Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
Latest topics
November 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Vài nét phác hoạ về trường trung học Nguyễn Trãi ở Hà Nội trong những năm 1950 – 1954 từ tài liệu lưu trữ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Posts : 135
Join date : 20/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Vài nét phác hoạ về trường trung học Nguyễn Trãi ở Hà Nội trong những năm 1950 – 1954 từ tài liệu lưu trữ   Wed Jan 09, 2013 2:04 pm

Vài nét phác hoạ về trường trung học Nguyễn Trãi ở Hà Nội trong
những năm 1950 – 1954 từ tài liệu lưu trữ


Theo “Tờ thuyết trình về đầu niên học 1950 - 1951” của Hiệu trưởng trường trung học Nguyễn Trãi – Đào Văn Trinh gửi lên sở Học chính Bắc Việt thì “trường Nguyễn Trãi được tái lập theo Nghị định số 7478-THP/ND ngày 24/8/1950 của phủ Thủ hiến Bắc Việt” và “được huởng những toà nhà đồ sộ của trường Chu Văn An cũ phố Đồng Khánh”.
Sau kỳ thi tuyển học sinh vào lớp đệ thất và mấy kỳ thi lên lớp, trường đã cho khai giảng hôm 4/10/1950 và đến thời điểm này trường đã có tất cả là 23 lớp, gồm: 5 lớp đệ thất, 5 lớp đệ lục, 3 lớp đệ ngũ, 4 lớp đệ tứ, 3 lớp đệ tam, 2 lớp đệ nhị, 1 lớp đệ
nhất với 1030 học sinh, 39 giáo sư. (1)

Về cơ sở vật chất:

- Năm học 1950 – 1951:

Từ tháng 5, một phòng chữa răng miệng đã được thiết lập tại trường để phục vụ chung cho cả học sinh trung học và tiểu học.

Có 2 phòng thí nghiệm lý – hoá.

Có 2 máy hát Colum-bia và 2 bộ đĩa Assimil để dùng vào việc dạy tiếng Anh.

Đã thiết lập được 1 sân bóng rổ, 1 sân bóng chuyền. Ngoài ra có cả xà ngang, xà đôi.

Có 1 bàn bóng bàn. (2)

Tại trường, sở Công chính cho sửa chữa các nơi ngăn nắp và hợp vệ sinh, đã xây một bức tường để che kín nhà vệ sinh của học trò, đặt thêm máy nước ở nhà vệ sinh, đặt đèn điện ở khắp các lớp.

Lớp học đã có đủ dụng cụ: bảng đen, bục…

Dụng cụ học tập đến lúc này
đã có: “1 kính soi vi trùng, 1 accu Baroclem, 1 chargeur Oxymétal
Wes-tinghouse, 1 cân Roberval…” (3)

- Năm học 1951 – 1952:

Có thêm 1 phòng thực nghiệm, 1 sân khấu, 1 phòng chiếu bóng, 2 nhà để xe đạp cho học sinh cũng mới được làm thêm.
(4)

- Năm học 1952 – 1953:

Về trường sở, mới quét vôi được phía trong lớp học còn phía ngoài chưa có quỹ phải chịu để nhem nhuốc.

Đã lập được 3 phòng thí nghiệm và Phòng thí nghiệm có thêm các dụng cụ như: Ampe kế, vôn kế… (5)

Tuy vậy, các hoá phẩm và các dụng cụ vẫn chưa đủ để học sinh có thể thực nghiệm được. Vấn đề này vẫn trông vào quỹ viện trợ Mỹ từ 2 năm này song vẫn chưa có kết quả. Viện trợ Mỹ cũng đang tiến hành cả việc mua sách làm thư viện cho học sinh. (6)

Vườn thực nghiệm đến lúc này vẫn chưa thành lập được vì chưa có quỹ. Vả lại muốn lập vườn thực nghiệm cần phải tuyển 1 công nhân chuyên môn làm vườn (một việc không thể thực hiện được). Ngoài ra, các lớp vẫn chưa đủ ánh sáng, hành lang thiếu cửa chớp, 12 lớp vẫn thiếu quạt, cống rãnh trong sân trường có nhiều nơi bị tắc. Việc khắc phục những vấn đề này đều năm trong bản kế hoạch các công tác cần thiết trong năm 1953 của nhà trường. (7)

Dưới đây là văn bản gốc:




Thi cử:

Kỳ thi tuyển học sinh vào các lớp cũng như thi lên lớp tại trường trung học Nguyễn Trãi được tiến hành bài bản, nghiêm túc.

Việc tuyển học sinh vào các lớp đệ thất A và B được tiến hành với Hội đồng giám khảo và giám thị gồm 31 thành viên. Ban A và ban B thực hiện đề thi khác nhau với cùng các môn thi: Luận quốc văn, Khoa học thường thức (gồm 2 câu hỏi về Vệ sinh và 2 câu hỏi về Sử - Địa) và Toán.

Việc coi thi và giám thị:

“ngày 3/9/1951, vì có những 24 buồng thi nên mỗi buồng chỉ có một giáo sư làm giám thị. Hôm sau, mỗi buồng được hai giám thị vì chỉ có 5 buồng. Các giám thị cứ sau mỗi buổi thi lại phải luân chuyển sang buồng khác.

… Theo thường lệ, các bài thi đã do ông Chính chủ khảo đánh số và dọc phách trước khi được giao cho các giám khảo. Bốn tiểu ban đã được thành lập để chấm các môn thi.” (Cool

Kỳ thi lên lớp được giành cho học sinh kém sau mỗi năm học. Hình thức thi bao gồm cả thi viết và vấn đáp. Kết quả có học sinh được lên lớp, có học sinh ở lại lớp cũ và cũng không ít học sinh trong số đó bị thải trừ. (9)

Dưới đây là văn bản gốc:




Một số đề thi các môn:

- Đề thi nhập học lớp đệ thất, môn Luận quốc văn, ban A (hạn 1 giờ 30): “Anh đứng trước một ngôi nhà bị tàn phá nay được xây dựng lại. hãy tả cảnh những người thợ đang làm việc và nói cảm tưởng của anh.”

- Đề thi nhập học lớp đệ thất, môn Khoa học thường thức, ban A (hạn 1 giờ 30):

"1, Áp dụng sức mạnh của nước (than trắng).

2, Bệnh giun, sán – cách đề phòng và điều trị.

3, Khí hậu Việt Nam.

4, ông Hoàng Diệu với việc người Pháp lấy Bắc kỳ lần thứ 2.”

- Đề thi nhập học lớp đệ thất, môn Toán, ban A (hạn 1giờ 30):

“1, Một cái bể đáy tròn cao 1m20, đường kính của đáy dài 5m. Bể ấy chứa nước lên đến ¼ bề cao. Người ta mở một cái vòi cho nước chảy vào trong bể mỗi phút được 45 lit. Nửa giờ sau, người ta mở thêm 1 vòi nước nữa, vòi này chảy 5 lit trong 3 giây. Hai vòi cùng chảy trong bao lâu nữa để cho bể đầy nước? (л = 3,14)…” (10)

Dưới đây là văn bản gốc của một đề luận quốc văn:


Cách thức và phương pháp dạy học:

Theo các tờ trình của thanh tra Học chính Bắc Việt khi dự giờ các giáo sư thì phần lớn đều có nhận định: giáo sư chịu khó soạn bài trước khi đến lớp vì trên bàn có đặt một vở riêng để theo đó mà chỉ dẫn cho học sinh, đã chị khó kiểm soát vở học sinh vì tất cả vở đều có chữ chữa bằng mực đỏ nhiều hơn gạch. (11)

Khi dạy, giáo viên linh đông kết hợp các phương pháp: hỏi, chữa và giảng nhưng có giáo viên thì cần phải tích cực hơn, “phải hoạt động, đi lại xem xét, ghi lấy điểm số, không nên ngồi yên một chỗ” (12)

Dưới đây là một trong những văn bản đề cập đến việc này.


Việc điểm danh giáo viên và học sinh được thực hiện nghiêm túc, chẳng hạn ghi lại việc nghỉ bất thường của giáo viên:

“ Ông Bùi Nam Mạnh nghỉ một tuần lễ từ 20.10.50 đến 27.10.50 để sửa soạn dự kỳ thi cử nhân, có giấy phép của sở học chính số 8340HC.

Ông Đỗ văn Doan nghỉ ngày 6.11.50 vì bị cảm nặng…” (13)

Dưới đây là văn bản gốc: (ảnh số 41)


Khen thưởng và kỷ luật:

Trường Nguyễn Trãi chú trọng khen thưởng cho những học sinh có thành tích trong học tập và trong các hoạt động văn nghệ, thể thao… nhưng cũng kỷ luật nghiêm khắc những học sinh vi phạm nội quy trường học như tự tiện ngồi lên bàn, vô lễ với giáo viên, đánh nhau trong lớp… Trong hồ sơ có lưu Biên bản hội đồng kỷ luật họp ngày 22/12/1952 để xem xét việc học sinh Nguyễn Đức Năng, lớp 4B-5 phạm kỷ luật. (14)

Dưới đây là văn bản gốc: (ảnh số 73)


Về các hoạt động văn hoá, xã hội, thể thao:

Theo tường trình của ông Hiệu trưởng trong buổi họp Hội đồng quản trị trường Nguyễn Trãi ngày 17/3/1953 thì trường đã tổ
chức được các hoạt động như sau:

“a, Về văn - hoá:

Đã tổ chức những buổi thuyết trình của giáo - sư và học - sinh để học - sinh có dịp khảo cứu và tập trình bầy những vấn đề về văn - chương hoặc khoa - học, xã - hội… và để bổ túc cho sự học vấn của học - sinh ngoài những giờ học chính thức.

Về nghệ thuật sân khấu:

- Vì có sân khấu Côn - Sơn, nên đã phát triển nhiều: hiện có 3 ban kịch nhạc đua nhau tập diễn để giúp quỹ tương trợ.
Trong hồ sơ còn lưu các giấy tờ về Chương trình Đại hội văn nghệ và nhạc kịch của trường Nguyễn Trãi tổ chức tại Nhà hát lớn Hà Nội trong các ngày 28 đến 31/1/1954.
Trong Công văn gửi ông Thủ hiến Bắc Việt của Hiệu trưởng Đào Văn Trinh về việc mời ông làm
chủ toạ buổi diễn nhạc kịch ngày 29/1/1954 có đoạn: “Nhân dịp ngày hội cuối năm của học sinh, Hiệu - đoàn Nguyễn - Trãi sẽ tổ chức ba buổi nhạc kịch tại nhà Hát Lớn vào những ngày 28, 29 và 31.1.54. Buổi thứ nhất dàng riêng cho học sinh, còn hai
buổi sau sẽ bán vé lấy tiền giúp quỹ Hỗ - Trợ Bệnh - Viện và quỹ Tương Trợ Học Sinh Nghèo của Hiệu - đoàn” (15)

b, về hoạt động xã - hội:

Ngoài những công việc giúp các hội thiện, ban xã - hội của hiệu đoàn vẫn tiếp tục khuếch trương quỹ tương trợ học -sinh và năm vừa rồi đã trợ cấp cho 25 học - sinh nghèo. Từ đầu năm học mới đã trợ cấp cho 12 học - sinh.

c, Về thể thao:

Vì thiếu phương tiện nên hiệu đoàn không thể tổ chức những buổi cắm trại và chỉ cho hoạt động về các môn bóng chuyền, bóng rổ và bóng bàn. Về bóng bàn, học - sinh đã tiến hơn năm ngoái và đã giật được giải Vạn Thọ của Đức Quốc - Trưởng”. (16)

Dưới đây là văn bản gốc: (ảnh số 96)


Nguyễn Hồng Nhung - Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Tài liệu tham khảo

1. Tờ số 2, Hồ sơ số 605, phông sở Học chính Bắc
Việt.
2. Tờ số 15, Hồ sơ số 605, phông sở Học chính Bắc
Việt.
3. Tờ số 41, Hồ sơ số 605, phông sở Học chính Bắc
Việt.
4. Tờ số 33, Hồ sơ số 605, phông sở Học chính Bắc
Việt.
5. Tờ sô 67, Hồ sơ số 605, phông sở Học chính Bắc
Việt.
6. Tờ số 82, Hồ sơ số 605, phông sở Học chính Bắc
Việt.
7. Tờ số 83, Hồ sơ số 605, phông sở Học chính Bắc
Việt.
8. Tờ số 22, Hồ sơ số 605, phông sở Học chính Bắc
Việt.
9. Tờ số 56, Hồ sơ số 605, phông sở Học chính Bắc Việt.
10. Tờ số 24 -26, Hồ sơ số
605, phông sở Học chính Bắc Việt.
11. Tờ số 37, Hồ sơ số 605,
phông sở Học chính Bắc Việt.
12. Tờ số 44 -45, Hồ sơ số
605, phông sở Học chính Bắc Việt.
13. Tờ số 41, Hồ sơ số 605,
phông sở Học chính Bắc Việt.
14. Tờ số 73-74, Hồ sơ số
605, phông sở Học chính Bắc Việt.
15. Tờ số 96, Hồ sơ số 605,
phông sở Học chính Bắc Việt.
16. Tờ số 77, Hồ sơ số 605,
phông sở Học chính Bắc Việt.

Created by doanthuha
CreatedNews
10/8/2010 5:00 AM





Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://thntsaigon.forumsreality.com
 
Vài nét phác hoạ về trường trung học Nguyễn Trãi ở Hà Nội trong những năm 1950 – 1954 từ tài liệu lưu trữ
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: FORUM THNT Saigon :: Thầy Cũ, Trường Xưa, Bạn Cũ-
Chuyển đến