ - Phi luật Tân: 2.000 US$ - Nam Dương:
1.160.US$. Tân gia Ba 30.000 US$. (The Economist World, năm 2011 - p.
158, 176, 238) - Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt
thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi: Ai là chủ nhân của những xe
hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng
lẫy kia? - Thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại
chức hoặc giải ngủ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê -
Giai cấp giàu có bây giờ là ai ? Giai cấp địa chủ là ai ? Có phải do của
cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có
???
HIỆN TƯỢNG NGƯƠI BẮC XA HÔI CHỦ NGHĨA CHIẾM HỮU TOÀN BỘ PHỐ XÁ
THƯƠNG MAI QUAN TRONG Ở SAIGÒN - KHỐNG CHẾ MỌI LÃNH VỰC TRỌNG YẾU Ở MIỀN
NAM.
Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng “đánh Tây, đuổi Mỷ” -
cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - Thì dân miền
Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự thật
đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi
trọng yếu của Sàigòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh
Sàigòn. Và các khu phố sầm uất nhứt, vào những hiệu buôn lớn để mua hàng
hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - Từ cô bán
hàng đến bà chủ ngồi phía trong - Cũng toàn là người của xã hội chủ
nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế
Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu
Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước. Hiện
nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại. nhưng đều do người miền
Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty
thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v. v. cũng
đều do người Bắc XHCN chiếm giữ. Tuy không có con số thống kê chính xác
nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố
lớn ở Sàigòn thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN (Tất nhiên
là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những gái Bắc XHCN bán hàng là con
cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi
viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ -
dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm
lịch sự với khách ngoại quốc. Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - Cũng
đều là người Bắc - Trừ một số cán bộ gốc miền Nam ra Bắc tập kết - theo
đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - Thì cũng kể họ là người
XHCN miền Bắc cả.
Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - Từ Trung
ương đến địa phương - Từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xả gần -
đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ. Những công Ty dịch vụ
có tầm cở, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công
Ty vận tải và du lịch có đến 10,000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là
người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông,
từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - Cũng
là do người miền Bắc XHCN nắm giữ.
Đó là sự thật trước mắt ai cũng
thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt
được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thuơng nghiệp - nhà cửa
của tù cãi tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH
để lại, những luợng vàng thu được từ những người vuợt biên bán chánh
thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ
Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai
biết.
Thông thường - những của cãi nầy phải được sung vào công quỷ -
để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ
từ đẹp đẻ. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác
nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Đọc
Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn
lấy tài sản lớn. Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm
hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết… đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Điều
phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem “
bán non” những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một
viên chức tù cãi tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù
cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ. Những trường hợp
con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp
vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.
Không chỉ có những
người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà
người dân thường có nhà cửa phố xá đều bị “ giải phóng” ra khỏi nhà bằng
nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công
nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung (chủ nhà chịu không
nổi… phải bỏ đi), đổi tiền để vô sản hoá người dân, khiến họ bắt buộc
phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không
nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ, để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê…
Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào “mua” nhà Saigòn với
giá gần như cho không… và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở
Saigòn.
Mang xe tăng T. 54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng
hàng lớp lớp thiếu niên “xẻ dọc Trường Sơn” bằng máu, nước mắt và xác
chết… vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là “giải phóng” nhân dân miền
Nam - nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản,
đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ
Tự Do) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính
các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng
bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ
đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học
ngoại quốc. (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỷ
là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì? Trong những lúc
canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với luơng tâm thuần luơng của
mình - các ông tự gọi mình đi.
Đến thời “mở cửa” - cơ hội hốt tiền
còn nhiều hơn gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí,
thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại
quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các
công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng
xá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ
quỷ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa
dứt. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn, no bóc ké. Nhiều công trình
vừa xây cất xong đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ
diển hình: Một bệnh viện gần chợ “cua” Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng
- nước vôi còn chưa ráo đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.
Hiện
tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực,
chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng
nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những
nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử.
Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ,
thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ
và dân chúng càng ngày cách biệt. Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì
nghèo cùng cực.
Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời “Bắc thuộc”:
- “Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh.
- Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán.
- Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười. “
Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

BỘ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM


nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau
37 năm dưới chế độ cọng sản. Để được trung thực - người viết ghi những
điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua. Thôn quê
miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã
xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Đường sá có tu sửa phần
nào. Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn
(đường xóm Cái Nứa, Cái Chuối xã Long Mỹ, VL), xe Honda và xe đạp chạy
qua được. “Cầu tre lắt lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc
(vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái
răng) nay không còn thấy nữa.
Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ -
chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn.
Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long Hồ - một số nhà gạch nhỏ mới
cất. xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà Cú (Vĩnh Bình), chợ
Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà
lá, nhà tôn. Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội
vào mùa mưa nước nổi.
Hai bên đường xe chạy từ Mỷ Tho, Cao Lãnh,
Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ
rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm
giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã
biến mất hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp
thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai hoằng, mát mắt vùng Cái Bè,
An Hữu, vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương.
Dưới
sông - từ kinh Vỉnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là
nhà sàn, phía sau chống đở sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc
2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau.
Tắm rửa giặt giũ, múc
nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay
đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như
trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá. Basa, cá
điêu hồng v. v. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá
mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu -
người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc
áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỷ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời
trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời: “ Đi
lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi! “ Tôi hỏi thêm: “ Các cô gái có
nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm
lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập. các cô gái nầy không sợ sao
ông? - “ Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng
cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác
thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó
ông. Biết đâu gặp may. “Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan
hiện không ai là không biết.
Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm
Đinh Hợi - trong bài: “ Nỗi đau từ những con số”- có nói đến số phận
của 65.000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui
mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy: “Tại
một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang “bày hàng” để 2 ông Hàn
quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến
luợt mình “ Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết:
“Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự
tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng
vết thẹo trên thân thể cô gái. Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều
hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ
môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô
gái hiện diện. Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn
dập gây náo loạn cả xóm”.
Người viết có lần lang thang trên đường
Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp
trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào
trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: ‘ “Đó
là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong
là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là
những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới
và thủ tục tuyển lựa”. Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoản
chừng 18 đến 20, đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người
tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói
chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi
giới chánh thức có giấy phép hành nghề.
Song song với tổ chức chánh
thức, còn có một tổ chức “ môi giới hôn nhân lậu”- sự thật là một tổ
chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng
hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào
các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau để nơi đây huấn luyện trẻ em
làm nô lệ tình dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền
ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công
An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần - thậm chí
hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11, Sàigòn.
Cho
dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có
giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì
lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái
về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn -
ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ tình dục rồi bán vào động mãi dâm
lấy tiền gở vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là
một bằng chứng) Còn lậu thì bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm
cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân
loại.
Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm
cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu, lên tiếng kêu gọi họ trở
về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời!
Những cô gái nầy có biết
những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập. nầy
khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự
nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn
thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt?
Trừ những trường
hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự
là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để đuợc
giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại
Hàn?
Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ
đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn
chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá bừa bãi, không
được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp, Dân số gia tăng.
Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào. Nông dân miền
Nam thiếu đất canh tác. Các cô gái miền Tây quẩn bách vì không có việc
làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc
đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái mình với cô con
gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và
cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75) - những
người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ. thang giá trị bị
đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước. Do vậy -
khi bị dồn vào đường cùng họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn. Nhưng
động lực chánh là nghèo.

NGHÈO

Là nguyên nhân chánh đưa
đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… để hy
vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại
sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32
năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy - nghèo hơn cả đồng bằng
sông Hồng (ĐBSH) ? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê
Việt Nam - thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSC: 37%. ĐBSH: 29% . Năm 2002:
ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x. b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích
dẫn) Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) - mức
sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) - ĐBSCL vẫn nghèo
hơn ĐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở
và đời sống văn hoá.
Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua
những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa
học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi
của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê
là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo
của một nông dân, nhà dột nát. khi trời mưa lúc ban đêm, không có chỗ để
nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp,
trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc… Cái nghèo của
một người đi mượn tiền, muợn gạo. tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo
của một thanh niên thất nghiệp, cha bị lao phổi không tiền mua thuốc
nằm ho sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4
đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.
Tục ngữ
bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. - Có. Tôi quen biết ông Sáu
S. làm nghề chày lưới. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối
nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2011) tôi
thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng
nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian
bạc thếch. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Đời ông nội - nghèo! Đời
cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho
người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu. Người
nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân
số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến
nông dân thành thợ thuyền. trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho
nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng
Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : “Nông dân đã nghèo, đất
đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao
động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? “

MIỀN NAM - 37 NĂM DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

Kinh
tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ
bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với
các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt, cầm lồng đèn đỏ… Và điều quan
trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái
phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục (hiện
nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con) -
các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng
hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo
rổng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham
nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà
cầm quyền địa phương - theo lệnh Đảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du
lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo
ngược. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19
Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàigòn). Như
vậy có gọi là phát triển không?


KẾT LUẬN
- 37 năm nhìn lại:
Người
ta thấy miền Bắc đã “giải phóng” dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa
của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách
khác nhau. “Giải phóng” miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu
đãi từ nhiều thế kỷ. “Giải phóng” quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi
nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển… “ Giải
phóng” phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm “vợ nô lệ”, đi làm điếm ở
Kampuchia, TháiLan.

- 37 năm nhìn lại:
Người ta thấy Việt
Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị
bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2010) - bị trưng bày trong lồng
kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2011). Chỉ
trong năm 2011 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc.
(Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam)

- 37 năm nhìn lại:
Mượn
lời nhà báo Claude Allegre, báo L’expresse ngày 29-8-2011: “Người ta
không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung
ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được
biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm
nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một
nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở"

- 37 năm nhìn lại:
Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.

điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước.
Một trí thức Việt Nam lên tiếng cảnh cáo: “Việt Nam đang đứng trước
hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở
thành một tỉnh lẻ của Tàu." (Trích Người việt hải ngoại - Nguyễn văn
Trấn)


PHÓ THƯỜNG DÂN
[/size]
Về Đầu Trang Go down
 
TÔI THẤY và NGHE ĐƯƠC GÌ Ở SÀI GÒN và MIỀN NAM VIỆT NAM Sau 37 năm dưới chế độ CS
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Chính Trị-
Chuyển đến