Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
Latest topics
September 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Đại học miền Nam trước 1975 - Hồi tưởng và Nhận định

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
PVChuong
Admin


Posts : 332
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Đại học miền Nam trước 1975 - Hồi tưởng và Nhận định   Sat Feb 16, 2013 5:57 pm


Đại học miền Nam trước 1975
Hồi tưởng và Nhận định


GS Lê Xuân Khoa




Mời các bạn hồi tưởng về một ngọn nguồn đã cung ứng những nền tảng căn bản cho việc đào tạo bậc đại học của chúng ta ngày xưa.
Giáo sư Lê Xuân Khoa là một chứng nhân của nền giáo dục đại học trước 1975, vì ông từng giữ những chức vụ quan trọng như giáo sư triết học phương Đông tại ĐH Văn khoa Sài Gòn, thứ trưởng Bộ Giáo dục (1965) và phó viện trưởng của Viện Đại học Sài Gòn (1974-1975). Ông định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1975, trở thành giáo sư tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc tế thuộc Ðại học Johns Hopkins.


Khi được một thành viên trong Ban chủ biên Kỷ yếu Humboldt 200, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Xanh, mời viết một bài về Đại học Miền Nam cho tập Kỷ yếu đánh dấu 200 năm Đại học Humboldt, tôi rất vui vì có cơ hội tham gia vào một công trình có ý nghĩa của một tập hợp trí thức trong và ngoài nước quan tâm đến sứ mệnh giáo dục Đại học ở Việt Nam. Tuy nhiên, tôi đã rất ngần ngại nhận lời, không chỉ vì tôi đã rời xa ngành giáo dục Việt Nam trên 35 năm mà còn lo ngại ký ức của tôi không còn nhớ nhiều về tổ chức và hoạch định chính sách cho nền giáo dục Đại học Miền Nam trước 1975. Quả thật, ngoài 15 năm giảng dạy một môn học rất xa thực tế là “Triết học Upanishad” và “Thiền học Việt Nam” ở Đại học Sài-gòn (sau này có dạy thêm “Văn minh Việt Nam” ở Đại học Đà-lạt,) tôi chỉ tham gia vào bộ phận điều hành ở Bộ Giáo dục, Viện Đại học Vạn Hạnh và Viện Đại học Sài-gòn trong những thời gian rất ngắn, từ năm tháng tới một năm. Tôi cũng ít có dịp hợp tác trực tiếp với những nhà lãnh đạo Đại học, trừ bốn người là cố Giáo sư Nguyễn Quang Trình (ĐH Sài-gòn), cố Linh mục Nguyễn Văn Lập (ĐH Đà-lạt), Thượng Tọa Thích Minh Châu (ĐH Vạn Hạnh) và cố Bác sĩ Nguyễn Ngọc Huy (ĐH Sài-gòn). Nhưng tôi đã được TS Nguyễn Xuân Xanh thuyết phục khi anh nhắc nhở rằng một bài viết về Đại học miền Nam của một “người trong cuộc”, dù ít dù nhiều cũng là điều không thể thiếu trong tập kỷ yếu Humboldt 200, trong đó có phần lịch sử Đại học Việt Nam từ thời cổ, triết lý và quá trình phát triển của nó trong 30 năm chiến tranh (1945-1975) và 35 năm sau thống nhất, đặc biệt là những vấn đề của hiện tại và nhu cầu “đổi mới để nhanh chóng vươn lên với thế giới”.

Vì đã có nhiều tác giả viết về lịch sử, triết lý và hệ thống tổ chức của nền giáo dục miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) từ Tiểu học tới Đại học, tôi thấy không cần thiết phải mô tả lại hệ thống giáo dục này. Tôi sẽ chỉ trình bày một số nhận xét và kinh nghiệm riêng của tôi về chính sách và điều kiện sinh hoạt Đại học trong khung cảnh chung của nền giáo dục ở miền Nam trước 1975, sau khi đã kiểm lại một số dữ kiện với hai bạn đồng nghiệp cũ là Giáo sư Nguyễn Thế Anh và Giáo sư Lê Thanh Minh Châu, cả hai đều từng giữ chức vụ Viện trưởng Viện Đại học Huế. Tuyệt nhiên đây không phải là một bài nghiên cứu hay luận thuyết mà chỉ là một bài ghi nhận  một số sự kiện đáng được lưu ý trong lịch sử ngắn ngủi 20 năm của nền giáo dục đại học ở miền Nam, từ ngày đất nước chia đôi đến ngày thống nhất. Do sự suy giảm của trí nhớ, tôi có thể đã bỏ sót hay không nhớ đích xác một số sự kiện diễn ra trên dưới 50 năm về trước.

Từ trung ương tập quyền đến tự trị đại học

Nói đến giáo dục Đại học hiện đại không thể không nói đến quyền tự trị của Đại học. Đó là xu thế chung của đại học ở các nước dân chủ như một điều kiện sine qua non cho sự phát triển của con người và xã hội. Điều 10 trong Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1967 ghi rõ: “Nền giáo dục Đại học được tự trị”. Điều này phản ánh tinh thần khai phóng trong triết lý giáo dục miền Nam được xác định trong Đại hội giáo dục lần thứ nhất năm 1958, với ba nguyên tắc căn bản là “nhân bản, dân tộc, khai phóng”. Đại hội này được tổ chức với sự tham gia của đại diện giáo chức các cấp trên toàn quốc cùng một số trí thức độc lập bên cạnh các đại diện của Bộ Giáo dục. Mọi quyết định của hội nghị đều là kết quả của những cuộc thảo luận và biểu quyết hoàn toàn tự do không có bất cứ sự can thiệp nào của chính quyền. Tinh thần khai phóng ở Đại học được thể hiện rõ rệt nhất trong việc tiếp thu những kiến thức khoa học tiến bộ và những giá trị văn hóa nhân bản của thế giới nhằm hiện đại hóa đất nước và phát triển toàn diện con người. Điểm này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở một đề mục dưới đây.

Thật ra cho đến năm 1975 Đại học miền Nam vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt tình trạng chuyển tiếp từ truyền thống trí thức hàn lâm của Đại học Pháp sang truyền thống thực dụng của Đại học Mỹ. Năm 1955, trước khi Pháp hoàn tất việc chuyển giao tất cả các cơ sở công quyền cho Việt Nam, hai nước đã ký kết một bản thỏa hiệp có hiệu lực mười năm về hợp tác và trao đổi văn hóa. Lý do là chính phủ Pháp muốn duy trì sự hiện diện và ảnh hưởng của văn hóa Pháp ở Việt Nam trong lâu dài, trong khi chính phủ mới ở miền Nam cũng cần phát triển giáo dục từ một nền tảng đã có sẵn, nhất là vì các nhà lãnh đạo chính quyền và trí thức đại học đều được đào tạo bởi nền giáo dục Pháp. Trong mười năm đó, chính phủ Pháp cấp học bổng cho nhiều giáo sư trung học sang Pháp tu nghiệp ngắn hạn hay tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ. Nhưng dần dần ảnh hưởng Pháp mờ nhạt đi kể từ khi Việt Nam bắt đầu gửi công chức và sinh viên sang Hoa Kỳ, Úc, Tân-Tây-Lan và các nước khác vào những năm cuối thập kỷ 1950.

Truyền thống giáo dục cổ điển của Đại học Pháp bắt nguồn từ bản Hiến Pháp năm 1791 (hai năm sau Cách Mạng 1789) xác định vai trò của quốc gia trong giáo dục, bảo đảm mọi công dân có cơ hội đồng đều về giáo dục ở mọi cấp và mọi ngành. Những nghị định năm 1806 và 1808 dưới thời Napoléon I đặt toàn thể hệ thống giáo dục từ tiểu học tới đại học dưới sự điều hành và kiểm soát của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chính sách trung ương hóa nền giáo dục toàn quốc có mục đích kiện toàn nền thống nhất của quốc gia và tinh thần đoàn kết trong nhân dân Pháp. Định chế toàn quốc ấy đã tồn tại cho đến tận ngày nay, nhưng qua nhiều lần cải cách, chức phận điều hành và kiểm soát của Bộ Giáo dục đã được nới lỏng để con người được phát triển đầy đủ và tự do hơn. Đặc biệt ở cấp Đại học, sự kiểm soát không nhắm vào các hoạt động hàn lâm mà chú trọng đến sự hợp lệ trong các thủ tục điều hành ngân sách và nhân viên.

Chịu ảnh hưởng truyền thống cổ điển của Pháp, giáo dục đại học ở miền Nam không được tự trị về cả ba phương diện ngân sách, nhân viên và học vụ. Quả thật các Viện Đại học Sài-gòn, Huế, Cần Thơ, Đại học Bách Khoa Thủ Đức, các trường Cao đẳng và Đại học Cộng đồng của chính phủ đều được đặt dưới quyền điều hành của Bộ Giáo Dục. Các quyết định quan trọng như tuyển dụng hay thăng ngạch trật của giáo sư, mua sắm vật liệu hay chi phí xây dựng đều phải trình cho Bộ trưởng duyệt ký. Riêng chức vụ Viện trưởng là do Tổng thống bổ nhiệm, nhưng dưới thời Đệ nhị Cộng hoà thì việc bổ nhiệm Viện trưởng phải được Quốc hội thông qua sau một buổi điều trần về đường lối và tổ chức Đại học. Tiếp theo đó, Thủ tướng bổ nhiệm các Phó Viện trưởng theo đề nghị của Viện trưởng nhưng không cần phải thông qua Quốc hội. Chữ ký của Viện trưởng trên các văn bằng Đại học luôn luôn theo sau dòng chữ “Thừa ủy nhiệm Bộ trưởng Giáo dục”. Các khoản viện trợ từ bên ngoài cho phảt triển Đại học cũng phải qua ngân sách của Bộ Giáo dục ngoại trừ dưới hình thức hiện vật như sách vở, dụng cụ, máy móc, hay giáo sư thỉnh giảng (visiting professors) không do chính phủ Việt Nam trả lương. Nguồn viện trợ thường là các chương trình ngoại viện của các chính phủ Pháp, Mỹ, Úc, Tân-Tây-Lan . . . Về học vụ, mặc dù nội dung chương trình giảng dạy thuộc thẩm quyền của Đại học, việc tổ chức các phân khoa, thi cử và văn bằng cùng với mọi sáng kiến thay đổi hay dự án mới đều phải được sự chấp thuận của Bộ Giáo dục. Tóm lại, Bộ Giáo Dục giữ vai trò điều hợp tổng quát các đại học để thống nhất về mặt triết lý giáo dục, quản trị nhân viên và tài chánh (trừ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh huấn luyện công chức là trực thuộc phủ Tổng Thống).[1]

Công bằng mà nói thì truyền thống đại học của Pháp không hẳn là một di sản xấu khiến cho đại học Việt Nam bị yếu kém về phẩm chất, như nhận xét của hai tác giả Thomas Vallely và Ben Wilkinson trong bản phúc trình của Đại học Harvard năm 2009. Nhận xét này đã bị Giáo sư Tạ Văn Tài phản bác rất đúng khi ông trả lời cuộc phỏng vấn của Đài Á châu Tự do, nhấn mạnh rằng những giáo sư đại học Việt Nam do Pháp đào tạo đều là những trí thức ưu tú không thua kém gì những đồng nghiệp người Pháp hay ngoại quốc khác. Họ đã xây dựng vững chắc nền đại học miền Nam từ 1954 và hầu hết sinh viên của họ khi ra nước ngoài đi làm hay học lấy bằng cấp cao hơn cũng đều là những nhân tài xuất sắc.[2] Có bậc thày không chỉ có công đào tạo ít nhất là hai thế hệ sinh viên mà còn là tấm gương sáng về đạo đức nghề nghiệp. Chẳng hạn, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, người có công gây dựng Đại học Văn Khoa từ những ngày đầu ở Hà Nội vào năm 1949-1950; bên Y khoa không mấy ai không biết đến Giáo sư Phạm Biểu Tâm là một vị thày thuốc điển hình của truyền thống Hippocrate.



Giáo sư Phạm Biểu Tâm đang tiếp chuyện với sinh viên Y khoa về việc ông bị bắt trong biến cố 1963

Ở miền Nam, khi ghi trong Hiến pháp năm 1967 là “Nền giáo dục Đại học được tự trị,” các nhà làm chính sách giáo dục đã xác nhận sự cần thiết phải hội nhập với thế giới dân chủ, nhất là theo mô hình của Mỹ. Nhưng việc trao cho đại học quyền tự trị, nhất là về quản trị nhân viên và sử dụng ngân sách, từ những định chế lâu đời như Bộ Giáo dục, Tổng Nha Công vụ và Tổng Nha Ngân sách đòi hỏi những sự thay đổi hay điều chỉnh thích hợp về luật lệ và thủ tục, do đó cần phải có thời gian thực hiện theo một tiến trình chuyển tiếp.



Trụ sở Viện Đại Học Sài Gòn cạnh bên Hồ con rùa (góc đường Duy Tân – Trần Quý Cáp). Trước 1975, các trường ĐH công lập như Luật khoa, Văn khoa, Kiến trúc, Dược khoa và Y khoa v.v… đều là các Phân khoa thuộc Viện ĐH Sài Gòn. (Hình ảnh và ghi chú trích từ “flickrer” manhhai)

Dù sao trong tiến trình tự trị hóa, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều ưu đãi. Các đề nghị của Hội đồng đại học về nhân viên hay ngân sách thường được chính phủ chấp thuận mau chóng ngoại trừ những quyết định thật quan trọng. Do sự tín nhiệm sẵn có đối với lãnh đạo đại học, sự chấp thuận của chính phủ được căn cứ vào sự hợp lệ về hành chánh và khả năng ngân sách hơn là xét về nhu cầu và giá trị của đề nghị. Về mặt học vụ, sự chấp thuận của Bộ Giáo dục lại càng có tính hình thức hơn nữa vì không khi nào Bộ ra chỉ thị hay can thiệp vào việc ấn định nội dung các môn học, thể lệ thi cử và chấm thi, các công tác nghiên cứu và giảng dạy, miễn là không trái ngược với ba nguyên tắc căn bản là nhân bản, dân tộc và khai phóng. Chính sách uyển chuyển này đối với lãnh đạo đại học đưa đến thái độ mặc nhiên chấp thuận cho đại học thử nghiệm sáng kiến mới để rốt cuộc chính thức công nhận kết quả của thử nghiệm. Một thí dụ: khoảng giữa năm 1965, tôi được biệt phái từ Đại học Văn khoa Sài-gòn sang Viện Đại học Vạn Hạnh trong một năm để giúp tổ chức và soạn thảo chương trình cử nhân cho Phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn.  Sau khi hội ý với Thượng Tọa Viện trưởng Thích Minh Châu và được sự đồng ý của Thượng Tọa, tôi bắt đầu soạn thảo các môn học theo hệ thống tín chỉ (credits) thay thế cho các chứng chỉ cử nhân nhưng vẫn duy trì chế độ niên khóa. Tôi trở về Đại học Sài-gòn khi xong công việc và được biết dự án cải cách dung hòa cũ-mới này sau đó được Hội đồng Viện hoàn chỉnh và lần lượt áp dụng vào các Phân khoa khác. Điều đáng chú ý là khi Viện ĐH Vạn Hạnh trình dự án này lên Bộ Giáo dục xin ý kiến, Bộ không chính thức chấp thuận hay bác bỏ, nhưng các văn bằng cử nhân của Đại học Vạn Hạnh đều được Bộ công nhận. Những buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên luôn luôn có sự hiện diện của Bộ trưởng Giáo dục. Từ đầu thập kỷ 1970, hệ thống tín chỉ chính thức được áp dụng ở các Đại học Cộng đồng và Đại học Bách khoa Thủ đức của chính phủ.


Một buổi lễ tốt nghiệp của Viện Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975. Trong ảnh Viện trưởng, HT Thích Minh Châu đang đọc thuyết văn

Sự nảy nở các đại học cộng đồng (hay đại học sơ cấp hai năm) từ 1971 đáp ứng nhu cầu thực tế về nhân lực của địa phương và thể hiện tinh thần dân chủ vì có sự tham gia trực tiếp về tài chính và quản lý của địa phương đó. Sự thành lập Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1973 được phỏng theo mô hình California Polytechnic State University đích thực là một đại học đa khoa, không chỉ gồm những phân khoa thiên về nghiên cứu mà bao gồm cả các ngành thực tiễn như nông nghiệp, kỹ thuật cơ khí, điện tử . . . là những ngành cần thiết cho nền kinh tế tại Đô thành và các tỉnh lân cận. Một đặc điểm trong chương trình đại học cộng đồng hồi đó là chương trình giáo dục bổ túc dành cho những sinh viên do hoàn cảnh chiến tranh nên thiếu căn bản vững chắc để theo các lớp đại học. Chương trình này cũng nhắm vào những quân nhân giải ngũ, nhất là khi đất nước hòa bình, cần được cập nhật và bổ túc kiến thức sau một thời gian bị gián đoạn việc học. Như vậy, việc cải cách giáo dục đại học theo xu hướng thực dụng và dân chủ hóa đã thật sự bắt đầu từ năm 1971.


Tự do học thuật và phát triển con người

Mặc dù một phái đoàn của Đại học Michigan đã đến Sài-gòn từ năm 1954 để giúp cải tổ chương trình đào tạo cán bộ ở Học viện Quốc gia Hành chánh, ảnh hưởng giáo dục đại học Mỹ chỉ bắt đầu ba bốn năm sau và đến những năm đầu thập kỷ 1970 mới có sự tăng tốc trong tiến trình đổi mới, với sự nâng cấp một số trường Cao đẳng Chuyên nghiệp, sự ra đời của một loạt Đại học Cộng đồng và của trường Đại học Bách Khoa Thủ Đức. Thế hệ trí thức theo truyền thống cũ của Pháp cũng ý thức được nhu cầu đổi mới và lợi ích của tự trị đại học trong công cuộc phát triển xứ sở nên cũng sẵn sàng chuyển hướng theo triết lý giáo dục của Mỹ. Tuy nhiên, mọi nỗ lực dân chủ hóa và thực tiễn hóa giáo dục đại học không có đủ thời gian thành tựu khi chế độ Cộng Hòa ở miền Nam sụp đổ năm 1975.

Tự trị học vụ trong qui chế tự trị đại học thường bị lẫn lộn với một chức năng liên hệ là tự do nghiên cứu và giảng dạy nay đã trở thành một truyền thống đại học ở các nước dân chủ. Đến đây, cần phải nhắc đến triết lý giáo dục của Đại học Humboldt nhấn mạnh vào sứ mệnh của trí thức đại học là phát triển toàn diện con người bằng khoa học và văn hóa, và điều kiện của phát triển là tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy. Phát triển con người bằng khoa học là tinh thần khai phóng, phát triển con người bằng văn hóa là tinh thần nhân bản. Đó là hai nguyên tắc chính yếu đã được đưa vào triết lý giáo dục các cấp ở miền Nam cùng với nguyên tắc thứ ba là tinh thần dân tộc, theo thứ tự “nhân bản, dân tộc, khai phóng,” phù hợp với nhu cầu và sứ mệnh của một quốc gia đang mở mang muốn vươn lên và hội nhập thành công trong cộng đồng thế giới.

Giáo dục nhân bản lấy con người làm cứu cánh nên chú trọng vào việc xây dựng đạo làm người, phát triển mầm mống tốt ở con người, phục vụ nhân sinh để tiến đến một xã hội hoàn thiện, đúng như đã được định nghĩa trong sách Đại học của Nho giáo (Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện). Đạo Nho có những giáo điều phong kiến lỗi thời nhưng những nguyên tố để đào tạo mẫu người lý tưởng như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đều có giá trị phổ quát và vĩnh viễn. Người “quân tử” hay “kẻ sĩ” thời phong kiến khác với người “trí thức” thời dân chủ về trách nhiệm cụ thể, nhưng hoàn toàn giống nhau về tư cách đạo đức và tinh thần trách nhiệm. Giáo dục dân tộc nhằm bồi dưỡng tinh thần hiếu hòa nhưng nhiệt tình yêu nước của giống nòi Hồng Lạc qua hơn hai nghìn năm lịch sử, bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Tinh thần dân tộc được thể hiện ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba 1945 và trao trả độc lập cho chính quyền Bảo Đại/Trần Trọng Kim: nền giáo dục Việt Nam lập tức được Việt hóa với chương trình Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Giáo dục khai phóng tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật và tinh hoa văn hóa của các nước Tây phương một cách không định kiến. Rút kinh nghiệm mất nước vì chính sách tự cô lập với thế giới của vua chúa nhà Nguyễn, giáo dục khai phóng cũng du nhập những tư tưởng mới về triết học và chính trị, chuẩn bị cho học sinh sau khi tốt nghiệp tiểu học hay trung học có điều kiện trở thành những công dân hữu ích cho xã hội.

Tinh thần khai phóng được thể hiện đầy đủ nhất ở Đại học qua sự thành lập các trường đại học mới, bổ sung tính chất nghiên cứu hàn lâm bằng khuynh hướng thực dụng để gia tăng khả năng phát triển kinh tế và công nghệ hóa miền Nam. Trong hai năm đầu, miền Nam mở thêm hai đại học, một công là Đại học Huế và một tư là Đại học Đà-lạt, cùng thành lập trong năm 1957; từ 1964 đến 1972 có thêm một đại học công là Đại học Cần Thơ (1966) và năm đại học tư là ĐH Vạn Hạnh (1964), ĐH Phương Nam (1967), ĐH Hòa Hảo (1970), ĐH Cao Đài (1971) và ĐH Minh Đức (1972). Sự gia tăng con số đại học tư—tổng cộng sáu đại học tư đều do bốn tôn giáo chính ở Việt Nam thành lập—cho thấy một đặc tính dân chủ ở miền Nam, mặc dù sự phát triển tự do này có vẻ biểu hiện nhu cầu xác lập vai trò và ảnh hưởng của mỗi tôn giáo trong xã hội hơn là nhu cầu thật sự về giáo dục đại học. Một đặc điểm khác của tinh thần khai phóng là quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy của các giáo sư. Các chứng chỉ, văn bằng và các môn học vẫn phải được Bộ Giáo dục duyệt y, nhưng nội dung các môn học và phương pháp giảng dạy đều do mỗi giáo sư tự ý quyết định.

Đáng tiếc là do tình hình chiến tranh, các hoạt động tự do học thuật này không phát triển được đến mức độ cao như mong đợi. Quả thật các giáo sư Đại học miền Nam được tự do nghiên cứu và giảng dạy, nhưng họ lại thiếu điều kiện để phát huy khả năng của họ. Trước hết là sự thừa kế truyền thống đại học cũ của Pháp từ thời Đại học Đông Dương. Trong những năm đầu chuyển tiếp từ 1954, Đại học Sài-gòn còn giảng dạy bằng tiếng Pháp ở các Phân khoa, trừ trường Văn Khoa, Cao đẳng Sư Phạm. (Ở trường Luật, nhờ những nỗ lực đặc biệt của GS Khoa trưởng Vũ Quốc Thúc và các đồng nghiệp của ông như Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Cao Hách, việc giảng dạy bằng tiếng Việt đã thực hiện được từ niên khóa 1955-56.)[3] Ngay cả khi đã hoàn toàn Việt hóa, Đại học miền Nam vẫn theo mô hình cũ của Pháp về tổ chức học theo năm và thói quen giảng bài hay phát bài cho sinh viên học thuộc lòng, trừ một số bộ môn khoa học như Toán và Vật lý. Giáo sư ít có những công trình nghiên cứu riêng, giữ nguyên bài giảng hàng năm hoặc chỉ thêm bớt đôi chút, không hoặc ít hướng dẫn cho sinh viên đọc sách tham khảo và thảo luận trong lớp học. Điểm bài thi cuối năm cao hay thấp phần lớn là tùy theo mức độ thuộc bài của sinh viên. Cho đến những năm cuối thập kỷ 1960, truyền thống cũ mới bắt đầu được thay đổi do sự trở về nước của một số giáo sư sau thời gian du học hay tu nghiệp ở những quốc gia ngoài hệ thống của Pháp như Anh, Đức, Úc, Tân-Tây-Lan, Nhật và Hoa Kỳ. Thật vậy, số người đậu tiến sĩ ở những nước này về Việt Nam dạy học gia tăng từ những năm giữa thập kỷ 1960, nhưng trách nhiệm lãnh đạo về học vụ vẫn ở trong tay thế hệ chịu ảnh hưởng của Pháp, vừa có thâm niên vừa chiếm đa số. Hệ thống giáo dục Đại học vì thế vẫn còn khá bảo thủ. Sự kéo dài tình trạng chuyển tiếp được thấy rõ ở Đại học Y khoa vào những năm cuối cùng: thành phần giảng huấn gồm các giáo sư Việt, Pháp và Mỹ, nhưng một số giáo sư người Việt khi giảng dạy vẫn pha lẫn tiếng Pháp và các bài giảng được viết bằng Pháp văn, đem đánh máy và in ronéo cho sinh viên học thuộc lòng để làm bài thi cuối năm.



Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn

Trong thời gian chuyển đổi từ ảnh hưởng của Pháp sang ảnh hưởng của Mỹ, một số giáo sư do Pháp đào tạo được đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ và khi về nước đã cập nhật kiến thức và phương pháp mới vào việc giảng dạy. Mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng mới và cũ tan biến mau chóng ngay cả ở Y, Dược khoa và sinh viên rất thích thú được hướng dẫn tra cứu thêm những sách báo y học và khoa học của Mỹ. Bên Luật khoa, các giáo sư trẻ mới du học về đưa ngay vào học trình một số môn mới trong hệ thống đại học Mỹ như kinh toán học, thống kê, phương pháp các khoa học xã hội, chính trị, bang giao quốc tế. Từ nay, thay vì chỉ ghi chép bài giảng của thày và học thuộc lòng để cuối năm sẽ viết ra y hệt (cours magistral), sinh viên đã có dịp áp dụng các phương pháp  tự tìm kiếm tài liệu nghiên cứu, do đó tập được thói quen tự học suốt đời, và có dịp tranh luận  trong lớp để huấn luyện óc phê bình, sáng tạo. Bên Văn Khoa thì bất kể là giáo sư xuất thân từ đại học Pháp hay Mỹ, đều “trăm hoa đua nở”, tự do giới thiệu và phê bình các hệ tư tưởng triết học, các khuynh hướng văn học, nghệ thuật, tức là rất sát với trào lưu quốc tế. Thí dụ, hồi đó triết học hiện sinh  (existentialisme) của Kierkegaard, Heidegger, Sartre và Merleau-Ponty được thảo luận sôi nổi nhất, và những tiểu thuyết hiện sinh của Albert Camus hay Simone de Beauvoir là những tác phẩm thời thượng.  Lại có giáo sư không ngần ngại lập ra trường phái mới như Giáo sư Linh mục Kim Định viết cả ngàn trang sách về tư tưởng “Việt Nho”. Các giáo sư trong Tạp chí Đại học thì nghiên cứu và phê phán không thiếu vấn đề gì, từ triết học, văn học đến chính trị. `Đại học Văn Khoa còn có một sồ giáo sư là Thượng Tọa và Linh Mục, như TT Thích Mãn Giác, TT Thích Quảng Liên, LM Trần Thái Đỉnh, LM Hoàng Sĩ Quý. Nói chung, dù xuất thân từ bất cứ đại học nào và thuộc khuynh hướng nào, các giáo sư văn khoa và các ngành khoa học nhân văn đều áp dụng phương châm giáo dục của Kant là “không chỉ giảng dạy cho sinh viên các tư tưởng mà dạy cho họ biết tư tưởng.”

Một câu chuyện đáng ghi nhớ về tự do tư tưởng của trí thức Đại học miền Nam là vào năm 1965, ngay sau khi chính phủ quân nhân cầm đầu bởi Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ được thành lập. Khi đó, Giáo sư Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, giao trách nhiệm đọc bài khai giảng niên khóa toàn trường cho Giáo sư Tạ Văn Tài, một trí thức trẻ mới ở Mỹ về,  xác nhận rằng ông có quyền tự do phát biểu. Giáo sư Tài đã trình bày tóm lược bản luận án tiến sĩ của ông ở Mỹ về vai trò của quân đội tại các nước Đông Nam Á, phân tích ưu khuyết điểm của chế độ quân nhân ở những nước láng giềng như Thái Lan, Miến Điện, Indonesia, nhấn mạnh đến quyết định sáng suốt của một số chính quyền quân đội đã mau mắn trao trả quyền lực cho nhân dân qua bầu cử, tránh được những cuộc đấu tranh chính trị gây đau thương chia rẽ trong cộng đồng dân tộc và kìm hãm sự phát triển của đất nước. Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cử Đại tá Dương Hồng Tuân đến tham dự và lấy bài giảng về làm tờ trình cho Hội Đồng Quân Lực. Sau đó, Tổng Thư ký Hội đồng Quân lực là Trung tướng Phạm Xuân Chiểu nhận trách nhiệm nghiên cứu bản luận án của Giáo sư Tài nhưng không thấy công bố kết quả hay phản ứng của Hội Đồng Quân Lực như thế nào.

Ngoài truyền thống bảo thủ của Pháp, một lý do quan trọng khác làm chậm sự phát triển đại học là tình hình kinh tế thời chiến và nạn thiếu giáo sư so với tỉ lệ gia tăng của sinh viên và số đại học được mở thêm khiến nhiều giáo sư phải nhận dạy ở nhiều trường, có khi còn kiêm nhiệm chức vụ khác nữa. Mỗi lần đi dạy xa như từ Sài-gòn ra Huế hay Đà-lạt hay Cần Thơ, giáo sư cần phải ở lại địa phương trung bình hai, ba ngày. Công việc nghiên cứu chuyên môn lại càng bị hạn chế, sáng kiến và phương pháp giảng dạy mới cũng không được phổ biến khi những người có hiểu biết và đầu óc đổi mới lại chính là những người được giao phó thêm chức vụ mà công việc hàng ngày thường chiếm nhiều thì giờ hơn là dạy học. Riêng cá nhân tôi, trước khi được bổ nhiệm Phó Viện trưởng Đại học Sài-gòn đặc trách nghiên cứu và phát triển năm 1974, tôi đã kiêm nhiệm hai chức vụ trong khu vực tư là Giám đốc Nhà Xuất bản Hiện Đại do Hội Việt-Mỹ bảo trợ và Phó Tổng Giám đốc của Mandarin Garment Co., một công ty hợp tác đầu tư Việt Nam-Hong Kong-Tây Đức, trong khi vẫn giảng dạy ở Đại học Văn Khoa. Dự án cải cách và phát triển Đại học Sài-gòn của tôi bị đình trệ vì phải huy động giáo sư và sinh viên tham gia công tác cứu trợ khẩn cấp đồng bào di tản vì chiến tranh từ các tỉnh miền Trung.

Nhà Xuất bản Hiện Đại là một dự án văn hóa có những đóng góp không nhỏ cho những hoạt động tự do, khai phóng của Đại học. Vì sự gia tăng cường độ của chiến tranh, công cuộc phát triển Đại học gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc gửi sinh viên đi du học nước ngoài. Bộ Giáo dục và Viện Đại học đã phải mời một số giáo sư ngoại quốc tới giảng dạy nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu. Khi làm Đổng lý Văn phòng tại Bộ Văn hóa Giáo dục năm 1965, tôi đã có dự án du nhập trí tuệ bằng việc mời giáo sư nước ngoài và dịch sách nghiên cứu để giải quyết nạn thiếu giáo sư và mở rộng kiến thức của sinh viên. Khi nói chuyện với các cơ quan viện trợ văn hóa nước ngoài, khẩu hiệu “We want to bring the brain in” của tôi có sức thuyết phục nhưng chưa kịp làm được gì thì chính quyền dân sự Phan Huy Quát đã phải ra đi. Năm 1971, cùng với sự nở rộ của các đại học tư và đại học cộng đồng kiểu Mỹ, tôi có cơ hội quan hệ với Hội đồng Quản trị Hội Việt-Mỹ và đề nghị chương trình dịch tài liệu giáo khoa của Mỹ cho giáo sư và sinh viên đại học Việt Nam bên cạnh chương trình phổ biến kiến thức phổ thông về văn học, khoa học và nghệ thuật mà Hội Việt-Mỹ đang thực hiện. Dự án được chấp thuận, Hội Việt-Mỹ phụ trách điều đình với các nhà xuất bản ở Mỹ về quyền được dịch sách và NXB Hiện Đại ra đời với sự hợp tác của nhiều giáo sư và học giả có uy tín cho đến những ngày cuối tháng Tư 1975.

Trong bốn năm hoạt động, NXB Hiện Đại đã hoàn thành được 45 tác phẩm trong đó 30 cuốn là sách nghiên cứu về kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật. Điển hình là : Căn bản Chính trị của Phát triển Kinh tế của Robert T. Holt và John E. Turner, Vũ Quốc Thúc dịch; Sự Biến đổi của Quốc tế Công pháp của W. Friedman, Tạ Văn Tài dịch; Chính trị và Bang giao Quốc tế của Hans J. Morgenthau, một nhóm chuyên viên dịch, Nguyễn Mạnh Hùng chủ biên; Thế Quân bình Thế giới và Tương lai của Á châu của Robert Scalapino và William Griffith, Phạm Thiên Hùng dịch; Á châu và các Đại cường của Robert A. Scalapino, Nhóm Toàn Hưng dịch; Văn minh Dân chủ của Leslie Lipson, Vũ Trọng Cảnh dịch;Nguyên tắc Quản trị: Phân tích các Chức vụ Quản trị của Harold Koontz và Cyril O’Donnell, Trần Lương Ngọc và Cung Thúc Tiến dịch; Xã hội học của Joseph Fichter, Trần Văn Đĩnh dịch; Khía cạnh Kinh tế của Phát triển Nông nghiệp của John W. Mellor, Nguyễn Đăng Hải dịch; Năng lượng và Thế giới Ngày mai của Hal Hellman, Ngô Đình Long dịch; Ký giả Chuyên nghiệp của John Hohenberg, Lê Thái Bằng và Lê Đình Điểu dịch. Đáng chú ý là bộ Kinh tế học của Paul Samuelson, người được giải Nobel Kinh tế năm 1970, Cung Thúc Tiến, Nguyễn Minh Hải và Trần Lương Ngọc dịch, Nguyễn Cao Hách hiệu đính, mới in xong tập I (700 trang) khoảng giữa tháng Tư 1975, chưa kịp bán. Năm 1990, khi tôi và phái đoàn SEARAC gặp cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ở New York để vận động việc định cư cựu tù nhân cải tạo ở Mỹ, nhân dịp đề cập đến kế họach đổi mới của Nhà nước, ông Thạch báo tin vui là bộ sách của Samuelson đang được dịch sang tiếng Việt. Tôi kể lại chuyện năm 1975 NXB Hiện Đại để lại hai nghìn bản dịch cuốn sách này còn thơm mùi giấy mới và nói thêm: “Chắc lúc đó các anh đã cho đốt hết rồi.”  Ông Thạch trả lời bằng một nụ cuời xòa.

Ngoài chương trình dịch sách của các tác giả người Mỹ, NXB Hiện Đại cũng xuất bản sách dịch từ Pháp văn và sách viết bằng tiếng Việt của tác giả người Việt. Cuốn sách tiếng Pháp làm sôi nổi dư luận thế giới hồi đó là cuốn Ni Marx, Ni Jesus của triết gia Pháp nổi tiếng Jean-François Revel được Nguyễn Khắc Nhân dịch sang tiếng Việt là Không theo Marx, không theo Jesus. Ba cuốn sách viết bằng tiếng Việt do Hiện Đại xuất bản là Từ điển Quản trị và Hành chánhcủa Bùi Quang Khánh và Vũ Quốc Thông, William Faulkner: Cuộc đời và Tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ và Nguyễn Văn Nha, và Đặc khảo về Dân nhạc ở Việt Nam của Phạm Duy.
Tại mỗi phân khoa đại học, các giáo sư cũng đưa những công trình nghiên cứu chuyên môn của mình vào những ấn phẩm của phân khoa, như Y Dược có tạp chí Acta Medica Vietnamica, trường Luật có Luật học Kinh tế Tạp chí, Học Viện Quốc gia Hành chánh có Tập san Nghiên cứu Hành chánh, Văn Khoa Sài-gòn có tập san Nghiên cứu Sử Địa, Đại học Huế có tạp chí Đại Học do một nhóm giáo sư phụ trách với sự hợp tác của nhiều giáo sư ở Sài-gòn. Về bên Khoa học, tôi chỉ nhớ có cuốn sách nổi tiếng được ngoại quốc biết đến nhiều là cuốn Cây Cỏ Miền Nam của GS Phạm Hoàng Hộ. Tôi không thể kể ra hết danh tính của những giáo sư đã có công đóng góp vào sự nghiệp phát triển đại học miền Nam, nhưng có thể khẳng định một cách tổng quát là những người trong ban giảng huấn đại học ở mọi cấp bậc đều được đào tạo theo hệ chính quy, trong nước hay ngoại quốc, có khả năng và tư cách nghề nghiệp xứng đáng được tôn trọng. Họ là một lực lượng trí thức Tây học đông đảo chưa từng có trong lịch sử đất nước, có đầy đủ tinh thần và phẩm chất của người trí thức ở các nước phát triển, không thua kém về trình độ so với các nước trong khu vực, có tư duy độc lập, có thái độ rất dấn thân và tâm huyết cho sự nghiệp phát triển nước nhà. Nếu có điều kiện tiếp tục phát triển hoà bình, chắc chắn họ sẽ tạo nên sự thăng hoa cho đất nước, như giới trí thức, khoa học gia đã từng làm cho nước Đức thế kỷ 19.

Ngoài sự nghiệp giáo dục đào tạo, giới trí thức đại học hồi đó cũng thấy rõ nhu cầu phát triển xã hội trong thời chiến đồng thời với công cuộc chuẩn bị tái thiết đất nước trong thời bình. Bởi vậy mặc dù ít thì giờ cho những công trình nghiên cứu lâu dài, một số trí thức vẫn đóng góp ý kiến với những nhà làm chính sách bằng những bài luận thuyết về những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trí thức đại học chưa nghĩ đến việc thành lập “think tank” như ở Mỹ nhưng đã tụ họp với nhau trên các diễn đàn độc lập có những tiếng nói đáng kể như tạp chí Quê Hương do GS Nguyễn Cao Hách và đồng sự chủ trương, Văn Hóa Á châu (thêm ấn bản tiếng Anh Asian Culture) của Hội Nghiên cứu Liên lạc Văn hóa Á châu, Thế kỷ Hai mươi do GS Nguyễn Khắc Hoạch chủ nhiệm, và Phát triển Xã hội (thêm ấn bản tiếng Anh Social Development) do tôi và một số đồng nghiệp phụ trách. Ngay cả những tạp chí của chính quyền như Pháp lý Tập san của Bộ Tư pháp, Tập san Quốc phòng của Bộ Quốc Phòng cũng có sự tham gia của nhiều giáo sư đại học và trí thức độc lập. Cũng cần nhắc đến bản Phúc trình Thúc-Lilienthal của “Nhóm Nghiên cứu Kế hoạch Hậu chiến” là kết quả hợp tác giữa trí thức đại học Việt Nam và các chuyên gia về chính sách của Hoa Kỳ.

Kết luận

Đại học miền Nam chỉ tồn tại có hai mươi năm trong đó mười năm đầu còn chịu ảnh hưởng Pháp khá sâu đậm do thỏa hiệp hợp tác văn hóa Việt-Pháp năm 1955. Chỉ từ 1965 Đại học miền Nam mới có cơ hội tiếp cận với tinh thần thực dụng và chế độ tự trị đại học của Mỹ và tìm cách áp dụng vào hệ thống đại học Việt Nam. Tuy nhiên, ngay từ những năm còn theo truyền thống cũ của Pháp, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều sự dễ dãi của Bộ Giáo dục về các thủ tục hành chánh, tài chánh, nhất là về học vụ. Các giáo sư được tự do nghiên cứu và giảng dạy mặc dù còn thiếu nhiều điều kiện giúp cho việc phát triển tiềm năng. Mười năm sau (1965-1975) vẫn được coi như thời kỳ chuyển tiếp vì khuynh hướng thực dụng và những thay đổi theo mô hình đại học Mỹ chỉ có cơ hội nảy nở từ những năm đầu thập kỷ 1970.

Sự gia tăng cường độ của chiến tranh kéo theo tình trạng bất ổn về xã hội và khó khăn về kinh tế đã hạn chế rất nhiều khả năng nghiên cứu, cập nhật kiến thức và phương pháp giảng dạy của các giáo sư. Nhiều người đậu tiến sĩ ở ngoại quốc chưa muốn trở về nước giảng dạy vì bất mãn với chính quyền miền Nam. Nạn thiếu giáo sư càng trầm trọng trước sự gia tăng số sinh viên và số truờng đại học mới mở khiến cho những giáo sư giỏi phải đi dạy ở nhiều trường hoặc đảm nhận thêm công việc khác. Trong những điều kiện hạn chế và khó khăn như thế, Đại học Việt Nam vẫn cố gắng phát triển, nâng cấp những trường cao đẳng chuyên nghiệp, mở thêm các đại học cộng đồng và đại học bách khoa, áp dụng hệ thống tín chỉ... Môi trường đại học đích thực là một môi trường tự do của hoạt động trí thức. Nhiều giáo sư, dù bận dạy nhiều trường hay có việc làm thêm, vẫn cố gắng đóng góp ý kiến qua những diễn đàn trí thức về những vấn đề quan tâm chung. Tiếc rằng vào thời điểm những năm đầu thập kỷ 1970, chưa có ai nghĩ đến việc thành lập “think tank” để tư vấn cho những nhà làm chính sách, có lẽ khái niệm về những cơ quan nghiên cứu tư vấn kiểu Mỹ này còn khá xa lạ đối với Việt Nam.

Tôi không muốn so sánh Đại học miền Nam trong 20 năm chiến tranh trước 1975 với nền Đại học Việt Nam hiện nay. Nhưng tôi thành thật nghĩ rằng nếu hiệp định Paris 1973 giữa bốn phe tham chiến được thi hành nghiêm chỉnh, thực hiện những đìều khoản đã thỏa thuận về “hòa giải và hòa hợp dân tộc” (chương IV, điều 10, 11 và 12)[4] thì miền Nam Việt Nam dưới một chính quyền mới sau cuộc tổng tuyển cử đã có triển vọng giàu mạnh không thua kém Nam Hàn, và Đại học miền Nam cũng đã đạt được “đẳng cấp quốc tế.” Kết quả này cũng chắc chắn đã diễn ra, dù chậm trễ hơn nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, nếu đường lối đổỉ mới thật sự của những nhà lãnh đạo có tầm nhìn như Nguyễn Cơ Thạch hay Võ Văn Kiệt không bị trở ngại trên bước đường thực hiện.

Cũng may là ở Việt Nam ngày nay vẫn còn có những trí thức không quên theo đuổi lý tưởng của người làm thày cao hơn người làm quan (tiến vi quan, đạt vi sư), nhất là không quên sứ mạng “lương sư hưng quốc”. Họ đã không ngừng tuyên dương và cố gắng phát huy truyền thống đại học Humboldt, trong đó tự do nghiên cứu và giảng dạy là điều kiện thiết yếu để đào tạo con người và phát triển xã hội. Các nhà lãnh đạo Nhà nước cũng đã nhấn mạnh đến sự cần thiết xây dựng đại học “đẳng cấp quốc tế”, đang tiếp cận với các nền giáo dục phát triển phương Tây, đặc biệt nền giáo dục đại học Hoa Kỳ, nhưng đến bao giờ thì mới thật sự tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này? Thời gian không chờ đợi trên vũ đài thế giới.

Irvine, California
Tháng Mười, 2010

Tham khảo

1.    Wikipedia, tiếng Việt, “Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa”.
2.    Nguyễn Hữu Phước, Contemporary Educational Philosophies in Vietnam,1954-1974, luận án tiến sĩ tại University of Southern California, 1974.
Đỗ Bá Khê, “Phát triển Đại học miền Nam trước 1975”, trang 152-157, trong Giáo dục ở miền Nam tự do trước 1975 , Nguyễn Thanh Liêm chủ biên, Lê Văn Duyệt Foundation  xuất bản, Santa Ana, California, 2006.
________________________________________
[1] Điều này khác với mô hình các đại học ở Liên Xô mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã áp dụng cho đến những năm gần đây: Đại học ngành nào thuộc Bộ ngành đó, thí dụ Y khoa thuộc Bộ Y tế, Luật khoa thuộc Bộ Tư pháp. Từ 1994 các khoa mới được tập trung thành Đại học Quốc gia. Sau 30.4.1975, trường Luật và trường Quốc gia Hành chánh bị bãi bỏ, nhưng dưới thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt thì được tái lập, có lẽ vì chính quyền mới đã nhận ra vai trò đóng góp vào nền pháp trị của trường Luật ở miền Nam. Trong khi đó, kiến thức và kinh nghiệm của ban giảng huấn Học viện Quốc gia Hành chánh cũng cần thiết cho việc cải tổ hành chánh. Một số giáo sư chế độ cũ được mời giảng dạy và làm tư vấn về hành chánh cho Thủ tướng.
[2] Đài Á châu Tự do phỏng vấn GS Tạ Văn Tài ngày 19.10.2009, đăng lại trong Đặc San Luật Khoa 2010 của Câu Lạc Bộ Luật Khoa Việt Nam, Houston, Texas.
[3] Về điểm này, phải kể đến sự đóng góp quan trọng của GS Vũ Văn Mẫu, soạn giả tập Từ Điển Pháp-Việt: Pháp, Chính, Kinh, Tài, Xã Hội.
[4] Thí dụ: Chương IV, Điều 11 ghi rằng: “Ngay sau khi ngưng chiến, hai bên miền Nam sẽ: (1) thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, chấm dứt hận thù, cấm đoán mọi hành động trả thù và kỳ thị đối với các cá nhân và đoàn thể đã hợp tác với bên này hay bên kia; (2) bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm việc, quyền tư hữu, và quyền tự do kinh doanh.”

(Nguồn tổng hợp: Lê Xuân Khoa,  Việt Nam Thư Quán và NVT)

http://duockhoa74.com/2011/11/17/dong-song-c%E1%BA%A3-d%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-mi%E1%BB%81n-nam-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-1975-h%E1%BB%93i-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-va-nh%E1%BA%ADn-d%E1%BB%8Bnh-le-xuan-khoa/
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
bhtran
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Giáo dục ở miền Nam Việt Nam - Những con số biết nói   Mon Apr 15, 2013 3:47 pm

.

Giáo dục ở miền Nam Việt Nam - Những con số biết nói


Đại học Sư Phạm Saigon

Công việc giáo dục ở miền Nam bắt đầu từ giai đoạnn chuyển tiếp từ nền giáo dục thuộc Pháp sang Việt Nam. Việc thâu hồi chủ quyền đại học từ trong tay người Pháp chỉ được thực hiện vào ngày 11/05/1955. Lúc đó chúng ta, VNCH mới có một nền giáo dục do Bộ Giáo Dục đảm trách.

Hãy nhìn lại cho thấy thời bắt đầu của một miền Nam VNCH. Các thầy giáo trung học, trình độ còn thấp, học lực có người chỉ là giáo viên tiểu học đưa lên. Nhưng tư cách đạo đức là không thiếu.

Chẳng hạn, cụ Hiệu Trưởng Vũ Ngô Xàn, ngạch giáo viên lên Thanh tra và hiệu trưởng Chu Văn An. Cụ cũng là người trách nhiệm chọn đề thi lúc ban đầu 1954‒1955. Tiếp đến các cụ hiệu trưởng kế vị như Trần Văn Việt, Nguyễn Hữu Văn, Đàm Xuân Thiều, Lê Văn Lâm, Bùi Đình Tấn, Dương Minh Kính…

Các giáo sư trung học dạy công và tư tiêu biểu lúc đầu là những vị như

‒ Triết có linh Mục Trần Văn Hiến Minh, Trần Bích Lan.

‒ Toán, Lý Hóa: Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Văn Kỷ Cương, Nguyễn Xuân Nghiên, Trần Thế Hiển, Nguyễn Đình Quỹ. Dạy tư thì không thể không nhắc tới các giáo sư Ngô Duy Cầu, Bùi Hữu Sủng, Bùi Hữu Đột. Họ chỉ dạy chuyên các lớp từ đệ tứ trở xuống. Dạy hay, dễ hiểu, vẽ đẹp, tài ba lắm. Chẳng ai hỏi xem các vị ấy có chứng chỉ gì về toán ở đại học không? Trường tư thục Văn Lang nổi tiếng với giáo sư Ngô Duy Cầu. Riêng Nguyễn Xuân Nghiên phải được coi là “không ai sánh bằng.”

‒ Sử địa: giáo sư Vũ Khắc Khoan dạy sử. Tài hoa và lôi cuốn. Địa lý có ông Bùi Đình Tấn.

‒ Vạn vật: cụ Nguyễn Văn Đỉnh

‒ Pháp Văn: Có lẽ môn Pháp Văn là tương đối có các giáo chức có căn bản học vấn nhất. Họ theo học chương trình Pháp từ nhỏ nên vững lắm. Giáo sư Nguyễn Văn Linh nói tiếng Pháp tự nhiên và lưu loát như người Pháp. Học trò ban C rất trân trọng ông.

Anh Văn: cụ Nguyễn Văn Nguyên và linh mục Trần Phúc Long. Lm Long đi du học về, nhưng không được học trò thích lắm. Môn Anh Văn có lẽ là môn “bết nhất” về giọng đọc cả về phía thầy đến trò. Có sao đâu, thầy trò nói tiếng Ăng Lê với nhau chứ không nói với Mỹ. Ngay cả các vị tốt nghiệp đại học sư phạm đàng hoàng sau này, thế hệ 1960, giọng đọc cũng thuộc loại có vấn đề. Họ “không lại” các sinh viên hoặc các giáo chức đi tu nghiệp ở Úc, Tân Tây Lan, Singapore về sau này dù chỉ là đi một năm. Hội Việt Mỹ sau này cũng chỉ mướn các giáo chức có đi tu nghiệp ngoại quốc mà thôi.


 
Từ điển Việt Anh/Anh Việt Lê Bá Kông
Nguồn: hzportal.dayton.lib.oh.us

Trong khi đó, dạy tư thục môn anh văn không thể không nhắc tới các giáo sư Lê Bá Kông, Lê Bá Khanh. Chắc trình độ anh văn cũng “qua loa.” Giọng đọc anh văn chắc giống giọng Tàu “Hồng Kông” hơn là giọng Mỹ. Nhưng lúc đó, phải chấp nhận tình trạng liệu cơm gắp mắm chứ biết làm thế nào!!! Tuy nhiên bộ sáchvăn phạm anh văn Lê Bá Kông thì đã giúp cho nhiều thế hệ học sinh lắm. Tuy nhiên cũng có các lớp anh văn “dởm” như các lớp của Tuấn Huy. Sau này, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Linh là một trong những người đi du học Mỹ về. Việc học và nói tiếng Anh đã có căn bản hơn.

Năm 1954‒55, chính phủ Việt Nam chỉ có 29 trường trung học với 20.999 học sinh. Năm 1960, chính phủ xây thêm được 40 trường và nhận thêm được 41.131 học sinh. Năm 1955, chúng ta chỉ có 5 trường bán công với 1200 học sinh. Năm 1960, chúng ta có thêm 80 trường bán công với số học sinh là 245.855.

Vẫn không thể giải quyết được số học sinh quá đông, hệ thống trường tư năm 1955 chỉ có 89 trường. Năm 1960, tăng thêm 254 với tổng số 83.498 học sinh. (Trích Sáu năm hoạt động của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, Hồ Đắc Huân, trang 643‒652).


 
Phải nói là tốt đẹp.

Để đáp ứng nhu cầu dạy học, ngoài trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa đã mở thêm các trường Sư phạm cấp tốc tại các tỉnh Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, Nha Trang, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên, Ban Mê Thuột.

Năm 1958 là năm thiếu trầm trọng các giáo sư trung học. Để đáp ứng được tình trạng thiếu hụt đó, Đại Học Sư phạm Sài Gòn đã đào tạo được 618 giáo sư trung học. Đại học Sư Phạm Huế đào tạo được 254 người.

Tính chung cả hai cấp Trung tiểu học, chính quyền cho đến năm 1960 đã đào tạo tổng cộng được 24.678 người. Cho đến năm 1960, tỷ lệ đào tào giáo sư trung học tăng 21,45%, trong khi tỉ lệ học sinh chỉ gia tăng 18,93% năm.(Trích Hồ Đắc Huân như trên, trang 652).

Những con số vừa nêu trên cho thấy là thời đệ nhất cộng hòa, chính quyền Ngô Đình Diệm đã quan tâm đặc biệt đến việc dào tạo giáo chức cũng như việc xây dựng trường sở. Trong 9 năm này, không chỉ ngành giáo dục mà toàn thể các cơ cấu hành chánh, các nha bộ đều phát triển đồng bộ tạo thành một nề nếp, khuôn khổ hành chánh sau 1954‒1955 về mọi mặt.

Việc xây dựng các trường công lập thì sang thời đệ nhị cộng hòa có phần chậm lại. Chính phủ có phần ít chú trọng đến vấn đề giáo dục.

Việc đào tạo giáo chức nói chung không đáp ứng kịp so với sỉ số học sinh gia tăng. Các trường công ở tỉnh đành mượn cáo giáo sư dạy giờ, dạy theo khế ước. Cho đến thập niên 1965, số lượng giáo chức dạy giờ có thể chiếm đến 1/3 hoặc hơn trong số giáo chức đi dạy. Thường họ chỉ có tú tài 2 hoặc một vài chứng chỉ ở đại học. Đồng lương thật ít ỏi. Lương bổng thấp nên họ được nhận thêm phụ cấp 300 đồng cho bậc tiểu học và 800 đồng cho bực trung học.

Họ phải vừa dạy, vừa học thêm.

Họ cố gắng học thêm để hoàn tất các chứng chỉ cử nhân ở đại học. Sau này, do đi học thêm, nhiều giáo chức có cử nhân. Nhất là các cử nhân khoa học, văn khoa và luật khoa.

Nhưng các trường bán công và tư thục sau này gia tăng rất nhanh.


 
Trong sân trường Nguyễn Bá Tòng (Sài Gòn, 1971)
Nguồn: flickr.com

Trường bán công thường do địa phương điều hành nên việc tuyển mộ giáo chức, điều hành thường không được chặt chẽ. Có nhiều trường hợp quen biết, có những gian lận trong tổ chức hành chánh như bán học bạ, làm chứng chỉ giả để đi học, hoặc để trốn quân dịch. Tổ chức lỏng lẻo nên phẩm chất giáo chức thường thấp. Kỷ luật học đường theo đó cũng xuống thấp theo. Tỉ lệ học sinh thi đỗ theo đó cũng thấp hơn các trường công lập.

Phần các trường tư thục một phần không nhỏ do các tôn giáo, nhất là Thiên Chúa giáo lập ra ở hầu hết các tỉnh. Tổ chức thường chặt chẽ, có kỷ luật hơn cả các trường bán công. Mỗi tỉnh cũng thường có các trường “công giáo” như thế. Thường các phụ huynh chịu bỏ thêm tiền để cho các con em học trường tư thục do các linh mục, các bà sơ lập ra. Các trường tư công giáo nổi tiếng một thời như Nguyễn Bá Tòng, Lê Bảo Tịnh. Có một trường tư mà tôi nghĩ rằng kỷ luật học đường hơn hẳn bất cứ trường công tư nào. Đó là trường Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng.

Các tư thục ở Sài Gòn cũng rơi vào tình trạng khá phổ biến là không có đủ tiêu chuẩn bằng cấp. Có người chưa có nổi bằng tú tài. Tình trạng hỗn mang đó sau vài năm đã được chấn chỉnh khá hơn, nhất là đối với các lớp dạy thi tú tài. Không còn cái cảnh thầy học hôm trước, hôm sau dạy lại.

Tình trạng luyện thi đệ tứ và tú tài sau này cũng khá phổ biến. Đó là một thứ Mal nécessaire, thứ xấu cần thiết, không tránh được của nền giáo dục non trẻ của VNCH. Lý do là nhiều viên chức chính phủ và sĩ quan quân đội VNCH không có bằng cấp. Muốn được nắm chức vụ chỉ huy, lên lon, ông Ngô Đình Diệm khuyến cáo các vị này phải đi học thêm các lớp luyện thi tú tài 1 và 2. Cấp tá phải có tú tài, cấp úy phải có bằng trung học phổ thông.

Tôi xin nêu tên một vài vị ra đây để nêu gương hiếu học của các vị ấy và là tấm gương soi sau này.

Trường hợp tướng lãnh lớp cũ như các tướng Đỗ Cao Trí, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ chắc đa số đều không có tú tài. Trong hồi ký Buddha’s Child, trang 18‒25, tướng Kỳ cho biết, ông học trường Pháp bảo hộ, trường Albert Sarraut. Năm 1950, Bảo Đại tổng động viên và ông Kỳ bỏ học vào quân đội.

Trường hợp những người như tướng Đỗ Mậu, bằng cấp không có, tham vọng lại nhiều phải nói thế nào bây giờ. Sau này, nhận lãnh chức vụ Phó Thủ Tướng đăc trách Văn Hóa thì thật không xứng hợp tý nào.

Vài dòng kết luận


Nhìn lại những năm tháng này sau 1975, tôi có một số ý nghĩ là con số giáo chức trung tiểu học kẹt ở lại cũng vài chục ngàn người. Trong đó bao gồm các trường Kỹ Thuật như:

‒ Trung tâm quốc gia kỹ thuật Phú Thọ với các trường Cao Đẳng Công Chánh, Cao Đẳng Điện Học, Việt Nam Hàng Hải và Quốc Gia kỹ sư công nghệ. Ngoài ra còn có các trường Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng, Trung Học Kỹ Thuật Huế, Trường Quốc Gia Thương Mại và trường Bán Công Phú Thọ.

‒ Về các ngành Mỹ Thuật có có các trường Quốc Gia Mỹ Thuật Sài Gòn, trường Quốc Gia âm nhạc, trường Mỹ Thuật thực hành, Gia Định.

Cứ cho một con số tròn là 50 chục ngàn người vừa trung học công lập, tư thục, vừa các trường chuyên môn như ở trên. Đó là những con người đã xây dựng lên nền giáo dục tốt đẹp ấy.

Trong số những con người ấy nhìn lại, tôi thấy thành phần các thầy cô giáo dạy ở tiểu học là những người chịu thiệt thòi nhiều nhất, nhưng lại là những người xứng đáng nhất.

Họ là những viên ngọc quý của nền giáo dục miền Nam. Càng ngày đời sống vật chất càng khó khăn, nhất là sau những năm 1965. Vật giá gia tăng vì người Mỹ đổ xô sang Việt Nam. Địa phương thường mất an ninh. Các cô giáo phần lớn là vợ con các công chức, quân nhân vẫn bám lấy lớp học, vẫn bám lấy trường. Vẫn tận tụy với nghề. Vẫn hy sinh kiên trì. Nhất là vẫn giữ được phẩm chất nhà giáo. Vẩn nụ cười từ mẫu và lòng nhân. Vẫn vì con em học sinh. Không thể không hết lời cảm mến. Con em miền Nam nên người được là nhờ họ.

Nhưng cũng vẫn nững con người ấy, biết giữ gìn phẩm chất người thầy. Cũng vẫn học trò ấy ‒ học trò miền Nam… Vậy mà sau 1975, không bảo nhau, không hẹn mà cả thầy lẫn trò dắt nhau đi xuống. Xuống đến thê thảm, đến mất nhân cách. Thầy không còn ra thầy. Trò không là trò.

Cho nên người ta mới hiểu rằng, con người có tốt đi mấy đi nữa mà sống trong một chế độ như cộng sản thì trước sau cũng biến chất.

Vì thế, trước khi nói đến giáo dục, phải xóa sổ đảng cộng sản ra khỏi học đường.

Vài dòng chót này, tôi có thể chứng minh bằng một thứ “thống kê xã hội” bỏ túi sau đây… Tôi có thu thập khoảng 200 bản tin tức đăng trong báo chí xuất bản ở miền Nam trước 1975. Trong đó một phần ba là các tin tức chính trị và quân sự. Phần còn lại đều là những tin “lá cải” như đánh nhau, đánh ghen, ly dị, hãm hiếp, giết người, v.v… Nhưng tôi không tìm ra các loại tin kiểu: Thầy hãm hiếp trò, lường gạt, đánh đập dã man học trò, sỉ nhục học sinh, gian lận, giả bằng cấp, thi cử gian lận đủ kiểu thường xảy ra hằng ngày được đăng tải trên báo chí trong xã hội Việt Nam bây giờ.

So sánh hai loại bản tin đó đánh giá được hai nền giáo dục: giáo dục trước 1975 và sau 1975.

Chỉ có một tin tức được coi như đau buồn nhất xảy ra trong ngành giáo dục là vào mùa hè thi cử, 1965. Một học sinh thi tú tài ở Nha Trang gian lận thi cử bị giáo sư Trần Vinh Anh bắt được. Mang thù oán. Học sinh trên đã rình trước cửa quán ăn và đâm giáo sư Trần Vinh Anh một nhát chí mạng. Luật sư biện hộ cho bị can cũng là một cựu giáo chức trường Võ Tánh NhaTrang, luật sư Trần Đức Long.

Vai trò của ông là một vai trò khó xử vì có sự xung khắc giữa một nhà giáo và một luật sư. Đóng vai trò của một luật sư ông có bổn phận phải biện hộ cho bị cáo. Cuối cùng thi tòa đã tuyên án tử hình bị can. Mà nếu trí nhớ tôi không nhầm, khi vụ án xảy ra thì ông Nguyễn Cao Kỳ lúc bấy giờ đã tuyên bố với báo chí là trò giết thầy thì phải tử hình. Sau đó thủ tục thi hành bản án đã được thông báo đến chánh án, cá vị luật sư và bác sĩ pháp y. Nhưng không biết vì lý do gì bản án đã không được thi hành và người ta cũng không biết số phần em học sinh đó ra sao nữa. Và đây là một vết đen trong ngành giáo dục.

Nhưng chỉ cần nhìn những tin tức đăng trên báo chí trước 1975 và sau 1975, chúng ta có thể hiểu được nền giáo dục hiện nay của Việt Nam đi về đâu!

Ai là người còn quan tâm đến giáo dục Việt Nam bây giờ mà không khỏi đau lòng?

Nguyễn Văn Lục


Về Đầu Trang Go down
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Đại học miền Nam trước 1975 - Hồi tưởng và Nhận định   Thu Oct 16, 2014 10:32 pm


NỖI LÒNG CỦA MỘT "GIÁO SƯ" - 40 NĂM NHÌN LẠI

(ra trường năm 1973 và mới về hưu)



(Thay lời tựa)

40 năm là quãng thời gian không dài, chẳng ngắn.

Không dài vì, so với lịch sử 4.000 năm của dân tộc, nó chỉ bằng 1/100, chỉ là một chấm đen nhỏ bé trên tiến trình vàng son dài lâu của đất nước.

Chẳng ngắn vì nó là thời gian của nửa đời người, lại là nửa đời sung mãn nhất của thế hệ cựu sinh viên ĐHSP HUẾ hai khóa Lương Văn Can (1969-1973) và Huỳnh Thúc Kháng (1970-1974).

Tốt nghiệp (ra Trường) cách đây 40 năm, hơn 200 sinh viên hai khóa Lương Văn Can và Huỳnh Thúc Kháng như những con chim đã đủ lông, đủ cánh, hớn hở rời tổ ấm ĐHSP HUẾ để tung bay khắp bầu trời miền Trung xanh trong và Tây Nguyên lộng gió, quyết đem tài năng và tâm huyết của mình phục vụ Tổ quốc, góp phần nhỏ bé vào công cuộc thay đổi diện mạo nền giáo dục dân tộc, nhân bản và khai phóng, nhiệt tình đem những kiến thức còn nóng hổi vừa tiếp thu từ ân sư trên ghế giảng đường ĐHSP HUẾ trao truyền cho những thế hệ thanh niên miền Trung và Tây nguyên nghèo khó nhưng hiếu học đang ước ao biết bao những cuộc đổi đời.

Nhưng những cơn giông bão ùn ùn kéo tới đã ngăn chận đường bay của những con chim hồng, chim hộc (*), kéo sà nó xuống gần mặt đất, biến chúng thành những chú chim én, chim sẻ tầm thường, chỉ biết bay vớ vẩn trong không gian chật hẹp hay chỉ biết mổ nhặt thóc lúa rơi vải quanh sân nhà, chẳng còn thời gian mà nhìn ngắm, tiếc thương bầu trời trên kia cao xanh lồng lộng, nơi đã từng chao liệng những đường bay đẹp như cánh diều no gió.

Sau năm 1975, từ vai trò của những chủ nhân ông đầy sáng tạo trên bục giảng, của những mái trường trung học mang tên những anh hùng, danh nhân lẫy lừng của đất nước, chuẩn bị trở thành đội ngũ kế thừa và rường cột vững chắc trong tòa lâu đài giáo dục Việt Nam sang trọng và tử tế, những “tân giáo sư” của hai khóa Lương Văn Can và Huỳnh Thúc Kháng bỗng trở thành giáo viên lưu dung, phải đi học tập nguyên lí, chương trình và phương pháp giáo dục “mới”. Rồi với số tiền trợ cấp ít ỏi, cái sổ gạo quý gấp ngàn lần sách giáo khoa dùng mua bo bo và khoai sắn độn, với chương trình giảng dạy cứng nhắc… chúng ta nếu không bị đóng đinh ngay trên cây thập tự giáo dục của chính mình thì trông giống những người khiếm thị trong thiên đường mù mò mẫm, quờ quạng đi trên con đường giáo dục mù mịt hơn là những người đốt đuốc soi đường và khai sáng trí tuệ.

Mặc dù đất nước trải qua thời kỳ đổi mới nhưng ngành giáo dục vẫn chìm nghỉm trong bế tắc, chẳng có lối ra, không tìm thấy ánh sáng le lói cuối đường hầm. Phẩm chất dạy và học giảm sút, đạo đức học sinh suy đồi, tiêu cực trong đánh giá xếp loại, gian lận trong thi cử, giả dối trong bình bầu thi đua các danh hiệu giáo viên… thường xuyên, liên tục diễn ra ở nhiều nơi làm cho phụ huynh và nhân dân mất niềm tin vào ngành giáo dục vốn trước đây có truyền thống cao đẹp nhất trong những ngành nghề cao đẹp.




Trong bốn mươi năm qua, nhất là vào thời kỳ gian khó toàn diện buổi đầu, 20 (?) cựu sinh viên hai khóa Lương Văn Can (?) và Huỳnh Thúc Kháng (?) vì các nguyên nhân trầm uất, bệnh tật, tai nạn…đã từ trần, đã lìa bỏ chúng ta mà đi; 30 bạn khác, vì nhiều lý do khác nhau, đã bỏ nghề giữa chừng, rời quê hương, định cư ở nước ngoài… đã từ bỏ bục giảng, xa rời ngành Sư Phạm trong muôn nỗi tiếc thương (Lương Văn Can (?) và Huỳnh Thúc Kháng (?).

Ngoài mất mát to lớn về số lượng không lấy gì bù đắp nổi, chúng ta còn mất mát rất nhiều về phẩm chất vì tuyệt đại bộ phận giáo sư hai khóa Lương Văn Can và Huỳnh Thúc Kháng không được trọng dụng, không được sử dụng chất xám, đành chịu thui chột tài năng. Tài năng được đào tạo bài bản và công phu suốt bốn năm miệt mài dưới mái trường ĐHSP Huế, theo thời gian, cứ vô tình theo “ông lái đò” trôi ra sông, ra biển.

Thử tưởng tượng nếu không có thay đổi lịch sử, hơn 200 giáo sư hai khóa Lương Văn Can và Huỳnh Thúc Kháng bây giờ đã đường hoàng ở vào những chức vụ cao trong Bộ Giáo Dục, trong các Viện Đại Học, chiếm những vị trí ưu tú nhất trong các giảng đường Đại Học, các trường trung học để thỏa sức cống hiến và sáng tạo với biết bao nhiêu công trình nghiên cứu về khoa học, giáo dục… sáng tác văn học, nghệ thuật…, là tác giả của bao nhiêu bộ sách giáo khoa nổi tiếng bổ ích.

Ngoài mất mát quá to lớn về số lượng và phẩm chất kể trên, chúng ta còn mất mát rất nhiều về thời gian, tiền bạc, công sức, hoài bão và niềm tin.

Là lương sư mà không hưng được quốc, đành đau lòng, bó tay đứng nhìn Việt Nam ngày càng chậm tiến và lạc hậu, xấu hổ và xót xa nhìn các nước ở tầm thấp hơn chúng ta trong khu vực Đông Nam Á và chỉ nhỉnh hơn chúng ta trong toàn châu Á vào thập niên 60 vươn lên trở thành những con rồng có thể sánh vai với các cường quốc châu Âu, bỏ xa chúng ta tụt hậu gần mấy mươi năm!

Tuy nhiên, chúng ta rất tự hào được sống ở một trong những giai đoạn thăng trầm vào bậc nhất của lịch sử Việt Nam. Chúng ta tự hào đang là chứng nhân của thời đại. Có sống được và sống hết mình trong giai đoạn lịch sử đầy thử thách này, chúng ta mới có thể tự nhận ra mình có còn đúng là chính mình hay không!!!

Và vui mừng, nhận ra bên cạnh những mất mát to lớn, chúng ta vẫn còn nhiều cái được quan trọng.

Cái được quan trọng nhất là chúng ta vẫn giữ được cái tâm trong sáng.

Chúng ta có quyền tự hào mình là những công dân Việt Nam chân chính. Chúng ta – những môn sinh hậu bối, có quyền ngẩng cao đầu nhìn chân dung hai vị tiền bối Lương Văn Can và Huỳnh Thúc Kháng mà hai khóa chúng ta vinh dự được lần lượt mang tên. Chúng ta đã không phụ lòng các ân sư của trường ĐHSP Huế xưa đã dày công đào tạo chúng ta một cách bài bản, đã giáo dục chúng ta thành những con người lý tưởng, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải mài giũa cái tâm trong sáng không bao giờ bám bẩn, để sống không thành công cũng phải thành nhân.

Cái được quan trọng thứ hai là chúng ta còn giữ được cái tình.

Nhờ giữ được cái tình mà chúng ta mãi mãi vẫn là chúng ta, không bao giờ tự đánh mất mình. Nhờ có tình, chúng ta – trong đó có rất nhiều bạn ở nước ngoài, mới luôn nhớ về nguồn cội, mới luôn nhớ về trường xưa, thầy cũ, bạn hiền, mới khắc phục khó khăn để tham gia, tích cực tổ chức và ủng hộ Hội Khóa để hôm nay thầy trò được hội ngộ, quây quần bên nhau trong một tình cảm tri ân và xúc động không thể nào hơn.

Nhờ có tình mà chúng ta luôn tưởng nhớ các đồng môn của chúng ta đã khuất, thấy như luôn có bạn bên cạnh chúng ta trong mỗi vui buồn, trăn trở thường trực của chúng ta hôm nay.




Nhớ từ Hội khóa hằng năm ở Đà Lạt với vỏn vẹn hơn 10 người, đến Hội khóa chính thức lần I ở Đà Nẵng tăng lên trên 20, Hội khóa lần II,III ở Nha Trang và Huế tăng trên 30, Hội khóa lần IV ở Đà Lạt đã lên đến 50 bạn về tham dự. Số lượng đồng môn hai khóa Lương Văn Can và Huỳnh Thúc Kháng ĐHSP theo thời gian tham gia “nối vòng tay lớn” ngày càng tăng trưởng đáng kể. Và Hội khóa lần 5 này, các bạn ở Huế đã khởi động rất sớm và phân công chu đáo, hy vọng vòng tay lớn chúng ta sẽ nối rộng hơn, dây thân ái chúng ta sẽ siết chặt nhau hơn, tạo điều kiện cho bạn bè gần gũi thân thiết hơn và biết đâu sẽ chẳng có những cuộc kỳ ngộ lần đầu giữa các đồng môn sau đằng đẵng 40 năm xa cách?

Sau 40 nhìn lại, rút cuộc, chúng ta chịu tổn thất khá nhiều về số lượng, tài năng và niềm tin, nhưng chúng ta được rất nhiều về nhân cách và tâm tình.

Còn gì quý hơn tâm tình trên cuộc đời này hỡi bạn?

Và Đặc san HỘI NGỘ này là biểu hiện một chút tâm tình đó, là“của tin còn một chút này làm ghi.”

Nên hãy quên ngay những mất mát, hãy trân trọng giữ gìn những cái được rất đáng quý, đừng để nó trôi tuột khỏi tầm tay, nhất là trong những dịp HỘI NGỘ hiếm hoi này, bạn nhé! Vì Thầy ta đã cao niên, chúng ta cũng chẳng còn trẻ nữa (chỉ hơn 20 tuổi cách đây đúng 40 năm!)

Xin dâng trọn tấc lòng này

Tri ân bạn cũ, ơn Thầy, Trường xưa…

Nguyễn Văn Cam
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Đại học miền Nam trước 1975 - Hồi tưởng và Nhận định   

Về Đầu Trang Go down
 
Đại học miền Nam trước 1975 - Hồi tưởng và Nhận định
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Giáo Dục-
Chuyển đến