Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
pham Ngày PHAT thanh nhung sinh rang nguyen phung nguoi nghia thuy cuoc nghe cong Thầy tien ngoc huyen quan thang HUNG viet mien trai lang
Latest topics
December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Cao Xuân Huy - Mùa Thu Gãy Cánh

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
PVChuong
Admin


Posts : 241
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Cao Xuân Huy - Mùa Thu Gãy Cánh   Wed Jan 02, 2013 11:52 pm


BỆNH UNG THƯ MẮT… Cao Xuân Huy Mỉm Cười Nơi Chín Suối


Phila Tô




Người lính già “Tháng Ba Gẫy Súng” đã đi xa, mi đã khép lại vĩnh viễn vì bệnh ung thư mắt, nhưng tiếng cừơi khề khà bên bàn cafe, nhừa nhựa bên ly bia và cái giọng ngọng nghịu của ông “đại tá hưu” trong “Thư Saigòn” vẫn còn đây. Bạn bè vẫn nhớ đến anh, nhớ chỉ để mà nhớ đến một người lính sống có tình, chiến đấu hết mình bên đồng đội, nhưng ngừơi thân của anh, những đứa con nhớ đến bố thì lại tiếp tục công việc của bố còn dở dang, làm những việc thật nhỏ để hy vọng có kết quả thật to lớn. Kết quả không phải để giúp bố quay lại với con, mà kết quả ấy nếu thành công thì sẽ giúp những bệnh nhân như bố có cơ may đựơc qua khỏi chứng bệnh quái ác, quái ác như tử thần rình rập và bất ngờ đột nhập vào bất cứ ai.

Cháu Xuân Dung đã tình nguyện tham gia cuộc chạy việt dã để gây quý giúp tổ chức OMF sớm tìm ra liệu thuồc trị bệnh công hiệu. Xin quý độc giả nghe cháu Xuân Dung, con gái Cao Xuân Huy, tâm sự với Bố:

***

Bố Yêu Quý.

Con dự cuộc chạy bộ này cho bố. Con chạy cho bố vì sự chịu đựng, quyết tâm, và nhất là nỗi đau đớn (của cuộc chạy đường dài này) nhắc con nhớ lại sức mạnh và ý chí của bố khi phải đối diện với một điều kinh khủng và hoàn toàn mù mờ lúc đó. Lời chẩn đoán của bác sĩ là một cú shock cho bố và con, vì mình hoàn toàn không biết mức độ của nó như thế nào. “Choroidal Melanoma” là hàng chữ mình đọc trong kết quả thử máu, nhưng bố và con, mình chỉ biết hỏi nhau và tự hỏi “Ung thư mắt?” “Dữ vậy sao?” . Chúng ta chẳng biết gì hết, Bố ơi, bố cũng chẳng biết bệnh tình mình thế nào hết.

Con ước gì lúc đó mình biết nhiều hơn thế, con ước gì lúc đó bố có nhiều cách chữa trị để lựa chọn, con ước gì lúc đó có cách chữa bệnh cho bố…

Vì vậy, cuộc chạy này của con là để cho bố. Con chạy cuộc đua này để ủng hộ cho tổ chức đang nỗ lực tìm ra cách chữa trị căn bệnh đó.

Con biết là bố sẽ hãnh diện khi biết con bố làm chuyện này. Mỗi ngày con tìm thấy phấn khởi và động lực trong cuộc sống từ bố và cuộc đời bố đã sống. Con biết là bố lúc nào cũng bên con, và con biết là  bố sẽ có mặt ở đó khi con vượt đích đến của cuộc đua,

Con yêu bố



***

Sau khi thưa chuyện với bố xong thì cháu Bé mới nhận ra đoạn đường chạy đua này xa quá xa, chí mong chạy đều bước, nhưng sức “e không kham nổi đoạn đường dài” nên cháu Bé đành thưa chuyện với những ngừơi thân trong gia đình để tiếp sức cho cháu sao cho về đến mức cuộc chạy marathon mà không quan tâm tới thứ hạng. Mục tiêu xa hơn cao hơn, lý tưởng hơn đó là nhờ sự tiếp sức mà cháu có thể lạc quan nghĩ đến sự thành công, tìm ra liều thuốc hữu hiệu để trừ căn bệnh quái ác cho tha nhân. Thư của cháu như sau:



Thưa Các Bác, Các Chú:

Như nhiều bác, nhiều chú đã biết, hồi tháng Hai 2005 bố cháu được bác sĩ cho biết ông bị mắc chứng ung thư Choroidal Melanoma và tháng Mười Một năm 2010 thì bố cháu mất khi khối ung thư di căn phá nát gan ông. Khi ung thư chạy xuống gan thì bố cháu có rất ít lựa chọn. Ông chỉ có thể chọn, hoặc theo 1 cách hoá trị hầu như đã bị coi là vô hiệu quả, hoặc tham dự một cuộc khảo cứu của các bác sĩ chuyên khoa ung thư ở Viện Đại học UCLA thí nghiệm một loại thuốc mới cho các bệnh nhân bị ung thư  Metastatic Uveal Melanoma. Bố cháu đã quyết định chọn cách chữa thí nghiệm này.

Khi bố cháu chọn cách chữa trị có hy vọng có thể cứu được mạng mình, và nếu thành công, sẽ cứu mạng được biết bao nhiêu người nữa, cả nhà cháu đã dấy lên niềm hy vọng. (Một trong những điều quan trọng nhất  mà cháu và gia đình học được từ kinh nghiệm này là chúng ta cần có hy vọng, cần có nhiều  hy vọng, khi đương đầu với một thứ đáng sợ và độc địa như bệnh ung thư!) Thế nhưng không may, loại thuốc mới này không thành công trong trường hợp của bố cháu, và 8 tháng sau khi biết tin ung thư đã di căn xuống gan, cháu mất bố!

Với cháu và gia đình, chuyện bị mất vĩnh viễn người bố thân yêu là điều khủng khiếp không thể nào diễn tả nổi, và như các bác, các chú chắc cũng hiểu được, hoàn toàn thay đổi cuộc đời cháu.

Giờ đây, sau khi có thời gian để nguôi ngoai niềm đau mất bố, cháu nhất quyết dấn thân để đóng góp vào việc giúp đỡ những người đang trải qua những gì bố cháu đã phải chịu đựng, bằng cách giúp  tổ chức Ocular Melanoma Foundation (OMF) gây quỹ tài trợ các cuộc khảo cứu nhằm tìm ra phương thức điều trị tốt hơn và hy vọng có được cách chữa được chứng ung thư này.

Cháu sẽ dự cuộc chạy Việt dã Surf City Half Marathon vào ngày 3 tháng Hai 2013 để tưởng niệm bố cháu, và để gây quỹ giúp tổ chức Ocular Melanoma Foundation, là nơi mà cháu đã từng nhờ cậy nhiều lần trong suốt thời gian bố cháu mang bệnh. Đây là lần chạy thứ nhì của cháu, và cháu đang cố sức tập luyện ráo riết hơn nữa vì biết rằng có nhiều người ủng hộ cháu.

Mọi sự đóng góp dù nhiều hay ít của các bác, các chú đều rất được trân trọng và sẽ giúp cháu đạt được muc tiêu tự đặt ra là gây được $1,500 cho OMF.

Các bác, các chú không thể biết được rằng tất cả những gì các bác các chú đã chia sẻ, nâng đỡ cháu trong suốt thời gian khó khăn nhất của đời mình vừa qua có ý nghĩa thâm sâu đến độ nào, và cháu không thể nào có đủ lời, đủ cách để bày tỏ hết tấm lòng biết ơn các bác, các chú.

Cháu xin được chân thành tạ ơn về tất cả những gì mà mọi người đã làm cho cháu và gia đình, cháu cũng xin cám ơn nếu được các bác, các chú hỗ trợ cho một việc làm có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với cháu như thế này,

Nếu các bác, các chú có lòng ủng hộ cho cháu, xin vào địa chỉ này .


(xxxxx@yahoo.com)(địa chỉ này cháu gửi cho người thân nên tôi xin cất đi).

***

Mặc dù thư của cháu Bé chỉ gửi cho những ngừơi thân thuộc trong gia đình, nhưng chú Hùng, một đồng đội của Huy, từ Úc Châu sang thăm Huy, ở bên cạnh Huy và khi Xuân Huy gẫy súng lần thứ 2 thì lo hậu sự cho Huy, nên chú Hùng đã nhận ra lý tưởng cao đẹp của cô cháu gái, cháu biết nghĩ đến tha nhân thì mục tiêu của cháu không thể chỉ gói gọn trong tình thân mà phải vượt ra xa hơn.

Không ai hiểu cháu Bé hơn chú Hùng, chính tay chú đã cầm “tông-đơ” vừa ứa nước mắt vừa hớt trọc đầu đứa con gái cưng, theo nguyện vọng của con để tặng mái tóc dài óng mựơt cho những thiếu nữ chữa bệnh bằng phương pháp “ki-mô” và cháu mang “đầu trọc” cùng bạn bè xuống phố để chia sẻ nổi buồn với người rụng tóc đồng thời gây quỹ cho hội ung thư. Giọt nứơc mắt trước đây hãnh diện vì con đã hy sinh mái tóc cho ngừơi mắc bệnh nan y thì nay chú Hùng hãnh diện vì cháu Bé quyết tâm chọn mục tiêu cao cả. Mặc dù cháu không yêu cầu, nhưng chú Hùng vẫn gửi thư đến đồng đội của Cọp Biển Cao Xuân Huy, thơ rằng:

***

Thưa Huynh Đệ Cọp Biển,

Tháng 11 năm 2010, người anh em của chúng ta, Cao Xuân Huy, qua đời vì chứng ung thư mắt. Anh để lại vợ và 2 con. Cháu gái thứ nhì (Xuân Dung, Beatrice, tự là  Bé) hiện đang là một cố vấn tâm lý giáo dục cho học sinh Trung học ở California . Bé đã ở bên cạnh bố suốt thời gian điều trị cho đến ngày cuối.

Chứng ung thư mắt mà Huy mắc phải, tuy không hiếm, nhưng ở nơi Huy, là chuyện bất trị (vì di căn xuống gan, và khi đã chạy sang nơi khác, chỉ 15% có thể sống thêm được trong vòng 5 năm kể từ ngày biết có bệnh). BS Ngô Thế Vinh đã giải thích về chứng ung thư mắt nơi Huy sau khi Huy ra đi.

Cho đến giờ này y khoa vẫn chưa có cách gì chữa trị chứng ung thư mắt, như Huy đã gặp. Và tổ chức Ocular Melanoma Foundation vẫn tiếp tục nghiên cứu hy vọng có thể một ngày tìm ra phương thức chữa trị một cách hiệu quả chứng bệnh quái ác hàng năm cướp đi bao mạng sống.

Từ khi biết bố bị chứng Ocular Melanoma, cho đến lúc bố mất, Bé đã thường xuyên liên lạc với Ocular Melanoma Foundation để hỏi thăm, tìm hiểu về chứng bệnh này, cũng như đã nhờ sự gíup đỡ của OMF trong việc tìm kiếm cách thức điều trị cho bố.

Vì thế, để bày tỏ lòng nhớ thương bố một cách cụ thể và có ý nghĩa, cũng vì biết ơn tổ chức OMF, Bé quyết định dự cuộc chạy bán Việt dã Surf City Half Marathon  gây quỹ cho OMF vào ngày 3 tháng Hai, năm 2013.

Chạy một đoạn đường 21 cây số chắc chắn không phải là chuyện ai cũng làm được. Bé biết là để có thể hoàn tất cuộc đua, cháu cần phải có thể lực và sức chịu đựng dẻo dai. Nhưng cháu nhất quyết phải làm bằng được, chỉ vì muốn có một chút đóng góp cụ thể cho tổ chức mà cháu và bố cháu đã mang ơn. Và nhất là  vì Bé muốn chia sẻ nỗi đau đớn và chịu đựng của bố cháu suốt thời gian đau đớn vì bệnh. Bé đã ráo riết tập luyện bấy lâu nay và đang chờ đến ngày đó.

Bé viết thư cho bạn bè, thân hữu trong vòng gia đình thân thuộc báo tin cháu sẽ làm việc này để nhớ đến bố.

Cháu không hề nhờ tôi chuyển thư này đến các bác các chú trong gia đình TQLC của bố, nhưng tôi tự nhận bổn phận gửi đến quý NT và các CH của Cao Xuân Huy, những người mà Huy luôn coi là một phần đời không thể phân ly của mình, với ước mong các bác, các chú của Bé cùng chia sẻ với cháu, lòng thương yêu và tưởng nhớ đến người bạn, người anh em của mình.

(Ó Biển Như Hùng)

***

Nếu cuộc đời bằng phẳng cả thì nào dễ biết ai hơn ai? Nếu sáng vác ô đi, tối vác về, sáng lên xe chiều xuống ngựa đã có cơm ngon canh ngọt bên vợ đẹp con khôn chờ sẵn thì sao hiểu đựơc tình người đồng sở đồng đơn vị. Nhưng “Tháng Ba Gẫy Súng” Cao Xuân Huy thì có những ngừơi anh, người em cùng súng gẫy như Huy, cùng sống thác bên nhau trong những ngày cuối Tháng Ba năm ấy.


Sáng dậy, họ chia nhau nắp nước bi đông

Giữa đại dương mênh mông.

Trên bãi cát Thuận An, bên bờ biển Đông mà chết khát

Trưa hôm ấy, hết đạn, họ chia nhau những viên cuối cùng


Và đêm hôm ấy họ nằm trên bãi cát ngó đèn “kéo quân” của tàu thuyền ngoài biển khơi, ngó trăng sao trên trời cao mà lòng cùng ngao ngán.

Bãi cát mênh mông, đại dương mênh mông và trời cao mênh mông nhưng Cao Xuân Huy cùng đồng đội thì mang nỗi buồn mênh mông,

Chôn chân tại chỗ, móc túi tìm đạn thì chỉ thấy những viên bi.

Bắn súng bằng miệng đế át tiếng AK

Sáng hôm sau họ lại chia nhau…, không phải hớp nứơc, bịch gạo xấy mà là trái “mãng cầu gài” M26!

Một trái không đủ chia nhau,

Ai may mắn banh xác nằm lại trên cát rồi đi vào lòng đaị dương

Ai không may thoát chết thì tử thần đến bắt cho tay vào còng!

Cao Xuân Huy có những đồng đội như thế, cháu Bé có những chú bác như thế thì chuyện có những đứa con cháu biết nghĩ đến tha nhân không có chi lạ. Chỉ lạ khi không nhận ra nghĩa cử của thế hệ thứ hai. Vì vậy sau khi chú Hùng loan tin nghĩa cử cùa cháu Xuân Dung, con gái Xuân Huy, thì những đồng đội của Bố Huy đã tiếp sức cho cháu vượt qua đoạn đừơng chiến binh, vựợt gấp đôi chỉ tiêu mà cháu tự đặt ra trong thời gian ng
n nhất.

Những đứa con ngoan và có hiếu thì không có cha chú thiếu bổn phận.

Cám ơn các chú các bác, cám ơn cháu Bé Xuân Dung

TQLC Cao Xuân Huy đang mỉm cừơi nơi chín suối.


Phila Tô


(T.Vấn 2012)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 215
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Cao Xuân Huy và “Tháng Ba gãy súng”   Thu Jan 03, 2013 5:41 pm

Cao Xuân Huy và “Tháng Ba gãy súng”

Mặc Lâm, phóng viên RFA
2010-05-02


Chiến trường Việt Nam ngày 16 tháng 5 năm 1966

Tác phẩm “Tháng Ba gãy súng” của tác giả Cao Xuân Huy đã tái bản được 10 lần và chính tác giả cũng bất ngờ với kết quả này. Trong không khí của những ngày cuối tháng Tư, mời quý vị nghe lại một câu chuyện mà bất cứ người dân Việt Nam nào khi nghĩ đến cũng đều xót xa trong lòng cách này hay cách khác.


Gãy súng chứ không buông súng


Cuộc chiến dù đã qua đi nhưng những hình ảnh bạo tàn của nó không dễ gì phai nhòa trong lòng nhiều người, đặc biệt đối với những ai trực tiếp chịu những va đập vào những giây phút cuối cùng trước khi lịch sử Việt Nam lật sang một trang mới.

Cao Xuân Huy: Tôi viết vào khoảng giữa nữa cuối năm 84, lúc mà mới vượt biên qua chừng độ năm bảy tháng gì đó. Bắt đầu viết thì nhà văn Nguyễn Mộng Giác ổng đăng trên tờ báo hàng tuần ở đây, vừa viết xong thì cũng vừa đăng xong rồi thì in luôn thôi, in vào khoảng 85 ông ạ.



Các chiến sĩ VNCH trong một buổi tập trận. Photo courtesy of history.army.mil.

Cao Xuân Huy vừa cho chúng ta biết hoàn cảnh ra đời của “Tháng Ba gãy súng”. Một hoàn cảnh khá bất ngờ đối với hành trình đầy thử thách của một nhà văn, khởi đầu một cách tình cờ và kéo dài vài chục năm sau đó chỉ với sức mạnh thôi thúc nói lên một sự thật, sự thật mà nhiều người muốn biết về cuộc chiến này.

Cao Xuân Huy: Thật sự khi mà cầm bút viết tôi chỉ vì một điều ấm ức rằng là một ông tướng cũ của mình ổng tuyên bố rằng "để mất nước (là) tội chung mọi người, lớn tội lớn, bé tội bé" thì tôi không đồng ý điều đó, tại vì chúng tôi đánh nhau đến viên đạn cuối cùng rồi bị bắt thì không phải là chúng tôi có tội. Tôi tức quá về điều đó, tôi viết ra, mà viết nửa chừng rồi thôi, thế rồi vì ở chung nhà với Nguyễn Mộng Giác, ổng lấy ổng đem đăng, xong rồi hết thì ổng thúc, cứ hết thì ổng thúc, hết thì thúc, thì cứ thế mà viết thôi. Đó là cái khởi đầu của quyển sách.

Còn sinh hoạt về văn chương, những lúc đó thì tôi không có dính tới văn chương, anh ạ. Mãi về sau này, sau khi quyển sách ra xong rồi người ta gọi tôi là nhà văn, xong rồi lại ở chung với ông Giác, với lại Hoàng Khởi Phong, cùng với nhau làm tờ Văn Học. Thế rồi cuối cùng tôi làm tổng thơ ký tờ báo Văn Học, xong rồi cuối cùng mấy năm sau này thì ông Giác giao luôn tờ Văn Học cho tôi và tôi làm chủ biên luôn. Đến bây giờ thì tờ tạp chí Văn Học đã tạm đóng cửa rồi vì lý do sức khỏe của tôi.


Cao Xuân Huy thú nhận ông không phải là nhà văn ngay từ trang đầu của “Tháng Ba gãy súng”, ông viết chỉ vì khao khát và bị thúc đẩy nhằm phản biện lại lời tuyên bố của một ông tướng.

Trong lời tựa ông viết: "Quyển sách này không hề là tiểu thuyết mà là một hồi ký, bởi vì tôi chưa từng là một người cầm bút và tôi cũng không biết cách sắp xếp câu chuyện như thế nào. "Tháng Ba"thì mọi người đã rõ, còn "gãy súng" - tôi muốn nói lên một điều đau lòng cho những thằng lính cầm súng, khẩu súng mà không có đạn thì giá trị không bằng một khúc cũi mục.

Chính tôi đã dẫn đại đội xung phong lên chiếm mục tiêu mà chỉ bắn bằng mồm. Súng của chúng tôi có phải đã bị bẻ gãy không, khi mà vẫn có thể tiếp tế đạn cho chúng tôi để chúng tôi chiến đâu? Ai đã bẻ gãy súng của chúng tôi?

Tôi đặt chữ "gãy súng" cho quyển sách là như vậy. Tôi gọi "Tháng Ba gãy súng" là hồi ký vì tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về những điều tôi viết. Tất cả những địa danh, những tên người, tên đơn vị, tất cả những diễn tiến đều là thật, thật một trăm phần trăm. Tôi không lồng vào đấy bất cứ một hư cấu nhỏ nào. Chắc chắn là tôi đã quên khá nhiều chi tiết. Và với cấp bậc và chức vụ thấp kém của tôi, chắc chắn là có rất nhiều dữ kiện mà tôi đã không được biết."


Hồi ký chứ không phải tiểu thuyết


Tác giả xác nhận không hề có một chút hư cấu nào được ông mang vào tác phẩm. Ông thuật lại những sự việc xảy ra cho ông và đồng đội với tất cả những chi tiết nhỏ nhất. Trong những hoàn cảnh gần kề với cái chết được ông viết lại sinh động đến nỗi khá nhiều độc giả cứ nghĩ đây là những trang tiểu thuyết chiến tranh. Trong một đoạn cuối của lời tựa, ông xác nhận: "Tôi viết lại hoàn toàn sự thật những điều mắt thấy, tai nghe, những điều tôi đã nhận lệnh và đã thi hành.



Hình bìa sách "Tháng Ba Gãy Súng"

Nếu "Tháng Ba gãy súng" là tiểu thuyết thì tôi lại phải thêm một câu màu mè đại khái "những nhân vật và những sự việc đều do sự tưởng tượng của tác giả, mọi sự trùng hợp chỉ là ngẫu nhiên ngoài ý muốn...", trong khi tôi chỉ có một điều ngoài ý muốn là tôi đã không đủ khả năng để viết tất cả những điều tôi phải viết."

Cao Xuân Huy: Không có một hư cấu nào hết, tức là tôi nhớ đến đâu tôi viết đến đó, vì nó là hồi ký thành thử ra không có hư cấu. Và nhân vật trong đó là nhân vật thật hết. Một số nhân vật trong đó hiện giờ còn đang sống ở Mỹ này.

Nơi trang 89, Cao Xuân Huy kể lại một trận đánh được xem là bị buộc phải mở đường máu mà với số lượng binh sĩ hiện diện cùng với tình hình bi đát ở những giây phút cuối của cuộc chiến, ông và đồng đội hiểu rất rõ cái chết đang sát một bên lưng và sự chọn lựa nào cũng đều vô vọng.

Ông viết: "Còn nỗi bi thảm nào hơn tình thế của chúng tôi trong lúc này. Có những người tìm cái sống trong cái chết, ít ra họ còn cái hy vọng tìm thấy cái sống, mặc dù rất nhỏ nhoi, hy vọng nhỏ đến đâu cũng vẫn là hy vọng. Một mảnh ván mục giữa biển cũng là hy vọng. Còn chúng tôi, miếng ván mục cũng không trông thấy. Chúng tôi không thất vọng, chúng tôi không tuyệt vọng, mà chúng tôi vô vọng. Chúng tôi, những thằng thanh niên khỏe mạnh, yêu đời, rất ham sống, đang ngồi mơ được giậm chân tại chỗ này, đánh nhau để rồi chết tại đây cho đỡ mệt chứ không muốn mở đường máu để chết dần chết mòn dọc đường, cuối cùng đến được một chỗ cũng để chết. Cái chết kiểu này quả tình không hứng thú tí nào hết."

Đối với một người lính trong một binh chủng được xem là ưu tú nhất của QLVNCH thì chấp hành lệnh của thượng cấp là điều tất nhiên. Chấp hành bất cứ lúc nào và trong bất cứ hoàn cảnh nào được người ta gọi đó là kỷ luật quân đội. Tuy nhiên, người lính ngao ngán nhận ra họ tuân hành mệnh lệnh của cấp chỉ huy trong khi chính những người ra lệnh cho họ cố thủ, mở đường máu hay tấn công, lại không có mặt tại nơi xảy ra cuộc chiến.

Cao Xuân Huy viết: "Nghĩ đến chuyện phải mở đường máu, phải di chuyển cho mệt rồi cuối cùng cũng chết, nhưng đã có lệnh chuẩn bị tức là sẽ đến lúc thi hành, quả là ngao ngán. Tôi không muốn thi hành cái lệnh này, nhưng tôi lại không thể không thi hành lệnh, vậy thì cách giải quyết tốt nhất để không phải thi hành lệnh là chết trước, chết ngay tại đây, trong lúc này. Tôi không muốn mệt nhọc hơn nữa để kéo dài cái sống thêm được vài tiếng đồng hồ.

Tôi đi một vòng dọc theo tuyến của đại đội để kiểm soát lính tráng. Lần này tôi đi theo đúng nghĩa của tiếng đi, thẳng lưng mà đi. Cứ thẳng lưng như vậy tôi đi trong ánh sáng chập chờn của những trái hỏa châu chiếu đến kéo dài những bóng đen rung rinh của những luồng dương mờ dần rồi đen thui. Trời lại sáng lên, bóng đen của những luồng dương lại rõ nét, ngắn hơn, lại kéo dài ra, mờ dần. Đột nhiên tôi bị hất ngã và không biết gì nữa".


Mở được đường máu chưa phải là kết thúc. Bi kịch chỉ bắt đầu khi tác giả dẫn một toán lính tìm lối thoát vào Nam bằng đường biển. Con tàu duy nhất có thể đón ông và toán lính lại trở thành nơi chiến đấu, chiến đấu giữa những người lính với nhau để giữ mạng sống.

Tại trang 101 ông viết: "Con tàu khá nhỏ, sức chứa tối đa theo tôi ước lượng chỉ có thể chứa được hơn ngàn người, đó là đã kể đến trường hợp nem người như nem cối, vậy mà số người muốn được lên tàu, cũng theo ước lượng của tôi, có đến trên chục ngàn.

Chắc chắn sẽ xảy ra một cuộc thi tuyển bằng bắp thịt và giá phải trả bằng máu, bằng sinh mạng của từng thí sinh để kiếm được một chỗ trên tàu. Một cuộc thi không có trọng tài, không có giám thị, không có hội đồng giám khảo, mà cuộc thi chỉ có những thí sinh là những người đang chạy cho xa Việt cộng, đang liều mạng sống để khỏi rơi vào tay Việt cộng.

Trước những sự thật được tận mắt chứng kiến với đầy đủ những hình ảnh nản lòng, cảm giác của tác giả ra sao về những người mà trước đây ít lâu là cấp chỉ huy, là những người được xem là anh hùng, dày dạn trong chiến đấu? Cao Xuân Huy cho biết ý nghĩ của mình:

Sự thật có một số những sự việc nó xảy ra mà không được đẹp thì nó không phải là chính cái tính chất của nhân vật đó, mà nó ở cái lúc, cái thời gian đó, cái lúc đó phản ứng của người ta như vậy, chứ không phải là lúc nào người ta cũng thế, thành thử ra lỡ lúc đó phải chịu thôi.

Cuốn sách được khép lại ở những đoạn cuối cùng từ trang 163, Cao Xuân Huy kể lại cảnh những người lính thất thểu một đoàn dài khi trở thành tù nhân bị dẫn đi và bị bắn giết như thế nào. Trong đoạn văn này, từng giọt máu như đang rỉ ra theo gót chân của đoàn tù.




Các chiến sĩ VNCH trong một cuộc hành quân. Photo courtesy of wikimedia.

Máu theo chân, máu đổ khắp nơi khi từng viên đạn bắn đi, từng người một ngã xuống, ngã xuống...người còn sống không biết bao giờ thì đến phiên mình, tất cả chờ đợi cái chết đến, chờ đợi trong hãi hùng, trong khủng khiếp: "Lúc nãy ở bờ bên kia phá chúng tôi được nếm mùi cướp bóc thổ phỉ và bây giờ trên con đường đất hai bên là ruộng, là lùm, là bụi này, chúng tôi được thưởng thức món giết người.

Đoàn tù chúng tôi đi thất thểu trên đường, đoành một tiếng, một xác người ngã xuống bờ ruộng, đoành một tiếng, một xác người nữa ngã xuống bờ ruộng. Một người đi ngay bên cạnh tôi bị bắn vào đầu, máu và óc văng dính cả vào người tôi. Trò bắn giết rất kỳ cục và khó hiểu! Những người bị bắn chết và những người không bị bắn hay chưa bị bắn đều không hiểu tại sao bọn Việt cộng lại bắn người này mà không bắn người kia.

Chúng tôi rất hoang mang, nhưng lúc này không có ai phản ứng gì. Mọi người vẫn cứ lầm lũi, thất thểu đi. Đói, khát, mệt mỏi và luộm thuộm lếch thếch, chúng tôi đi, hoang mang không hiểu bao giờ đến lượt mình bị bắn. Số người bị bắn mỗi lúc dĩ nhiên mỗi nhiều hơn. Tất cả lon lá đã được gỡ ra từ sáng khi chúng tôi mới nhận được quần áo mang từ bờ biển vào. Râu ria trên mặt biểu hiệu cho chức cấp -hiểu theo nghĩa Việt cộng- cũng không phải, vì nhiều người để râu, trong đó có cả tôi, không hay chưa bị bắn. Nhiều người râu ria nhẵn nhụi thì đã bị bắn."


Và cuối cùng thì tác giả cùng nhiều đồng đội của ông cũng dừng chân tại một chỗ không ai mong muốn. Tuy nhiên cái chỗ được gọi là trại giam này lại là nơi quyết định sự sống còn của họ: "Chúng tôi bị đưa về căn cứ La Sơn nhốt tạm để sau đó hạ sĩ quan và binh sĩ bị đưa nhốt ở Khe Tre, Nam Đông. Đám sĩ quan chúng tôi bị đưa về cây số 23, gần ngay chỗ ban chỉ huy Tiểu đoàn 4 ít ngày trước, đối diện với làng Đồng Lâm. Khoảng giữa tháng Tư chúng tôi bị đưa về trại tù binh chính thức nằm phía Bắc Khe Sanh, sát biên giới Lào, ở ngay đầu nguồn sông Bến Hải."

Họ đã được phân phối đi tới các trại tù khác nhau. Số phận những người lính này sau đó không ai biết ra sao, nhưng có một điều Cao Xuân Huy tin chắc rằng, ông và đồng đội của ông đã trả đầy đủ bồn phận đối với tổ quốc, và ông cùng đồng đội có quyền hãnh diện, ưỡn ngực và nói to rằng: họ là người lính chiến, đúng nghĩa là lính chiến trong bất cứ thời đại nào...


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Cao Xuân Huy - Mùa Thu Gãy Cánh   Thu Oct 09, 2014 5:50 pm


Cao Xuân Huy - Mùa Thu Gãy Cánh


Thụy Khuê    
   

Nhà Văn Cao Xuân Huy và tác phẩm "Tháng Ba Gãy Súng"

Cao Xuân Huy có người cha đi kháng chiến, để lại vợ con trong thành. Rồi, 1954, ông ngoại bị đấu tố, người cậu cấp bách đem cháu, 7 tuổi, vào Nam. Mẹ ở lại Hà Nội đợi bố. Về, nhưng người cha kháng chiến, gốc tư sản, địa chủ, không thể "can thiệp" cho người mẹ khỏi diện "tự lực cánh sinh" (như đi "kinh tế mới"). Rồi họ chia nhau con cái: mẹ để lại con gái cho bố, vào Nam với con trai. Xa cách, mỗi người lập một gia đình khác, có các con khác. Huy được cậu và bà ngoại nuôi. Như một định mệnh, chuyện nhà Huy trùng hợp với chuyện đất nước, với truyền thuyết Sơn tinh Thủy tinh, với bao gia đình thời chia đôi Nam-Bắc.

Ở Bắc: Người cha làm báo Sáng Tạo


Người cha ở Bắc tham gia Nhân văn Giai phẩm. Thực ra, ông không ở trong Nhân Văn Giai Phẩm, mà ở nhóm Điện ảnh kịch trường, hồi ấy có hai nhóm: Thụy An-Phan Tại và Trần Thịnh-Trần Công. Cao Nhị, cha Huy, trong nhóm thứ nhì.

Họ chủ trương thành lập một hội điện ảnh độc lập. Đả phá phim tuyên truyền của Liên Xô. Đổi mới kịch nghệ và điện ảnh theo đường lối Tân hiện thực Ý, Nhật và đề cao phim Anh, Mỹ. Thụy An, Trần Công, Cao Nhị, Nắng Mai Hồng, Vũ Phạm Từ, Kỳ Nam... viết những bài giới thiệu, phê bình điện ảnh, hoặc tổ chức chiếu lại những phim hay, những kiệt tác tân hiện thực như Miếng cơm cay đắng(Riz amer), Chiếc xe đạp (La bicyclette) của Ý, Rashomon, Những đứa trẻ Hiroshima, Anh gắng nuôi con của Nhật, Hamlet của Anh, v.v...

Người ta thường nhắc đến Nhân Văn và Giai Phẩm, nhưng không mấy ai biết đến Sáng Tạo[1].

Sáng Tạo do Trần Thịnh chủ nhiệm, Cao Nhị thư ký toà soạn. 5/11/1956, Sáng Tạo ra đời, hai hôm trước ngày khai mạc Liên hoan phim Liên Xô.

"Tội trạng" của Sáng Tạo được nêu rõ như sau:

 "Nửa tháng "Liên hoan phim Liên Xô" khai mạc vào ngày 7-11-56, thì đúng ngày 5-11-56, Giai phẩm mùa thu tập III xuất bản, trong đó có đăng bài "Chúng ta gắng nuôi con", hoạt cảnh của Chu Ngọc, đả kích không tiếc lời vào phim Liên Xô. Cùng ngày 5-11-56, báo Sáng Tạo ra số đầu, đã lộ ngay ý định xấu đối với phim Liên Xô.

 Ngày 20/11/56, báo Nhân Văn số 5 lại đăng bài "Mấy bộ phim dở" của Cao Nhị. Cùng ngày ấy báo Sáng Tạo ra số 2, càng đả kích sống sượng hơn nữa vào các phim Liên Xô đang chiếu. (...)

 Những bài như trên phải được đặt bên cạnh bao nhiêu bài khác của Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Trần Dần, v.v… đang nhan nhản lúc bấy giờ ở các số Nhân văn, Giai phẩm thì mới thấy đầy đủ tính chất nguy hiểm của nó" [2]

Cao Nhị, trong bài tự kiểm thảo, cũng "nhận tội":

"Tôi nhận làm thư ký toà soạn báo Sáng Tạo, tờ báo chuyên đả kích phim ảnh Liên Xô và đả kích lãnh đạo trên mặt sân khấu và điện ảnh. Sáng Tạo chỉ ra được hai số rồi chết. Thế nhưng hai số đó cũng gây ra một số tác hại đáng kể với những bài của Trần Công, Nắng Mai Hồng, Phan Vũ, Vũ Phạm Từ, Kỳ Nam, v v ... " [3]

Trong bài kiểm thảo này, Cao Nhị xác nhận trách nhiệm lựa chọn bài vở, viết những bài trên Sáng Tạo và trên các báo Cứu Quốc, Hà Nội Hàng Ngày, Độc Lập... phê phán điện ảnh Liên Xô và tổ chức điện ảnh doanh nghiệp của miền Bắc.

Qua bài "Nửa tháng liên hoan phim Liên Xô: Mấy bộ phim dở" của ông đăng trên Nhân Văn số 5, chúng ta có thể thấy cách ông phê bình một số phim Liên Xô, đang chiếu trong Liên hoan như thế nào. Riêng về nội dung phim Ngai vàng sụp đổ, ông viết:

"Anh đi dẹp giặc, chị ở nhà đợi anh, trong cơn binh lửa, chị mắc tai ương; nhưng đến khi giặc tan, anh chị lại gặp nhau, gia đình đoàn tụ, vui vẻ cả. Nhưng ác một điều, câu chuyện tình đó đã lồng vào nhiều câu chuyện khác: âm mưu thắng đế quốc, dũng khí của nhân dân, tài đánh nhau của bộ đội, lại cả bộ mặt nham hiểm gớm ghiếc thằng địa chủ đi ăn cướp ái tình. Người xem rất kêu về cái đoạn kết dựng lên cái ngai vua rồi đạp nó gục xuống, tượng trưng cho ngai vàng sụp đổ. Nhưng tôi không nói tới diễn xuất hay những màn bố trí giả tạo. Điều quan trọng hơn, là công chúng xem phim rất không hài lòng về cái lối xây dựng phim, xây dựng con người rất vá víu, chắp nối ấy, nó không tài nào đi sâu và thể hiện được đúng hình dáng con người thật. Kinh nghiệm trong các tác phẩm văn nghệ Việt Nam mấy năm nay, kịch hay chuyện nói đến một trăm thứ và đều đá thêm một tí tình cho nó có “yêu đương”. Đó là lối xây dựng công thức không thế làm thoả mãn người xem."

Và đến phim Hai sĩ quan, Cao Nhị cho rằng: "Tịnh không bắt gặp con người thực, một anh đại úy có thực (...) Mặc dầu báo điện ảnh Liên Xô khen: “Hai sĩ quan nói lên một cuộc tình son sắt và dũng cảm…”, tôi chỉ thấy tình yêu đó là giả tạo, vì lẽ giản dị cặp tình nhân đó phải lao vào nhiều tình huống ly kỳ, lằng nhằng, nghĩa là cũng giả tạo nốt. (...)

... mấy bộ phim Liên Xô khác được hoan nghênh trong năm nay như Nữ tài tử dạy hổ hoặc Người yêu phương xa thì thực chất nó như thế nào? Con người trong phim rất nhạt, tình yêu lại càng nhạt hơn. Và cái lối xây dựng chủ đề tình yêu nhẹ nhàng, công thức gán ghép gợi cười cho người xem bằng những trò hiểu lầm nghộ nghĩnh không thể đáp ứng được với những đòi hỏi của người xem có suy nghĩ (...)

Tôi đơn cử ra hai bộ phim Ngai vàng sụp đổ và Hai sĩ quan, không phải để phân tích sâu xa vì nó dở quá, không biểu hiện được gì, ý tôi muốn để chúng ta cùng rút kinh nghiệm trong việc làm kịch bản phim hiện nay". [4]

Với những dòng "phạm thượng" như thế, người cha, sau Nhân Văn, bị cấm sáng tác, nhưng vẫn làm thơ chui, cho mình. Bà chị là người duy nhất thuộc hết thơ em. Khi Huy về thăm cha tại Hà Nội, năm 2002, định in một tập thơ cho bố, nhưng bà bác đã mất vài năm trước rồi.

Trong Nam: Người con đi lính và đi tù


Nhắc lại lời người cha phê bình những tác phẩm điện ảnh của Liên Xô năm 1956 ở miền Bắc, để thấy cái gan Cao Nhị trong bối cảnh toàn trị thời ấy và cũng để hiểu cái gan của người con trong một bối cảnh khác, xung vào Thủy quân lục chiến, một binh chủng dữ dội của miền Nam: hai bối cảnh, cùng một dòng máu, cùng một lá gan.

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1978, người cha Sáng tạo-Nhân văn tìm đến thăm con ở trại cải tạo Thanh Hoá, nhưng không được vào, lại lặn lội trở về, cái ba lô thăm nuôi con cũng không nhận được.

Năm 1979, hai cha con gặp nhau lần đầu tại trại Bình Điền, Huế. Bố nói: "Mày ăn thịt gà đi, thịt gà này chú Phùng Quán làm cho mày đấy". Người con cảm động tưởng mình có họ với chú Phùng Quán, tác giả những câu thơ mà anh đã thuộc lòng từ nhỏ: "Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét; Dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu". Bố hỏi: "Mày ghét Cộng sản lắm hay sao mà đi cái thứ lính ác ôn này?". Con nói: "Ghét thì con không ghét, có thù oán gì đâu, nhưng gặp đâu thì bắn đó". "Thế mày bắn cả bố mày à?"... [5]

Đó là câu chuyện giữa hai cha con năm 1979 mà Cao Xuân Huy thuật lại cho Trần Văn Thủy một đêm họp bạn ở Cali. Sau câu hỏi là những chấm chấm. Hình như con không trả lời. Hình như "bố con nói với nhau vài câu chẳng ra làm sao cả".

Không có trả lời nào cho một câu hỏi như thế. Không có câu hỏi nào, cho một đất nước như thế. Người bố gọi cái thứ lính mà con đi ấy là lính ác ôn. Lính thủy quân lục chiến ngoài Bắc gọi là lính thủy đánh bộ.

Nhưng người cha đã biết gì về thứ lính ác ôn này? Bao nhiêu người ở Bắc đã biết gì về thứ lính thủy đánh bộ này, ngoài hai chữ ác ôn? Bao nhiêu người trong Nam biết gì về thủy quân lục chiến, trừ hình ảnh: dữ dằn, cảm tử.

Xa nước từ 1962, tôi cũng không biết gì về thủy quân lục chiến. Là người chống chiến tranh, tôi nghĩ ai vào thủy quân lục chiến là người thích đánh nhau, hiếu chiến.

Bởi lúc đó chưa có Tháng ba gẫy súng, chưa ai biết Cao Xuân Huy.

Tháng ba gẫy súng


Tháng ba gẫy súng [6] đưa người đọc vào những cạm bẫy không ngờ: Tước đoạt ở họ những thành kiến cố hữu. Làm cho họ mất hẳn "nhân tính", thứ nhân tính từ chương, viết hoa, đạo đức giả của xót thương vô tận, của niềm nhớ khôn nguôi, của ngụy tạo tình cảm, ngụy tạo ngôn ngữ, ngụy tạo "dân tộc, tổ quốc".

Tháng ba gẫy súng đặt họ vào môi trường khốc liệt của những con người không có lựa chọn nào ngoài đường chết, của đám tàn quân thua trận, hết đạn, cấp trên phản bội bỏ họ giữa đường, của đám quân dân hỗn loạn, bạn đồng hành đào ngũ, của những kẻ để tìm đường sống phải giết người, phải dẵm đè lên nhau mà chết, ở một cửa bể, một ngày tháng ba 1975.

Tháng ba gẫy súng, với thứ ngôn ngữ trần trụi của người lính "chưa từng viết văn bao giờ", đã lột trần một thứ nhân tính khác của con người: tham sống, sợ chết, hèn nhát, phản bội, dã man, tàn bạo. Mọi bộ mặt đều bị lột trần trước cửa tử, cái xấu cái tốt không thể giấu được qua lớp son phấn bề ngoài của đạo đức xã hội. Con người lộ hẳn thân thể trần truồng với lục phủ ngũ tạng, như bị giải phẫu bất ngờ, không kịp phòng bị. Ở cái tư thế ấy, ngôn ngữ cũng trần truồng, không che đậy.

Tháng ba gẫy súng là thứ ngôn ngữ tồng ngồng ấy, mà người "có học", mà cấp thượng lưu trí thức, mà những nhà làm văn chương thường gọi một cách khinh bỉ là "ngôn ngữ lính tráng". Vì thứ ngôn ngữ ấy mà nhiều người không muốn, không dám hay chỉ miễn cưỡng gọi Huy là nhà văn, không coi Tháng ba gẫy súnglà tác phẩm văn học, mà chỉ là một cuốn hồi ký chân thật, bởi một tác phẩm văn học thì phải có văn chương, chứ đâu lại câu cú thô tục thế này.

Ở Tháng ba gẫy súng, chửi thề là vai chính. Những câu chủ chốt đều có chửi thề.

Bởi mỗi chửi thề là một thái độ, phản ánh một tình cảm, một nguyện vọng: yêu thương, hắt hủi, oán giận, ăn năn, hối hận, mắng mỏ, sai bảo, dã man, tàn bạo...

"Đụ mẹ, ông về đại đội liền bây giờ!" là mệnh lệnh của ngưòi tiểu đoàn trưởng, mắng mỏ, nhưng khoan hồng, không phạt vì tội ba gai trình diện trễ.

"Đù má, lâu dzậy mảy?". Là sự chờ đợi và vui mừng phía người chửi. Là sự hoàn hồn phía người nghe, kẻ một mình đang đêm tìm về đơn vị, mò mẫm trong rừng đầy địch và mìn... Tiếng chửi chấm dứt nỗi sợ, triệt tiêu viễn ảnh của cái chết. Tiếng chửi là tiếng sống.

"Đụ mẹ, đi đâu về trễ vậy cha nội" tiếng chửi là tiếng mắng yêu của đồng đội.

"Đụ mẹ, không tin thằng nào hết, giấy tờ giả thiếu chó gì. Ông cho tôi biết nó người Bắc hay người Nam", tiếng chửi là tiếng nghi ngờ của chỉ huy, là lệnh khám xét kẻ lạ, một mệnh lệnh phân biệt ta địch: tiếng Bắc là địch, tiếng Nam là ta. Một mệnh lệnh lô-gích nhưng éo le: Huy người Bắc 100%, nếu căn cứ vào giọng Bắc-Nam để phân biệt ta-địch, chuyến này chắc chết!

"Đụ mẹ, mình bị bỏ rơi rồi". Tiếng chửi thề thất vọng gần như vô vọng, tuyệt vọng.

"Đụ mẹ, tao đếm tới ba, không nhẩy xuống biển tao bắn", tiếng chửi thề dã man phi lý của thần chết: kẻ có súng uy hiếp kẻ không súng, một thuỷ quân lục chiến uy hiếp một bộ binh.

Cao Xuân Huy sử dụng tiếng chửi như một ngôn ngữ, ngôn ngữ của sự thật, ngôn ngữ lính tráng, ngôn ngữ thủy quân lục chiến. Tiếng chửi nhấn lời nói mạnh hơn, làm tình cảm sâu đậm hơn: cho yêu thương thương yêu hơn, cho bạo tàn tàn bạo hơn. Tiếng chửi tiềm ẩn nỗi khốc liệt trong tâm cảm nhà văn. Tiếng chửi là tính thủy quân lục chiến trong con người. Tiếng chửi giấu nỗi hoang mang, che sự sợ hãi, ẩn nỗi kinh hoàng của những người phải thường trực xung phong đối đầu với cái chết.

Cao Xuân Huy chỉ dùng tiếng chửi thề, nói tục, cho đồng bạn, đôi khi dùng cả cho người lính địch (trong Vài mẩu chuyện), như để chào đón và trân trọng kẻ cùng thuyền. Không thấy Huy đặt vào miệng những kẻ chỉ huy phản bội một tiếng chửi thề nào.

Tiếng chửi trong Tháng ba gẫy súng là tiếng thoát ra từ con tim, là tiếng cao quý của tình bạn, tình đồng đội, tình người mà những kẻ hèn nhát không được quyền sử dụng. Huy không cho phép họ dùng thứ tiếng cao quý ấy.

Việc chuyển hoá những âm thanh thô tục thành cao quý, không phải ai cũng làm được. Huy làm được bởi anh không nhận mình là nhà văn nên không bị cái bổn phận làm văn chương của bọn nhà văn chi phối. Nhưng việc nói tục không dễ, làm sư hổ mang như Lục Tổ lại càng khó hơn, bởi ăn tục nói tục là con dao hai lưỡi, nếu nội lực không thâm hậu, tất cả sẽ chỉ trần trụi là sự tục tĩu.

Ngôn ngữ trong Tháng ba gẫy súng là ngôn ngữ ngắn, gọn của những người luôn luôn đối diện với cái chết. Sống và biết mình có thể chết bất cứ lúc nào. Thời giờ của họ bị giới hạn. Đích của họ là sống đến ngày mai, sống từ sáng đến tối, từ trưa đến tối, từ giờ này đến giờ khác, từ phút này đến phút khác. Vì vậy họ không thể "mất thì giờ" cho việc nói. Họ phải kiệm lời. Không dài dòng văn tự. Họ là những người lính thủy quân lục chiến, họ là những người luôn luôn sẵng sàng bước vào cửa tử, đùa giỡn với cái chết:

"Em đào sẵn cái hố cho hai thầy trò mình nằm thoải mái. Nếu lỡ có chết chỉ việc lấp cát là êm - Đụ mẹ, trù ẻo mày"

Mắng yêu cái chết: "Đụ má, chết sớm dzậy mày?"

Rủ nhau chết:

"Hồi nãy tụi nó tự tử nhiều quá, hay là mình tự tử luôn đi ông thầy"

Những câu chuyện tiếu lâm như thế trải dài trên con đường triệt thoái về chỗ chết của họ.

Tính chất khôi hài trong tác phẩm như những giọt rượu mạnh, rót vào cổ họng người lính xung phong, cho họ quên sợ, cho máu họ chai đi, họ được bọc thép trước cái chết.

Tinh thần thủy quân lục chiến là tinh thần kỷ luật tuyệt đối, phải đạt mục tiêu cuối cùng bất kể giá nào, dù phải nhận những mệnh lệnh ngu xuẩn nhất, dù cấp trên đã hèn nhát bỏ đi, dù súng đạn đã hết, dù bạn bè đã chết, dù cái chết đang chờ trước mặt.

Họ là người lính của nước cờ đầu và của nước cờ cuối, họ phải đổ bộ ở những nơi nguy hiểm nhất. Họ được giao cho những trách nhiệm chết người: phải mở đường máu. Phải đi đoạn hậu. Phải giữ trật tự khi lính làm loạn...

Nhưng cũng những người lính đó, khi đã mất chỉ huy, họ có thể phạm những tội dã man nhất, tàn bạo nhất.

Cửa biển Thuận An, sáng 26/3/1975:

"Chiếc tàu bắt đầu kéo bửng, những người bám vào bửng tàu được nâng lên cao khỏi mặt nước, một số người may mắn rơi ngay vào trong lòng tàu, số còn lại lần lượt rơi xuống biển

Bửng tàu đã được kéo lên hoàn toàn nhưng không khép kín nổi vì giữa bửng và thành tàu đã kẹp cứng một thân người. Người bị kẹp nửa thân trên nằm trong lòng tàu, nửa thân dưới thò ra ngoài, hai chân giãy giụa, đạp đạp trong không khí được chừng nửa phút rồi ngay đơ. Hai cái chân của người xấu số trở thành có ích cho nhiều người còn ở dưới nước, họ bám vào đó để tiếp tục leo lên tàu. Lúc đầu hai cái chân còn đủ hai ống quần, dần dần chẳng còn gì cả và cuối cùng, cả hai chân đều bị gãy. Nhưng gãy thì gãy, người ta vẫn bám vào đó để leo lên tàu. Ít ra cũng có đến cả chục người leo được lên tàu nhờ cặp chân đó. Và chắc chắn sẽ còn được thêm nhiều người nữa nếu...

Chiếc tàu phụt khói từ từ quay mũi ra biển.

Chân vịt đạp nước đẩy không biết bao nhiêu người ra xa tàu, và không biết là đã chém đứt bao nhiêu người.

Thân tàu quay ngang đập vỡ không biết bao nhiêu đầu người, và không biết đã nhận chìm bao nhiêu người xuống sâu dưới đáy tàu.

Biết bao nhiêu người đã chết vì chiếc tàu quay mũi.

Nhưng...

Chiếc tàu đã không ngừng quay khi cái mũi đã hướng ra biển. Mà, chiếc tàu vẫn tiếp tục quay, mũi tàu lại từ từ hướng vào bờ.

Chân vịt lại chém thêm không biết là bao nhiêu người.

Thân tàu lại đập vỡ thêm không biết là bao nhiêu cái đầu, và lại nhận chìmthêm không biết là bao nhiêu người xuống sâu dưới đáy tàu.

Tại sao chiếc tàu bỗng dưng quay đúng một vòng tròn để làm chết biết bao nhiêu là người như vậy?

Ðã có những xác chết trôi nổi dập dềnh xen lẫn với những xác sống đang cố bơi ra tàu hoặc đang cố giữ cho mình không trở thành xác chết.

Chiếc tàu lại nằm im như đang mời gọi.

Chúng tôi ở cách xa vùng mặt trận có đến nửa cây số, tiếng súng chỉ nghe văng vẳng, nhưng chết chóc lại nhiều hơn có đến cả trăm lần.

Ủa, tại sao lại có người từ trên tàu nhảy xuống biển, không lẽ mắt tôi đã hoa lên vì rượu. Không phải một người, hai người mà là rất nhiều. Rõ ràng là mắt tôi trông thấy người ta leo qua lan can tàu, có người còn ngần ngừ, có người không ngần ngừ nhảy xuống biển. Lại có người lao mình qua lan can tàu để nhảy xuống biển.

Không tin nổi ở mắt mình mặc dầu tôi đã dụi mắt thật nhiều lần. Tôi hỏi Sĩ:

"Mày có thấy người ta nhảy từ trên tàu xuống biển không?"

Sĩ cũng ngạc nhiên không kém tôi.

"Ðụ mẹ, kỳ quá mày!"

Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, nhưng chúng tôi không có thời giờ để ngạc nhiên. Hai chiếc M-113 chở đầy người chạy từ hướng mặt trận đã cán bừa lên những người vừa từ biển lên còn đang nằm vật ra mà thở, và cán luôn cả những người không kịp chạy tránh đường.
Vừa thấy bóng thiếu úy Ngô Du - một trung đội trưởng của đại đội tôi - từ dưới biển trở lên, đang lảo đảo như muốn ngã gần mé nước, tôi và Sĩ chạy vọt tới đỡ và kéo Du chạy thật nhanh vừa kịp chiếc M-113 chạy lướt qua sát người chúng tôi.

Hai chiếc M-113 lội xuống nước để ra chiếc tàu.

Những cái bánh xích đua nhau cán lên đầu của không biết bao nhiêu là người đang nhấp nhô từ bờ ra đến tàu.

Ra đến nơi, chuyển hết người lên tàu xong, hai chiếc xe lội nước quay đầu lội vào bờ. Lại không biết bao nhiêu là đầu người bị nghiền nát bởi những cái bánh xích.
Vào đến bờ, hai chiếc M-113 ngừng lại. Từ vị trí tài xế, một cái đầu thò ra, nhìn quanh rồi la lớn.

"Ai muốn lên tàu thì leo lên tôi chở ra."

Lúc đầu nhiều người ngần ngại, nghi ngờ, nhưng rồi lác đác cũng có người leo lên. Có đến cả 15 phút mà hai chiếc M-113 vẫn chưa đầy người.

Cái đầu lại thò ra, nhìn quanh rồi la lớn.

"Leo lên gấp đi mấy cha, tôi ra chuyến này không trở vô nữa đâu."

Lại có thêm vài người leo lên.

Tôi phân vân trong sự chọn lựa. Nên hay không nên leo lên. Tôi hỏi Sĩ:

"Lên không mày?"

Sĩ lắc đầu:

"Tao không muốn chạy thoát bằng cái chết của những người đang lóp ngóp dưới kia."

Câu nói của Sĩ đã cho tôi một quyết định:

"Mẹ kiếp, có mày có tao hay không có mày không có tao thì những người đang lóp ngóp dưới kia cũng sẽ bị những cái xích sắt này cán. Ðừng có triết lý ba xu thằng con trai."

Sĩ cười bướng:

"Tao có nói khác gì mày đâu, nhưng tao không."

"Ðược rồi, phụ tao đưa thằng Du lên."

Sĩ và tôi đưa thiếu úy Du lên thiết vận xa. Trước khi leo lên, tôi nắm chặt vai Sĩ:
"Hy vọng sẽ gặp mày ở Ðà Nẵng."

Sĩ nhìn tôi cười:

"Ðụ mẹ, đồ cải lương, cút mẹ mày đi thằng con trai."

Hai chiếc M-113 lại lội nước ra tàu.

Lần này tôi mục kích tận mắt những cái xích sắt nghiến nát những đầu người. Tiếng máy nổ và tiếng nước vỗ đã át đi những tiếng thét tiếng la và có thể, cả tiếng vỡ của những cái đầu, nhưng không có gì có thể che lấp được những mảnh quần áo và mầu đỏ của máu cuộn theo chiều quay của xích sắt. Màu đỏ của máu và những mảnh vải cuộn theo chúng tôi suốt cả lộ trình khoảng một trăm thước. Màu đỏ của máu và những mảnh quần áo chắc chắn còn dính cả thịt còn trồi lên, trồi lên xen lẫn với bọt nước phía sau chúng tôi. Không hiểu tôi có dã man không, không hiểu tôi có chai đá không, không hiểu tôi đã trở thành súc vật chưa, hay vì tôi đã nhìn thấy quá nhiều cái chết từ sáng đến giờ, hay vì tôi đã yên tâm trên đường ra tàu an toàn mà tôi rất thản nhiên, lòng tôi rất bình thản khi nhìn những cái chết, quá nhiều cái chết ngay dưới chỗ mình ngồi, bị chết bằng ngay cái phương tiện mình đang sử dụng. Tôi nhìn những cái chết như một kẻ bàng quan, vô thưởng vô phạt" (trang 114- 119).

 
Cảnh này, đã được trực tiếp đưa lên các kênh truyền hình thế giới những ngày cuối tháng ba: Một con tàu đầy người, những thân người cố gắng trèo lên và những thân người rơi xuống biển.

Một người viết hồi ký sẽ kể rõ hơn rằng: "Chiếc tàu dành riêng bốc thủy quân lục chiến, bị bộ binh và thường dân chen nhau trèo lên. Lính thuỷ quân lục chiến dùng võ lực bắt họ nhẩy xuống biển". Lời thuật có tính thông tin, không gây một cảm xúc gì.

Đọc Tháng ba gẫy súng, hiện cảnh bày ra hãi hùng với những chủ thể can phạm:

Trước hết là cái bửng tàu. Cái bửng tàu kẹp cứng một thân người, bản dạo đầu của tội ác.

Kế đến hai chân của người bị kẹp, hai chân người chết tức khắc trở thành một vật, khiến cho cả chục người leo được lên tàu nhờ cặp chân đó. Người sống đã mất hết "nhận định", mất hết "nhân tính", chỉ còn nghĩ đến "nhân mạng" của mình.

Tiếp đến là cái chân vịt, và cái thân tàu. Rõ ràng là chiếc tàu có nhiệm vụ cứu người, nhưng cái chân vịt của nó đã cắt đứt bao nhiêu thân người và cái thân tàu đã cán bao nhiêu mạng và nhận chìm bao nhiêu mạng nữa xuống biển.

Rồi hai chiếc thiết giáp chở lính thủy quân lục chiến ra tàu, chúng có nhiệm vụ cứu người, nhưng những xích sắt của chúng nghiền nát bao nhiêu đầu người...

Sự kinh hoàng đến từ sự kiện: Những kẻ sát nhân ở đây không phải là người mà là vật: Bửng tàu, chân vịt, thân tàu, xe tăng. Tất cả đều bị đảo lộn. Vật trở thành người. Và người trở thành vật: Tôi nhìn những cái chết như một kẻ bàng quan.

Nhưng vô cảm vẫn chưa phải là tội ác, mới chỉ là bản dạo đầu của tội ác.

Nội dung tội ác đến sau:

"Người trên tàu phần lớn là Thủy Quân Lục Chiến (...)

Chưa kịp tìm chỗ ngồi, tôi nghe một tiếng súng nổ.

Hai người lính Thủy Quân Lục Chiến cúi xuống khiêng xác một người lính Bộ Binh vừa bị bắn chết ném xuống biển. Một người lính Thủy Quân Lục Chiến khác đang gí súng vào đầu một trung úy Bộ Binh ra lệnh:

"Ðụ mẹ, có xuống không?"

"Tôi lạy anh, anh cho tôi đi theo với."

"Ðụ mẹ, tao đếm tới ba, không nhảy xuống biển tao bắn."

"Tôi lạy anh mà, tôi đâu có gia đình ở ngoài này."

"Ðụ mẹ, một."

"Tôi lạy anh mà, anh đừng bắt tôi ở lại, anh muốn lạy bao nhiêu cái tôi cũng lạy hết.

Tôi lạy anh, tôi lạy anh."

"Ðụ mẹ, hai."

"Trời đất, mình đồng đội với nhau mà, anh không thương gì tôi hết. Tôi lạy anh mà."

"Ðụ mẹ, ba."

Tiếng ba vừa dứt, tiếng súng nổ.

Người trung úy Bộ Binh ngã bật ngửa ra, mặt còn giữ nguyên nét kinh hoàng. Viên đạn M-16 chui vào từ đỉnh đầu. Xác của anh ta được hai người lính Thủy Quân Lục Chiến khác khiêng ném xuống biển.

Tên lính vừa bắn người thản nhiên tiếp tục chĩa súng vào đầu một thiếu tá Bộ Binh đang sợ hãi nằm mọp người ở cạnh đó, mặt lạnh băng đầy sát khí:

"Ðụ mẹ, tới thằng này, mày có xuống không?"

Ông thiếu tá Bộ Binh này hơi lớn tuổi, mặt cắt không còn hột máu, run lên cầm cập, năn nỉ:

"Anh tha cho em, anh tha cho em."

"Ðụ mẹ, một."

"Thôi, thôi, thôi anh để em xuống."

Lết ra tới lan can tàu, ông ta quay lại năn nỉ lần chót:

"Anh tha cho em, anh thương em với."

"Ðụ mẹ, hai."

Biết là không thể năn nỉ, xin xỏ gì được, ông ta vừa khóc vừa nhảy xuống biển. (Trang 120-122).

"Chiếc tàu dành riêng đón thủy quân lục chiến, vì vậy lính thủy quân lục chiến dí súng vào đầu lính bộ binh bắt buộc họ phải rời tàu, nhảy xuống biển". Một người viết hồi ký sẽ ghi như vậy.

Và như vậy là đúng với sự thật, đúng luật, đúng những gì khán giả được xem trực tiếp trên truyền hình rồi, còn nói gì được nữa?

Nhưng với những "đụ mẹ, một; đụ mẹ, hai; đụ mẹ, ba" Cao Xuân Huy đã xoay trở tình thế, đã đổi trắng thành đen, đã đảo luật thành vô luật, đảo luật thành tội ác, bất nhân, đã tạo sự phi lý phi thường.

Mấy ai có khả năng đạt được "công tác" ấy với vài ba dòng chữ?

Cách xoay trở tình thế như thế đã khiến Tháng ba gẫy súng trở thánh tác phẩm chống chiến tranh mãnh liệt nhất mà văn học Việt nam có được trong nửa thể kỷ vừa qua. Chỉ với hoạt cảnh kinh hoàng ở cửa Thuận một sáng tháng ba, Huy đã khắc cái án tử hình lên mặt chiến tranh, trên đầu những người bị nghiền nát vì xích xe tăng, vì cái bửng, vì cái chân vịt của con tàu "cứu người" trên mặt biển.

***

Tại sao một người có nụ cười hiền như Huy, ăn nói nhẹ nhàng như Huy và ẩn trong một thân thể cường tráng, một bộ râu hùm, là cái e thẹn gần như rụt rè của một người con gái, như Huy, lại xung vào Thủy quân lục chiến?

Bởi vì người cha. Huy có dòng máu Nhân Văn trong người. Dòng máu chạy trong tĩnh mạch, có da che đậy, người ngoài không nhìn thấy. Chính cái dòng máu ấy, đã chi phối đời Huy, một đời chống chiến tranh, nhưng không trốn được đi lính. Một đời thanh niên xuống đường, chống chính trị, nhưng phải xông vào cuộc chiến, do bọn người chính trị hai miền gây ra.

 Đã phải đi lính, thì chọn ngành nào đích thực là lính. Thế thôi. Chứ có thù hận gì. Chọn Thủy quân lục chiến vì là thứ lính đánh trận tới nơi tới chốn. Vì thế Huy không trả được lời cha: Thế mày bắn cả bố mày à? Mà có thì cũng sẽ là: Bắn chứ, trận địa mù mịt biết ai là ai?

Điều Huy biết chắc: đã đi lính thì phải chiến đấu như một người lính, đến lệnh cuối cùng. Huy không bỏ cuộc. Trận Cửa Việt 1972, đánh đến đúng giờ ngừng bắn, dù đồng đội đã chết gần hết. Mang nạng gỗ về Sài gòn. 1975, đang nghỉ phép, dù người cậu biết rõ tình thế, khuyên cháu nên đào ngũ, ở lại Sàigòn. Huy vẫn ra Quảng Trị. Bởi không thể để "chúng nó" xoay sở một mình. Ăn nói làm sao với "chúng nó" khi gặp lại nhau.

Người ta tin Huy nói thật, vì người ta thấy Huy đã sống như thế nào: Ở hải ngoại, Huy làm báo Văn Học, làm với tinh thần ba gai thủy quân lục chiến. Nguyễn Mộng Giác có lần than phiền: "Cái thằng! Bài nào không ưng là nó bỏ sọt rác!". Hẳn là bài của những "chức sắc" trong làng văn mà ông chủ bút không thể từ chối. Huy tổng thư ký bèn quyết định dùm anh Giác. Bởi Huy chẳng sợ ai.

Thủy quân lục chiến với văn học thì có gì chung nhau đâu? Có. Chung nhau một sự dọc ngang nào biết trên đầu có ai, và một sự không bỏ cuộc, dù thế nào đi nữa.

Nhà văn đích thực không sợ ai, càng không sợ sự danh tiếng.

Nhà văn đích thực không bỏ cuộc giữa đường. Người bỏ cuộc là người amateur, người tài tử. Nhà văn đích thực viết tới lúc chết. Huy viết ít, nhưng viết tới lúc chết.

Huy làm tờ Văn Học tới lúc mọi người đã bỏ cuộc, độc giả bỏ báo, vẫn làm. Ung thư mắt, vẫn làm. Chỉ đến khi vừa bệnh, vừa thất nghiệp, Huy mới nghỉ. Nghỉ một năm thì chết: Huy làm báo Văn Học với tinh thần thủy quân lục chiến. Làm tới chết.

Người ta tin Huy nói thật, vì người thấy Huy chết như thế nào: Vẫn nụ cười hiền rất trẻ, không thể gọi Huy là ông, dù Huy đã hơn sáu mươi. Bệnh đã đại thắng, Huy phải lui dần, nhưng vẫn chống cự: Râu hùm chỉ còn lác đác. Vai năm tấc rộng thân mười thước cao đã co lại, nhẹ hẫng. Từ Hải không ngồi dậy được nữa, không ăn được nữa, không uống được nữa, không ngủ được nữa, nhưng đôi mắt vẫn sáng lên khi nghe bạn kể chuyện văn học, vẫn cười khi nghe bạn pha trò. Minh âu yếm hỏi chồng: Anh uống tý sữa nhá. Huy gật. Minh phân bua: có bạn vui mới gật, thường thì chỉ lắc đầu. Nhìn Minh, biết là Huy có Phúc.

Huy không ký được nữa, nhưng vẫn dặn vợ tặng bạn cuốn sách cuối cùng, vừa in xong cách đây vài tháng. Với tính khiêm nhượng cố hữu, Huy đặt tên nó làVài mẩu chuyện. Chuyện chứ không phải truyện. Đến chết vẫn không chịu nhận mình là nhà văn. Huy chết như một người thủy quân lục chiến.

Khiêm nhượng vì Huy gọi Tháng ba gẫy súng là hồi ký, và cứ nhất quyết chỉ là hồi ký.

Ai cũng có thể viết hồi ký. Sang, hèn, có tài, bất tài, đều có thể viết hồi ký. Nhưng không phải ai cũng viết được tiểu thuyết, chỉ nhà văn mới viết được tiểu thuyết. Không phải cuốn hồi ký nào cũng trở thành tiểu thuyết. Một cuốn hồi ký đạt được tầm cỡ nào đó, mới trở thành tiểu thuyết: tức là khi những cá nhân trong tác phẩm đã nhẩy ra khỏi vị trí riêng tư của mình để trở thành nhân vật mà nhiều người có thể nhìn soi mình trong đó. Cái tôi trong hồi ký là cái tôi riêng của một người tên A, sinh năm X, tại tỉnh Y, kể lại chuyện mình và chuyện  người khác trong những quan hệ cá nhân, có tính chất kê khai, tài liệu. Cái tôi trong hồi ký là cái tôi cá nhân, cái tôi xác định.

Cái tôi trong tiểu thuyết là cái tôi bất định của một nhân vật nào đó trong xã hội loài người. Cái tôi trong Tháng ba gẫy súng đã thoát khỏi cá nhân Cao Xuân Huy, trung uý, đại đội phó đại đội 4, tiểu đoàn 4 Kình ngư, thuộc lữ đoàn 1 thủy quân lục chiến, để trở thành một người lính thuỷ quân lục chiến, rồi một người lính, rồi một con người.

Tác phẩm Tháng ba gẫy súng sẽ tồn tại như lịch sử môt người lính bại trận trong những ngày cuối cùng của một trận chiến, không biết ở đâu.

Câu chuyện của cá nhân Cao Xuân Huy trong hồi ký đã trở thành tiểu thuyết vì sự thật và hư cấu trùng hợp đến xương tủy, nó chấm dứt là câu chuyện của một người để trở thành câu chuyện của muôn người, nó trở thành phổ quát.

Vài mẩu chuyện


Hai mươi nhăm năm sau Tháng ba gẫy súng, Vài mẩu chuyện [7] ra đời.Tháng ba gẫy súng in chữ to, 177 trang, chữ nhỏ chắc chỉ được độ 120 trang. Vài mẩu chuyện, 80 trang chữ nhỏ. Là bởi Huy lười. Lười nhưng thấu suốt mọi lẽ: viết nhiều mà làm gì! Nhà văn lớn đến thế nào, rồi thì cũng chỉ được ký ức văn học giữ lại một vài cuốn là cùng.

Cao Xuân Huy đã lựa trước những dòng đáng đọc nhất của mình. Và cũng lại vẫn khiêm tốn đặt tên nó là Vài mẩu chuyện, để gián tiếp không nhận mình là nhà văn. Nhà văn viết truyện, còn Huy kể chuyện. Nhưng lần này, chuyện của Huy cũng lại bị trở thành truyện, tức là tác phẩm văn học. Mười truyện ngắn: Miếng ăn, Người muôn năm cũ, Quyền tối thiểu, Cái lưỡi câu, Ngu như lợn, Vải bao cát, Hành phương nam, Chờ tôi với, Mai thảo, Trả lại tiền.

Vài mẩu chuyện trả Huy lại với đời thường.

Đời cải tạo: miếng ăn, quyền tối thiểu, cái lưỡi câu, ngu như lợn,

Đời nhìn lại chiến tranh: người muôn năm cũ, hành phương nam, chờ tôi với.

Đời làm văn, làm báo: Mai thảo.

Đời sống: trả lại tiền.

Vài mẩu chuyện khép lại quỹ đạo chiến tranh để "nối vòng tay lớn".

Vài mẩu chuyện đằm hơn Tháng ba gẫy súng, những cơn đau nhẹ hơn nhưng tiến sâu hơn, như giữa hai đợt tấn công, cơ thể ung thư được hưởng vài giờ hưu chiến. Huy đã gặp Thạch Lam trong lối viết nhẹ nhàng mà đứt ruột. Mỗi truyện ngắn như một sợi tóc vướng trong hệ thần kinh của con người đã trải qua kinh nghiệm chiến trường hãi hùng như thế, không thể nào kéo nó ra được. Ở những người lính Mỹ không biết viết văn, đã có hội chứng Việt Nam.

Miếng ăn, quyền tối thiểu, cái lưỡi câu, ngu như lợn, mỗi truyện dàn dựng như một bi kịch mà tính bi đát đi đoạn hậu. Phải đọc đến câu cuối mới thấy kinh hoàng. Huy không dùng bất cứ một hình ảnh ghê rợn nào, đôi khi còn đùa cợt nữa, nhưng cái kinh hoàng khám phá ở đoạn cuối bao giờ cũng là bản chất của con người.

Ở những hồi ký viết về trại cải tạo, cái "ác ôn" thường được chĩa vào "quản giáo", cái ngu si đần độn thường được chĩa vào "cán ngố", tạo sự căm thù và đôi khi bật ra những nụ cười khả ố.

Ở Cao Xuân Huy, dù "cái đói, cái thèm, đeo đẳng hành hạ con người hết ngày này tháng nọ, năm nào, ngày nào, tháng nào,giờ nào, cái đói cũng bám chặt lấy dạ dày, cái thèm lúc nào cũng bám chặt lấy đầu óc", thì cái "ác ôn" vẫn không chiếu vào cán bộ, mà chiếu vào "anh em", vào những kẻ được tiếp tế mừa mứa, ăn thừa đổ đi, trong khi người bạn nằm cạnh đắp chăn chặn đói (Miếng ăn).Nội soi bao giờ cũng nguy hiểm hơn ngoại cảnh. Huy đã chiếu cái "ác ôn" vào bản chất con người, không chiếu vào "địch". Trong những năm tù, thế nào Huy chẳng gặp quản giáo ác ôn, nhưng Huy khác người vì sự lựa chọn đó.

Vì vậy những mẩu chuyện của anh thoát khỏi vòng hồi ký, thoát khỏi một câu chuyện, đề trở thành truyện ngắn, thành một tác phẩm nhân bản, giải giới cho những thù hận thường tình. Sự lựa chọn của Huy dường như không do một toan tính văn học. Tự bẩm sinh con người Huy như thế.

Vải bao cát và quyền tối thiếu là hai trường hợp phi thường của người tù cải tạo thèm sex đến cực độ mà lại từ chối sex. Ở quyền tối thiểu, người tù được hưởng "ân huệ" chăn chiếu với vợ khi người vợ đến thăm nuôi, nhưng Toàn đã từ chối "ân huệ" này: Việc vợ chồng là chuyện tự nhiên, là quyền tối thượng của con người. Khi được ban phát như một ân huệ, nó trở thành không thể chấp nhận được. Thành nhịn. Nhịn để giữ trọn tiết khí. Giữ trọn quyền sống tối thiểu của con người.

Ở vải bao cát, một trường hợp lạ lùng khác: Một ngày trong trại cải tạo, người ta tải vào một thiếu nữ bị trúng mảnh đạn M-79 khi đang cuốc đất. Bao nhiêu dồn nén sinh lý lâu ngày trồi lên xục xạo thân thể người tù trẻ, chưa vợ, Toàn trả cho một bạn tù bữa cơm sáng để mua cái việc được cầm đèn và cởi quần áo cô gái trúng đạn cho bác sĩ giải phẫu.

"Toàn háo hức đắm chìm theo những tưởng tượng...

Bất ngờ, hai mắt đang hau háu chợt dịu lại.

Lúng túng.

Hai tay đang tụt quần cô gái chợt khựng lại.

Ngập ngừng.

"Làm gì mà đứng nghệt ra vậy?"

Toàn như không nghe tiếng bác sĩ Thông, vẫn đứng trơ ra, mắt như dán vào mảnh vải che phần dưới thân thể cô gái.

Đờ đẫn.

Thẫn thờ.

Mắt Toàn như dại đi.

Trong đầu, chập chùng những hình ảnh. Giao thông hào, lô cốt, hầm chữ A, hầm chữ T. Tiếng bom, tiếng mìn, tiếng lựu đạn, không giật, sơn pháo. Những đợt tấn công, phản công. Những xác người, xác ta, xác địch, xác bạn, xác dân. "(Trang 58-59)

Lỗi tại chiếc quần lót. Chiếc quần lót của người con gái làm bằng vải bao cát. Vải bao cát xuất hiện trên khắp các mặt trận, hồi ấy, nhưng tại sao nó còn sót ở đây, trên thân thể này? Chiến tranh đã chấm dứt rồi mà. Hoà bình đã lập lại rồi mà. Nhưng hoà bình không thể lập lại. Lỡ giết nhau rồi. Lỡ tan xác rồi. Làm sao "lập lại" được?

Toàn lẩm bẩm với người con gái như một ăn năn, như nói với chính mình:

"Chiến tranh đã qua lâu rồi mà, mọi chuyện rồi sẽ phải qua đi... đừng sợ "(trang 60)

 Một "chiều đông", ba người lính thuỷ quân lục chiến, trên đường hành quân, dừng chân trên phá Tam Giang, bên một "quán nhậu dã chiến" bên đường. Người thứ nhất đọc Hồ trường và thơ Quang Dũng. Người thứ hai nghe. Người thứ ba đọc Hành phương nam[8] tuy hướng của họ là phương bắc, chiếm lại những mảnh đất vừa bị mất. Người thứ nhất cãi: đâu phải thơ Nguyễn Bính. Đang cãi nhau sôi nổi, họ bị gọi lên đường hành quân...

Một chiều xuân, trên nghiã địa Sàigòn, người thứ ba, mang nạng gỗ, một mình ngược hướng xuôi nam, đốt bài Hành phương nam dưới đề rõ tên tác giả Nguyễn Bính trên mộ bạn, như muốn nói nhỏ: của Nguyễn Bính thật, tao đâu có nói dối mày.

Hành phương nam của Nguyễn Bính là bài thơ.

Hành phương nam của Cao Xuân Huy không phải là một bài phê bình, nhưng lại toát ra cái gì sâu sắc, đòi đoạn, không tìm thấy ở những bài phê bình thơ Nguyễn Bính. Dường như nó (tức là bài Hành phương nam của Huy) hiểu Nguyễn Bính hơn ai hết, nó từ thơ Nguyễn Bính, đưa người đọc vào không gian những người lính đã thoát khỏi vòng thủy quân lục chiến để trở thành tráng sĩ. Nó tạo ra một trận địa mới, một lối chết mới: chết với thơ, chết trong thơ. Nó vinh thăng một tình bạn không chết theo cái chết.

Mai Thảo như cây cổ thụ giữa đám lau sậy. Như ông vua có quần thần hộ tống. Đàn em, ai chả muốn được làm quen với Mai Thảo. Vậy mà Huy không. Không chào. Nhất định không chào Mai Thảo. Một hôm Mai Thảo ngồi với đám thương nhân giàu có đang rôm rả khoe thành tích. Mai Thảo thần mặt ra. Huy lại gần nói nhỏ vào tai: anh muốn về không em đưa anh về. Mai Thảo ừ ngay lập tức.

Bài mai thảo là một chân dung văn học, chân dung Mai Thảo, nhưng Huy cũng lại biến Mai Thảo thành mai thảo một hình tượng văn chương, và chính Huy trở thành một hình tượng khác của văn chương: một cây xanh bên cây cổ thụ.

Chỉ ở một lời: anh có về không em đưa anh về, đã bao cảm thông, đã bao trìu mến, đã xoá bao cách biệt, đã dẹp bao hào quang, để thấy tình người.

Trả lại tiền là một truyện độc đáo: ngắn, gọn, chỉ có ba nhân vật: một gã lính ngụy vừa được thả. Một gã dân phòng và một ả điếm. Đối thoại cộc lốc. Cả câu lẫn chữ đều ngắn đến cực điểm. Mặc cả:

"Nhiêu?

Hai chục

Không có đủ

Dzậy có nhiêu?"

Tác giả gói tròn mối tương quan giữa ba nhân vật, ba cõi đời, trong một thoáng ngôn ngữ, một nhoáng thời gian: Gã dân phòng, đáng lý bắt kẻ phạm pháp, nhưng khi biết là lính ngụy, lại diụ giọng: Phải kiếm chỗ kín kín một chút chớ. Rồi hỏi: "Nó lấy cha nhiêu?"

Ả điếm, lợi dụng kẻ lạ không biết giá, lấy cao kiếm lời.

Gã dân phòng quát chị đàn bà: "Trả tiền lại cho người ta". Rồi đi.

Gã lính ngụy không nỡ ăn quỵt, trả tiền lại cho chị điếm.

Chị điếm hối hận cũng không lấy tiền "Thôi giữ lấy xài đi".

 Bi kịch xây dựng trên tình người, nhưng với lối viết thật ngắn tác giả đã vót nhọn tình thương khiến nó trở thành dấm dẳn, thô bạo, thoát khỏi vòng nhân ái cổ điển, tạo ra một thứ tình người thô nháp như đá, khó nhận diện được.

***

Với Vài mẩu chuyện, Huy đã tha thứ cho mình, cho người. Huy đã trả lời câu hỏi cha: Mày bắn cả bố mày à? Không con không bắn. Bởi cuối cùng hai cha con đều chết, như người lính thủy quân lục chiến và người bộ đội (trong Chờ tôi với) cùng quê Hà nội, gặp nhau sáng 28 tháng giêng 1973, trao đổi với nhau vài mẩu chuyện rồi cùng chết vì những tiếng súng cuối cùng của cuộc đình chiến.

Dường như Huy trước khi chết đã tìm ra chân lý: sự đánh nhau trong cuộc chiến không giết nổi con người. Sự hành hạ nhau trong trại tù không giết nổi con người. Chỉ tạo ra những xác người mà phần tinh túy nhất vẫn còn đọng lại ở một nơi nào khác: phần của yêu thương, của tha thứ, của nhìn nhau, của nhận nhau.

Việc đời trùng điệp phơi bày trước mắt. Nhà văn không thể viết hết mà phải lựa chọn sự kiện nào, yếu tố nào nên đưa vào tác phẩm. Giống như công việc của nhà nghiên cứu, tài liệu đầy tay, nhưng phải chọn dữ kiện nào có thể sử dụng. Giống như công việc của một con người, phải lựa chọn một đạo sống nào cho mình. Chính sự lựa chọn ấy làm nên con người, làm nên tác phẩm. Làm nên Cao Xuân Huy. Làm nên Tháng ba gẫy súng. Làm nên Vài mẩu chuyện.

Huy có thể yên tâm ra đi. Huy đã nối vòng tay lớn với cõi sống và cõi chết. Bảo đảm với Minh và các cháu hai tác phẩm của Huy sẽ trụ lại. Rất lâu, không biết đến bao giờ. Bao giờ hết chiến tranh...

Thụy Khuê
Paris 24/11/2010

 
Vài dòng tiểu sử:
Cao Xuân Huy sinh ngày 14/7/1947 tại Bắc Ninh, mất ngày 12/11/2010 tại Lake Forest, Nam Cali, Hoa Kỳ. Vợ: Đỗ Thị Minh. Con: Cao Nguyên Chúc Dung, Cao Nguyên Xuân Dung. Nhập ngũ tháng 2/1968. Thuỷ quân lục chiến. Cấp bậc trung úy. Tháng ba 1975 bị bắt. Đi học tập cải tạo đến tháng 9/1979 được thả. 12/1982 vượt biển. 10/1983 tới Hoa Kỳ.

Tháng 6/1985, in Tháng ba gẫy súng.

11/1989 - 6/1992, Tổng thư ký tạp chí Văn Học.

4/1993 - 10/1994, Tổng thư ký tạp chí Văn Học.

9/2004 - 2/2008, Chủ biên tạp chí Văn Học.

Tháng 7/2010, in Vài mẩu chuyện.

[1] Nhờ bài Đi tìm dấu tích tờ báo Sáng Tạo (Hà Nội, 1956) của Lại Nguyên Ân (công bố trên Talawas ngày 3/2/2010) mà hoạt động của Sáng Tạo được sáng tỏ. Sáng Tạo ra được hai số: Số 1 (5/11/1956) và số 2 (20/11/1956) thì bị đình bản. Hiện nay chưa tìm lại được vết tích 2 số báo này.

[2] Trần Đức Hinh, "Tẩy sạch nọc độc của chủ nghĩa xét lại trong việc giới thiệu, phê bình phim ảnh", Điện Ảnh số 14, ngày 1/5/58 (tài liệu Lại Nguyên Ân).

[3] Cao Nhị, "Tôi đã mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng trong việc giới thiệu phê bình phim ảnh" Điện Ảnh số 15 ra ngày 15/5/1958, (tài liệu Lại Nguyên Ân).

[4] Cao Nhị, "Nửa tháng liên hoan phim Liên Xô: Mấy bộ phim dở" Nhân Văn số 5, ra ngày 20/11/1956, tài liệu Talawas.)

[5] Cao Xuân Huy nói chuyện với Trần Văn Thủy, Nếu đi hết biển, Thời Văn 2004, trang 62.

[6] Viết năm 1984, in dần trên báo. 1985, xuất bản lần đầu. Tái bản nhiều lần. Bản điện tử lưu trữ trên tủ sách Talawas.

[7] Tạp chí Văn học, Cali, 2010

[8] Hồ trường, thơ Nguyễn Bá Trác. Hành phương nam, thơ Nguyễn Bính.
 
 
Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Cao Xuân Huy - Mùa Thu Gãy Cánh   Fri Oct 10, 2014 1:56 pm




Hỏi Huy, Sao Chết Tháng Này

                               
Huy ơi

Tại sao Huy chết tháng này
tháng này không phải tháng ba,
cũng chẳng phải tháng tư,
tại sao Huy chết

Tháng này là tháng mười một
tháng của mùa thu
của những điều nhẹ nhàng thơ mộng
ai có buồn ai
cũng buồn nỗi dịu dàng

Tháng này không phải tháng của Huy
tại sao Huy chết

Tại sao Huy lại rơi
như tiếng rơi
của vỏ đạn tháng ba vào cùng tiếng lá thu
sao Huy gãy ngang như báng súng
ai bẻ Huy đâu mà Huy gẫy thế này

Còn nhớ không Huy
ngày nhóm mình mới gặp nhau với những trái tim
còn đầy ắp một quê nhà yêu dấu
Huy cười ròn rã
vẫn nghe như tiếng súng lên nòng
 
Huy ơi

mùa thu tây bắc đang rụng xuống
mây thu như một giải khăn tang
Huy về bên đó êm đềm nhé
quên tháng ba súng bẻ gẫy ngang.

 
Trần Mộng Tú
tháng mười một, hai ngàn mười.


Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Cao Xuân Huy - Mùa Thu Gãy Cánh   Sun Oct 12, 2014 11:26 am


Cao Xuân Huy – Vài mẩu chuyện




Cùng tên Cao Xuân Huy, nhưng không là giáo sư triết học Phương Đông sanh năm 1900 – mất năm 1983, anh là Cao Xuân Huy của Tháng Ba Gẫy Súng và Vài Mẩu Chuyện.

Nhiều người đã đọc Tháng Ba Gẫy Súng, tất cả các anh đã từng khoác màu áo rằn ri, tất cả các anh đã từng được gọi “lính bốn chữ” đã từng so hàng trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến đều đọc Tháng Ba Gẫy Súng – nhắc đến tháng ba gẫy súng là biết ngay nhớ ngay đến trận triệt thoái cuối cùng, nghĩ ngay đến lần rút quân từ quân khu I buồn thảm và nghĩ ngay đến người kể lại giúp mình: trung úy đại đội phó, tiểu đoàn 4 Kình Ngư, Thủy Quân Lục Chiến Cao Xuân Huy.

Dáng người dong dỏng cao, đôi kính lấp lánh trên sóng mũi thẳng, nụ cười thân thiện trên môi, “tứ hải giai huynh đệ” gặp Cao Xuân Huy là gặp một nhóm đông người, những câu chửi thề ròn rã, pha tiếng cười hể hả sau tiếng khà nuốt ực ly VSOP.

Viết về nhà kể chuyện Cao Xuân Huy đã có nhiều người viết, các anh cùng thời gẫy súng, các anh cùng bạc màu áo trận, cùng lận đận quan trường, cùng con đường đất mòn vác nứa tre, chịu cảnh đầy ải biến con người trở về thời hoang dã, bằng cách dùng miếng ăn làm mồi nhử, dùng chút ơn mưa móc câu vài linh hồn yếu đuối, để hả hê cười cợt tư cách tù nhân. Trong khối đông nếu tất cả đều giống nhau bằng nhau thì chẳng có mẩu chuyện nào để kể!

“Tháng ba năm bảy lăm, tớ đã chết rồi, bây giờ là bonus, dzô!”

Tiếng “dzô” pha giọng Nam hay hay như câu đệm tiếng đ. m. mở đầu trước khi kể chuyện, câu đệm không thể thiếu trên bàn nhậu của các anh Thủy Quân Lục Chiến. Nhiều phụ nữ e dè dị ứng khi nghe câu đệm này, nhưng với tôi, không có nó các câu chuyện kể của các anh sẽ thiếu đi phần sự thật. Đắng cay ngọt ngào, trần trụi duyên dáng gặp nhau ở hai chữ đ.m này, nhất là qua giọng nói Bắc Ninh pha tiếng Sài Gòn của Cao Xuân Huy.



Vài mẩu chuyện, quyển sách 125 trang được anh trình bày nhẹ nhàng bằng khổ chữ 12, nền giấy trắng để bạn bè dễ đọc, bạn bè bây giờ mắt chẳng tinh tường gì mấy, nhất là chính tác giả than mãi đôi mắt làm eo không cho phép dùng máy vi tính lâu để viết khi có người thắc mắc: “Lâu quá không thấy anh viết!”

Tháng 7 – 2010 anh ra mắt vài mẩu chuyện, không viết hoa các chữ đầu tựa sách, không viết hoa tên tác giả, hình thức này có ngụ ý “ chẳng có gì lớn lao – chẳng có gì để ầm ĩ ” của Cao Xuân Huy.

Bìa sách Doãn Quốc Vinh trình bày bằng gam màu tối – đỏ đen, khoảng đen dầy đặc chiếm nửa trang, song sắt – nón sắt giầy saut súng cắm đầu chết chóc – làn khói mỏng góc trang trái là Em gục đầu trên hàng kẽm gai, hai cánh tay xếp dài ngón ngọc, lá thư tình hay lá thư vĩnh biệt xếp hờ hững kề bên, một trang bìa xinh xắn, cầm lên muốn ngấu nghiến xem, chữ thủ thỉ gì trong ấy .

Bìa sau ngắn gọn về tác giả, vệt màu nâu vài nét sướt kẽm gai, xuyên qua 1947 ra đời tại Bắc Ninh- 1954 di cư vào Nam – 1968 đi lính- 1975 đi tù – 1979 ra tù – 1982 đi vượt biên – 1983 đi Mỹ - 1985 in Tháng Ba Gãy Súng – 1989 Tổng Thư Ký tạp chí Văn Học – 1992 hết Tổng Thư Ký tạp chí Văn Học – 1994 lại Tổng Thư Ký tạp chí Văn Học – 1995 lại hết Tổng Thư Ký tạp chí Văn Học – 2005 Chủ Biên tạp chí Văn Học – 2009 hết Chủ Biên tạp chí Văn Học.

Những mốc thời gian Cao Xuân Huy ghi về mình, cũng là những mốc thời gian của bao người khác, chỉ có chút khác biệt là Cao Xuân Huy cầm bút, Cao Xuân Huy vướng bận thêm nghiệp văn chương chữ nghĩa. Anh tự trách mình không bằng Mai Thảo tạp chí Văn, khi Mai Thảo chẳng cần sự trợ giúp của máy vi tính, cẩn trọng viết tay từng địa chỉ độc giả để gởi mỗi tháng, phần anh có thêm máy vi tính phụ giúp mà khi là chủ biên tạp chí Văn Học, chẳng hiểu sao tạp chí Văn Học đủng đà đủng đỉnh, khi vui vài tháng một – khi buồn dăm tháng chẳng thấy tăm hơi.

1985 in Tháng Ba Gãy Súng, 2010 in vài mẩu chuyện, hai mươi lăm năm chờ đọc Cao Xuân Huy, người thích lối kể lể từ tốn bên bàn nhậu của anh bỗng sững sờ khi bị cuốn theo mạch văn cuồn cuộn có vẻ như người kể sợ rằng, nếu ngừng lại sẽ không thể kể tiếp viết tiếp được nữa.

Kềm giữ dồn nén muốn quên những điều không thể quên, là nỗi ám ảnh nỗi đau ngấm ngầm, chỉ có một cách là lẩy nó ra, khươi nó lên để giải thoát ân tình nhân nghĩa, giải thoát những điều riêng tư không phải ai cũng có thể biết có thể thấy. Đây là lý do khiến Cao Xuân Huy kể ra một lần cho hết chăng? Anh giải thoát không chỉ cho riêng anh mà cho một khối rất đông những người đã cùng thời lận đận.

Những dòng chữ rất nhỏ trên góc trang phía trái, nhỏ nhẹ:

tặng vợ “chị hai” minh và hai con
chúc dung & xuân dung
cám ơn các bằng hữu

Có thể các ông không thích bầy tỏ tình cảm ra cho nhân loại thấy, chẳng tò mò đọc chi những dòng chữ be bé ấy, nhưng phụ nữ lặng người trân mình đọc nó đôi lần, để biết các ông đã từng đi lính thứ dữ, từng vào sinh ra tử, từng quát ra lửa khói, từng thấy lưỡi hái tử thần, thấy cả thánh Phê-rô giữ cửa thiên đàng cũng có một góc dịu êm, một khoảnh cỏ mượt xanh tình nghĩa vợ chồng. Gọi vợ là “chị hai” âu yếm sáu mươi phần, bốn mươi phần là sự thật. Lìa mẹ đi lính – gẫy nghiệp lính đi tù – thoát tù vượt biên – con cái tạo ra một tay “chị hai” lo, đời “trượng phu” ngạo nghễ nằm gai nếm mật đâu không biết, dưới mái ấm gia đình, “chị hai” lo cho từng ngụm nước miếng ăn, vỗ về an ủi khi thất thế, nâng đỡ chở che khi trái gió đổi thì. Cánh chim bằng không còn tuổi đôi mươi vẫn xoải cánh bay tìm bạn cũ, cưu mang tiếp rước bạn xưa những người đã cùng chia mảnh đạn với chồng, cùng ngang dọc tung hoành, cùng say mèm ngất ngưởng chia nỗi buồn tử biệt sinh ly, sống chết xem tựa lông hồng một thuở.

Trần Như Hùng đề tựa bằng câu: “Có nhiều điều người ta sợ nói ra, dù là nói với chính mình, thế nên trong đầu anh nào cũng có lắm điều cố giấu kín.” (Fyodor Dostoyevsky)

Giản dị, chân thật, nhân bản, thẳng tuột, không tán tụng chẳng chê bai, không hờn trách chẳng kết án!

… Kể chuyện của chính mình của bạn bè (bạn lính, bạn tù), chuyện của những con người rất bình thường (nhưng không tầm thường).

…Người đọc nhìn vào nỗi niềm riêng của anh như đứng trước tấm gương bắt buộc phải đối diện với cái phần thật, nấp kín trong tiềm thức mình. Trích Trần Như Hùng

Xin phép được thêm vào:

Người phụ nữ đọc Cao Xuân Huy để yêu chồng hơn, những người chồng đã là cựu quân nhân, nhất là cựu chiến binh Thủy Quân Lục Chiến, đã bị tù đầy, bị ép xác đến tận cùng nỗi chịu đựng của con người, con người được thượng đế trang bị cho đầy đủ thèm khát “linh tinh” như tất cả các loài động vật ngo ngoe trên mặt đất, nếu không có tri thức kềm hãm thì nhân tính cũng ngang bằng thú tính, đói phải tìm ăn, khát phải tìm uống, thèm muốn phải hành động ngay, không cần biết uống thứ gì, ăn thứ gì, giao hợp để thỏa mãn cái giống gì, nhục hay không nhục, có phải van xin lạy lục ai không?

Phụ nữ đọc Cao Xuân Huy để biết góc kín khó kể của chồng, biết trong giai đoạn chiến tranh sống nay chết mai của chồng, trái tim của chàng chẳng thế nào thổn thức được với những bài tình ca ru ngủ kiểu em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến hay nếu em không là người yêu của lính ai sẽ đón em chủ nhật trời trong, vân vân và vân vân, để bây giờ chàng buộc miệng: “Đánh trận mệt thấy mẹ thì giờ nào mà tiền tuyến hậu phương!” khi nghe mình hát.

Vài mẩu chuyện, như những mẩu thuốc lá thừa còn một nửa - một phần ba, được cất vào chiếc hộp sau khi đi tù về lại Sài Gòn, mùi thuốc thắp lại khen khét đăng đắng, người rít khói vào phổi lim dim mắt tận hưởng niềm hạnh phúc được hút khói, người không hút thuốc làm sao hiểu được lý do nào khiến “anh ấy” lim dim, nếu không nghe kể, dù lời kể muộn màng vẫn là một bài kinh siêu thoát cho bao người còn đang sống, khỏi phải thắc mắc: Tại sao chồng vẫn hút thuốc vẫn ngửa cổ chuốc hớp rượu nóng xé lưỡi vào gan cùng bạn cũ, những ngày các cụ cựu Thủy Quân Lục Chiến gặp nhau, không cần nhìn xem cấp bậc, chẳng màng quan hay lính, chỉ biết đã khoác lên vai màu áo bệt của binh chủng oai hùng, đạp đất bằng cưỡi con sóng.

Mẩu chuyện “miếng ăn” khởi đầu cho “có thực mới vực được đạo”, yếu tố bao tử này các hiền nhân khẳng định, miếng ăn là miếng tồi tàn, miếng nhục miếng . . . phải bị đói mới biết ai quân tử ai tiểu nhân. Các bà thích nhịn đói để giữ eo, cái đói tự tạo khác với cái đói tù đầy, cho nhịn đói để nhử khí phách. Khả năng sinh tồn cùng sức sống động vật, tự phát ra phản ứng “tiết tâm linh” khó kềm chế. Cái vòng lẩn quẩn uống nước để lừa dối bao tử, bao tử không nhận được chi tống sang bàng quang, bàng quang đầy ứ tống thẳng ra ngoài, lại đói lại lừa dối cái bao tử . . . Từ cơn cồn cào đói con người có lý trí tìm cách thống trị cơn đói bằng:

- cái lưỡi câu: Toàn trút hết hai thìa muối hột đổi lấy cái lưỡi câu hạng hai, sung sướng biết mình ói ra máu trong đêm lạnh, mừng rỡ khi có anh bạn Thạnh làm chứng để cán bộ canh tù tha khỏi đi lao động, có thời gian tìm đến hố bom câu cá . . .

Bằng:

- ngu như lợn: Bác sĩ quân y nhẩy dù Nguyễn Đức Mạnh nuôi chuột để có chất tươi chống đói . . .

Bằng các “phi vụ” nhọc nhằn có khi bị mất mạng, hay những “phi vụ” an toàn lục túi, soát ba lô bạn tù đều nêu lên cá tính chung riêng, đẹp xấu, ở góc độ phụ nữ nhìn vào: “Miễn sao anh còn sống về với vợ con, sợ gì ba cái lẻ tẻ nhục hơn trâu chó!”

Có chồng bị tù đầy, người phụ nữ sau năm 1975 đối diện với đói cách khác, chồng ở trong tù đói, con cái nheo nhóc đói, cha mẹ chồng đói. Hạnh phúc khi ôm thân hình da bọc xương vào lòng, nhận ra khuôn mặt chồng dù đã biến dạng, nhưng còn hơi thở ấm, còn hơn chẳng còn thấy nhau, còn hơn những cái chết vì lưỡi câu oan nghiệt, ảo giác về con cá to chia cho thằng bạn làm chứng mình đã ói máu trong đêm.

- người muôn năm cũ - hành phương nam - chờ tôi với: giúp cho các bà nhìn thấy điều chồng giảng giải trong đêm, về người bên này kẻ bên kia, cả hai người đều đánh mất tuổi xuân vì chiến tranh, chỉ khác là những người lính Việt Nam cộng Hòa mang lý tưởng bảo vệ chính nghĩa, so với những người bộ đội nhắm mắt tuân theo lệnh bắt buộc phải đi, không có sự chọn lựa nào khác.

Một tấm hình đen trắng thật đẹp thật nhân bản đã từng được trao giải ảnh đẹp, trong hình anh lính bộ binh Việt Nam Cộng Hòa nâng đầu một anh bộ đội cho uống nước từ chiếc bi-đông của mình, tôi không nhớ ngắm bức hình này ở đâu, câu cuối trong mẩu chuyện “chờ tôi với” nhẹ nhàng nhân bản, thở hắt hơi cuối chẳng bên này chẳng bên kia.

- người muôn năm cũ là một giọng nữ vừa ngọt ngào vừa the the vị bạc hà của đài phát thanh Mẹ Việt Nam, chương trình Sinh Bắc Tử Nam do cô Hiền phụ trách, chương trình này chỉ đọc tên – năm sinh - sinh quán của các bộ đội, đã tử trận đã sinh bắc tử nam vào mỗi đêm, chỉ đọc danh sách tên tuổi thế thôi mà còn hơn là khuyên bảo: ‘nên sinh đâu tử đấy, đừng tin vào bác đảng mà sinh ngoài ấy tử trong này! Tiếp theo là chương trình của ông Thầy Bói, gõ mõ tụng kinh ma quái.

Cao Xuân Huy viết đùa, phải mà còn cô Hiền thuở nào để nhờ cô đọc câu:

- Mẹ Việt Nam rất đau buồn khi có những người con sinh inh inh . . . Việt . . .iệt . . . .iệt, tử… ử… ử Mỹ... ỹ ỹ .

Viết như đùa mà đắng như ly rượu đế, cháy cả gan cả ruột, vì đâu ta tha hương, “ Hành Phương Nam”

Đôi ta lưu lạc phương nam này – trải mấy mùa qua én nhạn bay – Xuân đến khắp trời hoa rựou nở - mà ta với ngươi buồn vậy thay!. . . ta đi nhưng biết về đâu chứ - đã dấy phong yên lộng bốn trời – thà cứ ở đây ngồi giừa chợ - uống say mà gọi cố nhân ơi! (Nguyễn Bính)

Một Hồ Trường một Hành Phương Nam, đôi ta lưu lạc, rót . . . rót . . . rót . . . những phù sinh, những vần thơ có vận vào suy nghĩ của các đấng trượng phu chăng? Để nắm xương tàn thơm mùi lúa lên men, để người thương binh rót cồn lên nấm đất – chẳng đoán được giây phút mất nhau!

- vải bao cát: đọc rồi đọc lại vẫn tội nghiệp quá phận đàn ông, vác theo của nợ trời hành, thuở chinh chiến khó lòng chung thủy cùng người tình người vợ. Cao Xuân Huy thẳng ruột ngựa mà viết mà kể một cách thản nhiên, chẳng màu mè riêu cua. Các ông thứ dữ hay mang tiếng phụ phàng, lơ tơ mơ, hiếm khi mở lời trói buộc đời nhau, phần đông có sự trợ giúp từ người tình người yêu, khôn hay dại không thể kết luận được, vì các ông thích tránh né việc biến nàng thành góa phụ thơ ngây. Vài ngày phép bõ bèn gì, người tình phải trân trọng nâng niu không dám xàm xỡ, muốn gì đã có quán nhậu đèn mờ, các cô gái bán ba thoải mái, chẳng cần chỉ đỏ chỉ đen ông tơ bà nguyệt, ăn bao nhiêu bánh trả bấy nhiêu tiền. Các cô thuở ấy ngây thơ tin chàng trong trắng như thần thánh, chỉ khi gạo đã thành cơm, có con cái rồi chẳng cần tra hỏi chàng cũng sẽ từ từ kể cho nghe: “đã có lần . . .”

Chuyện trong tù, tưởng tượng nguồn sinh lực bị dồn nén muốn nổ tung, người nam thèm thuồng ham muốn - mà khi đụng vào mảnh vải bao cát nhám ráp che phần thân thể kín đáo của người phụ nữ đáng thương nghèo nàn, nỗi thương cảm đau lòng đã dập tắt ngún ngọn lửa dâm dục, bàn tay nháp nhúa lợi dụng cơ hội thành mền nhũn trân trọng vuốt ve, sự liên đới giữa hai thân phận kiếp người, giữa anh được dùng biểu tượng mũi tên chỉa lên, và em với biểu tượng mũi tên chúi xuống thăng hoa thần thánh.

- quyền tối thiểu: cũng thế, có thể bị xem là cường điệu, bị cười là tán dóc ba xạo, nếu có thật thì người vợ tù có hiểu được khí phách của chồng, khi đã thấy mây cuồn cuộn mà mưa chẳng đổ ào, một thân thui thủi trong góc nhà tạm trú thăm tù.

Khi súng bị bẻ gẫy, làm thân tù được vợ đến thăm, bao người cắn răng gìn lòng giữ dạ, sợ vợ mang thai khổ thân vợ khổ thân con. Nhưng không ít cháu được mẹ hãnh diện khoe: “Con được tượng hình trong tù với Ba!” được hãnh diện mang tên địa danh nơi cha bị giam giữ.

Mẩu chuyện kể của Cao Xuân Huy trong “quyền tối thiểu” và lời hãnh diện nghe được từ người vợ tù cộng sản, đều vinh dự ngang nhau, quyền tối thiểu làm chồng làm cha không ai có thể tước đi được.

Phần các ông chờ đợi đến khi được thả về nhà, để có tuần trăng mặt thứ hai trong đời, cũng đáng được ca ngợi xưng tụng là thánh sống tưởng người mất đi nhưng anh lại về .

- trả lại tiền: là mẩu chuyện hay nhất được diễn tả bằng những câu gióng một, gióng hai. Đọc xong mùi hoa ngọc lan – mùi cây ngai ngái ban đêm của những con đường Hồ Xuân Hương – Huyền Trân Công Chúa – Nguyễn Du thoang thoảng. Có một thời gian, phụ nữ sợ bị mang tiếng lây khi đi ngang các con đường này, vì các cô gái giang hồ thoáng ẩn thoáng hiện. Qua câu chuyện kể Trả Lại Tiền này, các cô tựa gốc cây gõ, gốc cây dầu ấy có ai trong họ biết được nhà văn Cao Xuân Huy đã trả lại chút nào khung vàng giá ngọc cho một kiếp hoa buồn, thay vì bao lâu trước họ bị dìm xuống bùn đen xã hội vì tội bán trôn nuôi miệng.

Câu chuyện thuật lại người đàn ông ra khỏi trại tù, đi tìm nơi giải tỏa sinh lý, nơi ấy là công viên trước dinh Độc Lập. Sau ngày được thả ra khỏi tù, đồng nghĩa với nghèo, bị công an trù dập khốn khổ, tương lai mù mịt, Sài Gòn tươi đẹp đã thành người đẹp bị tạt acid, loang lổ đớn đau. Trả giá cho cuộc mây mưa từng đồng, người mua phải chọn lựa giữa hai sự thiếu thốn, đói cái này hay đói cái kia - người bán phải trù tính, thà có chút đỉnh hơn không có chi. Rồi thì bị bắt tại trận, rồi thì anh chàng thanh niên phường khóm làm nhiệm vụ bảo vệ thành phố văn minh sạch đẹp theo lệnh của công an khu vực, có người anh cũng bị đi tù cộng sản, thông cảm binh vực người mua, bắt người bán phải trả tiền lại! Trong đoạn văn:

Gã đàn ông lên xe đạp đi. Ðợi tên dân phòng đi khuất, gã vòng xe lại, đến gần ả:
- Này. Tôi trả lại năm đồng.

Ả quay lại. Cái nhìn đậu trên mặt gã vài giây, rồi nói:
- Thôi, giữ lấy xài đi.

Câu nói trổng thiếu chủ từ của cô gái điếm không tên ấy, đáng ghi nhớ hơn ngàn câu hoa mỹ các anh đã từng nghe ca sĩ hát ca tụng lính trên các làn sóng phát thanh.

Người viết Cao Xuân Huy không so sánh, chẳng kể ra những chuyện người tù trở về nhà xưa có cán bộ ở, vợ xưa có cán bộ nuôi, các con quàng khăn đỏ đi học, nhưng nhập nhòa thuở ấy chẳng thiếu gì chuyện chẳng đặng đừng, chuyện bán cái ngàn vàng để sống còn của phụ nữ có lẽ nhẹ nhàng hơn các ông phải bán đi khí tiết hào sảng của mình để đổi lấy vài mẩu đường tán, vài ngụm thuốc lào.

Và vài mẩu chuyện nho nhỏ, dẫn theo trăm mẩu khác người đọc đã từng biết, không dám kể ra, không có tài viết lại, ngay cả không đủ can đảm đào bới đống tro tàn, sợ nói ra dù chỉ nói cho chính mình nghe,

“…. thế nên trong đầu anh nào cũng có lắm điều cố giấu kín.” (Fyodor Dostoyevsky)”

Tháng 09 – 2010

. . . Anh Cao Xuân Huy ơi! Nhận sách của anh vào ngày đại hội Thủy Thần Mũ Xanh San Jose tháng Bảy- 2010. Ấu Tím là người phụ nữ tầm thường, chỉ có tấm lòng yêu binh chủng của chồng để dám ghi lại cảm nghĩ của mình về những điều anh nhắc đến khi còn trong quân ngũ, anh kể lại khi bị tù đầy. Nhận xét của Ấu Tím nông cạn không thể len lỏi được vào những khía cạnh rộng lớn bao trùm nhân sinh quan – đạo đức quan to tát. Những cảm nhận đơn sơ này, giống những lần được các anh cho phép ngồi chầu rìa bàn nhậu, nghe kể những chi tiết các trận đánh năm xưa, đôi khi có kèm theo tên vài bóng hồng quá khứ, mỉm cười, nói vài câu để gợi hứng cho các anh kể tiếp.

Khi anh viết, hẳn anh đã chẳng cần đào bới gì sất, chỉ như Mạnh Chuột “cong đít” đào giếng “giơ cuốc lên thì chim đậu, hạ cuốc xuống thì mối đùn”. Ngày này còn viết kể lan man gởi gấm lòng mình cho người đọc, giống như dùng ngòi bút đâm thẳng xuống mặt bàn bằng đá, chữ trơn tuột chạy ý bốc hơi bay vì người đọc thờ ơ hờ hững.

Độc giả hai mươi lăm năm trước đọc “Tháng Ba Gẫy Súng” khác với độc giả bây giờ đọc “vài mẩu chuyện”, anh xem tràn lan tí ngọ trên những trang web, những chuyện kể chẳng đầu đuôi, bao chuyện bôi bẩn, những tranh chấp tố tụng ai đúng ai sai, kèm vào là quá khứ bị thổi phồng hay lăng nhục. Người cựu chiến binh Việt Nam trong các quân binh chủng ai cũng mang một vết sẹo khó lành.

Anh ạ! Anh đang đau, đọc lại bài anh viết về nhà văn Mai Thảo, nhắc đến tác phẩm anh thích đọc “Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật” của ông 1967, em thì hậu thế hơn nên thích thú Để Tưởng Nhớ Mùi Hương – Tình Yêu Màu Khói Nhạt – những tác phẩm được sinh viên học sinh thích thú đọc, gò gẫm viết sao cho bóng bẩy từng nét phẩy, dấu chấm vào thập niên 70.

Anh ít nói chuyện văn chương dù anh được người tình văn chương ôm choàng lấy, để Cao Xuân Huy tiểu đoàn 4 Kình Ngư trở thành Cao Xuân Huy Tháng Ba Gẫy Súng.

. . . Anh Cao Xuân Huy ơi! Anh còn nợ độc giả trận đánh Cửa Việt trước giờ gẫy súng, câu chuyện có nhiều người muốn nghe kể chi tiết, cũng nhiều người muốn quên đi.

Anh đau thân muốn nằm, người lính tên bốn chữ TQLC ngạo nghễ dễ mến, nay chấp nhận phán quyết của y học chịu thua cơn bệnh có tên sáu chữ cancer. Anh vẫn cười, nụ cười pha màu nắng nhạt cuối thu, sợ gì anh nhỉ ai chẳng một lần, đời người đã sống qua bao thăng trầm vinh nhục – thành công của con người là khi nằm xuống được bạn bè quí mến thương yêu rơi nước mắt tưởng tiếc.

Qua chồng em, tiểu đoàn 6 Thần Ưng, em biết đến anh trước khi anh biết em, mối thân tình không cần tạn mặt mới kết được thâm giao, quý nhau qua tình trọng nhau qua cách sống.

Em quí “chị hai Minh” tấm lòng hiền hòa chịu thương chịu khó, lần này chị Hai lo lắng cho anh mệt mỏi biết bao, chị gầy xọp hẳn đi.

Chị ơi ! em gởi chị một vòng tay thân thiết, ôm chị thật chặt để chị biết rất nhiều lời cầu nguyện chân thành gởi đến anh chị lúc này.

Nụ cười an nhiên, chiến thắng được tất cả ngổn ngang, mỗi con người bắt buộc phải một lần đối diện.

Thân kính.
Ấu Tím
Tháng 11 - 2010

Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Cao Xuân Huy - Mùa Thu Gãy Cánh   Sat Oct 18, 2014 10:49 am


CAO XUÂN HUY CHUYỆN CHƯA AI KỂ



Cao Xuân Huy và Mẹ ĐH Úc Châu 2009


Mãi tới năm 2007 tôi mới biết mặt anh dù đã nghe tiếng anh từ lâu, vào khoảng đầu thập niên 90 tuần báo Nam Úc tại Adelaide có đăng bút ký “Tháng 3 gẫy súng” của anh, tôi đọc say mê và nóng lòng chờ đợi mỗi tuần cho những đoạn kế tiếp một phần vì lối hành văn thoải mái ,thẳng thắn, trần trụi rất lính của anh,phần khác là tò mò xem anh viết về chuyện mà mình cũng tham dự, chờ đợi trong nôn nao bởi vì là tuần báo nên hằng tuần sớm nhất ngày thứ Năm mới có báo.Tôi cũng được gặp mẹ anh là bác Nguyễn Thị Nhiên tức Nữ sĩ Đan Thanh ( sau này khi thành lập Liên Hội bác là người mẹ Tinh thần của anh em MX trong Liên Hội và lần ĐH nào ở Sydney bác cũng tham dự với những bài thơ lúc dí dỏm hay dạt dào tình cảm như nụ cười hiền hậu của bác ,tuy khi tổ chức ở Melbourne hay Nam Úc vì tuổi cao bác không tham dự được nhưng cũng gửi thơ tặng và đan khăn quàng cổ màu xanh cho các con trai, mũ bê-rê bằng len xanh cho các con dâu của bác ) lần đầu năm 2001 trong ĐH/TQLCVN tổ chức tại nhà hàng Kim Sao Lầu trên đường John street vùng Cabramatta thuộc thành phố Sydney, lúc đó hiện diện gần 50 MX trong ĐH với số lượng đông đảo quan khách lên đến trên 400 ( nghe các anh nói phải trên 60 MX cư ngụ tại thành phố này ), những năm sau tôi đều gặp bác Nhiên và cũng đã được nghe nói về bác trai vốn là một người viết văn, làm thơ có tiếng tại Hà Nội khi xưa nên tôi không ngạc nhiên lắm về tài viết văn của anh.



Thật sự khi tham dự ĐH/TQLCVN năm 2007 tạiMelbourne, tôi không hề biết có sự hiện diện của anh chị, chỉ biết sẽ có ĐB Tango và TQ Phu Nhân từ Mỹ sẽ đến với anh em “miệt dưới”, như vậy cũng đủ náo nức với các MX Nam Úc rồi ( sẽ viết về cảm tưởng của tôi với hai vị trong một bài viết khác ), cho đến khi chúng tôi đến nhà anh chị Phạm Sĩ Bắc mới nghe nói là có anh tham dự, lúc đầu khi gặp anh tôi cũng có chút tò mò xem một nhà văn nổi tiếng từ lâu hành xử như thế nào với các MX “miệt dưới” mà hầu hết là những anh em cấp nhỏ nên tôi cũng để ý quan sát anh. Điều đặc biệt đầu tiên tôi nhận thấy là anh có nụ cười thật tươi rất hiếm người có, thứ đến anh nói chuyện thật thẳng thắn, thoải mái, bình dân với mọi người, không hề có một chút kênh kiệu,ta đây, tạo cho người đối thoại cảm giác gần gũi, tin tưởng làm tôi mến anh ngay nhưng anh không biết vì tôi không hề nói ra điều ấy suốt mấy ngày gặp nhau trong ĐH. Tôi cũng cảm thấy anh thật khác lạ nếu không muốn nói là trái ngược so với những gì tôi đọc được trước đây qua những người bạn văn viết về anh, một người ít nói, khó gần, trầm ngâm chỉ cười mủm mỉm và uống rượu như hũ chìm, riêng khoảng uống rượu thì đúng như thế, tửu lượng anh thuộc hàng cao thủ, anh uống liên miên nhưng không hề say.Tôi thường đứng uống bia ..cầm chừng và nghe các anh kể chuyện khi chờ quan khách đến, vì mỗi năm chỉ gặp nhau vài ngày nên đủ thứ chuyện trên đời được gom lại kể ở đây, chuyện xưa , chuyện nay, chọc người này ghẹo người kia ,ngay cả các chuyện tiếu lâm chay, mặn,nên lúc nào cũng rộn rã tiếng cười không khí rất là…….lính. Dù rằng:

Những thằng bạn buổi hôm nào áo trận
Thoắt giờ đây: tóc đã điểm hoa râm
Khi gặp lại từ phương này quả đất
Chợt nhìn lên: giờ vầng trán đã nhăn

Trong đôi mắt mỏi mê cùng cơm áo
Có chút gì phảng phất của quê hương…
( Trích Ngày gặp bạn cũ.Thơ Trần Hoài Thư )



Tuy vậy nhưng khi khoác bộ đồ lính vào, người nào trông cũng trẻ ra và coi vẫn còn phong độ lắm. Anh cũng hòa nhập vào cùng uống, cùng hút, cười đùa và tán gẫu với anh em, tôi có cảm tưởng đây mới là những giây phút sống thực của anh, càng uống anh lại cười càng tươi, càng rộn rã, anh như bay bổng trong một khung trời thuộc về mình giữa những đồng đội của anh, bởi vì khi có một anh hỏi:

_Anh Huy Đại Hội bên Mỹ có vui như ở đây không?

Một thoáng ngập ngừng anh trả lời:

_Cũng …vui nhưng… làm sao vui như ở đây được.

Hôm Chủ Nhật trong lúc chờ quan khách tới dự tiệc mừng lúc tôi và vài anh em đang đứng tán gẫu, hút thuốc bên ngoài hội trường anh đi ra hỏi tôi còn thuốc lá không? Tôi đưa thuốc rồi bật lửa cho anh mồi, anh hỏi:

_Mày ở Nam Úc hả? có biết Đ/u Hanh không? Tôi hỏi lại:

_Phải anh Nguyễn Tiến Hanh Pháo binh không? Anh trả lời:

_Ừ, mày quen hả? Tao vẫn muốn thăm anh ấy mà chưa sắp xếp được.Tôi nói:

_Biết chứ không quen vì ít khi gặp, chỉ thỉnh thoảng gặp chào hỏi vài câu thôi ,vả lại anh Hanh cũng rất ít nói nhưng anh quen anh Hanh như thế nào? Anh trả lời:

_Đù.. má. Ổng là anh thằng bạn tao nhưng thương tao còn hơn em ruột, đù..má, hồi đó mỗi lần về phép kẹt tiền đến ổng là có bao nhiêu trong túi ổng móc ra quăng cho tao không thèm đếm, thế là lại có tiền rượu, gái vi vu.

_Vậy thì kỳ này xuống Adelaide đi.

_Đù..má, lần này chưa được, chắc phải kỳ tới.

Khi trở lại Nam Úc, một hôm tôi tình cờ gặp anh Hanh ở tòa soạn báo Nam Úc, tôi có nhắc chuyện anh Huy tính xuống đây thăm anh và khen tửu lượng anh Huy ghê thiệt. Anh Hanh nói:

_Cái thằng bịnh hoạn quá mà khuyên không nghe, cứ nốc rượu tì tì thôi.

_Không đâu, thấy anh mặt mũi hồng hào, khỏe mạnh lắm mà.

_Coi vậy mà không phải vậy đâu.Tuy không tin nhưng tôi không nói gì thêm.

Rồi tôi gặp lại anh tại ĐH trên Sydney năm 2009, lần này anh đi một mình một công hai chuyện, vừa thăm mẹ già vừa dự ĐH luôn, lại xáp nhau cười nói rôm rả, hút thuốc,uống bia và ….chửi thề, cũng vẫn những chuyện trên trời dưới đất, chọc ghẹo nhau như con nít rồi cười hô hố với nhau thân tình như những năm còn trong quân ngũ, nụ cười vẫn tươi, uống bia từ sáng đến tối, từ tối đến khuya mà vẫn không thấy anh say, kỳ này anh có tay bạn nhậu là Peter một thân hữu của Hội Victoria, thích TQLC nên đi theo, tay này cũng thuộc hàng cao thủ lúc nào cũng có lon bia trong tay kể cả sáng sớm.

Tối thứ Bảy sau lễ Truy điệu, khi quan khách dùng tiệc trà đã hơi vãn thì mẹ anh và ông Nguyễn Ngọc Tần ( anh Tần là cựu Chủ tịch CĐNVTD/Nam Úc trước ở Adelaide sau này mới dọn về Sydney vì các con anh đều có việc làm tại Sydney, nên anh em Nam Úc đều quen biết, anh cũng đến xin chụp hình chung với nhóm Nam Úc vài tấm để kỷ niệm ) đến rủ anh Huy đi dự tiệc của Hội cựu nữ sinh Trưng Vương hay Gia Long gì đó nhưng anh Huy từ chối. Hai người vừa rời khỏi được vài phút anh bỗng nói:

_Đù…má, ba bốn chục năm trước không chịu mời cho tao nhờ, bậy giờ thành bà nội, bà ngoại hết rồi mới mời,đi làm …đíu gì.

Mọi người lại cười rần rần, rồi lại uống cười đùa cho đến khuya, khi mọi người từ từ đi ngủ gần hết nhìn đồng hồ gần hai giờ sáng tôi nói với anh:

_Chắc tôi cũng phải đi ngủ một chút, anh về nhà hay vào đây ngủ luôn? ( chỗ ngủ lần này là một cái hall lớn của CĐ nên anh em sẽ ngủ theo lối tập thể như thời xưa trong lính, mỗi tên một sleeping bag kiếm một góc nào là xong ). Anh nói:

_Ừ! Mày đi ngủ đi chắc tao về nhà tắm một phát đã.

_Trong này có phòng tắm đầy đủ anh vào tắm đi.

_Không được vì quần áo tao để ở nhà, mày cứ đi ngủ đi tao uống với thằng Tây này cũng được.

Sau khi đánh răng rửa mặt, tôi ôm túi ngủ đi kiếm một góc nào tương đối không có…. “ban nhạc hòa tấu” để cho dễ ngủ, lúc rời khỏi hall chính vẫn thấy tay anh đang cầm lon bia uống.

Tiếng ồn ào lục đục làm tôi thức giấc dù mới ngủ được vài giờ, nhìn đồng hồ mới hơn 5 giờ nhưng cũng phải dậy vì anh em bên Công giáo phải đi dự lễ Chủ Nhật sớm, sau đó còn họp rồi trang trí,dọn dẹp chuẩn bị đón quan khách cho Dạ tiệc, làm vệ sinh cá nhân xong đi ra đã thấy anh đang ngồi uống bia với Peter rồi, tôi hỏi:

_Úa! Anh không ngủ chút nào sao anh Huy?

_Ừa! tao về tắm là trở qua uống với thằng Tây này, đù... má, mấy ngày này cần gì ngủ mày, đù…má, thiếu gì thời gian để ngủ. Đúng là:

Thức với nhau đêm tàn mưa đổ.
Ngủ làm chi còn cả đời sau.
Đừng ném xuống hồn tôi huyệt mộ.
Mai xa rồi thêm một vết đau.
( Trích Lời cuối. thơ Nguyễn Thị Thanh Bình ).



Buổi chiều hôm đó trước Dạ tiệc, mẹ anh đến sớm khi anh và chúng tôi đang đứng tán gẫu, bác cũng đến góp chuyện với chúng tôi cho vui, thấy anh tay vẫn cầm lon bia uống tì tì, bác dịu dàng mắng yêu kể:

_ Anh ấy hư lắm cơ, hồi trước cũng vậy chỉ uống không ăn, cứ về phép đảo qua nhà rồi biệt tăm, chỉ biết có bạn bè thôi trong khi mẹ ở nhà chờ mong, có lần tôi bực quá tôi lấy roi bắt nằm xuống, vậy mà anh cũng nằm, mà nào có đánh được đâu, chỉ đặt cây roi lên mông anh rồi… khóc, anh cũng nằm yên cho tới khi tôi phải nói dậy đi anh mới ngồi dậy.

Khi bác vừa đi khỏi, chúng tôi liền hỏi anh:

_Chuyện này có thật không anh Huy? Lúc đó anh đi lính rồi à?

_Ừ! Đù… má tụi mày biết tao ... éo sợ gì cả, chỉ sợ nhất là… nước mắt đàn bà.

Tôi cũng ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, anh một người ngang tàng, chẳng sợ trời, sợ đất gì cả nhưng lại rất có hiếu với mẹ.

Trong khi ăn uống, ngồi chung bàn tôi có hai chị thân hữu cũng khoảng ngoài 50, một số MX Nam Úc như MX Trung Tđ 9, MX Ước TT,MX Sơn TX v.v…. và hai vợ chồng còn trẻ, lúc Trung giới thiệu đây là con của Đ/tá Hường LĐ 1 Kỵ binh tên Nguyễn Thế Hùng và vợ ( trước ở Nam Úc tôi biết bác gái là Như Ý, con trai Nguyễn Thế Phong sau này là Chủ tịch CĐNVTD/VIC,con gái Dạ Thảo,Dạ Hương, Thế Hùng lúc đó đều còn nhỏ, họ lại rời lên Sydney đã lâu nên tôi quên mặt ), chợt nhớ anh Huy có nói Đại đội anh từng biệt phái cho LĐ 1 Kỵ binh và từng gặp Đ/tá Nguyễn Văn Hường ( nghe nói ông sống ở Mỹ ), tôi mới tìm anh rồi nói:

_Anh Huy tôi giới thiệu với anh con trai của một cố nhân. Anh hỏi:

_Ai?

_Con trai út của Đ/tá Nguyễn Văn Hường LĐT/LĐ 1 Kỵ binh. Anh sôi nổi vừa đẩy tôi vừa nói:

_Đâu? Đâu? Đù... má thằng nào là con Đ/tá Hường đâu? Đù... má thằng nào? Đâu? Đâu? Tôi cũng hơi khớp chắc mình làm chuyện tào lao, dám thằng nhỏ bị đòn quá nên cũng chuẩn bị có gì thì cản ngay. Khi vừa gặp Thế Hùng anh nhẩy lại…. ôm, kéo ra khỏi bàn ăn một quãng, miệng nói:

_Đù… má ông già mày được lắm, đù... má được lắm, tao chịu ông già mày,đù... má…. bây giờ ông ở đâu mày… rồi hai người nói chuyện riêng với nhau, chúng tôi trở lại bàn ngồi ăn.
Được khoảng mười,mười lăm phút thì MC Trần Như Hùng giới thiệu nhà văn Cao Xuân Huy tác giả “Tháng 3 gẫy súng” với thực khách rồi réo anh:

_Ông Cao Xuân Huy, Cao Xuân Huy đâu rồi? lên tặng hoa cho ca sĩ đi chứ.

Trong khi anh từ từ cầm hoa lên tặng cô ca sĩ thì một trong hai bà trong bàn tôi cũng rất bạo miệng hét thật to:

_Ông... gẫy súng, ông gẫy súng, súng gẫy rồi còn làm ăn gì được mà tặng hoa với quả.

Làm mọi người cười ồ lên, anh cũng nhìn xuống … cười. Sau đó mấy thằng rủ nhau ra ngòai “xông hương” cho đỡ nhạt miệng, anh cũng theo ra vừa đi vừa nói nhỏ:

_Đù… má, súng tao không gẫy gặp mấy em này cũng đíu… lên nổi.

Chúng tôi đều cười vui rồi vừa hút thuốc , uống bia vừa trò chuyện tán dóc, tiện dịp có cả MX Kình Ngư Phạm Minh Tâm đứng đó, chúng tôi mời anh xuống Nam Úc chơi, anh nhận lời rồi nói sau ĐH anh sẽ đi Melbourne chơi mấy ngày rồi sẽ xuống Adelaide.

Sau ĐH lúc anh đang ở Melbourne có gọi báo sẽ xuống chơi nhưng MX Phạm Minh Tâm không xin nghỉ được có nhờ tôi đón tiếp anh những khi MX Tâm không có nhà, tôi gọi xuống nói rõ sự việc rồi tha thiết mời anh xuống chơi, anh bảo sẽ suy nghĩ rồi cho biết sau, cuối cùng anh đổi ý không xuống nữa, tôi nghĩ anh không xuống vì MX Tâm cùng ở Kình Ngư lại biết nhau từ VN dễ nói chuyện hơn chứ không như tôi mới biết anh đây lại khác đơn vị, lại không khéo đẩy đưa, biết gì mà nói, chưa kể lối nói chuyện lắp bắp như tôi thì… chán lắm, chán lắm. Anh hẹn dịp khác nhưng không ngờ còn dịp nào nữa vì chỉ năm sau là anh đã ra đi.

không thể nào không nhớ
đạn nổ rền trong đầu
bảng tên đời mốc thếch
gãy súng rồi chạy đâu?
gãy súng
gãy súng
tháng ba gãy
tay gờm chân dợm chạy
gãy súng rồi
về đâu? ( Thơ Hoàng Xuân Sơn )

Về đâu ư! Tôi chắc anh đang ở một vùng miên viễn thênh thang, ở một nơi không còn những hệ lụy, một nơi không cần uốn lưỡi tránh né, một nơi không còn phải e dè những ganh tị, đua chen, một nơi đầy rượu, thuốc lá ngon và một nơi không cần phải… ngủ vì không có bóng đêm hiện diện.

Vâng, xin anh hãy rong chơi cuối trời phiêu lãng và hãy nhận lời nói muộn màng của một thằng em chỉ gặp hai lần nhưng không ngắn ngủi, vì mỗi lần chúng ta gặp nhau tới cả mấy chục giờ, mà vẫn chưa kịp nói.

- Tôi mến anh lắm. Anh Huy ạ.

MX Thạch Ngữ
12/11/2011
Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Cao Xuân Huy - Mùa Thu Gãy Cánh   Sun Apr 12, 2015 2:14 pm




ANH HÙNG MẠT LỘ BIỂN THUẬN AN

Lý Thừa Nghiệp 
Thứ Bảy, ngày 11 tháng 4 năm 2015

* Tưởng nhớ anh CAO XUÂN HUY



Anh hùng gẫy súng biển Thuận An
Tháng ba tháng tư cùng ứa lệ
Cao Xuân Huy hề! con trăng xế
Thông reo vi vút sầu bạt ngàn.

*

Anh hùng mạt lộ biển Thuận An
Vuốt mặt mang mang hận dã tràng
Cuồng phong chinh chiến đương nghi ngút
Bỗng rơi tan tác bỗng hoang tàn.

*

Anh hùng ngã ngựa bến Thuận An
Cắn môi nghe ứa máu cang trường
Thần linh sóng dạt bờ lau lách
Đất trời muối mặt với quê hương.

*

Tháng ba tháng tư cùng ứa lệ
Sa cơ sầu chất bến Thuận An
Tấm thân chiến sĩ hề! dâu bể
Tấc lòng xin gởi gió phương nam.



Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Cao Xuân Huy - Mùa Thu Gãy Cánh   Today at 1:50 am

Về Đầu Trang Go down
 
Cao Xuân Huy - Mùa Thu Gãy Cánh
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến