Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
nhung huyen Thầy phung trai rang sinh cuoc cong thang thuy nguoi HUNG quan nghia NHẬT thanh nghe lang Ngày tien pham mien viet ngoc nguyen
Latest topics
February 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728     
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 HÀN MẶC TỬ VÀ BÀI THƠ THÔN VĨ DẠ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
tranvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: HÀN MẶC TỬ VÀ BÀI THƠ THÔN VĨ DẠ    Fri Jan 04, 2013 10:19 pm


BÍCH KHÊ VÀ HÀN MẶC TỬ VỚI 2 BÀI THƠ VỀ THÔN VĨ DẠ
                     
                                            
Nguyễn Công Thận 

 
Trước khi đi vào nội dung bài viết, tôi xin phép được chép ra đây hai bài thơ đó của hai tác giả để tiện cho bạn đọc xem xét.
 
Đêm xuân đến thôn Vĩ Dạ nghe đàn sáo (Bích Khê)

      Ti trúc mê li xuân dưới nguyệt
      Cỏ  hoa vờ vật mộng trong hương
      Tràng An thú ấy ai không biết
      Vĩ  Dạ đêm nay khách chật đường.

     




Đây thôn Vĩ Dạ  (Hàn Mặc Tử)


      Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
      Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
      Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
      Lá  trúc che ngang mặt chữ điền.

      Gió  theo lối gió, mây đường mây
      Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
      Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
      Có  chở trăng về kịp tối nay?

      Mơ  khách đường xa, khách đường xa
      Áo em trắng quá nhìn không ra
      Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
      Ai biết tình ai có đậm đà? 




Thôn Vĩ Dạ có gì đặc biệt mà cả hai thi sĩ cùng thời đều có thơ vậy? 

Để lý giải vấn đề này, trước hết xin mời các bạn hãy nghe câu chuyện sau đây:

Theo lời kể của một người sống cùng thời với hai nhà thơ, thì nếu từ Huế, đi bằng thuyền chèo ngược dòng sông Hương chừng độ hút tàn một điếu thuốc, bạn sẽ thấy dòng sông chẽ ra hai nhánh, như hai cánh tay ôm trọn vào lòng một cù lao nhỏ xanh tươi, trù phú. Theo sử sách thì cù lao này được gọi là Cồn Hến từ đầu niên hiệu Gia Long. Từ xa xưa, nơi đây ban đầu chỉ là một cái cồn nhỏ do cát phù sa sông Hương tạo thành. Theo thủy triều lên xuống, Cồn Hến khi thì ẩn mình dưới làn nước sông Hương, khi thì nổi lên một phần, phô diễn vẽ đẹp trinh nguyên của tạo hóa. Dần dà theo năm tháng, được sông Hương nuôi dưỡng bằng nguồn phù sa ngọt ngào, Cồn Hến trở  thành một cù lao trù phú, thơ mộng như bấy giờ.

Một điều thú vị là thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây rất nhiều hến sinh sống,  làm nguồn thực phẩm đặc biệt cho cư dân trong vùng. Cái tên  bình dị “Cồn Hến” chắc cũng từ đó mà có.

Vào cái thời mà hai thi sĩ của chúng ta đang sống, mò hến là công việc rất tự nhiên của cánh “chân yếu, tay mềm” ở nơi đây. Những buổi chiều tà hay sáng sớm, giữa sông nước mênh mang, sương mờ ẩn hiện, các thiếu nữ chẳng ngại ngần thoát y, để hết quần áo trên bờ, tốp năm tốp bảy ùa ra triền sông vừa mò hến, vừa cười đùa rất hồn nhiên, vô tư. Toàn cảnh sinh hoạt tự nhiên, khoáng họat  đó của các thiếu nữ cồn Hến, vô tình đã tạo nên một kỳ quan sinh động, thần tiên, đầy sức mê hoặc trên sông Hương, cuốn hút du khách thập phương kéo về chiêm ngưỡng.

Cứ như là Tạo hóa đã cố tình sắp đặt, cồn Hến lại nằm đối diện với thôn Vĩ Dạ, địa danh mà hai thi sĩ Bích Khê và Hàn Mặc Tử cùng ca ngợi tâm đắc trong hai thi phẩm ta đang bàn đến. Trên thực tế,  Cồn Hến là một phần của thôn Vĩ Dạ. Nói đến Vĩ Dạ tức là hàm ý nói đến Cồn Hến. 

Bây giờ, mời các bạn quay về với bài thơ của Bích Khê: 

‘Ti trúc mê li xuân dưới nguyệt
Cỏ hoa vờ vật mộng trong hương…”

Như bất cứ trang quân tử nào, thi sĩ Bích Khê của chúng ta đã về thôn Vĩ Dạ có Cồn Hến thần tiên đã thả hồn theo tiếng sáo trúc mê li, chìm đắm trong đêm xuân, mơ mộng với nguyệt, với cỏ hoa… say đắm đến vờ vật tâm can.

Chúng ta đã biết bịệt tài dùng từ ngữ của tác giả. “nguyệt”, “cỏ” “hoa” là những từ mang nghĩa bóng rất  hàm súc mà nhiều tác giả vận dụng. Ví dụ, khi ai đó viết “... nơi đấy có nhiều hoa thơm, cỏ lạ” thì nghĩa bóng ai cũng hiểu là “nơi đấy có nhiều cô gái đẹp, quyến rũ”. Hay như Hàn Mặc Tử cũng có câu thơ ví von:

“ Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
   Đợi gió đông về để lả lơi ”

Vậy thì, với lối  ví von “thiên nhiên hóa”, rõ ràng tác giả Bích Khê đã nói đến hình ảnh sống động ở thôn Vĩ Dạ - Cồn Hến thời đó. Mỗi sáng bình minh hay chiều tà trên mặt sông lấp loáng sương mờ, rất nhiều thiếu nữ trong y phục Eva  đang đùa giỡn cùng sóng nước. Song, với một trạng thái xuất thần, thi sĩ mô tả những hình ảnh đó không như là thực tại, mà đó là ảo mộng thần tiên. “Cỏ hoa vờ vật mộng trong hương”

Hai câu cuối bài thơ, thi sĩ gần như đưa ra một kết luận:

 “Tràng An thú  ấy ai không biết
  Vĩ Dạ đêm nay khách chật đường” 

Tràng An là tên gọi chung của các kinh đô. Ở kinh đô Huế này, “cái thú ấy” – tức về Cồn Hến để thưởng ngoạn cảnh và người ấy, xem như một cuộc thưởng ngoạn mà ai đã ở kinh đô đều biết tiếng. Đêm Vĩ Dạ  là đêm hội thực sự, nơi du khách kéo đến “chật đường” để chờ mong thưởng ngoạn thêm một lần quang cảnh thần tiên của Cồn Hến trên sông Hương.

 Bây giờ, chúng ta hãy đến với bài thơ của Hàn Mặc Tử:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
     Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
     Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
     Lá trúc che ngang mặt chữ điền…”

  “Sao anh không về chơi Thôn Vĩ ?”  nghe như một lời mời chào hay như một lời trách móc, quyến rũ khó cưỡng nổi. Song, với các hàng cau và vườn tược thì có gì mà mời gọi đến thế? Cau và vườn thì nhiều nơi trên đất nước ta đều có, chẳng riêng gì ở Vĩ Dạ! Vậy đích thị cái lý do để “khách chật đường” mà Bích Khê trong bài thơ trên đã nói chính là cội nguồn của cảm xúc trong khúc thơ mở đầu này.

Ở đây, Hàn Mặc Tử cũng mượn cảnh nói người như Bích Khê trên kia, muốn lột tả cảm xúc mãnh liệt khi đứng trước quang cảnh thần tiên trong buổi sớm mai của thôn Vĩ Dạ. Xuyên qua hàng cau nhuộm nắng mới lên của bên này thôn Vĩ Dạ, ngắm bầy tiên nữ thóat y đùa nghịch ở bên kia Cồn Hến, chàng thi sĩ không thể không thốt lên “Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc”! Chúng ta đã gặp đâu đó trong một số bài thơ của thi sĩ những câu thơ bộc lộ cảm xúc trước vẻ đẹp tự nhiên của tạo hóa. Ví dụ như “Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm / Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”…

Nhưng ở bài thơ  này, tác giả đã rất kín đáo ví von khiến nhiều người ngộ nhận. Nguyễn Du khi mô tả cảnh nàng Kiều tắm, người đã viết: “Rõ màu trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”. Các thi sĩ cao tay đều đã dùng một “đường tơ ” ví von như vậy. 

Tuy say đắm với cảnh, với người đến thế, và mặc dù đang sống trong cái thời đại mà văn hóa Tây phương đã tràn vào các ngõ ngách của cuộc sống, chàng thi sĩ của chúng ta, vốn vẫn còn mang trong mình nét văn hóa Á Đông, đã ngại ngùng, lịch thiệp xòe bàn tay kéo cành trúc lá lưa thưa ra che mặt:

       “ Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

Che là che cho có  lệ mà thôi, qua các ngón tay xòe ẩn trong cành trúc lưa thưa lá, chàng vẫn không thôi ngắm nhìn đàn tiên nữ bên Cồn Hến đang nô đùa cùng sóng nước.

Nhưng rồi, nắng cũng lên cao hay trời cũng đã tối, các giỏ hến cũng đã  đầy, vui đùa cũng đã thỏa thích, các thiếu nữ phải về nhà, để lại mặt sông tỉnh lặng với sự ngẩn ngơ, tiếc nuối của khách thơ: 

      “ Gió theo lối gió, mây đường mây
        Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay” 

Nhưng bỗng nhiên, một ước vọng cháy bỏng vụt ập đến với thi nhân, cho dù rất đỗi huyễn hoặc, vô định :

      “ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
         Có chở trăng về kịp tối nay…”

Đến đây, do khuôn khổ của bài viết, chúng ta buộc lòng phải để chàng thi sĩ chìm đắm trong những rung cảm siêu thực nhưng rất riêng tư của chàng trong khổ thơ cuối, để quay về xứ Huế…

      “Mơ  khách đường xa, khách đường xa
        Áo em trắng quá nhìn không ra
        Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
        Ai biết tình ai có đậm đà?”

Mối liên tưởng giữa “khách đường xa” thưởng ngoạn với “những Eva Cồn Hến” và tà “áo em trắng quá nhìn không ra” qua cái nhìn nhạt nhòa siêu thực về một Cồn Hến rất thực kia quả đã làm cho bài thơ thanh thoát hẳn lên và gợi mở cho ta nhiều điều thú vị. 

Thôn Vĩ Dạ - Cồn Hến, dù chưa được một họa sĩ tài danh nào vẽ nên bức tranh sống động mô tả trên đây, nhưng địa danh đó đã đi vào thơ ca của hai thi sĩ tài hoa xuất chúng. Với hai trái tim tràn đầy tình yêu, yêu đời, yêu người, cảm nhận tinh tế vẻ đẹp tự nhiên của tạo hóa, Bích Khê và Hàn Mặc Tử đã thổi hồn vào các bài thơ về thôn Vĩ Dạ, làm chúng sống mãi cùng thời gian và in đậm trong tâm tưởng của chúng ta. 
 
Ai đó đã nói rất  đúng: “Nghệ thuật có thể làm ra những vần thơ đẹp. Nhưng chỉ với Tâm Hồn mới làm nên Thi Ca”. Quả thật, thôn Vĩ Dạ đã thực sự đi vào Thi Ca nhờ Bích Khê và Hàn Mặc Tử. 
 

NCT- Singapore
Về Đầu Trang Go down
thanhdo
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: HÀN MẶC TỬ VÀ BÀI THƠ THÔN VỸ   Sun Jan 13, 2013 2:46 am

Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ theo lời người gần với HMT.


HÀN MẶC TỬ VÀ BÀI THƠ THÔN VỸ


ĐẶNG TIẾN




Hoàng Thị Kim Cúc


Đây thôn Vỹ Dạ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ,
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên ?
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc,
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây;
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa;
Áo em trắng quá nhìn không ra.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?

1939
.
Bản dịch tiếng Pháp:

Le Hameau des Roseaux

Quand reviendras-tu au Hameau des Roseaux
Voir sur les aréquiers se lever le soleil,
Et luisants de velours, ces jardins d’émeraude
Au visage parfait derrière les bambous.
Le vent poursuit son chemin, les nuages les leur,
L’eau s’en va tristement, aux frissons des maïs en fleur
A qui la barque amarrée au clair de la lune,
Pourrait-elle encor la ramener pour ce soir?
Rêve le voyageur sur sa route lointaine,
Ta robe est si blanche, à peine je reconnais.
Ici, brume et fumée estompent les visages,
Sont-ils, de l’autre, les sentiments encore fervents?

Đặng Tiến dịch
21.02.2012

*

Đây thôn Vỹ Dạ trong phong trào thơ mới 1932-1945 có lẽ là một trong vài bài thơ  phổ biến nhất, đã được đem ra giảng dạy tại nhà trường dưới nhiều chế độ khác nhau, có thể vì nhiều lý do khác nhau. Bài này chỉ nêu lên giá trị nghệ thuật, trên nhiều địa tầng khác nhau.

Bài thơ làm khoảng nửa sau năm 1939, khi tác giả đã bị bệnh phong hủi nặng, đang điều dưỡng tại Quy Nhơn. Thơ làm khi nghĩ tới, hay để gửi cho người tình trong mộng là Hoàng Cúc sau khi nhận được một tấm bưu ảnh bà gửi từ Huế.

Tiểu truyện kể lại rằng, trước đó, 1932, chàng 20 tuổi, nhà nghèo, làm ở sở đạc điền Quy Nhơn. Nàng mười tám, mười chín, gia đình khuê các, thân phụ là cấp trên của Hàn. Hai người có lúc cùng ở chung đường. Tình thơ mộng, đơn phương của tuổi hoa niên. Chàng đã từng làm nhiều thơ ca ngợi:

Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá
Muốn ôm hồn cúc ở trong sương

Sau đó, 1934,  chàng bỏ việc vào Sài Gòn viết văn làm báo. Khi sức khỏe suy yếu, có thể biết mình bị chứng nan y, 1936, Hàn về lại Quy Nhơn. Nàng rời Quy Nhơn theo gia đình về Huế. Sau đây là lời Hoàng Cúc, tên thật là Hoàng thị Kim Cúc, trong một lá thư gửi cho Quách Tấn ngày 15-10-1971.

(Sau khi được tin Hàn bị bệnh nặng) «thay vì viết thư thăm, tôi gửi bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái carte visite. Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử  rồi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận được bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ và một bài khác nữa do Ngâm gửi về… ». (Hoàng Tùng Ngâm, bạn thân của Hàn, là em con chú với bà Kim Cúc).

Chứng từ giúp ta hiểu thêm hoàn cảnh sáng tác, nhưng bài thơ không phải là minh họa cho tấm bưu ảnh. Điều đặc biệt là không khí trong sáng, dịu dàng của tác phẩm hoàn toàn tương phản với  căn bệnh ngặt nghèo đang vào thời kỳ cuối của tác giả, lúc đó. Theo hồi ký của Nguyễn Bá Tín, em ruột:

« Những năm 1938-1939, nhất là năm 1939, anh đau dữ dội hơn hết. Tâm trạng anh biến đổi nhiều qua thơ anh. Giai đoạn này anh sống nửa mơ nửa thực, thường hay xuất thần không biết gì (tr.90).

Trích dẫn hai khổ thơ đầu, ông Tín cho thông tin: «Hai loại thơ nói trên được sáng tác trong cùng một giai đoạn, trong cùng một hoàn cảnh bệnh tật. Cùng trong túp lều tranh xơ xác, dưới cây phượng vĩ tàn tạ, bên bờ biển hoang vắng mà hai trạng thái tâm hồn hoàn toàn khác biệt nhau tùy theo cảm hứng. Tâm trí anh từ ngày đau nặng, vẫn mơ ước thoát khỏi thân tàn ma dại, khỏi không gian và thời gian…»[1]. Trong một hồi ký vừa được in thành sách mới đây, 2010, Bùi Tuân, bạn thân Hàn Mạc Tử đã xác nhận đời sống cơ cực này, tại một xóm nghèo cạnh Quy Nhơn.

Như vậy, chúng ta đă có cái khung về hoàn cảnh sáng tạo bài thơ, giữa 1939. Nhưng văn bản xuất hiện lần đầu, ở đâu, thì chúng tôi không biết, chỉ dựa theo văn bản trong sách Trần thanh Mại, 1941. Ông xếp bài thơ vào thi tập Xuân như ý, dưới tên Đây Thôn Vỹ Giạ (tr.223), chúng tôi tôn trọng chính tả này. Ấn bản sau đó, 1942, Hoàng trọng Miên xếp vào tập Đau Thương, dưới chính tả Vỹ Dạ, thịnh hành ngày nay, và dưới tên Hàn Mặc Tử.

Ngày nay, bài thơ được đưa vào chương trình giảng dạy cấp ba, nhiều soạn giả, như Hà minh Đức, xếp bài thơ vào thời điểm sáng tác 1937, trong đặc san Nắng Xuân, là không đúng.

*

Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên…

Là một trong dăm ba câu thơ đẹp và trong sáng nhất trên nền trời thơ Việt Nam. Thần diệu trong đơn giản, câu thơ gợi lên một không gian đơn sơ nhưng tuyệt vời – và không gian ngoại thành Huế ấy cũng là phong cảnh quê hương  chung của chúng ta, mà có lần Văn Cao đã khắc họa trong bài hát « bóng cau với con thuyền, một dòng sông ».
(Ghi chú ngoài lề: Văn Cao «khám phá»  thơ Hàn Mạc Tử trong chuyến thăm chơi Huế, 1941.)

Đây Thôn Vỹ Dạ gồm 3 đoạn đều cấu trúc trên nhiều câu hỏi, mở đầu bằng chữ Sao. Chữ sao, nghi vấn và biểu cảm, khơi nguồn một bài thơ, sẽ là một đặc sắc của thơ mới:

Sao buổi đầu xuân êm ái thế… (Xuân Diệu)

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong… (Thâm Tâm)

Nhạc điệu tân kỳ: câu thất ngôn Việt Nam nhịp 3/4; câu thơ đường luật nhịp 4/3. Câu thơ Hàn Mạc Tử khác lạ, khoan thai, tự nhiên 2/3/2

Sao anh / không về chơi / thôn Vỹ

Sáu âm bằng liên tiếp, nhịp những bước chân đều, dừng lại ở âm trắc cuối câu. Mãi sau này ta mới gặp âm điệu ấy ở Nguyễn Đình Thi:

Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt

Hay trong Bên kia Sông Đuống của Hoàng Cầm:

Anh đưa em về sông Đuống…
…Ai về bên kia sông Đuống
…Bao giờ về bên kia sông Đuống

Độ dài ngắn từng câu có phần xê xích, nhưng âm hao thì gợi nhớ câu thơ Hàn Mạc Tử.

Địa danh sông Đuống đưa âm trắc bất thường về cuối câu, nhắc đến tên thôn Vỹ.

Trần Thanh Mại [2] là người uyên bác và đã dày công đưa ra chuyên luận đầu tiên về một nhà thơ đương đại, và đề cao Hàn Mạc Tử, từng ca ngợi bài thơ này như một «viên ngọc vô ngần quý giá (tr.60), nhưng lại chê câu đầu là một «sơ suất»: câu ấy là một câu nói thường chứ không thể là một câu thơ, « Vỹ » cũng không vần với « lên » với « điền » hay với « ngọc » được (tr.224).

Hàn Mạc Tử hoàn toàn theo đúng âm luật khi dùng vần trắc như thế, như ông đã làm nhiều lần: « trăng nằm sóng soải trên cành liễu », và như Huy Cận viết « sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp ». Chỗ này, ngược lại, là một « sơ suất » của chính Trần Thanh Mại, có lẽ vì chủ quan và viết vội. Còn nói rằng, đây « là  một câu nói thường,  không thể là một câu thơ » là một lỗi thẩm âm. Thơ hay, là khi câu thơ đi gần tới văn xuôi mà không phải văn xuôi; văn xuôi hay là khi câu văn đi gần tới thơ nhưng không là thơ. Ví dụ từ Xuân Diệu:

Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò

Câu trước văn vẻ, trau chuốt, hay cái hay thông thường của văn chương; câu sau hồn nhiên, hay cái hay kỳ diệu của chất thơ, một nghệ thuật vượt qua kỹ thuật. Câu thơ hay thường khi là ngôi sao sáng một mình, mà Roman Jakobson gọi là hiện tượng câu thơ mồ côi, không phải trường hợp câu « sao anh không về chơi thôn Vỹ », vì âm điệu mà ông Mại cho là « trái tai », đã chuẩn bị cho một câu khác, ở phần sau, cũng ngoại luật:

Mơ khách đường xa khách đường xa

Bình thường, theo âm luật, thì trong câu thơ thất ngôn, chữ thứ hai và thứ sáu phải cùng một thanh, hoặc bằng, hoặc trắc.

Bài Đây thôn Vỹ Dạ là một trong ba bài Trần Thanh Mại đưa ra để chứng minh rằng « hầu hết thơ bảy chữ của Hàn Mạc Tử không kể bài thơ dài ngắn, đều đã theo luật bằng trắc của Đường thi (…) âm điệu hiển nhiên, bất di bất dịch, không còn bác bẻ được nữa » (tr.222). Nhưng… Hàn đã bác bẻ: bài thơ thôn Vỹ gồm ba đoạn mà cả hai đoạn đầu … không niêm. Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính… không bao giờ làm thơ « thất niêm » như vậy.

Ngoài ra, trong thơ bảy chữ của Hàn, đây đó, nhiều câu lạc vận.

Nêu lên vấn đề này, không phải để đôi co với Trần Thanh Mại – người tôi cảm  phục –  mà chỉ để nói rằng, trên câu thơ mở đầu một bài thơ được truyền tụng vẫn có  đôi điều cần thưa đi gửi lại.

Ngay từ Sao khơi nguồn bài thơ đã là một từ ý nhị và tế nhị. Bình thường nó là từ nghi vấn. Nhưng khi viết « Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung » thì Huy Cận không hỏi ai điều gì.

Trong truyện Kiều, Nguyễn Du dùng chữ sao 73 lần, có khi trong 4 câu liên tiếp: « khi sao…, giờ sao… mặt sao… thân sao…», nhưng thường dùng trong chức năng biểu cảm.

Từ sao đầu bài thơ dào dạt nhiều tâm tình, chủ yếu là lòng chờ đợi, mà ta đã gặp trong những bài thơ đầu tay của Hàn như trong Tình Quê:

…Cách nhau ngàn vạn dặm
Nhớ chi đến trăng thề
Dầu ai không mong đợi
Dầu ai không lóng nghe…

Hai khổ thơ sau cũng cấu trúc trên thể nghi vấn, « thuyền ai… có chở… ai biết », nhưng không để hỏi, dù là tự hỏi, mà chỉ thể hiện lời đối thoại nội tâm, như những vòng sóng gợn lăn tăn trên mặt hồ. Những trầm tư hòa điệu kỷ niệm với ước mơ, những tiếc nuối mông lung, nhớ nhung bàng bạc, những tình cảm không tên, có khi đã man mác trôi qua hay chập chờn chưa hình thành. Những dự phóng, hồi quang dang dở. So đo, đem từng câu thơ ra diễn giảng một cách duy lý là không thể. Dịch ra tiếng nước ngoài cũng khó.

*

Sao anh không về chơi thôn Vỹ

Thanh điệu làm nổi bật chữ « về », dấu huyền, giữa câu, đáng lẽ phải là âm trắc theo quy luật Gió theo lối gió, mây đường mây. Chữ « về », đắc địa và đắc ý, là một từ rất Huế. Người Việt dùng chữ về để diễn tả sự trở lại: về nhà, về làng, về nước, về nguồn…; người Huế, đi đến nhà bạn, ở xa, cũng dùng chữ « về », thân ái, tâm tình. Mỗi tình bạn là một quê hương, một đợi chờ, « một cõi đi về » như tên bài hát người Huế Trịnh Công Sơn. Lại mang máng nhớ thêm: «Sao em không về… Trong cơn đau vùi… Làm sao có nhau…». Phạm Duy, không phải người Huế, cũng viết Về Miền Trung, và đã tế nhị lập lại nhiều lần động từ về trong nghĩa tâm tình đó. Mà về, thôn Vỹ xa xuôi, chỉ để « nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên ».

Tiếng Việt phân biệt nắng với mặt trời. Thấy nắng trước khi thấy mặt trời; câu thơ diễn tả niềm vui, có khi là hạnh phúc, khi bắt gặp tia nắng trên đọt câu, rồi mới ý thức được ánh sáng ngoại giới, êm ả như cảnh Nắng trong vườn của Thạch Lam. Nắng đẹp thường là nắng mới, và nắng sớm; và đẹp nhờ thiên nhiên phản chiếu. Cây cau đẹp vì thân mảnh mai cao vút, cắt những tàu lá nhọn rủ xuống trên nền trời; lá trúc cũng vậy. Tàu cau, cành trúc giúp ta yêu một màu trời, nâng tầm nhìn và tầm suy nghĩ lên cao để yêu một khóm mây, một làn gió, một tia nắng quái, một mảnh trăng non.

Người Huế, chính xác hơn là người Vỹ Dạ, Bửu Ý đã có lời ca ngợi tàu cau trong bóng nắng chiều thậm hay: « Ở làng quê, cây mau cao nên chiều mau xuống (…). Tàu cau nhễu bớt bụi sáng xuống nụ tầm xuân. Chị ru em bằng tiếng hát bèo trôi » [3].

lên thoạt tiên trên những đọt cau có khi còn lóng lánh sương đêm, rồi mới xuống dần, xuống dần, theo từng đốt thân cau, cao và thẳng đứng, xuống dần đến mảnh vườn xanh như ngọc.

Vườn ai mướt quá…

Từ « ai » đã từng gây hiểu lầm. Nó là từ phiếm định, không chỉ riêng vườn của một chủ nhân nào cụ thể, mà có nghĩa là một mảnh vườn nào đó, của ai đó, như chữ ai trong câu cuối tiểu thuyết Đôi Bạn của Nhất Linh « đèn nhà ai mới thắp, yếu ớt trong sương, trông như một nỗi nhớ xa xôi đang mờ dần… ». Vì tính cách phiếm định đó mà trong các bản dịch ra tiếng Pháp của nhà xuất bản Ngoại văn, Hà Nội (1975, tr. 438), hay Gallimard-Unesco, Paris (1981, tr. 149), người dịch đã sử dụng số nhiều « les jardins », thậm chí « mặt chữ điền » cũng số nhiều. Bản Peras và Vũ thị Bích, Paris (2001, tr.161) dịch vườn ai thành « un jardin » cũng trong thể phiếm chỉ.

Sở dĩ phải dài dòng như vậy, vì gần đây, Nguyễn Bá Tín giải thích « vườn ai » là ám chỉ vườn bà Kim Cúc, mà ông có đến viếng, khiến bà đã bất bình ; vì vườn bà , không trồng cau, là loại cây « bình dân », « và cũng không ai trồng cau ở Vỹ Dạ » [4]. Gần đây, người trong gia đình bà Kim Cúc cho tôi biết, khu vườn Hàn Mạc Tử đã đến 1936, và nơi ông Tín đến, 1985, cùng thuộc Vỹ Dạ, là hai chốn khác nhau, và bà không nói những câu ông Tín nêu lên.

*

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Vườn. Ôi vườn xưa trong những bóng trưa! Người xưa tượng trưng hạnh phúc địa đàng trong một khu vườn. Tôi mường tượng là một khu vườn thôn Vỹ, đơn sơ như lời tả của Bửu Ý, bạn tôi: bụi hóp sống chung với hàng chè tàu, vườn trước thì nở tằn tiện một hai khóm hoa đủ làm vui mắt người đi đường. Đã có người gọi đồng bằng sông Cửu Long là văn minh Miệt Vườn, cũng có người gọi văn hóa Huế là văn hóa Vườn, mà Lê quý Đôn đã từng ca ngợi. Vườn ai mướt quá… Âm hao mềm mại, óng ả, lưu luyến nhờ những nguyên âm đôi, làm nổi bật chữ ai dịu dàng, tình tứ, rất Huế: ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm, ai nhớ ai mong… thuyền ai thấp thoáng trên sông.

Lá trúc che ngang… Lá trúc ở đây, là rào dậu, phân định ranh giới của vườn. Không rào dậu thì không thành vườn.Vườn là một địa phận môi giới, giữa cõi trong và cõi ngoài, chưa phải là cõi riêng nhưng không còn là của chung. Là trung gian giữa thiên nhiên và văn hóa. Là nhân loại chuyển mình từ đời sống du mục sang đời sống định cư, là giấc mơ đoàn tụ giữa Chức Nữ với Ngưu Lang, lời tình tự lứa đôi, có cu gáy và bướm vàng nữa chứ… ( Huy Cận). Là hạnh phúc có khi đang thực tại, có khi trong ước mơ hay niềm tiếc nuối một thiên đường đã mất. Thiên đường xanh những mối tình thơ dại, chẳng hạn, như thơ Baudelaire, một trong những bậc thầy Hàn Mạc Tử.

Hãy trả lại cho Hàn Mạc Tử hàng cau thôn Vỹ trong những vườn trăng: « ai nói vườn trăng là nói vườn mơ. Ai nói bến mộng là nói bến tình. Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo. »

Câu văn này, mở đầu lời Tựa tập Thơ Điên, tình cờ thôi, như cô đọng cả bài thơ Thôn Vỹ, một dòng suối tuôn ào ra khỏi tâm tư. Nó là một tâm cảnh, một thực thể duy nhất, cần được nhìn và cảm nhận như một tổng hòa toàn bích, và cảm nhận bằng trực quan thẩm mỹ.

Một tác phẩm nghệ thuật, bản nhạc, bài thơ, bức tranh, là sáng tác của một cá nhân nghệ sĩ, trong một khoảnh khắc, một địa phương nhất định, nhưng đồng thời nó cô đúc rung cảm của nhân loại từ muôn nơi, muôn thuở. Câu thơ:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay

Không khỏi gợi nhớ một câu của Trương Nhược Hư (đời Đường, đầu thế kỷ VIII) trong Xuân giang hoa nguyệt dạ (Đêm hoa trăng trên sông xuân, nguyên là tên một điệu hát xưa):

Thùy gia kim dạ thiên chu tử
Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu.
(Nhà ai đêm nay dong thuyền nhỏ
Chốn nào tương tư lầu sáng trăng)

Không cần dịch khó khăn, tôi bê nguyên si câu thơ Hàn Mạc Tử vào:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
(Trăng sáng lầu ai thương nhớ ai)

Xem đại ý, thậm chí lấy từng chữ ra mà so, cũng không xê xích bao nhiêu. Mà cũng chưa chắc Hàn Mạc Tử đã biết Trương Nhược Hư. Nghệ thuật quả là một thế giới đòng cảm kỳ diệu.

Thuyền ai đậu bến sông trăng…

Còn nhắc câu thơ Tản Đà dịch Phong kiều dạ bạc của Trương Kế đời Đường:

Thuyền ai đậu bến Cô Tô…

Câu này thì Hàn chắc biết.

Sau đó:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Là một câu thơ khó hiểu. Ai mơ, chủ từ của động ngữ là gì? Người dịch ra tiếng nước ngoài, để tạo mạch lạc với câu tiếp theo, thường cho khách đường xa làm chủ từ. Đây là một trong nhiều cách tiếp cận; nhưng câu thơ có thể không duy lý, mà chỉ là lời lẩm bẩm trong một giấc mơ thức tỉnh, và cả đoạn thơ chập chờn như một giấc mơ, gợi nhớ đến bài Mon rêve familier (Giấc mơ thân thuộc) của Verlaine, thậm chí bài Nắng mới của Lưu Trọng Lư « chập chờn sống lại những ngày không », dĩ nhiên là nội dung khác biệt.

Khách đường xa có thể là hồi âm câu đầu sao không về, qua một không gian đã trùng trùng xa cách.

Áo em trắng quá: trắng màu trinh nguyên, ngây thơ, vô nhiễm, linh hiện trong giấc mơ vô tội. Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong… (Huy Cận) lung linh, huyền huyền ảo ảo, mờ sương mờ khói.

Sương khói ở đây là thời gian xa cách, che lấp và bôi nhòe, tan biến. Như ý một câu thơ cổ, trong Hoa Tiên: đã sương đã khói đã vài năm nay. Nhân ảnh là từ hán việt duy nhất trong bài thơ, một từ uyên bác trong cõi nôm na, tạo thêm nét cổ kính, trang trọng cho một lời tâm sự đơn giản. Có lẽ tác giả đã mượn ở Cung oán ngâm khúc một hình ảnh vô cùng hợp tình hợp cảnh: Ai đem nhân ảnh nhuốm mùi tà dương. Trong bài thơ thôn Vỹ, chữ nhân ảnh có nghĩa là hình bóng người xưa, một chút nghĩa cũ càng đang mờ dần nhạt dần với thời gian. Nhưng hiểu rộng ra, trong kinh Phật, nó còn diễn tả kiếp sống mong manh, có có không không. Các cụ sẽ xem câu thơ đây là điềm dữ cho tác giả, một câu thơ « trệ », báo hiệu việc không may. Như cái chết sắp đến.

Hiểu như vậy là lìa xa văn bản, nhưng xích gần lại định mệnh thảm khốc của nhà thơ.

Vì chỉ khoảng một năm sau khi sáng tác Đây thôn Vỹ Dạ, Hàn Mạc Tử qua đời, đi vào Vườn trăng Vĩnh viễn.

Orleans, 21.2.2012
_____________

[1] Nguyễn Bá Tín, Hàn Mặc Tử anh tôi, tr.94. Nxb Tin, 1990, Paris
[2] Trần Thanh Mại, Hàn Mạc Tử, 1941, nxb. Võ Doãn Mại, tái bản 1942, Sài Gòn.
[3] Bửu Ý, Dạ khúc, báo Văn, 1965, in lại trong Ngày tháng thênh thang, tr. 48, nxb Văn Học, 2011.
[4] Nguyễn Bá Tín, Hàn Mặc Tử trong riêng tư, phần 4, trên mạng lưới dunglac.org. Đã in, nxb. Hội nhà văn, 1994, Hà Nội.

Về Đầu Trang Go down
tranvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN MẶC TỬ VÀ BÀI THƠ THÔN VĨ DẠ    Thu Dec 04, 2014 4:38 pm


ĐÂY THÔN VĨ DẠ
Nhạc Võ Tá Hân
Thơ Hàn Mặc Tử
Ca sĩ Vân Khánh


ĐÂY THÔN VĨ DẠ - Thơ Hàn Mặc Tử
Thúy Vinh diễn ngâm


ĐÂY THÔN VĨ DẠ
cô Lê Thị Anh Đào giảng

.



Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: HÀN MẶC TỬ VÀ BÀI THƠ THÔN VĨ DẠ    

Về Đầu Trang Go down
 
HÀN MẶC TỬ VÀ BÀI THƠ THÔN VĨ DẠ
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Thơ-
Chuyển đến