Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
chính Pháp
Latest topics
August 2017
MonTueWedThuFriSatSun
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Nhạc và họa trong thơ Bích Khê

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Nhạc và họa trong thơ Bích Khê    Sun Dec 30, 2012 10:10 am


THƠ BÍCH KHÊ - SỰ THANH KHIẾT CỦA TÍNH DỤC


Hà Thủy Nguyên


Vẻ gợi dục trong thơ ông đẹp một cách thần thánh, khiến nh
ng kẻ trần tục không thể chiếm hữu nổi. Có lẽ bởi vậy mà ông ít khi sử dụng những động từ mang sắc thái của sự chiếm đoạt hay cố gắng giao hòa.

“Mộng?
Thiên tài:
Trên hỗn độn khỏa thân
Đẹp tỉ mỉ, hỡi rung động truyền thần!”

Người ta nói rằng cho đến tận bây giờ, những ý thơ của Bích Khê vẫn còn quá mới với người Việt. Có lẽ bởi vậy, không có nhiều người yêu thơ có thể tiếp cận được với thế giới thơ của chàng thi sĩ mong manh này. Họ gần như bỏ quên ông suốt từ những năm 1945 đến giờ, chỉ tới khi người ta bắt đầu nhắc về tính dục trong văn chương thì “những tờ thơ nát đầy hơi hám” của ông mới được “tay khách đa tình… chuyển trao”.

Có một sự kỳ lạ trong vấn đề tính dục trong thơ ông, khác hẳn với những nhà thơ bị thứ ẩn ức này ám ảnh! Nếu dục vọng trong thơ Vũ Hoàng Chương là sự say sưa hoan lạc, ở Đinh Hùng là sự đeo đuổi toàn bích một cách dữ dội, ở Hoàng Cầm là nỗi ám ảnh tuyệt vọng, hay ở nhà thơ nữ những năm cuối thế kỷ 20 như Vy Thùy Linh là sự khao khát đam mê… thì trong thơ Bích Khê, nó đẹp thần thánh tựa bức tượng nữ thần Venus ở Milo vậy.

Tôi nói làm sao - Cái đẹp câm,
Đẹp trong pho tượng xuất ra thần
Một con người mộng - con người mộng
Trễ nải thanh tân biếng nhác thầm.



Bức tượng Vệ Nữ ở Milo

Nói một cách khác, tính dục trong thơ Bích Khê mang sắc màu của sự tinh khiết. Không phải ngẫu nhiên mà màu ưa thích của Bích Khê chính là màu trắng – thứ màu sắc tinh khiết nhất. Đó là ám ảnh của những sắc trắng: sắc trắng trong vẻ đẹp của mỹ nữ: Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm? hay Tràng cánh trắng biến ra da thịt tuyết; sắc trắng dòng “tinh huyết”của một chàng đồng nam: Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh hay Mộng rớt đêm nay như chất ngọc

Vẻ gợi dục trong thơ ông đẹp một cách thần thánh, khiến nh
ng kẻ trần tục không thể chiếm hữu nổi. Có lẽ bởi vậy mà ông ít khi sử dụng những động từ mang sắc thái của sự chiếm đoạt hay cố gắng giao hòa. Ông luôn quỳ gối trước vẻ đẹp của thần Vệ Nữ:

Thơ lõa thể! Giai nhân tuần trăng mật
Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người

Chỉ có đôi lần, khi chàng thi sĩ không chịu nổi vì không thể nắm bắt được nàng thơ, ao ước chiếm đoạt của đàn ông trỗi dậy và tuôn ra với những sự bức xúc như một đứa trẻ con hay vòi vĩnh:

Tôi vồ người như một miếng mồi ngon
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son
Mắt đổ lửa lườm qua làn sóng sắc...
Tôi giật nẩy rồi cười lên sặc sặc
Hai tay cào đôi vú trắng như bông

Đó là biểu hiện của sự đói khát, thiếu hụt, trống vắng trong thế giới nội tâm của chàng thi sĩ, gợi ta nhớ tới phức cảm Pigmalion. Người ta không tìm thấy trong thơ Bích Khê một người con gái nào bằng xương bằng thịt, dù ông tả rất nhiều về xác thịt. Ngay cả đến chùm bài “Châu” ông viết về cô học trò có tên Song Châu thì vẫn được miêu tả bằng bức tượng hay bức ảnh “đẹp trong pho tượng xuất ra thần”, "Anh không rời nữa ảnh thơ ngây", "Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ"… Người đọc có khi cũng lấy làm nghi ngờ, không biết có phải cái tên “Châu” có nghĩa là ngọc ngà đã tạo cảm hứng cho ông, hay ông vì quá yêu cô gái mà yêu cả tên châu và tạc tượng cô trong thơ bằng khối ngọc quý. Ông chẳng khác nào chàng Pigmaleon trong thần thoại Hy Lạp xưa kia, chỉ say mê với điêu khắc. Chàng đã dồn tất cả tâm huyết cuối cùng để tạc nên bức tượng tuyệt thế giai nhân. Nhưng sau đó, chàng chẳng thể yêu một cô gái nào hết, bởi chàng đã lỡ… phải lòng bức tượng mất rồi.



Pigmalion và Galatea

Nàng “ngọc nữ” ấy thực tế chỉ tồn tại trong thế giới nội tâm của Bích Khê chứ nào có bao giờ chạm tới được. Chính bởi vậy, mà sự khao khát không ngừng dâng lên.

Cho tôi nàng! cho tôi nàng! tất cả?…
Tôi miên man uống lại mộng quỳnh dao

Nhưng rồi, sau tất cả những đam mê ấy, khao khát ngông cuồng ấy, Bích Khê chợt nhận ra rằng những dục vọng của ông đã làm nhơ bẩn bức tượng của thần Vệ Nữ:

Tối hôm nay tôi xuất thần
Tôi muốn nàng đừng có chết

Mặc dù Đinh Hùng là người muốn đưa “kỳ nữ” của mình lên “ngai thờ nữ sắc”, nhưng chính Bích Khê mới là người thực sự làm được điều này.

“Ôi đi! Đoàn tiên lột khỏa thân.
Hoan hô xác thịt chiếm ngôi thần.”

Tình yêu tuyệt vọng của Bích Khê với nàng “ngọc nữ” ấy có lẽ đã khiến ông mắc vào chứng di mộng tinh quái ác và qua đời khi tuổi còn rất trẻ. Bao nhiêu tinh huyết, thần khí ông đã xuất ra trong cơn hoan lạc mộng mị, và chút ngọc rớt lại cho chúng ta đã được cô đặc thành những tuyệt phẩm thi ca trường tồn cùng năm tháng.


(Nguồn: Nghệ Thuật Yêu)


Về Đầu Trang Go down
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Nhạc và họa trong thơ Bích Khê    Sun Dec 30, 2012 9:17 pm

Tiểu sử Bích Khê (1916-1946)




Tên thật là Lê Quang Lương, một nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam thời tiền chiến. Ngoài bút hiệu Bích Khê, ông còn ký bút hiệu Lê Mộng Thu khi sáng tác thơ Đường luật.

Bích Khê sinh ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại xã Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông là con thứ chín trong một gia đình nho học yêu nước. Ông nội nhà thơ là Lê Trọng Khanh đỗ Cử nhân năm Tự Đức thứ 21 (1868), làm quan đến chức Viên ngoại lang Viện cơ mật. Trước tình hình nhà Nguyễn bất lực, hèn yếu, từng bước đầu hàng thực dân Pháp, ông cáo quan về nhà, rồi không bao lâu sau đã tuẫn tiết, để khỏi cộng tác với Nguyễn Thân đánh phá phong trào Cần Vương, khi viên quan thân Pháp này ép ông ra làm Tham biện sơn phòng Nghĩa – Định (Quảng Ngãi – Bình Định). Cha nhà thơ là Lê Quang Dục, cũng đã từng tham gia phong trào Đông du và các hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục hồi đầu thế kỷ 20.

Thuở nhỏ, Bích Khê học tiểu học ở Phước Lộc và Đồng Hới, học trung học ở Huế, rồi ra Hà Nội học ban tú tài nhưng nửa chừng bỏ dở.

Năm 1931, 15 tuổi, ông đã biết làm thơ Đường luật, ca trù. Năm 1934, cùng người chị ruột tên Ngọc Sương vào Phan Thiết học thêm và mở trường dạy học tư. Năm 1936, chị Ngọc Sương bị mật thám Pháp bắt, trường đóng cửa, Bích Khê trở lại quê nhà.

Năm 1937, bị bệnh phổi, sau khi điều trị trở về lên sống trên núi Thiên Ấn thuộc Quảng Ngãi, ông lại ngược xuôi trên một chiếc thuyền quanh các ngả Sa Kỳ - Trà Khúc. Năm 1938, ông lại cùng chị Ngọc Sương (khi ấy đã được thả) vào Phan Thiết mở trường dạy học, được vài năm lại bị chính quyền Pháp ra lệnh đóng cửa.

Năm 1941, Bích Khê dạy học ỏ Huế. Năm 1942, bệnh phổi tái phát, ông trở về Thu Xà thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày 17 tháng 1 năm 1946, Bích Khê lìa bỏ cõi đời và cõi thơ tại Thu Xà lúc 30 tuổi.

*********

ĐỌC THƠ BÍCH KHÊ

Sinh thời, Bích Khê chỉ mới cho in tập thơ "Tinh huyết" (1939); nhưng ông còn để lại 4 tập thơ khác chưa xuất bản là "Tinh hoa" (1938 - 1944); "Đẹp" (1939); "Ngũ hàng sơn"; "Dòng thơ cũ" (1931 - 1936) và một tập tự truyện cũng chưa xuất bản, lấy tên "Lột truồng".




GIỚI THIỆU TẬP THƠ “TINH HUYẾT”

Trong số các tác phẩm của Bích Khê, tập thơ Tinh huyết hiển nhiên là tác phẩm được biết đến rộng rãi hơn cả, giản dị là vì đây có lẽ là tác phẩm duy nhất của nhà thơ này được in thành sách ngay sinh thời tác giả, trong khi những tác phẩm còn lại phải chịu khoảng thời gian nằm trong im lặng khá lâu (tính bằng hàng mấy chục năm) mới đến được công chúng và đến công chúng chỉ với tư cách là những di cảo.

Trong “Tinh huyết” bộc lộ một xu hướng khá gần gũi với các nhà thơ tượng trưng Pháp (như Baudelaire, Verlaine): xem trọng vai trò của trực giác và vô thức trong sáng tác nghệ thuật. Lối sáng tác của khá nhiều bài trong “Tinh huyết” là lối sáng tác tượng trưng, thường dựa vào liên tưởng, cuồng tưởng, ám thị, trực giác, thường thể hiện những cảm quan phi thực tại, siêu thực tại, và hiển hiện ra trong những dòng thơ đầy nhạc tính. Tập thơ “Tinh Huyết” được chia làm bốn phần, phần thứ nhất là “Nhạc và Lệ”, phần thứ 2 “Đẹp và Dâm”, phần thứ 3 “Cuồng và Ánh sáng”, phần thứ tư “Châu”.


Tân hôn

Ô lạ! Làm sao thương nhớ quá!
Đêm nay trăng ngủ ở bên đường
Hồn chiêm bao hốt mơ trăng lạnh
Để giả vờ như ấp bóng nường!

Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ!
Không hay sao ốm lá hoa tàn!
Và đêm nay khóc cho nên mới
Lộ một sông trăng chảy lệ vàng!

Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ!
Không hay xuân kín mở màn trinh!
Ngoài kia gió lá lồng qua cửa
Chứng kiến làm sao chuyển đến cành ?

Một rớt đêm nay như chất ngọc:
Người ta say nghiến những men tình:
Tôi hoan hô - phút giây thần diệu!
Chết giả nhưng cười trắng thủy tinh.
 
 
Mộng

! Mộng đêm thu, mây vút xa,
Say sưa lộ sắc cạnh Đào Hoa:
A ta ! Lý Bạch ! hồn ba lệ !
Rượu nốc vào: rung khúc đập ca...
Mộng trắng phau phau, vót cung nga:
Xuân Hương ! người ngọc, máu say ngà !
Nhấn dây tơ loạn, -- buồn lơi lả
Đờn phất hương trăng, nẩy điệu ra...
 
Muôn dặm sông Ngân, con mộng lớn,
Ô ! là đài điện ánh trân châu...
Có người thi sĩ nhặt hoa rụng.
Những cánh đau thương sắp mặt lầu !
 
Cỏ thơm lay nguyệt thu như mướt
Đùa mộng mơ bên suối ngọc tuyền;
Trên bờ ai chết khô ra xác ?
Đây Ngọc Kiều đây !
 

Đồ mi hoa

Lòng nao nức như hương trầm mới dậy:
Gió tâm tư say chúi nửa lừng mơ...
Đêm kim sa hay sao mà run rẩy ? --
Không khí men, trăng liễu mướt đường tơ.
Đây một đóa đồ mi, -- ta đón lấy,
Ấp hồn hoa... đem giặt giữa bài thơ.

Đài nộn nhụy hóa nguồn trinh tinh khiết
ướp một làn hương rượu quyện lâng lâng;
Tràng cánh trắng biến ra da thịt tuyết,
Một tiên nương mừa tựa một giai nhân,
Ngửng đôi mắt chứa mùa xuân phẩm tiết,
Giữa bài thơ... đưa vẳng tiếng ngân ngân.

Ôi sắc đẹp! anh hoa dồn vũ trụ!
Phẩm tràng sinh! tinh chất khí âm dương!
Mi làm long phím lòng muôn trinh nữ;
Muôn tài hoa nghiêng trước vẻ thiên hương.
Mi rớt ngọc cho vang muôn tình tứ;
Mi nhả sâm ngọt lịm vạn sầu thương.

Giai nhân đi trong chiêm bao ẻo lả
Để lời ca gợn sóng khí hoa men;
Tay búp sen kẻ lên vàng óng ả
Những đường thêu kim tuyến rúng đêm huyền.
-- Ngừng hơi thở... ta nép trong bóng lá
Để vần thơ theo nhịp điệu thuyền quyên.
 
 
Châu I


Tôi nói làm sao - Cái đẹp câm,
Đẹp trong pho tượng xuất ra thần
Một con người mộng - con người mộng
Trễ nải thanh tân biếng nhác thầm.

Muôn sợi đàn tơi buông lõa xõa...
Vẻ gì sùm sụp ướt trên mi
Vẻ gì dã dượi không lay động
- Cặp mắt mùa thu đương đắm si.

Ôi đẹp đau thương, dáng thiết tha
Hồn ơi! Cặp mắt vỡ men hoa
Hồn ơi! Cặp mắt say thơ mộng
Dần biến ra châu trắng mịn mà...
 


Về Đầu Trang Go down
tranvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Những cuộc tình duyên của Bích Khê   Wed Jan 16, 2013 12:45 pm

Những cuộc tình duyên của Bích Khê


.........
Một trong những yếu tố có tác động mạnh mẽ đến sáng tác của Bích Khê là phần đời tình ái của ông. Cũng như người thầy Baudelaire của mình, trước sau Bích Khê có ba người yêu. Song tất cả đều lần lượt ra khỏi cuộc đời ông để lại trong tâm hồn ông những hình bóng sâu đậm, những nỗi đau buồn khôn nguôi.

Trước hết là một học sinh trường Hồng Đức có bí danh là Song Châu. Mối tình đầu có tính chất thơ ngây này diễn ra khoảng một năm, và đã chấm dứt khi ông bỏ trường ra đi, do hoàn cảnh lúc này của ông, và cũng do Song Châu còn quá trẻ, mới chí là “người mỹ nữ xuân mười bốn” (1). Tuy vậy ông đã dành cho mối tình này cả một chương trong tập “Tinh Huyết” với nhan đề “Châu”.

Người thứ hai là Thanh Thủy cũng quê ở Quảng Ngãi. Tuy đã quen biết nhau từ hai năm trước ở Mũi Né, nhưng đến năm 1937, khi tác ngộ trên con sông Trà Khúc, tình yêu giữa hai bên mới nảy nở. Tưởng chừng một cuộc hôn nhân sẽ xảy ra, vì Thanh Thủy yêu Bích Khê tha thiết, và gia đình cũng khuyên ông lấy vợ, nhưng không ngờ ông lại từ chối với lý do để giữ một thứ “tình yêu thơ mộng, tình yêu thuần khiết”! (Phải chăng bên trong có một lý do xác thực hơn là tình trạng sức khỏe suy yếu?”). Để an ủi Thanh Thủy đang đổ bệnh vì thất vọng, ông gửi tặng bài thơ “Ngón giai nhân” kết thúc bằng hai câu:

Tình anh lụy ngón giai nhân
Sống lìa nay được ấy ngần đoàn viên.

Người thứ ba có biệt hiệu là Ngọc Kiều (tên thật là Nhung) cũng là một học sinh, nhưng là một học sinh đã lớn theo học lớp buổi tối ở trường Quảng Thuận (1938 – 1939). Đây là một mối tình nồng nàn, chín chắn. Gia đình nhà thơ tiến hành dạm hỏi, nhưng gia đình Ngọc Kiều từ chối vì chê Bích Khê nghèo. Ngọc Kiều đau khổ đến phát điên khiến gia đình hoảng sợ buộc phải chấp nhận gả con. Nhưng một bất ngờ lớn đã xảy ra: đến lượt Bích Khê từ chối cuộc hôn nhân, vì cảm thấy mình bị xúc phạm danh dự quá lớn. Dù người yêu hết mực van xin, dù bà con, bạn bè hết sức khuyên nhủ, Bích Khê kiên quyết giữ ý kiến của mình. Tuy không có cái may mắn như Song Châu chiếm trọn một phần trong tác phẩm “Tinh Huyết”, nhưng hình ảnh của Ngọc Kiều luôn hiển hiện hay bàng bạc trong nhiều bài thơ của Bích Khê. Có khi là cái tên thật được lồng vào một chi tiết của thiên nhiên: “Nhung mây tê ngời sao kim cương” (Nghê thường). Có khi là một hình ảnh huyền ảo: “Đào nguyên trong lòng nàng đây thôi” (Tỳ bà).

Ngoài ra Bích Khê còn có một mối tình đơn phương kín đáo nữa. Đó là một quả phụ còn trẻ rất mực đoan trang, đã từng tham gia dạy học ở trường Quảng Thuận. Mười năm sau khi Bích Khê mất, trong dịp đến thăm bà Ngọc Sương, Minh Sim – tên của người phụ nữ ấy – mới biết được chuyện này, và đau đớn nhận những bức thư chưa bao giờ được gửi đi, mà Bích Khê để lại trước khi mất.
.........

Trích “Những cuộc tình duyên của nhà thơ Bích Khê - NGUYỄN CAO CAN)





Tỳ bà
Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê

Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Cây đàn yêu đương run trong mơ
Hồn về trên môi kêu: em ơi
Thuyền hồn không đi lên chơi vơi

Tôi qua tìm nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.


.

Nghê thường
Ô trời hôm nay sao mà xanh !
Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành,
Nhung mây tê ngời sao kim cương,
Dạ lan tê ngời say men hương; Lầu ai ánh gì như lưu ly ?
Nụ cười ai trắng như hoa lê ?
Thủy tinh ai để lòng gương hồ ?
Không gian xa cừ hay san hô ?

Đêm ôm hồn tôi chơi phiêu diêu
Bắt gặp nàng thơ diện yêu kiều;
Man mác cho nên nhớ chị Hằng:
Hai tôi nhịp nhàng lên cung trăng...

Là ngọc thạch hay trân châu ?
Mã não hay là hổ phách đây ?
-- Cung thiềm vắt vẻo cài lên mây,
Tiên nữ ra chào, tình ngây ngây...

Nầy ! muôn ngọc nữ ngớp y thường
Tóc quyện bay mùi tô hợp hương --
Uốn mình say lượn sóng xiêm nghê;
Khúc Phụng cầu hoàng sôi đê mê...

Diễm lệ, Hằng Nga bước xuống đền:
Điệu ca thần diệu vẳng đưa lên...
-- Chúng tôi lạc giữa mộng như ngà
Ngỡ vướng vào muôn tơ lụa sa...

... Hai tôi vừa ghé bến sông Ngân:
Ô ! nàng Xuân Hương ngực để trần
Ngâm bài "Vấn nguyệt" tiếng trong ngần
Nhìn xuống nhân gian cười như điên


Châu

Châu I
Tôi nói làm sao - Cái đẹp câm,
Đẹp trong pho tượng xuất ra thần

Một con người mộng - con người mộng
Trễ nải thanh tân biếng nhác thầm.

Muôn sợi đàn tơi buông lõa xõa...
Vẻ gì sùm sụp ướt trên mi
Vẻ gì dã dượi không lay động
- Cặp mắt mùa thu đương đắm si.

Ôi đẹp đau thương, dáng thiết tha
Hồn ơi! Cặp mắt vỡ men hoa
Hồn ơi! Cặp mắt say thơ mộng
Dần biến ra châu trắng mịn mà...

.
Châu II
Tôi thấy vàng mơ động khí giời
Mà nàng làm tượng lẳng im hơi

Để ra một vẻ đau thần bí
Linh động vang lên chín phẩm ngời

Tôi mượn tình câm mớm lưỡi răng
Để nghe rũ rượi đã bay lan
Để đưa sanh mạch khơi hơi thở;
Hấp hối hờn run hộ vệ nàng

Có cặp lông mày phớt ráng đêm
Dậy như men rượu gọi mơ thèm
Có gì uyển chuyển trên da thịt
Nức một đường thơm một điệu êm

Đây máy thu thanh im dưới tóc
Dẫn cho âm hưởng thấu vô lòng
Và hai lổ hở hờ hương vị
Úp mở như hình một dáng cong

Đôi má bây chừ tôi xát yêu
Nóng run như gió lá say chiều
Từ lưng uốn éo xuống chân trúc
Đờ đẫn thanh bai tỏa ý kiều

Những dấu tiên tri kín đáy hồn
Đây tôi truyền sóng ở trong hôn
Cho nàng sống với hồn tôi sống
Với cả hoa trăng sáng chập chờn

Còn tiếng đàn tranh bay ra môi
Những thơm những mộng rúng bồi hồi
Và bàn tay ngọc dính trên ngực
Ôm nhịp đau thương muốn rụng rời.

Trực giác đi ra trên trán kia
Có màu sắc tướng rất phương phi...
Vẻ chi mãnh liệt những êm ái
Trong cặp tuyết lê ướm dậy thì

Tôi nhìn đâu khắp cặp đùi non
Một vẻ tơ mơ một vẻ ngon...
Tôi hốt ghen tuông hình ảnh mộng
Rêm rêm khoái lạc - khói sương vờn.


Châu III
Tôi đắm hồn tôi cho chết say
[i]Như hoa mảnh khảnh xác thu gầy

Ở trong cặp mắt như châu ấy
Và biển ra châu lã chã đầy

Em đã là châu lệ cũng châu
Mắt tôi đỡ khát biết bao sầu
Biết bao ánh ngọc rung rinh nổi
Giữa bề vàng mơ giữa cảnh mơ

Tê tái hồn tôi khóc nức nở
Là khi ảnh ấy ở trên tay
Cơ hồ thân thể run cầm cập
- Thanh sắc muôn xuân đến đã đầy!

Cơ hồ trực giác trên cung bậc
Điệu nhạc mê người đến chết say
Ảnh ơi! Tôi áp lên trên ngực
Khoan hãm tim tôi đứng lại ngay
Tôi còn hơi hám trên môi miếng
Giữ kín ngầm yêu tinh chửa dây
Tôi còn sú ảnh trong môi miếng
Hôn đứt hơi tôi những phút này
Chao ôi! Thân thể run cầm cập
- Thanh sắc muôn xuân đến đã đầy!
Ảnh ơi! Đôi mắt mơ màng quá
Ăn đứt màu thơ - xanh ngất ngây
Tóc xõa đàn tơ rơi lướt mướt
Hồn thu đã hiện khóc thu gầy
Chao ôi toàn ảnh tuôn ra lệ
Tê tái hồn tôi khóc rấm rây
Châu vỡ nguồn châu - não vỡ não
- Thanh sắc muôn xuân đến đã đầy!

Say mức say mơ say mất mây
Thần châu tôi xuất phút này đây
Mau lên! Tinh túy ngàn - muôn - triệu
Thế giới - hư linh - hiệp lại này

Tối hôm nay mùa thu đang ảo não
Trong gió rên và trong lá vàng bay
Mỗi gân trắng rúng rẩy một luồng say
Mỗi hơi thở hoa hồng vang nức nở
Và mạch máu không gian dường vỡ lở
Hú ma điên - kinh động vạn hồn đau

Muôn ưu phiền dầy đặc ở trong đầu
Muôn sầu hận xây mồ ngay giữa phổi
Tôi ngây ngất trong bể lòng sôi nổi
Để hồn mê trôi dạt cõi xa mơ
Mình lặng ngồi trên tảng đá trơ vơ
Tình khóc mướt trong đêm thu ấp ủ
Nhạc khiêu vũ đâu đây lan sóng múa
Tôi tưởng chừng... da thịt biến ra thơm
Những đầu lâu rã hết khí xanh dờn
Những xiêm áo bay rờn trong cảnh mộng
Cả địa ngục đi vào trăm lỗ hổng
Bắn tinh ra trộn trạo giữa nguồn hương

Nhưng, nhiệm mầu! Trước mắt, ánh trăng hường
Bay lả tả - muôn hoa đều
nín thở

Một sắc động? Một mùi hương mới vỡ?
Một màu son phảng phất ý mơ màng?
Không! Từ trong thanh khí dội hương vang
Bỗng đôi mắt hiện hình - Đôi mắt ngọc.

Ôi đôi mắt! - Toàn thân tôi rởn ốc!
Cả linh hồn óc não phổi tim gan
Đều say rêm trong sóng điện rang rang
Với âm cốt tinh thần và khí phách
- Hỡi đôi mắt! Nơi người là ngọc thạch
Nơi giếng người phản chiếu ảnh thiên thần
Nơi suối người giữ kín tiếng châu ngân
Nơi triển lãm cả một bầu tiên động
Nơi rung rinh cả một trời thơ mộng
Người là ai? Người hỡi! Người là ai?
- Nhưng đôi mắt lờ lặng và mê say
Nhìn đắm đuối không một lời náo nức
Đôi mắt nhìn đắm đuối và mê say

- Hỡi đôi mắt! Người hãy hiện trên tay
Cho lòng ta ấp yêu nguồn suối lệ
Hồn ta say trong nhạc vàng kể lể
Tình ta dâng trong gợi sóng thu ba
Cả máu đào tủy trắng với xương ma
Cùng tinh loãng và bao nhiêu bảo vật
Để xây đắp đàn thờ cao chất ngất
Lút mây xanh và lút cả thiên thai
Người là ai? Người hỡi! Người là ai?
- Bỗng đôi mắt rưng rưng dường rớm khóc
Nhưng cười nụ trong màu hoa ánh ngọc:
- Ta là CHÂU ! Thi sĩ ! Ta là CHÂU !

...
Tối hôm qua làm văn tế
Tôi khóc sống người giai nhân
Tối hôm nay tôi xuất thần
Tôi muốn nàng đừng có chết
Thần tôi đời mô mới hết
Thơ tôi đời mô mới đau
Là nàng trở nên sang giàu
Tôi sú cho nguồn Khoái Lạc
Tôi cho ăn toàn Hương Nhạc
Tôi bắt vận toàn âm dương
Tôi để vạn miếng Nghê Thường
Òa vào đôi con mắt ngọc
Nàng dội Thiên Liêng lên tóc
Nàng lùa Thanh Sắc vô tay...

.
Về Đầu Trang Go down
MHMai
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Nhạc và họa trong thơ Bích Khê    Sat Sep 20, 2014 1:45 pm





Nhạc và họa trong thơ Bích Khê

Thụy Khuê

Bí quyết huyền ảo trong thơ Bích Khê nằm trong ánh sáng. Thơ dựa vào ánh sáng để thành, y hệt như trong hội hoạ ấn tượng. Nhà thơ chưa đả động đến người đẹp, nàng đã xuất hiện: một sự xuất hiện liêu trai, mờ ảo qua ánh sáng của vật chất chung quanh. Đó là lối tạo chân dung bằng ánh sáng trong thơ Bích Khê.



Khi đọc thơ Bích Khê, chúng ta không thể đọc như một bài thơ cổ điển hoặc thơ mới, vì Bích Khê không làm thơ theo logique truyền thống, nghiã là thơ phải có mạch lạch có nghiã, mà nên đọc thơ ông như xem những bức tranh, khi ấn tượng, khi lập thể, khi siêu thực, khi trừu tượng... có thêm phần nhạc đệm.

Giao cảm giữa thơ và họa


Khó phân biệt được lúc nào ông dùng bút để viết, lúc nào ông vung cọ để vẽ, lúc nào ông vung đũa để đánh nhạc. Và cũng cần phân biệt nhạc trong thơ Bích Khê khác với nhạc trong thơ Hàn Mặc Tử: nhạc trong thơ Hàn là nhạc thầm trong mỗi chữ, nhạc trong thơ Bích Khê là nhạc nổi trong thanh âm lạ, âm bằng. Ở những bài thật hay, thơ Bích Khê là sự hoà âm giữa các điệu nhạc cổ, như điệu hoàng hoa, điệu mộng cầm, bằng những màu sắc tân kỳ của hội hoạ hiện đại:

Lam nhung ô ! màu lưng chừng trời;
Xanh nhung ô ! màu phơi nơi nơi.
Vàng phai nằm im ôm non gầy;
Chim yên eo mình nương xương cây.
Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa:
Đông nam mây đùn nơi thành xa...
Oanh già theo quyên quên tin chàng!
Đào theo phù dung: thư không sang!
Ngàn khơi, ngàn khơi, ta, ngàn khơi:
Làm trăng theo chàng qua muôn nơi;
Theo chàng ta làm con chim uyên;
Làm mây theo chàng bên nhung yên.
Chàng ơi! hồn say trong mơ màng,
- Hồn ta? hay là hồn tình lang?
Non Yên tên bay ngang muôn đầu...
Thâm khuê oan gì giam xuân sâu?
- Ai xây bờ xanh trên xương người?!
- Ai xây mồ hoa chôn đời tươi?! 
(Hoàng hoa)
 
Bài Hoàng hoa thể hiện rõ sự giao cảm giữa hai ngành nghệ thuật: thơ và họa. Nhà thơ như một cánh chim, bay qua các khung cảnh khác nhau, trình bày trước mắt ta những bức tranh khác nhau, trong cùng một khoảnh khắc, Vàng phai nằm im ôm non gầy / Chim yên eo mình nương xương cây / Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa / Đông nam mây đùn nơi thành xa...

Những bức tranh trên đây, phần nhiều là ấn tượng, chỉ khơi gợi một cảm xúc, mà không mô tả, ví dụ, trong bức: Vàng phai nằm im ôm non gầy, chúng ta không thể thấy rõ hiện tượng vàng phai nằm im ôm non gầy, như thế nào, mà chỉ mơ hồ cảm thấy một ấn tượng nào đó.

Những câu thơ tiếp theo cũng thế: Chim yên eo mình nương xương cây, rồi đến Đây mùa hoàng hoa, mùa hoàng hoa / Đông nam mây đùn nơi thành xa, là những bức tranh gây ấn tượng lãng mạn.

Cảm tưởng mờ sương toả lên từ những bức tranh ấy, trong câu Vàng phai nằm im ôm non gầy, thì sự mờ sương toả ra ở những chữ vàng phai nằm im. Ai nằm im ? -  một màu nằm im. Và màu gì? - màu vàng. Nhưng không hoàn toàn là màu vàng mà màu vàng phai.

Ai biết và ai có thể định nghĩa được màu vàng phai ấy như thế nào, để trải sự vàng phai đó «nằm im » trên « non gầy», lại đến thắc mắc: non gầy như thế nào?  -  nếu không phải là họa sĩ, thì không thể biết cách vẽ những hình ảnh ấy. Vậy sự khơi gọi hình ảnh trong thơ Bích Khê bắt nguồn từ hội hoạ, từ cách tạo ấn tượng trong lòng người xem, người đọc thơ.

Nhịp cầu kim cổ


Bài thơ Hoàng hoa, không chỉ bắc cầu giữa hội hoạ và âm nhạc, mà còn là nhịp cầu kim cổ. Hoàng Hoa, vùng đất Trung Hoa, thời Chiến quốc và đời Đường thường có «rợ» Hồ quấy nhiễu, là bãi chiến trường. Hoàng Hoa lại còn là hoa cúc vàng. Hoa cúc nở vào mùa thu, mùa của lá vàng và cũng là lúc các thanh niên thời chiến quốc, đến tuổi đi lính phải nhập ngũ, đi "quân dịch", năm sau mới trở về. Vì vậy Hoàng Hoa vừa là hoa cúc vàng, vừa là bãi chiến trường, vừa là thời đi lính.

Trong Chinh phụ ngâm có câu:

Xót người lần lữa ải xa
Xót người nương chốn Hoàng hoa dậm dài

Chữ Hoàng hoa trong Chinh phụ ngâm có hai nghiã: vừa là hoàng hoa thú (người lính thú ở chiến trường), lại còn có thể là trại cúc vàng, nơi người chinh phụ tựa cửa nhớ chồng ngoài quan ải.

Vì vậy, hai câu thơ: Đây mùa hoàng hoa mùa hoàng hoa/ Đông nam mây đùn nơi thành xa... tưởng như không có gì liên hệ với nhau, nhưng thực ra là khúc chinh phụ ngâm mới của Bích Khê, ngẫu hứng từ những câu: Xót người nương chốn Hoàng hoa dậm dài và Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt trong Chinh phụ ngâm.

Người chinh phụ xưa, ngâm:

Thủa lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo oanh ca
Nay quyên đã giục oanh già
Ý  nhi lại gáy trước nhà líu lo
Thủa đăng đồ mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông
Nay đào đã quyến gió đông
Phù dung lại đã bên sông bơ xờ
(Chinh phụ ngâm)
 
Và người chinh phụ mới của Bích Khê, cất tiếng hát:

Oanh già theo quyên quên tin chàng!
Đào theo phù dung: thư không sang!
Ngàn khơi, ngàn khơi, ta, ngàn khơi:
Làm trăng theo chàng qua muôn nơi;
Theo chàng ta làm con chim uyên;
Làm mây theo chàng bên nhung yên
 
Và đây là cảnh chết chóc nơi chiến trường, trong Chinh phụ ngâm:

Non Kỳ mộ chỉ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn?
 
Trong thơ Bích Khê, trở thành những bức họa mới, pha trộn cảnh chết chóc chiến trường với những cơn mộng dữ của người chinh phụ trong khuê phòng:

Chàng ơi! hồn say trong mơ màng,
- Hồn ta? hay là hồn tình lang?
Non Yên tên bay ngang muôn đầu...
Thâm khuê oan gì giam xuân sâu?
- Ai xây bờ xanh trên xương người?!
- Ai xây mồ hoa chôn đời tươi?!
 
Thơ Bích Khê là sự gặp  nhau của hai không gian cổ điển và hiện đại, là sự hoà tan hai không gian ấy trong lòng chữ. Khi nhìn một bức tranh lõa thể, một cảnh thu, hay một vũ khúc, Bích Khê không vẽ lại những ấn tượng ấy trong hiện tại mà ông đẩy lùi chúng về hàng trăm năm, hàng ngàn năm trước, rồi mới đem chúng vào thơ. Ví dụ nhìn một điệu múa, Bích Khê viết:

Ô trời hôm nay sao mà xanh!
Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành,
Nhung mây tê ngời sao kim cương,
Dạ lan tê ngời say men hương;
Lầu ai ánh gì như lưu ly?
Nụ cười ai trắng như hoa lê?
Thủy tinh ai để lòng gương hồ?
Không gian xà cừ hay san hô?
(Nghê thường)
 
Thơ và Ánh sáng


Vũ điệu trong thơ không còn là một vũ điệu trước mắt ta nữa mà đã trở thành vũ điệu nghê thường của một Đắc Kỷ, Bao Tự... trên cung Quảng hàn. Những khơi gợi ấy, đến từ ánh sáng, một thứ ánh sáng mơ hồ huyền ảo của đêm trăng giữa ban ngày:

Ô trời hôm nay sao mà xanh!
Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành.
Nhung mây tê ngời sao kim cương,
 
Trong luồng sáng huyền ảo ấy, một đoá lan đem mùi hương lạ đến chia thế giới làm hai: thế giới của ánh sáng và thế giới của bóng tối qua một chữ dạ (nghiã là đêm). Dạ lan tê ngời say men hương. Rồi tiếp theo đó là một chuỗi những ánh sáng lạ khác:

Lầu ai ánh gì như lưu ly?
Nụ cười ai trắng như hoa lê?
Thủy tinh ai để lòng gương hồ?
Không gian xà cừ hay san hô?
 
Không thể biết những luồng sáng như ánh lưu ly, ánh hoa lê, ánh thuỷ tinh, ánh gương hồ, ánh xà cừ, ánh san hô... chiếu vào người đẹp trên lầu hay chính người đẹp trên lầu toát ra những ánh sáng huyền ảo ấy.

Tất cả bí mật ở đây nằm trong ánh sáng và thơ dựa vào ánh sáng để thành, y hệt như trong hội hoạ ấn tượng. Nhà thơ chưa vẽ, chưa đả động gì đến người đẹp, nhưng nàng đã xuất hiện: một sự xuất hiện liêu trai, mờ ảo, nghê thường, qua ánh sáng của vật chất chung quanh.

Và đó là lối tạo chân dung bằng ánh sáng trong thơ Bích Khê.

Trong bài Hiện hình, lại một chân dung khác, vẽ theo lối hiện thực hơn:

Tôi ráp lại xem. Ồ! sự lạ!
Một người thiếu nữ hiện trong trăng.
Khăn hồng chùi lệ ngấn đôi mắt;
Da thịt phô bày ý tuyết băng.
Nường hé môi ra. Bay điệu nhạc
Mát như xuân mà ngọt tợ hương:
Ôi sao là khúc Ba sinh lụy
Rào rạt như đầy nỗi cảm thương
Tiếng ngọc, màu trăng quấn quýt nường
Phút giây người lộ mỏng như sương
-Nường tan ra nhạc? - tan ra nhạc!
Khung trắng trời mây trắng lạ thường! 
(Hiện hình)
 
Người con gái trong bức tranh này, là hội tụ của tiếng và màu: tiếng ngọc màu trăng.

Chân dung nàng được vẽ bằng nhạc hay nàng chính là âm thanh.

Bút lông của hoạ sĩ chấm vào nhạc để vẽ ra chân dung nàng, rồi, cát bụi nàng lại trở về với cát bụi:

-Nường tan ra nhạc? - tan ra nhạc!
Khung trắng trời mây trắng lạ thường!

Mỗi chân dung người đẹp mà Bích Khê vẽ thường có những nét Bích câu kỳ ngộ. Bức Tranh loã thể là bức tranh Giáng Kiều khoả thân trong óc người con trai hai mươi tuổi: 

Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
Hai vú nàng! hai vú nàng! chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng.
Ôi lồ lộ một toà hoa nghiêm động!
Tôi run run hãm lại cánh hồn si...
Ồ hai tay rơi chén ngọc lưu ly;
Ồ hai chân nở màu sen ẻo lả;
Cho tôi nàng! cho tôi nàng! tất cả...
Tôi miên man uống lại mộng quỳnh dao
Cho đê mê, chới với, hồn lên cao,
-Một tinh cầu sẽ tan ra biển lệ.
(Tranh lõa thể)
 
Tranh lõa thể là một tác phẩm tuyệt vời mà âm nhạc và màu sắc dâng lên theo nhịp rung thể xác. Chàng trai đứng trong phòng triển lãm, trước bức tranh khoả thân có dáng dấp của một người xưa, chàng vào mộng, trở lại hàng ngàn năm trước, sống lại giấc mơ Tú Uyên- Giáng Kiều.

Hoặc ngược lại, chàng trai chính là Tú Uyên, đứng trước bức họa Giáng Kiều mà chàng vừa hoàn tất, chàng xao động bối rối, sống một giấc mơ mới mà nhịp độ thể xác đồng tiến với đam mê, với âm nhạc, màu sắc và thời gian. Chàng đã vượt ra ngoài cái lễ giáo cũ để tiến  tới cái tự do mới của một kẻ cầm bút dám phô bày nhục cảm xác thịt của mình trên trang giấy: Tú Uyên đã hiện đại hoá tư tưởng của mình qua thơ Bích Khê. Bích Khê nói hộ người xưa những ẩn ức nhục cảm của họ bằng tiếng thơ của đời nay.

Hành trình sáng tạo từ "chữ" sang "châu"


Châu, bài thơ cuối trong tập Tinh huyết là một trường khúc, diễn tả hành trình sáng tạo của Bích Khê, hành trình biến hoá từ chữ sang châu. Bài thơ có ba phần:

Phần I, nhà thơ tìm cách định nghiã những cái đẹp: đẹp câm trong pho tượng, đẹp huyền ảo của người trong mộng, đẹp rã rượi của tiếng đàn, của đôi mắt mùa thu, đẹp đau thương của đôi mắt lệ, biến thành giọt châu. Phần II, mô tả sự chuyển hoá từ cái đẹp sang cảm xúc và rung động trong tâm hồn nhà thơ. Phần III, nói đến sự biến hoá những chất, những rung động mà nhà thơ lưu lại trong hồn thành những giọt châu.

Bích Khê giới thiệu đôi mắt, chỉ định đôi mắt là tác nhân chính của sáng tác, coi mắt và châu, như một thứ tinh thể của thi ca. Mắt và châu nơi Bích Khê, tương đương với tưởng tượng và trăng nơi Hàn Mặc Tử. Nếu Hàn Mặc Tử dùng óc tưởng tượng để sáng tạo thì Bích Khê dùng mắt để làm thơ. Đó là sự khác biệt sâu xa giữa hai người.

Tất cả tinh anh nơi Bích Khê tụ vào đôi mắt. Nếu ai gần Bích Khê, chắc không thể nào tránh khỏi bị cuốn hút bởi đôi mắt, mà ngày nay, chúng ta chỉ còn lại tấm ảnh duy nhất, chân dung một thiếu niên, có đôi mắt to đen đẹp tuyệt vời.

Bích Khê đã diễn tả hành trình sáng tạo của mình như sau: Trước tiên nhà thơ tiếp nhận những cảm xúc của thiên nhiên và đời sống, rồi nhập đồng trong tâm hồn:

Tôi dường nghe trong một phút mê man
Hồn thanh thiên cho đến phách dương gian
Đều vỡ lở cho rung rinh thần thức
-Một thế giới mờ đi trong sáng đục
Và im hơi cho xuất khí âm hư...
 
Từ vùng đồng thiếp ấy, đánh lên những âm giai và màu sắc và những yếu tố này đọng lại trong ánh mắt, rồi từ tinh cầu mắt đó, biến thành những giọt châu thơ:

Sao? Màu nàng vấn vít lấy màu thơ
Với tình tiết và tên hoa vô thượng
Với đôi mắt đẹp câm trong sắc tượng
Biến ra châu nguyên vẹn cốt thiên đàng
Nên Thiên Tài đang tắm ở suối vàng
Theo trực giác bay lên nguồn ngọc lệ

Như thế, mỗi lần nhả châu trong mắt ngọc, thiên tài phải chết đi trong đê mê huyền bí, trong giếng loạn của tâm hồn:

Cho đã khát trong đê mê huyền bí
Ánh tiên tri nức nở sóng anh linh
Đường kinh tuyến hút nhiễm chất vô hình
Dẫn địa ngục đi vào đôi giếng loạn?

Đỉnh hoang loạn thể xác và tâm hồn cũng là đỉnh thơ: muốn đạt tới thơ, tức cõi châu, nhà thơ phải thăng hồn tới cực của đớn đau hoang loạn, tới sự mất trí, tới sự rã rời thể xác, tới xuất huyết, tới địa ngục và thiên đàng.

Tôi chết ngay đây chẳng nói rằng
Cả  mình lạnh khớp đến hàm răng
Thần gì đã xuất ra đôi mắt
Vội đẩy hồn tôi tới bóng giăng
Một bóng giăng rồi một bóng giăng
Hồn vẫn phiêu lưu rất nhẹ nhàng
Đến mút không gian là bát ngát
Một trời thơ mộng đẹp mê man

Và trong vùng ánh sáng và âm thanh thần tiên ấy, đôi mắt thần tiên hiện ra:

Bỗng khúc dương cầm nấc tiếng thu
Bỗng đôi mắt ngọc hiện xanh mờ...
Và châu và báu và thanh khí
Nức nở tan thành vạn giọt thơ
 
Đạt đến cõi thơ, mọi sự lại bắt đầu trở lại.

Toàn bài thơ là hành trình của sáng tác, trong một vòng tử sinh huyền bí:

Tối hôm nay mùa thu đang ảo não
Trong gió rên và trong lá vàng bay
Mỗi gân trắng rúng rẩy một luồng say
Mỗi hơi thở hoa hồng vang nức nở
Và mạch máu không gian dường vỡ lở
Hú ma điên... kinh động vạn hồn đau
Muôn u phiền đầy đặc ứ trong đầu
Muôn sầu hận xây mồ ngay giữa phổi
Tôi ngây ngất trong bể lòng sôi nổi
Để hồn mê trôi dạt cõi xa mơ
Mình lặng ngồi trên tảng đá trơ vơ
Tình khóc mướt trong đêm thu ấp ủ
 
Đôi mắt của Bích Khê chính là nguồn sáng tạo, nguồn khổ đau và hạnh phúc. Chưa ai hỏi mắt mình: Người là ai? Bởi nhà thơ cũng không biết rõ nguồn sáng trong đôi mắt ấy từ đâu đến và sẽ dẫn mình đến đâu? Đôi mắt là cửa sổ của linh hồn như người ta thường nói, nhưng linh hồn Bích Khê là một cõi huyền bí xa lạ, của một cuộc đời ngắn ngủi trên dương gian, nhưng vô tận ở cõi siêu hình:

Hỡi đôi mắt! Nơi người là ngọc thạch
Nơi giếng người phản chiếu ảnh thiên thần
Nơi suối người giữ  kín tiếng châu ngân
Nơi triển lãm cả một bầu tiên động
Nơi rung rinh cả một trời thơ mộng
Người là ai?Người hỡi! Người là ai?
-Nhưng đôi mắt lờ lặng và mê say
Nhìn đắm đuối không một lời náo nức
Nhạc khiêu vũ đâu đây lan sóng múa
Tôi tưởng chừng... da thịt biến ra thơm
Những đầu lâu rã hết khí xanh dờn
Những xiêm áo bay rờn trong cảnh mộng
Cả địa ngục đi vào trăm lỗ hổng
Bắn tinh ra trộn trạo giữa nguồn hương
-Hỡi đôi mắt! hồ thuỷ tinh trong suốt
Soi trần gian địa  ngục vạn đời ma
Hãy nói tên thần bí của muôn hoa
Hãy kể hết nhiệm mầu muôn thế giới
Những bí quyết khí nhạc lên vời vợi
Những màu thiêng khi đau khổ lên cao
Những thơm ngào phối hiệp giữa trăng sao
Những khoái trá truyền qua hai xác thịt
Bằng hơi điện - bằng hơi điên tha thiết
Người là ai? người hỡi ! người là ai ?
-Nhưng đôi mắt lờ lặng và mê say
Nhìn đắm đuối, không một lời náo nức
 

Bích Khê, ngàn đời sau vẫn là một vì tinh tú mới, chiếu vào cõi thơ, bằng đôi mắt ngọc của một thiên thần. 

Nguồn: Thụy Khuê - RFI 28/02/2009 


Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Nhạc và họa trong thơ Bích Khê    

Về Đầu Trang Go down
 
Nhạc và họa trong thơ Bích Khê
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Thơ-
Chuyển đến